Bình Giảng Lửa Vũ Trụ – S9S9 (1156-1166)

📘 Sách: Bình Giảng Luận về Lửa Vũ Trụ – S9 – Tác giả: Michael D. Robbins

S9S9 Part I

TCF 1156-1160

TCF 1155-1160

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớnvăn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCFđược đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, vì lợi ích của tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

4. Relation between the Throat, Alta Major and Mental Centres.

4. Mối liên hệ giữa các trung tâm cổ họng, alta major và trí tuệ.

1. DK now takes up a subject of great practical interest.

1. Giờ đây Chân sư DK đề cập đến một chủ đề có mối quan tâm thực tiễn lớn.

2. We note that he will be speaking of the “mental centers” about which practically nothing is said in His voluminous Teaching. They are, however, illustrated in TCF, Chart VIII, p. 817.

2. Chúng ta lưu ý rằng Ngài sẽ nói về các “trung tâm trí tuệ”, về chúng hầu như không có gì được nói đến trong Giáo Huấn đồ sộ của Ngài. Tuy nhiên, chúng được minh họa trong TCF, Biểu đồ VIII, tr. 817.

3. We can judge by their association that the alta major center is related to the mental centers. There are four mental centers (on the lower mental plane) and the alta major center is the synthesizers of four head centers.

3. Chúng ta có thể phán đoán qua sự liên kết của chúng rằng trung tâm alta major có liên hệ với các trung tâm trí tuệ. Có bốn trung tâm trí tuệ (trên cõi hạ trí) và trung tâm alta major là trung tâm tổng hợp của bốn trung tâm đầu.

4. We already know that the throat center is related to the mental body and to mentality in general, and, thus, it would be related to the mental centers.

4. Chúng ta đã biết rằng trung tâm cổ họng có liên hệ với thể trí và với trí tuệ nói chung, và do đó, nó sẽ có liên hệ với các trung tâm trí tuệ.

The question of the centres has always had a great deal of interest for men, and much harm has been done through the directing of attention upon the physical centres.

Vấn đề các trung tâm luôn luôn có rất nhiều sức hấp dẫn đối với những người nam và nữ, và nhiều tổn hại đã được gây ra do việc hướng sự chú ý vào các trung tâm hồng trần.

5. Human beings are still very concrete in their thinking and can relate to concretions (such as the centers, especially the physical centers) much more easily.

5. Con người vẫn còn rất cụ thể trong tư duy của mình và có thể liên hệ với những sự vật cụ thể hóa (như các trung tâm, đặc biệt là các trung tâm hồng trần) dễ dàng hơn nhiều.

6. By “physical centers” DK could mean one of two things: either the precipitations of the etheric centers, i.e., the glands; or the etheric centers, themselves, since that which is etheric is really physical.

6. Bởi “các trung tâm hồng trần”, Chân sư DK có thể muốn nói một trong hai điều: hoặc là các sự ngưng tụ của các trung tâm dĩ thái, tức là các tuyến; hoặc chính các trung tâm dĩ thái, bởi vì điều gì là dĩ thái thì thực sự là hồng trần.

Unfortunately, names have been given to the centres which have their counterparts in the physical form, and with the usual aptitude of man to identify himself with that which is tangible and physical,

Đáng tiếc thay, các tên gọi đã được đặt cho các trung tâm vốn có các đối phần của chúng trong hình thể hồng trần, và với khuynh hướng thường thấy của con người là đồng hoá mình với điều gì hữu hình và hồng trần,

7. Here, DK names the problem exactly. He seems to refer to centers (glands) in dense physical matter. Later, His use of the term “physical” is related to the etheric body.

7. Ở đây, Chân sư DK nêu đích xác vấn đề. Dường như Ngài đang nói đến các trung tâm (các tuyến) trong vật chất hồng trần đậm đặc. Về sau, cách Ngài dùng thuật ngữ “hồng trần” lại có liên hệ với thể dĩ thái.

a mass of data has accumulated which is based (not on spiritual knowledge) but on a study of the effects produced through meditation on the physical centres.

một khối lượng dữ kiện đã tích lũy, dựa không phải trên tri thức tinh thần mà trên sự nghiên cứu những hiệu quả được tạo ra qua việc tham thiền trên các trung tâm hồng trần.

8. DK is attempting to help man remove his attention from the dense and physical, i.e., from a materialistic consciousness.

8. Chân sư DK đang cố giúp con người rút sự chú ý của mình khỏi cái đậm đặc và hồng trần, tức là khỏi một tâm thức duy vật.

9. We are attempting to learn to live in the world of causes and not the world of effects. The dense physical plane is strictly a world of effects.

9. Chúng ta đang cố học cách sống trong thế giới của các nguyên nhân chứ không phải thế giới của các hiệu quả. Cõi hồng trần đậm đặc hoàn toàn là một thế giới của các hiệu quả.

Such meditation is only safely undertaken when a man is no longer polarised in the lower personal self but views all things from the standpoint of the Ego with whom he is completely identified.

Việc tham thiền như thế chỉ có thể được thực hiện một cách an toàn khi con người không còn phân cực trong phàm ngã thấp nữa mà nhìn mọi sự từ quan điểm của chân ngã mà y đã hoàn toàn đồng hoá với.

10. We see our objective and the attainments which are necessary if we are to safely work with the centers.

10. Chúng ta thấy mục tiêu của mình và những thành tựu cần thiết nếu chúng ta muốn làm việc với các trung tâm một cách an toàn.

11. This type of identification is much discussed but rarely achieved among the ranks of the disciples.

11. Kiểu đồng hoá này được bàn đến rất nhiều nhưng hiếm khi đạt được trong hàng ngũ các đệ tử.

12. Imagine— complete identification with the Ego!

12. Hãy hình dung— sự đồng hoá hoàn toàn với chân ngã!

When this is the case, the centres in physical matter are recognised as being simply focal points of energy located in the etheric body, and having a definite use.

Khi điều này xảy ra, các trung tâm trong vật chất hồng trần được nhận biết là chỉ đơn giản là những điểm hội tụ của năng lượng nằm trong thể dĩ thái, và có một công dụng xác định.

13. Here DK specifies that by “physical centres” He does mean etheric centers. As we have studied the last few sections of text, we have found two indications: one in which the centers are considered to be densely physical; the other in which the centers have been considered as etheric focal points.

13. Ở đây Chân sư DK xác định rằng bởi “các trung tâm hồng trần” Ngài thực sự muốn nói đến các trung tâm dĩ thái. Khi chúng ta nghiên cứu vài phần văn bản cuối cùng, chúng ta đã thấy hai dấu hiệu: một dấu hiệu trong đó các trung tâm được xem là hồng trần đậm đặc; dấu hiệu kia trong đó các trung tâm được xem là các điểm hội tụ dĩ thái.

14. Attention will be given to the etheric body during the New Age and it will be considered the true physical body. Yet, overall, the Lemurians focused their consciousnesses on the etheric-physical plane and the type of yoga they were taught focused on the uniting of these two aspects (dense and etheric) of their physical nature. Our consciousness is to be focussed much higher—preferably, before long, on the higher mental plane, and the centers in the etheric body are meant to become merely distributors of the higher energies. Our consciousness is not meant to be fixated on the physical plane—whether dense physical or etheric though there will soon arise far greater awareness of the etheric plane and its centers.

14. Trong Kỷ Nguyên Mới, sự chú ý sẽ được dành cho thể dĩ thái và nó sẽ được xem là thể hồng trần đích thực. Tuy nhiên, xét tổng quát, người Lemuria đã tập trung tâm thức của họ trên cõi dĩ thái-hồng trần và loại yoga được dạy cho họ tập trung vào việc hợp nhất hai phương diện này (đậm đặc và dĩ thái) của bản chất hồng trần của họ. Tâm thức của chúng ta phải được tập trung cao hơn nhiều—tốt nhất là chẳng bao lâu nữa, trên Cõi thượng trí, và các trung tâm trong thể dĩ thái chỉ nhằm trở thành những bộ phân phối các năng lượng cao hơn. Tâm thức của chúng ta không nhằm bị cố định trên cõi hồng trần—dù là hồng trần đậm đặc hay dĩ thái—mặc dù chẳng bao lâu nữa sẽ xuất hiện sự nhận biết lớn hơn nhiều về cõi dĩ thái và các trung tâm của nó.

This use is to act as transmitters of certain forms of energy consciously directed by the Ego or Self, with the intent of driving the physical body (which is not a principle) to fulfil egoic purpose.

Công dụng này là hoạt động như những bộ truyền dẫn của một số dạng năng lượng nhất định được chân ngã hay Bản Ngã Cao Siêu điều khiển một cách hữu thức, với ý định thúc đẩy thể xác (vốn không phải là một nguyên khí) hoàn thành mục đích chân ngã.

15. Here the intended process is clearly described. We are to regard the centers in the etheric body merely as transmitters of higher energies. Our consciousness, as souls in incarnation, is to be with the energies transmitted and with the source of those energies and not with the vehicle of transmission.

15. Ở đây tiến trình được dự định đã được mô tả rõ ràng. Chúng ta phải xem các trung tâm trong thể dĩ thái chỉ đơn thuần là những bộ truyền dẫn các năng lượng cao hơn. Tâm thức của chúng ta, với tư cách các linh hồn đang nhập thể, phải ở cùng các năng lượng được truyền dẫn và cùng nguồn của các năng lượng ấy chứ không phải với vận cụ truyền dẫn.

16. In other words, we, fully identified with or as the Ego on the higher mental plane, are to use the etheric centers as means of transmission of the energies which we direct.

16. Nói cách khác, chúng ta, hoàn toàn đồng hoá với hay như chân ngã trên Cõi thượng trí, phải sử dụng các trung tâm dĩ thái như những phương tiện truyền dẫn các năng lượng mà chúng ta điều khiển.

To do this the Ego has to follow certain rules, to conform to law, and to have attained not only conscious control of the physical body, but a knowledge of the laws of energy, and of the constitution of the etheric body, and its relation to the physical.

Để làm điều này, chân ngã phải tuân theo một số quy luật, phù hợp với định luật, và phải đạt được không chỉ sự kiểm soát hữu thức đối với thể xác, mà còn cả tri thức về các định luật năng lượng, về cấu tạo của thể dĩ thái, và mối liên hệ của nó với thể hồng trần.

17. In this instance, the Ego is the ‘higher man’. We could not be speaking of necessity of the Solar Angel to follow certain rules and to conform to law, etc. The Solar Angel long ago accomplished these things.

17. Trong trường hợp này, chân ngã là “con người cao hơn”. Chúng ta không thể nói về sự cần thiết để Thái dương Thiên Thần phải tuân theo một số quy luật và phù hợp với định luật, v.v. Thái dương Thiên Thần từ lâu đã hoàn thành những điều này.

18. In this context, the term “Ego” can mean two things. The soul-in-incarnation is the Ego within the fields of the personality. This is an important realization.

18. Trong ngữ cảnh này, thuật ngữ “chân ngã” có thể mang hai nghĩa. Linh hồn đang nhập thể là chân ngã trong các trường của phàm ngã. Đây là một sự chứng nghiệm quan trọng.

19. The Ego on its own plane is the man (the ‘extension’ of the Monad) on the higher mental plane.

19. Chân ngã trên cõi riêng của nó là con người (“sự mở rộng” của chân thần) trên Cõi thượng trí.

20. We, the man, must learn to identify as the Ego and not as the personality. First we recognize ourselves as the soul-in-incarnation and, eventually, as that soul-in-incarnation disidentifies with the personality fields in which it is immersed, we, the soul-in-incarnation, learn to identify as the Ego on its own plane.

20. Chúng ta, con người, phải học cách đồng hoá như chân ngã chứ không phải như phàm ngã. Trước hết chúng ta nhận ra mình là linh hồn đang nhập thể và, cuối cùng, khi linh hồn đang nhập thể ấy tách rời khỏi các trường phàm ngã mà nó đang chìm đắm trong đó, chúng ta, linh hồn đang nhập thể, học cách đồng hoá như chân ngã trên cõi riêng của nó.

The attention of students must be called to certain fundamental facts anent the centres and thus supplement, correlate, and summarise that already given in this Treatise.

Sự chú ý của các đạo sinh phải được hướng đến một số sự kiện căn bản liên quan đến các trung tâm và nhờ đó bổ sung, tương liên và tóm lược điều đã được trình bày trong Luận này.

21. This is the requirement so that we, the man-as-Ego, can learn to control and express through our energy system.

21. Đây là yêu cầu để chúng ta, con người-như-chân ngã, có thể học cách kiểm soát và biểu lộ qua hệ thống năng lượng của mình.

That a certain amount of repetition will be necessary is of value, and the information here given and the correspondences indicated, should provide all followers of raja yoga with a basis for sane consideration, wise meditation and a fuller comprehension of the truths involved.

Việc cần có một mức độ lặp lại nhất định là điều có giá trị, và thông tin được đưa ra ở đây cùng các tương ứng được chỉ ra sẽ cung cấp cho tất cả những người theo raja yoga một nền tảng cho sự xem xét lành mạnh, sự tham thiền minh triết và sự thấu hiểu đầy đủ hơn về các chân lý liên hệ.

22. Certain additional details can be given to the practitioners of Raja Yoga to facilitate their practice.

22. Một số chi tiết bổ sung có thể được trao cho những người thực hành Raja Yoga để tạo thuận lợi cho việc thực hành của họ.

23. DK does not here mention Agni Yoga. Later in His Teaching He does. The information here imparted on the centers will also be of value in that still more advanced and inclusive form of yoga.

23. Ở đây Chân sư DK không nhắc đến Agni Yoga. Về sau trong Giáo Huấn của Ngài, Ngài có nhắc đến. Thông tin được truyền đạt ở đây về các trung tâm cũng sẽ có giá trị trong hình thức yoga còn tiến bộ và bao gồm hơn ấy.

Owing to the rapid development of the race, and the future [Page 1156] quick unfoldment of etheric vision,

Do sự phát triển nhanh chóng của nhân loại, và sự [Page 1156] khai mở nhanh chóng trong tương lai của linh thị dĩ thái,

24. DK predicted that etheric vision would unfold significantly by the end of the twentieth century and into the twenty-first.

24. Chân sư DK đã tiên đoán rằng linh thị dĩ thái sẽ khai mở đáng kể vào cuối thế kỷ hai mươi và sang thế kỷ hai mươi mốt.

the gain will be very real if occult students have at least a theoretical concept of the nature of that which will be seen relatively so soon.

lợi ích sẽ rất thực tế nếu các đạo sinh huyền bí học có ít nhất một khái niệm lý thuyết về bản chất của điều sẽ được thấy trong một thời gian tương đối gần.

25. This book was written in the early to middle 1920’s. A theoretical basis for understanding newly emerging energies is always of value if those energies are to be handled wisely.

25. Quyển sách này được viết vào đầu đến giữa thập niên 1920. Một nền tảng lý thuyết để hiểu các năng lượng mới xuất hiện luôn có giá trị nếu các năng lượng ấy phải được xử lý một cách minh triết.

26. Of course, by the time He had reached the final pages of TCF, DK had already said a great deal about the centers, so we may assume that what He is about to say here is not entirely repetition.

26. Dĩ nhiên, vào lúc Ngài đi đến những trang cuối của TCF, Chân sư DK đã nói khá nhiều về các trung tâm, vì vậy chúng ta có thể giả định rằng điều Ngài sắp nói ở đây không phải là sự lặp lại hoàn toàn.

The centres, as we know, are seven in number and are formed in matter of the etheric subplanes of the physical plane.

Các trung tâm, như chúng ta biết, có số lượng là bảy và được hình thành trong vật chất của các cõi phụ dĩ thái của cõi hồng trần.

27. DK is now speaking of the “physical centers”—really the etheric centers.

27. Giờ đây Chân sư DK đang nói về “các trung tâm hồng trần”—thực ra là các trung tâm dĩ thái.

As we have been told, there are literally ten, but the lower three are not considered as subjects for the direction of egoic energy.

Như chúng ta đã được cho biết, thực sự có mười, nhưng ba trung tâm thấp hơn không được xem là đối tượng cho sự điều hướng của năng lượng chân ngã.

28. Here DK tells us of ten centers, just as He tells us of ten planetary schemes, and ten chains. The tens probably extend far more widely through cosmos than this.

28. Ở đây Chân sư DK cho chúng ta biết về mười trung tâm, cũng như Ngài cho chúng ta biết về mười hệ hành tinh, và mười dãy. Các số mười này có lẽ còn mở rộng khắp vũ trụ rộng lớn hơn nhiều so với thế.

29. We may presume that the seven centers are found above the diaphragm. Perhaps the solar plexus is included, and the base of the spine center, the sacral center and the spleen dis-included. However, can we really ever dis-include the base of the spine center when it plays so prominent a place in the fifth initiation of man and presumably, in the fifth initiation of far greater beings?

29. Chúng ta có thể giả định rằng bảy trung tâm được tìm thấy phía trên cơ hoành. Có lẽ tùng thái dương được bao gồm, còn trung tâm đáy cột sống, trung tâm xương cùng và luân xa lá lách thì bị loại ra. Tuy nhiên, liệu chúng ta có thực sự có thể loại trừ trung tâm đáy cột sống khi nó giữ một vị trí nổi bật như vậy trong lần điểm đạo thứ năm của con người và có lẽ cả trong lần điểm đạo thứ năm của những hữu thể còn vĩ đại hơn nhiều?

30. There are a number of lesser centers, some found in the lower area of the etheric body, but is Master DK including such rarely mentioned centers? The likelihood is that He is not.

30. Có một số trung tâm nhỏ hơn, một số nằm ở vùng thấp của thể dĩ thái, nhưng liệu Chân sư DK có bao gồm những trung tâm hiếm khi được nhắc đến như thế không? Khả năng là không.

31. We cannot be certain how to enumerate the higher seven. There are many centers in and surrounding the head and we cannot be sure if DK is counting these centers or, if so, the manner in which He is counting.

31. Chúng ta không thể chắc chắn phải liệt kê bảy trung tâm cao hơn như thế nào. Có nhiều trung tâm trong và quanh đầu, và chúng ta không thể chắc liệu Chân sư DK có đang tính các trung tâm này hay không, hoặc nếu có, Ngài tính theo cách nào.

32. If we number from the solar plexus upwards, we could have: the solar plexus, the heart, the throat center, the alta major center, the ajna center, the head center, the heart-in-the-head center.

32. Nếu chúng ta đếm từ tùng thái dương trở lên, chúng ta có thể có: tùng thái dương, tim, trung tâm cổ họng, trung tâm alta major, trung tâm ajna, trung tâm đầu, trung tâm tim-trong-đầu.

33. There is also the possibility that a very occult and rarely mentioned ‘mental center’ or “manasic center” in the vicinity of the lungs could be included, in which case the two aspects of the highest head center would be considered as one.

33. Cũng có khả năng rằng một “trung tâm trí tuệ” hay “trung tâm manas” rất huyền bí và hiếm khi được nhắc đến ở vùng lân cận phổi có thể được bao gồm, trong trường hợp đó hai phương diện của trung tâm đầu cao nhất sẽ được xem là một.

34. Perhaps we shall learn more immediately ahead.

34. Có lẽ ngay phía trước chúng ta sẽ học được thêm.

They relate to the perpetuation of the physical form

Chúng liên hệ đến sự duy trì hình thể hồng trần

35. Without the presence and activation of the centers, the physical plane will not be vitalized; it will not live.

35. Không có sự hiện diện và hoạt hóa của các trung tâm, cõi hồng trần sẽ không được tiếp sinh lực; nó sẽ không sống.

36. Here we are speaking specifically of the lower three centers mentioned above. These three are the most active in the perpetuation of the physical form. From this perspective, the base of the spine center must certainly be involved, as must the sacral center and spleen.

36. Ở đây chúng ta đang nói riêng về ba trung tâm thấp hơn đã được nhắc đến ở trên. Ba trung tâm này hoạt động mạnh nhất trong việc duy trì hình thể hồng trần. Từ góc độ này, trung tâm đáy cột sống chắc chắn phải được bao gồm, cũng như trung tâm xương cùng và lá lách.

and have a close connection with:

và có mối liên hệ mật thiết với:

a. The three lower kingdoms in nature.

a. ba giới thấp trong thiên nhiên.

37. These are the sub-human kingdoms; mineral, vegetable and animal.

37. Đây là các giới dưới nhân loại; giới kim thạch, giới thực vật và giới động vật.

b. The three lower subplanes of the physical plane.

b. Ba cõi phụ thấp hơn của cõi hồng trần.

38. By this we man the dense physical subplane, the liquid subplane and the gaseous subplane.

38. Bởi điều này chúng ta muốn nói đến cõi phụ hồng trần đậm đặc, cõi phụ lỏng và cõi phụ khí.

c. The third solar system, from the logoic standpoint.

c. Hệ mặt trời thứ ba, từ quan điểm logoic.

39. This is a curious statement. Does DK actually mean the solar system which is to come? Or does He mean the solar system preceding this one? From the correspondential angle, one would think He is referring to the rather material solar system which preceded ours.

39. Đây là một phát biểu kỳ lạ. Liệu Chân sư DK thực sự muốn nói đến hệ mặt trời sẽ đến? Hay Ngài muốn nói đến hệ mặt trời đi trước hệ này? Từ góc độ tương ứng, người ta sẽ nghĩ rằng Ngài đang nói đến hệ mặt trời khá vật chất đã đi trước hệ của chúng ta.

It must be borne in mind that though the three solar systems (the past, the present and that which is to come) are differentiated in time and space where the consciousness of man is concerned, from the point of view of the Logos they represent more accurately, highest, intermediate and lowest, and the three form but one expression.

Cần ghi nhớ rằng mặc dù ba hệ mặt trời (quá khứ, hiện tại và hệ sẽ đến) được phân biệt trong thời gian và không gian xét theo tâm thức của con người, nhưng từ quan điểm của Thượng đế, chúng biểu hiện chính xác hơn là cao nhất, trung gian và thấp nhất, và cả ba chỉ tạo thành một biểu hiện duy nhất.

40. The consciousness of the Solar Logos is not subject to the time-space limitations afflicting our consciousness.

40. Tâm thức của Thái dương Thượng đế không chịu những giới hạn thời-không đang gây khổ cho tâm thức của chúng ta.

41. DK seems to be telling us that the three solar systems are both consecutive and simultaneous—depending on the nature of the perceiving consciousness.

41. Dường như Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng ba hệ mặt trời vừa liên tiếp vừa đồng thời—tùy theo bản chất của tâm thức đang tri giác.

42. Another way of saying this is that the consciousness of the previous solar system is still very much with us within the second solar system; during the next or coming solar system, the consciousness of the first and second solar systems may be evident even though the emphasis will be on the first aspect of divinity, the will.

42. Một cách khác để nói điều này là tâm thức của hệ mặt trời trước vẫn còn hiện diện rất mạnh nơi chúng ta trong hệ mặt trời thứ hai; trong hệ mặt trời kế tiếp hay sắp đến, tâm thức của hệ mặt trời thứ nhất thứ hai có thể vẫn hiển lộ mặc dù trọng tâm sẽ đặt trên phương diện thứ nhất của thiên tính, tức ý chí.

The past system, therefore, is deemed esoterically the third, being the lowest and being related to the dense and negative matter.

Vì vậy, hệ quá khứ được xem một cách huyền bí là hệ thứ ba, vì là thấp nhất và có liên hệ với vật chất đậm đặc và âm tính.

43. Thus, DK answer the question which I posed. The first (or previous) solar system is qualitatively the third because it is related to the third aspect of divinity.

43. Như vậy, Chân sư DK trả lời câu hỏi mà tôi đã nêu ra. Hệ mặt trời thứ nhất (hay trước đó) về phẩm tính là hệ thứ ba vì nó có liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính.

It will be apparent that the past solar system has consequently a close relation to the third or animal kingdom, and this, man has presumably transcended.

Rõ ràng là hệ mặt trời quá khứ do đó có mối liên hệ mật thiết với giới thứ ba hay giới động vật, và điều này con người hẳn đã vượt qua.

44. This is because the animal kingdom is the third kingdom and the human kingdom is the fourth.

44. Điều này là vì giới động vật là giới thứ ba và giới nhân loại là giới thứ tư.

45. It is intended that man must and will transcend the influence of the previous solar system, which here, DK deems the “third”.

45. Mục đích là con người phải và sẽ vượt qua ảnh hưởng của hệ mặt trời trước, mà ở đây Chân sư DK xem là hệ “thứ ba”.

The seven centres with which man is concerned are themselves found to exist in two groups:

Bảy trung tâm mà con người quan tâm đến tự chúng được thấy là tồn tại trong hai nhóm:

46. It does seem that man is concerned with all the seven centers as usually enumerated. This would include the base of the spine center, the sacral center and the solar plexus. The splenic center is also of considerable importance to him.

46. Quả thực dường như con người có liên hệ với cả bảy trung tâm như thường được liệt kê. Điều này sẽ bao gồm trung tâm đáy cột sống, trung tâm xương cùng và tùng thái dương. Trung tâm lá lách cũng có tầm quan trọng đáng kể đối với y.

a lower four, which are related to the four Rays of Attributes, or the four minor rays, and are, therefore, closely connected with the quaternary, both microcosmic and macrocosmic, and a higher three which are transmitters for the three rays of aspect.

một nhóm bốn thấp hơn, có liên hệ với bốn Các Cung Thuộc Tính, hay bốn cung phụ, và vì vậy có liên hệ mật thiết với bộ tứ, cả trong tiểu thiên địa lẫn đại thiên địa, và một nhóm ba cao hơn là những bộ truyền dẫn cho ba Các Cung Trạng Thái.

47. If we keep the number ten too firmly in mind we shall have trouble with this enumeration.

47. Nếu chúng ta giữ con số mười quá chặt trong tâm trí, chúng ta sẽ gặp khó khăn với cách liệt kê này.

48. Which, really, are the lower four centers? Is the spleen to be included, along with the solar plexus, the sacral center and the base of the spine center?

48. Thực sự, bốn trung tâm thấp hơn là những trung tâm nào? Liệu lá lách có được bao gồm cùng với tùng thái dương, trung tâm xương cùng và trung tâm đáy cột sống không?

49. And if so, there are then four higher centers remaining and not just three: heart center, throat center, ajna center and head center.

49. Và nếu vậy, khi đó còn lại bốn trung tâm cao hơn chứ không chỉ ba: trung tâm tim, trung tâm cổ họng, trung tâm ajna và trung tâm đầu.

50. The three higher centers are usually considered throat center, heart center, and head center and these three are the transmitters of the three Rays of Aspect.

50. Ba trung tâm cao hơn thường được xem là trung tâm cổ họng, trung tâm tim và trung tâm đầu, và ba trung tâm này những bộ truyền dẫn của ba Các Cung Trạng Thái.

51. There persistently arises the question of whether the heart center is to be included in the lower quaternary. It can be reasoned in both the affirmative and in the negative. It is interesting that even when man is controlled from the astral plane, the heart center is one point in the controlling triangle of centers.

51. Câu hỏi vẫn liên tục nảy sinh là liệu trung tâm tim có nên được bao gồm trong bộ tứ thấp hơn hay không. Có thể lập luận theo cả khẳng định lẫn phủ định. Điều thú vị là ngay cả khi con người bị kiểm soát từ cõi cảm dục, trung tâm tim vẫn là một điểm trong tam giác kiểm soát của các trung tâm.

