S9S2 Part I
|
TCF 1088-1092: |
TCF 1087-1092: |
|
Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) |
Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ những trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện) |
|
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary |
Có đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận |
|
1. We have just been through one of the most expansive, far-ranging section of A Treatise on Cosmic Fire. The Tibetan has offered us His most universal perspective thus far. It is not that we are capable of accurately interpreting all that He has said, but our imaginations have been greatly stimulated. We also sense that there the factor of organization is supreme as we ascend to the ‘heights’ of cosmos. |
1. Chúng ta vừa đi qua một trong những phần bao quát và trải rộng nhất của Luận về Lửa Vũ Trụ. Chân sư Tây Tạng đã cống hiến cho chúng ta quan điểm phổ quát nhất của Ngài cho đến nay. Không phải là chúng ta có khả năng diễn giải chính xác tất cả những gì Ngài đã nói, nhưng sự tưởng tượng của chúng ta đã được kích thích mạnh mẽ. Chúng ta cũng cảm nhận rằng yếu tố tổ chức là tối thượng khi chúng ta đi lên những ‘đỉnh cao’ của vũ trụ. |
|
In concluding our remarks concerning the diverse wheels of the universe, we will touch with brevity upon the “wheels” which concern the human monad. |
Khi kết thúc những nhận xét của chúng ta về các bánh xe đa dạng của vũ trụ, chúng ta sẽ ngắn gọn đề cập đến những “bánh xe” liên quan đến chân thần con người. |
|
2. This, then, will be the most practical of the expansive (though briefly stated) section on “wheels”. |
2. Như vậy, đây sẽ là phần thực tiễn nhất trong phần bàn rộng (dù được trình bày ngắn gọn) về các “bánh xe”. |
|
This is a subject but little dealt with as yet, though a few words have been spoken anent the egoic wheel. |
Đây là một chủ đề cho đến nay còn rất ít được bàn đến, mặc dù đã có đôi lời được nói ra liên quan đến bánh xe chân ngã. |
|
3. Really, the presentation on the “egoic wheel” has been very rich. Master DK has discussed different kinds of lotuses, their origin, their type of expression, etc. The subject of the Monad, however, is deeper and less accessible. |
3. Thật ra, phần trình bày về “bánh xe chân ngã” đã rất phong phú. Chân sư DK đã bàn về những loại hoa sen khác nhau, nguồn gốc của chúng, loại hình biểu lộ của chúng, v.v. Tuy nhiên, chủ đề về Chân thần thì sâu hơn và khó tiếp cận hơn. |
|
It must be borne in mind that the evolution of the [Page 1088] Monad is a much more intricate thing than appears in the books as yet given to the public. |
Cần ghi nhớ rằng sự tiến hoá của [Page 1088] Chân thần là một điều phức tạp hơn nhiều so với điều hiện nay xuất hiện trong những quyển sách đã được trao cho công chúng. |
|
4. With a little thought, one can surely imagine the verity of what Master DK tells us. The true nature of the Monad is hardly discussed and its origin left to the most far-reaching speculation. We cannot reasonably think that that which we call ‘our Monad’, originated in this solar system.\ |
4. Chỉ cần suy nghĩ một chút, người ta chắc chắn có thể hình dung tính chân thực của điều Chân sư DK nói với chúng ta. Bản chất đích thực của Chân thần hầu như không được bàn đến và nguồn gốc của nó bị bỏ mặc cho những suy đoán xa vời nhất. Chúng ta không thể hợp lý mà nghĩ rằng cái mà chúng ta gọi là ‘Chân thần của mình’ lại bắt nguồn trong hệ mặt trời này.\ |
|
In those books the development of consciousness and its transition through the kingdoms of nature are the points dwelt upon. |
Trong những quyển sách ấy, sự phát triển của tâm thức và sự chuyển tiếp của nó qua các giới trong thiên nhiên là những điểm được nhấn mạnh. |
|
5. Given the present stage of human understanding this is to be expected. The subject of the development of consciousness (i.e., the development of soul) is sufficiently deep to engage the most profound thought of which we are capable. What further extensions of thought are needed to fathom the nature of the Monad? |
5. Với giai đoạn thấu hiểu hiện nay của con người, điều này là điều có thể chờ đợi. Chủ đề về sự phát triển của tâm thức (tức sự phát triển của linh hồn) đủ sâu để cuốn hút tư tưởng sâu sắc nhất mà chúng ta có khả năng đạt tới. Cần những mở rộng tư tưởng nào hơn nữa để dò thấu bản chất của Chân thần? |
|
6. You may link to the On The Monad table of contents. http://www.makara.us/04mdr/01writing/04tg/monad_toc.htm |
6. Bạn có thể liên kết đến mục lục Về Chân thần http://www.makara.us/04mdr/01writing/04tg/monad_toc.htm |
|
Yet there have been earlier cycles which it will be only possible to comprehend as the history and evolution of the planetary Logoi become gradually revealed. |
Tuy nhiên đã có những chu kỳ sớm hơn mà chỉ có thể thấu hiểu được khi lịch sử và sự tiến hoá của các Hành Tinh Thượng đế dần dần được tiết lộ. |
|
7. Is the development and fate of the human Monad linked to the earlier development of the Planetary Logoi in which these Monads are now as “cells”? This seems to be what is being said. |
7. Phải chăng sự phát triển và số phận của Chân thần con người được nối kết với sự phát triển trước kia của các Hành Tinh Thượng đế, trong đó những Chân thần này hiện nay là những “tế bào”? Có vẻ như đó là điều đang được nói ra. |
|
8. The history and evolution of the Planetary Logoi is only dimly hinted. We have gathered that they have passed through much earlier phases in which they were as man is now. |
8. Lịch sử và sự tiến hoá của các Hành Tinh Thượng đế chỉ mới được gợi ý mờ nhạt. Chúng ta đã thu thập được rằng Các Ngài đã đi qua nhiều giai đoạn sớm hơn, trong đó Các Ngài giống như con người hiện nay. |
|
Man is repeating His endeavor up to the fifth Initiation which will bring him to a stage of consciousness achieved by a Heavenly Man in a much earlier mahamanvantara. (TCF 272) |
Con người đang lặp lại nỗ lực của Ngài cho đến lần điểm đạo thứ năm, điều sẽ đưa y đến một giai đoạn tâm thức mà một Đấng Thiên Nhân đã đạt được trong một đại giai kỳ sinh hóa sớm hơn rất nhiều. (TCF 272) |
|
9. DK also hints at the participation of some of them in the previous solar system and probably in solar systems still earlier. |
9. Chân sư DK cũng gợi ý về sự tham dự của một số vị trong số Các Ngài vào hệ mặt trời trước và có lẽ vào cả những hệ mặt trời còn sớm hơn nữa. |
|
They [Monads] are parts of His body of manifestation, cells within that greater vehicle, and thus vitalised by His life, qualified by His nature, and distinguished by His characteristics. |
Chúng [Monads] là những phần của thể biểu lộ của Ngài, những tế bào bên trong vận cụ lớn hơn ấy, và do đó được sự sống của Ngài tiếp sinh lực, được bản chất của Ngài định tính, và được phân biệt bởi những đặc tính của Ngài. |
|
10. Monads are as cells within a Planetary Logos. Was there ever a time, or will there ever be a time, when the Monad can have an existence independent from its ‘parent’ Planetary Logos? |
10. Các Chân thần như những tế bào bên trong một Hành Tinh Thượng đế. Đã từng có, hay sẽ từng có, một thời điểm khi Chân thần có thể có một sự hiện hữu độc lập với Hành Tinh Thượng đế ‘mẹ’ của nó chăng? |
|
11. This actually, is a most important question. For instance, Monads tread many different Cosmic Paths on the Way of Higher Evolution. The Planetary Logos to which these Monads presently ‘belong’ cannot possibly be involved in all these Paths! |
11. Thật ra đây là một câu hỏi hết sức quan trọng. Chẳng hạn, các Chân thần bước đi trên nhiều Con đường Tiến Hóa Cao Siêu khác nhau. Hành Tinh Thượng đế mà các Chân thần này hiện nay ‘thuộc về’ tuyệt đối không thể nào cùng tham dự vào tất cả những Con Đường ấy! |
|
This will take the history, therefore, of a Monad back to the earlier kalpas. |
Do đó, điều này sẽ đưa lịch sử của một Chân thần trở lui về các kalpa sớm hơn. |
|
12. By this, DK presumably means earlier “mahakalpas”. If so there have been times with the Monad was distinctly free from its pilgrimage through the lower forms of matter—at least, so it would seem. |
12. Bởi điều này, có lẽ Chân sư DK muốn nói đến những “mahakalpa” sớm hơn. Nếu vậy, đã từng có những thời kỳ khi Chân thần rõ rệt được tự do khỏi cuộc hành hương của nó qua những hình tướng thấp của vật chất—ít nhất, dường như là như thế. |
|
Such history it is not possible to reveal, and no purpose would be served by such a revelation. |
Không thể tiết lộ lịch sử như thế, và cũng không có mục đích nào được phụng sự bởi một sự mặc khải như thế. |
|
13. Does this mean that the history simply cannot be revealed because there are no revealers capable of revealing it? Or does it mean that such history may not be revealed? |
13. Điều này có nghĩa là lịch sử ấy đơn giản không thể được tiết lộ vì không có những đấng mặc khải nào có khả năng tiết lộ nó chăng? Hay điều đó có nghĩa là lịch sử như thế không được phép tiết lộ? |
|
14. Why does Master DK tell us that no purpose would be served by such a revelation? Do we not suspect that some gain in perspective concerning monadic life would be accorded? Or would the revelation simply bring confusion? |
14. Vì sao Chân sư DK nói với chúng ta rằng một sự mặc khải như thế sẽ không phục vụ mục đích nào? Chẳng phải chúng ta nghi rằng một số lợi ích về viễn cảnh liên quan đến sự sống chân thần sẽ được ban cho sao? Hay sự mặc khải ấy đơn giản chỉ đem lại sự rối rắm? |
|
The fact only can be touched upon as it must be considered along general lines if the true nature of the Self is to be accurately known. |
Sự kiện ấy chỉ có thể được chạm đến, vì nó phải được xét theo những đường nét tổng quát nếu bản chất chân thực của Bản Ngã phải được biết một cách chính xác. |
|
15. The Monad is the true Self. We may think we may know much about the Self but what was the nature of the Self in former kalpas and mahakalpas? |
15. Chân thần là Bản Ngã chân thực. Chúng ta có thể nghĩ rằng mình có thể biết nhiều về Bản Ngã, nhưng bản chất của Bản Ngã trong các kalpa và mahakalpa trước kia là gì? |
|
We might consider that the Monad of the human being passes through cycles analogous to those through which the Heavenly Man travels. |
Chúng ta có thể xét rằng chân thần của con người đi qua những chu kỳ tương tự như những chu kỳ mà Đấng Thiên Nhân trải qua. |
|
16. The analogies will have to be closely watched. Much can thereby be learned about the progress of both types of ‘M/men’. |
16. Những sự tương đồng ấy sẽ phải được theo dõi chặt chẽ. Nhờ đó có thể học được nhiều về sự tiến bộ của cả hai loại ‘M/người’. |
|
17. But the key point to solve is whether the Monad always travels with a particular Planetary Logos. |
17. Nhưng điểm then chốt cần giải quyết là liệu chân thần có luôn luôn di hành cùng với một Hành Tinh Thượng đế nhất định hay không. |
|
There is, first, the vast cycle of unfoldment through which a “spark” passes. |
Trước hết, có chu kỳ khai mở bao la mà qua đó một “tia lửa” đi qua. |
|
18. The Monad is the “spark”. |
18. Chân thần là “tia lửa” ấy. |
|
19. DK seems to hint that all of us have undergone some type of unfoldment (as Monads, as “sparks”) within the previous solar system and will also do so within the next solar system. |
19. DK dường như gợi ý rằng tất cả chúng ta đều đã trải qua một loại khai mở nào đó (với tư cách các chân thần, như những “tia lửa”) trong hệ mặt trời trước và cũng sẽ làm như vậy trong hệ mặt trời kế tiếp. |
|
This covers the period of three major solar systems—that preceding this one, the present, and the succeeding one. |
Điều này bao trùm giai đoạn của ba hệ mặt trời lớn—hệ đi trước hệ này, hệ hiện tại, và hệ kế tiếp. |
|
20. What of minor solar systems? Were the “sparks” not present during the (perhaps) three minor solar systems which preceded the three major (of which we are presently in the second). (This, at least, is one way of looking at solar systemic evolution.) |
20. Còn các hệ mặt trời nhỏ thì sao? Chẳng lẽ các “tia lửa” đã không hiện diện trong (có lẽ) ba hệ mặt trời nhỏ đi trước ba hệ lớn (mà hiện nay chúng ta đang ở trong hệ lớn thứ hai) sao? (Ít nhất, đây là một cách nhìn về sự tiến hoá của hệ mặt trời.) |
|
21. Some theorists believe there will be seven solar systems altogether and DK seems to support this point. |
21. Một số nhà lý thuyết tin rằng sẽ có tất cả bảy hệ mặt trời và DK dường như ủng hộ quan điểm này. |
|
There will be seven systems, though we are only concerned with the three major systems, of which our present system is the second major system. (IHS 187) |
Sẽ có bảy hệ, dù chúng ta chỉ quan tâm đến ba hệ lớn, trong đó hệ hiện tại của chúng ta là hệ lớn thứ hai. (IHS 187) |
|
22. Yet at the same time it is said that the third major solar system is the “final” solar system. |
22. Tuy nhiên đồng thời người ta lại nói rằng hệ mặt trời lớn thứ ba là hệ mặt trời “cuối cùng”. |
|
It is the redemption of unprincipled substance, its creative restoration and spiritual integration, which is Their goal; the fruits of Their labour will be seen in the third and final solar system. (ENA 65) |
Chính sự cứu chuộc chất liệu vô nguyên khí, sự phục hồi sáng tạo của nó và sự tích hợp tinh thần của nó là mục tiêu của Các Ngài; thành quả lao động của Các Ngài sẽ được thấy trong hệ mặt trời thứ ba và cuối cùng. (ENA 65) |
|
23. The matter has been seriously and intensively debated by a number of advanced students and no final conclusion (satisfactory to them all) has been reached. |
23. Vấn đề này đã được một số đạo sinh tiến bộ tranh luận một cách nghiêm túc và mãnh liệt, và chưa đạt tới kết luận cuối cùng nào (thỏa đáng đối với tất cả họ). |
|
24. Some also think that the minor solar systems are found within the three major solar systems. Such are the variety of perspectives which emerge when thinking seriously of these puzzles. |
24. Một số người cũng nghĩ rằng các hệ mặt trời nhỏ được tìm thấy bên trong ba hệ mặt trời lớn. Đó là sự đa dạng của các viễn cảnh xuất hiện khi suy nghĩ nghiêm túc về những câu đố này. |
|
In these three, the totality of the cosmic Past, Present, and Future, embodying the three aspects of the divine Life of the solar Logos, are carried to the point of perfection in an individualised Monad. |
Trong ba hệ này, toàn thể quá khứ, hiện tại và tương lai vũ trụ, thể hiện ba phương diện của sự sống thiêng liêng của Thái dương Thượng đế, được đưa đến điểm hoàn hảo trong một chân thần biệt ngã hóa. |
|
25. If the major three solar systems embody the “totality” of the cosmic past, present and future, one wonders how any minor solar systems could have preceded the first major system? |
25. Nếu ba hệ mặt trời lớn thể hiện “toàn thể” quá khứ, hiện tại và tương lai vũ trụ, người ta tự hỏi làm sao bất kỳ hệ mặt trời nhỏ nào có thể đã đi trước hệ lớn thứ nhất? |
|
26. We also note that the word “cosmic” has been used relating our Solar Logos to the “cosmic” sphere. |
26. Chúng ta cũng lưu ý rằng từ “vũ trụ” đã được dùng khi liên hệ Thái dương Thượng đế của chúng ta với khối cầu “vũ trụ”. |
|
27. Our Solar Logos is a cosmic Being but not yet a “Cosmic Logos”. |
27. Thái dương Thượng đế của chúng ta là một Hữu thể vũ trụ nhưng chưa phải là một “Thượng đế Vũ trụ”. |
|
28. Note the term “individualised Monad”. Were all Monads individualized in the past solar system? This does not seem likely as the individualization was obviously taken by many in this second major solar system. |
28. Hãy lưu ý thuật ngữ “chân thần biệt ngã hóa”. Phải chăng mọi chân thần đều đã được biệt ngã hóa trong hệ mặt trời trước? Điều này dường như không có khả năng, vì sự biệt ngã hóa hiển nhiên đã được nhiều đơn vị đảm nhận trong hệ mặt trời lớn thứ hai này. |
|
29. Perhaps it is only when the Monad is at last individualized through the creation of its Self-conscious Ego that the Past, Present and Future can be carried to perfection. |
29. Có lẽ chỉ khi chân thần cuối cùng được biệt ngã hóa thông qua việc tạo ra chân ngã có ngã thức của nó thì Quá khứ, Hiện tại và Tương lai mới có thể được đưa đến hoàn hảo. |
|
30. Yet, in a way, can we consider the Monad, per se, a kind of ‘individualized being’? Certainly it is a distinct point of identity. |
30. Tuy nhiên, theo một nghĩa nào đó, liệu chúng ta có thể xem chân thần, chính nó, như một loại ‘hữu thể biệt ngã hóa’ không? Chắc chắn nó là một điểm bản sắc riêng biệt. |
|
It must be remembered that in this solar system, for instance, certain developments are only recapitulations of evolutionary processes undergone in an earlier solar system; the clue to this lies in the consideration of the manasic or mind principle. |
Cần nhớ rằng chẳng hạn, trong hệ mặt trời này, một số phát triển chỉ là sự lặp lại của các tiến trình tiến hoá đã trải qua trong một hệ mặt trời trước; đầu mối của điều này nằm trong việc xét nguyên khí manas hay nguyên khí trí tuệ. |
|
31. This is a very interesting thought. Is all monadic development (in this solar system) which leads up to mental expression, merely a recapitulation of that which transpired in an earlier solar system or earlier solar systems? |
31. Đây là một ý tưởng rất thú vị. Phải chăng mọi phát triển chân thần (trong hệ mặt trời này) dẫn đến sự biểu lộ trí tuệ chỉ đơn thuần là sự lặp lại điều đã xảy ra trong một hệ mặt trời trước hay các hệ mặt trời trước? |
|
32. From this perspective, all manasic development of man in this solar system is really a recapitulation of the kind of development which was focal in the previous system. |
32. Từ viễn cảnh này, mọi phát triển manas của con người trong hệ mặt trời này thực sự là sự lặp lại loại phát triển vốn là tiêu điểm trong hệ trước. |
|
33. Yet, we may assume, that although there were some human Monads of our present solar system who were individualized in the previous, the majority of Monads of those who are expressing as men in this solar system, were individualized in this solar system. |
33. Tuy nhiên, chúng ta có thể giả định rằng mặc dù có một số chân thần nhân loại của hệ mặt trời hiện tại đã được biệt ngã hóa trong hệ trước, đa số chân thần của những người đang biểu lộ như con người trong hệ mặt trời này đã được biệt ngã hóa trong hệ mặt trời này. |
|
34. Perhaps, however, there were many Monads who expressed as men in the previous solar system, only some of them being transferred to the present solar system as “laggards” or as the “failures” of that system. |
34. Tuy nhiên, có lẽ đã có nhiều chân thần biểu lộ như con người trong hệ mặt trời trước, chỉ một số trong đó được chuyển sang hệ mặt trời hiện tại như những “kẻ chậm tiến” hay như những “thất bại” của hệ ấy. |
|
The solar Angels, the intelligent individualising factor, were (from certain angles of vision) the product of an earlier system, |
Các Thái dương Thiên Thần, nhân tố thông tuệ tạo nên sự biệt ngã hóa, đã là (từ một số góc độ tầm nhìn) sản phẩm của một hệ trước, |
|
35. These Solar Angels, we have been taught, were “men” in the previous solar system. |
35. Chúng ta đã được dạy rằng các Thái dương Thiên Thần này là những “con người” trong hệ mặt trời trước. |
|
36. This fact may tell us something about why Sirius (the source of Manas to our Solar Logos) was even more active in the previous solar system than in this one. |
36. Sự kiện này có thể cho chúng ta biết điều gì đó về lý do vì sao Sirius (nguồn Manas đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta) còn hoạt động mạnh hơn trong hệ mặt trời trước so với hệ này. |
|
37. We must, however, consider which angles of vision Master DK is indicating. From which angles of vision were the “solar Angels” not the product of an earlier system? |
37. Tuy nhiên, chúng ta phải xét Chân sư DK đang chỉ ra những góc độ tầm nhìn nào. Từ những góc độ tầm nhìn nào mà các “Thái dương Thiên Thần” không phải là sản phẩm của một hệ trước? |
|
and only waited for the time in the present system when the forms in the three kingdoms had reached the point of synthetic development which made it possible for them to be impressed and influenced from on high. |
và chỉ chờ thời điểm trong hệ hiện tại khi các hình tướng trong ba giới đã đạt tới điểm phát triển tổng hợp khiến cho chúng có thể được gây ấn tượng và chịu ảnh hưởng từ bên trên. |
|
38. The “wait” of the Solar Angels must have been very long, as the Second Outpouring needed to complete perhaps two-thirds of its process before the requisite point of synthetic development had been reached. |
38. Sự “chờ đợi” của các Thái dương Thiên Thần hẳn phải rất dài, vì Lần Tuôn Đổ thứ hai cần hoàn tất có lẽ hai phần ba tiến trình của nó trước khi đạt tới điểm phát triển tổng hợp cần thiết. |
|
39. From other angles vision, the Monads became active in relation to the lower kingdoms long before the Solar Angels began to exert their influence. This we learn when studying the “immetalization” of the Monad; its ‘invegetalization’, in this solar system ‘inzoonation’. |
39. Từ những góc độ tầm nhìn khác, các chân thần đã trở nên hoạt động trong liên hệ với các giới thấp từ rất lâu trước khi các Thái dương Thiên Thần bắt đầu phát huy ảnh hưởng của mình. Điều này chúng ta học được khi nghiên cứu sự “inmetalization” của chân thần; sự ‘invegetalization’ của nó, trong hệ mặt trời này là sự ‘inzoonation’. |
|
We [Page 1089] have in this concept an idea analogous to the entering in of those Monads, during Atlantean days, who, having individualised upon another chain, |
Chúng ta [Page 1089] có trong khái niệm này một ý tưởng tương tự với sự đi vào của những chân thần ấy, trong thời Atlantis, những chân thần mà sau khi đã biệt ngã hóa trên một dãy khác, |
|
40. This was the Moon-chain and the entry is hypothesized to have taken place in the third sub-race of the fourth rootrace. (c.f. The Hidden History of Humanity by Phillip Lindsay.) |
40. Đây là Dãy Mặt Trăng và sự đi vào ấy được giả thuyết là đã diễn ra trong giống dân phụ thứ ba của giống dân gốc thứ tư. (xem Lịch Sử Ẩn Kín của Nhân Loại của Phillip Lindsay.) |
|
41. Technically, those who entered were already “Egos” having been individualized. |
41. Về mặt kỹ thuật, những kẻ đi vào ấy đã là các “Chân ngã”, vì đã được biệt ngã hóa. |
|
42. From a deeper perspective, all Egos are essentially Monads. |
42. Từ một viễn cảnh sâu hơn, mọi Chân ngã về bản chất đều là các chân thần. |
|
tarried in the inter-planetary spaces until earth conditions were such that the occupation of adequate forms became possible. |
đã lưu lại trong các khoảng không gian liên hành tinh cho đến khi các điều kiện trên Trái Đất trở nên như thế để việc chiếm giữ những hình tướng thích hợp trở nên khả hữu. |
|
43. This was a condition of pralayic ‘learning’ which was necessary if these Egos were to be sufficiently prepared to enter the Earth-chain. |
43. Đây là một trạng thái ‘học hỏi’ trong pralaya, cần thiết để các Chân ngã này có thể được chuẩn bị đầy đủ hầu đi vào Dãy Địa Cầu. |
|
44. The phrase “inter-planetary spaces” needs examination. Did the tarrying take place within the sphere of the planetary scheme? Or did the pralaya occur outside the planetary ring-pass-not? It would seem more logical that the pralayic period occurred within the confines of the planetary ring-pass-not. |
44. Cụm từ “các khoảng không gian liên hành tinh” cần được khảo sát. Sự lưu lại ấy có diễn ra trong khối cầu của hệ hành tinh không? Hay pralaya đã xảy ra bên ngoài vòng-giới-hạn hành tinh? Có vẻ hợp lý hơn khi cho rằng giai đoạn pralaya đã diễn ra trong phạm vi của vòng-giới-hạn hành tinh. |
|
45. However, a number of individualized human beings from the previous solar system went into a condition of pralaya following that system and in preparation for entry into this second major solar system. In what ‘location’ was their pralaya? Could we say that it occurred in a kind of solar systemic ‘devachan’ on planes higher than the cosmic physical plane? |
