Bình Giảng Lửa Vũ Trụ – S9S11 (TCF 1174-1185)

📘 Sách: Bình Giảng Luận về Lửa Vũ Trụ – S9 – Tác giả: Michael D. Robbins

S9S11, Part I

TCF 1174-1177

TCF 1173-1177

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCFđược trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Đề nghị nên đọc phần Bình Luận này với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

11. The Law of the Schools. (The Law of Love and Light.)

11. Định luật của Các Trường Phái. (Định luật của Tình thương và Ánh sáng.)

1. The name of this law is unusual, especially when it is translated as “The Law of Love and Light”.

1. Tên của định luật này thật khác thường, nhất là khi nó được dịch là “Định luật của Tình thương và Ánh sáng”.

This is a mysterious term used to cover the law as it affects the expansions of consciousness which an initiate undergoes,

Đây là một thuật ngữ huyền nhiệm được dùng để bao quát định luật khi nó tác động đến những sự mở rộng tâm thức mà một điểm đạo đồ trải qua,

2. In “schools” one undergoes expansions of consciousness. The idea of the “school” is related to the second aspect of divinity under which this expansion occurs.

2. Trong các “trường phái”, người ta trải qua những sự mở rộng tâm thức. Ý niệm về “trường phái” liên hệ với phương diện thứ hai của thiên tính, dưới đó sự mở rộng này xảy ra.

3. The higher expression of teaching on the second ray is “The process of initiation as taught by the hierarchy of adepts.” (EP I 50)

3. Biểu hiện cao hơn của giáo huấn trên cung hai là “Tiến trình điểm đạo như được giảng dạy bởi thánh giai các chân sư.” (EP I 50)

and his ability to attract to himself through knowledge,

khả năng thu hút về phía mình thông qua tri thức của y,

4. The initiate is endowed with certain attractive powers. We notice, importantly, that it is the knowledge of the initiate which serves as an attractive power.

4. Điểm đạo đồ được phú cho một số quyền năng thu hút nhất định. Điều quan trọng mà chúng ta nhận thấy là chính tri thức của điểm đạo đồ đóng vai trò như một quyền năng thu hút.

a. His own Higher Self, so as to produce alignment and illumination,

a. Chân ngã của y, để tạo ra sự chỉnh hợp và soi sáng,

5. The initiate is the soul-in-incarnation who has awakened to a certain level of consciousness. The “Higher Self” in this case can stand for both the supervisory Solar Angel and also the spiritual triad and Monad.

5. Điểm đạo đồ là linh hồn đang nhập thể đã thức tỉnh đến một mức tâm thức nhất định. “Higher Self” trong trường hợp này có thể chỉ cả Thái dương Thiên Thần giám hộ lẫn Tam Nguyên Tinh Thần và Chân thần.

6. It is also hinted that there are known methods of attracting these higher aspects of the self.

6. Ở đây cũng hàm ý rằng có những phương pháp đã biết để thu hút các phương diện cao hơn này của bản ngã.

b. His Guru,

b. Guru của y,

7. The “Guru” does not appear unless the knowledge of the initiate has reached a certain sufficiency. It would be against the Law of Economy for the Guru to waste His time on the unprepared.

7. “Guru” không xuất hiện trừ phi tri thức của điểm đạo đồ đã đạt đến một mức đầy đủ nào đó. Sẽ trái với Định luật Tiết Kiệm nếu Guru lãng phí thời gian của Ngài vào người chưa được chuẩn bị.

c. That which he seeks to know,

c. Điều mà y tìm cách biết,

8. The desire or aspiration to know is important, but a sufficiency of knowledge is magnetic and attracts still higher knowledge; revelation of a certain scope attracts revelation of a still greater scope. There is always a next step ahead related to the quantity and quality of knowledge accumulated.

8. Ham muốn hay khát vọng muốn biết là điều quan trọng, nhưng một mức tri thức đầy đủ thì có từ tính và thu hút tri thức còn cao hơn; sự mặc khải ở một tầm mức nào đó thu hút sự mặc khải ở một tầm mức còn lớn hơn. Luôn luôn có một bước kế tiếp ở phía trước liên hệ với số lượng và phẩm tính của tri thức đã tích lũy.

d. That which he can utilise in his work of service,

d. Điều mà y có thể sử dụng trong công việc phụng sự của y,

9. The knowledge of the initiate is sufficient to attract those resources and energies needed for the service he intends.

9. Tri thức của điểm đạo đồ đủ để thu hút những nguồn lực và năng lượng cần thiết cho sự phụng sự mà y dự định.

e. Other souls with whom he can work.

e. Những linh hồn khác mà y có thể cùng làm việc.

10. This is an important point. The consciousness of the initiate and his knowledge are radiatory and call to those who can fit in with the plans of the initiate. Not all are called—only those who respond to the level of consciousness and knowledge of the initiate and recognize that they have something of importance to gain from association with this level.

10. Đây là một điểm quan trọng. Tâm thức của điểm đạo đồ và tri thức của y có tính phóng xạ và kêu gọi những ai có thể phù hợp với các kế hoạch của điểm đạo đồ. Không phải tất cả đều được kêu gọi—chỉ những ai đáp ứng với mức tâm thức và tri thức của điểm đạo đồ và nhận ra rằng họ có điều gì quan trọng để đạt được từ sự liên kết với cấp độ này.

It will be evident, therefore, to the thoughtful student that this Law of the Schools is primarily applicable to all units of divine life who have arrived at, ortranscended the stage of self-consciousness.

Do đó, đối với đạo sinh biết suy tư, sẽ hiển nhiên rằng Định luật của Các Trường Phái này trước hết áp dụng cho mọi đơn vị của sự sống thiêng liêng đã đạt đến, hoặcvượt qua giai đoạn ngã thức.

11. When we speak of “self-consciousness” we are not speaking of “ Self -consciousness”. The first relates to the consciousness of the fourth kingdom of nature, the second to the consciousness of the fifth kingdom.

11. Khi chúng ta nói đến “ngã thức”, chúng ta không nói đến “tâm thức về Bản Ngã ”. Điều thứ nhất liên hệ với tâm thức của giới thứ tư trong thiên nhiên, điều thứ hai liên hệ với tâm thức của giới thứ năm.

12. Strictly speaking, “self-consciousness” began, inchoately, at individualization and ends (though its ending is not a full ending) at the first initiation.

12. Nói một cách nghiêm ngặt, “ngã thức” bắt đầu, ở dạng phôi thai, từ biệt ngã hóa và chấm dứt (dù sự chấm dứt ấy không phải là chấm dứt hoàn toàn) ở lần điểm đạo thứ nhất.

13. When one enters the fifth kingdom (and especially when one graduates from the fifth kingdom at the fifth initiation) one transcends the stage of self-consciousness. This transcendence is ‘engineered’ upon the Fixed Cross.

13. Khi một người bước vào giới thứ năm (và đặc biệt khi tốt nghiệp khỏi giới thứ năm ở lần điểm đạo thứ năm), người ấy vượt qua giai đoạn ngã thức. Sự vượt qua này được “kiến tạo” trên Thập Giá Cố Định.

14. From the first initiation onwards, one identifies as a self which is more than the individual, lower ego. The objective is become in consciousness the Higher Self which one believes oneself to be and which one more authentically is.

14. Từ lần điểm đạo thứ nhất trở đi, người ta đồng hoá như một bản ngã vượt hơn chân ngã cá nhân thấp. Mục tiêu là trở thành trong tâm thức Bản Ngã Cao Siêu mà người ta tin mình là, và mà người ta một cách chân thực hơn thật sự là.

15. In deciding the various levels at which this law applies to humanity, we will have to think of the transcendence of self-consciousness as a gradual process—something which does not immediately occur at the first initiation.

15. Khi quyết định các cấp độ khác nhau mà định luật này áp dụng cho nhân loại, chúng ta sẽ phải nghĩ đến việc vượt qua ngã thức như một tiến trình dần dần—điều gì đó không xảy ra ngay lập tức ở lần điểm đạo thứ nhất.

It has consequently a vital connection with the human kingdom,

Do đó, nó có một liên hệ thiết yếu với giới nhân loại,

16. This is the kingdom in which self-consciousness is expressed and in which the movement towards the transcendence of self-consciousness is commenced.

16. Đây là giới trong đó ngã thức được biểu lộ và trong đó sự chuyển động hướng tới việc vượt qua ngã thức được khởi sự.

and there is an occult significance in the fact that this is the eleventh [Page1174] Law.

và có một thâm nghĩa huyền bí trong sự kiện rằng đây là Định luật thứ mười một [Page1174].

17. Perhaps we can relate the number eleven to the initiate. “Forget not that eleven is the number of the Initiate and that today it is the eleventh house which is so dominant; forget not that Aquarius, the eleventh sign, is the sign of universal relationships, interplay and consciousness.” (EA 542)

17. Có lẽ chúng ta có thể liên hệ số mười một với điểm đạo đồ. “Đừng quên rằng mười một là con số của điểm đạo đồ và rằng ngày nay chính nhà thứ mười một đang rất trội vượt; đừng quên rằng Bảo Bình, dấu hiệu thứ mười một, là dấu hiệu của những tương quan phổ quát, sự tương tác và tâm thức.” (EA 542)

18. By absorbing and expressing the meaning of the number eleven the human being moves from individual self-consciousness into group consciousness represented particularly by the energy of the Aquarius. Group consciousness represents a transcendence of ordinary self-consciousness. The human being who identifies as the Higher Self is group conscious.

18. Bằng cách hấp thụ và biểu lộ ý nghĩa của số mười một, con người chuyển từ ngã thức cá nhân sang tâm thức nhóm, được biểu trưng đặc biệt bởi năng lượng của Bảo Bình. Tâm thức nhóm biểu thị sự vượt qua ngã thức thông thường. Con người đồng hoá như Bản Ngã Cao Siêu thì có tâm thức nhóm.

19. The number eleven also suggests the sign Gemini and its relationship to the great second ray—the ray, per se, of consciousness and its expansion.

19. Số mười một cũng gợi ý dấu hiệu Song Tử và mối liên hệ của nó với cung hai vĩ đại—chính cung, per se, của tâm thức và sự mở rộng của tâm thức.

20. More mundanely, Gemini is often associated with the educational process and with schools.

20. Ở mức đời thường hơn, Song Tử thường được liên kết với tiến trình giáo dục và với trường học.

It is the law which enables a man to unite two of his aspects (the personal self and the Higher Self).

Đó là định luật giúp con người hợp nhất hai phương diện của mình (bản ngã cá nhân và Bản Ngã Cao Siêu).

21. It seems that many laws, including the Laws of the Soul contribute to this merging.

21. Dường như nhiều định luật, kể cả các Định luật của Linh Hồn, góp phần vào sự hòa nhập này.

22. Since there is a considerable merging of the man and the “Angel of the Presence” at the third initiation, one wonders whether the Law of the Schools should have particularly applicability to this stage of initiation.

22. Vì có một sự hòa nhập đáng kể giữa con người và “Thiên Thần của Hiện Diện” ở lần điểm đạo thứ ba, người ta tự hỏi liệu Định luật của Các Trường Phái có đặc biệt áp dụng cho giai đoạn điểm đạo này hay không.

23. The statement above concerning the uniting the personal and Higher Self again point to Gemini in which the existence and interaction of these two selves are highlighted. There is much similarity between the number 11 and the glyph of Gemini.

23. Phát biểu trên về việc hợp nhất bản ngã cá nhân và Bản Ngã Cao Siêu một lần nữa chỉ về Song Tử, trong đó sự hiện hữu và tương tác của hai bản ngã này được làm nổi bật. Có nhiều điểm tương đồng giữa số 11 và ký hiệu của Song Tử.

It is the law which governs the transition of the human atom into another and a higher kingdom.

Đó là định luật chi phối sự chuyển tiếp của nguyên tử nhân loại vào một giới khác và cao hơn.

24. So far we see that this law governs a uniting and now a transition. The higher kingdom here mentioned is, of course, the fifth kingdom.

24. Cho đến đây chúng ta thấy rằng định luật này chi phối một sự hợp nhất và giờ đây là một sự chuyển tiếp. Giới cao hơn được nhắc đến ở đây dĩ nhiên là giới thứ năm.

25. That transition must occur across a ‘bridge’ and Mercury (the ruler of Gemini and conveyer of the bridging fourth ray) can represent that bridge.

25. Sự chuyển tiếp ấy phải diễn ra qua một “cây cầu”, và Sao Thủy (chủ tinh của Song Tử và là đấng chuyển tải cung bốn bắt cầu) có thể tượng trưng cho cây cầu ấy.

26. A school is a greater concentration of light which magnetically draws a lesser such concentration towards magnetically. The lesser is drawn towards the greater across a ‘Bridge of Light’, a kind of Mercurian antahkarana.

26. Một trường phái là một sự tập trung ánh sáng lớn hơn, có từ tính lôi kéo một sự tập trung nhỏ hơn cùng loại về phía nó. Cái nhỏ hơn bị lôi kéo về phía cái lớn hơn qua một “Cầu Ánh Sáng”, một loại antahkarana kiểu Sao Thủy.

It is the law which (when comprehended and conformed to) enables a man to enter into a new cycle.

Đó là định luật mà (khi được thấu hiểu và tuân theo) giúp con người bước vào một chu kỳ mới.

27. Life within the fourth kingdom of nature follows a particular cycle ruled by the numbers four and seven. Life within the Kingdom of Souls is governed by cycles related to the numbers seven and three.

27. Sự sống trong giới thứ tư của thiên nhiên đi theo một chu kỳ đặc thù do các số bốn và bảy chi phối. Sự sống trong giới các linh hồn được chi phối bởi các chu kỳ liên hệ với các số bảy và ba.

28. The cycle entered into will be the cycle of expanding consciousness as a conscious soul-in-incarnation.

28. Chu kỳ được bước vào sẽ là chu kỳ của sự mở rộng tâm thức như một linh hồn đang nhập thể có ý thức.

29. We note that the law must be understood and that there must be conformity to this law if it is to have its proper effect of creating union with the soul on its own plane and a merging into a higher kingdom of nature. Laws exist, and to a degree force compliance, but they are far more effective when they are understood and when voluntarily obeyed.

29. Chúng ta lưu ý rằng định luật này phải được thấu hiểu và phải có sự tuân hợp với định luật này nếu nó muốn có tác dụng đúng đắn là tạo ra sự hợp nhất với linh hồn trên cõi riêng của nó và một sự hòa nhập vào một giới cao hơn của thiên nhiên. Các định luật hiện hữu, và ở một mức độ nào đó buộc phải tuân theo, nhưng chúng hiệu quả hơn nhiều khi được thấu hiểu và khi được tự nguyện vâng theo.

30. The cycle of reincarnation into the lower three world is one which will shortly be abrogated when the Law of the Schools is rightly accepted.

30. Chu kỳ tái sinh vào ba cõi thấp là một chu kỳ sẽ sớm bị bãi bỏ khi Định luật của Các Trường Phái được chấp nhận đúng đắn.

It is the law of the adept, of the Master, and of the perfected man.

Đó là định luật của chân sư, của Chân sư, và của con người hoàn thiện.

31. This means it is the law of those who are truly and definitely initiate. This means they have taken at least the third initiation.

31. Điều này có nghĩa đó là định luật của những ai thực sự và rõ rệt là điểm đạo đồ. Điều này có nghĩa là họ đã tiếp nhận ít nhất lần điểm đạo thứ ba.

32. Who is the “perfected man”? Really, only the Master of the Wisdom. In a sense, the Chohan of the sixth degree is no longer considered a “man” per se.

32. Ai là “con người hoàn thiện”? Thật ra, chỉ có Chân sư Minh Triết. Theo một nghĩa nào đó, Chohan cấp sáu không còn được xem là “con người” per se nữa.

For this reason it might be of profit here if we dealt with it a little more fully than with the other laws, for mankind is now at the stage where a number of its units are ready to come under the specific influence of this law,

Vì lý do này, ở đây có lẽ sẽ hữu ích nếu chúng ta bàn đến nó đầy đủ hơn đôi chút so với các định luật khác, vì hiện nay nhân loại đang ở giai đoạn mà một số đơn vị của nó đã sẵn sàng đi vào dưới ảnh hưởng đặc thù của định luật này,

33. This indicates that there has been considerable development within the human race and that the possibility of true initiate lies not far ahead for many.

33. Điều này cho thấy đã có sự phát triển đáng kể bên trong nhân loại và rằng khả năng trở thành điểm đạo đồ chân chính không còn xa phía trước đối với nhiều người.

34. Under this law enough light can be received by the lower concentration of light to lift it, by approved methods, into the radius of the higher concentration of light. The magnetic force of this law facilitates a dramatic change of the point of tension.

34. Dưới định luật này, đủ ánh sáng có thể được tiếp nhận bởi sự tập trung ánh sáng thấp hơn để nâng nó lên, bằng những phương pháp đã được chuẩn nhận, vào trong bán kính của sự tập trung ánh sáng cao hơn. Mãnh lực từ tính của định luật này tạo điều kiện cho một sự thay đổi đầy kịch tính của điểm tập trung nhất tâm.

and thus be transferred out of the Hall of Learning, via the Hall of Wisdom, into the fifth or spiritual kingdom.

và nhờ đó được chuyển ra khỏi Phòng Học Tập, qua Phòng Minh triết, vào giới thứ năm hay giới tinh thần.

35. This is an interesting progression because usually entry into the Hall of Wisdom occurs at the first initiation and is considered to be entry into the fifth or spiritual kingdom. It seems from what is here said, that after one enters the Hall of Wisdom, of which one is a full member by the time the third initiation has taken place, true entry into the fifth kingdom can occur. Graduation from the fifth kingdom of nature occurs at Mastership at which time one begins to turn one’s attention to become a member of the Kingdom of Planetary Lives.

35. Đây là một sự tiến triển thú vị vì thông thường việc đi vào Phòng Minh triết xảy ra ở lần điểm đạo thứ nhất và được xem là đi vào giới thứ năm hay giới tinh thần. Từ điều được nói ở đây, dường như sau khi người ta đi vào Phòng Minh triết, mà đến lúc lần điểm đạo thứ ba diễn ra thì người ta là một thành viên trọn vẹn của phòng ấy, thì sự đi vào thực sự giới thứ năm mới có thể xảy ra. Sự tốt nghiệp khỏi giới thứ năm của thiên nhiên xảy ra vào lúc đạt Chân sư vị, khi ấy người ta bắt đầu hướng sự chú ý của mình đến việc trở thành một thành viên của Giới Các Sự Sống Hành tinh.

36. The true overcoming of self-consciousness does not occur at the first initiation, and yet the Kingdom of Souls, the Hall of Wisdom, and the period of the Fixed Cross are all entered at the first initiation. Usually entry into the Hall of Wisdom and into the fifth or spiritual kingdom are usually considered synonymous, but here they are considered sequential.

36. Sự vượt thắng ngã thức đích thực không xảy ra ở lần điểm đạo thứ nhất, thế nhưng Vương Quốc của các linh hồn, Phòng Minh triết, và giai đoạn của Thập Giá Cố Định lại đều được đi vào ở lần điểm đạo thứ nhất. Thông thường việc đi vào Phòng Minh triết và vào giới thứ năm hay giới tinh thần thường được xem là đồng nghĩa, nhưng ở đây chúng được xem là tuần tự nối tiếp nhau.tất cả

37.  It would seem that the Law of the Schools does not fully apply to initiates of the first degree but that, by the time they have fulfilled the third degree, it surely does.

37.  Dường như Định luật của các Trường Phái không áp dụng trọn vẹn cho các điểm đạo đồ bậc một, nhưng đến lúc họ hoàn tất bậc ba thì chắc chắn là có.

This Law of the Schools does not specifically apply to the deva evolution.

Định luật của các Trường Phái này không áp dụng một cách chuyên biệt cho tiến hoá thiên thần.

38. Perhaps this is the case because the devas do not participate in the process of initiation as does the human being.

38. Có lẽ là như vậy vì các thiên thần không tham dự vào tiến trình điểm đạo như con người tham dự.

They come under another law called “The Law of Passive Resistance” which does not concern us here, nor would it profit us to consider it.

Họ chịu dưới một định luật khác gọi là “Định luật Kháng Cự Thụ Động”, điều này không liên quan đến chúng ta ở đây, và việc xem xét nó cũng không đem lại ích lợi gì cho chúng ta.

39. If we compare these two laws, we can see that the Law of the Schools suggests a type of activity which is definitely more assertive and expansive. It concerns initiation or an active “entering into”. The “Law of Passive Resistance” suggests receptivity and a certain kind of resistance to that which intends to mould substance.

39. Nếu chúng ta so sánh hai định luật này, chúng ta có thể thấy rằng Định luật của các Trường Phái gợi ra một loại hoạt động rõ rệt là quyết đoán và mở rộng hơn. Nó liên quan đến điểm đạo hay một sự “đi vào” chủ động. “Định luật Kháng Cự Thụ Động” gợi ra tính tiếp nhận và một loại kháng cự nào đó đối với điều có ý định nhào nặn chất liệu.

40. Passive resistance requires work from the influencing, moulding agency. It requires occult knowledge for the human unit to master the deva kingdom which, though passive, is resistant to the will of the human being as well.

40. Sự kháng cự thụ động đòi hỏi công việc từ tác nhân gây ảnh hưởng và nhào nặn. Nó đòi hỏi tri thức huyền bí để đơn vị nhân loại làm chủ giới thiên thần, giới này tuy thụ động nhưng cũng kháng cự ý chí của con người.

Three main groups of existences are controlled by it:

Ba nhóm hiện hữu chính được nó kiểm soát là:

41. We are speaking of the groups of existences ruled by the Law of the Schools.

41. Chúng ta đang nói về các nhóm hiện hữu được cai quản bởi Định luật của các Trường Phái.

1. Human beings from the moment they tread the Probationary Path.

1. Con người kể từ lúc họ bước lên Con Đường Dự Bị.

42. Thus, the law begins to operate well before the first initiation. We can say that certain activities within the illuminative fifth petal of the egoic lotus may come under the Law of the Schools.

42. Như vậy, định luật này bắt đầu vận hành từ rất lâu trước lần điểm đạo thứ nhất. Chúng ta có thể nói rằng một số hoạt động nào đó bên trong cánh hoa thứ năm soi sáng của hoa sen chân ngã có thể thuộc dưới Định luật của các Trường Phái.

43. We may judge that the factor of illumination is an aspect of the Law of the Schools and that the sign Leo, which rules the fifth petal of the ego, is one of the major signs of illumination. Leo expresses the Will-to-Illumine.

43. Chúng ta có thể phán đoán rằng yếu tố soi sáng là một phương diện của Định luật của các Trường Phái và rằng dấu hiệu Sư Tử, dấu hiệu cai quản cánh hoa thứ năm của chân ngã, là một trong những dấu hiệu lớn của sự soi sáng. Sư Tử biểu lộ Ý Chí-Soi Sáng.

2. All the units of the fifth kingdom, therefore, all the members of the Hierarchy.

2. Do đó, tất cả các đơn vị của giới thứ năm, tức là tất cả các thành viên của Thánh Đoàn.

44. Here, first and second degree initiates should be included as, technically (judging from Chart XIII, 1238, in TCF) they are members of the planetary Hierarchy.

44. Ở đây, các điểm đạo đồ bậc một và bậc hai nên được bao gồm, vì về mặt kỹ thuật (xét theo Biểu đồ XIII, 1238, trong Luận về Lửa Vũ Trụ) họ là các thành viên của Thánh Đoàn hành tinh.

45. We see that the application of this law is broad. It applies to those who are only beginning to transcend self-consciousness to those who have transcended it entirely.

45. Chúng ta thấy rằng phạm vi áp dụng của định luật này rất rộng. Nó áp dụng từ những người chỉ mới bắt đầu vượt lên trên ngã thức cho đến những người đã vượt qua nó hoàn toàn.

3. The planetary Logoi throughout the system.

3. Các Hành Tinh Thượng đế trong toàn hệ thống.

46. We see that the Law of the Schools is a very advanced law and will apply to the form of life expression who is now a human being for vast cycles ahead.

46. Chúng ta thấy rằng Định luật của các Trường Phái là một định luật rất cao cấp và sẽ áp dụng cho hình thức biểu lộ sự sống hiện nay là con người trong những chu kỳ mênh mông phía trước.

47. One wonders whether there is not a manner in which this law can even be applied to Solar Logoi and still greater Lives.

47. Người ta tự hỏi liệu có phải không có một cách nào đó để định luật này thậm chí còn có thể được áp dụng cho các Thái dương Thượng đế và những Sự Sống còn vĩ đại hơn nữa.

48. While this law does apply incipiently to those who are treading the Path of Probation, its extends vastly beyond that preliminary stage.

48. Tuy định luật này quả thật áp dụng ở mức khởi đầu cho những ai đang bước trên Con Đường Dự Bị, nhưng nó mở rộng vượt xa giai đoạn sơ bộ ấy.

49. There are many kingdoms into which one can enter as a being possessed minimally of self-consciousness. It would seem that the Law of the Schools will apply to those entering true Self-consciousness which is group consciousness; to those moving from group consciousness to planetary consciousness; to those moving from planetary consciousness to universal consciousness—etc.

49. Có nhiều giới mà người ta có thể đi vào với tư cách một hữu thể sở hữu tối thiểu ngã thức. Dường như Định luật của các Trường Phái sẽ áp dụng cho những ai đi vào Tự-ngã-thức chân chính, tức là tâm thức nhóm; cho những ai chuyển từ tâm thức nhóm sang tâm thức hành tinh; cho những ai chuyển từ tâm thức hành tinh sang tâm thức vũ trụ—v.v.

It will be apparent, therefore, that this law concerns the great experiment which has been inaugurated on earth by our planetary Logos in connection with the process of initiation,

Do đó, hiển nhiên là định luật này liên quan đến thí nghiệm lớn lao đã được Hành Tinh Thượng đế của chúng ta khởi xướng trên Trái Đất liên hệ với tiến trình điểm đạo,

50. Again the sign Gemini is suggested for its glyph signifies the Pillars of Wisdom through which the candidate for initiation must pass.

50. Một lần nữa dấu hiệu Song Tử được gợi ra vì biểu tượng của nó biểu thị các Trụ Cột của Minh triết mà ứng viên điểm đạo phải đi qua.

and it has only held sway since the Door of Initiation was opened in Atlantean days.

và nó chỉ mới nắm quyền kể từ khi Cánh Cửa Điểm Đạo được mở ra vào thời Atlantis.

51. The Law of the Schools is related to initiation. Upon our planet there is a particular experiment occurring. This does not mean, however, that there are not other planets on which various methods of initiation are also employed. On our planet, however, the process of initiation involves a particularly intensive solar angelic intervention. It would seem that initiation as a process must be universal in cosmos.

51. Định luật của các Trường Phái có liên hệ với điểm đạo. Trên hành tinh chúng ta đang diễn ra một thí nghiệm đặc biệt. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là không có những hành tinh khác nơi các phương pháp điểm đạo khác nhau cũng được sử dụng. Tuy nhiên, trên hành tinh chúng ta, tiến trình điểm đạo bao hàm một sự can thiệp thái dương thiên thần đặc biệt mãnh liệt. Dường như điểm đạo như một tiến trình hẳn phải có tính phổ quát trong vũ trụ.

52. That Venus (the planet which conveys illumination and initiation to humanity) is the esoteric ruler of Gemini seems significant in relation to the Law of the Schools. Mercury another ruler must also be brought into consideration.

52. Việc Sao Kim (hành tinh truyền đạt sự soi sáng và điểm đạo cho nhân loại) là chủ tinh nội môn của Song Tử dường như có ý nghĩa liên hệ với Định luật của các Trường Phái. Sao Thủy, một chủ tinh khác, cũng phải được đưa vào xem xét.

53. In a way, Gemini undertakes the higher education of man. It is interesting, in relation to the A.A.B. Movement, how many of the leading figures had prominent Gemini in their horoscopes. One suspects a prominent Gemini in the horoscope of the Tibetan Teacher since He is called the “messenger of the Masters”.

53. Theo một cách nào đó, Song Tử đảm nhận nền giáo dục cao hơn của con người. Thật thú vị, liên hệ với Phong Trào A.A.B., là có biết bao nhiêu nhân vật lãnh đạo có Song Tử nổi bật trong lá số chiêm tinh của họ. Người ta ngờ rằng Song Tử nổi bật trong lá số chiêm tinh của huấn sư Tây Tạng vì Ngài được gọi là “sứ giả của các Chân sư”.

54. We could say that the Law of the Schools has only been applicable on Earth (with respect to man) since middle Atlantean times when the Door of Initiation was opened.

54. Chúng ta có thể nói rằng Định luật của các Trường Phái chỉ mới có thể áp dụng trên Trái Đất (xét đối với con người) kể từ thời Atlantis trung kỳ khi Cánh Cửa Điểm Đạo được mở ra.

55. We shall be alert to the manner in which this law could be active on other planets. Certainly, on other planets, various kinds of “Schools” exist.

55. Chúng ta sẽ cảnh giác với cách thức mà định luật này có thể hoạt động trên các hành tinh khác. Chắc chắn, trên các hành tinh khác, có nhiều loại “Trường Phái” khác nhau tồn tại.

It does not, therefore, apply to all the members of the human family; some of whom will achieve slowly and under the sway of the basic Law of Evolution.

Do đó, nó không áp dụng cho tất cả các thành viên của gia đình nhân loại; một số trong họ sẽ thành tựu một cách chậm chạp và dưới sự chi phối của Định luật Tiến hoá căn bản.

56. DK makes this distinction in various places throughout the text. The process of initiation is not for all. Some human beings will rise through a more general process inherent in the Law of Evolution.

