Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S3S4 (245-259)

📘 Sách: Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S3 – Tác giả: Michael D. Robbins

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

S3S5: TCF 259-269

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Cước chú và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.

Có gợi ý rằng nên đọc phần Bình Luận này với quyển TCF ở bên cạnh, vì mục đích liên tục mạch văn. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn văn.

VI. WHAT IS THE MIND ASPECT? WHY IS THE MANASIC PRINCIPLE OF SUCH IMPORTANCE? WHO ARE THE MANASAPUTRAS?

VI. PHƯƠNG DIỆN TRÍ TUỆ LÀ GÌ? TẠI SAO NGUYÊN KHÍ MANAS LẠI QUAN TRỌNG ĐẾN THẾ? CÁC MANASAPUTRA LÀ AI?

1. These are huge questions. It is almost as if the entire A Treatise on Cosmic Fire was written on this subject.

1. Đây là những câu hỏi rất lớn. Gần như thể toàn bộ Luận về Lửa Vũ Trụ đã được viết về chủ đề này.

We are now to touch upon the profoundest mystery of the whole manifested solar system—the mystery spoken of by H. P. B. as the mystery of electricity.5: [S. D., I, 439, 221, 107.]

Giờ đây chúng ta sẽ chạm đến huyền nhiệm sâu xa nhất của toàn bộ hệ mặt trời biểu hiện—huyền nhiệm được H. P. B. nói đến như huyền nhiệm của điện.5: [S. D., I, 439, 221, 107.]

2. We note that DK speaks of the whole manifested solar system. There are presumably other and equally profound mysteries concerning those aspects of the Solar Logos which are considered to be out of manifestation—His cosmic astral and cosmic mental natures, for instance.

2. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK nói về toàn bộ hệ mặt trời biểu hiện. Có lẽ còn có những huyền nhiệm khác cũng sâu xa không kém liên quan đến những phương diện của Thái dương Thượng đế được xem là ở ngoài biểu hiện—chẳng hạn như bản chất cảm dục vũ trụ và trí tuệ vũ trụ của Ngài.

3. The “mystery of electricity” is particularly connected with the creation, sustainment and dissolution of the cosmic physical plane.

3. “Huyền nhiệm của điện” đặc biệt liên hệ với sự sáng tạo, duy trì và tan rã của cõi hồng trần vũ trụ.

It is intimately connected with the life of God as demonstrated through His seven Centres, the seven Heavenly Men, the Divine Manasaputras.

Nó liên hệ mật thiết với sự sống của Thượng đế như được biểu lộ qua bảy Trung tâm của Ngài, bảy Đấng Thiên Nhân, các Manasaputra thiêng liêng.

4. We remember the connection of the seven Heavenly Man to the Pleiades. The Pleiades (an aspect of which relates intimately to the physical-etheric nature of the Solar Logos) are often considered the source, within our cosmosystem, of all electrical phenomena.

4. Chúng ta nhớ mối liên hệ của bảy Đấng Thiên Nhân với Thất Nữ Tinh. Thất Nữ Tinh (một phương diện của nó liên hệ mật thiết với bản chất hồng trần-dĩ thái của Thái dương Thượng đế) thường được xem là nguồn gốc, bên trong cosmosystem của chúng ta, của mọi hiện tượng điện.

5. “God” in this case is the Solar Logos, having for His centers, the seven Heavenly Men.

5. “Thượng đế” trong trường hợp này là Thái dương Thượng đế, với bảy Đấng Thiên Nhân là các trung tâm của Ngài.

6. Whenever the term “electricity” is mentioned, some intimate connection with the life aspect of divinity is also suggested. The first and third aspects of divinity are closely interrelated.

6. Bất cứ khi nào thuật ngữ “điện” được nhắc đến, một mối liên hệ mật thiết nào đó với phương diện sự sống của thiên tính cũng được gợi ra. Phương diện thứ nhất và thứ ba của thiên tính có liên hệ chặt chẽ với nhau.

This problem is not soluble as yet exoterically and but little can be revealed to the general public.

Vấn đề này hiện chưa thể giải quyết một cách ngoại môn và chỉ rất ít điều có thể được tiết lộ cho công chúng nói chung.

7. We use electricity widely in our contemporary civilization and it has become indispensable. Yet, do we know what it really is?

7. Chúng ta sử dụng điện rộng rãi trong nền văn minh đương đại của mình và nó đã trở nên không thể thiếu. Tuy nhiên, chúng ta có biết nó thực sự là gì không?

8. We are part of the general public; the true initiates are not.

8. Chúng ta là một phần của công chúng nói chung; các điểm đạo đồ chân chính thì không phải.

This is for three reasons:

Điều này là vì ba lý do:

First, the stage reached by man does not permit of his correct apprehension of these abstractions.

Thứ nhất, giai đoạn mà con người đã đạt đến không cho phép y nắm bắt đúng đắn những trừu tượng này.

9. It is hard to admit that the present development of the human mind finds certain subjects and their true presentation unfathomable, but so it is.

9. Thật khó chấp nhận rằng sự phát triển hiện nay của trí tuệ con người thấy một số chủ đề và cách trình bày chân thực của chúng là không thể dò thấu, nhưng đúng là như vậy.

10. Perhaps at the cutting edge of the various sciences, this is realized.

10. Có lẽ ở tuyến đầu của các ngành khoa học khác nhau, điều này được nhận ra.

11. Some feel it is not necessary to grasp the nature of such “abstractions”. If we are of this opinion, we are simply willingly prolonging the state of ignorance in which presently find ourselves.

11. Một số người cảm thấy không cần thiết phải nắm bắt bản chất của những “trừu tượng” như thế. Nếu chúng ta có quan điểm này, chúng ta đơn giản chỉ là tự nguyện kéo dài tình trạng vô minh mà hiện nay chúng ta đang ở trong đó.

Second, the greater part of the possible explanation is only revealed to initiates who have passed the third Initiation, and even to them in a carefully guarded manner.

Thứ hai, phần lớn lời giải thích khả dĩ chỉ được tiết lộ cho các điểm đạo đồ đã vượt qua lần điểm đạo thứ ba, và ngay cả với họ cũng theo một cách được canh giữ cẩn mật.

12. Such initiates have had their first practical contact with electric fire.

12. Những điểm đạo đồ như thế đã có tiếp xúc thực tiễn đầu tiên của họ với Lửa Điện.

13. We are reminded that the third degree represents only the beginning of the process of revealing the life aspect of divinity.

13. Chúng ta được nhắc rằng cấp độ thứ ba chỉ tượng trưng cho sự khởi đầu của tiến trình mặc khải phương diện sự sống của thiên tính.

Third, the revelation of the close connection between mind and fohat or energy, or between thought power and electrical phenomena—the effect of fohatic impulse on matter—is fraught with peril, and the missing link (if so it might be termed) in the chain of reasoning from phenomena to its initiatory impulse, can only be safely imparted when the bridge between higher and lower mind, is adequately constructed.

Thứ ba, sự mặc khải về mối liên hệ chặt chẽ giữa trí tuệ và fohat hay năng lượng, hay giữa quyền năng tư tưởng và các hiện tượng điện—tác động của xung lực fohat lên vật chất—chứa đầy hiểm nguy, và mắt xích còn thiếu (nếu có thể gọi như vậy) trong chuỗi lý luận từ hiện tượng đến xung lực khởi phát của nó, chỉ có thể được truyền đạt một cách an toàn khi cây cầu giữa thượng trí và hạ trí được xây dựng đầy đủ.

14. This extract is discussing scientific magic or the secrets of manifestation.

14. Đoạn trích này đang bàn đến huyền thuật khoa học hay các bí mật của sự biểu hiện.

15. The well-informed magician can make his thoughts appear as forms in the lower worlds.

15. Nhà huyền thuật được thông tin đầy đủ có thể làm cho các tư tưởng của mình xuất hiện như những hình tướng trong các cõi thấp.

16. Fohat is here considered as the energy working upon matter and as electrical phenomena.

16. Ở đây fohat được xem như năng lượng tác động lên vật chất và như các hiện tượng điện.

17. There is a secret link between thought power and electrical phenomena. Phenomena have their “initiatory impulse”.

17. Có một mối liên kết bí mật giữa quyền năng tư tưởng và các hiện tượng điện. Các hiện tượng có “xung lực khởi phát” của chúng.

18. The secrets of creative manifestation are here hinted.

18. Các bí mật của sự biểu hiện sáng tạo được ám chỉ ở đây.

19. Man must not hold the secret of the creative process until he is informed by the Divine Plan, which can only occur when the antahkarana is adequately constructed.

19. Con người không được nắm giữ bí mật của tiến trình sáng tạo cho đến khi y được Thiên Cơ thấm nhuần, điều chỉ có thể xảy ra khi antahkarana được xây dựng đầy đủ.

20. The construction of the antahkarana antidotes the usual distortions which occur when consciousness is confined to levels lower than the spiritual triad.

20. Việc xây dựng antahkarana hóa giải những bóp méo thông thường xảy ra khi tâm thức bị giới hạn ở các cấp độ thấp hơn Tam Nguyên Tinh Thần.

21. VSK queries: Could this have been related to the atomic energy, and to the fact that it was not intended that the secrets of atomic energy be revealed until the Age of Capricorn?

21. VSK nêu câu hỏi: Điều này có thể đã liên quan đến năng lượng nguyên tử, và đến sự kiện rằng các bí mật của năng lượng nguyên tử không được dự định tiết lộ cho đến Kỷ Nguyên Ma Kết chăng?

When the lower is under the control of the higher, or when the quaternary is merging into the triad, then man can be trusted with the remaining [Page 260] four fundamentals.

Khi cái thấp ở dưới sự kiểm soát của cái cao, hay khi bộ tứ đang hòa nhập vào tam nguyên tinh thần, khi đó con người có thể được tin cậy để nắm giữ bốn nền tảng [Page 260] còn lại.

22. Yes, the whole matter is one of trust. That which is unworthy cannot be allowed to manifest in a wholesale manner. There is already more than sufficient manifestation of the unworthy.

22. Đúng vậy, toàn bộ vấn đề là vấn đề về sự tin cậy. Điều không xứng đáng không thể được phép biểu hiện một cách đại trà. Đã có quá đủ sự biểu hiện của điều không xứng đáng rồi.

