Bình Giảng Lửa Vũ Trụ – S9S5 (TCF 1120-1128)

📘 Sách: Bình Giảng Luận về Lửa Vũ Trụ – S9 – Tác giả: Michael D. Robbins

S9S5 Part I

TCF 1120-1123:

TCF 1119-1123:

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được để ở cỡ chữ 16, nhằm giúp dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp học. Cước chú và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCFđược để ở cỡ chữ 14. Phần bình giải xuất hiện ở cỡ chữ 12. Phần gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Xin đề nghị rằng phần Bình giải này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích bản văn được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình giải

In concluding what is to be said anent motion in the causal body, I would like to point out that it too—on its own plane—has the three characteristics of inertia, mobility and rhythm.

Để kết thúc những gì cần nói liên quan đến chuyển động trong thể nguyên nhân, tôi muốn chỉ ra rằng chính nó nữa—trên cõi riêng của nó—cũng có ba đặc tính là quán tính, tính động và nhịp điệu.

1. We have sometimes thought that these qualities (the three gunas) apply only to the eighteen lower subplanes. We see now that this is not the case.

1. Đôi khi chúng ta đã nghĩ rằng các phẩm tính này (ba guna) chỉ áp dụng cho mười tám cõi phụ thấp. Giờ đây chúng ta thấy rằng không phải như vậy.

Inertia characterises the stage prior to the revolution of the different tiers of petals,

Quán tính đặc trưng cho giai đoạn trước khi có sự xoay vòng của các tầng cánh hoa khác nhau,

2. Thus, the stage of inertia occurs not only before any of the major manasic initiations, but probably before the two the minor initiations described below.

2. Như vậy, giai đoạn quán tính không chỉ xảy ra trước bất kỳ lần điểm đạo manas lớn nào, mà có lẽ còn trước hai lần điểm đạo nhỏ được mô tả dưới đây.

Each circle of petals becomes, as evolution proceeds, likewise active, and revolves around the central Jewel, so that we have, not only the activity of the petals, not only the activity of the living points or the deva lives within the petal circumference, but likewise the unified activity of each tier of the threefold lotus. (TCF 1118)

Mỗi vòng cánh hoa, khi tiến hoá tiếp diễn, cũng trở nên hoạt động và xoay quanh Bảo Châu trung tâm, đến nỗi chúng ta không chỉ có hoạt động của các cánh hoa, không chỉ có hoạt động của các điểm sống hay các sự sống thiên thần bên trong chu vi cánh hoa, mà còn có hoạt động hợp nhất của mỗi tầng trong hoa sen tam phân. (TCF 1118)

At the stage which we are considering (that of the organisation and unfoldment of the first tier of petals), the egoic influence felt at the beginning is but small, but when the three petals become sufficiently active and alive through the energy accumulated and stored up in the [870] ego during the activities of the personal life, a form of initiation then takes place which is a reflection (on a lower plane) of the great manasic initiations. The energy in the outer circle of petals causes it to spring apart from the next circle, and to unfold.  This threefold energy becomes interactive and a very definite stage is thus reached. This series of initiations is seldom recognised within the physical brain consciousness owing to the relatively inchoate stage of the bodies, and the unresponsiveness of the brain matter. Yet they are nevertheless initiations of a definite though less important character, and they involve primarily the display (within the personal life of the man) of an intelligent recognition of his group relationships on earth. This recognition is frequently selfish in character, as, for instance, that which the union worker displays, but it is indicative of group interplay.

Ở giai đoạn mà chúng ta đang xét (giai đoạn tổ chức và khai mở tầng cánh hoa thứ nhất), ảnh hưởng chân ngã được cảm nhận lúc ban đầu còn rất nhỏ, nhưng khi ba cánh hoa trở nên đủ hoạt động và sống động nhờ năng lượng được tích lũy và chứa đựng trong chân ngã [870] trong các hoạt động của đời sống phàm ngã, thì một hình thức điểm đạo diễn ra, là sự phản chiếu (trên một cõi thấp hơn) của các lần điểm đạo manas lớn. Năng lượng trong vòng cánh hoa ngoài làm cho nó bung ra khỏi vòng kế tiếp, và khai mở.  Năng lượng tam phân này trở nên tương tác và như thế một giai đoạn rất xác định được đạt đến. Chuỗi điểm đạo này hiếm khi được nhận biết trong tâm thức bộ não hồng trần vì giai đoạn còn tương đối chưa định hình của các thể, và sự không đáp ứng của chất liệu não bộ. Tuy nhiên, chúng vẫn là những lần điểm đạo có tính chất xác định dù kém quan trọng hơn, và chủ yếu liên quan đến sự biểu lộ (trong đời sống phàm ngã của con người) của một sự nhận biết thông minh về các mối liên hệ nhóm của y trên Trái Đất. Sự nhận biết này thường mang tính ích kỷ, chẳng hạn như điều mà người hoạt động công đoàn biểu lộ, nhưng nó cho thấy sự tương tác nhóm.

A similar process takes place when the second circle of petals is organised and ready for unfoldment. This time the World Teacher, the Master and the Ego concerned are co-operating, for these smaller initiations deal with the love nature, with astral or emotional organisation, and with the recognition (by the man in his personal life) of some form of unselfish love, and of a love for some object, person or ideal which leads to altruistic endeavor, and to the negation of the lower self. (TCF 869-870)

Một tiến trình tương tự diễn ra khi vòng cánh hoa thứ hai được tổ chức và sẵn sàng để khai mở. Lần này Đức Chưởng Giáo, Chân sư và Chân ngã liên hệ cùng hợp tác, vì các lần điểm đạo nhỏ này đề cập đến bản chất bác ái, đến sự tổ chức cảm dục hay cảm xúc, và đến sự nhận biết (của con người trong đời sống phàm ngã của y) về một hình thức bác ái vô kỷ nào đó, và về tình thương đối với một đối tượng, một người hay một lý tưởng dẫn đến nỗ lực vị tha, và sự phủ nhận phàm ngã. (TCF 869-870)

3. We gather that the above, there are certain important questions to solve. One of them concerns whether the springing apart of the outer tier of petals occurs at the same time as the revolution of that tier. It is quite possible, even probable, that the springing apart occurs before the rotation.

3. Từ đoạn trên, chúng ta rút ra rằng có một số câu hỏi quan trọng cần giải quyết. Một trong số đó liên quan đến việc liệu sự bung ra của tầng cánh hoa ngoài có xảy ra đồng thời với sự xoay vòng của tầng ấy hay không. Hoàn toàn có thể, thậm chí có lẽ, là sự bung ra xảy ra trước sự quay.

and this revolution only begins [Page 1120] to be felt when the petals are becoming active.

sự xoay vòng này chỉ bắt đầu [Page 1120] được cảm nhận khi các cánh hoa đang trở nên hoạt động.

4. It is apparent that only when all three petals in a tier are active can the revolution of the tier occur. The word “active” is important because it indicates a phase of petal development subsequent to that of “inertia”. The term “activity” suggests the stage of “mobility” (the rajasic phase).

4. Rõ ràng là chỉ khi cả ba cánh hoa trong một tầng đều hoạt động thì sự xoay vòng của tầng ấy mới có thể xảy ra. Từ “hoạt động” là quan trọng vì nó chỉ một giai đoạn phát triển của cánh hoa tiếp sau giai đoạn “quán tính”. Thuật ngữ “hoạt động” gợi đến giai đoạn “tính động” (giai đoạn rajas).

5. While the second tier of petals is becoming organized and ready for unfoldment, the outer tier becomes fully active (i.e., rotary)—exactly when we cannot yet say. May it be when the fifth petal is unfolding or, perhaps, only when the fifth petal is fully unfolded. If the latter is the case, then the third tier of petals will begin revolving only once the first initiation has been taken (for the full unfoldment of the fifth petal indicates the first initiation), but if the outer tier is completely unfolded before the fifth petal is completely unfolded, then the rotation of the outer tier can occur before the first initiation.

5. Trong khi tầng cánh hoa thứ hai đang được tổ chức và sẵn sàng để khai mở, tầng ngoài trở nên hoàn toàn hoạt động (tức là quay tròn)—chính xác vào lúc nào thì chúng ta chưa thể nói. Có thể là khi cánh hoa thứ năm đang khai mở hoặc, có lẽ, chỉ khi cánh hoa thứ năm đã hoàn toàn khai mở. Nếu trường hợp sau là đúng, thì tầng cánh hoa thứ ba sẽ chỉ bắt đầu quay khi lần điểm đạo thứ nhất đã được tiếp nhận (vì sự khai mở trọn vẹn của cánh hoa thứ năm cho thấy lần điểm đạo thứ nhất), nhưng nếu tầng ngoài hoàn toàn khai mở trước khi cánh hoa thứ năm hoàn toàn khai mở, thì sự quay của tầng ngoài có thể xảy ra trước lần điểm đạo thứ nhất.

It might be stated that the passing of the Pilgrim through the Hall of Ignorance corresponds to the period of “egoic inertia.”

Có thể nói rằng việc Người Lữ Hành đi qua Phòng Vô Minh tương ứng với thời kỳ “quán tính chân ngã”.

6. The true “Pilgrim” is the Monad. The term can, however, be reasonably though conventionally applied to the human being in the three lower worlds. The human being is not only the representative of the soul but of the Monad as well.

6. “Người Lữ Hành” đích thực là chân thần. Tuy nhiên, thuật ngữ này có thể được áp dụng một cách hợp lý, dù theo quy ước, cho con người trong ba cõi thấp. Con người không chỉ là đại diện của linh hồn mà còn của chân thần nữa.

7. The Hall of Ignorance pertains specifically to the work done within the outer tier of petals.

7. Phòng Vô Minh liên hệ đặc biệt đến công việc được thực hiện trong tầng cánh hoa ngoài.

8. We can see that any revolution thus far discussed in DK’s text is not the revolution/rotation of the second tier of petals, because by the time the second tier begins to revolve or rotate, the sixth petal must be fully unfolded and the man must have taken the second initiation. The revolution thus far indicated occurs much before this initiation.

8. Chúng ta có thể thấy rằng bất kỳ sự xoay vòng nào được bàn đến cho đến nay trong bản văn của DK đều không phải là sự xoay vòng/sự quay của tầng cánh hoa thứ hai, vì vào lúc tầng thứ hai bắt đầu xoay vòng hay quay, cánh hoa thứ sáu phải hoàn toàn khai mở và con người phải đã tiếp nhận lần điểm đạo thứ hai. Sự xoay vòng được chỉ ra cho đến nay xảy ra sớm hơn nhiều trước lần điểm đạo này.

9. Just as the eighth petal is related to the sixth, so the fifth is related to the third. Just as the partial unfoldment of the eighth petal indicates the full unfoldment of the sixth, so the partial unfoldment of the fifth petal could indicate the full unfoldment of the third. This analogy might incline one to believe that revolution/rotation of the outer or knowledge tier could occur only at the first of the manasic initiations (when the fifth petal is completely unfolded), but that the unfoldment of the first tier (prior to it rotation) could be correlated to the first of the minor initiations—yet there is no certainty in this possibility. In fact, the revolution/rotation of the first circle could occur before the first manasic initiation.

9. Cũng như cánh hoa thứ tám liên hệ với cánh thứ sáu, cánh thứ năm cũng liên hệ với cánh thứ ba. Cũng như sự khai mở từng phần của cánh hoa thứ tám cho thấy sự khai mở trọn vẹn của cánh thứ sáu, thì sự khai mở từng phần của cánh hoa thứ năm có thể cho thấy sự khai mở trọn vẹn của cánh thứ ba. Phép loại suy này có thể khiến người ta tin rằng sự xoay vòng/sự quay của tầng ngoài hay tầng tri thức chỉ có thể xảy ra lần điểm đạo manas thứ nhất (khi cánh hoa thứ năm hoàn toàn khai mở), nhưng sự khai mở của tầng thứ nhất (trước khi nó quay) có thể được tương quan với lần điểm đạo nhỏ thứ nhất—tuy nhiên không có gì chắc chắn trong khả năng này. Thực ra, sự xoay vòng/sự quay của vòng thứ nhất có thể xảy ra trước lần điểm đạo manas thứ nhất.

10. We are proceeding by inference here until direct sight can confirm the proper sequence of developments.

10. Ở đây chúng ta đang tiến hành bằng suy luận cho đến khi linh thị trực tiếp có thể xác nhận trình tự phát triển đúng đắn.

During this period, the permanent atoms are the most noticeable points of light in the lotus;

Trong giai đoạn này, các nguyên tử trường tồn là những điểm sáng dễ nhận thấy nhất trong hoa sen;

11. DK is speaking of the period of inertia within the development of the causal body. We must remember that deva lives are also “points” of life and light to be found within the petals of the egoic lotus.

11. DK đang nói về thời kỳ quán tính trong sự phát triển của thể nguyên nhân. Chúng ta phải nhớ rằng các sự sống thiên thần cũng là những “điểm” của sự sống và ánh sáng được tìm thấy trong các cánh hoa của hoa sen chân ngã.

12. DK may be telling us that during the period of inertia the permanent atoms are of greater brilliance of the petals themselves. This would correspond to the thought that during this period, the personality vehicles in themselves are much more prominent in expression than the soul through those personality vehicles.

12. DK có thể đang nói với chúng ta rằng trong thời kỳ quán tính, các nguyên tử trường tồn rực sáng hơn chính các cánh hoa. Điều này sẽ tương ứng với ý tưởng rằng trong thời kỳ này, các vận cụ phàm ngã tự chúng nổi bật hơn nhiều trong biểu hiện so với linh hồn qua các vận cụ phàm ngã ấy.

they constitute the “energy feeders” of the petal.

chúng cấu thành “những bộ tiếp năng lượng” của cánh hoa.

13. This is an important statement. The petals store quality. All that which is to be abstracted from the members of the atomic triangle and transmutatively worked into quality by the Solar Angel is first accumulated in the permanent atoms and mental unit of the atomic triangle.

13. Đây là một phát biểu quan trọng. Các cánh hoa lưu trữ phẩm tính. Tất cả những gì sẽ được trừu xuất từ các thành viên của tam giác nguyên tử và được Thái dương Thiên Thần chuyển hoá thành phẩm tính, trước hết đều được tích lũy trong các nguyên tử trường tồn và đơn vị hạ trí của tam giác nguyên tử.

14. It would seem logical to conclude that the physical permanent atom feeds the knowledge petals; the astral permanent atom feeds the love petals; and the mental unit feeds the sacrifice tier of petals.

14. Dường như hợp lý khi kết luận rằng nguyên tử trường tồn hồng trần nuôi dưỡng các cánh hoa tri thức; nguyên tử trường tồn cảm dục nuôi dưỡng các cánh hoa bác ái; và đơn vị hạ trí nuôi dưỡng tầng cánh hoa hi sinh.

Later, as the Pilgrim on the physical plane

Về sau, khi Người Lữ Hành trên cõi hồng trần

15. There is the Pilgrim on the spiritual planes (i.e., the Jiva leaving the “Father’s Home”, and the Pilgrim on the physical plane—i.e., the personalized Jiva.

15. Có Người Lữ Hành trên các cõi tinh thần (tức Jiva rời “Nhà của Cha”), và Người Lữ Hành trên cõi hồng trần—tức Jiva đã được cá thể hóa.

becomes more active and the egoic lotus is consequently unfolding with greater rapidity, the stage of mobility supervenes, and the circles commence their revolution.

trở nên hoạt động hơn và Hoa Sen Chân Ngã vì thế khai mở nhanh hơn, giai đoạn của tính động xuất hiện, và các vòng bắt đầu sự quay vòng của chúng.

16. Note the word “commence”. It is not logical to conclude that the revolution of the second tier of petals occurs during the period of “mobility” though one can conclude this in relation to the outer tier of petals.

16. Hãy lưu ý từ “bắt đầu”. Không hợp lý khi kết luận rằng sự quay vòng của tầng cánh hoa thứ hai xảy ra trong thời kỳ “tính động”, mặc dù người ta có thể kết luận như vậy đối với tầng cánh hoa bên ngoài.

17. If the period of inertia occurs before the rotation of the petals, may we say that the period of mobility (rajas) signals the possibility of revolution/rotation, but not the revolution/rotation of all three tiers?

17. Nếu thời kỳ quán tính xảy ra trước sự quay vòng của các cánh hoa, liệu chúng ta có thể nói rằng thời kỳ của tính động (rajas) báo hiệu khả năng quay vòng/xoay chuyển, nhưng không phải sự quay vòng/xoay chuyển của cả ba tầng hay không?

18. We must realize that the different circles do not commence their revolution all at the same time. It seems necessary that the rotation of the second and third tiers can only occur during the period of “sattva” and not during the period of “mobility”.

18. Chúng ta phải chứng nghiệm rằng các vòng khác nhau không bắt đầu quay vòng cùng một lúc. Có vẻ cần thiết rằng sự xoay chuyển của tầng thứ hai và thứ ba chỉ có thể xảy ra trong thời kỳ “sattva” chứ không phải trong thời kỳ “tính động”.

19. The period in which the two minor initiations are taken is the period of mobility.

19. Thời kỳ trong đó hai lần điểm đạo nhỏ được tiếp nhận là thời kỳ của tính động.

20. There are at least five stages of development which we must keep in mind relative to any tier of petals (though other thinkers might enumerate these stages differently):

20. ít nhất năm giai đoạn phát triển mà chúng ta phải ghi nhớ liên quan đến bất kỳ tầng cánh hoa nào (mặc dù những nhà tư tưởng khác có thể liệt kê các giai đoạn này theo cách khác):

a. Stimulation and organization

a. Kích thích và tổ chức

b. Gradual through probably incomplete unfoldment of individual petals

b. Sự khai mở dần dần nhưng có lẽ chưa hoàn toàn của từng cánh hoa riêng lẻ

c. Springing apart and full unfoldment of the tier and thus of all petals within the tier

c. Sự bung tách ra và khai mở trọn vẹn của tầng, và do đó của mọi cánh hoa trong tầng

d. Interactivity of the petals preparatory to revolution/rotation

d. Sự tương tác của các cánh hoa để chuẩn bị cho sự quay vòng/xoay chuyển

e. Revolution/rotation

e. Sự quay vòng/xoay chuyển

21. Again, these stages are listed on the basis of inference. Direct vision could modify this tabulation of stages.

21. Một lần nữa, các giai đoạn này được liệt kê trên cơ sở suy luận. Linh thị trực tiếp có thể điều chỉnh sự phân loại các giai đoạn này.

The energy in the outer circle of petals causes it to spring apart from the next circle, and to unfold.  This threefold energy becomes interactive and a very definite stage is thus reached (TCF 869)

Năng lượng trong vòng cánh hoa bên ngoài khiến nó bung tách khỏi vòng kế tiếp và khai mở.  Năng lượng tam phân này trở nên tương tác, và do đó một giai đoạn rất xác định được đạt đến (TCF 869)

22. It is likely that the first initiation begins what is called the period of “sattva”. By that time the first circle is surely revolving. From what is said immediately above, it seems likely that the revolution of the first circle begins before the first manasic initiation.