56. Chân sư DK nêu ra sự phân biệt này ở nhiều chỗ khác nhau trong toàn bộ bản văn. Tiến trình điểm đạo không dành cho tất cả mọi người. Một số con người sẽ vươn lên qua một tiến trình tổng quát hơn vốn cố hữu trong Định luật Tiến hoá.

57. Probably, then, the particular type of initiation now current on our planet will only have a limited duration, until those for whom it is intended have, as much as possible, passed through the initiatory process.

57. Vậy thì có lẽ loại điểm đạo đặc thù hiện đang lưu hành trên hành tinh chúng ta sẽ chỉ có một thời hạn giới hạn, cho đến khi những người mà nó nhắm đến, trong mức độ có thể, đã đi qua tiến trình điểm đạo.

58. The current period is said to be the time of achievement for third ray Monads, who, presumably, have been involved for a longer period of time in the process of evolution than the majority of those whose monadic rays are the second and first.

58. Thời kỳ hiện nay được nói là thời gian thành tựu dành cho các chân thần cung ba, những vị này, có lẽ, đã tham dự trong tiến trình tiến hoá lâu hơn phần lớn những người có cung chân thần là cung hai và cung một.

It does not affect, in any way, for instance, those members of the human family who have individualised on the earth chain through the fanning of the spark of mind—one of the methods employed by the Lords of the Flame, as earlier seen.  [Page 1175]

Chẳng hạn, nó hoàn toàn không ảnh hưởng đến những thành viên của gia đình nhân loại đã biệt ngã hóa trên dãy địa cầu qua việc quạt bùng tia lửa trí tuệ—một trong những phương pháp được các Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa sử dụng, như đã thấy trước đây. [Page 1175]

59. We have here a very important distinction. There are certain members of Earth-chain humanity to whom initiation does not apply and others to whom it does.

59. Ở đây chúng ta có một sự phân biệt rất quan trọng. Có những thành viên nhất định của nhân loại dãy địa cầu mà điểm đạo không áp dụng, và có những người khác mà nó có áp dụng.

60. Two methods of individualization were used in relation to Earth-humanity. The first method was “implantation” and the second was “fanning”.

60. Hai phương pháp biệt ngã hóa đã được dùng liên hệ với nhân loại Trái Đất. Phương pháp thứ nhất là “cấy vào” và phương pháp thứ hai là “quạt bùng”.

61. Implantation of the spark of mind was only used for the more advanced of the animal-men destined to because human beings. Through implantation the Solar Angel became ‘present’ in the consciousness of the developing man.

61. Việc cấy vào tia lửa trí tuệ chỉ được dùng cho những người-thú tiến bộ hơn, những kẻ được định để trở thành con người. Qua sự cấy vào, Thái dương Thiên Thần trở nên ‘hiện diện’ trong tâm thức của con người đang phát triển.

62. The method of “fanning” was more ‘distant’ in a way. The nascent mental faculty of certain animal men was stimulated to the point at which individualization became possible, but the Solar Angel did not remain ‘within’ such emerging human beings as a presence.

62. Phương pháp “quạt bùng” theo một nghĩa nào đó thì ‘xa cách’ hơn. Năng lực trí tuệ đang nảy sinh của một số người thú được kích thích đến mức biệt ngã hóa trở nên khả hữu, nhưng Thái dương Thiên Thần không lưu lại ‘bên trong’ những con người đang xuất hiện ấy như một sự hiện diện.

63. Here is the quotation from The Secret Doctrine which applies:

63. Đây là trích dẫn từ Giáo Lý Bí Nhiệm áp dụng ở đây:

Mankind is obviously divided into god-informed men and lower human creatures. The intellectual difference between the Aryan and other civilized nations and such savages as the South Sea Islanders, is inexplicable on any other grounds. No amount of culture, nor generations of training amid civilization, could raise such human specimens as the Bushmen, the Veddhas of Ceylon, and some African tribes, to the same intellectual level as the Aryans, the Semites, and the Turanians so called. The “sacred spark” is missing in them and it is they who are the only inferior races on the globe, now happily — owing to the wise adjustment of nature which ever works in that direction — fast dying out. Verily mankind is “of one blood,” but not of the same essence. We are the hot-house, artificially quickened plants in nature, having in us a spark, which in them is latent. ( The Secret Doctrine 421 Vol. 2)

Nhân loại hiển nhiên được chia thành những con người được Thượng đế thấm nhuần và những tạo vật nhân loại thấp kém hơn. Sự khác biệt trí tuệ giữa người Arya và các dân tộc văn minh khác với những người man dã như dân đảo Nam Hải là điều không thể giải thích trên bất kỳ cơ sở nào khác. Không một mức độ văn hóa nào, cũng không nhiều thế hệ được huấn luyện giữa nền văn minh, có thể nâng những mẫu người như dân Bushmen, người Veddhas ở Tích Lan, và một số bộ lạc Phi châu lên cùng trình độ trí tuệ như người Arya, người Semite, và cái gọi là người Turanian. “Tia lửa thiêng liêng” thiếu vắng nơi họ, và chính họ là những chủng tộc thấp kém duy nhất trên địa cầu, hiện nay may thay—nhờ sự điều chỉnh khôn ngoan của bản chất vốn luôn hoạt động theo hướng đó—đang nhanh chóng tuyệt diệt.Quả thật nhân loại là “cùng một huyết thống”, nhưng không cùng một tinh chất. Chúng ta là những cây trồng trong nhà kính, được thúc đẩy tăng trưởng một cách nhân tạo trong bản chất, mang trong mình một tia lửa mà nơi họ còn tiềm ẩn. ( Giáo Lý Bí Nhiệm 421 Tập 2)

64. This distinction should be held clearly in mind when thinking about the fate and destiny of various groups within the human race. The same destiny and method to that destiny are not for all.

64. Sự phân biệt này cần được giữ rõ trong tâm trí khi suy nghĩ về số phận và định mệnh của các nhóm khác nhau trong nhân loại. Cùng một định mệnh và cùng một phương pháp đi đến định mệnh ấy không dành cho tất cả mọi người.

65. The Law of the Schools…

65. Định luật của các Trường Phái…

can be studied in two main divisions, first, in connection with the human units passing under hierarchical influence in the Hall of Wisdom,

có thể được nghiên cứu trong hai phân विभाग chính, thứ nhất, liên hệ với các đơn vị nhân loại đi vào dưới ảnh hưởng của Thánh đoàn trong Phòng Minh triết,

66. Presumably this will be a study of the human units found within the Earth-scheme.

66. Có lẽ đây sẽ là một nghiên cứu về các đơn vị nhân loại được tìm thấy bên trong hệ hành tinh Địa Cầu.

67. We would be studying, minimally, those human beings in whom the aspiration towards an unseen “higher power” has awakened. The Hall of Wisdom holds many grades of human beings including those who are true initiates.

67. Tối thiểu, chúng ta sẽ nghiên cứu những con người nơi họ khát vọng hướng đến một “quyền năng cao hơn” vô hình đã thức tỉnh. Phòng Minh triết chứa đựng nhiều cấp bậc con người, kể cả những người là điểm đạo đồ chân chính.

and also in connection with the various planetary schemes.

và cũng liên hệ với các hệ hành tinh khác nhau.

68. This would represent an expansion of our subject and must obviously remain beyond the possibility of confirmation for us.

68. Điều này sẽ biểu thị một sự mở rộng đề tài của chúng ta và hiển nhiên phải nằm ngoài khả năng xác nhận của chúng ta.

Each scheme exists in order to teach a specific aspect of consciousness,

Mỗi hệ hành tinh tồn tại để dạy một phương diện tâm thức đặc thù,

69. We note this. The relationship between schools and consciousness is inseparable.

69. Chúng ta lưu ý điều này. Mối liên hệ giữa các trường phái tâm thức là không thể tách rời.

70. These aspects of consciousness are being cultivated with the ring-pass-not of our Solar Logos (on the cosmic physical plane), the solar system.

70. Những phương diện tâm thức này đang được vun bồi bên trong vòng-giới-hạn của Thái dương Thượng đế của chúng ta (trên cõi hồng trần vũ trụ), tức hệ mặt trời.

71. Each such type of consciousness is influential on Earth via various Ashrams, globes and chains.

71. Mỗi loại tâm thức như thế đều có ảnh hưởng trên Trái Đất qua các ashram, các bầu hành tinh và các dãy khác nhau.

and each planetary school or Hierarchy subjects its pupils to this law, only in manners diverse.

và mỗi trường phái hành tinh hay Thánh Đoàn đều đặt các môn sinh của mình dưới định luật này, chỉ khác nhau về cách thức.

72. Some conceive as the entire universe as a school. Through occult study we come to learn that each of our system’s Planetary Logoi is certainly a ‘Teacher’ of some kind.

72. Một số người quan niệm toàn thể vũ trụ như một trường học. Qua nghiên cứu huyền bí học, chúng ta đi đến chỗ biết rằng mỗi Hành Tinh Thượng đế trong hệ thống của chúng ta chắc chắn là một loại ‘Huấn sư’ nào đó.

73. The particular mode of ‘education’ is most intense on the planet on which it originated, but does manage to spread its influence to the other planets via various sympathetic channels of energy.

73. Phương thức ‘giáo dục’ đặc thù mãnh liệt nhất trên hành tinh nơi nó khởi nguồn, nhưng vẫn xoay xở lan truyền ảnh hưởng của nó đến các hành tinh khác qua những kênh năng lượng đồng cảm khác nhau.

These planetary schools are necessarily governed by certain factors of which the two most important are the peculiar karma of the planetary Logos concerned, and His particular Ray.

Những trường phái hành tinh này tất yếu được cai quản bởi một số yếu tố, trong đó hai yếu tố quan trọng nhất là nghiệp quả đặc thù của Hành Tinh Thượng đế liên hệ, và cung riêng biệt của Ngài.

74. We have been told that the karma of our Planetary Logos has much to do with the factor of “personality”.

74. Chúng ta đã được cho biết rằng nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta có liên hệ rất nhiều với yếu tố “phàm ngã”.

Herein lies the mystery of our planet, the most mysterious of all the planets. Just as the karma of individuals differs, so differs the karma of the various Logoi, and the karma of our planetary Logos has been a heavy one, and veiled in the mystery of personality at this time. (TCF 207)

Chính trong đây có huyền nhiệm của hành tinh chúng ta, hành tinh huyền bí nhất trong tất cả các hành tinh. Cũng như nghiệp quả của các cá nhân khác nhau, nghiệp quả của các Thượng đế khác nhau cũng khác nhau, và nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta là một nghiệp quả nặng nề, và hiện nay được che phủ trong huyền nhiệm của phàm ngã. (TCF 207)

75. Which ray is meant? On our planet, presently, the quality of the school is probably not influenced by the quality of the monadic ray because on non-sacred planets the monadic ray is occultly “non-effective”.

75. Cung nào được hàm ý ở đây? Trên hành tinh chúng ta, hiện nay, phẩm tính của trường phái có lẽ không bị ảnh hưởng bởi phẩm tính của cung chân thần vì trên các hành tinh không thiêng liêng, cung chân thần một cách huyền bí là “không hữu hiệu”.

76. Will it be the soul ray then?

76. Vậy thì đó sẽ là cung linh hồn chăng?

77. The name of Earth School suggests a ray in which the Law of Attraction is prominent: the School on our planet is called the “School of Magnetic Response”. So, perhaps, it is the soul ray of our Planetary Logos which, at this time, conditions the nature of His School.

77. Tên gọi Trường Địa Cầu gợi ra một cung trong đó Định luật Hấp Dẫn nổi trội: trường phái trên hành tinh chúng ta được gọi là “Trường Đáp Ứng Từ Tính”. Vì vậy, có lẽ chính cung linh hồn của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, vào lúc này, đang tác động lên bản chất của Trường của Ngài.

It is not possible at this stage to convey to students the information as to the nature of each planetary school.

Ở giai đoạn này, không thể truyền đạt cho các đạo sinh thông tin về bản chất của từng trường phái hành tinh.

78. Master DK lists only some.

78. Chân sư DK chỉ liệt kê một số mà thôi.

They exist in five great groups:

Chúng tồn tại trong năm nhóm lớn:

1.  The exoteric non-sacred planets, called in occult parlance “the outer round” or outer circle of initiates. Of these our earth is one, but being aligned in a peculiar fashion with certain spheres on the inner round, a dual opportunity exists for mankind, which facilitates, whilst it complicates, the evolutionary process.

1.  Các hành tinh ngoại môn không thiêng liêng, được gọi trong thuật ngữ huyền bí là “cuộc tuần hoàn bên ngoài” hay vòng tròn bên ngoài của các điểm đạo đồ. Trong số này, Trái Đất của chúng ta là một, nhưng vì được chỉnh hợp theo một cách đặc biệt với một số khối cầu trong cuộc tuần hoàn bên trong, nên tồn tại một cơ hội kép cho nhân loại, điều này tạo thuận lợi đồng thời làm phức tạp tiến trình tiến hoá.

79. Diverse definitions exist for the state we call “the inner round”. Are we to infer from what is here said that sacred planets or spheres have types of schools which have an inner circle of initiates related to an “inner round”? Or are only some Planetary Logoi Who manifest through sacred planets (for instance those who manifest through the synthesizing planets) expressing through the “inner round”?

79. Có nhiều định nghĩa khác nhau cho trạng thái mà chúng ta gọi là “cuộc tuần hoàn bên trong”. Từ điều được nói ở đây, chúng ta có nên suy ra rằng các hành tinh hay khối cầu thiêng liêng có những loại trường phái có một vòng tròn bên trong của các điểm đạo đồ liên hệ với một “cuộc tuần hoàn bên trong” chăng? Hay chỉ một số Hành Tinh Thượng đế biểu lộ qua các hành tinh thiêng liêng (chẳng hạn những vị biểu lộ qua các hành tinh tổng hợp) mới biểu lộ qua “cuộc tuần hoàn bên trong”?

80. We can see that Earth is a planet in transition. Perhaps it is meaningful to recollect at this point that, inwardly, the Earth is considered a “sacred planet” but outwardly its sacredness is not fully in expression.

80. Chúng ta có thể thấy rằng Trái Đất là một hành tinh đang chuyển tiếp. Có lẽ thật có ý nghĩa khi nhớ lại vào lúc này rằng, về mặt nội tại, Trái Đất được xem là một “hành tinh thiêng liêng”, nhưng về mặt ngoại tại tính thiêng liêng của nó chưa biểu lộ trọn vẹn.

81. We might, then, understand something more about the complexity of living as a human being within the Earth-scheme. Facilitation and complication go hand in hand. It seems that a contradictory, perhaps fourth ray experience, is natural to those who are ‘schooled’ within out planetary scheme.

81. Vậy thì chúng ta có thể hiểu thêm đôi chút về tính phức tạp của việc sống như một con người bên trong hệ hành tinh Địa Cầu. Sự thuận lợi và sự phức tạp đi đôi với nhau. Dường như một kinh nghiệm mâu thuẫn, có lẽ thuộc cung bốn, là điều tự nhiên đối với những ai được ‘giáo dục’ bên trong hệ hành tinh của chúng ta.

82. We note that we are speaking of the Planetary Logoi as “initiates” of a certain kind. Planetary Logoi Who manifest through non-sacred planets are members of “an outer circle of initiates”. They are part of what is called “the outer round”.

82. Chúng ta lưu ý rằng chúng ta đang nói về các Hành Tinh Thượng đế như những “điểm đạo đồ” thuộc một loại nào đó. Các Hành Tinh Thượng đế biểu lộ qua các hành tinh không thiêng liêng là thành viên của “một vòng tròn bên ngoài của các điểm đạo đồ”. Họ là một phần của điều được gọi là “cuộc tuần hoàn bên ngoài”.

83. This does not mean, however, that the Logoi of all sacred planets are part of the “inner round”.

83. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các Thượng đế của mọi hành tinh thiêng liêng đều là một phần của “cuộc tuần hoàn bên trong”.

2.  The sacred planets, called sometimes (when this Law of the Schools is under consideration) the “seven grades of psychic knowledge” or the “seven divisions of the field of knowledge.”

2.  Các hành tinh thiêng liêng, đôi khi được gọi (khi Định luật của các Trường Phái này được xem xét) là “bảy cấp độ tri thức thông linh” hay “bảy phân विभाग của lĩnh vực tri thức.”

84. We note that for the sacred planets, per se, the term “inner round” is not mentioned.

84. Chúng ta lưu ý rằng đối với chính các hành tinh thiêng liêng, thuật ngữ “cuộc tuần hoàn bên trong” không được nhắc đến.

85. The term “psychic” is particularly connected with the second ray. The initiate on the second ray becomes the true “Psychic”. This is what the Christ has become just as the initiate on the first ray becomes the true “Occultist”.

85. Thuật ngữ “thông linh” đặc biệt liên hệ với cung hai. Điểm đạo đồ trên cung hai trở thành “Nhà Thông Linh” chân chính. Đây là điều mà Đức Christ đã trở thành, cũng như điểm đạo đồ trên cung một trở thành “Nhà Huyền Bí Học” chân chính.

86. Just as the non-sacred planets are connected generically with the third ray, so the sacred planets which are not synthesizing planets are connected with the second ray and the synthesizing planets more with the first ray (under the first ray Law of Synthesis).

86. Cũng như các hành tinh không thiêng liêng liên hệ một cách tổng quát với cung ba, thì các hành tinh thiêng liêng không phải là hành tinh tổng hợp liên hệ với cung hai, còn các hành tinh tổng hợp liên hệ nhiều hơn với cung một (dưới Định luật Tổng Hợp của cung một).

87. It would seem that the type of knowledge taught or acquired on the sacred planets is a more inner type of knowledge, thus psychic.

87. Dường như loại tri thức được dạy hay đạt được trên các hành tinh thiêng liêng là một loại tri thức bên trong hơn, do đó mang tính thông linh.

88. All Planetary Logoi are “Dragons of Wisdom” and have achieved a quite full expression of the second aspect of divinity. This associates Them with a high type of psychism.

88. Tất cả các Hành Tinh Thượng đế đều là “Những Rồng Minh triết” và đã đạt được một sự biểu lộ khá trọn vẹn của phương diện thứ hai của thiên tính. Điều này liên kết Các Ngài với một loại thông linh cao cấp.

89. Notice that the planets are called “grades” and “divisions”. It the energy they represent which is emphasized and the fact that this energy is only one of a number of grades or divisions. The Planetary Logoi and Their planets are known by the energy patterns they expression.

89. Hãy lưu ý rằng các hành tinh được gọi là “cấp độ” và “phân विभाग”. Chính năng lượng mà chúng biểu thị là điều được nhấn mạnh, và sự kiện rằng năng lượng này chỉ là một trong nhiều cấp độ hay phân विभाग. Các Hành Tinh Thượng đế và các hành tinh của Các Ngài được biết đến qua các mô hình năng lượng mà Các Ngài biểu lộ.

3.  The inner round, which carries with it vast opportunity for those who can surmount its problems and withstand its temptations.

3.  Cuộc tuần hoàn bên trong, mang theo nó cơ hội to lớn cho những ai có thể vượt qua các vấn đề của nó và đứng vững trước những cám dỗ của nó.

90. One wonders whether its “temptations” have to do with the ‘Path of Exaltation’. Can it be that when pursuing the inner round it is possible to ignore the requirement to serve within the lower spheres? Temptations are not always pulls from ‘below’ but from ‘above’ as well.

90. Người ta tự hỏi liệu những “cám dỗ” của nó có liên quan đến ‘Con Đường Tôn Vinh’ hay không. Có thể chăng khi theo đuổi cuộc tuần hoàn bên trong, người ta có thể phớt lờ đòi hỏi phải phụng sự trong các khối cầu thấp hơn? Cám dỗ không phải lúc nào cũng là những lực kéo từ ‘bên dưới’ mà còn từ ‘bên trên’ nữa.

91. We might be tempted to must ask whether the “inner round” has any particular relation to the synthesizing planets. Later, it seems confirmed that it does not.

91. Chúng ta có thể bị cám dỗ mà hỏi liệu “cuộc tuần hoàn bên trong” có bất kỳ liên hệ đặc biệt nào với các hành tinh tổng hợp hay không. Về sau, dường như điều đó được xác nhận là không phải.

92. We are told, however, that the inner round is connected with Mercury and Mercury is not a synthesizing planet.

92. Tuy nhiên, chúng ta được cho biết rằng cuộc tuần hoàn bên trong có liên hệ với Sao Thủy, và Sao Thủy không phải là một hành tinh tổng hợp.

93. A round is a ‘cyclic path of development’

93. Một cuộc tuần hoàn là một ‘con đường phát triển có tính chu kỳ’

This inner round has a peculiar appeal to units on certain Rays, and has its own specific dangers.

Cuộc tuần hoàn bên trong này có một sức hấp dẫn đặc biệt đối với các đơn vị trên một số cung nhất định, và có những nguy hiểm đặc thù của riêng nó.

94. DK is not telling us which rays these may be. Perhaps we can gather more by dealing with developments which DK suggests as associated with the inner round.

94. Chân sư DK không cho chúng ta biết đó có thể là những cung nào. Có lẽ chúng ta có thể thu thập thêm bằng cách bàn đến những sự phát triển mà Chân sư DK gợi ý là liên hệ với cuộc tuần hoàn bên trong.

The inner round is the round that is followed by those who have passed through the human stage and have consciously developed the faculty of etheric living and can follow the etheric cycles, functioning consciously on the three higher etheric planes in all parts of the system.

Cuộc tuần hoàn bên trong là cuộc tuần hoàn được theo bởi những ai đã vượt qua giai đoạn nhân loại và đã phát triển một cách hữu thức năng lực sống dĩ thái và có thể theo các chu kỳ dĩ thái, hoạt động một cách hữu thức trên ba cõi dĩ thái cao hơn trong mọi phần của hệ thống.

95. So, those who follow the inner round must be members of the fifth kingdom which those who have passed through the human stage necessarily join.

95. Vậy thì, những ai theo cuộc tuần hoàn bên trong hẳn phải là thành viên của giới thứ năm, giới mà những ai đã vượt qua giai đoạn nhân loại tất yếu gia nhập.

96. Is DK speaking of the systemic ethers or cosmic ethers. Obviously, once having passed through the human stage there is no longer a necessity to have dense physical body and so etheric living would be natural.

96. Chân sư DK đang nói về các dĩ thái hệ thống hay các dĩ thái vũ trụ? Hiển nhiên, một khi đã vượt qua giai đoạn nhân loại thì không còn cần phải có thể xác đậm đặc nữa, và vì thế sống dĩ thái sẽ là điều tự nhiên.

97. If He is referring to the cosmic ethers, then such individuals would be ‘living’ on the atmic, monadic and logoic planes—the three higher cosmic ethers.

97. Nếu Ngài đang nói đến các dĩ thái vũ trụ, thì những cá nhân như thế sẽ ‘sống’ trên các cõi atma, chân thần và logoi—ba dĩ thái vũ trụ cao hơn.

98. If one has passed through the human kingdom, then one is an initiate of the fourth degree who no longer has to incarnate, and who has his ‘home’ upon the first of the cosmic ethers, the buddhic plane. There would no longer be a need for evolution within the solar ethers and on the first three subplanes of the etheric plane.

98. Nếu người ta đã vượt qua giới nhân loại, thì người ta là một điểm đạo đồ bậc bốn không còn phải lâm phàm nữa, và có ‘nhà’ của mình trên cõi thứ nhất của các dĩ thái vũ trụ, tức cõi Bồ đề. Sẽ không còn nhu cầu tiến hoá trong các dĩ thái thái dương và trên ba cõi phụ đầu của cõi dĩ thái nữa.

99. If etheric living is involved, is there a possibility that the ray most associated with the ether—the seventh ray—conditions some of those most attracted to the inner round? The third ray could also be involved, as Mercury, a planet much associated with the inner round is a profoundly third ray planet. And what of the fifth ray—also a ray much associated with Mercury?

99. Nếu sống dĩ thái có liên quan, liệu có khả năng rằng cung gắn liền nhất với dĩ thái—cung bảy—đang tác động lên một số người bị hấp dẫn mạnh nhất đối với cuộc tuần hoàn bên trong chăng? Cung ba cũng có thể liên quan, vì Sao Thủy, một hành tinh gắn nhiều với cuộc tuần hoàn bên trong, là một hành tinh cung ba sâu sắc. Và còn cung năm thì sao—cũng là một cung gắn nhiều với Sao Thủy?

100.  Could it be possible that those who pursued the inner round are not bound by any planetary ring-pass-not, as they can function “in all parts of the system”—as, in a way, Mercury, the Intermediary, can? Or could it be possible that planets in all parts of the system provide inner round opportunities?—less likely, perhaps.

100.  Có thể nào những ai theo đuổi cuộc tuần hoàn bên trong không bị ràng buộc bởi bất kỳ vòng-giới-hạn hành tinh nào, vì họ có thể hoạt động “trong mọi phần của hệ thống”—như, theo một nghĩa nào đó, Sao Thủy, Đấng Trung Gian, có thể làm? Hay có thể nào các hành tinh trong mọi phần của hệ thống đều cung cấp những cơ hội của cuộc tuần hoàn bên trong?—có lẽ ít khả năng hơn.

101.  In any case, no one can follow the inner round who is not an advanced human being.

101.  Dù sao đi nữa, không ai có thể theo cuộc tuần hoàn bên trong nếu không phải là một con người tiến bộ cao.

They have—for certain occult and specific purposes—broken the connection between the third etheric and the four lower subplanes of the physical plane.

Họ đã—vì những mục đích huyền bí và đặc thù nào đó—cắt đứt sự liên kết giữa cõi dĩ thái thứ ba và bốn cõi phụ thấp hơn của cõi hồng trần.

102.  Here, however, even though these beings have passed through the human kingdom, the three higher subplanes of the solar physical plane seem to be involved, and not the higher ethers.

102.  Tuy nhiên, ở đây, dù những hữu thể này đã vượt qua giới nhân loại, ba cõi phụ cao hơn của cõi hồng trần thái dương dường như có liên quan, chứ không phải các dĩ thái cao hơn.

103.  It would seem that those who follow the inner round are, in a sense, remote from the affairs of ordinary human living.

103.  Dường như những ai theo cuộc tuần hoàn bên trong, theo một nghĩa nào đó, xa cách với các công việc của đời sống nhân loại thông thường.

104.  We note that their actions have emphasized a three/four division. They are, in a sense, living in abstraction and their experiences must be related to the number three, to Brahma. Are the third ray and Saturn then involved? Yet Saturn seems to lead to manifestation. Uranus (as the planet of the seventh ray) and a planet strongly connected to the ethers could certainly be involved. With Uranus there could be what we might call ‘abstractive temptations’.

104.  Chúng ta lưu ý rằng các hành động của họ đã nhấn mạnh một sự phân chia ba/bốn. Theo một nghĩa nào đó, họ đang sống trong sự trừu xuất và các kinh nghiệm của họ hẳn phải liên hệ với số ba, với Brahma. Vậy thì cung ba và Sao Thổ có liên quan chăng? Tuy nhiên, Sao Thổ dường như dẫn đến biểu hiện. Sao Thiên Vương (với tư cách hành tinh của cung bảy) và một hành tinh gắn mạnh với các dĩ thái chắc chắn có thể liên quan. Với Sao Thiên Vương có thể có điều mà chúng ta có thể gọi là những ‘cám dỗ trừu xuất’.

105.  Later we will see that the three particular planets quoted as associated with inner round opportunities form an “etheric triangle” in relation to one planetary Lord. We will wonder whether Saturn or Uranus could be that Lord.

105.  Về sau chúng ta sẽ thấy rằng ba hành tinh đặc biệt được nêu ra là liên hệ với các cơ hội của cuộc tuần hoàn bên trong tạo thành một “tam giác dĩ thái” liên hệ với một Chúa Tể hành tinh. Chúng ta sẽ tự hỏi liệu Chúa Tể ấy có thể là Sao Thổ hay Sao Thiên Vương chăng.

106.  It begins to seem more and more that the “temptations” may be the shunning of embodiment for purposes of service.

106.  Ngày càng có vẻ rằng những “cám dỗ” ấy có thể là sự lẩn tránh nhập thể vì mục đích phụng sự.

This [Page 1176] round is followed only by a prepared percentage of humanity,

Cuộc tuần hoàn này [Page 1176] chỉ được theo bởi một tỷ lệ nhân loại đã được chuẩn bị,

107.  Is it, then, a matter of choice or not? We will be interested to know something of the nature of the preparation which must be undergone.

107.  Vậy thì đây có phải là vấn đề lựa chọn hay không? Chúng ta sẽ quan tâm muốn biết đôi điều về bản chất của sự chuẩn bị phải trải qua.

108.  DK is not giving us the percentage, which would certainly be of interest. Probably the percentage is not large.

108.  Chân sư DK không cho chúng ta biết tỷ lệ ấy là bao nhiêu, điều chắc chắn sẽ rất đáng quan tâm. Có lẽ tỷ lệ ấy không lớn.

109.  We can see that the entire matter of the inner round is dealt with in a manner veiled. Only a few hints are given.

109.  Chúng ta có thể thấy rằng toàn bộ vấn đề về cuộc tuần hoàn nội tại được bàn đến theo một cách che giấu. Chỉ có một vài gợi ý được đưa ra.

and is closely associated with a group who pass with facility and develop with equal facility on the three planets that make a triangle with the earth, namely Mars, Mercury, and Earth.

và có liên hệ mật thiết với một nhóm những người đi qua một cách dễ dàng và phát triển cũng dễ dàng như thế trên ba hành tinh tạo thành một tam giác với Trái Đất, tức là Sao Hỏa, Sao Thủy và Trái Đất.