These energy centres are transmitters of energy from [Page 1157] many and varied sources which might be briefly enumerated as follows:

Các trung tâm năng lượng này là những bộ truyền dẫn năng lượng từ [Page 1157] nhiều nguồn đa dạng khác nhau có thể được liệt kê vắn tắt như sau:

52. These and other sources are sources of transmission through the centers.

52. Những nguồn này và các nguồn khác là các nguồn truyền dẫn qua các trung tâm.

a. From the seven Rays, via the seven subrays of any specific monadic ray.

a. Từ bảy cung, qua bảy cung phụ của bất kỳ cung chân thần đặc thù nào.

53. The sources of the seven rays are usually thought to be the seven major stars of the Great Bear.

53. Các nguồn của bảy cung thường được cho là bảy ngôi sao lớn của Đại Hùng Tinh.

54. What, exactly, are the seven subrays of any “specific monadic ray”. There are several options:

54. Chính xác thì bảy cung phụ của bất kỳ “cung chân thần đặc thù” nào là gì? Có một số khả năng:

a. The seven types of soul rays considered as subrays of any particular monadic ray.

a. Bảy loại cung linh hồn được xem như các cung phụ của bất kỳ cung chân thần riêng biệt nào.

b. The seven sub -monadic rays found on the monadic plane (cf. TCF 176)

b. Bảy cung phụ -chân thần được tìm thấy trên cõi chân thần (xem TCF 176)

c. The seven ray types of Monads on the monadic plane, considering these seven monadic types actually to be subtypes of the three types of ‘true Monad’, which three types are found on the logoic plane. (cf. TCF Chart V, 344)

c. Bảy loại cung của các chân thần trên cõi chân thần, xem bảy loại chân thần này thực ra là các loại phụ của ba loại “Chân Thần đích thực”, mà ba loại này được tìm thấy trên cõi logoic. (xem Biểu đồ V của TCF, 344)

55. In any case there are higher septenates on egoic and monadic levels, the energies of which pour through the seven types of chakras here being discussed.

55. Dù sao đi nữa, vẫn có những bộ bảy cao hơn trên các cấp độ chân ngã và chân thần, mà các năng lượng của chúng tuôn qua bảy loại luân xa đang được bàn đến ở đây.

b. From the triple aspects of the planetary Logos as He manifests through a scheme.

b. Từ các phương diện tam phân của Hành Tinh Thượng đế khi Ngài biểu lộ qua một hệ hành tinh.

56. Presumably we have the Rays of Aspect connected with our Planetary Logos manifesting through the chakras keyed to them, and through those other chakras which are in resonance with these keyed three. The three aspects of the Planetary Logos demonstrate both above and below the diaphragm.

56. Có lẽ chúng ta có Các Cung Trạng Thái nối kết với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta biểu lộ qua các luân xa được chỉnh hợp với chúng, và qua những luân xa khác cộng hưởng với bộ ba được chỉnh hợp này. Ba phương diện của Hành Tinh Thượng đế biểu lộ cả phía trên lẫn phía dưới cơ hoành.

57. We note that the source given in point “b.” is a higher source than that given in point “a.”

57. Chúng ta lưu ý rằng nguồn được nêu ở điểm “b.” là một nguồn cao hơn nguồn được nêu ở điểm “a.”

c. From what are called “the sevenfold divisions of the logoic Heart,” or the sun in its sevenfold essential nature, as it is seen lying esoterically behind the outer physical solar form.

c. Từ điều được gọi là “những phân chia thất phân của Tim logoic”, hay mặt trời trong bản chất cốt yếu thất phân của nó, như nó được thấy một cách huyền bí nằm phía sau hình thể thái dương hồng trần bên ngoài.

58. This is a still higher source.

58. Đây là một nguồn còn cao hơn nữa.

59. Here we are not so much speaking of the Heart of the Sun on the higher levels of the cosmic mental plane, but of the logoic etheric heart center presumably to be found upon the cosmic etheric planes—perhaps on its second level (correlated with the origin of the human Monads).

59. Ở đây chúng ta không nói nhiều đến Trái Tim Mặt Trời trên các cấp độ cao hơn của cõi trí vũ trụ, mà nói đến trung tâm tim dĩ thái logoic, có lẽ được tìm thấy trên các cõi dĩ thái vũ trụ—có thể ở cấp độ thứ hai của nó (tương ứng với nguồn gốc của các chân thần nhân loại).

60. It is the etheric aspect of the Solar Logos which lies “behind the outer physical solar form”.

60. Chính phương diện dĩ thái của Thái dương Thượng đế nằm “phía sau hình thể thái dương hồng trần bên ngoài”.

61. The Heart of the Sun substands not only the vehicles of the Logos on the cosmic physical plane but also on the cosmic astral plane and lower cosmic mental plane.

61. Trái Tim Mặt Trời không chỉ nâng đỡ các vận cụ của Thượng đế trên cõi hồng trần vũ trụ mà còn cả trên cõi cảm dục vũ trụ và cõi hạ trí vũ trụ.

62. Heart centers are usually considered twelvefold, but there is a way of deriving the twelve from the seven. This way is given in a footnote in A Treatise on Cosmic Fire.

62. Các trung tâm tim thường được xem là thập nhị phân, nhưng có một cách để rút ra số mười hai từ số bảy. Cách này được nêu trong một chú thích cuối trang của Luận về Lửa Vũ Trụ.

31: The Twelve Creative Hierarchies. Students are often puzzled in trying to account for the “twelves” in the cosmos. A correspondent sends the following suggestion: In a Study in Consciousness, the three, by an arrangement of internal groupings, show seven groups; these may be represented as ABC, ACB, BCA BAC, CAB, CBA, and a seventh, a synthesis in which the three are equal. A second six would be represented by (AB) C, C (AB), A (BC), (BC) A, (CA) B, B (AC), the two bracketed being equal and the third stronger or weaker. The two groups of six, and the group in which the three are equal, would make thirteen. “This thirteen may be arranged as a circle of twelve, with one in the centre. The central one will be synthetic, and will be that class in which all three are equal. The physical correspondence of this will be the twelve signs of the Zodiac with the Sun at the centre, synthesising all of them. The spiritual correspondence will be the twelve Creative Orders with the Logos at the centre, synthesising all.” The arrangement is quite legitimate.—The Theosophist, Vol. XXIX, p. 100. (TCF 1195)

31: Mười Hai Huyền Giai Sáng Tạo. Các đạo sinh thường bối rối khi cố giải thích các “bộ mười hai” trong vũ trụ. Một người trao đổi thư từ gửi đến gợi ý sau đây: Trong A Study in Consciousness, bộ ba, bằng một sự sắp xếp các nhóm nội tại, cho thấy bảy nhóm; chúng có thể được biểu diễn là ABC, ACB, BCA BAC, CAB, CBA, và một nhóm thứ bảy, là một tổng hợp trong đó cả ba bằng nhau. Một nhóm sáu thứ hai sẽ được biểu diễn bằng (AB) C, C (AB), A (BC), (BC) A, (CA) B, B (AC), trong đó hai yếu tố trong ngoặc bằng nhau và yếu tố thứ ba mạnh hơn hay yếu hơn. Hai nhóm sáu, và nhóm trong đó cả ba bằng nhau, sẽ tạo thành mười ba. “Mười ba này có thể được sắp xếp thành một vòng tròn mười hai, với một ở trung tâm. Điểm trung tâm sẽ có tính tổng hợp, và sẽ là loại trong đó cả ba bằng nhau. Tương ứng hồng trần của điều này sẽ là mười hai dấu hiệu hoàng đạo với Mặt Trời ở trung tâm, tổng hợp tất cả chúng. Tương ứng tinh thần sẽ là mười hai Huyền Giai Sáng Tạo với Thượng đế ở trung tâm, tổng hợp tất cả.” Sự sắp xếp này hoàn toàn hợp lý.—The Theosophist, Tập XXIX, tr. 100. (TCF 1195)

63. The egoic lotus of the Solar Logos is also considered twenty-one-fold (twenty-one being the number of its petals). It is possible that these petals may appear in seven groups of three each.

63. Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế cũng được xem là nhị thập nhất phân (hai mươi mốt là số cánh hoa của nó). Có thể những cánh hoa này xuất hiện trong bảy nhóm, mỗi nhóm ba cánh.

d. From the seven Rishis of the Great Bear; this pours in via the Monad and is transmitted downward, merging on the higher levels of the mental plane with seven streams of energy from the Pleiades which come in as the psychical force demonstrating through the solar Angel.

d. Từ bảy vị Rishi của Đại Hùng Tinh; điều này tuôn vào qua chân thần và được truyền xuống dưới, hòa nhập trên các cấp độ cao hơn của cõi trí với bảy dòng năng lượng từ Thất Nữ Tinh đi vào như mãnh lực thông linh biểu lộ qua Thái dương Thiên Thần.

64. We continue the sources of energies which pour through the seven chakras.

64. Chúng ta tiếp tục các nguồn năng lượng tuôn qua bảy luân xa.

65. This is a most occult statement for several reason.

65. Đây là một phát biểu hết sức huyền bí vì nhiều lý do.

a. The link between the Rishis of the Great Bear and the human Monad. We would assume that the seven monadic demonstrations on the monadic plane are linked by the intra -planetary Lords of the Seven Rays with the seven types of Monads. The planetary Ray Lords may also be part of this linking as the Planetary Logoi are all connected with the Seven Rishis.

a. Mối liên kết giữa các Rishi của Đại Hùng Tinh và chân thần con người. Chúng ta có thể giả định rằng bảy biểu hiện chân thần trên cõi chân thần được nối kết bởi các Chúa Tể nội-hành-tinh của Bảy Cung với bảy loại chân thần. Các Chúa Tể Cung hành tinh cũng có thể là một phần của sự nối kết này vì các Hành Tinh Thượng đế đều được liên kết với Bảy Rishi.nội -hành-tinh của Bảy Cung với bảy loại chân thần. Các Chúa Tể Cung hành tinh cũng có thể là một phần của sự nối kết này vì các Hành Tinh Thượng đế đều được liên kết với Bảy Rishi.

b. The link between the Pleiades and the higher mental plane.

b. Mối liên kết giữa Thất Tinh và cõi thượng trí.

c. The unusual linking of the Pleiades with the Solar Angels! This is an important reference. We see from this linking that that which is transmitted via the Pleiades is more than manasic force. It is also related to soul and consciousness and is thus called “psychical force” and must be considered sentient in nature. The Pleiades are qualified by the third ray, yes, but also by the second and some have suggested the first ray as well as the Pleiades may be reasoned to represent the “Hub of the Wheel” of the “One About Whom Naught May Be Said”.

c. Mối liên kết khác thường giữa Thất Tinh với các Thái dương Thiên Thần! Đây là một quy chiếu quan trọng. Từ mối liên kết này, chúng ta thấy rằng điều được truyền qua Thất Tinh là nhiều hơn mãnh lực manas. Nó cũng liên hệ với linh hồn và tâm thức, và vì thế được gọi là “mãnh lực thông linh”, và phải được xem là có bản chất cảm tri. Thất Tinh được điều kiện hóa bởi cung ba, đúng vậy, nhưng cũng bởi cung hai, và một số người còn gợi ý cả cung một nữa, vì có thể lập luận rằng Thất Tinh tượng trưng cho “Trục của Bánh Xe” của “Đấng Bất Khả Tư Nghị”.

All these various streams of energy are passed through certain groups or centres, becoming more active and demonstrating with a freer flow as the course of evolution is pursued.

Tất cả các dòng năng lượng khác nhau này đều được chuyển qua những nhóm hay trung tâm nhất định, trở nên hoạt động hơn và biểu hiện với một dòng chảy tự do hơn khi tiến trình tiến hoá được tiếp tục.

66. Some of the highest sources send their energies through chakras which are super-human altogether. Each Sun is a chakra. Each planet is a chakra.

66. Một số nguồn cao nhất truyền năng lượng của chúng qua các luân xa hoàn toàn siêu nhân loại. Mỗi Mặt Trời là một luân xa. Mỗi hành tinh là một luân xa.

67. We have a large number of sources. Some of the higher sources are probably passed through groupings on triadal levels and also through egoic groupings on the higher mental plane before reaching the human chakric system.

67. Chúng ta có một số lượng lớn các nguồn. Một số nguồn cao hơn có lẽ được chuyển qua các tập hợp ở các cấp độ tam nguyên tinh thần và cũng qua các tập hợp chân ngã trên cõi thượng trí trước khi đến hệ thống luân xa của con người.

68. We realize that the transmission is not now flowing as freely as later it will when humanity is more highly evolved.

68. Chúng ta nhận ra rằng sự truyền dẫn hiện nay chưa chảy tự do như về sau nó sẽ chảy khi nhân loại tiến hoá cao hơn.

As far as man is concerned at present, this energy all converges, and seeks to energise his physical body, and direct his action via the seven etheric centres.

Xét theo phương diện con người hiện nay, toàn bộ năng lượng này đều hội tụ lại, và tìm cách tiếp sinh lực cho thể xác của y, đồng thời điều khiển hành động của y qua bảy trung tâm dĩ thái.

69. DK may be speaking of average man. We know that for more highly evolved human beings, the centers in the astral body and those on the lower mental plane are also stimulated

69. Chân sư DK có thể đang nói về con người trung bình. Chúng ta biết rằng đối với những con người tiến hoá cao hơn, các trung tâm trong thể cảm dục và những trung tâm trên cõi hạ trí cũng được kích thích

70. When we look for structures in the human energy system which these energy flows may stimulate, we should also include the stimulation of the tiers and petals of the egoic lotus.

70. Khi chúng ta tìm kiếm những cấu trúc trong hệ thống năng lượng con người mà các dòng năng lượng này có thể kích thích, chúng ta cũng nên bao gồm sự kích thích các tầng và các cánh hoa của hoa sen chân ngã.

71. Finally, however, even if the energies do pass through the tiers and petals of the egoic lotus and through the mental and astral chakras, they do energize the etheric chakras and finally the dense physical body.

71. Tuy nhiên, sau cùng, ngay cả nếu các năng lượng ấy có đi qua các tầng và các cánh hoa của hoa sen chân ngã và qua các luân xa trí tuệ và cảm dục, thì chúng quả thực tiếp sinh lực cho các luân xa dĩ thái và cuối cùng cho thể xác đậm đặc.

72. We are probably not yet at the stage where we can detect the flow of these various type of energies through our etheric chakras through we do note the stimulation.

72. Có lẽ chúng ta vẫn chưa ở giai đoạn có thể phát hiện dòng chảy của các loại năng lượng khác nhau này qua các luân xa dĩ thái của mình, dù chúng ta có ghi nhận sự kích thích.

These centres receive the force in a threefold manner:

Các trung tâm này tiếp nhận mãnh lực theo cách tam phân:

73. Now we are becoming quite specific. We are speaking of the receptivity of the seven etheric chakras.

73. Giờ đây chúng ta đang trở nên khá cụ thể. Chúng ta đang nói về khả năng tiếp nhận của bảy luân xa dĩ thái.

a. Force from the Heavenly Man and, therefore, from the seven Rishis of the Great Bear via the Monad.

a. Mãnh lực từ Đấng Thiên Nhân và, do đó, từ bảy Rishi của Đại Hùng Tinh qua chân thần.

74. There is an alignment between the seven Rishis of the Great Bear, the Heavenly Man, the Monad (which is a cell within the Heavenly Man) and (via various descending septenates) to the seven etheric chakras.

74. Có một sự chỉnh hợp giữa bảy Rishi của Đại Hùng Tinh, Đấng Thiên Nhân, chân thần (vốn là một tế bào bên trong Đấng Thiên Nhân) và (qua nhiều bộ bảy giáng hạ khác nhau) đến bảy luân xa dĩ thái.

b. Force from the Pleiades, via the solar Angel or Ego.

b. Mãnh lực từ Thất Tinh, qua Thái dương Thiên Thần hay chân ngã.

75. There is an alignment from the Pleiades to the Solar Angel or Ego and thence to the chakric system, including, one supposes, the lower mental and astral chakras.

75. Có một sự chỉnh hợp từ Thất Tinh đến Thái dương Thiên Thần hay chân ngã, và từ đó đến hệ thống luân xa, bao gồm, như người ta có thể giả định, cả các luân xa hạ trí và cảm dục.

76. We also are aware of the alignment from the Pleiades to the Heavenly Men—a largely manasic alignment.

76. Chúng ta cũng nhận biết sự chỉnh hợp từ Thất Tinh đến các Đấng Thiên Nhân—một sự chỉnh hợp phần lớn mang tính manas.

77. We can wonder, given the implications of alignment “b.”, whether the Pleiades have a connection with the Heart of the Sun to which the Solar Angels are so closely related. We usually think of Sirius as having such an alignment.

77. Xét theo những hàm ý của sự chỉnh hợp “b.”, chúng ta có thể tự hỏi liệu Thất Tinh có một liên hệ nào với Trái Tim của Mặt Trời, nơi các Thái dương Thiên Thần gắn bó mật thiết đến thế hay không. Chúng ta thường nghĩ Sirius có một sự chỉnh hợp như vậy.

c. Force from the planes, from the Raja Devas of a plane, or fohatic energy, via the spirillae of a permanent atom.

c. Mãnh lực từ các cõi, từ các Raja Deva của một cõi, hay năng lượng fohat, qua các loa tuyến của một nguyên tử trường tồn.

78. This is an alignment from solar planes and Solar Plane Lords (considered in their broader solar systemic context) to the Raja Deva Lords of whom the planetary planes are an embodiment, through to the planes and via these spirillae (for planes are spirillae) to the various etheric chakras. We might ask, “To what extent to the systemic planes and subplanes (considered as spirillae) feed the chakras of the human energy system?”

78. Đây là một sự chỉnh hợp từ các cõi thái dương và các Chúa Tể Cõi Thái Dương (được xét trong bối cảnh hệ mặt trời rộng lớn hơn của các Ngài) đến các Chúa Tể Raja Deva mà các cõi hành tinh là hiện thân, rồi đến các cõi và qua các loa tuyến này (vì các cõi là các loa tuyến) đến các luân xa dĩ thái khác nhau. Chúng ta có thể hỏi: “Các cõi và cõi phụ của hệ thống (được xem như các loa tuyến) nuôi dưỡng các luân xa của hệ thống năng lượng con người đến mức độ nào?”nuôi dưỡng các luân xa của hệ thống năng lượng con người đến mức độ nào?”

The permanent atom of a human being sustains an entire vehicle in which the seven chakras make their appearance. Without the permanent atom, the seven chakras would have no medium in which to appear.

Nguyên tử trường tồn của một con người duy trì toàn bộ một vận cụ trong đó bảy luân xa xuất hiện. Không có nguyên tử trường tồn, bảy luân xa sẽ không có môi trường để xuất hiện.

79. We wonder what might be the stellar source of this third type of energy. At first one might think it to be the Pleiades, but the Pleiades in this context have been assigned to the second aspect of divinity.

79. Chúng ta tự hỏi nguồn sao nào có thể là nguồn của loại năng lượng thứ ba này. Lúc đầu người ta có thể nghĩ đó là Thất Tinh, nhưng trong bối cảnh này Thất Tinh đã được gán cho phương diện thứ hai của thiên tính.

80. Both Sirius and the Pleiades demonstrate both the second and third aspects and it behooves us to notice the contexts in which one or the other aspect is being discussed in relation to either one.

80. Cả Sirius lẫn Thất Tinh đều biểu hiện cả phương diện thứ hai lẫn thứ ba, và điều cần thiết đối với chúng ta là lưu ý những bối cảnh trong đó phương diện này hay phương diện kia đang được bàn đến trong liên hệ với một trong hai.

It is this fact which accounts for the gradual growth and development of a man.

Chính sự kiện này giải thích cho sự tăng trưởng và phát triển dần dần của con người.

81. All these energies pouring through the various chakras account for the gradual growth and development of a man. The energies do not flow in a manner completed unimpeded or with full force. Thus the growth and development of man is “gradual”.

81. Tất cả những năng lượng này tuôn qua các luân xa khác nhau giải thích cho sự tăng trưởng và phát triển dần dần của con người. Các năng lượng không chảy theo cách hoàn toàn không bị cản trở hay với toàn bộ mãnh lực. Vì vậy sự tăng trưởng và phát triển của con người là “dần dần”.

At first it is the force of the plane substance, which directs him, causing him to identify [Page 1158] himself with the grosser substance and to consider himself a man, a member of the fourth Kingdom, and to be convinced, therefore, that he is the Not-Self.

Thoạt đầu, chính mãnh lực của chất liệu cõi giới điều khiển y, khiến y đồng hoá với [Page 1158]chất liệu thô nặng hơn và xem mình là một con người, một thành viên của giới thứ tư, và do đó tin chắc rằng mình là Phi-Ngã.

82. When the man is solidly a member of the fourth kingdom of nature, he is entirely identified with planar substance. There are four divisions to be considered:

82. Khi con người đã vững chắc là một thành viên của giới thứ tư trong thiên nhiên, y hoàn toàn đồng hoá với chất liệu cõi giới. Có bốn phân bộ cần được xét đến:

a. The dense physical level

a. Cấp độ hồng trần đậm đặc

b. The etheric level

b. Cấp độ dĩ thái

c. The astral level

c. Cấp độ cảm dục

d. The lower mental level

d. Cấp độ hạ trí

83. At this stage, he does not consider himself to be a soul. He has no experience to reveal to him what it would mean to be a soul.

83. Ở giai đoạn này, y không xem mình là một linh hồn. Y không có kinh nghiệm nào để mặc khải cho y biết làm một linh hồn sẽ có nghĩa là gì.

84. He is under the sway of the Raja Deva Lords and their many subsidiary representatives—conscious and unconscious. The permanent atoms are more important than the chakras.

84. Y ở dưới sự chi phối của các Chúa Tể Raja Deva và nhiều đại diện phụ thuộc của các vị ấy—hữu thức và vô thức. Các nguyên tử trường tồn quan trọng hơn các luân xa.

Later as force from the Ego pours in, his psychical evolution proceeds (I use the word “psychical” here in its higher connotation)

Về sau, khi mãnh lực từ chân ngã tuôn vào, sự tiến hoá thông linh của y tiếp diễn (ở đây tôi dùng từ “thông linh” theo hàm nghĩa cao hơn của nó)

85. When considering the term “psychical” as it is used in relation to the Pleiades, we must consider that it does not have to do with lower psychism but with soul consciousness.

85. Khi xét thuật ngữ “thông linh” như được dùng trong liên hệ với Thất Tinh, chúng ta phải hiểu rằng nó không liên quan đến thông linh thấp mà đến tâm thức linh hồn.

86. This section of text confirms that DK is speaking of the second aspect of divinity when referencing “psychical force” and the Pleiades.

86. Phần văn bản này xác nhận rằng Chân sư DK đang nói về phương diện thứ hai của thiên tính khi quy chiếu đến “mãnh lực thông linh” và Thất Tinh.

and he begins to consider himself as the Ego, the Thinker, the One who uses the form.

và y bắt đầu xem mình là chân ngã, Đấng Tư Tưởng, Đấng sử dụng hình tướng.

87. From the sections of text above we have learned that the Pleiades (the source of a certain type of “psychical” energy) are involved in helping the man to consider himself as the Ego, the Thinker, the One who uses the form. This should be remembered alongside the many references which refer the Pleiades as bestowers of manas.

87. Từ các phần văn bản trên, chúng ta đã học được rằng Thất Tinh (nguồn của một loại năng lượng “thông linh” nào đó) có liên quan đến việc giúp con người xem mình là chân ngã, Đấng Tư Tưởng, Đấng sử dụng hình tướng. Điều này cần được ghi nhớ cùng với nhiều quy chiếu nói đến Thất Tinh như những đấng ban phát manas.

88. Under the influence, the man, the man dissociates himself from devic influence and identification, and becomes increasingly the ‘Spiritual Observer’. He no longer thinks of himself as devic matter and form.

88. Dưới ảnh hưởng ấy, con người tự tách mình ra khỏi ảnh hưởng và sự đồng hoá với deva, và ngày càng trở thành ‘Nhà Quan Sát Tinh Thần’. Y không còn nghĩ mình là vật chất và hình tướng deva nữa.

Finally, energy from the Monad begins to be responded to and he knows himself to be neither the man nor the angel, but a divine essence or Spirit.

Sau cùng, năng lượng từ chân thần bắt đầu được đáp ứng và y biết mình không phải là con người cũng không phải là thiên thần, mà là một tinh chất thiêng liêng hay tinh thần.

89. This is the third step and is the objective of all those who approach the third and later initiations. Man must find himself as a Monad, as Spirit, and Essence, a Being.

89. Đây là bước thứ ba và là mục tiêu của tất cả những ai tiến gần đến lần điểm đạo thứ ba và các lần sau đó. Con người phải tìm thấy chính mình như một chân thần, như tinh thần, và tinh chất, một Bản Thể.

These three types of energy demonstrate during manifestation as Spirit, Soul, and Body,

Ba loại năng lượng này biểu hiện trong thời kỳ biểu hiện như Tinh thần, Linh hồn và Thể,

90. How do they demonstrate outside of manifestation? Obviously the three source energies which manifest as “Spirit, Soul and Body” exist even when body and soul no longer exist.

90. Chúng biểu hiện như thế nào bên ngoài sự biểu hiện? Hiển nhiên ba năng lượng nguồn biểu hiện thành “Tinh thần, Linh hồn và Thể” vẫn tồn tại ngay cả khi thể và linh hồn không còn hiện hữu nữa.

and through them the three aspects of the Godhead meet and converge in man, and lie latent in every atom.

và qua chúng, ba phương diện của Thượng đế gặp nhau và hội tụ trong con người, và tiềm ẩn trong mỗi nguyên tử.

91. Man is a reflection of the “Godhead”. We notice that the word “head” is incorporated in the word “Godhead”, suggesting that the “head” is the occult, first ray source of energy. Shamballa is the “Head Center” of our Planetary Logos as He manifests on the cosmic physical plane.

91. Con người là một phản chiếu của “Thượng đế tính”. Chúng ta lưu ý rằng từ “đầu” được bao hàm trong từ “Thượng đế tính”, gợi ý rằng “đầu” là nguồn năng lượng huyền bí, cung một. Shamballa là “Trung tâm Đầu” của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta khi Ngài biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ.

92. The usual constellational sources corresponding to the three aspects of the Godhead are the Great Bear, Sirius/Little Bear and the Pleiades, but in the sections of text under discussion, the Pleiades are given the place usually occupied by Sirius.

92. Các nguồn chòm sao thông thường tương ứng với ba phương diện của Thượng đế tính là Đại Hùng Tinh, Sirius/Tiểu Hùng Tinh và Thất Tinh, nhưng trong các phần văn bản đang được bàn đến, Thất Tinh được đặt vào vị trí thường do Sirius chiếm giữ.

The sevenfold energy of the planes, and therefore of substance, finds its consummation when the four lower centres are fully active.

Năng lượng thất phân của các cõi, và do đó của chất liệu, đạt đến sự viên mãn khi bốn trung tâm thấp hoàn toàn hoạt động.

