S3S1: TCF 223-231
|
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) |
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện) |
|
1. This is the beginning of the Second Section of a Treatise on Cosmic Fire, Solar Fire. We will be engaged with the study of the Fire of Mind for the next three and a half years! Our foundation is laid through our study of the fires of matter. |
1. Đây là phần mở đầu của Phần Thứ Hai của Luận về Lửa Vũ Trụ, Lửa Thái dương. Chúng ta sẽ dấn mình vào việc nghiên cứu Lửa của Trí Tuệ trong ba năm rưỡi sắp tới! Nền tảng của chúng ta được đặt ra qua việc nghiên cứu các lửa của vật chất. |
SECTION TWO. The Fire of Mind – Solar Fire |
PHẦN HAI. Lửa của Trí Tuệ – Lửa Thái dương |
|
SOLAR FIRE |
LỬA THÁI DƯƠNG |
|
(The Fire of Mind) |
(Lửa của Trí Tuệ) |
|
Division A. Manas or mind, and its nature. |
Phân bộ A. Manas hay trí tuệ, và bản chất của nó. |
|
Division B. Manas as a cosmic, systemic and human factor. |
Phân bộ B. Manas như một yếu tố vũ trụ, hệ thống và nhân loại. |
|
Division C. The egoic ray and solar fire. |
Phân bộ C. Cung chân ngã và lửa thái dương. |
|
Division D. Thought elementals and fire elementals. |
Phân bộ D. Các hành khí tư tưởng và các hành khí của lửa. |
|
Division E. Motion on the plane of mind. |
Phân bộ E. Chuyển động trên cõi trí. |
|
Division F. The Law of Attraction. |
Phân bộ F. Định luật Hấp Dẫn. |
|
2. The scope of our forthcoming subjects will be huge. |
2. Phạm vi các chủ đề sắp tới của chúng ta sẽ hết sức rộng lớn. |
|
3. We must remember that the fire of mind, as presented in this section, will mean, primarily, solar fire emanating from the cosmic mental plane and finding its microcosmic expression on what humanity calls the higher mental plane, systemically considered. |
3. Chúng ta phải nhớ rằng lửa của trí tuệ, như được trình bày trong phần này, trước hết sẽ có nghĩa là lửa thái dương phát ra từ cõi trí vũ trụ và tìm thấy biểu hiện vi mô của nó trên điều mà nhân loại gọi là Cõi thượng trí, xét theo hệ thống. |
|
4. The aspect of mind called solar fire is directly related to the Law of Attraction, even though mind, per se, is usually considered related to the third aspect of divinity and, hence, the Law of Economy. |
4. Phương diện của trí tuệ được gọi là lửa thái dương có liên hệ trực tiếp với Định luật Hấp Dẫn, mặc dù trí tuệ, chính nó, thường được xem là liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính và do đó với Định luật Tiết Kiệm. |
|
[Page 223] |
|
INTRODUCTORY QUESTIONS |
CÁC CÂU HỎI NHẬP ĐỀ |
|
1. What is the relation of the Son to the Sun? |
1. Mối liên hệ giữa Con và Mặt Trời là gì? |
|
5. This is a powerful question relating the subjective Son to the objective Sun. |
5. Đây là một câu hỏi đầy uy lực, liên hệ Con chủ quan với Mặt Trời khách quan. |
|
2. What is evolution, and how does it proceed? |
2. Tiến hoá là gì, và nó diễn tiến như thế nào? |
|
6. The question will relate primarily to that which occurs within our solar system and on the cosmic physical plane, yet we can understand from occultism that evolution is a dynamic which necessarily occurs throughout the cosmos. |
6. Câu hỏi này trước hết sẽ liên hệ đến điều xảy ra trong hệ mặt trời của chúng ta và trên cõi hồng trần vũ trụ, tuy nhiên chúng ta có thể hiểu từ huyền bí học rằng tiến hoá là một động lực tất yếu xảy ra khắp vũ trụ. |
|
3. Why is the solar system evolving along the lines of duality? |
3. Tại sao hệ mặt trời lại tiến hoá theo những đường lối của nhị nguyên tính? |
|
7. We live in a dual solar system characterized by the quality of Love-Wisdom. The degree of evolvement of our Solar Logos will be discussed, His relation to the sign Gemini, and His relation to the solar system preceding our own. |
7. Chúng ta sống trong một hệ mặt trời nhị nguyên được đặc trưng bởi phẩm tính Bác Ái – Minh Triết. Mức độ tiến hoá của Thái dương Thượng đế của chúng ta sẽ được bàn đến, cùng mối liên hệ của Ngài với dấu hiệu Song Tử, và mối liên hệ của Ngài với hệ mặt trời có trước hệ của chúng ta. |
|
4. What is consciousness and what is its place in the scheme? |
4. Tâm thức là gì và vị trí của nó trong hệ là gì? |
|
8. What type of scheme may be meant? For there are planetary schemes and the entire solar system on its own level may be considered a solar scheme. |
8. Có thể đang muốn nói đến loại hệ nào? Vì có các hệ hành tinh, và toàn thể hệ mặt trời trên cấp độ riêng của nó có thể được xem là một hệ thái dương. |
|
9. The nature of consciousness is a matter of great subtlety. We shall find it a foundational aspect throughout cosmos. It is the second aspect of the primal Cosmic Trinity. |
9. Bản chất của tâm thức là một vấn đề hết sức vi tế. Chúng ta sẽ thấy nó là một phương diện nền tảng xuyên suốt vũ trụ. Nó là phương diện thứ hai của Tam Vị Vũ Trụ nguyên sơ. |
|
5. Is there a direct analogy between a system, a planet, man and an atom? |
5. Có sự tương đồng trực tiếp nào giữa một hệ, một hành tinh, con người và một nguyên tử không? |
|
10. The question seems rhetorical, as the entire premise of TCF is that such an analogy most definitely exists. We have been dealing with some of the intricacies of this analogy and many more lie ahead. |
10. Câu hỏi này dường như mang tính tu từ, vì toàn bộ tiền đề của TCF là sự tương đồng như thế chắc chắn hiện hữu. Chúng ta đã bàn đến một số điểm phức tạp của sự tương đồng này và còn nhiều điều nữa ở phía trước. |
|
6. What is the mind aspect? Who are the Manasaputras? |
6. Phương diện trí tuệ là gì? Manasaputras là ai? |
|
11. We will learn of Manasaputras of various grades, some of them intra-planetary and others systemic. They are known in their various categories as Mind-born Sons and particularly, the Mind-born Sons of Brahma. |
11. Chúng ta sẽ tìm hiểu về các Manasaputras thuộc nhiều cấp bậc khác nhau, một số thuộc nội hành tinh và số khác thuộc hệ thống. Trong các loại khác nhau, các vị này được biết đến như Các Con sinh ra từ Trí Tuệ và đặc biệt là Các Con sinh ra từ Trí Tuệ của Brahma. |
|
7. Why is the progress of evolution cyclic? |
7. Tại sao sự tiến bộ của tiến hoá lại có tính chu kỳ? |
|
12. This will have to do with the fact that we are living in a second ray solar system the characteristic motion of which is spiral-cyclic. |
12. Điều này sẽ liên quan đến sự kiện rằng chúng ta đang sống trong một hệ mặt trời cung hai mà chuyển động đặc trưng của nó là xoắn ốc-chu kỳ. |
|
8. Why is knowledge both exoteric and esoteric? |
8. Tại sao tri thức vừa ngoại môn vừa nội môn? |
|
13. We will study the true nature of subjectivity. Subjectivity is a relative term and does not mean the same thing to a man, a Planetary Logos and a Solar Logos. |
13. Chúng ta sẽ nghiên cứu bản chất đích thực của tính chủ quan. Tính chủ quan là một thuật ngữ tương đối và không có cùng một nghĩa đối với con người, một Hành Tinh Thượng đế và một Thái dương Thượng đế. |
|
9. What is the relation between— |
9. Mối liên hệ giữa— |
|
a. The ten schemes, |
a. Mười hệ, |
|
b. The seven sacred planets, |
b. Bảy hành tinh thiêng liêng, |
|
c. The seven chains in a scheme, |
c. Bảy dãy trong một hệ, |
|
d. The seven globes in a chain, |
d. Bảy bầu hành tinh trong một dãy, |
|
e. The seven rounds of a chain, |
e. Bảy cuộc tuần hoàn của một dãy, |
|
f. The seven rootraces and subraces? |
f. Bảy giống dân gốc và các giống dân phụ là gì? |
|
14. The true and intricate relations between these fields, time periods and forms, lies far beyond the scope of any normal reader of TCF. We shall at least explore some of the intricacies as we have been given to understand them through our study of Master DK’s works. |
14. Những mối liên hệ chân thực và phức tạp giữa các lĩnh vực, các thời kỳ và các hình tướng này vượt xa phạm vi của bất kỳ độc giả bình thường nào của TCF. Ít nhất chúng ta cũng sẽ khảo sát một số điểm tinh vi, như chúng ta đã được cho hiểu qua việc nghiên cứu các tác phẩm của Chân sư DK. |
|
Before taking up the subject of the fire of mind under the schedule already outlined, it might be of profit if certain facts are here pointed out, and one or two points clarified. The subject we are undertaking to elucidate is one of profound mystery, and is the basis of all that is now seen and known, both objectively and subjectively. |
Trước khi đi vào chủ đề lửa của trí tuệ theo dàn bài đã được phác ra, sẽ có ích nếu ở đây nêu ra một số sự kiện nhất định, và làm sáng tỏ một hay hai điểm. Chủ đề mà chúng ta đang đảm nhận để làm sáng tỏ là một trong những huyền nhiệm sâu xa, và là nền tảng của tất cả những gì hiện nay được thấy và biết đến, cả khách quan lẫn chủ quan. |
|
15. This is another way of saying that mind is responsible for all appearance on the cosmic physical plane, which plane includes areas of the divine life which man, the microcosm, usually considers deeply subjective. Yet, the cosmic physical plane is, with the life of the Solar Logos (and Logoi of still greater development) an objectivity. |
15. Đây là một cách khác để nói rằng trí tuệ chịu trách nhiệm cho mọi sắc tướng trên cõi hồng trần vũ trụ, cõi này bao gồm những khu vực của sự sống thiêng liêng mà con người, tiểu thiên địa, thường xem là hết sức chủ quan. Tuy nhiên, cõi hồng trần vũ trụ, đối với sự sống của Thái dương Thượng đế (và các Thượng đế còn phát triển cao hơn nữa), lại là một tính khách quan. |
|
We have somewhat studied that pole of manifestation called matter. |
Chúng ta đã phần nào nghiên cứu cực của biểu hiện được gọi là vật chất. |
|
16. Poles would not be poles unless they were magnetically related. They are not separated and isolated centers of force. |
16. Các cực sẽ không là các cực nếu chúng không có liên hệ từ tính với nhau. Chúng không phải là những trung tâm mãnh lực tách biệt và cô lập. |
|
The subject we are now entering upon concerns several things which might be considered in general terms as Consciousness, and in specified terms as including the following subjects,—hence its fundamental importance. |
Chủ đề mà giờ đây chúng ta đang bước vào liên quan đến một số điều mà có thể được xem, theo nghĩa tổng quát, là Tâm thức, và theo nghĩa chuyên biệt là bao gồm các chủ đề sau đây,—do đó tầm quan trọng nền tảng của nó. |
|
17. We must prepare for considering the whole subject of consciousness from a far wider angle than heretofore. We shall discover that consciousness is responsible for the creation of all objectivity. |
17. Chúng ta phải chuẩn bị để xem xét toàn bộ chủ đề tâm thức từ một góc độ rộng lớn hơn nhiều so với trước đây. Chúng ta sẽ khám phá rằng tâm thức chịu trách nhiệm cho việc tạo ra mọi tính khách quan. |
|
18. Some words, phrases and concepts which relate to consciousness are: touch, being in touch, knowing, awareness, sentiency, relating, the intermediary factor, blending, love. |
18. Một số từ ngữ, cụm từ và khái niệm liên hệ đến tâm thức là: tiếp xúc, ở trong tiếp xúc, biết, nhận biết, cảm tri, liên hệ, yếu tố trung gian, hòa trộn, bác ái. |
|
[Page 224] |
|
|
a. The science of objectivity. |
a. Khoa học về tính khách quan. |
|
19. In simple terms this science entails the method by which the subjective becomes the objective. |
19. Nói một cách đơn giản, khoa học này bao hàm phương pháp nhờ đó cái chủ quan trở thành cái khách quan. |
|
20. It is, presumably, that science which deals with the appearance and functioning of all aspects of manifestation ‘beneath’ the higher three subplanes planes of the cosmic mental plane. |
20. Có lẽ đó là khoa học bàn đến sự xuất hiện và hoạt động của mọi phương diện của biểu hiện ở “bên dưới” ba cõi phụ cao hơn của cõi trí vũ trụ. |
|
21. From a lower perspective, the entire cosmic physical plane is considered objective. From a still lower perspective the lower eighteen subplanes of the cosmic physical plane are considered objective. These are the gaseous, liquid and dense subplanes of the cosmic physical plane—i.e. our usual lower mental, astral and etheric-physical planes. From the lowest possible perspective, the gaseous, liquid and dense subplanes of the systemic physical-etheric plane should also be considered objective. |
21. Từ một quan điểm thấp hơn, toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ được xem là khách quan. Từ một quan điểm còn thấp hơn nữa, mười tám cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ được xem là khách quan. Đó là các cõi phụ khí, lỏng và đậm đặc của cõi hồng trần vũ trụ—tức là các cõi hạ trí, cảm dục và dĩ thái-hồng trần thông thường của chúng ta. Từ quan điểm thấp nhất có thể có, các cõi phụ khí, lỏng và đậm đặc của cõi hồng trần-dĩ thái hệ thống cũng nên được xem là khách quan. |
|
b. The manifestation of the Son through the Sun and its attendant spheres, or the solar system in its entirety. |
b. Sự biểu hiện của Con qua Mặt Trời và các khối cầu tùy tùng của nó, hay toàn thể hệ mặt trời. |
|
22. Although Master DK looks at this subject from varying perspectives, it is clear that, fundamentally, the Son is a subjective being and the Sun is the vehicle of that Being. |
22. Mặc dù Chân sư DK nhìn chủ đề này từ nhiều quan điểm khác nhau, rõ ràng là, về căn bản, Con là một hữu thể chủ quan và Mặt Trời là vận cụ của Hữu thể ấy. |
|
23. Planets are “attendant spheres”. They are attendants of the Solar Logos and wait upon His will. |
23. Các hành tinh là những “khối cầu tùy tùng”. Chúng là những kẻ hầu cận của Thái dương Thượng đế và phụng hành ý chí của Ngài. |
|
24. We are given the impression of the King and his attendants, as these attendants work out the Will of the King. He is King over His seven primary brothers and His name, from the Secret Doctrine, is Martanda. |
24. Chúng ta được gợi lên hình ảnh của Nhà Vua và các cận thần của Ngài, khi các cận thần này thực thi Ý Chí của Nhà Vua. Ngài là Vua trên bảy huynh đệ chính của Ngài và danh xưng của Ngài, theo Giáo Lý Bí Nhiệm, là Martanda. |
|
c. The evolutionary development of consciousness in time and space, therefore, the evolution of spirit and matter. |
c. Sự phát triển tiến hoá của tâm thức trong thời gian và không gian, do đó là sự tiến hoá của tinh thần và vật chất. |
|
25. Consciousness exists, as well, ‘outside’ time and space, but when spirit and matter engage, the field of development for consciousness is within time and space (i.e., within the world of illusion). |
25. Tâm thức cũng hiện hữu “bên ngoài” thời gian và không gian, nhưng khi tinh thần và vật chất dấn vào nhau, trường phát triển của tâm thức nằm trong thời gian và không gian (tức là trong thế giới của ảo tưởng). |
|
26. We note that in discussing spirit and matter, DK uses the lower case for “spirit”. Does this mean, then, that we are not here talking about ultimate Spirit and ultimate Matter (Mulaprakriti)? |
26. Chúng ta lưu ý rằng khi bàn về tinh thần và vật chất, DK dùng chữ thường cho “tinh thần”. Vậy điều này có nghĩa là ở đây chúng ta không nói về Tinh thần tối hậu và Vật chất tối hậu (Mulaprakriti) hay sao? |
|
27. It can be questioned whether Spirit (let us use the higher case which is more appropriate) can ever evolve. If Spirit is pure being it cannot evolve. What can evolve, however, are the vehicles through which Spirit manifests, such as the monadic vehicle and other greater vehicles which will be employed when Spirit is extracted from the second subplane of the cosmic physical plane and, then, from the cosmic physical plane altogether. |
27. Có thể đặt câu hỏi liệu Tinh thần (chúng ta hãy dùng chữ hoa, vốn thích hợp hơn) có bao giờ có thể tiến hoá hay không. Nếu Tinh thần là thuần hữu thể thì nó không thể tiến hoá. Tuy nhiên, điều có thể tiến hoá là các vận cụ qua đó Tinh thần biểu hiện, như vận cụ chân thần và các vận cụ lớn hơn khác sẽ được sử dụng khi Tinh thần được rút ra khỏi cõi phụ thứ hai của cõi hồng trần vũ trụ và rồi khỏi toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ. |
|
28. Thus, Spirit in relation to its vestures of expression can be considered to evolve, but NOT the core of Spirit. The essence of Spirit is Pure Being which, because it is perfection itself, cannot evolve. Of course, these are philosophical points and can be debated. |
28. Vì vậy, Tinh thần trong mối liên hệ với các y phục biểu hiện của nó có thể được xem là tiến hoá, nhưng KHÔNG phải cốt lõi của Tinh thần. Bản chất của Tinh thần là Thuần Hữu Thể, mà vì chính nó là sự toàn hảo, nên không thể tiến hoá. Dĩ nhiên, đây là những điểm triết học và có thể được tranh luận. |
|
29. Matter as well (considered as Matter and not matter—lower case) cannot evolve. Only form can evolve—neither Spirit nor Matter. Yet for practical purposes we identify Spirit and Matter with the forms which Matter constitutes and through which Spirit expresses, and therefore, because the forms evolve, Spirit and Matter (spirit and matter) are said to evolve. |
29. Vật chất cũng vậy (được xem là Vật chất chứ không phải vật chất—chữ thường) không thể tiến hoá. Chỉ hình tướng mới có thể tiến hoá—không phải Tinh thần cũng không phải Vật chất. Tuy nhiên, vì mục đích thực tiễn, chúng ta đồng hoá Tinh thần và Vật chất với các hình tướng mà Vật chất cấu thành và qua đó Tinh thần biểu hiện, và do đó, bởi vì các hình tướng tiến hoá, nên Tinh thần và Vật chất (tinh thần và vật chất) được nói là tiến hoá. |
|
30. We might say that forms made of matter and which reflect spirit-ideation evolve, but not the essences—Spirit and Matter. |
30. Chúng ta có thể nói rằng các hình tướng làm bằng vật chất và phản ánh ý niệm-tinh thần thì tiến hoá, nhưng không phải các bản chất—Tinh thần và Vật chất. |
|
31. It can be questioned whether the terms Spirit and Matter should ever be used in the lower case, yet it is conventional to do so. |
31. Có thể đặt câu hỏi liệu các thuật ngữ Tinh thần và Vật chất có bao giờ nên được dùng ở chữ thường hay không, tuy nhiên việc làm như vậy là theo quy ước. |
|
32. There are lesser and greater worlds of illusion. From one perspective, the greater World of Illusion comprises the eighteen lower subplanes of the super-cosmic plane (which comprises what we usually call the seven cosmic planes). This super-cosmic plane, of course, might be simply the super-cosmic physical plane of some super-cosmic Entity. |
32. Có những thế giới ảo tưởng nhỏ hơn và lớn hơn. Từ một quan điểm, Thế giới Ảo tưởng lớn hơn bao gồm mười tám cõi phụ thấp của cõi siêu-vũ trụ (cõi này bao gồm điều mà chúng ta thường gọi là bảy cõi vũ trụ). Dĩ nhiên, cõi siêu-vũ trụ này có thể chỉ đơn giản là cõi hồng trần siêu-vũ trụ của một Thực Thể siêu-vũ trụ nào đó. |
|
33. Evolution is related to changing forms as well as the purposes and methods of the changes. |
33. Tiến hoá liên hệ đến các hình tướng đang biến đổi cũng như các mục đích và phương pháp của những biến đổi ấy. |
|
If the above three fundamentals are studied, it will be noted that they are very comprehensive, and, therefore, from the immensity of the theme, it will not be possible to do more than attempt to bring a general clarity of conception as to the broad outline of the process, and as to the gradual development of consciousness. |
Nếu ba nền tảng trên được nghiên cứu, cần lưu ý rằng chúng rất bao quát, và do đó, từ sự bao la của chủ đề, chúng ta sẽ không thể làm gì hơn ngoài việc cố gắng đem lại một sự sáng tỏ khái niệm tổng quát về đại cương của tiến trình, và về sự phát triển dần dần của tâm thức. |
|
34. As complicated and difficult as A Treatise on Cosmic Fire may appear, it is ever the Tibetan’s method to look at vast subjects in general. |
34. Dù Luận về Lửa Vũ Trụ có vẻ phức tạp và khó khăn đến đâu, phương pháp của Chân sư Tây Tạng vẫn luôn là nhìn các chủ đề bao la ấy một cách tổng quát. |
|
For the sake of an intelligent following of this matter, it might be wise first to lay down a number of propositions which—(even if already known and appreciated)—will serve students as the scaffolding on which to erect the intended structure of knowledge. |
Vì mục đích theo dõi vấn đề này một cách thông minh, trước hết có lẽ nên đặt ra một số mệnh đề—mà (dù đã được biết và trân trọng rồi)—sẽ phục vụ đạo sinh như bộ giàn giáo để dựng nên cấu trúc tri thức dự định. |
|
35. We are erecting an edifice of thought. The rules which apply to building upon the physical plane have definite applicability to building on the mental plane. |
35. Chúng ta đang dựng nên một công trình của tư tưởng. Các quy luật áp dụng cho việc xây dựng trên cõi hồng trần có tính ứng dụng rõ rệt đối với việc xây dựng trên cõi trí. |
|
36. The term “scaffolding” translates to principles. |
36. Thuật ngữ “giàn giáo” được chuyển thành các nguyên lý. |
|
If a student of the Wisdom can grasp the nature of the general theme, he can then more easily and accurately fit the detailed information into its appropriate niche. |
Nếu một đạo sinh của Minh triết có thể nắm được bản chất của chủ đề tổng quát, thì sau đó y có thể đặt thông tin chi tiết vào đúng vị trí thích hợp của nó một cách dễ dàng và chính xác hơn. |
|
37. The building process involves both the first and second rays, and interestingly, the energy of Vulcan, a planet intimately involved in the building process (and also the process of destruction). Vulcan has aspects to its nature which are definitely of a first ray nature (is probable soul ray), but Vulcan is also associated with the “Heart of the Sun” and therefore with the second ray (cf. EH 393) |
