Bình Giảng Lửa Vũ Trụ – S9S4 (1110-1119)

📘 Sách: Bình Giảng Luận về Lửa Vũ Trụ – S9 – Tác giả: Michael D. Robbins

S9S4 Part I

TCF 1110-1112

TCF 1109-1112

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách AAB khác và từ các trang khác của TCFđược trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Có đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF đặt sẵn bên cạnh, vì mục đích liên tục mạch văn. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

2. Motion in the Causal Body.

2. Chuyển động trong thể nguyên nhân.

We have studied somewhat this activity as it manifests in fourfold fashion in the mental sheath

Chúng ta đã phần nào nghiên cứu hoạt động này khi nó biểu hiện theo cách tứ phân trong thể trí

1. The fourfold motion of the lower mental body…

1. Chuyển động tứ phân của thể trí hạ…

and the reason that there has not been much to say anent this matter has been that the mental sheath comes under the laws of the matter aspect, and is subject to the same rules as are the material vehicles of all existences. It is only matter of a finer grade.

và lý do mà không có nhiều điều để nói về vấn đề này là vì thể trí thuộc về các định luật của phương diện vật chất, và chịu cùng những quy luật như các vận cụ vật chất của mọi hiện hữu. Nó chỉ là vật chất ở một cấp độ tinh tế hơn.

2. Mind is matter. The mental vehicle is subject to the laws of the natural world.

2. Trí tuệ vật chất. Vận cụ trí tuệ chịu sự chi phối của các định luật của thế giới tự nhiên.

3. On the higher mental plane there are a different set of laws than operate on the lower mental plane. The first set of laws are natural laws.

3. Trên Cõi thượng trí có một tập hợp định luật khác với những định luật vận hành trên cõi hạ trí. Tập hợp định luật thứ nhất là những định luật tự nhiên.

The student, therefore, can apply what has been earlier said anent the astral and physical bodies [Page 1110] to the mental body, and thus negate the necessity of our entering upon the subject in greater detail.

Do đó, đạo sinh có thể áp dụng những gì đã được nói trước đây về thể cảm dục và thể xác [Page 1110] cho thể trí, và như vậy không cần chúng ta phải đi vào đề tài này chi tiết hơn nữa.

4. Master DK has given us an assignment. We see that He is working according to the Law of Economy and inviting us to do a little cross referencing.

4. Chân sư DK đã giao cho chúng ta một bài tập. Chúng ta thấy rằng Ngài đang làm việc theo Định luật Tiết Kiệm và mời gọi chúng ta thực hiện một ít đối chiếu tham chiếu.

5. We will, need, however, some discussion of the devic life which expresses itself through each subplane comprising the four levels of the lower manasic vehicle.

5. Tuy nhiên, chúng ta sẽ cần một số bàn luận về sự sống thiên thần biểu lộ qua mỗi cõi phụ cấu thành bốn cấp độ của vận cụ hạ manas.

The causal body differs from the Brahma aspect in that it is a fuller embodiment of the life of the second aspect,

Thể nguyên nhân khác với phương diện Brahma ở chỗ nó là một hiện thân đầy đủ hơn của sự sống của phương diện thứ hai,

6. This must mean that some aspect of the lower manasic vehicle must embody the second aspect to some extent. The mental body is, in some respect, a form builder.

6. Điều này hẳn có nghĩa là một phương diện nào đó của vận cụ hạ manas phải hiện thân phương diện thứ hai ở một mức độ nào đó. Thể trí, trong một số phương diện, là một đấng kiến tạo hình tướng.

7. The higher mental plane is conditioned especially by Venus and second ray.

7. Cõi thượng trí được tác động đặc biệt bởi Sao Kim và cung hai.

its predominant characteristics are those of the second aspect.

những đặc tính nổi trội của nó là những đặc tính của phương diện thứ hai.

8. This, however, cannot be said of the lower mental vehicle.

8. Tuy nhiên, điều này không thể nói về vận cụ hạ trí.

9. We will expect the factor of cohesion to be present on the higher mental plane. One of the names of the second ray is the “Ray of Attractive Coherency” (EA 411)

9. Chúng ta sẽ mong đợi yếu tố cố kết hiện diện trên Cõi thượng trí. Một trong những tên gọi của cung hai là “Cung của Sự Cố Kết Hấp Dẫn” (EA 411)

To study the nature of motion in the causal vehicle involves much clarity of thought, and due appreciation of the nature of that body.

Nghiên cứu bản chất của chuyển động trong vận cụ nguyên nhân đòi hỏi nhiều sự sáng tỏ trong tư tưởng, và sự đánh giá đúng đắn về bản chất của thể ấy.

10. This is essentially and abstract study. For disciples, a true and accurate understanding of the causal body is an important frontier. Just as all the vehicles have their particular dynamics, so does the causal body. We are only in the process of studying the dynamics of the etheric body. Psychologists study the dynamics of the astral body and lower mental body but not yet occultly. It till be long before the causal body is an object for scientific research. Yet for disciples, this process can begin, at least introspectively.

10. Đây về bản chất là một nghiên cứu trừu tượng. Đối với các đệ tử, sự thấu hiểu chân thực và chính xác về thể nguyên nhân là một biên cương quan trọng. Cũng như mọi vận cụ đều có động lực học riêng của chúng, thể nguyên nhân cũng vậy. Chúng ta mới chỉ đang trong tiến trình nghiên cứu động lực học của thể dĩ thái. Các nhà tâm lý học nghiên cứu động lực học của thể cảm dục và thể trí hạ, nhưng chưa theo cách huyền bí. Sẽ còn rất lâu trước khi thể nguyên nhân trở thành đối tượng của nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, đối với các đệ tử, tiến trình này có thể bắt đầu, ít nhất là bằng nội quan.

It should here be remembered that in considering the causal body, we are dealing specifically with the vehicle of manifestation of a solar Angel who is its informing life and who is in process of constructing it, of perfecting it, and of enlarging it, and thus reflecting on a tiny scale the work of the Logos on His own plane.

Ở đây cần nhớ rằng khi xem xét thể nguyên nhân, chúng ta đang đề cập một cách chuyên biệt đến vận cụ biểu hiện của một Thái dương Thiên Thần là sự sống thấm nhuần nó và đang trong tiến trình kiến tạo nó, hoàn thiện nó, và mở rộng nó, nhờ đó phản ánh ở một quy mô rất nhỏ công việc của Thượng đế trên cõi riêng của Ngài.

11. Here we have a very clear distinction between the Solar Angel and its instrument of expression, the causal body.

11. Ở đây chúng ta có một sự phân biệt rất rõ giữa Thái dương Thiên Thần và công cụ biểu lộ của nó, tức thể nguyên nhân.

12. The causal body, we realize, is not completely constructed at the outset of the human developmental process. It is a very long time in formation.

12. Chúng ta nhận ra rằng thể nguyên nhân không được kiến tạo hoàn chỉnh ngay từ lúc khởi đầu của tiến trình phát triển nhân loại. Nó cần một thời gian rất dài để hình thành.

13. We see that it is the responsibility of the Solar Angel to construct, perfect and enlarge the causal body. Of course, the efforts of the disciple within the personality offers up the ‘materials’ which the Solar Angel uses in its building process.

13. Chúng ta thấy rằng trách nhiệm kiến tạo, hoàn thiện và mở rộng thể nguyên nhân thuộc về Thái dương Thiên Thần. Dĩ nhiên, những nỗ lực của người đệ tử bên trong phàm ngã dâng lên các “vật liệu” mà Thái dương Thiên Thần sử dụng trong tiến trình xây dựng của nó.

14. Analogically, the Solar Angel is a kind of miniature Solar Logos. The day may come when the Solar Angel steps upon the Path of the Solar Logoi.

14. Theo định luật tương đồng, Thái dương Thiên Thần là một loại Thái dương Thượng đế thu nhỏ. Có thể sẽ đến ngày Thái dương Thiên Thần bước lên Con đường của Các Thái dương Thượng đế.

Each part of the causal body is actuated by a type of force emanating from some one or other great centre,

Mỗi phần của thể nguyên nhân được tác động bởi một loại mãnh lực phát ra từ một trung tâm lớn này hay trung tâm lớn khác,

15. By this is meant most probably a planetary center or a planet.

15. Điều này rất có thể có nghĩa là một trung tâm hành tinh hay một hành tinh.

16. The parts of the causal body are the “Jewel in the Lotus”, the synthesis petals, the sacrifice petals, the love petals and the knowledge petals. Each of these circles of petals is composed of three petals and each of these three has its own specific quality and, it would seem, source of activation.

16. Các phần của thể nguyên nhân là “Ngọc trong Hoa Sen”, các cánh hoa tổng hợp, các cánh hoa hi sinh, các cánh hoa bác ái và các cánh hoa tri thức. Mỗi vòng cánh hoa này gồm ba cánh hoa và mỗi cánh trong ba cánh ấy có phẩm tính riêng biệt của nó và, dường như, nguồn kích hoạt riêng của nó.

and it might be of interest, therefore, if we considered the component parts of this ” Temple of the Soul,” if we studied the type of animating activity and arrived at a knowledge of the forces playing upon it and through it.

và vì vậy có lẽ sẽ đáng quan tâm nếu chúng ta xem xét các phần cấu thành của ” Đền thờ của Linh Hồn” này,nếu chúng ta nghiên cứu loại hoạt động phú linh và đạt đến sự hiểu biết về các mãnh lực đang tác động lên nó và xuyên qua nó.

17. This is a more complex activity than we might imagine.

17. Đây là một hoạt động phức tạp hơn điều chúng ta có thể tưởng tượng.

18. Depending upon how we count, the Temple of Solomon might have sixteen or almost sixty parts. Many are the potential subdivisions.

18. Tùy theo cách chúng ta đếm, Đền thờ Solomon có thể có mười sáu hoặc gần sáu mươi phần. Có rất nhiều phân chia tiềm năng.

19. The petals themselves, considered as force centers which have an influence upon the chakric system of the lower vehicles, are actuated by various kinds of superior energies and forces from various superior sources.

19. Bản thân các cánh hoa, khi được xem như những trung tâm lực có ảnh hưởng lên hệ thống luân xa của các vận cụ thấp, được tác động bởi nhiều loại năng lượng và mãnh lực cao siêu khác nhau từ nhiều nguồn cao siêu khác nhau.

We will take them one by one, beginning with the outer row of petals.

Chúng ta sẽ lần lượt xét từng phần, bắt đầu với hàng cánh hoa bên ngoài.

20. We call this aspect of the lotus both a row and a circle.

20. Chúng ta gọi phương diện này của hoa sen vừa là một hàng vừa là một vòng tròn.

The Knowledge Petals. These are the petals which represent the lowest aspect of the Triad

Các cánh hoa tri thức. Đây là những cánh hoa tượng trưng cho phương diện thấp nhất của Tam nguyên tinh thần

21. If this is the case, these petals represent the manasic aspect of the spiritual triad.

21. Nếu đúng như vậy, những cánh hoa này tượng trưng cho phương diện manas của Tam Nguyên Tinh Thần.

22. Each of the permanent atoms of the spiritual triad is connected to a particular tier of petals in the egoic lotus. Note Chart VIII, TCF 817. Also, Chart IX for a more detailed view.

22. Mỗi nguyên tử trường tồn của Tam nguyên tinh thần được nối kết với một tầng cánh hoa riêng biệt trong Hoa Sen Chân Ngã. Hãy xem Biểu đồ VIII, TCF 817. Đồng thời xem Biểu đồ IX để có cái nhìn chi tiết hơn.

and are responsive to the lowest forms of egoic force.

và đáp ứng với những hình thức thấp nhất của mãnh lực chân ngã.

23. From whence this egoic force? The energy of the petals themselves are egoic force. Perhaps all types of egoic force emanate from the “Jewel in the Lotus”, the forces of which ultimately emanate from the Monad.

23. Mãnh lực chân ngã này đến từ đâu? Năng lượng của chính các cánh hoa là mãnh lực chân ngã. Có lẽ mọi loại mãnh lực chân ngã đều phát ra từ “Ngọc trong Hoa Sen”, mà các mãnh lực của nó rốt cuộc phát ra từ Chân thần.

24. The Solar Angel is equipped with various capacities. Knowledge, we might call the lowest of these capacities and it is to solar angelic knowledge that the three knowledge petals are responsive.

24. Thái dương Thiên Thần được trang bị nhiều năng lực khác nhau. Tri thức, chúng ta có thể gọi là thấp nhất trong những năng lực này, và chính đối với tri thức thái dương thiên thần mà ba cánh hoa tri thức đáp ứng.

These petals

Những cánh hoa này

25. The knowledge petals…

25. Các cánh hoa tri thức…

are three in number and come under the influence of certain streams of activity.

có số lượng là ba và chịu ảnh hưởng của một số dòng hoạt động nhất định.

26. These types of alignments are of crucial importance, because once known, the energies involved can be accessed and directed—imaginatively if in no other way.

26. Những loại chỉnh hợp này có tầm quan trọng quyết định, bởi vì một khi đã được biết, các năng lượng liên hệ có thể được tiếp cận và định hướng—ít nhất là bằng sự tưởng tượng nếu không bằng cách nào khác.

a. One stream of energy emanates from the lower triad of permanent atoms, particularly the physical permanent atom, via that one of the three petals called the knowledge petal.

a. Một dòng năng lượng phát ra từ tam nguyên thấp của các nguyên tử trường tồn, đặc biệt là nguyên tử trường tồn hồng trần, qua một trong ba cánh hoa được gọi là cánh hoa tri thức.

27. This is, relatively, a very material stream. It is interesting that a stream can enter the knowledge petals from an energy source which is relatively ‘lower’ than the petals themselves. These petals are not only influenced from ‘above’, though perhaps the most important influences come from above.

27. Đây, xét tương đối, là một dòng rất vật chất. Thật thú vị khi một dòng có thể đi vào các cánh hoa tri thức từ một nguồn năng lượng tương đối ‘thấp’ hơn chính các cánh hoa. Những cánh hoa này không chỉ chịu ảnh hưởng từ ‘bên trên’, dù có lẽ những ảnh hưởng quan trọng nhất đến từ bên trên.

28. The physical permanent atom is particularly related to the knowledge petal of the knowledge tier.

28. Nguyên tử trường tồn hồng trần đặc biệt liên hệ với cánh hoa tri thức của tầng tri thức.

29. By inference we might suppose the astral permanent atom to be related to the love petal of the knowledge tier, and the mental unit to the sacrifice petal of the knowledge tier.

29. Theo suy luận, chúng ta có thể giả định rằng nguyên tử trường tồn cảm dục liên hệ với cánh hoa bác ái của tầng tri thức, và đơn vị hạ trí liên hệ với cánh hoa hi sinh của tầng tri thức.

The stream of force engendered in the lower self

Dòng mãnh lực được tạo ra trong phàm ngã

30. Presumably from the members of the atomic triangle….

30. Có lẽ từ các thành phần của tam giác nguyên tử….

circulates in a triple stream (the reflection in the lower self of the threefold Path to God)

lưu chuyển trong một dòng tam phân (sự phản chiếu trong phàm ngã của Con Đường tam phân đến Thượng đế)

31. The threefold Path to God must be the Manasic Path, the Path of Love and the Path of Will as these Paths are exemplified within the spiritual triad.

31. Con Đường tam phân đến Thượng đế hẳn phải là Con Đường Manas, Con Đường Bác Ái và Con Đường Ý Chí như những Con Đường này được biểu hiện trong Tam nguyên tinh thần.

32. Presumably the stream is threefold. DK does not appear to be speaking a circulation which occurs three times. Perhaps the triple stream circulates with great rapidity numerous time.

32. Có lẽ dòng này là tam phân. Chân sư DK dường như không nói về một sự lưu chuyển xảy ra ba lần. Có lẽ dòng tam phân lưu chuyển với tốc độ rất lớn nhiều lần.

around the atomic triangle at the base of the egoic lotus.

xung quanh tam giác nguyên tử ở đáy của Hoa Sen Chân Ngã.

33. The position of this triangle is of real importance and Master DK repeats the location several times. All movements are orderly and occur according to law. The further we go into occultism, the more these movements will be revealed.

33. Vị trí của tam giác này thực sự quan trọng và Chân sư DK lặp lại vị trí ấy nhiều lần. Mọi chuyển động đều có trật tự và xảy ra theo quy luật. Chúng ta càng đi sâu vào huyền bí học, những chuyển động này càng được mặc khải.

When of sufficient strength and [Page 1111] purity, it affects the outer row of petals.

Khi đủ mạnh và [Page 1111] thanh khiết, nó tác động đến hàng cánh hoa bên ngoài.

34. Shall we say that the circulation of the lower stream must achieve sufficient ‘spiritual momentum’ before the knowledge petals can be affected.

34. Chúng ta có thể nói rằng sự lưu chuyển của dòng thấp phải đạt được đủ “động lượng tinh thần” trước khi các cánh hoa tri thức có thể bị tác động chăng.

35. It is as if this circulation of energies occurs well before the circulation can affect the outer row of petals.

35. Dường như sự lưu chuyển các năng lượng này xảy ra rất lâu trước khi sự lưu chuyển ấy có thể tác động đến hàng cánh hoa bên ngoài.

36. Perhaps we are dealing with issues of resonance. Perhaps when the lower stream becomes resonant to the higher vibrations of the knowledge petals, their effect can be felt within those petals.

36. Có lẽ chúng ta đang đề cập đến những vấn đề cộng hưởng. Có lẽ khi dòng thấp trở nên cộng hưởng với những rung động cao hơn của các cánh hoa tri thức, hiệu quả của chúng có thể được cảm nhận trong những cánh hoa ấy.

This begins to be felt during the third period of man’s evolution when he is an average intelligent unit or atom.

Điều này bắt đầu được cảm nhận trong thời kỳ thứ ba của tiến hoá con người khi y là một đơn vị hay nguyên tử trí tuệ trung bình.

37. First man becomes the average instinctual man; then man becomes the average emotional man and finally the “average intelligent unit or atom” of which DK speaks in this context.

37. Trước hết con người trở thành con người bản năng trung bình; rồi con người trở thành con người cảm xúc trung bình; và cuối cùng là “đơn vị hay nguyên tử trí tuệ trung bình” mà Chân sư DK nói đến trong bối cảnh này.

38. It is at such a point that the third ray can become the personality ray. We may remember that personalities are initially found only on the fourth, fifth, sixth and seventh rays.

38. Chính tại một điểm như thế mà cung ba có thể trở thành cung phàm ngã. Chúng ta có thể nhớ rằng các phàm ngã ban đầu chỉ được tìm thấy trên các cung bốn, năm, sáu và bảy.

This energy, when it blends with the inherent life of the atomic lives which form the petals, produces eventually that intimate fusing of soul and body which makes man a living soul.

Năng lượng này, khi hòa trộn với sự sống cố hữu của các sự sống nguyên tử tạo thành các cánh hoa, cuối cùng tạo ra sự dung hợp mật thiết giữa linh hồn và thể khiến con người trở thành một linh hồn sống động.

39. The stream which we might call the ‘body stream’ comes from the lower permanent atoms, i.e., the members of the atomic triangle. When this stream blends with petal substance (which, in a way, is ‘soul substance’) we have the fusing of soul and body.

39. Dòng mà chúng ta có thể gọi là ‘dòng của thể’ đến từ các nguyên tử trường tồn thấp, tức các thành phần của tam giác nguyên tử. Khi dòng này hòa trộn với chất liệu cánh hoa (mà theo một nghĩa nào đó là ‘chất liệu linh hồn’) thì chúng ta có sự dung hợp của linh hồn và thể.

40. We see that to make a man a “living soul” some very specific occult energies are needed. We are given some of the important dynamics of the process producing soul-infusion.

40. Chúng ta thấy rằng để làm cho một con người trở thành một “linh hồn sống động” thì cần những năng lượng huyền bí rất chuyên biệt. Chúng ta được cho biết một số động lực học quan trọng của tiến trình tạo ra sự được linh hồn thấm nhuần.

41. We also see that the creation of the soul-infused human being is dependent upon personality energies. Without this energy-stream from ‘below’ soul infusion could not occur.

41. Chúng ta cũng thấy rằng việc tạo ra con người được linh hồn thấm nhuần phụ thuộc vào các năng lượng phàm ngã. Không có dòng năng lượng này từ ‘bên dưới’ thì sự thấm nhuần của linh hồn không thể xảy ra.

b.  Another stream of energy emanates in time from the second tier of petals when in activity;

b.  Một dòng khác năng lượng theo thời gian phát ra từ tầng cánh hoa thứ hai khi tầng này hoạt động;

42. We are still speaking of the knowledge petals and the three streams of energy-force which animate them.

42. Chúng ta vẫn đang nói về các cánh hoa tri thức và ba dòng năng lượng-mãnh lực làm sinh động chúng.

43. It is a long time (perhaps millions of years) before there appears a stream of energy emanating from the second tier of petals—especially considering the second tier as a whole.

43. Phải mất một thời gian rất dài (có lẽ hàng triệu năm) trước khi xuất hiện một dòng năng lượng phát ra từ tầng cánh hoa thứ hai—đặc biệt khi xét tầng thứ hai như một toàn thể.

this second tier is peculiarly instinctive with the life and quality of the Manasaputra in manifestation.

tầng thứ hai này đặc biệt mang tính bản năng với sự sống và phẩm tính của Manasaputra trong biểu hiện.

44. Here we have a very interesting statement. It is through the study of the second tier of petals, especially, that the nature of the Manasaputra (or Solar Angel) associated with the man can be determined.

44. Ở đây chúng ta có một phát biểu rất thú vị. Chính qua việc nghiên cứu tầng cánh hoa thứ hai, đặc biệt là như vậy, mà bản chất của Manasaputra (hay Thái dương Thiên Thần) liên hệ với con người có thể được xác định.

45. Would we say that by such a study, we can determine the ray life of the Manasaputra?

45. Chúng ta có thể nói rằng qua một nghiên cứu như thế, chúng ta có thể xác định sự sống cung của Manasaputra chăng?

46. We seem still to be speaking of the influences which affect the knowledge petals. So far we have:

46. Dường như chúng ta vẫn đang nói về những ảnh hưởng tác động đến các cánh hoa tri thức. Cho đến nay chúng ta có:

a. Forces from the “three permanent atoms” considered as a threefold energy stream

a. Các mãnh lực từ “ba nguyên tử trường tồn” được xem như một dòng năng lượng tam phân

b. Energies arising from the second tier of petals.

b. Các năng lượng phát sinh từ tầng cánh hoa thứ hai.

The second tier of petals in any egoic lotus is the one that gives us the key to the nature of the solar Angel,

Tầng cánh hoa thứ hai trong bất kỳ Hoa Sen Chân Ngã nào là tầng cho chúng ta chìa khóa về bản chất của Thái dương Thiên Thần,

47. By “the nature of the solar Angel” is meant, apparently, the ray nature.

47. Theo nghĩa của “bản chất của Thái dương Thiên Thần” thì dường như đó là bản chất cung.

48. Apparently Solar Angels/souls on all the seven rays are revealed through the dynamics and qualities of the second tier of petals.

48. Dường như các Thái dương Thiên Thần/linh hồn trên cả bảy cung đều được bộc lộ qua động lực học và phẩm tính của tầng cánh hoa thứ hai.

49. As well, the relative status of the Solar Angel involved may be revealed. The next portion of the sentence seems to hint at this possibility.

49. Ngoài ra, địa vị tương đối của Thái dương Thiên Thần liên hệ cũng có thể được tiết lộ. Phần kế tiếp của câu dường như gợi ý khả năng này.

just as the outer tier is—to the inner vision of the Adept—a clue to the point in evolution of the personality.

cũng như vòng ngoài là—đối với linh thị bên trong của chân sư—một đầu mối về điểm tiến hoá của phàm ngã.

50. This statement could certainly be pondered with profit.

50. Mệnh đề này chắc chắn có thể được suy ngẫm một cách hữu ích.

51. We may infer that just as the condition of the outer tier gives a clue to the point of evolution of the personality, so that middle tier tells us something about the point of evolution of the particular Solar Angel Who is informing the egoic lotus.