110.  Here there is a clarification concerning which types of human units may be associated with the inner round: those who pass through, let us say, or who develop upon Mars, Mercury and the Earth.

110.  Ở đây có một sự làm sáng tỏ liên quan đến những loại đơn vị nhân loại nào có thể được liên kết với cuộc tuần hoàn nội tại: những người đi qua, chúng ta hãy nói vậy, hoặc phát triển trên Sao Hỏa, Sao Thủy và Trái Đất.

111.  So we have established that inner round opportunities are available to those who are undergoing development on Earth.

111.  Vì vậy, chúng ta đã xác lập rằng các cơ hội của cuộc tuần hoàn nội tại sẵn có cho những ai đang trải qua sự phát triển trên Trái Đất.

112.  Mercury certainly has an etheric connection. The fourth ray which is transmitted through Mercury and the four ethers are certainly related. The etheric nature of Mercury is also related to the ethers.

112.  Sao Thủy chắc chắn có một liên hệ dĩ thái. cung bốn được truyền qua Sao Thủy và bốn dĩ thái chắc chắn có liên hệ với nhau. Bản chất dĩ thái của Sao Thủy cũng liên hệ với các dĩ thái.

113.  Why opportunities to pursue the inner round should be related to Mars remains in question.

113.  Vì sao các cơ hội theo đuổi cuộc tuần hoàn nội tại lại phải liên hệ với Sao Hỏa thì vẫn còn là một câu hỏi.

114.  We see that following the inner round is a group opportunity. It must be that certain groups are prepared to follow this path.

114.  Chúng ta thấy rằng việc theo cuộc tuần hoàn nội tại là một cơ hội nhóm. Hẳn là có những nhóm nhất định được chuẩn bị để đi theo con đường này.

115.  What is being said here is that units who develop on these planets may pass in groups into the Inner Round, but we are not told that the ‘location’ of the inner round is within the ring-pass-not of all of these planets.

115.  Điều đang được nói ở đây là các đơn vị phát triển trên những hành tinh này có thể đi vào cuộc tuần hoàn nội tại theo nhóm, nhưng chúng ta không được cho biết rằng “vị trí” của cuộc tuần hoàn nội tại nằm trong vòng-giới-hạn của tất cả các hành tinh này.

116.  We do remember that when the names Mars, Earth and Mercury are used in relation to globes of the Earth-chain, they represent, sequentially, the third, fourth and fifth globe.

116.  Chúng ta quả có nhớ rằng khi các tên Sao Hỏa, Trái Đất và Sao Thủy được dùng liên hệ với các bầu hành tinh của Dãy Địa Cầu, chúng lần lượt tượng trưng cho bầu hành tinh thứ ba, thứ tư và thứ năm.

117.  The Earth-chain and the Mercury-chain are sequentially the fourth and fifth chains, but the Mars-chain is not the third, but rather the sixth. Still, they are sequential, beginning with Earth and moving through Mercury to Mars.

117.  Dãy Địa Cầu và Dãy Sao Thủy lần lượt là dãy thứ tư và thứ năm, nhưng Dãy Sao Hỏa không phải là dãy thứ ba mà đúng hơn là dãy thứ sáu. Tuy nhiên, chúng vẫn là tuần tự, bắt đầu với Trái Đất và đi qua Sao Thủy đến Sao Hỏa.

These three planets—in connection with this inner round

Ba hành tinh này—liên hệ với cuộc tuần hoàn nội tại này

118.  What is meant by “this” inner round. Are there more than one inner round in our solar system? Are we speaking of an inner round to which the human beings on Earth have particular access?

118.  “cuộc tuần hoàn nội tại này” có nghĩa là gì? Có hơn một cuộc tuần hoàn nội tại trong hệ mặt trời của chúng ta chăng? Có phải chúng ta đang nói đến một cuộc tuần hoàn nội tại mà con người trên Trái Đất có quyền tiếp cận đặc biệt không?

—are considered only as existing in etheric matter, and (in relation to one of the Heavenly Men) hold a place analogous to the etheric triangle found in the human etheric body.

—chỉ được xem như hiện hữu trong vật chất dĩ thái, và (liên hệ với một trong các Đấng Thiên Nhân) giữ một vị trí tương tự với tam giác dĩ thái được tìm thấy trong thể dĩ thái của con người.

119.  We are given an interesting piece of occult information. Even though we are dealing with dense, material planets, they are only viewed etherically. Dense physical bodies are never considered ‘real’, but only as aggregations built upon the real physical body—the etheric.

119.  Chúng ta được cung cấp một mẩu thông tin huyền bí thú vị. Dù chúng ta đang bàn đến các hành tinh vật chất đậm đặc, chúng chỉ được nhìn theo phương diện dĩ thái. Các thể xác hồng trần đậm đặc không bao giờ được xem là “thực”, mà chỉ như những tập hợp được xây dựng trên thể hồng trần thực sự—thể dĩ thái.

120.  What is this “etheric triangle” found within the human etheric body. Can we call it the pranic triangle? If we do so, this triangle consists of the spleen, a center just above the diaphragm and a center located between the shoulder blades and called “the shoulder centre”. (TCF 169)

120.  “Tam giác dĩ thái” này được tìm thấy trong thể dĩ thái của con người là gì? Chúng ta có thể gọi nó là tam giác prana không? Nếu gọi như vậy, tam giác này gồm luân xa lá lách, một trung tâm ngay phía trên cơ hoành và một trung tâm nằm giữa hai bả vai, được gọi là “trung tâm vai”. (TCF 169)

121.  It is clear that the cycle of development called the “inner round” is pursued etherically, and now it is quite certain that whether or not the higher ethers are involved, the lower ones certainly are.

121.  Rõ ràng là chu kỳ phát triển được gọi là “cuộc tuần hoàn nội tại” được theo đuổi một cách dĩ thái, và giờ đây khá chắc chắn rằng dù các dĩ thái cao có tham dự hay không, thì các dĩ thái thấp chắc chắn có tham dự.

122.  Is “one of the Heavenly Men” a Logos expressing through the planet Saturn or Uranus?

122.  “một trong các Đấng Thiên Nhân” có phải là một Thượng đế biểu lộ qua hành tinh Sao Thổ hay Sao Thiên Vương không?

123.  We might consider the Earth as the splenic center, Mars as the center just above the diaphragm, and Mercury (so connected with Gemini, the breath and the lungs) to be found in the lower part of the space between the shoulder blades.

123.  Chúng ta có thể xem Trái Đất là trung tâm lá lách, Sao Hỏa là trung tâm ngay phía trên cơ hoành, và Sao Thủy (liên hệ rất nhiều với Song Tử, hơi thở và phổi) được tìm thấy ở phần dưới của khoảng không giữa hai bả vai.

124.  After the “pranic triangle” (which may here be designated as the “etheric triangle”) we have the astral triangle, followed by the mental triangle, etc.

124.  Sau “tam giác prana” (ở đây có thể được chỉ định là “tam giác dĩ thái”), chúng ta có tam giác cảm dục, tiếp theo là tam giác trí tuệ, v.v.

125.  It is interesting that DK remains vague about the nature of this triangle calling only “the” etheric triangle, when in fact there are many etheric triangles.

125.  Điều thú vị là Chân sư DK vẫn mơ hồ về bản chất của tam giác này khi chỉ gọi nó là “tam giác dĩ thái”, trong khi thực ra có nhiều tam giác dĩ thái.

126.  It is interesting to realize that all the three planets mentioned (Mars, Earth and Mercury) are associated with the base of the spine center which, itself, is fourfold and has an etheric connection. “The other two centres have to do primarily with the etheric body and with the astral plane. (TCF 167)

126.  Thật thú vị khi nhận ra rằng cả ba hành tinh được nhắc đến (Sao Hỏa, Trái Đất và Sao Thủy) đều liên hệ với trung tâm đáy cột sống, mà bản thân nó là tứ phân và có một liên hệ dĩ thái. “Hai trung tâm kia chủ yếu liên quan đến thể dĩ thái và cõi cảm dục. (TCF 167)

127.  DK gives an analogy which places the Earth as the base of the spine center of the Solar Logos. He also calls Mercury “kundalini active” and Mars “kundalini latent”. “Mercury demonstrates kundalini in intelligent activity, while Mars demonstrates kundalini latent.” (TCF 181)

127.  Chân sư DK đưa ra một phép loại suy đặt Trái Đất như trung tâm đáy cột sống của Thái dương Thượng đế. Ngài cũng gọi Sao Thủy là “kundalini hoạt động” và Sao Hỏa là “kundalini tiềm ẩn”. “Sao Thủy biểu lộ kundalini trong hoạt động thông minh, trong khi Sao Hỏa biểu lộ kundalini tiềm ẩn.” (TCF 181)

128.  So we might think that the base of the spine center has much to do the inner round, and with three basally associated planets which are considered to be etheric in nature—not dense.

128.  Vì vậy, chúng ta có thể nghĩ rằng trung tâm đáy cột sống có liên hệ rất nhiều với cuộc tuần hoàn nội tại, và với ba hành tinh liên hệ căn bản được xem là có bản chất dĩ thái—không đậm đặc.

I have here conveyed more than has as yet been exoterically communicated anent this inner round and by the study of the human etheric triangle,

Tôi ở đây đã փոխանց đạt nhiều hơn những gì cho đến nay đã được truyền đạt công truyền liên quan đến cuộc tuần hoàn nội tại này, và nhờ nghiên cứu tam giác dĩ thái của con người,

129.  Again, we may infer the pranic triangle (cf. TCF 169)…

129.  Một lần nữa, chúng ta có thể suy ra tam giác prana (xem TCF 169)…

130.  Does the word “etheric” in this context, mean “pranic”? It may and we may, therefore, be dealing with a blind.

130.  Từ “dĩ thái” trong ngữ cảnh này có nghĩa là “prana” không? Có thể là như vậy, và do đó chúng ta có thể đang đối diện với một bức màn che.

its function, and the type of force which circulates around it, much may be deduced about the planetary inner round.

chức năng của nó, và loại mãnh lực lưu chuyển quanh nó, nhiều điều có thể được suy ra về cuộc tuần hoàn nội tại hành tinh.

131.  It would seem that we should study what DK has said about the pranic triangle and its circulation of force in order to learn something about “the planetary inner round” or planetary inner round s.

131.  Có vẻ như chúng ta nên nghiên cứu điều Chân sư DK đã nói về tam giác prana và sự lưu chuyển mãnh lực của nó để học được điều gì đó về “cuộc tuần hoàn nội tại hành tinh” hay các cuộc tuần hoàn nội tại hành tinh.

132.  If Mercury rules the solar logoic ajna center and if the base of the spine center is involved, then we are reminded of how the being must be “seated on the throne between the eyebrows” in order to direct the kundalini.

132.  Nếu Sao Thủy cai quản trung tâm ajna logoi thái dương và nếu trung tâm đáy cột sống có liên hệ, thì chúng ta được nhắc nhớ về cách hữu thể phải được “an tọa trên ngai giữa hai chân mày” để điều khiển kundalini.

We must bear in mind in this connection that just as the human etheric triangle is but the preparatory stage to a vast circulation within the sphere of the entire etheric body,

Chúng ta phải ghi nhớ trong mối liên hệ này rằng cũng như tam giác dĩ thái của con người chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho một sự lưu chuyển rộng lớn trong khối cầu của toàn bộ thể dĩ thái,

133.  If the etheric triangle is equivalent to the “pranic triangle” then it is followed in development by five other triangles. By the time the sixth triangle is functioning the circulation of energies in the human etheric body is extensive.

133.  Nếu tam giác dĩ thái tương đương với “tam giác prana” thì trong sự phát triển, nó được tiếp nối bởi năm tam giác khác. Đến khi tam giác thứ sáu hoạt động, sự lưu chuyển các năng lượng trong thể dĩ thái của con người đã rất rộng lớn.

134.  The fact that DK speaks of the preparatory nature of the “etheric triangle” makes one think it could representative the most primitive of the etheric triangles—one which substands all the others, called also the “pranic triangle”.

134.  Việc Chân sư DK nói về tính chất chuẩn bị của “tam giác dĩ thái” khiến người ta nghĩ rằng nó có thể tượng trưng cho tam giác dĩ thái nguyên sơ nhất—tam giác làm nền cho tất cả các tam giác khác, cũng được gọi là “tam giác prana”.

so the etheric planetary triangle—passing from the Earth to Mars and Mercury—is but the preparatory circulatory system to a vaster round included within the sphere of influence of one planetary Lord.

thì tam giác hành tinh dĩ thái—đi từ Trái Đất đến Sao Hỏa và Sao Thủy—chỉ là hệ tuần hoàn chuẩn bị cho một cuộc tuần hoàn rộng lớn hơn được bao gồm trong khối cầu ảnh hưởng của một Chúa Tể Hành Tinh.

135.  Can planets be assigned to more than one chakra in the chakric system of the Solar Logos? We have suggested at various times that this is possible.

135.  Các hành tinh có thể được gán cho hơn một luân xa trong hệ thống luân xa của Thái dương Thượng đế không? Chúng tôi đã nhiều lần gợi ý rằng điều này là có thể.

136.  Who is this “one planetary Lord”? Given the planets involved, it would seem that either Saturn or Uranus could be considered candidates. Earth, Mercury and Mars are all within the greater Saturn Scheme. Earth and Mars are, respectively, the physical body and astral body of a great third ray Entity which may be ‘Greater Saturn’ (cf. TCF, Chart VI) or the Brahma of our solar system. Mercury is certainly related to Uranus (Uranus is for Mercury the final absorber) and Earth shares the same monadic ray with Uranus—the first ray.

136.  “một Chúa Tể Hành Tinh” này là ai? Xét các hành tinh liên hệ, có vẻ như hoặc Sao Thổ hoặc Sao Thiên Vương có thể được xem là ứng viên. Trái Đất, Sao Thủy và Sao Hỏa đều nằm trong hệ hành tinh Sao Thổ lớn hơn. Trái Đất và Sao Hỏa lần lượt là thể xác và thể cảm dục của một Thực Thể vĩ đại cung ba, có thể là ‘Đại Sao Thổ’ (xem TCF, Biểu đồ VI) hoặc Brahma của hệ mặt trời chúng ta. Sao Thủy chắc chắn có liên hệ với Sao Thiên Vương (đối với Sao Thủy, Sao Thiên Vương là đấng hấp thụ cuối cùng) và Trái Đất chia sẻ cùng một cung chân thần với Sao Thiên Vương—cung một.

137.  So we have Earth and Mercury related to Uranus and Mars and Earth related to Saturn.

137.  Vì vậy, chúng ta có Trái Đất và Sao Thủy liên hệ với Sao Thiên Vương, còn Sao Hỏa và Trái Đất liên hệ với Sao Thổ.

138.  Uranus is also a planet much associated with etheric life. It rules the systemic etheric body and also, generically, the four cosmic etheric planes.

138.  Sao Thiên Vương cũng là một hành tinh liên hệ rất nhiều với sự sống dĩ thái. Nó cai quản thể dĩ thái hệ thống và cũng, một cách tổng quát, cai quản bốn cõi dĩ thái vũ trụ.

139.  Uranus, however, is one of the last two synthesizing planets (to retain their planetary integrity) and may be the final synthesizing planet which merges into the Sun. It must be established whether Uranus absorbs Neptune or Neptune absorbs Uranus. The fact that our present solar system is a second ray system may have to be taken into consideration.

139.  Tuy nhiên, Sao Thiên Vương là một trong hai hành tinh tổng hợp cuối cùng (còn giữ tính toàn vẹn hành tinh của mình) và có thể là hành tinh tổng hợp cuối cùng hòa nhập vào Mặt Trời. Cần phải xác định liệu Sao Thiên Vương hấp thụ Sao Hải Vương hay Sao Hải Vương hấp thụ Sao Thiên Vương. Sự kiện rằng hệ mặt trời hiện tại của chúng ta là một hệ cung hai có thể phải được xét đến.

140.  Via Uranus comes the first ray power of abstraction or disconnection. Since it is also a planet energizing ethers of various types, it may signify a round of development in which there is no connection with the redemptive purposes of our Solar Logos in relation to the vestigial matter of the previous solar system.

140.  Qua Sao Thiên Vương đến quyền năng trừu xuất hay cắt lìa của cung một. Vì nó cũng là một hành tinh tiếp năng lượng cho các dĩ thái thuộc nhiều loại khác nhau, nên nó có thể biểu thị một cuộc tuần hoàn phát triển trong đó không có liên hệ nào với các mục đích cứu chuộc của Thái dương Thượng đế của chúng ta đối với vật chất tàn dư của hệ mặt trời trước.

141.  The accuracy of our interpretation will depend upon the meaning of the term “the etheric triangle”. Is it or is it not equivalent to “the pranic triangle”?

141.  Độ chính xác của cách giải thích của chúng ta sẽ tùy thuộc vào ý nghĩa của thuật ngữ “tam giác dĩ thái”. Nó có hay không tương đương với “tam giác prana”?

4.  The circle of the planetoids.

4.  Vòng tròn của các tiểu hành tinh.

142.  These are not asteroids. The two types of solar systemic lives have to be kept distinct.

142.  Đây không phải là các tiểu hành tinh asteroid. Hai loại sự sống hệ mặt trời phải được giữ phân biệt.

Students of the Ageless Wisdom are apt to forget that the Life of the Logos manifests itself through those circling spheres which (though not large enough to be regarded as planets) pursue their orbital paths around the solar centre

Các đạo sinh của Minh Triết Ngàn Đời dễ quên rằng Sự sống của Thượng đế biểu lộ chính nó qua những khối cầu quay tròn ấy, những khối cầu mà (dù không đủ lớn để được xem là các hành tinh) vẫn theo đuổi quỹ đạo của chúng quanh trung tâm mặt trời

143.  Therefore, they are not “moons”, per se, as moons seem to circle a particular planet and these planetoids pursue their orbital paths around the solar centre.

143.  Do đó, chúng không phải là “mặt trăng”, chính chúng, vì các mặt trăng dường như quay quanh một hành tinh nhất định còn các tiểu hành tinh này theo đuổi quỹ đạo của chúng quanh trung tâm mặt trời.

144.  Should Chiron be considered a planetoid? What of Pluto and other extra-Plutonic spheres?

144.  Chiron có nên được xem là một tiểu hành tinh không? Còn Sao Diêm Vương và các khối cầu ngoài Sao Diêm Vương khác thì sao?

and have their own evolutionary problems

và có những vấn đề tiến hoá riêng của chúng

145.  This is interesting. Every Planetary Logos (major or minor ) seems to have its own evolutionary problems. The problems of Earth are distinct, considerable and, from what we understand, complicated.

145.  Điều này thật thú vị. Mỗi Hành Tinh Thượng đế (lớn hay nhỏ) dường như đều có những vấn đề tiến hoá riêng. Các vấn đề của Trái Đất là riêng biệt, đáng kể và, theo điều chúng ta hiểu, rất phức tạp.

and are functioning as part of the solar Body.

và đang hoạt động như một phần của Thể mặt trời.

146.  The “solar Body” is the solar system, which cosmically is confined to the cosmic physical plane.

146.  “Thể mặt trời” là hệ mặt trời, mà về mặt vũ trụ bị giới hạn trong cõi hồng trần vũ trụ.

They are informed—as are the planets—by a cosmic Entity

Chúng được thấm nhuần—cũng như các hành tinh—bởi một Thực Thể vũ trụ

147.  Note, then, that Planetary Logoi are cosmic Entities. This must be so if even the Logoi of planetoids are cosmic Entities. One can be a cosmic entity and still express within the solar system.

147.  Vậy thì hãy lưu ý rằng các Hành Tinh Thượng đế là các Thực Thể vũ trụ. Điều này hẳn phải như vậy nếu ngay cả các Thượng đế của các tiểu hành tinh cũng là các Thực Thể vũ trụ. Một hữu thể có thể là một thực thể vũ trụ mà vẫn biểu lộ trong hệ mặt trời.

and are under the influence of the Life impulses of the solar Logos as are the greater bodies.

và ở dưới ảnh hưởng của các xung lực sự sống của Thái dương Thượng đế cũng như các thể lớn hơn.

148.  All planetary bodies are subservient to the central Life—that of the Solar Logos.

148.  Mọi thể hành tinh đều phụ thuộc vào Sự sống trung tâm—đó là Thái dương Thượng đế.

The evolutions upon them are analogous to, though not identical with, those of our planet,

Các tiến hoá trên chúng là tương tự, dù không đồng nhất, với những tiến hoá trên hành tinh của chúng ta,

149.  There are evolutions upon and within planetoids which are analogous to the evolutions which are pursuing their path on Earth. There must be an immense variety of lives within our solar system.

149.  Có những tiến hoá trên và trong các tiểu hành tinh tương tự với những tiến hoá đang theo đuổi con đường của chúng trên Trái Đất. Hẳn phải có một sự đa dạng vô cùng lớn của các sự sống trong hệ mặt trời của chúng ta.

150.  Do we think that Master DK is singling out our planet in particular and drawing a particular comparison between our Planetary Logos and the Logoi of the planetoids?

150.  Chúng ta có nghĩ rằng Chân sư DK đang đặc biệt nêu bật hành tinh của chúng ta và rút ra một sự so sánh đặc biệt giữa Hành Tinh Thượng đế của chúng ta với các Thượng đế của các tiểu hành tinh không?

and they swing through their cycles in the Heavens under the same laws as do the greater planets.

và chúng dao động qua các chu kỳ của mình trong các cõi trời dưới cùng những định luật như các hành tinh lớn hơn.

151.  We are probably dealing with Kepler’s laws of planetary motion. There are probably subtler laws as well.

151.  Có lẽ chúng ta đang bàn đến các định luật chuyển động hành tinh của Kepler. Có lẽ cũng có những định luật tinh tế hơn.

5.  The absorbing Triangles. This term is applied to the evolutionary schools found located in the three major [Page 1177] planets of our system—Uranus, Neptune and Saturn—and to those found in the three major chains, and three major globes in a planetary scheme.

5.  Các Tam Giác Hấp Thụ. Thuật ngữ này được áp dụng cho các trường phái thăng thượng tiến hoá được đặt tại ba hành tinh lớn [Page 1177] của hệ chúng ta—Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và Sao Thổ—và cho những trường phái được tìm thấy trong ba dãy lớn, và ba bầu hành tinh lớn trong một hệ hành tinh.

152.  If there are “evolutionary schools” are there also “involutionary schools”?

152.  Nếu có các “trường phái thăng thượng tiến hoá” thì cũng có các “trường phái giáng hạ tiến hoá” chăng?

153.  We see that there are indeed schools associated with the synthesizing planets but the inner round is not mentioned in this context, though one of these synthesizing planets if probably involved, as discussed above.

153.  Chúng ta thấy rằng quả thực có các trường phái liên hệ với các hành tinh tổng hợp, nhưng cuộc tuần hoàn nội tại không được nhắc đến trong ngữ cảnh này, dù một trong các hành tinh tổng hợp này có lẽ có liên hệ, như đã bàn ở trên.

154.  We notice that in any type of system—a solar system, a planetary system or a chain system, there are three spheres which, together, can be considered an “absorbing triangle”.

154.  Chúng ta lưu ý rằng trong bất kỳ loại hệ thống nào—một hệ mặt trời, một hệ hành tinh hay một hệ dãy—đều có ba khối cầu mà cùng nhau có thể được xem là một “tam giác hấp thụ”.

155.  Just as there are major planetary schemes, there are major chains and major globes. It would seem that the sixth and seventh chain or globe have to be considered as of a synthesizing nature, just as (if we begin with Vulcan and exclude the non-sacred planets like Earth and Mars, then) Neptune and Uranus (two definitely synthesising planets) are the respectively the sixth and seventh planetary schemes.

155.  Cũng như có các hệ hành tinh lớn, có các dãy lớn và các bầu hành tinh lớn. Có vẻ như dãy hay bầu hành tinh thứ sáu và thứ bảy phải được xem là có bản chất tổng hợp, cũng như (nếu chúng ta bắt đầu với Vulcan và loại trừ các hành tinh không thiêng liêng như Trái Đất và Sao Hỏa, thì) Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương (hai hành tinh tổng hợp rõ rệt) lần lượt là hệ hành tinh thứ sáu và thứ bảy.

156.  Should the fifth scheme, chain or globe (which are usually called the “Mercury” scheme, chain or globe) be considered “major”? Rather, if we count outward from the Sun (excluding again, Earth and Mars) another synthesizing planet, Saturn, is found to be the fifth in order.

156.  Hệ, dãy hay bầu hành tinh thứ năm (thường được gọi là hệ, dãy hay bầu hành tinh “Sao Thủy”) có nên được xem là “lớn” không? Đúng hơn, nếu chúng ta đếm ra ngoài từ Mặt Trời (một lần nữa loại trừ Trái Đất và Sao Hỏa), thì một hành tinh tổng hợp khác, Sao Thổ, được thấy là đứng thứ năm theo thứ tự.

157.  In any case, we can infer that the fifth, sixth and seventh chains or globes are of a more synthetic nature than the ones preceding it, but are these three necessarily the major ones as DK is here using the word “major”?

157.  Dù sao đi nữa, chúng ta có thể suy ra rằng các dãy hay bầu hành tinh thứ năm, thứ sáu và thứ bảy có bản chất tổng hợp hơn những cái đi trước, nhưng liệu ba cái này có nhất thiết là những cái lớn như Chân sư DK đang dùng từ “lớn” ở đây không?

158.  So much, however, depends on whether we count seven schemes, chains and globes or ten! If we are dealing with a model like that of the “Tree of Life” then the three synthesizers are found ‘above’ the seven and correspond to Kether, Chochma and Binah.

158.  Tuy nhiên, rất nhiều điều tùy thuộc vào việc chúng ta đếm bảy hệ hành tinh, dãy và bầu hành tinh hay mười! Nếu chúng ta đang bàn đến một mô hình như “Cây Sự Sống” thì ba đấng tổng hợp được tìm thấy ‘ở trên’ bảy và tương ứng với Kether, Chochma và Binah.

The Rulers of these planets, chains and globes are called the “Divine Examiners,” and Their work concerns the human kingdom specifically and entirely.

Các Đấng cai quản các hành tinh, dãy và bầu hành tinh này được gọi là “Các Đấng Khảo Xét Thiêng Liêng,”công việc của Các Ngài liên hệ riêng biệt và hoàn toàn với giới nhân loại.

159.  Something about the name “Divine Examiners” suggests the forty-two “Assessors” in the Egyptian Mysteries.

159.  Có điều gì đó trong tên gọi “Các Đấng Khảo Xét Thiêng Liêng” gợi nhớ đến bốn mươi hai “Vị Phán Xét” trong các Mật Nghi Ai Cập.

160.  It is interesting that the work of the “Divine Examiners” rises no higher than work with the human kingdom. What is not being said?

160.  Điều thú vị là công việc của “Các Đấng Khảo Xét Thiêng Liêng” không vươn cao hơn công việc với giới nhân loại. Điều gì không được nói ra?

161.  From what is here said we can infer that the Logoi of Saturn, Neptune and Uranus are called “Divine Examiners”. This appellation has its parallel on the chain and globe level, but we must determine with certainty which, really, are the three major chains and globes of our solar system. The major chains and globes may not correspond to the three synthesizing planets.

161.  Từ điều được nói ở đây, chúng ta có thể suy ra rằng các Thượng đế của Sao Thổ, Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương được gọi là “Các Đấng Khảo Xét Thiêng Liêng”. Danh xưng này có sự tương ứng của nó ở cấp độ dãy và bầu hành tinh, nhưng chúng ta phải xác định chắc chắn đâu thực sự là ba dãy và bầu hành tinh lớn của hệ mặt trời chúng ta. Các dãy và bầu hành tinh lớn có thể không tương ứng với ba hành tinh tổng hợp.

162.  The following table which includes at least the major chains of our Earth-chain (probably that is the meaning) is indicative, but the term “major” may be relative and time-dependent:

162.  Bảng sau đây, bao gồm ít nhất các dãy lớn của Dãy Địa Cầu chúng ta (có lẽ đó là ý nghĩa), có tính chỉ dẫn, nhưng thuật ngữ “lớn” có thể là tương đối và tùy thuộc thời gian:

7 Rays Major 1-2-7 Four subsidiary converging on the fifth.

7 Cung Chính 1-2-7 Bốn cung phụ hội tụ vào cung thứ năm.

7 Principles 3 Major Monad, Ego and Personality, synthesising at various stages the four subsidiary.

7 Nguyên khí 3 Chính Chân thần, Chân ngã và phàm ngã, tổng hợp bốn nguyên khí phụ ở những giai đoạn khác nhau.

7 Chains Major 1-4-7, etc. (TCF 600.)

7 Dãy Chính 1-4-7, v.v. (TCF 600.)

163.  The first, fourth and seventh chains are Neptune, Earth and Jupiter chains, respectively, and constitute a triangle which is different from the triangle of the three synthesizing planets.

163.  Dãy thứ nhất, thứ tư và thứ bảy lần lượt là các dãy Sao Hải Vương, Trái Đất và Sao Mộc, và tạo thành một tam giác khác với tam giác của ba hành tinh tổng hợp.

They are responsible for the work of

Các Ngài chịu trách nhiệm về công việc

a. Transferring men from one school to another, and from one grade to another.

a. Chuyển những người nam và nữ từ trường này sang trường khác, và từ cấp bậc này sang cấp bậc khác.

164.  The three major rulers (whether on a planetary, chain or globe level) seem to give ‘permission for passage’. They control the process of elevation.

164.  Ba đấng cai quản lớn (dù ở cấp độ hành tinh, dãy hay bầu hành tinh) dường như ban “sự cho phép đi qua”. Các Ngài kiểm soát tiến trình nâng lên.