45. Tuy nhiên, một số hữu thể nhân loại đã được biệt ngã hóa từ hệ mặt trời trước đã đi vào trạng thái pralaya sau hệ ấy và để chuẩn bị đi vào hệ mặt trời lớn thứ hai này. Pralaya của họ ở “vị trí” nào? Chúng ta có thể nói rằng nó xảy ra trong một loại “devachan” của hệ mặt trời trên những cõi cao hơn cõi hồng trần vũ trụ chăng? |
|
46. During the pralaya of an entire solar system, the etheric-physical body, the astral body and the lower mental body of the Solar Logos concerned must eventually dissipate. |
46. Trong pralaya của toàn bộ một hệ mặt trời, thể dĩ thái-hồng trần, thể cảm dục và thể hạ trí của Thái dương Thượng đế liên hệ hẳn cuối cùng phải tiêu tan. |
|
The correspondence is not exact but is indicative of the truth. |
Sự tương ứng không hoàn toàn chính xác nhưng có tính chỉ dấu cho chân lý. |
|
47. Between solar systems, during the solar pralaya, it can be assumed that the individualized Monads of the first solar system also ‘learned’ in such a manner that they would be prepared and equipped to enter the second solar system at in a fitting condition and at an appropriate time. |
47. Giữa các hệ mặt trời, trong thời kỳ pralaya mặt trời, có thể giả định rằng các chân thần đã được biệt ngã hóa của hệ mặt trời thứ nhất cũng đã “học” theo cách như thế để chúng được chuẩn bị và trang bị hầu đi vào hệ mặt trời thứ hai trong một tình trạng thích hợp và vào một thời điểm thích đáng. |
|
The vast cycle of unfoldment (which rendered later evolution possible) preceded this solar system, and might be regarded as the monadic correspondence to a cosmic wheel. |
Chu kỳ khai mở bao la (đã làm cho sự tiến hoá về sau trở nên khả hữu) đã đi trước hệ mặt trời này, và có thể được xem như sự tương ứng chân thần với một bánh xe vũ trụ. |
|
48. This analogy will require deep pondering. It seems certain that DK considers the Monad part of a much bigger structure of which its present expression is simply a fractional part. |
48. Sự tương đồng này sẽ đòi hỏi sự suy gẫm sâu xa. Có vẻ chắc chắn rằng DK xem chân thần là một phần của một cấu trúc lớn hơn rất nhiều mà biểu hiện hiện tại của nó chỉ đơn thuần là một phần nhỏ. |
|
49. We also gather that “cosmic wheels” can be considered both spatial and temporal perspectives. |
49. Chúng ta cũng hiểu rằng “những bánh xe vũ trụ” có thể được xem như vừa là những viễn cảnh không gian vừa là những viễn cảnh thời gian. |
|
50. Like a Solar Logos, will a Monad too have ‘seven systems’ or seven great incarnations? Or will it have only six— since the sixth of our solar systems is the “third and final” system? |
50. Giống như một Thái dương Thượng đế, liệu một chân thần cũng sẽ có ‘bảy hệ’ hay bảy lần lâm phàm lớn chăng? Hay nó sẽ chỉ có sáu— vì hệ mặt trời thứ sáu của chúng ta là hệ “thứ ba và cuối cùng”? |
|
51. Is the present incarnation through which so many human Monads are passing to be considered its second “major” incarnation or system? |
51. Lần lâm phàm hiện tại mà qua đó rất nhiều chân thần nhân loại đang đi qua có được xem là lần lâm phàm hay hệ “lớn” thứ hai của nó không? |
|
52. As we have learned by studying earlier sections of text, the term “cosmic wheel” is not exactly straightforward. It could be a structure so vast that, within it, galaxies are as chakras; or it could be a galaxy itself; or it could be, relatively a much smaller intra-galactic structure—the wheel, for instance, of a Cosmic Logos composed of seven major solar systems. |
52. Như chúng ta đã học khi nghiên cứu các phần trước của bản văn, thuật ngữ “bánh xe vũ trụ” không hoàn toàn đơn giản. Nó có thể là một cấu trúc bao la đến mức trong đó các thiên hà giống như các luân xa; hoặc nó có thể chính là một thiên hà; hoặc tương đối mà nói, nó có thể là một cấu trúc nội thiên hà nhỏ hơn nhiều—chẳng hạn bánh xe của một Thượng đế Vũ trụ gồm bảy hệ mặt trời lớn. |
|
53. When we use terms like “cosmic wheel” we are immediately confronted with DK’s tendency to use ‘level blinds’. |
53. Khi chúng ta dùng những thuật ngữ như “bánh xe vũ trụ”, chúng ta lập tức đối diện với khuynh hướng của DK trong việc sử dụng những ‘bức màn cấp độ’. |
|
In the old Commentary this point of development is hinted at in the words: |
Trong Cổ Luận, điểm phát triển này được gợi ý qua những lời sau: |
|
“The fifth did not appear as the product of the present. |
“Cái thứ năm đã không xuất hiện như sản phẩm của hiện tại. |
|
54. Here is could almost seem that we were discussing the fifth solar system (our second major solar system). |
54. Ở đây dường như gần như có thể thấy rằng chúng ta đang bàn về hệ mặt trời thứ năm (hệ mặt trời lớn thứ hai của chúng ta). |
|
55. On the other hand, we could well be dealing with the Fifth Creative Hierarchy of Solar Angels. |
55. Mặt khác, rất có thể chúng ta đang đề cập đến Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm của các Thái dương Thiên Thần. |
|
56. Further, and on topic, we could be speaking of the fifth solar systemic ‘appearance’ of the human Monad. |
56. Hơn nữa, và đúng chủ đề, chúng ta có thể đang nói về “sắc tướng” hệ mặt trời thứ năm của chân thần nhân loại. |
|
The five spokes of that wheel had each a cycle of development, |
Năm nan hoa của bánh xe ấy, mỗi nan đều có một chu kỳ phát triển, |
|
57. Are we, then, presently in the fifth monadic phase? |
57. Vậy thì hiện nay chúng ta đang ở trong giai đoạn chân thần thứ năm chăng? |
|
and one in which they were welded at the centre.” |
và một chu kỳ trong đó chúng được hàn lại tại trung tâm.” |
|
58. Is the cycle of development in which “they were welded at the centre” speaking of a very early primitive phase, or of a phase which is to come? A stage in which all were not yet differentiated might not qualify as a “spoke” in the monadic wheel but there could be a developmental phase in which welding at the center occurred. |
58. Chu kỳ phát triển trong đó “chúng được hàn lại tại trung tâm” có nói đến một giai đoạn nguyên thủy rất sớm, hay một giai đoạn sẽ đến? Một giai đoạn trong đó tất cả còn chưa phân hoá có thể không đủ tư cách là một “nan hoa” trong bánh xe chân thần, nhưng có thể có một giai đoạn phát triển trong đó việc hàn lại tại trung tâm đã xảy ra. |
|
59. If we use the solar systemic analogy, such a ‘welded’ system might not qualify as a solar system either. |
59. Nếu chúng ta dùng sự tương đồng của hệ mặt trời, một hệ được ‘hàn’ như thế cũng có thể không đủ tư cách là một hệ mặt trời. |
|
60. There are analogies to be drawn between solar systemic cycles and monadic cycles—obviously. |
60. Hiển nhiên có những sự tương đồng cần được rút ra giữa các chu kỳ hệ mặt trời và các chu kỳ chân thần. |
|
61. It would seem that our monadic wheel has had at least five spokes and maybe a deeply primeval sixth. The next would be the seventh from this perspective, and again, there would be a welding at the center, but in fully expansive power and consciousness—a final synthesis. |
61. Có vẻ như bánh xe chân thần của chúng ta đã có ít nhất năm nan hoa và có lẽ một nan thứ sáu cực kỳ nguyên sơ. Nan kế tiếp sẽ là nan thứ bảy theo viễn cảnh này, và một lần nữa sẽ có sự hàn lại tại trung tâm, nhưng trong quyền năng và tâm thức hoàn toàn mở rộng—một tổng hợp cuối cùng. |
|
The Monad has cycles analogous, though on a miniature scale, to those of the one Life Who permeates and animates all lesser lives.13 [Bible. I Peter 2:4] |
Chân thần có những chu kỳ tương tự, dù ở quy mô thu nhỏ, với những chu kỳ của Sự sống duy nhất đang thấm nhuần và tiếp sinh lực cho mọi sự sống nhỏ hơn.13 [Bible. I Peter 2:4] |
|
62. This Life can reasonably be considered the Solar Logos, though the idea is capable of vast extension including many varieties of Cosmic Logoi and Super-Cosmic Logoi, etc. |
62. Sự Sống này có thể được xem một cách hợp lý là Thái dương Thượng đế, dù ý tưởng ấy có thể được mở rộng rất lớn để bao gồm nhiều loại Thượng đế Vũ trụ và các Thượng đế Siêu Vũ trụ, v.v. |
|
Certain of these cycles cover periods of time so vast, and so long past, that their history can only be conveyed to the investigating Adepts through the medium of sound and symbol. |
Một số chu kỳ này bao trùm những khoảng thời gian bao la đến mức, và đã qua từ rất lâu, đến nỗi lịch sử của chúng chỉ có thể được truyền đạt cho các chân sư đang khảo cứu qua trung gian của âm thanh và biểu tượng. |
|
63. We are now into some of the deepest mysteries, obscure even to the Adepts. Yet in our constant search for the Self (the Essence) this extremely ancient history will one day have to be considered. |
63. Giờ đây chúng ta đang đi vào một số huyền nhiệm sâu xa nhất, mờ tối ngay cả đối với các chân sư. Tuy nhiên, trong cuộc truy tìm không ngừng của chúng ta đối với Bản Ngã (Tinh Hoa), lịch sử cực kỳ cổ xưa này một ngày kia sẽ phải được xem xét. |
|
64. Perhaps the thing to be extracted is that the present monadic cycle is far from the Monad’s only cycle, even though many of us have become accustomed to think in such limited terms. The Monad is not a thing with only a lengthy future and no lengthy past. |
64. Có lẽ điều cần rút ra là chu kỳ chân thần hiện tại còn rất xa mới là chu kỳ duy nhất của chân thần, mặc dù nhiều người trong chúng ta đã quen suy nghĩ trong những giới hạn như thế. Chân thần không phải là một thực thể chỉ có một tương lai dài lâu mà không có một quá khứ dài lâu. |
|
The details of that development are lost in the night of other kalpas, |
Chi tiết của sự phát triển ấy bị mất hút trong đêm tối của những kalpa khác, |
|
65. Again, while the Tibetan probably does mean “kalpas” with regard to some details of development, it seems certain from much of the foregoing text that He is also speaking of mahakalpas. |
65. Một lần nữa, dù Chân sư Tây Tạng có lẽ thực sự muốn nói đến “các kalpa” đối với một số chi tiết phát triển, nhưng từ phần lớn bản văn đi trước, dường như chắc chắn rằng Ngài cũng đang nói đến các mahakalpa. |
|
and all that can be seen are the results,—the cause must be accepted as existing, though for us remaining inexplicable until the higher initiations are taken. |
và tất cả những gì có thể thấy chỉ là các kết quả,—nguyên nhân phải được chấp nhận là hiện hữu, dù đối với chúng ta vẫn không thể giải thích được cho đến khi các điểm đạo cao hơn được tiếp nhận. |
|
66. Which initiations are these? Those beyond which the Tibetan has taken? |
66. Đó là những điểm đạo nào? Những điểm đạo vượt quá những điểm mà Chân sư Tây Tạng đã tiếp nhận chăng? |
|
67. Probably the Planetary Logoi are aware of the history of the Monads associated with Them. |
67. Có lẽ các Hành Tinh Thượng đế biết rõ lịch sử của các chân thần liên kết với Các Ngài. |
|
68. Certainly the perspective under discussion give new emphasis to the sense of immortality which should pervade our consciousness. |
68. Chắc chắn viễn cảnh đang được bàn tới này đem lại một sự nhấn mạnh mới cho cảm thức bất tử vốn phải thấm nhuần tâm thức chúng ta. |
|
In the fact of the turning of the monadic Wheel covering the period of three solar systems, |
Trong sự kiện bánh xe chân thần quay vòng bao trùm giai đoạn của ba hệ mặt trời, |
|
69. Three solar systems and more…it would seem. If not, then the earlier solar systems could be subsumed within the greater three. |
69. Ba hệ mặt trời và còn hơn thế nữa… dường như là vậy. Nếu không, thì các hệ mặt trời sớm hơn có thể được bao hàm trong ba hệ lớn hơn ấy. |
|
70. We do recall that DK has just told us that there are at least five spokes in the monadic wheel and also a cycle of development in which these “spokes” were “welded at the centre”. |
70. Chúng ta nhớ rằng DK vừa nói với chúng ta rằng có ít nhất năm nan hoa trong bánh xe chân thần và cũng có một chu kỳ phát triển trong đó các “nan hoa” này được “hàn lại tại trung tâm”. |
|
lies hid the mystery of monadic self-will, and the secret as to why some of the Monads refused to incarnate, |
ẩn giấu huyền nhiệm của tự ý chí chân thần, và bí mật về lý do vì sao một số chân thần từ chối lâm phàm, |
|
71. Monads are essentially pure being but their foremost instrument is the will. |
71. Các chân thần về bản chất là hữu thể thuần túy, nhưng công cụ hàng đầu của chúng là ý chí. |
|
72. Can a B/being who is not individualized have “self-will”? |
72. Một H/hữu thể chưa được biệt ngã hóa có thể có “tự ý chí” không? |
|
73. Do the Monads as Monads refuse to incarnate, or is it the individualized Monads (Egos) who refuse to incarnate? |
73. Phải chăng các chân thần với tư cách chân thần từ chối lâm phàm, hay chính các chân thần đã được biệt ngã hóa (các Chân ngã) từ chối lâm phàm? |
|
74. For a Monad, incarnation would mean the generating of a causal body. |
74. Đối với một chân thần, lâm phàm sẽ có nghĩa là tạo ra một thể nguyên nhân. |
|
whilst others “fell,” and thus proceeded along the present lines of evolution. |
trong khi những chân thần khác “sa ngã”, và do đó tiến hành theo những đường tiến hoá hiện tại. |
|
75. This is a ‘story’ on the monadic level similar to the apparent ‘refusal’ of some of the Agnishvattas to incarnate in early man. |
75. Đây là một ‘câu chuyện’ ở cấp độ chân thần tương tự với sự ‘từ chối’ bề ngoài của một số Agnishvatta không chịu lâm phàm vào con người sơ khai. |
|
76. When did this refusal occur? Can we say that this refusal occurred in this solar system? Can we say that the refusal to incarnate (of at least some of the Monads) occurred at a time simultaneous to the refusal of the Solar Angels to assume a Self-extension within a human causal body? |
76. Sự từ chối này xảy ra khi nào? Chúng ta có thể nói rằng sự từ chối này đã xảy ra trong hệ mặt trời này không? Chúng ta có thể nói rằng sự từ chối lâm phàm (ít nhất của một số chân thần) đã xảy ra đồng thời với sự từ chối của các Thái dương Thiên Thần không chịu đảm nhận một sự tự-mở-rộng trong một thể nguyên nhân nhân loại chăng? |
|
77. We understand that there are still Monads who are “in manifestation” but not “in incarnation”. This is true of many first ray Monads. |
77. Chúng ta hiểu rằng vẫn còn những chân thần “đang biểu hiện” nhưng không “đang lâm phàm”. Điều này đúng với nhiều chân thần cung một. |
|
They refused to incarnate because of internal group conditions |
Chúng từ chối lâm phàm vì những điều kiện nhóm bên trong |
|
78. Note—we are here speaking of monadic group conditions. |
78. Hãy lưu ý—ở đây chúng ta đang nói về những điều kiện nhóm chân thần. |
|
79. We may remember from Letters on Occult Meditation that there are seven “great groups” of “Egos” on the monadic plane. (LOM 38-39) |
79. Chúng ta có thể nhớ từ Thư về Tham Thiền Huyền Bí rằng có bảy “nhóm lớn” các “Chân ngã” trên cõi chân thần. (LOM 38-39) |
|
brought about through the evolutionary processes of the past kalpas. |
được tạo ra qua các tiến trình tiến hoá của những kalpa quá khứ. |
|
80. At least one “refusal” involving Solar Angels occurred in Lemurian times. Did the monadic refusal occur simultaneously? |
80. Ít nhất một sự “từ chối” liên quan đến các Thái dương Thiên Thần đã xảy ra vào thời Lemuria. Sự từ chối của chân thần có xảy ra đồng thời không? |
|
81. Did the refusal to incarnate involve a number of third ray Monads from the previous solar system? Did this refusal also involve a large number of third ray Monads from the Moon-chain? |
81. Sự từ chối lâm phàm có liên quan đến một số chân thần cung ba từ hệ mặt trời trước không? Sự từ chối này cũng có liên quan đến một số lượng lớn chân thần cung ba từ Dãy Mặt Trăng không? |
|
It will, therefore, be apparent that the question of what constitutes sin and evil is far more intricate than even appears upon the surface. |
Do đó, sẽ rõ ràng rằng câu hỏi điều gì cấu thành tội lỗi và điều ác phức tạp hơn rất nhiều so với điều thậm chí xuất hiện trên bề mặt. |
|
82. DK is encouraging us to take a deep occult perspective in relation to some of our most problematic moral dilemmas. |
82. DK đang khuyến khích chúng ta có một viễn cảnh huyền bí học sâu sắc liên quan đến một số nan đề đạo đức khó khăn nhất của chúng ta. |
|
83. He is referencing the “sin” involved in refusing to incarnate. |
83. Ngài đang quy chiếu đến “tội lỗi” liên quan đến việc từ chối lâm phàm. |
|
From our [Page 1090] limited vision, it appears to be “sin” to fall into incarnation, and equally sin or self-will, self-satisfaction, to remain unevolved upon the higher planes. |
Từ tầm nhìn [Page 1090] hạn hẹp của chúng ta, dường như “sa vào” lâm phàm là “tội lỗi”, và cũng là tội lỗi hay tự ý chí, tự mãn, khi vẫn không tiến hoá trên các cõi cao. |
|
84. We have a double-bind here. Perhaps only in the “middle way” is sin to be avoided. |
84. Ở đây chúng ta có một thế lưỡng nan. Có lẽ chỉ trong “trung đạo” thì tội lỗi mới được tránh khỏi. |
|
85. This second type of “sin” seems to involve an act of self-will which refuses compliance with a required planetary rhythm to which the self-willing unit is meant to conform. |
85. Loại “tội lỗi” thứ hai này dường như liên quan đến một hành vi tự ý chí từ chối tuân theo một nhịp điệu hành tinh cần thiết mà đơn vị đầy tự ý chí ấy được dự định phải phù hợp theo. |
|
86. The first type of “sin” arises from the thought that that which is subject to matter is sinful and that which is free of matter or ‘above’ matter is pure and sinless. |
86. Loại “tội lỗi” thứ nhất phát sinh từ ý nghĩ rằng điều gì lệ thuộc vào vật chất là tội lỗi, còn điều gì thoát khỏi vật chất hay ‘ở trên’ vật chất thì thanh khiết và vô tội. |
|
87. If “sin” is really a term describing the energies of the lower eighteen subplanes, one can understand this perspective. |
87. Nếu “tội lỗi” thực sự là một thuật ngữ mô tả các năng lượng của mười tám cõi phụ thấp, người ta có thể hiểu được viễn cảnh này. |
|
Yet both groups followed the law of their being, |
Tuy nhiên cả hai nhóm đều tuân theo định luật của hữu thể mình, |
|
88. Something about the ray nature or the developmental nature of the Monads who either “fell” or “refused to incarnate” determined their actions. DK is saying that they must not be blamed for “sin”. |
88. Điều gì đó trong bản chất cung hay bản chất phát triển của các chân thần hoặc “sa ngã” hoặc “từ chối lâm phàm” đã quyết định hành động của chúng. DK đang nói rằng không nên quy trách chúng về “tội lỗi”. |
|
89. Was it the second ray Monads who came in, in this second solar system? Was it the third ray Monads (already somewhat developed) who held back, refusing to incarnate until presented with appropriate vehicles? |
89. Có phải các chân thần cung hai đã đi vào trong hệ mặt trời lớn thứ hai này không? Có phải các chân thần cung ba (đã phần nào phát triển) đã trì hoãn, từ chối lâm phàm cho đến khi được cung cấp những vận cụ thích hợp không? |
|
90. In this latter case, however, they would already have had egoic lotuses, either from the previous solar system or from the previous chain, the Moon-chain. |
90. Tuy nhiên, trong trường hợp sau này, chúng hẳn đã có các hoa sen chân ngã rồi, hoặc từ hệ mặt trời trước hoặc từ dãy trước, tức Dãy Mặt Trăng. |
|
and the solution of the mystery lies in that which is to come. |
và lời giải của huyền nhiệm nằm trong điều sẽ đến. |
|
91. That which is to come is the sixth and final solar system (perhaps numbered the seventh in certain systems). DK may be speaking of first ray Monads who are the nucleus of “that which is to come”. They “day” will occur in the next solar system though some few may achieve in this solar system. |
91. Điều sẽ đến là hệ mặt trời thứ sáu và cuối cùng (có lẽ được đánh số là thứ bảy trong một số hệ thống). DK có thể đang nói về các chân thần cung một là hạt nhân của “điều sẽ đến”. “Ngày” của chúng sẽ xảy ra trong hệ mặt trời kế tiếp dù một số ít có thể thành tựu trong hệ mặt trời này. |
|
If the student will with care meditate upon the fact that the three lower planes—the mental, the astral, and the physical—form the dense physical body of the planetary Logos and are, therefore, no principle, it will become apparent to him that through necessity certain units or cells in the body are more active in space and time than others. |
Nếu đạo sinh cẩn trọng tham thiền về sự kiện rằng ba cõi thấp—cõi trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần—tạo thành thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế và do đó không phải là nguyên khí, thì đối với y sẽ trở nên rõ ràng rằng do nhu cầu tất yếu, một số đơn vị hay tế bào trong thể ấy hoạt động trong không gian và thời gian nhiều hơn những đơn vị khác. |
|
92. This could be a hint indicating, most likely, third ray Monads—the “Monads of Activity”. It is they who would be most likely to be “more active in space and time” than others who had less affinity with the lower three levels of the cosmic physical plane. |
92. Đây có thể là một gợi ý chỉ ra, rất có thể, các chân thần cung ba—“các Chân thần của Hoạt động”. Chính chúng là những chân thần có nhiều khả năng “hoạt động trong không gian và thời gian nhiều hơn” những chân thần khác vốn có ít sự tương hợp hơn với ba cấp thấp của cõi hồng trần vũ trụ. |
|
93. Of course, this would represent a perspective which would be the reverse of that just proposed above. |
93. Dĩ nhiên, điều này sẽ biểu thị một viễn cảnh ngược lại với điều vừa được đề nghị ở trên. |
|
94. We might think, however, that the third ray Monads who had not individualized in the previous solar system, were the first to engage in a “pilgrimage” within this particular solar system. Meanwhile, the third ray Monads who had individualize in the previous solar system, would be ‘waiting’ for their proper time to enter. |
94. Tuy nhiên, chúng ta có thể nghĩ rằng các chân thần cung ba chưa được biệt ngã hóa trong hệ mặt trời trước là những chân thần đầu tiên tham gia vào một “cuộc hành hương” trong hệ mặt trời đặc biệt này. Trong khi đó, các chân thần cung ba đã được biệt ngã hóa trong hệ mặt trời trước sẽ ‘chờ đợi’ thời điểm thích hợp của chúng để đi vào. |
|
95. The second ray Monads would enter after the third ray Monads who individualized in this solar system, but before the second ray Monads who belong to this system. Those second ray Monads would have to develop vehicles making egoic individualization possible, whereas the third ray Monads of the previous system would already have such vehicles. |
95. Các chân thần cung hai sẽ đi vào sau các chân thần cung ba đã được biệt ngã hóa trong hệ mặt trời này, nhưng trước các chân thần cung hai thuộc về hệ này. Những chân thần cung hai ấy sẽ phải phát triển các vận cụ làm cho sự biệt ngã hóa chân ngã trở nên khả hữu, trong khi các chân thần cung ba của hệ trước đã có sẵn những vận cụ như thế. |
|
96. Relative few second ray Monads individualized on the Moon-chain where as many third ray Monads did so. |
96. Tương đối ít chân thần cung hai được biệt ngã hóa trên Dãy Mặt Trăng, trong khi nhiều chân thần cung ba đã làm được điều đó. |
|
97. Probably involvement in the Moon-chain was the first ‘descent’ (in this solar system) of those Monads who individualized in the previous solar system, yet it is likely that the majority of those third ray Monads from the previous system did not incarnate on the Moon-chain, but only in early Lemurian days before individualization had occurred. |
97. Có lẽ sự tham dự vào Dãy Mặt Trăng là lần “giáng xuống” đầu tiên (trong hệ mặt trời này) của những chân thần đã được biệt ngã hóa trong hệ mặt trời trước; tuy nhiên có khả năng là đa số các chân thần cung ba từ hệ trước đã không lâm phàm trên Dãy Mặt Trăng, mà chỉ lâm phàm trong những ngày đầu Lemuria trước khi sự biệt ngã hóa xảy ra. |
|
He must also bear in mind that groups of Monads come into incarnation according to which centre in a Heavenly Man of a particular planetary scheme, |