22. Có khả năng là lần điểm đạo thứ nhất khởi đầu điều được gọi là thời kỳ “sattva”. Vào lúc đó vòng thứ nhất chắc chắn đang quay vòng. Từ điều vừa được nói ngay trên, có vẻ có khả năng rằng sự quay vòng của vòng thứ nhất bắt đầu trước lần điểm đạo manas đầu tiên.

23. Thus, it is possible to reason both ways—that the rotation of the first tier may occur before the first manasic initiation or only as that initiation is occurring or only when the first manasic initiation is occurring. If I were to hazard[1] an educated guess, I would say that since the sattvic period is the period of true initiation and since rotation of the outer tier begins when the period of mobility is underway, it is probable that the rotation of the first tier occurs before the first manasic initiation.

23. Do đó, có thể lý luận theo cả hai hướng—rằng sự xoay chuyển của tầng thứ nhất có thể xảy ra trước lần điểm đạo manas đầu tiên, hoặc chỉ khi lần điểm đạo ấy đang diễn ra, hoặc chỉ khi lần điểm đạo manas đầu tiên đang diễn ra. Nếu tôi phải đưa ra một phỏng đoán có cơ sở, tôi sẽ nói rằng vì thời kỳ sattva là thời kỳ của điểm đạo thực sự, và vì sự xoay chuyển của tầng ngoài bắt đầu khi thời kỳ của tính động đang tiến hành, nên có lẽ sự xoay chuyển của tầng thứ nhất xảy ra trước lần điểm đạo manas đầu tiên.

24. It would however be mentally satisfying to conceive that the revolution of the first tier occurred at the first initiation; the revolution of the second at the second initiation; and the revolution of the third tier at the third initiation. This scenario is probable with respect to the second and third tiers, but perhaps the non-correlation of the revolution of the first tier with the first initiation is the exception.

24. Tuy nhiên, sẽ thỏa mãn về mặt trí tuệ nếu hình dung rằng sự quay vòng của tầng thứ nhất xảy ra vào lần điểm đạo thứ nhất; sự quay vòng của tầng thứ hai vào lần điểm đạo thứ hai; và sự quay vòng của tầng thứ ba vào lần điểm đạo thứ ba. Kịch bản này có khả năng đúng đối với tầng thứ hai và thứ ba, nhưng có lẽ sự không tương ứng giữa sự quay vòng của tầng thứ nhất với lần điểm đạo thứ nhất là ngoại lệ.

25. No reasoning can take the place of direct sight.

25. Không một sự lý luận nào có thể thay thế trực kiến.

Finally, when the man treads the Path and his purpose is intensified, the central bud unfolds,

Sau cùng, khi con người bước trên Con Đường và mục đích của y được tăng cường, nụ trung tâm khai mở,

26. This begins to occur at the first initiation as the synthesis petals begin slowly to unfold. The partial unfoldment of each of the three synthesis petals is correlated with each of the first three initiations.

26. Điều này bắt đầu xảy ra vào lần điểm đạo thứ nhất khi các cánh hoa tổng hợp bắt đầu chậm rãi khai mở. Sự khai mở từng phần của mỗi một trong ba cánh hoa tổng hợp tương ứng với mỗi một trong ba lần điểm đạo đầu tiên.

the revolution is unified,

sự quay vòng được hợp nhất,

27. Eventually the three tiers all turn together, and, we may presume, in the same direction.

27. Cuối cùng cả ba tầng đều cùng quay, và chúng ta có thể giả định là theo cùng một hướng.

and through the raying forth of the fires of the Jewel, a specific rhythm is imposed upon the lotus, and its energies are stabilised.

qua sự phát xạ của các ngọn lửa từ Bảo Châu, một nhịp điệu đặc thù được áp đặt lên hoa sen, và các năng lượng của nó được ổn định.

28. We are speaking of the establishment of a “specific rhythm” in the egoic lotus due to the action of the “Jewel”. This action is dependent, we will learn, on the type of Monad involved and the “divine Prototype” or Planetary Logos of the Monad.

28. Chúng ta đang nói về việc thiết lập một “nhịp điệu đặc thù” trong Hoa Sen Chân Ngã do tác động của “Bảo Châu”. Như chúng ta sẽ biết, tác động này tùy thuộc vào loại chân thần liên hệ và “Nguyên Mẫu” thiêng liêng hay Hành Tinh Thượng đế của chân thần đó.

29. There are eight fires or rays raying forth from the “Jewel”. The imposition of the “specific rhythm” is definitely part of the sattvic period within the egoic lotus process.

29. Có tám ngọn lửa hay cung phát xạ từ “Bảo Châu”. Việc áp đặt “nhịp điệu đặc thù” rõ ràng là một phần của thời kỳ sattva trong tiến trình của Hoa Sen Chân Ngã.

30. It is interesting to consider that before the raying forth of the fires of the “Jewel”, the energies of the “Jewel” are not considered to be “stabilised”.

30. Thật thú vị khi suy xét rằng trước sự phát xạ của các ngọn lửa từ “Bảo Châu”, các năng lượng của “Bảo Châu” không được xem là “ổn định”.

31. There are eight rays in this “raying forth”. We must related the number eight to the process of stabilization.

31. tám cung trong sự “phát xạ” này. Chúng ta phải liên hệ số tám với tiến trình ổn định.

The Jewel itself remains occultly static, and does not circulate. It is a point of peace; it pulsates rhythmically as does the heart of man, and from it ray forth eight streams of living fire which extend to the tips of the four love petals and the four sacrifice petals. This eight-fold [Page 1119] energy is atma-buddhi. It is this final raying forth which produces the eventual disintegration of the body of the Ego. (TCF 1118-1119)

Bản thân Bảo Châu vẫn bất động một cách huyền bí, và không tuần hoàn. Nó là một điểm bình an; nó đập theo nhịp điệu như trái tim con người, và từ đó phát ra tám dòng lửa sống động vươn đến chóp của bốn cánh hoa bác ái và bốn cánh hoa hi sinh. Năng lượng bát phân [Page 1119] này là atma-buddhi. Chính sự phát xạ cuối cùng này tạo ra sự tan rã sau cùng của thể của Chân ngã. (TCF 1118-1119)

This rhythm is diverse according to the type of Monad concerned, or the nature of the planetary Logos of a man’s ray, his divine Prototype.

Nhịp điệu này khác nhau tùy theo loại chân thần liên hệ, hoặc bản chất của Hành Tinh Thượng đế thuộc cung của một người, Nguyên Mẫu thiêng liêng của y.

32. Two things account for the nature of the rhythm imposed upon the egoic lotus during the raying forth from the “Jewel”:

32. Có hai điều giải thích bản chất của nhịp điệu được áp đặt lên Hoa Sen Chân Ngã trong khi phát xạ từ “Bảo Châu”:

a. The nature of the Monad

a. Bản chất của chân thần

b. The nature of the Planetary Logos to which the Monad ‘belongs’

b. Bản chất của Hành Tinh Thượng đế mà chân thần ‘thuộc về’

33. Note that the word “divine” is used, indicating that the Monad is involved. We might wonder whether we are to relate the soul to the man’s “divine Prototype” or the Monad. The term “divine” suggests that “a man’s ray” is really his monadic ray.

33. Hãy lưu ý rằng từ “thiêng liêng” được dùng, cho thấy chân thần có liên hệ. Chúng ta có thể tự hỏi liệu phải liên hệ linh hồn với “Nguyên Mẫu” thiêng liêng của con người hay với chân thần. Từ “thiêng liêng” gợi ý rằng “cung của một người” thực ra là cung chân thần của y.

34. We will learn that there are seven types of rhythm which can be induced by the radiation of the “Jewel”.

34. Chúng ta sẽ biết rằng có bảy loại nhịp điệu có thể được cảm ứng bởi sự bức xạ của “Bảo Châu”.

By the use of certain terms, information is conveyed to the Workers of the planet,

Bằng việc sử dụng một số thuật ngữ nhất định, thông tin được truyền đạt đến các Người Hoạt Động của hành tinh,

35. The fact that the word “Workers” is capitalized, suggests that they are members of the Spiritual Hierarchy.

35. Việc từ “Người Hoạt Động” được viết hoa gợi ý rằng họ là các thành viên của Huyền Giai Tinh Thần.

the Brotherhood of Light, as to the nature of Ego concerned, the quality of his Ray, the number of his vibration, and the point of evolution attained.

Huynh đệ Đoàn Chánh đạo, về bản chất của Chân ngã liên hệ, phẩm tính của cung của y, con số rung động của y, và điểm tiến hoá đã đạt được.

36. Four factors illuminated by certain terms (often secret terms) are listed:

36. Bốn yếu tố được soi sáng bởi một số thuật ngữ nhất định (thường là các thuật ngữ bí mật) được liệt kê:

a. The nature of the Ego

a. Bản chất của Chân ngã

b. The quality of the Ego’s Ray. We cannot be certain that DK is speaking only the egoic ray. Information re the monadic ray may also be conveyed.

b. Phẩm tính của cung của Chân ngã. Chúng ta không thể chắc rằng Chân sư DK chỉ nói về cung chân ngã. Thông tin liên quan đến cung chân thần cũng có thể được truyền đạt.

c. The number of the Ego’s vibration

c. Con số rung động của Chân ngã

d. The point of evolution attained by the Ego

d. Điểm tiến hoá mà Chân ngã đã đạt được

It will be apparent therefore, why it is not permitted here to make public the names of the seven rhythmic groups.

Do đó sẽ hiển nhiên vì sao ở đây không được phép công bố công khai tên của bảy nhóm nhịp điệu.

37. One might wonder whether the names of some of these “seven rhythmic groups” might not be somewhat intuited from the terms presented in pages 1081 and 1082 when various monadic groupings are discussed.

37. Người ta có thể tự hỏi liệu tên của một số “bảy nhóm nhịp điệu” này có thể phần nào được trực giác nhận ra từ các thuật ngữ được trình bày ở trang 1081 và 1082 khi các nhóm chân thần khác nhau được bàn đến hay không.

38. We remember that the nature of the seven rhythmic groups depends upon the quality of the monadic ray and the nature of the “divine Prototype” or Planetary Logos to which the Monad ‘belongs’.

38. Chúng ta nhớ rằng bản chất của bảy nhóm nhịp điệu tùy thuộc vào phẩm tính của cung chân thần và bản chất của “Nguyên Mẫu” thiêng liêng hay Hành Tinh Thượng đế mà chân thần ‘thuộc về’.

39. This implies that there are seven different types of Monads. In fact there can be seven different types of monadic subrays (and, thus, seven monadic differentiations), but, essentially, only three types of Monads, at least with regard to the major monadic ray. These implications are clear if one examines the first and second subplanes of the cosmic physical plane on Chart V of TCF 344). The seven/three division is clear.

39. Điều này hàm ý rằng có bảy loại chân thần khác nhau. Thực ra có thể có bảy loại cung phụ chân thần khác nhau (và do đó, bảy sự biến phân chân thần), nhưng về căn bản chỉ có ba loại chân thần, ít nhất là xét theo cung chân thần chính. Những hàm ý này rõ ràng nếu người ta khảo sát cõi phụ thứ nhất và thứ hai của cõi hồng trần vũ trụ trên Biểu đồ V của TCF 344). Sự phân chia bảy/ba là rõ ràng.

40. Since rhythmic induction is essentially a monadic matter, the “ quality of the Ego’s ray” does seem to depend upon the Monad. Sometimes the term “Ego” even means “Monad”. (Study EP II 211) We cannot be sure that this is not the case with respect to the reference under consideration.

40. Vì sự cảm ứng nhịp điệu về căn bản là một vấn đề chân thần, nên “ phẩm tính của cung của Chân ngã” quả thật dường như tùy thuộc vào chân thần. Đôi khi thuật ngữ “Chân ngã” thậm chí còn có nghĩa là “chân thần”. (Xem EP II 211) Chúng ta không thể chắc rằng đây không phải là trường hợp đối với chỗ dẫn đang được xét.

One of the effects produced in the lower man via the centres, through the unified activity of the causal body, is the co-ordination of the lower energies of the human being.

Một trong những hiệu quả được tạo ra nơi phàm nhân qua các trung tâm, thông qua hoạt động hợp nhất của thể nguyên nhân, là sự phối hợp các năng lượng thấp của con người.

41. This is a vitally important statement. We may wonder how the lower man comes, at last, to be an integrated personality. We see that the unified activity of the causal body is required for such coordination and gradual integration.

41. Đây là một phát biểu cực kỳ quan trọng. Chúng ta có thể tự hỏi làm thế nào phàm nhân cuối cùng lại trở thành một Phàm ngã tích hợp. Chúng ta thấy rằng hoạt động hợp nhất của thể nguyên nhân là cần thiết cho sự phối hợp và tích hợp dần dần ấy.

42. A truly integrated personality is an initiate of the third degree. By the time the third degree is taken, all three tiers of petals are revolving! The inner revolution is the cause of the outer integration. Of course, there is necessarily a feedback loop between the causal body and the personality mechanism.

42. Một phàm ngã thực sự tích hợp là một điểm đạo đồ của cấp độ thứ ba. Vào lúc cấp độ thứ ba được tiếp nhận, cả ba tầng cánh hoa đều đang quay vòng! Sự quay vòng bên trong là nguyên nhân của sự tích hợp bên ngoài. Dĩ nhiên, tất yếu có một vòng phản hồi giữa thể nguyên nhân và bộ máy phàm ngã.

These lower energies, as we know, demonstrate through the medium of:

Như chúng ta biết, các năng lượng thấp này biểu lộ qua trung gian của:

a. The three groups of centres in the three bodies.

a. Ba nhóm trung tâm trong ba thể.

b. The etheric body itself.

b. Chính thể dĩ thái.

c. Certain centres in the physical body such as the pineal gland, the pituitary body and the spleen.

c. Một số trung tâm trong thể xác như tuyến tùng, tuyến yên và lá lách.

43. The above details the groups of energies which are to be coordinated and then integrated.

43. Phần trên trình bày chi tiết các nhóm năng lượng cần được phối hợp rồi tích hợp.

We are not here referring to the work of those centres as it is self-initiated because inherent in their very nature, [Page 1121] but to the effects to be seen in them as the three tiers of petals function with increasing coherence, and the force latent in the Jewel makes its presence felt.

Ở đây chúng ta không đề cập đến công việc của các trung tâm ấy khi nó do chính chúng khởi xướng vì vốn có trong bản chất của chúng, [Page 1121] mà là đến những hiệu quả được thấy nơi chúng khi ba tầng cánh hoa vận hành với sự cố kết ngày càng tăng, và mãnh lực tiềm tàng trong Bảo Châu làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận.

44. This is an important distinction. The centers can be influenced by the man-as-personality. Such results are, as it were, “worked up from below”. For a long while the centers in the various personality vehicles function (so it appears) in a characteristic manner without direct influence from the different parts of the causal body.

44. Đây là một sự phân biệt quan trọng. Các trung tâm có thể bị ảnh hưởng bởi con người-với-tư-cách-phàm ngã. Những kết quả như thế, có thể nói, được “làm ra từ bên dưới”. Trong một thời gian dài, các trung tâm trong những vận cụ phàm ngã khác nhau vận hành (dường như là vậy) theo một cách đặc trưng mà không có ảnh hưởng trực tiếp từ các phần khác nhau của thể nguyên nhân.

45. We are speaking of an additional type of work performed by the centers as they begin to be influenced by the tiers of petals (considered, themselves, as energy sources and centers) and by the “Jewel in the Lotus”.

45. Chúng ta đang nói đến một loại công việc bổ sung do các trung tâm thực hiện khi chúng bắt đầu bị ảnh hưởng bởi các tầng cánh hoa (bản thân chúng cũng được xem như các nguồn năng lượng và các trung tâm) và bởi “Bảo Châu trong Hoa Sen”.

46. We must learn to consider the petals and tiers of the causal body as if they were influential sources, influential force centers.

46. Chúng ta phải học cách xem các cánh hoa và các tầng của thể nguyên nhân như thể chúng là những nguồn ảnh hưởng, những trung tâm mãnh lực có ảnh hưởng.

47. The petals and tiers, therefore, are not just ‘passive accumulators’ of quality ‘worked up’ from below. Because these petals and tiers are also influenced by the spiritual triad and by the Monad, they become centers of force in their own right, though their influence grows during the process which sees quality built into the causal body as a result of the labors of the personality.

47. Do đó, các cánh hoa và các tầng không chỉ là những ‘bộ tích lũy thụ động’ của phẩm tính được ‘làm ra’ từ bên dưới. Bởi vì các cánh hoa và các tầng này cũng bị ảnh hưởng bởi Tam Nguyên Tinh Thần và bởi chân thần, chúng trở thành những trung tâm mãnh lực theo quyền năng riêng của chúng, mặc dù ảnh hưởng của chúng tăng lên trong tiến trình chứng kiến phẩm tính được xây dựng vào thể nguyên nhân như là kết quả của những lao động của phàm ngã.

It might specifically be said that these effects show themselves in a threefold manner:

Có thể nói một cách cụ thể rằng những hiệu quả này biểu lộ theo cách tam phân:

48. We are speaking of the effects induced in the centers by developmental dynamics occurring within the causal body.

48. Chúng ta đang nói về những hiệu quả được cảm ứng trong các trung tâm bởi các động lực phát triển xảy ra trong thể nguyên nhân.

First, they cause the group of “wheels” or centres on each plane (or in each of the subtler vehicles)

Thứ nhất, chúng khiến nhóm các “bánh xe” hay trung tâm trên mỗi cõi (hay trong mỗi vận cụ vi tế hơn)

49. A major seven in the etheric body; a major seven in the astral body; and a major four in the lower mental body…

49. Một bộ bảy chính trong thể dĩ thái; một bộ bảy chính trong thể cảm dục; và một bộ bốn chính trong thể hạ trí…

to become fourth dimensional, and to function as “wheels which turn upon themselves.”

trở nên bốn chiều, và vận hành như “những bánh xe tự quay trên chính mình.”

50. This fourth dimensional rotation appears to be induced in a different vehicle at each initiation: in the etheric body at the first initiation; in the astral body at the second initiation; and in the mental body at the third initiation.

50. Sự quay vòng bốn chiều này dường như được cảm ứng trong một vận cụ khác nhau ở mỗi lần điểm đạo: trong thể dĩ thái ở lần điểm đạo thứ nhất; trong thể cảm dục ở lần điểm đạo thứ hai; và trong thể trí ở lần điểm đạo thứ ba.