23. The Secret Doctrine has, apparently, seven Fundamentals.

23. Giáo Lý Bí Nhiệm, dường như, có bảy Nền Tảng.

24. Three Fundamentals of the Secret Doctrine have been imparted. The first Fundamental cannot be comprehended by the mind of man.

24. Ba Nền Tảng của Giáo Lý Bí Nhiệm đã được truyền đạt. Nền Tảng thứ nhất không thể được trí tuệ con người hiểu thấu.

Three of these fundamentals are laid down for us in the Proem of the Secret Doctrine, [6: S. D., I, 42-44]. and with the evolving concept of psychology, make the revealed three and the dawning fourth.

Ba nền tảng trong số này được nêu ra cho chúng ta trong Lời Mở Đầu của Giáo Lý Bí Nhiệm, [6: S. D., I, 42-44]. và cùng với khái niệm đang tiến hóa về tâm lý học, tạo thành ba điều đã được mặc khải và điều thứ tư đang hé rạng.

25. From one perspective the “Law of Freedom”, as a fourth cosmic law, can be considered related to the emerging Fourth Fundamental of the Secret Doctrine.

25. Từ một góc nhìn, “Định luật Tự do”, như một định luật vũ trụ thứ tư, có thể được xem là liên hệ với Nền Tảng thứ Tư đang xuất hiện của Giáo Lý Bí Nhiệm.

26. This law is doubtlessly related to the Law of Karma as discussed below:

26. Định luật này hẳn là có liên hệ với Định luật Nghiệp quả như được bàn đến dưới đây:

The Intermediate Law of Karma. —There is also an intermediate law, which is the synthetic law of the system [Page 570] of Sirius. This law is called by the generic term, the Law of Karma, and really predicates the effect the Sirian system has on our solar system. Each of the two systems, as regards its internal economy, is independent in time and space, or (in other words), in manifestation. We have practically no effect on our parent system, the reflex action is so slight as to be negligible, but very definite effects are felt in our system through causes arising in Sirius. These causes, when experienced as effects, are called by us the Law of Karma, and at the beginning they started systemic Karma which, once in effect, constitutes that which is called Karma in our occult and oriental literature.” (TCF 569-570)

Định luật Trung gian của Nghiệp quả. —Cũng có một định luật trung gian, là định luật tổng hợp của hệ [Page 570] Sirius. Định luật này được gọi bằng thuật ngữ tổng quát là Định luật Nghiệp quả, và thực sự xác định trước hiệu quả mà hệ Sirius có trên hệ mặt trời của chúng ta. Mỗi hệ trong hai hệ này, xét về cơ cấu nội tại của nó, đều độc lập trong thời gian và không gian, hay (nói cách khác), trong biểu hiện. Chúng ta thực tế hầu như không có ảnh hưởng nào lên hệ mẹ của mình, phản tác động quá nhỏ đến mức có thể bỏ qua, nhưng những hiệu quả rất xác định lại được cảm nhận trong hệ của chúng ta qua các nguyên nhân phát sinh trong Sirius. Những nguyên nhân này, khi được trải nghiệm như các hiệu quả, được chúng ta gọi là Định luật Nghiệp quả, và ngay từ lúc khởi đầu chúng đã phát động Nghiệp quả hệ thống mà, một khi đã có hiệu lực, cấu thành điều được gọi là Nghiệp quả trong văn học huyền bí và phương Đông của chúng ta.” (TCF 569-570)

27. The Fourth Fundamental will relate to psychology and (it is thought by some) to esoteric astrology.

27. Nền Tảng thứ Tư sẽ liên hệ đến tâm lý học và (theo suy nghĩ của một số người) đến chiêm tinh học nội môn.

28. How can we combine the ideas of the Fourth Law, of Freedom/Karma; the fourth plane, the buddhic; the sciences of esoteric psychology and astrology; Sirius and the Fourth Path which leads thereto?

28. Làm sao chúng ta có thể kết hợp các ý tưởng về Định luật thứ Tư, của Tự do/Nghiệp quả; cõi thứ tư, cõi Bồ đề; các khoa học về Tâm Lý Học Nội Môn và chiêm tinh học; Sirius và Con Đường thứ Tư dẫn đến đó?

29. The principle of Love-Wisdom (buddhi, the sixth principle) found upon the buddhic plane is that principle which contributes to the karmic harmonizing of all discord, and reveals the truth of the Divine Archetype, which revelation sets man free. Sirius, as one expression of the Cosmic Christ, promotes the acquisition of this freedom through Pure Reason, Love and Wisdom. True psychological understanding is related to the number four and to the utilization of buddhi. Interestingly, it is the Master P. on the fourth ray who (we are told) stimulates the science of psychology in the modern world.

29. Nguyên khí Bác Ái – Minh Triết (Bồ đề, nguyên khí thứ sáu) được tìm thấy trên cõi Bồ đề là nguyên khí góp phần vào sự điều hòa nghiệp quả của mọi bất hòa, và mặc khải chân lý của Nguyên Mẫu thiêng liêng, mà sự mặc khải ấy giải thoát con người. Sirius, như một biểu hiện của Đức Christ Vũ Trụ, thúc đẩy việc đạt được sự tự do này qua Lý Trí Thuần Khiết, Bác ái và minh triết. Sự thấu hiểu tâm lý học chân thực liên hệ với con số bốn và với việc sử dụng Bồ đề. Điều thú vị là chính Chân sư P. trên cung bốn (như chúng ta được cho biết) kích thích khoa học tâm lý học trong thế giới hiện đại.

30. VSK queries: “How is this related to the three cosmic laws, and the emerging fourth; i.e., Law of Synthesis relating to the Boundless Immutable Principle; the Law of Attraction to Law of Periodicity; the Law of Economy to the fact that All Souls are Identical with the Oversoul? So then, the emerging Law of Freedom [R&I p. 417], would correlate with the dawning Fourth Fundamental of the Secret Doctrine/ fundamental? The factor of numerical resonance is important here.

30. VSK nêu câu hỏi: “Điều này liên hệ thế nào với ba định luật vũ trụ, và định luật thứ tư đang xuất hiện; tức là, Định luật Tổng Hợp liên hệ với Nguyên Khí Vô Biên Bất Biến; Định luật Hấp Dẫn với Định luật Chu Kỳ; Định luật Tiết Kiệm với sự kiện rằng Mọi Linh Hồn Đồng Nhất với đại hồn? Vậy thì, Định luật Tự do đang xuất hiện [R&I tr. 417], sẽ tương ứng với Nền Tảng thứ Tư đang hé rạng của Giáo Lý Bí Nhiệm/nền tảng? Yếu tố cộng hưởng số học là quan trọng ở đây.”

The other three are esoteric and must remain so until each man has for himself worked at his spiritual development, built the bridge between the higher and the lower mind, prepared the shrine in the temple of Solomon for the Light of God, and turned his activities into altruistic helping of the evolutionary plans of the Logos.

Ba điều còn lại là huyền bí và phải vẫn như vậy cho đến khi mỗi người tự mình nỗ lực cho sự phát triển tinh thần của mình, xây dựng cây cầu giữa thượng trí và hạ trí, chuẩn bị điện thờ trong đền Solomon cho Ánh Sáng của Thượng đế, và chuyển các hoạt động của mình thành sự trợ giúp vị tha cho các kế hoạch tiến hoá của Thượng đế.

31. We are being told when there may be access to the other three Fundamentals of the Secret Doctrine. Let us tabulate:

31. Chúng ta đang được cho biết khi nào có thể tiếp cận ba Nền Tảng còn lại của Giáo Lý Bí Nhiệm. Chúng ta hãy lập bảng:

a. When man has for himself worked at his spiritual development

a. Khi con người tự mình nỗ lực cho sự phát triển tinh thần của mình

b. When man has built the bridge between the higher and the lower mind

b. Khi con người đã xây dựng cây cầu giữa thượng trí và hạ trí

c. When man has prepared the shrine in the temple of Solomon for the Light of God

c. Khi con người đã chuẩn bị điện thờ trong đền Solomon cho Ánh Sáng của Thượng đế

d. When man has turned his activities into altruistic helping of the evolutionary planes of Logos

d. Khi con người đã chuyển các hoạt động của mình thành sự trợ giúp vị tha cho các kế hoạch tiến hoá của Thượng đế

32. It would seem that for the revelation of these esoteric Fundamentals to dawn upon human consciousness, man must minimally be an initiate of the third degree.

32. Có vẻ như để sự mặc khải của các Nền Tảng huyền bí này hé rạng trong tâm thức con người, con người ít nhất phải là một điểm đạo đồ cấp ba.

33. The fourth ether and the buddhic plane are both in process of revelation to human consciousness. This revelation corresponds to the slowly emerging revelation of the Fourth Fundamental of the Secret Doctrine. It is also no surprise that the Science of Psychology will be that through which occultism is brought into human consciousness.

33. Dĩ thái thứ tư và cõi Bồ đề đều đang trong tiến trình được mặc khải cho tâm thức con người. Sự mặc khải này tương ứng với sự mặc khải đang chậm rãi xuất hiện của Nền Tảng thứ Tư của Giáo Lý Bí Nhiệm. Cũng không có gì ngạc nhiên khi Khoa Học Tâm Lý Học sẽ là phương tiện qua đó huyền bí học được đưa vào tâm thức con người.

34. There may be a relation to the fact that three of the Fundamentals of the Secret Doctrine are concealed, and three of the intra-planetary Kumaras are concealed.

34. Có thể có một liên hệ với sự kiện rằng ba Nền Tảng của Giáo Lý Bí Nhiệm bị che giấu, ba Kumaras nội hành tinh cũng bị che giấu.

When these qualities are assuming a foremost place and when man has demonstrated the thoroughness of his will to serve, then the clue will be put into his hands and he will find the method whereby electrical impulse, demonstrating as heat, light and motion, is controlled and utilised;

Khi những phẩm tính này đang giữ vị trí hàng đầu và khi con người đã chứng tỏ tính triệt để của ý chí phụng sự của mình, khi đó đầu mối sẽ được đặt vào tay y và y sẽ tìm ra phương pháp nhờ đó xung lực điện, biểu hiện như nhiệt, ánh sáng và chuyển động, được kiểm soát và sử dụng;

35. We learn that although there are always clues to the next possible revelation, certain requirements must be fulfilled before the clue can be evoked—in due course.