93. Presumably, we must include the splenic center which is sub-diaphragmatic and, so, related to the third aspect of divinity.

93. Có lẽ chúng ta phải bao gồm trung tâm lá lách, vốn ở dưới cơ hoành và vì thế liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính.

94. The planar energy, the devic energy is, thus, related to the lower quaternary.

94. Do đó, năng lượng cõi giới, năng lượng deva, liên hệ với bộ tứ thấp.

95. We remember that personality cycles manifest in fours and in sevens. The numbers, at least, are linked.

95. Chúng ta nhớ rằng các chu kỳ phàm ngã biểu hiện theo bộ bốn và bộ bảy. Ít nhất, các con số ấy có liên hệ với nhau.

96. The devas create the “square”.

96. Các deva tạo ra “hình vuông”.

The sevenfold energy of the psyche, the consciousness aspect, demonstrates when the three higher in the three worlds are vibrating with accuracy.

Năng lượng thất phân của tâm thể, phương diện tâm thức, biểu hiện khi ba trung tâm cao hơn trong ba cõi giới rung động một cách chính xác.

97. The psyche has a sevenfold energy.

97. Tâm thể có một năng lượng thất phân.

98. We remember that soul cycles manifest in sevens and in threes. The numbers are linked.

98. Chúng ta nhớ rằng các chu kỳ linh hồn biểu hiện theo bộ bảy và bộ ba. Các con số ấy có liên hệ với nhau.

99. By the “three higher” is probably meant the three higher centers as they appear on the three planes—the etheric plane, the ‘etheric’ levels of the astral body and the higher mental plane (which are, except for the fourth subplane) the ‘etheric’ levels of the mental plane.

99. “Ba trung tâm cao hơn” có lẽ có nghĩa là ba trung tâm cao hơn như chúng xuất hiện trên ba cõi—cõi dĩ thái, các cấp độ ‘dĩ thái’ của thể cảm dục, và cõi thượng trí (vốn, ngoại trừ cõi phụ thứ tư, là các cấp độ ‘dĩ thái’ của cõi trí).

100. The psyche is the consciousness aspect which is related to the Seven Ways of Light. Rayology is related to the second ray just as astrology is related to the third.

100. Tâm thể là phương diện tâm thức liên hệ với Bảy Con Đường Ánh Sáng. Cung học liên hệ với cung hai cũng như chiêm tinh học liên hệ với cung ba.

101. On the soul level the seven rays represent seven aspects of consciousness.

101. Ở cấp độ linh hồn, bảy cung tượng trưng cho bảy phương diện của tâm thức.

102. DK seems to be talking about an alignment between the head, heart and throat centers as found on the etheric plane and the astral plane, and the three tiers of petals as found on the higher mental plane. (Note that only four chakras, the lower ones, are found on the lower four subplanes of the mental plane.)

102. Chân sư DK dường như đang nói về một sự chỉnh hợp giữa các trung tâm đầu, tim và cổ họng như được tìm thấy trên cõi dĩ thái và cõi cảm dục, và ba tầng cánh hoa như được tìm thấy trên cõi thượng trí. (Lưu ý rằng chỉ có bốn luân xa, tức các luân xa thấp hơn, được tìm thấy trên bốn cõi phụ thấp của cõi trí.)

103. We can wonder whether the ajna center is to be included as a separate center or whether it is to be considered as an aspect of the head center—as if all the many centers in and above the head are really one center.

103. Chúng ta có thể tự hỏi liệu trung tâm ajna có được bao gồm như một trung tâm riêng biệt hay không, hay nó phải được xem như một phương diện của trung tâm đầu—như thể tất cả nhiều trung tâm trong và trên đầu thực sự là một trung tâm.

The sevenfold activity of spirit

Hoạt động thất phân của tinh thần

104. It is interesting and important that Spirit is considered not only threefold but sevenfold. There are “Seven Spirits of Darkness” and seven types of Monads.

104. Thật thú vị và quan trọng khi Tinh thần được xem không chỉ là tam phân mà còn thất phân. Có “Bảy Thánh Linh của Bóng Tối” và bảy loại chân thần.

makes itself felt when each of these seven centres is not only fully active but is rotating as “wheels turning upon themselves,” when they are fourth dimensional

tự làm cho mình được cảm nhận khi mỗi một trong bảy trung tâm này không những hoàn toàn hoạt động mà còn đang quay như “những bánh xe tự quay trên chính mình,” khi chúng có tính bốn chiều

105. This happens sequentially at each of the initiations—the fourth dimensionality of the etheric centers occurring at the first initiation; the fourth dimensionality of the astral centers occurring at the second and, for the mental centers, at the third.

105. Điều này xảy ra tuần tự ở mỗi lần điểm đạo—tính bốn chiều của các trung tâm dĩ thái xảy ra ở lần điểm đạo thứ nhất; tính bốn chiều của các trung tâm cảm dục xảy ra ở lần điểm đạo thứ hai; và đối với các trung tâm trí tuệ, ở lần điểm đạo thứ ba.

106. What is here said suggests that the sevenfold Spirit is involved even in the earlier phases of the initiatory process. We do know that from the time of the first initiation, the Monad makes a contact with the soul on the higher mental plane though the personality does not register this contact.

106. Điều được nói ở đây gợi ý rằng Tinh thần thất phân có liên quan ngay cả trong những giai đoạn sớm hơn của tiến trình điểm đạo. Chúng ta biết rằng từ thời điểm lần điểm đạo thứ nhất, chân thần tạo một tiếp xúc với linh hồn trên cõi thượng trí dù phàm ngã không ghi nhận tiếp xúc này.

107. The manner in which the Spirit is sevenfold must be pondered just as the sevenfold psyche must be pondered.

107. Cách thức mà Tinh thần là thất phân phải được suy gẫm cũng như tâm thể thất phân phải được suy gẫm.

108. In one sense, Spirit is sevenfold because it expresses through seven principles.

108. Theo một nghĩa nào đó, Tinh thần là thất phân vì nó biểu hiện qua bảy nguyên khí.

and are not only individually alive but are all linked up with the sevenfold head centre.  

và không những sống động một cách riêng lẻ mà còn đều được nối kết với trung tâm đầu thất phân.  

109. Which of the head centers is sevenfold, or is DK speaking of what are called the “greater seven”—the higher correspondences to most of the normal chakric system.

109. Trung tâm đầu nào là thất phân, hay Chân sư DK đang nói về cái được gọi là “bảy lớn hơn”—những đối phần cao hơn của phần lớn hệ thống luân xa thông thường.

110. We are given a picture in which each of the chakras in the etheric body is turning on itself, rotating fourth dimensionally and is linked up with one aspect of the sevenfold head center, presumably with one of the “greater seven”.

110. Chúng ta được trao cho một bức tranh trong đó mỗi luân xa trong thể dĩ thái đều tự quay trên chính nó, quay theo chiều thứ tư và được nối kết với một phương diện của trung tâm đầu thất phân, có lẽ là với một trong “bảy lớn hơn”.

111. We know that there are seven superior head centers which stand as the “greater seven” to the “lesser seven”. What is not clear at this point is whether these seven are to be considered as within the head or above the head.

111. Chúng ta biết rằng có bảy trung tâm đầu cao hơn đứng như “bảy lớn hơn” đối với “bảy nhỏ hơn”. Điều chưa rõ ở điểm này là liệu bảy trung tâm ấy phải được xem là ở trong đầu hay trên đầu.

112. This leads to the question of whether the entire crown chakra can, in some sense, be considered sevenfold?

112. Điều này dẫn đến câu hỏi liệu toàn bộ luân xa vương miện có thể, theo một nghĩa nào đó, được xem là thất phân hay không?

A man is then seen as he is truly—a network of fire with flaming focal points, transmitting and circulating fiery energy.

Con người khi ấy được thấy đúng như y thật sự là—một mạng lưới lửa với những tiêu điểm rực cháy, truyền dẫn và lưu chuyển năng lượng lửa.

113. Some modern spiritual artists have given us this image in a very compelling way.

113. Một số nghệ sĩ tinh thần hiện đại đã trao cho chúng ta hình ảnh này theo một cách rất mạnh mẽ.

114. Our usual conception of the human form recedes into the background and man is seen as a dynamic pattern of energy-flows or streams.

114. Quan niệm thông thường của chúng ta về hình thể con người lùi vào hậu cảnh và con người được thấy như một mô hình động của các dòng hay luồng năng lượng.

115. It behooves us to think of man in these terms. This would help to dispel the habitual materialism of our consciousness.

115. Chúng ta cần nghĩ về con người theo những thuật ngữ này. Điều đó sẽ giúp làm tiêu tan chủ nghĩa duy vật quen thuộc trong tâm thức của chúng ta.

These centres not only receive the energy through the top of the head, orthrough a point slightly above the top of the head, to be more accurate, but pass it out through the head centre likewise, that which is being passed out being seen as differing in colour, being brighter and vibrating more rapidly than that which is being received.

Các trung tâm này không những tiếp nhận năng lượng qua đỉnh đầu, hayqua một điểm hơi ở trên đỉnh đầu, nói cho chính xác hơn, mà cũng truyền nó ra qua trung tâm đầu theo cùng cách ấy, điều được truyền ra được thấy là khác về màu sắc, sáng hơn và rung động nhanh hơn điều đang được tiếp nhận.

116. Here again we have an important piece of occultism. DK is identifying a point which some call the “soul star”. It is a point of energy reception and transmission.

116. Ở đây một lần nữa chúng ta có một mẩu huyền bí học quan trọng. Chân sư DK đang xác định một điểm mà một số người gọi là “sao linh hồn”. Đó là một điểm tiếp nhận năng lượng truyền dẫn.

117. We see that circulation through the centers of man intensifies the energy received from the point slightly above the top of the head.

117. Chúng ta thấy rằng sự lưu chuyển qua các trung tâm của con người làm tăng cường năng lượng tiếp nhận từ điểm hơi ở trên đỉnh đầu.

118. What will be this color difference. Will the color passed out carry the color of the ray of the personality? Will the color received reflect the color of the Spirit or that of the soul or both? We are in a section of text which is dealing with the sevenfold activity of Spirit.

118. Sự khác biệt màu sắc này sẽ là gì? Màu được truyền ra có mang màu của cung phàm ngã không? Màu được tiếp nhận có phản ánh màu của Tinh thần hay của linh hồn hay cả hai? Chúng ta đang ở trong một phần văn bản bàn về hoạt động thất phân của Tinh thần.

The etheric body is formed of a negative aspect of fire, and is the recipient of a positive fire.

Thể dĩ thái được tạo thành từ một phương diện âm của lửa, và là kẻ tiếp nhận một lửa dương.

119. The etheric body is a receptacle. We can consider that prana, per se, is positive to the aspect of fire of which the etheric body is constructed.

119. Thể dĩ thái là một vật chứa. Chúng ta có thể xem rằng prana, chính nó, là dương đối với phương diện lửa mà từ đó thể dĩ thái được cấu tạo.

As the various types of fire blend, merge, and circulate, they gain therebyand produce definite effects in the fires of the microcosmic system. [Page1159]

Khi các loại lửa khác nhau dung hợp, hòa trộn và lưu chuyển, nhờ đó chúng tăng thêmvà tạo ra những hiệu quả xác định trong các ngọn lửa của hệ thống tiểu thiên địa. [Page1159]

120. Various kinds of fire circulate through the vessel of the etheric body formed of a negative aspect of fire.

120. Các loại lửa khác nhau lưu chuyển qua bình chứa của thể dĩ thái được tạo thành từ một phương diện âm của lửa.

The centre at the base of the spine (the lowest with which man has consciously to deal)

Trung tâm ở đáy cột sống (trung tâm thấp nhất mà con người phải đề cập đến một cách hữu thức)

121. So there may be still lower centers with which man is in touch only unconsciously?

121. Vậy có thể còn những trung tâm thấp hơn nữa mà con người chỉ tiếp xúc với chúng một cách vô thức chăng?

is one of a peculiar interest, owing to its being the originating centre for three long streams of energy which pass up and down the spinal column.

là một trung tâm đặc biệt đáng quan tâm, do nó là trung tâm khởi nguyên cho ba dòng năng lượng dài đi lên và đi xuống cột sống.

122. We are given a further piece of information about the kundalini energy. One wonders whether these three streams of energy can be long before the purification process has occurred.

122. Chúng ta được cung cấp thêm một mẩu thông tin về năng lượng kundalini. Người ta tự hỏi liệu ba dòng năng lượng này có thể dài trước khi tiến trình thanh lọc xảy ra hay không.

This triple stream of force has most interesting correspondences which can be worked out by the intuitive student.

Dòng mãnh lực tam phân nàydòng mãnh lực tam phân có những tương ứng rất thú vị mà đạo sinh trực giác có thể khai triển.

123. Presumably those correspondences involve the three energy threads which traverse the mental plane and unite the lower triad to the higher triad.

123. Có lẽ những tương ứng ấy liên quan đến ba sợi dây năng lượng đi xuyên cõi trí và hợp nhất tam nguyên thấp với tam nguyên cao.

124. We note that DK calls it a “triple stream of force” and not a triple stream of energy.

124. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK gọi đó là một “dòng mãnh lực tam phân” chứ không phải một dòng năng lượng tam phân.

Some hints may here be given. This channel of threefold energy has itself three points of supreme interest, which (to word it so as to convey sense to the interested) may be regarded as:

Ở đây có thể đưa ra vài gợi ý. Kênh năng lượng tam phân này tự nó có ba điểm đáng quan tâm tối thượng, mà (nói theo cách để truyền đạt ý nghĩa cho người quan tâm) có thể được xem là:

1. The basic centre at the extreme lowest point of the spine.

1. Trung tâm căn bản ở điểm thấp tận cùng của cột sống.

2. The alta major centre at the top of the spine.

2. Trung tâm alta major ở đỉnh cột sống.

3. The supreme head centre.

3. Trung tâm đầu tối thượng.

125. DK seems to be telling us that the triple stream either originates from, passes through or terminates in one or other of these three centers.

125. Chân sư DK dường như đang nói với chúng ta rằng dòng tam phân ấy hoặc khởi nguồn từ, hoặc đi qua, hoặc chấm dứt ở một trong ba trung tâm này.

126. We note that DK says of the alta major center that it is at the “top of the spine” and not at the ‘bottom of the skull’. Yet for all that, it can be considered as a center found in relation to the head.

126. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK nói về trung tâm alta major rằng nó ở “đỉnh cột sống” chứ không ở ‘đáy hộp sọ’. Tuy vậy, nó vẫn có thể được xem là một trung tâm được tìm thấy trong liên hệ với đầu.

127. When DK uses the term supreme head center He is hinting that there are centers other than the alta major center which are not supreme. Perhaps there are many. The head is the macrocosm of the remainder of the body and can be expected to have one center found within it or in its vicinity correlated with each of the other centers.

127. Khi Chân sư DK dùng thuật ngữ trung tâm đầu tối thượng Ngài đang gợi ý rằng có những trung tâm khác ngoài trung tâm alta major mà không phải là tối thượng. Có lẽ có nhiều trung tâm như thế. Đầu là đại thiên địa của phần còn lại của thể và có thể được kỳ vọng có một trung tâm nằm trong nó hay gần nó tương quan với mỗi trung tâm khác.

128. One wonders if there is a hint in the word “supreme” indicating the acme of the highest of all centers. We note that the word “supreme” is used twice in the section of text above.

128. Người ta tự hỏi liệu có một gợi ý nào trong từ “tối thượng” chỉ đỉnh cao của trung tâm cao nhất trong mọi trung tâm hay không. Chúng ta lưu ý rằng từ “tối thượng” được dùng hai lần trong phần văn bản trên.

129. One further wonders why the terms “extreme” and “supreme” are featured in this paragraph.

129. Người ta còn tự hỏi thêm vì sao các từ “tận cùng” và “tối thượng” lại được nhấn mạnh trong đoạn này.

It is, therefore, a miniature picture of the whole evolution of spirit and matter for,

Do đó, nó là một bức tranh thu nhỏ của toàn bộ sự tiến hoá của tinh thần và vật chất vì,

1. The lowest centre corresponds to the personality,

1. Trung tâm thấp nhất tương ứng với phàm ngã,

2. The middle centre to the Ego, or the Thinker,

2. Trung tâm giữa tương ứng với chân ngã, hay Đấng Tư Tưởng,

3. The supreme head centre to the Monad.

3. Trung tâm đầu tối thượng tương ứng với chân thần.

130. So the base of the spine center with its four petals corresponds to the fourfold personality. The alta major center (and this is interesting) corresponds to the Ego or Thinker. Usually, it has a third aspect association. The “supreme head centre” predictably corresponds to the Monad.

130. Vậy trung tâm đáy cột sống với bốn cánh hoa của nó tương ứng với phàm ngã tứ phân. Trung tâm alta major (và điều này thật thú vị) tương ứng với chân ngã hay Đấng Tư Tưởng. Thông thường, nó có một liên hệ với phương diện thứ ba. “Trung tâm đầu tối thượng” như có thể dự đoán tương ứng với chân thần.

131. We have noticed that the ajna center has, at various points of evolution, a correspondence with the first, second and third rays. We now note that the alta major center has a correspondence with at least the third and second aspects.

131. Chúng ta đã lưu ý rằng trung tâm ajna, ở những điểm tiến hoá khác nhau, có một tương ứng với cung một, cung hai và cung ba. Giờ đây chúng ta lưu ý rằng trung tâm alta major có một tương ứng với ít nhất phương diện thứ ba và thứ hai.

In the evolution of the fires of the spine, we have a correspondence to the sutratma with its three points of interest, the monadic auric egg, its emitting point, the egoic auric egg, the medial point, and the body or gross form, its lowest point.

Trong sự tiến hoá của các ngọn lửa nơi cột sống, chúng ta có một tương ứng với sutratma với ba điểm đáng quan tâm của nó, noãn hào quang chân thần, điểm phát xạ của nó, noãn hào quang chân ngã, điểm trung gian, và thể hay hình tướng thô nặng, điểm thấp nhất của nó.

132. Here is another fitting correspondence—three fires of the spine are a correspondence to the sutratma (or life thread, which could be conceived as containing the two other threads—the creative thread and the consciousness thread).

132. Đây là một tương ứng thích hợp khác—ba ngọn lửa của cột sống là một tương ứng với sutratma (hay sợi dây sự sống, có thể được quan niệm là chứa hai sợi dây kia—sợi dây sáng tạo và sợi dây tâm thức).

133. We learn, that for practical purposes, the monadic auric egg is considered the “emitting point” of the sutratma. The sutratma passes through the egoic auric egg as a medial point and, fittingly, the body or gross form is the lowest point.

133. Chúng ta học được rằng, cho các mục đích thực tiễn, noãn hào quang chân thần được xem là “điểm phát xạ” của sutratma. Sutratma đi qua noãn hào quang chân ngã như một điểm trung gian, và một cách thích hợp, thể hay hình tướng thô nặng là điểm thấp nhất.

134. Of course, from a superhuman perspective, there is much more to the sutratma than its origin within the monadic auric egg; the Universal Sutratma connects all living B/beings in cosmos.

134. Dĩ nhiên, từ một viễn tượng siêu nhân loại, sutratma còn nhiều hơn rất nhiều so với nguồn gốc của nó bên trong noãn hào quang chân thần; Sutratma Vũ Trụ nối kết mọi B/bản thể sống trong vũ trụ.

Another hint of interest lies in the fact that there exist between these spinal centres, certain gaps (if I may so express it) which have (in the course of evolution) to be bridged by the energetic action of the rapidly growing vibration of the force unit.

Một gợi ý thú vị khác nằm ở sự kiện rằng giữa các trung tâm cột sống này có những khoảng trống nhất định (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy), mà (trong tiến trình tiến hoá) phải được bắt cầu bằng tác động năng động của rung động đang tăng trưởng nhanh chóng của đơn vị lực.

135. These “gaps” are an example of hermetic sealing. They prevent the premature mixing and blending of energies.

135. Những “khoảng trống” này là một ví dụ về sự niêm phong huyền môn. Chúng ngăn cản sự pha trộn và dung hợp các năng lượng một cách non sớm.

136. The entire integrative process, humanly considered, is intended to overcome various gaps between energies and gaps between aspects of consciousness. Premature mixing will lead to confusion, disorganization and disintegration.

136. Toàn bộ tiến trình tích hợp, xét theo phương diện con người, nhằm vượt qua các khoảng trống khác nhau giữa các năng lượng và các khoảng trống giữa các phương diện của tâm thức. Sự pha trộn non sớm sẽ dẫn đến hỗn loạn, vô tổ chức và tan rã.

Between the triple energy of the spinal column and the alta major centre, there is a hiatus,

Giữa năng lượng tam phân của cột sống và trung tâm alta major có một khoảng gián cách,

137. The alta major center may be at the top of the spinal column, but this reference seems to locate it at the base of the skull towards which the energy rising in the spinal column must reach.

137. Trung tâm alta major có thể ở đỉnh cột sống, nhưng chỗ nói này dường như đặt nó ở đáy sọ, là nơi mà năng lượng dâng lên trong cột sống phải vươn tới.

just as there exists that which must be bridged between the triple lower man and the egoic body,

cũng như có một điều phải được bắt cầu giữa phàm ngã tam phân và thể chân ngã,

138. This is a hiatus which is not so often considered as the one existing between the mental unit and the manasic permanent atom.

138. Đây là một khoảng gián cách không thường được xét đến bằng khoảng gián cách hiện hữu giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas.

139. This hiatus (between the lower man and the egoic body) is represented on charts by the dotted line separating the lower and higher mental planes.

139. Khoảng gián cách này (giữa phàm nhân và thể chân ngã) được biểu thị trên các biểu đồ bằng đường chấm phân cách cõi hạ trí và Cõi thượng trí.

140. The presence of this hiatus accounts for the fact that the aspiring man cannot (immediately) achieve soul consciousness by desiring and willing to do so.

140. Sự hiện diện của khoảng gián cách này giải thích vì sao người chí nguyện không thể (ngay lập tức) đạt được tâm thức linh hồn chỉ bằng cách mong muốn và quyết chí làm như vậy.

or between the mental unit on the fourth subplane of the mental plane and the solar Angel on the third subplane.

hoặc giữa đơn vị hạ trí trên cõi phụ thứ tư của cõi trí và Thái dương Thiên Thần trên cõi phụ thứ ba.

141. This is another way of expressing the same “gap”. The mental unit is part of man’s personality and is the center around which he integrates his personality. The Solar Angel focuses either on the third subplane or the second and these two spheres of activity (lower mental and higher mental) are, at first, not interpenetrating. At least we should say that the lower man cannot with facility embrace the sphere of activity of the Solar Angel, though the Solar Angel has already, long ago, stimulated the mental unit and can be aware of the content of mind of the lower man.

141. Đây là một cách khác để diễn đạt cùng một “khoảng trống”. Đơn vị hạ trí là một phần của phàm ngã con người và là trung tâm quanh đó y tích hợp phàm ngã của mình. Thái dương Thiên Thần tập trung hoặc trên cõi phụ thứ ba hoặc thứ hai, và hai khối cầu hoạt động này (hạ trí và thượng trí) lúc đầu không xuyên nhập lẫn nhau. Ít nhất chúng ta nên nói rằng phàm nhân không thể dễ dàng bao quát khối cầu hoạt động của Thái dương Thiên Thần, mặc dù Thái dương Thiên Thần từ lâu đã kích thích đơn vị hạ trí và có thể nhận biết nội dung trí tuệ của phàm nhân.

Though we are told that the permanent atomic triad is enclosed in the [Page 1160] causal periphery, nevertheless, from the standpoint of consciousness there is that which must be bridged.

Mặc dù chúng ta được cho biết rằng tam nguyên nguyên tử trường tồn được bao bọc trong [Page 1160] chu vi nhân thể, tuy nhiên, từ quan điểm của tâm thức vẫn có điều phải được bắt cầu.

142. It is important to realize that the “permanent atomic triad” is, indeed, enclosed within the causal periphery. This is an energic fact— though it is not initially a fact in consciousness for the man focussed in his personality consciousness.

142. Điều quan trọng là phải chứng nghiệm rằng “tam nguyên nguyên tử trường tồn” quả thực được bao bọc bên trong chu vi nhân thể. Đây là một sự kiện— xét về năng lượng, dù ban đầu nó không phải là một sự kiện trong tâm thức đối với người tập trung trong tâm thức phàm ngã của mình.

143. Thus we see that the fact of enclosure does not guarantee facile communication between that which is enclosed and that which has enclosed it.

143. Như vậy chúng ta thấy rằng sự kiện được bao bọc không bảo đảm sự giao thông dễ dàng giữa cái được bao bọc và cái đã bao bọc nó.

Again, between the alta major centre and the supreme head centre, exists another gulf—a correspondence to the gulf found between the plane of the Ego and the lowest point of the Triad, the manasic permanent atom.

Một lần nữa, giữa trung tâm alta major và trung tâm đầu tối cao lại có một vực ngăn khác—một tương ứng với vực ngăn được tìm thấy giữa cõi của chân ngã và điểm thấp nhất của Tam nguyên tinh thần, tức nguyên tử trường tồn manas.

144. This is a most important statement. We now see why the circulation between the three major centers related to the head is not readily accomplished. The gap between the alta major center and the supreme head center is like the gap existing between humanity and Shamballa.

144. Đây là một phát biểu hết sức quan trọng. Giờ đây chúng ta thấy vì sao sự tuần hoàn giữa ba trung tâm chính liên hệ với đầu không dễ dàng được hoàn thành. Khoảng trống giữa trung tâm alta major và trung tâm đầu tối cao giống như khoảng trống hiện hữu giữa nhân loại và Shamballa.

145. One wonders then—if the alta major center is to be associated with the Ego (as here and heretofore stated), then is the fourfold ajna center to be associated with the fourfold mental unit? The numbering is correct. Usually within this triangle associated with the head, the ajna center represents the second aspect of divinity and the alta major center the third aspect, but there seems to be a reversal in this presentation.

145. Khi ấy người ta tự hỏi—nếu trung tâm alta major được liên kết với chân ngã (như ở đây và trước đó đã nói), thì trung tâm ajna tứ phân có được liên kết với đơn vị hạ trí tứ phân chăng? Cách đánh số là đúng. Thông thường trong tam giác liên hệ với đầu này, trung tâm ajna biểu thị phương diện thứ hai của thiên tính và trung tâm alta major biểu thị phương diện thứ ba, nhưng dường như có một sự đảo ngược trong cách trình bày này.

146. In TCF, Chart IX, 823, we see that the antahkarana is threefold. There is a relationship existing between the mental unit and the egoic lotus; there is a relationship existing between the mental unit and the manasic permanent atom; there is also another relationship existing between the egoic lotus and the manasic permanent atom. This last relationship is the one we are discussing in the section of text immediately above.

146. Trong Luận về Lửa Vũ Trụ, Biểu đồ IX, trang 823, chúng ta thấy antahkarana là tam phân. Có một mối liên hệ hiện hữu giữa đơn vị hạ trí và Hoa Sen Chân Ngã; có một mối liên hệ hiện hữu giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas; cũng có một mối liên hệ khác hiện hữu giữa Hoa Sen Chân Ngã và nguyên tử trường tồn manas. Mối liên hệ sau cùng này là điều chúng ta đang bàn đến trong phần văn bản ngay bên trên.