37. Tiến trình xây dựng liên quan đến cả cung một lẫn cung hai, và thú vị thay, còn liên quan đến năng lượng của Vulcan, một hành tinh gắn bó mật thiết với tiến trình xây dựng (và cả tiến trình hủy diệt). Vulcan có những phương diện trong bản chất của nó rõ ràng thuộc bản chất cung một (có lẽ là cung linh hồn), nhưng Vulcan cũng liên hệ với “Trái Tim của Mặt Trời” và do đó với cung hai (x. EH 393) |
|
38. When we speak of “detailed information” we are not only speaking of the fifth ray but of the second—the “Ray of Detailed Unity” or the “Ray of Detailed Knowledge”. |
38. Khi chúng ta nói về “thông tin chi tiết”, chúng ta không chỉ nói về cung năm mà còn về cung hai—“Cung của Hợp Nhất Chi Tiết” hay “Cung của Tri Thức Chi Tiết”. |
|
39. There is so much detail to be incorporated if that scaffolding is to be properly erected, otherwise great confusion will result. |
39. Có quá nhiều chi tiết cần được kết hợp nếu bộ giàn giáo ấy muốn được dựng lên đúng đắn, bằng không sẽ dẫn đến sự rối loạn lớn. |
|
Perhaps the best plan would be to formulate certain questions, and then proceed to answer them,—the answers to embody therefore the propositions that will be laid down. |
Có lẽ kế hoạch tốt nhất là nêu ra một số câu hỏi nhất định, rồi sau đó tiến hành trả lời chúng,—các câu trả lời do đó sẽ bao hàm những mệnh đề sẽ được đặt ra. |
|
40. The Tibetan is choosing the age-old method of “Enquiring the Way”—proposing important questions and then attempting to answer them. |
40. Chân sư Tây Tạng đang chọn phương pháp cổ xưa của việc “Truy vấn Con Đường”—đề ra những câu hỏi quan trọng rồi cố gắng trả lời chúng. |
|
These questions arise naturally to the student of the Secret Doctrine, when he has reached the point where the big plan is becoming visible to him, but the pile of detailed material to be built in remains, as yet, inchoate. The questions we might ask and study are the following: |
Những câu hỏi này nảy sinh một cách tự nhiên đối với đạo sinh của Giáo Lý Bí Nhiệm, khi y đã đạt đến điểm mà đại kế hoạch đang trở nên khả kiến đối với y, nhưng khối tài liệu chi tiết cần được xây vào vẫn còn, cho đến nay, chưa thành hình. Những câu hỏi mà chúng ta có thể nêu ra và nghiên cứu là như sau: |
|
41. DK is writing for students who have reached a certain point of development. Such students are student of the Secret Doctrine—both the book and the greater body of knowledge/wisdom. |
41. DK đang viết cho những đạo sinh đã đạt đến một điểm phát triển nhất định. Những đạo sinh ấy là đạo sinh của Giáo Lý Bí Nhiệm—cả cuốn sách lẫn khối tri thức/minh triết lớn hơn. |
|
42. For such students, the Plan is emerging in outline, but the detail is not yet placed according to pure reason. |
42. Đối với những đạo sinh như thế, Thiên Cơ đang hiện ra theo đại cương, nhưng chi tiết thì vẫn chưa được đặt theo lý trí thuần túy. |
|
43. Perhaps DK thinks that the average reader of this book will be just such a student. The word “pile” alerts us to the danger of accumulating knowledge and information without knowing the greater principles to which it is to be related. |
43. Có lẽ DK nghĩ rằng độc giả trung bình của cuốn sách này sẽ chính là một đạo sinh như vậy. Từ “khối” cảnh báo chúng ta về nguy cơ tích lũy tri thức và thông tin mà không biết những nguyên lý lớn hơn mà chúng phải được liên hệ đến. |
|
44. I am recalling that Master Morya stated, in effect, that a ‘pile of thought’ was not a ‘castle of thought’. Sometimes I wonder if He did not have HPB in mind. The accumulation she presented was amazing; later theosophical students took upon themselves the task of bringing more order to the accumulation. |
44. Tôi nhớ rằng Chân sư Morya đã nói, đại ý, rằng một ‘đống tư tưởng’ không phải là một ‘lâu đài tư tưởng’. Đôi khi tôi tự hỏi liệu Ngài có nghĩ đến HPB hay không. Sự tích lũy mà bà trình bày thật đáng kinh ngạc; các đạo sinh Thông Thiên Học về sau đã tự đảm nhận nhiệm vụ đem lại nhiều trật tự hơn cho sự tích lũy ấy. |
|
45. VSK suggests that the “Inquiring of the Way” is to build a literal pathway in mental matter, creating the antaskarana. This is the method we employ singularly and within this group study. |
45. VSK gợi ý rằng việc “Truy vấn Con Đường” là xây dựng một lối đi thực sự trong chất liệu trí tuệ, tạo ra antaskarana. Đây là phương pháp chúng ta sử dụng một cách cá nhân và trong việc học nhóm này. |
|
1. What is the relationship of the Son to the Sun? |
1. Mối liên hệ giữa Con và Mặt Trời là gì? |
|
2. What is evolution and how does it proceed? |
2. Tiến hoá là gì và nó diễn tiến như thế nào? |
|
3. Why is this solar system evolving along the lines of duality? |
3. Tại sao hệ mặt trời này lại tiến hoá theo những đường lối của nhị nguyên tính? |
|
4. What is consciousness and what is its place in the present scheme of things? |
4. Tâm thức là gì và vị trí của nó trong hệ sự vật hiện tại là gì? |
|
[Page 225] |
|
|
5. Is there a direct analogy between the development of the following factors: a solar system, a planet, a man, and an atom? |
5. Có sự tương đồng trực tiếp nào giữa sự phát triển của các yếu tố sau đây không: một hệ mặt trời, một hành tinh, một con người, và một nguyên tử? |
|
6. What is the mind aspect and why is the manasic or mental principle of such importance? Who are the Manasaputras, or the Sons of Mind? |
6. Phương diện trí tuệ là gì và tại sao nguyên lý manas hay trí tuệ lại quan trọng đến thế? Manasaputras, hay Các Con của Trí Tuệ, là ai? |
|
7. Why is the progress of evolution cyclic? |
7. Tại sao sự tiến bộ của tiến hoá lại có tính chu kỳ? |
|
8. Why, as yet, do we consider certain knowledge as esoteric, and other aspects of knowledge as exoteric? |
8. Tại sao, cho đến nay, chúng ta xem một số tri thức là nội môn, còn những phương diện tri thức khác là ngoại môn? |
|
9. What is the relationship between |
9. Mối liên hệ giữa |
|
a. The ten planetary schemes? |
a. mười hệ hành tinh? |
|
b. The seven sacred planets? |
b. bảy hành tinh thiêng liêng? |
|
c. The seven globes in a chain? |
c. bảy bầu hành tinh trong một dãy? |
|
d. The seven rounds in a globe? |
d. bảy cuộc tuần hoàn trong một bầu hành tinh? |
|
e. The seven root races and the subraces? |
e. bảy giống dân gốc và các giống dân phụ? |
|
When we have endeavored to answer in brief and concise fashion these nine questions, and have grasped, through their replies, something of the purpose lying behind the evolution of the consciousness of the Son (with all that is included in that expression) we shall be in a position to go more intelligently into a consideration of the plan, and to grasp more accurately the immediate stage ahead to be attained, working from our present standpoint as a basis. |
Khi chúng ta đã cố gắng trả lời một cách ngắn gọn và súc tích chín câu hỏi này, và đã nắm bắt được, qua các câu trả lời ấy, phần nào mục đích nằm sau sự tiến hoá của tâm thức của Con (cùng với tất cả những gì được bao hàm trong cách diễn đạt ấy), chúng ta sẽ ở vào vị thế để đi vào việc xem xét kế hoạch một cách thông minh hơn, và nắm bắt chính xác hơn giai đoạn trước mắt cần phải đạt đến, lấy quan điểm hiện tại của chúng ta làm nền tảng. |
|
46. We may marvel at the use of the terms “brief and concise”, but from the Tibetan’s perspective this is the method He chose. He extracts the essence and then synthesizes all relevant points. |
46. Chúng ta có thể ngạc nhiên trước việc dùng các từ “ngắn gọn và súc tích”, nhưng từ quan điểm của Chân sư Tây Tạng, đó là phương pháp Ngài đã chọn. Ngài rút ra tinh túy rồi tổng hợp mọi điểm liên hệ. |
|
47. VSK suggests that we are engaged in the act of bringing ourselves ‘up to speed’ with current knowledge. There is a necessity of knowing one’s own position or status and present ‘location’ in time and space, in terms of consciousness. |
47. VSK gợi ý rằng chúng ta đang dấn vào hành động đưa chính mình ‘bắt kịp tốc độ’ với tri thức hiện tại. Có một nhu cầu phải biết vị trí hay trạng thái riêng của mình và ‘vị trí’ hiện tại trong thời gian và không gian, xét theo tâm thức. |
|
48. We shall find that the term “Son” represents a very profound concept—one that through DK’s presentation becomes somewhat elusive. |
48. Chúng ta sẽ thấy rằng thuật ngữ “Con” biểu thị một khái niệm rất sâu xa—một khái niệm mà qua cách trình bày của DK trở nên phần nào khó nắm bắt. |
|
49. The work proposed is practical because it allows us to grasp our immediate stage of development and to work forward. Unless we know where we stand we shall not know where to go. |
49. Công việc được đề nghị là thực tiễn vì nó cho phép chúng ta nắm bắt giai đoạn phát triển trước mắt của mình và tiến bước. Trừ phi chúng ta biết mình đang đứng ở đâu, chúng ta sẽ không biết phải đi đâu. |
|
50. As the Masters seek to grasp the Plan, they read the “Eternal Scroll” on which the Plan and its stages are given in symbolic form. In terms of our cosmic physical plane, the Scroll is written upon the akashic plane—the second systemic plane, the monadic plane. |
50. Khi các Chân sư tìm cách nắm bắt Thiên Cơ, Các Ngài đọc “Cuộn Sách Vĩnh Cửu” trên đó Thiên Cơ và các giai đoạn của nó được ghi bằng hình thức biểu tượng. Xét theo cõi hồng trần vũ trụ của chúng ta, Cuộn Sách ấy được viết trên cõi akasha—cõi thứ hai của hệ thống, cõi chân thần. |
|
51. It may be that the immediate next step to be attained concerns the Libran Creative Hierarchy which, with the Libran Spirit of Peace, can be considered to ‘sponsor’ Right Human Relations—also the theme of Shamballa with respect to humanity at this time. Right Human Relations will lead to Right Intra-Planetary Relations—towards balance and sharing, global cooperation and global cleansing. Beneficent changes in the planet will have a reciprocal positive effect upon human relations rendering them more influenced by soul-light impressing and infusing the mind rather than by emotion. |
51. Có thể bước kế tiếp trước mắt cần đạt đến liên quan đến Huyền Giai Sáng Tạo Libra, vốn cùng với Đấng Tinh thần Hòa Bình Libra có thể được xem là ‘bảo trợ’ cho Những Quan Hệ Đúng Đắn giữa Người với Người—cũng là chủ đề của Shamballa đối với nhân loại vào lúc này. Những Quan Hệ Đúng Đắn giữa Người với Người sẽ dẫn đến Những Quan Hệ Đúng Đắn Nội Hành Tinh—hướng tới sự quân bình và chia sẻ, hợp tác toàn cầu và thanh lọc toàn cầu. Những thay đổi tốt lành trong hành tinh sẽ có tác động tích cực tương hỗ lên các quan hệ nhân loại, khiến chúng chịu ảnh hưởng nhiều hơn bởi ánh sáng linh hồn đang ghi ấn và thấm nhuần trí tuệ thay vì bởi cảm xúc. |
|
52. It should be considered that this third or Libran Creative Hierarchy is ruled by the third ray and is associated with the atmic plane—the plane on which the Plan is formulated according to the Will of the Planetary Logos. It should also be recalled that the beginning of the Age of Aquarius will be ruled by Saturn in its initial phases. Thus there is a strong link between Saturn-ruled Libra and Saturn-ruled Aquarius, and the Divine Plan (conditioned by Saturn, atma and the third ray). |
52. Cần xét rằng Huyền Giai Sáng Tạo thứ ba hay Libra này được cai quản bởi cung ba và liên hệ với cõi atma—cõi trên đó Thiên Cơ được hoạch định theo Ý Chí của Hành Tinh Thượng đế. Cũng nên nhớ rằng buổi đầu của Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ được Sao Thổ cai quản trong các giai đoạn đầu của nó. Vì vậy có một mối liên kết mạnh mẽ giữa Libra do Sao Thổ cai quản và Bảo Bình do Sao Thổ cai quản, và Thiên Cơ thiêng liêng (được tác động bởi Sao Thổ, atma và cung ba). |
|
53. The atmic plane is a plane of divine intellectuality in a very high sense, because, being the third subplane of the cosmic physical plane it is ruled by the third ray—the “acute energy of divine mental perception”. In alignment with the atmic plane, major thoughtforms of solution for human and planetary difficulties can be built. |
53. Cõi atma là một cõi của trí năng thiêng liêng theo một nghĩa rất cao, bởi vì, là cõi phụ thứ ba của cõi hồng trần vũ trụ, nó được cai quản bởi cung ba—“năng lượng sắc bén của tri giác trí tuệ thiêng liêng”. Khi chỉnh hợp với cõi atma, các hình tư tưởng lớn về giải pháp cho những khó khăn của nhân loại và hành tinh có thể được xây dựng. |
|
54. The Divine Plan in a nutshell is as follows: |
54. Thiên Cơ thiêng liêng, nói một cách vắn tắt, như sau: |
|
a. Illumination of the mind |
a. Soi sáng trí tuệ |
|
b. Revelation of Love |
b. Mặc khải Bác Ái |
|
c. Evocation of the Will |
c. Gợi lên Ý Chí |
|
55. The Great Invocation also encapsulates the Divine Plan by invoking three needed divine qualities: |
55. Đại Khấn Nguyện cũng hàm chứa Thiên Cơ thiêng liêng bằng cách khẩn cầu ba phẩm tính thiêng liêng cần thiết: |
|
a. Light |
a. Ánh sáng |
|
b. Love |
b. Bác ái |
|
c. Power |
c. Quyền năng |
|
We must ever remember that a curious interest and a far-seeing grasp of the plan of the Logos is of no importance to a man unless he correlates the present with that which he believes to lie in the future, |
Chúng ta phải luôn nhớ rằng một sự quan tâm hiếu kỳ và một sự nắm bắt xa rộng về kế hoạch của Thượng đế không có tầm quan trọng gì đối với một người trừ phi y liên hệ hiện tại với điều mà y tin là nằm trong tương lai, |
|
56. Many an esotericist has this curious interest and, perhaps, far-seeing grasp. It all means very little (as fascinating as is it) unless he can do something practical with it. |
56. Nhiều nhà bí truyền học có sự quan tâm hiếu kỳ ấy và có lẽ cả sự nắm bắt xa rộng ấy. Tất cả điều đó có ý nghĩa rất ít (dù hấp dẫn đến đâu) trừ phi y có thể làm điều gì đó thực tiễn với nó. |
|
57. What is needed is a ‘bridge to the future’. This phrase, interestingly, describes a climactic Arcane School lesson set which Mary Bailey created in the late 1970’s. |
57. Điều cần thiết là một ‘cây cầu đến tương lai’. Thú vị thay, cụm từ này mô tả một bộ bài học cao điểm của Trường Arcane do Mary Bailey tạo ra vào cuối thập niên 1970. |
|
58. Have we questioned ourselves regarding our vision of the future? We note that the Tibetan speaks of that which we “believe” to lie in the future. If some definite image of the future does exist within our consciousness, do we have any ideas how we may get from ‘here’ to ‘there’? Interestingly the third ray (in many respects, a futuristic ray) will have to be used as the following statement suggests: |
58. Chúng ta đã tự hỏi mình về tầm nhìn của mình đối với tương lai chưa? Chúng ta lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng nói về điều mà chúng ta “tin” là nằm trong tương lai. Nếu một hình ảnh xác định nào đó về tương lai thực sự hiện hữu trong tâm thức chúng ta, liệu chúng ta có ý tưởng nào về cách đi từ ‘đây’ đến ‘đó’ không? Thú vị thay, cung ba (trong nhiều phương diện, là một cung hướng tương lai) sẽ phải được sử dụng như câu phát biểu sau gợi ý: |
|
“He who works upon the third ray must reach the path from here to there.” (R&I 507) |
“Người hoạt động trên cung ba phải đạt đến con đường từ đây đến đó.” (R&I 507) |
|
The movement from “here to there” requires planning, which brings us to the third method of inducing soul control: The Urge to Formulate a Plan. |
Sự chuyển động từ “đây đến đó” đòi hỏi sự hoạch định, điều này đưa chúng ta đến phương pháp thứ ba để tạo ra sự kiểm soát của linh hồn: Xung Lực Hoạch Định một Kế Hoạch. |
|
unless he ascertains the point achieved, and realises wherein consists the work immediately to be undertaken in this gradual process of attaining full consciousness. |
trừ phi y xác định được điểm đã đạt tới, và chứng nghiệm công việc nào phải được đảm nhận ngay trong tiến trình dần dần đạt đến tâm thức trọn vẹn này. |
|
59. We must know where we are, and then link this with the possible future—link the presented future with the realized present. |
59. Chúng ta phải biết mình đang ở đâu, rồi liên kết điều này với tương lai khả hữu—liên kết tương lai được trình bày với hiện tại đã được chứng nghiệm. |
|
60. VSK (on behalf of many ‘Newagers’) questions as follows: “Why a ‘gradual process’ and not some *handy ‘immediate new easy fast ‘full consciousness’ now today, AND free!!!* program? Shall we ponder on this? |
60. VSK (thay mặt cho nhiều ‘Newagers’) đặt câu hỏi như sau: “Tại sao lại là một ‘tiến trình dần dần’ chứ không phải một chương trình *‘tâm thức trọn vẹn’ mới ngay lập tức dễ dàng nhanh chóng tiện lợi ngay hôm nay, LẠI CÒN miễn phí!!!* nào đó? Chúng ta hãy suy ngẫm về điều này. |
|
[Page 226] |
|
|
CHART IV — CHART OF THE PLEROMA ACCORDING TO VALENTINUS* |
BIỂU ĐỒ IV — BIỂU ĐỒ PLEROMA THEO VALENTINUS* |
|
61. Valentinus was one of the early Gnostics. |
61. Valentinus là một trong những nhà Ngộ Đạo thời kỳ đầu. |
|
62. Why is this chart placed at this point in the text? Might it refer to the first question—the relationship of the Son to the Sun? |
62. Tại sao biểu đồ này lại được đặt ở điểm này trong văn bản? Liệu nó có thể liên hệ đến câu hỏi thứ nhất—mối liên hệ giữa Con và Mặt Trời chăng? |
|
63. The terminology used in the Divine Pleroma is distinctive to early Gnostic writings. We may be able to translate some terms and not others. |
63. Thuật ngữ được dùng trong Pleroma Thiêng Liêng mang tính đặc thù của các trước tác Ngộ Đạo thời kỳ đầu. Chúng ta có thể dịch được một số thuật ngữ và không dịch được những thuật ngữ khác. |
|
64. The following ideas arise in relation to the Divine Pleroma. Such ideas do not offer a complete or definitive interpretation. Probably a number of such interpretations are possible. |
64. Những ý tưởng sau đây nảy sinh liên quan đến Pleroma Thiêng Liêng. Những ý tưởng ấy không đưa ra một cách giải thích trọn vẹn hay dứt khoát. Có lẽ có thể có một số cách giải thích như vậy. |
|
a. The Point is the Monad and lies, its seems, slightly outside the circle of manifestation, though tangent to it (if a point can be tangent to anything. It seems to touch the circle of manifestation but not lie upon the circumference of the circle. |
a. Điểm là Chân thần và dường như nằm hơi ở ngoài vòng tròn biểu hiện, dù tiếp tuyến với nó (nếu một điểm có thể tiếp tuyến với bất cứ điều gì). Nó dường như chạm vào vòng tròn biểu hiện nhưng không nằm trên chu vi của vòng tròn. |
|
b. The “Deep” is that which is unfathomable. Its depth can never be sounded. Its depth is, in a way, infinite. |
b. “Vực Sâu” là cái không thể dò thấu. Độ sâu của nó không bao giờ có thể được thăm dò. Độ sâu của nó, theo một nghĩa nào đó, là vô hạn. |
|
c. We are speaking of the One Monad, but even that which we call our Monad partakes of fathomlessness—at least when our Monad in essence, extracted from its temporary vehicle of manifestation. |
c. Chúng ta đang nói về Một Chân thần, nhưng ngay cả điều mà chúng ta gọi là chân thần của chúng ta cũng dự phần vào tính không thể dò thấu—ít nhất là khi chân thần của chúng ta trong bản chất được rút ra khỏi vận cụ biểu hiện tạm thời của nó. |
|
d. We note that the Father/Monad is not only “unknown” but “unknowable”. Can we truly say this of our Monad or even of the Universal Monad? Or can we use the term “unknowable” only in relation to the ABSOLUTE? To what extent, then, is the Monad the ABSOLUTE? May we say that essentially it is, but that in-Universe the Monad is an ‘infinitesimalization’ of the ABSOLUTE—PURE BEING ‘contained’ in a special case—the Universe. |
d. Chúng ta lưu ý rằng Cha/Chân thần không chỉ “không được biết đến” mà còn “không thể biết được”. Liệu chúng ta có thể thực sự nói điều này về chân thần của chúng ta hay ngay cả về Chân thần Vũ Trụ không? Hay chúng ta chỉ có thể dùng thuật ngữ “không thể biết được” duy nhất trong liên hệ với TUYỆT ĐỐI? Vậy thì Chân thần là TUYỆT ĐỐI đến mức nào? Chúng ta có thể nói rằng về bản chất nó là như vậy, nhưng trong-vũ-trụ Chân thần là một sự ‘vi phân vô cùng nhỏ’ của TUYỆT ĐỐI—THUẦN HỮU THỂ được ‘chứa đựng’ trong một trường hợp đặc biệt—Vũ Trụ. |
|
e. The first Triangle still holds Bythus, the Deep, the Monad as a point—the Point. From Bythus emanate (let us assume emanation to be the manner of generation) the Duad—Nous (Mind) and Aletheia (Truth). We could connect one or other of these with the first or second rays. |
e. Tam giác thứ nhất vẫn giữ Bythus, Vực Sâu, Chân thần như một điểm—Điểm. Từ Bythus phát ra (chúng ta hãy giả định phát xạ là cách thức phát sinh) Nhị nguyên—Nous (Trí Tuệ) và Aletheia (Chân Lý). Chúng ta có thể nối một hay yếu tố kia với cung một hay cung hai. |
|
f. Do the components of the Primary Trinity seem reasonable to us? We usually think of Will, Wisdom and Activity, or of Being, Consciousness, Bliss. |
f. Các thành phần của Tam Vị nguyên sơ có có vẻ hợp lý đối với chúng ta không? Chúng ta thường nghĩ đến Ý Chí, Minh Triết và Hoạt Động, hay Hữu Thể, Tâm thức, Chí phúc. |
|
g. In this Triangle, Bythus will necessarily align with Will, Truth with Wisdom and Mind with Activity. |
g. Trong Tam giác này, Bythus tất yếu sẽ chỉnh hợp với Ý Chí, Chân Lý với Minh Triết và Trí Tuệ với Hoạt Động. |
|
h. In our usual theosophical representations, the Point or Monad would emanate a Trinity and not a Duad. These are subtle differences in Cosmogony and much time could be spent arguing the justifications. |
h. Trong các biểu tượng Thông Thiên Học thông thường của chúng ta, Điểm hay Chân thần sẽ phát ra một Tam Vị chứ không phải một Nhị nguyên. Đây là những khác biệt vi tế trong Vũ Trụ Thành Luận và có thể mất rất nhiều thời gian để tranh luận về các lý do biện minh. |
|
i. The Square appears next, but we might ask “Which square?” |
i. Hình vuông xuất hiện tiếp theo, nhưng chúng ta có thể hỏi “Hình vuông nào?” |
|