35. Chúng ta học được rằng mặc dù luôn có những đầu mối cho sự mặc khải khả dĩ kế tiếp, một số điều kiện nhất định phải được hoàn tất trước khi đầu mối có thể được gợi lên—đúng thời điểm.

36. The phrase “thoroughness of his will to serve” is arresting in its implications. Obviously, all of us are moved by the will to serve, but that will may not be thorough-going, persistently permeating every dimension of our lives in the three worlds.

36. Cụm từ “tính triệt để của ý chí phụng sự của mình” thật đáng chú ý trong các hàm ý của nó. Hiển nhiên tất cả chúng ta đều được thúc đẩy bởi ý chí phụng sự, nhưng ý chí ấy có thể chưa triệt để, chưa bền bỉ thấm nhuần mọi chiều kích của đời sống chúng ta trong ba cõi thấp.

37. The threefold manner in which electrical impulse demonstrates is worth noting.

37. Cách thức tam phân mà xung lực điện biểu hiện là điều đáng lưu ý.

38. The control and utilization of this impulse will be through the power of thought, reinforced by will.

38. Sự kiểm soát và sử dụng xung lực này sẽ thông qua quyền năng của tư tưởng, được củng cố bởi ý chí.

39. Thought will control electricity.

39. Tư tưởng sẽ kiểm soát điện.

40. In the practice of white magic, we will find the third, fifth and seventh rays allied.

40. Trong việc thực hành Chánh Thuật, chúng ta sẽ thấy cung ba, cung năm và cung bảy liên kết với nhau.

he will discover the source of the initial impulse from extra-systemic centres, and discover the basic rhythm.

y sẽ khám phá nguồn của xung lực ban đầu từ các trung tâm ngoài hệ, và khám phá nhịp điệu căn bản.

41. The initial impulse behind electrical impulse has an origin which is extra-systemic, i.e., originating from a source outside our solar system.

41. Xung lực ban đầu đứng sau xung lực điện có một nguồn gốc ngoài hệ, tức là phát sinh từ một nguồn bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta.

42. From what is generally taught, we can reasonably conceive of this source (as regards our local cosmosystem) as the Pleiades.

42. Từ những gì thường được giảng dạy, chúng ta có thể hợp lý hình dung nguồn này (xét theo cosmosystem cục bộ của chúng ta) là Thất Nữ Tinh.

43. It may be that all the seven major (to us) Pleiades are involved, because DK speaks of “extra-systemic centres” (plural). Probably each of the major Pleiades is the source of a particular coloration of the electrical impulse, and stands behind one of the Seven Brothers of Fohat. Probably there are seven divisions of the Law of Electricity.

43. Có thể là cả bảy ngôi sao chính (đối với chúng ta) của Thất Nữ Tinh đều có liên quan, vì Chân sư DK nói đến “các trung tâm ngoài hệ” (số nhiều). Có lẽ mỗi ngôi sao chính của Thất Nữ Tinh là nguồn của một sắc thái đặc thù của xung lực điện, và đứng sau một trong Bảy Huynh Đệ của Fohat. Có lẽ có bảy phân bộ của Định luật Điện.

44. It is hinted that there is a “basic rhythm” behind all electrical phenomena. One of new sciences will focus on the ways in which the many rhythms (or frequencies) are derived from a basic rhythm (or frequency). We have to discover what in music is called the “fundamental tone”, and derive from it the entire range of related vibrations.

44. Có gợi ý rằng có một “nhịp điệu căn bản” đứng sau mọi hiện tượng điện. Một trong những khoa học mới sẽ tập trung vào những cách thức mà nhiều nhịp điệu (hay tần số) được rút ra từ một nhịp điệu căn bản (hay tần số). Chúng ta phải khám phá điều mà trong âm nhạc được gọi là “âm cơ bản”, và từ đó rút ra toàn bộ dải rung động liên hệ.

45. It may be that each subsidiary rhythm is derived from a fundamental rhythm. The method of derivation may be related to the harmonics of the fundamental.

45. Có thể mỗi nhịp điệu phụ thuộc đều được rút ra từ một nhịp điệu nền tảng. Phương pháp rút ra ấy có thể liên hệ với các họa âm của âm nền tảng.

Then, and only then, will he be a truly intelligent co-operator, and (escaping from the control of the Law in the three worlds) wield the law himself within the lower spheres.

Khi đó, và chỉ khi đó, y mới là một cộng tác viên thực sự thông minh, và (thoát khỏi sự kiểm soát của Định luật trong ba cõi thấp) tự mình vận dụng định luật trong các khối cầu thấp hơn.

46. DK is telling us how a disciple becomes a Master. For a Master is a Master in the three worlds.

46. Chân sư DK đang cho chúng ta biết một đệ tử trở thành một Chân sư như thế nào. Vì một Chân sư là Chân sư trong ba cõi thấp.

47. We are understanding that a Master is a Master of electrical phenomena. A Master is the product of the first solar system, and is master of the electrical phenomena related to that solar system (in which was developed what we now call the third or electrical aspect of divinity).

47. Chúng ta đang hiểu rằng một Chân sư là bậc làm chủ các hiện tượng điện. Một Chân sư là sản phẩm của hệ mặt trời thứ nhất, và là bậc làm chủ các hiện tượng điện liên hệ với hệ mặt trời ấy (trong đó điều mà nay chúng ta gọi là phương diện thứ ba hay phương diện điện của thiên tính đã được phát triển).

48. Those who focus upon the fifth ray have a special ability to understand, wield and master electrical phenomena. We are understanding what is involved technically in the making of a Master of the Wisdom. The making of a Lord of Compassion (who is also a Master) may not involve a grasp of such technicalities.

48. Những ai tập trung vào cung năm có một khả năng đặc biệt để thấu hiểu, vận dụng và làm chủ các hiện tượng điện. Chúng ta đang hiểu điều gì liên quan về mặt kỹ thuật trong việc tạo nên một Chân sư Minh triết. Việc tạo nên một Chúa Tể của Lòng Từ Bi (cũng là một Chân sư) có thể không bao gồm sự nắm bắt những chi tiết kỹ thuật như thế.

1. The Nature of Manifestation.

1. Bản Chất của Sự Biểu Hiện.

Here are three important questions to be dealt with as one, all bearing on the same subject, and all concerned with the fact of intelligent objectivity itself.

Ở đây có ba câu hỏi quan trọng cần được bàn đến như một, tất cả đều liên quan đến cùng một chủ đề, và tất cả đều gắn với chính sự kiện khách quan tính thông minh.

49. Objectivity is produced particularly by the intelligence aspect, the third aspect.

49. Khách quan tính được tạo ra đặc biệt bởi phương diện trí tuệ, phương diện thứ ba.

Perhaps if we paraphrased the threefold query, and brought it down to microcosmic objectivity, the problem might not appear so complex.

Có lẽ nếu chúng ta diễn giải lại câu hỏi tam phân này, và đưa nó xuống mức khách quan tính của tiểu thiên địa, thì vấn đề có thể sẽ không có vẻ phức tạp đến thế.

50. The principle is: reduce to clarify. It is also at times true that one may expand to clarify.

50. Nguyên tắc là: giảm xuống để làm sáng tỏ. Đôi khi cũng đúng rằng người ta có thể mở rộng ra để làm sáng tỏ.

We might express it thus:

Chúng ta có thể diễn đạt như sau:

What is the thought aspect of a human being? Why is his mind and mental process of such importance? Who is the Thinker?

Phương diện tư tưởng của một con người là gì? Tại sao trí tuệ và tiến trình trí tuệ của y lại quan trọng đến thế? Ai là Kẻ Tư Tưởng?

51. VSK suggests that we may see the questions immediately above as the direct lower corollaries to the opening series of questions i.e., WHAT IS THE MIND ASPECT? WHY IS THE MANASIC PRINCIPLE OF SUCH IMPORTANCE? WHO ARE THE MANASAPUTRAS?

51. VSK gợi ý rằng chúng ta có thể xem các câu hỏi ngay bên trên như những hệ luận trực tiếp thấp hơn của loạt câu hỏi mở đầu, tức là, PHƯƠNG DIỆN TRÍ TUỆ LÀ GÌ? TẠI SAO NGUYÊN KHÍ MANAS LẠI QUAN TRỌNG ĐẾN THẾ? CÁC MANASAPUTRA LÀ AI?

52. These questions are of real importance in these days when the Atlantean tendencies in human consciousness are experiencing a reawakening in the approach of so many spiritually-inclined people whose impression it is that “the mind is the slayer of the real”—and this, before having fully developed the mind.

52. Những câu hỏi này thực sự quan trọng trong những ngày này khi các khuynh hướng Atlantis trong tâm thức nhân loại đang trải qua một sự thức dậy trở lại, trong lúc rất nhiều người có khuynh hướng tinh thần tiến gần đến quan niệm rằng “trí tuệ là kẻ sát hại cái thực”—và điều này xảy ra trước khi trí tuệ được phát triển đầy đủ.

Man, in essential essence, is the higher triad demonstrating through a gradually evolving form, the egoic or causal body, and utilising the lower threefold personality [Page 261] as a means to contact the lower three planes.

Con người, trong tinh túy cốt yếu, là tam nguyên cao đang biểu lộ qua một hình tướng tiến hóa dần dần, thể chân ngã hay thể nguyên nhân, và sử dụng phàm ngã tam phân thấp hơn [Page 261] như một phương tiện để tiếp xúc với ba cõi thấp hơn.

53. This is a highly essentialized definition of the nature of man, and a very useful one.

53. Đây là một định nghĩa được tinh yếu hóa cao độ về bản chất của con người, và là một định nghĩa rất hữu ích.

54. We notice that man, “in essential essence”, is not defined as the Monad, which may seem a little surprising. But then, the triad is the threefold expression of the Monad and, in all things occult, the three are the one and the one is the three.

54. Chúng ta lưu ý rằng con người, “trong tinh túy cốt yếu”, không được định nghĩa là chân thần, điều này có thể có vẻ hơi đáng ngạc nhiên. Nhưng tam nguyên là biểu hiện tam phân của chân thần, và trong mọi điều huyền bí, ba là một và một là ba.

55. The personality is (spiritually considered) a means of focalizing the Spirit. Without it, man, the Monad/triad, could not contact the lower three planes.

55. Phàm ngã là (xét về mặt tinh thần) một phương tiện để hội tụ Tinh thần. Không có nó, con người, chân thần/tam nguyên, không thể tiếp xúc với ba cõi thấp hơn.