51. Chúng ta có thể suy ra rằng cũng như tình trạng của vòng ngoài cho một đầu mối về điểm tiến hoá của phàm ngã, thì vòng giữa cho chúng ta biết điều gì đó về điểm tiến hoá của Thái dương Thiên Thần đặc thù đang thấm nhuần hoa sen chân ngã.

52. When considering the three outer petals, probably each of them is directly associated with one of the personality vehicles.

52. Khi xem xét ba cánh hoa ngoài, có lẽ mỗi cánh trong số đó được liên kết trực tiếp với một trong các vận cụ của phàm ngã.

53. Solar Angels are of various kinds. Some emanate from the Heart of the Sun. Others emanate from the Central Spiritual Sun (considered as the truly “divine nature” of the Solar Logos.) There may well be a different in their status. We may infer that just as there are nine strata of consciousness in the Fourth Creative Hierarchy, so there may well be nine strata[1] in the Fifth Creative Hierarchy.

53. Các Thái dương Thiên Thần thuộc nhiều loại khác nhau. Một số xuất lộ từ Trái Tim Mặt Trời. Những vị khác xuất lộ từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương (được xem là “bản chất thiêng liêng” đích thực của Thái dương Thượng đế.) Rất có thể có sự khác biệt về địa vị của các vị ấy. Chúng ta có thể suy ra rằng cũng như có chín tầng tâm thức trong Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, thì rất có thể cũng có chín tầng trong Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm.

54. Perhaps, as well, there are various planetary streams on which the Solar Angels enter our planet.

54. Có lẽ, ngoài ra, còn có nhiều dòng hành tinh khác nhau mà theo đó các Thái dương Thiên Thần đi vào hành tinh chúng ta.

55. Just as there is a definite inequality of rank among the Sons of Men, why should we not presume that the same is true of Solar Angels?

55. Cũng như có một sự bất bình đẳng rõ rệt về cấp bậc giữa những người con của nhân loại, tại sao chúng ta lại không giả định rằng điều tương tự cũng đúng với các Thái dương Thiên Thần?

By looking at the egoic lotus, the seer can tell the nature of the:

Bằng cách nhìn vào hoa sen chân ngã, nhà thông nhãn có thể biết được bản chất của:

Personal self through the condition of the atomic triangle, and the outer tier of petals.

phàm ngã qua tình trạng của tam giác nguyên tử, và vòng cánh hoa ngoài.

56. The word “nature”, of course, is ambiguous. We could be dealing with either status, ray quality or something else.

56. Dĩ nhiên, từ “bản chất” là mơ hồ. Chúng ta có thể đang đề cập đến địa vị, phẩm tính cung hay điều gì khác.

57. All these six factors (six petal energies—three of them strongly influenced by the forces of the atomic triangle) are involved in the presentation of the personal self. These six factors might be considered the personal aspects of the egoic lotus.

57. Tất cả sáu yếu tố này (sáu năng lượng cánh hoa—ba trong số đó chịu ảnh hưởng mạnh của các mãnh lực từ tam giác nguyên tử) đều tham dự vào sự biểu hiện của phàm ngã. Sáu yếu tố này có thể được xem là các phương diện cá nhân của hoa sen chân ngã.

Higher Self, through the colour and arrangement of the central tier of petals.

Bản Ngã Cao Siêu, qua màu sắc và sự sắp xếp của vòng cánh hoa trung tâm.

58. Master DK hints at deep mysteries. Colour reveals quality. What can he mean by “arrangement”? Is it the interior organization of colour within each petal that is referenced?

58. Chân sư DK gợi ra những huyền nhiệm sâu xa. Màu sắc tiết lộ phẩm tính. Ngài có thể muốn nói gì qua từ “sự sắp xếp”? Có phải đó là tổ chức nội tại của màu sắc bên trong mỗi cánh hoa được nhắc đến chăng?

This tier gives the “family” of the solar Angel through the arrangement of atomic lives which form the petals, and the circulation of the streams of forces in those petals.

Vòng này cho biết “gia đình” của Thái dương Thiên Thần qua sự sắp xếp của các sự sống nguyên tử tạo thành các cánh hoa, và sự lưu chuyển của các dòng mãnh lực trong những cánh hoa ấy.

59. Again, very potent hints focusing on:

59. Một lần nữa, đây là những gợi ý rất mạnh, tập trung vào:

a. The “family of solar Angels

a. “gia đình” của các Thái dương Thiên Thần

b. The particular arrangement of the atomic lives which form the petals. This arrangement is one of the factors revealing the “family”. We apparently are speaking of certain mysteries of Divine Geometry.

b. Sự sắp xếp đặc thù của các sự sống nguyên tử tạo thành các cánh hoa. Sự sắp xếp này là một trong những yếu tố tiết lộ “gia đình”. Rõ ràng chúng ta đang nói đến những huyền nhiệm nhất định của Hình học Thiêng liêng.

c. The particular type of circulation of the streams of force in those petals. Apparently different flow patterns are possible.

c. Loại hình lưu chuyển đặc thù của các dòng mãnh lực trong những cánh hoa ấy. Rõ ràng có thể có những mô hình lưu động khác nhau.

60. We know very little about the manner in which Solar Angels are divided into different groups. Here, DK uses the words “family” to indicate such distinctions. Perhaps Solar Angel can be differentiated according to ray, according to maturity or level of initiation, according to the period in which individualization occurred; according to its source of emanation from the Sun; according to other planets from which it may have ventured before taking up its task on Earth, etc.

60. Chúng ta biết rất ít về cách thức các Thái dương Thiên Thần được phân chia thành những nhóm khác nhau. Ở đây, DK dùng từ “gia đình” để chỉ những phân biệt như thế. Có lẽ Thái dương Thiên Thần có thể được biến phân theo cung, theo mức trưởng thành hay cấp độ điểm đạo, theo thời kỳ mà sự biệt ngã hóa xảy ra; theo nguồn xuất lộ của nó từ Mặt Trời; theo những hành tinh khác mà nó có thể đã từng phiêu lưu qua trước khi đảm nhận nhiệm vụ trên Trái Đất, v.v.

61. Manner of division can depend on:

61. Cách thức phân chia có thể tùy thuộc vào:

a. Origin

a. Nguồn gốc

b. Status

b. Địa vị

c. Quality

c. Phẩm tính

d. Time of immersion on the higher mental plane

d. Thời điểm nhập vào Cõi thượng trí

e. Etc.

e. V.v.

62. The Solar Angels belong to a Creative Hierarchy as do human beings. If human beings can be differentiated, according to many evolutionary criteria, there is no reason to think that Solar Angels could not be. This possibility of differentiation is, it would seem, true of the members of all Creative Hierarchies.

62. Các Thái dương Thiên Thần thuộc về một Huyền Giai Sáng Tạo cũng như con người. Nếu con người có thể được biến phân theo nhiều tiêu chuẩn tiến hoá, thì không có lý do gì để nghĩ rằng các Thái dương Thiên Thần lại không thể như vậy. Khả năng biến phân này, dường như, là đúng đối với các thành viên của mọi Huyền Giai Sáng Tạo.

Monad, through the inner circle of petals; its stage of lower awareness is revealed in a similar way.

chân thần, qua vòng trong của các cánh hoa; giai đoạn nhận biết thấp của nó được tiết lộ theo cách tương tự.

63. Each circle of petals can be studied for a particular type of revelation.

63. Mỗi vòng cánh hoa có thể được nghiên cứu để có một loại mặc khải đặc thù.

64. Just as the quality and condition of the second tier were directly related to the nature of the Solar Angel, so the quality and condition of the third tier are direction related to the nature of the Monad.

64. Cũng như phẩm tính và tình trạng của vòng thứ hai liên hệ trực tiếp với bản chất của Thái dương Thiên Thần, thì phẩm tính và tình trạng của vòng thứ ba cũng liên hệ trực tiếp với bản chất của chân thần.

65. We know that the monadic ray is closely related to the mental vehicle and the three “mental petals” must be as well.

65. Chúng ta biết rằng cung chân thần liên hệ chặt chẽ với vận cụ trí tuệ và ba “cánh hoa trí tuệ” hẳn cũng như vậy.

The Monadic Ray influences the mental body, after integration of the personality has been brought about. It causes the mind nature to achieve that clear vision which finds its consummation at the fourth initiation, and releases the man from the limitations of form. There is an analogy to this triplicity and an interesting symbolic relation in the three Initiators. (EP I 406)

Cung chân thần ảnh hưởng đến thể trí, sau khi sự tích hợp của phàm ngã đã được thực hiện. Nó khiến bản chất trí tuệ đạt được linh thị minh bạch, điều đạt đến sự viên mãn ở lần điểm đạo thứ tư, và giải thoát con người khỏi những giới hạn của hình tướng. Có một sự tương đồng với bộ ba này và một mối liên hệ biểu tượng thú vị trong ba Đấng Điểm đạo. (EP I 406)

66. Perhaps the ray of the Monad can be determined particularly through a study of the sacrifice petals, related as they are to the mental vehicle.

66. Có lẽ cung của chân thần có thể được xác định đặc biệt qua việc nghiên cứu các cánh hoa hi sinh, vì chúng liên hệ với vận cụ trí tuệ.

67. It is suggested that there is a “lower awareness” of the Monad and, we may presume, a ‘higher awareness’.

67. Có ý kiến cho rằng có một “nhận biết thấp” của chân thần và, chúng ta có thể giả định, một ‘nhận biết cao’.

68. The sacrificial nature of the Monad (a “Lord of ceaseless persevering devotion”) is revealed through the sacrifice petals.

68. Bản chất hi sinh của chân thần (một “Chúa Tể của sự tận tụy kiên trì không ngừng”) được tiết lộ qua các cánh hoa hi sinh.

69. It would be of value to understand the particular manner in which the individual undertakes sacrifice. Probably there are three modes of so doing according to the three major monadic rays.

69. Sẽ rất có giá trị nếu hiểu được cách thức đặc thù mà cá nhân đảm nhận sự hi sinh. Có lẽ có ba phương thức làm như vậy tùy theo ba cung chân thần chính.

The number of the Ray concerned is known through the quality of the “light” of the concealed jewel.

Số của cung liên hệ được biết qua phẩm tính của “ánh sáng” của viên ngọc ẩn kín.

70. Here we are speaking of the light which radiates eventually through the “Jewel in the Lotus”. The color of the monadic ray will thus be revealed.

70. Ở đây chúng ta đang nói về ánh sáng cuối cùng bức xạ qua “Viên Ngọc trong Hoa Sen”. Như vậy màu sắc của cung chân thần sẽ được tiết lộ.

71. Could an imaginative evaluation of the light emanating from the “Jewel in the Lotus” be a method of helping to determine the monadic ray?

71. Liệu một sự đánh giá bằng tưởng tượng về ánh sáng phát ra từ “Viên Ngọc trong Hoa Sen” có thể là một phương pháp giúp xác định cung chân thần chăng?

In all these petals, groups of lives, solar and otherwise,

Trong tất cả những cánh hoa này, các nhóm sự sống, thái dương và những loại khác,

72. DK could be saying that some lives on the higher mental plane are “otherwise” than solar. Many of these essences are (we must remember) in the dense physical body of the Solar Logos.

72. DK có thể đang nói rằng một số sự sống trên Cõi thượng trí là những loại “khác” chứ không phải thái dương. Chúng ta phải nhớ rằng nhiều tinh chất trong số này ở trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế.

73. The atomic lives which compose the petals are ‘other’ than solar. In fact, they are what we call elemental essence, and some of them, “monadic essence”. They are really “lunar” in their nature, belonging as they do to the dense physical body of the Solar Logos.

73. Các sự sống nguyên tử cấu thành các cánh hoa là những sự sống ‘khác’ chứ không phải thái dương. Thực ra, chúng là điều chúng ta gọi là Tinh chất hành khí, và một số trong đó là “tinh chất chân thần”. Chúng thực sự có bản chất “thái âm”, vì chúng thuộc về thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế.

are concerned, and streams of energy from them focus through the petals.

đều có liên quan, và các dòng năng lượng từ chúng hội tụ xuyên qua các cánh hoa.

74. Both solar and “lunar” lives are concerned.

74. Cả các sự sống thái dương lẫn “thái âm” đều có liên quan.

75. The petals, we see, are a meeting place for energies from the various lesser Solar Angels (those who control individual petals or entire tiers) and lunar lives concerned with the energies-forces of the atomic triangle.

75. Như chúng ta thấy, các cánh hoa là nơi gặp gỡ của các năng lượng từ nhiều Thái dương Thiên Thần nhỏ hơn khác nhau (những vị kiểm soát từng cánh hoa riêng lẻ hay toàn bộ các vòng) và các sự sống thái âm liên hệ với các năng lượng-mãnh lực của tam giác nguyên tử.

This is apparent to the man who has the key.

Điều này hiển nhiên đối với người có chìa khóa.

76. One must unlock the mystery of the “Jewel in the Lotus” and all the many streams of energies which express through it. The sources of these energies must be revealed and it may be presumed that the monadic nature of the “Jewel in the Lotus” holds the key to identifying the energies-forces concerned.

76. Người ta phải mở khóa huyền nhiệm của “Viên Ngọc trong Hoa Sen” và tất cả nhiều dòng năng lượng biểu lộ qua nó. Các nguồn của những năng lượng này phải được tiết lộ, và có thể giả định rằng bản chất chân thần của “Viên Ngọc trong Hoa Sen” nắm giữ chìa khóa để nhận diện các năng lượng-mãnh lực liên hệ.

77. DK could also be telling us of “keynotes” related to that colour of light which emanates from the “Jewel in the Lotus”.

77. DK cũng có thể đang nói với chúng ta về những “chủ âm” liên hệ với màu sắc ánh sáng phát ra từ “Viên Ngọc trong Hoa Sen”.

78. We may infer that the note of the “Jewel in the Lotus” is the keynote for the entire egoic lotus and all its parts.

78. Chúng ta có thể suy ra rằng âm điệu của “Viên Ngọc trong Hoa Sen” là chủ âm cho toàn bộ hoa sen chân ngã và mọi phần của nó.

79. Yet as DK now describes, we are not only dealing with sound (when we read the word “key” we must think of sound) but with symbol.

79. Tuy nhiên, như DK nay mô tả, chúng ta không chỉ đề cập đến âm thanh (khi đọc từ “key”, chúng ta phải nghĩ đến âm thanh) mà còn đến biểu tượng.

It is a curious fact that the streams of force which form the petals and [Page 1112] which are in constant flux produce apparently “key symbols” within the periphery of the egoic wheel, and thus reveal themselves through their activity.

Đó là một sự kiện kỳ lạ rằng các dòng mãnh lực tạo thành các cánh hoa và [Page 1112] đang trong trạng thái lưu biến không ngừng rõ ràng tạo ra những “biểu tượng chìa khóa” bên trong chu vi của bánh xe chân ngã, và do đó tự tiết lộ qua hoạt động của chúng.

80. We are speaking of the revelations of the ‘Book of Nature’.

80. Chúng ta đang nói về những mặc khải của ‘Cuốn Sách của Bản Chất’.

81. We often see such symbols drawn in Sanskrit within representations of the chakras. Such symbols, then, are not simply signs but are true embodiments of the energy streams they symbolize.

81. Chúng ta thường thấy những biểu tượng như thế được vẽ bằng tiếng Phạn trong các hình biểu hiện của các luân xa. Như vậy, những biểu tượng ấy không chỉ đơn thuần là dấu hiệu mà là những hiện thân đích thực của các dòng năng lượng mà chúng tượng trưng.

82. We are constantly in the midst of flowing energy streams. These streams must be recognized and mastered.

82. Chúng ta luôn luôn ở giữa những dòng năng lượng đang lưu động. Những dòng này phải được nhận biết và làm chủ.

83. Now we are in a position to learn more about the following:

83. Giờ đây chúng ta ở vào vị thế có thể học thêm về điều sau đây:

This tier gives the “family” of the solar Angel through the arrangement of atomic lives which form the petals, and the circulation of the streams of forces in those petals.

Vòng này cho biết “gia đình” của Thái dương Thiên Thần qua sự sắp xếp của các sự sống nguyên tử tạo thành các cánh hoa, và sự lưu chuyển của các dòng mãnh lực trong những cánh hoa ấy.

84. We learning that the circulation of the streams and forces in the petals produces certain symbols and that these symbols are what we might call ‘key-symbols’ which reveal the nature of the various parts of the egoic lotus and the various type of beings who express through the egoic lotus.

84. Chúng ta đang học rằng sự lưu chuyển của các dòng và mãnh lực trong các cánh hoa tạo ra những biểu tượng nhất định, và những biểu tượng này là điều chúng ta có thể gọi là ‘biểu tượng chìa khóa’, tiết lộ bản chất của các phần khác nhau của hoa sen chân ngã và các loại hữu thể khác nhau biểu lộ qua hoa sen chân ngã.

85. We see that the Master need not guess at the nature of the Solar Angel and Monad Who are informing or working through the egoic lotus. He can simply see their natures through the revelations afforded him by ‘key-symbols’.

85. Chúng ta thấy rằng Chân sư không cần phải phỏng đoán về bản chất của Thái dương Thiên Thần và chân thần đang thấm nhuần hay hoạt động qua hoa sen chân ngã. Ngài chỉ cần thấy bản chất của các vị ấy qua những mặc khải mà ‘các biểu tượng chìa khóa’ đem lại cho Ngài.

c. A third type of energy

c. Một loại năng lượng thứ ba

86. We are now speaking of a third stream of energy following upon the threefold stream from the atomic triangle and the stream from the second tier of petals.

86. Giờ đây chúng ta đang nói đến một dòng năng lượng thứ ba tiếp theo sau dòng tam phân từ tam giác nguyên tử và dòng từ vòng cánh hoa thứ hai.

is that which—at the close of evolution—makes itself felt through the inner circle of petals, and which is the result of an inflow of monadic force, or atma.

là loại năng lượng—vào lúc kết thúc tiến hoá—tự làm cho mình được cảm nhận qua vòng trong của các cánh hoa, và là kết quả của một sự tuôn vào của mãnh lực chân thần, hay atma.

87. We must be cautious regarding the interpretation of the term “inner circle”. Sometimes it can mean the sacrifice petals and sometimes the synthesis petals.

87. Chúng ta phải thận trọng khi diễn giải thuật ngữ “vòng trong”. Đôi khi nó có thể có nghĩa là các cánh hoa hi sinh và đôi khi là các cánh hoa tổng hợp.

88. Perhaps it would be better if the term ‘inmost circle of petals’ were used to indicate the synthesis petals.

88. Có lẽ sẽ tốt hơn nếu dùng thuật ngữ ‘vòng cánh hoa trong cùng’ để chỉ các cánh hoa tổng hợp.

89. We see three possible types of revelation of the Monad. It Monad reveals itself through the sacrifice petals, through the light of the Jewel and, now as well (if we are justified in saying so), through the synthesis petals—the “inner circle of petals” considered to be intimately related to the “Jewel in the Lotus”.

89. Chúng ta thấy ba loại mặc khải khả dĩ của chân thần. Chân thần tự tiết lộ qua các cánh hoa hi sinh, qua ánh sáng của Viên Ngọc, và giờ đây thêm nữa (nếu chúng ta có cơ sở để nói như vậy), qua các cánh hoa tổng hợp—“vòng cánh hoa trong” được xem là liên hệ mật thiết với “Viên Ngọc trong Hoa Sen”.

90. Is the Tibetan referring, however, to the unfoldment of the synthesis petals surrounding the “Jewel in the Lotus” or is He still dealing with the sacrifice petals as the “inner circle” of petals? One could read it either ways, except that point “d.” seems to indicate that He is still confining Himself to the three sacrifice petals.

90. Tuy nhiên, Chân sư Tây Tạng đang nói đến sự khai mở của các cánh hoa tổng hợp bao quanh “Viên Ngọc trong Hoa Sen”, hay Ngài vẫn đang đề cập đến các cánh hoa hi sinh như là “vòng trong” của các cánh hoa? Người ta có thể đọc theo cả hai cách, ngoại trừ điểm “d.” dường như cho thấy rằng Ngài vẫn còn giới hạn chính mình vào ba cánh hoa hi sinh.

91. If this is the case, may we think that it is the third aspect of the Monad which is principally concerned with expression through the sacrifice petals.

91. Nếu đúng như vậy, liệu chúng ta có thể nghĩ rằng chính phương diện thứ ba của chân thần là phương diện chủ yếu liên hệ với sự biểu lộ qua các cánh hoa hi sinh hay không.

92. There are also two monadic rays—a major ray and a subray on the monadic plane. Through which aspects of the egoic lotus do these two rays express?

92. Ngoài ra còn có hai cung chân thần—một cung chính và một cung phụ trên cõi chân thần. Hai cung này biểu lộ qua những phương diện nào của hoa sen chân ngã?

93. Is it possible that the activity aspect of the Monad expresses through the sacrifice petals; that the wisdom aspect through the synthesis petals and that the will aspect of the Monad through the “Jewel in the Lotus” itself?

93. Có thể nào phương diện hoạt động của chân thần biểu lộ qua các cánh hoa hi sinh; phương diện minh triết qua các cánh hoa tổng hợp; và phương diện ý chí của chân thần qua chính “Viên Ngọc trong Hoa Sen” hay không?

94. It is interesting to hear monadic force called “atma”. Atma is surely an aspect of monadic force but we might say that buddhi is as well and manas also.

94. Thật thú vị khi nghe mãnh lực chân thần được gọi là “atma”. Atma chắc chắn là một phương diện của mãnh lực chân thần, nhưng chúng ta cũng có thể nói rằng Bồ đề cũng vậy và manas cũng vậy.

95. It would seem that the innermost group of petals is particularly associated with buddhi and the “Jewel in the Lotus”, particularly with atma.

95. Dường như nhóm cánh hoa trong cùng đặc biệt liên hệ với Bồ đề và “Viên Ngọc trong Hoa Sen” đặc biệt liên hệ với atma.

96. From another perspective, however, atma may related to the sacrifice petals; the energies of the monadic plane to the synthesis petals; and the core of the Monad (which we might consider a resident of the logoic plane) to the “Jewel in the Lotus”.

96. Tuy nhiên, từ một góc nhìn khác, atma có thể liên hệ với các cánh hoa hi sinh; các năng lượng của cõi chân thần với các cánh hoa tổng hợp; và cốt lõi của chân thần (mà chúng ta có thể xem là một cư dân của cõi logoic) với “Viên Ngọc trong Hoa Sen”.

d. Finally, therefore, when the petals are unfolded they are therefore transmitters of life or energy from three sources:

d. Cuối cùng, do đó, khi các cánh hoa được khai mở, chúng trở thành những bộ truyền dẫn sự sống hay năng lượng từ ba nguồn:

1. The lower self … Lunar Pitri Knowledge petals.

1. phàm ngã … thái âm tổ phụ các cánh hoa tri thức.

2. Ego…………….. Solar Angel Love petals.

2. Chân ngã…………….. Thái dương Thiên Thần các cánh hoa bác ái.

3. Monad………. Father in Heaven Sacrifice petals.

3. chân thần………. Cha trên Trời các cánh hoa hi sinh.

97. One wonders, since a distinct devic being (i.e., a “lunar pitri” and a “Solar Angel”) is associated with the lower self and the Ego, whether another type of devic Being might not also associated with the monadic level. Perhaps such a Being might be drawn from the Creative Hierarchy of Divine Builders (the “Burning Sons of Desire”) focusing on the monadic plane.

97. Người ta tự hỏi, vì một hữu thể thiên thần riêng biệt (tức là một “thái âm tổ phụ” và một “Thái dương Thiên Thần”) được liên kết với phàm ngã và Chân ngã, liệu một loại Hữu thể thiên thần khác cũng có thể được liên kết với cấp độ chân thần hay không. Có lẽ một Hữu thể như thế có thể được rút ra từ Huyền Giai Sáng Tạo của các Đấng Kiến Tạo Thiêng liêng (các “Người Con Rực Cháy của Dục Vọng”) hội tụ trên cõi chân thần.