j. The Square with bolded lines seems the best candidate, as this Square is said to have two vertical lines and two horizontal. |
j. Hình vuông có các đường in đậm dường như là ứng viên thích hợp nhất, vì hình vuông này được nói là có hai đường thẳng đứng và hai đường ngang. |
|
k. The vertical lines are Logos (Word) and Anthropos (man). |
k. Các đường thẳng đứng là Logos (Linh từ) và Anthropos (con người). |
|
l. The female opposites (syzygies) of these two verticals are two horizontals: Zoe (Life) and Ekklesia (Church or Assembly). Probably Zoe is the upper horizontal and Ekklesia the lower. |
l. Các đối cực nữ tính (syzygies) của hai đường thẳng đứng này là hai đường ngang: Zoe (Sự Sống) và Ekklesia (Giáo Hội hay Hội Chúng). Có lẽ Zoe là đường ngang phía trên và Ekklesia là đường ngang phía dưới. |
|
m. The Square is also called the “dual Duad” as within it, two Duads are contained. |
m. Hình vuông cũng được gọi là “Nhị nguyên kép” vì trong nó chứa hai Nhị nguyên. |
|
n. There are three other squares within the diagram, so why choose the bolded one? For the bolded Square seems to appear out of nowhere. At least it emanatory arising is not entirely clear. |
n. Có ba hình vuông khác trong biểu đồ, vậy tại sao lại chọn hình in đậm? Vì hình vuông in đậm dường như xuất hiện từ hư không. Ít nhất sự phát sinh theo lối phát xạ của nó không hoàn toàn rõ ràng. |
|
o. The other squares are more like diamonds, but from a slightly angular perspective they would be squares. Diamonds with equal sides and with right angles are squares, but their vertical axis passes through to vertices. In a square the vertical axis is perpendicular to the upper and lower horizontal. |
o. Các hình vuông khác giống hình thoi hơn, nhưng từ một góc nhìn hơi nghiêng chúng sẽ là hình vuông. Hình thoi có các cạnh bằng nhau và có góc vuông là hình vuông, nhưng trục thẳng đứng của chúng đi qua các đỉnh. Trong một hình vuông, trục thẳng đứng vuông góc với đường ngang trên và dưới. |
|
p. It would seem that the greatest of the diamonds would be a better candidate for the square for it is attached to the original triangle and the bolded square is not. The large diamond seems to emanate from the original Triangle as, in part, a continuation of the first two emanations. |
p. Dường như hình thoi lớn nhất sẽ là ứng viên thích hợp hơn cho hình vuông vì nó gắn với tam giác nguyên thủy còn hình vuông in đậm thì không. Hình thoi lớn dường như phát ra từ Tam giác nguyên thủy như, một phần, sự tiếp nối của hai lần phát xạ đầu tiên. |
|
q. Otherwise the bolded Square is simply suspended without attachment to the emanating source—the Triangle. Of course, it could rightly be said that the Triangle hovers above the Square and need not touch. In some of our theosophical diagrams the lowest side of the triangle is identical with the upper horizontal of the square. |
q. Nếu không thì hình vuông in đậm chỉ đơn giản lơ lửng mà không gắn với nguồn phát xạ—Tam giác. Dĩ nhiên, có thể nói đúng rằng Tam giác lơ lửng phía trên Hình vuông và không cần chạm vào nó. Trong một số biểu đồ Thông Thiên Học của chúng ta, cạnh thấp nhất của tam giác đồng nhất với đường ngang phía trên của hình vuông. |
|
r. We note as well the little circle below the large one and how it, too, contains a tiny replica of the Triangle and the Square. We judge the whole process or replicating the Pleroma to be holographic, with virtually endless replicability. |
r. Chúng ta cũng lưu ý vòng tròn nhỏ bên dưới vòng tròn lớn và cách nó cũng chứa một bản sao thu nhỏ của Tam giác và Hình vuông. Chúng ta phán đoán toàn bộ tiến trình sao lặp Pleroma là có tính toàn ảnh, với khả năng sao lặp hầu như vô tận. |
|
s. The addition of the Triangle to the Square yields a seven—the higher three and the lower four (in this case). Sometimes a septenate is composed of a higher four and a lower three (the structure of the systemic physical and cosmic physical planes). |
s. Việc thêm Tam giác vào Hình vuông tạo thành số bảy—ba phần cao hơn và bốn phần thấp hơn (trong trường hợp này). Đôi khi một bộ bảy được cấu thành bởi bốn phần cao hơn và ba phần thấp hơn (cấu trúc của cõi hồng trần hệ thống và cõi hồng trần vũ trụ). |
|
t. In summing up the meaning of the original bolded Triangle and the original, bolded Square, the interpreter of the Pleroma speaks of the Triangle as the potentiality of Spirit and the Square as the potentiality of Matter. |
t. Khi tóm lược ý nghĩa của Tam Giác in đậm nguyên thủy và Hình Vuông in đậm nguyên thủy, nhà diễn giải của Pleroma nói về Tam Giác như tiềm năng tính của Tinh thần và Hình Vuông như tiềm năng tính của Vật chất. |
|
u. We can equate Spirit in potential with the source of cosmic ideation. |
u. Chúng ta có thể đồng nhất Tinh thần trong tiềm năng với nguồn của ý niệm vũ trụ. |
|
v. We can equate the Square in potential as that which receives and is shaped by the impress of cosmic ideation. |
v. Chúng ta có thể đồng nhất Hình Vuông trong tiềm năng như cái tiếp nhận và được định hình bởi sự in dấu của ý niệm vũ trụ. |
|
w. We will have to discriminate between “potential” and “potency”. Potency is activated potential. |
w. Chúng ta sẽ phải phân biện giữa “tiềm năng” và “năng lực”. Năng lực là tiềm năng đã được hoạt hóa. |
|
x. The interpretation below the diagram speaks of only one “Vertical Straight Line”, and yet there are two. The vertical line is called the Potency of Spirit. This potency has entered the world of matter because, as a vertical, it is one side of the bolded Square. |
x. Phần diễn giải bên dưới biểu đồ chỉ nói đến một “Đường Thẳng Đứng”, vậy mà lại có hai. Đường thẳng đứng được gọi là Năng Lực của Tinh thần. Năng lực này đã đi vào thế giới vật chất bởi vì, với tư cách là một đường thẳng đứng, nó là một cạnh của Hình Vuông in đậm. |
|
y. The interpretation speaks of only one Horizontal Line as the potency of matter, and yet there are two horizontal lines. We judge that the horizontal lines represent the potency with which matter is intrinsically endowed. The bolded Square, though, representing the potentiality of matter, is a composite of the Potency of Spirit (the two up right verticals) and the potency of Matter |
y. Phần diễn giải chỉ nói đến một Đường Ngang như năng lực của vật chất, vậy mà lại có hai đường ngang. Chúng ta cho rằng các đường ngang biểu thị năng lực mà vật chất vốn được phú cho một cách nội tại. Tuy nhiên, Hình Vuông in đậm, biểu thị tiềm năng tính của vật chất, là một tổng hợp của Năng Lực của Tinh thần (hai đường thẳng đứng bên phải hướng lên) và năng lực của Vật chất |
|
z. Two vertical lines can represent a positive and negative polarity of energy. |
z. Hai đường thẳng đứng có thể biểu thị một cực tính dương và âm của năng lượng. |
|
aa. Two horizontal lines can represent the potency of subtle matter or substance, and the potency of more objective matter (matter proper). |
aa. Hai đường ngang có thể biểu thị năng lực của vật chất vi tế hay chất liệu, và năng lực của vật chất khách quan hơn (vật chất đúng nghĩa). |
|
bb. It is important to look at the generation of that large square which appears as a diamond. It appears to emanate directly from the original Triangle and to be a kind of emanation. The upper two legs of the diamond are as an extension of the duad which emanated from the Point, or Monad. |
bb. Điều quan trọng là phải xem xét sự phát sinh của hình vuông lớn xuất hiện như một hình thoi. Nó dường như phát xạ trực tiếp từ Tam Giác nguyên thủy và là một loại xuất lộ. Hai cạnh trên của hình thoi như là phần kéo dài của nhị nguyên đã phát ra từ Điểm, hay Chân thần. |
|
cc. This extension of the Duad emanates until it touches the circumference of the large circle of manifestation, which could be considered the circle within which all that comes from the Point becomes objective (considering objectivity, initially, as subtle substance). |
cc. Sự kéo dài này của Nhị nguyên phát ra cho đến khi chạm vào chu vi của vòng tròn lớn của biểu hiện, có thể được xem là vòng tròn bên trong đó mọi điều xuất phát từ Điểm trở nên khách quan (xét tính khách quan, lúc đầu, như chất liệu vi tế). |
|
dd. From the point where the extended Duad touches the large circle, two more emanations seem to arise, moving downwards (and diagonally inwards) and towards a point on the circumference of the large circle directly opposite Bythus or the Monad. Thus, is the large diamond contained within the large circle completed. |
dd. Từ điểm mà Nhị nguyên kéo dài chạm vào vòng tròn lớn, dường như lại phát sinh thêm hai phát xạ nữa, chuyển động đi xuống (và chéo vào trong) hướng về một điểm trên chu vi của vòng tròn lớn đối diện trực tiếp với Bythus hay Chân thần. Như vậy, hình thoi lớn nằm trong vòng tròn lớn được hoàn tất. |
|
ee. The lower point is a direct reflection of the emanating Point. This lower point becomes, as well, as source of emanation for the next circle. In one way the higher point is to be considered the Monad just as the lowest may be considered the Sun. |
ee. Điểm thấp hơn là sự phản chiếu trực tiếp của Điểm phát xạ. Điểm thấp hơn này cũng trở thành nguồn phát xạ cho vòng tròn kế tiếp. Theo một cách, điểm cao hơn được xem là Chân thần cũng như điểm thấp nhất có thể được xem là Mặt Trời. |
|
ff. We may remember the importance of the diamond in occultism. It is one of the foremost images signifying energy transmission. When explaining how a ray energy reaches the Earth, two such diamonds, one on top of the other, are presented. This double diamond is, in Tibetan Buddhism, the Dorje, or Thunderbolt. |
ff. Chúng ta có thể nhớ đến tầm quan trọng của hình thoi trong huyền bí học. Đó là một trong những hình ảnh hàng đầu biểu thị sự truyền dẫn năng lượng. Khi giải thích cách một năng lượng cung đến được Trái Đất, người ta trình bày hai hình thoi như thế, một chồng lên một. Hình thoi kép này, trong Phật giáo Tây Tạng, là Dorje, hay Lôi Điện. |
|
gg. We note an interesting fact: the large bolded Square with upright sides has its corners at the exact midpoint of the sides of the large diamond. The bolded Square might be called the Square within the diamond and, together, they suggest the number eight. |
gg. Chúng ta lưu ý một sự kiện thú vị: Hình Vuông lớn in đậm với các cạnh thẳng đứng có các góc nằm đúng tại trung điểm của các cạnh của hình thoi lớn. Hình Vuông in đậm có thể được gọi là Hình Vuông bên trong hình thoi và, cùng nhau, chúng gợi ra con số tám. |
|
hh. The vertices or corners of the bolded Square and large diamond create a kind of combination of the Cardinal Cross and the St. Andrew’s Cross. Interestingly, it is the diamond which articulates the cardinal points and the bolded Square which articulates the points to be found in the middle of the fixed signs of the zodiac. |
hh. Các đỉnh hay góc của Hình Vuông in đậm và hình thoi lớn tạo nên một loại kết hợp giữa Thập Giá Chủ Yếu và Thập Giá Thánh Andrew. Điều thú vị là chính hình thoi biểu đạt các điểm chủ yếu còn Hình Vuông in đậm biểu đạt các điểm được tìm thấy ở giữa các dấu hiệu cố định của hoàng đạo. |
|
ii. Together they may represent the eight potencies of the Jewel in the Lotus, on whatever scale. |
ii. Cùng nhau chúng có thể biểu thị tám năng lực của Viên Ngọc trong Hoa Sen, ở bất kỳ quy mô nào. |
|
jj. The Pentagram or Pentad is next described. The theosophical interpreter of Valentinus states that the Pentagram is the symbol of the Manasaputras or Sons of Wisdom, presumably members of the Fifth Creative Hierarchy of Solar Angels. As the number five is related to soul and in the Pythagorean Tetraktys to the Son, this seems a reasonable interpretation. |
jj. Ngũ Giác hay Bộ Năm được mô tả tiếp theo. Nhà diễn giải Thông Thiên Học về Valentinus nói rằng Ngũ Giác là biểu tượng của các Manasaputras hay Các Con của Minh Triết, có lẽ là các thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm gồm các Thái dương Thiên Thần. Vì số năm liên hệ với linh hồn và trong Tetraktys của Pythagoras liên hệ với Con, nên đây có vẻ là một cách diễn giải hợp lý. |
|
kk. We are told that lines in the Pentagram have syzygies, but they apparently are not represented on the diagram. |
kk. Chúng ta được cho biết rằng các đường trong Ngũ Giác có các syzygy, nhưng rõ ràng chúng không được biểu thị trên biểu đồ. |
|
ll. We note that the highest point of the Pentagram takes its origin from the midpoint of the original bolded Triangle, thus, from a point which may be taken to mean, “the eye within the triangle”. This is another reason for relating the Pentagram to consciousness. |
ll. Chúng ta lưu ý rằng điểm cao nhất của Ngũ Giác bắt nguồn từ trung điểm của Tam Giác in đậm nguyên thủy, do đó từ một điểm có thể được hiểu là “con mắt bên trong tam giác”. Đây là một lý do khác để liên hệ Ngũ Giác với tâm thức. |
|
mm. The relationship between the number five and the number two is an important consideration. Two is the number of consciousness and five is the number correlated with the cycles of the second ray. |
mm. Mối liên hệ giữa số năm và số hai là một điều cần xem xét quan trọng. Hai là con số của tâm thức và năm là con số tương quan với các chu kỳ của cung hai. |
|
nn. The lines of the Pentagram do not cut the bolded Square or the large diamond in any regular manner, but perhaps an analysis of the proportions created where the cuts or crossing points intersect the lines of the pentagram would be of interest. |
nn. Các đường của Ngũ Giác không cắt Hình Vuông in đậm hay hình thoi lớn theo bất kỳ cách đều đặn nào, nhưng có lẽ một sự phân tích các tỉ lệ được tạo ra tại những nơi các điểm cắt hay giao điểm giao nhau với các đường của ngũ giác sẽ là điều đáng quan tâm. |
|
oo. Astrologically, the angles of the Pentagram are related to seventy-two degrees, but interestingly they do not touch the large circle. Only the large diamond touches the large circle. |
oo. Về mặt chiêm tinh học, các góc của Ngũ Giác liên hệ với bảy mươi hai độ, nhưng điều thú vị là chúng không chạm vào vòng tròn lớn. Chỉ có hình thoi lớn chạm vào vòng tròn lớn. |
|
pp. The Hexalpha/Hexagram or interlaced Triangles is the next figure to which our attention is drawn. It, too, is said to have its syzygies, but none are represented. |
pp. Hexalpha/Lục Giác hay các Tam Giác đan xen là hình tiếp theo thu hút sự chú ý của chúng ta. Nó cũng được nói là có các syzygy của nó, nhưng không có cái nào được biểu thị. |
|
qq. If the diagram of the Pleroma had depth, we would see the Pentagram superimposed upon the bolded Square and the Hexalpha superimposed upon the Pentagram. |
qq. Nếu biểu đồ của Pleroma có chiều sâu, chúng ta sẽ thấy Ngũ Giác chồng lên Hình Vuông in đậm và Hexalpha chồng lên Ngũ Giác. |
|
rr. In occultism the five of the Pentagram is associated with consciousness and the six of the Hexalpha is associated with form (though it can also be associated with the Monad). |
rr. Trong huyền bí học, số năm của Ngũ Giác gắn với tâm thức và số sáu của Hexalpha gắn với hình tướng (dù nó cũng có thể gắn với Chân thần). |
|
ss. The Hexad, Hexalpha, or Hexagram may also be considered to relate to the Deva Kingdom, whereas the Pentad or Pentagram may be considered to relate to Manas or Man. Together they represent the eleven which is the number of the initiate—one who contains both the properties of Man and Deva. |
ss. Bộ Sáu, Hexalpha, hay Lục Giác cũng có thể được xem là liên hệ với giới thiên thần, trong khi Bộ Năm hay Ngũ Giác có thể được xem là liên hệ với Manas hay Con Người. Cùng nhau chúng biểu thị số mười một, là con số của điểm đạo đồ—người chứa đựng cả hai đặc tính của Con Người và thiên thần. |
|
tt. Will the eleven be completed in the twelve, and must Bythus be included to make the twelve—for the Spirit is neither Man nor Deva? |
tt. Liệu số mười một có được hoàn tất trong số mười hai, và có phải Bythus phải được bao gồm để tạo thành số mười hai—vì Tinh thần không phải là Con Người cũng không phải là thiên thần? |
|
uu. The general meaning of the Hexagram or Hexalpha is the higher triad and the lower—i.e., Spirit as a Trinity expressing within the higher worlds, and Soul as a trinity expressing within the lower. |
uu. Ý nghĩa tổng quát của Lục Giác hay Hexalpha là tam nguyên cao hơn và tam nguyên thấp hơn—tức là, Tinh thần như một Tam Vị biểu hiện trong các thế giới cao hơn, và linh hồn như một bộ ba biểu hiện trong các cõi thấp hơn. |
|
vv. How does the Hexagram/Hexalpha stand in relation to the other lines and symbolic figures within the bolded Square? |
vv. Lục Giác/Hexalpha đứng trong mối liên hệ nào với các đường và các hình biểu tượng khác bên trong Hình Vuông in đậm? |
|
ww. The tented legs of the higher triangle of the Hexagram and the inverted, tented legs of the lower triangle of the Hexagram, cut the sides of the large diamond in such a way as to produce identical little diamonds/squares where the sides of the large diamond touch the large circle at the east and west points. |
ww. Hai cạnh hình lều của tam giác trên của Lục Giác và hai cạnh hình lều đảo ngược của tam giác dưới của Lục Giác cắt các cạnh của hình thoi lớn theo cách tạo ra những hình thoi/hình vuông nhỏ giống hệt nhau tại nơi các cạnh của hình thoi lớn chạm vào vòng tròn lớn ở các điểm đông và tây. |
|
xx. As a result of this, two additional diamonds (of square shape, just as was the larger diamond) are formed. One of these secondary diamonds has its uppermost point in Bythus, the Deep; the other of these secondary triangle has its lowest point in the point opposite Bythus, at the bottom of the large circle. |
xx. Kết quả là, hai hình thoi bổ sung (có dạng hình vuông, giống như hình thoi lớn hơn) được hình thành. Một trong các hình thoi thứ cấp này có điểm cao nhất của nó ở Bythus, Vực Sâu; hình còn lại trong các tam giác thứ cấp này có điểm thấp nhất của nó ở điểm đối diện với Bythus, ở đáy của vòng tròn lớn. |
|
yy. Thus, we have five diamonds (which are squares standing on end); two are relatively small; two are somewhat smaller than the largest diamond; and one is the largest diamond. |
yy. Như vậy, chúng ta có năm hình thoi (là những hình vuông dựng đứng trên đỉnh); hai hình tương đối nhỏ; hai hình hơi nhỏ hơn hình thoi lớn nhất; và một hình là hình thoi lớn nhất. |
|
zz. All of these diamonds can be see as emanating from the Father, Bythus, the Monad, for they either include the Father Point or they include a point which could not exist unless the Father Point had sent its emanations forth. |
zz. Tất cả những hình thoi này có thể được xem là phát ra từ Người Cha, Bythus, Chân thần, vì hoặc chúng bao gồm Điểm Cha hoặc chúng bao gồm một điểm không thể tồn tại nếu Điểm Cha không phát ra các phát xạ của nó. |
|
aaa. The Pentagram, however, does not so much belong to the Father as to the Son (Consciousness) for it derives from an unmarked point in the middle of the Primary Triangle, which Point (in relation to Bythus) we may take to represent the Divine Son. |
aaa. Tuy nhiên, Ngũ Giác không thuộc về Người Cha nhiều bằng thuộc về Người Con (Tâm thức), vì nó phát sinh từ một điểm không được đánh dấu ở giữa Tam Giác Sơ Khởi, điểm này (trong tương quan với Bythus) chúng ta có thể xem là biểu thị Người Con thiêng liêng. |
|
bbb. The Divine Pleroma is said to represent “Completion” or the “Ideas in the Divine Mind”. |
bbb. Pleroma thiêng liêng được nói là biểu thị “Sự Hoàn Tất” hay “Các Ý Tưởng trong Trí của Thượng đế”. |
|
ccc. There are said to be twenty-eight such ideas. The number twenty-eight is important as it can be correlated with the number of stars which HPB gives as found within the constellation Capricorn. It is also the number to which the OM sums in English numerology. The twenty-eight is also connected to manifestation because personality cycles occur in fours and sevens, the product of which is twenty-eight. |
ccc. Người ta nói có hai mươi tám ý tưởng như vậy. Con số hai mươi tám rất quan trọng vì nó có thể được tương quan với số lượng các ngôi sao mà HPB cho là nằm trong chòm sao Ma Kết. Nó cũng là con số mà OM cộng lại thành trong số học Anh ngữ. Số hai mươi tám cũng liên hệ với biểu hiện bởi vì các chu kỳ phàm ngã diễn ra theo bộ bốn và bộ bảy, tích của chúng là hai mươi tám. |
|
ddd. The method of arriving at twenty-eight is to sum the Hexagram (with its undiagramed syzygies) as twelve; the Pentagram (with its undiagramed syzygies) as ten: the Double Duad or Square as four; and the two emanation of the Bythus, while not counting Bythus (the Origin) itself. |
ddd. Phương pháp đi đến số hai mươi tám là cộng Lục Giác (với các syzygy không được biểu đồ hóa của nó) thành mười hai; Ngũ Giác (với các syzygy không được biểu đồ hóa của nó) thành mười; Nhị nguyên Kép hay Hình Vuông thành bốn; và hai phát xạ của Bythus, mà không tính Bythus (Nguồn Gốc) tự thân nó. |
|
eee. Thus we have 12. + 10. + 4. + 2. = 28. |
eee. Như vậy chúng ta có 12. + 10. + 4. + 2. = 28. |
|
fff. The two smaller circles seen within the upper part of the large circle are called “after emanations”. They are called Christos-Pneuma or (Christ and the Holy Spirit). We are told by the theosophical interpreter that they symbolize “the descent of Spirit to inform and evolve matter”. From another angle they are said to represent “the descent or incarnation of the Kumaras or Higher Egos of Humanity”. |