Y cũng phải ghi nhớ rằng các nhóm chân thần đi vào lâm phàm tùy theo trung tâm nào trong một Đấng Thiên Nhân của một hệ hành tinh nhất định, |
|
98. We can judge that human Monads are found in at least three centers of a Planetary Logos—the head, heart and throat centers. Perhaps they are found in all seven. This has not yet been established but references do exist which seem to indicate that all seven centers may be ‘home’ to human Monads. |
98. Chúng ta có thể phán đoán rằng các chân thần nhân loại được tìm thấy trong ít nhất ba trung tâm của một Hành Tinh Thượng đế—các trung tâm đầu, tim và cổ họng. Có lẽ chúng được tìm thấy trong cả bảy trung tâm. Điều này chưa được xác lập, nhưng có những quy chiếu dường như cho thấy rằng cả bảy trung tâm đều có thể là ‘quê nhà’ của các chân thần nhân loại. |
|
99. If the center in which the Monad is a part is undergoing vivification, the appearance of the Monad in incarnation is more likely during that period of vivification. |
99. Nếu trung tâm mà chân thần là một phần của nó đang trải qua sự tiếp sinh lực, thì sự xuất hiện của chân thần trong lâm phàm có nhiều khả năng hơn trong giai đoạn tiếp sinh lực ấy. |
|
100. We can see that the cycles of chakric stimulation in a particular Planetary Logos will have much to do with the appearance of certain Monads in incarnation. |
100. Chúng ta có thể thấy rằng các chu kỳ kích thích luân xa trong một Hành Tinh Thượng đế nhất định sẽ có rất nhiều liên hệ với sự xuất hiện của một số chân thần trong lâm phàm. |
|
101. Of course, it should be remember that the centers in which Monads (as Monads and not as individualized Egos) are found are upon the monadic plane. |
101. Dĩ nhiên, cần nhớ rằng các trung tâm trong đó các chân thần (với tư cách chân thần chứ không phải như các Chân ngã đã được biệt ngã hóa) được tìm thấy là ở trên cõi chân thần. |
|
102. By the way, in the above, we could note that the term “Heavenly Man” seems to be differentiated from “planetary scheme”. The “planetary scheme”, in this case, seems to be the vehicle of the Heavenly Man. |
102. Nhân tiện, trong đoạn trên, chúng ta có thể lưu ý rằng thuật ngữ “Đấng Thiên Nhân” dường như được phân biệt với “hệ hành tinh”. Trong trường hợp này, “hệ hành tinh” dường như là vận cụ của Đấng Thiên Nhân. |
|
or which centre of the solar Logos, is in process of vivification or cyclic activity, |
hay trung tâm nào của Thái dương Thượng đế đang trong tiến trình tiếp sinh lực hay hoạt động theo chu kỳ, |
|
103. Planetary schemes are “centres” in a Solar Logos. |
103. Các hệ hành tinh là những “trung tâm” trong một Thái dương Thượng đế. |
|
104. Certain planetary schemes are, as a whole, undergoing vivification or cyclic emphasis. During such periods, the Monads involved in the entire planetary scheme will be in some more active form of manifestation or demonstration. |
104. Một số hệ hành tinh, xét như toàn thể, đang trải qua sự tiếp sinh lực hay sự nhấn mạnh theo chu kỳ. Trong những giai đoạn như thế, các chân thần liên hệ với toàn bộ hệ hành tinh sẽ ở trong một hình thức biểu hiện hay hiển lộ hoạt động hơn nào đó. |
|
105. If, for instance, the Earth-scheme and the Venus-scheme are presently undergoing vivification by the Solar Logos, then the Monads found within the Earth-scheme and the Venus-scheme will be more active and more likely to be in incarnation than, for instance, the Monads found within a planetary scheme which is not undergoing solar logoic vivification. |
105. Chẳng hạn, nếu hệ Địa Cầu và hệ Kim Tinh hiện đang trải qua sự tiếp sinh lực bởi Thái dương Thượng đế, thì các chân thần được tìm thấy trong hệ Địa Cầu và hệ Kim Tinh sẽ hoạt động hơn và có nhiều khả năng lâm phàm hơn, chẳng hạn, so với các chân thần được tìm thấy trong một hệ hành tinh không đang trải qua sự tiếp sinh lực của Thái dương Thượng đế. |
|
106. We see, then, that monadic cycles are intimately related to the cycles of the Planetary Logoi and Solar Logoi. |
106. Như vậy, chúng ta thấy rằng các chu kỳ chân thần liên hệ mật thiết với các chu kỳ của các Hành Tinh Thượng đế và các Thái dương Thượng đế. |
|
107. It should be said that the Earth, Venus, Saturn and perhaps Uranus are in process of kundalinic activation. Are Monads from these particular planets in incarnation more than the Monads from other planets? Yet Venus is entering a state of absorption so one would anticipate that Venusian Monads, too, would be entering a state of abstraction from incarnation (at least in the lower three worlds). |
107. Cần nói rằng Trái Đất, Sao Kim, Sao Thổ và có lẽ Sao Thiên Vương đang trong tiến trình hoạt hóa kundalini. Phải chăng các chân thần từ những hành tinh đặc biệt này lâm phàm nhiều hơn các chân thần từ những hành tinh khác? Tuy nhiên Sao Kim đang đi vào một trạng thái hấp thu, vì thế người ta sẽ dự đoán rằng các chân thần Kim Tinh cũng sẽ đi vào một trạng thái trừu xuất khỏi lâm phàm (ít nhất trong ba cõi thấp). |
|
108. The solar systemic ‘rounds’ will have to be considered. There may be seven such or perhaps nine. When the solar systemic ‘round’ reaches a particular planetary scheme it enters a stage of activation. Its chakras are activated and presumably, its monadic chakras as well, leading to the activation of a chakra’s constituent Monads. |
108. Các “cuộc tuần hoàn” của hệ mặt trời sẽ phải được xem xét. Có thể có bảy cuộc như thế hoặc có lẽ chín. Khi “cuộc tuần hoàn” của hệ mặt trời đạt tới một hệ hành tinh nhất định, nó đi vào một giai đoạn hoạt hóa. Các luân xa của nó được hoạt hóa và có lẽ cả các luân xa chân thần của nó nữa, dẫn đến sự hoạt hóa các chân thần cấu thành một luân xa. |
|
109. Thus, there may be at least two forms of activation with regard to a planetary scheme: round activation and kundalinic activation. |
109. Như vậy, có thể có ít nhất hai hình thức hoạt hóa liên quan đến một hệ hành tinh: hoạt hóa theo cuộc tuần hoàn và hoạt hóa theo kundalini. |
|
110. The activation of a planetary scheme also has much to do with the particular initiation or sub-initiation through which the Solar Logos is passing. |
110. Sự hoạt hóa của một hệ hành tinh cũng có rất nhiều liên hệ với điểm đạo hay tiểu điểm đạo đặc biệt mà Thái dương Thượng đế đang trải qua. |
|
and that certain of the centres of a solar Logos and this particular solar system are in a condition of partial pralaya through the process of the absorption of the lower solar life forces by the centres of higher vitality. |
và rằng một số trung tâm của một Thái dương Thượng đế và hệ mặt trời đặc thù này đang ở trong một trạng thái giai kỳ qui nguyên bộ phận thông qua tiến trình hấp thu các mãnh lực sự sống thái dương thấp hơn bởi các trung tâm có sinh lực cao hơn. |
|
111. We have a very interesting statement here. Venus and Mercury have entered stages of obscuration we are told. Even the Earth is headed in that direction. Does DK mean these particular planets? |
111. Ở đây chúng ta có một phát biểu rất thú vị. Chúng ta được cho biết rằng Sao Kim và Sao Thủy đã đi vào các giai đoạn mờ khuất. Ngay cả Trái Đất cũng đang hướng theo chiều đó. DK có muốn nói đến chính những hành tinh đặc thù này không? |
|
112. There are also planets which do not yet seem to have entered a stage of full activation. Though highly advanced planetary Entities express through these planets, the degree of planetary unfoldment seems to be delayed when compared with planets through which lesser planetary Entities express. For instance, it appears the Uranus and Neptune (and even Saturn and Jupiter) have not entered their fullest stages of activation. |
112. Cũng có những hành tinh dường như chưa bước vào một giai đoạn hoạt hóa trọn vẹn. Dù các Thực Thể Hành Tinh rất cao cấp biểu lộ qua các hành tinh này, mức độ khai mở hành tinh dường như bị trì hoãn khi so với các hành tinh mà qua đó những Thực Thể Hành Tinh thấp hơn biểu lộ. Chẳng hạn, có vẻ như Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương (và ngay cả Sao Thổ và Sao Mộc) chưa bước vào các giai đoạn hoạt hóa đầy đủ nhất của chúng. |
|
113. There is also a most interesting hint—that our present solar system is in a state of “partial pralaya”. Does this have something to do with the cycles of ‘systemic rounds’ which are moving from planetary scheme to planetary scheme? |
113. Cũng có một gợi ý hết sức thú vị—rằng hệ mặt trời hiện tại của chúng ta đang ở trong một trạng thái “giai kỳ qui nguyên bộ phận”. Điều này có liên quan gì đến các chu kỳ của những “cuộc tuần hoàn hệ thống” đang di chuyển từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác chăng? |
|
114. A type of absorption of lower into higher is now occurring and this, it seems, signals a type of systemic pralaya during the period of absorption. |
114. Hiện nay đang diễn ra một loại hấp thu cái thấp vào cái cao, và điều này, dường như, báo hiệu một loại giai kỳ qui nguyên hệ thống trong suốt thời kỳ hấp thu. |
|
Again, he must remember that the entire aspect of the Divine Life is not intended to reach its full unfoldment at any time in this solar system but must wait for the vitalising impulses of a later. |
Một lần nữa, y phải nhớ rằng toàn bộ phương diện của Sự sống thiêng liêng không được dự định đạt đến sự khai mở trọn vẹn của nó vào bất kỳ lúc nào trong hệ mặt trời này mà phải chờ các xung lực tiếp sinh lực của một thời kỳ muộn hơn. |
|
115. Some Monads will remain in a relatively abstracted state in this solar system, as they are intended to reach full expression in the next solar system. This is especially true of first ray Monads. Third ray Monads should have much of their final expression in this solar system. Will such Monads even be carried over into the next solar system? |
115. Một số Chân thần sẽ vẫn ở trong một trạng thái tương đối trừu xuất trong hệ mặt trời này, vì chúng được dự định đạt đến sự biểu lộ trọn vẹn trong hệ mặt trời kế tiếp. Điều này đặc biệt đúng đối với các Chân thần cung một. Các Chân thần cung ba hẳn sẽ có phần lớn sự biểu lộ chung cuộc của chúng trong hệ mặt trời này. Những Chân thần như thế thậm chí có được mang sang hệ mặt trời kế tiếp không? |
|
116. DK is being purposefully vague, it seems, when speaking of “a later”. In some references, it seems that the next solar system will be the last, and supposedly the next is the sixth! In one other reference, the thought that there will be seven solar systems is explicitly stated. There may be a resolution in the idea that, as for the Monad, there may be a primary, primitive solar system in which all the “spokes” of the solar systemic Wheel are gathered to the center and undifferentiated. |
116. Dường như DK cố ý nói mơ hồ khi nói về “một thời kỳ muộn hơn”. Trong một số chỗ tham chiếu, dường như hệ mặt trời kế tiếp sẽ là hệ cuối cùng, và được cho là hệ kế tiếp là hệ thứ sáu! Trong một chỗ tham chiếu khác, ý tưởng rằng sẽ có bảy hệ mặt trời được phát biểu minh nhiên. Có thể có một cách dung hòa trong ý tưởng rằng, đối với Chân thần, có thể có một hệ mặt trời sơ khởi, nguyên thủy, trong đó mọi “nan hoa” của Bánh Xe hệ thống thái dương đều được thu về trung tâm và chưa biến phân. |
|
This is due to the fact that there exist in this solar system effects of causes originating in earlier kalpas or—to word it otherwise—the karmic seeds of earlier logoic activities. |
Điều này là do sự kiện rằng trong hệ mặt trời này tồn tại những hiệu quả của các nguyên nhân phát sinh trong các kalpa trước đó hay—nói theo cách khác—các hạt giống nghiệp quả của các hoạt động logoi trước kia. |
|
117. Apparently, some causes from a previous solar system act as retardants in this solar system. We cannot assume that the Solar Logos was ever meant to achieve His full development in this solar system, but probably some aspects of His development in this solar system are delayed by the coming to fruition of “the karmic seeks of earlier logoic activities”. |
117. Hiển nhiên, một số nguyên nhân từ một hệ mặt trời trước đang hoạt động như những yếu tố làm chậm lại trong hệ mặt trời này. Chúng ta không thể giả định rằng Thái dương Thượng đế từng được định là phải đạt đến sự phát triển trọn vẹn của Ngài trong hệ mặt trời này, nhưng có lẽ một số phương diện trong sự phát triển của Ngài trong hệ mặt trời này bị trì hoãn bởi sự chín muồi của “các hạt giống nghiệp quả của các hoạt động logoi trước kia”. |
|
118. One can infer that it is the third ray influence (that of the “Primordial Ray”) which acts as a retardant in this solar system. In the next solar system, we have reason to believe that the second ray influence will act as a retardant. |
118. Người ta có thể suy ra rằng chính ảnh hưởng cung ba (ảnh hưởng của “Cung Nguyên Sơ”) hoạt động như một yếu tố làm chậm lại trong hệ mặt trời này. Trong hệ mặt trời kế tiếp, chúng ta có lý do để tin rằng ảnh hưởng cung hai sẽ hoạt động như một yếu tố làm chậm lại. |
|
Our solar Logos has not yet attained true rhythm, but for millenia of cycles the equilibrising process must go on. |
Thái dương Thượng đế của chúng ta chưa đạt được nhịp điệu chân chính, nhưng trong hàng ngàn chu kỳ, tiến trình quân bình hóa phải tiếp tục. |
|
119. Our Solar Logos is not yet a fully soul-infused Solar Logos. His cosmic soul is not yet in full expression just as the soul of a human being who has taken the second initiation, but not the third, is not fully soul-infused. |
119. Thái dương Thượng đế của chúng ta chưa phải là một Thái dương Thượng đế được linh hồn thấm nhuần trọn vẹn. Linh hồn vũ trụ của Ngài chưa biểu lộ đầy đủ, cũng như linh hồn của một con người đã trải qua lần điểm đạo thứ hai nhưng chưa qua lần điểm đạo thứ ba thì chưa được linh hồn thấm nhuần trọn vẹn. |
|
120. When DK speaks of “the equilibrising process”, is He speaking of the applied energy of Libra? |
120. Khi DK nói về “tiến trình quân bình hóa”, phải chăng Ngài đang nói đến năng lượng được áp dụng của Thiên Bình? |
|
121. We remember that the second type of electricity has a particular equilibrizing function. Our Solar Logos is dealing, especially, with that type of electricity in this solar system—solar fire. |
121. Chúng ta nhớ rằng loại điện thứ hai có một chức năng quân bình hóa đặc thù. Thái dương Thượng đế của chúng ta đang đặc biệt xử lý loại điện đó trong hệ mặt trời này—Lửa Thái dương. |
|
122. Libra has a close relation to solar fire, even though the third ray is said to be the ray manifesting through it at this time. |
122. Thiên Bình có một liên hệ mật thiết với Lửa Thái dương, dù cung ba được nói là cung đang biểu lộ qua nó vào lúc này. |
|
123. The achievement of equilibrium may be another way of speaking of having taken the fourth initiation. We must remember that one of thirteen types of Monads was called “The Equilibrised Atoms”. (TCF 1081) When interpreting the meaning of that name for the Monads of a certain type, we suggested that it could indicate those human beings who had taken the fourth initiation. |
123. Việc đạt được quân bình có thể là một cách khác để nói về việc đã trải qua lần điểm đạo thứ tư. Chúng ta phải nhớ rằng một trong mười ba loại Chân thần được gọi là “Các Nguyên Tử Đã Được Quân Bình”. (TCF 1081) Khi diễn giải ý nghĩa của tên gọi đó đối với các Chân thần thuộc một loại nào đó, chúng ta đã gợi ý rằng nó có thể chỉ những con người đã trải qua lần điểm đạo thứ tư. |
|
Nor has our planetary Logos achieved equilibrium, |
Thái dương Thượng đế hành tinh của chúng ta cũng chưa đạt được quân bình, |
|
124. Just as our Solar Logos has not yet taken the fourth cosmic initiation (but is expected to in this solar system), our Planetary Logos has not taken His cosmic fourth. The two types of ‘cosmic fourths’ are, one would suspect, of a different order. |
124. Cũng như Thái dương Thượng đế của chúng ta chưa trải qua lần điểm đạo vũ trụ thứ tư (nhưng được kỳ vọng sẽ trải qua trong hệ mặt trời này), Hành Tinh Thượng đế của chúng ta cũng chưa trải qua lần thứ tư vũ trụ của Ngài. Hai loại “lần thứ tư vũ trụ” này, người ta có thể ngờ rằng, thuộc một trật tự khác nhau. |
|
125. Our Planetary Logos is, however, taking a minor fourth initiation and thus some degree of equilibrization is imminent—perhaps this equilibrization of our particular planetary chain. |
125. Tuy nhiên, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang trải qua một lần điểm đạo thứ tư nhỏ hơn, và do đó một mức độ quân bình hóa nào đó đang cận kề—có lẽ là sự quân bình hóa của dãy hành tinh đặc thù của chúng ta. |
|
and the even balancing of forces, |
và sự quân bình đồng đều của các mãnh lực, |
|
126. We may remember that the constellation Libra is particularly influential in our planetary scheme at this time. |
126. Chúng ta có thể nhớ rằng chòm sao Thiên Bình hiện nay có ảnh hưởng đặc biệt trong hệ hành tinh của chúng ta. |
|
therefore until His point in evolution and His objective vision is known |
vì vậy cho đến khi điểm tiến hoá của Ngài và tầm nhìn mục tiêu của Ngài được biết đến |
|
127. Our Planetary Logos has yet to fully develop cosmic vision. |
127. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta vẫn còn phải phát triển đầy đủ linh thị vũ trụ. |
|
128. It seems that a Logos or a man can be graded according to the quality of his vision. |
128. Dường như một Thượng đế hay một con người có thể được phân hạng theo phẩm tính của tầm nhìn của y. |
|
and it is known also which centre in the solar body is vitalised by His life, |
và cũng được biết trung tâm nào trong thể thái dương được tiếp sinh lực bởi sự sống của Ngài, |
|
129. In some respects, this center is now known—the base of the spine center. |
129. Ở một số phương diện, trung tâm này hiện nay đã được biết—trung tâm đáy cột sống. |
|
130. In Esoteric Astrology the following is said, clearly indicating, it would seem, the center in the solar body which is vitalized by the life of our Planetary Logos: |
130. Trong Chiêm Tinh Học Nội Môn có nói như sau, dường như chỉ rõ trung tâm trong thể thái dương được tiếp sinh lực bởi sự sống của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta: |
|
It relates finally the lowest centre at the base of the spine to the highest centre, the head centre. This is a correspondence to the relation of the Earth to the Sun. Think this out. (EA 25) |
Cuối cùng nó liên hệ trung tâm thấp nhất ở đáy cột sống với trung tâm cao nhất, trung tâm đầu. Đây là một tương ứng với mối liên hệ của Trái Đất với Mặt Trời. Hãy suy ngẫm điều này. (EA 25) |
|
131. Esoteric Astrology however was written almost a decade after A Treatise on Cosmic Fire was published, and so it is clear that the Tibetan had not yet revealed the chakric function of the Earth-scheme in that earlier and larger book. |
131. Chiêm Tinh Học Nội Môn tuy nhiên được viết gần một thập niên sau khi Luận về Lửa Vũ Trụ được xuất bản, và vì vậy rõ ràng là Chân sư Tây Tạng khi ấy chưa tiết lộ chức năng luân xa của hệ Địa Cầu trong bộ sách trước đó và đồ sộ hơn ấy. |
|
it will be the part of wisdom to refrain from dogmatic assertion, and a too free utterance in connection with incarnating, and non-incarnating, Monads. |
sẽ là phần của minh triết nếu kiềm chế sự khẳng định giáo điều, và một sự phát ngôn quá tự do liên quan đến các Chân thần đang lâm phàm và không lâm phàm. |
|
132. We are told that some sixty billion Monads are to be found in this solar system. It is presumably the case that among these are to be found both incarnating Monads and those presently out of incarnation. Many first ray Monads are presently out of incarnation, though in manifestation. |
132. Chúng ta được cho biết rằng có khoảng sáu mươi tỉ Chân thần được tìm thấy trong hệ mặt trời này. Có lẽ đúng là trong số đó có cả các Chân thần đang lâm phàm lẫn những Chân thần hiện không lâm phàm. Nhiều Chân thần cung một hiện không lâm phàm, dù vẫn đang biểu lộ. |
|
133. DK is asking us to show some restraint when speaking of these matters. |
133. DK đang yêu cầu chúng ta biểu lộ một mức độ tiết chế nào đó khi nói về những vấn đề này. |
|
134. The truth is, that although Master DK has presented us with so much, we really know so little. |
134. Sự thật là, dù Chân sư DK đã trình bày cho chúng ta rất nhiều, chúng ta thực sự biết quá ít. |
|
All are turning upon the monadic cosmic wheel; |
Tất cả đều đang xoay chuyển trên bánh xe vũ trụ chân thần; |
|
135. DK seems to be telling us that each Monad is part not only of a systemic wheel but is even more essentially a part of a “monadic cosmic wheel”. |
135. Dường như DK đang nói với chúng ta rằng mỗi Chân thần không chỉ là một phần của một bánh xe hệ thống mà còn, một cách cốt yếu hơn nữa, là một phần của một “bánh xe vũ trụ chân thần”. |
|
136. We may say that the Monad is “that which finds its place within the sun” but if this is the case, it even more essentially finds its place within that ‘Sun’ which is a Cosmic Logos. |
136. Chúng ta có thể nói rằng Chân thần là “điều tìm thấy vị trí của nó bên trong mặt trời”, nhưng nếu đúng như vậy, thì nó còn cốt yếu hơn nữa là tìm thấy vị trí của nó bên trong ‘Mặt Trời’ là một Vũ Trụ Thượng đế. |
|
137. The lowest of the many types of cosmic wheels is that wheel for which seven suns are as chakras. |
137. Thấp nhất trong nhiều loại bánh xe vũ trụ là bánh xe mà đối với nó bảy mặt trời là các luân xa. |
|
each is being [Page 1091] swept into some form of activity upon the lesser revolution of this particular systemic wheel, but not all in any particular cycle are to be found revolving upon a specific planetary wheel. |
mỗi Chân thần đang được [Page 1091] cuốn vào một hình thức hoạt động nào đó trên vòng quay nhỏ hơn của bánh xe hệ thống đặc thù này, nhưng không phải tất cả, trong bất kỳ chu kỳ đặc thù nào, đều được thấy đang quay trên một bánh xe hành tinh đặc thù. |
|
138. Above the level of a planetary scheme—at least above the aspects of a planetary scheme which are in incarnation within the dense physical body of a Planetary Logos—are Monads which are refraining from taking incarnation. |
138. Trên cấp độ của một hệ hành tinh—ít nhất là trên các phương diện của một hệ hành tinh đang lâm phàm trong thể xác đậm đặc của một Hành Tinh Thượng đế—có những Chân thần đang kiềm không nhận lấy sự lâm phàm. |
|
139. DK seems to be saying that although Monads are definitely associated with a particular systemic wheel, they are not necessarily, in all systemic cycles, associated with a particular planetary wheel. In what ‘location’, then, are such Monads to be found? |
139. Dường như DK đang nói rằng dù các Chân thần chắc chắn có liên hệ với một bánh xe hệ thống đặc thù, chúng không nhất thiết, trong mọi chu kỳ hệ thống, đều liên hệ với một bánh xe hành tinh đặc thù. Vậy thì, ở “vị trí” nào có thể tìm thấy những Chân thần như thế? |
|
Many wait for development and for more appropriate seasons in interplanetary spaces, |
Nhiều Chân thần chờ đợi sự phát triển và những mùa kỳ thích hợp hơn trong các không gian liên hành tinh, |
|
140. The term “interplanetary” has been appearing with some frequency and makes us wonder whether between the spheres of various planetary schemes there might not occur developmental opportunities for Monads. |
140. Thuật ngữ “liên hành tinh” đã xuất hiện khá thường xuyên và khiến chúng ta tự hỏi liệu giữa các khối cầu của những hệ hành tinh khác nhau có thể không xuất hiện những cơ hội phát triển cho các Chân thần hay không. |
|
141. A Logos, like our Solar Logos, is the ‘home’ for a Monad. Can Master DK be saying that a Planetary Logos is not necessarily a ‘home’ for a Monad but, rather, simply an arena of expression? |
141. Một Thượng đế, như Thái dương Thượng đế của chúng ta, là “nhà” của một Chân thần. Liệu Chân sư DK có thể đang nói rằng một Hành Tinh Thượng đế không nhất thiết là “nhà” của một Chân thần mà đúng hơn chỉ là một đấu trường biểu lộ? |
|