147. There is no question but that the gulf between the Ego and the manasic permanent atom must be bridged and when it is, the gulf, in the head, between the alta major center and the supreme head center will also be bridged. To bridge the gulf between the Ego and the manasic permanent atom is to bridge the gulf between the Ego on the higher mental plane and the spiritual triad.

147. Không còn nghi ngờ gì rằng vực ngăn giữa chân ngã và nguyên tử trường tồn manas phải được bắt cầu, và khi điều đó xảy ra, vực ngăn trong đầu, giữa trung tâm alta major và trung tâm đầu tối cao, cũng sẽ được bắt cầu. Bắt cầu vực ngăn giữa chân ngã và nguyên tử trường tồn manas là bắt cầu vực ngăn giữa chân ngã trên Cõi thượng trí và Tam Nguyên Tinh Thần.

148. The threefold antahkarana as shown on TCF, 823, will be completed in satisfactory measure at the third initiation.

148. Antahkarana tam phân như được trình bày trong Luận về Lửa Vũ Trụ, trang 823, sẽ được hoàn tất ở mức thỏa đáng vào lần điểm đạo thứ ba.

149. Note this piece of information because it is indispensable for understanding the circulation of energy within the major triangle associated with the head.

149. Hãy lưu ý mẩu thông tin này vì nó không thể thiếu để hiểu sự tuần hoàn năng lượng bên trong tam giác chính liên hệ với đầu.

When man has constructed the antaskarana (which he does during the final stages of his evolution in the three worlds) that gulf is bridged and the Monad and the Ego are closely linked.

Khi con người đã xây dựng antaskarana (điều mà y thực hiện trong các giai đoạn cuối của tiến hoá của mình trong ba cõi giới), thì vực ngăn ấy được bắt cầu và chân thần cùng chân ngã được liên kết chặt chẽ.

150. The Monad is linked to the Ego via the spiritual triad but also directly from the “Monadic Jewel” to the “Jewel in the Lotus” within the Ego.

150. Chân thần được liên kết với chân ngã qua Tam Nguyên Tinh Thần, nhưng cũng trực tiếp từ “Bảo Châu Chân Thần” đến “Bảo Châu trong Hoa Sen” bên trong chân ngã.

151. From one point of view the alta major center is the symbol of the personality and the relationship between the supreme head center and the alta major center is like the relationship in astrology between the Sun-sign (alta major center) and the point opposite the Sun-sign—the supreme head center.

151. Từ một quan điểm, trung tâm alta major là biểu tượng của phàm ngã, và mối liên hệ giữa trung tâm đầu tối cao và trung tâm alta major giống như mối liên hệ trong chiêm tinh học giữa dấu hiệu Mặt Trời (trung tâm alta major) và điểm đối diện với dấu hiệu Mặt Trời—trung tâm đầu tối cao.

152. All this tells us that as we work to link the mental unit via the antahkarana to the manasic permanent atom, thus relating the lower and higher triads, we are linking the Monad with the personality and are facilitating the linkage not only of the mental unit with the spiritual triad, but of the Ego with the manasic permanent atom (and, hence, with the lower point of the spiritual triad)!

152. Tất cả điều này cho chúng ta biết rằng khi chúng ta làm việc để liên kết đơn vị hạ trí qua antahkarana với nguyên tử trường tồn manas, nhờ đó liên hệ tam nguyên thấp với Tam Nguyên Tinh Thần, thì chúng ta đang liên kết chân thần với phàm ngã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho sự liên kết không chỉ của đơn vị hạ trí với Tam Nguyên Tinh Thần, mà còn của chân ngã với nguyên tử trường tồn manas (và do đó với điểm thấp của Tam Nguyên Tinh Thần)!

153. DK is also hinting that at the third initiation when the antahkarana is completed (in its first phase, that is) the Monad, the Ego and personality are also linked.

153. Chân sư DK cũng đang gợi ý rằng vào lần điểm đạo thứ ba, khi antahkarana được hoàn tất (nghĩa là trong giai đoạn đầu tiên của nó), chân thần, chân ngã và phàm ngã cũng được liên kết.

When man is polarised in his mental body, he begins to bridge the antaskarana.

Khi con người phân cực trong thể trí của mình, y bắt đầu bắt cầu antaskarana.

154. Is the achievement of “mental polarization” the same as becoming “polarised in his mental body”? If so, this means that the bridging process known as building the antahkarana can only occur truly after the second initiation, because mental polarization only occurs midway between the second and third initiations.

154. Thành tựu “sự phân cực trí tuệ” có phải cũng là trở nên “phân cực trong thể trí của mình” không? Nếu vậy, điều này có nghĩa là tiến trình bắt cầu được biết như việc xây dựng antahkarana chỉ thực sự có thể xảy ra sau lần điểm đạo thứ hai, bởi vì sự phân cực trí tuệ chỉ xảy ra ở điểm giữa lần điểm đạo thứ hai và thứ ba.

155. Perhaps that moment which occurs between the second and third initiation should be called full or complete mental polarization.

155. Có lẽ khoảnh khắc xảy ra giữa lần điểm đạo thứ hai và thứ ba nên được gọi là sự phân cực trí tuệ trọn vẹn hay hoàn toàn.

When the centre between the shoulder blades, referred to earlier in thisTreatise as the manasic centre,

Khi trung tâm giữa hai bả vai, được nói đến trước đây trong bộ Luận này như là trung tâm manas,

156. We must note that the form of words “manasic centre” is only used once— at this point in the text. (I am trying to find the previous reference which does not include the words “manasic centre”)

156. Chúng ta phải lưu ý rằng dạng từ “trung tâm manas” chỉ được dùng một lần— ngay tại điểm này trong văn bản. (Tôi đang cố tìm chỗ nhắc trước đó mà không bao gồm các từ “trung tâm manas”)

157. This “manasic centre” is clearly not the heart center. We could also wonder whether the “manasic center” is the same as the highest point in the pranic triangle located in the lower region between the shoulder blades. Whether or not it is the same as this highest point in the pranic triangle, we realize that it, too, is between the shoulder blades.

157. “Trung tâm manas” này rõ ràng không phải là trung tâm tim. Chúng ta cũng có thể tự hỏi liệu “trung tâm manas” có phải là cùng một trung tâm với điểm cao nhất trong tam giác prana nằm ở vùng thấp hơn giữa hai bả vai hay không. Dù có hay không là cùng một điểm cao nhất trong tam giác prana này, chúng ta nhận ra rằng nó cũng nằm giữa hai bả vai.

158. If we think about this carefully, we realize that there is a possibility of three centers between the shoulder blades:

158. Nếu suy nghĩ cẩn thận về điều này, chúng ta nhận ra rằng có khả năng có ba trung tâm giữa hai bả vai:

a. The highest pranic center, at the lowest possible position between the shoulder blades

a. Trung tâm prana cao nhất, ở vị trí thấp nhất có thể giữa hai bả vai

b. The heart center at the midway point between the shoulder blades

b. Trung tâm tim ở điểm giữa giữa hai bả vai

c. A “manasic center” which may be inferred to be still between the shoulder blades but in a position higher than the heart center.

c. Một “trung tâm manas” có thể được suy ra là vẫn nằm giữa hai bả vai nhưng ở vị trí cao hơn trung tâm tim.

is vibrating forcefully, then the alta major centre and the head centre, via the throat centre can be united.

đang rung động mạnh mẽ, thì trung tâm alta major và trung tâm đầu, qua trung tâm cổ họng, có thể được hợp nhất.

159. It should be noted that the alta major center is placed in a higher position than the throat center. This is significant.

159. Cần lưu ý rằng trung tâm alta major được đặt ở vị trí cao hơn trung tâm cổ họng. Điều này có ý nghĩa.

160. In the Fifth Ray Formula for uniting the man with the “Angel of the Presence”, we have what may be another hint concerning this “manasic centre”:

160. Trong Công thức Cung năm để hợp nhất con người với “Thiên Thần của Hiện Diện”, chúng ta có điều có thể là một gợi ý khác liên quan đến “trung tâm manas” này:

“The light that radiates from the heart, the throat, and from the centre which stands midway meet and merge.” (EP II 47)

“Ánh sáng phát ra từ tim, cổ họng, và từ trung tâm đứng ở giữa gặp nhau và hòa nhập.” (EP II 47)

161. The fifth ray is a highly manasic ray and we are dealing with a “manasic centre” which may be found between the throat center and the heart center.

161. Cung năm là một cung rất manas, và chúng ta đang bàn đến một “trung tâm manas” có thể được tìm thấy giữa trung tâm cổ họng và trung tâm tim.

162. The following reference (very obscure) will have to be correlated:

162. Chỗ dẫn sau đây (rất tối nghĩa) sẽ phải được đối chiếu tương quan:

The significance of the four circles in the egoic lotus, and the eight circles of twelve petals each in the etheric lotuses on the mental plane is of great importance. (TCF 861)

Ý nghĩa của bốn vòng tròn trong Hoa Sen Chân Ngã, và tám vòng tròn mỗi vòng có mười hai cánh hoa trong các hoa sen dĩ thái trên cõi trí là điều hết sức quan trọng. (TCF 861)

163. In some systems of Laya Yoga, the alta major center is said to have 96 petals. 8 x 12 = 96. There may be a correlation between the alta major center and the eight circles of twelve petals each to be found on the mental plane.

163. Trong một số hệ thống Laya Yoga, trung tâm alta major được nói là có 96 cánh hoa. 8 x 12 = 96. Có thể có một sự tương quan giữa trung tâm alta major và tám vòng tròn mỗi vòng có mười hai cánh hoa được tìm thấy trên cõi trí.

164. We have still more hints.

164. Chúng ta còn có thêm nhiều gợi ý nữa.

165. The “center between the shoulder blades” is not the heart center. Our question: is it the highest point in the pranic triangle or a center still higher than the heart center and associated with the lungs. And does it have eight petals, suggesting the influence of Mercury?

165. “Trung tâm giữa hai bả vai” không phải là trung tâm tim. Câu hỏi của chúng ta là: nó có phải là điểm cao nhất trong tam giác prana hay là một trung tâm còn cao hơn trung tâm tim và liên hệ với phổi? Và nó có tám cánh hoa chăng, gợi ý ảnh hưởng của Sao Thủy?

166. We have an alignment between the center between the shoulder blades, the throat center, the alta major center and the supreme head center.

166. Chúng ta có một sự chỉnh hợp giữa trung tâm giữa hai bả vai, trung tâm cổ họng, trung tâm alta major và trung tâm đầu tối cao.

167. We have a series of dependencies:

167. Chúng ta có một chuỗi các sự tùy thuộc:

a. The link between the Ego and the manasic permanent atom is dependent upon

a. Sự liên kết giữa chân ngã và nguyên tử trường tồn manas tùy thuộc vào

b. The link between the alta major center and the supreme head center, which is dependent upon…

b. Sự liên kết giữa trung tâm alta major và trung tâm đầu tối cao, mà điều này lại tùy thuộc vào…

c. A link of a certain intensity between the throat center and the alta major center, which is dependent upon…

c. Một sự liên kết có cường độ nhất định giữa trung tâm cổ họng và trung tâm alta major, mà điều này lại tùy thuộc vào…

d. The forceful vibration of the center between the shoulder blades—here called the “manasic centre”.

d. Sự rung động mạnh mẽ của trung tâm giữa hai bả vai—ở đây được gọi là “trung tâm manas”.

Man, when he reaches this stage, is a creator in mental matter of a calibre different from the unconsciously working average man.

Con người, khi đạt đến giai đoạn này, là một đấng sáng tạo trong chất liệu trí tuệ với một tầm mức khác hẳn con người trung bình hoạt động một cách vô thức.

168. Here we have the chakric formula for a mental creator

168. Ở đây chúng ta có công thức luân xa dành cho một đấng sáng tạo trí tuệ

He constructs in unison with the plan

Y kiến tạo trong sự đồng nhất với Thiên Cơ

169. The man obeys the following injunction: “The energy of thought is for the good of all and the furtherance of thee Plan of God. Use it not, therefore, for they selfish ends.” (TWM 473)

169. Con người tuân theo mệnh lệnh sau đây: “Năng lượng của tư tưởng là vì lợi ích của tất cả và vì sự thúc đẩy Thiên Cơ của Thượng đế. Vì vậy, đừng dùng nó cho những mục đích ích kỷ của bạn.” (TWM 473)

170. We remember that the Divine Plan is formulated on the atmic plane.

170. Chúng ta nhớ rằng Thiên Cơ được hoạch định trên cõi atma.

and the divine Manasaputra, the Son of Mind, will turn his attention from being a Son of Power in the three worlds

và Manasaputra thiêng liêng, Con của Trí Tuệ, sẽ chuyển sự chú ý của mình khỏi việc là một Con của Quyền năng trong ba cõi giới

171. Is DK speaking of the human being as an Ego (a Divine Manasaputra or Son of Mind) or is He speaking of a Solar Angel?

171. Chân sư DK đang nói về con người như một chân ngã (một Manasaputra Thiêng liêng hay Con của Trí Tuệ) hay Ngài đang nói về một Thái dương Thiên Thần?

172. The “Son of Mind” is a great power in the lower worlds. This power is meant to dominate all that transpires in the lower worlds.

172. “Con của Trí Tuệ” là một quyền năng lớn trong các cõi thấp. Quyền năng này được định để chi phối mọi điều diễn ra trong các cõi thấp.

and centre his attention in the Spiritual Triad, thus recapitulating on a higher turn of the spiral, the work he earlier did as man.

và tập trung sự chú ý của mình vào Tam Nguyên Tinh Thần, nhờ đó lặp lại, trên một vòng xoắn cao hơn, công việc mà trước đây y đã làm với tư cách con người.

173. If one thinks carefully about this, we have a very strange statement. We could be speaking of the reorientation of the Solar Angel, but then the Solar Angel already is polarized, minimally, within the spiritual triad and has no need to turn his attention thither. Perhaps, however, we are speaking of the time when the service-mission of the Solar Angel is completed, and it can refocus entirely upon the cosmic etheric planes without attending to the affairs of the human being in the three lower worlds which it has had under supervision.

173. Nếu suy nghĩ cẩn thận về điều này, chúng ta có một phát biểu rất lạ. Chúng ta có thể đang nói về sự tái định hướng của Thái dương Thiên Thần, nhưng khi ấy Thái dương Thiên Thần đã phân cực, ít nhất là tối thiểu, trong Tam Nguyên Tinh Thần và không cần phải chuyển sự chú ý của mình về đó. Tuy nhiên, có lẽ chúng ta đang nói về thời điểm khi sứ mệnh phụng sự của Thái dương Thiên Thần được hoàn tất, và nó có thể tái tập trung hoàn toàn vào các cõi dĩ thái vũ trụ mà không còn phải lưu tâm đến các công việc của con người trong ba cõi thấp mà nó đã giám sát.

174. This refocusing is followed at the point of the fourth initiation by the return of the Solar Angel to the Heart of the Sun or the Central Spiritual Sun.

174. Sự tái tập trung này được tiếp nối, tại điểm của lần điểm đạo thứ tư, bằng sự trở về của Thái dương Thiên Thần vào Trái Tim Mặt Trời hay Mặt trời Tinh thần Trung Ương.

175. So the question is: is the Divine Manasaputra or Son of Mind a man or a Solar Angel?

175. Vậy câu hỏi là: Manasaputra Thiêng liêng hay Con của Trí Tuệ là một con người hay một Thái dương Thiên Thần?

176. If a man, then we are speaking about a reorientation of the man from the fourth kingdom of nature into the fifth, which is accomplished by learning to build the antahkarana and center consciousness within the spiritual triad. A higher initiate can do this—an initiate of the third, fourth or fifth degree.

176. Nếu là một con người, thì chúng ta đang nói về sự tái định hướng của con người từ giới thứ tư của bản chất vào giới thứ năm, điều này được hoàn thành bằng cách học xây dựng antahkarana và tập trung tâm thức trong Tam Nguyên Tinh Thần. Một điểm đạo đồ cao cấp có thể làm được điều này—một điểm đạo đồ bậc ba, bốn hoặc năm.

177. We see that if the earlier state was the state of “man”, then the “Son of Mind” or “Divine Manasaputra” cannot be considered to be ‘man-as-man’, but rather the Jiva, who is the extension-into-matter of the Monad. This Jiva is that which, on the higher mental plane, can be considered the “Ego” in distinction from the Solar Angel or “returning Nirvani”.

177. Chúng ta thấy rằng nếu trạng thái trước đó là trạng thái của “con người”, thì “Con của Trí Tuệ” hay “Manasaputra Thiêng liêng” không thể được xem là ‘con người-với-tư-cách-con-người’, mà đúng hơn là Jiva, tức sự mở rộng-vào-vật-chất của chân thần. Jiva này là điều mà trên Cõi thượng trí có thể được xem là “chân ngã”, phân biệt với Thái dương Thiên Thần hay “nirvani hồi quy”.

178. The true man is “mind-born” which is the meaning of Manasaputra. The Solar Angel is also “mind-born” but the Monad that sends it forth is more highly ‘positioned’ than is the Monad of man.

178. Con người đích thực “được sinh ra từ trí tuệ”, đó là ý nghĩa của Manasaputra. Thái dương Thiên Thần cũng “được sinh ra từ trí tuệ”, nhưng chân thần phát xuất nó có vị thế cao hơn chân thần của con người.

179. There is quite a distinction between ‘man-as-Ego’ and the ‘Solar Angel-as-Ego’. Both are needed to make the Ego as it appears on the higher mental plane, but the Solar Angel is no longer needed to participate in the Ego when that Ego appears as the spiritual triad and, later, as the Monad.

179. Có một sự phân biệt khá rõ giữa ‘con người-với-tư-cách-chân-ngã’ và ‘Thái dương Thiên Thần-với-tư-cách-chân-ngã’. Cả hai đều cần thiết để tạo nên chân ngã như nó xuất hiện trên Cõi thượng trí, nhưng Thái dương Thiên Thần không còn cần thiết để tham dự vào chân ngã khi chân ngã ấy xuất hiện như Tam Nguyên Tinh Thần và về sau như chân thần.

This becomes possible when the growth of the triangle just above dealt with (base of spine, alta major centre and throat, as they unify in the head) is paralleled by another triplicity, the solar plexus, the heart and the third eye; the energy merging through them is similarly unified in the same head centre.

Điều này trở nên khả hữu khi sự tăng trưởng của tam giác vừa được bàn ở trên (đáy cột sống, trung tâm alta major và cổ họng, khi chúng hợp nhất trong đầu) được song hành bởi một bộ ba khác, là tùng thái dương, tim và con mắt thứ ba; năng lượng dung hợp qua chúng cũng được hợp nhất tương tự trong cùng trung tâm đầu ấy.

180. We are speaking of two unifications in the supreme head center:

180. Chúng ta đang nói đến hai sự hợp nhất trong trung tâm đầu tối cao:

a. The base of the spine, alta major center and throat center are unified in the supreme head center

a. Đáy cột sống, trung tâm alta major và trung tâm cổ họng được hợp nhất trong trung tâm đầu tối cao

b. The solar plexus, the heart center and third eye are also unified in the supreme head center.

b. Tùng thái dương, trung tâm tim và con mắt thứ ba cũng được hợp nhất trong trung tâm đầu tối cao.

c. We seem to be dealing with the merging of two ‘lines’—a ‘hard line’ and a ‘soft line’.

c. Dường như chúng ta đang bàn đến sự dung hợp của hai ‘đường’—một ‘đường cứng’ và một ‘đường mềm’.

d. Let us tabulate the centers involved: base of the spine; solar plexus, heart center, throat center, alta major center, third cosmic ether, supreme head center. We note that the third eye is, in this enumeration, considered an etheric center: it is a magnetized area in the center of the etheric brain.

d. Chúng ta hãy lập bảng các trung tâm liên quan: đáy cột sống; tùng thái dương, trung tâm tim, trung tâm cổ họng, trung tâm alta major, dĩ thái vũ trụ thứ ba, trung tâm đầu tối cao. Chúng ta lưu ý rằng con mắt thứ ba, trong sự liệt kê này, được xem là một trung tâm dĩ thái: nó là một vùng bị từ hóa trong trung tâm của bộ não dĩ thái.

e. To be complete we must also include the “manasic centre”, in which case eight centers will be involved in the alignment uniting the base of the spine center with the supreme head center.

e. Để đầy đủ, chúng ta cũng phải bao gồm “trung tâm manas”, trong trường hợp ấy sẽ có tám trung tâm tham gia vào sự chỉnh hợp hợp nhất trung tâm đáy cột sống với trung tâm đầu tối cao.

f. If we included the “manasic centre” we would have seven merging into one making eight altogether.

f. Nếu chúng ta bao gồm “trung tâm manas” thì sẽ có bảy trung tâm dung nhập vào một, thành tám tất cả.

181. I think we can begin to sense the depth of the occultism here under discussion.

181. Tôi nghĩ chúng ta có thể bắt đầu cảm nhận được chiều sâu của huyền bí học đang được bàn đến ở đây.

S9S9 Part II

TCF 1160-1166

TCF 1160-1166

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCFđược trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn văn.Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

The third eye is an energy centre constructed by man; it is a correspondence to the energy centre, the causal body, constructed by the Monad.

Con mắt thứ ba là một trung tâm năng lượng do con người kiến tạo; nó là một tương ứng với trung tâm năng lượng, thể nguyên nhân, do chân thần kiến tạo.

1. This is a fascinating and important statement. The human being is not born with a third eye. During the processes of evolution he builds it. It is an evocation arising from the interplay of three energy-streams.

1. Đây là một phát biểu hấp dẫn và quan trọng. Con người không sinh ra đã có con mắt thứ ba. Trong các tiến trình tiến hoá, y xây dựng nó. Nó là một sự gợi lên phát sinh từ sự tương tác của ba dòng năng lượng.

2. Likewise, the Monad does not come forth on its own plane with a causal body already constructed. By a deliberate act-of-will the causal body is constructed at a certain point in the monadic process. Are there, we might wonder, the correspondence for the Monad of the three energy-streams from which the third eye arises within man?

2. Tương tự như vậy, chân thần không xuất hiện trên cõi riêng của nó với một thể nguyên nhân đã được kiến tạo sẵn. Bằng một hành vi cố ý của ý chí, thể nguyên nhân được kiến tạo tại một điểm nhất định trong tiến trình chân thần. Chúng ta có thể tự hỏi liệu đối với chân thần có một tương ứng nào của ba dòng năng lượng mà từ đó con mắt thứ ba phát sinh trong con người hay không?

The alta major centre is similarly constructed by other streams of force andcorresponds interestingly to the triple form constructed by the ego in the three worlds.

Trung tâm alta major cũng được kiến tạo tương tự bởi các dòng lực khác vàtương ứng một cách thú vị với hình thức tam phân do chân ngã kiến tạo trong ba cõi giới.

3. Are we to think that in the case of each type of construction three streams of force are involved?

3. Chúng ta có nên nghĩ rằng trong trường hợp của mỗi loại kiến tạo đều có ba dòng lực tham gia không?

4. This is certainly the case in relation to the formation of the third eye. We can conceive it to be so for the formation of the causal body.

4. Điều này chắc chắn đúng liên quan đến sự hình thành con mắt thứ ba. Chúng ta có thể hình dung rằng điều ấy cũng đúng đối với sự hình thành thể nguyên nhân.

5. DK is telling us that the alta major center is, in a way, threefold, and corresponds to the triple instrument of the soul in the three lower worlds. Is He giving us hints about the structure of the alta major center?

5. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng trung tâm alta major, theo một nghĩa nào đó, là tam phân, và tương ứng với công cụ tam phân của linh hồn trong ba cõi thấp. Phải chăng Ngài đang cho chúng ta những gợi ý về cấu trúc của trung tâm alta major?

6. Ultimately, all chakras are constructed from energy-streams emanating from the Monad. Chakras are the presence of monadic influence and action within the various vehicles.

6. Rốt cuộc, mọi luân xa đều được kiến tạo từ các dòng năng lượng phát xuất từ chân thần. Các luân xa là sự hiện diện của ảnh hưởng và hoạt động chân thần trong các vận cụ khác nhau.

7. Here is the quotation which confirms this:

7. Đây là trích dẫn xác nhận điều này:

“The centres are formed entirely of streams of force, pouring down from the Ego, who transmits it from the Monad.” (TCF 166)

“Các trung tâm được hình thành hoàn toàn từ các dòng lực, tuôn xuống từ chân ngã, là đấng truyền chúng từ chân thần.” (TCF 166)

When this dual work has proceeded to a certain evolutionary point, another triplicity becomes alive within the [Page 1161] head itself as the result of these dual streams of triple energy. This triangle transmits fiery energy via the pineal gland, the pituitary body and the alta major centre and this reaches the head centre.

Khi công việc kép này đã tiến triển đến một điểm tiến hoá nhất định, một bộ ba khác trở nên sống động bên trong chính [Page 1161] đầu như là kết quả của các dòng kép của năng lượng tam phân này. Tam giác này truyền năng lượng hỏa qua tuyến tùng, tuyến yên và trung tâm alta major và năng lượng này đi đến trung tâm đầu.

8. Tremendous hints re consummatory process are here given:

8. Ở đây có những gợi ý to lớn về tiến trình hoàn tất:

9. We have three triangles involved. (Remember that this discussion began in the previous commentary: S9S9 Part I.) Let us tabulate them:

9. Chúng ta có ba tam giác liên quan. (Hãy nhớ rằng cuộc thảo luận này đã bắt đầu trong phần bình luận trước: S9S9 Phần I.) Chúng ta hãy lập bảng chúng:

a. Base of the spine, alta major center and throat center. (Why are they listed in this order, when the alta major center is ‘above’ the throat center)?

a. Đáy cột sống, trung tâm alta major và trung tâm cổ họng. (Vì sao chúng được liệt kê theo thứ tự này, khi trung tâm alta major ở ‘trên’ trung tâm cổ họng?)

b. Solar plexus, heart center and third eye

b. Tùng thái dương, trung tâm tim và con mắt thứ ba

c. And now, pineal gland, pituitary gland, and again, the alta major center. Could DK be referring more to the gland which corresponds to the alta major center?

c. Và bây giờ, tuyến tùng, tuyến yên, và một lần nữa, trung tâm alta major. Có thể Chân sư DK đang nói nhiều hơn về tuyến tương ứng với trung tâm alta major chăng?

d. Or since the alta major center is repeated, should there be an interpolation of the “manasic centre” between the base of the spine center and the throat center?

d. Hay vì trung tâm alta major được lặp lại, có nên có sự xen vào của “trung tâm manas” giữa trung tâm đáy cột sống và trung tâm cổ họng chăng?

In this way in these three triangles we have nine streams of energy converging and passing into the highest head lotus.

Theo cách này, trong ba tam giác này chúng ta có chín dòng năng lượng hội tụ và đi vào hoa sen đầu cao nhất.

10. One of the streams seem repeated, and this we have to solve—namely the stream of energy from the alta major center. However, if we consider that the carotid gland represents the alta major center, then this third triangle would be occurring not on an etheric level but between precipitations of etheric centers—namely the glands which represent those etheric centers.