fff. Hai vòng tròn nhỏ hơn được thấy trong phần trên của vòng tròn lớn được gọi là “các phát xạ hậu kỳ”. Chúng được gọi là Christos-Pneuma hay (Christ và Chúa Thánh Thần). Nhà diễn giải Thông Thiên Học cho chúng ta biết rằng chúng tượng trưng cho “sự giáng hạ của Tinh thần để thấm nhuần và tiến hoá vật chất”. Từ một góc độ khác, chúng được nói là biểu thị “sự giáng hạ hay nhập thể của các Kumaras hay các Chân ngã Cao Siêu của Nhân loại”. |
|
ggg. Whether or not they are absolutely integral to the Pleroma Diagram we are at liberty to decide. They seem to be almost afterthoughts and not very elegantly displayed, but perhaps they have some integral significance. In any case these two circles seem to emanate from the two points of the original Duad which, themselves, emanated from the Monad, Bythus, or Original Point, the Father. |
ggg. Việc chúng có hoàn toàn là phần không thể tách rời của Biểu Đồ Pleroma hay không là điều chúng ta được tự do quyết định. Chúng dường như gần như là những ý nghĩ thêm vào sau và không được trình bày thật thanh nhã, nhưng có lẽ chúng có một ý nghĩa nội tại nào đó. Dù sao đi nữa, hai vòng tròn này dường như phát ra từ hai điểm của Nhị nguyên nguyên thủy, mà chính chúng đã phát ra từ Chân thần, Bythus, hay Điểm Nguyên Thủy, Người Cha. |
|
65. That there should be twenty-eight ideas in the Divine Mind seems an extraordinary statement. Capricorn, the OM and the meaning of four septenates would have to be considered. |
65. Việc có hai mươi tám ý tưởng trong Trí của Thượng đế dường như là một phát biểu phi thường. Ma Kết, OM và ý nghĩa của bốn bộ bảy sẽ phải được xem xét. |
|
66. Within this diagram we will probably find: |
66. Trong biểu đồ này có lẽ chúng ta sẽ tìm thấy: |
|
a. The fundamental Trinity |
a. Tam Vị căn bản |
|
b. The origin of the seven principles of man or Heavenly Man |
b. nguồn gốc của bảy nguyên khí của con người hay của Đấng Thiên Nhân |
|
c. The origin of consciousness or of those beings which implant and promote consciousness in man or Heavenly Man. |
c. nguồn gốc của tâm thức hay của những hữu thể cấy vào và thúc đẩy tâm thức trong con người hay Đấng Thiên Nhân. |
|
d. The origin of six vehicles of consciousness |
d. nguồn gốc của sáu vận cụ của tâm thức |
|
e. As well, there may be many more mysteries hidden. |
e. Ngoài ra, có thể còn nhiều huyền nhiệm khác được ẩn giấu. |
|
67. How we shall understand the syzygies which expand the Pentagram to a Decad and the Hexagram to a Dodecad must be left to further examination. The principle seems to exist: every unit has its complement. This was true, in a sense, of Bythus which became two while still remaining itself. The same principle of replication can be found in relation to the Square, the Pentad and the Hexad. |
67. Việc chúng ta sẽ hiểu các syzygy mở rộng Ngũ Giác thành một Bộ Mười và Lục Giác thành một Bộ Mười Hai như thế nào phải để cho sự khảo sát thêm. Nguyên lý dường như là: mỗi đơn vị đều có phần bổ sung của nó. Điều này, theo một nghĩa nào đó, đúng với Bythus, vốn trở thành hai trong khi vẫn còn là chính nó. Cùng nguyên lý sao lặp này có thể được tìm thấy trong mối liên hệ với Hình Vuông, Bộ Năm và Bộ Sáu. |
|
68. VSK suggests that the square is the dual Duad. We see the replication of the large circle in the smaller circle. The large circle (with its inscribed symbols) can represent the Solar Logos with the smaller circle seen as the echo or Con (the “Word made flesh”, or Mantrikashakti). |
68. VSK gợi ý rằng hình vuông là nhị nguyên kép. Chúng ta thấy sự sao lặp của vòng tròn lớn trong vòng tròn nhỏ hơn. Vòng tròn lớn (với các biểu tượng nội tiếp của nó) có thể biểu thị Thái dương Thượng đế với vòng tròn nhỏ hơn được xem như tiếng vọng hay Con (Linh từ thành nhục thể, hay Mantrikashakti). |
|
69. There is no reason to think that the circles described have no antecedents or succeedents. Still larger circles than the large circle depicted have generated the large circle depicted, and the smaller circle depicted will generate still smaller circles. |
69. Không có lý do gì để nghĩ rằng các vòng tròn được mô tả không có tiền thân hay hậu thân. Những vòng tròn còn lớn hơn vòng tròn lớn được mô tả đã tạo ra vòng tròn lớn được mô tả, và vòng tròn nhỏ hơn được mô tả sẽ tạo ra những vòng tròn còn nhỏ hơn nữa. |
|
70. There are a number of lesser geometrical figures created by the featured figures. These lesser figures remain uninterpreted. |
70. Có một số hình hình học nhỏ hơn được tạo ra bởi các hình nổi bật. Những hình nhỏ hơn này vẫn chưa được diễn giải. |
|
71. VSK suggests in relation to the Pentad which becomes the Decad, a duality of mind—“Venus Lucifer and Venus Hesperus”—a mind which both rises and falls. |
71. VSK gợi ý, liên hệ với Bộ Năm trở thành Bộ Mười, một nhị nguyên tính của trí tuệ—“Venus Lucifer và Venus Hesperus”—một trí tuệ vừa đi lên vừa đi xuống. |
|
72. VSK suggests that the ‘double dual’ is associated with the completion of the Kumaras and creates the man foursquare. |
72. VSK gợi ý rằng ‘kép nhị nguyên’ gắn với sự hoàn tất của các Kumaras và tạo ra con người vuông vức bốn phương. |
|
73. It is clear that we have only scratched the surface. Many points of interpretation remain to be explored and many mysteries are concealed. |
73. Rõ ràng là chúng ta mới chỉ chạm vào bề mặt. Nhiều điểm diễn giải vẫn còn phải được khảo sát và nhiều huyền nhiệm vẫn còn được che giấu. |
|
74. The Divine Pleroma is intended to represent the energetic-ideational structure which substands all manifestation in our local cosmos and perhaps, in cosmos altogether. |
74. Pleroma thiêng liêng nhằm biểu thị cấu trúc năng lượng-ý niệm làm nền tảng cho mọi biểu hiện trong vũ trụ địa phương của chúng ta và có lẽ trong toàn thể vũ trụ. |
I. WHAT IS THE RELATIONSHIP OF THE SON TO THE SUN? |
I. MỐI LIÊN HỆ GIỮA NGƯỜI CON VÀ MẶT TRỜI LÀ GÌ? |
|
This question brings us primarily to a consideration as to Who is the Son, and what is His function. |
Câu hỏi này trước hết đưa chúng ta đến việc xem xét Người Con là Ai, và chức năng của Ngài là gì. |
|
75. Let us call the Son the Cosmic Christ—as pertaining to any level of cosmic consideration. |
75. Chúng ta hãy gọi Người Con là Đức Christ Vũ Trụ—xét theo bất kỳ cấp độ cân nhắc vũ trụ nào. |
|
76. The Son can be considered as: |
76. Người Con có thể được xem là: |
|
a. The soul aspect |
a. phương diện linh hồn |
|
b. The union of Father and Mother |
b. sự hợp nhất của Cha và Mẹ |
|
c. The Middle Principle |
c. Nguyên Khí Trung Gian |
|
d. Consciousness through form in the process of evolution |
d. tâm thức xuyên qua hình tướng trong tiến trình tiến hoá |
|
77. The Son is created and evolves by means of the union of the Father aspect and Mother aspect; |
77. Người Con được tạo ra và tiến hoá bằng phương tiện sự hợp nhất của phương diện Cha và phương diện Mẹ; |
|
78. From another perspective (much explored below by DK) the whole universe is the Son. |
78. Từ một viễn tượng khác (được DK khảo sát nhiều ở dưới), toàn thể vũ trụ là Người Con. |
|
Two [Page 227] factors are universally recognised in all systems that merit the name of philosophy; |
Hai nhân tố [Page 227] được nhìn nhận một cách phổ quát trong mọi hệ thống xứng đáng với danh xưng triết học; |
|
79. Not all systems are so rational in their thinking as to merit the name philosophy. HPB railed against the tenets of some modern religions as basically unphilosophical. |
79. Không phải mọi hệ thống đều hợp lý trong tư duy đến mức xứng đáng với danh xưng triết học. HPB đã kịch liệt phản đối các giáo điều của một số tôn giáo hiện đại vì về cơ bản chúng phi triết học. |
|
they are the two factors of spirit and matter, of purusha and prakriti. |
đó là hai nhân tố tinh thần và vật chất, purusha và prakriti. |
|
80. All true systems of philosophy must embrace the reality of sprit and matter. |
80. Mọi hệ thống triết học chân chính đều phải bao hàm thực tại của tinh thần và vật chất. |
|
81. Purusha is equivalent to sprit (Spirit); prakriti is equivalent to matter (Matter). |
81. Purusha tương đương với tinh thần (Tinh thần); prakriti tương đương với vật chất (Vật chất). |
|
82. After Spirit has gone forth in emanation it may be legitimate to think of it as spirit (lower case), but the essence, Spirit, must not be forgotten. |
82. Sau khi Tinh thần đã phát ra trong sự xuất lộ, có thể là chính đáng khi nghĩ về nó như tinh thần (chữ thường), nhưng bản thể, Tinh thần, không được bị quên lãng. |
|
83. After Matter has undergone subdivision, it may be legitimate to think of it as matter (lower case), but the essence, Matter, must not be forgotten. |
83. Sau khi Vật chất đã trải qua sự phân chia nhỏ, có thể là chính đáng khi nghĩ về nó như vật chất (chữ thường), nhưng bản thể, Vật chất, không được bị quên lãng. |
|
There is at times a tendency to confound such terms as “life and form,” “consciousness and the vehicle of consciousness” with the terms “Spirit and matter.” |
Đôi khi có xu hướng nhầm lẫn những thuật ngữ như “sự sống và hình tướng”, “tâm thức và vận cụ của tâm thức” với các thuật ngữ “Tinh thần và vật chất.” |
|
84. Master DK is making some fine distinctions. |
84. Chân sư DK đang đưa ra những phân biệt rất tinh tế. |
|
They are related, but clarity of view would be facilitated if it were realised that prior to manifestation, or to the birth of a solar system, it is more correct to utilise the words, Spirit and matter. |
Chúng có liên hệ với nhau, nhưng sự sáng tỏ trong cách nhìn sẽ được tạo điều kiện nếu nhận ra rằng trước biểu hiện, hay trước sự ra đời của một hệ mặt trời, dùng các từ Tinh thần và vật chất là đúng hơn. |
|
85. My tendency is to capitalize Spirit (because we strive towards the essence), and to use the term “matter” in the lower case, as we are dealing, usually, with many different varieties of matter and not with Mulaprakriti itself (i.e., not with Matter). |
85. Khuynh hướng của tôi là viết hoa Tinh thần (vì chúng ta hướng đến bản thể), và dùng thuật ngữ “vật chất” ở chữ thường, vì chúng ta thường đang đề cập đến nhiều loại vật chất khác nhau chứ không phải chính Mulaprakriti (tức không phải Vật chất). |
|
86. While Spirit is related to Life and matter is related to form, it is only when Spirit is in manifestation that it should be called “Life”. Additionally, only when Matter is part of the process of manifestation (and is, thus, Matter), is it built into that which we call form. |
86. Trong khi Tinh thần liên hệ với Sự sống và vật chất liên hệ với hình tướng, chỉ khi Tinh thần ở trong biểu hiện thì nó mới nên được gọi là “Sự sống”. Ngoài ra, chỉ khi Vật chất là một phần của tiến trình biểu hiện (và do đó là Vật chất), nó mới được xây dựng thành cái mà chúng ta gọi là hình tướng. |
|
87. According to this way of thinking, “consciousness” can be related to “life” and the “vehicle of consciousness” can be related to form. |
87. Theo lối suy nghĩ này, “tâm thức” có thể được liên hệ với “sự sống” và “vận cụ của tâm thức” có thể được liên hệ với hình tướng. |
|
88. Spirit exists as Spirit and Matter as Matter only when there is no manifestation. And when, precisely, is that? |
88. Tinh thần tồn tại như Tinh thần và Vật chất như Vật chất chỉ khi không có biểu hiện. Và chính xác là khi nào? |
|
When these two are inter-related during manifestation, and |
Khi hai cái này liên hệ với nhau trong thời kỳ biểu hiện, và |
|
after the cessation of the pralayic interval or interlude between two systems, then the terms, life and form, consciousness and its vehicles, are more correct, for during the period of abstraction consciousness is not, form is not, and life, demonstrating as an actual principle, is not. |
sau khi chấm dứt khoảng hay quãng nghỉ giai kỳ qui nguyên giữa hai hệ thống, thì các thuật ngữ sự sống và hình tướng, tâm thức và các vận cụ của nó là đúng hơn, vì trong thời kỳ trừu xuất, tâm thức không hiện hữu, hình tướng không hiện hữu, và sự sống, biểu lộ như một nguyên khí thực sự, cũng không hiện hữu. |
|
89. We are given important metaphysical clarifications. “Life” and “form”, “consciousness and its vehicles” are terms to be used only during the manifestation of any system—in this case, a solar system. |
89. Chúng ta được trao cho những sự làm sáng tỏ siêu hình học quan trọng. “Sự sống” và “hình tướng”, “tâm thức và các vận cụ của nó” là những thuật ngữ chỉ nên dùng trong thời kỳ biểu hiện của bất kỳ hệ thống nào—trong trường hợp này là một hệ mặt trời. |
|
90. When DK tells us that during the period of abstraction there are no consciousness and no form, does He refer to the abstraction of such an insignificant being (relatively) as a Solar Logos, or does He refer to the Great ABSTRACTION—Universal Pralaya? |
90. Khi DK nói với chúng ta rằng trong thời kỳ trừu xuất không có tâm thức và không có hình tướng, Ngài có đang nói đến sự trừu xuất của một hữu thể tương đối không đáng kể như một Thái dương Thượng đế, hay Ngài đang nói đến sự TRỪU XUẤT Vĩ Đại—Đại Giai kỳ qui nguyên Vũ Trụ? |
|
91. If He refers the pralaya of a Solar Logos, we will have to think deeply, because elsewhere He has told us that pralaya only seems like abstraction when seen from ‘below’. All pralayas short of the Ultimate Pralaya may have their own type of…shall we say consciousness and activity? |
91. Nếu Ngài nói đến giai kỳ qui nguyên của một Thái dương Thượng đế, chúng ta sẽ phải suy nghĩ sâu xa, vì ở nơi khác Ngài đã nói với chúng ta rằng giai kỳ qui nguyên chỉ có vẻ như là sự trừu xuất khi được nhìn từ ‘bên dưới’. Mọi giai kỳ qui nguyên chưa phải là Giai kỳ qui nguyên Tối Hậu đều có thể có loại… chúng ta hãy nói rằng tâm thức và hoạt động riêng của chúng? |
|
92. DK distinguishes, apparently, between “life, demonstrating as an actual principle” and Life, per se. |
92. DK rõ ràng phân biệt giữa “sự sống, biểu lộ như một nguyên khí thực sự” và chính Sự sống. |
|
93. The suggestion seems to be that during pralaya, principles are not—i.e., that the qualitative divisions of being we call principles do not exist during pralaya. |
93. Gợi ý dường như là trong giai kỳ qui nguyên, các nguyên khí không hiện hữu—tức là những phân chia phẩm tính của hữu thể mà chúng ta gọi là các nguyên khí không tồn tại trong giai kỳ qui nguyên. |
|
94. At such a time “God is all-in-all”. What that may mean for the divine factor which we call consciousness can only be imagined. |
94. Vào lúc như thế “Thượng đế là tất cả trong mọi sự”. Điều đó có thể hàm ý gì đối với yếu tố thiêng liêng mà chúng ta gọi là tâm thức thì chỉ có thể hình dung được mà thôi. |
|
There is Spirit-substance |
Có Tinh thần-chất liệu |
|
95. May we call “Spirit-Substance” by the term “Spirit-Matter”? |
95. Chúng ta có thể gọi “Tinh thần-Chất liệu” bằng thuật ngữ “Tinh thần-Vật chất” chăng? |
|
96. During non-ultimate pralayas, the fusion of Spirit and Matter could persist as Spirit-Matter or Spirit-Substance. We might call this state the blend of Spirit and Matter, or Spirit and Substance. |
96. Trong các giai kỳ qui nguyên chưa tối hậu, sự dung hợp của Tinh thần và Vật chất có thể vẫn tồn tại như Tinh thần-Vật chất hay Tinh thần-Chất liệu. Chúng ta có thể gọi trạng thái này là sự pha trộn của Tinh thần và Vật chất, hay của Tinh thần và Chất liệu. |
|
97. DK seems to be saying that during a non-ultimate pralaya, Spirit and Matter still remain associated, but in a passive state.. |
97. DK dường như đang nói rằng trong một giai kỳ qui nguyên chưa tối hậu, Tinh thần và Vật chất vẫn còn liên kết với nhau, nhưng trong một trạng thái thụ động. |
|
98. We could call such a formless state the “continuity of substance”. |
98. Chúng ta có thể gọi trạng thái vô tướng như thế là “tính liên tục của chất liệu”. |
|
99. From the perspective of Spinoza, the only true substance is GOD. We would call this “SUBSTANCE”. |
99. Từ viễn tượng của Spinoza, chất liệu chân thực duy nhất là THƯỢNG ĐẾ. Chúng ta sẽ gọi điều này là “CHẤT LIỆU”. |
|
but in a state of quiescence, of utter neutrality, of negativity, and of passivity. |
nhưng trong một trạng thái tĩnh lặng, hoàn toàn trung tính, âm tính, và thụ động. |
|
100. This would mean there was no outgoing impulse. Is it like sleep? If so, are there dreams? Or is this pralayic state like the deepest meditation, the deepest state of samadhi? |
100. Điều này có nghĩa là không có xung lực hướng ngoại. Có phải nó giống như giấc ngủ không? Nếu vậy, có những giấc mơ không? Hay trạng thái giai kỳ qui nguyên này giống như sự tham thiền sâu nhất, trạng thái samadhi sâu nhất? |
|
101. What appears as quiescence, negativity, passivity and utter neutrality to us, might be experienced as something completely other to the One Experiencer Who has retired into this imperturbable state. |
101. Điều xuất hiện như sự tĩnh lặng, âm tính, thụ động và hoàn toàn trung tính đối với chúng ta, có thể được kinh nghiệm như một điều gì đó hoàn toàn khác đối với Đấng Kinh Nghiệm duy nhất đã rút lui vào trạng thái bất động này. |
|
In manifestation the two are approximated; they interact upon each other; activity supersedes quiescence; positivity replaces negativity; movement is seen in place of passivity, and the two primordial factors are no longer neutral to each other, but attract and repulse, interact and utilise. |
Trong biểu hiện, hai cái này được đưa lại gần nhau; chúng tác động lẫn nhau; hoạt động thay thế sự tĩnh lặng; dương tính thay thế âm tính; chuyển động được thấy thay cho sự thụ động, và hai nhân tố nguyên thủy không còn trung tính với nhau nữa, mà hút và đẩy, tương tác và sử dụng. |
|
102. Let us look closely at these opposites: |
102. Chúng ta hãy xem xét kỹ những cặp đối cực này: |
|
a. Activity as the opposite of quiescence |
a. Hoạt động là đối cực của sự tĩnh lặng |
|
b. Positivity as the opposite of negativity |
b. Dương tính là đối cực của âm tính |
|
c. Movement as the opposite of passivity |
c. Chuyển động là đối cực của sự thụ động |
|
103. Because we are in manifestation in a solar system we are participating in a condition in which Spirit and Matter— |
103. Bởi vì chúng ta đang ở trong biểu hiện trong một hệ mặt trời, chúng ta đang tham dự vào một trạng thái trong đó Tinh thần và Vật chất— |
|
a. Attract and repulse each other |
a. hút và đẩy lẫn nhau |
|
b. Interact with each other |
b. tương tác với nhau |
|
c. Utilize each other |
c. sử dụng lẫn nhau |
|
104. In the state of Spirit-Matter, Spirit and Matter are neutral to each other and are not attracted, interactive, engaged. |
104. Trong trạng thái Tinh thần-Vật chất, Tinh thần và Vật chất trung tính đối với nhau và không bị hút, không tương tác, không tham dự. |
|
105. Yet are they somehow blended or indistinguishable, for HPB has told us that Spirit is Matter and Matter is Spirit. |
105. Tuy nhiên, có phải bằng cách nào đó chúng được pha trộn hay không thể phân biệt, vì HPB đã nói với chúng ta rằng Tinh thần là Vật chất và Vật chất là Tinh thần. |
|
106. Note that it the term “Matter” is here being used in the upper case, even though it may refer to non-ultimate pralayas. This is so because the usual differentiations of Matter with which we are familiar are superseded even in non-ultimate pralayas, though differentiations of Matter with which we are not familiar may still be present. |
106. Lưu ý rằng ở đây thuật ngữ “Vật chất” đang được dùng với chữ hoa, dù nó có thể nói đến các giai kỳ qui nguyên chưa tối hậu. Sở dĩ như vậy là vì những biến phân thông thường của Vật chất mà chúng ta quen thuộc đã bị vượt qua ngay cả trong các giai kỳ qui nguyên chưa tối hậu, dù những biến phân của Vật chất mà chúng ta không quen thuộc có thể vẫn còn hiện diện. |
|
Then and only then, can we have form animated by life, and consciousness demonstrated through appropriate vehicles. |
Chỉ khi đó, và chỉ khi đó, chúng ta mới có thể có hình tướng được sự sống linh hoạt hóa, và tâm thức được biểu lộ qua những vận cụ thích hợp. |
|
107. May we say that the state in which Spirit/Substance is passive is a state of profoundest subjectivity? Magnetism, movement or interplay between them produces objectivity. |
107. Chúng ta có thể nói rằng trạng thái trong đó Tinh thần/Chất liệu là thụ động là một trạng thái chủ quan tính sâu xa nhất chăng? Từ điện, chuyển động hay sự tương tác giữa chúng tạo ra khách quan tính. |
|
108. This activity or objectivity occurs within the realm of the Divine Son. The Divine Son is both the Cosmic Christ and the universe itself, considered as the objectification of the Cosmic Christ (or more properly, the Solar-Systemic Christ). |
108. Hoạt động hay khách quan tính này xảy ra trong lĩnh vực của Người Con thiêng liêng. Người Con thiêng liêng vừa là Đức Christ Vũ Trụ vừa là chính vũ trụ, được xem như sự khách thể hóa của Đức Christ Vũ Trụ (hay đúng hơn là Đức Christ của hệ mặt trời). |
|
109. We are dealing with life and form as the reflections of Spirit and Matter within our manifested solar system. |
109. Chúng ta đang đề cập đến sự sống và hình tướng như những phản chiếu của Tinh thần và Vật chất trong hệ mặt trời biểu hiện của chúng ta. |
|
110. From a certain perspective the Son is the expanding consciousness—expanding through the utilization of matter/form. |
110. Từ một viễn tượng nào đó, Người Con là tâm thức đang mở rộng—mở rộng thông qua việc sử dụng vật chất/hình tướng. |
|
111. His task is to adapt form to consciousness for the greater expansion and expression of that consciousness which He is. |
111. Nhiệm vụ của Ngài là thích ứng hình tướng với tâm thức để tâm thức mà Ngài là đó có thể mở rộng và biểu lộ lớn lao hơn. |
|
How can this be expressed? In terms of fire, when the two electric poles are brought into definite relationship we have demonstrated, along the line of occult sight and of occult feeling, both heat and light. |