142. To “wait to development” is to be in a kind of pralaya. |
142. “Chờ đợi để phát triển” là ở trong một loại giai kỳ qui nguyên nào đó. |
|
143. The word “seasons” is not chosen randomly, but for the sake of its cyclic implications. |
143. Từ “mùa kỳ” không được chọn một cách ngẫu nhiên, mà vì những hàm ý chu kỳ của nó. |
|
and some must wait until the entering in of a new mahamanvantara. |
và một số phải chờ cho đến khi bước vào một Đại giai kỳ sinh hóa mới. |
|
144. DK is telling us that some Monads will not incarnate until the next mahamanvantara. Yet, it seems that presently they are in our solar system—though probably, on its very highest levels and far from those levels of precipitation which we call areas of monadic “incarnation”. |
144. DK đang nói với chúng ta rằng một số Chân thần sẽ không lâm phàm cho đến Đại giai kỳ sinh hóa kế tiếp. Tuy nhiên, dường như hiện nay chúng đang ở trong hệ mặt trời của chúng ta—dù có lẽ ở những cấp độ cao nhất của nó và xa những cấp độ ngưng tụ mà chúng ta gọi là các khu vực “lâm phàm” của Chân thần. |
|
Students should bear carefully in mind the words of H. P. B. where he |
Các đạo sinh nên cẩn thận ghi nhớ những lời của H. P. B. nơi ông |
|
145. Again, H.P.B. is referred to as “he”. Again, this is not merely a typo or an oversight. |
145. Một lần nữa, H.P.B. được nhắc đến là “ông”. Một lần nữa, đây không chỉ đơn thuần là lỗi đánh máy hay sự sơ suất. |
|
146. DK is always dropping subtle hints which, if detected, can reveal a number of levels of the Teaching beneath the more obvious Teaching. |
146. DK luôn đưa ra những gợi ý tinh tế mà, nếu được nhận ra, có thể tiết lộ một số cấp độ của Giáo Huấn nằm bên dưới Giáo Huấn hiển nhiên hơn. |
|
tells students of the Secret Doctrine that the stanzas and their Commentary deal primarily with our particular planetary Logos. This is oft forgotten. |
nói với các đạo sinh của Giáo Lý Bí Nhiệm rằng các bài kệ và Cổ Luận của chúng chủ yếu bàn đến Hành Tinh Thượng đế đặc thù của chúng ta. Điều này thường bị quên mất. |
|
147. Perhaps primarily, but there are surely initial stanzas which are far more cosmic in their scope. One can very reasonably interpret these stanzas as universal while always being ready to see their planetary-logoic application. |
147. Có lẽ là chủ yếu, nhưng chắc chắn có những bài kệ mở đầu có phạm vi vũ trụ hơn nhiều. Người ta hoàn toàn có thể diễn giải những bài kệ này như là phổ quát trong khi luôn sẵn sàng thấy sự áp dụng hành tinh-logoi của chúng. |
|
It may interest students to know that there are certain colours, veiling these groups of non-incarnating Monads, |
Có thể điều này sẽ khiến các đạo sinh quan tâm khi biết rằng có những màu sắc nhất định, che phủ những nhóm Chân thần không lâm phàm này, |
|
148. From what we have been able to gather, there are “non-incarnating Monads” both within planetary schemes and also in “interplanetary spaces”. |
148. Từ những gì chúng ta có thể thu thập được, có những “Chân thần không lâm phàm” cả bên trong các hệ hành tinh lẫn trong “các không gian liên hành tinh”. |
|
149. Simply because a Monad is within a planetary scheme does not necessarily mean that it is an “incarnating Monad”. |
149. Chỉ vì một Chân thần ở trong một hệ hành tinh không nhất thiết có nghĩa rằng nó là một “Chân thần đang lâm phàm”. |
|
150. It seems more likely that these “true” colours veil Monads which are “non-incarnating”. |
150. Có vẻ hợp lý hơn khi cho rằng những màu sắc “chân thực” này che phủ các Chân thần “không lâm phàm”. |
|
at present totally unknown to humanity. |
hiện nay hoàn toàn chưa được nhân loại biết đến. |
|
151. “Colour” we have often been told is a “veil”. Could red be one such color? Occultly, it seems that the colour red is, to a degree, repulsed by our second ray solar system. |
151. Chúng ta thường được bảo rằng “màu sắc” là một “tấm màn che”. Liệu màu đỏ có thể là một màu như thế chăng? Một cách huyền bí, dường như màu đỏ, ở một mức độ nào đó, bị đẩy lùi bởi hệ mặt trời cung hai của chúng ta. |
|
These will sweep into the consciousness of the human being in another solar system, |
Những màu này sẽ tràn vào tâm thức của con người trong một hệ mặt trời khác, |
|
152. Presumably, the next and final solar system. |
152. Có lẽ là hệ mặt trời kế tiếp và cuối cùng. |
|
or after the taking of the sixth Initiation. |
hoặc sau khi trải qua lần điểm đạo thứ sáu. |
|
153. At which time the Monad is a fully liberated Entity—an Entity fully liberated from any of the five lower worlds. |
153. Vào lúc ấy Chân thần là một Thực Thể được giải thoát hoàn toàn—một Thực Thể được giải thoát hoàn toàn khỏi bất kỳ cõi nào trong năm cõi thấp. |
|
154. Are we being told that these Monads, veiled by certain colours, can take the sixth initiation without incarnating? Or that only the human being who has taken the sixth initiation can become aware of them? |
154. Có phải chúng ta đang được bảo rằng những Chân thần này, được che phủ bởi những màu sắc nhất định, có thể trải qua lần điểm đạo thứ sáu mà không cần lâm phàm? Hay chỉ có con người đã trải qua lần điểm đạo thứ sáu mới có thể nhận biết chúng? |
|
155. While many Monads may take the sixth initiation in this solar system (and thus register these deeply recessed, “true colours”), far more will take this initiation in the next system—a system in which our Solar Logos is to take the sixth initiation. |
155. Trong khi nhiều Chân thần có thể trải qua lần điểm đạo thứ sáu trong hệ mặt trời này (và do đó ghi nhận những “màu sắc chân thực” ẩn sâu này), thì còn nhiều hơn nữa sẽ trải qua lần điểm đạo này trong hệ kế tiếp—một hệ mà trong đó Thái dương Thượng đế của chúng ta sẽ trải qua lần điểm đạo thứ sáu. |
|
All that we have on earth are reflections of the true colours, |
Tất cả những gì chúng ta có trên Trái Đất chỉ là những phản chiếu của các màu sắc chân thực, |
|
156. The occult colors of which we usually speak are simply reflections of deeply esoteric “true colours”. |
156. Những màu sắc huyền bí mà chúng ta thường nói đến chỉ đơn giản là những phản chiếu của các “màu sắc chân thực” nội môn sâu xa. |
|
and likewise the reflection of the lowest aspect. |
và cũng là phản chiếu của phương diện thấp nhất. |
|
157. Is DK speaking of the reflection of the “lowest aspect” of these “true colours”—the Brahmic aspect of such colours? |
157. DK có đang nói về phản chiếu của “phương diện thấp nhất” của những “màu sắc chân thực” này—phương diện Brahma của các màu sắc ấy chăng? |
|
158. It would seem that there are three types of colours to be correlated with one of the divine aspects—Spirit, soul or body (i.e., personality). |
158. Dường như có ba loại màu sắc cần được tương liên với một trong các phương diện thiêng liêng—Tinh thần, linh hồn hay thể (tức phàm ngã). |
|
Every colour in the cosmos exists in three forms: |
Mọi màu sắc trong vũ trụ đều tồn tại dưới ba hình thức: |
|
1. The true colour. |
1. Màu sắc chân thực. |
|
2. The illusory appearance of the colour. |
2. vẻ ngoài ảo tưởng của màu sắc. |
|
3. Its reflection. [Presumably, the reflection of the “true colour”] |
3. Phản chiếu của nó. [Có lẽ là phản chiếu của “màu sắc chân thực”] |
|
159. The three aspects of divinity are here implied. The “true color” corresponds to the first aspect of divinity; the “illusory appearance of the colour”, to the second aspect; the “reflection” of the colour to the third aspect. |
159. Ba phương diện của thiên tính được hàm ý ở đây. “Màu sắc chân thực” tương ứng với phương diện thứ nhất của thiên tính; “vẻ ngoài ảo tưởng của màu sắc” tương ứng với phương diện thứ hai; “phản chiếu” của màu sắc tương ứng với phương diện thứ ba. |
|
160. VSK Suggests: “This is a key suggestion as to why there are three colours, not just two (exoteric and esoteric), but three, perhaps similar to the manner in which astrological signs have three rulers: hierarchical (true), esoteric (illusory appearance) and exoteric (reflection). Does this mean that there is a true colour, and the esoteric would be illusory, and exoteric the reflection? I’m not sure. We have the earlier reference in regard to rays: the same ray, the complementary ray, and the antagonistic one. If we can overlay this trinity, then I’d say true is ‘the same’; complementary is the illusion, and antagonistic is the reflection. This is very obscure, and knowing exoteric colour optics does not help (especially in this case, as the illusion and the reflection would be the same things), and there is no colour ‘in the cosmos’ (as it is a physiological event and not something that has existence independent of perceiver). |
160. VSK gợi ý: “Đây là một gợi ý then chốt về lý do tại sao có ba màu, chứ không chỉ hai (ngoại môn và nội môn), mà là ba, có lẽ tương tự như cách các dấu hiệu hoàng đạo có ba chủ tinh: huyền giai (chân thực), nội môn (vẻ ngoài ảo tưởng) và ngoại môn (phản chiếu). Điều này có nghĩa là có một màu chân thực, và màu nội môn sẽ là vẻ ngoài ảo tưởng, còn màu ngoại môn là phản chiếu chăng? Tôi không chắc. Chúng ta có chỗ tham chiếu trước đó liên quan đến các cung: cùng một cung, cung bổ sung, và cung đối kháng. Nếu chúng ta có thể chồng bộ ba này lên, thì tôi sẽ nói chân thực là ‘cùng một’; bổ sung là ảo tưởng; và đối kháng là phản chiếu. Điều này rất mơ hồ, và việc biết quang học màu sắc ngoại môn không giúp được gì (đặc biệt trong trường hợp này, vì vẻ ngoài ảo tưởng và phản chiếu sẽ là cùng một thứ), và không có màu sắc nào ‘trong vũ trụ’ cả (vì đó là một hiện tượng sinh lý học chứ không phải điều gì có sự tồn tại độc lập với người tri giác). |
|
161. When attempting to overlay the trinity of a planet, its polar-opposite and its complementary, there may not be an exact fit with the trinity of “true”, “illusory” and “reflection”. In the planetary trinity, the planet which is the polar opposite may be higher in the scale of development than the complementary planet, as Venus, the polar opposite of the Earth is higher in the scale of development than Mar, the inferred complementary planet of Earth. |
161. Khi cố gắng chồng bộ ba của một hành tinh, hành tinh đối cực của nó và hành tinh bổ sung của nó lên nhau, có thể sẽ không có sự khớp chính xác với bộ ba “chân thực”, “ảo tưởng” và “phản chiếu”. Trong bộ ba hành tinh, hành tinh là đối cực có thể cao hơn trên thang phát triển so với hành tinh bổ sung, như Sao Kim, đối cực của Trái Đất, cao hơn trên thang phát triển so với Sao Hỏa, hành tinh bổ sung được suy ra của Trái Đất. |
|
162. Of course, if we begin with Venus, then Earth may be correlated with the “illusory appearance” and Mars with the reflection. Yet, Earth is definitely the polar-opposite of Venus. Is Mars, then, to be considered the complementary planet of Venus just as it is of Earth? |
162. Dĩ nhiên, nếu chúng ta bắt đầu với Sao Kim, thì Trái Đất có thể được tương liên với “vẻ ngoài ảo tưởng” và Sao Hỏa với phản chiếu. Tuy nhiên, Trái Đất chắc chắn là đối cực của Sao Kim. Vậy thì Sao Hỏa có được xem là hành tinh bổ sung của Sao Kim cũng như của Trái Đất không? |
|
163. Thus, the three trinities, while offering interesting comparisons, may not offer exact analogies. |
163. Vì vậy, ba bộ ba này, dù đưa ra những so sánh thú vị, có thể không đưa ra những tương đồng chính xác. |
|
164. I would also suggest that we consider the three fundamental musical relationships: the tonic, the dominant and the sub-dominant notes. The opposites are found in the tonic and dominant. The sub-dominant is reasonably to be correlated with the function called “complementary”. |
164. Tôi cũng xin gợi ý rằng chúng ta hãy xét đến ba tương quan âm nhạc căn bản: âm chủ, âm át và âm dưới át. Các đối cực được tìm thấy trong âm chủ và âm át. Âm dưới át có thể được tương liên một cách hợp lý với chức năng được gọi là “bổ sung”. |
|
165. Thus we have four trinities which, when compared, may provide illumination: |
165. Như vậy chúng ta có bốn bộ ba mà, khi được so sánh, có thể đem lại sự soi sáng: |
|
a. True, illusory and reflected colours |
a. Các màu chân thực, ảo tưởng và phản chiếu |
|
b. Hierarchical, esoteric and exoteric planetary rulers |
b. Các chủ tinh hành tinh huyền giai, nội môn và ngoại môn |
|
c. A planet, its polar opposite and its complement |
c. Một hành tinh, đối cực của nó và hành tinh bổ sung của nó |
|
d. The musical tonic, dominant and sub-dominant |
d. Âm chủ, âm át và âm dưới át trong âm nhạc |
|
166. Other trinities could no doubt be added and provide additional illumination. |
166. Không nghi ngờ gì nữa, có thể thêm vào những bộ ba khác và cung cấp thêm sự soi sáng. |
|
The reflection is that with which we are familiar; |
Phản chiếu là điều mà chúng ta quen thuộc; |
|
167. This is color as perceived by the personality consciousness. |
167. Đây là màu sắc như được tri giác bởi tâm thức phàm ngã. |
|
168. The reflection definitely correlates with the Brahmic aspect of divinity. |
168. Phản chiếu chắc chắn tương liên với phương diện Brahma của thiên tính. |
|
the appearance, or that which veils the reality, is contacted and known when we see with the eye of the soul, the Eye of Shiva, |
vẻ ngoài, hay điều che phủ thực tại, được tiếp xúc và biết đến khi chúng ta nhìn bằng con mắt của linh hồn, Con Mắt của Shiva, |
|
169. Here the “Eye of the Soul” is presented as the same as the “Eye of Shiva”. In other contexts, these two are differentiated. |
169. Ở đây “Con Mắt của Linh Hồn” được trình bày như đồng nhất với “Con Mắt của Shiva”. Trong những ngữ cảnh khác, hai điều này được phân biệt. |
|
170. Usually the third aspect of divinity is considered the “veil”, but in this case, the second aspects serves this function, just as the soul or egoic lotus veils the Monad. |
170. Thông thường phương diện thứ ba của thiên tính được xem là “tấm màn che”, nhưng trong trường hợp này, phương diện thứ hai đảm nhiệm chức năng ấy, cũng như linh hồn hay hoa sen chân ngã che phủ Chân thần. |
|
and the true colour14 is contacted after the fifth kingdom has been passed through, |
và màu sắc chân thực14 được tiếp xúc sau khi giới thứ năm đã được vượt qua, |
|
171. The sixth kingdom is being entered—the Kingdom of Planetary Lives. |
171. Giới thứ sáu đang được bước vào—Giới của Các Sự Sống Hành tinh. |
|
172. This means that the “true colour” is only registered when a man has become more than a Master. |
172. Điều này có nghĩa là “màu sắc chân thực” chỉ được ghi nhận khi một người đã trở thành hơn cả một Chân sư. |
|
and group consciousness is merging in that of the divine. |
và tâm thức nhóm đang hòa nhập vào tâm thức thiêng liêng. |
|
173. This is movement from the “spiritual” to the “divine”, from the soul to the Monad. |
173. Đây là sự chuyển động từ “tinh thần” sang “thiêng liêng”, từ linh hồn đến Chân thần. |
|
174. The three colors must have a mathematical relationship, and as VSK suggests, there must be a relationship of complementarity to the true color and also a relationship of opposition. Whether we should use the term “antagonistic” in relation to that which is the polar opposite should be pondered. |
174. Ba màu sắc hẳn phải có một tương quan toán học, và như VSK gợi ý, hẳn phải có một tương quan bổ sung với màu sắc chân thực và cũng có một tương quan đối lập. Liệu chúng ta có nên dùng thuật ngữ “đối kháng” liên hệ với điều là đối cực hay không là điều cần được suy ngẫm. |
|
175. As stated above, when considering the colour trinity, we are inclined to consider the following planetary trinity: the Earth, the planet which is its polar opposite and the planet which is it complement. |
175. Như đã nói ở trên, khi xét bộ ba màu sắc, chúng ta có khuynh hướng xét bộ ba hành tinh sau đây: Trái Đất, hành tinh là đối cực của nó và hành tinh là phần bổ sung của nó. |
|
176. However, Venus is almost certainly to be considered the polar opposite of Earth, and Mars is lower in its vibration than both of them, so in this case the “opposite” could not easily be considered the “reflection” (which is the lowest member of the colour trinity). |
176. Tuy nhiên, Sao Kim gần như chắc chắn phải được xem là đối cực của Trái Đất, và Sao Hỏa thấp hơn về rung động so với cả hai, nên trong trường hợp này “đối cực” không thể dễ dàng được xem là “phản chiếu” (vốn là thành viên thấp nhất của bộ ba màu sắc). |
|
177. So perhaps there is not a complete parallel between the model for the true color, its reflection and its illusory appearance, and Venus (let us say as the analogue to the true color) Earth and Mars.. |
177. Vì vậy có lẽ không có một sự song hành hoàn toàn giữa mô hình của màu sắc chân thực, phản chiếu của nó và vẻ ngoài ảo tưởng của nó, với Sao Kim (giả sử như là loại suy cho màu sắc chân thực), Trái Đất và Sao Hỏa.. |
|
178. There may be another useful parallel: the Monad; the soul as its reflection; and the personality as its “shadow”. In this case the term “reflection” is equivalent to “illusory appearance”. |
178. Có thể có một sự song hành hữu ích khác: Chân thần; linh hồn như phản chiếu của nó; và phàm ngã như “bóng” của nó. Trong trường hợp này thuật ngữ “phản chiếu” tương đương với “vẻ ngoài ảo tưởng”. |
|
179. If there are so many trinities in occult relationship, it seems logical that there should be a trinity in the realm of color. |
179. Nếu có quá nhiều bộ ba trong tương quan huyền bí như vậy, thì dường như hợp lý khi phải có một bộ ba trong lĩnh vực màu sắc. |
|
180. Looking again at the three notes of the chord—fundamental, subdominant and dominant—the subdominant (or the fourth) would be analogous to the “reflection” in terms of color, and the dominant would be the “illusory appearance”. In other words, the dominant would ‘veil’ the tonic, just as the illusory appearance veils the true color. The subdominant or fourth is associated with green, with matter and, thus, with Brahma and is, consequently, a suitable correspondence to the “reflection” of the “true colour” whereas the dominant or fifth always corresponds to the soul and thus to the “illusory appearance”, remembering that the soul veils the Monad. |
180. Xét lại ba nốt của hợp âm—nốt căn bản, nốt dưới át và nốt át—thì nốt dưới át (hay nốt thứ tư) sẽ tương tự với “phản chiếu” về phương diện màu sắc, còn nốt át sẽ là “vẻ ngoài ảo tưởng”. Nói cách khác, nốt át sẽ “che phủ” nốt chủ, cũng như vẻ ngoài ảo tưởng che phủ màu sắc chân thực. Nốt dưới át hay nốt thứ tư được liên kết với màu xanh lá, với vật chất và do đó với Brahma, và vì vậy là một tương ứng thích hợp với “phản chiếu” của “màu sắc chân thực”, trong khi nốt át hay nốt thứ năm luôn tương ứng với linh hồn và do đó với “vẻ ngoài ảo tưởng”, nhớ rằng linh hồn che phủ Chân thần. |
|
181. We should remember that the tonic can be positioned (vibratorily) ‘above’ the dominant and not only below it. |
181. Chúng ta nên nhớ rằng âm chủ có thể được đặt (về mặt rung động) “ở trên” âm át chứ không chỉ ở dưới nó. |
|
182. Musicians will recognize that in the chord progression from subdominant to dominant to tonic, there is a gradual ‘unveiling’ and a sense of having reached the true and fundamental tone when the tonic is reached. |
182. Các nhạc sĩ sẽ nhận ra rằng trong tiến trình hợp âm từ âm dưới át đến âm át rồi đến âm chủ, có một sự “vén mở” dần dần và một cảm giác đã đạt đến âm điệu chân thực và căn bản khi âm chủ được chạm tới. |
|
183. Until the mathematical relationship between the three colours is solved, the true relationship will not be understood. |
183. Chừng nào tương quan toán học giữa ba màu sắc chưa được giải quyết, thì tương quan chân thực sẽ chưa được thấu hiểu. |
|
184. DK’s statements concerning “true colour” alert us to how little we know about the nature of colour and why we must be cautious in creating tables of correspondences concerning colour. |
184. Những phát biểu của DK liên quan đến “màu sắc chân thực” cảnh báo chúng ta về việc chúng ta biết quá ít về bản chất của màu sắc và vì sao chúng ta phải thận trọng khi tạo ra các bảng tương ứng liên quan đến màu sắc. |
|
Footnote 14: |
Cước chú 14: |
|
Colour.—Originally meant a “covering.” From root “celare” to cover or hide. Also Occultare, to hide. |
Màu sắc.—Nguyên thủy có nghĩa là một “sự che phủ”. Từ gốc “celare” nghĩa là che phủ hay ẩn giấu. Cũng như Occultare, nghĩa là ẩn giấu. |
|
185. We are to understand that colour both conceals that which stands behind it and reveals something of its hidden nature as well. |
185. Chúng ta phải hiểu rằng màu sắc vừa che giấu điều đứng phía sau nó vừa tiết lộ điều gì đó về bản chất ẩn kín của điều ấy nữa. |
|
Symbology of colours. The language of the prism, of which “the seven mother colours have each seven sons,” that is to say, forty-nine shades or “sons” between the seven, which graduated tints are so many letters or alphabetical characters. |
Biểu tượng học của màu sắc. Ngôn ngữ của lăng kính, trong đó “bảy màu mẹ mỗi màu có bảy người con”, nghĩa là bốn mươi chín sắc độ hay “người con” nằm giữa bảy màu, mà những sắc thái chuyển grad này là rất nhiều chữ cái hay ký tự mẫu tự. |
|
186. If the language were Sanskrit with its forty-nine letters there could be an important correlation. Every letter in Sanskrit is a mantram, thus every shade of color could be correlated with one of these forty-nine mantrams or Words of Power. There are also some who divide the musical octave according to ratios using the number forty-nine. All these “spiritual numerals” can be correlated—colours, notes, syllables. |
186. Nếu ngôn ngữ ấy là tiếng Phạn với bốn mươi chín chữ cái của nó thì có thể có một tương liên quan trọng. Mỗi chữ cái trong tiếng Phạn là một mantram, do đó mỗi sắc độ màu có thể được tương liên với một trong bốn mươi chín mantram hay Quyền năng từ này. Cũng có những người chia quãng tám âm nhạc theo các tỉ lệ dùng con số bốn mươi chín. Tất cả những “con số tinh thần” này đều có thể được tương liên—màu sắc, nốt nhạc, âm tiết. |
|
187. With regard to Sanskrit, are there seven letters/sounds which are to be considered fundamental? |
187. Liên quan đến tiếng Phạn, có phải có bảy chữ cái/âm thanh được xem là căn bản hay không? |
|
The language of colours has, therefore, fifty-six letters for the initiate. |
Vì vậy, ngôn ngữ của màu sắc có năm mươi sáu chữ cái đối với điểm đạo đồ. |
|
188. The seven “mother colours” and the forty-nine “sons” or graduated shades of each colour. |
188. Bảy “màu mẹ” và bốn mươi chín “người con” hay các sắc độ chuyển grad của mỗi màu. |
|
189. We must wonder whether one of the subsidiary, “son” colours, is not the same as the original ‘Mother colour’, just as one of the seven subsidiary Ashrams is identical in quality with the quality of the major Ashram of which it is a part. |
189. Chúng ta phải tự hỏi liệu một trong các màu phụ, “màu con”, có phải không chính là màu “Mẹ” nguyên thủy, cũng như một trong bảy ashram phụ đồng nhất về phẩm tính với phẩm tính của ashram lớn mà nó là một phần của ashram ấy. |
|
Of these letters each septenary is absorbed by the mother colour as each of the seven mother colours is absorbed finally in the white ray, Divine Unity symbolised by these colours. |
Trong các chữ cái này, mỗi bộ bảy được hấp thu bởi màu mẹ, cũng như mỗi một trong bảy màu mẹ cuối cùng được hấp thu vào cung trắng, Hợp Nhất thiêng liêng được tượng trưng bởi các màu sắc này. |
|
190. The “Divine Unity” is symbolized by the “white ray”. The model here presented is useful when considering the absorption of the planets into still higher planets and these into synthesizing planets. |
190. “Hợp Nhất thiêng liêng” được tượng trưng bởi “cung trắng”. Mô hình được trình bày ở đây hữu ích khi xét đến sự hấp thu các hành tinh vào những hành tinh còn cao hơn nữa và các hành tinh này vào các hành tinh tổng hợp. |
|
Students will, therefore, note that the monadic cosmic wheel can be [Page 1092] visioned in terms of “true colour,” |