10. Một trong các dòng dường như bị lặp lại, và đây là điều chúng ta phải giải quyết—cụ thể là dòng năng lượng từ trung tâm alta major. Tuy nhiên, nếu chúng ta xem tuyến cảnh là đại diện cho trung tâm alta major, thì tam giác thứ ba này sẽ không xảy ra trên cấp độ dĩ thái mà giữa các sự ngưng tụ của các trung tâm dĩ thái—tức là các tuyến đại diện cho những trung tâm dĩ thái ấy.

11. But is it justified to exclude the centers corresponding, for instance, to the pineal gland and the pituitary body? These would be, respectively, at least part of the highest head center and the ajna center (which one would think, should not be excluded).

11. Nhưng liệu có chính đáng không khi loại trừ các trung tâm tương ứng chẳng hạn với tuyến tùng và tuyến yên? Theo thứ tự, các trung tâm này ít nhất sẽ là một phần của trung tâm đầu cao nhất và trung tâm ajna (mà người ta nghĩ rằng không nên bị loại trừ).

The correspondence to certain macrocosmical forces will here be apparent to all discerning students.

Sự tương ứng với một số mãnh lực đại thiên địa nhất định ở đây sẽ hiển nhiên đối với mọi đạo sinh có khả năng phân biện tinh thần.

12. We have only to consult Chart VI in TCF, 373, to see some probably important correspondences to this idea of nine merging into one.

12. Chúng ta chỉ cần tham khảo Biểu đồ VI trong TCF, trang 373, để thấy một số tương ứng có lẽ quan trọng với ý tưởng chín dung nhập vào một này.

13. We could also look for a correspondential threefold configuration by considering the relationship between three non-sacred planets, certain intermediary planets (which are sacred) and the three synthesizing planets. The numbers are close but do not work out exactly. Perhaps Mercury, in a special category (that of an intermediary?), must be excluded.

13. Chúng ta cũng có thể tìm một cấu hình tam phân tương ứng bằng cách xét mối liên hệ giữa ba hành tinh không thiêng liêng, một số hành tinh trung gian (là thiêng liêng) và ba hành tinh tổng hợp. Các con số gần đúng nhưng không khớp hoàn toàn. Có lẽ Sao Thủy, trong một loại đặc biệt (loại trung gian chăng?), phải được loại ra.

We have seen the close connection between the different centres and the gradually demonstrating effects to be noted as they are linked up and eventually produce a synthetic circulatory system for egoic energy in conjunction with the energy of the lower man, which forms a kind of medium by which the egoic force makes itself felt.

Chúng ta đã thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa các trung tâm khác nhau và những hiệu quả dần dần biểu lộ cần được ghi nhận khi chúng được liên kết với nhau và cuối cùng tạo ra một hệ tuần hoàn tổng hợp cho năng lượng chân ngã kết hợp với năng lượng của phàm nhân, hệ này hình thành một loại môi giới nhờ đó lực chân ngã tự làm cho mình được cảm nhận.

14. Within the lower man it is the linking of the centers in various triangles which produce that “synthetic circulatory system” which makes the circulation of egoic energy within the form possible. This circulating egoic energy conjoins the energy of the lower man. This conjoining can be thought of as the process of soul infusion.

14. Bên trong phàm nhân, chính sự liên kết các trung tâm trong những tam giác khác nhau tạo ra “hệ tuần hoàn tổng hợp” ấy, khiến cho sự tuần hoàn của năng lượng chân ngã trong hình tướng trở nên khả hữu. Năng lượng chân ngã tuần hoàn này kết hợp với năng lượng của phàm nhân. Sự kết hợp này có thể được xem như tiến trình được linh hồn thấm nhuần.

Macrocosmically, but little can be said which would prove intelligible to man at his present stage of evolution.

Xét theo đại thiên địa, chỉ có thể nói rất ít điều mà con người ở giai đoạn tiến hoá hiện nay của y có thể hiểu được.

15. Though Master DK makes valiant attempts…

15. Dù Chân sư DK có những nỗ lực dũng mãnh…

16. In this case, He would be speaking of the circulation of the solar logoic Ego through the triangles of energy between the various planets of our solar system.

16. Trong trường hợp này, Ngài sẽ nói về sự tuần hoàn của Chân ngã logoi thái dương qua các tam giác năng lượng giữa các hành tinh khác nhau trong hệ mặt trời của chúng ta.

17. Which planet, we might wonder, has a correspondence to the alta major center? It is possible to see relationship for Pluto, Earth and even Saturn. As has been stated numerous times throughout these commentaries, more than one planet can be seen as related to the same center. We have a situation of mutable function over time.

17. Chúng ta có thể tự hỏi hành tinh nào có sự tương ứng với trung tâm alta major? Có thể thấy mối liên hệ với Sao Diêm Vương, Trái Đất và cả Sao Thổ. Như đã được phát biểu nhiều lần xuyên suốt các phần bình luận này, có thể xem hơn một hành tinh là có liên hệ với cùng một trung tâm. Chúng ta có một tình huống trong đó chức năng biến đổi theo thời gian.

Some brief statements might, nevertheless, be given which (if pondered on and correlated with each other) may throw some light on planetary evolution and on the relation of the planetary Logoi to the solar Logos.

Tuy nhiên, có thể đưa ra một vài phát biểu ngắn, mà nếu được suy ngẫm và liên hệ với nhau, có thể soi sáng phần nào về tiến hoá hành tinh và về mối liên hệ của các Hành Tinh Thượng đế với Thái dương Thượng đế.

18. We welcome the opportunity to expand our minds in this regard.

18. Chúng ta hoan nghênh cơ hội mở rộng trí tuệ của mình về phương diện này.

A solar Logos uses for His energy centres the planetary schemes, each of which embodies a peculiar type of energy, and each of which, therefore, vibrates to the key of the logoic solar Angel, of which the human solar Angel is a dim reflection.

Một Thái dương Thượng đế dùng các hệ hành tinh làm các trung tâm năng lượng của Ngài, mỗi hệ hành tinh hiện thân cho một loại năng lượng đặc thù, và vì thế, mỗi hệ hành tinh rung động theo chủ âm của Thái dương Thiên Thần logoi, mà Thái dương Thiên Thần của con người chỉ là một phản ánh mờ nhạt.

19. It is amazing to think that the Solar Logos ‘has’ a Solar Angel just as we do. And there must be great hosts of such tremendous Solar Angels who work in connection with Grand Heavenly Men just as far lesser Solar Angels work in connection with men. I have often speculated whether the Monads of such stupendous Solar Angels might not be located on the ‘super-cosmic astral plane’.

19. Thật đáng kinh ngạc khi nghĩ rằng Thái dương Thượng đế cũng ‘có’ một Thái dương Thiên Thần giống như chúng ta. Và hẳn phải có những đạo quân vĩ đại của các Thái dương Thiên Thần to lớn như thế hoạt động liên hệ với các Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại, cũng như các Thái dương Thiên Thần nhỏ hơn rất nhiều hoạt động liên hệ với con người. Tôi thường suy đoán liệu các chân thần của những Thái dương Thiên Thần kỳ vĩ như thế có thể không nằm trên ‘cõi cảm dục siêu-vũ-trụ’.

20. If Sirius is the source of the Solar Angels which now serve humanity on this planet, is it also the source of the greater Solar Angels which inform the causal body of our Solar Logos, or is there a far greater source? Would such greater Solar Angels emanate from a source of greater importance than Sirius within the encompassing life of the “One About Whom Naught May Be Said”?

20. Nếu Sirius là nguồn của các Thái dương Thiên Thần hiện đang phụng sự nhân loại trên hành tinh này, thì liệu nó cũng là nguồn của các Thái dương Thiên Thần lớn hơn, những Đấng thấm nhuần thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế của chúng ta, hay còn có một nguồn còn vĩ đại hơn nữa? Liệu những Thái dương Thiên Thần lớn hơn như thế có phát xuất từ một nguồn quan trọng hơn Sirius trong sự sống bao trùm của “Đấng Bất Khả Tư Nghị” chăng?

21. We have reaffirmed for us that the planetary schemes are to the Solar Logos as the chakras are to man.

21. Chúng ta lại được khẳng định rằng các hệ hành tinh đối với Thái dương Thượng đế cũng như các luân xa đối với con người.

22. It should be noted that the astral and mental chakras of a Solar Logos would relate to the astral and mental natures of the planetary schemes which serve as etheric chakras. In other words, if, for instance, the planetary scheme of Mars functions as the sacral center of the Solar Logos, then the astral nature of Mars would function as the astral sacral center and the mental nature of the Mars-scheme would function as the mental sacral center.

22. Cần lưu ý rằng các luân xa cảm dục và trí tuệ của một Thái dương Thượng đế sẽ liên hệ với các bản chất cảm dục và trí tuệ của các hệ hành tinh vốn phục vụ như các luân xa dĩ thái. Nói cách khác, chẳng hạn, nếu hệ hành tinh Sao Hỏa hoạt động như trung tâm xương cùng của Thái dương Thượng đế, thì bản chất cảm dục của Sao Hỏa sẽ hoạt động như trung tâm xương cùng cảm dục và bản chất trí tuệ của hệ Sao Hỏa sẽ hoạt động như trung tâm xương cùng trí tuệ.

23. It would be interesting to consider the different rays assigned to the different chakras in the energy system of man. If we analogize to the macrocosm—the solar system—could these different rays shed light upon different rays pouring through the various planetary schemes?

23. Sẽ rất thú vị nếu xem xét các cung khác nhau được gán cho các luân xa khác nhau trong hệ thống năng lượng của con người. Nếu chúng ta áp dụng phép loại suy vào đại thiên địa—hệ mặt trời—thì liệu các cung khác nhau này có thể soi sáng những cung khác nhau đang tuôn qua các hệ hành tinh khác nhau hay không?

24. The implications of DK’s statement above are interesting. If each of the planetary schemes in our solar system vibrates to the key of the logoic Solar Angel, then, analogously, each of the chakras in the human being vibrate to the key of the lesser Solar Angel which supervises the development of the man in whom those chakras serve as energy centers. This would be the case regardless of the ray which is usually transmitted through or from a particular chakra.

24. Những hàm ý trong phát biểu trên của DK thật đáng chú ý. Nếu mỗi hệ hành tinh trong hệ mặt trời của chúng ta rung động theo chủ âm của Thái dương Thiên Thần logoi, thì theo phép tương tự, mỗi luân xa trong con người rung động theo chủ âm của vị tiểu Thái dương Thiên Thần giám sát sự phát triển của con người mà trong đó các luân xa ấy phục vụ như những trung tâm năng lượng. Điều này sẽ đúng bất kể cung nào thường được truyền qua hoặc từ một luân xa nhất định.

25. We do have to ask ourselves, however, about the “key” of a Solar Angel? Is it a ray key? And what would it mean for a chakra to vibrate to that key? Would it mean that it had to harmonize with that key?

25. Tuy nhiên, chúng ta quả thật phải tự hỏi về “chủ âm” của một Thái dương Thiên Thần. Đó có phải là chủ âm của một cung không? Và việc một luân xa rung động theo chủ âm ấy sẽ có nghĩa là gì? Có phải điều đó có nghĩa là nó phải hài hoà với chủ âm ấy không?

26. We are led to the hypothesis that the ray of the soul (for man the microcosm) definitely conditions each of his chakras, and that this conditioning is likewise operative in the case of the Solar Logos.

26. Chúng ta được dẫn đến giả thuyết rằng cung của linh hồn (đối với con người là tiểu thiên địa) chắc chắn tác động lên mỗi luân xa của y, và sự tác động này cũng vận hành tương tự trong trường hợp của Thái dương Thượng đế.

27. One could wonder whether each chakra within the energy system of a human being is colored by the specific ray quality of the supervisory Solar Angel. In other words, but ‘looking’ at the chakras of a human being (whether on the etheric, astral or mental level) could the soul ray be determined and the nature of the supervisory Solar Angel?

27. Người ta có thể tự hỏi liệu mỗi luân xa trong hệ thống năng lượng của một con người có được nhuốm màu bởi phẩm tính cung đặc thù của Thái dương Thiên Thần giám sát hay không. Nói cách khác, bằng cách ‘nhìn’ vào các luân xa của một con người (dù ở cấp độ dĩ thái, cảm dục hay trí tuệ), liệu có thể xác định được cung linh hồn và bản chất của Thái dương Thiên Thần giám sát hay không?

28. And would there be a note sounding from each of the chakras of the human energy system which would reveal the nature of the Solar Angel involved?

28. Và liệu từ mỗi luân xa trong hệ thống năng lượng của con người có phát ra một âm điệu tiết lộ bản chất của Thái dương Thiên Thần liên hệ hay không?

It is interesting here to note that as the human solar Angel is a unity, manifesting through three tiers of petals,

Ở đây thật thú vị khi lưu ý rằng cũng như Thái dương Thiên Thần của con người là một hợp nhất, biểu lộ qua ba tầng cánh hoa,

29. We note that the “human solar Angel” is not the petals through which it manifests. The petals are instruments for manifestation.

29. Chúng ta lưu ý rằng “Thái dương Thiên Thần của con người” không phải là các cánh hoa mà qua đó nó biểu lộ. Các cánh hoa là những công cụ để biểu lộ.

30. The human Solar Angel is a unity, yes, but it is also suggested that a number of Solar Angels participate in (or, better, underlie) the structure of the egoic lotus.

30. Thái dương Thiên Thần của con người là một hợp nhất, đúng vậy, nhưng cũng có gợi ý rằng một số Thái dương Thiên Thần tham dự vào (hay đúng hơn, làm nền tảng cho) cấu trúc của Hoa Sen Chân Ngã.

the logoic correspondence is even more interesting, for that great cosmic Entity demonstrates on the cosmic mental plane as a triple flame working through seven tiers of petals,

sự tương ứng logoi còn thú vị hơn nữa, vì Thực Thể vũ trụ vĩ đại ấy biểu lộ trên cõi trí vũ trụ như một ngọn lửa tam phân hoạt động qua bảy tầng cánh hoa,

31. The number ten seems to be suggested—the triple flame and the seven tiers.

31. Con số mười dường như được gợi ra—ngọn lửa tam phân và bảy tầng.

32. As well, the number twenty-four could be suggested (a far higher correspondence of Shamballa) IF each tier or circle of petals has three petals. 3 x 7 = 21 + 3 = 24

32. Ngoài ra, con số hai mươi bốn cũng có thể được gợi ra (một sự tương ứng cao hơn rất nhiều của Shamballa) NẾU mỗi tầng hay vòng cánh hoa có ba cánh. 3 x 7 = 21 + 3 = 24

33. Here we could have a kind of greater and lesser zodiac—a lesser twelve and a greater twelve, but how the twenty-four centers would be divided remains to be seen.

33. Ở đây chúng ta có thể có một loại hoàng đạo lớn và nhỏ—một bộ mười hai nhỏ và một bộ mười hai lớn, nhưng hai mươi bốn trung tâm ấy sẽ được phân chia như thế nào thì vẫn còn phải chờ xem.

34. When considering the demonstration of an egoic lotus, we cannot escape its function as a heart; thus we retain the significance of the twelve, even if (in the case of the egoic lotus of the Solar Logos) we double it.

34. Khi xem xét sự biểu lộ của một Hoa Sen Chân Ngã, chúng ta không thể thoát khỏi chức năng của nó như một trái tim; vì vậy chúng ta giữ lại ý nghĩa của số mười hai, ngay cả khi (trong trường hợp Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế) chúng ta nhân đôi nó.

35. We can imagine that the heart center and heart-in-the-head center of the Solar Logos (with petals totaling twenty-four—so we may infer) both become active in relation to the egoic lotus through which the Cosmic Solar Angel expresses.

35. Chúng ta có thể hình dung rằng trung tâm tim và trung tâm tim-trong-đầu của Thái dương Thượng đế (với tổng số cánh hoa là hai mươi bốn—như chúng ta có thể suy ra) đều trở nên hoạt động trong liên hệ với Hoa Sen Chân Ngã mà qua đó Thái dương Thiên Thần Vũ Trụ biểu lộ.

36. The heart center and heart-in-the-head center (whether of man or of the Solar Logos) are probably correspondences to the lesser and greater zodiac respectively.

36. Trung tâm tim và trung tâm tim-trong-đầu (dù của con người hay của Thái dương Thượng đế) có lẽ lần lượt là những sự tương ứng với hoàng đạo nhỏ và hoàng đạo lớn.

and it is the energy from these seven circles of energy

và chính năng lượng từ bảy vòng năng lượng này

37. Note that “tiers” are often called “circles”—“circles of energy”.

37. Lưu ý rằng “tiers” thường được gọi là “circles”—“những vòng năng lượng”.

which pulsates through the medium of any scheme.

đập nhịp qua trung gian của bất kỳ hệ hành tinh nào.

38. Do the sevenfold energies of this ‘Cosmic Solar Angel’ pulsate through all planetary schemes within the solar system? This is probably generally so, because, the human Solar Angel pulsates (as a whole) through all the chakras of a human being). But, additionally there could be more specificity? For instance, we can wonder if each of the seven tiers is connected with one or other of the seven sacred planets and thus, with some specificity, to other planets (non-sacred planets) connected with the sacred planets.

38. Liệu các năng lượng thất phân của ‘Thái dương Thiên Thần Vũ Trụ’ này có đập nhịp qua mọi hệ hành tinh trong hệ mặt trời không? Điều này có lẽ nói chung là như vậy, bởi vì Thái dương Thiên Thần của con người đập nhịp (như một toàn thể) qua mọi luân xa của một con người). Nhưng ngoài ra, có thể còn có tính đặc thù hơn chăng? Chẳng hạn, chúng ta có thể tự hỏi liệu mỗi trong bảy tầng có liên kết với một trong bảy hành tinh thiêng liêng, và do đó, với một mức độ đặc thù nào đó, cũng liên kết với các hành tinh khác (các hành tinh không thiêng liêng) vốn nối kết với các hành tinh thiêng liêng hay không.

39. Seven energies are transmitted, but also ten, and perhaps also twenty-one and, as well, twenty-four.

39. Bảy năng lượng được truyền đi, nhưng cũng là mười, và có lẽ cũng là hai mươi mốt và thêm nữa là hai mươi bốn.

40. We can imagine that these Cosmic Solar Angels become newly active within any solar system when that system is on the point of having its heart center opened (to what degree we do not know) just as the lesser Solar Angels become activated when a Planetary Logos is on the point of having its heart center opened. The awakening of the lesser Solar Angels in relation to the Planetary Logoi probably has the force of the solar logoic Cosmic Solar Angel behind it.

40. Chúng ta có thể hình dung rằng các Thái dương Thiên Thần Vũ Trụ này trở nên hoạt động mới mẻ trong bất kỳ hệ mặt trời nào khi hệ ấy sắp mở trung tâm tim của mình (ở mức độ nào thì chúng ta không biết), cũng như các Thái dương Thiên Thần nhỏ hơn trở nên hoạt hoá khi một Hành Tinh Thượng đế sắp mở trung tâm tim của Ngài. Sự thức tỉnh của các Thái dương Thiên Thần nhỏ hơn trong liên hệ với các Hành Tinh Thượng đế có lẽ có đằng sau nó mãnh lực của Thái dương Thiên Thần Vũ Trụ logoi thái dương.

41. Those Planetary Logoi within our solar system which are related to the logoic heart center would be implicated in this process. One thinks of Venus, Jupiter and Neptune.

41. Những Hành Tinh Thượng đế trong hệ mặt trời của chúng ta có liên hệ với trung tâm tim logoi sẽ dính líu vào tiến trình này. Người ta nghĩ đến Sao Kim, Sao Mộc và Sao Hải Vương.

42. If we learn that the egoic body of the Solar Logos has at its center a “triple flame”, we must look for the correspondence of this triple flame within the causal body of man. Can we ally the “Jewel in the Lotus” in the egoic lotus of man to a “triple flame”? Certainly the spiritual triad can be considered a “triple flame” and the Monad is also threefold and has its ‘extended presence’ within the human “Jewel in the Lotus”.

42. Nếu chúng ta biết rằng thể chân ngã của Thái dương Thượng đế có ở trung tâm của nó một “ngọn lửa tam phân”, thì chúng ta phải tìm sự tương ứng của ngọn lửa tam phân này trong thể nguyên nhân của con người. Liệu chúng ta có thể liên kết “Ngọc trong Hoa Sen” trong Hoa Sen Chân Ngã của con người với một “ngọn lửa tam phân” không? Chắc chắn Tam Nguyên Tinh Thần có thể được xem là một “ngọn lửa tam phân”, và chân thần cũng là tam phân và có ‘sự hiện diện mở rộng’ của nó trong “Ngọc trong Hoa Sen” của con người.

All this is hidden in the mystery of the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, and it is not possible for men to solve it,—the truth being obscure to even the highest Dhyan Chohan of our system.

Tất cả điều này đều ẩn giấu trong huyền nhiệm của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ, và con người không thể giải được điều đó,—vì chân lý ấy còn mờ tối ngay cả đối với Dhyan Chohan cao nhất của hệ chúng ta.

43. Master DK really proves that the mind of the Thinker upon the second ray “is ever unsatisfied with his highest attainments; no matter how great his knowledge, his mind is still fixed on the unknown, the beyond, and on the heights as yet unscaled.” (EP I 203)

43. Chân sư DK thật sự chứng minh rằng trí tuệ của Nhà Tư Tưởng trên cung hai “luôn luôn không thoả mãn với những thành tựu cao nhất của mình; dù tri thức của y có lớn đến đâu, trí tuệ của y vẫn hướng vào điều chưa biết, cái vượt xa hơn, và những đỉnh cao chưa được leo tới.” (EP I 203)

44. So the solution to this mystery is obscure even to Planetary Logoi, considering them as Dhyan Chohans of the highest level within our solar system?

44. Vậy thì lời giải cho huyền nhiệm này còn mờ tối ngay cả đối với các Hành Tinh Thượng đế, nếu xem Các Ngài như những Dhyan Chohan ở cấp độ cao nhất trong hệ mặt trời của chúng ta sao?

45. In this context the meaning of the term “Dhyan Chohan” is uncertain, but we can imagine that it references Beings of very exalted intelligence compared with the intelligence of man.

45. Trong ngữ cảnh này, ý nghĩa của thuật ngữ “Dhyan Chohan” không chắc chắn, nhưng chúng ta có thể hình dung rằng nó chỉ đến những Đấng có trí tuệ cực kỳ cao siêu so với trí tuệ của con người.

The energy centres of the solar Logos are themselves [Page 1162] in the form of vast lotuses24 or wheels, at the centre of which lies hidden that central cosmic Life, we call a planetary Logos.

Các trung tâm năng lượng của Thái dương Thượng đế tự chúng là [Page 1162] dưới hình thức những hoa sen bao la24 hay những bánh xe, ở trung tâm của chúng ẩn giấu Sự sống vũ trụ trung tâm mà chúng ta gọi là một Hành Tinh Thượng đế.

46. We learn that the Planetary Logos express through vast lotuses. We might suspect that such lotuses are multi-dimensional and are not found only on the etheric-physical plane.

46. Chúng ta biết rằng các Hành Tinh Thượng đế biểu lộ qua những hoa sen bao la. Chúng ta có thể ngờ rằng những hoa sen như thế có tính đa chiều và không chỉ được tìm thấy trên cõi hồng trần-dĩ thái.

47. The Planetary Logos, as here considered, is ultimately the planetary logoic Monad.

47. Hành Tinh Thượng đế, như được xét ở đây, rốt cuộc là chân thần logoi hành tinh.

Footnote 24:

Cước chú 24:

See Section VIII, Secret Doctrine, Volume I.

Xem Phần VIII, Giáo Lý Bí Nhiệm, Tập I.

The Lotus is symbolical of both the Macrocosm and of the Microcosm.

Hoa Sen là biểu tượng của cả Đại thiên địa lẫn Tiểu thiên địa.

48. And, thus, revelatory analogies can be drawn between macrocosmic and microcosmic lotus development.

48. Và như vậy, có thể rút ra những phép loại suy mặc khải giữa sự phát triển hoa sen của đại thiên địa và tiểu thiên địa.

a. The seeds of the Lotus contain in miniature the perfect plant.

a. Những hạt giống của Hoa Sen chứa đựng trong dạng thu nhỏ cây hoàn hảo.

49. This is a rarity.

49. Đây là một điều hiếm thấy.

50. What is the ‘seed’ of the human egoic lotus and in what way is its perfection contained within that seed?

50. “Hạt giống” của Hoa Sen Chân Ngã của con người là gì, và bằng cách nào sự hoàn hảo của nó được chứa đựng trong hạt giống ấy?

b. It is the product of fire and matter.

b. Nó là sản phẩm của lửa và vật chất.

51. In occultism, matter and water are equivalent terms.

51. Trong huyền bí học, vật chất và nước là những thuật ngữ tương đương.

52. The heart of the lotus is fire.

52. Trái tim của hoa sen là lửa.

53. Fire and matter, then, are spirit and matter.

53. Vậy thì lửa và vật chất là tinh thần và vật chất.

c. It has its roots in the mud, it grows up through the water, it is fostered by the warmth of the sun, it blossoms in the air.

c. Nó cắm rễ trong bùn, lớn lên qua nước, được nuôi dưỡng bởi hơi ấm của mặt trời, và nở hoa trong không khí.

54. The analogies here given relate to four planes and four elements: the physical-etheric plane and the element of earth; the astral plane and the element of water; the mental plane and the element of fire (the Sun); the buddhic plane and the element of air.

54. Những phép loại suy được nêu ở đây liên hệ đến bốn cõi và bốn nguyên tố: cõi hồng trần-dĩ thái và nguyên tố đất; cõi cảm dục và nguyên tố nước; cõi trí và nguyên tố lửa (Mặt Trời); cõi Bồ đề và nguyên tố khí.

55. Notice that the buddhic energy is needed for the final blossoming. This energy begins to infuse the human egoic lotus more fully after the third initiation.

55. Hãy lưu ý rằng năng lượng Bồ đề là cần thiết cho sự nở hoa cuối cùng. Năng lượng này bắt đầu thấm nhuần Hoa Sen Chân Ngã của con người đầy đủ hơn sau lần điểm đạo thứ ba.

56. We can look at the following explanation in two ways. In the first way the interpretation relates only to that which transpires on the cosmic physical plane. In the second we can extrapolate to a larger picture.

56. Chúng ta có thể nhìn lời giải thích sau đây theo hai cách. Theo cách thứ nhất, cách diễn giải chỉ liên hệ đến điều diễn ra trên cõi hồng trần vũ trụ. Theo cách thứ hai, chúng ta có thể ngoại suy sang một bức tranh lớn hơn.

MACROCOSM

ĐẠI THIÊN ĐỊA

The mud…………….The objective physical solar system.

Bùn…………….Hệ mặt trời hồng trần khách quan.

57. First interpretation; we are speaking of the systemic etheric-physical plane.

57. Cách diễn giải thứ nhất; chúng ta đang nói về cõi hồng trần-dĩ thái của hệ thống.

58. Second interpretation: This objective physical solar system includes the cosmic etheric planes—buddhic, atmic, monadic and logoic.