98. Such a hypothesis would suggest that a Solar Angel would find its truer home on triadal levels.

98. Giả thuyết như vậy sẽ gợi ý rằng một Thái dương Thiên Thần sẽ tìm thấy quê hương chân thực hơn của mình trên các cấp độ tam nguyên tinh thần.

It then becomes possible for a still higher form of energy to be felt, that which is the energy of the centre of the body of the Heavenly Man or planetary Logos, and which uses the “Jewel in the Lotus” as its focal point.

Khi đó, một hình thức năng lượng còn cao hơn nữa trở nên có thể được cảm nhận, đó là năng lượng của trung tâm trong thể của Đấng Thiên Nhân hay Hành Tinh Thượng đế, và sử dụng “Viên Ngọc trong Hoa Sen” như điểm hội tụ của nó.

99. We have a really amazing statement here, shedding light upon an unsuspected function of the “Jewel in the Lotus”—it serves as a focal point for energy from one of the centres in the body of the Heavenly Man.

99. Ở đây chúng ta có một mệnh đề thật sự đáng kinh ngạc, soi sáng một chức năng chưa từng được ngờ tới của “Viên Ngọc trong Hoa Sen”—nó phục vụ như một điểm hội tụ cho năng lượng từ một trong các trung tâm trong thể của Đấng Thiên Nhân.

100.  Some such source centers might be purely cosmic etheric and found upon the systemic manasic, buddhic and atmic planes, but in a higher sense, some such centers could in fact be monadic—seven of them found upon the monadic plane. After all, what are the centers within a Planetary Logos? Are there not many of them and found on all planes of the cosmic physical plane?

100.  Một số trung tâm nguồn như thế có thể thuần túy là dĩ thái vũ trụ và được tìm thấy trên các cõi manas, Bồ đề và atma của hệ thống, nhưng theo một ý nghĩa cao hơn, một số trung tâm như thế thực ra có thể là chân thần—bảy trung tâm trong số đó được tìm thấy trên cõi chân thần. Rốt cuộc, các trung tâm bên trong một Hành Tinh Thượng đế gì? Chẳng phải có rất nhiều trung tâm như thế và được tìm thấy trên mọi cõi của cõi hồng trần vũ trụ hay sao?

101.  From this perspective, the “Jewel in the Lotus”, through the quality of its light, could be expressing energy from a monadic centre within the Heavenly Man.

101.  Từ góc nhìn này, “Viên Ngọc trong Hoa Sen”, qua phẩm tính ánh sáng của nó, có thể đang biểu lộ năng lượng từ một trung tâm chân thần bên trong Đấng Thiên Nhân.

102.  We could infer then that human beings on a given monadic ray would belong to a particular center in a Heavenly Man.

102.  Khi đó, chúng ta có thể suy ra rằng những con người thuộc một cung chân thần nhất định sẽ thuộc về một trung tâm đặc thù trong một Đấng Thiên Nhân.

103.  However, membership in such a center might depend not only on the monadic ray but on the degree of evolution of the Monad in question.

103.  Tuy nhiên, tư cách thành viên trong một trung tâm như thế có thể không chỉ tùy thuộc vào cung chân thần mà còn vào mức độ tiến hoá của chân thần đang được xét.

In this summation, we have dealt with the main types of energy manifesting in the egoic or causal body.

Trong phần tổng kết này, chúng ta đã đề cập đến các loại năng lượng chính biểu hiện trong thể chân ngã hay thể nguyên nhân.

104.  These types of energy come from the atomic triangle, from the level of the Ego itself, and from the Monad situation on planes higher than the egoic subplanes.

104.  Những loại năng lượng này đến từ tam giác nguyên tử, từ cấp độ của chính Chân ngã, và từ chân thần ở trên các cõi phụ chân ngã.

105.  The egoic lotus is certainly not simply an impervious, self-contained unit of energy. It is ‘fed’ from many sources, and when these sources are understood, the simulation can be augmented.

105.  Hoa sen chân ngã chắc chắn không chỉ đơn giản là một đơn vị năng lượng khép kín, không thấm nhập. Nó được ‘nuôi dưỡng’ từ nhiều nguồn, và khi những nguồn này được hiểu rõ, sự mô phỏng có thể được tăng cường.

Certain other influences must likewise be considered in connection with the outer tier of petals.

Một số ảnh hưởng khác cũng phải được xem xét liên hệ với vòng cánh hoa ngoài.

106.  DK tries to give us as complete a picture as possible of “energy streams”.

106.  DK cố gắng đem đến cho chúng ta một bức tranh đầy đủ nhất có thể về “các dòng năng lượng”.

107.  If we think of those words—“energy streams”—we will have in mind a very important picture of the reality underlying the outer form.

107.  Nếu chúng ta nghĩ đến những từ ấy—“các dòng năng lượng”—chúng ta sẽ có trong tâm trí một hình ảnh rất quan trọng về thực tại nằm bên dưới hình tướng bên ngoài.

108.  We began this discussion by speaking of sources of energy which influenced the outer tier of petals. During the process of discussion, however, DK seemed to focus on sources of energy working not only through the outer tier, but through the middle and inner tiers.

108.  Chúng ta đã bắt đầu cuộc thảo luận này bằng cách nói về các nguồn năng lượng ảnh hưởng đến vòng cánh hoa ngoài. Tuy nhiên, trong tiến trình thảo luận, DK dường như tập trung vào các nguồn năng lượng hoạt động không chỉ qua vòng ngoài mà còn qua các vòng giữa và trong.

e. There is the energy reaching directly to the knowledge petals from the manasic permanent atom.

e. Có năng lượng đi trực tiếp đến các cánh hoa tri thức từ nguyên tử trường tồn manas.

109.  DK has discussed three sources in relation to the knowledge petals (but also in relation to the love and sacrifice petals)—the threefold energy-stream from the atomic triangle; the energy stream manifesting through the second or love tier; the energy-stream emanating from the Monad.

109.  DK đã bàn đến ba nguồn liên hệ với các cánh hoa tri thức (nhưng cũng liên hệ với các cánh hoa bác ái và hi sinh)—dòng năng lượng tam phân từ tam giác nguyên tử; dòng năng lượng biểu hiện qua vòng thứ hai hay vòng bác ái; dòng năng lượng phát ra từ chân thần.

110.  DK focussed the two higher energy-streams through the second and inner tier respectively, but still seems to be suggesting that these higher energy-streams still have a relation to the outer of knowledge tier.

110.  DK đã hội tụ hai dòng năng lượng cao hơn qua vòng thứ hai và vòng trong tương ứng, nhưng dường như vẫn đang gợi ý rằng những dòng năng lượng cao hơn này vẫn có liên hệ với vòng ngoài hay vòng tri thức.

111.  Now He speaks of the spiritual triad as source of energy-streams. Charts VIII and IX in TCF reveal this relationship.

111.  Giờ đây Ngài nói đến Tam Nguyên Tinh Thần như là nguồn của các dòng năng lượng. Biểu đồ VIII và IX trong Luận về Lửa Vũ Trụ cho thấy mối liên hệ này.

The permanent atoms of the Spiritual Triad, as well as the bodies which are built around them,

Các nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần, cũng như các thể được xây dựng quanh chúng,

112.  From what point in the evolution process are such bodies actually built. Do they exist from the outset or are they built only later. Certainly they are “coordinated” only later.

112.  Từ điểm nào trong tiến trình tiến hoá mà những thể như thế thực sự được xây dựng? Chúng có tồn tại ngay từ đầu hay chỉ được xây dựng về sau? Chắc chắn chúng chỉ được “phối hợp” về sau mà thôi.

bring in certain groups of deva lives which have not as yet been much considered.

đưa vào một số nhóm sự sống thiên thần nhất định mà cho đến nay chưa được xem xét nhiều.

113.  One can, therefore, presume that the higher permanent atoms are an important source of energy streams into the egoic lotus.

113.  Do đó, người ta có thể giả định rằng các nguyên tử trường tồn cao là một nguồn quan trọng của các dòng năng lượng đi vào hoa sen chân ngã.

114.  Of what nature are the deva lives here mentioned and how are they related to the Creative Hierarchies which express upon the buddhic and atmic planes.

114.  Các sự sống thiên thần được nhắc đến ở đây có bản chất gì, và chúng liên hệ thế nào với các Huyền Giai Sáng Tạo biểu lộ trên các cõi Bồ đề và atma.

115.  We will continue this exploration in the next commentary.

115.  Chúng ta sẽ tiếp tục cuộc khảo sát này trong phần bình luận kế tiếp.

S9S4 Part II

TCF 1112-1116

TCF 1112-1116

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Có đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, vì mục đích liên tục mạch văn. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn văn.Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

The permanent atoms of the Spiritual Triad, as well as the bodies which are built around them,

Các nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần, cũng như các thể được xây dựng quanh chúng,

1. From what point in the evolutionary process are such bodies actually built? Do they exist from the outset when the permanent atoms around which they are organized are chosen by the Monad, or are they built only later? Certainly they are “coordinated” only later.

1. Từ điểm nào trong tiến trình tiến hoá mà những thể như thế thực sự được xây dựng? Chúng có tồn tại ngay từ đầu, khi các nguyên tử trường tồn mà quanh đó chúng được tổ chức được chân thần chọn lựa, hay chúng chỉ được xây dựng về sau? Chắc chắn chúng chỉ được “phối hợp” về sau mà thôi.

bring in certain groups of deva lives which have not as yet been much considered.

đưa vào một số nhóm sự sống thiên thần nhất định mà cho đến nay chưa được xem xét nhiều.

2. One can, therefore, presume that the higher permanent atoms are an important source of energy streams into the egoic lotus.

2. Do đó, người ta có thể giả định rằng các nguyên tử trường tồn cao là một nguồn quan trọng của các dòng năng lượng đi vào hoa sen chân ngã.

3. Of what nature are the deva lives here mentioned and how are they related to the Creative Hierarchies which express upon the buddhic and atmic planes?

3. Các sự sống thiên thần được nhắc đến ở đây có bản chất gì, và chúng liên hệ thế nào với các Huyền Giai Sáng Tạo biểu lộ trên các cõi Bồ đề và atma?

4. We will continue the exploration we began in the previous commentary.

4. Chúng ta sẽ tiếp tục cuộc khảo sát mà chúng ta đã bắt đầu trong phần bình luận trước.

They are not the lunar pitris, as that term is commonly understood, but have a direct connection with what is called “the cosmic moon” or to that dying solar system which has the same relation to our system as the moon has to the earth chain.

Chúng không phải là các thái âm tổ phụ, theo cách thuật ngữ đó thường được hiểu, mà có một liên hệ trực tiếp với điều được gọi là “mặt trăng vũ trụ” hay với hệ mặt trời đang chết có cùng mối liên hệ với hệ thống chúng ta như Mặt Trăng có với Dãy Địa Cầu.

5. We are into some fascinating occultism here. The high substantial lives upon triadal levels are not lunar pitris but do carry a vibration analogous to the ‘lunar’ vibration. They are related to a dying solar system or “cosmic moon”. DK draws the analogy to our Moon which is apparently part of the Earth-scheme.

5. Ở đây chúng ta đang đi vào một số huyền bí học thật hấp dẫn. Các sự sống chất liệu cao trên các cấp độ tam nguyên tinh thần không phải là thái âm tổ phụ, nhưng quả thật mang một rung động tương tự với rung động “thái âm”. Chúng có liên hệ với một hệ mặt trời đang chết hay “mặt trăng vũ trụ”. Chân sư DK nêu phép loại suy với Mặt Trăng của chúng ta, vốn dường như là một phần của hệ hành tinh Trái Đất.

6. From one perspective, we can wonder whether this “cosmic moon” is a type of burnt-out Sun, the vestige of that which served as a Sun in the previous solar system.

6. Từ một góc nhìn, chúng ta có thể tự hỏi liệu “mặt trăng vũ trụ” này có phải là một loại Mặt Trời đã tắt lịm, là di tích của cái đã từng phục vụ như một Mặt Trời trong hệ mặt trời trước hay không.

7. If the cosmic moon under discussion has the same relation to our present solar system as our Moon has to the Earth-scheme, then it is a deleterious, retrogressive influence.

7. Nếu mặt trăng vũ trụ đang được bàn đến có cùng mối liên hệ với hệ mặt trời hiện tại của chúng ta như Mặt Trăng của chúng ta có với hệ hành tinh Trái Đất, thì nó là một ảnh hưởng có hại và thoái hóa.

8. We have to determine to what extent this previous solar system is dying. Apparently there are some residual lives still living within it.

8. Chúng ta phải xác định xem hệ mặt trời trước này đang chết đến mức nào. Dường như vẫn còn một số sự sống dư tồn đang sống bên trong nó.

9. Perhaps the Monad did not play a very important part in the previous solar system. Perhaps the triadal lives represented the heights of attainment.

9. Có lẽ chân thần đã không đóng một vai trò thật quan trọng trong hệ mặt trời trước. Có lẽ các sự sống tam nguyên tinh thần tượng trưng cho những đỉnh cao thành tựu.

10. In any case, because these deva lives are located on triadal levels, they cannot be considered as primitive as the lunar lives who express within the lower three worlds.

10. Dù sao đi nữa, vì các sự sống thiên thần này tọa lạc trên các cấp độ tam nguyên tinh thần, chúng không thể bị xem là nguyên thủy như các sự sống thái âm, vốn biểu lộ trong ba cõi thấp.

This “cosmic [Page 1113] moon” transmits its energy to the manasic atomic subplane, via the planet Saturn.

Mặt trăng vũ trụ [Page 1113] này” truyền năng lượng của nó đến cõi phụ nguyên tử manas, qua hành tinh Sao Thổ.

11. This is so incredibly important. The “cosmic moon” still has energy, it seems, and is still active. Our own Moon has no true radiation of its own, we are told, but this does not seem to be the case for the “cosmic moon”.

11. Điều này vô cùng quan trọng. Có vẻ như “mặt trăng vũ trụ” vẫn còn năng lượng và vẫn còn hoạt động. Chúng ta được bảo rằng chính Mặt Trăng của chúng ta không có bức xạ đích thực nào của riêng nó, nhưng dường như điều này không đúng đối với “mặt trăng vũ trụ”.

“Another point which should here be noted is that the influence of the moon is purely symbolic in nature and in effect and is simply the result of ancient thought and teaching (descended to us from Lemurian times) and is not based upon any true radiation or influence. In those far off times, antedating even Lemuria and constituting in Lemurian days simply an ancient tradition, the moon appeared to be a living vital entity. But I would have you bear definitely in mind that today the moon is nothing more than a dead form. It has no emanation and no radiation of any kind and, therefore, has no effect of any kind. The moon, from the angle of the esoteric knower, is simply an obstruction in space—an undesirable form which must some day disappear. In esoteric astrology, the effect of the moon is noted as a thought effect and as the result of a powerful and most ancient thoughtform; nevertheless, the moon has no quality of her own and can transmit nothing to the Earth. Let me reiterate: The moon is a dead form; it has no emanation at all. That is why the moon is spoken of in the ancient teaching as “veiling either Vulcan or Uranus.” This hint or inference has always been here and astrologers would do well to experiment with this suggestion I have made anent the moon and (instead of working with the moon) let them work with Vulcan when dealing with the undeveloped or average man and with Uranus when considering the highly developed man. They would find some interesting and convincing results eventuate”. (EA 13)

“Một điểm khác cần được lưu ý ở đây là ảnh hưởng của mặt trăng thuần túy có tính biểu tượng về bản chất và về hiệu quả, và chỉ đơn giản là kết quả của tư tưởng và giáo huấn cổ xưa (truyền lại cho chúng ta từ thời Lemuria), chứ không dựa trên bất kỳ bức xạ hay ảnh hưởng thực sự nào. Trong những thời kỳ xa xưa ấy, còn trước cả Lemuria và trong thời Lemuria chỉ cấu thành một truyền thống cổ xưa, mặt trăng dường như là một thực thể sống đầy sinh lực. Nhưng tôi muốn các bạn ghi nhớ dứt khoát rằng ngày nay mặt trăng không là gì khác hơn một hình tướng chết. Nó không có phát xạ và không có bức xạ dưới bất kỳ loại nào, và vì thế không có bất kỳ hiệu quả nào. Mặt trăng, xét từ góc độ của thức giả huyền bí, chỉ đơn giản là một chướng ngại trong không gian—một hình tướng không mong muốn mà một ngày nào đó phải biến mất. Trong chiêm tinh học nội môn, hiệu quả của mặt trăng được ghi nhận như một hiệu quả tư tưởng và như kết quả của một hình tư tưởng rất mạnh mẽ và cực kỳ cổ xưa; tuy nhiên, mặt trăng không có phẩm tính nào của riêng nó và không thể truyền gì đến Trái Đất. Hãy để tôi nhắc lại: Mặt trăng là một hình tướng chết; nó hoàn toàn không có phát xạ. Đó là lý do vì sao trong giáo huấn cổ xưa người ta nói rằng mặt trăng “che giấu hoặc Vulcan hoặc Uranus”. Gợi ý hay hàm ý này luôn luôn hiện diện ở đây, và các nhà chiêm tinh sẽ làm tốt nếu thử nghiệm với gợi ý tôi đã đưa ra liên quan đến mặt trăng và (thay vì làm việc với mặt trăng) hãy để họ làm việc với Vulcan khi đề cập đến con người chưa phát triển hay trung bình và với Uranus khi xem xét con người phát triển cao. Họ sẽ thấy xuất hiện một số kết quả thú vị và đầy sức thuyết phục”. (EA 13)

12. The influences under discussion are not negligible in the life of man because the first (higher) anchor of the antahkarana (the manasic permanent atom) is under stimulation from both the “cosmic moon” and Saturn.

12. Các ảnh hưởng đang được bàn đến không thể xem nhẹ trong đời sống con người, bởi vì điểm neo đầu tiên (cao hơn) của antahkarana (nguyên tử trường tồn manas) đang chịu sự kích thích từ cả “mặt trăng vũ trụ” lẫn Sao Thổ.

13. When thinking of the manasic permanent atom we must always think of its connection to the planet Saturn. As well, Saturn has a connection to the atmic plane and to the atmic permanent atom.

13. Khi nghĩ đến nguyên tử trường tồn manas, chúng ta phải luôn nghĩ đến mối liên hệ của nó với hành tinh Sao Thổ. Ngoài ra, Sao Thổ cũng có một liên hệ với cõi atma và với nguyên tử trường tồn atma.

14. When considering Saturn and Uranus, it is always difficult to determine whether Uranus or Saturn should be related to the manasic permanent atom or the atmic permanent atom. It would seem that, to an extent, it is right to relate both planets to each of these permanent atoms.

14. Khi xem xét Sao Thổ và Uranus, luôn luôn khó xác định liệu Uranus hay Sao Thổ nên được liên hệ với nguyên tử trường tồn manas hay nguyên tử trường tồn atma. Dường như, ở một mức độ nào đó, việc liên hệ cả hai hành tinh với mỗi nguyên tử trường tồn này là đúng.

It is a triple energy and there is an esoteric connection between this triple energy, and Saturn’s rings.

Đó là một năng lượng tam phân và có một mối liên hệ huyền bí giữa năng lượng tam phân này và các vành đai của Sao Thổ.

15. Saturn receives a triple energy from the “cosmic moon”. The rings of Saturn, considered the symbol of limitation, are related to this triple ancient energy. Saturn, too, is a planet always deeply associated with the number three— and its monadic ray (as well perhaps as its soul ray) is the third.

15. Sao Thổ tiếp nhận một năng lượng tam phân từ “mặt trăng vũ trụ”. Các vành đai của Sao Thổ, được xem là biểu tượng của sự giới hạn, có liên hệ với năng lượng cổ xưa tam phân này. Sao Thổ cũng là một hành tinh luôn gắn bó sâu sắc với con số ba—và cung chân thần của nó (cũng như có lẽ cả cung linh hồn của nó) là cung ba.

16. We might consider the influence of the “cosmic moon” as one of the channels for the third ray into our solar system.

16. Chúng ta có thể xem ảnh hưởng của “mặt trăng vũ trụ” như một trong những kênh dẫn của cung ba đi vào hệ mặt trời của chúng ta.

17. It is interesting that astronomy may be in the process of discovering more than three rings to Saturn.

17. Điều thú vị là thiên văn học có thể đang trong tiến trình khám phá nhiều hơn ba vành đai quanh Sao Thổ.

Saturn is best known for its elaborate ring system. They’re made of icy particles orbiting the planet. The rings have distinct divisions, and astronomers have separate designations for each of Saturn’s rings. But how many rings does Saturn have?

Sao Thổ được biết đến nhiều nhất nhờ hệ thống vành đai phức tạp của nó. Chúng được tạo thành từ các hạt băng quay quanh hành tinh. Các vành đai có những sự phân chia rõ rệt, và các nhà thiên văn có những ký hiệu riêng cho từng vành đai của Sao Thổ. Nhưng Sao Thổ có bao nhiêu vành đai?

The question is actually impossible to answer. Saturn has more than a dozen rings and gaps within the rings – and more are being discovered by spacecraft like NASA’s Cassini. But the planet does have several major ring systems and gaps within them.

Câu hỏi này thật ra không thể trả lời dứt khoát. Sao Thổ có hơn một tá vành đai và các khoảng trống bên trong các vành đai—và còn nhiều cái nữa đang được các phi thuyền như Cassini của NASA khám phá. Nhưng hành tinh này quả thật có một số hệ vành đai chính và các khoảng trống bên trong chúng.

The two densest parts of the rings are the A and B rings, separated by the Cassini Division, and then the C Ring. So, is that 3 rings, or 4? Whatever the case, these comprise Saturn’s main rings.

Hai phần dày đặc nhất của các vành đai là vành A và vành B, được ngăn cách bởi Khe Cassini, rồi đến vành C. Vậy đó là 3 vành đai hay 4? Dù thế nào đi nữa, chúng cấu thành các vành đai chính của Sao Thổ.

After the 3 main rings, you have the smaller, dusty rings: the D Ring, G Ring, E Ring, and others beyond that. There’s also the F Ring, which is just outside the A Ring.

Sau 3 vành đai chính, bạn có các vành đai nhỏ hơn, đầy bụi: vành D, vành G, vành E, và những vành khác nữa ở xa hơn. Cũng có vành F, nằm ngay bên ngoài vành A.

That’s 3 main rings and 5 dusty rings for a total of 8 rings, 9 if you count the Cassini Division.

Như vậy là 3 vành đai chính và 5 vành đai bụi, tổng cộng là 8 vành đai, hoặc 9 nếu tính cả Khe Cassini.

But there are even more rings around Saturn. There’s the Janus Ring, the Methone Ring Arc, the Anthe Ring Arc and the Pallene Ring, as well as the Roche Division. 4 more rings and another division.

Nhưng quanh Sao Thổ còn có nhiều vành đai hơn nữa. Có vành Janus, Cung Vành Methone, Cung Vành Anthe và vành Pallene, cũng như Phân khu Roche. Thêm 4 vành đai nữa và một phân khu nữa.

That brings us to 12 rings and 2 divisions.

Như vậy tổng cộng là 12 vành đai và 2 phân khu.

But then there are also smaller divisions and gaps within the various rings that would bring the total to more than 30 (the Encke Gap, the Huygens Gap, the Dawes Gap, and many more).

Nhưng rồi cũng còn có những phân khu và khoảng trống nhỏ hơn bên trong các vành đai khác nhau, khiến tổng số tăng lên hơn 30 (Khe Encke, Khe Huygens, Khe Dawes, và nhiều nữa).

To answer the question, how many rings does Saturn have, you really need to find out how closely you’re looking. From what you might be able to see, there are 3 rings. With powerful telescopes, you can make out 8 rings. And with spacecraft like Cassini orbiting Saturn, that total rises above 30.