Điều này có thể được diễn tả như thế nào? Theo thuật ngữ của lửa, khi hai cực điện được đưa vào mối liên hệ xác định, chúng ta có sự biểu lộ, theo đường của thông nhãn huyền bí và cảm nhận huyền bí, cả nhiệt lẫn ánh sáng. |
|
112. The heat and light here referenced are only demonstrable to occult sight and occult feeling. The light, it would seem, is seen and the heat felt. |
112. Nhiệt và ánh sáng được nhắc đến ở đây chỉ có thể được biểu lộ đối với thông nhãn huyền bí và cảm nhận huyền bí. Ánh sáng, dường như, được thấy và nhiệt được cảm nhận. |
|
113. Our fourth initiation will demonstrate this fully (fully, as understood within the realm of the microcosm). That initiation represents the approximation of the two poles followed by the conflagration of the Egoic Body. |
113. Lần điểm đạo thứ tư của chúng ta sẽ biểu lộ điều này một cách trọn vẹn (trọn vẹn như được hiểu trong lĩnh vực của tiểu thiên địa). Lần điểm đạo đó biểu thị sự đưa hai cực lại gần nhau, tiếp theo là sự bùng cháy của Thể Chân Ngã. |
|
114. The analogy can be extended, as beings far greater than man experience this conflagration at the appropriate point in their initiatory process. |
114. Phép tương đồng này có thể được mở rộng, vì những hữu thể lớn lao hơn con người rất nhiều cũng kinh qua sự bùng cháy này tại điểm thích hợp trong tiến trình điểm đạo của họ. |
|
115. With regard to our present evolutionary task, “heat” is equivalent to “spiritual energy” (cf. R&I Rule I for Disciples and Initiates) |
115. Liên quan đến nhiệm vụ tiến hoá hiện tại của chúng ta, “nhiệt” tương đương với “năng lượng tinh thần” (x. R&I Quy luật I cho các Đệ tử và Điểm đạo đồ) |
|
This relationship is brought about and perfected during the evolutionary process. |
Mối liên hệ này được tạo ra và hoàn thiện trong tiến trình tiến hoá. |
|
116. DK is speaking of the relationship between the two poles—the positive and negative, Spirit and Matter as they demonstrate in man. |
116. DK đang nói về mối liên hệ giữa hai cực—dương và âm, Tinh thần và Vật chất như chúng biểu lộ trong con người. |
|
This heat and light are produced by the union of the two poles, or by the occult marriage of male and female, of Spirit (father) and matter (mother). |
Nhiệt và ánh sáng này được tạo ra bởi sự hợp nhất của hai cực, hay bởi cuộc hôn phối huyền bí của nam và nữ, của Tinh thần (cha) và vật chất (mẹ). |
|
117. Because we are speaking of occult marriage we know that the astrological sign Libra must be important in this process. The conflagration produced liberates man so that he may (eventually) tread the Way to Shamballa. The Way into Shamballa is ruled by Libra. |
117. Bởi vì chúng ta đang nói về cuộc hôn phối huyền bí, chúng ta biết rằng dấu hiệu chiêm tinh Thiên Bình hẳn phải quan trọng trong tiến trình này. Sự bùng cháy được tạo ra giải phóng con người để y có thể (cuối cùng) bước trên Con đường đến Shamballa. Con đường vào Shamballa do Thiên Bình cai quản. |
|
118. VSK suggests that we examine occult sight and occult feeling, relating them to the third and second sense, respectively—sight and touch, the mental and the astral, the orange and the rose. |
118. VSK gợi ý rằng chúng ta khảo sát thông nhãn huyền bí và cảm nhận huyền bí, liên hệ chúng lần lượt với giác quan thứ ba và thứ hai—thị giác và xúc giác, trí tuệ và cảm dục, màu cam và màu hồng. |
|
119. Let us suppose that every marriage of any kind is intended to produce heat and light, i.e., animation and illumination. This will, perhaps, give us a different perspective upon marriage. |
119. Chúng ta hãy giả định rằng mọi cuộc hôn phối thuộc bất kỳ loại nào cũng đều nhằm tạo ra nhiệt và ánh sáng, tức là sự linh hoạt hóa và sự soi sáng. Điều này có lẽ sẽ cho chúng ta một viễn tượng khác về hôn nhân. |
|
120. May it be in relation to the marriage of the Father and Mother, that the Pure Father, Purusha and the Pure Mother, Mulaprakriti, exist but once and at one initial period in any cosmos? Or, perhaps, they exist twice—at the end and at the beginning. |
120. Có phải trong mối liên hệ với cuộc hôn phối của Cha và Mẹ mà Người Cha Thuần Khiết, Purusha, và Người Mẹ Thuần Khiết, Mulaprakriti, chỉ hiện hữu một lần và tại một thời kỳ khởi đầu trong bất kỳ vũ trụ nào? Hoặc có lẽ, chúng hiện hữu hai lần—ở cuối và ở đầu. |
|
121. Or do Homogeneous Spirit and Homogeneous Matter remain throughout the duration of cosmos? This may seem an abstruse question, and it is, but it is an important one. If, for-instance, the One Monad remains after emanation has begun, should not the One Matter (Mulaprakriti) also remain, regardless of the differentiations of Matter? The problem is difficult, but must necessarily be solved if it is to be determined whether any Creator (other than the One Universal Creator) can work with Virgin Matter. |
121. Hay Tinh thần Đồng Nhất và Vật chất Đồng Nhất vẫn tồn tại suốt thời lượng của vũ trụ? Đây có thể dường như là một câu hỏi khó hiểu, và đúng là như vậy, nhưng đó là một câu hỏi quan trọng. Chẳng hạn, nếu Một Chân thần vẫn còn sau khi sự phát xạ đã bắt đầu, thì chẳng phải Một Vật chất (Mulaprakriti) cũng phải vẫn còn, bất kể các biến phân của Vật chất sao? Vấn đề này khó khăn, nhưng nhất thiết phải được giải quyết nếu muốn xác định liệu có bất kỳ Đấng Sáng Tạo nào (ngoài Đấng Sáng Tạo Vũ Trụ Duy Nhất) có thể làm việc với Vật chất Đồng Trinh hay không. |
|
In terms of the physical, this union produces the objective solar system, the Son of the Father and the Mother. |
Theo phương diện hồng trần, sự hợp nhất này tạo ra hệ mặt trời khách quan, Người Con của Cha và Mẹ. |
|
122. It is at this point in the chapter that DK physicalizes the idea of the Son and calls it the “objective solar system, the Son of the Father and the Mother”. |
122. Chính tại điểm này trong chương mà DK hồng trần hóa ý niệm về Người Con và gọi nó là “hệ mặt trời khách quan, Người Con của Cha và Mẹ”. |
|
123. We must remember here, that although the objective solar system is, indeed, a Son, it is but an expression of the true Son found upon the higher subplanes of the cosmic mental plane. |
123. Ở đây chúng ta phải nhớ rằng, dù hệ mặt trời khách quan quả thực là một Người Con, nó chỉ là một biểu hiện của Người Con đích thực được tìm thấy trên các cõi phụ cao hơn của cõi trí vũ trụ. |
|
124. We, too, may be considered as the Son in the manner here suggested. In what manner? As an evolving soul expressing through the causal body and through the eighteen lower subplanes we are then physicalized Son. |
124. Chúng ta cũng có thể được xem là Người Con theo cách được gợi ý ở đây. Theo cách nào? Với tư cách là một linh hồn đang tiến hoá biểu lộ qua thể nguyên nhân và qua mười tám cõi phụ thấp hơn, khi ấy chúng ta là Người Con đã được hồng trần hóa. |
|
In terms of the subjective, it produces the Sun, as the sum total of [Page 228] the qualities of light and heat. |
Theo phương diện chủ quan, nó tạo ra Mặt Trời, như tổng số [Page 228] của các phẩm tính ánh sáng và nhiệt. |
|
125. We are now engaged in a reversal of terms. The term “Sun” will for a number of sections take on the meaning of subjectivity whereas the word “Son” will become more objective. |
125. Hiện nay chúng ta đang tham gia vào một sự đảo ngược thuật ngữ. Thuật ngữ “Sun” trong một số đoạn sẽ mang ý nghĩa của tính chủ quan, trong khi từ “Son” sẽ trở nên khách quan hơn. |
|
126. DK seems to be using this reversal for pedagogical purposes and to offer us an illuminating, alternative point of view. |
126. Dường như Chân sư DK đang dùng sự đảo ngược này vì mục đích sư phạm và để cống hiến cho chúng ta một quan điểm thay thế đầy soi sáng. |
|
127. In this section DK is pointing to subjective light and heat—and we must think in these terms. He uses the term “Sun”, in this section, symbolically, and not literally as the Sun and its planets through which the Divine Son expresses. |
127. Trong phần này, Chân sư DK đang chỉ đến ánh sáng và nhiệt chủ quan—và chúng ta phải suy nghĩ theo những thuật ngữ này. Trong phần này, Ngài dùng thuật ngữ “Sun” một cách biểu tượng, chứ không theo nghĩa đen là Mặt Trời và các hành tinh của nó, qua đó Con thiêng liêng biểu lộ. |
|
In terms of fire, by the union or at-one-ment of electric fire (Spirit) and fire by friction (energised matter) solar fire is produced. |
Xét theo lửa, nhờ sự hợp nhất hay hiệp nhất của Lửa Điện (Tinh thần) và Lửa ma sát (vật chất được tiếp năng lượng), Lửa Thái dương được tạo ra. |
|
128. From the perspective here given, fire by friction is not just matter but energized matter. In a way, it is surprising that DK attaches the idea of matter to fire by friction, as the fire is that which energizes the matter and is not matter per se. |
128. Theo quan điểm được nêu ở đây, Lửa ma sát không chỉ là vật chất mà là vật chất đã được tiếp năng lượng. Theo một nghĩa nào đó, thật đáng ngạc nhiên khi Chân sư DK gắn ý niệm vật chất với Lửa ma sát, vì lửa là cái tiếp năng lượng cho vật chất chứ không phải chính vật chất tự thân. |
|
129. May we consider that all fires are emanations of the Flame which we call the Monad? |
129. Chúng ta có thể xem mọi loại lửa đều là những phát xạ từ Ngọn Lửa mà chúng ta gọi là Chân thần chăng? |
|
This solar fire will be distinguished above all else by its evolutionary development, and by the gradual intensification of the heat to be felt, and of the light to be seen. |
Lửa Thái dương này sẽ được phân biệt trên hết bởi sự phát triển tiến hoá của nó, và bởi sự tăng cường dần dần của nhiệt được cảm nhận, và của ánh sáng được nhìn thấy. |
|
130. Solar fire evolves, and is characterized by different degrees of light and heat |
130. Lửa Thái dương tiến hoá, và được đặc trưng bởi những mức độ khác nhau của ánh sáng và nhiệt. |
|
131. The more evolved the solar fire, the greater the intensification of light and heat. As consciousness evolves solar fire evolves. |
131. Lửa Thái dương càng tiến hoá thì sự tăng cường của ánh sáng và nhiệt càng lớn. Khi tâm thức tiến hoá, Lửa Thái dương cũng tiến hoá. |
|
132. We note that heat is definitely related to touch and feeling while light, predictably, is related to sight. |
132. Chúng ta lưu ý rằng nhiệt rõ ràng liên hệ với xúc giác và cảm nhận, trong khi ánh sáng, như có thể dự đoán, liên hệ với thị giác. |
|
133. Electric fire and fire by friction can also be intensified, but pure Spirit and pure Matter cannot be intensified. In a way, they are absolutes. |
133. Lửa Điện và Lửa ma sát cũng có thể được tăng cường, nhưng Tinh thần thuần túy và Vật chất thuần túy thì không thể được tăng cường. Theo một nghĩa nào đó, chúng là những tuyệt đối. |
|
134. In our particular solar system, the intensification of solar fire is our objective. The climax of this intensification for man as man comes with the fourth initiation and reasonable argument can be offered that this climax extends to the fifth initiation. |
134. Trong hệ mặt trời đặc thù của chúng ta, sự tăng cường của Lửa Thái dương là mục tiêu của chúng ta. Đỉnh điểm của sự tăng cường này đối với con người với tư cách con người đến cùng lần điểm đạo thứ tư, và có thể đưa ra lập luận hợp lý rằng đỉnh điểm này kéo dài đến lần điểm đạo thứ năm. |
|
135. Let us summarize certain important points. We have— |
135. Chúng ta hãy tóm lược một số điểm quan trọng. Chúng ta có— |
|
a. An objective Son which is the Solar System |
a. Một Son khách quan là hệ mặt trời. |
|
b. A subjective Sun Who is the interior light and heat of solar fire |
b. Một Sun chủ quan là ánh sáng và nhiệt nội tại của Lửa Thái dương. |
|
c. Solar fire, itself, generated as the result of electric fire and fire by friction. |
c. Chính Lửa Thái dương, được tạo ra như kết quả của Lửa Điện và Lửa ma sát. |
|
136. What is evolving in a solar system? Is Spirit evolving? Not in essence. Is matter evolving? Not in essence. Or is it consciousness that is evolving? Yes. The Son is the cyclically evolving factor. |
136. Điều gì đang tiến hoá trong một hệ mặt trời? Tinh thần có đang tiến hoá không? Không, xét về bản chất cốt yếu. Vật chất có đang tiến hoá không? Không, xét về bản chất cốt yếu. Hay là tâm thức đang tiến hoá? Đúng vậy. Son là yếu tố tiến hoá theo chu kỳ. |
|
137. Interestingly, form is more related to consciousness than to matter. Form reflects consciousness. Matter is the means of substantiating (or embodying) the reflection. |
137. Điều thú vị là hình tướng liên hệ với tâm thức nhiều hơn là với vật chất. Hình tướng phản ánh tâm thức. Vật chất là phương tiện để làm cho sự phản ánh ấy có chất liệu nền tảng (hay được nhập thể). |
|
138. Immediately below DK gives us a description parallel to the description just given in which the Son was objective and the Sun was subjective…only He does it in relation to the human being |
138. Ngay bên dưới, Chân sư DK cho chúng ta một mô tả song song với mô tả vừa nêu, trong đó Son là khách quan còn Sun là chủ quan… chỉ khác là Ngài thực hiện điều đó trong liên hệ với con người. |
|
For a clearer comprehension of this abstract matter, we might consider the microcosm, or man evolving in the three worlds. Man is the product of the approximation (at present imperfect) of the two poles of Spirit (the Father in Heaven) and of matter (the Mother). |
Để hiểu rõ hơn vấn đề trừu tượng này, chúng ta có thể xét đến tiểu thiên địa, hay con người đang tiến hoá trong ba cõi thấp. Con người là sản phẩm của sự tiếp cận gần nhau (hiện nay còn bất toàn) của hai cực là Tinh thần (Đức Cha trên Trời) và vật chất (Người Mẹ). |
|
139. The word “approximation” is interestingly used. It seems to mean a gradual, magnetically induced approach and a growing interplay that precedes total engagement and fusion. |
139. Từ “approximation” được dùng thật thú vị. Dường như nó có nghĩa là một sự tiến gần dần dần do từ tính cảm ứng và một sự tương tác ngày càng tăng, đi trước sự dấn nhập hoàn toàn và sự dung hợp. |
|
140. We may pause at this point to recognize ourselves as “man”—man derived by the approximation described. |
140. Tại điểm này, chúng ta có thể dừng lại để nhận ra chính mình là “con người”—con người được hình thành từ sự tiếp cận gần nhau vừa mô tả. |
|
The result of this union is an individualised Son of God, or unit of the divine Self, an exact replica in miniature on the lowest plane of the great Son of God, the All-Self, who is in Himself the totality of all the miniature sons, of all the individualised Selves, and of each and every unit. |
Kết quả của sự hợp nhất này là một Con của Thượng đế đã được biệt ngã hóa, hay một đơn vị của Bản Ngã thiêng liêng, một bản sao chính xác ở dạng thu nhỏ trên cõi thấp nhất của Con Vĩ Đại của Thượng đế, Đại Ngã-Toàn Thể, Đấng trong chính Ngài là tổng thể của mọi người con thu nhỏ, của mọi Bản Ngã đã được biệt ngã hóa, và của từng đơn vị một. |
|
141. This is an extraordinary sentence. Objective man is being likened to the objective solar system. In this context they are both considered to be the “Son”. |
141. Đây là một câu phi thường. Con người khách quan đang được ví với hệ mặt trời khách quan. Trong ngữ cảnh này, cả hai đều được xem là “Son”. |
|
142. But we are immediately disabused of the tendency to consider the real Son as either the solar system or, microcosmically, as objective man. The real Son is the “great Son of God”, perhaps on the cosmic mental plane but perhaps above, for what is the meaning of the All-Self? In a cosmic context this All-Self would be the One and Only Self in cosmos. |
142. Nhưng ngay lập tức chúng ta được giải trừ khỏi khuynh hướng xem Son thực sự là hoặc hệ mặt trời hoặc, ở cấp tiểu thiên địa, là con người khách quan. Son thực sự là “Con Vĩ Đại của Thượng đế”, có lẽ ở trên cõi trí vũ trụ nhưng cũng có thể cao hơn, vì ý nghĩa của Đại Ngã-Toàn Thể là gì? Trong một bối cảnh vũ trụ, Đại Ngã-Toàn Thể này sẽ là Bản Ngã duy nhất và độc nhất trong vũ trụ. |
|
143. In any case, we have established that the real Son is deeply subjective and inclusive and that the miniature physical sons (whether the solar system or tiny man) are but externalizations of this great subjective Reality. |
143. Dù sao đi nữa, chúng ta đã xác lập rằng Son thực sự mang tính chủ quan sâu xa và bao gồm, còn những người con hồng trần thu nhỏ (dù là hệ mặt trời hay con người nhỏ bé) chỉ là những sự ngoại hiện của Thực Tại chủ quan vĩ đại này. |
|
144. What we learn is that the “great Son of God” is reflected in countless, miniature, physicalized sons. |
144. Điều chúng ta học được là “Con Vĩ Đại của Thượng đế” được phản chiếu trong vô số những người con thu nhỏ đã được vật chất hóa. |
|
145. Putting it another way, every microcosmic son reflects the Universal Son and is a part of it. |
145. Nói cách khác, mỗi người con tiểu thiên địa phản ánh Con Phổ Quát và là một phần của Nó. |
|
146. Immediately below DK will consider man from a subjective point of view, treating man as a subjective sun just as He viewed the subjectivity of the Solar Logos as a Sun. (Elsewhere, of course, the Sun is considered the objective factor). |
146. Ngay bên dưới, Chân sư DK sẽ xem xét con người từ một quan điểm chủ quan, xử lý con người như một mặt trời chủ quan cũng như Ngài đã xem tính chủ quan của Thái dương Thượng đế như một Sun. (Dĩ nhiên, ở nơi khác, Sun được xem là yếu tố khách quan). |
|
147. VSK suggests that when DK uses a term like “exact replica” a holographic model is presented. |
147. VSK gợi ý rằng khi Chân sư DK dùng một thuật ngữ như “bản sao chính xác”, một mô hình toàn ký được trình bày. |
|
148. VSK would have us ponder again on heat and light, the second and third senses of touch and sight, or the astral rosy warm attractive and repulsive qualities, and the vital illuminating flames or fires of mind. |
148. VSK muốn chúng ta lại suy ngẫm về nhiệt và ánh sáng, hai giác quan thứ hai và thứ ba là xúc giác và thị giác, hay những phẩm tính hồng ấm cảm dục của hấp dẫn và đẩy lùi, và những ngọn lửa hay hỏa diệm tiếp sinh lực, soi sáng của trí tuệ. |
|
The microcosm, expressed in other terms or from the subjective point of view, is a miniature sun distinguished by the qualities of heat and light. |
Tiểu thiên địa, được diễn đạt theo những thuật ngữ khác hay từ quan điểm chủ quan, là một mặt trời thu nhỏ được phân biệt bởi những phẩm tính của nhiệt và ánh sáng. |
|
149. The phrase “in other terms” suggests the subjective point of views. |
149. Cụm từ “theo những thuật ngữ khác” gợi ý những quan điểm chủ quan. |
|
150. Subjectively, man is a unit of heat and light. |
150. Xét về chủ quan, con người là một đơn vị của nhiệt và ánh sáng. |
|
151. What is this miniature sun? The Egoic Lotus. The sun here referenced must not be physical only, because on the mental plane we are, increasingly, a radiant sun. |
151. Mặt trời thu nhỏ này là gì? Hoa Sen Chân Ngã. Mặt trời được nhắc đến ở đây hẳn không chỉ là hồng trần, vì trên cõi trí, chúng ta ngày càng là một mặt trời rạng ngời. |
|
152. It is reasonable, therefore, to speak of man as a subjective sun. |
152. Vì vậy, thật hợp lý khi nói về con người như một mặt trời chủ quan. |
|
153. On many planes but especially on the higher mental plane, man is distinguished by heat and light. |
153. Trên nhiều cõi, nhưng đặc biệt trên Cõi thượng trí, con người được phân biệt bởi nhiệt và ánh sáng. |
|
154. By means of a His pedagogical technique of ‘reversing perspectives’, DK is alerting us to the presence of a sun in the subjective worlds. |
154. Bằng kỹ thuật sư phạm đảo ngược các phối cảnh của Ngài, Chân sư DK đang cảnh báo chúng ta về sự hiện diện của một mặt trời trong các thế giới chủ quan. |
|
155. But let us be alert—when speaking of the “sun” does DK always indicate a subjectivity? No. |
155. Nhưng chúng ta hãy cảnh giác—khi nói về “sun”, Chân sư DK có luôn luôn chỉ một tính chủ quan không? Không. |
|
156. Perhaps he is saying that subjectively we are like suns, but looked at objectively—does man look like a sun? One could immediately say, “no”, but it would be better to say “not yet”, because one day, objectively, man will be just as much of a sun as the Sun which is the manifestation of the subjective nature of our Solar Logos. Man will one day demonstrate objectively through a “body of fire” which will remind one of a solar blaze. |
156. Có lẽ y đang nói rằng về mặt chủ quan chúng ta giống như những mặt trời, nhưng nếu nhìn một cách khách quan—con người có trông giống một mặt trời không? Người ta có thể lập tức nói “không”, nhưng tốt hơn nên nói “chưa”, vì một ngày kia, về mặt khách quan, con người sẽ là một mặt trời không kém gì Mặt Trời vốn là sự biểu lộ của bản chất chủ quan của Thái dương Thượng đế của chúng ta. Một ngày kia con người sẽ biểu lộ một cách khách quan qua một “thể lửa”, khiến người ta nhớ đến một ngọn bùng cháy mặt trời. |
|
157. For the time being our task is to become a sun subjectively. Had we the correct vision, we would see ourselves on the higher mental plane as suns. We would see subjective radiant suns, could we but see causally. Imagination approximates this apprehension. |
157. Hiện thời, nhiệm vụ của chúng ta là trở thành một mặt trời về mặt chủ quan. Nếu chúng ta có linh thị đúng đắn, chúng ta sẽ thấy chính mình trên Cõi thượng trí như những mặt trời. Chúng ta sẽ thấy những mặt trời rạng ngời chủ quan, nếu chúng ta có thể thấy ở cấp nguyên nhân. Sự tưởng tượng tiến gần đến sự nắm bắt này. |
|
At present |
Hiện nay |
|
158. We are considering man as the microcosm functioning in the lower three worlds |