All this has for purpose the development of perfect self-consciousness.

Tất cả điều này nhằm mục đích phát triển ngã thức hoàn hảo.

56. Man’s Self-consciousness may be quite perfect on monadic levels, but the perfection lacks in those levels of prakritic immersion we call the five planes of human and super-human evolution.

56. Ngã thức của con người có thể khá hoàn hảo trên các cấp độ chân thần, nhưng sự hoàn hảo ấy còn thiếu trên những cấp độ chìm đắm trong prakriti mà chúng ta gọi là năm cõi của tiến hoá nhân loại và siêu nhân loại.

57. The whole subject of monadic awareness is one of intense interest. It is reasonable to think that such awareness is far more universal than individual (“Lead us from the individual to the universal”) and yet retains the perception of distinct identity which we may think of as allied to individuality.

57. Toàn bộ chủ đề về nhận biết chân thần là một chủ đề cực kỳ đáng quan tâm. Thật hợp lý khi nghĩ rằng sự nhận biết như vậy mang tính phổ quát hơn là cá biệt (“Hãy dẫn dắt chúng con từ cái cá biệt đến cái phổ quát”) nhưng vẫn giữ lại sự tri nhận về bản sắc riêng biệt mà chúng ta có thể xem là gần với tính cá thể.

Above the triad stands the Monad or the Father in Heaven—a point of abstraction to man as he views the subject from the physical plane.

Bên trên tam nguyên là chân thần hay Cha trên Trời—một điểm trừu tượng đối với con người khi y nhìn chủ đề này từ cõi hồng trần.

58. We must agree with the Tibetan’s assessment. Is the Monad also a ‘point of incomprehensibility’, or is something of its nature beginning to impress the human consciousness?

58. Chúng ta phải đồng ý với nhận định của Chân sư Tây Tạng. Chân thần cũng có phải là một “điểm bất khả lĩnh hội” hay chăng, hay một điều gì đó thuộc bản chất của nó đang bắt đầu gây ấn tượng lên tâm thức con người?

The Monad stands to him in the position of the Absolute, in the same sense as the undifferentiated Logos stands to the threefold Trinity, to the three Persons of logoic manifestation. The parallel is exact.

Chân thần đứng đối với y ở vị trí của Tuyệt Đối, theo cùng ý nghĩa như Thượng đế chưa phân hóa đứng đối với Ba Ngôi tam phân, đối với ba Ngôi vị của biểu lộ logoi. Sự song hành này là chính xác.

59. The Absolute/Monad = the Undifferentiated Logos/the Logoic Trinity

59. Tuyệt Đối/Chân thần = Thượng đế Chưa Phân Hóa/Ba Ngôi Logoi

60. Indeed, the essential Monad is a Ray of the ABSOLUTE. Human conceptions, of course, fail to do justice to these most abstract of themes.

60. Thật vậy, về bản chất chân thần là một cung của TUYỆT ĐỐI. Dĩ nhiên, các quan niệm của con người không thể diễn đạt thỏa đáng những chủ đề trừu tượng nhất này.

61. We see that the term “Absolute”, as here used, is not absolute at all. But if the term “Absolute” means, ‘that beyond which one may not go’ (at least, not yet), then the analogy is significant.

61. Chúng ta thấy rằng thuật ngữ “Tuyệt Đối”, như được dùng ở đây, hoàn toàn không tuyệt đối chút nào. Nhưng nếu thuật ngữ “Tuyệt Đối” có nghĩa là ‘điều vượt quá đó người ta không thể đi xa hơn’ (ít nhất là, chưa thể), thì phép loại suy này thật có ý nghĩa.

62. Who are the “three Persons of logoic manifestation”? It would be legitimate to call them Brahma, Vishnu and Shiva. They are depicted on the Chart on TCF 1238, as the three circles closest to the Solar Logos.

62. “Ba Ngôi vị của biểu lộ logoi” là ai? Hoàn toàn chính đáng khi gọi Các Ngài là Brahma, Vishnu và Shiva. Các Ngài được mô tả trên Biểu đồ ở TCF 1238, như ba vòng tròn gần Thái dương Thượng đế nhất.

63. It is possible that these Three Persons also, each of them, express through three planets. (cf. EP II 99), thus requiring nine planets to express the Three Persons considered as a unit.

63. Có thể là ba Ngôi vị này cũng vậy, mỗi vị trong Các Ngài, biểu lộ qua ba hành tinh. (xem EP II 99), do đó cần đến chín hành tinh để biểu lộ Ba Ngôi vị được xét như một đơn vị.

64. The constant use of relativity in the task of elucidating the Ageless Wisdom is something with which we all must reckon.

64. Việc sử dụng liên tục tính tương đối trong nhiệm vụ làm sáng tỏ Minh Triết Ngàn Đời là điều mà tất cả chúng ta đều phải tính đến.

1. The Monad.

1. Chân thần.

2. The threefold Triad, Atma-Buddhi-Manas, or spiritual will, intuition, and higher mind.

2. Tam nguyên tam phân, Atma-Buddhi-Manas, hay ý chí tinh thần, trực giác, và thượng trí.

3. The body egoic or the causal body, the shrine for the buddhic principle. This body is to be built by the power of the mind. It is the manifestation of the three.

3. Thể chân ngã hay thể nguyên nhân, điện thờ của nguyên khí Bồ đề. Thể này phải được xây dựng bằng quyền năng của trí tuệ. Nó là biểu hiện của bộ ba.

65. These are some important thoughts. We may remember that the three synthesis petals arise due to buddhic impulse.

65. Đây là một số tư tưởng quan trọng. Chúng ta có thể nhớ rằng ba cánh hoa tổng hợp phát sinh do xung lực Bồ đề.

A downflow of buddhi takes place along the line of the manasic triangle until it reaches a point at the very centre of the lotus. There, by the power of its own vibration, it causes a change in the appearance of the lotus. At the very heart of the lotus, three more petals appear which close in on the central flame, covering it closely, and remaining closed until the time comes for the revelation of the “jewel in the Lotus.” (TCF 709)

Một dòng tuôn đổ của Bồ đề diễn ra dọc theo đường của tam giác manas cho đến khi nó đạt tới một điểm ngay tại trung tâm của hoa sen. Ở đó, bằng quyền năng của chính rung động của nó, nó gây ra một sự thay đổi trong sắc tướng của hoa sen. Ngay tại trái tim của hoa sen, ba cánh hoa nữa xuất hiện khép lại quanh ngọn lửa trung tâm, che phủ nó sát kín, và vẫn khép kín cho đến khi thời điểm đến để mặc khải “ngọc trong Hoa Sen.” (TCF 709)

66. Thus we may see how the causal body can be considered the “shrine for the buddhic principle”. The three synthesizing petals can been called “enshrining petals” (cf. IHS 141).

66. Như vậy chúng ta có thể thấy thể nguyên nhân có thể được xem là “điện thờ của nguyên khí Bồ đề” như thế nào. Ba cánh hoa tổng hợp có thể được gọi là “các cánh hoa bao thờ” (xem IHS 141).

67. The buddhic petals are considered to be ‘petals of revelation’—they reveal life.

67. Các cánh hoa Bồ đề được xem là ‘các cánh hoa mặc khải’—chúng mặc khải sự sống.

68. The causal body is (for the majority of man’s evolution) the principle vehicle of expression for the second aspect of divinity. Buddhi is the principle which expresses this second aspect.

68. Thể nguyên nhân là (đối với phần lớn tiến hóa của con người) vận cụ biểu lộ chính yếu cho phương diện thứ hai của thiên tính. Bồ đề là nguyên khí biểu lộ phương diện thứ hai này.

69. It is significant to say that the causal body is built by the power of mind. This is certainly so in the case of the Solar Angels who created it on the third subplane of the higher mental plane (by utilizing the powers inherent in the first subplane). It is also true of man, who, through a growing mentality, chooses and ‘buys’ his experience in the lower worlds. The extract of that experience is built into the causal body as value.

69. Thật có ý nghĩa khi nói rằng thể nguyên nhân được xây dựng bằng quyền năng của trí tuệ. Điều này chắc chắn đúng trong trường hợp các Thái dương Thiên Thần, những Đấng đã tạo ra nó trên cõi phụ thứ ba của Cõi thượng trí (bằng cách sử dụng các quyền năng vốn có trong cõi phụ thứ nhất). Điều này cũng đúng với con người, là kẻ, thông qua một trí tuệ đang tăng trưởng, chọn lựa và ‘mua’ kinh nghiệm của mình trong các cõi thấp. Tinh chất rút ra từ kinh nghiệm đó được xây dựng vào thể nguyên nhân như giá trị.

70. The planet Venus, ruler of the ‘Sign of Choice’, Libra, is involved in this choice of experience. According to the principle of attraction (desire/love—Venus) so we experience. Saturn, another ruler of Libra is also deeply involved.

70. Hành tinh Sao Kim, chủ tinh của ‘Dấu Hiệu của Sự Chọn Lựa’, Thiên Bình, có liên quan đến sự chọn lựa kinh nghiệm này. Theo nguyên khí hấp dẫn (ham muốn/bác ái—Sao Kim), chúng ta trải nghiệm như vậy. Sao Thổ, một chủ tinh khác của Thiên Bình, cũng liên quan sâu sắc.

71. The causal body is really a vehicle of manifestation for Atma-Buddhi-Manas, but is most connected with buddhi because the soul principle is the second principle in the trinity of Spirit, soul and ‘body’/ i.e., personality, and because the causal body is the soul body.

71. Thể nguyên nhân thực sự là một vận cụ biểu lộ cho Atma-Buddhi-Manas, nhưng gắn bó nhất với Bồ đề vì nguyên khí linh hồn là nguyên khí thứ hai trong bộ ba Tinh thần, linh hồn và ‘thể’/ tức là, phàm ngã, và vì thể nguyên nhân là thể linh hồn.

4. The threefold lower nature, the points of densest objectivity.

4. Bản chất thấp tam phân, những điểm của tính khách quan đậm đặc nhất.

72. It is not that we consider the dense physical body alone to the point of densest objectivity—which, in a way, it is. Dense objectivity is shared by all the lower three vehicles—hence the use of the word “points” (plural).