Để trả lời câu hỏi Sao Thổ có bao nhiêu vành đai, bạn thật sự cần biết mình đang quan sát kỹ đến mức nào. Theo những gì bạn có thể thấy, có 3 vành đai. Với những kính thiên văn mạnh, bạn có thể phân biệt được 8 vành đai. Và với các phi thuyền như Cassini quay quanh Sao Thổ, tổng số ấy tăng lên trên 30.

Written by Fraser Cain

Viết bởi Fraser Cain

18. The connection here discussed is, however, “esoteric”. Perhaps we will not be incorrect if we imagine that the principle of limitation which Saturn often represents is related to this ancient energy and its rings.

18. Tuy nhiên, mối liên hệ được bàn đến ở đây là “huyền bí”. Có lẽ chúng ta sẽ không sai nếu hình dung rằng nguyên lý giới hạn mà Sao Thổ thường tượng trưng có liên hệ với năng lượng cổ xưa này và các vành đai của nó.

19. We must ask, however, whether the triple energy of this ancient “cosmic moon” is related to the planet Saturn per se, or to the perhaps more ancient material gathered around the planet in the form of rings.

19. Tuy nhiên, chúng ta phải hỏi liệu năng lượng tam phân của “mặt trăng vũ trụ” cổ xưa này có liên hệ với chính hành tinh Sao Thổ, hay với chất liệu có lẽ còn cổ xưa hơn đang tụ tập quanh hành tinh dưới hình thức các vành đai.

The old Commentary expresses this truth about an interesting group of sons of manas as follows:

Cổ Luận diễn tả chân lý này về một nhóm những con của manas thú vị như sau:

“These Sons of mind clung to the old and dying form, and refused to leave their Mother.

“Những Con của Trí Tuệ này bám chặt vào hình tướng cũ đang chết, và từ chối rời bỏ Mẹ của mình.

20. Who are these “Sons of mind”? It is far from entirely clear. If they are “brothers” of Saturn (as we will later see), they could well be Planetary Logoi of a lesser kind. Or they could be lesser forms of life such a human beings.

20. Những “Con của Trí Tuệ” này ai? Điều đó hoàn toàn không rõ ràng. Nếu họ là những “huynh đệ” của Sao Thổ (như chúng ta sẽ thấy về sau), họ rất có thể là các Hành Tinh Thượng đế thuộc loại thấp hơn. Hoặc họ có thể là những hình thức sự sống thấp hơn như con người.

21. From the Old Commentary, we consider the immediately previous solar system to be a “Mother” system. Through its third ray, Saturn is closely related to the “Mother aspect” but through its first ray, to the “Father aspect”.

21. Từ Cổ Luận, chúng ta xem hệ mặt trời ngay trước đó là một hệ “Mẹ”. Qua cung ba của mình, Sao Thổ có liên hệ mật thiết với “phương diện Mẹ”, nhưng qua cung một của nó, với “phương diện Cha”.

They chose to pass into dissolution with her

Họ đã chọn đi vào sự tan rã cùng với Mẹ.

22. Because they “chose” these “Sons of Mind” or “brothers” of Saturn were certainly self-conscious.

22. Bởi vì họ “đã chọn”, những “Con của Trí Tuệ” hay những “huynh đệ” của Sao Thổ này chắc chắn là có ngã thức.

23. Such a choice would have represented a major solar systemic retrogression.

23. Một sự lựa chọn như thế hẳn đã tượng trưng cho một sự thoái hóa lớn của hệ mặt trời.

24. Could such “brothers” be those minor Planetary Logoi that ensoul the minor non-sacred planets (or planetoids) within our solar system? Could these Beings have ensouled those orbs we now call the moons of Saturn, Jupiter and Uranus etc., or those very minor planets associated with Pluto and beyond the orbit of Pluto? Are the asteroids related to these “brothers” who had thought to pass into dissolution with the Mother?

24. Liệu những “huynh đệ” như thế có thể là những Hành Tinh Thượng đế nhỏ đang phú linh cho các hành tinh nhỏ không thiêng liêng (hay các tiểu hành tinh) trong hệ mặt trời của chúng ta chăng? Liệu các Đấng này có thể đã phú linh cho những thiên thể mà nay chúng ta gọi là các mặt trăng của Sao Thổ, Sao Mộc và Uranus v.v., hay những hành tinh rất nhỏ liên hệ với Sao Diêm Vương và vượt ra ngoài quỹ đạo Sao Diêm Vương chăng? Các tiểu hành tinh có liên hệ với những “huynh đệ” này, những vị đã nghĩ đến việc đi vào sự tan rã cùng với Mẹ, chăng?

25. Such a retrogressive attitude, we may infer, is as unhealthy for great Beings as it is for the human being.

25. Chúng ta có thể suy ra rằng một thái độ thoái hóa như thế cũng không lành mạnh đối với các Đấng vĩ đại như đối với con người.

but a younger son (Saturn) sought to rescue his brothers, and to this end he built a triple bridge between the old and new.

nhưng một người con trẻ hơn (Sao Thổ) đã tìm cách cứu các huynh đệ của mình, và vì mục đích ấy y đã xây một cây cầu tam phân giữa cái cũ và cái mới.

26. One wonders whether the three triadal principles of man could have been transferred into this solar system via this bridge. These three principles are still to be found within the realm of solar systemic Brahma. Thus are not found ‘above’ the atmic plane.

26. Người ta tự hỏi liệu ba nguyên khí tam nguyên tinh thần của con người có thể đã được chuyển sang hệ mặt trời này qua cây cầu ấy hay không. Ba nguyên khí này vẫn còn được tìm thấy trong phạm vi của Brahma hệ mặt trời. Vì thế chúng không được tìm thấy ‘ở trên’ cõi atma.

27. We remember that Saturn is associated with the first part of the antahkarana. We understand, from the “triple bridge” it created, Saturn’s relationship to the antahkarana process.

27. Chúng ta nhớ rằng Sao Thổ được liên kết với phần đầu tiên của antahkarana. Từ “cây cầu tam phân” mà nó đã tạo ra, chúng ta hiểu mối liên hệ của Sao Thổ với tiến trình antahkarana.

28. It may be useful to realize that three energy “threads” unite in man, connecting the lower man to his highest principles. These threads are the sutratma, the antahkarana and the creative thread.

28. Có thể hữu ích khi nhận ra rằng ba “sợi dây” năng lượng hợp nhất trong con người, nối phàm nhân với các nguyên khí cao nhất của y. Những sợi dây này là sutratma, antahkarana và sợi dây sáng tạo.

29. To whom or to what is Saturn as a “son”? Could we say that He is a younger “son” to the Solar Logos? This does seem to be the case.

29. Sao Thổ là “con” của ai hay của cái gì? Chúng ta có thể nói rằng Ngài là một “người con” trẻ hơn của Thái dương Thượng đế chăng? Điều này dường như đúng là như vậy.

30. When we think of the “brothers” of Saturn, must we think of them as His peers, or can we think of them as much younger “brothers”—even as human Monads? It is possible, after all, that without the agency of Saturn, not only minor Planetary Logoi, but human Monads of a certain kind could have been trapped within the confines of the previous solar system.

30. Khi nghĩ đến những “huynh đệ” của Sao Thổ, chúng ta phải nghĩ đến họ như những vị ngang hàng với Ngài, hay có thể nghĩ đến họ như những “huynh đệ” trẻ hơn rất nhiều—thậm chí như các chân thần nhân loại? Rốt cuộc, có thể là nếu không có tác động của Sao Thổ, không chỉ các Hành Tinh Thượng đế nhỏ, mà cả các chân thần nhân loại thuộc một loại nào đó cũng có thể đã bị mắc kẹt trong những giới hạn của hệ mặt trời trước.

This bridge persists, and forms a path whereon escape is possible.

Cây cầu này vẫn tồn tại, và tạo thành một con đường trên đó sự thoát ra là có thể.

31. Is DK telling us that even now the “bridge persists? Have not all lives who could make their escape, already made their escape?

31. Phải chăng Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng ngay cả bây giờ cây cầu ấy “vẫn tồn tại”? Chẳng phải mọi sự sống nào có thể thoát ra đều đã thoát rồi sao?

32.  When DK tells us that escape is still possible, it is hard to believe that human Monads are among those who can still make their escape. Whether such Monads are still making their escape can be debated, but it would seem that lesser forms of life still composing the matter/substance of that decaying solar system also have the opportunity to make escape, and may still need to make such an escape, even though such escape may be unconscious. We must remember that in the chronology of Trans-Himalayan Occultism, the previous solar system ended many trillions of years ago.

32.  Khi Chân sư DK bảo chúng ta rằng sự thoát ra vẫn còn có thể, thật khó tin rằng các chân thần nhân loại nằm trong số những vị vẫn còn có thể thoát ra. Việc những chân thần như thế có vẫn đang thoát ra hay không có thể còn tranh luận, nhưng dường như những hình thức sự sống thấp hơn vẫn còn cấu thành vật chất/chất liệu của hệ mặt trời đang suy tàn ấy cũng có cơ hội thoát ra, và có thể vẫn cần thực hiện sự thoát ra như thế, dù sự thoát ra ấy có thể là vô thức. Chúng ta phải nhớ rằng trong niên đại học của Huyền Bí Học Xuyên Hy Mã Lạp Sơn, hệ mặt trời trước đã chấm dứt từ nhiều ngàn tỉ năm trước.

33. We can see Saturn’s function as a kind of antahkarana between dense physical planes, which cosmically, are not principled, and those levels which (from a cosmic perspective) are. Saturn then serves as a kind of bridge between cosmic density and cosmic ether. From the cosmic planetary perspective (i.e., considering our Planetary Logos as a cosmic Being), the higher mental plane can be considered a kind of fourth ether. Saturn acts as a bridge to the systemic higher mental plane where Venus presides.

33. Chúng ta có thể thấy chức năng của Sao Thổ như một loại antahkarana giữa các cõi hồng trần đậm đặc, mà về mặt vũ trụ không có nguyên khí, và những cấp độ mà (từ một góc nhìn vũ trụ) thì có. Khi ấy Sao Thổ phục vụ như một loại cầu nối giữa sự đậm đặc vũ trụ và dĩ thái vũ trụ. Từ góc nhìn hành tinh vũ trụ (tức là xét Hành Tinh Thượng đế của chúng ta như một Hữu thể vũ trụ), cõi thượng trí có thể được xem như một loại dĩ thái thứ tư. Sao Thổ hoạt động như một cây cầu đến cõi thượng trí hệ thống nơi Sao Kim chủ trì.

34. And certainly the reflection of this bridge persists today within our solar system.

34. Và chắc chắn sự phản chiếu của cây cầu này vẫn tồn tại ngày nay trong hệ mặt trời của chúng ta.

Some escaped and came to the help of the incarnating Sons of Mind who had left the Mother for the Father. The greater gulf was bridged. The lesser gulf persisted, and must be bridged by the living Sons of Mind themselves.”

Một số đã thoát ra và đến giúp đỡ những Con của Trí Tuệ đang lâm phàm, những vị đã rời Mẹ để đến với Cha. Vực thẳm lớn hơn đã được bắt cầu. Vực thẳm nhỏ hơn vẫn tồn tại, và phải được chính những Con của Trí Tuệ đang sống bắt cầu.”

(This latter clause, refers to the building of the antaskarana.)

(Mệnh đề sau cùng này nói đến việc xây dựng antahkarana.)

35. We must focus carefully on the types of B/beings implicated in this discussion.

35. Chúng ta phải tập trung cẩn thận vào các loại hữu thể/Hữu thể được hàm ý trong cuộc bàn luận này.

36. From one perspective, we could interpret the “incarnating Sons of Mind” as human beings who had individualized in the previous solar system. Those who escaped via the bridge could be the Solar Angels who are presently helping humanity evolve. Perhaps they, especially, help those who had ancient ties to the Mother (the previous solar system).

36. Từ một góc nhìn, chúng ta có thể diễn giải những “Con của Trí Tuệ đang lâm phàm” là những con người đã biệt ngã hóa trong hệ mặt trời trước. Những vị đã thoát ra qua cây cầu có thể là các Thái dương Thiên Thần hiện đang giúp nhân loại tiến hoá. Có lẽ chính các vị ấy đặc biệt giúp đỡ những ai đã có những mối liên hệ cổ xưa với Mẹ (hệ mặt trời trước).

37. We do feel our Solar Angel trying to wean us away from tendencies prominent during the previous solar system and, later, during the Moon-chain.

37. Chúng ta thật sự cảm thấy Thái dương Thiên Thần của mình đang cố cai sữa chúng ta khỏi những khuynh hướng nổi trội trong hệ mặt trời trước và, về sau, trong Dãy Mặt Trăng.

38. The “great gulf” was that which existed between the previous and present solar system.

38. “Vực thẳm lớn” là cái đã tồn tại giữa hệ mặt trời trước và hệ mặt trời hiện tại.

39. The “lesser” gulf exists between the dense physical body of the Planetary Logos (His cosmically unprincipled subplanes) and the three subplanes of the higher mental plane. Another but higher “lesser” gulf exists between the lower twenty subplanes (including the two lower subplanes of the higher mental plane) and the atomic level of the higher mental plane—the lowest point of the spiritual triad.

39. “Vực thẳm nhỏ hơn” tồn tại giữa thể xác hồng trần đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế (các cõi phụ không có nguyên khí của Ngài về mặt vũ trụ) và ba cõi phụ của cõi thượng trí. Một “vực thẳm nhỏ hơn” khác nhưng cao hơn tồn tại giữa hai mươi cõi phụ thấp hơn (bao gồm hai cõi phụ thấp hơn của cõi thượng trí) và cấp độ nguyên tử của cõi thượng trí—điểm thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần.

The energy transmitted from the manasic permanent atom of each incarnating jiva,

Năng lượng được truyền từ nguyên tử trường tồn manas của mỗi jiva đang lâm phàm,

40. The incarnating jiva can be considered triple even though, essentially, it is the Monad pure and simple.

40. Jiva đang lâm phàm có thể được xem là tam phân mặc dù, về bản chất, nó chỉ đơn giản là chân thần thuần túy.

41. From one perspective, it almost seems as if the “incarnating jiva” is the spiritual triad—in extension. Certainly the spiritual triad is part of each incarnating jiva or the jiva could not have a manasic permanent atom.

41. Từ một góc nhìn, gần như có vẻ “jiva đang lâm phàm” là Tam Nguyên Tinh Thần—trong sự mở rộng. Chắc chắn Tam Nguyên Tinh Thần là một phần của mỗi jiva đang lâm phàm, nếu không jiva đã không thể có nguyên tử trường tồn manas.

its union with its reflection, the energy of the mental unit,

sự hợp nhất của nó với phản chiếu của nó, năng lượng của đơn vị hạ trí,

42. Are we here saying that the mental unit is the reflection of the manasic permanent atom? It seems reasonable.

42. Ở đây có phải chúng ta đang nói rằng đơn vị hạ trí là phản chiếu của nguyên tử trường tồn manas không? Điều đó có vẻ hợp lý.

and the triple stream of force thus created on the mental plane,

và dòng mãnh lực tam phân do đó được tạo ra trên cõi trí,

43. It appears that when the manasic permanent atom is united to the mental unit a triple stream of force is created on the mental plane. We can think of this triple stream as consisting of the antahkarana, the sutratma and the creative thread.

43. Dường như khi nguyên tử trường tồn manas được hợp nhất với đơn vị hạ trí thì một dòng mãnh lực tam phân được tạo ra trên cõi trí. Chúng ta có thể nghĩ về dòng tam phân này như gồm antahkarana, sutratma và sợi dây sáng tạo.

44. We might also consider that the triple stream represents the personality, the soul and the Monad. In one way, the sutratma representatives the Monad; the antahkarana represents the soul; and the creative thread, the personality.

44. Chúng ta cũng có thể xem rằng dòng tam phân ấy tượng trưng cho phàm ngã, linh hồn và chân thần. Theo một cách nào đó, sutratma tượng trưng cho chân thần; antahkarana tượng trưng cho linh hồn; và sợi dây sáng tạo, cho phàm ngã.

45. The mental unit, then, is to be considered the “reflection” of the manasic permanent atom. The manasic permanent atom has three spirillae and the mental unit has four. We have, however, to determine in exactly what manner the mental unit is considered the reflection of the manasic permanent atom.

45. Vậy thì đơn vị hạ trí phải được xem là “phản chiếu” của nguyên tử trường tồn manas. Nguyên tử trường tồn manas có ba loa tuyến và đơn vị hạ trí có bốn. Tuy nhiên, chúng ta phải xác định chính xác theo cách nào đơn vị hạ trí được xem là phản chiếu của nguyên tử trường tồn manas.

46. Another triple stream of force can be considered the manasic permanent atom, the mental unit and the “Son of Mind”.

46. Một dòng mãnh lực tam phân khác có thể được xem là nguyên tử trường tồn manas, đơn vị hạ trí và “Con của Trí Tuệ”.

47. If from a larger perspective, Venus represents the manasic permanent atom and Earth the mental unit, we have to determine in what manner Earth is or is intended to be the reflection of Venus.

47. Nếu từ một góc nhìn lớn hơn, Sao Kim tượng trưng cho nguyên tử trường tồn manas và Trái Đất tượng trưng cho đơn vị hạ trí, thì chúng ta phải xác định theo cách nào Trái Đất là hay được dự định là phản chiếu của Sao Kim.

has its planetary reflection in the relation of Saturn to another planetary scheme, and the three rings which are energy rings, and symbols of an inner verity.

có phản chiếu hành tinh của nó trong mối liên hệ của Sao Thổ với một hệ hành tinh khác, và ba vành đai là những vành đai năng lượng, và là những biểu tượng của một chân lý nội tại.

48. From a certain perspective, Saturn can be considered the symbol of the manasic permanent atom; Venus the symbol of the Ego manifesting through the egoic lotus; and the Earth as the symbol of the mental unit.

48. Từ một góc nhìn nào đó, Sao Thổ có thể được xem là biểu tượng của nguyên tử trường tồn manas; Sao Kim là biểu tượng của chân ngã biểu lộ qua Hoa Sen Chân Ngã; và Trái Đất là biểu tượng của đơn vị hạ trí.

49. The other planetary scheme here mentioned could be none other than the Earth as the symbol of the mental unit. (We know of the close relation between Saturn and the Earth—Saturn as the mental body and Earth, the physical body of a great Third Ray Entity.) Sometimes Venus is said to represent the manasic permanent atom and Earth the mental unit.

49. Hệ hành tinh khác được nhắc đến ở đây có thể không gì khác hơn là Trái Đất như biểu tượng của đơn vị hạ trí. (Chúng ta biết mối liên hệ mật thiết giữa Sao Thổ và Trái Đất—Sao Thổ như thể trí và Trái Đất như thể xác của một Thực Thể cung ba vĩ đại.) Đôi khi người ta nói Sao Kim tượng trưng cho nguyên tử trường tồn manas và Trái Đất tượng trưng cho đơn vị hạ trí.

50. The “inner verity” is an inner structural truth. The antahkarana is a inner structural truth, and it is threefold.

50. “Chân lý nội tại” là một chân lý cấu trúc bên trong. Antahkarana là một chân lý cấu trúc bên trong, và nó là tam phân.

51. DK seems to be likening the rings of Saturn to the threefold nature of the antahkarana. He specifies most potently that the rings are “energy rings”, just as the antahkarana is to be considered a bridge of energy —a threefold bridge.

51. Chân sư DK dường như đang ví các vành đai của Sao Thổ với bản chất tam phân của antahkarana. Ngài nhấn mạnh rất mạnh rằng các vành đai là những “vành đai năng lượng”, cũng như antahkarana phải được xem là một cây cầu của năng lượng—một cây cầu tam phân.

52. We could make a comparison as follows:

52. Chúng ta có thể đưa ra một sự so sánh như sau:

Saturn

Manasic permanent atom

Rings of Saturn

Antahkarana

Earth

Mental unit

53. We are now discussing a number of energy-streams which impact the knowledge petals of the egoic lotus.

53. Hiện nay chúng ta đang bàn đến một số dòng năng lượng tác động lên các cánh hoa tri thức của Hoa Sen Chân Ngã.

a. Energy also pours in upon the knowledge petals from the egoic group,

a. Năng lượng cũng tuôn vào các cánh hoa tri thức từ nhóm chân ngã,

54. We have earlier read of how energy from the three lower worlds influences the knowledge petals. Now we read of a much higher form of influence upon them—the influence arising from the members of any Ego’s egoic group.

54. Trước đây chúng ta đã đọc về cách năng lượng từ ba cõi thấp ảnh hưởng đến các cánh hoa tri thức. Giờ đây chúng ta đọc về một hình thức ảnh hưởng cao hơn nhiều lên chúng—ảnh hưởng phát sinh từ các thành viên của nhóm chân ngã của bất kỳ chân ngã nào.

or from the aggregated knowledge petals of all the other lotuses in the group affiliated with any particular solar Angel.

hoặc từ tổng hợp các cánh hoa tri thức của tất cả những hoa sen khác trong nhóm liên kết với bất kỳ Thái dương Thiên Thần đặc thù nào.

55. It would seem that that knowledge content of one egoic group influences the knowledge content of any particular Ego or Solar Angel within that group.

55. Dường như nội dung tri thức của một nhóm chân ngã ảnh hưởng đến nội dung tri thức của bất kỳ chân ngã hay Thái dương Thiên Thần đặc thù nào trong nhóm ấy.

These groups have been earlier dealt with.

Những nhóm này đã được bàn đến trước đây.

56. Increasingly, and on the physical plane, it becomes possible to meet and interact with those who are part of the content of one’s egoic group.

56. Ngày càng nhiều hơn, và trên cõi hồng trần, việc gặp gỡ và tương tác với những người là một phần trong nội dung của nhóm chân ngã của mình trở nên có thể.

b. Energy is transmitted also to the petals [the knowledge petals] via the groups and emanations from those planetary schemes and streams of force which form the outer petals of that great centre which is our solar system, and which we are told is seen from the higher planes as a twelve-petalled lotus.

b. Năng lượng cũng được truyền đến các cánh hoa [các cánh hoa tri thức] qua các nhóm và các phát xạ từ những hệ hành tinh và các dòng mãnh lực tạo thành các cánh hoa bên ngoài của trung tâm vĩ đại là hệ mặt trời của chúng ta, và như chúng ta được bảo, từ các cõi cao hơn nó được thấy như một hoa sen mười hai cánh.

57. We are speaking of the energy transmitted from various sources to the knowledge petals of the egoic lotus.

57. Chúng ta đang nói về năng lượng được truyền từ nhiều nguồn khác nhau đến các cánh hoa tri thức của Hoa Sen Chân Ngã.

58. We have read of transmission to these petals from the personality level and also from the knowledge petals of other Egos in an egoic group related to the soul/Solar Angel/egoic lotus in question. Now we read of transmission from certain “planetary schemes” which form the outer petals of the great lotus of our solar system. Some planetary schemes are more closely allied with the knowledge nature of the Solar Logos than with His love or will nature, and it is of these planetary schemes we are speaking.

58. Chúng ta đã đọc về sự truyền đến các cánh hoa này từ cấp độ phàm ngã và cũng từ các cánh hoa tri thức của những chân ngã khác trong một nhóm chân ngã có liên hệ với linh hồn/Thái dương Thiên Thần/Hoa Sen Chân Ngã đang được xét. Giờ đây chúng ta đọc về sự truyền từ một số “hệ hành tinh” tạo thành các cánh hoa bên ngoài của hoa sen vĩ đại là hệ mặt trời của chúng ta. Một số hệ hành tinh liên minh mật thiết hơn với bản chất tri thức của Thái dương Thượng đế hơn là với bản chất bác ái hay ý chí của Ngài, và chính về những hệ hành tinh này mà chúng ta đang nói đến.

59. We can imagine, that Mars and Pluto are numbered among such schemes. Probably the schemes which we are discussing are not sacred schemes.

59. Chúng ta có thể hình dung rằng Sao Hỏa và Sao Diêm Vương được kể vào số những hệ như thế. Có lẽ các hệ mà chúng ta đang bàn đến không phải là những hệ thiêng liêng.