165.  It may be necessary to deduce that there are “schools” on globes and chains as well as planetary schools. Perhaps the planetary schools have their different divisions on different chains and globes.

165.  Có thể cần phải suy ra rằng có các “trường phái” trên các bầu hành tinh và các dãy cũng như các trường phái hành tinh. Có lẽ các trường phái hành tinh có những phân bộ khác nhau của chúng trên các dãy và bầu hành tinh khác nhau.

166.  It is hard to believe, however, that the three synthesizing planets operate only with respect to the human kingdom. The human kingdom, of course, is found throughout the solar system, but such great Logoi it seems, would have other and higher work.

166.  Tuy nhiên, thật khó tin rằng ba hành tinh tổng hợp chỉ hoạt động liên hệ với giới nhân loại. Dĩ nhiên, giới nhân loại được tìm thấy khắp hệ mặt trời, nhưng những Thượng đế vĩ đại như thế, dường như còn có những công việc khác và cao hơn.

167.  Perhaps we are speaking of planetary function only with respect to the Law of the Schools.

167.  Có lẽ chúng ta chỉ đang nói về chức năng hành tinh liên hệ với Định luật của các Trường Phái.

b. For the expanding of the human consciousness under the law,

b. Để mở rộng tâm thức con người dưới định luật,

168.  Are not other Planetary Logoi responsible for expanding human consciousness under the law? Only these three? What of Jupiter?

168.  Chẳng phải các Hành Tinh Thượng đế khác cũng chịu trách nhiệm mở rộng tâm thức con người dưới định luật sao? Chỉ riêng ba vị này thôi ư? Còn Sao Mộc thì sao?

169.  At least we can see that these three Lords of the schemes Saturn, Neptune and Uranus are definitely responsible for expanding human consciousness. They are rulers of the spiritual triad in which human consciousness undergoes an extraordinary expansion beyond its strictly ‘individual’ ring-pass-not.

169.  Ít nhất chúng ta có thể thấy rằng ba Chúa Tể của các hệ hành tinh Sao Thổ, Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương chắc chắn chịu trách nhiệm mở rộng tâm thức con người. Các Ngài là những đấng cai quản Tam Nguyên Tinh Thần, trong đó tâm thức con người trải qua một sự mở rộng phi thường vượt ra ngoài vòng-giới-hạn “cá nhân” nghiêm ngặt của nó.

c. For the transmutation of the forms of the human unit in the three worlds and the consequent negation of the form,

c. Để chuyển hoá các hình tướng của đơn vị nhân loại trong ba cõi giới và do đó phủ nhận hình tướng,

170.  From this we can assume that the influences of Saturn, Neptune and Uranus definitely lift the human consciousness towards and into the cosmic ethers—the true arupa levels of two thirds of the spiritual triad.

170.  Từ đây chúng ta có thể giả định rằng các ảnh hưởng của Sao Thổ, Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương chắc chắn nâng tâm thức con người hướng tới và đi vào các dĩ thái vũ trụ—các cấp độ arupa đích thực của hai phần ba Tam Nguyên Tinh Thần.

171.  Saturn, Neptune and Uranus are abstractors and absorbers and would naturally promote the disengagement of the human consciousness from lower form, considering even the egoic lotus as a lower form.

171.  Sao Thổ, Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương là những đấng trừu xuất và hấp thụ, và một cách tự nhiên sẽ thúc đẩy sự tách rời của tâm thức con người khỏi hình tướng thấp, ngay cả khi xem Hoa Sen Chân Ngã như một hình tướng thấp.

d. For the radioactivity of the fourth kingdom in nature.

d. Để tạo tính phóng xạ của giới thứ tư trong thiên nhiên.

172.  The initiatory process induces human radioactivity. The man is potently radioactive by the time the fourth initiation is reached and it is this radioactivity which contributes to the destruction of the causal body.

172.  Tiến trình điểm đạo gây ra tính phóng xạ nơi con người. Con người trở nên có tính phóng xạ mạnh mẽ vào lúc đạt đến lần điểm đạo thứ tư, và chính tính phóng xạ này góp phần vào sự hủy diệt thể nguyên nhân.

173.  It makes sense that the synthesizing planets (and probably within those planets the synthesizing chains and synthesizing globes) tend to produce the climactic result that radioactivity represents.

173.  Điều hợp lý là các hành tinh tổng hợp (và có lẽ trong các hành tinh ấy là các dãy tổng hợp và các bầu hành tinh tổng hợp) có khuynh hướng tạo ra kết quả cao trào mà tính phóng xạ biểu thị.

174.  This must mean that the three synthesizing planets are associated with the “Jewel in the Lotus” and its ‘setting’ in the synthesizing petals.

174.  Điều này hẳn có nghĩa là ba hành tinh tổng hợp liên hệ với “Ngọc trong Hoa Sen” và “đế” của nó trong các cánh hoa tổng hợp.

175.  Among these three, Uranus is known as the “Hierophant” or “Initiator”.

175.  Trong ba hành tinh này, Sao Thiên Vương được biết đến như “Đấng Chủ Lễ” hay “Đấng Điểm đạo”.

We might regard the presiding lives in these departmental schools

Chúng ta có thể xem các sự sống chủ trì trong các trường phái bộ môn này

176.  Is DK still discussing the schools on the three synthesizing planets or is He speaking generally of all planetary schools?

176.  Chân sư DK ở đây vẫn đang bàn về các trường phái trên ba hành tinh tổng hợp hay Ngài đang nói một cách tổng quát về mọi trường phái hành tinh?

177.  From what is said immediately below about the “final stages” of the Path, He seems still to be dealing with the synthesizing planets but this is not certain and, in fact, seems to be abrogated below. What exactly does He mean by “final stages”?

177.  Từ điều được nói ngay bên dưới về các “giai đoạn cuối cùng” của Con Đường, có vẻ như Ngài vẫn đang bàn đến các hành tinh tổng hợp, nhưng điều này không chắc chắn và thực ra dường như bị hủy bỏ ở dưới. Chính xác thì Ngài muốn nói gì bởi “các giai đoạn cuối cùng”?

as the custodians of the Path, and responsible, therefore, for the divine Pilgrim during the final stages of the treading of the Path of Evolution.

như những vị hộ trì của Con Đường, và do đó chịu trách nhiệm về Người Lữ Hành thiêng liêng trong các giai đoạn cuối cùng của việc bước đi trên Con Đường Tiến Hóa.

178.  When thinking of these “final stages” do they concern only the very highest initiations? Below we learn that even the Path of Probation is considered included within the final stages of the Path of Evolution.

178.  Khi nghĩ về các “giai đoạn cuối cùng” này, liệu chúng chỉ liên hệ với những lần điểm đạo rất cao nhất không? Ở dưới chúng ta biết rằng ngay cả Con Đường Dự Bị cũng được xem là nằm trong các giai đoạn cuối cùng của Con Đường Tiến Hóa.

179.  The “divine Pilgrim” is the Monad-in-incarnation.

179.  “Người Lữ Hành thiêng liêng” là Chân Thần-trong-sự-mở-rộng.

They begin to work with men from the moment they first set foot upon the Probationary Path and They continue Their work until the seventh initiation is taken.

Các Ngài bắt đầu làm việc với những người nam và nữ từ lúc họ lần đầu đặt chân lên Con Đường Dự Bị và Các Ngài tiếp tục công việc của mình cho đến khi lần điểm đạo thứ bảy được tiếp nhận.

180.  Here our questions are answered. The Path of Evolution discussed is, indeed, the entire Path of Evolution and the later or final stages are considered to begin from the Path of Probation onwards until, at last, the ultimate or seventh initiation is taken. The eighth and ninth initiations we have learned, are rarely taken within our planetary ring-pass-not.

180.  Ở đây các câu hỏi của chúng ta được giải đáp. Con Đường Tiến Hóa được bàn đến quả thực là toàn bộ Con Đường Tiến Hóa, và các giai đoạn sau hay cuối cùng được xem là bắt đầu từ Con Đường Dự Bị trở đi cho đến khi, cuối cùng, lần điểm đạo tối hậu hay thứ bảy được tiếp nhận. Chúng ta đã biết rằng các lần điểm đạo thứ tám và thứ chín hiếm khi được tiếp nhận trong vòng-giới-hạn hành tinh của chúng ta.

181.  So, even before the first initiation is taken, the Lords Who preside over the various planetary schools become active influences upon such relatively advanced human beings.

181.  Vì vậy, ngay cả trước khi lần điểm đạo thứ nhất được tiếp nhận, các Chúa Tể chủ trì các trường phái hành tinh khác nhau đã trở thành những ảnh hưởng tích cực đối với những con người tương đối tiến bộ như thế.

182.  The very final phases of training for the human Monad are, it would seem, under the sway of the three synthesizing planets and their Logoi.

182.  Các giai đoạn huấn luyện cuối cùng nhất cho Chân thần nhân loại, dường như, nằm dưới quyền chi phối của ba hành tinh tổng hợp và các Thượng đế của chúng.

The Masters, therefore, Who take pupils for training, are numbered amongst them, whilst the Masters Who do not concern Themselves with individuals and their development are not.

Do đó, các Chân sư nhận đệ tử để huấn luyện được kể vào số đó, trong khi các Chân sư không quan tâm đến các cá nhân và sự phát triển của họ thì không.

183.  The Masters active with humanity are to be considered “presiding lives in these departmental schools”.

183.  Các Chân sư hoạt động với nhân loại phải được xem là “những sự sống chủ trì trong các trường ban ngành này”.

184.  There are many Masters, however, who are not concerned with human initiation and they are not considered presiding lives in departmental schools.

184.  Tuy nhiên, có nhiều Chân sư không quan tâm đến điểm đạo của nhân loại và các Ngài không được xem là những sự sống chủ trì trong các trường ban ngành.

It is not possible to give fully the types of schools and teaching which is given on the different planets. All that can be done is to give an occult phrase which will convey to the intuitive student the necessary hint.

Không thể trình bày đầy đủ các loại trường học và giáo huấn được ban ra trên những hành tinh khác nhau. Tất cả những gì có thể làm là đưa ra một cụm từ huyền bí, cụm từ này sẽ chuyển đạt cho đạo sinh trực giác manh mối cần thiết.

185.  So we are given important occult hints about quite a number of the schools. A few of the schools are missing from the enumeration and it would be interest to speculate why this might be so.

185.  Vì vậy, chúng ta được ban cho những gợi ý huyền bí quan trọng về khá nhiều trường học. Một vài trường không có trong bản liệt kê, và sẽ là điều thú vị nếu suy đoán vì sao điều này có thể là như vậy.

186.  Notable as missing is the School on Saturn, a planet closely associated with the Earth (and Mars) and of great importance in our solar system. If there is a School of Pluto, it too is missing.

186.  Điều đáng chú ý là Trường trên Sao Thổ không được nhắc đến, một hành tinh gắn bó mật thiết với Trái Đất (và Sao Hỏa) và có tầm quan trọng lớn trong hệ mặt trời của chúng ta. Nếu có một Trường của Sao Diêm Vương, thì trường ấy cũng vắng mặt.

187.  The order in which these schools are discussed is also a matter of interest. Why begin with Uranus? And then go immediately to Earth? Probably there are important hints in the order. Both of these Planetary Logoi have the same monadic ray.

187.  Thứ tự mà các trường này được bàn đến cũng là một điều đáng quan tâm. Tại sao lại bắt đầu với Sao Thiên Vương? Và rồi lập tức chuyển sang Trái Đất? Có lẽ có những gợi ý quan trọng trong thứ tự ấy. Cả hai Đức Hành Tinh Thượng Đế này đều có cùng một cung chân thần.

188.  If we knew something about the School on Saturn, we would know of three schools on three closely related planets—Earth, Mars and Saturn.

188.  Nếu chúng ta biết điều gì đó về Trường trên Sao Thổ, chúng ta sẽ biết về ba trường trên ba hành tinh có liên hệ mật thiết với nhau—Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Thổ.

S9S11 Part II

TCF 1177-1180

TCF 1177-1180

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ những trang khác của TCFđược trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình giải xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Xin đề nghị rằng phần Bình Giải này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ ra, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ chuyển đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Giải

Planetary Schools

Các Trường Hành Tinh

URANUS—The School of Magic of the tenth order. It is sometimes called “the planet of the violet [Page 1178] force,” and its graduates wield the power of cosmic etheric prana.

SAO THIÊN VƯƠNG—Trường Huyền Thuật của cấp mười. Đôi khi nó được gọi là “hành tinh của mãnh lực tím [Page 1178],” và các học viên tốt nghiệp của nó vận dụng quyền năng của prana dĩ thái vũ trụ.

1. The seventh ray nature of Uranus is here accented. We may presume that the soul ray of Uranus is the seventh ray based upon the inference that when the ray of the sacred planets are given, it is the soul ray of each planet that is given, principally because sacred planets express principally the soul rather than the personality. They also express, to a degree, the monadic ray.

1. Ở đây bản chất cung bảy của Sao Thiên Vương được nhấn mạnh. Chúng ta có thể giả định rằng cung linh hồn của Sao Thiên Vương là cung bảy, dựa trên suy luận rằng khi các cung của những hành tinh thiêng liêng được nêu ra, thì chủ yếu chính là cung linh hồn của mỗi hành tinh được nêu ra, bởi vì các hành tinh thiêng liêng biểu hiện chủ yếu linh hồn hơn là phàm ngã. Chúng cũng biểu hiện, ở một mức độ nào đó, cung chân thần.

2. The color violet, of course, correlates with the seventh ray.

2. Dĩ nhiên, màu tím tương ứng với cung bảy.

3. In some sense Uranus must be considered the tenth scheme. From a certain perspective, it is the planet which has the highest spiritual status. Its monadic ray is the first and the number ten reduces to the number one. We cannot yet determine, however, whether Uranus is the final of the three synthesizing planets.

3. Theo một ý nghĩa nào đó, Sao Thiên Vương phải được xem là hệ hành tinh thứ mười. Từ một góc nhìn nào đó, đó là hành tinh có địa vị tinh thần cao nhất. Cung chân thần của nó là cung một và số mười quy về số một. Tuy nhiên, chúng ta chưa thể xác định liệu Sao Thiên Vương có phải là hành tinh cuối cùng trong ba hành tinh tổng hợp hay không.

4. Cosmic etheric prana is found upon the highest four levels of the cosmic physical plane—i.e., upon the cosmic ethers. We can assume that the graduates of the school on Uranus wield forces upon the buddhic, atmic, monadic and logoic planes. In some sense, Uranus ‘rules’ those planes collectively.

4. Prana dĩ thái vũ trụ được tìm thấy trên bốn cấp độ cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ—tức là trên các dĩ thái vũ trụ. Chúng ta có thể giả định rằng các học viên tốt nghiệp của trường trên Sao Thiên Vương vận dụng các mãnh lực trên các cõi Bồ đề, atma, chân thần và logoic. Theo một ý nghĩa nào đó, Sao Thiên Vương “cai quản” các cõi ấy như một toàn thể.

5. Just as the human etheric body can be considered under two aspects—the etheric structure and the pranic energy that animates that structure and flows through that structure, so it must be for the cosmic ethers. It would seem, then, that these graduates are more associated with the animating prana than with the etheric structure of the cosmic etheric planes.

5. Cũng như thể dĩ thái của con người có thể được xét dưới hai phương diện—cấu trúc dĩ thái và năng lượng prana tiếp sinh lực cho cấu trúc ấy và chảy qua cấu trúc ấy—thì điều đó cũng phải đúng đối với các dĩ thái vũ trụ. Do đó, dường như các học viên tốt nghiệp này liên hệ nhiều hơn với prana tiếp sinh lực hơn là với cấu trúc dĩ thái của các cõi dĩ thái vũ trụ.

6. We could wonder if there are schools of magic of other orders, or whether the school on Uranus is the only school of magic and also happens to be a school of the tenth order.

6. Chúng ta có thể tự hỏi liệu có những trường huyền thuật thuộc các cấp khác hay không, hoặc liệu trường trên Sao Thiên Vương có phải là trường huyền thuật duy nhất và đồng thời cũng là một trường thuộc cấp mười hay không.

7. Uranus can be associated with Kether—the tenth Sephiroth atop the Tree of Life.

7. Sao Thiên Vương có thể được liên kết với Kether—Sephiroth thứ mười ở đỉnh Cây Sự Sống.

8. Must one leave one’s own planet to participate in this school? Do the schools have representatives on various planets and can one pursue curricula related to each school on one’s own planet? Perhaps there are preparatory curricula on each planet which could relate ‘students’ to particular planetary schools.

8. Có phải người ta phải rời hành tinh của mình để tham dự trường này không? Các trường ấy có đại diện trên nhiều hành tinh khác nhau không, và người ta có thể theo đuổi các chương trình học liên hệ với mỗi trường ngay trên hành tinh của mình không? Có lẽ trên mỗi hành tinh đều có những chương trình dự bị có thể liên hệ các “đạo sinh” với những trường hành tinh đặc thù.

EARTH—The School of Magnetic Response. Another name given to its pupils is “The graduates of painful endeavour” or the “adjudicators between the polar opposites.”

TRÁI ĐẤT—Trường Đáp Ứng Từ Tính. Một tên gọi khác dành cho các học viên của trường này là “Những người tốt nghiệp của nỗ lực đau đớn” hoặc “những người phân xử giữa các cực đối nghịch”.

1. Earth has a first ray Monad just as does Uranus. Could this be the reason why it is mentioned immediately after Uranus. There must be a reason for the order. In mythology, Uranus and Gaia are always closely related.

1. Trái Đất có một Chân thần cung một cũng như Sao Thiên Vương. Có phải đây là lý do vì sao nó được nhắc đến ngay sau Sao Thiên Vương chăng. Hẳn phải có một lý do cho thứ tự này. Trong thần thoại, Uranus và Gaia luôn có liên hệ mật thiết với nhau.

2. To what type of magnetism are the students within the School of Magnetic Response subjected? There is always a question for Monads working through the Earth-scheme regarding the type of magnetism to which they shall respond. They will be attracted to the vestigial energies of the Moon-chain or the previous solar system or they will be attracted to the energies promoting logoically-intended development and expression in our solar present system.

2. Các đạo sinh trong Trường Đáp Ứng Từ Tính chịu tác động của loại từ điện nào? Luôn luôn có một vấn đề đối với các chân thần hoạt động qua hệ hành tinh Địa Cầu liên quan đến loại từ điện mà họ sẽ đáp ứng. Họ sẽ bị thu hút vào các năng lượng tàn dư của Dãy Mặt Trăng hay của hệ mặt trời trước, hoặc họ sẽ bị thu hút vào các năng lượng thúc đẩy sự phát triển và biểu hiện được Thượng đế dự định trong hệ mặt trời hiện tại của chúng ta.

3. The “painful endeavor” arises because those working through the Earth-scheme must, as it were, work against well-entrenched, older forms of magnetism related to the third aspect of divinity. They are torn between conflicting energies. This rending process is acutely active within the planetary scheme of Earth.

3. “Nỗ lực đau đớn” phát sinh bởi vì những ai hoạt động qua hệ hành tinh Địa Cầu phải, nói như vậy, làm việc chống lại những hình thức từ điện cũ hơn, đã bám rễ vững chắc, liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính. Họ bị xé kéo giữa những năng lượng xung đột. Tiến trình xé rách này hoạt động hết sức mãnh liệt trong hệ hành tinh của Trái Đất.

4. It would seem that the fourth ray must play an important part in the Earth process because earthlings are always ‘torn’ between the opposites representing the third and second aspects.

4. Dường như cung bốn phải đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình của Trái Đất bởi vì người địa cầu luôn bị “xé kéo” giữa các cặp đối nghịch tượng trưng cho phương diện thứ ba và thứ hai.

5. At length, those graduating from Earth-school learn to judge wisely between the pairs of opposites—the ‘high’ and ‘low’ which have persistently attracted them. They learn to discriminate between energy-streams which are progressive and those which retard progress, and this they learn through much pain and suffering. Pain and suffering are always related to the factor of division.

5. Cuối cùng, những ai tốt nghiệp từ trường Trái Đất học được cách phán đoán một cách minh triết giữa các cặp đối nghịch—cái “cao” và cái “thấp” vốn đã liên tục thu hút họ. Họ học cách phân biện giữa những dòng năng lượng mang tính tiến bộ và những dòng làm chậm sự tiến bộ, và họ học điều này qua rất nhiều đau đớn và khổ đau. Đau đớn và khổ đau luôn liên hệ với yếu tố phân ly.

A further hint to be taken in connection with the two names above given, is that its graduates are said to undergo examination upon the third subplane of the astral plane.

Một gợi ý thêm cần được tiếp nhận liên hệ với hai tên gọi nêu trên, là các học viên tốt nghiệp của trường này được nói là phải trải qua kỳ khảo hạch trên cõi phụ thứ ba của cõi cảm dục.

1. The siddhi associated with the third subplane of the astral plane is clairvoyance.

1. Siddhi liên hệ với cõi phụ thứ ba của cõi cảm dục là thông nhãn.

2. We can expect that since the number three is involved the factor of discrimination will be involved, since the Third Ray Lord is called “The Discriminating Essential Life”.

2. Chúng ta có thể chờ đợi rằng vì số ba có liên hệ ở đây nên yếu tố phân biện sẽ có mặt, bởi vì Đấng Chúa Tể Cung ba được gọi là “Sự Sống Cốt Yếu Phân Biện”.

3. Adjudication also suggests Libra, which is closely connected at this time with the third ray, which by numerical resonance is connected with all third planes or subplanes.

3. Sự phân xử cũng gợi đến Thiên Bình, vốn hiện nay liên hệ mật thiết với cung ba, cung này theo cộng hưởng số học có liên hệ với mọi cõi hay cõi phụ thứ ba.

4. The third subplane of any plane is the doorway to the esoteric portion of that plane. The third subplane is the height of the Brahmic influence on any plane but has not yet entered the truly esoteric domain where Vishnu and Shiva are influential.

4. Cõi phụ thứ ba của bất kỳ cõi nào cũng là cánh cửa dẫn vào phần huyền bí của cõi ấy. Cõi phụ thứ ba là đỉnh cao của ảnh hưởng Brahma trên bất kỳ cõi nào nhưng vẫn chưa bước vào lãnh vực thực sự huyền bí, nơi Vishnu và Shiva có ảnh hưởng.

5. The examination may relate to the question of whether the “graduates” are prepared to enter a dimension in which the influence the second aspect is greater than that of the third.

5. Kỳ khảo hạch có thể liên hệ đến câu hỏi liệu các “học viên tốt nghiệp” có sẵn sàng bước vào một chiều kích trong đó ảnh hưởng của phương diện thứ hai lớn hơn phương diện thứ ba hay không.

6. We must also question the meaning of the word “graduate”. What spiritual status does it indicate? Presumably this means an initiate of the fourth degree, and yet it could represent a higher initiatory stage. The astral plane discussed, however, must be the systemic astral plane as the Planetary Logos is presently involved with a struggle involving the fourth subplane of the cosmic astral plane and transition ‘upward’ to the third or fifth depending on whether one is counting from ‘below’ or ‘above’.

6. Chúng ta cũng phải đặt câu hỏi về ý nghĩa của từ “tốt nghiệp”. Nó chỉ ra địa vị tinh thần nào? Có lẽ điều này có nghĩa là một điểm đạo đồ bậc bốn, tuy nhiên nó cũng có thể tượng trưng cho một giai đoạn điểm đạo cao hơn. Tuy nhiên, cõi cảm dục được bàn đến ở đây hẳn phải là cõi cảm dục hệ thống vì Đức Hành Tinh Thượng Đế hiện đang dính líu vào một cuộc đấu tranh liên quan đến cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục vũ trụ và sự chuyển tiếp “đi lên” đến cõi phụ thứ ba hay thứ năm tùy theo người ta đếm từ “dưới” hay từ “trên”.

VULCAN—The School for Fiery Stones. There is a curious connection between the human units who pass through its halls and the mineral kingdom. The human units on the earth scheme are called in mystical parlance “the living stones“; on Vulcan they are called “fiery stones.”

VULCAN—Trường dành cho Những Viên Đá Rực Lửa. Có một mối liên hệ kỳ lạ giữa các đơn vị nhân loại đi qua các đại sảnh của trường này và giới kim thạch. Các đơn vị nhân loại trong hệ hành tinh Địa Cầu được gọi theo cách nói thần bí là “những viên đá sống”; trên Vulcan họ được gọi là “những viên đá rực lửa.”

1. Why should Vulcan be mentioned next in order. It too is a planet in which the first ray is prominent, but it is more likely that the soul ray of Vulcan is the first rather than the monadic ray. Vulcan is deeply associated with the Heart of the Sun, which does not suggest the first ray.

1. Tại sao Vulcan lại được nhắc đến tiếp theo trong thứ tự. Nó cũng là một hành tinh trong đó cung một nổi bật, nhưng có nhiều khả năng cung linh hồn của Vulcan là cung một hơn là cung chân thần. Vulcan liên hệ sâu sắc với Trái Tim của Mặt Trời, điều này không gợi ý cung một.

“2. Vulcan.—The one who reveals that which is deeply hidden and brings it up into the light. Esoterically—the heart of the Sun.” (EA 393)

“2. Vulcan.—Đấng mặc khải điều được ẩn giấu sâu xa và đưa nó ra ánh sáng. Một cách huyền bí—trái tim của Mặt Trời.” (EA 393)

1. There is a close relationship between Vulcan and the Earth; both are connected with the state of crystallization of which the “stone” is the symbol.

1. Có một mối liên hệ mật thiết giữa Vulcan và Trái Đất; cả hai đều liên hệ với trạng thái kết tinh mà “đá” là biểu tượng.

2. Because of the connection between Vulcan and the mineral kingdom, it is also related to life upon the systemic etheric-physical plane upon which the mineral kingdom is subtly focused.

2. Vì mối liên hệ giữa Vulcan và giới kim thạch, nó cũng liên hệ với sự sống trên cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống, nơi giới kim thạch được tập trung một cách vi tế.

3. Vulcan is presently a planet more fiery than Earth, but, symbolically at least, life is fire and fire is life, so there is a close connection between these two types of graduates—the fiery stones and the living stones.

3. Hiện nay Vulcan là một hành tinh rực lửa hơn Trái Đất, nhưng ít nhất về mặt biểu tượng, sự sống là lửa và lửa là sự sống, vì vậy có một mối liên hệ mật thiết giữa hai loại học viên tốt nghiệp này—những viên đá rực lửa và những viên đá sống.

4. When a human being from the Earth-scheme has achieved the state of “Diamond Soul” in which the “Jewel in the Lotus” is fully revealed, that state has a strong connection to the energy of the planet Vulcan.

4. Khi một con người từ hệ hành tinh Địa Cầu đã đạt đến trạng thái “Linh Hồn Kim Cương”, trong đó “Bảo Châu trong Hoa Sen” được bộc lộ trọn vẹn, thì trạng thái ấy có một liên hệ mạnh mẽ với năng lượng của hành tinh Vulcan.

5. We would expect that the energies of Vulcan have a very strong influence upon that part of man which is called the “Jewel in the Lotus”—a projection of the monadic “Jewel”.

5. Chúng ta có thể chờ đợi rằng các năng lượng của Vulcan có một ảnh hưởng rất mạnh lên phần nơi con người được gọi là “Bảo Châu trong Hoa Sen”—một sự phóng chiếu của “Bảo Châu” chân thần.

6. The following demonstrates the existence of the “Jewel” in dimensions higher than the causal and at initiatory levels higher than the fourth degree:

6. Đoạn sau đây chứng minh sự hiện hữu của “Bảo Châu” trong những chiều kích cao hơn thể nguyên nhân và ở những cấp điểm đạo cao hơn bậc bốn:

When the adept enters through the “luminous door” he has before him four very peculiar and esoteric IDENTIFICATIONS. This entrance takes place after he has passed the fifth Initiation and has demonstrated his fitness so to do through a long period of service in connection with our planetary evolution. These identifications eventually bring about within the jewel, which is essentially the true spiritual unit, a momentous happening, and are undergone within the monadic consciousness after the transcendence of the atmic sheath. (TCF 1246)

Khi chân sư đi vào qua “cánh cửa sáng chói”, trước mặt y là bốn sự ĐỒNG NHẤT HÓA rất đặc biệt và huyền bí. Sự đi vào này diễn ra sau khi y đã vượt qua lần điểm đạo thứ năm và đã chứng tỏ sự xứng đáng của mình để làm như vậy qua một thời kỳ dài phụng sự liên hệ với sự tiến hoá hành tinh của chúng ta. Những sự đồng nhất hóa này cuối cùng tạo ra bên trong bảo châu, vốn về bản chất là đơn vị tinh thần chân thực, một biến cố trọng đại, và chúng được trải qua trong tâm thức chân thần sau khi vượt lên trên thể atma. (TCF 1246)

1. The “true spiritual unit” seems to be the Monad, the only unit available after the “transcendence of the atmic sheath”.

1. “Đơn vị tinh thần chân thực” dường như là chân thần, đơn vị duy nhất còn có thể có sau “sự vượt lên trên thể atma”.

2. The livingness of Earth seems more hospitable to all the elements. Vulcan seems to be the host, especially, to fire.

2. Tính sống động của Trái Đất dường như hiếu khách hơn đối với mọi nguyên tố. Vulcan dường như là nơi cư ngụ, đặc biệt, của lửa.

3. These two planets do share some of the same rays on different levels: the second ray soul of Earth and, inferentially, the major second ray Monad of Vulcan. The first ray Monad of Earth and the first ray soul of Vulcan. Both, it seems have a connection with the fourth ray, the lesser monadic ray of Vulcan being, inferentially, the fourth, and the fourth ray conditioning the Earth (the fourth major planet from the Sun) perhaps through one or more of its personality vehicles.