58. Cách diễn giải thứ hai: hệ mặt trời hồng trần khách quan này bao gồm các cõi dĩ thái vũ trụ—Bồ đề, atma, chân thần và logoi.

Water………………..The emotional or astral nature.

Nước………………..Bản chất cảm xúc hay cảm dục.

59. First interpretation: we are dealing with the systemic astral plane.

59. Cách diễn giải thứ nhất: chúng ta đang đề cập đến cõi cảm dục của hệ thống.

60. Second interpretation: the “water” is the cosmic astral plane.

60. Cách diễn giải thứ hai: “nước” là cõi cảm dục vũ trụ.

Flower on water….Fruition of the spiritual.

Hoa trên nước….Sự viên mãn của tinh thần.

61. First interpretation: fruition occurs on the mental and buddhic planes

61. Cách diễn giải thứ nhất: sự viên mãn xảy ra trên cõi trí và cõi Bồ đề

62. Second interpretation: fruition occurs on the cosmic mental plane and even on the cosmic buddhic plane.

62. Cách diễn giải thứ hai: sự viên mãn xảy ra trên cõi trí vũ trụ và thậm chí trên cõi Bồ đề vũ trụ.

Method……………..Cosmic fire or intelligence.

Phương pháp……………..Lửa vũ trụ hay trí tuệ.

63. The method is of great interest. Here, “cosmic fire” is related to intelligence, and presumably, divine intelligence. It is the energy of the cosmic mental plane leading to the possibility of fruition first on the buddhic plane (the plane, in one respect, of the Solar Angels directly related to humanity) or (on a much higher turn of the spiral) on the cosmic buddhic plane which is the lowest of the cosmic etheric planes in the Life of the Super-Cosmic Logos.

63. Phương pháp này rất đáng quan tâm. Ở đây, “lửa vũ trụ” được liên hệ với trí tuệ, và có lẽ là trí tuệ thiêng liêng. Đó là năng lượng của cõi trí vũ trụ dẫn đến khả năng viên mãn trước hết trên cõi Bồ đề (cõi, theo một phương diện, của các Thái dương Thiên Thần liên hệ trực tiếp với nhân loại) hoặc (trên một vòng xoắn ốc cao hơn rất nhiều) trên cõi Bồ đề vũ trụ, là cõi thấp nhất trong các cõi dĩ thái vũ trụ trong Sự sống của Thượng đế Siêu-Vũ-Trụ.

64. Is the plane of the Cosmic Solar Angels the cosmic buddhic plane just as the plane of the humanly-related Solar Angels the systemic buddhic plane? Perhaps, in each case, the true plane of these Beings is quite a bit higher.

64. Liệu cõi của các Thái dương Thiên Thần Vũ Trụ có phải là cõi Bồ đề vũ trụ, cũng như cõi của các Thái dương Thiên Thần liên hệ với con người là cõi Bồ đề của hệ thống hay không? Có lẽ, trong mỗi trường hợp, cõi đích thực của các Đấng này còn cao hơn khá nhiều.

65. It is as if cosmic fire guides the entire unfoldment of the Macrocosm. From this perspective we can consider cosmic fire as Divine Mind expressed through a Cosmic Solar Angel.

65. Dường như lửa vũ trụ hướng dẫn toàn bộ sự khai mở của Đại thiên địa. Từ góc nhìn này, chúng ta có thể xem lửa vũ trụ như Trí của Thượng đế được biểu lộ qua một Thái dương Thiên Thần Vũ Trụ.

MICROCOSM

TIỂU THIÊN ĐỊA

The mud…………….The physical body.

Bùn…………….Thể xác.

Water………………..Emotional or astral nature.

Nước………………..Bản chất cảm xúc hay cảm dục.

Flower on water….Fruition of the buddhic or spiritual.

Hoa trên nước….Sự viên mãn của Bồ đề hay tinh thần.

Method……………..Fire of mind.

Phương pháp……………..Lửa của trí tuệ.

66. DK keeps the same order, interestingly placing the energy of the mental plane after noting the ‘place of fruition’ (which involves the buddhic plane).

66. Thật thú vị, DK giữ nguyên cùng một trật tự, đặt năng lượng của cõi trí sau khi nêu “nơi viên mãn” (điều này liên quan đến cõi Bồ đề).

67. When we think of buddhi, the concept of “fruition” is descriptive. Fruition is related to perfection— a quality related to the number four as that number is related to the buddhic plane—the fourth systemic plane.

67. Khi chúng ta nghĩ đến Bồ đề, khái niệm “viên mãn” là một mô tả thích hợp. Sự viên mãn liên hệ với sự hoàn hảo— một phẩm tính liên hệ với số bốn, vì con số ấy liên hệ với cõi Bồ đề—cõi thứ tư của hệ thống.

“The significance of the tradition that Brahma is born from or in the lotus, is the same. The lotus symbolises a world-system, and Brahma dwells therein representing action;

“Ý nghĩa của truyền thống cho rằng Brahma được sinh ra từ hay trong hoa sen cũng là như vậy. Hoa sen tượng trưng cho một hệ thống thế giới, và Brahma ngự trong đó, đại diện cho hoạt động;

68. Brahma is associated with the third aspect of divinity—the “Activity Aspect”. He is called the “lotus-born”.

68. Brahma được liên kết với phương diện thứ ba của thiên tính—“Phương diện Hoạt động”. Ngài được gọi là “đấng sinh từ hoa sen”.

69. We think of the Planetary Logoi and their relation to both Brahma (the activity aspect) and to the lotus.

69. Chúng ta nghĩ đến các Hành Tinh Thượng đế và mối liên hệ của Các Ngài với cả Brahma (phương diện hoạt động) lẫn hoa sen.

70. With regard to certain Planetary Logoi the following is said:

70. Liên quan đến một số Hành Tinh Thượng đế, điều sau đây được nói:

“One group is called the “Lotus Lords of deep unseeing sleep.” They dream, and as Their dreams take form, the worlds speed on. The great and cruel maya of the planes of sweet illusion comes into being, draws into its snare the points of unconnected light, and dims their lustre.” (TCF 1272)

“Một nhóm được gọi là “Các Chúa Tể Hoa Sen của giấc ngủ sâu không thấy.” Các Ngài mơ, và khi những giấc mơ của Các Ngài thành hình, các thế giới lao nhanh tới. Ảo lực lớn lao và tàn nhẫn của các cõi ảo tưởng ngọt ngào đi vào hiện hữu, kéo những điểm sáng rời rạc vào chiếc bẫy của nó, và làm mờ ánh huy hoàng của chúng.” (TCF 1272)

he is therefore called the Kamal-asana, the Lotus-seated.

vì vậy ông được gọi là Kamal-asana, Đấng ngự trên Hoa Sen.

71. We see how the term “asana” represents posture, a certain physical attitude.

71. Chúng ta thấy thuật ngữ “asana” biểu thị tư thế, một thái độ thể xác nhất định.

72. We will analyze the fascinating quotation above when we come to that section of the book. We do notice that may is both “sweet” and “cruel”. The points of unconnected light” have not built their antahkarana and thus are prey to maya, glamor and illusion.

72. Chúng ta sẽ phân tích đoạn trích dẫn hấp dẫn trên khi đến phần đó của cuốn sách. Chúng ta có lưu ý rằng ảo lực vừa “ngọt ngào” vừa “tàn nhẫn”. “Những điểm sáng rời rạc” chưa xây dựng antahkarana của chúng và vì thế là con mồi của ảo lực, ảo cảm và ảo tưởng.

The lotus, again, is said to arise from or in the navel of Vishnu, because the navel of Vishnu or all-knowledge

Hoa sen, một lần nữa, được nói là phát sinh từ hay trong rốn của Vishnu, bởi vì rốn của Vishnu hay toàn tri

73. Vishnu represents the second aspect of divinity which is associated with Omniscience or all-knowledge.

73. Vishnu đại diện cho phương diện thứ hai của thiên tính, phương diện được liên kết với Toàn Tri hay toàn tri thức.

is necessary desire, the primal form of which, as embodied in the Veda-text, is: May I be born forth (as multitudinous progeny).

là dục vọng cần thiết, mà hình thức nguyên sơ của nó, như được thể hiện trong văn bản Veda, là: Cầu mong tôi được sinh ra (như hậu duệ đa tạp).

74. From the solar plexus comes the desire to manifest multitudinously.

74. Từ tùng thái dương phát sinh dục vọng biểu lộ trong tính đa tạp.

75. All-Knowledge seeks to be born through or in many forms which express that knowledge.

75. Toàn Tri tìm cách được sinh ra qua hay trong nhiều hình tướng biểu lộ tri thức ấy.

76. Thus far we have dealt with a more material lotus. There are also lotuses or centers on the plane of desire.

76. Cho đến đây chúng ta đã bàn đến một hoa sen vật chất hơn. Cũng có những hoa sen hay trung tâm trên cõi dục vọng.

From such central and essential desire, the will to live,

Từ dục vọng trung tâm và cốt yếu như thế, ý chí sống,

77. This text equates “essential desire” with the “will to live”. This will is the power which sustains the desire to manifest all-knowledge multitudinously.

77. Bản văn này đồng nhất “dục vọng cốt yếu” với “ý chí sống”. Ý chí này là quyền năng duy trì dục vọng biểu lộ toàn tri thức trong tính đa tạp.

arises the whole of becoming, all the operations, all the whirls and whorls, of change and manifestation, which make up life.

phát sinh toàn bộ sự trở thành, mọi hoạt động, mọi vòng xoáy và xoắn ốc, của sự thay đổi và biểu lộ, những điều cấu thành sự sống.

78. The World of Becoming is being described in terms of vortices—whirls and whorls. A vortex is, in this context, a descending spiral embracing all three aspects of divinity. A vortex can also be ascending. When we think of vortices acting in a horizontal manner they ‘tunnel through space’ and represent that type of motion called “driving forward through space”.

78. Thế Giới Đang Trở Thành đang được mô tả theo các xoáy lực—những vòng xoáy và xoắn ốc. Một xoáy lực, trong ngữ cảnh này, là một vòng xoắn đi xuống bao trùm cả ba phương diện của thiên tính. Một xoáy lực cũng có thể đi lên. Khi chúng ta nghĩ đến các xoáy lực hoạt động theo chiều ngang, chúng ‘đào đường xuyên không gian’ và biểu thị loại chuyển động được gọi là “lao tới xuyên qua không gian”.

In such becoming dwells Brahma, and from him and by him, i.e., by incessant activity, arises and manifests the organised world, the tribhuvanam, the triple world.

Trong sự trở thành như thế, Brahma ngự trị, và từ Ngài và bởi Ngài, tức là bởi hoạt động không ngừng, thế giới có tổ chức, tribhuvanam, tam giới, phát sinh và biểu lộ.

79. Brahma produces the “triple world”. We note the factor of organization associated with Brahma. From Shamballa emanate three basic energies associated with the third aspect of divinity—destruction, purification and organization respectively.

79. Brahma tạo ra “tam giới”. Chúng ta lưu ý yếu tố tổ chức gắn liền với Brahma. Từ Shamballa phát ra ba năng lượng căn bản liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính—hủy diệt, thanh lọc và tổ chức tương ứng.

Because first manifested,

Bởi vì được biểu lộ trước tiên,

80. The third aspect of divinity precedes in manifestation the other two aspects. Brahma is the “Builder of the Foundation” and prepares the way for the manifestation of the other two aspects.

80. Phương diện thứ ba của thiên tính đi trước hai phương diện kia trong biểu lộ. Brahma là “Đấng Kiến Tạo Nền Tảng” và chuẩn bị con đường cho sự biểu lộ của hai phương diện kia.

therefore is Brahma named the first of the gods;

nên Brahma được gọi là vị thần thứ nhất;

81. He is the first in appearance though He represents the third aspect.

81. Ngài là đầu tiên trong sắc tướng dù Ngài đại diện cho phương diện thứ ba.

by action is manifestation, and he is the actor; and because actor,

bởi hành động mà có biểu lộ, và ông là tác nhân; và bởi là tác nhân,

82. The third ray is the Ray of Intelligent Activity.

82. Cung ba là Cung của Hoạt Động Thông Minh.

therefore is he also sometimes called the preserver or protector of the world;

nên ông cũng đôi khi được gọi là đấng bảo tồn hay bảo hộ thế giới;

83. This is the role usually reserved for Vishnu, the Representative of the second aspect of divinity. Perhaps Brahma with Vishnu expresses the manifestation of the principle of preservation or protection.

83. Đây là vai trò thường được dành cho Vishnu, Đấng Đại Diện của phương diện thứ hai của thiên tính. Có lẽ Brahma cùng với Vishnu biểu lộ sự biểu lộ của nguyên khí bảo tồn hay bảo hộ.

for he who makes a thing desires also the maintenance and preservation of his handiwork,

vì kẻ tạo ra một vật cũng mong muốn duy trì và bảo tồn công trình của mình,

84. It would seem that cooperation with the second aspect of divinity would be required. Of course, as is said: Vishnu and Shiva are in Brahma; Shiva and Brahma are in Vishnu; Brahma and Vishnu are in Shiva. There is a ninefold demonstration.

84. Có vẻ như cần có sự hợp tác với phương diện thứ hai của thiên tính. Dĩ nhiên, như đã nói: Vishnu và Shiva ở trong Brahma; Shiva và Brahma ở trong Vishnu; Brahma và Vishnu ở trong Shiva. Có một sự biểu lộ cửu phân.

and, moreover, by the making of the thing supplies the basis and opportunity for the operation of preservation, which, in strictness, of course, belong to Vishnu.”—Pranava-Vada, pp. 84, 311.

và hơn nữa, bằng việc tạo ra vật ấy, ông cung cấp nền tảng và cơ hội cho hoạt động bảo tồn, vốn, nói một cách nghiêm ngặt, dĩ nhiên thuộc về Vishnu.”—Pranava-Vada, tr. 84, 311.

85. The author concludes as is suggested above. On our planet the Earth and within our Solar system, the second aspect of divinity is being blended into the third aspect of divinity. Consummation in this solar system will see their union.

85. Tác giả kết luận như điều đã được gợi ý ở trên. Trên hành tinh của chúng ta là Trái Đất và trong hệ mặt trời của chúng ta, phương diện thứ hai của thiên tính đang được hòa trộn vào phương diện thứ ba của thiên tính. Sự viên mãn trong hệ mặt trời này sẽ chứng kiến sự hợp nhất của chúng.

[A Planetary Logos or a Solar Logos—the antecedent “He” is uncertain here, but let us assume that we are speaking of the Planetary Logos as in this section the focus seems to be on Planetary Logoi.] He is the meeting place for two types of force, spiritual or logoic, which reaches Him (via the logoic Lotus on cosmic mental planes)

[Một Hành Tinh Thượng đế hay một Thái dương Thượng đế—tiền ngữ “Ngài” ở đây không chắc chắn, nhưng chúng ta hãy giả định rằng chúng ta đang nói về Hành Tinh Thượng đế vì trong phần này trọng tâm dường như đặt vào các Hành Tinh Thượng đế.] Ngài là nơi gặp gỡ của hai loại mãnh lực, tinh thần hay logoi, vốn đến với Ngài (qua Hoa Sen logoi trên các cõi trí vũ trụ)

86. We seem to be speaking of the structure of the Planetary Logos including the planetary logoic egoic lotus on the higher subplanes of the cosmic mental plane.

86. Dường như chúng ta đang nói về cấu trúc của Hành Tinh Thượng đế, bao gồm Hoa Sen Chân Ngã logoi hành tinh trên các cõi phụ cao hơn của cõi trí vũ trụ.

87. Spiritual and logoic force are seen as equivalent and emanate from the Seven Rishis of the Great Bear.

87. Mãnh lực tinh thần và logoi được xem là tương đương và phát ra từ Bảy Rishi của Đại Hùng Tinh.

88. We note that the “spiritual or logoic” force from the Seven Rishis reaches a Planetary Logos via the logoic egoic lotus, and, perhaps, not directly—i.e., unmediated by the Solar Logos and His egoic lotus.

88. Chúng ta lưu ý rằng mãnh lực “tinh thần hay logoi” từ Bảy Rishi đến với một Hành Tinh Thượng đế qua Hoa Sen Chân Ngã logoi, và có lẽ không trực tiếp—tức là không không qua trung gian của Thái dương Thượng đế và Hoa Sen Chân Ngã của Ngài.

89. The true plane of focus for these Rishis is likely the cosmic atmic plane and not the cosmic buddhic plane on which the Rishis are ‘placed’ in Chart V, TCF 344. The section of text below suggests this.

89. Cõi tập trung đích thực của các Rishi này có lẽ là cõi atma vũ trụ chứ không phải cõi Bồ đề vũ trụ, nơi các Rishi được ‘đặt’ trong Biểu đồ V, TCF 344. Phần văn bản dưới đây gợi ý điều này.

from the seven Rishis of the Great Bear on Their own plane, and, secondly, of buddhic force,

từ bảy Rishis của Đại Hùng Tinh trên cõi riêng của Các Ngài, và, thứ hai, của mãnh lực Bồ đề,

90. Cosmic buddhic force…

90. Mãnh lực Bồ đề vũ trụ…

91. The words “on Their own plane” in this context suggests that “Their own plane” is not the cosmic buddhic plane.

91. Các từ “trên cõi riêng của Các Ngài” trong ngữ cảnh này gợi ý rằng “cõi riêng của Các Ngài” không phải là cõi Bồ đề vũ trụ.

92. The Seven Rishis are normally associated with the will aspect and it can be readily understood that atma is spiritual will. Thus, the likely association of the Seven Rishis with the cosmic atmic plane, even though they are represented on the cosmic buddhic plane. Probably they express on the cosmic buddhic plane but have a still higher focus on the cosmic atmic plane.

92. Bảy Rishi thường được liên kết với phương diện ý chí và có thể dễ dàng hiểu rằng atma là ý chí tinh thần. Vì vậy, có khả năng Bảy Rishi được liên kết với cõi atma vũ trụ, dù các Ngài được biểu hiện trên cõi Bồ đề vũ trụ. Có lẽ các Ngài biểu lộ trên cõi Bồ đề vũ trụ nhưng có một tiêu điểm còn cao hơn trên cõi atma vũ trụ.

which is transmitted via the Seven Sisters or the Pleiades from a constellation called the Dragon in some books, and from which has come the appellation “The Dragon of Wisdom.”

được truyền qua Bảy Chị Em hay Pleiades từ một chòm sao được gọi là Con Rồng trong một số sách, và từ đó phát sinh danh xưng “Con Rồng Minh Triết.”

93. Draco seems, in this context, to be a constellation which is superior to the Pleiades or, at least, to some aspect of the Pleiades which is associated with cosmic buddhi. It seems that the Logos of Draco is even a more potent source of cosmic buddhi than the Logos of the Pleiades. We must determine whether the Seven Sisters can be separated in any way from the 800 to 1000 stars which are presently judged to constitute the entirety of the Pleiades.

93. Trong văn cảnh này, Draco dường như là một chòm sao cao hơn Pleiades hoặc, ít nhất, cao hơn một phương diện nào đó của Pleiades vốn được liên kết với Bồ đề vũ trụ. Dường như Logos của Draco còn là một nguồn Bồ đề vũ trụ mạnh mẽ hơn Logos của Pleiades. Chúng ta phải xác định liệu Bảy Chị Em có thể được tách biệt theo cách nào đó khỏi 800 đến 1000 ngôi sao hiện nay được cho là cấu thành toàn bộ Pleiades hay không.

94. When thinking about the Logoi of great constellations, it should be remembered that such Logoi will not be characterized by only one ray, but by several just as for the human being. In this case it would seem that the Logos of Draco and the Logos of the Pleiades both have aspects of Themselves which express on the second ray (the ray of buddhi).

94. Khi suy nghĩ về các Logoi của những chòm sao lớn, cần nhớ rằng các Logoi như thế sẽ không được đặc trưng chỉ bởi một cung duy nhất, mà bởi nhiều cung cũng như nơi con người. Trong trường hợp này, có vẻ như Logos của Draco và Logos của Pleiades đều có những phương diện của Chính Các Ngài biểu lộ trên cung hai (cung của Bồ đề).

A third type of energy is added and, therefore, can be detected in these centres,

Một loại năng lượng thứ ba được thêm vào và, do đó, có thể được phát hiện trong các trung tâm này,

95. We continue to speak of the Planetary Logoi as centers within the Solar Logos.

95. Chúng ta tiếp tục nói về các Hành Tinh Thượng đế như những trung tâm bên trong Thái dương Thượng đế.

that of manasic type.

đó là loại manas.

96. One aspect of the Sirian energy is certainly manasic. The fifth ray is prominent in Sirian expression, though it is not the only ray expressed through Sirius.

96. Một phương diện của năng lượng Sirian chắc chắn là manas. Cung năm nổi bật trong sự biểu lộ của Sirius, dù đó không phải là cung duy nhất được biểu lộ qua Sirius.

This reaches the logoic centres

Điều này đạt đến các trung tâm logoic

97. The Planetary Logoi…

97. Các Hành Tinh Thượng đế…

via the star Sirius,

qua ngôi sao Sirius,

98. It is being established that the Planetary Logos receive a stream of energy from Sirius just as they do from the Pleiades and from the Great Bear. Interesting, however, these Planetary Logoi are usually considered to receive manasic energy from the Pleiades!

98. Đang được xác lập rằng các Hành Tinh Thượng đế tiếp nhận một dòng năng lượng từ Sirius cũng như từ Pleiades và Đại Hùng Tinh. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là các Hành Tinh Thượng đế này thường được xem là tiếp nhận năng lượng manas từ Pleiades!

The sun “Sirius” is the source of logoic manas in the same sense as thePleiades are connected with the evolution of manas in the seven Heavenly Men, and Venus was responsible for the coming in of mind in the Earth chain. (TCF 347)

Mặt trời “Sirius” là nguồn của manas logoic theo cùng ý nghĩa như việcPleiades được liên kết với sự tiến hoá của manas nơi bảy Đấng Thiên Nhân, và Sao Kim chịu trách nhiệm cho sự xuất hiện của trí tuệ trong Dãy Địa Cầu. (TCF 347)

99. The term “connected with” is not necessarily the same as “source of”.

99. Thuật ngữ “được liên kết với” không nhất thiết đồng nghĩa với “nguồn của”.

100. Are we saying that everything that reaches the Planetary Logoi from these three great sources (the Great Bear, the Pleiades and Sirius) must be transmitted to the Planetary Logoi via the Solar Logos?

100. Có phải chúng ta đang nói rằng mọi thứ đến với các Hành Tinh Thượng đế từ ba nguồn lớn này (Đại Hùng Tinh, Pleiades và Sirius) đều phải được truyền đến các Hành Tinh Thượng đế qua Thái dương Thượng đế?

and is transmitted from that constellation which (as earlier I have [Page 1163]hinted) must remain obscure at present.

và được truyền từ chòm sao ấy, chòm sao mà (như trước đây tôi đã [Page 1163]gợi ý) hiện nay phải vẫn còn mơ hồ.

101. Is it that Sirius is known as “that constellation” but that knowledge about it must remain obscure, or that there is a constellation which transmits manas through Sirius and thence to the Heavenly Men, but that the name of this constellation cannot be revealed?

101. Có phải Sirius được biết như “chòm sao ấy” nhưng tri thức về nó phải vẫn còn mơ hồ, hay là có một chòm sao truyền manas qua Sirius rồi từ đó đến các Đấng Thiên Nhân, nhưng tên của chòm sao này không thể được tiết lộ?

102. The latter possibility is more probable.

102. Khả năng sau có vẻ xác đáng hơn.

These three great streams of energy form the total manifestation of a logoic centre. This is known to us as a planetary scheme.

Ba dòng năng lượng lớn này tạo thành toàn bộ sự biểu hiện của một trung tâm logoic. Điều này được chúng ta biết đến như một hệ hành tinh.

103. In various ways we have been discussing how a center can be formed by three streams of energy; the third eye is one such center. We are also told that the alta major center is formed of streams of energy (though the number of streams is not given).

103. Theo nhiều cách khác nhau, chúng ta đã bàn đến việc một trung tâm có thể được hình thành bởi ba dòng năng lượng; con mắt thứ ba là một trung tâm như thế. Chúng ta cũng được cho biết rằng trung tâm alta major được hình thành từ các dòng năng lượng (dù số lượng các dòng không được nêu ra).

104. DK seems to be telling us that a planetary scheme is formed by these three great streams of energy. Perhaps He is telling that all the planetary schemes in our solar system are formed by the combination of these three great streams.

104. Chân sư DK dường như đang cho chúng ta biết rằng một hệ hành tinh được hình thành bởi ba dòng năng lượng lớn này. Có lẽ Ngài đang nói rằng mọi hệ hành tinh trong hệ mặt trời của chúng ta đều được hình thành bởi sự kết hợp của ba dòng lớn này.

105. Is it being indicated to us that “three great streams” somehow combine to form of vortex from which proceeds manifestation? Are three always involved in the manifestation of one?

105. Có phải điều đang được chỉ ra cho chúng ta là “ba dòng lớn” bằng cách nào đó kết hợp để tạo thành một xoáy lực từ đó sự biểu hiện tiến ra? Phải chăng ba luôn luôn tham dự vào sự biểu hiện của một?

Within the planetary scheme, these streams of energy work paramountly in the following manner:

Bên trong hệ hành tinh, các dòng năng lượng này hoạt động chủ yếu theo cách sau:

a. Spiritual energy..three higher planes…. the Monads.

a. Năng lượng tinh thần..ba cõi cao…. các Chân thần.

106. This is logoic/spiritual force. The three higher planes, in this case, are the logoic, the monadic and the atmic planes.

106. Đây là mãnh lực logoic/tinh thần. Ba cõi cao, trong trường hợp này, là cõi logoic, cõi chân thần và cõi atma.

107. Yet there are four “gates” to Shamballa. Are not Monads capable of functioning through the buddhic permanent atom on the buddhic plane?

107. Tuy nhiên có bốn “cổng” vào Shamballa. Chẳng phải các Chân thần có khả năng hoạt động qua nguyên tử trường tồn Bồ đề trên cõi Bồ đề sao?

108. Notice in this case that Monads are associated with the term “spiritual” and not only with the term “divine”.

108. Hãy lưu ý rằng trong trường hợp này các Chân thần được liên kết với thuật ngữ “tinh thần” chứ không chỉ với thuật ngữ “thiêng liêng”.

109. What is also evident is that every planetary scheme includes the logoic dimension. This stands to reason as the Logos of such a scheme has vehicles which extend far ‘above’ and ‘beyond’ the logoic plane in subtlety.

109. Điều cũng hiển nhiên là mọi hệ hành tinh đều bao gồm chiều kích logoic. Điều này là hợp lý vì Logos của một hệ như thế có những hiện thể vươn xa “cao hơn” và “vượt ngoài” cõi logoic về mức độ vi tế.

b. Buddhic force…..fourth plane…………… the solar Angels.

b. Mãnh lực Bồ đề…..cõi thứ tư…………… các Thái dương Thiên Thần.

110. It cannot yet be easily established which plane is the true plane of the Solar Angels (‘their own plane’). We do know, however, that these Angels are much associated with the energy of buddhi. Checking Tabulation II in Esoteric Astrology we find that Solar Angels are definitely assigned to the buddhic plane, though they express, sacrificially, on the higher mental plane.