Before initiation, all the centres will be rotating in fourth-dimensional order,but after initiation they become flaming wheels, and—seen clairvoyantly—are of rare beauty, The fire of Kundalini is then awakened and is progressing in the necessary spirals. At the second initiation the emotional centres are similarly awakened, and at the third initiation those on the mental plane are touched. The initiate can then stand in the Presence of the Great King, the One Initiator. (LOM 75)

Trước điểm đạo, tất cả các trung tâm sẽ quay theo trật tự bốn chiều,nhưng sau điểm đạo chúng trở thành những bánh xe rực lửa, và—được thấy bằng thông nhãn—có vẻ đẹp hiếm có, Lửa Kundalini khi ấy được đánh thức và đang tiến triển theo những xoắn ốc cần thiết. Vào lần điểm đạo thứ hai, các trung tâm cảm xúc cũng được đánh thức tương tự, và vào lần điểm đạo thứ ba, những trung tâm trên cõi trí được chạm đến. Khi đó điểm đạo đồ có thể đứng trong Hiện Diện của Đại Vương, Đấng Điểm đạo Duy Nhất. (LOM 75)

51. We have studied the appearance of fourth dimensional rotation of the chakras earlier in the book (as above). Now we see that the dynamics of the causal body (themselves induced by monadic dynamics) are largely responsible for such causal-body dynamics.

51. Chúng ta đã nghiên cứu trước đó trong sách về sự xuất hiện của sự quay vòng bốn chiều của các luân xa (như trên). Giờ đây chúng ta thấy rằng các động lực của thể nguyên nhân (bản thân chúng được cảm ứng bởi các động lực chân thần) phần lớn chịu trách nhiệm cho những động lực của thể nguyên nhân như thế.

Secondly, they produce the orderly distribution of force by the forming of various triangles of energy within the bodies.

Thứ hai, chúng tạo ra sự phân phối có trật tự của mãnh lực bằng cách hình thành các tam giác năng lượng khác nhau trong các thể.

52. The chakras can be grouped together in various triangular formations and these triangles must be stimulated and brought into full functioning activity.

52. Các luân xa có thể được nhóm lại với nhau trong nhiều cấu hình tam giác khác nhau, và các tam giác này phải được kích thích và đưa vào hoạt động vận hành trọn vẹn.

53. In all this we are learning how important it is to build the causal body into an effective instrument of influence.

53. Trong tất cả điều này, chúng ta đang học được rằng việc xây dựng thể nguyên nhân thành một công cụ ảnh hưởng hữu hiệu quan trọng đến mức nào.

This has been earlier dealt with, and it is only necessary here to point out that it is the energy, accumulating in the causal body and from thence making its presence felt, which produces among the centres the esoteric circulation of force which eventually links each centre up in a peculiar geometrical fashion, thus bringing every part of the nature of the lower man into subjection.

Điều này đã được bàn đến trước đây, và ở đây chỉ cần chỉ ra rằng chính năng lượng, tích lũy trong thể nguyên nhân và từ đó làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận, tạo ra giữa các trung tâm sự tuần hoàn mãnh lực huyền bí mà cuối cùng liên kết mỗi trung tâm lại với nhau theo một cách hình học đặc thù, nhờ đó đưa mọi phần của bản chất phàm nhân vào sự phục tùng.

54. These are extraordinary statements. Let us track the process:

54. Đây là những phát biểu phi thường. Hãy theo dõi tiến trình:

a. Energy accumulates in the causal body through the processes of personal effort and experience during repeated incarnations

a. Năng lượng tích lũy trong thể nguyên nhân qua các tiến trình nỗ lực cá nhân và kinh nghiệm trong những lần lâm phàm lặp đi lặp lại

b. This accumulated energy makes its presence felt within the personality through its vehicles and the chakras within those vehicles.

b. Năng lượng tích lũy này làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận trong phàm ngã qua các vận cụ của nó và các luân xa trong những vận cụ ấy.

c. This energy produces between the chakras of the various personality vehicles an “esoteric circulation of force”

c. Năng lượng này tạo ra giữa các luân xa của những vận cụ phàm ngã khác nhau một “tuần hoàn mãnh lực huyền bí”

d. This esoteric circulation of force eventually links the various centers in a particular geometrical fashion—again depending upon the ray of the Monad and the “divine Prototype” to which the Monad is related.

d. Tuần hoàn mãnh lực huyền bí này cuối cùng liên kết các trung tâm khác nhau theo một cách hình học đặc biệt—một lần nữa tùy thuộc vào cung của chân thần và “Nguyên Mẫu” thiêng liêng mà chân thần có liên hệ.

e. The chakras control all subsidiary parts of each vehicle including many minor and minute centers and also the endocrine glands of the dense physical body. Once the geometrical patterning is created, all aspects of the personality vehicle are brought under subjugation.

e. Các luân xa kiểm soát mọi phần phụ thuộc của mỗi vận cụ, kể cả nhiều trung tâm nhỏ và cực nhỏ, và cả các tuyến nội tiết của thể xác đậm đặc. Một khi mô hình hình học được tạo ra, mọi phương diện của vận cụ phàm ngã đều bị đặt dưới sự chế ngự.

55. Although many details are discussed, we do see that the nature of the Monad lies behind all the dynamics here described.

55. Mặc dù nhiều chi tiết được bàn đến, chúng ta vẫn thấy rằng bản chất của chân thần nằm phía sau mọi động lực được mô tả ở đây.

56. We must realize that all that is accumulated and stored in the causal body becomes energetically influential with regard to future development of the personality.

56. Chúng ta phải chứng nghiệm rằng mọi điều được tích lũy và cất giữ trong thể nguyên nhân đều trở nên có ảnh hưởng về mặt năng lượng đối với sự phát triển tương lai của phàm ngã.

Thirdly, they bring about the stimulation of certain of the glands of the body which are deemed at present purely physical, and thus enable the solar Angel to grip and hold to His purpose the dense physical body.

Thứ ba, chúng mang lại sự kích thích một số tuyến của thể mà hiện nay được xem là thuần túy hồng trần, và nhờ đó giúp Thái dương Thiên Thần nắm giữ và duy trì thể xác đậm đặc theo mục đích của Ngài.

57. This was suggested in our discussion but here is explicitly stated.

57. Điều này đã được gợi ý trong phần thảo luận của chúng ta nhưng ở đây được phát biểu minh nhiên.

58. Glandular stimulation (of a spiritual kind), therefore, is the result of developmental dynamics occurring within the causal body. We must always remember the degree to which the spiritual triad and the Monad influence the causal body. Chart VIII, p. 817, in A Treatise on Cosmic Fire illustrates this.

58. Do đó, sự kích thích tuyến thể (thuộc loại tinh thần) là kết quả của các động lực phát triển xảy ra trong thể nguyên nhân. Chúng ta phải luôn nhớ mức độ mà Tam Nguyên Tinh Thần và chân thần ảnh hưởng đến thể nguyên nhân. Biểu đồ VIII, tr. 817, trong Luận về Lửa Vũ Trụ minh họa điều này.

59. Notice that the Solar Angel manages to achieve a very physical grip upon its instrument. All aspects of the lower man have to come under its control.

59. Hãy lưu ý rằng Thái dương Thiên Thần xoay xở để đạt được một sự nắm giữ hồng trần rất mạnh đối với công cụ của nó. Mọi phương diện của phàm nhân đều phải nằm dưới sự kiểm soát của nó.

It may be helpful if the student bears in mind the fact that every centre may be considered as an evidence of solar energy or fire, manifesting as a medium of lower energy or fire by friction.

Sẽ hữu ích nếu đạo sinh ghi nhớ sự kiện rằng mọi trung tâm đều có thể được xem như một bằng chứng của năng lượng thái dương hay lửa, biểu lộ như một môi giới của năng lượng thấp hơn hay lửa ma sát.

60. What actually is the origin of the chakras? Here we are told that the solar fire of the causal body is an important source of their manifestation. Yet the following quotation demonstrates that the real source of the chakras is the Monad:

60. Thực sự nguồn gốc của các luân xa là gì? Ở đây chúng ta được cho biết rằng lửa thái dương của thể nguyên nhân là một nguồn quan trọng cho sự biểu lộ của chúng. Tuy nhiên, đoạn trích sau cho thấy rằng nguồn thực sự của các luân xa là chân thần:

The centres are formed entirely of streams of force, pouring down from the Ego, who transmits it from the Monad. In this we have the secret of the gradual vibratory quickening of the centres as the Ego first comes into control, or activity, and later (after initiation) the Monad, thus bringing about changes and increased vitality within these spheres of fire or of pure life force. (TCF 166)

Các trung tâm được hình thành hoàn toàn từ những dòng mãnh lực, tuôn xuống từ Chân ngã, Đấng truyền nó từ chân thần. Trong điều này chúng ta có bí mật của sự tăng tốc rung động dần dần của các trung tâm khi Chân ngã trước tiên đi vào sự kiểm soát, hay hoạt động, và về sau (sau điểm đạo) là chân thần, nhờ đó mang lại những thay đổi và sinh lực gia tăng trong các khối cầu lửa hay mãnh lực sự sống thuần túy này. (TCF 166)

Where these centres exist the solar Angel is enabled gradually to impose his rhythm and vibration upon that which vibrates to what is regarded as a lower rhythm.

Ở nơi nào các trung tâm này hiện hữu Thái dương Thiên Thần dần dần có thể áp đặt nhịp điệu và rung động của y lên cái đang rung động theo điều được xem là một nhịp điệu thấp hơn.

61. The lower rhythm arises from energy patterns related to the third aspect of divinity and from an earlier chain and solar system.

61. Nhịp điệu thấp hơn phát sinh từ các mô hình năng lượng liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính và từ một dãy cùng một hệ mặt trời trước đó.

62. We must realize that chakras in the lower vehicles appeared long before the Solar Angel engaged with the type of animal which was to become man. The vehicle of man was animal-like before “animal-man” came into being and, thus long before the Solar Angel appeared on the scene.

62. Chúng ta phải chứng nghiệm rằng các luân xa trong những vận cụ thấp đã xuất hiện rất lâu trước khi Thái dương Thiên Thần gắn kết với loại động vật sẽ trở thành con người. Vận cụ của con người đã mang tính động vật trước khi “người thú” xuất hiện và do đó rất lâu trước khi Thái dương Thiên Thần bước vào bối cảnh.

63. We have two rhythms being imposed:

63. Chúng ta có hai nhịp điệu được áp đặt:

a. One is imposed by the Monad (and its Prototype) and produces one of seven unnamed, mysterious rhythms within the causal body.

a. Một nhịp điệu được áp đặt bởi chân thần (và Nguyên Mẫu của nó) và tạo ra một trong bảy nhịp điệu vô danh, huyền nhiệm trong thể nguyên nhân.

b. The other type of rhythm is imposed by the Solar Angel upon the vehicles of the personality. This rhythm is probably closely related to the rhythm imposed by the Monad and by the Planetary Logos to which the Monad is ultimately most closely related.

b. Loại nhịp điệu kia được Thái dương Thiên Thần áp đặt lên các vận cụ của phàm ngã. Nhịp điệu này có lẽ liên hệ chặt chẽ với nhịp điệu do chân thần và Hành Tinh Thượng đế mà chân thần rốt cuộc có liên hệ mật thiết nhất áp đặt.

64. We see that there is a direct influence from the Monad even as it impacts developmental dynamics within the lowest of the personality vehicles.

64. Chúng ta thấy rằng có một ảnh hưởng trực tiếp từ chân thần ngay cả khi nó tác động đến các động lực phát triển trong vận cụ thấp nhất của phàm ngã.

Thus He gradually swings the entire lower form-substance into His control.

Như thế Ngài dần dần đưa toàn bộ chất liệu hình tướng thấp vào sự kiểm soát của Ngài.

65. We are being given a new slant on how the control and subsequent coordination and integration of the personality are achieved.

65. Chúng ta đang được cung cấp một góc nhìn mới về cách sự kiểm soát và sau đó là sự phối hợp và tích hợp của phàm ngã được đạt tới.

Before the final liberation

Trước sự giải thoát cuối cùng

66. In this instance, the “final liberation” is the fourth initiation.

66. Trong trường hợp này, “sự giải thoát cuối cùng” là lần điểm đạo thứ tư.

but after the major part of the purificatory and aligning processes are complete, the vehicles of the initiate present a wonderful appearance, due to the streams of energy from the egoic body which [Page 1122]can reach him.

nhưng sau khi phần lớn các tiến trình thanh luyện và chỉnh hợp đã hoàn tất, các vận cụ của điểm đạo đồ trình hiện một sắc tướng kỳ diệu, do các dòng năng lượng từ thể chân ngã [Page 1122]có thể vươn đến y.

67. We have been told of the marvellous display presented by a fully developed causal body, but here we learn that the personality vehicles of the initiate also present a “wonderful appearance”.

67. Chúng ta đã được cho biết về sự phô bày kỳ diệu do một thể nguyên nhân phát triển đầy đủ trình hiện, nhưng ở đây chúng ta biết rằng các vận cụ phàm ngã của điểm đạo đồ cũng trình hiện một “sắc tướng kỳ diệu”.

The egoic lotus is unfolded, and the central “fire” displayed.

Hoa Sen Chân Ngã đã khai mở, và “lửa” trung tâm được phô bày.

68. The three synthesis petals have “burst open” revealing the “Jewel”.

68. Ba cánh hoa tổng hợp đã “bung mở” để lộ “Bảo Châu”.

Each petal and each circle of petals is pulsating with life and colour, and is in active movement, revolving with great rapidity

Mỗi cánh hoa và mỗi vòng cánh hoa đều đang rung động với sự sống và màu sắc, và đang chuyển động tích cực, quay vòng với tốc độ rất lớn

69. Presumably, in the science of the egoic lotus, there is a rate of revolution.

69. Có lẽ, trong khoa học về Hoa Sen Chân Ngã, có một tốc độ quay vòng.

70. Pulsation suggests the type of influence coming from the “Jewel in the Lotus”. The action of the first ray is related to pulsation.

70. Sự rung động gợi ý loại ảnh hưởng đến từ “Bảo Châu trong Hoa Sen”. Tác động của cung một liên hệ với sự rung động.

with the stream of living energy circulating in every part of the lotus.

với dòng năng lượng sống động đang tuần hoàn trong mọi phần của hoa sen.

71. Why does Master DK use the word “living”? Presumably, there is great devic activity in the fully unfolded egoic lotus.

71. Vì sao Chân sư DK dùng từ “sống động”? Có lẽ có hoạt động thiên thần rất lớn trong Hoa Sen Chân Ngã đã khai mở hoàn toàn.

The three permanent atoms glow and blaze and form, through their rapid revolution and interplay, what appears to be a blazing point of fire,

Ba nguyên tử trường tồn phát sáng và rực cháy, và qua sự quay vòng nhanh chóng cùng sự tương tác của chúng, tạo thành điều có vẻ như là một điểm lửa rực cháy,

72. First a triangle of three points is seen and then a blazing point of fire.

72. Trước tiên người ta thấy một tam giác gồm ba điểm, rồi sau đó là một điểm lửa rực cháy.

so that it has been called at times “the reflection of the Jewel in the Mother’s forehead.”

đến nỗi đôi khi nó đã được gọi là “sự phản chiếu của Bảo Châu trên trán của Mẹ.”

73. We have here a connection between the “Jewel in the Lotus”, the sign Taurus and the “blazing point of fire” formed by the rapid revolution of energy between the three members of the atomic triangle.

73. Ở đây chúng ta có một mối liên hệ giữa “Bảo Châu trong Hoa Sen”, dấu hiệu hoàng đạo Kim Ngưu và “điểm lửa rực cháy” được hình thành bởi sự quay vòng nhanh chóng của năng lượng giữa ba thành viên của tam giác nguyên tử.

74. It is important to realize that the highly stimulated members of the atomic triangle (forming as they do, a “blazing point of fire”) are a “reflection” of the “Jewel in the Lotus”.

74. Điều quan trọng là phải chứng nghiệm rằng các thành viên được kích thích cao độ của tam giác nguyên tử (vì chúng tạo thành một “điểm lửa rực cháy”) là một “phản chiếu” của “Viên Ngọc trong Hoa Sen”.

75. We are dealing with a number of simultaneous awakenings and the interplay of the awakening aspects of the egoic lotus.

75. Chúng ta đang đề cập đến một số sự thức tỉnh đồng thời và sự tương tác giữa các phương diện thức tỉnh của Hoa Sen Chân Ngã.

The eighteen centres on the three planes (four on the mental and seven on each of the two lower planes) are radiant wheels of fire,

Ba mươi tám trung tâm trên ba cõi (bốn trên cõi trí và bảy trên mỗi cõi trong hai cõi thấp) là những bánh xe lửa rực sáng,

76. This references the “wonderful appearance” of the personality vehicles adding to the spectacular display occurring within the egoic lotus.

76. Điều này quy chiếu đến “sắc tướng kỳ diệu” của các vận cụ phàm ngã, góp phần vào cảnh tượng huy hoàng đang diễn ra bên trong Hoa Sen Chân Ngã.

each group distinguished by a specific colour, and revolving with such rapidity that the eye can scarce follow them.

mỗi nhóm được phân biệt bởi một màu sắc đặc thù, và quay nhanh đến mức mắt hầu như không thể theo kịp chúng.

77. DK is speaking of an inner eye—certainly in the case of the astral and mental chakras.

77. Chân sư DK đang nói về một con mắt bên trong —chắc chắn là trong trường hợp các luân xa cảm dục và trí tuệ.

78. Presumably the etheric, astral and mental chakras each have their own distinctive color. We might associate violet with the etheric chakras, rose with the astral chakras and, perhaps, orange with the lower mental chakras.

78. Có lẽ các luân xa dĩ thái, cảm dục và trí tuệ mỗi loại đều có màu sắc đặc trưng riêng. Chúng ta có thể liên hệ màu tím với các luân xa dĩ thái, màu hồng với các luân xa cảm dục, và có lẽ màu cam với các luân xa hạ trí.

The bodies are formed of the highest grades of substance,

Các thể được tạo thành từ những cấp độ cao nhất của chất liệu,

79. In this case, atomic substance. This is achieved at the period of the fourth initiation.

79. Trong trường hợp này, đó là chất liệu nguyên tử. Điều này đạt được vào thời kỳ của lần điểm đạo thứ tư.

each individual atom, therefore, being capable of intensified vibration, and glowing with the light of its own central fire.

do đó, mỗi nguyên tử cá biệt đều có khả năng rung động tăng cường, và rực sáng bằng ánh sáng của ngọn lửa trung tâm riêng của nó.

80. Master DK is speaking not only the atoms which are members of the atomic triangle but of all the atoms of substance in the various vehicles.

80. Chân sư DK không chỉ nói về các nguyên tử là thành viên của tam giác nguyên tử mà còn về mọi nguyên tử chất liệu trong các vận cụ khác nhau.

The etheric body especially is to be noticed as it is a transmitter at this stage of the purest type of prana,

Đặc biệt cần lưu ý đến thể dĩ thái vì ở giai đoạn này nó là bộ truyền dẫn loại prana tinh khiết nhất,

81. There are four or five grades of prana, or at least four or five divisions of the etheric body, each division with its own type of prana.