72. Không phải là chúng ta chỉ xem thể xác đậm đặc là điểm của tính khách quan đậm đặc nhất—dù theo một nghĩa nào đó, đúng là như vậy. Tính khách quan đậm đặc được chia sẻ bởi tất cả ba vận cụ thấp hơn—do đó mới dùng từ “những điểm” (số nhiều).

73. We have to alter our perspective on the supposed subjectivity of our etheric, astral and lower mental natures.

73. Chúng ta phải thay đổi quan điểm của mình về tính chủ quan được giả định của bản chất dĩ thái, cảm dục và hạ trí của mình.

5. This threefold lower nature is in essence a quaternary—the etheric vehicle, animating life or prana, kama-manas, and lower mind.

5. Bản chất thấp tam phân này về thực chất là một bộ bốn—vận cụ dĩ thái, sự sống hoạt hóa hay prana, kama-manas, và hạ trí.

74. We note that the dense physical vehicle is not included in this quaternary.

74. Chúng ta lưu ý rằng vận cụ hồng trần đậm đặc không được bao gồm trong bộ bốn này.

75. Of course, it can be disputed whether kama-manas is really a principle, or actually a combination of two principle—manas and kama, but for practical purposes, since so many human beings are under its sway, kama-manas can be considered a principle.

75. Dĩ nhiên, có thể tranh luận rằng kama-manas có thực sự là một nguyên khí hay không, hay thực ra là sự kết hợp của hai nguyên khí—manas và kama, nhưng vì mục đích thực tiễn, bởi rất nhiều con người đang ở dưới sự chi phối của nó, kama-manas có thể được xem là một nguyên khí.

76. Notice (because it will be important later) that the “quaternary” refers to the lower principles of the human being, or of any atom (such as the Planetary Logos or Solar Logos).

76. Hãy lưu ý (vì điều này sẽ quan trọng về sau) rằng “bộ bốn” ám chỉ các nguyên khí thấp hơn của con người, hay của bất kỳ nguyên tử nào (chẳng hạn như Hành Tinh Thượng đế hay Thái dương Thượng đế).

Manas or the fifth principle, forms the link between the lower and the higher. [7: S. D., I, 107.]

Manas hay nguyên khí thứ năm, tạo thành mối liên kết giữa cái thấp và cái cao. [7: S. D., I, 107.]

77. VSK queries: “What are the systemic and cosmic parallels of the causal body being built by the mind?”

77. VSK nêu câu hỏi: “Những song hành hệ thống và vũ trụ nào tương ứng với việc thể nguyên nhân được xây dựng bởi trí tuệ?”

78. Probably these parallels are rather exact in the case of the building of the causal bodies of both our Planetary Logos and Solar Logos. Whether Constellational Logoi have causal bodies, can only be analogically inferred (cf. TCF 293)

78. Có lẽ những song hành này khá chính xác trong trường hợp xây dựng các thể nguyên nhân của cả Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế của chúng ta. Còn việc các Thượng đế Chòm sao có thể nguyên nhân hay không, chỉ có thể được suy ra bằng loại suy (xem TCF 293)

79. In this case the “lower” is represented by the quaternary named above. The “higher” may be considered Atma-Buddhi-Manas.

79. Trong trường hợp này, cái “thấp” được biểu thị bởi bộ bốn được nêu ở trên. Cái “cao” có thể được xem là Atma-Buddhi-Manas.

We have, therefore, our lower four, our higher three, and the relation between them, the principle of mind.

Do đó, chúng ta có bốn thấp hơn, ba cao hơn, và mối liên hệ giữa chúng, nguyên khí trí tuệ.

80. Thus, in this enumeration, we have eight in all.

80. Như vậy, trong cách liệt kê này, chúng ta có tất cả là tám.

81. In the section under study, a number of different ways of dividing or enumerating man will be given. It will be necessary for us constantly to change our point of view in order to see the rationale for the division or numbering.

81. Trong phần đang được nghiên cứu, sẽ có một số cách phân chia hay liệt kê con người khác nhau được đưa ra. Chúng ta sẽ cần liên tục thay đổi điểm nhìn của mình để thấy được cơ sở hợp lý cho sự phân chia hay đánh số ấy.

82. The number eight is of importance, because it both represents the Christ Principle and that which fights most intelligently against it—the lower mind in a condition of willful separation and known as the “eighth sphere”.

82. Con số tám là quan trọng, vì nó vừa biểu thị Nguyên khí Christ vừa biểu thị điều chống lại nó một cách thông minh nhất—hạ trí trong tình trạng phân ly cố ý và được biết đến như “khối cầu thứ tám”.

Here we have the seven formed by the union of the three and the four, and another factor, making eight. The ultimate seven will be seen when buddhi and manas are merged.

Ở đây chúng ta có số bảy được hình thành bởi sự hợp nhất của ba và bốn, và một yếu tố khác, làm thành tám. Số bảy tối hậu sẽ được thấy khi Bồ đề và manas được dung hợp.

83. This is certainly of interest. Let us tabulate the numbering of man when this merging has occurred:

83. Điều này chắc chắn đáng quan tâm. Chúng ta hãy lập bảng cách đánh số con người khi sự dung hợp này đã xảy ra:

1. Atma

1. Atma

2. Buddhi-Manas

2. Buddhi-Manas

3. The principle of mind (Manas)—considered as solar fire

3. Nguyên khí trí tuệ (Manas)—được xem như Lửa Thái dương

4. Lower mind

4. Hạ trí

5. Kama-manas

5. Kama-manas

6. Prana

6. Prana

7. Etheric Vehicle

7. Vận cụ dĩ thái

84. If we examine the list closely, we will see that not all the factors enumerated are really principles. The etheric vehicle is, precisely, a vehicle—not a principle.

84. Nếu xem xét kỹ danh sách này, chúng ta sẽ thấy rằng không phải mọi yếu tố được liệt kê đều thực sự là nguyên khí. Vận cụ dĩ thái, chính xác mà nói, là một vận cụ—không phải một nguyên khí.

85. VSK suggests we consider the term ‘another factor’ as the principle of mind being the relation between, and a separate factor. There is a necessity that manas being ‘under the direction’ of the soul or buddhic sphere.

85. VSK gợi ý rằng chúng ta xem thuật ngữ ‘một yếu tố khác’ như nguyên khí trí tuệ là mối liên hệ giữa, và là một yếu tố riêng biệt. Có một sự cần thiết là manas phải ở ‘dưới sự chỉ đạo’ của linh hồn hay khối cầu Bồ đề.

86. In relation to VSK’s thought, I think we have to discriminate between “manas” and “lower mind”. “Manas” is that aspect of the mind infused by solar fire and is a true linking energy. The “lower mind” is the sphere which eventually becomes a separated unit in those who are dedicated to material selfishness, and forms, thereby, a barrier to communication between that which is high and that which is low.

86. Liên hệ với tư tưởng của VSK, tôi nghĩ chúng ta phải phân biện giữa “manas” và “hạ trí”. “Manas” là phương diện của trí tuệ được Lửa Thái dương thấm nhuần và là một năng lượng liên kết đích thực. “Hạ trí” là khối cầu cuối cùng trở thành một đơn vị tách biệt nơi những kẻ tận hiến cho tính ích kỷ vật chất, và do đó tạo thành một rào cản đối với sự giao tiếp giữa cái cao và cái thấp.

87. We have studied the division to be found on the mental plane involving solar fire and the elemental thoughtform-making tendency characteristic of the lower mind.

87. Chúng ta đã nghiên cứu sự phân chia được tìm thấy trên cõi trí liên quan đến Lửa Thái dương khuynh hướng tạo hình tư tưởng hành khí đặc trưng của hạ trí.

88. VSK suggests: Note that these, buddhi and manas, are associated with the Scorpio and Capricorn Creative Hierarchies, the two which marry—human soul and human personality. (We also see the ajna reflection, yellow rose of Scorpio right eye of buddhic soul, and the left eye of personality through Capricorn’s blue and violet, manasic and physical vibratory.)

88. VSK gợi ý: Lưu ý rằng hai điều này, Bồ đề và manas, được liên kết với các Huyền Giai Sáng Tạo Hổ Cáp và Ma Kết, hai Huyền Giai kết hôn—linh hồn con người và phàm ngã con người. (Chúng ta cũng thấy sự phản chiếu ajna, hoa hồng vàng của Hổ Cáp là mắt phải của linh hồn Bồ đề, và mắt trái của phàm ngã qua màu lam và tím của rung động manas và hồng trần của Ma Kết.)

89. As may have been noted in an earlier commentary, there seems to be some question about whether the rose and yellow are to found on the right of the ajna center or the left. Naturally, the blue and violet would also reverse positions, depending on which perspective we use. Reasonable justifications can be found for both. Sources may differ or mistakes may simply have been made in printing. The best way is to see for ourselves!

89. Như có thể đã được lưu ý trong một phần bình luận trước, dường như có một số nghi vấn về việc màu hồng và màu vàng nằm ở bên phải hay bên trái của trung tâm ajna. Đương nhiên, màu lam và tím cũng sẽ đảo vị trí, tùy theo quan điểm chúng ta sử dụng. Có thể tìm thấy những biện minh hợp lý cho cả hai. Các nguồn có thể khác nhau hoặc đơn giản là đã có sai sót trong in ấn. Cách tốt nhất là tự chúng ta nhìn thấy!

Much has been hinted at in certain of our occult books about the eighth sphere. I would suggest that in this linking factor of intelligent mind, we have a clue to the mystery. When mind becomes unduly developed and ceases to unite the higher and the lower, it forms a sphere of its own.  This is the greatest disaster that can overtake the human unit.

Nhiều điều đã được ám chỉ trong một số sách huyền bí của chúng ta về khối cầu thứ tám. Tôi muốn gợi ý rằng trong yếu tố liên kết này của trí tuệ thông minh, chúng ta có một đầu mối cho huyền nhiệm ấy. Khi trí tuệ trở nên phát triển quá mức và không còn hợp nhất cái cao với cái thấp nữa, nó hình thành một khối cầu của riêng nó. Đây là tai họa lớn nhất có thể giáng xuống đơn vị con người.

90. We note that “lower mind” is not considered (in this enumeration of chakras) the fifth principle.

90. Chúng ta lưu ý rằng “hạ trí” không được xem là nguyên khí thứ năm (trong cách liệt kê các luân xa này).

91. In the excerpt above, mind as the fifth principle ceases to link and instead separates, perhaps joining what is called in the enumeration, “lower mind”.