158. Chúng ta đang xem xét con người như tiểu thiên địa đang hoạt động trong ba cõi thấp. |
|
that light is “under the bushel,” or deeply hidden by a veil of matter, |
ánh sáng ấy đang “ở dưới cái đấu”, hay bị che giấu sâu kín bởi một bức màn vật chất, |
|
159. The “bushel” is the lower eighteen subplanes. These subplanes act as many veils hiding the causal sun on the higher mental plane. |
159. “Cái đấu” là mười tám cõi phụ thấp. Những cõi phụ này hoạt động như nhiều bức màn che giấu mặt trời nguyên nhân trên cõi thượng trí. |
|
but in due process of evolution it will shine forth to such an extent that the veils will be lost from sight in a blaze of exceeding glory. |
nhưng theo tiến trình thích đáng của tiến hoá, nó sẽ chiếu rạng đến mức những bức màn sẽ mất khỏi tầm nhìn trong một luồng chói sáng của vinh quang siêu vượt. |
|
160. We are again speaking of that climactic moment which the fourth degree represents. |
160. Chúng ta lại đang nói về khoảnh khắc đỉnh điểm mà cấp độ thứ tư tượng trưng. |
|
161. A question remains: how many physically survive the taking of the fourth degree? Apparently this initiation need not end in physical death as there are those who take the fourth and fifth degrees in the same incarnation. |
161. Một câu hỏi vẫn còn đó: có bao nhiêu người còn sống về mặt thể xác sau khi tiếp nhận cấp độ thứ tư? Rõ ràng điểm đạo này không nhất thiết phải kết thúc bằng cái chết thể xác, vì có những người tiếp nhận cấp độ thứ tư và thứ năm trong cùng một lần lâm phàm. |
|
162. So, if one physically survives the fourth degree, the veils will be lost from sight—but not destroyed. |
162. Vì vậy, nếu một người còn sống về mặt thể xác sau cấp độ thứ tư, các bức màn sẽ mất khỏi tầm nhìn—nhưng không bị hủy diệt. |
|
163. If the fourth degree terminates in physical death (as it sometimes does), the veils, along with the lower atomic triangle, will be destroyed. In this case the candidate for Mastership would have to take that degree outside of physical incarnation or in a projected mayavirupa—a strange thought! |
163. Nếu cấp độ thứ tư kết thúc bằng cái chết thể xác (như đôi khi xảy ra), các bức màn, cùng với tam giác nguyên tử thấp, sẽ bị hủy diệt. Trong trường hợp này, ứng viên cho Chân sư vị sẽ phải tiếp nhận cấp độ ấy ngoài lâm phàm hồng trần hoặc trong một mayavirupa được phóng chiếu—một ý nghĩ thật lạ lùng! |
|
164. Should one physically survive the taking of the fourth degree, the veils, in a sense, would seem to remain, but they will have been rendered transparent and non-obstructive. How this may be accomplished is presently a mystery. |
164. Nếu một người còn sống về mặt thể xác sau khi tiếp nhận cấp độ thứ tư, các bức màn, theo một nghĩa nào đó, sẽ dường như vẫn còn, nhưng chúng sẽ trở nên trong suốt và không còn cản trở. Hiện nay, điều này có thể được thực hiện như thế nào vẫn còn là một huyền nhiệm. |
|
165. Or are they immediately replaced by a Mayavirupa? This seems unlikely, as such a will-created body is usually a reflection of the body in which the Arhat took the fifth initiation. |
165. Hay là chúng lập tức được thay thế bằng một Mayavirupa? Điều này dường như không có khả năng, vì một thể do ý chí tạo ra như thế thường là sự phản chiếu của thể mà trong đó vị A La Hán đã tiếp nhận lần điểm đạo thứ năm. |
|
166. As evolution proceeds and as the fires burn, the veils will be rendered ever-more transparent and the light “hidden under the bushel” will shine through with greater intensity. The climactic moment, however, reduces the veiling effect greatly. |
166. Khi tiến hoá tiếp diễn và khi các ngọn lửa bừng cháy, các bức màn sẽ ngày càng trở nên trong suốt hơn và ánh sáng “ẩn dưới cái đấu” sẽ chiếu xuyên qua với cường độ lớn hơn. Tuy nhiên, khoảnh khắc đỉnh điểm làm giảm mạnh hiệu quả che phủ. |
|
167. Perhaps the fifth degree (the Initiation of Revelation) must be taken before man can shine forth as the blazing sun—on all levels of his manifestation. |
167. Có lẽ lần điểm đạo thứ năm (Cuộc Điểm Đạo Mặc Khải) phải được tiếp nhận trước khi con người có thể chiếu rạng như mặt trời bừng cháy—trên mọi cấp độ biểu lộ của y. |
|
168. The relationship between the fourth and fifth initiations hold some enigmas which have been far from solved by students of occultism. |
168. Mối liên hệ giữa lần điểm đạo thứ tư và thứ năm chứa đựng một số điều bí ẩn mà các đạo sinh huyền bí học còn lâu mới giải quyết được. |
|
At present the microcosmic heat is of small degree, or the magnetic radiation between the microcosmic units is but little felt (in the occult significance of the term), |
Hiện nay, nhiệt của tiểu thiên địa còn ở mức nhỏ, hay bức xạ từ tính giữa các đơn vị tiểu thiên địa chỉ được cảm nhận rất ít (theo ý nghĩa huyền bí của thuật ngữ này), |
|
169. The microcosmic heat of which we are speaking is the heat of solar fire as it makes itself felt shining through the veils. In the disciple and initiate these veils are attenuating. |
169. Nhiệt của tiểu thiên địa mà chúng ta đang nói đến là nhiệt của Lửa Thái dương khi nó tự biểu lộ bằng cách chiếu xuyên qua các bức màn. Ở đệ tử và điểm đạo đồ, những bức màn này đang mỏng dần. |
|
170. As solar fire intensifies there will be a corresponding increase of “magnetic radiation between the microcosmic units”. This will signify a growing group consciousness. |
170. Khi Lửa Thái dương tăng cường, sẽ có sự gia tăng tương ứng của “bức xạ từ tính giữa các đơn vị tiểu thiên địa”. Điều này sẽ biểu thị một tâm thức nhóm đang lớn mạnh. |
|
but as time proceeds, the emanations of heat, |
nhưng khi thời gian trôi qua, những phát xạ của nhiệt, |
|
171. Heat, in this context, is another name for “spiritual energy” |
171. Trong ngữ cảnh này, nhiệt là một tên gọi khác của “năng lượng tinh thần”. |
|
—due to intensification of the inner flame, coupled with the assimilated radiation of other units—will increase, |
—do sự tăng cường của ngọn lửa bên trong, kết hợp với bức xạ đã được đồng hóa từ các đơn vị khác—sẽ gia tăng, |
|
172. The jewel in the lotus can be considered an “inner flame”. The jewel is an increasingly radiant and fiery demonstration. |
172. Viên ngọc trong hoa sen có thể được xem là một “ngọn lửa bên trong”. Viên ngọc là một biểu hiện ngày càng rạng ngời và rực lửa. |
|
173. The Monad, too, is even more an inner flame, and that monadic flame is increasing in intensity as the time for the fourth initiation approaches. |
173. Chân thần cũng còn là một ngọn lửa bên trong hơn nữa, và ngọn lửa chân thần ấy đang tăng cường cường độ khi thời điểm của lần điểm đạo thứ tư đến gần. |
|
174. The radiant, subjective demonstration of fire increases due to group interplay. As others of the group increase their spiritual fire and light, the group-related unit absorbs their fire and light and, thus, increases his own. |
174. Biểu hiện rạng ngời, chủ quan của lửa gia tăng nhờ sự tương tác nhóm. Khi những người khác trong nhóm gia tăng lửa và ánh sáng tinh thần của họ, đơn vị liên hệ với nhóm hấp thụ lửa và ánh sáng của họ và do đó gia tăng lửa và ánh sáng của chính y. |
|
and become of such proportions that the interaction between the individualised Selves will result in the merging to perfection of the flame within each one, |
và trở nên có quy mô đến mức sự tương tác giữa các Bản Ngã đã được biệt ngã hóa sẽ dẫn đến sự hòa nhập hoàn hảo của ngọn lửa bên trong mỗi người, |
|
175. Here is discussed the glory of group consciousness and spiritual interplay. |
175. Ở đây đang bàn đến vinh quang của tâm thức nhóm và sự tương tác tinh thần. |
|
176. We understand, now, how a group of initiates may be produced through the augmentation of fire due to an intensified group process. Many sticks burning individually may suddenly become part of a general conflagration. |
176. Giờ đây chúng ta hiểu cách một nhóm điểm đạo đồ có thể được tạo ra qua sự gia tăng lửa do một tiến trình nhóm được tăng cường. Nhiều que củi cháy riêng lẻ có thể đột nhiên trở thành một phần của một đám cháy lớn chung. |
|
and a blending of the heat; this will proceed until there is “one flame with countless sparks” within it, |
và một sự hòa trộn của nhiệt; điều này sẽ tiếp diễn cho đến khi có “một Ngọn Lửa với vô số tia lửa” bên trong nó, |
|
177. The One Flame is the Greater Life from which the Monads hang (“by the finest thread of Fohat”) as “countless undetached sparks”. |
177. Một Ngọn Lửa là Sự sống Vĩ Đại mà từ đó các Chân thần được treo vào (“bằng sợi chỉ Fohat mảnh nhất”) như “vô số tia lửa không tách rời”. |
|
178. What is being described is the glory of full group consciousness. We are discussing a highly initiated group passing through a phase of very high spiritual consummation. |
178. Điều đang được mô tả là vinh quang của tâm thức nhóm trọn vẹn. Chúng ta đang bàn đến một nhóm được điểm đạo rất cao đang đi qua một giai đoạn thành tựu tinh thần rất cao. |
|
179. Perhaps the process of group initiation (as it will be experienced in future days upon this planet) is being prefigured by the Tibetan’s words. |
179. Có lẽ tiến trình điểm đạo nhóm (như nó sẽ được trải nghiệm trong những ngày tương lai trên hành tinh này) đang được lời của Chân sư Tây Tạng báo trước. |
|
until the heat is general and balanced. |
cho đến khi nhiệt trở nên phổ quát và quân bình. |
|
180. The Libran effect is also present, along with that of Leo (the sign which is, we may infer, very powerful at the fifth initiation of Mastership, for Leo is the fifth sign). |
180. Hiệu ứng của Thiên Bình cũng hiện diện, cùng với hiệu ứng của Sư Tử (dấu hiệu mà, chúng ta có thể suy ra, rất mạnh ở lần điểm đạo thứ năm của Chân sư vị, vì Sư Tử là dấu hiệu thứ năm). |
|
181. We are discussing the future glory of humanity and also the present state (in terms of fire) of the great Ashram. |
181. Chúng ta đang bàn về vinh quang tương lai của nhân loại và cũng về trạng thái hiện tại (xét theo lửa) của đại Ashram. |
|
When this is the case and each Son of God [from the objective aspect] is a perfected Sun [inwardly and from the subjective aspect], characterised by perfectly expressed light and heat, [Page 229] then the entire solar system, the greater Son of God, will be the perfected Sun. |
Khi điều này xảy ra và mỗi Con của Thượng đế [từ phương diện khách quan] là một Sun hoàn hảo [ở nội tâm và từ phương diện chủ quan], được đặc trưng bởi ánh sáng và nhiệt được biểu lộ hoàn hảo, [Page 229] thì toàn bộ hệ mặt trời, Con Vĩ Đại hơn của Thượng đế, sẽ là Sun hoàn hảo. |
|
182. Master DK has presented us with a vision of great beauty and power. |
182. Chân sư DK đã trình bày cho chúng ta một linh ảnh có vẻ đẹp và quyền năng lớn lao. |
|
183. The climax described portrays the effulgence of our entire solar system. From the glorious group, DK has transitioned to the glory of solar fulfillment. |
183. Đỉnh điểm được mô tả phác họa sự huy hoàng rực rỡ của toàn bộ hệ mặt trời của chúng ta. Từ nhóm vinh quang, Chân sư DK đã chuyển sang vinh quang của sự viên mãn mặt trời. |
|
184. In this climactic paragraph it is actually difficult to determine His use of Son and Sun, for He seems to be discussing the Son (both objectively and subjectively) simultaneously with the Sun (both subjectively and objectively). A little pondering will reveal His fusion of terms. |
184. Trong đoạn đỉnh điểm này, thật ra khó xác định cách Ngài dùng Son và Sun, vì dường như Ngài đang đồng thời bàn về Son (cả khách quan lẫn chủ quan) cùng với Sun (cả chủ quan lẫn khách quan). Suy ngẫm một chút sẽ cho thấy sự dung hợp các thuật ngữ của Ngài. |
|
185. At this climax, microcosmically, we shall: |
185. Ở đỉnh điểm này, xét theo tiểu thiên địa, chúng ta sẽ: |
|
a. Be the perfected Son on the outer plane |
a. Là Son hoàn hảo trên cõi bên ngoài. |
|
b. Who is a representative of the Great Son of God on the higher mental plane |
b. Là đại diện của Con Vĩ Đại của Thượng đế trên Cõi thượng trí. |
|
c. Inwardly we shall be ablaze in glory and, thus, a subjective sun |
c. Ở nội tâm, chúng ta sẽ bừng cháy trong vinh quang và do đó là một sun chủ quan. |
|
d. And outwardly as well through our body of fire, and, thus, an objective sun. |
d. Và ở bên ngoài cũng vậy qua thể lửa của chúng ta, và do đó là một sun khách quan. |
|
186. VSK offer a most occult suggestion: Note the anagram with flame as f/male; this combustion on some level being suggestive of the re-mergence of the sexes or the marriage of the Capricorn and Scorpio Hierarchies. |
186. VSK đưa ra một gợi ý hết sức huyền bí: hãy lưu ý phép đảo chữ với flame thành f/male; sự bốc cháy này ở một cấp độ nào đó gợi ý sự tái hợp nhất của hai giới tính hay cuộc hôn phối của các Huyền Giai Hổ Cáp và Ma Kết. |
|
The system will then be characterised by a “blaze of refulgent glory,” |
Hệ thống khi ấy sẽ được đặc trưng bởi một “luồng chói sáng của vinh quang rực rỡ,” |
|
187. We are dealing with solar consummation, a climactic stage far beyond the stage of sacred planet destined for our own little Earth. |
187. Chúng ta đang bàn đến sự viên mãn mặt trời, một giai đoạn đỉnh điểm vượt xa giai đoạn hành tinh thiêng liêng được định cho Trái Đất nhỏ bé của chúng ta. |
|
188. How far ahead is this consummation? We can say, no farther than the disappearance of the physical aspect of the solar system. This will certainly be billions of years into the future, and, if the Hindu chronology is to be believed, perhaps trillions of years. |
188. Sự viên mãn này còn xa đến mức nào? Chúng ta có thể nói, không xa hơn sự biến mất của phương diện hồng trần của hệ mặt trời. Điều này chắc chắn còn hàng tỉ năm trong tương lai, và nếu niên đại học Ấn Độ giáo là đáng tin, có lẽ là hàng nghìn tỉ năm. |
|
189. Sri Yuktiswar suggests a chronology much shortened when compared with the chronology from by HPB is working. Which is correct? |
189. Sri Yuktiswar gợi ý một niên đại được rút ngắn rất nhiều so với niên đại mà HPB đang vận dụng. Cái nào đúng? |
|
and by a radiation that will link it up with its cosmic centre, and thus effect the liberation of the Son, and His return to the far distant source from whence the primal impulse originated. |
và bởi một bức xạ sẽ nối kết nó với trung tâm vũ trụ của nó, và như thế thực hiện sự giải thoát của Son, và sự trở về của Ngài đến nguồn cội xa xăm, từ đó xung lực nguyên thủy đã phát sinh. |
|
190. Is the “cosmic centre” the same as the “far distant source”? |
190. “Trung tâm vũ trụ” có phải là cùng một điều với “nguồn cội xa xăm” không? |
|
191. Sirius may be considered the “cosmic center” to which our solar system and its Solar Logos are related. Or that “cosmic centre” may be a source of still greater scope. |
191. Sirius có thể được xem là “trung tâm vũ trụ” mà hệ mặt trời và Thái dương Thượng đế của chúng ta có liên hệ. Hoặc “trung tâm vũ trụ” ấy có thể là một nguồn có tầm mức còn lớn hơn nữa. |
|
192. As for the “far distant source from which the primal impulse originated”, perhaps we should think of it as the Pleiades with its central star, Alcyone. It would seem that for our Solar Logos, Who is ‘treading’ the sixth Cosmic Path, the Pleiades and the cosmic buddhic plane are the goal and perhaps the origin (as entities tend to return to their place of origin). |
192. Còn về “nguồn cội xa xăm từ đó xung lực nguyên thủy phát sinh”, có lẽ chúng ta nên nghĩ đến nó như là Pleiades với ngôi sao trung tâm của nó, Alcyone. Dường như đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta, Đấng đang “bước đi” trên Con đường Vũ Trụ thứ sáu, Pleiades và cõi Bồ đề vũ trụ là mục tiêu và có lẽ cũng là nguồn gốc (vì các thực thể có khuynh hướng trở về nơi xuất phát của mình). |
|
193. What is the meaning of the “liberation of the Son”? |
193. “Sự giải thoát của Son” có nghĩa là gì? |
|
194. The liberation of the Son—involves, on the one hand, the material factors/forces which represented the subjective solar Jiva—meaning that the lunar factors/forces and lesser devic factors/forces are also liberated |
194. Sự giải thoát của Son—một mặt, bao hàm các yếu tố/lực vật chất vốn đại diện cho Jiva mặt trời chủ quan—nghĩa là các yếu tố/lực thái âm và các yếu tố/lực thiên thần thấp hơn cũng được giải thoát. |
|
195. However, it is certainly not only the liberation of the relatively physical aspects of the solar system (though that must be considered), but rather of the solar logoic Soul in incarnation. That Soul (itself an extension of the solar logoic Monad) can again return to its monadic source. |
195. Tuy nhiên, chắc chắn đó không phải là chỉ sự giải thoát của các phương diện tương đối hồng trần của hệ mặt trời (dù điều đó phải được xét đến), mà đúng hơn là của Linh hồn thái dương logoic đang lâm phàm. Linh hồn ấy (bản thân nó là một sự mở rộng của Chân thần thái dương logoic) có thể lại trở về nguồn chân thần của nó. |
|
196. If the Son were simply a term representing the material solar system, it could not be equivalent to that which is liberated and which, in being liberated, returns to a “far distant source”. |
196. Nếu Son chỉ đơn giản là một thuật ngữ đại diện cho hệ mặt trời vật chất, thì nó không thể tương đương với cái được giải thoát và, trong khi được giải thoát, trở về một “nguồn cội xa xăm”. |
|
197. Some interesting ideas were discussed: |
197. Một số ý tưởng thú vị đã được bàn đến: |
|
a. May it be that a Solar Logos has Solar Angels at its own level? That they create the causal body of the Solar Logos, and are liberated at the fourth initiation of the Solar Logos? |
a. Có thể nào một Thái dương Thượng đế có các Thái dương Thiên Thần ở chính cấp độ của nó? Rằng các vị ấy tạo ra thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế, và được giải thoát ở lần điểm đạo thứ tư của Thái dương Thượng đế? |
|
b. There may have been a cosmic failure with respect to the Great Bear through developments on the star Alioth (the third star from the outer point of the Bear’s Tail). This failure may have been influential in inducing a solar logoic failure through the third ray solar system, that preceded our own. This earlier solar logoic failure may have transferred its influence to the third chain of our Earth scheme (the Moon-chain failure), and then perhaps to a third ray root race (Lemurian), which retarded itself and the subsequent development of the human race, through the “sin of the mindless”. All these failures are connected with the third aspect of divinity. |
b. Có thể đã có một thất bại vũ trụ liên quan đến Đại Hùng Tinh do những diễn biến trên ngôi sao Alioth (ngôi sao thứ ba tính từ điểm ngoài cùng của Đuôi Gấu). Thất bại này có thể đã có ảnh hưởng trong việc gây ra một thất bại thái dương logoic qua hệ mặt trời cung ba, vốn đi trước hệ mặt trời của chúng ta. Thất bại thái dương logoic trước đó có thể đã chuyển ảnh hưởng của nó sang dãy thứ ba của hệ hành tinh Địa Cầu của chúng ta (thất bại của Dãy Mặt Trăng), và rồi có lẽ sang một giống dân gốc cung ba (Lemuria), vốn đã tự làm chậm trễ chính mình và sự phát triển tiếp theo của giới nhân loại, qua “tội lỗi của những kẻ vô trí”. Tất cả những thất bại này đều liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính. |
|
c. We also learn that there was a failure within the Pleiades, as one of their number made a great mistake in marrying a “mortal”—most reasonably our non-sacred Earth—and, therefore, had to hide her face in “shame”. This is the legend of the “Lost Pleiad”. |
c. Chúng ta cũng biết rằng đã có một thất bại trong Pleiades, khi một trong số họ phạm một sai lầm lớn khi kết hôn với một “người phàm”—hợp lý nhất là Trái Đất không thiêng liêng của chúng ta—và do đó đã phải che mặt trong “xấu hổ”. Đây là truyền thuyết về “Pleiad Thất Lạc”. |
|
d. We are told that cosmic evil (at least upon our planet) results from a lack of proper alignment or adjustment between one of the stars in the Great Bear (Alioth?), one of the stars in the Pleiades (Merope?) and our Earth. We can see, then, the likelihood that cosmic evil arises through lack of proper alignment or adjustment between factors representing the third ray. It should be remembered that our Earth (so involved with this important misalignment, has a third ray personality. When that third ray is superseded by Earth’s second ray soul, can we expect that the misalignment will be broken? |
d. Chúng ta được cho biết rằng điều ác vũ trụ (ít nhất là trên hành tinh của chúng ta) phát sinh từ sự thiếu chỉnh hợp hay điều chỉnh thích đáng giữa một trong các ngôi sao của Đại Hùng Tinh (Alioth?), một trong các ngôi sao của Pleiades (Merope?) và Trái Đất của chúng ta. Khi ấy, chúng ta có thể thấy khả năng rằng điều ác vũ trụ phát sinh qua sự thiếu chỉnh hợp hay điều chỉnh thích đáng giữa các yếu tố đại diện cho cung ba. Nên nhớ rằng Trái Đất của chúng ta (liên hệ sâu với sự lệch chỉnh hợp quan trọng này) có một cung phàm ngã cung ba. Khi cung ba ấy được thay thế bởi cung linh hồn cung hai của Trái Đất, chúng ta có thể mong đợi rằng sự lệch chỉnh hợp ấy sẽ bị phá vỡ chăng? |
|
e. As a result of the foregoing perhaps we may conclude our Solar System (just like our planet) is not as advanced as it should be, especially because of the rebellion in the last solar system, itself perhaps induced by mal-alignments involving the stars in the Great Bear and Pleiades. |
e. Từ những điều trên, có lẽ chúng ta có thể kết luận rằng hệ mặt trời của chúng ta (cũng như hành tinh của chúng ta) không tiến bộ như lẽ ra phải thế, đặc biệt vì cuộc phản loạn trong hệ mặt trời trước, bản thân nó có lẽ được gây ra bởi những lệch chỉnh hợp liên quan đến các ngôi sao trong Đại Hùng Tinh và Pleiades. |