81. Có bốn hoặc năm cấp độ prana, hay ít nhất là bốn hoặc năm phân bộ của thể dĩ thái, mỗi phân bộ có loại prana riêng của nó.

82. The five types of prana are: Prana, Samana, Apana, Upana and Vyana. Perhaps each of these types comes in various grades of refinement.

82. Năm loại prana là: Prana, Samana, Apana, Upana và Vyana. Có lẽ mỗi loại này lại có nhiều cấp độ tinh luyện khác nhau.

83. We can assume that as initiations progress, the etheric body can transmit an increasingly pure type of prana. One would think that the prana most associated with the atomic subplane is the “purest type of prana”.

83. Chúng ta có thể giả định rằng khi các lần điểm đạo tiến triển, thể dĩ thái có thể truyền dẫn một loại prana ngày càng tinh khiết hơn. Người ta có thể nghĩ rằng loại prana liên hệ nhiều nhất với cõi phụ nguyên tử là “loại prana tinh khiết nhất”.

and deserves the name sometimes given to it of “the body of the Sun.”

và xứng đáng với danh xưng đôi khi được gọi là “thể của Mặt Trời”.

84. This “body of the Sun” appears only as the fourth initiation is about to be taken.

84. “Thể của Mặt Trời” này chỉ xuất hiện khi lần điểm đạo thứ tư sắp được tiếp nhận.

85. It would seem that there is an identicality between the “body of the Sun” and the “body of fire” or “body incorruptible” referenced on TCF 166.

85. Dường như có sự đồng nhất giữa “thể của Mặt Trời” và “thể lửa” hay “thể bất hoại” được nhắc đến trong TCF 166.

It is the envelope which holds the fires of the microcosmic system;

Đó là lớp bao chứa các ngọn lửa của hệ thống tiểu thiên địa;

86. DK is describing the etheric body. Eventually the etheric body can hold and transmit all the higher fires of the microcosmic system. Thus, via the etheric body, “heaven descends to Earth”.

86. Chân sư DK đang mô tả thể dĩ thái. Cuối cùng, thể dĩ thái có thể chứa đựng và truyền dẫn tất cả các ngọn lửa cao hơn của hệ thống tiểu thiên địa. Vì vậy, thông qua thể dĩ thái, “thiên giới giáng xuống Trái Đất”.

in it are centred not only the pranic fires, but those seven centres which are the transmitters of all the higher energies from the Ego, and from the two higher material bodies.

trong đó không chỉ tập trung các lửa prana, mà còn cả bảy trung tâm là những bộ truyền dẫn mọi năng lượng cao hơn từ chân ngã, và từ hai thể vật chất cao hơn.

87. DK is describing the etheric body at the time of the fourth initiation.

87. Chân sư DK đang mô tả thể dĩ thái vào thời điểm của lần điểm đạo thứ tư.

88. The “two higher material bodies” are the astral and lower mental bodies.

88. “Hai thể vật chất cao hơn” là thể cảm dục và thể hạ trí.

89. The Ego contains many energies, some of them direct influences from the spiritual triad and Monad.

89. Chân ngã chứa đựng nhiều năng lượng, một số trong đó là những ảnh hưởng trực tiếp từ Tam Nguyên Tinh Thần và chân thần.

All is centralised, and the etheric vehicle waits for use on the physical plane in co-operation with the dense medium until the man can succeed in linking the consciousness of the two aspects of the dense body so that the continuity is preserved.

Mọi sự đều được tập trung, và thể dĩ thái chờ được sử dụng trên cõi hồng trần trong sự hợp tác với môi trường đậm đặc cho đến khi con người có thể thành công trong việc nối kết tâm thức của hai phương diện của thể đậm đặc để sự liên tục được bảo tồn.

90. Master DK is describing one of the requirements for achieving continuity of consciousness.

90. Chân sư DK đang mô tả một trong những điều kiện cần thiết để đạt được sự liên tục của tâm thức.

91. It seems inferred that the etheric body is one of the two aspects of the dense body. Note DK did not say “dense physical body”. The etheric body is still a physical body.

91. Dường như ở đây hàm ý rằng thể dĩ thái là một trong hai phương diện của thể đậm đặc. Lưu ý rằng Chân sư DK không nói “thể hồng trần đậm đặc”. Thể dĩ thái vẫn là một thể hồng trần.

This work accomplished, the three centres which are of a strictly physical nature—the pineal gland, the pituitary body and the spleen-themselves become luminous and radiant,

Khi công việc này hoàn tất, ba trung tâm có bản chất hoàn toàn hồng trần—tuyến tùng, tuyến yên và lá lách—tự chúng trở nên sáng chói và rực rỡ,

92. The gland(s) associated with the alta major center is/are not mentioned.

92. Không thấy nhắc đến tuyến hay các tuyến liên kết với trung tâm alta major.

93. We see that the radiance, the wonderful appearance emerging at the time of the fourth initiation is not limited to the subtler aspects of man. There will be a radiant pineal gland, pituitary gland and spleen. The spleen is, of course, a ‘solar organ’ related to radiant prana.

93. Chúng ta thấy rằng sự rực sáng, sắc tướng kỳ diệu xuất hiện vào thời điểm lần điểm đạo thứ tư không chỉ giới hạn ở các phương diện vi tế hơn của con người. Sẽ có một tuyến tùng rực sáng, tuyến yên rực sáng và lá lách rực sáng. Dĩ nhiên, lá lách là một “cơ quan mặt trời” liên hệ với prana rực sáng.

and all the fires of the body are so stimulated that the atoms which form the physical sheath appear to radiate.

và mọi ngọn lửa của thể đều được kích thích đến mức các nguyên tử tạo thành vỏ bọc hồng trần dường như phát quang.

94. Even the tiny atoms of substance appear to radiate.

94. Ngay cả những nguyên tử chất liệu cực nhỏ cũng dường như phát quang.

95. We are speaking of vehicular illumination. We are not speaking solely of the subjective illumination.

95. Chúng ta đang nói về sự soi sáng của các vận cụ. Chúng ta không chỉ nói riêng về sự soi sáng chủ quan.

This is the occult truth behind the belief that every messenger from the Lodge and every Saviour [Page 1123] of man is naturally a healer.

Đây là chân lý huyền bí đứng sau niềm tin rằng mọi sứ giả từ Thánh đoàn và mọi Đấng Cứu Thế [Page 1123] của nhân loại tự nhiên đều là một nhà chữa lành.

96. The radiance induced in the vehicles at the fourth initiation and beyond makes this healing possible.

96. Sự rực sáng được gây ra trong các vận cụ ở lần điểm đạo thứ tư và xa hơn nữa khiến việc chữa lành này trở nên khả hữu.

The forces which flow through a man whose atoms, centres, sheaths, and causal body form a coherent unit in full and radiant activity are of such strength and purity as to have a definite effect upon the nature of those they contact.

Các mãnh lực tuôn chảy qua một con người mà các nguyên tử, các trung tâm, các vỏ bọc và thể nguyên nhân tạo thành một đơn vị cố kết trong hoạt động trọn vẹn và rực sáng có sức mạnh và sự tinh khiết đến mức tạo ra một ảnh hưởng xác định lên bản chất của những người mà y tiếp xúc.

97. An illumined, integrated microcosm is a superb instrument of healing.

97. Một tiểu thiên địa được soi sáng và tích hợp là một công cụ chữa lành tuyệt vời.

They heal, stimulate and increase the vibration of their fellow men.

Họ chữa lành, kích thích và gia tăng rung động của đồng loại mình.

98. Thus, all members of the Lodge are not only esoteric psychologists (as we have been told) but esoteric healers as well.

98. Vì vậy, mọi thành viên của Thánh đoàn không chỉ là các nhà Tâm Lý Học Nội Môn (như chúng ta đã được cho biết) mà còn là các nhà Trị Liệu Huyền Môn nữa.

All this must be somewhat realised and visioned before a man on the physical plane will be willing to undergo the purifying discipline, and tread the Path whereby he finds his centre and works from that standpoint of power.

Tất cả điều này phải được chứng nghiệm phần nào và được hình dung trước khi một con người trên cõi hồng trần sẵn lòng trải qua kỷ luật thanh luyện, và bước đi trên Con Đường nhờ đó y tìm thấy trung tâm của mình và hoạt động từ lập trường quyền năng ấy.

99. We now see one of the main reasons that Master DK described the process of the consummation of the development of the causal body: it provides an incentive to physical plane man to undergo the disciplines necessary to bring about this consummation.

99. Giờ đây chúng ta thấy một trong những lý do chính khiến Chân sư DK mô tả tiến trình hoàn tất sự phát triển của thể nguyên nhân: điều đó cung cấp một động lực cho con người trên cõi hồng trần để trải qua những kỷ luật cần thiết nhằm đưa đến sự hoàn tất này.

He has to align these various factors, or energy centres, and thus bring on to the physical plane power to be used in the healing of the nations.

Y phải chỉnh hợp các yếu tố khác nhau này, hay các trung tâm năng lượng, và nhờ đó đưa xuống cõi hồng trần quyền năng được dùng vào việc chữa lành các quốc gia.

100.  We see that for the “healing of the nations” the illumination and radiance of even the dense physical body is required.

100.  Chúng ta thấy rằng để “chữa lành các quốc gia”, sự soi sáng và rực sáng ngay cả của thể xác đậm đặc cũng là điều cần thiết.

101.  Also we are given a hint regarding one of the major planetary functions of the Spiritual Hierarchy.

101.  Ngoài ra, chúng ta còn được gợi ý về một trong những chức năng hành tinh lớn của Huyền Giai Tinh Thần.

When the glory of a man’s inner God is seen, when his radiance shines forth then will it be said of him as of those who have preceded him along the Path: “Then shall the Sun of Righteousness arise with healing in his wings.”19 [Bible. Malachi, 4:2]

Khi vinh quang của Thượng đế bên trong một con người được nhìn thấy, khi sự rực sáng của y tỏa ra, thì người ta sẽ nói về y như đã nói về những vị đi trước y trên Con Đường: “Bấy giờ Mặt Trời của Chính Đạo sẽ mọc lên với sự chữa lành trong đôi cánh của mình.”19 [Bible. Malachi, 4:2]

102.  We are speaking of the ‘glorification of man’—the manner in which he is brought to a state of radiant consummation.

102.  Chúng ta đang nói về “sự vinh hiển hóa con người”—cách thức mà y được đưa đến một trạng thái hoàn tất rực sáng.

103.  Many are the Biblical phrases which will be incompletely understood unless explained through philosophical, spiritual occultism.

103.  Có nhiều cụm từ trong Kinh Thánh sẽ không được thấu hiểu trọn vẹn nếu không được giải thích qua huyền bí học tinh thần mang tính triết học.

S9S5 Part II

TCF 1123-1128:

TCF 1123-1128:

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Phần gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Có đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

There are, in connection with human evolution, certain factors which produce definite and important results, when connected with each other through linking streams of energy and therefore consciously functioning.

Liên quan đến tiến hoá của con người, có những yếu tố nhất định tạo ra những kết quả xác định và quan trọng khi được nối kết với nhau qua các dòng năng lượng liên kết và do đó hoạt động một cách hữu thức.

1. In the linking lies the augmentation of power.

1. Chính trong sự nối kết có sự gia tăng quyền năng.

2. We are dealing with a Mercurian function. The goal is simultaneous, consciously interactive multi-dimensional consciousness.

2. Chúng ta đang đề cập đến một chức năng của Sao Thủy. Mục tiêu là tâm thức đa chiều đồng thời, tương tác hữu thức.

3. In this case, the factors to be linked are different aspects of the constitution of man.

3. Trong trường hợp này, các yếu tố cần được nối kết là những phương diện khác nhau trong cấu tạo của con người.

These factors might be considered as follows, dividing them into two groups, each of them emphasising the duality of the microcosmic manifestation:

Những yếu tố này có thể được xem xét như sau, chia chúng thành hai nhóm, mỗi nhóm nhấn mạnh nhị nguyên tính của biểu hiện tiểu thiên địa:

4. The following divisions suggest the dualism of mind and love. There are, of course, other relevant dualities.

4. Những phân chia sau đây gợi ra tính nhị nguyên của trí tuệ và bác ái. Dĩ nhiên, còn có những nhị nguyên tính thích đáng khác.

Group I.

Nhóm I.

1. The Knowledge Petals.

1. Các cánh hoa tri thức.

2. The knowledge petal in each of the two inner circles.

2. Cánh hoa tri thức trong mỗi một của hai vòng bên trong.

5. The sacrifice petals are not included in this enumeration, but the sacrifice tier, too, has its knowledge petal.

5. Các cánh hoa hi sinh không được bao gồm trong sự liệt kê này, nhưng tầng hi sinh cũng có cánh hoa tri thức của nó.

6. Under point “2.”, we are speaking of two petals, the total number being five knowledge petals.

6. Dưới điểm “2.”, chúng ta đang nói về hai cánh hoa, tổng số là năm cánh hoa tri thức.

3. The centres on the mental plane.

3. Các trung tâm trên cõi trí.

7. There are four of these as illustrated in TCF, Chart VIII, p. 817.

7. Có bốn trung tâm như thế, như được minh họa trong TCF, Biểu đồ VIII, tr. 817.

8. The splenic center of the lower mental plane is numbered as one of the centers.

8. Trung tâm lá lách của cõi hạ trí được đánh số như một trong các trung tâm.

4. The throat centre in etheric matter.

4. Trung tâm cổ họng trong chất liệu dĩ thái.

5. The alta major centre.

5. Trung tâm alta major.

9. The alta major center is principally related to the third aspect of divinity, to Brahma.

9. Trung tâm alta major chủ yếu liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính, với Brahma.

6. The physical brain.

6. Bộ não hồng trần.

10. The brain is related to Saturn and the third aspect but it can also be considered from a first ray directorial perspective.

10. Bộ não liên hệ với Sao Thổ và phương diện thứ ba, nhưng cũng có thể được xem xét từ góc độ chỉ đạo trực tiếp của cung một.

11. All of the six factors listed above are along the line of the third aspect of divinity.

11. Tất cả sáu yếu tố được liệt kê ở trên đều nằm trên đường của phương diện thứ ba của thiên tính.

Group II.

Nhóm II.

1. The Love Petals.

1. Các cánh hoa bác ái.

2. The love petal in each circle. [Page 1124]

2. Cánh hoa bác ái trong mỗi vòng. [Page 1124]

12. Again, such a petal is found in both the knowledge tier and the sacrifice tier. All of the petals in the central tier are love petals though the central petal of the middle circle represents the greatest concentration of the quality of love. The total number of love petals, then, is five.

12. Một lần nữa, một cánh hoa như thế được tìm thấy trong cả tầng tri thức lẫn tầng hi sinh. Tất cả các cánh hoa trong tầng trung tâm đều là cánh hoa bác ái, dù cánh hoa trung tâm của vòng giữa biểu thị sự tập trung lớn nhất của phẩm tính bác ái. Như vậy, tổng số cánh hoa bác ái là năm.

3. The centres on the astral plane.

3. Các trung tâm trên cõi cảm dục.

13. There are seven such centers and they correspond exactly to the centers found on the etheric plane. The astral centers, however, are ruled by different rays. (cf. EH 51)

13. Có bảy trung tâm như thế và chúng tương ứng chính xác với các trung tâm được tìm thấy trên cõi dĩ thái. Tuy nhiên, các trung tâm cảm dục được cai quản bởi những cung khác nhau. (xem EH 51)

4. The heart centre in etheric matter.

4. Trung tâm tim trong chất liệu dĩ thái.

14. The heart center is the great conductor of the second aspect of divinity.

14. Trung tâm tim là bộ dẫn truyền lớn của phương diện thứ hai của thiên tính.

5. The pituitary body.

5. Tuyến yên.

15. This gland can be related to all three aspects, but at a fairly advanced stage becomes the organ (in the head) of the second aspect of divinity.

15. Tuyến này có thể liên hệ với cả ba phương diện, nhưng ở một giai đoạn khá tiến bộ thì trở thành cơ quan (trong đầu) của phương diện thứ hai của thiên tính.

6. The sympathetic nervous system.

6. Hệ thần kinh giao cảm.

The sympathetic nervous system (SNS) is one of the three parts of the autonomic nervous system, along with the enteric and parasympathetic systems. Its general action is to mobilize the body’s resources under stress; to induce theflight-or-fight response. It is, however, constantly active at a basal level in order to maintain homeostasis.[1] 

Hệ thần kinh giao cảm (SNS) là một trong ba phần của hệ thần kinh tự chủ, cùng với hệ ruột và hệ đối giao cảm. Tác động chung của nó là huy động các nguồn lực của cơ thể trong tình trạng căng thẳng; gây rađáp ứng chiến đấu hay bỏ chạy. Tuy nhiên, nó luôn hoạt động ở mức nền để duy trì hằng định nội môi.[1] 

The actions of the parasympathetic nervous system can be summarized as “rest and digest”, as opposed to the “fight-or-flight” effects of the sympathetic nervous system.

Các hoạt động của hệ thần kinh đối giao cảm có thể được tóm tắt là “nghỉ ngơi và tiêu hóa”, đối lập với các tác động “chiến đấu hay bỏ chạy” của hệ thần kinh giao cảm.

Sympathetic and parasympathetic divisions typically function in opposition to each other. But this opposition is better understood as complementary in nature rather than antagonistic. For an analogy, one may think of the sympathetic division as the accelerator and the parasympathetic division as the brake. The sympathetic division typically functions in actions requiring quick responses. The parasympathetic division functions with actions that do not require immediate reaction. A useful acronym to summarize the functions of the parasympathetic nervous system is SLUDD (salivation, lacrimation, urination,digestion and defecation).

Phân bộ giao cảm và phân bộ đối giao cảm thường hoạt động đối nghịch nhau. Nhưng sự đối nghịch này nên được hiểu đúng hơn là có tính bổ sung hơn là có tính đối kháng. Để ví dụ, người ta có thể nghĩ đến phân bộ giao cảm như bàn đạp ga và phân bộ đối giao cảm như phanh. Phân bộ giao cảm thường hoạt động trong những hành động đòi hỏi đáp ứng nhanh. Phân bộ đối giao cảm hoạt động với những hành động không đòi hỏi phản ứng tức thời. Một chữ viết tắt hữu ích để tóm tắt các chức năng của hệ thần kinh đối giao cảm là SLUDD (tiết nước bọt, tiết nước mắt, tiểu tiện,tiêu hóađại tiện).

(Wikipedia)

(Wikipedia)

16. The sympathetic nervous system seems to work under the Law of Attraction and Repulsion. In its nature, there is much that is related to Mars and to the sixth and fourth rays.

16. Hệ thần kinh giao cảm dường như hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. Trong bản chất của nó, có nhiều điều liên hệ với Sao Hỏa và với cung sáu cùng cung bốn.