91. Trong đoạn trích trên, trí tuệ với tư cách nguyên khí thứ năm không còn liên kết nữa mà thay vào đó phân ly, có lẽ nhập vào điều được gọi trong cách liệt kê là “hạ trí”.

92. It is possible for the powers of the causal body to be prostituted to the desires of the form nature.

92. Có thể các quyền năng của thể nguyên nhân bị lạm dụng để phục vụ các ham muốn của bản chất hình tướng.

93. Manas ceases to be united to love and the five-pointed star is inverted.

93. Manas không còn hợp nhất với bác ái và ngôi sao năm cánh bị đảo ngược.

94. An inverted Venus becomes, symbolically, Mars—in this case, the “Beast”.

94. Một Sao Kim đảo ngược trở thành, về mặt biểu tượng, Sao Hỏa—trong trường hợp này, là “Con Thú”.

[Page 262]

[Page 262]

Therefore we have:

Do đó chúng ta có:

Monad, the microcosmic absolute.

Chân thần, cái tuyệt đối vi mô.

Pure Spirit.

Tinh thần Thuần khiết.

The one and only.

Một và duy nhất.

95. The Monad is “Pure Spirit” in essence. The auric vehicle of the Monad is not Pure Spirit per se.

95. Chân thần là “Tinh thần Thuần khiết” về bản chất. Noãn hào quang của chân thần không phải là Tinh thần Thuần khiết chính nó.

96. Monadic awareness is that which hides all difference and blots out all form. In that type of awareness, the reality of multiplicity is negated.

96. Nhận biết chân thần là điều che giấu mọi khác biệt và xóa mờ mọi hình tướng. Trong loại nhận biết đó, thực tại của tính đa tạp bị phủ nhận.

The monadic trinity.

Ba Ngôi chân thần.

First aspect……. Atma or spiritual will.

Phương diện thứ nhất……. Atma hay ý chí tinh thần.

Second aspect…… Buddhi, the Christ principle.

Phương diện thứ hai…… Bồ đề, nguyên khí Christ.

Third aspect……. Manas, or higher mind.

Phương diện thứ ba……. Manas, hay thượng trí.

97. It is arresting and illuminating to think, of the spiritual triad under the term “monadic trinity”. One who is achieving triadal consciousness is, in a sense, achieving differentiated monadic consciousness.

97. Thật gây chú ý và soi sáng khi nghĩ về Tam Nguyên Tinh Thần dưới thuật ngữ “Ba Ngôi chân thần”. Người đang đạt được tâm thức tam nguyên, theo một nghĩa nào đó, đang đạt được tâm thức chân thần đã được biến phân.

98. The spiritual triad has an analogy to the Three Buddhas of Activity and also to the Logoic Trinity which surround the Solar Logos.

98. Tam Nguyên Tinh Thần có một phép loại suy với Ba Đức Phật Hoạt Động và cũng với Ba Ngôi Logoi bao quanh Thái dương Thượng đế.

99. We note the identification of buddhi with the Christ Principle. The Reappearance of the Christ will mean a new relation of man to his buddhic principle.

99. Chúng ta lưu ý sự đồng nhất Bồ đề với Nguyên khí Christ. Sự Tái Lâm của Đức Christ sẽ có nghĩa là một mối liên hệ mới của con người với nguyên khí Bồ đề của mình.

The Son aspect in objectivity.

Phương diện Con trong tính khách quan.

The body egoic or causal body.

Thể chân ngã hay thể nguyên nhân.

100. The wording here suggests that there is an objective Son and a subjective Son. The subjective Son functions through the buddhic vehicle within the spiritual triad. The objective Son (objective from the perspective of the Solar Logos) is found on the higher mental plane which, to the Solar Logos is a plane of objectivity.

100. Cách diễn đạt ở đây gợi ý rằng có một Con khách quan và một Con chủ quan. Con chủ quan hoạt động qua vận cụ Bồ đề trong Tam Nguyên Tinh Thần. Con khách quan (khách quan từ quan điểm của Thái dương Thượng đế) được tìm thấy trên Cõi thượng trí, cõi mà đối với Thái dương Thượng đế là một cõi khách quan.

The lower quaternary.

Bộ bốn thấp hơn.

1. The mental body.

1. Thể trí.

2. The astral or emotional body.8

2. Thể cảm dục hay cảm xúc.8

3. Prana, or vital energy.

3. Prana, hay năng lượng sinh lực.

4. Etheric body.

4. Thể dĩ thái.

101. We are now discussing another enumeration. We note that four vehicles are included in this enumeration.

101. Giờ đây chúng ta đang bàn đến một cách liệt kê khác. Chúng ta lưu ý rằng bốn vận cụ được bao gồm trong cách liệt kê này.

a. The causal body and not manas

a. Thể nguyên nhân chứ không phải manas

b. The mental body and not lower mind

b. Thể trí chứ không phải hạ trí

c. The astral body and not kama-manas

c. Thể cảm dục chứ không phải kama-manas

102. With respect to Atma-Buddhi-Manas, we do not find in this enumeration

102. Đối với Atma-Buddhi-Manas, chúng ta không thấy trong cách liệt kê này

a. The atmic vehicle

a. Vận cụ atma

b. The buddhic vehicle

b. Vận cụ Bồ đề

c. The manasic vehicle

c. Vận cụ manas

Footnote 8:

Chú thích 8:

Kamamanas—That blending of the mental and desire element that forms the personality or common brain-intelligence of the man.

Kamamanas—Sự pha trộn của yếu tố trí tuệ và yếu tố ham muốn tạo thành phàm ngã hay trí thông minh não bộ thông thường của con người.

103. How they are blended is a technical matter. We speak of the fact that they function together, but we have little idea of how, technically, this really happens.

103. Việc chúng được pha trộn như thế nào là một vấn đề kỹ thuật. Chúng ta nói về sự kiện rằng chúng hoạt động cùng nhau, nhưng chúng ta ít có ý niệm về việc, về mặt kỹ thuật, điều này thực sự xảy ra như thế nào.

“The energies that express themselves through the lower kinds of mental matter are so changed by it into slower vibrations that are responded to by astral matter that the two bodies are continually vibrating together, and become very closely interwoven.“—The Ancient Wisdom by Mrs. Besant.

“Các năng lượng biểu lộ qua những loại vật chất trí tuệ thấp hơn bị chúng biến đổi thành những rung động chậm hơn mà vật chất cảm dục đáp ứng được, đến nỗi hai thể liên tục rung động cùng nhau, và trở nên đan xen rất chặt chẽ.”—Minh Triết Cổ Xưa của bà Besant.

104. Annie Besant’s explanation is a good one, however. She had, I think, a fifth ray mind, and it shows.

104. Tuy nhiên, lời giải thích của Annie Besant là một lời giải thích tốt. Theo tôi, bà có một trí tuệ cung năm, và điều đó thể hiện rõ.

105. We see that there is a necessary slowing down of mental vibration so that it approximates the vibration of astral matter. The astral nature and the lower mental nature thus vibrate together with the result that every thought has a feeling associated with it and vice versa.

105. Chúng ta thấy rằng có một sự chậm lại cần thiết của rung động trí tuệ để nó gần với rung động của vật chất cảm dục. Bản chất cảm dục và bản chất hạ trí do đó rung động cùng nhau, với kết quả là mọi tư tưởng đều gắn liền với một cảm giác và ngược lại.

106. When thought tends to become the servant of desire, its vibration slows.

106. Khi tư tưởng có xu hướng trở thành kẻ phục vụ cho ham muốn, rung động của nó chậm lại.

107. What may be the process of interweaving is another matter for technical analysis. It is as if the two bodies begin to interpenetrate, so that the border of distinction between the two is not easy to apprehend.

107. Tiến trình đan xen có thể là gì lại là một vấn đề khác dành cho phân tích kỹ thuật. Dường như hai thể bắt đầu xuyên nhập lẫn nhau, đến mức ranh giới phân biệt giữa chúng không dễ nắm bắt.

The microcosm reproduces the solar system in miniature.

Tiểu thiên địa tái tạo hệ mặt trời trong hình thức thu nhỏ.

108. Can it be said as well that the microcosm reproduces the planetary system in miniature, or is the correspondence not quite as exact?

108. Có thể cũng nói rằng tiểu thiên địa tái tạo hệ hành tinh trong hình thức thu nhỏ hay không, hay sự tương ứng không hoàn toàn chính xác?

The above deals with the objective forms, corresponding to the sun and the seven sacred planets.

Điều trên đây bàn đến các hình tướng khách quan, tương ứng với mặt trời và bảy hành tinh thiêng liêng.

109. As stated, in the two listings thus far given there has been mixture of principles and vehicles. Because the tabulation ended with the etheric body (the etheric body, being considered a physical form), we might understand why DK thinks of it as an objective tabulation.

109. Như đã nói, trong hai danh sách được đưa ra cho đến nay đã có sự pha trộn giữa các nguyên khí và các vận cụ. Bởi vì bảng liệt kê kết thúc với thể dĩ thái (thể dĩ thái, được xem là một hình tướng hồng trần), chúng ta có thể hiểu tại sao Chân sư DK nghĩ về nó như một bảng liệt kê khách quan.

But the exoteric form is paralleled by a psychic development which we call the seven principles.

Nhưng hình thức ngoại môn được song hành bởi một sự phát triển thông linh mà chúng ta gọi là bảy nguyên khí.

110. Yet, some principles have already been listed in the previous tabulations.

110. Tuy nhiên, một số nguyên khí đã được liệt kê trong các bảng trước đó.

111. Here the flow of text is interrupted to consider the content of some footnotes.

111. Ở đây dòng văn bản bị ngắt quãng để xem xét nội dung của một số chú thích.

Footnote 9:

Chú thích 9:

1. There are two main cosmic principles in nature: —

1. Có hai nguyên khí vũ trụ chính trong bản chất: —

a. Active and passive, male and female. —S. D., II, 556. I, 46.

a. Chủ động và thụ động, nam và nữ. —S. D., II, 556. I, 46.

112. Whatever can be said of man, the microcosm, can be said of the cosmos in general. The fundamental principles in cosmos are the great dualities of positive and receptive, active and passive, male and female.