Vì vậy, các đạo sinh sẽ lưu ý rằng bánh xe vũ trụ chân thần có thể được [Page 1092] hình dung theo thuật ngữ “màu sắc chân thực”, |
|
191. The “monadic cosmic wheel” is seven times greater (whether understood in terms of time or space) than the monadic solar systemic wheel. |
191. “Bánh xe vũ trụ chân thần” lớn hơn bảy lần (dù được hiểu theo thời gian hay không gian) so với bánh xe hệ thống thái dương chân thần. |
|
192. Seven cycles of the humanity Monad are analogous to the “monadic cosmic wheel” and one cycle of the human Monad is analogous to a solar systemic wheel. |
192. Bảy chu kỳ của Chân thần nhân loại tương tự với “bánh xe vũ trụ chân thần”, và một chu kỳ của Chân thần con người tương tự với một bánh xe hệ thống thái dương. |
|
193. This “true colour” is really the “ primary colour” in the sense that the monadic ray is the “ primary ray”. |
193. “Màu sắc chân thực” này thực sự là “màu sắc chính yếu ” theo nghĩa rằng cung chân thần là “cung chính yếu ”. |
|
and is seen by the illumined seer as the combined blending of the primary colours of the three solar systems. |
và được nhà thông nhãn được soi sáng nhìn thấy như sự hòa trộn kết hợp của các màu chính yếu của ba hệ mặt trời. |
|
194. Will this “blending of the primary colours” yield the ‘colour’ white? |
194. Liệu “sự hòa trộn của các màu chính yếu” này có tạo ra ‘màu’ trắng không? |
|
195. It seems that we will find seven demonstrations within the greater three and all subsidiary colours within the three primaries. |
195. Dường như chúng ta sẽ tìm thấy bảy biểu hiện bên trong bộ ba lớn hơn và mọi màu phụ bên trong ba màu chính yếu. |
|
196. VSK relates: “Primaries of pigment are yellow, blue, and red and the primaries of light are green, blue, and red. (Primaries of photo-sensitive material are magenta, cyan, and yellow.)” |
196. VSK liên hệ: “Các màu chính yếu của sắc tố là vàng, lam và đỏ, còn các màu chính yếu của ánh sáng là lục, lam và đỏ. (Các màu chính yếu của vật liệu nhạy sáng là đỏ tía, lục lam và vàng.)” |
|
197. We have definitely been told that the colour of the previous solar system (a major solar system) was green. As well we are informed that our present solar system is the blue system. It can be inferred that the next solar system will be the red system. |
197. Chúng ta chắc chắn đã được bảo rằng màu sắc của hệ mặt trời trước (một hệ mặt trời lớn) là xanh lá. Đồng thời chúng ta cũng được cho biết rằng hệ mặt trời hiện tại của chúng ta là hệ xanh lam. Có thể suy ra rằng hệ mặt trời kế tiếp sẽ là hệ đỏ. |
|
Yet—at some distant time—red will be the basis of a solar system, and in the perfect merging of red, green and blue will come eventually the completed [221] work of the Logos and the consummation of the pure white light. |
Tuy nhiên—vào một thời điểm xa xôi nào đó—đỏ sẽ là nền tảng của một hệ mặt trời, và trong sự hòa nhập hoàn hảo của đỏ, xanh lá và xanh lam, cuối cùng sẽ đến công trình hoàn tất [221] của Thượng đế và sự viên mãn của ánh sáng trắng thuần khiết. |
|
The activity system was green. |
Hệ hoạt động là xanh lá. |
|
The love system is blue. |
Hệ bác ái là xanh lam. |
|
The power system will be red. (LOM 220-221) |
Hệ quyền năng sẽ là đỏ. (LOM 220-221) |
|
198. It is clear that a ‘consummation in white’ will exist for our Solar Logos. Does this imply the existence of a seventh solar system or a consummation to occur above the solar systemic level? |
198. Rõ ràng sẽ có một ‘sự viên mãn trong màu trắng’ đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta. Điều này có hàm ý sự tồn tại của một hệ mặt trời thứ bảy hay một sự viên mãn xảy ra trên cấp độ vượt quá cấp độ hệ thống thái dương không? |
|
199. With respect to the solar systems, the primaries of light are used. |
199. Liên quan đến các hệ mặt trời, các màu chính yếu của ánh sáng được sử dụng. |
|
200. We may infer that ‘consummation in white’ also awaits the human Monad. |
200. Chúng ta có thể suy ra rằng một ‘sự viên mãn trong màu trắng’ cũng đang chờ đợi Chân thần con người. |
|
The monadic systemic wheel, which concerns this solar system alone, |
Bánh xe hệ thống chân thần, liên quan riêng đến hệ mặt trời này, |
|
201. Yet one human monadic cycle occurs in one solar system. |
201. Tuy nhiên, một chu kỳ chân thần con người xảy ra trong một hệ mặt trời. |
|
is distinguished by being the totality of the seven colours of the seven Heavenly Men, |
được phân biệt bởi là tổng thể của bảy màu của bảy Đấng Thiên Nhân, |
|
202. Compared to colour as demonstrated on the monadic plane, these seven colours could be “illusory appearances” rather than “true colours”. |
202. So với màu sắc như được biểu lộ trên cõi chân thần, bảy màu này có thể là “những sắc tướng ảo huyễn” hơn là “màu sắc chân thực”. |
|
203. We note that the “monadic cosmic wheel” is represented by three primary colours and the monadic systemic wheel by seven other colours (perhaps illusory appearances). |
203. Chúng ta lưu ý rằng “bánh xe vũ trụ chân thần” được biểu thị bằng ba màu chính yếu và bánh xe hệ thống chân thần bằng bảy màu khác (có lẽ là những sắc tướng ảo huyễn). |
|
204. Thus we have the important number ten when combining the monadic cosmic wheel and one monadic systemic wheel. |
204. Do đó, khi kết hợp bánh xe vũ trụ chân thần và một bánh xe hệ thống chân thần, chúng ta có con số quan trọng là mười. |
|
205. If we consider the three solar systems, we will have the number twenty-one. Adding the three of the monadic cosmic wheel, we will have a significant number of completion—twenty-four (the number of Shamballa, and perhaps the number of the prototype of Shamballa). |
205. Nếu xét ba hệ mặt trời, chúng ta sẽ có con số hai mươi mốt. Cộng thêm ba của bánh xe vũ trụ chân thần, chúng ta sẽ có một con số hoàn tất đầy thâm nghĩa—hai mươi bốn (con số của Shamballa, và có lẽ là con số của nguyên mẫu của Shamballa). |
|
and from the vision of the adept of the fifth Initiation |
và từ linh thị của chân sư của lần điểm đạo thứ năm |
|
206. Who, let us remember, cannot yet see “true colours”… |
206. Xin nhớ rằng, vị ấy vẫn chưa thể thấy được “màu sắc chân thực”… |
|
is the sumtotal of the primary colours of the egoic groups of the differing planetary schemes. |
là tổng số các màu chính yếu của các nhóm chân ngã thuộc những hệ hành tinh khác nhau. |
|
207. Whatever the context we may be considering, there are only three primary colours. |
207. Dù chúng ta có thể đang xét trong ngữ cảnh nào đi nữa, chỉ có ba màu chính yếu. |
|
208. The egoic groups (though one can estimate that there are seven such in each planetary scheme) are designated in terms of three primary colors. Presumably, these colours are “appearances” rather than “true” colours. |
208. Các nhóm chân ngã (dù có thể ước tính rằng có bảy nhóm như thế trong mỗi hệ hành tinh) được chỉ định theo ba màu chính yếu. Có lẽ các màu này là “sắc tướng” hơn là những màu “chân thực”. |
|
The monadic planetary wheel, |
Bánh xe hành tinh chân thần, |
|
209. We see that DK is simply extending the analogy which He used when dealing with macrocosmic matters in the material covered in the previous commentary. |
209. Chúng ta thấy rằng Chân sư DK chỉ đơn giản mở rộng phép loại suy mà Ngài đã dùng khi bàn đến các vấn đề đại thiên địa trong phần tài liệu được trình bày trong phần bình luận trước. |
|
210. We are still however, dealing with the Monad within large contexts—cosmic, systemic and planetary. |
210. Tuy nhiên, chúng ta vẫn đang bàn đến Chân thần trong những bối cảnh lớn—vũ trụ, hệ thống và hành tinh. |
|
211. The individual Monad, per se, is not yet the primary focus, but rather the placement of the Monad within the greater wheels. |
211. Chính Chân thần cá biệt vẫn chưa là trọng tâm chính, mà đúng hơn là vị trí của Chân thần trong các bánh xe lớn hơn. |
|
which concerns the particular group of Monads incarnating in a particular scheme, |
liên quan đến nhóm Chân thần đặc thù đang lâm phàm trong một hệ hành tinh đặc thù, |
|
212. We have traced the Monad from its cosmic context in foregoing solar systems; we have examined the Monad within our present solar system; now we examine the Monad within the context of a particular planetary scheme. |
212. Chúng ta đã truy theo Chân thần từ bối cảnh vũ trụ của nó trong các hệ mặt trời trước đây; chúng ta đã khảo sát Chân thần trong hệ mặt trời hiện tại của chúng ta; giờ đây chúng ta khảo sát Chân thần trong bối cảnh của một hệ hành tinh đặc thù. |
|
213. Though the sumtotal of Monads incarnating in any one planetary scheme can be differentiated into three great types and twenty-one lesser types, they, as a whole, share a unifying factor—that factor which directed them into incarnation in the same planetary scheme. |
213. Dù tổng số các Chân thần đang lâm phàm trong bất kỳ một hệ hành tinh nào có thể được phân biệt thành ba loại lớn và hai mươi mốt loại nhỏ hơn, nhưng xét như một toàn thể, chúng chia sẻ một yếu tố hợp nhất—yếu tố đã hướng dẫn chúng đi vào lâm phàm trong cùng một hệ hành tinh. |
|
is seen by the seer as the blending of egoic groups, but with the difference that the colour is a dual one, and the colouring of the personality ray of the incarnating Ego is also seen. |
được nhà thông nhãn thấy như sự hòa trộn của các nhóm chân ngã, nhưng với điểm khác biệt là màu sắc ấy có tính nhị phân, và màu sắc của cung phàm ngã của Chân ngã đang lâm phàm cũng được thấy. |
|
214. When the planetary scheme is brought into the picture the dimension of personality enters. A single solar system reflects the egoic expression of the Monad, and three major solar systems taken together suggest the dynamics of the Monad on its own plane and throughout its seven (or major three) incarnations. |
214. Khi hệ hành tinh được đưa vào bức tranh, chiều kích phàm ngã đi vào. Một hệ mặt trời đơn lẻ phản ánh biểu hiện chân ngã của Chân thần, và ba hệ mặt trời chính được xét chung với nhau gợi ra động lực của Chân thần trên cõi riêng của nó và xuyên suốt bảy lần lâm phàm (hay ba lần chính) của nó. |
|
215. The “cosmic monadic wheel” is purely monadic. |
215. “Bánh xe vũ trụ chân thần” thuần túy là chân thần. |
|
216. The “systemic monadic wheel” is both monadic and egoic. |
216. “Bánh xe hệ thống chân thần” vừa là chân thần vừa là chân ngã. |
|
217. The “planetary monadic wheel” is monadic, egoic and includes the personality dimension. |
217. “Bánh xe hành tinh chân thần” là chân thần, chân ngã và bao gồm chiều kích phàm ngã. |
|
218. Thus far we have the following: |
218. Cho đến đây chúng ta có những điều sau: |
|
a. The cosmic wheel of the Monad consisting, presumably, of seven demonstrations including three major demonstrations. (The relationship between seven possible demonstrations and six such demonstrations remains to be worked out.) |
a. Bánh xe vũ trụ của Chân thần, có lẽ gồm bảy sự biểu lộ, trong đó có ba sự biểu lộ chính. (Mối liên hệ giữa bảy sự biểu lộ khả hữu và sáu sự biểu lộ như thế vẫn còn cần được làm sáng tỏ.) |
|
b. That systemic wheel of the Monad dealing with a single demonstration in a single solar system. |
b. Bánh xe hệ thống của Chân thần, liên quan đến một sự biểu lộ đơn nhất trong một hệ mặt trời đơn nhất. |
|
c. The planetary wheel of the Monad focusing on its expression in one solar system and through a particular planetary scheme. |
c. Bánh xe hành tinh của Chân thần, tập trung vào biểu hiện của nó trong một hệ mặt trời và qua một hệ hành tinh đặc thù. |
|
219. The human Monad turns on three great wheels. Turning on the greatest wheel, the “cosmic monadic wheel” it need not have an egoic expression. Turning on the “systemic monadic wheel” some Monads waiting in “interplanetary spaces” and “not in incarnation” also need not have an egoic expression. And certainly they need not have a personality expression. Turning on a “monadic planetary wheel” they are in a cycle in which they will have (during various egoic cycles) a personality expression. |
219. Chân thần nhân loại quay trên ba bánh xe lớn. Khi quay trên bánh xe lớn nhất, “bánh xe vũ trụ chân thần”, nó không nhất thiết phải có biểu hiện chân ngã. Khi quay trên “bánh xe hệ thống chân thần”, một số Chân thần đang chờ trong “các không gian liên hành tinh” và “không lâm phàm” cũng không nhất thiết phải có biểu hiện chân ngã. Và chắc chắn chúng không nhất thiết phải có biểu hiện phàm ngã. Khi quay trên một “bánh xe hành tinh chân thần”, chúng ở trong một chu kỳ mà trong đó chúng sẽ có (trong các chu kỳ chân ngã khác nhau) một biểu hiện phàm ngã. |
|
220. The threefold colour of the Monad is the combination of its “true colour”, its egoic expression (which is an “illusory appearance”) and its personality expression (which is a “reflection” of the “true colour”). |
220. Màu sắc tam phân của Chân thần là sự kết hợp của “màu sắc chân thực” của nó, biểu hiện chân ngã của nó (là một “sắc tướng ảo huyễn”) và biểu hiện phàm ngã của nó (là một “phản chiếu” của “màu sắc chân thực”). |
S9S2 Part II
|
TCF 1092-1097 |
TCF 1092-1097 |
|
Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) |
Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ những trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện) |
|
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary |
Xin đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận |
|
The egoic cycle, or the turning of the wheel of the incarnating Ego, |
Chu kỳ chân ngã, hay sự quay của bánh xe của Chân ngã đang lâm phàm, |
|
1. This signifies the Ego passing through the cycles which pertain to it. |
1. Điều này biểu thị Chân ngã đi qua các chu kỳ thuộc về nó. |
|
2. We have just been discussing the passing of the Monad through various wheels—cosmic, systemic and planetary. |
2. Chúng ta vừa mới bàn về sự đi qua của Chân thần qua các bánh xe khác nhau—vũ trụ, hệ thống và hành tinh. |
|
is of the most practical interest to man, and has already been somewhat dealt with. |
là điều có mối quan tâm thực tiễn nhất đối với con người, và đã phần nào được bàn đến rồi. |
|
3. Really, the turning of the egoic wheel is the theme of so much that Master DK has written. His works focus profoundly on soul culture. |
3. Thật ra, sự quay của bánh xe chân ngã là chủ đề của rất nhiều điều mà Chân sư DK đã viết. Các tác phẩm của Ngài tập trung sâu sắc vào sự tu dưỡng linh hồn. |
|
For purposes of clarity and elucidation, this wheel may also be seen as turning in three cycles and as making three kinds of revolutions, covering varying periods of time. |
Để rõ ràng và minh giải, bánh xe này cũng có thể được xem như quay trong ba chu kỳ và tạo nên ba loại vòng quay, bao trùm những khoảng thời gian khác nhau. |
|
4. The Monad too was seen to turn in three cycles. |
4. Chân thần cũng đã được thấy là quay trong ba chu kỳ. |
|
5. Such egoic cycles and revolutions will determine the periods of incarnation and the duration of such periods for members of an egoic group. |
5. Những chu kỳ và vòng quay chân ngã như thế sẽ quyết định các thời kỳ lâm phàm và thời lượng của những thời kỳ ấy đối với các thành viên của một nhóm chân ngã. |
|
6. Given three cycles and three kinds of revolutions, we have the number nine fulfilled. |
6. Với ba chu kỳ và ba loại vòng quay, chúng ta có con số chín được hoàn tất. |
|
7. When considering the above, we should also remember the following: |
7. Khi xét điều trên, chúng ta cũng nên nhớ điều sau đây: |
|
The egoic cycles proceed in groups of sevens and of threes, and not in groups of fours and sevens as do the personality cycles, and the same ratio must be predicated of the central cycles of a Heavenly Man and of a solar Logos. (TCF 304) |
Các chu kỳ chân ngã tiến hành theo những nhóm bảy và nhóm ba, chứ không theo những nhóm bốn và bảy như các chu kỳ phàm ngã, và cùng một tỉ lệ ấy phải được giả định cho các chu kỳ trung tâm của một Đấng Thiên Nhân và của một Thái dương Thượng đế. (TCF 304) |
|
8. We would be mistaken to think that human incarnation occurs with relentless regularity. There may be long periods of time when a human Ego is simply out of incarnation. The incarnations will be determined by egoic cycles but also influence, one may presume, by monadic cycles as well. |
8. Chúng ta sẽ sai lầm nếu nghĩ rằng sự lâm phàm của con người xảy ra với tính đều đặn không ngừng. Có thể có những khoảng thời gian dài khi một Chân ngã nhân loại đơn giản là ở ngoài lâm phàm. Các lần lâm phàm sẽ được quyết định bởi các chu kỳ chân ngã nhưng cũng, có thể giả định, chịu ảnh hưởng bởi các chu kỳ chân thần nữa. |
|
9. Something of importance is revealed about the egoic and personality cycles of the Heavenly Man and Solar Logos—the numbers involved in these cycles is the same as for the human Ego and personality. |
9. Một điều quan trọng được tiết lộ về các chu kỳ chân ngã và phàm ngã của Đấng Thiên Nhân và Thái dương Thượng đế—các con số liên quan trong những chu kỳ này cũng giống như đối với Chân ngã và phàm ngã của con người. |
|
10. This whole matter is extremely intricate and surely represents some of the deeper aspects of the “Science of the Initiates”. |
10. Toàn bộ vấn đề này cực kỳ phức tạp và chắc chắn biểu hiện một số phương diện sâu xa hơn của “Khoa Học của các Điểm đạo đồ”. |
|
There is first, the Wheel of the chain, or the cycling of the Monad around an entire chain, and its passage through all the globes and kingdoms. |
Trước hết có Bánh Xe của dãy, hay sự tuần hoàn của Chân thần quanh toàn bộ một dãy, và sự đi qua của nó qua mọi bầu hành tinh và các giới. |
|
11. Quite a hint is here given. Can we, by higher analogy, assume that the Wheel of a Scheme involves the cycling of the Monad around an entire Scheme and its passage through call chains? |
11. Ở đây có một gợi ý khá lớn. Liệu bằng định luật tương đồng cao hơn, chúng ta có thể giả định rằng Bánh Xe của một Hệ Hành Tinh bao hàm sự tuần hoàn của Chân thần quanh toàn bộ một Hệ Hành Tinh và sự đi qua của nó qua mọi dãy chăng? |
|
12. And what of the monadic Wheel of the Solar System—to what extent is there a cycling of the Monad around the entire solar system? |
12. Và còn bánh xe chân thần của Hệ Mặt Trời thì sao—ở mức độ nào có sự tuần hoàn của Chân thần quanh toàn bộ hệ mặt trời? |
|
13. Or is the Monad confined simply to one planetary scheme? It would seem not to be the case, as the Monad can dwell in “interplanetary spaces”. |
13. Hay Chân thần chỉ bị giới hạn đơn thuần trong một hệ hành tinh? Có vẻ không phải như vậy, vì Chân thần có thể cư ngụ trong “các không gian liên hành tinh”. |
|
14. And what of the Monad in relation to the “monadic cosmic wheel”? We can wonder whether a Monad may not circulate through seven major solar systems, just as it circulates through seven globes and seven chains? |
14. Và Chân thần liên hệ với “bánh xe vũ trụ chân thần” thì sao? Chúng ta có thể tự hỏi liệu một Chân thần có thể không tuần hoàn qua bảy hệ mặt trời chính, cũng như nó tuần hoàn qua bảy bầu hành tinh và bảy dãy hay không? |
|
15. It is interesting to consider that the Monad, as it expresses through a given planetary chain will pass through all globes and all kingdoms in that chain. This leaves open quite an extensive future for the human Monad expressing on our fourth globe at this time. |
15. Thật thú vị khi xét rằng Chân thần, khi biểu hiện qua một dãy hành tinh nhất định, sẽ đi qua mọi bầu hành tinh và mọi giới trong dãy ấy. Điều này để ngỏ một tương lai khá rộng lớn cho Chân thần nhân loại đang biểu hiện trên bầu hành tinh thứ tư của chúng ta vào lúc này. |
|
16. We are familiar with the idea that there have been stages of inmineralization, invegetalization, and inzoonation of the Monad. It probably seems reasonable to us that the Monad will demonstrate within the Kingdom of Souls and the Kingdom of Planetary Lives as well. Will every Monad demonstrate through the Kingdom of Solar Lives? This would take the demonstration beyond the scope of the planetary scheme, would it not? And, eventually, it is likely. |
16. Chúng ta quen thuộc với ý tưởng rằng đã có những giai đoạn khoáng vật hóa, thực vật hóa và động vật hóa của Chân thần. Có lẽ đối với chúng ta, điều hợp lý là Chân thần cũng sẽ biểu lộ trong Giới các Linh Hồn và Giới các Sự Sống Hành tinh nữa. Liệu mọi Chân thần có biểu lộ qua Giới các Sự sống Thái Dương không? Điều này sẽ đưa sự biểu lộ vượt ra ngoài phạm vi của hệ hành tinh, phải không? Và rốt cuộc, điều đó có lẽ là như vậy. |
|
The consideration of this is complicated by the fact that in any particular chain, the Monads seldom begin and end their evolution; they seldom emerge, pass through their cycle and achieve their objective. |
Việc xem xét điều này trở nên phức tạp bởi sự kiện rằng trong bất kỳ dãy đặc thù nào, các Chân thần hiếm khi bắt đầu và kết thúc sự tiến hoá của mình; chúng hiếm khi xuất hiện, đi qua chu kỳ của mình và đạt được mục tiêu của mình. |
|
17. DK is speaking of a kind of principle of ‘overlap’. Cycles begun on one chain are continued on the next and may be completed on still another or others. |
17. Chân sư DK đang nói về một loại nguyên lý “chồng lấn”. Những chu kỳ bắt đầu trên một dãy được tiếp tục trên dãy kế tiếp và có thể được hoàn tất trên một hay nhiều dãy khác nữa. |
|
18. Many of those who are pursuing their monadic development on this fourth chain of the Earth-scheme began their monadic pilgrimage on the third chain, the Moon-chain, and may not complete their monadic pilgrimage on this fourth chain at all. In fact, this pilgrimage may not be completed until the next solar system. |
18. Nhiều người đang theo đuổi sự phát triển chân thần của mình trên dãy thứ tư này của hệ Địa Cầu đã bắt đầu cuộc hành hương chân thần của mình trên dãy thứ ba, Dãy Mặt Trăng, và có thể hoàn toàn không hoàn tất cuộc hành hương chân thần của mình trên dãy thứ tư này. Thật ra, cuộc hành hương này có thể chỉ được hoàn tất trong hệ mặt trời kế tiếp. |
|
It is not possible to dissociate a chain from its preceding or succeeding chain. |
Không thể tách rời một dãy khỏi dãy đứng trước hay dãy tiếp sau nó. |
|
19. Just as it is not possible to dissociate chakras in any chakric system from one another… |
19. Cũng như không thể tách rời các luân xa trong bất kỳ hệ thống luân xa nào khỏi nhau… |
|
20. Further, it is not possible to associate one solar system (pervaded by the consciousness of the same Solar Logos) from another. |
20. Hơn nữa, không thể tách rời một hệ mặt trời (được thấm nhuần bởi tâm thức của cùng một Thái dương Thượng đế) khỏi một hệ mặt trời khác. |
|
21. There are important hints here about the transference of energy from one chakra to another. |
21. Ở đây có những gợi ý quan trọng về sự chuyển dịch năng lượng từ luân xa này sang luân xa khác. |
|
22. We are considering some subjects which were popular with early Theosophists. It is likely that what DK is saying is adding important additional perspectives. |
22. Chúng ta đang xét một số chủ đề vốn phổ biến với các nhà Thông Thiên Học thời kỳ đầu. Có khả năng điều Chân sư DK đang nói bổ sung những góc nhìn quan trọng khác. |
|
Many Monads who achieved self-consciousness in the moon chain only entered into renewed activity in the middle of the fourth root race; |
Nhiều Chân thần đã đạt được ngã thức trong Dãy Mặt Trăng chỉ đi vào hoạt động trở lại vào giữa giống dân gốc thứ tư; |
|
23. DK speaks of entry in the “middle” of the fourth rootrace. Other theorists have wondered whether this type into the fourth rootrace might not have occurred earlier in its history—for instance, during the third subrace, though, perhaps, from a certain perspective the third root-race can be considered as occurring “in the middle” of the fourth root-race. |