17. The parasympathetic system appears to work in relation to the planet Saturn.

17. Hệ đối giao cảm dường như hoạt động trong mối liên hệ với hành tinh Sao Thổ.

18. Of course, these planetary correlations are great simplifications.

18. Dĩ nhiên, những tương quan hành tinh này là những sự đơn giản hóa rất lớn.

These various alignments (when functioning with due adjustment) result in the transmission of energy in the first case from the manasic permanent atom, and in the second case from the buddhic permanent atom.

Những sự chỉnh hợp khác nhau này (khi hoạt động với sự điều chỉnh thích đáng) đưa đến sự truyền dẫn năng lượng trong trường hợp thứ nhất từ nguyên tử trường tồn manas, và trong trường hợp thứ hai từ nguyên tử trường tồn Bồ đề.

19. Here we see some ways in which the central nuclei (the permanent atoms) of the spiritual triad are related to the structure and functions of the causal body.

19. Ở đây chúng ta thấy một số cách mà các hạt nhân trung tâm (các nguyên tử trường tồn) của Tam Nguyên Tinh Thần liên hệ với cấu trúc và chức năng của thể nguyên nhân.

20. The manasic permanent atom is related to the knowledge petals and, thus, to the various factors listed above under the knowledge petals.

20. Nguyên tử trường tồn manas liên hệ với các cánh hoa tri thức và do đó với các yếu tố khác nhau được liệt kê ở trên dưới mục các cánh hoa tri thức.

21. The buddhic permanent atom is related to the love petals and, thus, to the various factors listed above under the love petals.

21. Nguyên tử trường tồn Bồ đề liên hệ với các cánh hoa bác ái và do đó với các yếu tố khác nhau được liệt kê ở trên dưới mục các cánh hoa bác ái.

It will be apparent, therefore, how important it is that the student duly considers the process of bringing about a uniform alignment, and a conscious appreciation of the vibratory processes of these two groups.

Do đó, sẽ rõ ràng việc đạo sinh cân nhắc đúng mức tiến trình đưa đến một sự chỉnh hợp đồng đều quan trọng đến mức nào, và một sự đánh giá hữu thức về các tiến trình rung động của hai nhóm này.

22. This is one of the major tasks upon our planet and even within our solar system. In both instances an attempt to align, coordinate and fuse the second and third aspects is underway.

22. Đây là một trong những nhiệm vụ lớn trên hành tinh chúng ta và ngay cả trong hệ mặt trời của chúng ta. Trong cả hai trường hợp, một nỗ lực nhằm chỉnh hợp, phối hợp và dung hợp phương diện thứ hai và thứ ba đang được tiến hành.

23. The alignment must be “uniform” and hence functionally stable. The desired alignment should be achievable at will.

23. Sự chỉnh hợp phải là “đồng đều” và do đó ổn định về mặt chức năng. Sự chỉnh hợp mong muốn phải có thể đạt được theo ý muốn.

24. From a practical perspective, alignment represents both the beginning and the end of any esoteric process.

24. Từ góc độ thực tiễn, chỉnh hợp vừa là khởi đầu vừa là kết thúc của bất kỳ tiến trình huyền bí học nào.

As he brings this adjustment about, the effect upon the physical plane will be the manifestation of the powers of the Soul,

Khi y tạo ra sự điều chỉnh này, ảnh hưởng trên cõi hồng trần sẽ là sự biểu lộ các quyền năng của linh hồn,

25. The Solar Angel can be considered a blend of both the third and second aspects. They are manasadevas (thus high exponents of manas—these manasic abilities achieved in the previous solar system) and are also “hearts of fiery love”.

25. Thái dương Thiên Thần có thể được xem là sự pha trộn của cả phương diện thứ ba lẫn thứ hai. Các Ngài là các manasadeva (do đó là những biểu hiện cao của manas—những năng lực manas này đã đạt được trong hệ mặt trời trước) và cũng là những “trái tim của bác ái rực lửa”.

and of the healing capacity;

và năng lực chữa lành;

26. The healing capacity results from bringing the second aspect of divinity in contact with the third. Archetypal relationships restore distorted relationships in the lower worlds of form.

26. Năng lực chữa lành phát sinh từ việc đưa phương diện thứ hai của thiên tính tiếp xúc với phương diện thứ ba. Những tương quan nguyên mẫu phục hồi những tương quan bị méo mó trong các thế giới thấp của hình tướng.

the man will become a focal point for egoic energy and a server of his race.

con người sẽ trở thành một tiêu điểm cho năng lượng chân ngã và là một người phụng sự nhân loại mình.

27. This type of alignment is required if man is to become a focal point of egoic energy and a server. Without the alignment here discussed, the man can become neither.

27. Loại chỉnh hợp này là điều cần thiết nếu con người muốn trở thành một tiêu điểm của năng lượng chân ngã và một người phụng sự. Không có sự chỉnh hợp được bàn đến ở đây, con người không thể trở thành điều nào trong hai điều ấy.

28. The soul or Ego expressing through the form is the true server and healer just as it is the true magician.

28. Linh hồn hay chân ngã biểu lộ qua hình tướng mới là người phụng sự và nhà chữa lành chân chính, cũng như là nhà huyền thuật chân chính.

The black magician brings about similar results by means of the first group,

Nhà hắc thuật tạo ra những kết quả tương tự bằng phương tiện của nhóm thứ nhất,

29. The black magician is powerfully manasic and, thus, it seems that the lowest aspect of the spiritual triad may be accessible to him.

29. Nhà hắc thuật có tính manas rất mạnh, và do đó dường như phương diện thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần có thể tiếp cận được đối với y.

only with the exception that he cannot align the knowledge petals in the two inner groups, as the love-wisdom aspect is atrophied in his case.

chỉ trừ một điều là y không thể chỉnh hợp các cánh hoa tri thức trong hai nhóm bên trong, vì phương diện Bác Ái – Minh Triết đã bị teo lại trong trường hợp của y.

30. The two inner groups are groups or circles of petals—the love petals and the sacrifice petals.

30. Hai nhóm bên trong là các nhóm hay các vòng cánh hoa—các cánh hoa bác ái và các cánh hoa hi sinh.

31. In this case, love is associated with the love petals and wisdom with the sacrifice petals.

31. Trong trường hợp này, bác ái được liên kết với các cánh hoa bác ái và minh triết với các cánh hoa hi sinh.

32. The love circle and the sacrifice circle each have a knowledge petal but, apparently, because these two circles deal with love and wisdom, the two knowledge petals which are part of these circles are inaccessible to the black magician.

32. Vòng bác ái và vòng hi sinh mỗi vòng đều có một cánh hoa tri thức nhưng, rõ ràng vì hai vòng này xử lý bác ái và minh triết, nên hai cánh hoa tri thức là thành phần của hai vòng này không thể tiếp cận được đối với nhà hắc thuật.

33. It has always been clear that black magicians work without love, but here it is also emphasized that they work without wisdom as well. A little reasoning proves this to be the case. It is hardly wise to set oneself against the Divine Plan and lose all opportunity for true progress within our solar system.

33. Từ lâu vẫn rõ ràng rằng các nhà hắc thuật hoạt động không có bác ái, nhưng ở đây cũng nhấn mạnh rằng họ hoạt động không có cả minh triết nữa. Chỉ cần một ít lý luận là đủ chứng minh điều này. Hầu như không khôn ngoan khi tự đặt mình chống lại Thiên Cơ và đánh mất mọi cơ hội tiến bộ chân chính trong hệ mặt trời của chúng ta.

He does, however, bring through the energy of the manasic permanent atom,

Tuy nhiên, y vẫn đưa xuống qua năng lượng của nguyên tử trường tồn manas,

34. As suggested above. The manasic permanent atom is part of the spiritual triad, which triad is largely a reflection of the first aspect of divinity (though we cannot entirely include the influence of the second aspect).

34. Như đã gợi ý ở trên. Nguyên tử trường tồn manas là một phần của Tam Nguyên Tinh Thần, mà Tam nguyên này phần lớn là một phản chiếu của phương diện thứ nhất của thiên tính (dù chúng ta không thể hoàn toàn loại trừ ảnh hưởng của phương diện thứ hai).

35. The implication is that the black magician is bypassing the soul in a way quite different from the way in which the student of the White Lodge is told to ‘bypass’ the soul when building the antahkarana.

35. Hàm ý ở đây là nhà hắc thuật đang vượt qua linh hồn theo một cách hoàn toàn khác với cách mà đạo sinh của Thánh đoàn Chánh đạo được bảo phải “vượt qua” linh hồn khi xây dựng antahkarana.

36. Although the black magician brings through energy from the manasic permanent atom, in building the type of antahkarana he builds, he does not seek polarization within his own manasic permanent atom.

36. Mặc dù nhà hắc thuật đưa xuống năng lượng từ nguyên tử trường tồn manas, nhưng khi xây dựng loại antahkarana mà y xây dựng, y không tìm kiếm sự phân cực trong chính nguyên tử trường tồn manas của mình.

for the force of Mahat (of which Manas is an expression) is closely connected with what is erroneously called “evil.”

vì mãnh lực của Mahat (mà Manas là một biểu hiện của nó) có liên hệ mật thiết với điều bị gọi sai lầm là “ác”.

37. Mahat is pure cosmic Mind. DK seems to be relating the “force of Mahat” with the functions of the manasic permanent atom.

37. Mahat là Trí Tuệ vũ trụ thuần túy. Chân sư DK dường như đang liên hệ “mãnh lực của Mahat” với các chức năng của nguyên tử trường tồn manas.

38. Mahat is a factor superior to manas.

38. Mahat là một yếu tố cao hơn manas.

39. We note that DK implies a more philosophical view of the nature of “evil”. There are apparently other and more intelligent ways of describing what we usually describe as “evil”.

39. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK hàm ý một quan điểm triết học hơn về bản chất của “ác”. Rõ ràng có những cách khác và thông minh hơn để mô tả điều mà chúng ta thường gọi là “ác”.

Mahat and cosmic Evil have a close connection.

Mahat và Ác vũ trụ có một mối liên hệ mật thiết.

40. Of this connection Master DK says very little. We understand that there is nothing evil about pure mind, per se, but that mind devoid of love can become an instrument of destruction, especially in relation to the programme of our second ray solar system.

40. Về mối liên hệ này, Chân sư DK nói rất ít. Chúng ta hiểu rằng không có gì là ác trong trí tuệ thuần túy, chính nó, nhưng trí tuệ thiếu bác ái có thể trở thành một công cụ hủy diệt, đặc biệt trong liên hệ với chương trình của hệ mặt trời cung hai của chúng ta.

The great Existences Who are the principle of Mahat in its cosmic sense

Các Đấng Hiện Hữu vĩ đại, Đấng nguyên khí của Mahat theo ý nghĩa vũ trụ của nó

41. These are Beings beyond the scale of a Planetary Logos, though from one point of view, a Planetary Logos is a cosmic Being. DK, however, tells us that the black magician develops extra-systemic contacts along the mahatic line.

41. Đây là những Hữu thể vượt quá thang bậc của một Hành Tinh Thượng đế, dù xét từ một quan điểm nào đó, một Hành Tinh Thượng đế là một Hữu thể vũ trụ. Tuy nhiên, Chân sư DK cho chúng ta biết rằng nhà hắc thuật phát triển những tiếp xúc ngoài-hệ-thống dọc theo đường Mahat.

42. Note that DK did not say, “who express the principle of Mahat” but “Who are the principle of Mahat.” We might wonder whether these Beings are necessarily embodied in planetary, logoic or constellational form. Perhaps not.

42. Lưu ý rằng Chân sư DK không nói, “những Đấng biểu lộ nguyên khí Mahat” mà là “những Đấng nguyên khí Mahat.” Chúng ta có thể tự hỏi liệu những Hữu thể này nhất thiết phải nhập thể trong hình thức hành tinh, logoic hay chòm sao hay không. Có lẽ là không.

are connected with the lesser existences who express systemic evil.

được nối kết với những hiện hữu nhỏ hơn biểu lộ điều ác có tính hệ thống.

43. There are three types of evil with which we are concerned: planetary evil, systemic evil and cosmic evil.

43. Có ba loại điều ác mà chúng ta quan tâm: điều ác hành tinh, điều ác hệ thống và điều ác vũ trụ.

44. We must always remember that we are in a second ray solar system, and that evil is a relative term. What is considered “evil” in this solar system was probably not considered so in the previous solar system.

44. Chúng ta phải luôn nhớ rằng chúng ta đang ở trong một hệ mặt trời cung hai, và rằng điều ác là một thuật ngữ tương đối. Điều được xem là “ác” trong hệ mặt trời này có lẽ đã không được xem như vậy trong hệ mặt trời trước.

They are the sum total of the separative instrument,

Chúng là tổng thể của công cụ phân ly,

45. DK seems to be telling us that the members of the Black Lodge, as we understand them to be in the context of our solar system, are an “instrument”. Are they ‘wielded’ by these great cosmic Existences—the cosmic exponents or principles of Mahat?

45. Chân sư DK dường như đang cho chúng ta biết rằng các thành viên của Hắc đoàn, như chúng ta hiểu họ trong bối cảnh hệ mặt trời của chúng ta, là một “công cụ”. Phải chăng họ được những Hiện hữu vũ trụ vĩ đại này—những đấng biểu hiện hay những nguyên khí vũ trụ của Mahat—“vận dụng”?

and where separation in any form exists, there is to be found ignorance, and therefore evil.

ở đâu sự phân ly dưới bất kỳ hình tướng nào tồn tại, ở đó có vô minh, và do đó có điều ác.

46. Why is the term “ form ” italicized? Is separation when not associated with a form permissible and not evil? Certainly the factor of separation is necessary in the process of creation and has been discussed in A Treatise on Cosmic Fire as an aspect of the Brahmic energy and as the first effect of rotary motion.

46. Vì sao từ “ hình tướng ” được in nghiêng? Phải chăng sự phân ly, khi không gắn với một hình tướng, là điều được phép và không phải là ác? Chắc chắn yếu tố phân ly là cần thiết trong tiến trình sáng tạo và đã được bàn đến trong Luận về Lửa Vũ Trụ như một phương diện của năng lượng Brahma và như hiệu quả đầu tiên của chuyển động quay.

47. What is really interesting here is the association of ignorance and evil. This is, in one way, a very Buddhist idea.

47. Điều thực sự thú vị ở đây là sự liên kết giữa vô minh và điều ác. Xét theo một phương diện, đây là một ý niệm rất Phật giáo.

48. The implication is also given that separation causes ignorance because it prevents contact with various aspects of the One Self. Without contact and resultant experience, there is ignorance of that which otherwise might be contacted. Where this ignorance prevails, there is no possibility of participating in the systemic reunion which is intended by the Solar Logos.

48. Hàm ý ở đây cũng cho thấy rằng sự phân ly gây ra vô minh vì nó ngăn cản sự tiếp xúc với nhiều phương diện của Đại Ngã Duy Nhất. Không có tiếp xúc và kinh nghiệm phát sinh từ đó, sẽ có sự vô minh đối với điều lẽ ra có thể được tiếp xúc. Nơi nào sự vô minh này ngự trị, nơi đó không có khả năng tham dự vào sự tái hợp có tính hệ thống mà Thái dương Thượng đế chủ định.

49. We have seen the principle of separation discussed as an important factor within the Brahmic aspect, but within the context of a second ray solar system in can conduce to evil unless properly supervised and regulated by the second aspect.

49. Chúng ta đã thấy nguyên lý phân ly được bàn đến như một yếu tố quan trọng trong phương diện Brahma, nhưng trong bối cảnh của một hệ mặt trời cung hai, nó có thể dẫn đến điều ác nếu không được phương diện thứ hai giám sát và điều hòa đúng đắn.

Separation negates comprehension, or knowledge of that which is to be found outside the separated consciousness, for separative knowledge entails identification with that which is expressing itself through the medium of a form.

Sự phân ly phủ nhận sự thấu hiểu, hay tri thức về điều được tìm thấy bên ngoài tâm thức bị tách biệt, vì tri thức phân ly bao hàm sự đồng hoá với điều đang biểu lộ chính nó qua trung gian của một hình tướng.

50. If there is identification only with form, then how can there be identification with that which lies outside the range of form—namely the spiritual worlds?

50. Nếu chỉ có sự đồng hoá duy nhất với hình tướng, thì làm sao có thể có sự đồng hoá với điều nằm bên ngoài phạm vi của hình tướng—tức là các thế giới tinh thần?

51. The separative being refuses to acknowledge Wholeness and Oneness and, thus, for a time, cannot grow into the Wholeness/Oneness, which growth is the Purpose of Deity.

51. Hữu thể phân ly từ chối thừa nhận Tính Toàn Thể và Tính Nhất Thể, và do đó, trong một thời gian, không thể tăng trưởng vào Tính Toàn Thể/Tính Nhất Thể ấy, mà sự tăng trưởng đó là Thiên Ý của Thượng đế.

Therefore, the Brothers of the Shadow can, and do, reach high levels along one aspect of consciousness, and touch certain specific heights of [Page 1125] spiritual evil,

Vì vậy, các huynh đệ của bóng tối có thể, và thực sự, đạt đến những cấp độ cao dọc theo một phương diện của tâm thức, và chạm đến những đỉnh cao nhất định của [Page 1125] điều ác tinh thần,

52. This is a strange expression—“heights of spiritual evil”. What is suggested is a type of evil which lies beyond form, but which is definitely identified with the third aspect of divinity.

52. Đây là một cách diễn đạt lạ—“những đỉnh cao của điều ác tinh thần”. Điều được gợi ý là một loại điều ác nằm vượt ngoài hình tướng, nhưng lại nhất định đồng hoá với phương diện thứ ba của thiên tính.

53. The words “certain specific” suggest the use by these “Brothers of the Shadow” of the fifth ray—the ray of certainty and of specificity.

53. Các từ “những… nhất định” gợi ý việc các “huynh đệ của bóng tối” này sử dụng cung năm—cung của sự xác định và tính đặc thù.

54. Elsewhere we are told that there is no such thing as ‘purely spiritual evil’.

54. Ở nơi khác, chúng ta được cho biết rằng không có cái gọi là ‘điều ác thuần túy tinh thần’.

55. We must remember that certain members of the Black Lodge (powerful members) are active on the higher mental plane and are thus focussed ‘above’ the lower three worlds (considering them as the eighteen lower subplanes). Yet the higher mental plane is still within the dense physical body of the Solar Logos and thus, metaphysically, within the field of His concrete form.

55. Chúng ta phải nhớ rằng một số thành viên của Hắc đoàn (những thành viên quyền năng) hoạt động trên Cõi thượng trí và do đó được tập trung ‘ở trên’ ba cõi thấp (nếu xem chúng là mười tám cõi phụ thấp). Tuy nhiên, Cõi thượng trí vẫn còn ở trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế và do đó, về mặt siêu hình, vẫn ở trong trường của hình tướng cụ thể của Ngài.

going a great way along the line of Mahat, or knowledge, the principle of Universal Mind.