112. Điều gì có thể nói về con người, tiểu thiên địa, thì cũng có thể nói về vũ trụ nói chung. Các nguyên khí căn bản trong vũ trụ là những nhị nguyên lớn của tích cực và tiếp nhận, chủ động và thụ động, nam và nữ.

b. Buddhi and mahat. See also S. D., I, 357. II, 649. III, 273.

b. Bồ đề và mahat. Xem thêm S. D., I, 357. II, 649. III, 273.

113. If we separate these according to ray lines, it is reasonable to consider Mahat in relation to the activity and buddhi in relation to passivity.

113. Nếu chúng ta tách chúng theo các tuyến cung, thì hợp lý khi xem Mahat liên hệ với tính hoạt động và Bồ đề liên hệ với tính thụ động.

114. VSK suggests: “Here we see mahat equated to manasic energy; highlighting the danger and necessity of mentation, as bridge or prison, and the pervasiveness of mahat ‘as well as’ buddhi.

114. VSK gợi ý: “Ở đây chúng ta thấy mahat được đồng nhất với năng lượng manas; làm nổi bật sự nguy hiểm và sự cần thiết của hoạt động trí tuệ, như cây cầu hay nhà tù, và tính thấm khắp của mahat ‘cũng như’ Bồ đề.

115. VSK suggests an alternative point of view substantiated by the functions of two Creative Hierarchies: “Note buddhi and mahat in terms of masculine and feminine. In the tabulation of Creative Hierarchies we have Scorpio as the masculine and Capricorn as feminine. This suggests buddhi active male and mahat as passive female”.

115. VSK gợi ý một quan điểm thay thế được củng cố bởi các chức năng của hai Huyền Giai Sáng Tạo: “Lưu ý Bồ đề và mahat theo nghĩa nam tính và nữ tính. Trong bảng liệt kê các Huyền Giai Sáng Tạo, chúng ta có Hổ Cáp là nam tính và Ma Kết là nữ tính. Điều này gợi ý Bồ đề là nam chủ động và mahat là nữ thụ động”.

116. This point of view is reasonable.

116. Quan điểm này là hợp lý.

2. These higher principles united produce the three and the seven. —S. D., I, 46.

2. Những nguyên khí cao hơn này hợp nhất tạo ra bộ ba và bộ bảy. —S. D., I, 46.

117. In this cosmic enumeration we have a twelve. Or if buddhi and mahat are considered as a single entity once united, then an eleven.

117. Trong cách liệt kê vũ trụ này, chúng ta có một số mười hai. Hoặc nếu Bồ đề và mahat được xem là một thực thể duy nhất khi đã hợp nhất, thì là một số mười một.

a. They are called the three Rays of Essence and the four Aspects. —S. D., I, 147.

a. Chúng được gọi là ba Cung Bản Chất và bốn Phương diện. —S. D., I, 147.

118. We are discussing a cosmic enumeration. Does its applicability extend beyond the solar system? Does it apply to the Universal Whole?

118. Chúng ta đang bàn đến một cách liệt kê vũ trụ. Tính áp dụng của nó có vượt ra ngoài hệ mặt trời không? Nó có áp dụng cho Toàn Thể Vũ Trụ không?

119. We are being given another name of the Rays of Aspect—the three “Rays of Essence”. A trinity is always essential to any creative process involving wider manifestation through seven aspects. This makes the perfect ten.

119. Chúng ta đang được cho một tên gọi khác của Các Cung Trạng Thái—ba “Cung Bản Chất”. Một bộ ba luôn luôn là điều cốt yếu đối với bất kỳ tiến trình sáng tạo nào liên quan đến biểu lộ rộng lớn hơn qua bảy phương diện. Điều này tạo thành số mười hoàn hảo.

120. As well, given a system of seven, the trinity is essential in relation to the lower four or quaternary.

120. Hơn nữa, với một hệ thống bảy, bộ ba là điều cốt yếu trong tương quan với bốn thấp hơn hay bộ bốn.

b. They can be called the three Vehicles with their three Aspects and Atma. —S. D., I, 182.

b. Chúng có thể được gọi là ba Vận cụ với ba Phương diện của chúng và Atma. —S. D., I, 182.

121. These words suggest the “point within the triangle”.

121. Những lời này gợi ý “điểm bên trong tam giác”.

122. The word “Atma” must be watched closely. Sometimes it does not mean the principle of “spiritual will”, but rather the essential One within the Three, or the “Atman”. This is the possible meaning here.

122. Từ “Atma” phải được theo dõi cẩn thận. Đôi khi nó không có nghĩa là nguyên khí “ý chí tinh thần”, mà đúng hơn là Đấng Duy Nhất cốt yếu bên trong Bộ Ba, hay “Atman”. Đây có thể là ý nghĩa ở đây.

c. They are also called the three-tongued Flame of the Four Wicks. —S. D., I, 257.

c. Chúng cũng được gọi là Ngọn Lửa ba lưỡi của Bốn Tim Đèn. —S. D., I, 257.

123. The “three-tongued Flame” is another name for the triadal nature. The Creative Hierarchy (number three or eight) is called the “Triple Flowers” and are analogically related to the “three-tongued Flame”.

123. “Ngọn Lửa ba lưỡi” là một tên gọi khác của bản chất tam nguyên. Huyền Giai Sáng Tạo (số ba hay tám) được gọi là “Ba Hoa” và có liên hệ loại suy với “Ngọn Lửa ba lưỡi”.

124. The term “three-tongued Flame” could also be correlated with the triple nature of the Monad considered as a Divine Flame.

124. Thuật ngữ “Ngọn Lửa ba lưỡi” cũng có thể được tương liên với bản chất tam phân của chân thần được xem như một Ngọn Lửa thiêng liêng.

125. The “Four Wicks” represent the lower four Rays of Attribute as well as the lower quaternary.

125. “Bốn Tim Đèn” biểu thị bốn Các Cung Thuộc Tính thấp hơn cũng như bộ bốn thấp hơn.

This is true cosmically and humanly.

Điều này đúng cả về mặt vũ trụ lẫn con người.

126. The analogy is made. Anything said in this cosmic enumeration applies also to man.

126. Phép loại suy đã được nêu ra. Bất cứ điều gì được nói trong cách liệt kê vũ trụ này cũng áp dụng cho con người.

– The Principles of the Logos the seven Planetary Logoi. —S. D., I, 358, 365.

– Các Nguyên khí của Thượng đế bảy Hành Tinh Thượng đế. —S. D., I, 358, 365.

– The Principles of the planetary Logos The vehicle called a chain. —S. D., I, 194, 196. II, 626.

– Các Nguyên khí của Hành Tinh Thượng đế Vận cụ được gọi là một Dãy. —S. D., I, 194, 196. II, 626.

– The Principles of man The different vehicles.

– Các Nguyên khí của con người Các vận cụ khác nhau.

127. We have an extensive analogy above.

127. Chúng ta có một phép loại suy rộng lớn ở trên.

a. The seven Principles of the Solar Logos are represented by those qualified systemic (yet cosmic) Lives we call Planetary Logoi.

a. Bảy Nguyên khí của Thái dương Thượng đế được biểu thị bởi những Sự Sống có phẩm tính hệ thống (nhưng vẫn là vũ trụ) mà chúng ta gọi là các Hành Tinh Thượng đế.

b. One wonders about the other Planetary Logoi within our solar system (and there are many such Logoi)—to what logoic principles are they related?

b. Người ta tự hỏi về những Hành Tinh Thượng đế khác trong hệ mặt trời của chúng ta (và có rất nhiều Thượng đế như vậy)—chúng liên hệ với những nguyên khí logoi nào?

c. The Principles of the Planetary Logos are, similarly, the seven planetary chains to be found within each planetary scheme.

c. Tương tự, các nguyên khí của Hành Tinh Thượng đế là bảy dãy hành tinh được tìm thấy bên trong mỗi hệ hành tinh.

d. Just as there are additional Planetary Logoi in any solar system (i.e., additional to the major seven), one wonders if there are additional chains within the system of a Planetary Logos?

d. Cũng như có những Hành Tinh Thượng đế bổ sung trong bất kỳ hệ mặt trời nào (tức là, bổ sung ngoài bảy vị chính), người ta tự hỏi liệu có những dãy bổ sung trong hệ thống của một Hành Tinh Thượng đế hay không?

e. Following the analogy, the principles of man express through the different vehicles (enumerated in different ways, but with the enumeration of seven considered fundamental).

e. Theo phép loại suy, các nguyên khí của con người biểu lộ qua những vận cụ khác nhau (được liệt kê theo nhiều cách khác nhau, nhưng cách liệt kê thành bảy được xem là căn bản).

f. The seven principles use vehicles, but these vehicles must not be considered the principles.

f. Bảy nguyên khí sử dụng các vận cụ, nhưng các vận cụ này không được xem là các nguyên khí.

Note also:—S. D., I, 176, 177. II, 630, 631. I, 189.

Cũng lưu ý:—S. D., I, 176, 177. II, 630, 631. I, 189.

Summation:—S. D., III, 475.

Tóm lược:—S. D., III, 475.

3. Cosmic Ideation, focussed in a principle results as the consciousness of the individual. —S. D., I, 351.

3. Ý niệm Vũ trụ, được tập trung trong một nguyên khí, tạo nên tâm thức của cá nhân. —S. D., I, 351.

128. This is a most occult statement. Each principle is molded by Cosmic Ideation. The consciousness of the individual is sevenfold and correlates to the seven principles through which consciousness is experienced.

128. Đây là một phát biểu hết sức huyền bí. Mỗi nguyên khí được Ý niệm Vũ trụ nhào nặn. Tâm thức của cá nhân là thất phân và tương quan với bảy nguyên khí qua đó tâm thức được kinh nghiệm.

129. The statement would have made more sense to me as ‘Consciousness of a cosmic kind, focussed in a principle results as the consciousness of the individual’.

129. Đối với tôi, phát biểu này sẽ có ý nghĩa hơn nếu là: ‘Tâm thức thuộc loại vũ trụ, được tập trung trong một nguyên khí, tạo nên tâm thức của cá nhân’.

130. Ideation, however, can act as a differentiator which would produce seven different kinds of consciousness, all dependent upon the vehicles which Cosmic Ideation created.