23. Chân sư DK nói về sự đi vào ở “giữa” giống dân gốc thứ tư. Các nhà lý thuyết khác đã tự hỏi liệu loại đi vào giống dân gốc thứ tư này có thể đã xảy ra sớm hơn trong lịch sử của nó hay không—thí dụ, trong giống dân phụ thứ ba, dù có lẽ, từ một góc nhìn nào đó, giống dân gốc thứ ba có thể được xem như xảy ra “ở giữa” giống dân gốc thứ tư. |
|
others, who have individualised on this earth, will not succeed in reaching their goal upon this planet. |
những Chân thần khác, đã biệt ngã hóa trên Trái Đất này, sẽ không thành công trong việc đạt đến mục tiêu của mình trên hành tinh này. |
|
24. By “upon this planet” does DK mean ‘upon or within this planetary scheme’? The use of the term “planet” must be watched very carefully as sometimes it may mean simply a globe and at other times the complete planetary scheme. |
24. Bởi “trên hành tinh này”, Chân sư DK có muốn nói “trên hay trong hệ hành tinh này” không? Việc dùng thuật ngữ “hành tinh” phải được theo dõi rất cẩn thận vì đôi khi nó có thể chỉ đơn giản có nghĩa là một bầu hành tinh và những lúc khác lại là toàn bộ hệ hành tinh hoàn chỉnh. |
|
25. If there is some accuracy to this thought, will the goal for those who individualized on Earth be reached on some other planet? Or upon a fresh incarnation of the Planetary Logos of our Earth in yet another solar system? |
25. Nếu ý nghĩ này có phần chính xác nào đó, thì mục tiêu của những Chân thần đã biệt ngã hóa trên Trái Đất sẽ đạt được trên một hành tinh khác nào đó? Hay trên một lần lâm phàm mới của Chân Linh Hành Tinh của Trái Đất chúng ta trong một hệ mặt trời khác nữa? |
|
26. Or will the goal be reached within another chain and upon a globe in that chain—both of them still residing within our present planetary scheme? |
26. Hay mục tiêu sẽ được đạt đến trong một dãy khác và trên một bầu hành tinh trong dãy ấy—cả hai vẫn còn nằm trong hệ hành tinh hiện tại của chúng ta? |
|
27. Some Monads, we know, we definitely not finish their pilgrimage until the next solar system. |
27. Chúng ta biết rằng một số Chân thần chắc chắn sẽ không hoàn tất cuộc hành hương của mình cho đến hệ mặt trời kế tiếp. |
|
28. As well, the life wave moves from chain to chain, and so it is possible that if certain Monads have not finished their pilgrimage within our present fourth chain, they may do so with the fifth, sixth or seventh, and upon globes found within those chains. |
28. Hơn nữa, làn sóng sự sống di chuyển từ dãy này sang dãy khác, và vì vậy có thể là nếu một số Chân thần chưa hoàn tất cuộc hành hương của mình trong dãy thứ tư hiện tại của chúng ta, chúng có thể làm điều đó trong dãy thứ năm, thứ sáu hay thứ bảy, và trên các bầu hành tinh nằm trong những dãy ấy. |
|
29. “In my Father’s House there are many mansions.” We have very little idea of the various intra-planetary and extra-planetary ‘locations’ to which our destiny may take us. |
29. “Trong Nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở.” Chúng ta có rất ít ý niệm về những “địa điểm” nội hành tinh và ngoại hành tinh khác nhau mà định mệnh có thể đưa chúng ta đến. |
|
There is here a correspondence to systemic evolution, and there is an analogy between the Monads who refused to [Page 1093] incarnate and the Egos who were unable to take bodies in the Lemurian or third root race. |
Ở đây có một sự tương ứng với tiến hoá hệ thống, và có một phép loại suy giữa những Chân thần đã từ chối việc [Page 1093] lâm phàm và những Chân ngã đã không thể nhận lấy thể xác trong giống dân Lemuria hay giống dân gốc thứ ba. |
|
30. We have two kinds of ‘refusals’ or ‘inabilities’. Every time Master DK speaks of a refusal to incarnate, He somehow justifies it as appropriate to the refusing Entity. |
30. Chúng ta có hai loại “từ chối” hay “không thể”. Mỗi khi Chân sư DK nói về một sự từ chối lâm phàm, bằng cách nào đó Ngài đều biện minh rằng điều ấy là thích hợp đối với Thực Thể từ chối. |
|
31. Presumably the Egos who were unable to take bodies in the Lemurian or third root race were faced with vehicles which were too gross for their needs. Often those events in Lemuria are discussed in terms of a ‘refusal’ but here DK speaks of an ‘inability’. |
31. Có lẽ những Chân ngã không thể nhận lấy thể xác trong giống dân Lemuria hay giống dân gốc thứ ba đã phải đối diện với những vận cụ quá thô nặng đối với nhu cầu của họ. Thường thì những biến cố ở Lemuria được bàn đến theo nghĩa một sự “từ chối”, nhưng ở đây Chân sư DK nói đến một sự “không thể”. |
|
32. Monads who refused to incarnate must have been those who did not descend to engage in the individualization process. OR, if they had individualized in another system, may have waited before resuming the egoic nature they had built in that system. The matter is obscure. We do not know how an egoic lotus built in a previous solar system would survive pralaya. Probably the potentialities to regenerate such an egoic lotus in the present solar system would exist within the Monad. Egoic vehicles could be re-created on the basis of such potentialities. |
32. Những Chân thần từ chối lâm phàm hẳn là những Chân thần đã không giáng xuống để tham dự vào tiến trình biệt ngã hóa. HOẶC, nếu chúng đã biệt ngã hóa trong một hệ thống khác, chúng có thể đã chờ đợi trước khi tiếp tục lại bản chất chân ngã mà chúng đã xây dựng trong hệ thống ấy. Vấn đề này còn mơ hồ. Chúng ta không biết một Hoa Sen Chân Ngã được xây dựng trong một hệ mặt trời trước sẽ tồn tại qua giai kỳ qui nguyên như thế nào. Có lẽ những tiềm năng để tái tạo một Hoa Sen Chân Ngã như thế trong hệ mặt trời hiện tại sẽ tồn tại bên trong Chân thần. Các vận cụ chân ngã có thể được tái tạo trên cơ sở những tiềm năng ấy. |
|
There is next, the Wheel of a globe, or the process of evolution upon any particular globe. |
Tiếp theo là Bánh Xe của một bầu hành tinh, hay tiến trình tiến hoá trên bất kỳ bầu hành tinh đặc thù nào. |
|
33. We remember that DK has said the Monad will evolve through all globes in a chain (and all kingdoms). |
33. Chúng ta nhớ rằng Chân sư DK đã nói Chân thần sẽ tiến hoá qua mọi bầu hành tinh trong một dãy (và mọi giới). |
|
34. We are examining the different ‘spheres’ in which or on which monadic evolution proceeds. |
34. Chúng ta đang khảo sát những “khối cầu” khác nhau trong đó hay trên đó sự tiến hoá chân thần diễn ra. |
|
35. Yet the section we have begun refers most specifically to egoic evolution. |
35. Tuy nhiên, phần mà chúng ta đã bắt đầu lại đề cập đặc biệt nhất đến tiến hoá chân ngã. |
|
The student must bear in mind that the Monad, after planetary dissolution, passes the time between incarnations on other and subtler globes, which are the correspondence to the interplanetary and intersystemic spheres. |
Đạo sinh phải ghi nhớ rằng Chân thần, sau sự tan rã hành tinh, trải qua thời gian giữa các lần lâm phàm trên những bầu hành tinh khác và vi tế hơn, vốn là sự tương ứng với các khối cầu liên hành tinh và liên hệ thống. |
|
36. This also is a potentially obscure statement. As I said, we have to keep watch on the meaning of the word “planet” and “planetary”. In this case, it seems that the word “planetary” relates to our particular globe. The dissolution of our globe seems to make it possible for the Monad to pass time on other and subtler globes in our chain. |
36. Đây cũng là một phát biểu có thể mơ hồ. Như tôi đã nói, chúng ta phải theo dõi ý nghĩa của từ “hành tinh” và “thuộc hành tinh”. Trong trường hợp này, có vẻ từ “thuộc hành tinh” liên hệ đến bầu hành tinh đặc thù của chúng ta. Sự tan rã của bầu hành tinh chúng ta dường như khiến Chân thần có thể trải qua thời gian trên những bầu hành tinh khác và vi tế hơn trong dãy của chúng ta. |
|
37. What, then, is an ‘interplanetary sphere’? What is an ‘intersystemic sphere’? Are the subtler chains to be considered as interplanetary spheres or must these spheres exist in the ‘spaces’ between planets? From one perspective, the subtler chains could be considered as interplanetary spheres, but from another, subtle planetary schemes (spheres for which the densest vehicle is etheric, astral or mental) could be interplanetary spheres. |
37. Vậy thì một “khối cầu liên hành tinh” là gì? Một “khối cầu liên hệ thống” là gì? Có phải các dãy vi tế hơn được xem là các khối cầu liên hành tinh hay những khối cầu này phải tồn tại trong các “không gian” giữa các hành tinh? Từ một góc nhìn, các dãy vi tế hơn có thể được xem là các khối cầu liên hành tinh, nhưng từ một góc nhìn khác, các hệ hành tinh vi tế (những khối cầu mà vận cụ đậm đặc nhất là dĩ thái, cảm dục hay trí tuệ) có thể là các khối cầu liên hành tinh. |
|
38. As for “intersystemic spheres”, if our Sun and its solar system were considered as but one chain in a sevenfold greater Logos, some of those seven systems could be considered subtler than ours, and thus host life expression after our more tangible solar system had disappeared. |
38. Còn về “các khối cầu liên hệ thống”, nếu Mặt Trời của chúng ta và hệ mặt trời của nó được xem chỉ như một dãy trong một Thượng đế lớn hơn thất phân, thì một số trong bảy hệ thống ấy có thể được xem là vi tế hơn hệ của chúng ta, và do đó là nơi cư ngụ của biểu hiện sự sống sau khi hệ mặt trời hữu hình hơn của chúng ta đã biến mất. |
|
39. What we are attempting to discern is whether and to what extent “inter-planetary spaces” are the same as “interplanetary spheres”. There seems to be a difference implied. “Spaces” are not necessarily “spheres”, and indeed, there are subtle “spheres” between known and manifested planets and solar systems. We do remember (TCF 1089) that DK speaking of Monads tarrying in “inter-planetary spaces”. Are such spaces upon or within “interplanetary spheres”? |
39. Điều chúng ta đang cố gắng phân biện là liệu và ở mức độ nào “các không gian liên hành tinh” có giống với “các khối cầu liên hành tinh” hay không. Dường như có một sự khác biệt được hàm ý. “Không gian” không nhất thiết là “khối cầu”, và quả thật, có những “khối cầu” vi tế giữa các hành tinh và hệ mặt trời đã biết và biểu hiện. Chúng ta nhớ rằng (TCF 1089) Chân sư DK có nói về các Chân thần lưu lại trong “các không gian liên hành tinh”. Những không gian ấy có ở trên hay trong “các khối cầu liên hành tinh” không? |
|
40. We should also consider that (just as there are planets which have not yet manifested tangibly or are in process of dissolution having relinquished their physical form) there are probably subtle Suns which have not manifested tangibly. We are told that 6/7ths of the Stellar Logoi are not in manifestation. Could the subtle spheres of which these great Beings are the Logoi be considered “intersystemic spheres”? |
40. Chúng ta cũng nên xét rằng (cũng như có những hành tinh chưa biểu hiện một cách hữu hình hoặc đang trong tiến trình tan rã sau khi đã từ bỏ hình tướng hồng trần của mình) có lẽ cũng có những Mặt Trời vi tế chưa biểu hiện một cách hữu hình. Chúng ta được cho biết rằng 6/7phần bảy của các Thượng đế Tinh Tú không ở trong biểu hiện. Liệu các khối cầu vi tế mà các Đại Hữu Thể này là các Thượng đế của chúng có thể được xem là “các khối cầu liên hệ thống” không? |
|
41. One simply remembers that “in my Fathers house there are many mansions…”. |
41. Người ta chỉ đơn giản nhớ rằng “trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở…”. |
|
There is also, the Wheel of a race, or the lesser cycle of incarnations— |
Cũng có Bánh Xe của một nhân loại, hay chu kỳ nhỏ hơn của các lần lâm phàm— |
|
42. These wheels are still considered to be the locus of monadic incarnations, within a lesser cycle. |
42. Những bánh xe này vẫn được xem là nơi chốn của các lần lâm phàm chân thần, trong một chu kỳ nhỏ hơn. |
|
forming a definite series—wherein the incarnating Monad cycles through a number of lives in a particular race. |
tạo thành một chuỗi xác định—trong đó Chân thần đang lâm phàm tuần hoàn qua một số đời sống trong một nhân loại đặc thù. |
|
43. The numbers involved are probably not left to chance, although the precise number must also be dependent upon the diligence of the Monad. |
43. Những con số liên quan có lẽ không bị phó mặc cho ngẫu nhiên, dù con số chính xác cũng phải tùy thuộc vào sự tinh tấn của Chân thần. |
|
44. In this way that we would have to think in terms of “sevens” and “threes” because in relation to root-races, the egoic expression of the Monad is definitely involved. |
44. Theo cách này, chúng ta sẽ phải suy nghĩ theo những “bộ bảy” và “bộ ba” bởi vì liên hệ với các giống dân gốc, biểu hiện chân ngã của Chân thần chắc chắn có liên quan. |
|
45. As well it is advisable to think in terms of “fours” and “sevens”, because when dealing with root-races, the personality is also definitely involved. |
45. Đồng thời cũng nên suy nghĩ theo những “bộ bốn” và “bộ bảy”, bởi vì khi bàn đến các giống dân gốc, phàm ngã cũng chắc chắn có liên quan. |
|
All these cycles of periodic manifestation are concerned primarily with the appearance, or the manifesting of the “sparks” upon one or other of the three planes in the three worlds, |
Tất cả những chu kỳ biểu hiện định kỳ này chủ yếu liên quan đến sự xuất hiện, hay sự biểu hiện của các “tia lửa” trên một hay một cõi khác trong ba cõi thấp, |
|
46. Such manifestation definitely involves egoic expression. |
46. Sự biểu hiện như thế chắc chắn bao hàm biểu hiện chân ngã. |
|
or in some part of the physical body of the planetary Logos. |
hay trong một phần nào đó của thể xác của Hành Tinh Thượng đế. |
|
47. These cycles and periods do not relate only to the appearance of the “spark” upon the systemic etheric-physical plane. The Monad can also appear on subtler planes and the appearance count as an ‘incarnation’. |
47. Những chu kỳ và thời kỳ này không chỉ liên hệ đến sự xuất hiện của “tia lửa” trên cõi dĩ thái-hồng trần của hệ thống. Chân thần cũng có thể xuất hiện trên những cõi vi tế hơn và sự xuất hiện ấy được tính là một “lần lâm phàm”. |
|
48. It would seem, however, that the three lower worlds are precisely the physical body of the Planetary Logos. Perhaps the higher mental plane should be excluded. |
48. Tuy nhiên, dường như ba cõi thấp chính là thể xác của Hành Tinh Thượng đế. Có lẽ cõi thượng trí nên được loại ra. |
|
49. We note the Tibetan’s use of the term “sparks” for “Monads”. |
49. Chúng ta lưu ý cách Chân sư Tây Tạng dùng thuật ngữ “các tia lửa” cho “các Chân thần”. |
|
The lesser cycles deal with this; the greater turning of the wheel concerns also the appearance, or flashing forth, of the sparks in the planetary or systemic etheric body, or on the four higher planes of our solar system. |
Các chu kỳ nhỏ hơn liên quan đến điều này; sự quay lớn hơn của bánh xe cũng liên quan đến sự xuất hiện, hay sự bùng phát, của các tia lửa trong thể dĩ thái hành tinh hay hệ thống, hoặc trên bốn cõi cao hơn của hệ mặt trời chúng ta. |
|
50. Of the cycles thus far mentioned, which can be designated as “lesser” and which “greater”? |
50. Trong các chu kỳ đã được nêu cho đến nay, những chu kỳ nào có thể được gọi là “nhỏ hơn” và những chu kỳ nào là “lớn hơn”? |
|
51. Manifestation through root-races and globes seem to be lesser. Manifestation through chains and planetary schemes seem greater. Certainly the solar systemic wheel and the cosmic monadic wheel are greater wheels and, no doubt, involve the cosmic etheric planes. |
51. Biểu hiện qua các giống dân gốc và các bầu hành tinh dường như là nhỏ hơn. Biểu hiện qua các dãy và các hệ hành tinh dường như là lớn hơn. Chắc chắn bánh xe hệ thống mặt trời và bánh xe vũ trụ chân thần là những bánh xe lớn hơn và hẳn nhiên có liên quan đến các cõi dĩ thái vũ trụ. |
|
52. We have to ask: “When, in the history of our planet (or any planet) or in the history of the solar system, did the Monads actually flash forth upon the cosmic etheric planes?” I think we will realize that this type of information is not given explicitly in our texts. In fact, it is barely hinted. |
52. Chúng ta phải hỏi: “Khi nào, trong lịch sử hành tinh của chúng ta (hay bất kỳ hành tinh nào) hoặc trong lịch sử của hệ mặt trời, các Chân thần thực sự bùng phát trên các cõi dĩ thái vũ trụ?” Tôi nghĩ chúng ta sẽ nhận ra rằng loại thông tin này không được nêu minh nhiên trong các văn bản của chúng ta. Thật ra, nó hầu như chỉ được gợi ý. |
|
53. Further, we must question, whether the sparks “flashed forth” from the Solar Logos or from our Planetary Logos? Or, perhaps, they flashed forth from some Planetary Logos other than ours. We have every reason to believe that the Monads now contained within the planetary scheme of our Planetary Logos existed elsewhere in our solar system before our Planetary Logos took form. So many of them are said to come from other planets such as Vulcan, Venus or Jupiter—all sacred planets with sacred Planetary Logoi. |
53. Hơn nữa, chúng ta phải đặt câu hỏi liệu các tia lửa đã “bùng phát” từ Thái dương Thượng đế hay từ Hành Tinh Thượng đế của chúng ta? Hoặc có lẽ chúng đã bùng phát từ một Hành Tinh Thượng đế nào khác ngoài vị của chúng ta. Chúng ta có mọi lý do để tin rằng các Chân thần hiện nay được chứa trong hệ hành tinh của Hành Tinh Thượng đế chúng ta đã hiện hữu ở nơi khác trong hệ mặt trời của chúng ta trước khi Hành Tinh Thượng đế của chúng ta thành hình. Rất nhiều trong số chúng được nói là đến từ những hành tinh khác như Vulcan, Sao Kim hay Sao Mộc—tất cả đều là những hành tinh thiêng liêng với các Chân Linh Hành Tinh thiêng liêng. |
|
We can picture to ourselves the glory of this concept; the downpouring of the streams of fiery sparks; |
Chúng ta có thể hình dung cho mình vinh quang của khái niệm này; sự tuôn đổ xuống của những dòng tia lửa rực lửa; |
|
54. From whence did they come? From certain aspects of our Solar Logos? |
54. Chúng đến từ đâu? Từ những phương diện nào đó của Thái dương Thượng đế chúng ta chăng? |
|
55. The word “downpouring” suggests emanation from planes subtler than the cosmic ethers. |
55. Từ “tuôn đổ xuống” gợi ý sự xuất lộ từ những cõi vi tế hơn các cõi dĩ thái vũ trụ. |
|
their flashing forth into points of intensified fire |
sự bùng phát của chúng thành những điểm lửa được tăng cường |
|
56. We must ask: “What were the Monads before they flashed forth into points of intensified fire?” It appears that a fiery spark becomes a point of intensified fire. |
56. Chúng ta phải hỏi: “Các Chân thần là gì trước khi chúng bùng phát thành những điểm lửa được tăng cường?” Có vẻ như một tia lửa rực lửa trở thành một điểm lửa được tăng cường. |
|
57. At the very root of our spiritual being lies fire. |
57. Ngay nơi cội rễ của hữu thể tinh thần chúng ta có Lửa. |
|
as they meet conditions which produce occult “ignition”; |
khi chúng gặp những điều kiện tạo ra sự “bốc cháy” huyền bí; |
|
58. We have a situation much like that of a spaceship traveling at high speed entering the atmosphere of the Earth. Great heat is generated. |
58. Chúng ta có một tình huống rất giống với một phi thuyền du hành ở tốc độ cao đi vào bầu khí quyển của Trái Đất. Nhiệt lượng lớn được tạo ra. |
|
59. The “conditions” met presumably exist on the cosmic etheric planes. |
59. Những “điều kiện” được gặp phải có lẽ tồn tại trên các cõi dĩ thái vũ trụ. |
|
60. We are again coming to the question: “What is the true origin of the Monad—at least its origin within the solar system”? |
60. Chúng ta lại đang đi đến câu hỏi: “Nguồn gốc thực sự của Chân thần là gì—ít nhất là nguồn gốc của nó trong hệ mặt trời”? |
|
and the constant circulation of the forty-nine fires constructed of the sixty thousand million human Monads and the countless streams of deva monads: |
và sự tuần hoàn liên tục của bốn mươi chín ngọn lửa được cấu thành từ sáu mươi tỷ Chân thần nhân loại và vô số dòng Chân thần thiên thần: |
|
61. There are said to be 140 billion deva Monads in this our second major solar system. Presumably this does not include every minute devic life. |
61. Người ta nói rằng có 140 tỷ Chân thần thiên thần trong hệ mặt trời lớn thứ hai này của chúng ta. Có lẽ điều này không bao gồm mọi sự sống thiên thần cực vi. |
|
62. Just as there are lower kingdoms embraced by the human Monad, so there must be lower deva ‘kingdoms’ embraced by the true deva Monads. |
62. Cũng như có những giới thấp hơn được Chân thần nhân loại bao hàm, hẳn cũng phải có những “giới” thiên thần thấp hơn được các Chân thần thiên thần chân chính bao hàm. |
|
63. In our solar system there are 60 billion Monads. |
63. Trong hệ mặt trời của chúng ta có 60 tỷ Chân thần. |
|
64. What is interesting here is that the forty-nine fires are said to be “constructed of” these Monads and the deva Monads. |
64. Điều thú vị ở đây là bốn mươi chín ngọn lửa được nói là “được cấu thành từ” những Chân thần này và các Chân thần thiên thần. |
|
65. There are forty-nine “Sons of Fohat” (including the lesser “Sons”), forty-nine Ray Lives, and, perhaps, forty-nine “Spirits of Darkness”. It would seem that we should relate the 200 billion human and deva Monads to the “Spirits of Darkness”. In one significant respect the Monad dwells unrevealed and in darkness—until through the evolutionary process it is unveiled. |
65. Có bốn mươi chín “Con của Fohat” (kể cả những “Người Con” nhỏ hơn), bốn mươi chín Sự sống Cung, và có lẽ là bốn mươi chín “Thánh Linh của Bóng Tối”. Dường như chúng ta nên liên hệ 200 tỷ Chân thần nhân loại và thiên thần với các “Thánh Linh của Bóng Tối”. Ở một phương diện quan trọng, Chân thần cư ngụ trong trạng thái không được mặc khải và trong bóng tối—cho đến khi qua tiến trình tiến hoá nó được vén mở. |
|
fire on every side—a network of fiery rivers of living energy, focal points of intensified brilliancy and everywhere the sparks. |
lửa ở mọi phía—một mạng lưới những dòng sông lửa của năng lượng sống, những điểm hội tụ của sự rực sáng được tăng cường và khắp nơi là các tia lửa. |
|
66. Although the language is pictorial, chances are that it describes occult reality as perceived on the higher cosmic ethers. |
66. Dù ngôn ngữ mang tính hình ảnh, rất có thể nó mô tả thực tại huyền bí như được tri nhận trên các cõi dĩ thái vũ trụ cao hơn. |
|
67. It seems as if DK is describing Shamballa itself. |
67. Dường như Chân sư DK đang mô tả chính Shamballa. |
|
68. There also seems to be a difference between “sparks” and ‘ignited sparks’—sparks which have become “points of intensified brilliancy”. |
68. Dường như cũng có một sự khác biệt giữa “các tia lửa” và các “tia lửa đã bốc cháy”—những tia lửa đã trở thành “những điểm rực sáng được tăng cường”. |
|
69. It would seem that the “sparks” exist on planes higher than the cosmic physical plane. |
69. Dường như các “tia lửa” hiện hữu trên những cõi cao hơn cõi hồng trần vũ trụ. |
|
There are a few more remarks to be made anent the turning of the various wheels, and we can then take up the consideration of motion and the sheaths. |
Còn một vài nhận xét nữa cần được đưa ra liên quan đến sự quay của các bánh xe khác nhau, rồi sau đó chúng ta có thể bắt đầu xem xét chuyển động và các thể. |
|
70. We are definitely dealing with technical matters touching on the Spirit of man. If the functioning of the egoic lotus is obscure to the mind of man, we are dealing with processes far more obscure and deeply recessed. |
70. Chúng ta chắc chắn đang bàn đến những vấn đề kỹ thuật chạm đến tinh thần của con người. Nếu sự vận hành của Hoa Sen Chân Ngã còn mơ hồ đối với trí tuệ con người, thì chúng ta đang bàn đến những tiến trình còn mơ hồ hơn nhiều và ẩn sâu hơn nhiều. |
|
Within all those wheels which we have enumerated, are many lesser wheels all governed by the same laws, actuated by the same three forms of activity, and all (in their totality) forming one great whole. |
Trong tất cả những bánh xe mà chúng ta đã liệt kê, có nhiều bánh xe nhỏ hơn đều được chi phối bởi cùng những định luật, được thúc đẩy bởi cùng ba hình thức hoạt động, và tất cả (trong tính toàn thể của chúng) tạo thành một đại toàn thể. |