đi rất xa dọc theo đường Mahat, hay tri thức, nguyên khí của Vũ Trụ Trí.

56. There would be nothing wrong with this in itself, except that that which is learned is separatively turned against the Principle of Love.

56. Tự thân điều này sẽ không có gì sai, ngoại trừ việc điều được học hỏi lại bị quay sang chống lại Nguyên lý Bác ái một cách phân ly.

57. The implication to be gathered from DK’s text is that while these highly intelligent, evil entities go “a great way along the line of Mahat”, they do not go all the way.

57. Hàm ý rút ra từ bản văn của Chân sư DK là trong khi những thực thể ác đầy trí tuệ này đi “rất xa dọc theo đường Mahat”, họ không đi trọn vẹn con đường ấy.

58. We note here that knowledge is discussed but not wisdom.

58. Ở đây chúng ta lưu ý rằng tri thức được bàn đến, nhưng không phải minh triết.

They can reach, in their later stages, expansions of consciousness and of power that will take them far beyond the confines of our solar system,

Trong các giai đoạn sau của họ, họ có thể đạt đến những sự mở rộng tâm thức và quyền năng sẽ đưa họ vượt xa các giới hạn của hệ mặt trời chúng ta,

59. An amazing thought! We come to realize that they are not confined to our planet or any planet or even to our solar system.

59. Một ý nghĩ đáng kinh ngạc! Chúng ta đi đến chỗ nhận ra rằng họ không bị giới hạn trong hành tinh của chúng ta hay bất kỳ hành tinh nào, thậm chí cũng không bị giới hạn trong hệ mặt trời của chúng ta.

60. In many references in A Treatise on Cosmic Fire, we learn that our solar system is confined to the cosmic physical plane. The focal point of cosmic evil (as we understand it) is the cosmic astral plane. This section of text suggests that these black magicians can function, minimally, on the cosmic astral plane. Perhaps they can also function on the lower levels of the cosmic mental plane which are under the influence of the mental unit of the Solar Logos.

60. Trong nhiều đoạn tham chiếu trong Luận về Lửa Vũ Trụ, chúng ta biết rằng hệ mặt trời của chúng ta bị giới hạn trong cõi hồng trần vũ trụ. Tiêu điểm của điều ác vũ trụ (theo cách chúng ta hiểu) là cõi cảm dục vũ trụ. Đoạn văn này gợi ý rằng những nhà hắc thuật này tối thiểu có thể hoạt động trên cõi cảm dục vũ trụ. Có lẽ họ cũng có thể hoạt động trên các cấp thấp của cõi trí vũ trụ, vốn nằm dưới ảnh hưởng của đơn vị hạ trí của Thái dương Thượng đế.

61. The Forces of Light are, therefore, dealing with evil entities of vast scope and power. The average disciple is absolutely no match for them.

61. Do đó, Các Mãnh Lực của Ánh Sáng đang đối diện với những thực thể ác có phạm vi và quyền năng vô cùng rộng lớn. Người đệ tử trung bình tuyệt đối không thể sánh được với họ.

62. Implied in this statement is that that which we call “evil” is of much greater scope than the scope of our solar system. The problem with the third aspect of divinity and its misalignment with the second must, it seems, extend into constellational contexts, and perhaps beyond.

62. Hàm ý trong phát biểu này là điều mà chúng ta gọi là “ác” có phạm vi lớn hơn rất nhiều so với phạm vi của hệ mặt trời chúng ta. Vấn đề của phương diện thứ ba của thiên tính và sự không chỉnh hợp của nó với phương diện thứ hai dường như phải mở rộng vào các bối cảnh chòm sao, và có lẽ còn vượt xa hơn nữa.

and give them attributes and capacities which prove a menace to the unfolding of the second Aspect.

và ban cho họ những thuộc tính và năng lực chứng tỏ là một mối đe dọa đối với sự khai mở của Phương diện thứ hai.

63. The major divine task in this solar system is precisely the unfoldment of the second aspect of divinity. It is for this reason that the unfoldment of Mahat as a separative power is considered evil, at least in relation to our solar system, and, so it would seem, beyond.

63. Nhiệm vụ thiêng liêng chủ yếu trong hệ mặt trời này chính là sự khai mở của phương diện thứ hai của thiên tính. Chính vì lý do đó mà sự khai mở của Mahat như một quyền năng phân ly được xem là ác, ít nhất là trong liên hệ với hệ mặt trời của chúng ta, và dường như còn vượt ra ngoài nữa.

64. In our solar system the Primordial Ray (the great Third Ray) strengthened by Mahat must become subservient to the Divine Ray (the Ray of Love-Wisdom).

64. Trong hệ mặt trời của chúng ta, Cung Nguyên Sơ (cung ba vĩ đại) được Mahat tăng cường phải trở nên phụ thuộc vào Thiêng Cung (Cung Bác Ái – Minh Triết).

The first group of alignments, when not balanced by the second group, is the line of the black magician;

Nhóm chỉnh hợp thứ nhất, khi không được cân bằng bởi nhóm thứ hai, là đường lối của nhà hắc thuật;

65. It is a purely manasic alignment and strengthens the selfish will.

65. Đó là một sự chỉnh hợp thuần manas và làm tăng cường ý chí ích kỷ.

it will lead him eventually out of the stream of fivefold energy we call manasic on to the cosmic path of fohatic energy, the strictly mahatic.

cuối cùng sẽ dẫn y ra khỏi dòng năng lượng ngũ phân mà chúng ta gọi là manas để đi vào con đường vũ trụ của năng lượng fohat, tức con đường thuần Mahat.

66. His path leads from manas to Mahat. The Path of Mahat is, here we learn, the “cosmic path of fohatic energy”.

66. Con đường của y dẫn từ manas đến Mahat. Ở đây chúng ta biết rằng Con Đường của Mahat là “con đường vũ trụ của năng lượng fohat”.

67. We are being told that the members of the Black Lodge can become Masters of certain aspects of cosmic electricity (Fohat) rendering them powerful and dangerous indeed.

67. Chúng ta đang được cho biết rằng các thành viên của Hắc đoàn có thể trở thành các Chân sư của một số phương diện của điện vũ trụ (Fohat), khiến họ thực sự đầy quyền năng và nguy hiểm.

68. Behind this picture of the acquisition of vast powers (even cosmically considered) lies the thought that they should not be pursuing the path to these powers.

68. Đằng sau bức tranh về việc thủ đắc những quyền năng to lớn này (ngay cả khi xét theo nghĩa vũ trụ) là ý nghĩ rằng họ không nên theo đuổi con đường dẫn đến những quyền năng ấy.

When on that Path two directions are possible to him;

Khi ở trên Con Đường đó, có hai hướng mở ra cho y;

69. This following description of paths which are open to the black magician is to be taken as an informative warning.

69. Mô tả sau đây về những con đường mở ra cho nhà hắc thuật cần được xem như một lời cảnh báo mang tính thông tin.

one will keep him in touch with the natural substance aspect concerned with the cosmic incarnations of our solar Logos;

một hướng sẽ giữ y tiếp xúc với phương diện chất liệu tự nhiên liên quan đến các lần lâm phàm vũ trụ của Thái dương Thượng đế của chúng ta;

70. In other words, he will remain associated with our Solar Logos, whether he works from a point within or without our solar system.

70. Nói cách khác, y sẽ vẫn còn liên hệ với Thái dương Thượng đế của chúng ta, dù y hoạt động từ một điểm ở bên trong hay bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta.

71. The term “natural substance” is interesting as it suggests the substance of which the three lower worlds in our solar system are composed.

71. Thuật ngữ “chất liệu tự nhiên” thật đáng chú ý vì nó gợi ý chất liệu mà ba cõi thấp trong hệ mặt trời của chúng ta được cấu thành từ đó.

the other will sweep him on to that centre in the universe which is the emanating source of the mahatic principle;

hướng kia sẽ cuốn y đi đến trung tâm trong vũ trụ là nguồn phát xạ của nguyên lý Mahat;

72. Still greater opportunities of a negative kind seem associated with this second path.

72. Những cơ hội còn lớn hơn, nhưng mang tính tiêu cực, dường như gắn liền với con đường thứ hai này.

73. It seems that there are different forms of Great Attractors. The type here referenced is purely mahatic.

73. Dường như có những hình thức khác nhau của các Đại Trung Tâm Hấp Dẫn. Loại được nói đến ở đây thuần túy là mahatic.

74. What might that center be? Obviously DK will not reveal this as it would be of no profit to us and probably of considerable danger.

74. Trung tâm đó có thể là gì? Hiển nhiên Chân sư DK sẽ không tiết lộ điều này vì nó không đem lại lợi ích gì cho chúng ta và có lẽ còn khá nguy hiểm.

75. The term “universe” is used. It seems that the ‘Grand Entirety’ is not indicated. Probably such a mahatic center is within our galaxy and probably within the local part of our galaxy and part of the manifestation of our “One About Whom Naught May Be Said”. We have been told that the destiny of the members of our Black Lodge is resolved within the system of the “One About Whom Naught May Be Said”.

75. Thuật ngữ “vũ trụ” được dùng ở đây. Dường như “Toàn Thể Vĩ Đại” không được chỉ đến. Có lẽ một trung tâm mahatic như vậy nằm trong thiên hà của chúng ta và có lẽ trong phần cục bộ của thiên hà ấy, và là một phần của sự biểu hiện của “Đấng Bất Khả Tư Nghị” của chúng ta. Chúng ta đã được cho biết rằng số phận của các thành viên Hắc đoàn của chúng ta được giải quyết trong hệ thống của “Đấng Bất Khả Tư Nghị”.

it is the focal point where is generated that type of energy which makes possible the dense physical manifestation of Gods and men.

đó là tiêu điểm nơi phát sinh loại năng lượng làm cho sự biểu hiện hồng trần đậm đặc của các Thượng đế và những người nam và nữ trở nên khả hữu.

76. This center then, is the generating point of all dense materiality. Those who work to strengthen the power of materialism are inspired from this source—no matter by how many removes.

76. Vậy thì trung tâm này là điểm phát sinh của mọi tính vật chất đậm đặc. Những ai hoạt động để tăng cường quyền lực của chủ nghĩa duy vật đều được truyền cảm hứng từ nguồn này—dù qua bao nhiêu tầng trung gian đi nữa.

In making this statement, it is necessary to bear in mind that the dense physical sheath is never considered a principle. It is ever deemed occultly evil.

Khi đưa ra phát biểu này, cần ghi nhớ rằng vỏ bọc hồng trần đậm đặc không bao giờ được xem là một nguyên khí. Nó luôn luôn được xem là một cách huyền bí ác.

77. The dense physical body is considered “ occultly evil” certainly from the perspective of our Solar Logos, but does its identification with evil extend to extra systemic Beings? It seems so.

77. Thể xác hồng trần đậm đặc chắc chắn được xem là “ một cách huyền bí ác” từ quan điểm của Thái dương Thượng đế của chúng ta, nhưng việc nó bị đồng nhất với điều ác có mở rộng đến các Hữu thể ngoài-hệ-thống không? Dường như là có.

78. The center from which the energy of Mahat emanates is the sustainer of that (which in certain contexts) which must be considered the “past”. How large are such contexts? We cannot yet know. We are told a little about the history of our Solar Logos but nothing at all about the past of the Cosmic Logos of which our Solar Logos is a part.

78. Trung tâm mà từ đó năng lượng của Mahat phát xạ ra là đấng duy trì cái mà (trong một số bối cảnh) phải được xem là “quá khứ”. Những bối cảnh như vậy rộng lớn đến đâu? Chúng ta chưa thể biết. Chúng ta được biết đôi chút về lịch sử của Thái dương Thượng đế của chúng ta nhưng hoàn toàn không biết gì về quá khứ của Vũ Trụ Thượng đế mà Thái dương Thượng đế của chúng ta là một phần trong đó.

The matter might be more simply expressed by stating that the black adept is frankly concerned with what is termed “the residue of that which earlier was.”

Vấn đề có thể được diễn đạt đơn giản hơn bằng cách nói rằng chân sư hắc đạo công khai quan tâm đến điều được gọi là “phần cặn dư của cái đã từng hiện hữu trước kia.”

79. This is certainly true with regard to our solar system.

79. Điều này chắc chắn đúng đối với hệ mặt trời của chúng ta.

80. The black magician is dealing with residues. This does not seem a very attractive prospect. It’s rather like looking for something of value in a garbage heap. It represents an alienation from the living principles of our solar system and probably of vaster systems beyond.

80. Nhà hắc thuật đang xử lý những phần cặn dư. Đây dường như không phải là một viễn cảnh hấp dẫn cho lắm. Nó khá giống như đi tìm một thứ có giá trị trong một đống rác. Nó biểu thị một sự xa lìa khỏi các nguyên khí sống động của hệ mặt trời chúng ta và có lẽ cả của những hệ thống rộng lớn hơn vượt ngoài nó.

He responds to the vibration of the solar system of an earlier greater cycle in which the knowledge, or the manasic principle, was the goal of achievement.

Y đáp ứng với rung động của hệ mặt trời thuộc một chu kỳ lớn trước kia, trong đó tri thức, hay nguyên lý manas, là mục tiêu của sự thành tựu.

81. The previous solar system is certainly implicated, but the one preceding it may also be if, indeed, our present solar system is the fifth.

81. Hệ mặt trời trước chắc chắn có liên can, nhưng hệ mặt trời trước đó nữa cũng có thể liên can nếu quả thực hệ mặt trời hiện tại của chúng ta là hệ thứ năm.

82. In one respect, the black magician is severely retarded, at least with respect to the logoic agenda for our present solar system.

82. Xét theo một phương diện, nhà hắc thuật bị chậm tiến nghiêm trọng, ít nhất là đối với chương trình logoic của hệ mặt trời hiện tại שלנו.

He does not respond to the impulse of this solar system, but this lack of response is hid in the karma of the earlier manifestation.

Y không đáp ứng với xung lực của hệ mặt trời này, nhưng sự thiếu đáp ứng này được che giấu trong nghiệp quả của biểu hiện trước kia.

83. We have been told that in the previous solar system there was a rebellion. The black magician of today was probably numbered among the rebellious group. As to the cause of the rebellion, we are told that it is hidden. All such rebellion, however, must be rooted in an exercise of the will. We have been told that most black magicians are souls on the first ray—the ray of will.

83. Chúng ta đã được cho biết rằng trong hệ mặt trời trước đã có một cuộc nổi loạn. Nhà hắc thuật ngày nay có lẽ nằm trong nhóm nổi loạn ấy. Về nguyên nhân của cuộc nổi loạn, chúng ta được cho biết rằng nó bị che giấu. Tuy nhiên, mọi cuộc nổi loạn như vậy hẳn phải bén rễ trong một sự vận dụng ý chí. Chúng ta đã được cho biết rằng phần lớn các nhà hắc thuật là những linh hồn trên cung một—cung của ý chí.

In every grouping,—whether in heaven or on earth—there is always evidenced a tendency by some units in the group to revolt, to rebel and to show some form of initiative different to that of the other units in the same grouping. When our solar universe came into being, we are told in the allegorical language of the ancient scriptures, there “was war in Heaven”; “the sun and his seven brothers” did not function with true unanimity; hence (and herein lies a hint) our Earth is not one of the seven sacred planets. There is, as we know, the ancient legend of the lost Pleiad, and there are many such stories. Again, in the council chamber of the Most High, there has not always been peace and understanding, but at times, war and disruption; this is made abundantly clear by several of the stories in the Old Testament. (EP I 394)

Trong mọi nhóm—dù ở thiên giới hay trên trần thế—bao giờ cũng có thể thấy nơi một số đơn vị trong nhóm một khuynh hướng nổi dậy, phản loạn và biểu lộ một hình thức chủ động nào đó khác với các đơn vị khác trong cùng nhóm. Khi vũ trụ thái dương của chúng ta xuất hiện, chúng ta được cho biết bằng ngôn ngữ ngụ ngôn của các thánh thư cổ xưa rằng đã “có chiến tranh trên Thiên Đàng”; “mặt trời và bảy huynh đệ của nó” đã không vận hành trong sự nhất trí chân chính; vì thế (và chính trong đây có một gợi ý) Trái Đất của chúng ta không phải là một trong bảy hành tinh thiêng liêng. Như chúng ta biết, có truyền thuyết cổ về Pleiades bị mất, và còn nhiều câu chuyện như thế. Lại nữa, trong hội đồng của Đấng Tối Cao, không phải lúc nào cũng có hòa bình và thấu hiểu, mà đôi khi có chiến tranh và đổ vỡ; điều này được làm sáng tỏ rất nhiều qua một số câu chuyện trong Cựu Ước. (EP I 394)

As we know, the Sons of Mind or the incarnating jivas are the returning nirvanis of a previous logoic incarnation.

Như chúng ta biết, Các Con của Trí Tuệ hay các jiva nhập thể là những nirvani quay trở lại của một lần lâm phàm logoic trước.

84. This statement must not be passed by superficially. In this case the “Sons of Mind” are not the human beings of the present day. They are far higher. They are, we must infer, Solar Angels. Solar Angels are the returning nirvanis of a previous logoic manifestation.

84. Không được lướt qua phát biểu này một cách hời hợt. Trong trường hợp này, “Các Con của Trí Tuệ” không phải là những con người ngày nay. Họ cao hơn rất nhiều. Chúng ta phải suy ra rằng họ là các Thái dương Thiên Thần. Các Thái dương Thiên Thần những nirvani quay trở lại của một biểu hiện logoic trước.

85. It is not unusual to think of the “Sons of Mind” as men, of human Monads, who are, in fact, “jivas” now functioning as human beings in the second solar system. It is unusual to think of such human beings as “returning nirvanis”. Those who are presently Solar Angels (and not men) were the returning nirvanis.

85. Không phải là điều bất thường khi nghĩ về “Các Con của Trí Tuệ” như là con người, những Chân thần nhân loại, vốn thực sự là những “jiva” hiện đang hoạt động như những con người trong hệ mặt trời thứ hai. Điều không thường là nghĩ về những con người như vậy như những “nirvani quay trở lại”. Những vị hiện đang là Thái dương Thiên Thần (chứ không phải con người) mới là những nirvani quay trở lại.

They have achieved mind, and need love.

Họ đã đạt được trí tuệ, và cần bác ái.

86. If the Sons of Mind are the Solar Angels, they have certainly developed love, perhaps on Sirius or within the Sirian System, between logoic manifestations. The extent, however, to which they may yet develop love may be considerable.

86. Nếu Các Con của Trí Tuệ là các Thái dương Thiên Thần, thì chắc chắn họ đã phát triển bác ái, có lẽ trên Sirius hoặc trong Hệ Sirius, giữa các lần biểu hiện logoic. Tuy nhiên, mức độ mà họ còn có thể phát triển bác ái nữa có thể là rất đáng kể.