3. Hai hành tinh này quả thật chia sẻ một số cung giống nhau trên những cấp độ khác nhau: cung linh hồn hai của Trái Đất và, theo suy luận, Chân thần cung hai chính của Vulcan. Chân thần cung một của Trái Đất và cung linh hồn một của Vulcan. Cả hai, dường như, đều có liên hệ với cung bốn, cung chân thần phụ của Vulcan theo suy luận là cung bốn, và cung bốn tác động lên Trái Đất (hành tinh lớn thứ tư tính từ Mặt Trời) có lẽ qua một hay nhiều vận cụ phàm ngã của nó.

4. There are Monads/lotuses which have come from Vulcan to Earth and their influence, it would seem, would contribute to the increased radiance of the “living stones”. Their effect will be to increase the radiation of various levels of matter including, eventually, the “Jewel”.

4. Có những chân thần/hoa sen đã đến từ Vulcan sang Trái Đất và ảnh hưởng của chúng, dường như, sẽ góp phần làm tăng sự rạng ngời của “những viên đá sống”. Tác động của chúng sẽ là làm tăng sự phóng xạ của nhiều cấp độ vật chất khác nhau, kể cả cuối cùng là của “Bảo Châu”.

JUPITER—The School of Beneficent Magicians. This planet is sometimes called in the parlance of the schools, the “College of Quadruple Force units,” for its members wield four kinds of force in constructive magical work. Another name given to its halls is “The Palace of Opulence” for its graduates work with the Law of Supply, and are frequently called “The Sowers.”

SAO MỘC—Trường của Những Nhà Huyền Thuật Từ Thiện. Hành tinh này đôi khi được gọi theo cách nói của các trường là, “Học Viện của các đơn vị Mãnh Lực Tứ Phân,” vì các thành viên của nó vận dụng bốn loại mãnh lực trong công việc huyền thuật xây dựng. Một tên gọi khác dành cho các đại sảnh của nó là “Cung Điện Phong Phú” vì các học viên tốt nghiệp của nó làm việc với Định luật Cung Ứng, và thường được gọi là “Những Người Gieo Hạt”.

1. Why should Jupiter be mentioned next. Is it again a question of ray? It is inferred by some that Jupiter’s monadic rays are the seventh (secondarily) and finally the first.

1. Tại sao Sao Mộc lại được nhắc đến tiếp theo. Có phải lại là vấn đề cung không? Một số người suy luận rằng các cung chân thần của Sao Mộc là cung bảy (thứ yếu) và cuối cùng là cung một.

2. We note the relation between Uranus and Jupiter—both are schools of magicians.

2. Chúng ta lưu ý mối liên hệ giữa Sao Thiên Vương và Sao Mộc—cả hai đều là những trường của các nhà huyền thuật.

3. If Jupiter is a school of magic we could wonder about the “order” of the school. Uranus is a school of the tenth order. The number four is much mentioned. If the tenth order is really, numerologically, the first; if Neptune relates to the second order and Saturn to the third, then Jupiter could easily be seen in relation to the fourth. Such thought, however, must be regarded as purely speculative.

3. Nếu Sao Mộc là một trường huyền thuật, chúng ta có thể tự hỏi về “cấp” của trường. Sao Thiên Vương là một trường thuộc cấp mười. Con số bốn được nhắc đến rất nhiều. Nếu cấp mười thực sự, theo số học, là cấp một; nếu Sao Hải Vương liên hệ với cấp hai và Sao Thổ với cấp ba, thì Sao Mộc có thể dễ dàng được xem là liên hệ với cấp bốn. Tuy nhiên, lối suy nghĩ ấy phải được xem là hoàn toàn suy đoán.

4. Jupiter wields a type of energy which is beneficent towards the form as it expresses consciousness. Jupiter expands the consciousness and prepares the form to receive and support a full measure of consciousness.

4. Sao Mộc vận dụng một loại năng lượng có tính từ thiện đối với hình tướng khi hình tướng biểu hiện tâm thức. Sao Mộc mở rộng tâm thức và chuẩn bị hình tướng để tiếp nhận và nâng đỡ một mức độ trọn vẹn của tâm thức.

5. We note that the glyph for the planet Jupiter can be seen as a four. This correlates superficially with its name, “The College of Quadruple Force Units”.

5. Chúng ta lưu ý rằng ký hiệu của hành tinh Sao Mộc có thể được nhìn như một số bốn. Điều này tương ứng một cách bề ngoài với tên gọi của nó, “Học Viện của các đơn vị Mãnh Lực Tứ Phân”.

6. We note that the school on Jupiter is a “college” thus associating is energies with those of “higher education”, Sagittarius (ruled by Jupiter) and the ninth house in which Jupiter has what astrologers call “accidental dignity”. The second ray is suggested by the word “college”.

6. Chúng ta lưu ý rằng trường trên Sao Mộc là một “học viện”, do đó liên kết các năng lượng của nó với những năng lượng của “giáo dục cao hơn”, Nhân Mã (do Sao Mộc cai quản) và nhà chín, nơi Sao Mộc có điều mà các nhà chiêm tinh gọi là “phẩm giá ngẫu nhiên”. Cung hai được gợi ý bởi từ “học viện”.

7. Since four types of force are wielded, there is a connection with the four elements and perhaps with the four ethers.

7. Vì bốn loại mãnh lực được vận dụng, nên có một mối liên hệ với bốn nguyên tố và có lẽ với bốn dĩ thái.

8. Since there is a seventh ray component to the energy expressed by Jupiter, it is fitting that it be associated with magic. Jupiter, the ‘Lord of Ceremony’, being associated also with magic, is naturally the planet of Ceremonial Magic—moreso, one could think, than Uranus.

8. Vì có một thành phần cung bảy trong năng lượng được Sao Mộc biểu hiện, nên thật thích hợp khi nó được liên kết với huyền thuật. Sao Mộc, “Chúa Tể của Nghi Lễ”, cũng liên hệ với huyền thuật, nên tự nhiên là hành tinh của Huyền Thuật Nghi Lễ—thậm chí, người ta có thể nghĩ, còn hơn cả Sao Thiên Vương.

9. Jupiter has much second ray associated with it (we infer that it expresses a second ray soul) and therefore it is fitting that Jupiter is involved in “constructive” magical work. Jupiter on some level may wield “thunderbolts” connected with the first ray, but in esotericism it is Jupiter’s second ray nature that we first encounter.

9. Sao Mộc có nhiều liên hệ với cung hai (chúng ta suy luận rằng nó biểu hiện một linh hồn cung hai) và do đó thật thích hợp khi Sao Mộc dính líu đến công việc huyền thuật “xây dựng”. Ở một cấp độ nào đó Sao Mộc có thể vận dụng những “tia sét” liên hệ với cung một, nhưng trong huyền bí học, bản chất cung hai của Sao Mộc là điều chúng ta gặp trước tiên.

10. Jupiter, therefore, as it now usually expresses, is more a builder than a destroyer. When we think of “constructive magical work” we notice a combination of the second and seventh rays. Both are rays of ‘construction’ and of building. They are also rays of healing and we can imagine Jupiter involved in the restorative part of the healing process.

10. Vì vậy, Sao Mộc, như hiện nay nó thường biểu hiện, là một đấng kiến tạo hơn là một đấng hủy diệt. Khi nghĩ đến “công việc huyền thuật xây dựng”, chúng ta nhận thấy một sự kết hợp của cung hai và cung bảy. Cả hai đều là những cung của “xây dựng” và kiến tạo. Chúng cũng là những cung của trị liệu và chúng ta có thể hình dung Sao Mộc dính líu đến phần phục hồi của tiến trình trị liệu.

11. If “Nature Abhors a Vacuum”, Jupiter is the influence which fills that vacuum—hence its association with the source of supply. Desire senses a lack and seeks to be granted fulfillment. Jupiter controls this fulfillment.

11. Nếu “Thiên Nhiên Ghét Sự Trống Rỗng”, thì Sao Mộc là ảnh hưởng lấp đầy sự trống rỗng ấy—do đó có liên hệ với nguồn cung ứng. Dục vọng cảm nhận sự thiếu hụt và tìm kiếm sự viên mãn. Sao Mộc kiểm soát sự viên mãn này.

12. Sowers are those who plant the seeds of abundance which Jupiter rules. Jupiter is associated with the scattering of seed producing fecundity. The behavior of the mythological deity, Jupiter, demonstrates this.

12. Những Người Gieo Hạt là những người gieo các hạt giống của sự phong phú mà Sao Mộc cai quản. Sao Mộc liên hệ với sự rải hạt giống tạo nên tính phì nhiêu. Hành vi của vị thần thoại Jupiter chứng minh điều này.

13. In general, it could be said that Jupiter provides abundant opportunity and is associated with new potentialities.

13. Nói chung, có thể nói rằng Sao Mộc cung cấp cơ hội dồi dào và liên hệ với những tiềm năng mới.

14. Because Jupiter is exalted in Cancer, the fourth sign of the zodiac, we see its relationship to the number four and to form. Jupiter brings fulfillment of the four kinds of energies/forces which are found expressing through the world of form.

14. Bởi vì Sao Mộc được tôn vinh trong Cự Giải, dấu hiệu hoàng đạo thứ tư, chúng ta thấy mối liên hệ của nó với số bốn và với hình tướng. Sao Mộc mang lại sự viên mãn của bốn loại năng lượng/mãnh lực được tìm thấy đang biểu hiện qua thế giới hình tướng.

15. One might also expect Jupiter to have sway, at least secondarily, over the four cosmic ethers, which it seems that Uranus rules primarily.

15. Người ta cũng có thể chờ đợi rằng Sao Mộc có quyền lực, ít nhất là thứ yếu, trên bốn dĩ thái vũ trụ, những cõi mà dường như Sao Thiên Vương cai quản chủ yếu.

16. Both of these planets have an interesting connection with the heart center—Jupiter moreso, but Uranus in terms of electrical impulse.

16. Cả hai hành tinh này đều có một mối liên hệ thú vị với trung tâm tim—Sao Mộc nhiều hơn, nhưng Sao Thiên Vương thì theo phương diện xung lực điện.

MERCURY

SAO THỦY

1. Mercury has a close relation to Jupiter. Together they are the orthodox rulers of the entre Mutable Cross.

1. Sao Thủy có một mối liên hệ mật thiết với Sao Mộc. Cùng nhau chúng là các chủ tinh chính thống của toàn bộ Thập Giá Biến đổi.

2. Both Mercury and Jupiter are planets which resist confinement.

2. Cả Sao Thủy lẫn Sao Mộc đều là những hành tinh chống lại sự giam hãm.

—The pupils

—Các học viên

1. When DK uses this word, does it mean that the “eye” is particularly involved in the learning process on Mercury? One must be aware of possible hints.

1. Khi Chân sư DK dùng từ này, có phải điều đó có nghĩa là “mắt” đặc biệt liên hệ với tiến trình học tập trên Sao Thủy không? Người ta phải lưu ý đến những gợi ý khả dĩ.

in this planetary school are called “The Sons of Aspiration”

trong trường hành tinh này được gọi là “Các Con của Khát Vọng”

1. This is an unusual title for this planetary school when one thinks of the usual interpretations of the planet Mercury.

1. Đây là một tước hiệu khác thường cho trường hành tinh này khi người ta nghĩ đến những cách giải thích thông thường về hành tinh Sao Thủy.

2. There is a connection however with Taurus. Mercury is closely related to Taurus and the highest type of aspirational idealism is found in this sign. (cf. EA 391)

2. Tuy nhiên, có một mối liên hệ với Kim Ngưu. Sao Thủy liên hệ mật thiết với Kim Ngưu và loại lý tưởng khát vọng cao nhất được tìm thấy trong dấu hiệu này. (x. EA 391)

or “The Points of Yellow Life.”

hoặc “Các Điểm của Sự Sống Vàng.”

1. Yellow is a color always associated with Gemini and within Mercury.

1. Màu vàng là một màu luôn liên hệ với Song Tử và trong Sao Thủy.

2. Mercury is closely associated with the third, fourth and fifth rays and, under various assignments, Mercury is or can be reasonably associated with each of these rays.

2. Sao Thủy liên hệ mật thiết với các cung ba, bốn và năm, và theo những cách quy định khác nhau, Sao Thủy đang hoặc có thể được liên kết một cách hợp lý với từng cung trong số này.

3. It can be inferred that the personality ray of Mercury is the third; its soul ray the fourth; and its monadic ray both the fifth (secondarily) and the third (primarily).

3. Có thể suy ra rằng cung phàm ngã của Sao Thủy là cung ba; cung linh hồn của nó là cung bốn; và cung chân thần của nó vừa là cung năm (thứ yếu) vừa là cung ba (chủ yếu).

4. We note the use of the word “Points” as lives are, indeed, points. This is an important point!

4. Chúng ta lưu ý việc dùng từ “Điểm” vì các sự sống quả thật là những điểm. Đây là một điểm quan trọng!

They have a close connection with our Earth scheme,

Chúng có một mối liên hệ mật thiết với hệ hành tinh Địa Cầu của chúng ta,

1. As do the lives on Vulcan. We can conceive a triangle between Vulcan, Mercury and Earth. This triangle would suggest the head, ajna and throat centers.

1. Cũng như các sự sống trên Vulcan. Chúng ta có thể hình dung một tam giác giữa Vulcan, Sao Thủy và Trái Đất. Tam giác này sẽ gợi đến các trung tâm đầu, ajna và cổ họng.

and the old Commentary refers to this in the words:

và Cổ Luận đề cập đến điều này bằng những lời sau:

“The points of golden flame merge and blend with the four-leaved plant of tender green, and change its colour to a tinge of autumn yellow.

“Những điểm của ngọn lửa vàng hòa nhập và dung hợp với cây bốn lá xanh non, và đổi màu của nó thành một sắc vàng thu.

1. We seem to be dealing with a ‘ripening’ process on Earth proceeding under the influence of Mercury. It is as if the energy of Mercury brings to an earthly process to maturation.

1. Dường như chúng ta đang đề cập đến một tiến trình “chín muồi” trên Trái Đất diễn ra dưới ảnh hưởng của Sao Thủy. Như thể năng lượng của Sao Thủy đưa một tiến trình trần thế đến chỗ trưởng thành.

2. DK tells us of the importance of the color yellow as a color of harmonization, noted during autumn in temperate climates. Fourth ray Mercury is obviously involved in this progress of transformation from green to yellow—a process of maturation.

2. Chân sư DK cho chúng ta biết tầm quan trọng của màu vàng như một màu của sự hài hòa hóa, được ghi nhận trong mùa thu ở các khí hậu ôn đới. Sao Thủy cung bốn rõ ràng có liên hệ trong tiến trình chuyển đổi từ xanh sang vàng này—một tiến trình trưởng thành.

The four-leaved plant

Cây bốn lá

1. Man is known as the “Seven-leaved Plant” the “Saptaparna”. When he is the “four-leaved plant”, he is manifesting consciously only through the lower three worlds ruled by the four elements. He is in the phase of personality development.

1. Con người được biết đến như “Cây Bảy Lá”, “Saptaparna”. Khi y là “cây bốn lá”, y chỉ đang biểu hiện một cách hữu thức qua ba cõi thấp do bốn nguyên tố cai quản. Y đang ở trong giai đoạn phát triển phàm ngã.

through new and fresh [Page 1179] inflow becomes the plant with seven leaves and three white flowers.”

qua sự tuôn đổ [Page 1179] mới mẻ và tươi mới trở thành cây có bảy lá và ba hoa trắng.”

1. We presume that the “fresh inflow” comes from Mercury (a planet of vitalization related to the vitalizing breath). Through the agency of Mercury, the higher three of man’s constitution (the spiritual triad) can be added to the lower four. The higher triad is merged with the lower quaternary via the antahkarana.

1. Chúng ta giả định rằng “sự tuôn đổ tươi mới” đến từ Sao Thủy (một hành tinh của sự tiếp sinh lực liên hệ với hơi thở tiếp sinh lực). Qua tác nhân của Sao Thủy, ba phần cao hơn trong cấu tạo của con người (Tam Nguyên Tinh Thần) có thể được thêm vào bốn phần thấp hơn. Tam nguyên cao hơn được hòa nhập với bộ bốn thấp hơn qua antahkarana.

2. There can be various meanings for the seven leaves. The three unfolded tiers of petals of the egoic lotus can each be considered as a leaf, making with the four personality vehicles, the seven. The three white flowers can then be considered the synthesis petals.

2. Có thể có nhiều ý nghĩa khác nhau cho bảy lá. Ba tầng cánh hoa đã khai mở của Hoa Sen Chân Ngã mỗi tầng có thể được xem như một lá, hợp với bốn vận cụ phàm ngã thành bảy. Khi đó ba hoa trắng có thể được xem là các cánh hoa tổng hợp.

3. It is interesting that the third Creative Hierarchy associated with the atmic plane is called the “Triple Flowers”. This plane is positioned at the ‘height’ of the spiritual triad.

3. Thật thú vị khi Huyền Giai Sáng Tạo thứ ba liên hệ với cõi atma được gọi là “Ba Hoa”. Cõi này được đặt ở “đỉnh cao” của Tam Nguyên Tinh Thần.

4. The “three white flowers” represent a spiritual blossoming which occurs at a very high level of man’s constitution.

4. “Ba hoa trắng” tượng trưng cho một sự nở hoa tinh thần xảy ra ở một cấp độ rất cao trong cấu tạo của con người.

5. White symbolizes purity and spirit. The appearance of the three white flowers could also occur on triadal levels where the initiatory blossoming of man occurs, or the blossoms could even refer to the three aspects of the Monad. In this case the seven leaves could be the seven principles of man, ‘above’ which the Monad presides.

5. Màu trắng tượng trưng cho sự thanh khiết và tinh thần. Sự xuất hiện của ba hoa trắng cũng có thể xảy ra trên các cấp độ tam nguyên nơi sự nở hoa điểm đạo của con người diễn ra, hoặc các đóa hoa thậm chí có thể chỉ đến ba phương diện của chân thần. Trong trường hợp này bảy lá có thể là bảy nguyên khí của con người, “bên trên” chúng chân thần chủ trì.

6. In general, through this blossoming, man becomes in consciousness the higher triad.

6. Nói chung, qua sự nở hoa này, con người trở thành trong tâm thức là tam nguyên cao hơn.

7. When Mercury rules the ajna center later in man’s development (probably after the third initiation), that center is directly connected with the spiritual triad.

7. Khi Sao Thủy cai quản trung tâm ajna ở giai đoạn sau trong sự phát triển của con người (có lẽ sau lần điểm đạo thứ ba), trung tâm ấy được nối trực tiếp với Tam Nguyên Tinh Thần.

VENUS

SAO KIM

1. Venus is closely related to Mercury and follows it in planetary order from the Sun.

1. Sao Kim liên hệ mật thiết với Sao Thủy và theo sau nó theo thứ tự hành tinh tính từ Mặt Trời.

2. Venus and Mercury have some rays in common, notably the fifth, and on some level of Venus, perhaps the fourth.

2. Sao Kim và Sao Thủy có chung một số cung, đáng chú ý là cung năm, và ở một cấp độ nào đó của Sao Kim, có lẽ là cung bốn.

—The School with five strict Grades.

—Trường với năm Cấp nghiêm ngặt.

1. Perhaps we do not ordinarily associate strictness with Venus, yet its fifth ray soul could contribute to this strictness.

1. Có lẽ thông thường chúng ta không liên kết sự nghiêm ngặt với Sao Kim, tuy nhiên linh hồn cung năm của nó có thể góp phần vào sự nghiêm ngặt này.

2. When we think of the term “strict” we can associate the term “restrict”. Entry into each of the five initiatory levels (which the “five strict grades” can represent) occurs only under very stringent restrictions. Each initiatory level is strictly separated from the others and has its own strict requirements. Each level is “hermetically sealed” from the others, though the higher can penetrate the lower at will.

2. Khi nghĩ đến từ “nghiêm ngặt”, chúng ta có thể liên hệ với từ “hạn chế”. Việc bước vào mỗi một trong năm cấp độ điểm đạo (mà “năm cấp nghiêm ngặt” có thể tượng trưng) chỉ xảy ra dưới những hạn chếrất nghiêm nhặt. Mỗi cấp độ điểm đạo được tách biệt nghiêm ngặt khỏi các cấp khác và có những đòi hỏi nghiêm ngặt riêng. Mỗi cấp độ được “niêm kín một cách kín nhiệm” khỏi các cấp khác, dù cấp cao hơn có thể xuyên nhập cấp thấp hơn theo ý muốn.

3. For humanity on Earth there are principally five initiatory levels. Five initiations make the Master. Both Sirius and Venus supervise this fivefold process of ascent. The rules governing the ascent are “strict” and all-exacting.

3. Đối với nhân loại trên Trái Đất, chủ yếu có năm cấp độ điểm đạo. Năm lần điểm đạo làm nên Chân sư. Cả Sirius lẫn Sao Kim đều giám sát tiến trình thăng tiến ngũ phân này. Các quy luật chi phối sự thăng tiến ấy đều “nghiêm ngặt” và đòi hỏi tất cả.

This again is a planetary scheme closely related to ours,

Đây lại là một hệ hành tinh liên hệ mật thiết với hệ của chúng ta,

1. Like Mercury and like Vulcan. Mars as well is closely related.

1. Giống như Sao Thủy và giống như Vulcan. Sao Hỏa cũng liên hệ mật thiết.

but its planetary Logos is in a more advanced group of students in the cosmic sense than is our planetary Logos.

nhưng Hành Tinh Thượng đế của nó ở trong một nhóm đạo sinh tiến bộ hơn theo nghĩa vũ trụ so với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta.

1. We register the thought that a Planetary Logos is, after all, a Student.

1. Chúng ta ghi nhận ý tưởng rằng rốt cuộc một Hành Tinh Thượng đế là một Đạo sinh.

2. Venus is a sacred planet and the sacred planets represent a more advanced group than do the Planetary Logoi who express through non-sacred planets (for instance, the Logoi of Earth, Mars and Pluto—and others as well).

2. Sao Kim là một hành tinh thiêng liêng và các hành tinh thiêng liêng tượng trưng cho một nhóm tiến bộ hơn so với các Hành Tinh Thượng đế biểu hiện qua những hành tinh không thiêng liêng (chẳng hạn, các Thượng đế của Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Diêm Vương—và cả những vị khác nữa).

Most of its hierarchical instructors come from the fifth cosmic plane, and area peculiar group of Manasadevas of very exalted rank.

Phần lớn các huấn sư thuộc Thánh đoàn của nó đến từ cõi vũ trụ thứ năm, và làmột nhóm Manasadeva đặc biệt có cấp bậc rất cao.

1. The fifth cosmic plane is the cosmic mental plane.

1. Cõi vũ trụ thứ năm là cõi trí vũ trụ.

2. Venus is a planet much associated with the deva kingdom. We notice that the hierarchical instructors who work within the Venus-scheme are devas—in this instance “Manasadevas”. We remember DK telling us that some planetary schemes are primarily devic in their nature and others more associated with the human stream.

2. Sao Kim là một hành tinh liên hệ rất nhiều với giới thiên thần. Chúng ta lưu ý rằng các huấn sư thuộc Thánh đoàn hoạt động trong hệ Sao Kim là các thiên thần—trong trường hợp này là “Manasadevas”. Chúng ta nhớ Chân sư DK đã nói với chúng ta rằng một số hệ hành tinh về bản chất chủ yếu là thiên thần, còn những hệ khác thì liên hệ nhiều hơn với dòng nhân loại.

3. We can judge that these “hierarchical instructors” are of greater advancement than the Solar Angels who supervise the development of man. Yet, after all, the two may be related.

3. Chúng ta có thể phán đoán rằng các “huấn sư thuộc Thánh đoàn” này tiến bộ hơn các Thái dương Thiên Thần giám sát sự phát triển của con người. Tuy nhiên, rốt cuộc, hai bên có thể có liên hệ với nhau.

They are each depicted in the archives of our Hierarchy as holding a trident of fire surmounted by five green emeralds.

Mỗi vị trong số họ được mô tả trong văn khố của Thánh Đoàn chúng ta là cầm một cây đinh ba lửa có năm viên ngọc lục bảo xanh ở trên cùng.

1. The trident is interesting because it relates symbolically to both Neptune and to Shiva. Neptune is one of those planets which may be involved in the expression of a great first ray solar systemic Entity.

1. Cây đinh ba thật thú vị vì về mặt biểu tượng nó liên hệ với cả Sao Hải Vương lẫn Shiva. Sao Hải Vương là một trong những hành tinh có thể dính líu vào sự biểu hiện của một Thực Thể hệ thống mặt trời cung một vĩ đại.

2. As Neptune is the higher octave of the planet Venus (and is the planet into which the subtler principles of Venus are finally absorbed), the trident can be seen as the symbol of the connection between these two planets.

2. Vì Sao Hải Vương là quãng tám cao hơn của hành tinh Sao Kim (và là hành tinh mà vào đó các nguyên khí vi tế hơn của Sao Kim cuối cùng được hấp thu), cây đinh ba có thể được xem là biểu tượng của mối liên hệ giữa hai hành tinh này.

3. Shiva is the ‘God of Abstraction’ and it is through the fivefold initiatory process that man achieves abstraction.

3. Shiva là “Thượng đế của Sự Trừu Xuất” và chính qua tiến trình điểm đạo ngũ phân mà con người đạt được sự trừu xuất.

4. Venus, Sanat Kumara and Narada should be connected. These three exert a Shivic influence on the aspiring consciousness and tend towards the production of asceticism when compared with lower Jupiter.

4. Sao Kim, Đức Sanat Kumara và Narada nên được liên kết với nhau. Ba vị này tác động một ảnh hưởng Shivic lên tâm thức chí nguyện và có khuynh hướng tạo ra tính khổ hạnh khi so với Sao Mộc thấp hơn.

5. The emerald is the precious stone associated with Venus. The color green suggests the third aspect of divinity. The five, of course, is the number we would expect in this context. The symbol may also suggest the manner in which the factor of manas is developed to perfection, surmounting the aspiration which the trident represents.

5. Ngọc lục bảo là đá quý liên hệ với Sao Kim. Màu xanh gợi ý phương diện thứ ba của thiên tính. Dĩ nhiên, số năm là con số mà chúng ta chờ đợi trong bối cảnh này. Biểu tượng này cũng có thể gợi ý cách thức mà yếu tố manas được phát triển đến mức hoàn hảo, vượt lên trên khát vọng mà cây đinh ba tượng trưng.

6. Venus does not express the third ray but it does powerfully express the manasic aspect associated with the color green. The fifth ray can be considered an aspect of the third.

6. Sao Kim không biểu hiện cung ba nhưng nó biểu hiện rất mạnh phương diện manas liên hệ với màu xanh. Cung năm có thể được xem là một phương diện của cung ba.

7. The trident as symbol of Neptune is also the symbol of the astral plane, just as the five and the green suggest manas. Venus is a planet associated with kama-manas (just as Sirius, on the stellar level, has a similar association). The symbol could suggest the surmounting of kama by manas through the fivefold process of initiation.

7. Cây đinh ba như biểu tượng của Sao Hải Vương cũng là biểu tượng của cõi cảm dục, cũng như số năm và màu xanh gợi ý manas. Sao Kim là một hành tinh liên hệ với thể trí cảm (cũng như Sirius, ở cấp độ tinh tú, có một liên hệ tương tự). Biểu tượng này có thể gợi ý sự vượt thắng kama bởi manas qua tiến trình điểm đạo ngũ phân.

8. Sirius is said to have an even closer relation to the previous solar system than to this one. Since Venus (on the planetary level) is such a clear reflection of Sirius (on the stellar level) one wonders about the relation of the Logos of Venus to the Logos of our solar system during the previous solar system.

8. Sirius được nói là có một mối liên hệ còn mật thiết hơn với hệ mặt trời trước so với hệ này. Vì Sao Kim (ở cấp độ hành tinh) là một phản ánh rõ rệt như thế của Sirius (ở cấp độ tinh tú), người ta tự hỏi về mối liên hệ của Thượng đế Sao Kim với Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta trong hệ mặt trời trước.

9. One also wonders whether the first three initiations could be indicated by the trident of fire and still higher initiations be indicated by the five green emeralds.

9. Người ta cũng tự hỏi liệu ba lần điểm đạo đầu tiên có thể được biểu thị bằng cây đinh ba lửa, và các điểm đạo còn cao hơn được biểu thị bằng năm ngọc lục bảo xanh.

10. It would seem that something begun under the regime of Brahma (Whose number if five ) is being completed through the Venusian process.

10. Dường như một điều gì đó được khởi sự dưới chế độ của Brahma (Đấng có con số là năm) đang được hoàn tất qua tiến trình Kim Tinh.

11. We are told that the initiatory process in our solar system (and on our planet, perhaps particularly) is a reflection of the initiatory process on Sirius. Venus and Sirius are closely related. It would seem, then, that the five initiations on our planet (whether the first five though probably the major five) are reflections of the initiatory process on Venus.

11. Chúng ta được cho biết rằng tiến trình điểm đạo trong hệ mặt trời của chúng ta (và có lẽ đặc biệt là trên hành tinh của chúng ta) là một phản ánh của tiến trình điểm đạo trên Sirius. Sao Kim và Sirius có liên hệ mật thiết. Khi ấy, dường như năm lần điểm đạo trên hành tinh chúng ta (dù là năm lần đầu tiên, nhưng có lẽ là năm lần chính yếu) là những phản ánh của tiến trình điểm đạo trên Sao Kim.