110. Hiện chưa thể dễ dàng xác lập cõi nào là cõi đích thực của các Thái dương Thiên Thần (“cõi riêng của các Ngài”). Tuy nhiên, chúng ta biết rằng các Thiên Thần này được liên kết rất nhiều với năng lượng Bồ đề. Khi kiểm tra Bảng II trong Chiêm Tinh Học Nội Môn chúng ta thấy rằng các Thái dương Thiên Thần rõ ràng được quy vào cõi Bồ đề, dù các Ngài biểu lộ, một cách hi sinh, trên Cõi thượng trí.

c. Manasic force…..two lower planes……. the four kingdoms of nature.

c. Mãnh lực manas…..hai cõi thấp……. bốn giới trong thiên nhiên.

111. A plane is missing. Which is it? Can we consider it to be the physical-etheric plane? The four kingdoms of nature, do manifest, however, on the three lower planes and not only one two.

111. Thiếu một cõi. Đó là cõi nào? Chúng ta có thể xem đó là cõi hồng trần-dĩ thái chăng? Tuy nhiên, bốn giới trong thiên nhiên quả thật biểu hiện trên ba cõi thấp chứ không chỉ trên hai cõi.

112. Is DK, in some manner, skipping the systemic astral plane as something that does not exist.

112. Có phải Chân sư DK, theo một cách nào đó, đang bỏ qua cõi cảm dục hệ thống như một điều không tồn tại?

113. It is always interesting when Master DK appears to leave out an expected item in an enumeration. One has to enquire why he has done so.

113. Luôn luôn thú vị khi Chân sư DK dường như bỏ qua một mục vốn được chờ đợi trong một sự liệt kê. Người ta phải tự hỏi vì sao ông làm như vậy.

Physical energy, the left-over of a previous solar system, demonstrates through the dense physical form and in the material which is energised during the involutionary cycle.

Năng lượng hồng trần, phần còn lại của một hệ mặt trời trước, biểu lộ qua hình tướng hồng trần đậm đặc và trong chất liệu được tiếp sinh lực trong chu kỳ giáng hạ tiến hoá.

114. Is “physical energy” the seventh in relation to “the three higher planes”, “the fourth plane” and “two lower planes”?

114. “Năng lượng hồng trần” có phải là yếu tố thứ bảy trong tương quan với “ba cõi cao”, “cõi thứ tư” và “hai cõi thấp” không?

115. DK appears to be talking about the very densest material energy related to the three lowest subplanes of the systemic etheric-physical plane. It seems that the systemic ethers are not included in which He describes as “physical energy”.

115. Chân sư DK dường như đang nói về năng lượng vật chất đậm đặc nhất liên hệ với ba cõi phụ thấp nhất của cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống. Dường như các dĩ thái hệ thống không được bao gồm trong điều Ngài mô tả là “năng lượng hồng trần”.

It is not considered a principle; and is regarded as the basis of maya or illusion.

Nó không được xem là một nguyên khí; và được coi là nền tảng của ảo lực hay ảo tưởng.

116. From one perspective, the entirety of the eighteen lower subplanes are the dense physical body of the Planetary Logos and the twenty-one lower systemic subplanes are the dense physical body of the Solar Logos. The twenty-one are not a principle to the Solar Logos and the eighteen are not a principle to our Planetary Logos.

116. Từ một góc nhìn, toàn bộ mười tám cõi phụ thấp là thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế và hai mươi mốt cõi phụ thấp của hệ thống là thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế. Hai mươi mốt cõi ấy không phải là một nguyên khí đối với Thái dương Thượng đế và mười tám cõi ấy không phải là một nguyên khí đối với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta.

117. But DK may be focusing His attention on the three lowest systemic subplanes alone, stating that the energies of the three very lowest subplanes are the basis of maya or illusion.

117. Nhưng Chân sư DK có thể đang tập trung sự chú ý của Ngài chỉ vào ba cõi phụ thấp nhất của hệ thống, và nói rằng các năng lượng của ba cõi phụ thấp nhất ấy là nền tảng của ảo lực hay ảo tưởng.

The various planetary schemes are not all alike and differ as to:

Các hệ hành tinh khác nhau không hoàn toàn giống nhau và khác biệt về:

a. Type of energy,

a. Loại năng lượng,

b. Point in evolution,

b. điểm tiến hoá,

c. Position in the general plan,

c. Vị trí trong kế hoạch tổng quát,

d. Karmic opportunity,

d. Cơ hội nghiệp quả,

e. Rate of vibration.

e. Tốc độ rung động.

118. These are very important distinctions. Our knowledge of planetary lore is small (in fact, such knowledge is deliberately veiled from us), but Master DK has given us enough to make some comparisons.

118. Đây là những phân biệt rất quan trọng. Tri thức của chúng ta về huyền sử hành tinh còn ít ỏi (thực ra, tri thức ấy được cố ý che màn đối với chúng ta), nhưng Chân sư DK đã cho chúng ta đủ để thực hiện một số so sánh.

119. These schemes differ in ray energy; degree of unfoldment (which may not be the same as evolutionary status or “point in evolution”); the chakra or chakras a planetary scheme represents; the degree to which the possibility of stimulated unfoldment is presently offered to the Logos of such a planetary scheme; the key or keynote which the particular Planetary Logos is expressing. Each Planetary Logos has many rates of vibration depending upon which ones of His vehicles we are considering, but perhaps there is an overall rate of vibration.

119. Các hệ này khác nhau về năng lượng cung; mức độ khai mở (điều này có thể không giống với tình trạng tiến hoá hay “điểm tiến hoá”); luân xa hay các luân xa mà một hệ hành tinh đại diện; mức độ mà khả năng khai mở được kích thích hiện đang được trao cho Logos của hệ hành tinh ấy; chìa khóa hay chủ âm mà Hành Tinh Thượng đế đặc thù ấy đang biểu lộ. Mỗi Hành Tinh Thượng đế có nhiều tốc độ rung động tùy theo chúng ta đang xét những hiện thể nào của Ngài, nhưng có lẽ vẫn có một tốc độ rung động tổng quát.

The main distinction exists in the fact, as we have so oft repeated, that three of them form the three higher etheric energy centres of the Logos, and four constitute the lower centres.

Sự phân biệt chính nằm ở sự kiện, như chúng ta đã lặp đi lặp lại nhiều lần, rằng ba trong số đó tạo thành ba trung tâm năng lượng dĩ thái cao của Logos, và bốn cái tạo thành các trung tâm thấp.

120. This is confirmation of something long suspected—namely that the arrangement of human chakras found in TCF, Chart VIII, may have its higher correspondence. This would mean that just as not all seven chakras are located in the same systemic ethers in the case of the human being, so it is the case for the subplane distribution of the chakras of a Solar Logos or Planetary Logos.

120. Đây là sự xác nhận cho một điều đã bị nghi ngờ từ lâu—cụ thể là sự sắp xếp các luân xa của con người được tìm thấy trong TCF, Biểu đồ VIII, có thể có tương ứng cao hơn của nó. Điều này có nghĩa là cũng như không phải cả bảy luân xa đều nằm trong cùng các dĩ thái hệ thống nơi con người, thì điều ấy cũng đúng đối với sự phân bố theo cõi phụ của các luân xa của một Thái dương Thượng đế hay Hành Tinh Thượng đế.

121. There is some question as to whether solar logoic etheric chakras are all to be found on the systemic buddhic plane or whether they are distributed over the various cosmic-etheric subplanes as the chakras of the human being are distributed over the various systemic subplanes. In this case, for the Planetary Logos, the supreme head center would be found on the logoic plane; His heart center would be found on the monadic plane; His throat center would be found on the atmic plane; and the other four chakras (solar plexus, splenic center, sacral center and base of the spine) would be found on the buddhic plane. As for the ajna center, it could also be found on the logoic plane but on a different subplane from that of the supreme head center.

121. Có một số nghi vấn về việc liệu các luân xa dĩ thái logoic thái dương có đều được tìm thấy trên cõi Bồ đề hệ thống hay không, hay chúng được phân bố trên các cõi phụ dĩ thái vũ trụ khác nhau giống như các luân xa của con người được phân bố trên các cõi phụ hệ thống khác nhau. Trong trường hợp này, đối với Hành Tinh Thượng đế, trung tâm đầu tối cao sẽ được tìm thấy trên cõi logoic; trung tâm tim của Ngài sẽ được tìm thấy trên cõi chân thần; trung tâm cổ họng của Ngài sẽ được tìm thấy trên cõi atma; và bốn luân xa còn lại (tùng thái dương, Luân xa lá lách, xương cùng và đáy cột sống) sẽ được tìm thấy trên cõi Bồ đề. Còn đối với trung tâm ajna, nó cũng có thể được tìm thấy trên cõi logoic nhưng trên một cõi phụ khác với cõi phụ của trung tâm đầu tối cao.

Saturn is of interest to us here because the Logos of Saturn holds a position in the body logoic similar to that held by the throat centre in the microcosm.

Sao Thổ đáng quan tâm đối với chúng ta ở đây vì Logos của Sao Thổ giữ một vị trí trong thể logoic tương tự như vị trí do trung tâm cổ họng nắm giữ trong tiểu thiên địa.

122. This is a definite statement of fact (if we believe that the Tibetan offers only that which is true and factual—which most of us do ).

122. Đây là một phát biểu xác định về sự kiện (nếu chúng ta tin rằng Chân sư Tây Tạng chỉ đưa ra điều gì là chân thật và thực tế—điều mà hầu hết chúng ta đều tin).

123. So the logoic throat center is identified with Saturn but other centers are not so definitively given. Venus is given as representing the heart center, but there are problems and ambiguities surrounding this assignment.

123. Vì vậy trung tâm cổ họng logoic được đồng nhất với Sao Thổ, nhưng các trung tâm khác thì không được nêu ra một cách dứt khoát như vậy. Sao Kim được cho là đại diện cho trung tâm tim, nhưng có những vấn đề và mơ hồ bao quanh sự quy định này.

124. We may wish to remember that Saturn has also been identified as a correspondence to the logoic permanent atom on the logoic plane.

124. Chúng ta có thể muốn nhớ rằng Sao Thổ cũng đã được đồng nhất như một tương ứng với nguyên tử trường tồn logoic trên cõi logoic.

125. In what way the Logos of Saturn can stand for both ‘positions’ is uncertain. It may be that the planet Saturn is the correspondence to the logoic physical permanent atom but that the Logos of Saturn is the correspondence to the logoic throat center on all its levels on the cosmic planes through which the energy system of the Solar Logos manifests—including the cosmic astral plane and the cosmic mental plane.

125. Theo cách nào Logos của Sao Thổ có thể đại diện cho cả hai “vị trí” ấy thì chưa rõ. Có thể hành tinh Sao Thổ là tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần logoic, nhưng Logos của Sao Thổ là tương ứng với trung tâm cổ họng logoic trên mọi cấp độ của nó trong các cõi vũ trụ qua đó hệ thống năng lượng của Thái dương Thượng đế biểu lộ—bao gồm cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ.

Neptune, Uranus, and Saturn will, therefore, have absorbed the essence of manifestation and (in connection with the solar Logos) they correspond to the three permanent atoms in the causal body of a man. We say “correspond” for the analogy is not in detail. Uranus and Neptune are reflections of the logoic astral and mental permanent atoms. Saturn is in fact the correspondence to the logoic physical permanent atom. This is an occult mystery and must not be separated from its allied truth in the cosmic scheme. (TCF 406)

Sao Hải Vương, Sao Thiên Vương và Sao Thổ, vì vậy, sẽ hấp thu tinh chất của sự biểu hiện và (liên hệ với Thái dương Thượng đế) chúng tương ứng với ba nguyên tử trường tồn trong thể nguyên nhân của một con người. Chúng ta nói “tương ứng” vì phép loại suy không đi vào chi tiết. Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương là những phản chiếu của nguyên tử trường tồn cảm dục và trí tuệ logoic. Sao Thổ thật ra là tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần logoic. Đây là một huyền nhiệm huyền bí và không được tách rời khỏi chân lý liên hệ của nó trong hệ thống vũ trụ. (TCF 406)

Three centres towards the close of manifestation will become aligned in the same way as the centre at the base of the spine, the throat centre and the alta major centre.

Ba trung tâm vào lúc gần kết thúc sự biểu hiện sẽ trở nên chỉnh hợp theo cùng cách như trung tâm ở đáy cột sống, trung tâm cổ họng và trung tâm alta major.

126. Which logoic centers are these? The Earth is commonly associated with the base of the spine center. The Logos of Saturn, we have just seen, is the correspondence to the logoic throat center. Which, then is the correspondence to the alta major center—could it be Pluto, as a sort of base of the spine center in the head?

126. Những trung tâm logoic này là những trung tâm nào? Trái Đất thường được liên kết với trung tâm đáy cột sống. Như chúng ta vừa thấy, Logos của Sao Thổ là tương ứng với trung tâm cổ họng logoic. Vậy thì trung tâm nào là tương ứng với trung tâm alta major—có thể là Sao Diêm Vương chăng, như một loại trung tâm đáy cột sống trong đầu?

Here it must be pointed out that there are three planetary schemes which [1164] hold a place analogous to that held by the pineal gland, the pituitary body, and the alta major centre, but they are not the schemes referred to as centres, or known to us as informed by planetary Logoi.

Ở đây cần phải chỉ ra rằng có ba hệ hành tinh mà [Page 1164]giữ một vị trí tương tự như vị trí của tuyến tùng, thể tuyến yên và trung tâm alta major, nhưng chúng không phải là các hệ được nói đến như những trung tâm, hay được chúng ta biết đến như được các Hành Tinh Thượng đế thấm nhuần.

127. We can sense the presence of an occult blind. Who is “us”? Is “us” the Members of the Spiritual Hierarchy? Or is “us” humanity, which simply does not yet know enough to understand what type of Planetary Logoi could be associated with such centers?

127. Chúng ta có thể cảm nhận sự hiện diện của một bức màn huyền bí. “Chúng ta” là ai? “Chúng ta” là các Thành viên của Huyền Giai Tinh Thần chăng? Hay “chúng ta” là nhân loại, vốn đơn giản là chưa biết đủ để hiểu loại Hành Tinh Thượng đế nào có thể được liên kết với những trung tâm như thế?

128. When we speak of dense precipitations such as glands or “bodies” (pituitary body), the type of Logoi associated with them (IF Planetary Logoi are associated with them) seem not to be the same as those Planetary Logoi associated with the etheric centers.

128. Khi chúng ta nói đến những sự ngưng tụ đậm đặc như các tuyến hay “thể” (thể tuyến yên), loại Logoi liên kết với chúng (NẾU các Hành Tinh Thượng đế quả thật được liên kết với chúng) dường như không giống với những Hành Tinh Thượng đế liên kết với các trung tâm dĩ thái.

129. Can there be planetary schemes which are not informed by Planetary Logoi? It would seem not. Perhaps, DK is simply indicating that we (humanity) are ignorant of which Planetary Logoi and which type of Planetary Logoi inform such apparently lesser systemic centers.

129. Có thể có những hệ hành tinh không được các Hành Tinh Thượng đế thấm nhuần chăng? Có vẻ là không. Có lẽ Chân sư DK chỉ đang chỉ ra rằng chúng ta (nhân loại) không biết những Hành Tinh Thượng đế nào và loại Hành Tinh Thượng đế nào thấm nhuần những trung tâm hệ thống có vẻ thấp hơn như thế.

130. There are many types of Logoi in our solar system, and many unknown Planetary Logoi. At the time that this book was written, Pluto, for instance, had not be discovered.

130. Có nhiều loại Logoi trong hệ mặt trời của chúng ta, và nhiều Hành Tinh Thượng đế chưa được biết đến. Vào thời điểm cuốn sách này được viết, chẳng hạn, Sao Diêm Vương vẫn chưa được khám phá.

131. The principle is that glands and “bodies” are of lesser status than etheric centers, and, accordingly, the type of Logoi to be associated with them are of lesser status than the Planetary Logoi associated with etheric centers.

131. Nguyên tắc là các tuyến và “thể” có địa vị thấp hơn các trung tâm dĩ thái, và theo đó, loại Logoi được liên kết với chúng có địa vị thấp hơn các Hành Tinh Thượng đế liên kết với các trung tâm dĩ thái.

Certain of the planetoids

Một số tiểu hành tinh

132. But not all…

132. Nhưng không phải tất cả…

have their place here,

có vị trí của chúng ở đây,

133. Perhaps as analogues of the endocrine glands in the human energy system…

133. Có lẽ như những tương tự với các tuyến nội tiết trong hệ thống năng lượng của con người…

134. We must ask, however, the nature of the Lives informing the planetoids. If they are not called “Planetary Logoi”, what are they called? Are they in some way lesser Planetary Logoi? Yet, it is not probable that they will be Chain-Lords as Chain-Lords are the chakras of the Planetary Logoi who express through planetary schemes.

134. Tuy nhiên, chúng ta phải hỏi về bản chất của các Sự Sống thấm nhuần các tiểu hành tinh. Nếu chúng không được gọi là “Hành Tinh Thượng đế”, thì chúng được gọi là gì? Có phải theo một cách nào đó chúng là những Hành Tinh Thượng đế thấp hơn không? Tuy vậy, không có khả năng chúng là các Chúa Tể Dãy vì các Chúa Tể Dãy là các luân xa của các Hành Tinh Thượng đế biểu lộ qua các hệ hành tinh.

135. Are planetoids to be considered as associated with a planet (for instance, the moons of certain planets), or are planetoids bodies which like the greater planets have their orbit around the Sun?

135. Có nên xem các tiểu hành tinh là được liên kết với một hành tinh nào đó (chẳng hạn, các mặt trăng của một số hành tinh), hay các tiểu hành tinh là những thiên thể mà giống như các hành tinh lớn hơn, có quỹ đạo quanh Mặt Trời?

136. What human astronomers call “moons”, DK could regard as planetoids. Yet it may be, after all, that planetoids have their own orbit around the Sun whereas moons orbit around the planet with which they are in closest association. This is perhaps the distinction between them.

136. Điều mà các nhà thiên văn học gọi là “mặt trăng”, Chân sư DK có thể xem là các tiểu hành tinh. Tuy nhiên, rốt cuộc cũng có thể là các tiểu hành tinh có quỹ đạo riêng quanh Mặt Trời, trong khi các mặt trăng quay quanh hành tinh mà chúng liên kết gần gũi nhất. Có lẽ đó là sự phân biệt giữa chúng.

and one scheme which has passed out of activity, and is in a condition of quiescence and nonactivity.

và một hệ đã ra khỏi hoạt động, và đang ở trong trạng thái tĩnh lặng và bất hoạt.

137. This does not mean that it has passed out of manifestation entirely. This scheme may be one of those which we recognize as a planet.

137. Điều này không có nghĩa là nó đã hoàn toàn ra khỏi sự biểu hiện. Hệ này có thể là một trong những hệ mà chúng ta nhận biết như một hành tinh.

138. This scheme is probably not Mars, but we are told that it is in a state of quiescence.

138. Hệ này có lẽ không phải là Sao Hỏa, nhưng chúng ta được cho biết rằng nó ở trong trạng thái tĩnh lặng.

139. Of interest is the fact that for most human beings, the pineal gland is in a state of relative quiescence of inactivity.

139. Điều đáng chú ý là đối với phần lớn con người, tuyến tùng ở trong trạng thái tương đối tĩnh lặng hay bất hoạt.

140. One is forced to consider the history of the planet Vulcan. Was Vulcan in the past more active? Has it passed out of activity? Will it return to greater activity? One can find a number of convincing associations relating the function of Vulcan to the function of the third eye.

140. Người ta buộc phải xét đến lịch sử của hành tinh Vulcan. Trong quá khứ Vulcan có hoạt động mạnh hơn chăng? Nó đã ra khỏi hoạt động chăng? Nó sẽ trở lại hoạt động mạnh hơn chăng? Người ta có thể tìm thấy một số liên hệ khá thuyết phục nối chức năng của Vulcan với chức năng của con mắt thứ ba.

This latter scheme is the correspondence in the logoic body to the atrophied third eye in the fourth kingdom of nature.

Hệ sau này là tương ứng trong thể logoic với con mắt thứ ba bị teo đi trong giới thứ tư của thiên nhiên.

141. Yes, exactly. Of course the real third eye is etheric in nature. It is not correct to call the pineal gland (a dense physical structure) the “third eye”.

141. Vâng, chính xác là như vậy. Dĩ nhiên con mắt thứ ba thực sự có bản chất dĩ thái. Không đúng khi gọi tuyến tùng (một cấu trúc hồng trần đậm đặc) là “con mắt thứ ba”.

142. We should not consider that this scheme will be unimportant, even though in a state of quiescence. The third eye is a very important etheric/magnetic field within the human energy system, and, therefore, the scheme in question may be proven to be of quite some importance.

142. Chúng ta không nên cho rằng hệ này sẽ không quan trọng, dù đang ở trong trạng thái tĩnh lặng. Con mắt thứ ba là một trường dĩ thái/từ tính rất quan trọng trong hệ thống năng lượng của con người, và vì vậy hệ đang được nói đến có thể được chứng minh là có tầm quan trọng đáng kể.

When man has developed etheric vision and thus has expanded his range of vision, he will become aware of these facts, for he will see.

Khi con người đã phát triển linh thị dĩ thái và nhờ đó đã mở rộng phạm vi tầm nhìn của mình, y sẽ nhận biết những sự kiện này, vì y sẽ thấy.

143. When we speak of a scheme which has passed out of activity, does it then mean that it has also passed out of dense physicality? This statement immediately above seems to direct our thought to strictly etheric centers—i.e., planetary schemes which have no dense physical body.

143. Khi chúng ta nói về một hệ đã ra khỏi hoạt động, vậy điều đó có nghĩa là nó cũng đã ra khỏi trạng thái hồng trần đậm đặc chăng? Phát biểu ngay bên trên này dường như hướng tư tưởng của chúng ta đến những trung tâm hoàn toàn dĩ thái —tức là những hệ hành tinh không có thể xác đậm đặc.

Many planetary schemes which are found only in etheric matter will be revealed to his astonished gaze,

Nhiều hệ hành tinh chỉ được tìm thấy trong vật chất dĩ thái sẽ được phơi bày trước ánh nhìn kinh ngạc của y,

144. Perhaps, then, the scheme which stands for the third eye of the Logos is to be found only in etheric matter.

144. Vậy thì có lẽ hệ tượng trưng cho con mắt thứ ba của Logos chỉ được tìm thấy trong vật chất dĩ thái.

145. One wonders, somewhat, about the role of Vulcan in relation to these matters. Is Vulcan an etheric planet or a planet which has a dense physical body. In TCF it is listed as one of the “Dense Physical Planets” (TCF 373)

145. Người ta có phần băn khoăn về vai trò của Vulcan trong liên hệ với những vấn đề này. Vulcan là một hành tinh dĩ thái hay là một hành tinh có thể xác đậm đặc? Trong TCF nó được liệt kê là một trong những “Hành Tinh Hồng Trần Đậm Đặc” (TCF 373)

and he will find that (as in the body microcosmic) there are seven (or ten),

và y sẽ thấy rằng (như trong thể tiểu thiên địa) có bảy (hay mười),

146. This alternation between seven and ten always requires interpretation. We have different ways by which we can number the energy system of man.

146. Sự luân phiên giữa bảy và mười này luôn đòi hỏi phải được diễn giải. Chúng ta có những cách khác nhau để đếm hệ thống năng lượng của con người.

paramount centres

các trung tâm chủ yếu

147. It is easy to number seven paramount centers, but can one number ten such? Will the higher correspondences of the human “pranic triangle” be included? Will the alta major center be included? It would seem that certain planets which we now call “non-sacred” would have to be included.

147. Thật dễ để đếm bảy trung tâm chủ yếu, nhưng có thể đếm mười trung tâm như thế chăng? Những tương ứng cao hơn của “tam giác prana” nơi con người có được bao gồm không? Trung tâm alta major có được bao gồm không? Có vẻ như một số hành tinh mà hiện nay chúng ta gọi là “không thiêng liêng” sẽ phải được bao gồm.

but numbers of other centres for the purpose of energising various organs.

nhưng còn có nhiều trung tâm khác nhằm mục đích tiếp sinh lực cho các cơ quan khác nhau.

148. A book on the chakras by Malvin Artley is called “A Thousand Points of Light”. There are chakras—major, minor and minute, and perhaps miniscule. Logoi of certain kinds must necessarily inform them.

148. Một cuốn sách về các luân xa của Malvin Artley có tên là “Một Ngàn Điểm Ánh Sáng”. Có những luân xa—lớn, nhỏ và vi tế, và có lẽ còn cực vi tế. Các Logoi thuộc một số loại nhất định hẳn phải thấm nhuần chúng.

So likewise the body macrocosmic has myriads of energy focal points or feeders

Tương tự như vậy, thể đại thiên địa có vô số tiêu điểm năng lượng hay các đường tiếp năng lượng

149. “Feeders” sound like nadis. A “feeder” is an energy-stream and a point is a nexus (we might presume), for a number of feeders.

149. “Các đường tiếp năng lượng” nghe giống như các nadi. Một “đường tiếp năng lượng” là một dòng năng lượng và một điểm là một nút giao (chúng ta có thể giả định như vậy) của một số đường tiếp năng lượng.

which have their place, their function, and their felt effects.

có vị trí, chức năng và tác dụng cảm nhận được của chúng.

150. DK us widening for us the possibility of apprehension. There is so much more to perceive than that which is thus far perceived.

150. Chân sư DK đang mở rộng cho chúng ta khả năng lĩnh hội. Có nhiều điều để tri nhận hơn rất nhiều so với điều cho đến nay đã được tri nhận.

These centres, with no dense physical globe, constitute what has sometimes been called “the inner round” and transmit their force through those greater centres which have been spoken of in occult books as having a connection with the inner round.

Những trung tâm này, không có bầu hành tinh hồng trần đậm đặc, cấu thành điều đôi khi được gọi là “cuộc tuần hoàn bên trong” và truyền mãnh lực của chúng qua những trung tâm lớn hơn đã được nói đến trong các sách huyền bí là có liên hệ với cuộc tuần hoàn bên trong.

151. To understand the “inner round” then, we have to identify certain etheric planets (planets with no dense physical body) and determine the connection of these etheric planets with well-known planets which are connected to the etheric planets.

151. Vậy để hiểu “cuộc tuần hoàn bên trong”, chúng ta phải nhận diện một số hành tinh dĩ thái (những hành tinh không có thể hồng trần đậm đặc) và xác định mối liên hệ của các hành tinh dĩ thái này với những hành tinh quen thuộc vốn có liên hệ với chúng.

152. Mercury, often associated with the “inner round” must be such a planet connected to planets which have no dense physical body.

152. Sao Thủy, thường được liên kết với “cuộc tuần hoàn bên trong”, hẳn phải là một hành tinh như thế, được nối kết với những hành tinh không có thể hồng trần đậm đặc.

Each of these planetary schemes can be seen as a lotus having seven major petals, of which each chain forms one petal, but having also subsidiary petals of a secondary colour according to the nature and karma of the Entity concerned.