87. As for present humanity, it has not yet achieved mind in any fulness. The Solar Angels have. So men are still developing mind whereas the Solar Angels, replete with highly developed manas, are cultivating the fulness of love and are already, it would seem, far advanced in the process.

87. Còn đối với nhân loại hiện nay, nhân loại vẫn chưa đạt được trí tuệ một cách viên mãn. Các Thái dương Thiên Thần thì đã đạt được. Vì vậy con người vẫn đang phát triển trí tuệ, trong khi các Thái dương Thiên Thần, vốn tràn đầy manas phát triển cao, đang vun bồi sự viên mãn của bác ái và dường như đã tiến rất xa trong tiến trình ấy.

Some few,

Một số ít,

88. Should these few, who are now black magicians, have been present Solar Angels as well? The implication is there because many others temporally associated with them in that former time, are now Solar Angels!

88. Phải chăng số ít này, hiện nay là các nhà hắc thuật, cũng đã từng là các Thái dương Thiên Thần hiện nay? Hàm ý là như vậy, bởi vì nhiều vị khác từng gắn bó về mặt thời gian với họ trong thời kỳ trước kia ấy, nay là các Thái dương Thiên Thần!

through a mysterious cycle of events inexplainable to man in this solar system,

qua một chu kỳ biến cố huyền nhiệm không thể giải thích cho con người trong hệ mặt trời này,

89. The desire to know is piqued, but knowing is apparently impossible to us. Is it impossible even to highly advanced souls in our present solar system? Or is it only inexplicable to that being called “man”?

89. Khát vọng muốn biết bị khơi dậy, nhưng việc biết dường như là điều bất khả đối với chúng ta. Phải chăng điều đó là bất khả ngay cả đối với những linh hồn rất tiến hóa trong hệ mặt trời hiện tại của chúng ta? Hay chỉ là không thể giải thích cho hữu thể được gọi là “con người”?

repudiated opportunity

khước từ cơ hội

90. This required a conscious act of will. For individualized beings, will is free.

90. Điều này đòi hỏi một hành vi ý chí có ý thức. Đối với những hữu thể đã biệt ngã hóa, ý chí là tự do.

91. If Saturn is the ‘God of Opportunity’, it may be that they rejected Saturn’s offering. Strangely, however, these beings are today very much under the ‘lower’ Saturnian vibration.

91. Nếu Sao Thổ là ‘Thượng đế của Cơ Hội’, thì có thể họ đã từ chối sự hiến tặng của Sao Thổ. Tuy nhiên, điều lạ là ngày nay những hữu thể này lại chịu ảnh hưởng rất mạnh của rung động Saturn ‘thấp’.

and linked themselves

và tự nối kết mình

92. An act of attachment…

92. Một hành vi gắn chặt…

with that great deva existence which is the impulse [Page 1126] of the dense physical, and they cannot loose themselves.

với hiện hữu thiên thần vĩ đại là xung lực [Page 1126] của cõi hồng trần đậm đặc, và họ không thể tự giải thoát mình.

93. This deva existence, must be stupendous and perhaps of extra-systemic scope.

93. Hiện hữu thiên thần này hẳn phải vô cùng vĩ đại và có lẽ có phạm vi ngoài-hệ-thống.

94. If Mahat is responsible for the dense physical plane, then this great deva existence must be linked to Mahat and its universal source, for of the source of Mahat is has been said above:

94. Nếu Mahat chịu trách nhiệm về cõi hồng trần đậm đặc, thì hiện hữu thiên thần vĩ đại này hẳn phải được nối kết với Mahat và nguồn gốc vũ trụ của nó, vì về nguồn gốc của Mahat, ở trên đã nói rằng:

it is the focal point where is generated that type of energy which makes possible the dense physical manifestation of Gods and men

đó là tiêu điểm nơi phát sinh loại năng lượng làm cho sự biểu hiện hồng trần đậm đặc của các Thượng đế và những người nam và nữ trở nên khả hữu

95. Since the great deva existence is “the impulse of the dense physical” the link between it and the source of Mahat is confirmed.

95. Vì hiện hữu thiên thần vĩ đại là “xung lực của cõi hồng trần đậm đặc”, nên mối nối kết giữa nó và nguồn gốc của Mahat được xác nhận.

Their destination, as well as his, is hidden in the plans of the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID,

Đích đến của họ, cũng như của y, được che giấu trong các kế hoạch của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ,

96. If the “One About Whom Naught May Be Said” is that “One About Whom Naught May Be Said” which is usually discussed, this whole matter takes on a intra-galactic context rather than an extra-galactic one.

96. Nếu “Đấng Bất Khả Tư Nghị” là “Đấng Bất Khả Tư Nghị” thường được bàn đến, thì toàn bộ vấn đề này mang bối cảnh nội thiên hà hơn là ngoài thiên hà.

97. So, it is being said, probably, that the local “One About Whom Naught May Be Said” knows the destiny of the black magicians who have linked themselves to the great deva existence above referenced.

97. Vì vậy, có lẽ điều đang được nói là “Đấng Bất Khả Tư Nghị” cục bộ biết số phận của các nhà hắc thuật đã tự nối kết với hiện hữu thiên thần vĩ đại được nhắc đến ở trên.

98. We note that all letters in the “ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID” are capitalized. Does this indicate an even greater OAWNMBS than the “One About Whom Naught May Be Said”?

98. Chúng ta lưu ý rằng mọi chữ trong “ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ” đều được viết hoa. Điều này có chỉ ra một OAWNMBS còn vĩ đại hơn cả “Đấng Bất Khả Tư Nghị” hay không?

and in this solar system there is no hope for them.

và trong hệ mặt trời này không có hy vọng nào cho họ.

99. Since they have repudiated the main principle of this solar system (the Love-Wisdom Principle) they are cast off and cannot be integrated into the pattern in process of creation during this solar system.

99. Vì họ đã khước từ nguyên lý chính của hệ mặt trời này (Nguyên lý Bác Ái – Minh Triết), nên họ bị loại bỏ và không thể được tích hợp vào mô hình đang trong tiến trình sáng tạo trong suốt hệ mặt trời này.

Fortunately, they are little likely to make themselves known to average man;

May thay, họ rất ít có khả năng tự làm cho mình được người thường biết đến;

100.  Presumably, this means the average disciple as well.

100.  Có lẽ điều này cũng có nghĩa là người đệ tử trung bình nữa.

it is the Adepts of the Good Law Who meet them the most often.

chính các chân sư của Chánh đạo là những vị gặp họ thường xuyên nhất.

101.  Master M. has said of the Members of the Hierarchy that the “daggers of Satan are aimed at our backs”.

101.  Chân sư M. đã nói về các Thành viên của Thánh Đoàn rằng “những lưỡi dao găm của Satan đang nhắm vào lưng chúng ta”.

102.  For each level of attainment along the White Path there is generated a counterforce along the Path of Black Occultism.

102.  Với mỗi cấp độ thành tựu trên chánh đạo, một phản lực tương ứng được phát sinh trên Con Đường của Huyền Bí Học Hắc Đạo.

103.  Does this opposition rise to the very heights of the Universe? That is a question which those in this solar system are ill-equipped to answer.

103.  Sự đối kháng này có vươn lên đến chính những đỉnh cao của Vũ trụ hay không? Đó là một câu hỏi mà những người trong hệ mặt trời này không đủ khả năng để trả lời.

The subject is most intricate,

Chủ đề này vô cùng phức tạp,

104.  If Master DK uses the qualifier “most” we can be assured that solutions to problems related to this subject are inaccessible to us as disciples.

104.  Nếu Chân sư DK dùng từ hạn định “vô cùng”, chúng ta có thể chắc rằng những lời giải cho các vấn đề liên quan đến chủ đề này là điều chúng ta, với tư cách đệ tử, không thể tiếp cận được.

but some light may come, if we remember that manas on the mental plane is found in two expressions:—the mental unit on the form levels and the manasic permanent atom on the formless planes. These two types of manas may be regarded as embodying the qualities of the two kinds, white and black.

nhưng một ít ánh sáng có thể đến nếu chúng ta nhớ rằng manas trên cõi trí được tìm thấy trong hai biểu hiện:—đơn vị hạ trí trên các cấp độ hình tướng và nguyên tử trường tồn manas trên các cõi vô tướng. Hai loại manas này có thể được xem như hiện thân cho phẩm tính của hai loại, trắng và đen.

105.  We have quite an amazing statement here. The mental unit can be associated with the black, retrogressive stream of energy. The manasic permanent atom (even though accessible to the black initiates) is to be understood as found upon the white stream.

105.  Ở đây chúng ta có một phát biểu thật đáng kinh ngạc. Đơn vị hạ trí có thể được liên kết với dòng năng lượng đen, thoái hóa. Nguyên tử trường tồn manas (dù các điểm đạo đồ hắc đạo cũng có thể tiếp cận) phải được hiểu là nằm trên dòng trắng.

106.  We are to understand that the practices of the black magician are relatively concrete.

106.  Chúng ta phải hiểu rằng các thực hành của nhà hắc thuật tương đối cụ thể.

The mental unit or the mind aspect of a man, for instance, is after all but the sixth sense, and has to be transcended by the higher mind and the intuition.

Chẳng hạn, đơn vị hạ trí hay phương diện trí tuệ của một con người, rốt cuộc chỉ là giác quan thứ sáu, và phải được vượt qua bởi thượng trí và trực giác.

107.  Here is a definite linking of the mental unit with the sixth sense—the common sense. This unit is, of course, of great value to progressing man—at least up to a point.

107.  Ở đây có một sự nối kết rõ rệt giữa đơn vị hạ trí và giác quan thứ sáu—thường thức. Dĩ nhiên, đơn vị này có giá trị lớn đối với con người đang tiến bộ—ít nhất là đến một mức nào đó.

108.  The seven must transcend the six. The “esoteric sense” must transcend the “common sense”/

108.  Bảy phải vượt qua sáu. “Giác quan huyền bí” phải vượt qua “thường thức”/

The black brother carries the evolution of the senses on to a stage inconceivable to man now and this sixth mahatic sense is of vaster extent and service to them than it ever is to the white Adept.

Huynh đệ bóng tối đưa sự tiến hoá của các giác quan đến một giai đoạn mà con người hiện nay không thể hình dung nổigiác quan mahatic thứ sáu này có phạm vi rộng lớn hơn và hữu dụng đối với họ hơn nhiều so với đối với chân sư chánh đạo.

109.  Here we are told of the mysterious achievement of the black brother.

109.  Ở đây chúng ta được cho biết về thành tựu huyền nhiệm của huynh đệ bóng tối.

110.  The sixth mahatic sense is related to the sixth or common sense cultivated by man.

110.  Giác quan mahatic thứ sáu có liên hệ với giác quan thứ sáu hay thường thức được con người vun bồi.

111.  This sixth sense is necessary to the black magician because the intuition (as the member of the White Lodge understands it) is inaccessible to him. Buddhi (so closely related to the divine principle under cultivation in this solar system) as the source of intuition, is inaccessible to the black brother.

111.  Giác quan thứ sáu này là cần thiết đối với nhà hắc thuật vì trực giác (theo cách thành viên của Thánh đoàn hiểu) là điều y không thể tiếp cận. Bồ đề, vốn liên hệ rất mật thiết với nguyên lý thiêng liêng đang được vun bồi trong hệ mặt trời này, với tư cách là nguồn của trực giác, là điều huynh đệ bóng tối không thể tiếp cận được.

Therefore, it will be apparent that for a long cycle of time, the black magician can persist and develop his powers because one-third of the force of the egoic lotus is his and he knows well how to utilise it to the best advantage.

Do đó, hiển nhiên là trong một chu kỳ thời gian dài, nhà hắc thuật có thể tiếp tục tồn tại và phát triển các quyền năng của y bởi vì một phần ba mãnh lực của Hoa Sen Chân Ngã là của y và y biết rõ cách sử dụng nó sao cho có lợi nhất.

112.  We have to contrast this thought with the idea that the knowledge petal of both the love tier and the sacrifice tier is not available to the black magician.

112.  Chúng ta phải đối chiếu tư tưởng này với ý niệm rằng cánh hoa tri thức của cả tầng bác ái lẫn tầng hi sinh đều không sẵn dùng cho nhà hắc thuật.

113.  That part of the force of the egoic lotus which is available to him must stem from the knowledge petals, with some contact with the manasic permanent atom.

113.  Phần mãnh lực của Hoa Sen Chân Ngã mà y có thể sử dụng phải xuất phát từ các cánh hoa tri thức, cùng với một ít tiếp xúc với Nguyên tử trường tồn manas.

He builds also an antaskarana,

Y cũng xây dựng một antaskarana,

114.  Otherwise he could never develop his powers systemically and extra-systemically.

114.  Nếu không, y sẽ không bao giờ có thể phát triển các quyền năng của mình một cách có hệ thống và ngoài hệ thống.

but of quality and objective different to that of the student of the white magic. It is called “the path of manasic evil,” and bridges a gap between the mental unit of the magician concerned, and certain correspondences on mental levels in the vehicles of the devas of that plane.

nhưng có phẩm tính và mục tiêu khác với của đạo sinh Chánh Thuật. Nó được gọi là “con đường của ác manas”, và bắc qua một khoảng cách giữa đơn vị hạ trí của nhà huyền thuật liên hệ, và một số tương ứng nào đó trên các cấp độ trí tuệ trong các vận cụ của các thiên thần của cõi ấy.

115.  This is a fascinating piece of occultism. For the true disciples of the White Brothers, the antahkarana first contacts the manasic permanent atom and then the other permanent atoms in the spiritual triad and finally the Monad itself.

115.  Đây là một đoạn huyền bí học thật hấp dẫn. Đối với các đệ tử chân chính của Huynh đệ Đoàn Chánh đạo, antahkarana trước hết tiếp xúc với Nguyên tử trường tồn manas, rồi đến các nguyên tử trường tồn khác trong Tam nguyên tinh thần, và cuối cùng là chính chân thần.

116.  For the black brother, the beginning of the antahkarana is the same (the mental unit).

116.  Đối với huynh đệ bóng tối, điểm khởi đầu của antahkarana cũng giống như vậy (đơn vị hạ trí).

117.  Are the “mental levels” referenced those of the lower mental plane or of the higher mental plane? Since the development is along the line of Mahat, and since the black magician has access to the manasic permanent atom, we cannot dismiss the idea that the antahkaranic link may be to certain devas of the higher mental plane, but there is no certainty.

117.  Các “cấp độ trí tuệ” được nhắc đến ở đây là của cõi hạ trí hay của Cõi thượng trí? Vì sự phát triển diễn ra theo đường Mahat, và vì nhà hắc thuật có quyền tiếp cận Nguyên tử trường tồn manas, chúng ta không thể bác bỏ ý tưởng rằng mối liên kết antahkarana có thể hướng đến một số thiên thần của Cõi thượng trí, nhưng không có gì chắc chắn.

118.  Given, however, the incredible cultivation of the mental unit and the of the sixth mahatic sense in the black magician, perhaps, after all, the devas into which the black antahkarana is built are to be found upon the lower mental plane.

118.  Tuy nhiên, xét đến sự trau dồi phi thường của đơn vị hạ trí và của giác quan mahatic thứ sáu nơi nhà hắc thuật, có lẽ rốt cuộc các thiên thần mà antahkarana đen được xây vào phải được tìm thấy trên cõi hạ trí.

119.  The link built is, therefore, not to his own deeper and higher nature but into the deva kingdom. This is literally a ‘spiritual eccentricity’—the black magician flees his own center.

119.  Vì vậy, mối liên kết được xây dựng không phải với bản chất sâu xa và cao hơn của chính y mà là đi vào giới thiên thần. Điều này theo nghĩa đen là một “sự lệch tâm tinh thần” — nhà hắc thuật chạy trốn khỏi chính trung tâm của mình.

Through this medium, and through identification with the devas, he can escape from the three worlds to spheres of evil incomprehensible to us.

Qua trung gian này, và qua sự đồng hoá với các thiên thần, y có thể thoát khỏi ba cõi giới để đến những khối cầu của điều ác mà chúng ta không thể hiểu nổi.

120.  This is another extraordinary statement. So much depends upon what is meant by “the three worlds”. From the solar logoic point of view, the higher mental plane is included. From the point of view of the Planetary Logos, the higher mental plane is excluded.

120.  Đây là một phát biểu phi thường khác. Rất nhiều điều tùy thuộc vào ý nghĩa của “ba cõi giới”. Theo quan điểm của Thái dương Thượng đế, Cõi thượng trí được bao gồm. Theo quan điểm của Hành Tinh Thượng đế, Cõi thượng trí bị loại ra.

121.  The point to be grasped is that the black magician identifies with the devas and not with the normal path with which human beings identify—that of the Heavenly Man and of the Grand Heavenly Man.

121.  Điểm cần nắm bắt là nhà hắc thuật đồng hoá với các thiên thần chứ không đồng hoá với con đường bình thường mà con người đồng hoá — tức con đường của Đấng Thiên Nhân và của Đại Đấng Thiên Nhân.

122.  The escape of the black magicians must minimally lead to the cosmic astral plane, but does it include the cosmic ethers?

122.  Sự thoát đi của các nhà hắc thuật ít nhất phải dẫn đến cõi cảm dục vũ trụ, nhưng liệu nó có bao gồm các cõi dĩ thái vũ trụ hay không?

The point to be remembered here is that the black magician remains ever a prisoner; he cannot escape from substance and from form.

Điểm cần ghi nhớ ở đây là nhà hắc thuật mãi mãi vẫn là một tù nhân; y không thể thoát khỏi chất liệu và khỏi hình tướng.

123.  Thus he is subject to severe limitation. He lives under the influence of the lower aspect of Saturn when confined to this solar system. Perhaps, when he penetrates beyond it, he is subject to a higher correspondence of Saturn.

123.  Do đó y chịu sự giới hạn nghiêm ngặt. Y sống dưới ảnh hưởng của phương diện thấp của Sao Thổ khi bị giam trong hệ mặt trời này. Có lẽ, khi y xuyên vượt ra ngoài nó, y chịu sự chi phối của một tương ứng cao hơn của Sao Thổ.

There is no need to enlarge further on this subject.

Không cần bàn rộng thêm về đề tài này.

124.  DK has given us more than has ever been given elsewhere. What He has given almost exceeds our need to know. Perhaps it does.

124.  Chân sư DK đã cho chúng ta nhiều hơn bất cứ nơi nào khác từng cho. Điều Ngài đã ban ra gần như vượt quá nhu cầu hiểu biết của chúng ta. Có lẽ quả thật là như vậy.

I would like to enumerate the lines of alignment of the [Page 1127] third group which eventually transcends the other two, and effects the final illumination and liberation of the man.

Tôi muốn liệt kê các đường chỉnh hợp của [Page 1127] nhóm thứ ba, nhóm rốt cuộc vượt lên trên hai nhóm kia và tạo ra sự soi sáng cùng giải thoát tối hậu của con người.