60. It is important to note that our solar system is perceived from higher planes as a “twelve-petalled lotus”. This confirms the nature of our solar system as a heart center.

60. Điều quan trọng cần lưu ý là hệ mặt trời của chúng ta được nhận biết từ các cõi cao hơn như một “hoa sen mười hai cánh”. Điều này xác nhận bản chất của hệ mặt trời chúng ta như một trung tâm tim.

61. We may ask, “In which greater Being is our Solar Logos a heart center.” The Teaching tells us it is the “One About Whom Naught May Be Said”, but again, we must ask which “One About Whom Naught May Be Said” and what is the scope of such a Being—a ‘Constellational Logos’ or a ‘Super-Constellational Logos’?

61. Chúng ta có thể hỏi: “Trong Hữu thể lớn hơn nào mà Thái dương Thượng đế của chúng ta là một trung tâm tim?” Giáo Huấn cho biết đó là “Đấng Bất Khả Tư Nghị”, nhưng một lần nữa, chúng ta phải hỏi Đấng “Đấng Bất Khả Tư Nghị” nào và phạm vi của một Hữu thể như thế là gì—một ‘Thượng đế Chòm Sao’ hay một ‘Thượng đế Siêu Chòm Sao’?

These streams [Page 1114] do not emanate from the seven sacred planets but from other planetary bodies within the solar Ring-Pass-Not.

Những dòng này [Page 1114] không phát ra từ bảy hành tinh thiêng liêngtừ những thiên thể hành tinh khác bên trong vòng-giới-hạn mặt trời.

62. The idea suggested above is confirmed. The rays of the sacred planets do not focally stimulate the knowledge petals of the human egoic lotus.

62. Ý tưởng được gợi ra ở trên được xác nhận. Các cung của những hành tinh thiêng liêng không kích thích một cách tiêu điểm các cánh hoa tri thức của Hoa Sen Chân Ngã nhân loại.

63. We must remember that there are many planetary bodies within our solar ring-pass-not and through only a relatively few is a sacred Planetary Logos in process of expressing.

63. Chúng ta phải nhớ rằng có nhiều thiên thể hành tinh bên trong vòng-giới-hạn mặt trời của chúng ta, và chỉ qua một số tương đối ít trong đó mà một Hành Tinh Thượng đế thiêng liêng đang trong tiến trình biểu lộ.

Streams of force from the Sacred Planets play upon the central tier of petals.

Các dòng mãnh lực từ các Hành Tinh Thiêng Liêng tác động lên hàng cánh hoa trung tâm.

64. Sacred planets have achieved a developed soul consciousness and thus, correspondingly, they affect the petals of the egoic lotus which most fully represent the nature and quality of the Ego/soul manifesting through egoic lotus.

64. Các hành tinh thiêng liêng đã đạt được một tâm thức linh hồn phát triển và vì thế, theo định luật tương ứng, chúng ảnh hưởng đến những cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã vốn biểu hiện đầy đủ nhất bản chất và phẩm tính của chân ngã/linh hồn đang biểu lộ qua Hoa Sen Chân Ngã.

65. It would seem impossible that at least some influence of sacred planets would not play upon the knowledge petals, as well, because some influence of such planets is necessarily involved in the types of experiences through which all human beings must pass when, for millions of years, they are involved in the unfoldment of the knowledge petals. Also, all human beings are born in or under all signs of the zodiac during that very length period and are thus influenced by such sacred Logoi as those manifesting through the planets Vulcan, Jupiter, Saturn, Mercury, Venus, Neptune and Uranus.

65. Dường như không thể có chuyện ít nhất một số ảnh hưởng của các hành tinh thiêng liêng lại không tác động lên cả các cánh hoa tri thức nữa, bởi vì một số ảnh hưởng của những hành tinh như thế ắt hẳn có liên quan đến các loại kinh nghiệm mà mọi con người đều phải trải qua khi, trong hàng triệu năm, họ tham dự vào sự khai mở của các cánh hoa tri thức. Ngoài ra, mọi con người đều sinh ra trong hay dưới mọi dấu hiệu hoàng đạo trong suốt khoảng thời gian rất dài ấy và do đó chịu ảnh hưởng của những Hành Tinh Thượng đế thiêng liêng như các vị biểu lộ qua các hành tinh Vulcan, Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thủy, Sao Kim, Sao Hải Vương và Uranus.

66. What I am trying to say is that human beings pass through perhaps twenty million years of experience that relates to the development of their three personality vehicles and, eventually, to the development of the personality itself. It is inconceivable that the seven sacred planets would not be influential during such a lengthy process, even though the human being’s response to such sacred planets would, for the vast majority of that time, be a non-sacred response.

66. Điều tôi đang cố nói là con người trải qua có lẽ hai mươi triệu năm kinh nghiệm liên hệ đến sự phát triển của ba vận cụ phàm ngã của họ và cuối cùng là đến sự phát triển của chính phàm ngã. Thật không thể tưởng tượng nổi rằng bảy hành tinh thiêng liêng lại không có ảnh hưởng trong một tiến trình dài lâu như thế, dù rằng sự đáp ứng của con người đối với những hành tinh thiêng liêng ấy, trong phần lớn tuyệt đại đa số thời gian đó, sẽ là một sự đáp ứng không thiêng liêng.

67. Probably the unfoldment of the central tier, however, is especially dependent upon streams of force directed from the sacred planets.

67. Tuy nhiên, có lẽ sự khai mở của tầng trung tâm đặc biệt tùy thuộc vào các dòng mãnh lực được hướng đến từ các hành tinh thiêng liêng.

68. In general, we must agree that even sacred planets can have non-sacred effects. Vulcan, for instance, rules so many of the force patterns associated with the instinctual nature; Venus can indicate primitive magnetism between forms; Mercury can indicate the growth of early mentality; Jupiter may represent simply the urge to incorporate and to grow thereby; and certainly the hard effects of Saturn are present in the very hard karmic experiences through which primitive man must pass.

68. Nói chung, chúng ta phải đồng ý rằng ngay cả các hành tinh thiêng liêng cũng có thể có những tác động không thiêng liêng. Chẳng hạn, Vulcan cai quản rất nhiều mô hình mãnh lực gắn liền với bản chất bản năng; Sao Kim có thể biểu thị từ điện nguyên sơ giữa các hình tướng; Sao Thủy có thể biểu thị sự tăng trưởng của trí tuệ sơ khai; Sao Mộc có thể chỉ đơn giản tượng trưng cho sự thôi thúc đồng hoá và nhờ đó mà tăng trưởng; và chắc chắn những tác động khắc nghiệt của Sao Thổ hiện diện trong các kinh nghiệm nghiệp quả rất khắc nghiệt mà con người nguyên thủy phải trải qua.

69. The first twenty million years, of so, are, on the average, concerned with the development of the outer tier—the knowledge petals.

69. Hai mươi triệu năm đầu tiên, hoặc khoảng như vậy, trung bình liên quan đến sự phát triển của tầng bên ngoài—các cánh hoa tri thức.

Herein lies a hint to the wise student, and a clue to the nature of the lower aspect of the solar Angel.

Chính trong đây có một gợi ý cho đạo sinh minh triết, và một đầu mối về bản chất của phương diện thấp của Thái dương Thiên Thần.

70. In this text, the Solar Angel is closely associated with the petals of the egoic lotus. We must remember, however, that the Solar Angel remains even after its vehicle of manifestation on the higher mental plane is destroyed.

70. Trong đoạn này, Thái dương Thiên Thần được liên kết chặt chẽ với các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng Thái dương Thiên Thần vẫn còn tồn tại ngay cả sau khi vận cụ biểu hiện của nó trên Cõi thượng trí đã bị hủy diệt.

71. If we look at the egoic lotus as the embodiment of the Solar Angel, then the knowledge petals represent the “lower aspect of the solar Angel”.

71. Nếu chúng ta xem Hoa Sen Chân Ngã như hiện thân của Thái dương Thiên Thần, thì các cánh hoa tri thức tượng trưng cho “phương diện thấp của Thái dương Thiên Thần”.

72. It becomes clear that the lower nature of the Solar Angel (manifesting through the egoic lotus) is to be associated primarily with non-sacred planets. Another way of saying this is that the knowledge petals are particularly stimulated by the non-sacred planets.

72. Rõ ràng là bản chất thấp của Thái dương Thiên Thần (biểu hiện qua Hoa Sen Chân Ngã) chủ yếu phải được liên kết với các hành tinh không thiêng liêng. Một cách khác để nói điều này là các cánh hoa tri thức đặc biệt được kích thích bởi các hành tinh không thiêng liêng.

73. We could take Earth, Mars and Pluto and trace their role in the development of the knowledge petals. There are other non-sacred planets which are also involved—for instance, the ones veiled by the Sun and the Moon.

73. Chúng ta có thể lấy Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Diêm Vương rồi truy xét vai trò của chúng trong sự phát triển của các cánh hoa tri thức. Cũng có những hành tinh không thiêng liêng khác có liên quan—chẳng hạn, những hành tinh được Mặt Trời và Mặt Trăng che phủ.

74. It is difficult to give a one-to-one assignment of these three non-sacred planets to the first three petals and all of them are involved in the processes of all petals.

74. Thật khó đưa ra một sự phân định một-một giữa ba hành tinh không thiêng liêng này với ba cánh hoa đầu tiên, và tất cả chúng đều tham dự vào các tiến trình của mọi cánh hoa.

75. Two possible sequences could be: Mars, Earth, Pluto or Earth, Mars, Pluto.

75. Hai chuỗi khả dĩ có thể là: Sao Hỏa, Trái Đất, Sao Diêm Vương hoặc Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Diêm Vương.

The Love Wisdom Petals.

Các Cánh Hoa Bác Ái – Minh Triết.

76. We note that what are usually called the “Love Petals” are here called the“Love Wisdom Petals”. This is significant.

76. Chúng ta lưu ý rằng điều thường được gọi là “các Cánh hoa Bác ái” ở đây lại được gọi là các“Cánh hoa Bác Ái – Minh Triết”. Điều này có ý nghĩa.

The streams of energy playing upon and through this second tier of petals closely resemble those already dealt with, but originate in differing groups of lives (lunar and solar).

Các dòng năng lượng tác động lên và xuyên qua tầng cánh hoa thứ hai này rất giống với những dòng đã được bàn đến, nhưng phát sinh từ những nhóm sự sống khác nhau (thái âm và thái dương).

77. We are searching for the original of certain energy streams playing through the three tiers of the egoic lotus.

77. Chúng ta đang tìm kiếm nguồn gốc của một số dòng năng lượng vận hành xuyên qua ba tầng của Hoa Sen Chân Ngã.

78. We have an interesting statement above: the origin of some of these streams affecting the central tier of petals are lunar as well as solar. May we say that the astral body of the personality is connected to the love-wisdom petals? Sometimes these petals are called the “Petals of Love for the Astral Plane”.

78. Ở trên chúng ta có một phát biểu thú vị: nguồn gốc của một số dòng ảnh hưởng đến tầng cánh hoa trung tâm là thái âm cũng như thái dương. Chúng ta có thể nói rằng thể cảm dục của phàm ngã được nối kết với các cánh hoa bác ái – minh triết chăng? Đôi khi các cánh hoa này được gọi là “Các Cánh hoa Bác ái đối với Cõi cảm dục”.

a. The lowest form of energy, reaching this circle, emanates from the lower self, via the astral permanent atom, and the second petal of the outer tier.

a.  Hình thức năng lượng thấp nhất, đạt đến vòng này, phát ra từ phàm ngã, qua nguyên tử trường tồn cảm dục, và cánh hoa thứ hai của tầng bên ngoài.

79. Here we are given an important energy stream of influence, ascending, as it were, from ‘below’:

79. Ở đây chúng ta được cho biết một dòng năng lượng ảnh hưởng quan trọng, như thể đi lên từ “bên dưới”:

a. From the astral permanent atom

a. Từ nguyên tử trường tồn cảm dục

b. To the love petal in the knowledge tier

b. Đến cánh hoa bác ái trong tầng tri thức

c. To the second tier of petals as a whole

c. Đến toàn bộ tầng cánh hoa thứ hai

It is transmuted astral energy;

Đó là năng lượng cảm dục đã được chuyển hoá;

80. We have the energy of the second tier of petals—the love-wisdom petals—called “transmuted astral energy”.

80. Chúng ta có năng lượng của tầng cánh hoa thứ hai—các cánh hoa bác ái – minh triết—được gọi là “năng lượng cảm dục đã được chuyển hoá”.

81. Only transmuted astral energy can find its way into the egoic lotus.

81. Chỉ có năng lượng cảm dục đã được chuyển hoá mới có thể tìm được đường đi vào Hoa Sen Chân Ngã.

82. We can infer that along the stream of energy connecting the astral plane with the buddhic plane, the energies of the second tier are to be found in an intermediate position.

82. Chúng ta có thể suy ra rằng dọc theo dòng năng lượng nối cõi cảm dục với cõi Bồ đề, các năng lượng của tầng thứ hai được tìm thấy ở một vị trí trung gian.

it is more powerful than its correspondence in the first tier,

nó mạnh hơn sự tương ứng của nó trong tầng thứ nhất,

83. Since the astral plane is the most coherent and powerful plane in our astral-buddhic solar system, the tier of petals fed by the astral plane is correspondingly the most powerful in the egoic lotus. We are being told here that it is more powerful than the knowledge tier.

83. Vì cõi cảm dục là cõi cố kết và mạnh mẽ nhất trong hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề của chúng ta, nên tầng cánh hoa được nuôi dưỡng bởi cõi cảm dục tương ứng cũng là tầng mạnh nhất trong Hoa Sen Chân Ngã. Ở đây chúng ta được cho biết rằng nó mạnh hơn tầng tri thức.

owing to the inherent nature of the astral body, and the fact that it is augmented by the energy of the outer tier itself.

do bản chất cố hữu của thể cảm dục, và do sự kiện rằng nó được tăng cường bởi năng lượng của chính tầng bên ngoài.

84. Not only does the astral body feed the love tier, but the knowledge tier does so as well (especially one petal of the knowledge tier)—thus greatly augmenting the strength of the love tier.

84. Không những thể cảm dục nuôi dưỡng tầng bác ái, mà tầng tri thức cũng làm như vậy (đặc biệt là một cánh hoa của tầng tri thức)—do đó làm tăng cường rất lớn sức mạnh của tầng bác ái.

This is one of the factors which brings about the more rapid progress made towards the close of the evolutionary period.

Đây là một trong những yếu tố đem lại sự tiến bộ nhanh hơn vào lúc gần cuối thời kỳ tiến hoá.

85. We are being told that knowledge feeds love-wisdom. This type of dynamic can be associated with the planet Venus.

85. Chúng ta được cho biết rằng tri thức nuôi dưỡng bác ái – minh triết. Loại động lực này có thể được liên kết với hành tinh Sao Kim.

86. Towards the close of the evolutionary period, aspiration must be very keen and propulsive of the evolutionary process.

86. Vào lúc gần cuối thời kỳ tiến hoá, khát vọng hẳn phải rất mãnh liệt và thúc đẩy tiến trình tiến hoá.

There are certain streams of force in the evolution of the Monad which might be regarded as embodying for it the line of least resistance and they are specifically beginning at the lowest:

Có những dòng mãnh lực nhất định trong sự tiến hoá của chân thần có thể được xem như hiện thân cho con đường ít trở ngại nhất đối với nó, và chúng được nêu ra một cách chuyên biệt bắt đầu từ mức thấp nhất:

87. In the following we are looking for the line of least resistance for monadic influence—regardless of the ray of the Monad.

87. Trong phần sau, chúng ta đang tìm kiếm con đường ít trở ngại nhất cho ảnh hưởng chân thần—bất kể cung của chân thần là gì.

a. Emanations from the vegetable kingdom.

a. Các phát xạ từ giới thực vật.

88. The Monad is ‘located’ on the second subplane (from ‘above’) of the cosmic physical plane and the vegetable kingdom is the second kingdom—hence the resonance and the communicating lines of influence.

88. Chân thần được “định vị” trên cõi phụ thứ hai (tính từ “trên xuống”) của cõi hồng trần vũ trụ, và giới thực vật là giới thứ hai—do đó có sự cộng hưởng và các đường truyền ảnh hưởng.

b. Astral energy.

b. Năng lượng cảm dục.

89. Astral energy is focussed on the second subplane of the cosmic physical plane (counting from ‘below’). The Monad is focused on the second subplane of the cosmic physical plane counting from ‘above’.

89. Năng lượng cảm dục được tập trung trên cõi phụ thứ hai của cõi hồng trần vũ trụ (tính từ “dưới lên”). Chân thần được tập trung trên cõi phụ thứ hai của cõi hồng trần vũ trụ tính từ “trên xuống”.

c. The energy of the second circle of petals.

c. Năng lượng của vòng cánh hoa thứ hai.

90. Again, the resonance occurs through the number two.

90. Một lần nữa, sự cộng hưởng xảy ra qua con số hai.

d. Buddhic force.

d. Mãnh lực Bồ đề.

91. Buddhi is the sixth principle and the Monad is focused on the sixth subplane of the cosmic physical plane counting from ‘below’.

91. Bồ đề là nguyên khí thứ sáu và chân thần được tập trung trên cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ tính từ “dưới lên”.

92. Jupiter, a planet expressing the second ray through its soul nature, is one of the rules of the buddhic plane. It is also the principal ruler of the monadic plane—hence a line of communication is established.

92. Sao Mộc, một hành tinh biểu lộ cung hai qua bản chất linh hồn của nó, là một trong những chủ tinh của cõi Bồ đề. Nó cũng là chủ tinh chính của cõi chân thần—do đó một đường truyền thông được thiết lập.

e. The activity of the second Logos, planetary or solar.

e. Hoạt động của Logos thứ hai, hành tinh hay thái dương.

93. The “second Logos” of our solar system is Vishnu, the expression of the second aspect of solar logoic Divinity. The second Planetary Logos may well be considered Venus, the monadic ray of which is both the sixth (the sub-monadic ray) and the second.

93. “Logos thứ hai” của hệ mặt trời chúng ta là Vishnu, biểu hiện của phương diện thứ hai của thiên tính logoi thái dương. Logos Hành Tinh thứ hai rất có thể được xem là Sao Kim, mà cung chân thần của nó vừa là cung sáu (cung dưới chân thần) vừa là cung hai.

This is, of course, only true of this solar system, being the system of regenerative love.

Dĩ nhiên, điều này chỉ đúng đối với hệ mặt trời này, vì đây là hệ thống của bác ái tái sinh.

94. We are given an important name for our solar system—the “system of regenerative love”. We can imagine that Pluto plays its role in this regeneration through its relationship with Venus. The second ray soul of the Planetary Logos of Earth is also deeply involved.

94. Chúng ta được cho một tên gọi quan trọng của hệ mặt trời chúng ta—“hệ thống của bác ái tái sinh”. Chúng ta có thể hình dung rằng Sao Diêm Vương đóng vai trò của nó trong sự tái sinh này qua mối liên hệ với Sao Kim. Linh hồn cung hai của Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất cũng can dự sâu xa vào đây.

95. Note that both Earth and Pluto (which are related in various other ways) are planets of regeneration.

95. Lưu ý rằng cả Trái Đất lẫn Sao Diêm Vương (vốn liên hệ với nhau theo nhiều cách khác) đều là những hành tinh của sự tái sinh.

b. Another form of influencing energy originates in the inner circle of petals, which is the focal point [Page 1115] of force for the Monad, considered as atma.

b. Một hình thức năng lượng ảnh hưởng khác phát sinh từ vòng cánh hoa bên trong, là tiêu điểm [Page 1115] của mãnh lực đối với chân thần, được xét như atma.

96. We continue to speak of the influences which impact the central tier of petals—the love-wisdom petals.

96. Chúng ta tiếp tục nói về các ảnh hưởng tác động lên tầng cánh hoa trung tâm—các cánh hoa bác ái – minh triết.

97. Influences from the sacrifice petals, thus, influence the second tier.

97. Như vậy, các ảnh hưởng từ các cánh hoa hi sinh tác động đến tầng thứ hai.

98. The sacrifice petals focalize monadic influence as that influence is represented by atma. The force of the Monad can, we see, be considered as “atma”—spiritual will.

98. Các cánh hoa hi sinh tiêu điểm hóa ảnh hưởng chân thần khi ảnh hưởng ấy được biểu hiện như atma. Như chúng ta thấy, mãnh lực của chân thần có thể được xem là “atma”—ý chí tinh thần.

It must be pointed out that the streams of force which form the “petals of will” have a dynamic activity and (when in action) produce very rapid unfoldment.

Cần chỉ ra rằng các dòng mãnh lực tạo thành “các cánh hoa ý chí” có một hoạt động năng động và (khi hoạt động) tạo ra sự khai mở rất nhanh chóng.

99. Not only does the human being influenced by the will petals evolve rapidly, but the petals themselves unfold far more rapidly than any of the other petals in the two lower tiers.

99. Không những con người chịu ảnh hưởng của các cánh hoa ý chí tiến hoá nhanh chóng, mà chính các cánh hoa ấy cũng khai mở nhanh hơn rất nhiều so với bất kỳ cánh hoa nào khác trong hai tầng thấp hơn.

100.  The first aspect of divinity is dynamic. We are dealing here with the type of energy which is released during the period when the human being is undergoing initiation. We realize that there is much first ray in the process of initiation.

100.  Phương diện thứ nhất của thiên tính là năng động. Ở đây chúng ta đang bàn đến loại năng lượng được giải phóng trong giai đoạn khi con người đang trải qua điểm đạo. Chúng ta nhận ra rằng có rất nhiều cung một trong tiến trình điểm đạo.

101.  The streams of energy which influence the petals of will might be considered particularly atmic and are thus related to the Monad. Atma is the principle of man most closely related to the Monad.

101.  Các dòng năng lượng ảnh hưởng đến các cánh hoa ý chí có thể được xem là đặc biệt atma và do đó liên hệ với chân thần. Atma là nguyên khí của con người liên hệ mật thiết nhất với chân thần.

It is the inner of the two types of force;

Đó là loại bên trong của hai loại mãnh lực;

102.  DK seems to be speaking of the force of the love-wisdom petals and the force of the sacrifice petals. In this case the sacrifice petals are the inner of two types of forces.

102.  Chân sư DK dường như đang nói về mãnh lực của các cánh hoa bác ái – minh triết và mãnh lực của các cánh hoa hi sinh. Trong trường hợp này, các cánh hoa hi sinh là loại bên trong của hai loại mãnh lực.

their mutual interplay provides the necessary stimulus, and results in the opening of the bud and the revelation of the Jewel.

sự tương tác hỗ tương của chúng cung cấp kích thích cần thiết, và đưa đến việc mở nụ và sự mặc khải của Bảo Châu.

103.  When love-wisdom and sacrifice interplay, an energy is produced which leads to the opening of the inner bud of three synthesis petals and to the revelation of the “Jewel in the Lotus”.

103.  Khi bác ái – minh triết và hi sinh tương tác, một năng lượng được tạo ra dẫn đến việc mở nụ bên trong gồm ba cánh hoa tổng hợp và sự mặc khải của “Bảo Châu trong Hoa Sen”.

104.  We have been told that each of the synthesis petals opens to a degree at one of the first three initiations. We are learning that love-wisdom and will open the synthesis petals. The synthesis petals, themselves, are also to be considered energy centers. Their radiation becomes most effective in the life of the man who has taken the third initiation.

104.  Chúng ta đã được cho biết rằng mỗi cánh hoa tổng hợp mở ra ở một mức độ nào đó tại một trong ba lần điểm đạo đầu tiên. Chúng ta đang học rằng bác ái – minh triết và ý chí mở các cánh hoa tổng hợp. Bản thân các cánh hoa tổng hợp cũng phải được xem là các trung tâm năng lượng. Sự bức xạ của chúng trở nên hữu hiệu nhất trong đời sống của người đã trải qua lần điểm đạo thứ ba.