Mỗi hệ hành tinh này có thể được xem như một hoa sen có bảy cánh hoa chính, trong đó mỗi Dãy tạo thành một cánh hoa, nhưng cũng có các cánh hoa phụ với một màu thứ cấp tùy theo bản chất và nghiệp quả của Thực Thể liên hệ.

153. We could perhaps think we are dealing with the number twelve—seven plus five, just as there are seven sacred planets and five non-sacred planets, but it is highly unlikely that the various planetary lotuses all have the same number of petals (whether those petals are to be considered primary, secondary or tertiary).

153. Có lẽ chúng ta có thể nghĩ rằng mình đang xử lý con số mười hai—bảy cộng năm, cũng như có bảy hành tinh thiêng liêng và năm hành tinh không thiêng liêng, nhưng rất khó có khả năng các hoa sen hành tinh khác nhau đều có cùng một số cánh hoa (dù những cánh hoa ấy được xem là chính, phụ hay thứ ba).

154. It is interesting that the colors of the secondary petals are determined partially by the “karma” of the Entity. One would expect the color to be determined by the inner nature of the planet and not by its condition in time and space.

154. Điều thú vị là màu sắc của các cánh hoa phụ được quyết định một phần bởi “nghiệp quả” của Thực Thể. Người ta sẽ mong đợi màu sắc được quyết định bởi bản chất bên trong của hành tinh chứ không phải bởi tình trạng của nó trong thời gian và không gian.

155. Is only one secondary colour involved (according to the nature and karma of the Planetary Logos concerned) or do all the subsidiary petals have different colors.

155. Chỉ có một màu thứ cấp được liên hệ (tùy theo bản chất và nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế liên hệ) hay tất cả các cánh hoa phụ đều có những màu khác nhau?

156. It seems evident from what is said that the seven major petals of each Planetary Logos are characterized by a certain color which is different to the “secondary colour” of the subsidiary petals.

156. Từ điều được nói ra, có vẻ hiển nhiên rằng bảy cánh hoa chính của mỗi Hành Tinh Thượng đế được đặc trưng bởi một màu nhất định, khác với “màu thứ cấp” của các cánh hoa phụ.

157. It is also possible that while there may be “seven major petals” for each Planetary Logos, that not all of them are yet unfolded or that not all of them, as yet, are manifesting as major.

157. Cũng có thể là tuy mỗi Hành Tinh Thượng đế có “bảy cánh hoa chính”, nhưng không phải tất cả chúng đều đã khai mở, hoặc không phải tất cả chúng hiện nay đều đang biểu hiện như những cánh hoa chính.

It is in the enumeration of these solar lotuses that occult students go astray.

Chính trong việc liệt kê các hoa sen thái dương này mà các đạo sinh huyền bí học đi lạc hướng.

158. By this, DK means the enumeration of the number of major and minor petals in each of these lotuses.

158. Qua đó, Chân sư DK muốn nói đến việc liệt kê số lượng các cánh hoa chính và phụ trong mỗi hoa sen này.

159. While the heart center of each Planetary Logos may be a twelve-petalled lotus, the planetary schemes in which this heart centers are found may be seen as a lotuses with differing numbers of petals.

159. Trong khi trung tâm tim của mỗi Hành Tinh Thượng đế có thể là một hoa sen mười hai cánh, thì các hệ hành tinh trong đó các trung tâm tim này được tìm thấy có thể được xem như những hoa sen với số cánh khác nhau.

160. The following tabulation re twelve-petalled lotuses contains this hint:

160. Bảng liệt kê sau đây về các hoa sen mười hai cánh chứa đựng gợi ý này:

a. The logoic twelve-petalled egoic Lotus. Cosmic mental plane.

a. Hoa Sen chân ngã mười hai cánh của Thượng đế. Cõi trí vũ trụ.

b. The solar twelve-petalled Lotus.

b. Hoa Sen thái dương mười hai cánh.

c. The planetary logoic Heart, also a twelve-petalled Lotus.

c. Tim của Hành Tinh Thượng đế, cũng là một Hoa Sen mười hai cánh.

d. The twelve-petalled human egoic lotus on the mental plane.

d. Hoa sen chân ngã mười hai cánh của con người trên cõi trí.

e. The twelve-petalled heart centre in a human being. (TCF 1205)

e. Trung tâm tim mười hai cánh trong một con người. (TCF 1205)

It is, for instance, correct to say that the planetary scheme corresponding to the microcosmic base of the spine is a fourfold lotus and has, therefore, four petals.

Chẳng hạn, nói rằng hệ hành tinh tương ứng với đáy cột sống vi mô là một hoa sen tứ phân và vì thế có bốn cánh là điều đúng.

161. Is Master DK here describing the Earth which is hinted as the macrocosmic base of the spine center?

161. Ở đây Chân sư DK có đang mô tả Trái Đất, vốn được ám chỉ là trung tâm đáy cột sống đại vĩ mô, hay không?

162. We are told that the microcosmic base of the spine center has four petals.

162. Chúng ta được cho biết rằng trung tâm đáy cột sống vi mô có bốn cánh.

There are four outstanding petals of a peculiar hue, but there are three of a secondary colour, and nine of a tertiary nature. (To students with intuition the hint here conveyed may reveal the name of the planet, and the nature of its evolution). [Page 1165]

Có bốn cánh nổi bật mang một sắc thái đặc biệt, nhưng có ba cánh mang màu phụ, và chín cánh có bản chất màu bậc ba. (Đối với những đạo sinh có trực giác, gợi ý được truyền đạt ở đây có thể tiết lộ tên của hành tinh, và bản chất của sự tiến hoá của nó). [Page 1165]

163.  Could the three hues relate to the three major rays of the Planetary Logos in question.

163.  Ba sắc thái ấy có thể liên hệ với ba cung chính của Hành Tinh Thượng đế đang được nói đến chăng.

164.  Would the hue of the “outstanding petals” related to the monadic ray, and the secondary and tertiary colors relate to the soul ray and personality ray respectively?

164.  Sắc thái của các “cánh nổi bật” có liên hệ với cung chân thần, còn các màu phụ và màu bậc ba lần lượt liên hệ với cung linh hồn và cung phàm ngã chăng?

165.  The number sixteen can be related to Earth, because microcosmically the Earth can stand for the throat center (in the average person) along with Saturn (standing for the throat center in the disciple). The number of petals in the microcosmic throat center is sixteen.

165.  Con số mười sáu có thể được liên hệ với Trái Đất, bởi vì ở cấp vi mô Trái Đất có thể tượng trưng cho trung tâm cổ họng (ở người trung bình) cùng với Sao Thổ (tượng trưng cho trung tâm cổ họng nơi đệ tử). Số cánh trong trung tâm cổ họng vi mô là mười sáu.

166.  However, it is clear from what has been said in this commentary that Saturn, not Earth, is the macrocosmic throat center to which the number sixteen should apply—especially if there is a parallelism to be found between the number of petals in the microcosmic and macrocosmic lotuses.

166.  Tuy nhiên, từ những gì đã được nói trong phần bình luận này, rõ ràng rằng Sao Thổ, chứ không phải Trái Đất, là trung tâm cổ họng đại vĩ mô mà con số mười sáu phải được áp dụng—đặc biệt nếu có thể tìm thấy sự song hành giữa số cánh trong các hoa sen vi mô và đại vĩ mô.

167.  Perhaps a hint is given suggesting that the number of major petals in any planetary lotus will correspond to the number of petals in a paralleling microcosmic lotus, but that additional petals will be found in the macrocosmic lotus. One could, however, wonder whether there are additional subsidiary petals (not mentioned, thus far in the Teaching) which are to be found in relation to the microcosmic lotuses as well?

167.  Có lẽ một gợi ý được đưa ra, cho thấy rằng số cánh chính trong bất kỳ hoa sen hành tinh nào sẽ tương ứng với số cánh trong một hoa sen vi mô song hành, nhưng những cánh bổ sung sẽ được tìm thấy trong hoa sen đại vĩ mô. Tuy nhiên, người ta có thể tự hỏi liệu có những cánh phụ bổ sung nào nữa (cho đến nay chưa được nhắc đến trong Giáo Huấn) được tìm thấy liên hệ với các hoa sen vi mô hay không?

168.  In this particular case, since Earth is directly related to Saturn in a number of ways, perhaps the total number of petals relate any given planetary lotus to the numbering of another (and higher?) planetary chakra to which it is closely related.

168.  Trong trường hợp đặc biệt này, vì Trái Đất liên hệ trực tiếp với Sao Thổ theo nhiều cách, có lẽ tổng số cánh liên hệ bất kỳ hoa sen hành tinh nào với số lượng của một luân xa hành tinh khác (và cao hơn?) mà nó có liên hệ mật thiết.

169.  If for instance, Mercury can be thought to stand for the solar logoic ajna center, and Uranus for the solar logoic head center, we can see how the number 96 relates to both. The microcosmic ajna center has 96 (plus two great petals) petals and the microcosmic head center has 960 petals (plus twelve greater petals—ruled probably by Neptune and not by Uranus).

169.  Chẳng hạn, nếu Sao Thủy có thể được xem là tượng trưng cho trung tâm ajna của Thái dương Thượng đế, và Sao Thiên Vương tượng trưng cho trung tâm đầu của Thái dương Thượng đế, chúng ta có thể thấy con số 96 liên hệ với cả hai như thế nào. Trung tâm ajna vi mô có 96 (cộng thêm hai cánh lớn) cánh và trung tâm đầu vi mô có 960 cánh (cộng thêm mười hai cánh lớn hơn—có lẽ do Sao Hải Vương cai quản chứ không phải Sao Thiên Vương).

170.  VSK enters here with some speculations on the colors involved:

170.  Ở đây VSK đưa vào một số suy đoán về các màu sắc liên quan:

a. This could be blue-green, this may be the sacred blue (as a combination of ray two and ray three (blue and green), and shows up in the Earth as four petals.

a. Đây có thể là xanh lam-lục; đây có thể là màu lam thiêng liêng (như sự kết hợp của cung hai và cung ba (xanh lam và xanh lục), và xuất hiện nơi Trái Đất như bốn cánh.

b. Or in higher turn, a relation to Saturn, as sixteen suggests relation to the throat centre. Silvery blue? If cyan, the aqua of the ball of earth, be suggested, whichever: cyan is the true opposite (optically) of red (complement, i.e., in the secondary trinity of light, with yellow and magenta-violet). Cyan is a result of red and blue light combined.

b. Hoặc ở vòng cao hơn, là một liên hệ với Sao Thổ, vì mười sáu gợi ý liên hệ với trung tâm cổ họng. Xanh lam bạc chăng? Nếu cyan, màu nước của quả cầu địa cầu, được gợi ra, thì dù thế nào: cyan là đối cực thực sự (về quang học) của đỏ (màu bổ sung, tức trong bộ ba thứ cấp của ánh sáng, cùng với vàng và tím đỏ-magenta). Cyan là kết quả của ánh sáng đỏ và xanh lam kết hợp.

c. Note that cyan is the result of stimulation of red light on light-sensitive medium? The ‘negative’ of a silver oxide, or photographic film.)

c. Lưu ý rằng cyan là kết quả của sự kích thích của ánh sáng đỏ trên môi trường nhạy sáng? “Âm bản” của oxit bạc, hay của phim ảnh.)

d. In an order of counting from the colours of light, the primaries are red, blue, green, for 1, 2, and 3. The secondaries produced by red plus green plus blue are, violet-magenta (red plus blue), cyan (blue plus green), and yellow (red plus green).

d. Theo một trật tự đếm từ các màu của ánh sáng, các màu cơ bản là đỏ, xanh lam, xanh lục, ứng với 1, 2 và 3. Các màu thứ cấp được tạo ra bởi đỏ cộng xanh lục cộng xanh lam là tím đỏ-magenta (đỏ cộng xanh lam), cyan (xanh lam cộng xanh lục), và vàng (đỏ cộng xanh lục).

e. The seventh is the synthesis, which, in light, is white. Synthesis of all pigments of matter (red plus blue plus yellow), is (dirty) black, with the inability to absorb (or reject) light (white) by a material.

e. Màu thứ bảy là sự tổng hợp, mà trong ánh sáng là màu trắng. Sự tổng hợp của mọi sắc tố của vật chất (đỏ cộng xanh lam cộng vàng) là màu đen (bẩn), với sự bất lực của một chất liệu trong việc hấp thụ (hay khước từ) ánh sáng (trắng).

Each of these solar lotuses, or planetary schemes,

Mỗi hoa sen thái dương này, hay các hệ hành tinh,

171. A planetary scheme is a solar lotus. It is good to understand the various ways of describing the same thing.

171. Một hệ hành tinh là một hoa sen thái dương. Thật tốt khi thấu hiểu các cách khác nhau để mô tả cùng một điều.

unfolds in three great stages of activity, in each one of which one of the three types of energy dominates.

khai mở trong ba giai đoạn hoạt động lớn, trong mỗi giai đoạn ấy một trong ba loại năng lượng chiếm ưu thế.

172. A hint is here given that there will be secondary and tertiary colors found in each solar lotus and that at different stages of unfoldment, different colors in the lotus will stand forth.

172. Ở đây có một gợi ý rằng sẽ có các màu phụ và màu bậc ba được tìm thấy trong mỗi hoa sen thái dương, và ở những giai đoạn khai mở khác nhau, những màu khác nhau trong hoa sen sẽ nổi bật lên.

173. Is it possible that these secondary and tertiary colors correspond to the two ‘other’ rays of the Planetary Logos in question?>

173. Có thể nào những màu phụ và màu bậc ba này tương ứng với hai cung “khác” của Hành Tinh Thượng đế đang được nói đến không?>

174. We know (from writing in a later book, Esoteric Astrology ) that three major rays of the Earth are the first, second and third, corresponding roughly to red, blue and green. Is it reasonable to think that the colors of the major petals correspond to the monadic ray, with the other two colors corresponding to the soul and personality rays?

174. Chúng ta biết (từ những gì được viết trong một quyển sách sau này, Chiêm Tinh Học Nội Môn) rằng ba cung chính của Trái Đất là cung một, cung hai và cung ba, tương ứng đại khái với đỏ, xanh lam và xanh lục. Có hợp lý không khi nghĩ rằng màu của các cánh chính tương ứng với cung chân thần, còn hai màu kia tương ứng với cung linh hồn và cung phàm ngã?

175. We can see how a planet could play three different roles in a solar system, depending upon the color which it was most vibrantly demonstrating at a particular time.

175. Chúng ta có thể thấy một hành tinh có thể đóng ba vai trò khác nhau trong một hệ mặt trời như thế nào, tùy theo màu mà nó đang biểu lộ rung động mạnh mẽ nhất vào một thời điểm nhất định.

176. Earth, for instance, is most powerfully demonstrating the third ray—the ray of its personality. Does it presently have a function which is more of third ray nature than of a second or first ray nature?

176. Chẳng hạn, Trái Đất đang biểu lộ mạnh mẽ nhất cung ba—cung phàm ngã của nó. Hiện nay nó có một chức năng mang bản chất cung ba nhiều hơn là bản chất cung hai hay cung một chăng?

177. Eventually, perhaps in the next solar system, but perhaps slightly before, the Earth will begin responding to its monadic ray, which is now occultly “non-effective” (EA 363). Does this mean that, at that time, the color red will be the primary color demonstration of this planet?

177. Cuối cùng, có lẽ trong hệ mặt trời kế tiếp, nhưng cũng có lẽ sớm hơn đôi chút, Trái Đất sẽ bắt đầu đáp ứng với cung chân thần của nó, vốn hiện nay một cách huyền bí là “không hữu hiệu” (EA 363). Điều này có nghĩa là vào lúc ấy, màu đỏ sẽ là màu biểu lộ chính yếu của hành tinh này chăng?

178. We are dealing with the mystery of mutability or relativity of planetary function in time and space.

178. Chúng ta đang đề cập đến huyền nhiệm của tính biến đổi hay tính tương đối của chức năng hành tinh trong thời gian và không gian.

As the unfolding proceeds, the vibratory activity increases, and the appearance of the manifesting activity changes.

Khi sự khai mở tiếp diễn, hoạt động rung động gia tăng, và vẻ ngoài của hoạt động biểu hiện thay đổi.

179. Due to increase of vibration, any sphere of expression alters its appearance. Does it also alter its function within the whole of which it is a part?

179. Do sự gia tăng rung động, bất kỳ khối cầu biểu hiện nào cũng thay đổi vẻ ngoài của nó. Nó cũng có thay đổi chức năng của nó trong toàn thể mà nó là một phần của toàn thể ấy không?

a. The motion of the lotus or wheel for a long time is simply that of a slow revolution.

a. Chuyển động của hoa sen hay bánh xe trong một thời gian dài đơn giản chỉ là một sự quay vòng chậm.

180. This is certainly so for the microcosmic chakras. They are relatively quiescent, saucer-like depressions which pulsate and which rotate very slowly.

180. Điều này chắc chắn đúng đối với các luân xa vi mô. Chúng tương đối tĩnh, là những chỗ lõm giống chiếc đĩa, có sự rung nhịp và quay rất chậm.

181. Macrocosmically, do we have any planetary schemes which are presently in this condition? If so, how would we identify them?

181. Ở cấp đại vĩ mô, hiện nay có hệ hành tinh nào ở trong tình trạng này không? Nếu có, chúng ta sẽ nhận diện chúng như thế nào?

b. Later, for a still vaster period, each petal revolves within the greater whole, and at an angle different to that of the whole revolution.

b. Về sau, trong một thời kỳ còn bao la hơn nữa, mỗi cánh quay vòng bên trong toàn thể lớn hơn, và theo một góc khác với góc của toàn bộ sự quay vòng.

182. Analogically, it seems that petals could almost have their own ‘orbits’ around the center of the lotus.

182. Theo phép tương đồng, dường như các cánh gần như có thể có những “quỹ đạo” riêng quanh trung tâm của hoa sen.

183. It is interesting that this second phase last even longer than the first. In the unfoldment of the egoic lotus, the first phase of unfoldment (that of the first circle of petals) is by far the longest.

183. Điều thú vị là giai đoạn thứ hai này kéo dài còn lâu hơn giai đoạn đầu. Trong sự khai mở của hoa sen chân ngã, giai đoạn khai mở đầu tiên (giai đoạn của vòng cánh thứ nhất) là dài nhất vượt xa.

184. We can say that “revolution” is a type of movement corresponding to the second ray, and rotation to the third.

184. Chúng ta có thể nói rằng “quay vòng” là một loại chuyển động tương ứng với cung hai, còn quay tròn tương ứng với cung ba.

185. When we consider this “angle different to that of the whole revolution”, we may wish to remember that planes rotate from east to west and rays from north to south. Are we dealing with the formation of the cross?

185. Khi xem xét “góc khác với góc của toàn bộ sự quay vòng” này, chúng ta có thể muốn nhớ rằng các cõi quay từ đông sang tây và các cung từ bắc xuống nam. Chúng ta có đang đề cập đến sự hình thành của thập giá không?

c. Finally, these two activities are increased by the appearance of a form of energy which, originating from the centre, pulsates so powerfully that it produces what look to be streams of energy passing backwards and forwards from the centre to the periphery.

c. Cuối cùng, hai hoạt động này được gia tăng bởi sự xuất hiện của một dạng năng lượng, khởi phát từ trung tâm, rung nhịp mạnh mẽ đến mức tạo ra điều trông như những dòng năng lượng đi qua đi lại từ trung tâm đến chu vi.

186. This type activity is more of a pulsation and corresponds to the first ray. We have the appearance of that which goes ‘out’ and then ‘returns’. The first ray impulses an entity along the path of its ‘journey’ and then draws it back

186. Loại hoạt động này mang tính rung nhịp nhiều hơn và tương ứng với cung một. Chúng ta có vẻ ngoài của điều gì đó đi “ra ngoài” rồi “trở về”. Cung một thúc đẩy một thực thể dọc theo con đường “hành trình” của nó rồi lại kéo nó trở về

187. The following quotation will have its relevance in this context:

187. Trích dẫn sau đây sẽ có liên hệ trong bối cảnh này:

188.

188.

“The Jewel itself remains occultly static, and does not circulate. It is a point of peace; it pulsates rhythmically as does the heart of man, and from it ray forth eight streams of living fire which extend to the tips of the four love petals and the four sacrifice petals. This eight-fold energy is atma-buddhi. It is this final raying forth which produces the eventual disintegration of the body of the Ego.” (TCF 1118-1119)

“Bản thân Bảo Châu vẫn ở trạng thái tĩnh một cách huyền bí, và không tuần hoàn. Nó là một điểm bình an; nó rung nhịp theo nhịp điệu như tim con người, và từ đó phóng ra tám dòng lửa sống động vươn đến chót của bốn cánh bác ái và bốn cánh hi sinh. Năng lượng bát phân này là atma-buddhi. Chính sự phóng xạ cuối cùng này tạo ra sự tan rã sau cùng của thể của Chân ngã.” (TCF 1118-1119)

d. When these three are working in unison, the effect is wonderful in the extreme, and impossible for the eye to follow, the mind of man to conceive, or the pen to express in words.

d. Khi ba điều này hoạt động đồng nhất, hiệu quả là kỳ diệu đến tột bậc, và mắt không thể theo dõi, trí tuệ con người không thể hình dung, hay ngòi bút không thể diễn tả thành lời.

189. DK seems to be speaking of the consummation of any lotus, including the egoic lotus at the fourth initiation.

189. DK dường như đang nói về sự viên mãn của bất kỳ hoa sen nào, kể cả hoa sen chân ngã ở lần điểm đạo thứ tư.

It is this stage, macrocosmic and microcosmic, which constitutes the different grades of alignment, for it must never be forgotten by students that all that manifests is a sphere,

Chính giai đoạn này, ở cấp đại vĩ mô và vi mô, tạo thành các cấp độ chỉnh hợp khác nhau, vì đạo sinh không bao giờ được quên rằng mọi thứ biểu hiện đều là một khối cầu,

190. All forms of manifestation are essentially spherical. This has to do with the inner forms. Perhaps, eventually, the outer form, too, will take on a spherical appearance—even the appearance of man.

190. Mọi hình tướng biểu hiện về bản chất đều có dạng hình cầu. Điều này liên quan đến các hình thức bên trong. Có lẽ cuối cùng, hình thức bên ngoài cũng sẽ mang dáng vẻ hình cầu—ngay cả dáng vẻ của con người.

191. The consummatory phase is a spherical phase.

191. Giai đoạn viên mãn là một giai đoạn hình cầu.

and alignment really consists in unimpeded communication between the heart of the sphere and the periphery or the bound of the influence of the dynamic will and the centre.

chỉnh hợp thực sự bao gồm sự giao tiếp không bị cản trở giữa tim của khối cầu và chu vi hay ranh giới của ảnh hưởng của ý chí năng động và trung tâm.

192. This is a most important definition of alignment, and transfers our thought towards the dynamic of “in and out” rather than “up and down”.

192. Đây là một định nghĩa hết sức quan trọng về chỉnh hợp, và chuyển tư tưởng của chúng ta về phía động lực của “vào và ra” hơn là “lên và xuống”.

193. “Up and down” and “in and out” are really arbitrary descriptions of the increase and decrease of vibration, however there is seemingly more occult reality in “in and out” than in “up and down”. For example, we are told that “the Kingdom of God is within ”. We are not told (esoterically), as so many believers seem to believe, that the ‘Kingdom of God is above ”.

193. “Lên và xuống” và “vào và ra” thực ra chỉ là những mô tả tùy ý về sự tăng và giảm rung động; tuy nhiên dường như có nhiều thực tại huyền bí hơn trong “vào và ra” so với “lên và xuống”. Thí dụ, chúng ta được bảo rằng “Thiên Giới ở bên trong ”. Chúng ta không được bảo (một cách huyền bí), như rất nhiều tín đồ dường như tin, rằng “Thiên Giới ở phía trên ”.

Within each planetary scheme, are found the seven chains which are the seven planetary centres,

Bên trong mỗi hệ hành tinh, có bảy dãy là bảy trung tâm hành tinh,

194. This corresponds to the seven major planetary schemes which serve as the seven major chakras in the energy system of the Solar Logos.

194. Điều này tương ứng với bảy hệ hành tinh chính, vốn phục vụ như bảy luân xa chính trong hệ thống năng lượng của Thái dương Thượng đế.

and again within the chain are the seven globes which are the chain centres,

và lại nữa, bên trong dãy có bảy bầu hành tinh là các trung tâm của dãy,

195. The septenates continue to descend (and ascend).

195. Các bộ bảy tiếp tục giáng xuống (và đi lên).

but students would do well not to study the globes from the point of view of centres until their knowledge of the mystery underlying dense physical substance is greater, or they will be led into error.

nhưng các đạo sinh nên tránh nghiên cứu các bầu hành tinh từ quan điểm các trung tâm cho đến khi kiến thức của họ về huyền nhiệm nằm bên dưới chất liệu hồng trần đậm đặc lớn hơn, nếu không họ sẽ bị dẫn vào sai lầm.

196. Master DK did not say not to study the chains from the point of view of centres.

196. Chân sư DK không nói rằng không nên nghiên cứu các dãy từ quan điểm các trung tâm.

197. The study of globes must include a solution to the question of whether globes are mono-dimensional or multidimensional. Chains are obviously multidimensional. I also think that the best solution to discover the true nature of a globe is to consider it multi-dimensional as well.

197. Việc nghiên cứu các bầu hành tinh phải bao gồm lời giải cho câu hỏi liệu các bầu hành tinh là đơn chiều hay đa chiều. Các dãy hiển nhiên là đa chiều. Tôi cũng nghĩ rằng giải pháp tốt nhất để khám phá bản chất thật của một bầu hành tinh là xem nó cũng là đa chiều.

198. This will mean, in very practical terms, that the Earth-globe of the Earth-chain of the Earth-scheme is not made simply of dense physical matter as some theosophical books may seem to suggest.

198. Điều này sẽ có nghĩa, theo những thuật ngữ rất thực tiễn, rằng địa cầu của Dãy Địa Cầu trong hệ hành tinh Trái Đất không được cấu thành đơn giản chỉ bằng vật chất hồng trần đậm đặc như một số sách Thông Thiên Học dường như gợi ý.

The lower down one seeks to carry the correspondence, the more the likelihood of error. The correspondence must lie in quality and in principle expressed, but not in form. [Page 1166]

Càng tìm cách mang sự tương ứng xuống thấp hơn, khả năng sai lầm càng lớn. Sự tương ứng phải nằm trong phẩm tính và trong nguyên khí được biểu lộ, chứ không phải trong hình tướng. [Page 1166]

199. This is a general principle concerning the way to pursue an understanding of correspondences. It would be well for us not to force analogies or correspondences in detail. Similarity lies in general structure and quality, but the uniqueness of each E/entity demands diversification and, thus, deviation from the hypothesized correspondence.

199. Đây là một nguyên lý tổng quát liên quan đến cách theo đuổi sự thấu hiểu về các tương ứng. Chúng ta nên tránh ép buộc các phép loại suy hay các tương ứng vào chi tiết. Sự tương tự nằm trong cấu trúc tổng quát và phẩm tính, nhưng tính độc đáo của mỗi thực thể đòi hỏi sự biến phân và do đó sự lệch khỏi sự tương ứng được giả định.

Leave a Comment

Scroll to Top