|
71. The vision is one of “wheels within wheels” It is in examining these relationships that the Law of Analogy is indispensable. We can see that we are being given only faint indications of profound cyclic relationships. What is important is that we grasp the general picture. The details are left for apprehension by the intuition or for conferral during initiation. |
71. Linh ảnh ở đây là “những bánh xe trong các bánh xe”. Chính khi khảo sát những mối liên hệ này mà định luật tương đồng là điều không thể thiếu. Chúng ta có thể thấy rằng chúng ta chỉ đang được ban cho những chỉ dẫn rất mờ nhạt về những mối liên hệ chu kỳ sâu xa. Điều quan trọng là chúng ta nắm được bức tranh tổng quát. Các chi tiết được để lại cho trực giác lĩnh hội hoặc để được truyền dạy trong khi điểm đạo. |
|
72. What we learn is that there are many wheels which are not discussed in the treatment here presented by the Tibetan. |
72. Điều chúng ta học được là có nhiều bánh xe không được bàn đến trong phần trình bày ở đây của Chân sư Tây Tạng. |
|
73. If we learn something about the Monad and its “wheels”, the same can be applied to the Universal Wheel and to the various cosmic and systemic wheels. |
73. Nếu chúng ta học được điều gì đó về Chân thần và các “bánh xe” của nó, thì điều ấy cũng có thể được áp dụng cho Bánh Xe Vũ Trụ và cho các bánh xe vũ trụ và hệ thống khác nhau. |
|
It will be apparent [Page 1094] to all conscientious students |
Điều đó sẽ hiển nhiên [Page 1094] đối với mọi đạo sinh tận tâm |
|
74. Exactly what are Master DK’s requirements for being “conscientious students”? |
74. Chính xác thì những yêu cầu của Chân sư DK để trở thành “đạo sinh tận tâm” là gì? |
|
that the founders of the symbolical method managed to convey in the symbol of the wheel an idea of the triplicity of all atomic activity: |
rằng những người sáng lập phương pháp biểu tượng đã thành công trong việc truyền đạt, trong biểu tượng của bánh xe, một ý niệm về tính tam phân của mọi hoạt động nguyên tử: |
|
a. The central point of active the hub |
a. Điểm trung tâm của mãnh lực tích cực trục bánh xe |
|
positive force |
dương tính |
|
75. This is the first ray aspect of the wheel. |
75. Đây là phương diện cung một của bánh xe. |
|
b. The negative stream of life the radiating spokes. |
b. Dòng sự sống âm tính các nan hoa tỏa ra. |
|
76. The radius is the “relation between” and thus suggests the function of the second ray. |
76. Bán kính là “mối liên hệ giữa” và do đó gợi ra chức năng của cung hai. |
|
77. There comes a time when the wheel spins so fast that all semblance of spokes disappears. Only the center and the periphery remain visible. |
77. Có lúc bánh xe quay nhanh đến mức mọi dáng vẻ của các nan hoa đều biến mất. Chỉ còn tâm điểm và chu vi là vẫn thấy được. |
|
78. It seems strange that DK should call the radiating spokes “negative stream(s) of life”. One would think that negativity would be assigned to the lives upon the periphery and an equilibrizing function to the radii. |
78. Có vẻ lạ khi Chân sư DK gọi các nan hoa phát xạ là “những dòng sự sống âm”. Người ta hẳn sẽ nghĩ rằng tính âm phải được gán cho các sự sống ở chu vi, còn các bán kính thì giữ một chức năng quân bình. |
|
c. The sphere of activity itself, the circumference of the wheel. |
c. Chính khối cầu hoạt động, chu vi của bánh xe. |
|
the effect of the interplay of these two |
kết quả của sự tương tác giữa hai điều này |
|
79. The periphery suggests the third ray. |
79. Chu vi gợi ý cung ba. |
|
If the student can picture those wheels in activity, if he can visualise all parts of the wheel as composed of lesser living wheels, and if he can work into his picture a hint of the interplay of all these fiery essences, coloured with certain predominant hues, he will become aware of conditions, and see before him a picture which is ever apparent to the illuminated seer. |
Nếu đạo sinh có thể hình dung những bánh xe ấy đang hoạt động, nếu y có thể hình dung mọi phần của bánh xe đều được cấu thành bởi những bánh xe sống nhỏ hơn, và nếu y có thể đưa vào bức hình của mình một gợi ý về sự tương tác của tất cả các tinh chất lửa này, được nhuốm bởi những sắc thái trội hơn nào đó, thì y sẽ nhận biết được các điều kiện, và thấy trước mắt mình một bức hình luôn luôn hiển hiện đối với nhà thông nhãn được soi sáng. |
|
80. Master DK is trying to help us bridge towards seership. We understand that it is difficult for Him to describe exactly what He sees, but He has given us a visualization exercise which we can attempt with profit. |
80. Chân sư DK đang cố giúp chúng ta bắt cầu hướng tới thông nhãn. Chúng ta hiểu rằng Ngài khó có thể mô tả chính xác điều Ngài thấy, nhưng Ngài đã trao cho chúng ta một bài tập hình dung mà chúng ta có thể thực hành một cách hữu ích. |
|
81. It is interesting to consider that the parts of a greater wheel are wheels themselves— lesser wheels. |
81. Thật thú vị khi suy xét rằng các phần của một bánh xe lớn hơn tự chúng cũng là những bánh xe— những bánh xe nhỏ hơn. |
|
82. We have seen that there are many names for a Monad– atoms, units, points, flames, sparks, sons, sparks. To this list we should add the word “essence”. |
82. Chúng ta đã thấy rằng có nhiều tên gọi dành cho một chân thần—nguyên tử, đơn vị, điểm, ngọn lửa, tia lửa, các con, tia lửa. Vào danh sách này, chúng ta nên thêm từ “tinh chất”. |
|
If, before doing this, he can vision the whole of the systemic wheel as in a constant state of circulation, in which the tiny lesser lives |
Nếu trước khi làm điều này, y có thể linh thị toàn thể bánh xe hệ thống đang ở trong một trạng thái tuần hoàn không ngừng, trong đó các sự sống nhỏ bé hơn li ti |
|
83. Exactly what does DK mean by “the tiny lesser lives”? Does He mean Monads, or, in fact, monadic essence or elemental essence? |
83. Chính xác thì Chân sư DK muốn nói gì qua cụm “các sự sống nhỏ bé hơn li ti”? Ngài có muốn nói đến các chân thần, hay thật ra là tinh chất chân thần hoặc Tinh chất hành khí? |
|
are impelled by the force of the central solar life to pass throughout the extent of the wheel so that they come in contact with all parts of the wheel, |
được mãnh lực của sự sống thái dương trung tâm thúc đẩy để đi xuyên suốt toàn bộ phạm vi của bánh xe để chúng tiếp xúc với mọi phần của bánh xe, |
|
84. This is a very important thought. Just as the Monad passes through all globes in a chain, is DK telling us that the Monad (relatively a “lesser life”) comes in contact with all aspects of the solar system. Or does He mean that lives still lesser do so? It is the Solar Logos which impels the Monad and possibly a host of lesser lives towards this type of ‘systemic familiarity’. |
84. Đây là một tư tưởng rất quan trọng. Cũng như chân thần đi qua mọi bầu hành tinh trong một Dãy, phải chăng Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng chân thần (tương đối là một “sự sống nhỏ hơn”) tiếp xúc với mọi phương diện của hệ mặt trời? Hay Ngài muốn nói rằng những sự sống còn nhỏ hơn nữa làm như vậy? Chính Thái dương Thượng đế là Đấng thúc đẩy chân thần và có thể cả một đạo quân những sự sống nhỏ hơn hướng tới loại “sự quen thuộc có tính hệ thống” này. |
|
85. One would wonder how such a thoroughgoing circulation of the Monad and other lesser lives could be engineered. |
85. Người ta hẳn sẽ tự hỏi làm sao một sự tuần hoàn triệt để như thế của chân thần và các sự sống nhỏ hơn khác có thể được tổ chức. |
|
and are impressed by all the varying types of “power-substance,” |
và bị ghi dấu bởi mọi loại “chất liệu-quyền năng” khác nhau, |
|
86. Here is a new name for the substances which are encountered throughout the solar system—“power-substance(s)”. |
86. Đây là một tên gọi mới cho các chất liệu được gặp khắp hệ mặt trời—“chất liệu-quyền năng”. |
|
then the general nature of the method can be somewhat ascertained. |
thì bản chất tổng quát của phương pháp có thể phần nào được xác định. |
|
87. The vision is one of complete circulation and synthesis. The vision overcomes entirely the static tendencies of mind—the mind which is “narrow, set, one-pointed, not inclusive” (EP II 372). |
87. Linh ảnh này là linh ảnh của sự tuần hoàn và tổng hợp hoàn toàn. Linh ảnh ấy hoàn toàn vượt thắng các khuynh hướng tĩnh tại của trí tuệ—trí tuệ vốn “hẹp, cố định, nhất tâm, không bao gồm” (EP II 372). |
|
We use the term “motion,” but what do we really mean? Simply, and literally, the manifestation of the energy generated through the bringing together of certain aspects of energy, and the triple result thereby produced; |
Chúng ta dùng từ “chuyển động”, nhưng thật sự chúng ta muốn nói gì? Đơn giản, và theo nghĩa đen, đó là sự biểu hiện của năng lượng được tạo ra qua việc đưa một số phương diện năng lượng lại với nhau, và kết quả tam phân nhờ đó được tạo ra; |
|
88. “Motion” then, is the “manifestation of energy” |
88. Vậy thì “chuyển động” là “sự biểu hiện của năng lượng” |
|
the activities resulting from this stream of dynamic electrical energy, emanating from some centre, which sweeps into response all that it contacts, and which holds the responsive units in some form or another. |
những hoạt động phát sinh từ dòng năng lượng điện động lực này, phát ra từ một trung tâm nào đó, dòng năng lượng ấy cuốn mọi sự mà nó tiếp xúc vào sự đáp ứng và giữ các đơn vị đáp ứng trong một hình tướng nào đó. |
|
89. “Motion” is one of those words which is difficult to define. It always involves the idea of number, relativity and change of ‘position’. |
89. “Chuyển động” là một trong những từ khó định nghĩa. Nó luôn bao hàm ý niệm về số lượng, tính tương đối và sự thay đổi “vị trí”. |
|
90. When certain aspects of energy are brought together, that which we call “motion” appears. |
90. Khi một số phương diện năng lượng được đưa lại với nhau, điều mà chúng ta gọi là “chuyển động” xuất hiện. |
|
91. The first and third aspects of divinity are definitely related, for it is the dynamic impulsion of the first ray which sweeps all into activity. |
91. Phương diện thứ nhất và thứ ba của thiên tính rõ ràng có liên hệ với nhau, vì chính xung lực động của cung một cuốn mọi sự vào hoạt động. |
|
92. The first aspect of divinity activates and holds. It is thus responsible for the ignition of both the third and second aspects. |
92. Phương diện thứ nhất của thiên tính kích hoạt và giữ. Vì thế nó chịu trách nhiệm cho sự bốc cháy của cả phương diện thứ ba lẫn thứ hai. |
|
From the occult standpoint, all that manifests is spheroidal in form, |
Theo quan điểm huyền bí học, mọi điều biểu hiện đều có hình cầu, |
|
93. Manifestation occurs not only on the systemic dense physical plane, but on subtler planes. On the subtler planes (planes which are not the densest planes), the form of manifestation is spherical. On the dense physical plane, this is not the case, or far less frequently. |
93. Sự biểu hiện không chỉ xảy ra trên cõi hồng trần đậm đặc có tính hệ thống, mà còn trên các cõi vi tế hơn. Trên các cõi vi tế hơn (những cõi không phải là các cõi đậm đặc nhất), hình thức biểu hiện là hình cầu. Trên cõi hồng trần đậm đặc, điều này không đúng, hoặc đúng ít thường xuyên hơn nhiều. |
|
and is appropriately called a wheel, yet (in dense physical manifestation) the forms are diverse, and many, and unless etheric vision is present, the spheroidal forms of all lives are not apparent. |
và được gọi một cách thích hợp là một bánh xe, tuy nhiên (trong biểu hiện hồng trần đậm đặc) các hình tướng thì đa dạng, và nhiều, và trừ phi có linh thị dĩ thái, các hình cầu của mọi sự sống sẽ không hiển lộ. |
|
94. Is DK suggesting that the etheric body of all dense physical forms is spherical? This does not seem to be precisely so in the case of the etheric body of man. |
94. Phải chăng Chân sư DK đang gợi ý rằng thể dĩ thái của mọi hình tướng hồng trần đậm đặc đều có dạng hình cầu? Điều này dường như không hoàn toàn đúng trong trường hợp thể dĩ thái của con người. |
|
95. It can be said, however, that the etheric forms tend far more to sphericity than to the dense physical forms. |
95. Tuy nhiên, có thể nói rằng các hình tướng dĩ thái có khuynh hướng tiến gần đến tính cầu hơn nhiều so với các hình tướng hồng trần đậm đặc. |
|
How can this [Page 1095] be explained? There are three major reasons for this illusion, and these we might here touch upon, finding in the word “illusion”15 the key to the mystery. |
Điều này [Page 1095] có thể được giải thích như thế nào? Có ba lý do chính cho ảo tưởng này, và ở đây chúng ta có thể chạm đến chúng, tìm thấy trong từ “ảo tưởng”15 chìa khóa của huyền nhiệm. |
|
96. Let us see what DK means by “illusion” in this context. Is He speaking of the ‘illusion of non-sphericity’ which occurs upon the dense physical plane? |
96. Hãy xem Chân sư DK muốn nói gì qua từ “ảo tưởng” trong ngữ cảnh này. Phải chăng Ngài đang nói về “ảo tưởng của tính không hình cầu” xảy ra trên cõi hồng trần đậm đặc? |
|
Footnote 15: |
Cước chú 15: |
|
Maya or Illusion. The word Maya is one which has to be properly understood by you in order that you may catch the spirit of the ancient philosophy. The derivation that is given for the word is Ma + Ya or not that. Maya is therefore a power that makes a thing appear as what it is not, or a power of illusion that arises out of limitation in the ancient concept of a true unity periodically appearing as multiplicity by the power of Maya that coexists with that unity. |
Maya hay Ảo tưởng. Từ Maya là một từ mà bạn phải hiểu cho đúng để có thể nắm bắt tinh thần của triết học cổ xưa. Từ nguyên được đưa ra cho từ này là Ma + Ya hay không phải cái đó. Vì vậy, Maya là một quyền năng khiến một vật xuất hiện như cái mà nó không phải là, hay một quyền năng của ảo tưởng phát sinh từ sự giới hạn trong quan niệm cổ xưa về một hợp nhất chân thực định kỳ xuất hiện như tính đa tạp nhờ quyền năng của Maya cùng đồng tồn tại với hợp nhất ấy. |
|
97. Dense physical forms are definitely maya. These forms are not what they appear to be. The spherical reality lies within. All of the inner vehicles either demonstrate or approximate sphericity. These vehicles are still a maya in a certain sense but are not so dense a maya at that which appears on the dense physical plane. |
97. Các hình tướng hồng trần đậm đặc chắc chắn là ảo lực. Những hình tướng này không phải là điều chúng có vẻ như vậy. Thực tại hình cầu nằm bên trong. Tất cả các vận cụ bên trong hoặc biểu lộ hoặc xấp xỉ tính cầu. Các vận cụ này, theo một nghĩa nào đó, vẫn là ảo lực nhưng không phải là một ảo lực đậm đặc như điều xuất hiện trên cõi hồng trần đậm đặc. |
|
We have been told in connection with the dense physical body that it is not considered a principle and is not (in this second solar system) expressing those qualities which are characteristic of the solar Logos and His present incarnation. |
Chúng ta đã được bảo, liên quan đến thể xác hồng trần đậm đặc, rằng nó không được xem là một nguyên khí và không phải (trong hệ mặt trời thứ hai này) đang biểu lộ những phẩm tính vốn là đặc trưng của Thái dương Thượng đế và lần lâm phàm hiện tại của Ngài. |
|
98. The hint or implication is that in the previous solar system, the dense physical body did express those qualities which were characteristic of the Solar Logos in that system. In other words, in that system, the dense physical body was a principle. |
98. Gợi ý hay hàm ý ở đây là trong hệ mặt trời trước, thể xác hồng trần đậm đặc quả thật có biểu lộ những phẩm tính vốn là đặc trưng của Thái dương Thượng đế trong hệ ấy. Nói cách khác, trong hệ ấy, thể xác hồng trần đậm đặc đã là một nguyên khí. |
|
99. A principle is that which expresses a fundamental, inherent aspect or quality of a generating life. For instance, atma, buddhi and manas are all inherent within the generating life we call the Monad. |
99. Một nguyên khí là điều biểu lộ một phương diện hay phẩm tính căn bản, cố hữu của một sự sống sinh thành. Chẳng hạn, atma, Bồ đề và manas đều cố hữu bên trong sự sống sinh thành mà chúng ta gọi là chân thần. |
|
We are told, further, that the grosser dense forms of substance, all that is objective and tangible upon the physical plane, are vibrating to a key which is characteristic of the preceding system, being a left-over (if so it might be expressed) of an earlier kalpa. |
Hơn nữa, chúng ta được bảo rằng những hình tướng chất liệu hồng trần đậm đặc thô nặng hơn, mọi điều khách quan và sờ chạm được trên cõi hồng trần, đều đang rung động theo một chủ âm vốn là đặc trưng của hệ trước, là phần còn sót lại (nếu có thể diễn đạt như vậy) của một đại kiếp trước. |
|
100. Note here that when DK uses the word “kalpa” in this context, He definitely means mahakalpa. If terms like “kalpa” and “mahakalpa” can be used interchangeably we have to be vigilant. |
100. Hãy lưu ý ở đây rằng khi Chân sư DK dùng từ “kalpa” trong ngữ cảnh này, Ngài chắc chắn muốn nói mahakalpa. Nếu những từ như “kalpa” và “mahakalpa” có thể được dùng thay thế cho nhau, chúng ta phải cảnh giác. |
|
101. The word “key” is important for its musical reference. The musical key of the previous solar system was FA—the note F, the green note. DK seems to be saying that all dense physical matter is vibrating to the note FA. |
101. Từ “chủ âm” quan trọng vì liên hệ âm nhạc của nó. điệu thức âm nhạc của hệ mặt trời trước là FA—nốt F, nốt xanh lục. Chân sư DK dường như đang nói rằng mọi vật chất hồng trần đậm đặc đều đang rung động theo nốt FA. |
|
These two points must be carefully borne in mind and latitude allowed for them, when endeavouring to express the truth anent motion. |
Hai điểm này phải được ghi nhớ cẩn thận và phải dành chỗ cho chúng, khi cố gắng diễn đạt chân lý liên quan đến chuyển động. |
|
102. The main illusion with which we are confronted is that motion, as it appears on the inner planes does not appear on the dense physical plane—unless to clairvoyant vision. |
102. Ảo tưởng chính mà chúng ta đang đối diện là chuyển động, như nó xuất hiện trên các cõi bên trong, lại không xuất hiện trên cõi hồng trần đậm đặc—trừ đối với linh thị thông nhãn. |
|
103. The motion characteristic of the second major solar system second major solar system inclines towards sphericity. This seems not to be the case with motion characteristic of the previous solar system. |
103. Chuyển động đặc trưng của hệ mặt trời lớn thứ hai nghiêng về tính cầu. Điều này dường như không đúng với chuyển động đặc trưng của hệ mặt trời trước. |
|
104. In general, different divine aspects produce different kinds of motion. |
104. Nói chung, các phương diện thiêng liêng khác nhau tạo ra những loại chuyển động khác nhau. |
|
Therefore, a number of the atoms of matter are as yet governed by an internal life which has for its main, distinctive feature, the faculty of a much closer adhesion, and a decisiveness of grouping that is inherently characteristic of the present body of manifestation of the solar system. |
Do đó, một số nguyên tử của vật chất cho đến nay vẫn bị chi phối bởi một sự sống bên trong mà đặc điểm chính, nổi bật của nó là năng lực bám dính chặt chẽ hơn nhiều, và một tính quyết định trong sự kết nhóm vốn là đặc trưng cố hữu của thể biểu hiện hiện tại của hệ mặt trời. |
|
105. In these words Master DK is accounting for the type of density which is characteristic of the systemic dense physical plane. |
105. Trong những lời này, Chân sư DK đang giải thích loại đậm đặc vốn là đặc trưng của cõi hồng trần đậm đặc có tính hệ thống. |
|
106. The type of adhesion and group characteristic of the second major solar system is much less dense, much looser. |
106. Loại bám dính và kết nhóm đặc trưng của hệ mặt trời lớn thứ hai thì kém đậm đặc hơn nhiều, lỏng hơn nhiều. |
|
107. The adhesion involved could also be seen as applying to all subplanes within the dense physical body of the Planetary Logos and even of the Solar Logos. |
107. Sự bám dính liên hệ ở đây cũng có thể được xem là áp dụng cho mọi cõi phụ bên trong thể hồng trần đậm đặc của Đức Hành Tinh Thượng Đế và ngay cả của Thái dương Thượng đế. |
|
108. There is an implication here: motion induced by the third ray inclines to much greater adhesiveness and density than motion induced by the second ray. |
108. Ở đây có một hàm ý: chuyển động do cung ba gây ra nghiêng về tính bám dính và đậm đặc lớn hơn nhiều so với chuyển động do cung hai gây ra. |
|
109. As we respond increasingly to the second ray rather than the third we move towards the etherealization of those forms which have been produced by the life of the third ray. |
109. Khi chúng ta ngày càng đáp ứng với cung hai hơn là cung ba, chúng ta tiến về sự dĩ thái hóa những hình tướng đã được tạo ra bởi sự sống của cung ba. |
|
110. From another perspective, we are speaking about the overcoming of materialism. |
110. Từ một góc nhìn khác, chúng ta đang nói về việc vượt thắng chủ nghĩa duy vật. |
|
We must remember when considering this, that all that is dense and gross in all forms, concerns only those forms on the three lower subplanes of the lowest systemic planes; |
Chúng ta phải nhớ khi xem xét điều này rằng mọi điều đậm đặc và thô nặng trong mọi hình tướng chỉ liên quan đến những hình tướng trên ba cõi phụ thấp của các cõi thấp nhất có tính hệ thống; |
|
111. These three subplanes represent the greatest density on the cosmic physical plane. We are speaking of the systemic gaseous, liquid and dense subplanes. |
111. Ba cõi phụ này biểu hiện mức độ đậm đặc lớn nhất trên cõi hồng trần vũ trụ. Chúng ta đang nói đến các cõi phụ khí, lỏng và đậm đặc có tính hệ thống. |
|
112. It should be remembered, however, that there is much to relate to the lower eighteen subplanes of our cosmic physical plane to the energy of the previous solar system, and that, relatively, these eighteen subplanes are dense. |
112. Tuy nhiên, cũng nên nhớ rằng có nhiều điều liên hệ mười tám cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ của chúng ta với năng lượng của hệ mặt trời trước, và rằng, một cách tương đối, mười tám cõi phụ này là đậm đặc. |
|
113. The influence of the principles of the second major solar system really begins upon the cosmic ethers, though this influence makes its way, to a degree, into the dense physical body of the Solar Logos and appears as the lower principles of man. |
113. Ảnh hưởng của các nguyên khí của hệ mặt trời lớn thứ hai thật sự bắt đầu trên các dĩ thái vũ trụ, dù ảnh hưởng này vẫn đi vào, ở một mức độ nào đó, thể hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế và xuất hiện như các nguyên khí thấp của con người. |
|
the forms are constructed of matter of all the planes, but the percentage of gross matter is as we can plainly see but small. |
các hình tướng được cấu tạo từ vật chất của mọi cõi, nhưng như chúng ta có thể thấy rõ, tỷ lệ vật chất thô nặng chỉ là nhỏ. |
|
114. That which is to be redeemed is, proportionally, small, yet very resistant to the principles of the second major solar system. |
114. Điều cần được cứu chuộc, xét theo tỷ lệ, là nhỏ, nhưng lại rất kháng cự đối với các nguyên khí của hệ mặt trời lớn thứ hai. |
|
Interaction for the mineral monad exists, and completely negatives the vibration of the three lower subplanes of the physical plane; it passes eventually into forms which are more closely allied to the “true form.” |
Sự tương tác đối với chân thần khoáng vật có tồn tại, và hoàn toàn phủ định rung động của ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần; cuối cùng nó đi vào những hình tướng gần gũi hơn với “chân hình”. |
|
115. DK seems to be hinting one of two contrasting possibilities: |
115. Chân sư DK dường như đang gợi ra một trong hai khả năng tương phản: |
|