The other types of energy [inclusive of triadal energies] find their correspondence with those already enumerated

Các loại năng lượng khác [bao gồm các năng lượng tam nguyên tinh thần] tìm thấy sự tương ứng của chúng với những loại đã được liệt kê

105.  One of the interpretations of this sentence is that in each tier of petals there is a correspondence to one of the three complete tiers.

105.  Một trong những cách giải thích câu này là trong mỗi tầng cánh hoa đều có một sự tương ứng với một trong ba tầng hoàn chỉnh.

106.  From another perspective, each of the three major energies of the spiritual triad finds its particular correspondence in one of the three tiers of petals of the egoic lotus and in one of the petals of each tier.

106.  Từ một góc nhìn khác, mỗi một trong ba năng lượng chính của Tam Nguyên Tinh Thần tìm thấy sự tương ứng đặc thù của nó trong một trong ba tầng cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã và trong một cánh hoa của mỗi tầng.

but I seek only to mention one of them,—that one [type of energy] which reaches the second tier of love petals, via the buddhic permanent atom.

nhưng tôi chỉ tìm cách đề cập đến một trong số đó,—loại ấy [loại năng lượng] đạt đến tầng thứ hai của các cánh hoa bác ái, qua nguyên tử trường tồn Bồ đề.

107.  This is a very important connection. Love from ‘above’ (buddhic) and love from ‘below’ (astral), and both contribute to the unfoldment of these central petals.

107.  Đây là một sự nối kết rất quan trọng. Bác ái từ “bên trên” (Bồ đề) và bác ái từ “bên dưới” (cảm dục), và cả hai đều góp phần vào sự khai mở của các cánh hoa trung tâm này.

The energy thus originating is of a peculiarly interesting kind being the basic energy of all manifestation, and the sum total of the forces which form the sevenfold heart of the physical sun, and which are located within its sheltering luminosity.

Năng lượng phát sinh như vậy thuộc một loại đặc biệt thú vị vì là năng lượng căn bản của mọi biểu hiện, và là tổng số các mãnh lực tạo thành trái tim thất phân của mặt trời hồng trần, và được định vị trong quang huy che chở của nó.

108.  Again, a profoundly occult statement.

108.  Một lần nữa, đây là một phát biểu huyền bí học hết sức sâu xa.

109.  Since buddhic energy emanates from the fourth cosmic ether it is responsible for all that manifests in the three lower worlds. This is because a number of chakras of the Solar Logos and Planetary Logos (lower chakras, and vortices which represent higher chakras) are found on this fourth cosmic physical subplane. We have the analogy in the manner in which the chakras found upon the fourth systemic ether are responsible for manifestation as it occurs within the three densest of the systemic subplanes.

109.  Vì năng lượng Bồ đề phát ra từ dĩ thái vũ trụ thứ tư, nên nó chịu trách nhiệm cho mọi điều biểu hiện trong ba cõi thấp. Điều này là vì một số luân xa của Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế (các luân xa thấp hơn, và các xoáy lực tượng trưng cho các luân xa cao hơn) được tìm thấy trên cõi phụ hồng trần vũ trụ thứ tư này. Chúng ta có sự tương đồng trong cách mà các luân xa được tìm thấy trên dĩ thái hệ thống thứ tư chịu trách nhiệm cho biểu hiện như nó xảy ra trong ba cõi phụ đậm đặc nhất của hệ thống.

110.  Note, however, that we are not dealing here with the Heart of the Sun per se, but with the sevenfold heart of the physical sun.

110.  Tuy nhiên, lưu ý rằng ở đây chúng ta không bàn đến chính Trái Tim Mặt Trời, mà là trái tim thất phân của mặt trời hồng trần.

111.  Where is the etheric heart center of the Solar Logos to be found? Is it on the buddhic plane or on the monadic plane (which seems analogically necessary if one studies the positioning of the chakras of man on TCF Chart VIII)?

111.  Trung tâm tim dĩ thái của Thái dương Thượng đế được tìm thấy ở đâu? Nó ở trên cõi Bồ đề hay trên cõi chân thần (điều dường như cần thiết theo định luật tương đồng nếu người ta nghiên cứu vị trí các luân xa của con người trên Biểu đồ VIII của TCF)?

112.  Where is the heart center of the physical sun? It would have to be a physical location would it not—at least from the solar logoic point of view? If physical, it would have to be located within the physical body of the Solar Logos which is comprised of the three lowest subplanes of the cosmic physical plane, including the higher mental plane on which all tiers of petals are located.

112.  Trung tâm tim của mặt trời hồng trần ở đâu? Hẳn nó phải là một vị trí hồng trần, phải vậy không—ít nhất là từ quan điểm của Thái dương Thượng đế? Nếu là hồng trần, nó hẳn phải được định vị trong thể hồng trần của Thái dương Thượng đế, vốn bao gồm ba cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần vũ trụ, kể cả Cõi thượng trí nơi mọi tầng cánh hoa đều tọa lạc.

113.  So we must ask whether DK in this section of text is discussing only the energies of the fourth cosmic ether or whether the energies of the higher mental plane (those energies resonantly related to the buddhic plane) are also and pointedly being discussed.

113.  Vì vậy, chúng ta phải hỏi liệu Chân sư DK trong phần văn bản này chỉ đang bàn đến các năng lượng của dĩ thái vũ trụ thứ tư, hay các năng lượng của Cõi thượng trí (những năng lượng có liên hệ cộng hưởng với cõi Bồ đề) cũngmột cách rõ rệt đang được bàn đến.

114.  We also seek to know the degree to which the planet Vulcan is related to the “sevenfold heart of the physical sun”. It would seem that Vulcan is very much located within its (the physical sun’s) sheltering luminosity.

114.  Chúng ta cũng tìm cách biết mức độ mà hành tinh Vulcan có liên hệ với “trái tim thất phân của mặt trời hồng trần”. Có vẻ như Vulcan rất nhiều được định vị trong quang huy che chở của nó (của mặt trời hồng trần).

They [probably energies from the love petals and the energy from the buddhic permanent atom] in their turn are transmitters of the life-impulses from the heart of the central Spiritual Sun,

Chúng [có lẽ là các năng lượng từ các cánh hoa bác ái và năng lượng từ nguyên tử trường tồn Bồ đề] đến lượt mình là những tác nhân truyền dẫn các xung lực sự sống từ trái tim của Mặt trời Tinh thần Trung Ương,

115.  If the Central Spiritual Sun is the Monad of the Solar Logos, then the “heart of the central Spiritual Sun” is the Heart of the Sun on the cosmic mental plane—the soul nature of the Solar Logos.

115.  Nếu Mặt trời Tinh thần Trung Ương là chân thần của Thái dương Thượng đế, thì “trái tim của Mặt trời Tinh thần Trung Ương” là Trái Tim Mặt Trời trên cõi trí vũ trụ—bản chất linh hồn của Thái dương Thượng đế.

116.  If, however, the Central Spiritual Sun is considered the point in the heavens around which our solar system revolves, then we are dealing with a Source far more remote, and the heart of such a Central Spiritual Sun would be far greater than the Heart of the Sun as usually considered.

116.  Tuy nhiên, nếu Mặt trời Tinh thần Trung Ương được xem là điểm trên thiên giới mà quanh đó hệ mặt trời chúng ta quay, thì chúng ta đang bàn đến một Nguồn xa xôi hơn rất nhiều, và trái tim của một Mặt trời Tinh thần Trung Ương như thế sẽ lớn lao hơn nhiều so với Trái Tim Mặt Trời như thường được quan niệm.

117.  The greater probability is the first option, with the energy of the Heart of the Sun transmitting to the buddhic plane and thence of the love-wisdom tier of the egoic lotus.

117.  Khả năng lớn hơn là phương án thứ nhất, với năng lượng của Trái Tim Mặt Trời truyền đến cõi Bồ đề và từ đó đến tầng bác ái – minh triết của Hoa Sen Chân Ngã.

so that we have a direct graded chain of transmitting energies.

để chúng ta có một chuỗi phân cấp trực tiếp của các năng lượng truyền dẫn.

a. The Heart of the central Spiritual Sun.

a. Trái Tim của Mặt trời Tinh thần Trung Ương.

118.  Although the heart of the true Central Spiritual Sun (either the Pleiades or Alcyone as the representative of the Pleiades) is probably involved in this chain of transmission—ultimately—it is probable that the “Heart of the central Spiritual Sun” (here referenced) is the Heart of the Sun on the cosmic mental plane and not a still more remote or higher Source.

118.  Mặc dù trái tim của Mặt trời Tinh thần Trung Ương đích thực (hoặc là Pleiades hoặc Alcyone như đại diện của Pleiades) có lẽ rốt ráo vẫn can dự vào chuỗi truyền dẫn này, nhưng có khả năng rằng “Trái Tim của Mặt trời Tinh thần Trung Ương” (được nhắc đến ở đây) là Trái Tim Mặt Trời trên cõi trí vũ trụ chứ không phải một Nguồn còn xa hơn hay cao hơn nữa.

b. The sevenfold heart of the physical Sun.

b. Trái tim thất phân của Mặt Trời hồng trần.

119.  Much depends on whether the term “physical” includes the cosmic ethers. If the term means simply densely physical, the “sevenfold heart of the physical Sun” must be located within the lowest twenty-one systemic subplanes.

119.  Nhiều điều tùy thuộc vào việc thuật ngữ “hồng trần” có bao gồm các dĩ thái vũ trụ hay không. Nếu thuật ngữ ấy chỉ có nghĩa là hồng trần đậm đặc, thì “trái tim thất phân của Mặt Trời hồng trần” hẳn phải được định vị trong hai mươi mốt cõi phụ hệ thống thấp nhất.

c. The buddhic devas

c. Các thiên thần Bồ đề

120.  Notice that DK refers here to the “buddhic devas” (the Agnisuryans) and not to the buddhic permanent atom.

120.  Lưu ý rằng ở đây Chân sư DK nói đến “các thiên thần Bồ đề” (các Agnisuryan) chứ không nói đến nguyên tử trường tồn Bồ đề.

121.  It would seem very probable that the Christ would have in His retinue many buddhic devas.

121.  Có vẻ rất có khả năng rằng Đức Christ sẽ có trong đoàn tùy tùng của Ngài nhiều thiên thần Bồ đề.

122.  The three sources just mentioned are all ‘above’ the dense physical vehicle of the Solar Logos.

122.  Ba nguồn vừa được nhắc đến đều ở “bên trên” vận cụ hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế.

to

đến

d. The central circle of petals.

d. Vòng cánh hoa trung tâm.

e. The astral permanent atom.

e. Nguyên tử trường tồn cảm dục.

f. The heart centre within the Head.

f. Trung tâm tim bên trong đầu.

123.  By this center we probably mean the major heart center within the head center.

123.  Bởi trung tâm này, có lẽ chúng ta muốn nói đến trung tâm tim chính yếu bên trong trung tâm đầu.

124.  These three sources are all within the dense physical vehicle of the Solar Logos.

124.  Ba nguồn này đều ở bên trong vận cụ hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế.

g. The heart centre.

g. Trung tâm tim.

125.  We have been given a sevenfold transmission of great value and should commit it to memory. There may be some points missing from the transmission. One such point might be that one of the seven lesser head centers which corresponds to the heart center between the shoulder blades.

125.  Chúng ta đã được trao cho một sự truyền dẫn thất phân có giá trị lớn và nên ghi nhớ nó. Có thể có một vài điểm còn thiếu trong sự truyền dẫn này. Một điểm như thế có thể là một trong bảy trung tâm đầu nhỏ tương ứng với trung tâm tim giữa hai bả vai.

126.  Learning the resonant lines of energy transmission will be of great value for inducing the energy-flows concerned through the use of the creative imagination.

126.  Việc học các đường cộng hưởng của sự truyền dẫn năng lượng sẽ có giá trị lớn trong việc tạo ra các dòng năng lượng liên hệ qua việc sử dụng sự tưởng tượng sáng tạo.

This buddhic energy is the sumtotal of the life force of Vishnu or the Son, Who is the transmitter and representative of a still greater cosmic Deity.

Năng lượng Bồ đề này là tổng số lực sự sống của Vishnu hay Con, Đấng là tác nhân truyền dẫn và đại diện của một Thượng đế vũ trụ còn vĩ đại hơn nữa.

127.  There is a way in which our entire Solar Logos can be considered as Vishnu, and not just the Second Person of the logoic Trinity.

127.  Có một cách mà toàn bộ Thái dương Thượng đế của chúng ta có thể được xem là Vishnu, chứ không chỉ là Ngôi Thứ Hai của Tam Vị logoi.

128.  This “still greater cosmic Deity” is probably along the Sirian line—either the Logos Who expresses through the star Sirius, or through the threefold constellation Sirius (Sirius A, Sirius B and Sirius C), or through the “Seven Solar Systems of Which Ours is One” which may, from a certain perspective, be considered the ‘ Sirian System’.

128.  “Thượng đế vũ trụ còn vĩ đại hơn nữa” này có lẽ thuộc tuyến Sirian—hoặc là Logos biểu hiện qua sao Sirius, hoặc qua chòm sao Sirius tam phân (Sirius A, Sirius B và Sirius C), hoặc qua “Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một” mà từ một góc nhìn nào đó có thể được xem là Hệ thống ‘ Sirian’.

129.  It is clear that we are speaking of a second ray transmission.

129.  Rõ ràng là chúng ta đang nói về một sự truyền dẫn cung hai.

All the above serves to demonstrate the oneness of the tiniest unit with the one great informing Life, and shows the integral beauty of the scheme.

Tất cả những điều trên đều nhằm chứng minh tính nhất thể của đơn vị nhỏ bé nhất với Sự sống vĩ đại duy nhất đang thấm nhuần, và cho thấy vẻ đẹp toàn vẹn của hệ hành tinh.

130.  No unit can be permanently excommunicated from the Whole.

130.  Không một đơn vị nào có thể bị tuyệt thông vĩnh viễn khỏi Toàn Thể.

The life of the greatest cosmic Lord of Love

Sự sống của vị Chúa Tể Bác ái vũ trụ vĩ đại nhất

131.  And Who is that Lord? Is it the Logos of Orion, or the Lord of the “Seven Solar Systems of Which Ours is One”? The word “greatest” has been used and one might infer that this use could justifiably raise our speculation to the galactic level as we search for the identity of the “greatest cosmic Lord of Love”.

131.  Và Đấng ấy là ai? Có phải là Logos của Orion, hay Chúa Tể của “Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một”? Từ “vĩ đại nhất” đã được dùng, và người ta có thể suy ra rằng cách dùng ấy có thể chính đáng nâng sự suy đoán của chúng ta lên cấp độ thiên hà khi chúng ta tìm kiếm căn tính của “vị Chúa Tể Bác ái vũ trụ vĩ đại nhất”.

pulsates in infinitesimal degree [1116] in the heart of His tiniest reflection,

đập nhịp ở mức độ vô cùng nhỏ bé [Page 1116] trong trái tim của phản chiếu nhỏ bé nhất của Ngài,

132.  A holographic universe is suggest. We are dealing principally with the buddhic energy—and its still higher Source. We are told that buddhi lies at the heart of the tiniest atom of substance.

132.  Một vũ trụ toàn ảnh được gợi ra. Chúng ta chủ yếu đang bàn đến năng lượng Bồ đề—và Nguồn còn cao hơn của nó. Chúng ta được cho biết rằng Bồ đề nằm ở trung tâm của nguyên tử chất liệu nhỏ bé nhất.

“They are, therefore, one and all an expression of His love nature, and it is for this reason that buddhi is found at the heart of the tiniest atom, or what we call in this system, electric fire. For the positive central life of every form is but an expression of cosmic buddhi, and the downpouring of a love which has its source in the Heart of the Solar Logos; this is itself an emanating principle from the ONE ABOVE OUR LOGOS, HE OF WHOM NAUGHT MAY BE SAID”. (TCF 1225-1226)

“Do đó, tất cả chúng đều là biểu hiện của bản chất bác ái của Ngài, và chính vì lý do này mà Bồ đề được tìm thấy ở trung tâm của nguyên tử nhỏ bé nhất, hay điều mà chúng ta gọi trong hệ thống này là Lửa Điện. Vì sự sống trung tâm dương tính của mọi hình tướng chỉ là một biểu hiện của Bồ đề vũ trụ, và của sự tuôn đổ của một tình thương có nguồn cội trong Trái Tim của Thái dương Thượng đế; bản thân điều này là một nguyên khí phát xạ từ Đấng Duy Nhất Ở TRÊN THƯỢNG ĐẾ CỦA CHÚNG TA, Đấng Bất Khả Tư Nghị”. (TCF 1225-1226)

133.  We note above the identicality of buddhi and electric fire—at least in this second ray solar system. Is there then no pure electric fire within our system? Probably not.

133.  Ở trên, chúng ta lưu ý sự đồng nhất giữa Bồ đề và Lửa Điện—ít nhất là trong hệ mặt trời cung hai này. Vậy thì trong hệ của chúng ta không có thuần Lửa Điện chăng? Có lẽ là không.

134.  The tiniest particle may be the tiniest reflection of the greatest Lord of Love. The galaxy may be reflected in the tiniest particle.

134.  Hạt nhỏ bé nhất có thể là sự phản chiếu nhỏ bé nhất của Đấng Chúa Tể Vĩ Đại nhất của Bác ái. Thiên hà có thể được phản chiếu trong hạt nhỏ bé nhất.

and for this reason the atom man can likewise say “I too am God; His Life is mine.”

và vì lý do này, con người nguyên tử cũng có thể nói: “Tôi cũng là Thượng đế; Sự Sống của Ngài là của tôi.”

135.  It becomes clear that one of our prime objectives is attainment of buddhic awareness so that we may know our identicality with the Great Logoi in Whom we live and move and have our being.

135.  Rõ ràng là một trong những mục tiêu chính yếu của chúng ta là đạt được nhận biết Bồ đề để chúng ta có thể biết sự đồng nhất của mình với các Thượng đế Vĩ Đại, trong Các Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu.

S9S4 Part III

TCF 1116-1119

TCF 1116-1119

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCFđược trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Xin đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn được chia nhỏ ra, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

The Sacrifice Petals. The energies or forces flowing through, and thus producing activity in the inner tier of petals, the Sacrifice Petals, are again similar in nature to those already enumerated, plus a definite stimulation of power in two directions.

Các cánh hoa hi sinh. Các năng lượng hay mãnh lực chảy qua, và do đó tạo ra hoạt động trong vòng cánh hoa bên trong, các cánh hoa hi sinh, lại một lần nữa tương tự về bản chất với những gì đã được liệt kê, cộng thêm một sự kích thích quyền năng rõ rệt theo hai hướng.

1. We have been dealing with the various influences which impact the three tiers of petals.

1. Chúng ta đã bàn đến các ảnh hưởng khác nhau tác động lên ba vòng cánh hoa.

2. The sacrifice petals are called the inner tier or circle of petals but not the inmost circle.

2. Các cánh hoa hi sinh được gọi là vòng hay chu vi cánh hoa bên trong nhưng không phải là vòng trong cùng.

3. All petals in every tier of petals have a certain similarity. They are all most strongly conditioned by the second aspect of divinity no matter how much they may be secondarily influence by other higher or lower sources.

3. Mọi cánh hoa trong mỗi vòng cánh hoa đều có một sự tương đồng nhất định. Tất cả đều được phương diện thứ hai của thiên tính tác động mạnh mẽ nhất, bất kể chúng có thể chịu ảnh hưởng thứ yếu đến mức nào từ các nguồn cao hơn hay thấp hơn khác.

4. The sacrifice petals are petals of power.

4. Các cánh hoa hi sinh là những cánh hoa của quyền năng.

One stimulating influence comes from the Will Aspect of the Monad, and thus (through transmission) from the first Aspect of the planetary Logos, and the other emanates from the “Sacred Bud which veils the Jewel.

Một ảnh hưởng kích thích đến từ Phương diện Ý Chí của Chân thần, và do đó (qua sự truyền dẫn) từ Phương diện thứ nhất của Hành Tinh Thượng đế, còn ảnh hưởng kia phát ra từ “Nụ Thiêng che phủ Viên Ngọc.

5. We are considering the sources of stimulation of the sacrifice petals:

5. Chúng ta đang xem xét các nguồn kích thích của các cánh hoa hi sinh:

a. One source is the will aspect of the Monad. Note that the Monad also has a wisdom aspect and an activity aspect which probably stimulated the second and third tiers respectively.

a. Một nguồn là phương diện ý chí của Chân thần. Lưu ý rằng Chân thần cũng có một phương diện minh triết và một phương diện hoạt động mà có lẽ đã kích thích lần lượt vòng thứ hai và thứ ba.

b. We are learning that that the first aspect of the Planetary Logos stimulates the first aspect of the Monad—the will aspect.

b. Chúng ta đang học rằng phương diện thứ nhất của Hành Tinh Thượng đế kích thích phương diện thứ nhất của Chân thần—phương diện ý chí.

c. The second source is apparently from the synthesis petals considered as a “Sacred Bud” veiling the “Jewel in the Lotus”. We are not sure whether DK is considering the “Jewel” per se as a source of stimulation for the sacrifice petals. Usually the “bud” is considered as one unit including the “Jewel in the Lotus”.

c. Nguồn thứ hai dường như đến từ các cánh hoa tổng hợp được xem như một “Nụ Thiêng” che phủ “Viên Ngọc trong Hoa Sen”. Chúng ta không chắc liệu Chân sư DK có đang xem chính “Viên Ngọc” như một nguồn kích thích cho các cánh hoa hi sinh hay không. Thông thường “nụ” được xem là một đơn vị bao gồm cả “Viên Ngọc trong Hoa Sen”.

This is a particularly strong vibration because, when the inner circle is unfolded, the jewel is revealed,

Đây là một rung động đặc biệt mạnh vì khi vòng bên trong được khai mở, viên ngọc được hiển lộ,

6. The “Jewel” is at least partially revealed. The inner circle is completely unfolded by the time the third initiation is taken, but the “Jewel” is not then fully revealed—at least according to what Master DK has stated elsewhere about the continuing revelation of the “Jewel” leading up to the fourth initiation.

6. “Viên Ngọc” ít nhất được hiển lộ một phần. Vòng bên trong được khai mở hoàn toàn vào lúc lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận, nhưng khi ấy “Viên Ngọc” vẫn chưa được hiển lộ trọn vẹn —ít nhất theo điều Chân sư DK đã nói ở nơi khác về sự hiển lộ tiếp diễn của “Viên Ngọc” dẫn đến lần điểm đạo thứ tư.

and the three “veils” or “sacred petals” open successively when the three tiers unfold.

và ba “màn che” hay “các cánh hoa thiêng” mở ra tuần tự khi ba vòng được khai mở.

7. We have some important synonyms here for the synthesis petals.

7. Ở đây chúng ta có một số từ đồng nghĩa quan trọng cho các cánh hoa tổng hợp.

8. They are called “veils” because they veil the “Jewel”. They are called “sacred petals” because they have been formed by a downflow of buddhic energy.

8. Chúng được gọi là “màn che” vì chúng che phủ “Viên Ngọc”. Chúng được gọi là “các cánh hoa thiêng” vì chúng đã được hình thành bởi một dòng năng lượng Bồ đề tuôn xuống.

9. The sacred petals open successively at each of the first three initiations—the knowledge-synthesis petal continuing to open during initiations two and three and the love-wisdom-synthesis petal opening at the second initiation continues to open as the third initiation is taken. Yet full opening so as to disclose the “Jewel in the Lotus” does not occur until the fourth initiation.

9. Các cánh hoa thiêng mở ra tuần tự ở mỗi một trong ba lần điểm đạo đầu tiên—cánh hoa tổng hợp tri thức tiếp tục mở trong các lần điểm đạo thứ hai và thứ ba, và cánh hoa tổng hợp bác ái–minh triết mở ra ở lần điểm đạo thứ hai tiếp tục mở khi lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận. Tuy nhiên, sự mở ra trọn vẹn để làm lộ “Viên Ngọc trong Hoa Sen” không xảy ra cho đến lần điểm đạo thứ tư.