12. These symbols demand deep pondering over many years. Only thus will a fuller meaning be grasped.

12. Những biểu tượng này đòi hỏi sự chiêm ngưỡng sâu xa trong nhiều năm. Chỉ như thế một ý nghĩa đầy đủ hơn mới được nắm bắt.

MARS—

SAO HỎA—

1.  Venus and Mars can be considered a planetary pair just as Venus and Mercury.

1.  Sao Kim và Sao Hỏa có thể được xem là một cặp hành tinh cũng như Sao Kim và Sao Thủy.

The School for Warriors, or the open grades for soldiers.

Trường dành cho các Chiến binh, hay các cấp mở cho binh sĩ.

1. There is no surprise when we examine the name of this school—“The School of Warriors”. It fits so well with the recognized meaning of Mars.

1. Không có gì đáng ngạc nhiên khi chúng ta khảo sát tên của ngôi trường này—“Trường của các Chiến binh”. Nó rất phù hợp với ý nghĩa đã được công nhận của Sao Hỏa.

2. As far as the meaning of “open grades” perhaps this school admits many (those primarily associated with the third aspect of divinity) and is not so “strict” as is the school on Venus.

2. Về ý nghĩa của “các cấp mở”, có lẽ trường này tiếp nhận nhiều người (những ai chủ yếu liên kết với phương diện thứ ba của thiên tính) và không “nghiêm ngặt” như trường trên Sao Kim.

3. Mars is a non-sacred planet of even lower development than the Earth. Perhaps, taking the analogy from educational institutions in human society, its ‘standards of admission’ are not so high.

3. Sao Hỏa là một hành tinh không thiêng liêng, có mức phát triển còn thấp hơn cả Trái Đất. Có lẽ, nếu lấy phép tương đồng từ các cơ sở giáo dục trong xã hội loài người, thì ‘tiêu chuẩn tuyển nhận’ của nó không cao đến thế.

Four of these planetary schools are responsible for the energy flowing through the foremost exponents of the four castes and this not only in India but in all parts of the world.

Bốn trường hành tinh này chịu trách nhiệm về năng lượng tuôn chảy qua những đại biểu hàng đầu của bốn giai cấp, và điều này không chỉ ở Ấn Độ mà còn ở mọi nơi trên thế giới.

1. DK tells us that the “Caste System” is prevalent throughout the world. Its meaning is spiritual rather than concrete as India has, shall we say “recently”, interpreted it.

1. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng “Hệ thống Giai cấp” hiện diện khắp thế giới. Ý nghĩa của nó mang tính tinh thần hơn là cụ thể, thay vì như Ấn Độ đã, chúng ta hãy nói rằng, diễn giải nó một cách “gần đây”.

2. One of these castes is surely influenced by Mars the energies of which relate to the Warrior Caste in India—the “Kshatriya”.

2. Một trong các giai cấp này hẳn chịu ảnh hưởng của Sao Hỏa, mà các năng lượng của nó liên hệ với Giai cấp Chiến binh ở Ấn Độ—“Kshatriya”.

3. Here from the Wikipedia we have a statement on the castes of India:

3. Ở đây, từ Wikipedia, chúng ta có một phát biểu về các giai cấp của Ấn Độ:

According to the ancientHindu scriptures, there are four “varnas“. The Bhagavad Gita says varnas are decided based on Guna and Karma. Manusmriti and some other shastras name four varnas: the Brahmins (teachers, scholars and priests), the Kshatriyas (kings and warriors), the Vaishyas (agriculturists and traders), and Shudras (artisans, service providers, laborers).

Theo các kinh điển Hindu cổ xưa, có bốn “varna“. Bhagavad Gita nói rằng varna được quyết định dựa trên GunaKarma. Manusmriti và một số shastra khác nêu tên bốn varna: Brahmin (huấn sư, học giả và tu sĩ), Kshatriya (vua chúa và chiến binh), Vaishya (nông gia và thương nhân), và Shudra (thợ thủ công, người cung cấp dịch vụ, lao động).

1. It may be that the Vaishyas would be related to Mercury—the planet (in its lower third ray expressions) of trade and commerce. Saturn, for which no school is mentioned in this text, is associated with agriculture.

1. Có thể Vaishya sẽ liên hệ với Sao Thủy—hành tinh của thương mại và mậu dịch (trong các biểu hiện cung ba thấp của nó). Sao Thổ, mà không có trường nào được nhắc đến trong bản văn này, thì gắn liền với nông nghiệp.

2. When it comes to the Shudras, the energies of the Earth (and Moon) may be involved.

2. Khi nói đến Shudra, các năng lượng của Trái Đất (và Mặt Trăng) có thể có liên quan.

3. As for the Brahmins, one would expect the energies of the school on Jupiter to be influential.

3. Còn đối với Brahmin, người ta sẽ mong đợi các năng lượng của trường trên Sao Mộc có ảnh hưởng.

4. It is curious yet understandable that the teachers, scholars and priests hold a position ‘above’ those of the warriors (first ray). Ours is a second ray solar system and that ray is presently preeminent over the first, though in the next solar system it will not be.

4. Thật kỳ lạ nhưng cũng dễ hiểu khi các huấn sư, học giả và tu sĩ giữ một vị trí ‘cao hơn’ các chiến binh (cung một). Hệ mặt trời của chúng ta là một hệ mặt trời cung hai, và hiện nay cung ấy trội hơn cung một, dù trong hệ mặt trời kế tiếp thì sẽ không như vậy.

Its teachers are spoken of as the “Graduates of the ruddy Fire,”

Các huấn sư của trường này được nói đến như là “Những Người Tốt Nghiệp của ngọn Lửa đỏ rực,”

1. Mars is always associated with the color red.

1. Sao Hỏa luôn gắn liền với màu đỏ.

and are frequently portrayed as clothed in red robes, and carrying ebony wands.

và thường được mô tả là khoác áo choàng đỏ, mang theo những cây trượng gỗ mun.

1. Not only is the sixth ray associated with Mars but the first ray as well. Hence the colors red and black. Interestingly, ebony is a very dense and heavy wood, telling us something about the density of the non-sacred planets such as Mars.

1. Không chỉ cung sáu gắn với Sao Hỏa mà cả cung một cũng vậy. Do đó có các màu đỏ và đen. Điều thú vị là gỗ mun là một loại gỗ rất đậm đặc và nặng, cho chúng ta biết điều gì đó về tính đậm đặc của các hành tinh không thiêng liêng như Sao Hỏa.

2. Scorpio, the ruler of which is Mars, is a sign associated with both red and black.

2. Hổ Cáp, mà chủ tinh của nó là Sao Hỏa, là một dấu hiệu hoàng đạo gắn với cả màu đỏ lẫn màu đen.

3. The ebony wand suggests the power of death, or power over life and death. Ebony is a black wood.

3. Cây trượng gỗ mun gợi ý quyền năng của cái chết, hay quyền năng trên sự sống và cái chết. Gỗ mun là gỗ màu đen.

4. It is amazing to think that soldiers on our planet have, unknown to themselves, derived their inspiration from such teachers, ‘clothed’ in this manner.

4. Thật đáng kinh ngạc khi nghĩ rằng các binh sĩ trên hành tinh chúng ta đã, mà không hề biết, nhận cảm hứng từ những huấn sư như thế, được ‘khoác áo’ theo cách này.

They work under the first Aspect logoic and train those whose work is along the lines of the destroyer.

Họ hoạt động dưới Phương diện thứ nhất của Thượng đế và huấn luyện những ai có công việc đi theo đường lối của đấng hủy diệt.

1. Here is the a clear statement linking the ray structure of Mars with the first ray of Will and Power. The first ray is, we know, the ‘Ray of the Destroyer’.

1. Ở đây là một phát biểu rõ ràng nối kết cấu trúc cung của Sao Hỏa với cung một của Ý Chí và Quyền Năng. Như chúng ta biết, cung một là ‘Cung của Đấng Hủy Diệt’.

2. Is the soul ray of Mars the first? Is the final monadic ray of Mars the first? This has yet to be determined. The fifth ray is also closely related to Mars (as it rules the five senses and the concrete mind) and the fifth ray has a close relationship to the first. Fifth ray souls can and, usually at some point, do transfer onto the first ray.

2. Cung linh hồn của Sao Hỏa có phải là cung một không? Cung chân thần chung cuộc của Sao Hỏa có phải là cung một không? Điều này vẫn còn phải được xác định. Cung năm cũng liên hệ mật thiết với Sao Hỏa (vì nó cai quản năm giác quan và trí cụ thể), và cung năm có quan hệ gần gũi với cung một. Các linh hồn cung năm có thể, và thường vào một thời điểm nào đó, chuyển dịch sang cung một.

3. The mental nature of Mars is not to be discounted.

3. Bản chất trí tuệ của Sao Hỏa không nên bị xem nhẹ.

NEPTUNE—This school concerns itself with the development and fostering of the desire element and its graduates are called “the Sons of Vishnu.” Their symbol is a robe with a full sailed boat portrayed over the heart,the significance of which will be apparent to those who have eyes to see.

SAO HẢI VƯƠNG—Trường này quan tâm đến sự phát triển và nuôi dưỡng yếu tố dục vọng, và những người tốt nghiệp của nó được gọi là “các Con của Vishnu.” Biểu tượng của họ là một chiếc áo choàng với một con thuyền căng buồm được mô tả trên tim,ý nghĩa của điều này sẽ hiển nhiên đối với những ai có mắt để thấy.

1. We notice that in this listing, Uranus (the first synthesizing planet) is listed first in order and Neptune (the second synthesizing planet) is listed last in order. Uranus is, we know, associated with the higher head center and Neptune has, interestingly, been associated with the base of the spine center. (cf. EA 301)

1. Chúng ta nhận thấy rằng trong danh sách này, Sao Thiên Vương (hành tinh tổng hợp thứ nhất) được liệt kê đầu tiên theo thứ tự, còn Sao Hải Vương (hành tinh tổng hợp thứ hai) được liệt kê cuối cùng theo thứ tự. Như chúng ta biết, Sao Thiên Vương gắn với trung tâm đầu cao hơn, còn Sao Hải Vương, một cách thú vị, đã được gắn với trung tâm đáy cột sống. (x. EA 301)

2. The desire element is related to both the sixth and second rays. Neptune is a planet which transmits the sixth ray (probably from its soul nature) and the second ray from its monadic nature (EP I 420)

2. Yếu tố dục vọng liên hệ với cả cung sáu lẫn cung hai. Sao Hải Vương là một hành tinh truyền dẫn cung sáu (có lẽ từ bản chất linh hồn của nó) và cung hai từ bản chất chân thần của nó (EP I 420)

3. Vishnu is the God of the second aspect of divinity, correlating with the second ray Monad of Neptune.

3. Vishnu là Thượng đế của phương diện thứ hai của thiên tính, tương ứng với Chân thần cung hai của Sao Hải Vương.

4. On their robe (and it seems that a number of the graduates or instructors wear robes—the symbol of the aura) depicts over the heart a boat in full sail. The sail could not be full unless the winds were blowing and the winds must come from the buddhic plane—the plane of “air”. Neptune is closely associated with the buddhic plane and the energy of intuition, compassion and oneness.

4. Trên áo choàng của họ (và dường như một số người tốt nghiệp hay huấn sư có mặc áo choàng—biểu tượng của hào quang) có mô tả một con thuyền căng buồm trên tim. Cánh buồm không thể căng đầy nếu gió không thổi, và gió ấy hẳn phải đến từ cõi Bồ đề—cõi của “khí”. Sao Hải Vương liên hệ mật thiết với cõi Bồ đề và năng lượng của trực giác, lòng từ bi và sự hợp nhất.

5. Neptune, therefore, provides buddhic inspiration and is instrumental in transforming desire into love—the energy of the astral plane into the energy of buddhi.

5. Vì vậy, Sao Hải Vương cung cấp cảm hứng Bồ đề và là tác nhân trong việc chuyển hoá dục vọng thành bác ái—năng lượng của cõi cảm dục thành năng lượng của Bồ đề.

6. From another perspective, the boat can be seen as the causal vehicle inspired by the energies of the spiritual triad.

6. Từ một góc nhìn khác, con thuyền có thể được xem như vận cụ nguyên nhân được truyền cảm hứng bởi các năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần.

7. As “Sons of Vishnu” the graduates are strongly conditioned by the second ray. Vishnu represents the second aspect of the Hindu Trimurti.

7. Là “các Con của Vishnu”, những người tốt nghiệp này được tác động mạnh mẽ bởi cung hai. Vishnu biểu trưng cho phương diện thứ hai của Tam Vị Hindu.

It is not permissible to touch upon the other planetary schools, nor would it profit.

Không được phép đề cập đến các trường hành tinh khác, và điều đó cũng không có ích lợi.

1. One could wonder why it would not be profitable to touch upon the School on Saturn.

1. Người ta có thể tự hỏi vì sao việc đề cập đến Trường trên Sao Thổ lại không có ích lợi.

2. In this book, A Treatise on Cosmic Fire, Pluto is not mentioned because Pluto had not yet been ‘discovered’. Yet DK speaks of “other planetary schools”. Does He mean only the schools on Saturn and Pluto? Or does He seem to suggest that there are schools on a number of other undiscovered planets and planetoids?

2. Trong cuốn sách này, Luận về Lửa Vũ Trụ, Sao Diêm Vương không được nhắc đến vì khi ấy Sao Diêm Vương vẫn chưa được ‘khám phá’. Tuy nhiên Chân sư DK nói đến “các trường hành tinh khác”. Ngài chỉ muốn nói đến các trường trên Sao Thổ và Sao Diêm Vương thôi sao? Hay Ngài dường như gợi ý rằng có các trường trên một số hành tinh và tiểu hành tinh khác chưa được khám phá?

Certain further facts can be ascertained by the student of meditation who is aligned with his Ego, and in touch with his egoic group. [Page 1180]

Những sự kiện sâu hơn nữa có thể được đạo sinh tham thiền nào chỉnh hợp với chân ngã của y, và tiếp xúc với nhóm chân ngã của y, xác định. [Page 1180]

1. We note that DK has only given us some rudimentary indications, but He suggests that further facts are available to us. The requirement is that we not only be aligned with our Ego but with our egoic group as well.

1. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK chỉ cho chúng ta một vài chỉ dẫn sơ đẳng, nhưng Ngài gợi ý rằng những sự kiện sâu hơn nữa vẫn có sẵn cho chúng ta. Điều kiện là chúng ta không chỉ chỉnh hợp với Chân ngã của mình mà còn với nhóm chân ngã của mình nữa.

2. The schools suggest progress in groups and those who can come under the Law of the Schools (and aspect of the second ray Law of Attraction—a ray particularly related to groups) are becoming group conscious.

2. Các trường này gợi ý sự tiến bộ theo nhóm và những ai có thể đến dưới Định luật của các Trường (và phương diện của Định luật Hấp Dẫn cung hai—một cung đặc biệt liên hệ với các nhóm) đang trở nên có tâm thức nhóm.

3. It is clear that revelation is dependent upon alignment. Alignment is an absolute prerequisite if one seeks to experience revelation rather than simply be told of the revelation of others.

3. Rõ ràng sự mặc khải tùy thuộc vào sự chỉnh hợp. Sự chỉnh hợp là một điều kiện tiên quyết tuyệt đối nếu người ta tìm cách kinh nghiệm sự mặc khải thay vì chỉ đơn thuần được kể cho nghe về sự mặc khải của người khác.

The teaching given on our earth scheme in the Hall of Wisdom has been dealt with in many occult books, including Initiation, Human and Solar, and need not be enlarged upon here.

Giáo huấn được ban ra trong hệ hành tinh Trái Đất của chúng ta tại Phòng Minh triết đã được bàn đến trong nhiều sách huyền bí học, kể cả Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương, và không cần được khai triển thêm ở đây.

1. We naturally know more about that which is imparted in the Hall of Wisdom within the Earth-scheme than we do about any other planetary school.

1. Đương nhiên chúng ta biết nhiều hơn về điều được truyền đạt trong Phòng Minh triết bên trong hệ hành tinh Trái Đất so với bất kỳ trường hành tinh nào khác.

2. Initiation: Human and Solar  is a very rich little book to which it is necessary to return time after time to retrieve essential pieces of knowledge—often overlooked in earlier readings.

2. Điểm Đạo: Nhân Loại và Thái Dương  là một cuốn sách nhỏ rất phong phú, cần phải quay lại hết lần này đến lần khác để thu hồi những mảnh tri thức cốt yếu—thường bị bỏ sót trong những lần đọc trước.

3. We remember, however, that following the writing of A Treatise on Cosmic Fire the Tibetan wrote many, many books. We may infer than the teaching given on our Earth-scheme is found, as well, in those books.

3. Tuy nhiên, chúng ta nhớ rằng sau khi viết Luận về Lửa Vũ Trụ Chân sư Tây Tạng đã viết rất, rất nhiều sách. Chúng ta có thể suy ra rằng giáo huấn được ban ra trong hệ hành tinh Trái Đất của chúng ta cũng được tìm thấy trong những sách ấy.

Some of the aspects of this law are here indicated.

Một vài phương diện của định luật này được chỉ ra ở đây.

1. The Law of the Schools…

1. Định luật của các Trường…

The ground is by no means covered but enough has been shown to indicate its magnitude and extent.

Nền tảng hoàn toàn chưa được bao quát, nhưng đã trình bày đủ để chỉ ra tầm vóc và phạm vi của nó.

1. A tremendous magnitude offering a vast scope for intra-systemic learning…

1. Một tầm vóc to lớn, mở ra một phạm vi rộng lớn cho việc học hỏi nội hệ…

In closing, it must be pointed out that the Law of Karma is from some angles of vision the sum total of this Law of Attraction

Khi kết thúc, cần phải chỉ ra rằng Định luật Nghiệp Quả, từ một số góc độ tầm nhìn, là tổng thể của Định luật Hấp Dẫn này

1. A revelatory statement…

1. Một phát biểu mang tính mặc khải…

for it governs the relation of all forms to that which uses the form, and of all lives to each other.

vì nó chi phối mối liên hệ của mọi hình tướng với cái sử dụng hình tướng ấy, và của mọi sự sống với nhau.

1. We are being told that the Law of Karma is related to both the third and second rays, and even to the first. That which uses the form is a combination of the first and second rays. The manifested form relates more to the third ray.

1. Chúng ta được cho biết rằng Định luật Nghiệp Quả liên hệ với cả cung ba và cung hai, và thậm chí cả cung một. Cái sử dụng hình tướng là một kết hợp của cung một và cung hai. Hình tướng biểu hiện liên hệ nhiều hơn với cung ba.

2. We remember that the “Intermediate Law of Karma” seems to stand ‘above’ the three cosmic laws presently known: the Law of Synthesis; the Law of Attraction; the Law of Economy.

2. Chúng ta nhớ rằng “Định luật Nghiệp Quả Trung Gian” dường như đứng ‘trên’ ba định luật vũ trụ hiện được biết: Định luật Tổng Hợp; Định luật Hấp Dẫn; Định luật Tiết Kiệm.

3. In other words, the ‘Law of Relationship’ is key to the workings of the Law of Karma. The Law of Attraction draws together those energies and forces which suit each other and are harmonious with each other. All this patterning proceeds under the direction of the Archetypal World.

3. Nói cách khác, ‘Định luật của Mối Liên Hệ’ là chìa khóa cho sự vận hành của Định luật Nghiệp Quả. Định luật Hấp Dẫn kéo lại gần nhau những năng lượng và mãnh lực phù hợp với nhau và hài hòa với nhau. Tất cả mô hình hóa này diễn ra dưới sự chỉ đạo của Thế Giới Nguyên Mẫu.

4. It is as if the Law of Karma is responsible for those adjustments in relationship which make the World of Becoming the true reflector of the World of Being.

4. Dường như Định luật Nghiệp Quả chịu trách nhiệm về những điều chỉnh trong mối liên hệ khiến Thế Giới Đang Trở Thành trở thành phản chiếu chân thực của Thế Giới Bản Thể.

5. The many painful adjustments experienced under the Law of Karma lead eventually to harmony and right relations. The means are much more harsh than the objective.

5. Nhiều điều chỉnh đau đớn được kinh nghiệm dưới Định luật Nghiệp Quả cuối cùng dẫn đến sự hài hòa và các mối liên hệ đúng đắn. Phương tiện khắc nghiệt hơn mục tiêu rất nhiều.

6. We can judge that the Law of Karma has second ray objectives— certainly in this solar system. It is, DK tells us, the sumtotal of the second ray Law of Attraction.

6. Chúng ta có thể phán đoán rằng Định luật Nghiệp Quả có những mục tiêu cung hai— chắc chắn là trong hệ mặt trời này. Như Chân sư DK nói với chúng ta, nó là tổng thể của Định luật Hấp Dẫn cung hai.

7. As a kind of fourth cosmic law it is related to the second—the Law of Attraction.

7. Như một loại định luật vũ trụ thứ tư nó liên hệ với định luật thứ hai—Định luật Hấp Dẫn.

8. This raises the important question of the relation of the planet Saturn (the ‘Planet of Karma’) to the energy of Love. While Saturn does not appear to have any soft-line rays in its energy system, there may be more to this question than meets the eye.

8. Điều này nêu lên câu hỏi quan trọng về mối liên hệ của hành tinh Sao Thổ (hành tinh của Nghiệp Quả) với năng lượng của Bác ái. Dù Sao Thổ dường như không có các cung tuyến mềm trong hệ năng lượng của nó, có thể vấn đề này còn nhiều điều hơn những gì bề ngoài cho thấy.

S9S11 Part III

TCF 1180-1184

TCF 1180-1184

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn bản văn của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình giải xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Người ta đề nghị rằng phần Bình Giải này nên được đọc với cuốn TCF ở bên cạnh, vì mục đích liên tục. Khi việc phân tích bản văn được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi mới nghiên cứu phần Bình Giải

Students of the Law of Attraction must be careful to bear in mind certain things.

Những đạo sinh của Định luật Hấp Dẫn phải cẩn thận ghi nhớ một số điều.

1. There will be students of the various laws. Since the Law of Attraction is paramount in our second ray solar system, it will be among the laws most studied.

1. Sẽ có những đạo sinh của nhiều định luật khác nhau. Vì Định luật Hấp Dẫn là tối quan trọng trong hệ mặt trời cung hai của chúng ta, nó sẽ nằm trong số những định luật được nghiên cứu nhiều nhất.

These should be carefully considered and realised as the subject is studied.

Những điều này cần được cân nhắc cẩn thận và chứng nghiệm khi chủ đề này được nghiên cứu.

2. We have seen the wide variety of laws which arise as expression of the Law of Attraction and can, therefore, see its importance to the evolutionary process on Earth.

2. Chúng ta đã thấy sự đa dạng rộng lớn của các định luật phát sinh như biểu hiện của Định luật Hấp Dẫn và vì vậy có thể thấy tầm quan trọng của nó đối với tiến trình tiến hoá trên Trái Đất.

They must remember first, that all these subsidiary laws are really only the manifestation of the One Law;

Trước hết, họ phải nhớ rằng tất cả những định luật phụ này thực ra chỉ là biểu hiện của Định luật Duy Nhất;

3. In this case we are speaking of the Law of Attraction as the “One Law”.

3. Trong trường hợp này, chúng ta đang nói về Định luật Hấp Dẫn như là “Định luật Duy Nhất”.

that they are but differentiated terms, employed to express one great method of manifestation.

rằng chúng chỉ là những thuật ngữ biến phân, được dùng để diễn tả một phương pháp biểu hiện vĩ đại.

4. Our task is to locate and understand the specific contexts in which the various subsidiary laws apply. These are sometimes surprising and may not be deducible by the name of the law itself.

4. Nhiệm vụ của chúng ta là xác định và thấu hiểu những bối cảnh cụ thể trong đó các định luật phụ khác nhau được áp dụng. Đôi khi những bối cảnh này gây ngạc nhiên và có thể không suy ra được từ chính tên gọi của định luật.

Secondly, that all energy, demonstrating in the solar system, is after all the energy of the logoic physical permanent atom, having its nucleus on the atomic subplane of the cosmic physical.

Thứ hai, rằng mọi năng lượng biểu lộ trong hệ mặt trời, rốt cuộc đều là năng lượng của nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế, có hạt nhân của nó trên cõi phụ nguyên tử của cõi hồng trần vũ trụ.

5. Shall we think that all energies manifesting upon the cosmic physical plane derives from “the energy of the logoic physical permanent atom”? This is an astonishing statement giving that physical permanent atom great emphasis.

5. Chúng ta có nên nghĩ rằng mọi năng lượng biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ đều phát sinh từ “năng lượng của nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế” không? Đây là một phát biểu đáng kinh ngạc, đặt nguyên tử trường tồn hồng trần ấy vào một vị trí hết sức nhấn mạnh.

6. Since Saturn is the correspondence to the logoic physical permanent atom, the energy of Saturn must be intimately related to the all energies demonstrating in our solar system.

6. Vì Sao Thổ là tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế, nên năng lượng của Sao Thổ hẳn phải liên hệ mật thiết với mọi năng lượng biểu lộ trong hệ mặt trời của chúng ta.

7. If we follow the analogy, then all the energies demonstrating in any particular human vehicle is really the energy of the permanent atom from which that vehicle derives.

7. Nếu chúng ta theo phép tương đồng, thì mọi năng lượng biểu hiện trong bất kỳ vận cụ nhân loại đặc thù nào thực ra là năng lượng của nguyên tử trường tồn mà từ đó vận cụ ấy phát sinh.

8. This seems to place the power of the permanent atom over the power of the chakras which manifest through particular vehicles.

8. Điều này dường như đặt quyền năng của nguyên tử trường tồn lên trên quyền năng của các luân xa biểu hiện qua những vận cụ đặc thù.

This physical permanent atom (as is the case with the corresponding atom of the incarnating jiva), has its place within the causal body of the Logos on His own plane;

Nguyên tử trường tồn hồng trần này (cũng như trường hợp nguyên tử tương ứng của jiva đang lâm phàm), có vị trí của nó bên trong thể nguyên nhân của Thượng đế trên chính cõi của Ngài;

9. This means that although the logoic physical permanent atom has its nucleus upon the atomic subplane of the cosmic physical plane, it also “has its place within the causal body of the Logos on His own plane”.

9. Điều này có nghĩa là mặc dù nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế có hạt nhân của nó trên cõi phụ nguyên tử của cõi hồng trần vũ trụ, nó cũng “có vị trí của nó bên trong thể nguyên nhân của Thượng đế trên chính cõi của Ngài”.

10. Lesser planes are included within the sphere of greater planes.

10. Các cõi thấp hơn được bao hàm trong khối cầu của các cõi cao hơn.

11. To understand planar structure we must disabuse our minds of the ‘pancake model’ with which we are so often presented as a preliminary aid to understanding.

11. Để hiểu cấu trúc các cõi, chúng ta phải loại bỏ khỏi trí óc mình ‘mô hình bánh kếp’ mà người ta thường trình bày như một trợ giúp sơ bộ cho sự thấu hiểu.

it is, therefore, impressed by the totality of the force of the egoic cosmic lotus, or the attractive quality of cosmic love.

vì vậy, nó được ghi ấn bởi toàn thể mãnh lực của hoa sen chân ngã vũ trụ, hay phẩm tính hấp dẫn của bác ái vũ trụ.

12. Since the logoic physical permanent atom is within the logoic causal body, the energy of that causal body impresses that permanent atom and, therefore, impresses all energies which manifest upon the cosmic physical plane.

12. Vì nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế nằm trong thể nguyên nhân của Thượng đế, nên năng lượng của thể nguyên nhân ấy ghi ấn lên nguyên tử trường tồn đó và do đó ghi ấn lên mọi năng lượng biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ.

13. In this manner, via the permanent atoms, cosmic love makes its way into the personality vehicles of the Solar Logos.

13. Theo cách này, qua các nguyên tử trường tồn, bác ái vũ trụ đi vào các vận cụ phàm ngã của Thái dương Thượng đế.

This force is transmitted to the solar system in two ways:

Mãnh lực này được truyền vào hệ mặt trời theo hai cách:

Through the medium of the Sun, which is in an occult sense the physical permanent atom;

Qua trung gian của Mặt Trời, vốn theo một ý nghĩa huyền bí là nguyên tử trường tồn hồng trần;

14. This sounds much more reasonable than considering Saturn as the correspondence to the physical permanent atom of the Solar Logos.

14. Điều này nghe có vẻ hợp lý hơn nhiều so với việc xem Sao Thổ là tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế.

15. If, in an occult sense, the Sun is the physical permanent atom of the Solar Logos, then the Sun is the source of all the energies expressing within our solar system. This, of course, makes a great deal of sense.

15. Nếu, theo một ý nghĩa huyền bí, Mặt Trời là nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế, thì Mặt Trời là nguồn của mọi năng lượng biểu hiện trong hệ mặt trời của chúng ta. Điều này, dĩ nhiên, rất có ý nghĩa.

it, therefore, attracts, and holds attracted, all within its sphere of influence, thus producing the logoic physical body:

vì vậy, nó hấp dẫn, và giữ cho mọi thứ trong phạm vi ảnh hưởng của nó bị hấp dẫn, nhờ đó tạo ra thể hồng trần của Thượng đế:

16. The Sun is given the responsibility of producing the logoic physical body, which includes Saturn, of course.

16. Mặt Trời được giao trách nhiệm tạo ra thể hồng trần của Thượng đế, dĩ nhiên bao gồm cả Sao Thổ.

17. We must question, “What aspect of the Sun is found upon the systemic logoic plane?” where the physical permanent atom of the Solar Logos must be located?

17. Chúng ta phải đặt câu hỏi, “Phương diện nào của Mặt Trời được tìm thấy trên cõi thượng đế hệ thống?” nơi nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế phải tọa lạc?