a. That the mineral monad is ascendant over the vibration of the three lower subplanes of the systemic physical plane. In this case the mineral monad is an aspect of the principles of this solar system, and must overcome the very lowest vibrations of the systemic physical plane. |
a. Rằng chân thần khoáng vật đang trội hơn rung động của ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần có tính hệ thống. Trong trường hợp này, chân thần khoáng vật là một phương diện của các nguyên khí của hệ mặt trời này, và phải vượt thắng những rung động thấp nhất của cõi hồng trần có tính hệ thống. |
|
b. That the mineral monad is so atavistic that it negates the vibration which would normally be expressed upon the lowest dense physical subplanes. |
b. Rằng chân thần khoáng vật mang tính thoái tổ mạnh đến mức nó phủ định rung động vốn bình thường sẽ được biểu lộ trên các cõi phụ hồng trần đậm đặc thấp nhất. |
|
116. Passing into forms which are more closely allied to “true form” is accomplished through radioactivity. For the mineral monad, ascent into “true form” means an engagement with the principles of the second solar system. |
116. Việc đi vào những hình tướng gần gũi hơn với “chân hình” được thực hiện qua phóng xạ. Đối với chân thần khoáng vật, sự đi lên vào “chân hình” có nghĩa là dấn thân vào các nguyên khí của hệ mặt trời thứ hai. |
|
The mineral monad has a problem slightly at variance with that of the other kingdoms, for it is specifically an [Page 1096] expression of the lives which were classed as the failures of a previous solar system, |
Chân thần khoáng vật có một vấn đề hơi khác với các giới khác, vì nó đặc biệt là một [Page 1096] biểu hiện của những sự sống từng được xếp vào loại thất bại của một hệ mặt trời trước, |
|
117. There are different kinds of failures. Some human beings existing in the first solar system were classified as “failures”. The lives associated with the mineral monad are the lowest forms of failures from that system. |
117. Có nhiều loại thất bại khác nhau. Một số con người hiện hữu trong hệ mặt trời thứ nhất đã được xếp loại là “thất bại”. Những sự sống gắn với chân thần khoáng vật là những dạng thất bại thấp nhất từ hệ ấy. |
|
and which were doomed to immerse themselves in the forms of the mineral kingdom. |
và đã bị định phải dìm mình vào các hình tướng của giới kim thạch. |
|
118. The word “doomed” is powerful. |
118. Từ “bị định phải” rất mạnh. |
|
119. These lives were “unprincipled” in terms of second solar system principles. |
119. Những sự sống này là “không có nguyên khí” xét theo các nguyên khí của hệ mặt trời thứ hai. |
|
120. It must be remembered that man, too, is, relatively, a ‘mineral’ (eventually a “living stone”). The kind of liberation which the mineral monad achieves applies to the liberation of man on a higher turn of the spiral. |
120. Cần nhớ rằng con người cũng vậy, một cách tương đối, là một “khoáng vật” (cuối cùng là một “viên đá sống”). Loại giải thoát mà chân thần khoáng vật đạt được cũng áp dụng cho sự giải thoát của con người ở một vòng xoắn cao hơn. |
|
Liberation for man comes when he succeeds in freeing himself from the vibration of the three lower planes of our solar system, from that part of the logoic manifestation which constitutes His dense body, and which He does not therefore regard as a principle. |
Sự giải thoát cho con người đến khi y thành công trong việc giải phóng mình khỏi rung động của ba cõi thấp của hệ mặt trời chúng ta, khỏi phần biểu hiện của Thượng đế mà cấu thành thể đậm đặc của Ngài, và vì vậy Ngài không xem đó là một nguyên khí. |
|
121. So we see the parallel here between liberation of the mineral monad and liberation for man. Both are involved with liberation from three lower subplanes. In the case of the mineral monad, the subplanes are systemic. In the case of man, the subplanes are cosmic. |
121. Vì vậy chúng ta thấy sự song hành ở đây giữa sự giải thoát của chân thần khoáng vật và sự giải thoát của con người. Cả hai đều liên quan đến sự giải thoát khỏi ba cõi phụ thấp. Trong trường hợp chân thần khoáng vật, các cõi phụ ấy là có tính hệ thống. Trong trường hợp con người, các cõi phụ ấy là vũ trụ. |
|
It will, consequently, be apparent that there is a correspondence worthy of study to be found in the relation between the mineral monad, a human being, and a solar Logos. |
Do đó, sẽ hiển nhiên rằng có một sự tương ứng đáng để nghiên cứu trong mối liên hệ giữa chân thần khoáng vật, một con người, và một Thái dương Thượng đế. |
|
122. And does the Solar Logos have to do the same. Is the Solar Logos confined to the three lowest super-cosmic subplanes? Is the Solar Logos, too, a “mineral”? He has been compared to a “crystal” when measured against certain Lives of huge scope. |
122. Và Thái dương Thượng đế có phải cũng phải làm điều tương tự không? Phải chăng Thái dương Thượng đế bị giới hạn trong ba cõi phụ siêu-vũ-trụ thấp nhất? Phải chăng Thái dương Thượng đế cũng là một “khoáng vật”? Ngài đã từng được so sánh với một “tinh thể” khi được đo lường với một số Sự Sống có tầm mức vô cùng lớn. |
|
123. From this perspective, the vegetable is already liberated; the Solar Angels are liberated: and perhaps a Solar Logos like the Logos of Sirius is already liberated from the subplanes in question. |
123. Từ góc nhìn này, giới thực vật đã được giải thoát; các Thái dương Thiên Thần đã được giải thoát; và có lẽ một Thái dương Thượng đế như Thượng đế của Sirius đã được giải thoát khỏi các cõi phụ đang được nói đến. |
|
Viewing these three as an esoteric triplicity much light may be gained by meditation upon them as |
Khi xem ba điều này như một bộ ba huyền bí, nhiều ánh sáng có thể đạt được bằng cách tham thiền về chúng như là |
|
a. The residual vibration of system 1, |
a. rung động tồn dư của hệ 1, |
|
124. This concerns the mineral monad. |
124. Điều này liên quan đến chân thần khoáng vật. |
|
b. The medial point of activity of system 2, |
b. điểm hoạt động trung gian của hệ 2, |
|
125. This is a form of transitional, transmutative activity found presently in the second solar system. |
125. Đây là một dạng hoạt động chuyển tiếp, chuyển hoá hiện đang có trong hệ mặt trời thứ hai. |
|
126. An interesting way of thinking of man is as the “medial point of activity” between System One and System Two. |
126. Một cách suy nghĩ thú vị về con người là xem y như “điểm hoạt động trung gian” giữa Hệ Một và Hệ Hai. |
|
c. The subjective energy of the present system. |
c. năng lượng chủ quan của hệ hiện tại. |
|
127. Truly subjective energy in the second solar system is found upon the cosmic mental plane, but a lower expression of this is found upon the cosmic etheric planes. |
127. Năng lượng chủ quan đích thực trong hệ mặt trời thứ hai được tìm thấy trên cõi trí vũ trụ, nhưng một biểu hiện thấp hơn của nó được tìm thấy trên các cõi dĩ thái vũ trụ. |
|
128. The consciousness of the Solar Logos is the true subjective energy of the present solar system. |
128. Tâm thức của Thái dương Thượng đế là năng lượng chủ quan đích thực của hệ mặt trời hiện tại. |
|
In the comprehension of this, and in the realisation that there are forces present in nature which are in the nature of left-overs, |
Trong sự thấu hiểu điều này, và trong sự chứng nghiệm rằng có những mãnh lực hiện diện trong bản chất vốn mang tính những phần còn sót lại, |
|
129. And, thus, the karma…The frictional collision between the forces of the previous solar system and those of the present system. |
129. Và như thế là nghiệp quả… sự va chạm ma sát giữa các mãnh lực của hệ mặt trời trước và các mãnh lực của hệ hiện tại. |
|
130. There are, as well, in every human being forces present “which are in the nature of left-overs”. Can we detect these within our energy system? |
130. Trong mỗi con người cũng có những mãnh lực hiện diện “mang tính những phần còn sót lại”. Chúng ta có thể nhận ra chúng trong hệ thống năng lượng của mình không? |
|
we have the clue to much of the puzzling side of manifestation, to the cruelty and death, the suffering, and the agony which are seen in the vegetable and animal kingdoms. |
chúng ta có được đầu mối để hiểu nhiều phương diện khó giải thích của sự biểu hiện, của sự tàn nhẫn và cái chết, của đau khổ và thống khổ được thấy trong giới thực vật và giới động vật. |
|
131. DK did not mention the mineral kingdom, but often, under the hand of man, suffering is brought to the vegetable kingdom and the animal kingdom via the mineral kingdom. |
131. Chân sư DK không nhắc đến giới kim thạch, nhưng thường thì dưới bàn tay con người, đau khổ được mang đến cho giới thực vật và giới động vật qua giới kim thạch. |
|
132. The cruelty and suffering are apparently an attempt to change the energy structure of the “left-overs”. |
132. Sự tàn nhẫn và đau khổ rõ ràng là một nỗ lực nhằm thay đổi cấu trúc năng lượng của những “phần còn sót lại”. |
|
133. Such suffering gives man the incentive to cooperate with the desirable change. |
133. Nỗi đau khổ như thế đem lại cho con người động lực để hợp tác với sự thay đổi đáng mong muốn. |
|
In the term animal kingdom I include man’s physical body. |
Trong thuật ngữ giới động vật, tôi bao gồm cả thể xác của con người. |
|
134. Hence the “disease, ills and bodily pains” of man. All this is related to the “Ancient Law of Evil Sharing”. |
134. Vì thế mới có “bệnh tật, ốm đau và đau đớn thân xác” của con người. Tất cả điều này liên hệ với “Định Luật Cổ Xưa về Sự Chia Sẻ Điều Ác”. |
|
We have also the clue to some aspects of the left hand Path, |
Chúng ta cũng có đầu mối để hiểu một số phương diện của Con Đường tả đạo, |
|
135. Those “aspects” which relate most to the densest levels of the systemic physical plane. Other aspects of the left hand path relate to the etheric and astral planes and also to the lower mental plane. |
135. Những “phương diện” ấy liên hệ nhiều nhất đến các cấp độ đậm đặc nhất của cõi hồng trần có tính hệ thống. Những phương diện khác của tả đạo liên hệ đến các cõi dĩ thái và cảm dục, và cả cõi hạ trí nữa. |
|
and a clue to the problem of the basic cause of the appearance of such existences as black magicians. |
và một đầu mối cho vấn đề về nguyên nhân căn bản của sự xuất hiện của những hiện hữu như các nhà hắc thuật. |
|
136. They are fixated upon that which in this solar system is not a principle. |
136. Họ bị cố định vào điều mà trong hệ mặt trời này không phải là một nguyên khí. |
|
137. This means, fixation upon the three densest physical subplanes but, more generally, fixation upon the eighteen subplanes which constitute the dense physical body of the Planetary Logos. |
137. Điều này có nghĩa là sự cố định vào ba cõi phụ hồng trần đậm đặc nhất, nhưng nói rộng hơn là sự cố định vào mười tám cõi phụ cấu thành thể hồng trần đậm đặc của Đức Hành Tinh Thượng Đế. |
|
Just as no human being can escape the effects of energy generated by him in an early life, |
Cũng như không một con người nào có thể thoát khỏi các tác động của năng lượng do chính y tạo ra trong một đời sống trước, |
|
138. In speaking of the cause of disease, Master DK lists the following first: “first, a man’s past wherein he pays the price of ancient error.” |
138. Khi nói về nguyên nhân của bệnh tật, Chân sư DK liệt kê điều sau đây trước tiên: “thứ nhất, quá khứ của một người trong đó y trả giá cho lỗi lầm xưa cũ.” |
|
so the solar Logos Himself is working out and so held back by influences which are the result of His earlier activities in System 1. |
thì chính Thái dương Thượng đế cũng đang giải quyết và do đó bị trì kéo bởi những ảnh hưởng là kết quả của các hoạt động trước kia của Ngài trong Hệ 1. |
|
139. Black magic is related to solar systemic karma and, with regard to its manifestation within our solar system, has its roots in the previous solar system. |
139. Hắc thuật liên hệ với nghiệp quả hệ mặt trời và, xét về sự biểu hiện của nó trong hệ mặt trời chúng ta, có gốc rễ trong hệ mặt trời trước. |
|
140. This type of lingering karma must also be characteristic of Entities far greater than a Solar Logos. The Law of Karma is a Cosmic Law. |
140. Loại nghiệp quả kéo dài này hẳn cũng phải là đặc trưng của những Thực Thể còn lớn lao hơn nhiều so với một Thái dương Thượng đế. Định luật Nghiệp Quả là một Định luật Vũ trụ. |
|
The dense physical forms are an illusion because they are due to the reaction of the eye to those forces about which we have been speaking. |
Các hình tướng hồng trần đậm đặc là một ảo tưởng vì chúng là do phản ứng của mắt đối với những mãnh lực mà chúng ta đã nói đến. |
|
141. The outer eye reveals illusion. |
141. Con mắt bên ngoài phơi bày ảo tưởng. |
|
142. Materialism is based upon veiled, incomplete perception. |
142. Chủ nghĩa duy vật dựa trên tri giác bị che khuất và không trọn vẹn. |
|
Etheric vision, or the power to see energy-substance, is true vision for the human being, just as the etheric is the true form. |
Linh thị dĩ thái, hay năng lực thấy chất liệu-năng lượng, là linh thị chân thực đối với con người, cũng như dĩ thái là chân hình. |
|
143. Here we have an excellent definition of “etheric vision”. Etheric vision is true vision for the human being. |
143. Ở đây chúng ta có một định nghĩa rất hay về “linh thị dĩ thái”. Linh thị dĩ thái là linh thị chân thực đối với con người. |
|
144. When etheric vision becomes commonplace, the hold of materialism upon the consciousness of man will be broken. |
144. Khi linh thị dĩ thái trở nên phổ biến, sự kìm giữ của chủ nghĩa duy vật đối với tâm thức con người sẽ bị phá vỡ. |
|
But until [Page 1097] the race is further evolved, the eye is aware of, and responds to the heavier vibration only. |
Nhưng cho đến khi [Page 1097] nhân loại tiến hoá hơn nữa, mắt chỉ nhận biết và đáp ứng với rung động nặng nề hơn mà thôi. |
|
145. The eye, itself, must develop so that it can see the true form. |
145. Bản thân mắt phải phát triển để có thể thấy chân hình. |
|
Gradually it will shake itself free from the lower and coarser reactions, and become an organ of true vision. |
Dần dần nó sẽ tự giải thoát khỏi những phản ứng thấp hơn và thô nặng hơn, và trở thành một cơ quan của linh thị chân thực. |
|
146. It almost seems as if the eye must “shake itself free” of lower types of atoms which prevent the apprehension of the true form via true vision. |
146. Hầu như có vẻ như mắt phải “tự giải thoát” khỏi những loại nguyên tử thấp hơn ngăn cản việc nắm bắt chân hình qua linh thị chân thực. |
|
It might be of interest here to remember the occult fact that as the atoms in the physical body of the human being pursue their evolution, they pass on and on to ever better forms, |
Ở đây có lẽ cũng đáng quan tâm khi nhớ đến sự kiện huyền bí rằng khi các nguyên tử trong thể xác của con người theo đuổi tiến hoá của chúng, chúng tiếp tục đi mãi vào những hình tướng ngày càng tốt hơn, |
|
147. We are speaking specifically of the evolution of dense physical atoms. |
147. Chúng ta đang nói riêng về sự tiến hoá của các nguyên tử hồng trần đậm đặc. |
|
and eventually find their place within the eye, first of animals and then of man. |
và cuối cùng tìm được chỗ của chúng trong mắt, trước hết của động vật rồi đến của con người. |
|
148. An amazing destination for the evolving atom. |
148. Một đích đến đáng kinh ngạc cho nguyên tử đang tiến hoá. |
|
149. I am remembering a group of Monads called “the specks within the planetary eye” (TCF 1082). The evolving human atoms must also find their way towards this much greater type of eye. |
149. Tôi nhớ đến một nhóm chân thần được gọi là “những đốm trong con mắt hành tinh” (TCF 1082). Các nguyên tử người đang tiến hoá hẳn cũng phải tìm đường hướng tới loại mắt lớn lao hơn nhiều này. |
|
150. Into what types of ‘Eyes’ do higher evolving Beings eventually find their way? |
150. Cuối cùng, các Hữu thể cao hơn đang tiến hoá sẽ tìm đường vào những loại “Mắt” nào? |
|
This is the highest dense form into which they are built, and marks the consummation of the atom of dense matter. |
Đây là hình tướng đậm đặc cao nhất mà chúng được xây dựng vào, và đánh dấu sự viên mãn của nguyên tử vật chất đậm đặc. |
|
151. Beyond this consummation, destiny as an etheric atom awaits. |
151. Vượt quá sự viên mãn này, một định mệnh như nguyên tử dĩ thái đang chờ đợi. |
|
152. We do see that atoms are ever changing relative position. This must be the case for higher atoms as well—men, Planetary Logoi, Solar Logoi, etc. Since these atoms are also chakras, it is safe to analogize that chakras change their relative position. A chakra which fulfills the function of the solar plexus, for instance, can become a heart center at some point in its evolutionary journey, or even a head center. |
152. Chúng ta quả thật thấy rằng các nguyên tử luôn thay đổi vị trí tương đối. Điều này hẳn cũng đúng đối với các nguyên tử cao hơn—con người, các Hành Tinh Thượng đế, các Thái dương Thượng đế, v.v. Vì các nguyên tử này cũng là luân xa, nên có thể suy theo định luật tương đồng rằng các luân xa thay đổi vị trí tương đối của chúng. Chẳng hạn, một luân xa thực hiện chức năng của tùng thái dương có thể trở thành một trung tâm tim ở một thời điểm nào đó trong hành trình tiến hoá của nó, hay thậm chí là một trung tâm đầu. |
|
Occultly understood, the eye is formed through the interplay of certain streams of force, of which there are three in the animal, and five in the human being. |
Theo huyền bí học, mắt được hình thành qua sự tương tác của một số dòng mãnh lực, trong đó có ba nơi động vật, và năm nơi con người. |
|
153. Such statements are amazing pieces of occultism. |
153. Những phát biểu như thế là những mảnh huyền bí học thật đáng kinh ngạc. |
|
154. The number three fits well with the animal kingdom, the third kingdom. The five for the human kingdom suggests its imminent transmutation into the Kingdom of Souls. |
154. Số ba rất phù hợp với giới động vật, giới thứ ba. Số năm đối với giới nhân loại gợi ý sự chuyển hoá sắp xảy ra của nó thành Vương Quốc của các linh hồn. |
|
155. We can infer that the eye of the human being has far greater potentials than the eye of the animal, though some forms of animal sensitivity far exceed those of those the human being is thus far capable. |
155. Chúng ta có thể suy ra rằng mắt của con người có những tiềm năng lớn hơn rất nhiều so với mắt của động vật, dù một số dạng nhạy cảm của động vật vượt xa những gì con người cho đến nay có thể làm được. |
|
By their conjunction and interaction, they form what is called “the triple opening” or the “fivefold door” out of which the animal soul or the human spirit can “look out upon the world illusion.” |
Bằng sự kết hợp và tương tác của chúng, chúng tạo thành điều được gọi là “khai mở tam phân” hay “cánh cửa ngũ phân”, từ đó linh hồn động vật hay tinh thần con người có thể “nhìn ra thế giới ảo tưởng.” |
|
156. The animal is meant to see with growing intelligence into the World of Illusion. Man is meant to look out upon the World of Illusion as a soul— characterized by the number five. |
156. Động vật được dự định sẽ nhìn vào Thế Giới Ảo Tưởng với trí tuệ ngày càng tăng. Con người được dự định sẽ nhìn ra Thế Giới Ảo Tưởng như một linh hồn— được đặc trưng bởi con số năm. |
|
157. We are reminded that dense physical organs are formed by subtle energy streams. |
157. Chúng ta được nhắc rằng các cơ quan hồng trần đậm đặc được hình thành bởi các dòng năng lượng vi tế. |
|
158. We note that DK differentiates the words “soul” and “spirit”, applying the first to the animal and the second to man. |
158. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK phân biệt hai từ “linh hồn” và “tinh thần”, áp dụng từ thứ nhất cho động vật và từ thứ hai cho con người. |
|
The final reason why the spheroidal true form of everything is apparently not seen on the planet can only at this stage be expressed through a quotation from an old esoteric manuscript in the Masters’ archives: |
Lý do cuối cùng vì sao chân hình hình cầu của mọi sự dường như không được thấy trên hành tinh hiện chỉ có thể được diễn đạt qua một trích dẫn từ một bản thảo bí truyền cổ trong văn khố của các Chân sư: |
|
159. The invisibility of the spheroidal form on the densest planes has something to do with the degree of evolution of our Planetary Logos—an “Imperfect God” |
159. Sự vô hình của hình tướng cầu trên các cõi đậm đặc nhất có liên hệ nào đó với mức độ tiến hoá của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta—một “Thượng đế Bất Toàn” |
|
“The vision of the higher sphere is hidden in the destiny of the fourth form of substance. |
“Linh thị của khối cầu cao hơn bị che giấu trong định mệnh của hình thức thứ tư của chất liệu. |
|
160. This is the densest form of substance—dense physical matter itself. |
160. Đây là hình thức đậm đặc nhất của chất liệu—chính vật chất hồng trần đậm đặc. |
|
161. The third aspect of divinity is a veiling aspect. It is that aspect which conditions dense physical matter and veils the true form, the etheric form. |
161. Phương diện thứ ba của thiên tính là một phương diện che phủ. Chính phương diện ấy tác động lên vật chất hồng trần đậm đặc và che phủ chân hình, tức hình tướng dĩ thái. |
|
The eye looks downwards and, behold, the atom disappears from view. |
Con mắt nhìn xuống dưới và, kìa, nguyên tử biến mất khỏi tầm nhìn. |
|
162. The atom is spherical. Only the illusory form appears. The true substantial atom cannot be seen. |
162. Nguyên tử có hình cầu. Chỉ hình tướng ảo tưởng là xuất hiện. Nguyên tử thực chất chân thực không thể được thấy. |
|
163. Vision is limited by the density of the fourth form of substance. |
163. Linh thị bị giới hạn bởi tính đậm đặc của hình thức thứ tư của chất liệu. |
|
The eye looks sideways and the dimensions merge, and again the atom disappears. |
Con mắt nhìn ngang và các chiều kích hòa lẫn vào nhau, và một lần nữa nguyên tử lại biến mất. |
|
164. There may be occult physiological hints here given. Methods of cultivating etheric vision are given in such hints as these. |
164. Ở đây có thể có những gợi ý sinh lý học huyền bí được đưa ra. Những phương pháp vun bồi linh thị dĩ thái được trao trong những gợi ý như thế này. |
|
165. The true form cannot, however, be found through a horizontal activity. A sideways glance will only reveal forms which are similar to each other—all of them similarly veiled. |
165. Tuy nhiên, chân hình không thể được tìm thấy qua một hoạt động theo chiều ngang. Một cái nhìn ngang chỉ phơi bày những hình tướng tương tự nhau—tất cả đều bị che phủ theo cùng một cách. |
|
Outward it looks but sees the atom out of all proportion. |
Nó nhìn ra ngoài nhưng thấy nguyên tử hoàn toàn mất cân xứng. |
|
166. The non-spherical form is seen. |
166. Hình tướng không hình cầu được thấy. |
|
When the eye negates the downward vision, and sees all from within outwards, the spheres again will be seen.” |
Khi con mắt phủ nhận linh thị hướng xuống, và nhìn mọi sự từ bên trong ra bên ngoài, các khối cầu sẽ lại được nhìn thấy.” |
|
167. The etheric field of vision has to be established and then an object brought into sight. This will reveal the etheric nature of the object. |
167. Trường nhìn dĩ thái phải được thiết lập, rồi một đối tượng được đưa vào tầm nhìn. Điều này sẽ tiết lộ bản chất dĩ thái của đối tượng. |
|
168. With the cultivation of still more subtle forms of sight, the spherical forms still subtler vehicles will be revealed. |
168. Với sự trau dồi những hình thức thị giác còn vi tế hơn nữa, các hình cầu của những vận cụ còn vi tế hơn sẽ được tiết lộ. |
|
169. There are ways of negating the usual visual tendencies of the material eye. These must be explored and cultivated. |
169. Có những cách để phủ nhận các khuynh hướng thị giác thông thường của mắt vật chất. Những cách ấy phải được khảo sát và trau dồi. |