It is thus apparent what numerous energising agencies are responsible for the “motion,” occultly understood, of the egoic lotus.

Do đó rõ ràng là có rất nhiều tác nhân tiếp sinh lực chịu trách nhiệm cho “chuyển động”, được hiểu theo huyền bí học, của hoa sen chân ngã.

10. This has been the whole point of our discussion—motion on the plane of mind and especially on the plane of higher mind.

10. Đó chính là toàn bộ trọng điểm của cuộc thảo luận của chúng ta—chuyển động trên cõi trí và đặc biệt trên cõi thượng trí.

11. Streams of energy are motion and induce motion.

11. Các dòng năng lượng là chuyển động và gây ra chuyển động.

12. We are now listing several agencies which energize the egoic lotus.

12. Hiện nay chúng ta đang liệt kê một số tác nhân tiếp sinh lực cho hoa sen chân ngã.

There is the inherent life of the atomic units forming each petal,

sự sống cố hữu của các đơn vị nguyên tử tạo thành mỗi cánh hoa,

13. These atomic units are comprised of the elemental essence of the higher mental plane.

13. Các đơn vị nguyên tử này được cấu thành từ Tinh chất hành khí của cõi thượng trí.

and the circulatory life of the petal itself, regarding it as an individual unit.

và sự sống tuần hoàn của chính cánh hoa, xét nó như một đơn vị cá biệt.

14. The “circulatory” life is distinct from the “inherent life”, though no doubt involves the latter.

14. Sự sống “tuần hoàn” khác biệt với “sự sống cố hữu”, dù chắc chắn có bao hàm điều sau.

There is likewise the life of the circle of three petals and to this we must add the unified activity of the outer three circles, or the blending of knowledge forces absorbed from the personal self, of love forces which are the natural energies of the solar Angel, and of sacrifice forces pouring in from the Monad.

Cũng có sự sống của vòng ba cánh hoa và vào đó chúng ta phải thêm hoạt động hợp nhất của ba vòng ngoài, hay sự hòa trộn của các mãnh lực tri thức được hấp thụ từ phàm ngã, của các mãnh lực bác ái là những năng lượng tự nhiên của Thái dương Thiên Thần, và của các mãnh lực hi sinh tuôn vào từ Chân thần.

15. Let us tabulate the types of forces involved in the energizing of the egoic lotus.

15. Chúng ta hãy lập bảng các loại mãnh lực liên quan đến việc tiếp sinh lực cho hoa sen chân ngã.

a. The inherent life of the atomic units forming each petal

a. Sự sống cố hữu của các đơn vị nguyên tử tạo thành mỗi cánh hoa

b. The circulatory life of the petal itself

b. Sự sống tuần hoàn của chính cánh hoa

c. The life of each circle of three petals

c. Sự sống của mỗi vòng ba cánh hoa

d. The unified activity of three outer circles of petals (the blending of the knowledge forces, the love forces and the sacrifice forces)

d. Hoạt động hợp nhất của ba vòng cánh hoa ngoài (sự hòa trộn của các mãnh lực tri thức, các mãnh lực bác ái và các mãnh lực hi sinh)

e. Still other forces to be added as explained below—the “Jewel” and presumably the energies of the inmost tier.

e. Những mãnh lực khác nữa sẽ được thêm vào như giải thích dưới đây—“Viên Ngọc” và có lẽ là các năng lượng của vòng trong cùng.

16. Notice that the three circles of petals are called “outer” in contrast to the circle of “sacred petals” or synthesis petals.

16. Hãy lưu ý rằng ba vòng cánh hoa được gọi là “bên ngoài” để đối chiếu với vòng “các cánh hoa thiêng” hay các cánh hoa tổng hợp.

17. It is important to realize that the knowledge forces are particularly absorbed from the personal self; that the love forces are the most natural of characteristic energies of the Solar Angel; and of course that the sacrifice forces pour in particularly from the Monad.

17. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng các mãnh lực tri thức đặc biệt được hấp thụ từ phàm ngã; rằng các mãnh lực bác ái là những năng lượng đặc trưng tự nhiên nhất của Thái dương Thiên Thần; và dĩ nhiên rằng các mãnh lực hi sinh đặc biệt tuôn vào từ Chân thần.

Thus we have a marvellous aggregate of streams of energies, all representing interior and still greater (because cosmic) energies.

Như vậy chúng ta có một tổng thể kỳ diệu của các dòng năng lượng, tất cả đều đại diện cho những năng lượng nội tại và còn lớn lao hơn nữa (vì là vũ trụ).

18. All the energies closer to the possibility of human comprehension are simply representatives of still greater interior, cosmic energies.

18. Tất cả các năng lượng gần với khả năng thấu hiểu của con người hơn chỉ đơn giản là những đại diện của các năng lượng nội tại, vũ trụ còn lớn lao hơn nữa.

19. Given enough study and persistence, we could, over time, connect the “highest” and the “lowest” in on concatenated stream of influence.

19. Nếu nghiên cứu đủ nhiều và kiên trì đủ mức, theo thời gian chúng ta có thể nối kết “cao nhất” và “thấp nhất” trong một dòng ảnh hưởng liên kết liên tục.

Finally, we have the dynamic force of the “Jewel” at the Heart,

Sau cùng, chúng ta có mãnh lực năng động của “Viên Ngọc” nơi Tâm điểm,

20. At the heart of the egoic lotus…

20. Tại tâm điểm của hoa sen chân ngã…

21. Just as the energy of the sacrifice petals is dynamic so is the energy of the “Jewel”—even more so.

21. Cũng như năng lượng của các cánh hoa hi sinh là năng động thì năng lượng của “Viên Ngọc” cũng vậy—thậm chí còn hơn thế nữa.

which is itself the focal point for the life of the planetary Logos,

chính nó là tiêu điểm của sự sống của Hành Tinh Thượng đế,

22. Not just for the will aspect of the Planetary Logos—but for His life itself…

22. Không chỉ đối với phương diện ý chí của Hành Tinh Thượng đế—mà còn đối với chính sự sống của Ngài…

23. Within the monadic triangle (consisting of Will, Wisdom and Activity) there must be a central point which is the very essence of the Monad. Such a central point is not discussed but it can be inferred by analogy. There must be an ultimate home for the liberated volatile essence, and this central point, more logoic than monadic, is, I think, finally to be correlated with the volatile essence.

23. Trong tam giác chân thần (gồm Ý Chí, Minh Triết và Hoạt Động) hẳn phải có một điểm trung tâm là chính tinh túy của Chân thần. Điểm trung tâm như thế không được bàn đến nhưng có thể được suy ra theo định luật tương đồng. Phải có một nơi cư ngụ tối hậu cho tinh chất linh động đã được giải thoát, và điểm trung tâm này, mang tính logoi hơn là chân thần, theo tôi, rốt cuộc phải được liên hệ với tinh chất linh động ấy.

and through the planetary Logos of all the other Logoi.

thông qua Hành Tinh Thượng đế đến tất cả các Thượng đế khác.

24. Probably the seven sacred planets influence the “Jewel in the Lotus” which is seven-faceted. Other and higher Logoi (for instance the Logoi of the “Seven Solar Systems of Which Ours is One”) probably also have their influence on the central “Jewel”.

24. Có lẽ bảy hành tinh thiêng liêng ảnh hưởng đến “Viên Ngọc trong Hoa Sen”, vốn có bảy mặt. Những Thượng đế khác và cao hơn nữa (thí dụ các Thượng đế của “Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một”) có lẽ cũng có ảnh hưởng của Các Ngài lên “Viên Ngọc” trung tâm.

25. Even that Logos within the Great Bear most related to our Planetary Logos would have His very attenuated influence.

25. Ngay cả Thượng đế trong Đại Hùng Tinh có liên hệ nhiều nhất với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta cũng sẽ có ảnh hưởng rất suy giảm của Ngài.

Thus the potentialities latent in the incarnating jiva are stupendous,

Như vậy các tiềm năng tiềm ẩn trong jiva đang lâm phàm là vô cùng lớn lao,

26. Let us remember this for our encouragement.

26. Chúng ta hãy ghi nhớ điều này để tự khích lệ mình.

and he can become as God,

và y có thể trở nên như Thượng đế,

27. This is the destiny for each of us.

27. Đây là định mệnh của mỗi chúng ta.

provided he submits to the evolutionary process, and does not “refrain [Page1117] from being stretched upon the wheel.”

miễn là y thuận phục tiến trình tiến hoá, và không “tránh né [Page1117] from being stretched upon the wheel.”

28. To be stretched means to be subject to all the experiences of the wheel.

28. Bị kéo căng có nghĩa là phải chịu mọi kinh nghiệm của bánh xe.

29. We are learning that there is no way to “become as God” without going through the completed evolutionary process.

29. Chúng ta đang học rằng không có cách nào để “trở nên như Thượng đế” mà không đi qua trọn vẹn tiến trình tiến hoá.

Thus the expansions of consciousness, which will admit an individual point of spiritual life into the councils,

Như vậy những sự mở rộng tâm thức, vốn sẽ cho phép một điểm cá biệt của sự sống tinh thần được bước vào các hội đồng,

30. A Monad is here being described as an “individual point of spiritual life”.

30. Ở đây một Chân thần đang được mô tả như một “điểm cá biệt của sự sống tinh thần”.

31. What are the “councils”? One is reminded of the Council Chamber of the Most High, to which only a Monad can be admitted.

31. “Các hội đồng” là gì? Người ta nhớ đến Phòng Hội Đồng của Đấng Tối Cao, nơi chỉ một Chân thần mới có thể được thừa nhận vào.

32. Yet the word “individual” could indicate the Ego on the higher mental plane as an individuality.

32. Tuy nhiên, từ “cá biệt” có thể chỉ Chân ngã trên cõi thượng trí như một cá thể tính.

and the Wisdom of the Deity, are no idle promise but are guaranteed by the very constitution of the vehicle employed, and the place in the scheme of the “developing Point,” as the Ego is sometimes called.

và Minh Triết của Thượng đế, không phải là một lời hứa suông mà được bảo đảm bởi chính cấu tạo của vận cụ được sử dụng, và bởi vị trí trong hệ hành tinh của “Điểm đang phát triển,” như Chân ngã đôi khi được gọi như vậy.

33. We can see why the Ego should be called a “developing Point”. There is no reason, however, why the Monad should not be called something similar though the development of the Ego is more immediate and comprehensible to us.

33. Chúng ta có thể thấy vì sao Chân ngã nên được gọi là một “Điểm đang phát triển”. Tuy nhiên, không có lý do gì khiến Chân thần không thể được gọi bằng một danh xưng tương tự, dù sự phát triển của Chân ngã gần gũi và dễ hiểu hơn đối với chúng ta.

34. Within the egoic lotus, the “Jewel in the Lotus” is the true “point” and it is the representative of the Monad—the still more real point.

34. Trong hoa sen chân ngã, “Viên Ngọc trong Hoa Sen” là “điểm” đích thực và nó là đại diện của Chân thần—điểm còn thực hơn nữa.

Naught in time and space can hinder, for every form being simply an expression of energised life, tends to serve every other form.

Không gì trong thời gian và không gian có thể cản trở, vì mọi hình tướng, chỉ đơn giản là một biểu hiện của sự sống được tiếp sinh lực, đều có khuynh hướng phụng sự mọi hình tướng khác.

35. Here is asserted the great interdependency of all living beings.

35. Ở đây khẳng định sự tương thuộc lớn lao của mọi sinh thể.

Stimulation of some kind, the tendency to increase the vibration of contacting streams of energy, the accentuation of the activity of each centralised pointas it contacts other points in the general heightening of the vibration through the interplay of those forces, all this sweeps the entire system on to its consummation, and to the revelation of the “glory which shall some day be revealed.18 [Bible. I. Peter, 5:1]

Sự kích thích thuộc một loại nào đó, khuynh hướng làm tăng rung động của các dòng năng lượng tiếp xúc, sự nhấn mạnh hoạt động của mỗi điểm tập trungkhi nó tiếp xúc với các điểm khác trong sự nâng cao tổng quát của rung động qua sự tương tác của các mãnh lực ấy, tất cả điều này cuốn toàn bộ hệ thống tiến tới sự viên mãn của nó, và tới sự mặc khải của “vinh quang một ngày kia sẽ được hiển lộ.18 [Bible. I. Peter, 5:1]

36. Here we have a most beautiful statement of vibratory interdependence.

36. Ở đây chúng ta có một phát biểu hết sức đẹp đẽ về sự tương thuộc rung động.

37. No matter through what form a point may be expressing, each point is essentially the Monad.

37. Dù một điểm có thể đang biểu lộ qua hình tướng nào đi nữa, mỗi điểm về bản chất cốt yếu đều là Chân thần.

All these forces form the aggregate of what is called “fohatic life.”

Tất cả các mãnh lực này tạo thành tổng thể của cái được gọi là “sự sống fohat”.

38. The solar system is an aggregation of all manner of forces. This system manifests on the cosmic physical plane, one of the three domains of Fohat—the ‘Lord of Cosmic Electricity’.

38. Hệ mặt trời là một tập hợp của đủ mọi loại mãnh lực. Hệ này biểu lộ trên cõi hồng trần vũ trụ, một trong ba lĩnh vực của Fohat—‘Đấng Chúa Tể của Điện Vũ Trụ’.

39. From a deeper perspective, Fohat is Agni or the Life of the entire personality of the Solar Logos.

39. Từ một góc nhìn sâu hơn, Fohat là Agni hay Sự Sống của toàn bộ phàm ngã của Thái dương Thượng đế.

As the system, or the body of the Logos, is carried forward through the energy in all its parts,

Khi hệ thống, hay thể của Thượng đế, được đưa tiến lên nhờ năng lượng trong mọi phần của nó,

40. Every part of the systemic body of the Logos contributes to the carrying forward of the entire body of the Logos.

40. Mỗi phần của thể hệ thống của Thượng đế đều góp phần đưa tiến lên toàn bộ thể của Thượng đế.

so is each infinitesimal part speeded on to its similar individual glorification.

thì mỗi phần vô cùng nhỏ bé cũng được thúc đẩy tiến tới sự vinh hiển cá biệt tương tự của nó.

41. There are many levels of glorification, each relative. Eventually will supervene the glorification of the One and Only Form—that of the Universe itself.

41. Có nhiều cấp độ vinh hiển, mỗi cấp đều tương đối. Cuối cùng sẽ xuất hiện sự vinh hiển của Hình Tướng duy nhất và độc nhất—đó là của chính Vũ Trụ.

The many which form the All, and the units which constitute the One, cannot be differentiated as the consummation is achieved.

Nhiều cái tạo thành Tất Cả, và các đơn vị cấu thành Đấng Duy Nhất, không thể bị phân biệt khi sự viên mãn được đạt đến.

42. Some glimmer of this possibility occurs to us in our highest states of consciousness.

42. Một thoáng nhận biết về khả năng này đến với chúng ta trong những trạng thái tâm thức cao nhất của mình.

43. “All in One and One in All”.

43. “Tất Cả trong Một và Một trong Tất Cả”.

They are merged, and lost in the general “beatific light,” as it is sometimes called.

Chúng hòa nhập vào nhau, và mất đi trong “ánh sáng chí phúc” phổ quát, như đôi khi nó được gọi như vậy.

44. That psychic power called “beatitude” emanates from the atmic plane which is the “nirvanic plane”. We seem to be speaking, then, of the realization which begins to dawn on the successful Nirvani.

44. Quyền năng thông linh được gọi là “chí phúc” ấy phát ra từ cõi atma, tức là “cõi Niết Bàn”. Vậy thì dường như chúng ta đang nói đến sự chứng nghiệm bắt đầu hé rạng nơi nirvani thành công.

We can then extend the concept somewhat further, and realise the cosmic interplay which is likewise being carried forward.

Khi ấy chúng ta có thể mở rộng khái niệm này thêm đôi chút, và chứng nghiệm sự tương tác vũ trụ cũng đang được xúc tiến tương tự.

45. Master DK is in the midst of what of his consummatory summations. Periodically, as a Master Teacher, He reveals the gathering of all forms of life into one glorious consummation.

45. Chân sư DK đang ở giữa một trong những phần tổng kết viên mãn của Ngài. Theo chu kỳ, với tư cách một Chân sư huấn sư, Ngài mặc khải sự quy tụ của mọi hình thức sự sống vào một sự viên mãn huy hoàng duy nhất.

We can picture the cosmic stimulation and intensification which proceeds as constellations form the units in the Whole instead of planets or human atoms. Whole suns with their allied systems in their immensity play the part of atoms.

Chúng ta có thể hình dung sự kích thích và tăng cường vũ trụ diễn ra khi các chòm sao tạo thành các đơn vị trong Toàn Thể thay vì các hành tinh hay các nguyên tử người. Những mặt trời trọn vẹn cùng các hệ liên kết của chúng trong sự bao la của chúng đóng vai trò của các nguyên tử.

46. Suns as atoms! To what type of Being would a Sun be as an atom? We have already been told that to some Beings (let us say a Galactic Logos) a Sun is as a cell. To other types of Beings the Sun is as a crystal. The type of Being in relation to which the Sun is as an atom must be far larger than a Being manifesting through a galaxy or island universe.

46. Các mặt trời như những nguyên tử! Đối với loại Hữu thể nào thì một Mặt Trời lại như một nguyên tử? Chúng ta đã được cho biết rằng đối với một số Hữu thể (chúng ta hãy nói rằng một Thượng đế Thiên Hà), một Mặt Trời như một tế bào. Đối với những loại Hữu thể khác, Mặt Trời như một tinh thể. Loại Hữu thể mà đối với đó Mặt Trời như một nguyên tử hẳn phải lớn lao hơn rất nhiều so với một Hữu thể biểu lộ qua một thiên hà hay vũ trụ đảo.

Thus some idea may be gained of the unified purpose underlying the turning of the great Wheel of the cosmic Heaven,

Như vậy có thể đạt được một vài ý niệm về mục đích hợp nhất nằm bên dưới sự quay của bánh xe vĩ đại của Thiên Đàng vũ trụ,

47. Is Master DK speaking of the One and Only Wheel? The Wheel of the Universe? Or is He speaking of a Galactic Wheel—the vehicle of expression of a Galactic Logos?

47. Chân sư DK có đang nói về Bánh Xe duy nhất và độc nhất không? Bánh Xe của Vũ Trụ? Hay Ngài đang nói về một Bánh Xe Thiên Hà—vận cụ biểu lộ của một Thượng đế Thiên Hà?

and the working through of the life purposes of those stupendous Existences Who [Page 1118] hold a position in the cosmic Hierarchy similar to that of the “ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID.”

và sự triển khai các mục đích sự sống của những Hiện Hữu vĩ đại ấy, là những Đấng [Page 1118] giữ một vị trí trong Thánh Đoàn vũ trụ tương tự như vị trí của “ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ.”

48. DK seems to be speaking of Beings Who are analogous to the Ones we have called the “One About Whom Naught May Be Said” and yet are far greater.

48. DK dường như đang nói về những Hữu thể tương tự với những Đấng mà chúng ta đã gọi là “Đấng Bất Khả Tư Nghị” nhưng còn vĩ đại hơn rất nhiều.

49. Our local “One About Whom Naught May Be Said” is certainly of far lesser scope than a Galactic Logos. This can be well-reasoned.

49. “Đấng Bất Khả Tư Nghị” cục bộ của chúng ta chắc chắn có phạm vi nhỏ hơn rất nhiều so với một Thượng đế Thiên Hà. Điều này có thể được suy luận hợp lý.

50. Of course the system of our local “One About Whom Naught May Be Said” could be called “the great Wheel of the cosmic Heaven”, but such a wheel performs in tiny terms (relatively) within the far greater Wheel through which a Galactic Logos finds expression.

50. Dĩ nhiên hệ thống của “Đấng Bất Khả Tư Nghị” cục bộ của chúng ta có thể được gọi là “bánh xe vĩ đại của Thiên Đàng vũ trụ”, nhưng một bánh xe như thế vận hành trong những giới hạn rất nhỏ bé (tương đối) bên trong Bánh Xe lớn lao hơn rất nhiều mà qua đó một Thượng đế Thiên Hà tìm thấy sự biểu lộ.

It is not possible to give students an adequate idea of the beauty of the egoic lotus when it has reached the stage of complete unfoldment. The radiancy of its colour is not here referred to, but the brilliancy of the fires, and the rapid scintillation of the ceaselessly moving streams and points of energy.

Không thể mang lại cho các đạo sinh một ý niệm đầy đủ về vẻ đẹp của hoa sen chân ngã khi nó đã đạt đến giai đoạn khai mở hoàn toàn. Ở đây không nói đến sự rực rỡ của màu sắc nó, mà là sự chói sáng của các ngọn lửa, và sự lấp lánh mau lẹ của các dòng và các điểm năng lượng chuyển động không ngừng.

51. We have no other choice but to learn to see the egoic lotus for ourselves. We can imagine that to which Master DK alludes, but this feat of imagination cannot take the place of the development of direct sight. Towards that we strive.

51. Chúng ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tự mình học cách thấy hoa sen chân ngã. Chúng ta có thể tưởng tượng điều mà Chân sư DK ám chỉ, nhưng kỳ công tưởng tượng này không thể thay thế cho sự phát triển của linh thị trực tiếp. Chúng ta phấn đấu hướng tới điều đó.

52. Many things are hidden to us. We know the path to revelation. We have simply to tread that path with undying persistence.

52. Nhiều điều còn bị che giấu đối với chúng ta. Chúng ta biết con đường dẫn đến sự mặc khải. Chúng ta chỉ cần bước đi trên con đường ấy với sự kiên trì không tàn lụi.

Each petal pulsates with quivering fire “points,”

Mỗi cánh hoa rung động với những “điểm” lửa run rẩy,

53. These quivering “fire points” are devic lives. DK has sometime referred to devas as “points”.

53. Những “điểm lửa” run rẩy này là các sự sống thiên thần. DK đôi khi đã gọi các thiên thần là “các điểm”.

54. In fact, all lives are points.

54. Thật ra, mọi sự sống đều là các điểm.

and each tier of petals vibrates with life, whilst at the centre glows the Jewel,

và mỗi vòng cánh hoa rung động với sự sống, trong khi ở trung tâm Viên Ngọc rực sáng,

55. With a hue which is a reflection of the quality of the Monad…

55. Với một sắc thái là sự phản chiếu của phẩm tính của Chân thần…

raying forth streams of energy from the centre to the periphery of the outermost circle.

phóng ra các dòng năng lượng từ trung tâm đến chu vi của vòng ngoài cùng.

56. The “Jewel in the Lotus” as the reflection of the Monad participates in the consummation of the development of the egoic lotus.

56. “Viên Ngọc trong Hoa Sen”, như sự phản chiếu của Chân thần, tham dự vào sự viên mãn của sự phát triển hoa sen chân ngã.

The fires of living energy circulate around each individual petal and themethod of interweaving and the circulation of the fires is (as may be well realised) sevenfold in nature according to the sevenfold nature of the Logos involved.

Các ngọn lửa của năng lượng sống tuần hoàn quanh mỗi cánh hoa riêng biệt và phương pháp đan kết và sự tuần hoàn của các ngọn lửa có bản chất thất phân (như có thể dễ dàng nhận ra) tùy theo bản chất thất phân của Thượng đế liên hệ.

57. This means that the method of interweaving and circulation depend upon the monadic ray of the Monad concerned. Each Monad represents one of the seven sacred Planetary Logoi.

57. Điều này có nghĩa là phương pháp đan kết và tuần hoàn tùy thuộc vào cung chân thần của Chân thần liên hệ. Mỗi Chân thần đại diện cho một trong bảy Hành Tinh Thượng đế thiêng liêng.

58. Though seven Logoi can be represented, ultimately three Great Logoi are represented—the three correlating with the three major rays of all Monads.

58. Dù bảy Thượng đế có thể được đại diện, rốt cuộc ba Thượng đế Vĩ Đại được đại diện—ba Đấng tương ứng với ba cung chính của mọi Chân thần.