… through the medium of the planes which are the correspondences to the seven spirillae of the physical permanent atom of a human being.

… qua trung gian của các cõi là những tương ứng với bảy loa tuyến của nguyên tử trường tồn hồng trần của một con người.

18. Here is the flat statement that the systemic planes correspond to the seven spirillae of the physical permanent atom of a human being.

18. Đây là phát biểu trực tiếp rằng các cõi hệ thống tương ứng với bảy loa tuyến của nguyên tử trường tồn hồng trần của một con người.

19. The Sun expresses the energy of attraction and coherence through all the seven systemic planes.

19. Mặt Trời biểu lộ năng lượng hấp dẫn và cố kết qua cả bảy cõi hệ thống.

Thus a dual type of attractive force is found: one, basic and fundamental; the other more differentiated and secondary.

Như vậy có một loại mãnh lực hấp dẫn nhị phân: một loại căn bản và nền tảng; loại kia biến phân hơn và thứ yếu hơn.

20. The fundamental attractive force is that of the Sun, per se, and the differentiation of that force occurs through the seven systemic planes.

20. Mãnh lực hấp dẫn nền tảng là của chính Mặt Trời, còn sự biến phân của mãnh lực ấy xảy ra qua bảy cõi hệ thống.

[Page 1181]

[Page 1181]

CHART XI — ETHERIC-ATOMIC PHILOSOPHY OF FORCE

BIỂU ĐỒ XI — TRIẾT HỌC DĨ THÁI-NGUYÊN TỬ VỀ MÃNH LỰC

21. Here we have the diagram, one would think, of a physical permanent atom as seen on the atomic subplane of any particular plane.

21. Ở đây chúng ta có sơ đồ, người ta sẽ nghĩ vậy, của một nguyên tử trường tồn hồng trần như được thấy trên cõi phụ nguyên tử của bất kỳ cõi đặc thù nào.

22. This is a diagram which admits of almost endless amplification. Analysis of Babbitt’s atom has been undertaken by those who are interested in occult chemistry and physics. To go into a detailed analysis of this figure would not be worthwhile at this point as other texts have done so in much fuller scope than would be here possible.

22. Đây là một sơ đồ cho phép được khai triển gần như vô tận. Việc phân tích nguyên tử của Babbitt đã được thực hiện bởi những ai quan tâm đến hóa học và vật lý huyền bí học. Đi vào phân tích chi tiết hình này vào lúc này sẽ không đáng làm, vì các bản văn khác đã làm điều đó với phạm vi đầy đủ hơn nhiều so với điều có thể thực hiện ở đây.

23. There may also be some books in which the atom is drawn in color, as “electric colors” and “thermal colors” are suggested.

23. Cũng có thể có một số sách trong đó nguyên tử được vẽ bằng màu sắc, vì “các màu điện” và “các màu nhiệt” được gợi ý.

24. We note the direction of the circulatory flow of energies into and out of the atom is suggested by the numbers from 1 to 10. There seems to be constant reciprocity. The top of the atom is not only for influx but an efflux is also suggested. The same for the bottom of the atom; it does not demonstrate only efflux but influx as well.

24. Chúng ta lưu ý rằng hướng của dòng lưu chuyển các năng lượng vào và ra khỏi nguyên tử được gợi ý bởi các con số từ 1 đến 10. Dường như có sự tương hỗ liên tục. Đỉnh của nguyên tử không chỉ dành cho dòng nhập mà còn gợi ý cả dòng xuất. Điều tương tự cũng đúng với đáy của nguyên tử; nó không chỉ biểu lộ dòng xuất mà còn cả dòng nhập.

25. It is noteworthy that the entirety of the atom is not represented—a challenge for future modes of depiction. Probably now in the 21st century we have at our disposal the means of representing greater subtlety and intricacy.

25. Đáng lưu ý là toàn bộ nguyên tử không được biểu diễn—một thách thức cho các phương thức mô tả trong tương lai. Có lẽ giờ đây trong thế kỷ 21st chúng ta có trong tay những phương tiện để biểu diễn sự tinh tế và phức tạp lớn hơn.

26. Even the picture thus far presented is one of amazing intricacy. If there is truth and merit to this representation, it will be the responsibility of some occult physicist to compare and contrast modern science’s view of the atom with that presented by occultism. The differences now seem very great, but it is certain that the two models cannot remain forever dissonant. Where will the adjustments have to be made. Probably in the domain of modern physics, which still does not accept the actuality of the ether, which is the very foundation of the representation of the atom as here given.

26. Ngay cả hình ảnh được trình bày cho đến nay cũng đã có độ phức tạp đáng kinh ngạc. Nếu biểu diễn này có chân lý và giá trị, thì sẽ là trách nhiệm của một nhà vật lý huyền bí học nào đó phải so sánh và đối chiếu quan điểm của khoa học hiện đại về nguyên tử với quan điểm do huyền bí học trình bày. Hiện nay những khác biệt dường như rất lớn, nhưng chắc chắn hai mô hình này không thể mãi mãi bất hòa. Những điều chỉnh sẽ phải được thực hiện ở đâu? Có lẽ trong lĩnh vực vật lý hiện đại, vốn vẫn chưa chấp nhận thực tại của dĩ thái, là chính nền tảng của sự biểu diễn nguyên tử như được trình bày ở đây.

27. We also have to remember that modern physics is dealing mostly with dense physical atoms and their relation to phenomena of the fourth ether. The atom here depicted may well be found upon the atomic subplane of the systemic physical plane and is thus entirely etheric. The etheric nature of the occult atom immediately presents a difficulty to the investigator who would reconcile its nature with that of the atom as conceived by modern science.

27. Chúng ta cũng phải nhớ rằng vật lý hiện đại chủ yếu đang xử lý các nguyên tử hồng trần đậm đặc và mối liên hệ của chúng với các hiện tượng của dĩ thái thứ tư. Nguyên tử được mô tả ở đây rất có thể được tìm thấy trên cõi phụ nguyên tử của cõi hồng trần hệ thống và do đó hoàn toàn là dĩ thái. Bản chất dĩ thái của nguyên tử huyền bí ngay lập tức tạo ra một khó khăn cho nhà nghiên cứu muốn hòa giải bản chất của nó với nguyên tử như khoa học hiện đại quan niệm.

[Page 1182]

[Page 1182]

These streams of energy, judged by their effects, are called in human terminology laws, because their results are ever immutable and irresistible, and their effects remain unchangeably the same, varying only according to the form which is the subject of the energic impulse.

Những dòng năng lượng này, xét theo các hiệu quả của chúng, được gọi trong thuật ngữ nhân loại là các định luật, vì các kết quả của chúng luôn luôn bất biến và không thể cưỡng lại, và các hiệu quả của chúng vẫn không thay đổi, chỉ biến thiên tùy theo hình tướng là đối tượng của xung động năng lượng.

28. Here DK has given us a very solid definition of an “law”. There are certain words here which we should have constantly in mind when we contemplate the nature of law: “immutable”, “irresistible”, ‘unchangeable’.

28. Ở đây Chân sư DK đã cho chúng ta một định nghĩa rất vững chắc về một “định luật”. Có một số từ ở đây mà chúng ta nên luôn ghi nhớ khi chiêm ngưỡng bản chất của định luật: “bất biến”, “không thể cưỡng lại”, “không thay đổi”.

29. Different forms will, however, respond to laws in different ways.

29. Tuy nhiên, các hình tướng khác nhau sẽ đáp ứng với các định luật theo những cách khác nhau.

Thirdly, the student must bear in mind that the seven planes, or the seven spirillae of the logoic permanent atom,

Thứ ba, đạo sinh phải ghi nhớ rằng bảy cõi, hay bảy loa tuyến của nguyên tử trường tồn của Thượng đế,

30. We continue to note this occult definition of a plane.

30. Chúng ta tiếp tục lưu ý định nghĩa huyền bí này về một cõi.

31. The “logoic permanent atom” mentioned above must be the logoic physical permanent atom.

31. “Nguyên tử trường tồn của Thượng đế” được nhắc đến ở trên hẳn phải là nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế.

32. By inference we must assume that the seven subplanes of the cosmic astral plane are the seven spirillae of the logoic astral permanent atom, and that the seven subplanes of the cosmic mental plane are the seven spirillae of the logoic manasic permanent atom.

32. Theo suy luận, chúng ta phải giả định rằng bảy cõi phụ của cõi cảm dục vũ trụ là bảy loa tuyến của nguyên tử trường tồn cảm dục của Thượng đế, và bảy cõi phụ của cõi trí vũ trụ là bảy loa tuyến của nguyên tử trường tồn manas của Thượng đế.

33. We may run into difficulty, however, if the structure of the logoic higher permanent atoms is similar to that of the higher permanent atoms of the man, for the permanent atoms in the spiritual triad of man have only three spirillae. As there has been nothing to indicate that there are not seven subplanes in each of the cosmic planes, this problem will have to be solved for the cosmic mental plane and planes above. If there is logoic mental unit on the cosmic mental plane, and this mental unit corresponds to the human mental unit, then the problem is solved for the cosmic mental plane: the mental unit will possess four spirillae (four subplanes planes) and the manasic permanent atom will possess three spirillae (three more planes). Thus the full seven subplanes will appear.

33. Tuy nhiên, chúng ta có thể gặp khó khăn nếu cấu trúc của các nguyên tử trường tồn cao hơn của Thượng đế tương tự như cấu trúc của các nguyên tử trường tồn cao hơn của con người, vì các nguyên tử trường tồn trong Tam Nguyên Tinh Thần của con người chỉ có ba loa tuyến. Vì không có gì cho thấy rằng không có bảy cõi phụ trong mỗi cõi vũ trụ, nên vấn đề này sẽ phải được giải quyết đối với cõi trí vũ trụ và các cõi cao hơn. Nếu có đơn vị hạ trí của Thượng đế trên cõi trí vũ trụ, và đơn vị hạ trí này tương ứng với đơn vị hạ trí của con người, thì vấn đề được giải quyết đối với cõi trí vũ trụ: đơn vị hạ trí sẽ sở hữu bốn loa tuyến (bốn cõi phụ) và nguyên tử trường tồn manas sẽ sở hữu ba loa tuyến (ba cõi nữa). Như vậy đủ bảy cõi phụ sẽ xuất hiện.

are not all equally vitalised by the attractive pull emanating from the logoic lotus via the heart of the Sun.

không phải tất cả đều được tiếp sinh lực ngang nhau bởi lực kéo hấp dẫn phát ra từ hoa sen của Thượng đế qua tim của Mặt Trời.

34. We are clear about the meaning of the “heart of the Sun”; it is the logoic egoic lotus on the first subplane of the cosmic mental plane. But what is meant here by the “logoic lotus”? If it is not the logoic Heart of the Sun, is it the solar logoic etheric heart center found, presumably, on the monadic plane of the cosmic physical plane?

34. Chúng ta rõ ràng về ý nghĩa của “tim của Mặt Trời”; đó là hoa sen chân ngã của Thượng đế trên cõi phụ thứ nhất của cõi trí vũ trụ. Nhưng ở đây “hoa sen của Thượng đế” có nghĩa là gì? Nếu nó không phải là Tim của Mặt Trời của Thượng đế, thì có phải đó là trung tâm tim dĩ thái của Thái dương Thượng đế, được tìm thấy, có lẽ, trên cõi chân thần của cõi hồng trần vũ trụ chăng?

Five of them

Năm trong số đó

35. The systemic or solar planes…

35. Các cõi hệ thống hay cõi thái dương…

are more “alive” than the other two; these five do not include the highest and the lowest.

“sống động” hơn hai cõi kia; năm cõi này không bao gồm cõi cao nhất và cõi thấp nhất.

36. It is interesting that the highest and the lowest are not included. The relatively-reduced vibrancy of the highest and lowest of the seven solar planes that correspond in the human being, the base of the spine center and the highest head center, are the last to fully awaken.

36. Thật thú vị khi cõi cao nhất và cõi thấp nhất không được bao gồm. Sự rung động tương đối giảm bớt của cõi cao nhất và thấp nhất trong bảy cõi thái dương, tương ứng trong con người với trung tâm đáy cột sống và trung tâm đầu cao nhất, là những trung tâm thức tỉnh trọn vẹn sau cùng.

The words “the heart of the Sun” must be understood to mean more than a locality situated in the interior recesses of the solar body,

Những lời “tim của Mặt Trời” phải được hiểu là có nghĩa nhiều hơn một vị trí nằm trong những chỗ sâu bên trong của thể thái dương,

37. Actually, the “Heart of the Sun” is usually related to the solar logoic egoic lotus on the cosmic higher mental plane.

37. Thực ra, “Tim của Mặt Trời” thường liên hệ với hoa sen chân ngã của Thái dương Thượng đế trên cõi thượng trí vũ trụ.

and have reference to the nature of the solar sphere.

và có liên quan đến bản chất của khối cầu thái dương.

38. Then is Master DK saying that the Heart of the Sun does have reference to the nature of the solar sphere?

38. Vậy thì Chân sư DK có đang nói rằng Tim của Mặt Trời quả thực có liên quan đến bản chất của khối cầu thái dương không?

This solar sphere is closely similar to the atom pictured in the book by Babbitt and later in Occult Chemistry by Mrs. Besant.

Khối cầu thái dương này rất giống với nguyên tử được minh họa trong sách của Babbitt và sau đó trong Occult Chemistry của bà Besant.

39. This is a statement which it will be necessary for the science of the future to digest.

39. Đây là một phát biểu mà khoa học tương lai sẽ cần phải tiêu hóa.

The Sun is heart-shaped, and (seen from cosmic angles) has a depression at what we might call its north pole.

Mặt Trời có hình tim, và (khi được nhìn từ các góc độ vũ trụ) có một chỗ lõm tại điều mà chúng ta có thể gọi là cực bắc của nó.

40. We have to understand the nature of the cosmic vision involved. Presumably, we are dealing minimally with etheric vision.

40. Chúng ta phải hiểu bản chất của linh thị vũ trụ có liên quan ở đây. Có lẽ, tối thiểu chúng ta đang xử lý linh thị dĩ thái.

41. Does the Sun, then, not have a depression at its south pole?

41. Vậy thì Mặt Trời không có một chỗ lõm ở cực nam của nó sao?

42. The astral permanent atom of the human being is also said to be relatively “heart shaped” which may tell us something about the function of our astrally polarized Solar Logos and His astral-buddhic system.

42. Nguyên tử trường tồn cảm dục của con người cũng được nói là tương đối “có hình tim”, điều này có thể cho chúng ta biết điều gì đó về chức năng của Thái dương Thượng đế phân cực cảm dục của chúng ta và hệ thống cảm dục-Bồ đề của Ngài.

This is formed by the impact of logoic energy upon solar substance.

Điều này được hình thành bởi tác động của năng lượng của Thượng đế lên chất liệu thái dương.

43. A human being has the fontanel at the top of the head, formed, we may infer, by the impact of higher energies upon the substance of the head.

43. Con người có thóp ở đỉnh đầu, được hình thành, như chúng ta có thể suy ra, bởi tác động của các năng lượng cao hơn lên chất liệu của đầu.

44. The “logoic energy” in question is that emanating from the Solar Logos. Again, such energy must be minimally etheric, but other and higher energies could be involved.

44. “Năng lượng của Thượng đế” được nói đến là năng lượng phát ra từ Thái dương Thượng đế. Một lần nữa, năng lượng như thế tối thiểu phải là dĩ thái, nhưng các năng lượng khác và cao hơn cũng có thể có liên quan.

This energy which impinges upon the solar sphere, and is thence distributed to all parts of the entire system, emanates from three cosmic centres

Năng lượng này tác động lên khối cầu thái dương, và từ đó được phân phối đến mọi phần của toàn thể hệ thống, phát ra từ ba trung tâm vũ trụ

45. Each of the sources below is considered to be a “cosmic centre”, presumably a center within the “One About Whom Naught May Be Said”.

45. Mỗi nguồn dưới đây được xem là một “trung tâm vũ trụ”, có lẽ là một trung tâm bên trong Đấng Bất Khả Tư Nghị.

46. Logoic energy impinges upon the solar sphere, but, it appears that this logoic energy is impulsed from the three cosmic centers.

46. Năng lượng của Thượng đế tác động lên khối cầu thái dương, nhưng dường như năng lượng của Thượng đế này được thúc đẩy từ ba trung tâm vũ trụ.

47. When we think of sources of energy, we can think of evident sources, penultimate sources and ultimate sources. For instance, what seems to originate from the soul (and for all practical purposes, does ) may really be impulsed from the Monad and mediated via the soul.

47. Khi nghĩ đến các nguồn năng lượng, chúng ta có thể nghĩ đến các nguồn hiển nhiên, các nguồn cận tối hậu và các nguồn tối hậu. Chẳng hạn, điều dường như phát sinh từ linh hồn (và cho mọi mục đích thực tiễn, quả thực là như vậy) có thể thật ra được thúc đẩy từ chân thần và được trung giới qua linh hồn.

and, therefore, is triple during this particular cycle.

và, do đó, là tam phân trong chu kỳ đặc thù này.

48. One wonders about the energies impinging upon the solar sphere in other cycles. Permutation is ever active.

48. Người ta tự hỏi về các năng lượng tác động vào khối cầu thái dương trong những chu kỳ khác. Sự hoán chuyển luôn luôn hoạt động.

a. From the sevenfold great Bear.

a. Từ Đại Hùng Tinh thất phân.

49. Considered, let us remember, as a single center—a sevenfold center in the head, so it would seem.

49. Xin nhớ rằng, được xem như một trung tâm duy nhất—một trung tâm thất phân trong đầu, dường như là như vậy.

b. From the Sun Sirius.

b. Từ Mặt Trời Sirius.

50. Does He mean the single “Sun”, Sirius, or does He consider Sirius (with Sirius Body, and a potential Sirius C) to be a constellation.

50. Ngài có muốn nói đến “Mặt Trời” đơn nhất là Sirius, hay Ngài xem Sirius (cùng với Sirius Body, và một Sirius C tiềm năng) là một chòm sao?

c. From the Pleiades.

c. Từ Pleiades.

51. The Pleiades are definitely a constellation. We are, however, probably speaking only of seven or nine of them.

51. Pleiades chắc chắn là một chòm sao. Tuy nhiên, có lẽ chúng ta chỉ đang nói đến bảy hoặc chín ngôi sao trong số đó.

It must be remembered that the possible cosmic streams of energy available for use in our solar system are seven in number, of which three are major. These three vary during vast and incalculable cycles.

Cần nhớ rằng các dòng năng lượng vũ trụ khả hữu có thể dùng trong hệ mặt trời chúng ta có số lượng là bảy, trong đó có ba dòng là chính. Ba dòng này biến đổi trong những chu kỳ bao la và không thểtính đếm.

52. Here is a very important statement. A number of great importance for the previous solar system was five. The number of similar importance for our present solar system—the second major solar system of our Solar Logos—is seven. The corresponding number for the next solar system will be nine.

52. Đây là một phát biểu rất quan trọng. Một con số có tầm quan trọng lớn đối với hệ mặt trời trước đây là năm. Con số có tầm quan trọng tương tự đối với hệ mặt trời hiện tại của chúng ta—hệ mặt trời chính thứ hai của Thái dương Thượng đế của chúng ta—là bảy. Con số tương ứng cho hệ mặt trời kế tiếp sẽ là chín.

53. There must be seven sources of energy for our solar system—three of which are the energy of the Great Bear, the energy of seven of the Pleiades, and the energy of Sirius (the Sun, Sirius, or the constellation).

53. Phải có bảy nguồn năng lượng cho hệ mặt trời của chúng ta—ba trong số đó là năng lượng của Đại Hùng Tinh, năng lượng của bảy ngôi sao trong Pleiades, và năng lượng của Sirius (Mặt Trời Sirius, hay chòm sao này).

54. It is very interesting that different energy-streams may be major at different times in the long evolutionary history of the Solar Logos. At the moment it would seem that the three centers mentioned carry the first, second and third rays, but there are also other rays which may be rightly associated with these three sources, and these rays may be operative at this time in the solar logoic process.

54. Điều rất thú vị là các dòng năng lượng khác nhau có thể là chính vào những thời điểm khác nhau trong lịch sử tiến hoá lâu dài của Thái dương Thượng đế. Hiện nay dường như ba trung tâm được nhắc đến mang cung một, cung hai và cung ba, nhưng cũng có những cung khác có thể được liên hệ một cách đúng đắn với ba nguồn này, và những cung ấy có thể đang hoạt động vào lúc này trong tiến trình logoi thái dương.

Students may find it of use to remember that,

Các đạo sinh có thể thấy hữu ích khi nhớ rằng,

55. The words below offer important differentiations.

55. Những từ dưới đây đưa ra các sự phân biệt quan trọng.

a. The Law of Economy demonstrates as an urge,

a. Định luật Tiết Kiệm biểu lộ như một sự thôi thúc,

56. Usually the source of an “urge” is quite unconscious. The urge arises from within the substance of the form.

56. Thông thường nguồn gốc của một “sự thôi thúc” là khá vô thức. Sự thôi thúc phát sinh từ bên trong chất liệu của hình tướng.

b. The Law of Attraction as a pull,

b. Định luật Hấp Dẫn như một sức kéo,

57. A “pull” arises from without the form.

57. Một “sức kéo” phát sinh từ bên ngoài hình tướng.

c. The Law of Synthesis as a tendency to concentrate at a centre, or to merge. [Page 1183]

c. Định luật Tổng Hợp như một khuynh hướng tập trung vào một trung tâm, hay hòa nhập. [Page 1183]

58. If we could reduce all apparent “extension” (philosophically considered) to point, we would be operating under the Law of Synthesis.

58. Nếu chúng ta có thể quy mọi “sự mở rộng” biểu kiến (xét về mặt triết học) về thành điểm, thì chúng ta sẽ đang vận hành dưới Định luật Tổng Hợp.

59. The term “merge”, however, cannot be completely dissociated from the second ray.

59. Tuy nhiên, thuật ngữ “hòa nhập” không thể hoàn toàn tách rời khỏi cung hai.

60. In relation to the Law of Synthesis, we are dealing with the ‘merging of essences’. The form may suffer destruction in this process.

60. Liên quan đến Định luật Tổng Hợp, chúng ta đang bàn đến ‘sự hòa nhập của các tinh túy’. Hình tướng có thể bị hủy diệt trong tiến trình này.

The streams of energy which pour forth through the medium of the Sun from the egoic lotus

Các dòng năng lượng tuôn ra qua trung gian Mặt Trời từ Hoa Sen Chân Ngã

61. The “egoic lotus” here mentioned seems to be the egoic lotus of the Solar Logos.

61. “Hoa Sen Chân Ngã” được nhắc đến ở đây dường như là Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế.

and which are in reality “logoic Soul energy” attract to them that which is akin to them in vibration.

và thực ra là “năng lượng Linh hồn logoi” thu hút về phía chúng những gì đồng điệu với chúng về rung động.

62. The soul of the Solar Logos attracts to the souls of all, and especially those who are conscious as souls—spiritually awakened human beings (and, of course, Be/beings higher still).

62. Linh hồn của Thái dương Thượng đế thu hút các linh hồn của tất cả mọi hữu thể, và đặc biệt là những ai có ý thức như linh hồn—những con người được thức tỉnh tinh thần (và dĩ nhiên, các hữu thể còn cao hơn nữa).

This may sound rather like the statement of a platitude, but is susceptible of really deep significance to the student, being accountable for all systemic phenomena. 

Điều này có thể nghe như một lời nói sáo, nhưng lại hàm chứa thâm nghĩa thật sâu xa đối với đạo sinh, vì nó giải thích cho mọi hiện tượng có tính hệ thống.

63. From the solar logoic soul, there is exerted a “pull” upon all souls. This “pull’, is for practical purposes within the solar system, the “Cosmic Magnet”—perhaps, more properly, the ‘Systemic Magnet’. It arranges all things according to the logoically-intended archetype.

63. Từ linh hồn logoi thái dương, một “sức kéo” được tác động lên mọi linh hồn. “Sức kéo” này, xét cho mục đích thực tiễn trong hệ mặt trời, là “Nam Châm Vũ Trụ”—có lẽ nói đúng hơn là ‘Nam Châm Hệ Thống’. Nó sắp xếp mọi sự theo nguyên mẫu được logoi chủ ý.

64. It seems that the pull of the solar logoic soul is even responsible for the revolution and rotation of the planets and all process which occur on those planets.

64. Dường như sức kéo của linh hồn logoi thái dương thậm chí còn chịu trách nhiệm cho sự quay quanh và tự quay của các hành tinh cùng mọi tiến trình xảy ra trên các hành tinh ấy.

These streams pass in different directions, and in the knowledge of occult direction comes knowledge of the various hierarchies of being, and the secret of the esoteric symbols.

Các dòng này đi theo những hướng khác nhau, và trong tri thức về phương hướng huyền bí có tri thức về các huyền giai khác nhau của hữu thể, và bí mật của các biểu tượng huyền bí.

65. I suppose we should know when an esoteric ‘bomb’, full of blinding revelation, lands. I think one just dropped.

65. Tôi cho rằng chúng ta nên biết khi nào một ‘quả bom’ huyền bí, đầy ắp mặc khải chói lòa, rơi xuống. Tôi nghĩ vừa có một quả như thế rơi xuống.

66. There seems to be an implication that various “hierarchies of being” are found in certain “directions”—occultly considered. Symbols, also, will indicate the six directions of which we are presently aware.

66. Dường như có một hàm ý rằng các “huyền giai của hữu thể” khác nhau được tìm thấy trong những “phương hướng” nhất định—xét theo huyền bí học. Các biểu tượng cũng sẽ chỉ ra sáu phương hướng mà hiện nay chúng ta nhận biết.

67. The solar system is a great sphere and the direction taken by various energies within the sphere are of great importance in interpreting the dynamics of the system.

67. Hệ mặt trời là một khối cầu vĩ đại, và hướng đi của các năng lượng khác nhau bên trong khối cầu ấy có tầm quan trọng lớn trong việc giải thích động lực học của hệ thống.

The main stream of energy enters at the top depression in the solar sphere and passes through the entire ring-pass-not, bisecting it into two halves.

Dòng năng lượng chính đi vào tại chỗ lõm phía trên trong khối cầu thái dương và đi xuyên qua toàn bộ vòng-giới-hạn, chianóthành hai nửa.

68. Here we have an occultly factual basis for Sacred Geometry.

68. Ở đây chúng ta có một cơ sở thực kiện huyền bí cho Hình Học Thiêng Liêng.

69. Is the stream from the Great Bear and its Seven Rishis to be considered as the “main stream”. Certainly the Great Bear has a direct connection with the head. And yet, as we read further, we may find a surprising reversal of our first estimation. In fact we may find the for our Solar Logos, the main stream of energy comes from Sirius. We will reserve judgment at first.

69. Có phải dòng từ Đại Hùng Tinh và Bảy Rishi của nó được xem là “dòng chính” hay không? Chắc chắn Đại Hùng Tinh có liên hệ trực tiếp với đầu. Tuy nhiên, khi đọc tiếp, chúng ta có thể thấy một sự đảo ngược đáng ngạc nhiên đối với ước lượng ban đầu của mình. Thật vậy, chúng ta có thể thấy rằng đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta, dòng năng lượng chính đến từ Sirius. Trước hết chúng ta sẽ tạm giữ phán đoán.

With this stream enters that group of active lives whom we call the “Lords of Karma.” 

Cùng với dòng này đi vào là nhóm các sự sống hoạt động mà chúng ta gọi là “các Đấng Nghiệp Quả.”

70. The “Lords of Karma” are, for our Solar Logos, Sirian Lives.

70. “Các Đấng Nghiệp Quả”, đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta, là các Sự Sống Sirian.

71. It would seem that at least eight “Lords of Karma” enter.

71. Dường như có ít nhất tám “Đấng Nghiệp Quả” đi vào.

They preside over the attractive forces, and distribute them justly. They enter, pass to the centre of the sphere and there (if I may so express it) locate, and set up the “Holy Temple of Divine Justice,” sending out to the four quarters of the circle the four Maharajahs, their representatives.

Các Ngài chủ trì các mãnh lực hấp dẫn, và phân phối chúng một cách công bằng. Các Ngài đi vào, tiến đến trung tâm của khối cầu và tại đó (nếu tôi có thể nói như vậy) định vị, và thiết lập “Đền Thờ Thiêng Liêng của Công Lý Thiêng Liêng,” gửi ra bốn phương của vòng tròn bốn Maharajah, là các đại diện của Các Ngài.

72. The systemic and cosmic occultism is profound!

72. Huyền bí học có tính hệ thống và vũ trụ thật là sâu thẳm!

73. Those Lords of Karma (greater than the “Four Maharajas”) locate themselves in the midst of the “Holy Temple of Divine Justice” within the center of the sphere of the Sun!

73. Những Đấng Nghiệp Quả ấy (cao cả hơn “Bốn Maharaja”) định vị chính mình ở giữa “Đền Thờ Thiêng Liêng của Công Lý Thiêng Liêng” bên trong trung tâm của khối cầu Mặt Trời!

74. There can be a debate concerning whether there are three or four Lipika Lords. Perhaps on Sirius there are three major Lipika Lords. In this context, it seems that there must be four Lipika Lords and four Maharajas.

74. Có thể có tranh luận về việc có ba hay bốn Đấng Lipika. Có lẽ trên Sirius có ba Đấng Lipika chính. Trong ngữ cảnh này, dường như phải có bốn Đấng Lipika và bốn Maharaja.