|
f. Since Earth is a powerful kundalinic factor within our solar system, this entire planet must be submitted to purification if solar systemic kundalini is to work. |
f. Vì Trái Đất là một yếu tố kundalinic mạnh mẽ trong hệ mặt trời của chúng ta, toàn bộ hành tinh này phải được đưa vào sự thanh lọc nếu kundalini của toàn hệ mặt trời muốn hoạt động. |
|
g. Earth, we are told, has a first ray Monad, and is the base of the spine center of the Solar Logos. The Solar Logos is probably to take the fifth initiation at the end of this solar system, therefore Earth will become very active in a first ray manner. By that time it will be a sacred planet and have access to its monadic energy. |
g. Chúng ta được cho biết rằng Trái Đất có một Chân thần cung một, và là trung tâm đáy cột sống của Thái dương Thượng đế. Thái dương Thượng đế có lẽ sẽ tiếp nhận lần điểm đạo thứ năm vào cuối hệ mặt trời này, vì vậy Trái Đất sẽ trở nên rất hoạt động theo cách của Cung một. Đến lúc đó nó sẽ là một hành tinh thiêng liêng và có thể tiếp cận năng lượng chân thần của nó. |
|
h. We also remember that at the fifth initiation (of man, at least) the base of the spine center is the most activated chakra. Thus, by analogy, the importance of Earth at that critical time for our Solar Logos. |
h. Chúng ta cũng nhớ rằng ở lần điểm đạo thứ năm (ít nhất là của con người), trung tâm đáy cột sống là luân xa được hoạt hóa mạnh nhất. Vì vậy, theo định luật tương ứng, tầm quan trọng của Trái Đất vào thời điểm trọng yếu ấy đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta. |
|
i. Our Earth has an analogical relationship to the cosmic Dragon, Draco, who represents cosmic kundalini in the One About Whom Naught May Be Said. |
i. Trái Đất của chúng ta có một mối liên hệ tương đồng với con Rồng vũ trụ, Draco, vốn đại diện cho kundalini vũ trụ trong Đấng Bất Khả Tư Nghị. |
|
j. Planetary Logoi are called “Dragons of Wisdom” and on our Earth, particularly, advanced human beings are known as “Dragons of Wisdom”, “Serpents” or “Beneficent Dragons”. |
j. Các Hành Tinh Thượng đế được gọi là “Những Con Rồng Minh Triết” và trên Trái Đất của chúng ta, đặc biệt, những con người tiến hóa cao được biết đến như “Những Con Rồng Minh Triết”, “Những Con Rắn” hay “Những Con Rồng Từ Lành”. |
|
k. It is clear that the ‘Dragon Power’ on Earth is not yet released. It is far too impure and is still a non-sacred planet (in relation to which the monadic ray, the first in this case, cannot be effective). |
k. Rõ ràng là “Quyền năng Rồng” trên Trái Đất vẫn chưa được giải phóng. Nó còn quá bất tịnh và Trái Đất vẫn là một hành tinh không thiêng liêng (liên hệ với nó, cung chân thần, trong trường hợp này là cung một, chưa thể hữu hiệu). |
|
l. Our Earth through its Earth-chain, however, is passing through a great systemic crucifixion, and the necessary planetary crucifixion is underway. |
l. Tuy nhiên, Trái Đất của chúng ta qua Dãy Địa Cầu của nó đang đi qua một cuộc đóng đinh hệ thống lớn lao, và cuộc đóng đinh hành tinh cần thiết đang diễn ra. |
|
m. We can see that our human problems on Earth may have causes buried in the “night of time”, and we should attempt, when we are capable of such encompassing thought, to see them in this perspective. |
m. Chúng ta có thể thấy rằng những vấn đề nhân loại của chúng ta trên Trái Đất có thể có những nguyên nhân chôn sâu trong “đêm của thời gian”, và chúng ta nên cố gắng, khi có khả năng tư duy bao quát như thế, nhìn chúng trong phối cảnh này. |
|
n. From a certain view, we human beings are elementals of the our solar system. Just as in relation to our own energy system, elementals are to become devas, so we (as solar systemic elemental lives) are to become solar systemic devic lives—perhaps akin to the solar angels who supervise us. At such a time we would (symbolically and, maybe, literally) sprout wings (of an energetic nature). But we will not do so unless our heart becomes winged. |
n. Theo một quan điểm nào đó, chúng ta, những con người, là các hành khí của hệ mặt trời của chúng ta. Cũng như trong liên hệ với hệ thống năng lượng riêng của chúng ta, các hành khí sẽ trở thành thiên thần, thì chúng ta (với tư cách các sự sống hành khí của hệ mặt trời) sẽ trở thành các sự sống thiên thần của hệ mặt trời—có lẽ tương tự các Thái dương Thiên Thần đang giám sát chúng ta. Vào lúc ấy, chúng ta sẽ mọc cánh (một cách biểu tượng và có thể cả theo nghĩa đen) với bản chất năng lượng. Nhưng chúng ta sẽ không làm được điều đó trừ phi trái tim chúng ta trở nên có cánh. |
|
198. A definition of the term Jiva also was formulated: The Jiva is the extension of monadic presence and consciousness within the five lower worlds. The Jiva is the Monad in extension. Jiva does not take anything objective back to its source, the Monad. |
198. Một định nghĩa về thuật ngữ Jiva cũng đã được hình thành: Jiva là sự mở rộng của sự hiện diện và tâm thức chân thần trong năm cõi thấp. Jiva là Chân thần-trong-sự-mở-rộng. Jiva không mang bất cứ điều gì khách quan trở lại nguồn của nó là Chân thần. |
|
199. NOTE: Below are multiple definitions of the Son. DK summarizes all the perspectives for understanding the Son, so let us them study carefully. He seems to list them from the most objective to the more subjective. |
199. LƯU Ý: Bên dưới là nhiều định nghĩa về Son. Chân sư DK tóm lược mọi phối cảnh để hiểu Son, vì vậy chúng ta hãy nghiên cứu chúng cẩn thận. Dường như Ngài liệt kê chúng từ mức khách quan nhất đến chủ quan hơn. |
|
Therefore, bear in mind: |
Vì vậy, hãy ghi nhớ: |
|
First, that the Son is the radiant result of the union of Spirit and Matter, and may be considered as the totality of the solar system, the Sun and the seven sacred planets. |
Thứ nhất, rằng Son là kết quả rạng ngời của sự hợp nhất giữa Tinh thần và Vật chất, và có thể được xem là tổng thể của hệ mặt trời, Mặt Trời và bảy hành tinh thiêng liêng. |
|
200. From this perspective the Son can be considered a grand totality of the Sun, solar system, and the seven sacred planets, and really, all planets. The Son considered as the objective solar system is emphasized. |
200. Theo quan điểm này, Son có thể được xem là một tổng thể vĩ đại của Mặt Trời, hệ mặt trời và bảy hành tinh thiêng liêng, và thật ra là mọi hành tinh. Ở đây, Son được nhấn mạnh như hệ mặt trời khách quan. |
|
Second, that the Son manifests through his qualities of light and heat, as does the solar Sun. |
Thứ hai, rằng Son biểu lộ qua những phẩm tính ánh sáng và nhiệt của y, cũng như solar Sun. |
|
201. In this case the Son is viewed more subjectively, likened, in its interior qualities of light and heat, to the solar Sun. |
201. Trong trường hợp này, Son được nhìn theo cách chủ quan hơn, được ví, trong những phẩm tính nội tại của ánh sáng và nhiệt, với solar Sun. |
|
Third, that the Son is the product of the electrical union of “fire by friction” and electric fire, and is Himself “solar fire” or the manifestation of the other two, hence that which is seen and that which is felt. |
Thứ ba, rằng Son là sản phẩm của sự hợp nhất điện giữa “Lửa ma sát” và Lửa Điện, và chính Ngài là “Lửa Thái dương” hay sự biểu lộ của hai loại kia, do đó là cái được thấy và cái được cảm nhận. |
|
202. The Son in this case is definitely subjective, solar fire born of electric fire and fire by friction. Even though the Son is subjective, he is, nevertheless, “that which is seen and that which is felt”. The seeing and feeling need not be confined to objective dimensions. The Son in this case is the expression of consciousness through form. |
202. Trong trường hợp này, Son rõ ràng là chủ quan, là Lửa Thái dương sinh ra từ Lửa Điện và Lửa ma sát. Dù Son là chủ quan, tuy nhiên y vẫn là “cái được thấy và cái được cảm nhận”. Sự thấy và cảm nhận không nhất thiết bị giới hạn trong các chiều kích khách quan. Trong trường hợp này, Son là sự biểu lộ của tâm thức qua hình tướng. |
|
Finally, that the Son, therefore, is the middle manifestation, and is produced by that which is above, and that which is below, in the occult sense. |
Sau cùng, rằng Son, vì vậy, là biểu lộ trung gian, và được tạo ra bởi cái ở trên và cái ở dưới, theo ý nghĩa huyền bí. |
|
203. The “middle manifestation” is really all that can be seen. It is said that “no one hath seen the Father”. It would be equally true to say that ‘no one hath seen the Mother—as She is–essentially”. But all the forms into which the Mother is built and which the Father vitalizes and sustains—these are seen. |
203. “Biểu lộ trung gian” thật ra là tất cả những gì có thể được thấy. Người ta nói rằng “không ai từng thấy Đức Cha”. Cũng đúng như vậy nếu nói rằng “không ai từng thấy Người Mẹ—như Bà là—về bản chất cốt yếu”. Nhưng tất cả những hình tướng mà trong đó Người Mẹ được kiến tạo và được Đức Cha tiếp sinh lực và duy trì—thì đều được thấy. |
|
Therefore, the Son on His own plane (the cosmic mental plane), is the egoic body of the Logos in the same sense as the egoic body of the microcosm is the product of the union of the Monad, or Spirit, and matter. |
Vì vậy, Son trên cõi riêng của Ngài (cõi trí vũ trụ), là thể chân ngã của Logos theo cùng ý nghĩa như thể chân ngã của tiểu thiên địa là sản phẩm của sự hợp nhất giữa Chân thần, hay Tinh thần, và vật chất. |
|
204. Here is the true definition of the Son on his own plane emerges. In this highest of all sense, the Son is the “Heart of the Sun”, the “Subjective Sun”, the Egoic Body of the Solar Logos. |
204. Ở đây xuất hiện định nghĩa chân thực về Son trên cõi riêng của y. Theo ý nghĩa cao nhất này, Son là “Trái Tim của Mặt Trời”, “Mặt Trời Chủ Quan”, Thể Chân Ngã của Thái dương Thượng đế. |
|
Just as the body egoic of man (that which is called the causal body) is only in process of formation, and is not yet perfected, so we may predicate the same of the solar system, as it expresses the Life of God. |
Cũng như thể chân ngã của con người (cái được gọi là thể nguyên nhân) mới chỉ đang trong tiến trình hình thành và chưa hoàn hảo, thì chúng ta cũng có thể khẳng định điều tương tự đối với hệ mặt trời, khi nó biểu lộ Sự sống của Thượng đế. |
|
205. The Egoic Body of the Logos is not yet perfect. Our Logos has not even taken the third degree—cosmically considered, though in terms of its fourth scheme, the Earth Scheme is may be in process of taking its fourth minor initiation in a series of nine. |
205. Thể Chân Ngã của Logos vẫn chưa hoàn hảo. Logos của chúng ta thậm chí còn chưa tiếp nhận cấp độ thứ ba—nếu xét theo vũ trụ, dù xét theo hệ hành tinh thứ tư của Ngài, Hệ Địa Cầu có thể đang trong tiến trình tiếp nhận lần điểm đạo nhỏ thứ tư trong một chuỗi chín lần. |
|
206. So much depends upon whether we look at the Earth-scheme from the scheme angle or from the chain angle. |
206. Quá nhiều điều tùy thuộc vào việc chúng ta nhìn Hệ Địa Cầu từ góc độ hệ hành tinh hay từ góc độ dãy. |
|
207. From the chain angle (considering our Earth-scheme as but a chain to our Solar Logos), the fourth minor initiation of our Solar Logos may correspond with the fourth minor initiation which our Planetary Logos is undergoing through its own Earth-chain. |
207. Từ góc độ dãy (xem Hệ Địa Cầu của chúng ta chỉ như một dãy đối với Thái dương Thượng đế), lần điểm đạo nhỏ thứ tư của Thái dương Thượng đế có thể tương ứng với lần điểm đạo nhỏ thứ tư mà Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang trải qua qua chính Dãy Địa Cầu của Ngài. |
|
208. From the scheme angle, will it be true that as our Solar Logos takes His fourth major initiation or cosmic initiation, our planet, the Earth, will be undergoing its fourth major initiation? For now, the second major or cosmic initiation is the goal for our Planetary Logos, but much may be possible in the future. These are very recondite points and require much pondering and comparative analysis. |
208. Từ góc độ hệ hành tinh, có đúng chăng rằng khi Thái dương Thượng đế của chúng ta tiếp nhận lần điểm đạo lớn thứ tư hay điểm đạo vũ trụ, hành tinh của chúng ta, Trái Đất, sẽ đang trải qua lần điểm đạo lớn thứ tư của nó? Hiện nay, lần điểm đạo lớn hay vũ trụ thứ hai là mục tiêu của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, nhưng trong tương lai nhiều điều có thể xảy ra. Đây là những điểm rất thâm áo và đòi hỏi nhiều suy ngẫm cùng phân tích so sánh. |
|
It is in process of perfecting. The Son, manifesting through the Sun and its sphere of influence, is yet in a state of gradual development, and not until each cell within His body is fully alive and vibrating to a uniform measure, will He be “full grown” and perfected. |
Nó đang trong tiến trình hoàn thiện. Son, biểu lộ qua Sun và khối cầu ảnh hưởng của nó, vẫn còn ở trong một trạng thái phát triển dần dần, và chỉ khi mỗi tế bào trong thể của Ngài hoàn toàn sống động và rung động theo một mức độ đồng nhất, Ngài mới “trưởng thành đầy đủ” và hoàn hảo. |
|
209. Again the question of subjectivity and objectivity is clarified. In this context, the Son is definitely a great subjective Being manifesting through our Sun and its sphere of influence. |
209. Một lần nữa, vấn đề chủ quan và khách quan được làm sáng tỏ. Trong ngữ cảnh này, Son rõ ràng là một Hữu thể chủ quan vĩ đại đang biểu lộ qua Mặt Trời của chúng ta và khối cầu ảnh hưởng của nó. |
|
210. Our Solar Logos, the Son on the cosmic mental plane, is developing only gradually and is not yet “full grown” and perfected. |
210. Thái dương Thượng đế của chúng ta, Son trên cõi trí vũ trụ, chỉ đang phát triển dần dần và vẫn chưa “trưởng thành đầy đủ” và hoàn hảo. |
|
211. The term “full grown” can be understood as relating to the third cosmic initiation and term “perfected” to the fifth cosmic initiation, which, we are told, will be taken by the Solar Logos in this solar system. |
211. Thuật ngữ “trưởng thành đầy đủ” có thể được hiểu là liên hệ đến lần điểm đạo vũ trụ thứ ba và thuật ngữ “hoàn thiện” là liên hệ đến lần điểm đạo vũ trụ thứ năm, mà chúng ta được cho biết rằng Thái dương Thượng đế sẽ trải qua trong hệ mặt trời này. |
|
Not until His radiation and His display of light is perfectly seen and felt, will His place among the heavenly constellations (the Son of God in a cosmic sense) be fully achieved. |
Chỉ khi nào bức xạ của Ngài và sự biểu lộ ánh sáng của Ngài được thấy và cảm nhận một cách hoàn hảo, thì vị trí của Ngài giữa các chòm sao thiên giới (Con của Thượng đế theo nghĩa vũ trụ) mới được thành tựu trọn vẹn. |
|
212. Those who are to see and feel the radiation of our Solar Logos as Son are the Logoi of the Seven Solar Systems of Which Ours is One. |
212. Những Đấng sẽ thấy và cảm nhận bức xạ của Thái dương Thượng đế của chúng ta với tư cách là Con, là các Thượng đế của Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là một trong đó. |
|
213. Eventually that radiation will be a noteworthy factor within the radius of the One About Whom Naught May Be Said. |
213. Cuối cùng, bức xạ ấy sẽ là một yếu tố đáng chú ý trong phạm vi của Đấng Bất Khả Tư Nghị. |
|
214. The “heavenly constellations” are the vehicle for the Son of God in a more cosmic sense than our physical Sun is the vehicle of the Son of God. |
214. Các “chòm sao thiên giới” là vận cụ của Con của Thượng đế theo một nghĩa vũ trụ hơn so với việc Mặt Trời vật chất của chúng ta là vận cụ của Con của Thượng đế. |
|
[Page 230] Not until each cell in His body is a sphere of radiant glory—a blaze of fire and light, and a source of magnetic radiation or heat, occultly expressed, will the Son in the Heavens “shine forth.” |
[Page 230] Chỉ khi mỗi tế bào trong thể của Ngài là một khối cầu vinh quang rạng ngời—một ngọn lửa của lửa và ánh sáng, và một nguồn bức xạ từ tính hay nhiệt, được diễn đạt theo huyền bí học, thì Con trên Thiên Giới mới “chiếu sáng ra”. |
|
215. When we read the words immediately above we are to remember that the fifth major initiation of our Solar Logos, looms ahead as a probability in this solar system. Elsewhere, DK suggests that our Solar Logos may take only His fourth major initiation. |
215. Khi đọc những lời ngay trên đây, chúng ta phải nhớ rằng lần điểm đạo lớn thứ năm của Thái dương Thượng đế của chúng ta hiện ra phía trước như một khả năng trong hệ mặt trời này. Ở nơi khác, Chân sư DK gợi ý rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta có thể chỉ trải qua lần điểm đạo lớn thứ tư của Ngài. |
|
216. The blaze is both objective and subjective and so is the Son (His true home being on the cosmic mental plane where He expresses Himself as the “Heart of the Sun”), but He is also the demonstrable Son of the Father/Mother, objectively. |
216. Ngọn lửa ấy vừa khách quan vừa chủ quan, và Con cũng vậy (quê hương đích thực của Ngài ở trên cõi trí vũ trụ, nơi Ngài biểu lộ chính mình như “Trái Tim của Mặt Trời”), nhưng Ngài cũng là Con có thể được chứng minh của Cha/Mẹ, một cách khách quan. |
|
217. It becomes clear that the lesser are involved in the liberation of the greater. We are tiny spheres in the body of the Planetary Logos and of the Solar Logos. It is our task to become spheres of radiant glory. In so doing, we contribute to the liberation of these greater Entities “in whom we live and move and have our being”. |
217. Rõ ràng là cái nhỏ hơn có liên quan đến sự giải thoát của cái lớn hơn. Chúng ta là những khối cầu nhỏ bé trong thể của Hành Tinh Thượng đế và của Thái dương Thượng đế. Nhiệm vụ của chúng ta là trở thành những khối cầu vinh quang rạng ngời. Khi làm như vậy, chúng ta góp phần vào sự giải thoát của các Thực Thể lớn lao hơn này, “trong các Ngài mà chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu”. |
|
218. We should attempt to interpret the word “Heavens” as here used. It certainly does not only mean the objective sky. When the term “third heaven” is used with respect to a human being, it means the higher mental plane. When the term “Heavens” is here used, we should think of it in terms of the cosmic mental plane, and especially of the first subplane of the cosmic mental plane where our Solar Logos is subjectively focussed in His causal body. |
218. Chúng ta nên cố gắng diễn giải từ “Thiên Giới” như được dùng ở đây. Chắc chắn nó không chỉ có nghĩa là bầu trời khách quan. Khi thuật ngữ “tầng trời thứ ba” được dùng liên hệ đến một con người, nó có nghĩa là Cõi thượng trí. Khi thuật ngữ “Thiên Giới” được dùng ở đây, chúng ta nên nghĩ đến nó theo nghĩa cõi trí vũ trụ, và đặc biệt là cõi phụ thứ nhất của cõi trí vũ trụ, nơi Thái dương Thượng đế của chúng ta được tập trung một cách chủ quan trong thể nguyên nhân của Ngài. |
|
219. The consummation of which we are speaking, however, suggests that both subjectively and objectively the Son will shine forth. |
219. Tuy nhiên, sự viên mãn mà chúng ta đang nói đến gợi ý rằng cả chủ quan lẫn khách quan, Con sẽ chiếu sáng ra. |
|
From the cosmic point of view, as we know, our sun is but of the fourth order, and on the lowest cosmic plane. |
Theo quan điểm vũ trụ, như chúng ta biết, mặt trời của chúng ta chỉ thuộc bậc thứ tư, và ở trên cõi vũ trụ thấp nhất. |
|
220. This section suggests that other and higher Solar Logoi manifest through their lowest aspect on still higher planes. Our Solar Logos is very much in physical incarnation at this time. Presumably, there are many Solar Logoi who are not afflicted by such a limitation. |
220. Phần này gợi ý rằng các Thái dương Thượng đế khác và cao hơn biểu lộ qua phương diện thấp nhất của Các Ngài trên những cõi còn cao hơn nữa. Thái dương Thượng đế của chúng ta hiện nay đang lâm phàm vật chất rất sâu đậm. Có lẽ có nhiều Thái dương Thượng đế không bị giới hạn như vậy. |
|
221. The subplanes of the cosmic physical plane, whereon our Solar Logos manifests, can be considered the four cosmic ethers. |
221. Các cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ, nơi Thái dương Thượng đế của chúng ta biểu lộ, có thể được xem là bốn dĩ thái vũ trụ. |
|
222. The following thoughts arose in discussion: |
222. Những ý tưởng sau đây đã nảy sinh trong khi thảo luận: |
|
a. Every Creative Hierarchy has seven levels of form and nine levels of consciousness. |
a. Mỗi Huyền Giai Sáng Tạo đều có bảy cấp độ hình tướng và chín cấp độ tâm thức. |
|
b. Let us assume that there are seven formal levels of Solar Logoi, and nine levels of consciousness. |
b. Chúng ta hãy giả định rằng có bảy cấp độ hình tướng của các Thái dương Thượng đế, và chín cấp độ tâm thức. |
|
c. That our Solar Logos is a Logos of the fourth order may mean special expression on the fourth or buddhic plane of the cosmic physical plane. |
c. Việc Thái dương Thượng đế của chúng ta là một Thượng đế thuộc bậc thứ tư có thể có nghĩa là sự biểu lộ đặc biệt trên cõi thứ tư hay cõi Bồ đề của cõi hồng trần vũ trụ. |
|
d. Our Solar Logos is a heart center in a still greater Logos—a Cosmic Logos. Which chakra is the heart? The fourth. |
d. Thái dương Thượng đế của chúng ta là một trung tâm tim trong một Thượng đế còn lớn hơn nữa—một Thượng đế Vũ Trụ. Luân xa nào là tim? Luân xa thứ tư. |
|
e. Our Sun/Solar Logos is, it seems, quite physical—has not made it into the higher Triad of Suns/Solar Logoi who are the chakras within the Cosmic Logos Who expresses through the Seven Solar Systems of Which Ours is One. |
e. Mặt Trời/Thái dương Thượng đế của chúng ta, dường như, khá là vật chất—chưa tiến vào Tam nguyên tinh thần cao hơn của các Mặt Trời/Thái dương Thượng đế, là các luân xa bên trong Thượng đế Vũ Trụ, Đấng biểu lộ qua Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là một trong đó. |