Each circle of petals becomes, as evolution proceeds, likewise active, and revolves around the central Jewel, so that we have, not only the activity of the petals, not only the activity of the living points or the deva lives within the petal circumference, but likewise the unified activity of each tier of the threefold lotus.

Mỗi vòng cánh hoa cũng trở nên hoạt động khi tiến hoá tiến triển, và quay quanh Viên Ngọc trung tâm, để chúng ta không chỉ có hoạt động của các cánh hoa, không chỉ có hoạt động của các điểm sống hay các sự sống thiên thần bên trong chu vi cánh hoa, mà còn có hoạt động hợp nhất của mỗi vòng trong hoa sen tam phân.

59. DK is giving us a tantalizing image of final consummation. He is speaking to our imagination.

59. DK đang trao cho chúng ta một hình ảnh đầy khêu gợi về sự viên mãn cuối cùng. Ngài đang nói với sự tưởng tượng của chúng ta.

60. Let us tabulate the types of activity thus far described:

60. Chúng ta hãy lập bảng các loại hoạt động đã được mô tả cho đến nay:

a. The activity of the petals

a. Hoạt động của các cánh hoa

b. The activity of the living points or the deva lives within the petal circumference

b. Hoạt động của các điểm sống hay các sự sống thiên thần bên trong chu vi cánh hoa

c. The unified activity of each tier of the threefold lotus.

c. Hoạt động hợp nhất của mỗi vòng trong hoa sen tam phân.

At a specific stage in evolution, prior to the opening of the central veiling bud,

Ở một giai đoạn nhất định trong tiến hoá, trước khi nụ che phủ trung tâm mở ra,

61. We may presume that this stage occurs following the third initiation.

61. Chúng ta có thể giả định rằng giai đoạn này xảy ra sau lần điểm đạo thứ ba.

the three tiers of petals, considered as a unit, begin to revolve, so that the entire lotus appears to be in motion.

ba vòng cánh hoa, được xem như một đơn vị, bắt đầu quay, khiến toàn bộ hoa sen dường như đang chuyển động.

62. We have a rhythmic consummation of the activity aspect of divinity.

62. Chúng ta có một sự viên mãn nhịp điệu của phương diện hoạt động của thiên tính.

At the final stages the central circle of petals opens,

Ở các giai đoạn cuối cùng, vòng cánh hoa trung tâm mở ra,

63. As the fourth initiation is occurring…

63. Khi lần điểm đạo thứ tư đang diễn ra…

64. Other names for this “central circle of petals” are the “sacred petals”, the “veils”, the inmost petals, the synthesis petals.

64. Những tên gọi khác của “vòng cánh hoa trung tâm” này là “các cánh hoa thiêng liêng”, “các bức màn”, các cánh hoa trong cùng, các cánh hoa tổng hợp.

revealing that which is hid, and revolves around the Jewel, only in a contrary direction to the rapidly circulating outer lotus.

tiết lộ điều được che giấu, và xoay quanh Bảo Châu, nhưng theo chiều ngược lại với hoa sen bên ngoài đang tuần hoàn nhanh chóng.

65. Within the demonstration of the final egoic lotus we have wheel turning on itself.

65. Trong sự biểu lộ của hoa sen chân ngã chung cuộc, chúng ta có bánh xe tự xoay trên chính nó.

66. As an analogy, the rotation of the Earth (as seen from a vantage point in space) and its revolution around the Sun proceed from left to right, but the gyration of the Earth’s axis proceeds from right to left.

66. Theo phép loại suy, sự tự quay của Trái Đất (khi được nhìn từ một điểm quan sát trong không gian) và sự quay quanh Mặt Trời của nó diễn ra từ trái sang phải, nhưng sự quay tròn của trục Trái Đất lại diễn ra từ phải sang trái.

The reason may not here be revealed for it is hid in the nature of the electric Fire of Spirit itself.

Lý do không thể được tiết lộ ở đây vì nó ẩn giấu trong chính bản chất của Lửa Điện của tinh thần.

67. We remember that electric fire really is a very high form of buddhic energy. Buddhi is the energy of harmonization in which both the pairs of opposites must be given equal representation. Both directions; Spirit as well as matter must be represented. The wheel must turn on itself.

67. Chúng ta nhớ rằng lửa điện thực sự là một hình thức rất cao của năng lượng Bồ đề. Bồ đề là năng lượng của sự điều hòa, trong đó cả hai cặp đối cực đều phải được biểu hiện ngang nhau. Cả hai chiều; tinh thần cũng như vật chất đều phải được biểu hiện. Bánh xe phải tự xoay trên chính nó.

68. If we knew with certainty the direction of the nine as compare to the direction of the inmost three, we would have confirmed for us the contrary tendencies of the third aspect of divinity and the second aspect of divinity.

68. Nếu chúng ta biết chắc chiều của chín cánh so với chiều của ba cánh trong cùng, thì chúng ta sẽ được xác nhận về các khuynh hướng đối nghịch của phương diện thứ ba của thiên tính và phương diện thứ hai của thiên tính.

The Jewel itself remains occultly static, and does not circulate.

Chính Bảo Châu vẫn huyền bí mà tĩnh tại, và không tuần hoàn.

69. Stasis is one of the qualities of the first ray and the “Jewel”, no matter what may be the ray of the Ego or of the Monad, represents in the structure of the egoic lotus, the first ray.

69. Tính tĩnh tại là một trong những phẩm tính của cung một và “Bảo Châu”, bất kể cung của Chân ngã hay của chân thần là gì, đều biểu hiện trong cấu trúc của hoa sen chân ngã cung một.

It is a point of peace;

Nó là một điểm bình an;

70. The term “peace” suggests Shamballa which is the foremost first ray Center within our planet.

70. Thuật ngữ “bình an” gợi đến Shamballa, là Trung tâm cung một hàng đầu trong hành tinh chúng ta.

it pulsates rhythmically as does the heart of man,

nó đập theo nhịp điệu như trái tim con người,

71. The pulsating heart is the home of the first aspect of divinity as well as the second.

71. Trái tim đang đập là nơi cư ngụ của phương diện thứ nhất của thiên tính cũng như phương diện thứ hai.

72. Pulsation conveying life is a dynamic of the first ray.

72. Sự rung đập chuyển tải sự sống là một động lực của cung một.

and from it ray forth eight streams of living fire

và từ đó phát ra tám dòng lửa sống

73. The number eight connects this dynamic of pulsation to the Logos of Sirius and, more proximately, to the Christ (the Heart of the Hierarchy).

73. Con số tám nối kết động lực rung đập này với Thượng đế của Sirius và, gần hơn, với Đức Christ (Trái Tim của Thánh Đoàn).

which extend to the tips of the four love petals and the four sacrifice petals.

vươn đến các đầu mút của bốn cánh hoa bác ái và bốn cánh hoa hi sinh.

74. How are there four love petals and four sacrifice petals? Why not five? May it be that by the time the fourth initiation is occurring, the knowledge petals are already in the process of disintegration and are not enumerated.

74. Làm sao lại có bốn cánh hoa bác ái và bốn cánh hoa hi sinh? Tại sao không phải là năm? Có thể chăng rằng vào lúc lần điểm đạo thứ tư đang diễn ra, các cánh hoa tri thức đã ở trong tiến trình tan rã và không được tính đến.

75. Within the sacrifice tier are three sacrifice petals and within the love tier there is one.

75. Trong tầng hi sinh có ba cánh hoa hi sinh và trong tầng bác ái có một cánh.

76. Within the love tier there are three love petals and within the sacrifice tier there is one.

76. Trong tầng bác ái có ba cánh hoa bác ái và trong tầng hi sinh có một cánh.

This eight-fold [Page 1119] energy is atma-buddhi.

Năng lượng bát phân [Page 1119] này là atma-buddhi.

77. This is a most significant statement. And we are confirmed in thinking that atma is expressed through the sacrifice tier and buddhi through the love-wisdom tier.

77. Đây là một phát biểu hết sức có ý nghĩa. Và chúng ta được xác nhận khi nghĩ rằng atma được biểu lộ qua tầng hi sinh và buddhi qua tầng bác ái–minh triết.

78. The number eight relates to Sirius (the “Star of Mercury”), Scorpio (the eighth sign of the zodiac), Mercury (the “Guardian of the Eighth Gate”) and the Christ (to Whom the number has been assigned—the Lord who relates the highest circle with the lowest).

78. Con số tám liên hệ với Sirius (“Ngôi Sao của Sao Thủy”), Hổ Cáp (dấu hiệu hoàng đạo thứ tám), Sao Thủy (“Đấng Canh Giữ Cổng Thứ Tám”) và Đức Christ (Đấng mà con số này đã được gán cho—Đấng Chúa Tể liên kết vòng cao nhất với vòng thấp nhất).

It is this final raying forth which produces the eventual disintegration of the body of the Ego.

Chính sự phát xạ cuối cùng này tạo ra sự tan rã sau cùng của thể Chân ngã.

79. Thus we learn that the “Jewel in the Lotus” is instrumental in causing the destruction of the egoic lotus.

79. Như vậy chúng ta biết rằng “Bảo Châu trong Hoa Sen” là tác nhân gây nên sự hủy diệt của hoa sen chân ngã.

80. The number “eight” is also intimately related to the process of destruction.

80. Con số “tám” cũng liên hệ mật thiết với tiến trình hủy diệt.

The knowledge petals, not being the subject of the attention of this central fire

Các cánh hoa tri thức, vì không là đối tượng chú ý của ngọn lửa trung tâm này

81. Here it is said and we learn why the rays are eight instead of ten.

81. Ở đây điều này được nói ra và chúng ta hiểu vì sao các tia là tám thay vì mười.

in due time cease to be active;

đến lúc thích hợp sẽ ngừng hoạt động;

82. The intuition gains ascendancy and transcends knowledge.

82. Trực giác giành thế thượng phong và vượt lên trên tri thức.

knowledge is superseded by divine wisdom and the love petals have their forces equally absorbed.

tri thức được thay thế bằng minh triết thiêng liêng và các cánh hoa bác ái có các lực của chúng được hấp thu đồng đều.

83. It would seem that the eight forces at length become the three as the energies of the love petals are absorbed.

83. Dường như rốt cuộc tám lực trở thành ba khi các năng lượng của các cánh hoa bác ái được hấp thu.

84. This absorption means that one of the forces of sacrifice (that one which worked through the sacrifice petal in the love tier) can no longer express, as its instrument has been absorbed.

84. Sự hấp thu này có nghĩa là một trong các lực của hi sinh (lực đã hoạt động qua cánh hoa hi sinh trong tầng bác ái) không còn có thể biểu lộ nữa, vì công cụ của nó đã bị hấp thu.

Naught is eventually left but the desire to “sacrifice,”

Rốt cuộc không còn gì ngoài khát vọng “hi sinh”,

85. Thus, both knowledge and egoic love are transcended and the Will-to-Sacrifice remains—the energy of the sacrifice petals remains, prior to its dissipation.

85. Như vậy, cả tri thức lẫn bác ái chân ngã đều được vượt qua và Ý Chí-Từ Bỏ còn lại—năng lượng của các cánh hoa hi sinh còn lại, trước khi nó tiêu tán.

and as the vibratory impulse is akin to the nature of the living Jewel,

và vì xung lực rung động tương đồng với bản chất của Bảo Châu sống,

86. The “vibratory impulse” of sacrifice is akin to the nature of the “Jewel”.

86. “Xung lực rung động” của sự hi sinh tương đồng với bản chất của “Bảo Châu”.

it is synthesised in the central living unit and only the Jewel of fire remains.

nó được tổng hợp trong đơn vị sống trung tâm và chỉ còn lại Bảo Châu lửa.

87. The energy of the sacrifice petals is synthesized in the “Jewel in the Lotus”; the energy of atma is synthesized within the Monad proper.

87. Năng lượng của các cánh hoa hi sinh được tổng hợp trong “Bảo Châu trong Hoa Sen”; năng lượng của atma được tổng hợp trong chính chân thần.

88. When only the “Jewel of fire remains” are we reaching the point at which the “body incorruptible”, the body of pure flame, will be produced?

88. Khi chỉ còn lại “Bảo Châu lửa”, phải chăng chúng ta đang đạt đến điểm mà tại đó “thể bất hoại”, thể của ngọn lửa thuần khiết, sẽ được tạo ra?

When all the petals have merged their forces elsewhere, the process of revelation is completed.

Khi tất cả các cánh hoa đã hợp nhất các lực của chúng ở nơi khác, tiến trình mặc khải được hoàn tất.

89. The process of revelation is accompanied by the process of absorption and synthesis.

89. Tiến trình mặc khải đi kèm với tiến trình hấp thu và tổng hợp.

The lower fires die out; the central fire is absorbed, and only the radiant point of electric fire persists.

Các lửa thấp tắt dần; ngọn lửa trung tâm được hấp thu, và chỉ điểm rực sáng của lửa điện còn tồn tại.

90. That radiant point is the “Jewel in the Lotus” which remains until the egoic lotus is entirely dissipated.

90. Điểm rực sáng ấy là “Bảo Châu trong Hoa Sen”, còn lại cho đến khi hoa sen chân ngã hoàn toàn tiêu tán.

Then a curious phenomenon is to be seen at the final Initiation.

Khi ấy một hiện tượng kỳ lạ được thấy vào lần Điểm đạo cuối cùng.

91. The “final initiation” (if we are discussing the consummation of the divine of the egoic lotus) cannot be any initiation beyond the fourth.

91. “Lần điểm đạo cuối cùng” (nếu chúng ta đang bàn về sự hoàn tất thiêng liêng của hoa sen chân ngã) không thể là bất kỳ lần điểm đạo nào vượt quá lần thứ tư.

92. One might be tempted, however, to think of the seventh initiation. Perhaps at that initiation there is a similar sevenfold display in relation to the monadic “Jewel” with the Temple of Ezekiel (the monadic vehicle in process of destruction).

92. Tuy nhiên, người ta có thể bị cám dỗ nghĩ đến lần điểm đạo thứ bảy. Có lẽ ở lần điểm đạo đó có một sự biểu lộ thất phân tương tự liên hệ với “Bảo Châu” chân thần cùng với Đền thờ Ezekiel (vận cụ chân thần đang trong tiến trình bị hủy diệt).

The Jewel of fire blazes forth as seven jewels within the one, or as the sevenfold electric spark, and in the intensity of the blaze thus created is reabsorbed into the Monad or the One.

Bảo Châu lửa bùng cháy thành bảy bảo châu trong một, hay thành tia lửa điện thất phân, và trong cường độ của ngọn lửa được tạo ra như thế, nó được tái hấp thu vào chân thần hay Đấng Duy Nhất.

93. Our question has long been whether this absorption into the Monad is direct or mediated via the spiritual triad. There are other references which suggest a meditated passage towards the Monad.

93. Câu hỏi của chúng ta từ lâu là liệu sự hấp thu này vào chân thần là trực tiếp hay được trung gian qua Tam Nguyên Tinh Thần. Có những tham chiếu khác gợi ý một sự chuyển tiếp có trung gian hướng về chân thần.

94. It would seem that since the three circles of petals in the egoic lotus are stimulated by the three permanent atoms of the spiritual triad, that the synthesized energy of these tiers would be absorbed by the synthesis petals and thence by the permanent atoms of the spiritual triad—eventually finding their way into the Monad. But are the energies of the “Jewel in the Lotus”, per se absorbed directly into the Monad? Some features of TCF Chart VIII could make us conclude they are.

94. Dường như vì ba vòng cánh hoa trong hoa sen chân ngã được kích thích bởi ba nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần, nên năng lượng được tổng hợp của các tầng này sẽ được hấp thu bởi các cánh hoa tổng hợp và từ đó bởi các nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần—cuối cùng tìm đường vào chân thần. Nhưng các năng lượng của “Bảo Châu trong Hoa Sen”, chính chúng có được hấp thu trực tiếp vào chân thần không? Một số đặc điểm của Biểu đồ VIII trong Luận về Lửa Vũ Trụ có thể khiến chúng ta kết luận là có.

95. Yet we must ponder the following which suggests that the energies of the “Jewel in the Lotus” become centralized in atma-buddhic before they reach the Monad proper:

95. Tuy vậy, chúng ta phải suy ngẫm điều sau đây, điều gợi ý rằng các năng lượng thăng lên của “Bảo Châu trong Hoa Sen” được tập trung trong atma-buddhi một thời gian trước khi chúng đạt đến chính chân thần:

The central electric fire becomes centralised in atma-buddhi. The Thinker or spiritual entity stands free of the three worlds, and functions consciously on the buddhic plane. Between these two stages of quiescent (though self-conscious) inertia and of that radiant activity which produces a balancing of forces, is a long series of lives. (TCF 764)

Ngọn lửa điện trung tâm trở nên tập trung trong atma-buddhi. Đấng Tư Tưởng hay thực thể tinh thần đứng tự do khỏi ba cõi giới, và hoạt động một cách hữu thức trên cõi Bồ đề. Giữa hai giai đoạn này của quán tính tĩnh lặng (dù vẫn có ngã thức) và của hoạt động rực sáng tạo ra sự quân bình các mãnh lực, là một chuỗi dài các kiếp sống. (TCF 764)

This blazing unit, through the combined heat of its being, burns up the causal body, and escapes back on to the planes of abstraction. (TCF 515)

Đơn vị rực cháy này, nhờ nhiệt lực kết hợp của bản thể nó, thiêu hủy thể nguyên nhân, và thoát trở lại lên các cõi trừu tượng. (TCF 515)

96. The following quotation also suggests that the ascending energies of the “Jewel in the Lotus” are focused for a time within the spiritual triad:

96. Đoạn trích sau đây cũng gợi ý rằng các năng lượng thăng lên của “Bảo Châu trong Hoa Sen” được hội tụ một thời gian trong Tam Nguyên Tinh Thần:

The Chohans of the sixth Initiation work in the fourth and fifth ethers of the logoic etheric body (the buddhic and atmic planes), and deal with the passage of the life of Spirit from form to form in those worlds, having in view the transmutation of units in the spiritual kingdom into the monadic. (TCF 485)

Các Chohan của lần Điểm đạo thứ sáu hoạt động trong dĩ thái thứ tư và thứ năm của thể dĩ thái logoic (các cõi Bồ đề và atma), và đề cập đến sự chuyển tiếp của sự sống của tinh thần từ hình tướng này sang hình tướng khác trong các thế giới ấy, với mục đích chuyển hoá các đơn vị trong giới tinh thần thành chân thần. (TCF 485)

97. We judge from this that such Chohans can work through the atmic and buddhic permanent atoms of the spiritual triad. At least some of them appear to be able to do this. They are not entirely abstracted onto the monadic plane.

97. Từ đây chúng ta phán đoán rằng các Chohan như thế có thể hoạt động qua các nguyên tử trường tồn atma và Bồ đề của Tam Nguyên Tinh Thần. Ít nhất một số vị dường như có thể làm được điều này. Các vị không hoàn toàn được trừu xuất lên cõi chân thần.

98. We gather from this reading of the focal section of text that electric fire is sevenfold. We might also conclude that not only is the “Jewel” seven-faceted but that the Monad is sevenfold.

98. Từ cách đọc phần trọng tâm này của bản văn, chúng ta rút ra rằng lửa điện là thất phân. Chúng ta cũng có thể kết luận rằng không chỉ “Bảo Châu” có bảy mặt mà chân thần cũng là thất phân.

This process is paralleled at the final consummation of solar evolution when the seven Suns blaze forth before the great Pralaya.

Tiến trình này được song hành ở sự hoàn tất cuối cùng của tiến hoá thái dương khi bảy Mặt Trời bùng cháy trước Đại Giai kỳ qui nguyên.

99. We seem to be speaking of the pralaya of the Solar Logos, not simply between His incarnations, but after His entire incarnational cycle is concluded. In other words, He will have no further need for a logoic causal body.

99. Dường như chúng ta đang nói về giai kỳ qui nguyên của Thái dương Thượng đế, không chỉ giữa các lần lâm phàm của Ngài, mà sau khi chu kỳ lâm phàm toàn bộ của Ngài kết thúc. Nói cách khác, Ngài sẽ không còn cần đến một thể nguyên nhân logoic nữa.

All these modes of expression are but pictures which serve to convey some small idea of the beauty, and the intricacy of the divine process as it is carried on in the microcosm, and in the macrocosm.

Tất cả những phương thức diễn đạt này chỉ là những bức tranh nhằm truyền đạt một ý niệm nhỏ nào đó về vẻ đẹp, và sự phức tạp tinh vi của tiến trình thiêng liêng khi nó được tiến hành trong tiểu thiên địa và trong đại thiên địa.

100. Note the word “intricacy”. Nature and Super-Nature are as complex as they are simple.

100. Hãy lưu ý từ “sự phức tạp tinh vi”. Bản chất và Siêu-Bản-Chất phức tạp cũng như đơn giản.

101. Master DK has given us a picture of two types of consummations, both occurring at a specific type of fourth initiation. One is the consummation for the evolving human being. The other is the consummation for the evolving Solar Logos.

101. Chân sư DK đã cho chúng ta một bức tranh về hai loại hoàn tất, cả hai đều xảy ra ở một loại lần điểm đạo thứ tư đặc thù. Một là sự hoàn tất dành cho con người đang tiến hoá. Loại kia là sự hoàn tất dành cho Thái dương Thượng đế đang tiến hoá.

They all serve to limit and circumscribe the reality, but to the man who has the divine eye in process of opening,

Tất cả chúng đều có tác dụng giới hạn và khoanh vùng thực tại, nhưng đối với người đã có con mắt thiêng liêng đang trong tiến trình khai mở,

102. This opening will occur as the sacrifice petals are in process of opening.

102. Sự khai mở này sẽ xảy ra khi các cánh hoa hi sinh đang trong tiến trình khai mở.

103. We are speaking of the opening of the third eye.

103. Chúng ta đang nói về sự khai mở của con mắt thứ ba.

104. Thus, we see the relation of sacrifice to vision.

104. Như vậy, chúng ta thấy mối liên hệ của sự hi sinh với tầm nhìn.

and to him who has the faculty of the higher intuition awakened,

và đối với người đã có năng lực trực giác thượng đẳng được đánh thức,

105. DK seems to suggest that there are lower forms of intuition. The intuition of which He speaks is that which comes from buddhic streams of energy.

105. DK dường như gợi ý rằng có những hình thức trực giác thấp hơn. Trực giác mà Ngài nói đến là trực giác đến từ các dòng năng lượng Bồ đề.

106.  Lower forms of intuition may occur as buddhi stimulates faculties resonant to it within the three lower planes—the love petals of the egoic lotus for instance, or even the astral body.

106.  Các hình thức trực giác thấp hơn có thể xuất hiện khi buddhi kích thích những năng lực cộng hưởng với nó trong ba cõi thấp—chẳng hạn các cánh hoa bác ái của hoa sen chân ngã, hoặc ngay cả thể cảm dục.

such pictures serve as a clue or key to the higher interpretation.

những bức tranh như thế đóng vai trò như một đầu mối hay chìa khóa cho sự diễn giải cao hơn.

107. The processes we seek to understand here are relatively formless, and yet DK is forced to speak in terms of form. To move from a formulated image or picture to an apprehension of the energy pattern lying behind the picture is an act of intuition.

107. Những tiến trình mà chúng ta tìm cách thấu hiểu ở đây tương đối vô tướng, vậy mà DK buộc phải nói bằng những thuật ngữ của hình tướng. Chuyển từ một hình ảnh hay bức tranh đã được định hình sang sự nắm bắt mô hình năng lượng nằm sau bức tranh là một hành động của trực giác.

They reveal to the student certain ideas as to the nature of fire.

Chúng tiết lộ cho đạo sinh một số ý tưởng về bản chất của lửa.

108. The nature, diversity and mobility of fire…

108. Bản chất, tính đa dạng và tính động của lửa…



[1] tầng lớp trong xã hội, giai cấp trong xã hội; giai tầng

Leave a Comment

Scroll to Top