75. The following reference suggests four, each corresponding to one of the “Four Maharajas”.

75. Trích dẫn sau đây gợi ý là bốn, mỗi vị tương ứng với một trong “Bốn Maharaja”.

2. The four Lipika Lords.

2. Bốn Đấng Lipika.

The four Maharajahs. (LOM 229)

Bốn Maharajah. (LOM 229)

76. The following reference, however, indicates that there is a group of three Lipikas (or Cosmic Karmic Lords) Who may be superior to the four Lipikas which enter through the solar depression.

76. Tuy nhiên, trích dẫn sau đây cho thấy có một nhóm gồm ba Lipika (hay các Đấng Nghiệp Quả Vũ Trụ) có thể cao hơn bốn Lipika đi vào qua chỗ lõm thái dương.

“The Lipika Lords, controlling the periodical manifestation of life are, roughly speaking, divided into the following groups, which it might be of interest to note:

“Các Đấng Lipika, kiểm soát sự biểu hiện tuần hoàn của sự sống, nói một cách khái quát, được chia thành các nhóm sau đây, điều mà có thể đáng lưu ý:

1. Three extra-systemic or cosmic Lords of Karma, Who work from a centre in Sirius through the medium of three representatives. These form a group around the solar Logos, and hold to Him a position analogous to the three Buddhas of Activity Who stand around Sanat Kumara.

1. Ba Đấng Nghiệp Quả ngoài hệ thống hay vũ trụ, hoạt động từ một trung tâm trên Sirius qua trung gian của ba đại diện. Các Ngài tạo thành một nhóm xung quanh Thái dương Thượng đế, và giữ đối với Ngài một vị trí tương tự như ba Đức Phật Hoạt Động đứng quanh Đức Sanat Kumara.

2. Three Lipika Lords Who are the karmic agents working through the three aspects.

2. Ba Đấng Lipika là các tác nhân nghiệp quả hoạt động qua ba phương diện.

3. Nine Lipikas Who are the sumtotal of the agents for the Law working through what the Qabbalah calls the nine Sephiroth.

3. Chín Lipika là tổng số các tác nhân của Định luật hoạt động qua điều mà Qabbalah gọi là chín Sephiroth.

4. Seven presiding agents of karma for each one of the seven schemes.” (TCF 1142-1143)

4. Bảy tác nhân chủ trì nghiệp quả cho mỗi một trong bảy hệ hành tinh.” (TCF 1142-1143)

77. The groups of four Lipikas are not here discussed. While the representatives of the three “cosmic Lords of Karma” as it were “surround” the Solar Logos, the four Lipikas and the four Maharajas Who enter through the top depression of the solar sphere, are, as it were, within the center of the etheric-physical body of the Solar Logos—His spherical solar system.

77. Các nhóm gồm bốn Lipika không được bàn đến ở đây. Trong khi các đại diện của ba “Đấng Nghiệp Quả vũ trụ” dường như “bao quanh” Thái dương Thượng đế, thì bốn Lipika và bốn Maharaja đi vào qua chỗ lõm phía trên của khối cầu thái dương lại, dường như, ở bên trong trung tâm của thể dĩ thái-hồng trần của Thái dương Thượng đế—hệ mặt trời hình cầu của Ngài.

78. If the Lords of Karma are Sirian in origin, and if they enter through the top of the solar sphere, then does the stream from the Great Bear enter via the top of this sphere, or does the Sirian influence accompany the influences of the Great Bear? Or does the stream from the Great Bear not enter at the top of the sphere?

78. Nếu các Đấng Nghiệp Quả có nguồn gốc Sirian, và nếu Các Ngài đi vào qua đỉnh của khối cầu thái dương, thì dòng từ Đại Hùng Tinh có đi vào qua đỉnh của khối cầu này không, hay ảnh hưởng Sirian đi kèm với các ảnh hưởng của Đại Hùng Tinh? Hoặc dòng từ Đại Hùng Tinh không đi vào ở đỉnh khối cầu?

So is the equal armed Cross formed

Như vậy Thập Giá có các cánh tay bằng nhau được hình thành

79. This is also the “Aquarian Cross”.

79. Đây cũng là “Thập Giá Bảo Bình”.

—and all the wheels of energy set in motion.

—và mọi bánh xe năng lượng được đặt vào chuyển động.

80. The “wheels of energy” may be considered, the various Planetary Logoi in their orbits.

80. “Các bánh xe năng lượng” có thể được xem là các Hành Tinh Thượng đế khác nhau trong quỹ đạo của Các Ngài.

This is conditioned by the karmic seeds of an earlier system,

Điều này được tác động bởi các hạt giống nghiệp quả của một hệ thống trước đó,

81. Is Master DK saying that the motion of the wheels is dependent upon the “karmic seeds of an earlier system”.

81. Có phải Chân sư DK đang nói rằng chuyển động của các bánh xe phụ thuộc vào “các hạt giống nghiệp quả của một hệ thống trước đó” hay không?

and only that substance is utilised by the Logos, and only those lives come into manifestation who have set up a mutual attraction.

chỉ chất liệu ấy mới được Thượng đế sử dụng, và chỉ những sự sống ấy mới đi vào biểu hiện là những sự sống đã thiết lập một sức hút hỗ tương.

82. We have here an example of ‘systemic group work’. Those who are to work together must be mutually attracted to each other. We are told that this is so on macrocosmic levels. We can infer that this is the case on microcosmic as well.

82. Ở đây chúng ta có một ví dụ về ‘công việc nhóm có tính hệ thống’. Những ai sẽ cùng làm việc với nhau phải có sức hút hỗ tương đối với nhau. Chúng ta được bảo rằng điều này đúng ở các cấp độ đại thiên địa. Chúng ta có thể suy ra rằng ở tiểu thiên địa cũng vậy.

83. The Planetary Logoi of our solar system, no matter how different to each other they may seem, are a ‘systemic group’ and are mutually attracted to each other.

83. Các Hành Tinh Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta, dù có vẻ khác nhau đến đâu, vẫn là một ‘nhóm có tính hệ thống’ và có sức hút hỗ tương đối với nhau.

These five streams of living energy (the one and the four) are the basis of the onward march of all things; these are sometimes esoterically called “the forward moving Lives.

Năm dòng năng lượng sống động này (một và bốn) là nền tảng của bước tiến không ngừng của vạn vật; đôi khi chúng được gọi một cách huyền bí là “các Sự Sống tiến về phía trước.

84. This is a clarification. DK has described the energy-basis of the pyramid. One can consider the enter solar system to be in the form of the pyramid.

84. Đây là một sự làm sáng tỏ. DK đã mô tả nền tảng năng lượng của kim tự tháp. Người ta có thể xem toàn bộ hệ mặt trời như có hình dạng của kim tự tháp.

85. Thus we have a major vertical energy and, apparently, four horizontal energies.

85. Như vậy chúng ta có một năng lượng thẳng đứng chính và, dường như, bốn năng lượng nằm ngang.

86. We continue to hold in mind the sources of the three major energy-streams which DK is in process of describing—the Great Bear, Sirius and the Pleiades.

86. Chúng ta tiếp tục ghi nhớ các nguồn của ba dòng năng lượng chính mà DK đang trong tiến trình mô tả—Đại Hùng Tinh, Sirius và Pleiades.

87. Yet, at this point we should recall that energies from the highest and lowest planes are not among the five!

87. Tuy nhiên, tại điểm này chúng ta nên nhớ rằng các năng lượng từ cõi cao nhất và cõi thấp nhất không nằm trong số năm dòng ấy!

88. The idea of “forward moving” suggests the first ray. It is very possible that Sirius, actually can be associated with the “forward moving Lives”, since in relation to our Sun (the heart center of a Cosmic Logos), the Logos of Sirius and His system may hold a first ray function.

88. Ý tưởng về “tiến về phía trước” gợi ý cung một. Rất có thể Sirius thực sự có thể được liên hệ với “các Sự Sống tiến về phía trước”, vì trong tương quan với Mặt Trời của chúng ta (trung tâm tim của một Thượng đế Vũ Trụ), Thượng đế của Sirius và hệ thống của Ngài có thể giữ một chức năng cung một.

89. It has been hypothesized that within the sevenfold Cosmic Logos within whom our Solar Logos expresses as a heart center, the Logos of Sirius expresses as a head center. This would bring in the first ray implication.

89. Đã có giả thuyết rằng trong Thượng đế Vũ Trụ thất phân mà trong đó Thái dương Thượng đế của chúng ta biểu lộ như một trung tâm tim, thì Thượng đế của Sirius biểu lộ như một trung tâm đầu. Điều này sẽ đưa vào hàm ý cung một.

They embody the Will of the Logos.

Chúng thể hiện Ý Chí của Thượng đế.

90. These five streams embody the Will of the Solar Logos. We can conceive that our Solar Logos looks to the Logos of Sirius and ‘says’, “Not my will but Thine be done.”

90. Năm dòng này thể hiện Ý Chí của Thái dương Thượng đế. Chúng ta có thể hình dung rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta hướng về Thượng đế của Sirius và ‘nói’: “Không phải ý chí của con mà là Ý Chí của Ngài được thực hiện.”

It is the note they sound and the attractive pull which they initiate which bring into contact with the solar sphere a group of existences whose mode of activity is spiral and not forward.

Chính âm điệu mà chúng xướng lên và sức kéo hấp dẫn mà chúng khởi phát đưa vào tiếp xúc với khối cầu thái dương một nhóm các hiện hữu có phương thức hoạt động là xoắn ốc chứ không phải tiến thẳng.

91. The motion of the energies we have been discussing is “forward”. They are, thus, to be related to the first ray the motion of which is “progress onward” or “driving forward through space”.

91. Chuyển động của các năng lượng mà chúng ta vừa bàn đến là “tiến về phía trước”. Vì vậy, chúng phải được liên hệ với cung một, mà chuyển động của cung này là “tiến bộ đi tới” hay “thúc đẩy tiến lên xuyên qua không gian”.

92. Now we are to contrast two modes of activity—the one we have been discussion the motion of this is “forward” with another group of existences whose mode of motion is “cyclic”.

92. Giờ đây chúng ta sẽ đối chiếu hai phương thức hoạt động—một phương thức mà chúng ta vừa bàn đến có chuyển động là “tiến về phía trước”, với một nhóm hiện hữu khác có phương thức chuyển động là “chu kỳ”.

These groups are seven in number

Các nhóm này có số lượng là bảy

93. The number seven is more readily correlated with the Great Bear than it is with Sirius as usually understood. If, however, we were to understand the term “Sirius” as representing the leading Logos and His star within the “Seven Solar Systems of Which Ours is One”, then we could relate the number seven to Sirius as well.

93. Con số bảy dễ được tương liên với Đại Hùng Tinh hơn là với Sirius theo cách thường được hiểu. Tuy nhiên, nếu chúng ta hiểu thuật ngữ “Sirius” như đại diện cho Thượng đế dẫn đầu và ngôi sao của Ngài trong “Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một”, thì chúng ta cũng có thể liên hệ con số bảy với Sirius.

and pass into manifestation [Page 1184] through what is for them a great door of Initiation.

và đi vào biểu hiện [Page 1184] qua điều đối với chúng là một cánh cửa lớn của điểm đạo.

94. The nature of this “door” is not specified. But we notice that the top depression of the solar sphere is not discussed.

94. Bản chất của “cánh cửa” này không được xác định. Nhưng chúng ta lưu ý rằng chỗ lõm phía trên của khối cầu thái dương không được bàn đến.

In some of the occult books, these seven groups are spoken of as the “seven cosmic Initiates Who have passed within the Heart, and there remain until the test is passed.”

Trong một số sách huyền bí, bảy nhóm này được nói đến như là “bảy Điểm đạo đồ vũ trụ đã đi vào trong Tim, và ở lại đó cho đến khi cuộc thử thách được vượt qua.”

95. We are now speaking of a great group of Lives associated, it would seem, with “cyclic” activity or with “spiral-cyclic”.

95. Giờ đây chúng ta đang nói về một nhóm lớn các Sự Sống dường như liên hệ với hoạt động “chu kỳ” hay “xoắn ốc-chu kỳ”.

96. The energies of the Great Bear are sevenfold and much associated with the first ray. The energies of the Pleiades (are from this point of view) also sevenfold and are to be associated with the third and second rays.

96. Các năng lượng của Đại Hùng Tinh là thất phân và gắn nhiều với cung một. Các năng lượng của Pleiades (xét từ quan điểm này) cũng là thất phân và phải được liên hệ với cung ba và cung hai.

97. What is the source, then, of the “seven cosmic Initiates Who have passed within the Heart, and there remain until the test if passed.”?

97. Vậy thì nguồn gốc của “bảy Điểm đạo đồ vũ trụ đã đi vào trong Tim, và ở lại đó cho đến khi cuộc thử thách được vượt qua” là gì?

98. Notice that we are speaking of seven “groups” and not just of seven Entities, per se. The Entities in question manifest through groups.

98. Hãy lưu ý rằng chúng ta đang nói về bảy “nhóm” chứ không chỉ bảy Thực Thể, chính chúng. Các Thực Thể đang được nói đến biểu hiện qua các nhóm.

These are the seven Hierarchies of Beings,

Đây là bảy Huyền Giai của các Hữu Thể,

99. These are seven great groups or hosts of Monads. It is possible to correlate them with the Seven Rishis of the Great Bear.

99. Đây là bảy nhóm hay đạo quân lớn của các Chân thần. Có thể tương liên chúng với Bảy Rishi của Đại Hùng Tinh.

the seven Dhyan Chohans. They spiral into manifestation, cutting across the fourfold cross, and touching the cruciform stream of energy in certain places.

bảy Dhyan Chohan. Các Ngài xoắn ốc đi vào biểu hiện, cắt ngang thập giá tứ phân, và chạm vào dòng năng lượng hình thập tự tại những điểm nhất định.

100. We see that the groups which take up their position “within the Heart” are the Informing Lives of the Seven Creative Hierarchies.

100. Chúng ta thấy rằng các nhóm chiếm vị trí “bên trong Tim” là các Sự Sống Phú Linh của Các Huyền Giai Sáng Tạo bảy phân.

101. The term “Dhyan Chohan” has various uses. Here we see it applied to those Lives Who inform or express through vast hosts of Monads. Creative Hierarchies are hosts of Monads.

101. Thuật ngữ “Dhyan Chohan” có nhiều cách dùng khác nhau. Ở đây chúng ta thấy nó được áp dụng cho những Sự Sống phú linh hay biểu lộ qua những đạo quân rộng lớn các Chân thần. Các Huyền Giai Sáng Tạo là những đạo quân của các Chân thần.

102. We see that the “certain places in which these seven Dhyan Chohans “spiral into manifestation” are not specified.

102. Chúng ta thấy rằng những “điểm nhất định” nơi bảy Dhyan Chohan này “xoắn ốc đi vào biểu hiện” không được xác định.

103. Thus far, we have the one, the four and the seven, making twelve in all.

103. Cho đến nay, chúng ta có một, bốn và bảy, tổng cộng là mười hai.

104. We have three major groupings and, it would seem, we will have to find a way to related the three great constellations to one or other of these three groups.

104. Chúng ta có ba nhóm lớn và dường như sẽ phải tìm ra cách liên hệ ba chòm sao lớn với một hay nhóm nào đó trong ba nhóm này.

The places where the streams of love energy cross the streams of will and karmic energy are mystically called the “Caves of dual light”

Những nơi mà các dòng năng lượng bác ái cắt ngang các dòng năng lượng ý chí và nghiệp quả được gọi một cách thần bí là “Các Hang của ánh sáng nhị nguyên”

105. We can conceive of this “dual light” as the light of fate and the light of destiny. Fate is associated with karma and destiny with the destination of the Monad.

105. Chúng ta có thể hình dung “ánh sáng nhị nguyên” này như ánh sáng của số mệnh và ánh sáng của thiên mệnh. Số mệnh gắn với nghiệp quả và thiên mệnh gắn với đích đến của Chân thần.

and when a reincarnating or liberated jiva enters one of these Caves in the course of his pilgrimage, he takes an initiation, and passes on to a higher turn of the spiral.

khi một jiva tái sinh hay được giải thoát đi vào một trong những Hang này trong tiến trình cuộc hành hương của y, y tiếp nhận một điểm đạo, và tiến lên một vòng xoắn cao hơn.

106. The “caves of dual light” then, are also places of passage from the lower to the higher.

106. Như vậy, “các hang của ánh sáng nhị nguyên” cũng là những nơi chuyển tiếp từ thấp lên cao.

107. This is some of the most occult information DK has ever given. He is defining the cause of human initiation from a solar systemic perspective.

107. Đây là một phần thông tin huyền bí nhất mà DK từng ban ra. Ngài đang xác định nguyên nhân của điểm đạo nhân loại từ một viễn cảnh hệ thống thái dương.

108. The one and the four are streams of will and karma. One stream, the major one, seems related to will. The group which reaches the center of the solar sphere, and divides in four, is the fourfold stream of karmic energy. The sevenfold energy are seven streams of love associated with the Creative Hierarchies.

108. Một và bốn là các dòng ý chí và nghiệp quả. Một dòng, là dòng chính, dường như liên hệ với ý chí. Nhóm đi đến trung tâm của khối cầu thái dương và chia thành bốn là dòng năng lượng nghiệp quả tứ phân. Năng lượng thất phân là bảy dòng bác ái gắn với các Huyền Giai Sáng Tạo.

109. The major stream of energy is propagated along all four karmic streams. Thus each of the four karmic streams is also a stream of will. Will and karma are closely related.

109. Dòng năng lượng chính được truyền dọc theo cả bốn dòng nghiệp quả. Vì vậy mỗi một trong bốn dòng nghiệp quả cũng là một dòng ý chí. Ý chí và nghiệp quả có liên hệ chặt chẽ với nhau.

110. The first, second and third rays are all involved just as are the energy-streams from the Great Bear, Sirius and the Pleiades.

110. Cung một, cung hai và cung ba đều được bao hàm, cũng như các dòng năng lượng từ Đại Hùng Tinh, Sirius và Pleiades.

111. Assigning these three to the three types of direction under discussion, however, may not be entirely straightforward.

111. Tuy nhiên, việc gán ba nguồn này cho ba loại phương hướng đang được bàn đến có thể không hoàn toàn đơn giản.

112. The seven Creative Hierarchies are not usually associated with the second ray of love. The forces from Sirius, from whence the Lords of Karma emanate, can be associated with the third or manasic ray, but often with the second. Are the forces of the Pleiades to be associated with the seven Creative Hierarchies, or are the forces of the Great Bear (representing Monads) more appropriate? Are those from Sirius to be seen as generating the Cross of Karma which is established within the solar sphere and which emanates from “Holy Temple of Divine Justice”? Then would the forces of the Great Bear be the main stream entering through the top of the solar sphere? Yet the “main stream” and the “karmic stream” may be one.

112. Bảy Huyền Giai Sáng Tạo thường không được liên hệ với cung hai của bác ái. Các mãnh lực từ Sirius, nơi các Đấng Nghiệp Quả xuất lộ, có thể được liên hệ với cung ba hay cung manas, nhưng thường là với cung hai. Có phải các mãnh lực của Pleiades nên được liên hệ với bảy Huyền Giai Sáng Tạo, hay các mãnh lực của Đại Hùng Tinh (đại diện cho các Chân thần) thích hợp hơn? Có phải các mãnh lực từ Sirius nên được xem như tạo ra Thập Giá Nghiệp Quả được thiết lập bên trong khối cầu thái dương và xuất lộ từ “Đền Thờ Thiêng Liêng của Công Lý Thiêng Liêng”? Vậy thì các mãnh lực của Đại Hùng Tinh có phải là dòng chính đi vào qua đỉnh của khối cầu thái dương không? Tuy nhiên, “dòng chính” và “dòng nghiệp quả” có thể là một.

113. Yet, we must not jump to conclusions, as perhaps only two influences have thus far been mentioned and not three. Another is going to be revealed as we will see.

113. Tuy nhiên, chúng ta không được vội kết luận, vì có lẽ cho đến nay chỉ mới nhắc đến hai ảnh hưởng chứ chưa phải ba. Một ảnh hưởng khác sẽ được tiết lộ như chúng ta sẽ thấy.

Another stream of energy

Một dòng năng lượng khác

114. We can call this the third stream of energy.

114. Chúng ta có thể gọi đây là dòng năng lượng thứ ba.

follows a different route, which is a little difficult to make clear. This particular set of active lives enter the heart shaped depression,

đi theo một lộ trình khác, điều này hơi khó làm cho rõ. Tập hợp đặc biệt này của các sự sống hoạt động đi vào chỗ lõm hình tim,

115. It seems that three streams of force have entered through the heart shaped depression: the main stream, the karmic stream, and now, what DK will call the “lunar stream”. But it is very possible, depending on our interpretation, that the “main stream” and the “karmic stream” are identical.

115. Dường như có ba dòng lực đã đi vào qua chỗ lõm hình tim: dòng chính, dòng nghiệp quả, và giờ đây là điều DK sẽ gọi là “dòng nguyệt”. Nhưng rất có thể, tùy theo cách giải thích của chúng ta, “dòng chính” và “dòng nghiệp quả” là đồng nhất.

116. Is this stream following a different route to be associated with the Pleiades?

116. Có phải dòng đi theo lộ trình khác này nên được liên hệ với Pleiades không?

pass around the edge of the ring-pass-not to the lowest part of the solar sphere and then mount upwards, coming into opposition therefore with the stream of downpouring energy. 

đi quanh mép của vòng-giới-hạn đến phần thấp nhất của khối cầu thái dương rồi sau đó đi lên, do đó đi vào thế đối kháng với dòng năng lượng tuônxuống.

117. This is really interesting. We see that the solar system is looking more and more like a vast version of Babbitt’s Atom.

117. Điều này thật sự rất thú vị. Chúng ta thấy hệ mặt trời ngày càng giống một phiên bản khổng lồ của Nguyên tử Babbitt.

118. In one way, the energy of the Great Bear and the energy of the Pleiades do stand in opposition as male energy to female energy.

118. Theo một cách nào đó, năng lượng của Đại Hùng Tinh và năng lượng của Pleiades quả thật đứng trong thế đối kháng như năng lượng nam đối với năng lượng nữ.

119. In another way, the forces of matter so often represented by the Pleiades are opposed by the forces of Sirius, which create an abstraction or a drawing away from matter.

119. Theo một cách khác, các mãnh lực của vật chất thường được Pleiades tượng trưng bị đối kháng bởi các mãnh lực của Sirius, vốn tạo ra sự trừu xuất hay sự kéo ra khỏi vật chất.

This stream of force is called “lunar” force for lack of a better term.

Dòng lực này được gọi là lực “nguyệt” vì thiếu một thuật ngữ tốt hơn.

120. It is probably not the term which DK desires to use but it does suggest the third aspect and association with matter.

120. Có lẽ đây không phải là thuật ngữ mà DK muốn dùng, nhưng nó quả có gợi ý phương diện thứ ba và sự liên hệ với vật chất.

They form the body of the raja Lord of each of the planes, and are governed by the Law of Economy.

Chúng tạo thành thể của vị chúa tể raja của mỗi cõi, và được chi phối bởi Định luật Tiết Kiệm.

121. We are learning about the way which certain major forces establish themselves within our solar system.

121. Chúng ta đang học về cách mà một số mãnh lực lớn thiết lập chính mình bên trong hệ mặt trời của chúng ta.

122. This group of forces are sounding more Pleiadian all the time.

122. Nhóm mãnh lực này nghe ngày càng giống Pleiades hơn.

123. We must determine whether there are three such streams or four. There would be four if the will stream were divided from the karmic stream, and yet in the preamble to this section, DK discussed only three great energy sources—the Great Bear, the Pleiades and Sirius.

123. Chúng ta phải xác định xem có ba dòng như thế hay bốn. Sẽ là bốn nếu dòng ý chí được tách khỏi dòng nghiệp quả, nhưng trong phần mở đầu của mục này, DK chỉ bàn đến ba nguồn năng lượng lớn—Đại Hùng Tinh, Pleiades và Sirius.

All these streams of energy form geometrical designs of great beauty to the eye of the initiated seer.

Tất cả các dòng năng lượng này tạo thành những mô hình hình học có vẻ đẹp lớn lao đối với con mắt của nhà thông nhãn đã được điểm đạo.

124. “God Geometrizes.” We are studying the Sacred Geometry of our solar system.

124. “Thượng đế hình học hóa.” Chúng ta đang nghiên cứu Hình Học Thiêng Liêng của hệ mặt trời chúng ta.

We have the transverse and bisecting lines,

Chúng ta có các đường ngangđường phân đôi,

125. These form the “Cross of Karma”

125. Chúng tạo thành “Thập Giá Nghiệp Quả”

the seven lines of force which form the planes,

bảy đường lực tạo thành các cõi,

126. Are they stratified?

126. Chúng có phân tầng không?

127. Seven is a number conventionally associated with the seven Pleiades who are the “Wives” of the Seven Rishis of the Great Bear.

127. Bảy là một con số theo quy ước được liên hệ với bảy ngôi sao Pleiades là “Những Người Vợ” của Bảy Rishi của Đại Hùng Tinh.

and the seven spiralling lines, thus forming lines of systemic latitude and longitude,

và bảy đường xoắn ốc, do đó tạo thành các đường vĩ độ và kinh độ của hệ thống,

128. We recall from earlier references the lines from east to west are lines of latitude and in this case would be associated with the seven planes and the Pleiades.

128. Chúng ta nhớ từ các tham chiếu trước rằng các đường từ đông sang tây là các đường vĩ độ và trong trường hợp này sẽ được liên hệ với bảy cõi và Pleiades.

129. The lines running from north to south are lines of longitude and would be associated with the seven rays.

129. Các đường chạy từ bắc xuống nam là các đường kinh độ và sẽ được liên hệ với bảy cung.

130. We realize that the Great Bear is the most noted source of the seven rays in our solar system.

130. Chúng ta nhận ra rằng Đại Hùng Tinh là nguồn nổi bật nhất của bảy cung trong hệ mặt trời chúng ta.

and their interplay and interaction produce a whole of wondrous beauty and design.

và sự tương tác qua lại của chúng tạo ra một toàn thể có vẻ đẹp và mô hình kỳ diệu.

131. I suspect it will soon be the destiny of some esoteric artist to convey his impression of these interacting lines of force.

131. Tôi ngờ rằng chẳng bao lâu nữa sẽ là định mệnh của một nghệ sĩ huyền bí nào đó truyền đạt ấn tượng của ông về những đường lực tương tác này.

When these are visualised in colour,

Khi những điều này được hình dung trong màu sắc,

132. We may presume that each of the three or four lines or spirals of force has its own color.

132. Chúng ta có thể giả định rằng mỗi một trong ba hay bốn đường hay xoắn lực đều có màu sắc riêng của nó.

and seen in their true radiance, it will be realised that the point of attainment of our solar Logos is very high, for the beauty of the logoic Soul is expressed by that which is seen.

và được thấy trong sự rực sáng chân thực của chúng, người ta sẽ chứng nghiệm rằng điểm thành tựu của Thái dương Thượng đế của chúng ta là rất cao, vì vẻ đẹp của Linh hồn logoi được biểu lộ qua điều được thấy.

133. Beauty (which is the degree of conformity with the intended archetype) reveals attainment. Attainment means approximation to the archetype.

133. Vẻ đẹp (là mức độ phù hợp với nguyên mẫu đã được chủ định) tiết lộ thành tựu. Thành tựu có nghĩa là sự tiệm cận nguyên mẫu.

134. Clearly there is great beauty to be seen, but what is the meaning of “very high”? Our Solar Logos is apparently a Cosmic Initiate of the second degree, but not yet of the third degree. Is this very high?

134. Rõ ràng có vẻ đẹp lớn lao để được thấy, nhưng “rất cao” có nghĩa là gì? Thái dương Thượng đế của chúng ta dường như là một Điểm đạo đồ Vũ Trụ cấp hai, nhưng chưa phải cấp ba. Điều đó có phải là rất cao không?

135. It would seem that the fourth ray must be involved (perhaps monadically) in relation to our Solar Logos, Who is a Logos of the fourth order—at this time.

135. Dường như cung bốn phải được bao hàm (có lẽ về mặt chân thần) trong liên hệ với Thái dương Thượng đế của chúng ta, Đấng là một Thượng đế thuộc bậc thứ tư—vào lúc này.

136. If there are only three sources of energy, then perhaps Sirius is responsible for five of them—the major stream and the resultant cross. Then the Great Bear would be associated with the seven Creative Hierarchies and the Pleiades would provide the forces through which the Raja Deva Lords work.

136. Nếu chỉ có ba nguồn năng lượng, thì có lẽ Sirius chịu trách nhiệm cho năm dòng trong số đó—dòng chính và thập giá phát sinh từ đó. Khi ấy Đại Hùng Tinh sẽ được liên hệ với bảy Huyền Giai Sáng Tạo và Pleiades sẽ cung cấp các mãnh lực mà qua đó các Chúa Tể Raja Deva hoạt động.

137. The entry of the main stream will have to be considered carefully.

137. Sự đi vào của dòng chính sẽ phải được xem xét cẩn thận.

138. If Sirius is considered major, it will not be because it is absolutely major, but is major in relation to our Solar Logos. Then both the Great Bear and Pleiades (which are really of greater advancement than Sirius) will play secondary roles—at least with respect to our Solar Logos.

138. Nếu Sirius được xem là chính yếu, thì không phải vì nó tuyệt đối chính yếu, mà là chính yếu trong liên hệ với Thái dương Thượng đế của chúng ta. Khi ấy cả Đại Hùng Tinh lẫn Pleiades (thực ra đều tiến hoá cao hơn Sirius) sẽ đóng các vai trò thứ yếu—ít nhất là xét theo Thái dương Thượng đế của chúng ta.

Leave a Comment

Scroll to Top