125.  We remember that only two lines have been thus far given—the manasic/mahatic and the buddhic. Rightly aspiring man is clearly tending towards the buddhic line.

125.  Chúng ta nhớ rằng cho đến nay chỉ mới nêu ra hai đường — đường manasic/mahatic và đường Bồ đề. Con người chí nguyện đúng đắn rõ ràng đang hướng về đường Bồ đề.

Group III.

Nhóm III.

1. The Sacrifice Petals.

1. Các cánh hoa hi sinh.

2. The sacrifice petals in the two outer groups.

2. Các cánh hoa hi sinh trong hai nhóm bên ngoài.

126.  The conduit for sacrifice runs through the two outer circles. There are five sacrifice petals in all. While in the main body of the egoic lotus there are nine petals (exclusive of the innermost three), there are really fifteen petals when the petals are associated with the aspects they represent. Obviously, certain petals do double service.

126.  Ống dẫn cho sự hi sinh chạy qua hai vòng ngoài. Tổng cộng có năm cánh hoa hi sinh. Trong khi ở thân chính của Hoa Sen Chân Ngã có chín cánh hoa (không kể ba cánh trong cùng), thì thực ra có mười lăm cánh hoa khi các cánh hoa được liên kết với các phương diện mà chúng biểu hiện. Hiển nhiên, một số cánh hoa đảm nhiệm chức năng kép.

3. The three major centres in each of the three planes of the three worlds, producing thus absorption of the lower four centres on each plane.

3. Ba trung tâm chính trong mỗi cõi của ba cõi giới, nhờ đó tạo ra sự hấp thu bốn trung tâm thấp trên mỗi cõi.

127.  On the etheric plane and astral plane, there is a head, heart and throat center. But what can we say of the mental plane? Thus, far, on the higher mental plane, there is no head, heart and throat center, unless we think of the three tiers as substituting for these three. This is reasonable.

127.  Trên cõi dĩ thái và cõi cảm dục, có một trung tâm đầu, tim và cổ họng. Nhưng chúng ta có thể nói gì về cõi trí? Cho đến nay, trên Cõi thượng trí, không có trung tâm đầu, tim và cổ họng, trừ phi chúng ta xem ba tầng như thay thế cho ba trung tâm này. Điều này là hợp lý.

128.  From this point of view, the synthesis petals and “Jewel” would relate to the innermost structure of the head center—the twelve petalled major center in the head center and the “Jewel” in the midst of the crown.

128.  Theo quan điểm này, các cánh hoa tổng hợp và “Ngọc” sẽ liên hệ với cấu trúc trong cùng của trung tâm đầu — trung tâm chính mười hai cánh hoa trong trung tâm đầu và “Ngọc” ở giữa vương miện.

4. The head centre, or the thousand-petalled lotus.

4. Trung tâm đầu, hay hoa sen ngàn cánh.

129.  It would seem that the head center would also be listed under point “3.”.

129.  Dường như trung tâm đầu cũng phải được liệt kê dưới điểm “3”.

5. The pineal gland, producing the vivification and irradiation of the entire lower nature.

5. Tuyến tùng, tạo ra sự tiếp sinh lực và sự chiếu xạ của toàn bộ bản chất thấp.

130.  Here we have a description of the pineal gland which is arresting. Without the pineal gland there is no vivification and irradiation of the lower nature. The pineal gland is the physical organ of the Ego.

130.  Ở đây chúng ta có một mô tả đáng chú ý về tuyến tùng. Không có tuyến tùng thì không có sự tiếp sinh lực và sự chiếu xạ của bản chất thấp. Tuyến tùng là cơ quan hồng trần của chân ngã.

131.  Of course, the real source of the vivification and irradiation of the entire lower nature is the Monad itself and the pineal gland is presumably the physical organ not only of the soul but of the Monad, just as the soul (which stimulates the pineal gland) is the instrument of the Monad.

131.  Dĩ nhiên, nguồn thực sự của sự tiếp sinh lực và sự chiếu xạ của toàn bộ bản chất thấp là chính chân thần, và tuyến tùng hẳn là cơ quan hồng trần không chỉ của linh hồn mà còn của chân thần, cũng như linh hồn (vốn kích thích tuyến tùng) là công cụ của chân thần.

These three groups of forces in man, when synthesised, produce eventually that perfect co-ordination and adaptation to all conditions, forms and circumstances which eventuate in the escape of the liberated vital spark.

Ba nhóm mãnh lực này trong con người, khi được tổng hợp, rốt cuộc tạo ra sự phối hợp hoàn hảo và sự thích ứng với mọi điều kiện, hình tướng và hoàn cảnh, đưa đến sự thoát ra của tia lửa sinh lực đã được giải thoát.

132.  From one perspective we can consider this escape as occurring at the fourth initiation, but this is only the first phase of escape.

132.  Theo một góc nhìn, chúng ta có thể xem sự thoát ra này xảy ra vào lần điểm đạo thứ tư, nhưng đây chỉ là giai đoạn đầu của sự thoát ra.

133.  From another perspective, the escape can be conceived as occurring at the seventh initiation, when the “vital spark” or “volatile essence” escapes from the monadic vehicle altogether and finds its way onto the logoic plane.

133.  Theo một góc nhìn khác, sự thoát ra có thể được quan niệm là xảy ra vào lần điểm đạo thứ bảy, khi “tia lửa sinh lực” hay “tinh chất dễ bay” thoát hẳn khỏi vận cụ chân thần và tìm đường lên cõi logoi.

134.  The Buddha and the Christ have, it seems, made this escape—at least partially.

134.  Dường như Đức Phật và Đức Christ đã thực hiện sự thoát ra này — ít nhất là một phần.

This is technically accomplished when the “bud” opens,

Về mặt kỹ thuật, điều này được hoàn thành khi “nụ” mở ra,

135.  The opening of the bud occurs after the third initiation. The Hierophant stimulates or works with monadic energy at and following the third initiation.

135.  Sự mở ra của nụ xảy ra sau lần điểm đạo thứ ba. Đấng Điểm đạo kích thích hoặc làm việc với năng lượng chân thần vào và sau lần điểm đạo thứ ba.

136.  Yet the true first stage of the escape of the “volatile essence” cannot occur before the fourth degree.

136.  Tuy nhiên, giai đoạn đầu đích thực của sự thoát ra của “tinh chất dễ bay” không thể xảy ra trước cấp thứ tư.

and it becomes possible for the Hierophant at initiation to liberate the energy of the Monad,

và điều đó khiến cho Đấng Điểm đạo trong lúc điểm đạo có thể giải phóng năng lượng của chân thần,

137.  Via the third type of alignment given…

137.  Qua loại chỉnh hợp thứ ba đã được nêu…

138.  Is the energy liberated to descend into the egoic lotus and the personality, or is the vital spark encapsulated within the “Jewel in the Lotus” liberated to ascend towards the spiritual triad. If we are speaking or the third initiation, the first option seems more reasonable as the volatile essence in the “Jewel in the Lotus” cannot be liberated from the egoic lotus until the fourth initiation is taken.

138.  Năng lượng được giải phóng để đi xuống Hoa Sen Chân Ngã và phàm ngã, hay tia lửa sinh lực được bao bọc trong “Ngọc trong Hoa Sen” được giải phóng để đi lên hướng về Tam nguyên tinh thần? Nếu chúng ta đang nói về lần điểm đạo thứ ba, phương án thứ nhất có vẻ hợp lý hơn, vì tinh chất dễ bay trong “Ngọc trong Hoa Sen” không thể được giải phóng khỏi Hoa Sen Chân Ngã cho đến khi lần điểm đạo thứ tư được tiếp nhận.

and to direct that energy

và định hướng năng lượng ấy

139.  Monadic energy…

139.  Năng lượng chân thần…

(through the agency of the Rod) so that eventually it circulates free and untrammelled through every part of the lower threefold manifestation.

(qua tác động của Thần Trượng Điểm đạo) để rồi rốt cuộc nó lưu chuyển tự do và không bị ngăn trở qua mọi phần của biểu hiện tam phân thấp.

140.  We are speaking of the free circulation of monadic energy through every aspect of the lower threefold manifestation. The Rod of Power assists in this liberation.

140.  Chúng ta đang nói đến sự lưu chuyển tự do của năng lượng chân thần qua mọi phương diện của biểu hiện tam phân thấp. Thần Trượng Quyền Năng hỗ trợ sự giải phóng này.

141.  Here it seems confirmed that monadic power is liberated to circulate throughout the lower threefold manifestation. When the process begins, the monadic energy encased within the “Jewel in the Lotus” is not liberated from the egoic lotus. Only later at the fourth degree is this so.

141.  Ở đây dường như được xác nhận rằng quyền năng chân thần được giải phóng để lưu chuyển khắp biểu hiện tam phân thấp. Khi tiến trình bắt đầu, năng lượng chân thần được bao bọc trong “Ngọc trong Hoa Sen” chưa được giải phóng khỏi Hoa Sen Chân Ngã. Chỉ về sau ở cấp thứ tư mới là như vậy.

142.  Note the word, “eventually” however, because it is not until the fifth degree that one has a perfect flow of kundalini throughout the human energy system.

142.  Tuy nhiên, hãy lưu ý từ “rốt cuộc”, vì mãi đến cấp thứ năm người ta mới có một dòng chảy kundalini hoàn hảo xuyên suốt toàn bộ hệ thống năng lượng con người.

As it circulates, it destroys by burning, for it arouses the kundalini aspect perfectly by the time the fifth Initiation is taken.

Khi nó lưu chuyển, nó hủy diệt bằng cách thiêu đốt, vì đến lúc lần Điểm đạo thứ năm được tiếp nhận, nó khơi dậy phương diện kundalini một cách hoàn hảo.

143.  We see that the arousal of the kundalini (in its final phases—its perfect arousal) depends upon the wielding of the Rod of Power. Lawfully, kundalini must rise in coordination with the liberation of the monadic energy and not independently as an artificial, hyper-stimulation of the third aspect.

143.  Chúng ta thấy rằng sự khơi dậy kundalini (trong các giai đoạn cuối cùng của nó — sự khơi dậy hoàn hảo của nó) tùy thuộc vào việc sử dụng Thần Trượng Quyền Năng. Theo quy luật, kundalini phải dâng lên phối hợp với sự giải phóng năng lượng chân thần chứ không độc lập như một sự siêu kích thích nhân tạo đối với phương diện thứ ba.

144.  By the time of the perfect arousal of kundalini, there is no causal body in the energy system.

144.  Vào lúc kundalini được khơi dậy hoàn hảo, không còn thể nguyên nhân trong hệ thống năng lượng nữa.

The destroyer aspect becomes dominated, and the form is “burnt upon the altar.”

Phương diện hủy diệt trở nên chi phối, và hình tướng bị “thiêu trên bàn thờ”.

145.  Are we speaking of the domination of the destroyer aspect of matter? There is such an aspect and it was this to which Hitler and His group responded.

145.  Chúng ta có đang nói về sự thống trị của phương diện hủy diệt của vật chất không? Quả thật một phương diện như thế, và chính nó là điều Hitler và nhóm của ông đã đáp ứng.

146.  In a certain sense, it seems that we are speaking of the dominating power of the destroyer aspect.

146.  Theo một nghĩa nào đó, dường như chúng ta đang nói về quyền năng chi phối của phương diện hủy diệt.

147.  In any case, fire descends from heaven, and all that is obstructive in the lower form is consigned to the flames so that monadic energy may freely circulate through all aspects of the man and eventually be liberated into the spiritual triad and finally into the Monad on the monadic plane.

147.  Dù sao đi nữa, lửa giáng xuống từ trời, và mọi điều gây cản trở trong hình tướng thấp đều bị phó vào ngọn lửa để năng lượng chân thần có thể lưu chuyển tự do qua mọi phương diện của con người và rốt cuộc được giải phóng vào Tam nguyên tinh thần, rồi cuối cùng vào chân thần trên cõi chân thần.

These ideas can also be studied in their larger aspect; a clue to the mystery of cosmic evil may be found in the difference existing between the sacred and non-sacred planets, and in the purpose and place, hitherto unrecognised, of the lives of the informing existences of the many planets and planetoids in the solar system. Some are purely mahatic or of the third Aspect, dominated by the devas.

Những ý tưởng này cũng có thể được nghiên cứu trong phương diện lớn hơn của chúng; một đầu mối cho huyền nhiệm của điều ác vũ trụ có thể được tìm thấy trong sự khác biệt hiện hữu giữa các hành tinh thiêng liêng và không thiêng liêng, và trong mục đích cùng vị trí, từ trước đến nay chưa được nhận biết, của các sự sống của những thực thể phú linh nơi nhiều hành tinh và tiểu hành tinh trong hệ mặt trời. Một số hoàn toàn là mahatic hay thuộc Phương diện thứ ba, bị các thiên thần chi phối.

148.  A tremendous hint is here given. Various references tell us that the Solar Logos has a mental unit just as a man has. Of course, the Solar Logos also has a manasic permanent atom.

148.  Ở đây đã đưa ra một gợi ý vô cùng to lớn. Nhiều chỗ tham chiếu cho chúng ta biết rằng Thái dương Thượng đế có một đơn vị hạ trí cũng như con người có. Dĩ nhiên, Thái dương Thượng đế cũng có một Nguyên tử trường tồn manas.

149.  There is a correlation between the mental unit, certain devas, Mahat and cosmic evil.

149.  Có một mối tương quan giữa đơn vị hạ trí, một số thiên thần, Mahat và điều ác vũ trụ.

150.  There is a war on Earth (one of the non-sacred planets) to wrest control from the devas and thus from the third aspect of divinity.

150.  Có một cuộc chiến trên Trái Đất (một trong những hành tinh không thiêng liêng) nhằm giành quyền kiểm soát khỏi các thiên thần và do đó khỏi phương diện thứ ba của thiên tính.

151.  We do live in a largely devic solar system, and this, in itself, is not evil. But the devas which are intended for prominence in our solar system are of the solar variety and not of the retrogressive ‘lunar’ variety.

151.  Quả thật chúng ta đang sống trong một hệ mặt trời phần lớn mang tính thiên thần, và tự nó điều này không phải là ác. Nhưng các thiên thần được dự định giữ vai trò nổi bật trong hệ mặt trời của chúng ta thuộc loại thái dương chứ không phải loại “thái âm” thoái hóa.

152.  As our Solar Logos undergoes the third cosmic initiation, the power of the solar logoic will begin to be liberated and as the Logos moves towards His fifth initiation, the analogous liberative burning will occur. Solar logoic kundalini has not yet been fully and liberatively awakened and released.

152.  Khi Thái dương Thượng đế của chúng ta trải qua lần điểm đạo vũ trụ thứ ba, quyền năng của ý chí thái dương logoi sẽ bắt đầu được giải phóng, và khi Thượng đế tiến đến lần điểm đạo thứ năm của Ngài, sự thiêu đốt giải phóng tương tự sẽ xảy ra. Kundalini thái dương logoi vẫn chưa được đánh thức và giải phóng một cách đầy đủ và giải thoát.

Others (of which the sacred planets are examples) are controlled by the second Aspect,

Những hành tinh khác (mà các hành tinh thiêng liêng là ví dụ) được kiểm soát bởi Phương diện thứ hai,

153.  On Earth, the war is between the second and third aspects, between the manasic permanent atom and the mental unit.

153.  Trên Trái Đất, cuộc chiến là giữa phương diện thứ hai và thứ ba, giữa Nguyên tử trường tồn manas và đơn vị hạ trí.

154.  Venus is one of the sacred planets on which the second aspect of divinity is definitely dominating. An earlier “war” on that planet (of which our earthly “war” is a present reflection) was won.

154.  Sao Kim là một trong những hành tinh thiêng liêng mà trên đó phương diện thứ hai của thiên tính đang chi phối một cách rõ rệt. Một “cuộc chiến” trước kia trên hành tinh ấy (mà “cuộc chiến” trên địa cầu của chúng ta hiện nay là một phản ánh) đã được thắng.

and that second aspect will work through unconquerably into manifestation.

và phương diện thứ hai ấy sẽ tiến vào biểu hiện một cách không gì chinh phục nổi.

155.  There is no resisting the triumph of the second aspect of divinity. We are in the midst of the struggle now and what happens with the planetary scheme of Earth has important solar systemic implications for the successful release of the Solar Logos.

155.  Không thể cưỡng lại sự toàn thắng của phương diện thứ hai của thiên tính. Hiện nay chúng ta đang ở giữa cuộc đấu tranh, và điều xảy ra với hệ hành tinh của Trái Đất có những hàm ý quan trọng đối với hệ mặt trời trong việc giải phóng thành công Thái dương Thượng đế.

156.  It seems to be inferred that on a number of these sacred planets the second aspect of divinity has not yet conquered entirely.

156.  Dường như có thể suy ra rằng trên một số hành tinh thiêng liêng này, phương diện thứ hai của thiên tính vẫn chưa hoàn toàn chinh phục.

[Page 1128] A few, like our Earth planet, are battlegrounds,

[Page 1128] Một số ít, như hành tinh Trái Đất của chúng ta, là các chiến trường,

157.  Is Mars a battleground or destined to be one? What about Pluto?

157.  Sao Hỏa có phải là một chiến trường hay được định sẽ là một chiến trường không? Còn Sao Diêm Vương thì sao?

and the two Aspects are in collision, with the indication of the eventual triumph of the “white” magic.

và hai Phương diện đang va chạm, với dấu hiệu về sự toàn thắng rốt cuộc của huyền thuật “trắng”.

158.  There is already an “indication” of impending third cosmic initiation of our Solar Logos will produce results in our solar system akin to those to be produced within our Earth-scheme when the Planetary Logos of Earth takes His next major initiation and the “Judgment Day” occurs.

158.  Đã có một “dấu hiệu” cho thấy lần điểm đạo vũ trụ thứ ba sắp đến của Thái dương Thượng đế của chúng ta sẽ tạo ra trong hệ mặt trời những kết quả tương tự như những gì sẽ được tạo ra trong hệ Trái Đất của chúng ta khi Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất tiếp nhận lần điểm đạo lớn kế tiếp của Ngài và “Ngày Phán Xét” xảy ra.

159.  One of the major battles between white and black magic will occur during the seventh ray Age of Aquarius. Many manasic magicians will return and their work will have to be balanced by those who have attained in the field of white magic.

159.  Một trong những trận chiến lớn giữa Chánh Thuật và Hắc thuật sẽ xảy ra trong Kỷ nguyên Bảo Bình cung bảy. Nhiều nhà huyền thuật manas sẽ trở lại, và công việc của họ sẽ phải được quân bình bởi những người đã thành tựu trong lĩnh vực Chánh Thuật.



[1] đánh bạo (làm một cái gì; nêu ra ý kiến gì)

Leave a Comment

Scroll to Top