|
f. Our Sun is thus a member of a Lower Quaternary—a lower expression of some Entity, a Cosmic Logos which we have sometimes called the Sirian Logos. |
f. Vì vậy, Mặt Trời của chúng ta là một thành viên của một Bộ Tứ Thấp—một biểu lộ thấp hơn của một Thực Thể nào đó, một Thượng đế Vũ Trụ mà đôi khi chúng ta gọi là Thượng đế Sirius. |
|
g. Our Solar Logos manifesting through his Sun is definitely not yet sacred. |
g. Thái dương Thượng đế của chúng ta biểu lộ qua Mặt Trời của ngài rõ ràng vẫn chưa thiêng liêng. |
|
h. Among the Solar Logoi there may be nine initiations. This is definitely true for our Solar Logos. At least there are nine minor initiation—cf. TCF 384) |
h. Giữa các Thái dương Thượng đế có thể có chín lần điểm đạo. Điều này chắc chắn đúng đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta. Ít nhất có chín lần điểm đạo nhỏ —xem TCF 384) |
|
i. Our Solar Logos is talking the fourth of nine sub-initiations. |
i. Thái dương Thượng đế của chúng ta đang trải qua lần tiểu điểm đạo thứ tư trong chín lần. |
|
j. If a sacred planet must have taken the fifth initiation to be sacred, what of a Solar Logos? May this also be true of our Solar Logos? Will only His fifth cosmic initiation render him “sacred” in a cosmic sense. |
j. Nếu một hành tinh thiêng liêng phải đã trải qua lần điểm đạo thứ năm để trở nên thiêng liêng, thì còn một Thái dương Thượng đế thì sao? Điều này cũng có thể đúng với Thái dương Thượng đế của chúng ta chăng? Chỉ lần điểm đạo vũ trụ thứ năm của Ngài mới khiến ngài trở nên “thiêng liêng” theo nghĩa vũ trụ chăng. |
|
k. Maybe He will take His fifth minor initiation in a series of nine through His fifth scheme. Is this Venus? |
k. Có lẽ Ngài sẽ trải qua lần điểm đạo nhỏ thứ năm của Ngài trong một chuỗi chín lần qua hệ hành tinh thứ năm của Ngài. Có phải là Sao Kim không? |
|
When the Son has, through the Sun, attained full expression (that is, perfected His display of light and heat) then He will shine forth upon another plane, that of the cosmic mental. |
Khi Con, qua Mặt Trời, đã đạt đến sự biểu lộ trọn vẹn (nghĩa là đã hoàn thiện sự biểu lộ ánh sáng và nhiệt của Ngài) thì Ngài sẽ chiếu sáng ra trên một cõi khác, đó là cõi trí vũ trụ. |
|
223. This signifies the achievement of the perfected personality, which, completed, signals, as well, a causal shining forth prior to casual destruction. |
223. Điều này biểu thị sự thành tựu của phàm ngã hoàn thiện, mà khi hoàn tất, cũng báo hiệu một sự chiếu sáng nhân quả trước khi có sự hủy diệt nhân quả. |
|
224. Full expression below signals full radiance of the causal nature above. |
224. Sự biểu lộ trọn vẹn bên dưới báo hiệu sự rạng ngời trọn vẹn của bản chất nguyên nhân bên trên. |
|
225. Thus, when our Solar Logos has achieved full physical expression on all levels of the cosmic physical plane, He will shine forth causally on the higher levels of the cosmic mental plane. |
225. Như vậy, khi Thái dương Thượng đế của chúng ta đã đạt được sự biểu lộ hồng trần trọn vẹn trên mọi cấp độ của cõi hồng trần vũ trụ, Ngài sẽ chiếu sáng ra về mặt nguyên nhân trên các cấp độ cao hơn của cõi trí vũ trụ. |
|
226. Immediately below, in microcosmic terms, we have the unfolding of the definition of a Master. |
226. Ngay bên dưới, theo thuật ngữ vi mô, chúng ta có sự khai mở của định nghĩa về một Chân sư. |
|
We have the analogy in the microcosm or man. When a man’s light fully shines forth, when his magnetic radiation has reached the stage of vivid interaction or group activity, then he has attained full self-expression, and has included within his sphere of influence and control the mental plane. He is then considered a Master. |
Chúng ta có sự tương đồng trong tiểu thiên địa hay con người. Khi ánh sáng của một người chiếu sáng trọn vẹn, khi bức xạ từ tính của y đã đạt đến giai đoạn tương tác sinh động hay hoạt động nhóm, thì y đã đạt được sự tự biểu lộ trọn vẹn, và đã bao gồm trong phạm vi ảnh hưởng và kiểm soát của y cõi trí. Khi ấy y được xem là một Chân sư. |
|
227. Let us tabulate the requirements for those climaxing developments in the life of man which make of Him a Master. |
227. Chúng ta hãy lập bảng các yêu cầu đối với những phát triển cao trào trong đời sống con người, những điều làm cho y trở thành một Chân sư. |
|
a. His light is fully shining forth |
a. Ánh sáng của y đang chiếu sáng trọn vẹn |
|
b. His magnetic radiation has reached the stage of vivid interaction or group activity |
b. Bức xạ từ tính của y đã đạt đến giai đoạn tương tác sinh động hay hoạt động nhóm |
|
c. He has attained full self-expression |
c. Y đã đạt được sự tự biểu lộ trọn vẹn |
|
d. He has included within his sphere of influence and control the mental plane |
d. Y đã bao gồm trong phạm vi ảnh hưởng và kiểm soát của y cõi trí |
|
228. Leo, a sign of full self-expression, is also the sign of mastership. |
228. Sư Tử, một dấu hiệu của sự tự biểu lộ trọn vẹn, cũng là dấu hiệu của chân sư tính. |
|
229. We might also say that a fourth degree initiate will have reached the stage of vivid interaction or group activity. |
229. Chúng ta cũng có thể nói rằng một điểm đạo đồ cấp bốn sẽ đã đạt đến giai đoạn tương tác sinh động hay hoạt động nhóm. |
|
He also is of the fourth order; |
Ngài cũng thuộc bậc thứ tư; |
|
230. A Master is master of the mental plane, but not necessarily of the buddhic or atmic planes even though focussed there. |
230. Một Chân sư là chân sư của cõi trí, nhưng không nhất thiết là của cõi Bồ đề hay cõi atma, dù được tập trung ở đó. |
|
231. What may we say of the fact that a Master is of the fourth order? |
231. Chúng ta có thể nói gì về sự kiện rằng một Chân sư thuộc bậc thứ tư? |
|
a. Perhaps because he has such buddhic power, and the buddhic plane is the fourth plane. |
a. Có lẽ vì y có quyền năng Bồ đề mạnh mẽ như vậy, và cõi Bồ đề là cõi thứ tư. |
|
b. Perhaps it is because he has mastery over two of the Crosses, the Common and Fixed. While He is, indeed, upon the Cardinal Cross He is not master of it. |
b. Có lẽ là vì y đã làm chủ hai Thập Giá, Thập Giá Thường và Thập Giá Cố Định. Dù quả thật Ngài ở trên Thập Giá Chủ Yếu, Ngài vẫn chưa làm chủ nó. |
|
c. Perhaps it is because He has a strong buddhic polarization; He is reigning over the quaternary, and has a full mastery over the personality. |
c. Có lẽ là vì Ngài có sự phân cực Bồ đề mạnh mẽ; Ngài đang cai quản bộ tứ, và làm chủ trọn vẹn phàm ngã. |
|
d. He is, as well, directing those aggregations of souls we call egoic groups, and those collections of liberated souls who form His Ashram. He is, after all, in control of an Ashram on the fourth or buddhic plane (unless He is one of the scientific Masters whose Ashrams are on the higher mental plane). |
d. Ngoài ra, Ngài còn đang chỉ đạo những tập hợp linh hồn mà chúng ta gọi là các nhóm chân ngã, và những tập hợp các linh hồn được giải thoát tạo thành ashram của Ngài. Rốt cuộc, Ngài đang kiểm soát một ashram trên cõi thứ tư hay cõi Bồ đề (trừ khi Ngài là một trong các Chân sư khoa học có các ashram ở trên Cõi thượng trí). |
|
e. Are Masters of the fourth order supervising centers on the buddhic, while Chohans of the sixth degree are supervising centers on the monadic plane? |
e. Có phải các Chân sư thuộc bậc thứ tư đang giám sát các trung tâm trên cõi Bồ đề, trong khi các Chohan cấp sáu đang giám sát các trung tâm trên cõi chân thần? |
|
he is the quaternary. |
y là bộ tứ. |
|
232. What may we say of the fact that a Master “is the quaternary”? |
232. Chúng ta có thể nói gì về sự kiện rằng một Chân sư “là bộ tứ”? |
|
a. A Master is focussed on the atmic plane, which sits ‘atop’ the buddhic and the lower three systemic planes and, thus, He supervises at least four planes while not yet being complete master of the fourth, or buddhic. |
a. Một Chân sư được tập trung trên cõi atma, cõi nằm ‘trên’ cõi Bồ đề và ba cõi hệ thống thấp hơn, và như vậy, Ngài giám sát ít nhất bốn cõi trong khi vẫn chưa là chân sư hoàn toàn của cõi thứ tư, hay cõi Bồ đề. |
|
b. Perhaps mastery is achieved two planes below one’s focus—i.e., the Master has mastered the mental plane, two planes below His focus; the Arhat, by analogy, would have mastered the astral plane, two planes below his focus on the buddhic plane. |
b. Có lẽ sự làm chủ đạt được ở hai cõi bên dưới điểm tập trung của một người—nghĩa là, Chân sư đã làm chủ cõi trí, hai cõi bên dưới điểm tập trung của Ngài; theo sự tương đồng, vị A La Hán hẳn đã làm chủ cõi cảm dục, hai cõi bên dưới điểm tập trung của y trên cõi Bồ đề. |
|
c. Also a Master is a blazing sun. That sun (because of its buddhic quality) will be golden in color. Hence the association of the Master with the fourth order and its ray, the fourth ray, the color of which is yellow. |
c. Ngoài ra, một Chân sư là một mặt trời rực cháy. Mặt trời ấy (do phẩm tính Bồ đề của nó) sẽ có màu vàng kim. Do đó có sự liên hệ của Chân sư với bậc thứ tư và cung của nó, cung bốn, màu của cung này là vàng. |
|
d. May we say that a Master works most upon the buddhic plane, the fourth plane, where the color yellow is prominent? It is the buddhic focus of our Solar Logos which renders Him of the fourth order. May it be the buddhic focus of a human Master which renders Him, too, of the fourth order? |
d. Chúng ta có thể nói rằng một Chân sư hoạt động nhiều nhất trên cõi Bồ đề, cõi thứ tư, nơi màu vàng nổi bật chăng? Chính sự tập trung Bồ đề của Thái dương Thượng đế của chúng ta khiến Ngài thuộc bậc thứ tư. Có thể nào chính sự tập trung Bồ đề của một Chân sư nhân loại cũng khiến Ngài thuộc bậc thứ tư? |
|
e. If our Solar Logos is still a member of the quaternary of a Cosmic Logos, of what type of quaternary is the human Master the member? |
e. Nếu Thái dương Thượng đế của chúng ta vẫn còn là một thành viên của bộ tứ của một Thượng đế Vũ Trụ, thì Chân sư nhân loại là thành viên của loại bộ tứ nào? |
|
The etheric plane is the centre of his life in the physical sense, |
Cõi dĩ thái là trung tâm đời sống của y theo nghĩa hồng trần, |
|
233. Because, as a Master, He is sacred. Focussed as He is in the higher ethers, His physical focus becomes the lower ethers. When we have achieved sacredness (the fourth or fifth initiations) it means that our physical focus becomes etheric. |
233. Bởi vì, với tư cách là một Chân sư, Ngài là thiêng liêng. Vì được tập trung trong các dĩ thái cao hơn, điểm tập trung hồng trần của Ngài trở thành các dĩ thái thấp hơn. Khi chúng ta đã đạt được tính thiêng liêng (lần điểm đạo thứ tư hay thứ năm) điều đó có nghĩa là điểm tập trung hồng trần của chúng ta trở thành dĩ thái. |
|
234. The Arhat and Master are also the quaternary because they are focussed ‘physically’ within the quaternary of ethers rather than on the dense physical plane. |
234. Vị A La Hán và Chân sư cũng là bộ tứ vì các Ngài được tập trung ‘về mặt hồng trần’ trong bộ tứ các dĩ thái thay vì trên cõi hồng trần đậm đặc. |
|
just as we are told that the sun and the planets esoterically are considered as existing in etheric matter. As above, so below, is the occult law. |
cũng như chúng ta được cho biết rằng mặt trời và các hành tinh, theo huyền bí học, được xem như hiện hữu trong vật chất dĩ thái. Trên sao, dưới vậy, là định luật huyền bí. |
|
235. Below the fourth initiation the physical focus for a man is still the dense physical plane. When the fourth initiation has occurred, He is able to drop the physical body, forego further need for reincarnation, and become, in effect, an etheric being, able later to gather physical substance around His etheric body for the purpose of building a Mayavirupa. |
235. Dưới lần điểm đạo thứ tư, điểm tập trung hồng trần của một người vẫn còn là cõi hồng trần đậm đặc. Khi lần điểm đạo thứ tư đã xảy ra, Ngài có thể từ bỏ thể xác, không cần tái sinh thêm nữa, và trên thực tế trở thành một hữu thể dĩ thái, về sau có thể tập hợp chất liệu hồng trần quanh thể dĩ thái của Ngài nhằm mục đích tạo dựng một Mayavirupa. |
|
236. VSK queries: “What quaternary is the Sun part of, if He be the heart? |
236. VSK nêu câu hỏi: “Mặt Trời là thành phần của bộ tứ nào, nếu Ngài là tim? |
|
237. May it be suggested that the Solar Logoi of the stars Alpha Centauri and Procyon may also be involved in this quaternary? |
237. Có thể gợi ý rằng các Thái dương Thượng đế của các sao Alpha Centauri và Procyon cũng có thể liên quan đến bộ tứ này chăng? |
|
238. Usually a quaternary concerns those chakras beneath of the diaphragm. In the case of the quaternary of which our Sun/Solar Logos is a part, this cannot be the case because our Solar Logos is a heart center. Yet the heart center is, strangely, still one of the lower four major centers, including the throat, ajna and head centers as a triad of higher centers. |
238. Thông thường một bộ tứ liên quan đến những luân xa bên dưới cơ hoành. Trong trường hợp bộ tứ mà Mặt Trời/Thái dương Thượng đế của chúng ta là một phần trong đó, điều này không thể đúng vì Thái dương Thượng đế của chúng ta là một trung tâm tim. Tuy vậy, trung tâm tim, một cách kỳ lạ, vẫn là một trong bốn trung tâm lớn thấp hơn, bao gồm trung tâm cổ họng, ajna và đầu như một bộ ba các trung tâm cao hơn. |
|
239. What is needed is a certain way to designate the chakric meaning of a lower quaternary. In what cases is the heart included and when is it not? For the heart can also be considered one of the three major centers (head, heart, throat). What we do with the ajna center is of importance. |
239. Điều cần thiết là một cách nhất định để chỉ định ý nghĩa luân xa của một bộ tứ thấp hơn. Trong những trường hợp nào tim được bao gồm và khi nào thì không? Vì tim cũng có thể được xem là một trong ba trung tâm chính (đầu, tim, cổ họng). Điều chúng ta làm với trung tâm ajna là điều quan trọng. |
|
240. VSK queries: “Is the spleen implicated here, with prana? The gold and violet exchange from the Sun to the Earth via man/monad—the four and the seven.” |
240. VSK nêu câu hỏi: “Lá lách có liên quan ở đây, cùng với prana không? Sự trao đổi vàng và tím từ Mặt Trời đến Trái Đất qua con người/chân thần—bốn và bảy.” |
|
241. When we speak of the Sun and planets existing esoterically in etheric matter, we are really designating cosmic etheric matter. |
241. Khi chúng ta nói về Mặt Trời và các hành tinh hiện hữu theo huyền bí học trong vật chất dĩ thái, thực ra chúng ta đang chỉ định vật chất dĩ thái vũ trụ. |
|
Therefore, the relationship of the Son of the Father, and of the Mother, is to the Sun the same as man’s relationship to the vehicle through which he functions. |
Vì vậy, mối liên hệ của Con của Cha, và của Mẹ, với Mặt Trời cũng giống như mối liên hệ của con người với vận cụ mà qua đó y hoạt động. |
|
242. Here the Sun is definitely the outer vehicle analogous to the physical vehicle through which a man functions. |
242. Ở đây Mặt Trời rõ ràng là vận cụ bên ngoài tương tự với vận cụ hồng trần mà qua đó một người hoạt động. |
|
243. The equation would be as following: The Son/Sun = Man as Soul/his objective physical plane vehicle. |
243. Phương trình sẽ như sau: Con/Mặt Trời = Con người như Linh hồn/vận cụ cõi hồng trần khách quan của y. |
|
244. An interesting point for review arose in relation to the context discussed: |
244. Một điểm thú vị để xem xét lại đã nảy sinh liên hệ đến ngữ cảnh đang được bàn đến: |
|
a. “Our Solar Logos being a Logos of the fourth order will begin to coordinate His cosmic buddhic body” (TCF 115) |
a. “Thái dương Thượng đế của chúng ta là một Thượng đế thuộc bậc thứ tư sẽ bắt đầu phối hợp thể Bồ đề vũ trụ của Ngài” (TCF 115) |
|
b. We have learned that only after the third degree does man truly begin to coordinate His buddhic vehicle. This means that such a coordination is far from complete for our Solar Logos Who has not yet taken his third cosmic initiation, though He is working upon His fourth in a minor series. He is an astral-buddhic Solar Logos and not, at all, entirely polarized in His buddhic vehicle. |
b. Chúng ta đã học rằng chỉ sau cấp độ thứ ba con người mới thực sự bắt đầu phối hợp vận cụ Bồ đề của mình. Điều này có nghĩa là sự phối hợp như thế còn lâu mới hoàn tất đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta, Đấng vẫn chưa trải qua lần điểm đạo vũ trụ thứ ba của ngài, dù Ngài đang làm việc trên lần thứ tư của Ngài trong một chuỗi nhỏ. Ngài là một Thái dương Thượng đế cảm dục-Bồ đề và hoàn toàn chưa phân cực trọn vẹn trong vận cụ Bồ đề của Ngài. |
|
245. Again we return to a discussion of the physical vehicle of a man or Logos. |
245. Một lần nữa chúng ta trở lại với cuộc thảo luận về vận cụ hồng trần của một con người hay một Thượng đế. |
|
246. In the following tabulation we are speaking of the Solar Logos or of man as the “Son”. |
246. Trong bảng liệt kê sau đây, chúng ta đang nói về Thái dương Thượng đế hay về con người như là “Con”. |
|
It is His mode of enterprise, His vehicle of expression; it is the form which His life animates for the specific purpose of |
Đó là phương thức hoạt động của Ngài, vận cụ biểu lộ của Ngài; đó là hình tướng mà sự sống của Ngài làm sinh động vì mục đích đặc thù là |
|
247. The physical vehicle of a Solar Logos (or of a man) has the following purposes. |
247. Vận cụ hồng trần của một Thái dương Thượng đế (hay của một con người) có những mục đích sau đây. |
|
a. Gaining experience. |
a. Thu nhận kinh nghiệm. |
|
b. Making contact. |
b. Tạo tiếp xúc. |
|
c. Developing full self-knowledge. |
c. Phát triển tri thức đầy đủ về chính mình. |
|
d. Achieving full mastery or control. |
d. Đạt được sự làm chủ hay kiểm soát trọn vẹn. |
|
248. Our Solar Logos is not yet a Master cosmically. |
248. Thái dương Thượng đế của chúng ta vẫn chưa là một Chân sư theo nghĩa vũ trụ. |
|
e. Attaining “manhood” cosmically. |
e. Đạt đến “nhân tính trưởng thành” theo nghĩa vũ trụ. |
|
249. “Manhood” may mean the third initiation, just as it does for a human being who becomes, at that point, a “rich young man”. |
249. “Nhân tính trưởng thành” có thể có nghĩa là lần điểm đạo thứ ba, cũng như đối với một con người, vào thời điểm đó trở thành một “người thanh niên giàu có”. |
|
The cosmic Christ [another name for the “Son” must measure up to the stature “of a full grown man,” as it is expressed in the Christian Bible.93. [Bible. Ep., 4:13.] |
Đức Christ vũ trụ [một tên gọi khác của “Con” phải đạt đến tầm vóc “của một người trưởng thành đầy đủ,” như được diễn tả trong Kinh Thánh Cơ Đốc.93. [Bible. Ep., 4:13.] |
|
250. A “full grown man” however, may indicate the fifth initiation, for the term “young” is not used. |
250. Tuy nhiên, một “người trưởng thành đầy đủ” có thể chỉ lần điểm đạo thứ năm, vì thuật ngữ “trẻ” không được dùng. |
|
f. Expanding His consciousness. |
f. Mở rộng tâm thức của Ngài. |
|
251. Just as we human beings have a body of fire at the point of mastership, so does the Son have body of fire which demonstrates as the solar system in its consummated fiery state. |
251. Cũng như chúng ta, những con người, có một thể lửa ở điểm chân sư tính, thì Con cũng có một thể lửa, thể này biểu lộ như hệ mặt trời trong trạng thái lửa viên mãn của nó. |
|
252. Why should not the Son have a similar “body incorruptible”? Once our Solar Logos is a Master, He will have a systemic ‘body incorruptible”. |
252. Tại sao Con lại không thể có một “thể bất hoại” tương tự? Một khi Thái dương Thượng đế của chúng ta là một Chân sư, Ngài sẽ có một ‘thể bất hoại’ có tính hệ thống. |
|
253. Will He then be able to make a solar logoic Mayavirupa? Could such Masters appear and disappear as do Masters with their Mayavirupa? What would this have to do with stars that are sometimes seen and sometimes not? |
253. Khi ấy Ngài có thể tạo ra một Mayavirupa thái dương thượng đế chăng? Những Chân sư như thế có thể xuất hiện và biến mất như các Chân sư với Mayavirupa của Các Ngài chăng? Điều này sẽ liên quan gì đến những ngôi sao đôi khi được thấy và đôi khi không? |
|
[Page 231] All these stages have to be achieved on cosmic levels, in exactly the same sense as the microcosm, on systemic levels, likewise strives for similar ideals. |
[Page 231] Tất cả các giai đoạn này đều phải được thành tựu trên các cấp độ vũ trụ, theo đúng cùng một nghĩa như tiểu thiên địa, trên các cấp độ hệ thống, cũng phấn đấu vì những lý tưởng tương tự. |
|
254. We work with the Law of Analogy. Our learning will be expanded accordingly. Much about the Logos will be revealed by understanding the nature of man and vise versa. Some of the implications may seem to us rather fantastical, but according to the Law of Analogy they may be true. |
254. Chúng ta làm việc với định luật tương đồng. Việc học hỏi của chúng ta sẽ được mở rộng tương ứng. Nhiều điều về Thượng đế sẽ được mặc khải qua việc thấu hiểu bản chất của con người và ngược lại. Một số hàm ý có thể dường như khá kỳ ảo đối với chúng ta, nhưng theo định luật tương đồng, chúng có thể là thật. |
|
255. When we begin to think of our Solar Logos in terms of greater Solar Angels Who may be associated with Him, and of the potentiality of fashioning a Mayavirupa after the fourth or fifth initiation, speculation abounds with interest. |
255. Khi chúng ta bắt đầu nghĩ về Thái dương Thượng đế của chúng ta theo nghĩa những Thái dương Thiên Thần lớn hơn có thể liên kết với Ngài, và về tiềm năng tạo dựng một Mayavirupa sau lần điểm đạo thứ tư hay thứ năm, thì sự suy đoán trở nên đầy hứng thú. |