130. Tuy nhiên, ý niệm có thể hoạt động như một tác nhân biến phân, điều này sẽ tạo ra bảy loại tâm thức khác nhau, tất cả đều tùy thuộc vào các vận cụ mà Ý niệm Vũ trụ đã tạo ra.

a. Appropriation by the individual of a vehicle produces a display of energy of any particular plane. This energy will be of a peculiar colour and quality, according to the plane involved.

a. Sự chiếm hữu một vận cụ bởi cá nhân tạo ra sự biểu lộ năng lượng của bất kỳ cõi nào. Năng lượng này sẽ có một màu sắc và phẩm tính đặc thù, tùy theo cõi liên hệ.

131. The individual experiences according to the plane involved. The consciousness experienced on any particular plane is qualified by the nature of that plane. Both consciousness and activity will be conditioned by a “peculiar colour and quality” related to the plane on which expression is experienced.

131. Cá nhân kinh nghiệm tùy theo cõi liên hệ. Tâm thức được kinh nghiệm trên bất kỳ cõi đặc thù nào đều được định tính bởi bản chất của cõi ấy. Cả tâm thức lẫn hoạt động sẽ bị tác động bởi một “màu sắc và phẩm tính đặc thù” liên hệ với cõi mà trên đó sự biểu lộ được kinh nghiệm.

4. The seven principles are the manifestation of the one Flame. —S. D., 45. III, 374.

4. Bảy nguyên khí là sự biểu hiện của một Ngọn Lửa duy nhất. —S. D., 45. III, 374.

132. As suggested numerous times, the seven principles are monadic in origin. Cosmic Ideation determines that there shall be a sevenfold division. Seven aspects of monadic expression are designed.

132. Như đã được gợi ý nhiều lần, bảy nguyên khí có nguồn gốc chân thần. Ý niệm Vũ trụ quyết định rằng sẽ có một sự phân chia thất phân. Bảy phương diện của sự biểu lộ chân thần được thiết kế.

133. The seven principles are monadic extensions or qualities of expression. The One Flame is the One Monad.

133. Bảy nguyên khí là những sự mở rộng chân thần hay những phẩm tính biểu lộ. Một Ngọn Lửa là Một Chân Thần.

Note also the function of the Gods in furnishing man with his principles. S. D., I, 308.

Cũng lưu ý chức năng của các Thượng đế trong việc cung cấp cho con người các nguyên khí của y. S. D., I, 308.

134. In some respects, the “Gods” are the Planetary Deities or Rays, which have created, informed and which influence the seven principles.

134. Trong một số phương diện, các “Thượng đế” là các Thượng đế Hành Tinh hay các cung, những Đấng đã tạo ra, thấm nhuần và ảnh hưởng đến bảy nguyên khí.

135. Now, we return to the main text.

135. Giờ đây, chúng ta trở lại bản văn chính.

Man develops seven principles, which might be enumerated as follows:

Con người phát triển bảy nguyên khí, có thể được liệt kê như sau:

136. We are dealing below with the enumerations of the psychic nature of man. Obviously, the word “psychic” is a term applying to planes far higher than the astral plane. “Psychic” here means deeply subjective.

136. Dưới đây chúng ta đang bàn đến những cách liệt kê về bản chất thông linh của con người. Hiển nhiên, từ “thông linh” là một thuật ngữ áp dụng cho những cõi cao hơn rất nhiều so với cõi cảm dục. Ở đây “thông linh” có nghĩa là sâu xa chủ quan.

MICROCOSMIC PRINCIPLES9

CÁC NGUYÊN KHÍ VI MÔ9

Two higher principles:

Hai nguyên khí cao hơn:

1. Active intelligence.

1. Trí tuệ năng động.

2. Latent love-wisdom. [Page 263]

2. Bác Ái – Minh Triết tiềm ẩn. [Page 263]

(The psychic nature of the Monad is twofold.)

(Bản chất thông linh của Chân Thần là nhị phân.)

137. Active intelligence has long been established and is the nature of the Primordial Ray.

137. Trí tuệ năng động từ lâu đã được xác lập và là bản chất của Cung Nguyên Sơ.

138. It is as if only two of the three monadic potencies are now available: activity is fully established and wisdom (or love-wisdom) is still not fully expressed but is emerging. The will aspect of the monad is not mentioned. This is perhaps unusual because the Monad is so closely identified with will, yet given our place in the unfoldment of our Solar Logos (and the nature of our particular Solar Logos), the omission of will is understandable.

138. Dường như hiện nay chỉ có hai trong ba tiềm năng chân thần là khả dụng: hoạt động đã được xác lập trọn vẹn và minh triết (hay Bác Ái – Minh Triết) vẫn chưa được biểu lộ đầy đủ nhưng đang xuất hiện. Phương diện ý chí của chân thần không được nhắc đến. Điều này có lẽ là bất thường vì Chân Thần được đồng hoá rất chặt chẽ với ý chí, tuy nhiên xét đến vị trí của chúng ta trong sự khai mở của Thái dương Thượng đế của chúng ta (và bản chất của Thái dương Thượng đế đặc thù của chúng ta), sự lược bỏ ý chí là điều có thể hiểu được.

139. Thus, presently, at least, the psychic or subjective nature of the Monad is twofold. It may be that the intelligence aspect of the Monad is not often considered.

139. Vì vậy, ít nhất là hiện nay, bản chất thông linh hay chủ quan của Chân Thần là nhị phân. Có thể phương diện trí tuệ của Chân Thần không thường được xem xét.

140. Note again, how relative is the term “psychic”. When a human being is considered “psychic” it usually indicates that he or she has ready access to the systemic astral plane. The psychic nature of the Monad, however, refers to much deeper and ‘higher’ factors.

140. Hãy lưu ý một lần nữa thuật ngữ “thông linh” có tính tương đối đến mức nào. Khi một con người được xem là “thông linh”, điều đó thường chỉ ra rằng y có sự tiếp cận dễ dàng với cõi cảm dục của hệ thống. Tuy nhiên, bản chất thông linh của Chân Thần lại quy chiếu đến những yếu tố sâu xa hơn và ‘cao hơn’ nhiều.

1. The principle of atma. Spiritual nature. Will.

1. Nguyên khí atma. Bản chất tinh thần. Ý chí.

2. The principle of buddhi. Love nature. Wisdom.

2. Nguyên khí buddhi. Bản chất bác ái. Minh triết.

3. The principle of manas. Intelligence nature, Activity.

3. Nguyên khí manas. Bản chất trí tuệ, Hoạt động.

141. We note the equivalence between atma, will and the “spiritual nature”. The term “spiritual” is used in so many ways, but one of the important ways is in relation to the spiritual triad. Here we see the term used in relation to the very highest part of the spiritual triad.

141. Chúng ta lưu ý sự tương đương giữa atma, ý chí và “bản chất tinh thần”. Thuật ngữ “tinh thần” được dùng theo rất nhiều cách, nhưng một trong những cách quan trọng là trong liên hệ với Tam nguyên tinh thần. Ở đây chúng ta thấy thuật ngữ này được dùng trong liên hệ với phần rất cao nhất của Tam nguyên tinh thần.

142. From this we may judge that there is something about the true will which is inherently spiritual, and something about that which is spiritual which is closely related to will.

142. Từ đó chúng ta có thể phán đoán rằng có điều gì đó nơi ý chí chân thực vốn dĩ là tinh thần, và có điều gì đó nơi cái là tinh thần lại liên hệ chặt chẽ với ý chí.

Note here that the three principles in terms of the Triad with the two synthesising principles on the plane of the Monad, make five principles and give the key to H. P. B.’s numbering in certain places.

Hãy lưu ý ở đây rằng ba nguyên khí xét theo Tam nguyên tinh thần cùng với hai nguyên khí tổng hợp trên cõi của Chân Thần, tạo thành năm nguyên khí và cho chìa khóa đối với cách đánh số của H. P. B. ở một số chỗ nhất định.

143. Yes, we must stay alert, because the numbering in other places may be at variance.

143. Đúng vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, vì cách đánh số ở những chỗ khác có thể khác biệt.

144. If the will aspect of the Monad were included we would have the hexad rather than only the pentad.

144. Nếu phương diện ý chí của Chân Thần được bao gồm, chúng ta sẽ có bộ sáu thay vì chỉ bộ năm.

We might express it thus:

Chúng ta có thể diễn đạt như sau:

I. The Absolute The Monad.

I. Đấng Tuyệt Đối Chân Thần.

145. Again, the microcosmic Absolute.

145. Một lần nữa, đó là Đấng Tuyệt Đối vi mô.

II. 1. Prakriti Active intelligence.

II. 1. Prakriti Trí tuệ năng động.

The Divine Manasaputra.

Manasaputra Thiêng liêng.

2. Purusha Love-Wisdom.

2. Purusha Bác Ái – Minh Triết.

The Vishnu aspect.

Phương diện Vishnu.

146. This is the twofold “psychic” nature of the Monad.

146. Đây là bản chất “thông linh” nhị phân của Chân Thần.

147. It is as if in our second ray solar system, the role of Spirit is played by Vishnu/Love-Wisdom. That which is emerging plays the role of Spirit in relation to that which has already emerged.

147. Dường như trong hệ mặt trời cung hai của chúng ta, vai trò của Tinh thần được Vishnu/Bác Ái – Minh Triết đảm nhiệm. Cái đang xuất hiện đóng vai trò của Tinh thần đối với cái đã xuất hiện rồi.

148. The equivalence of the three terms, “Prakriti”, “Active intelligence” and “the Divine Manasaputra” gives us much to think about. The fact that Prakriti is listed ‘above’ Purusha will give us pause.

148. Sự tương đương của ba thuật ngữ “Prakriti”, “Trí tuệ năng động” và “Manasaputra Thiêng liêng” cho chúng ta nhiều điều đáng suy ngẫm. Việc Prakriti được liệt kê ‘ở trên’ Purusha sẽ khiến chúng ta phải dừng lại suy xét.

149. The Planetary Logoi are Divine Manasaputras, and we know how much they are identified with the Active Intelligence aspect. Nevertheless, the Law of Attraction is highly developed in a Planetary Logos, and all of them are known as “Dragons of Wisdom”, which title attests to the importance of Love-Wisdom in their expression.

149. Các Hành Tinh Thượng đế là những Manasaputra Thiêng liêng, và chúng ta biết các Ngài đồng hoá mạnh mẽ đến mức nào với phương diện Trí tuệ năng động. Tuy nhiên, Định luật Hấp Dẫn được phát triển rất cao nơi một Hành Tinh Thượng đế, và tất cả các Ngài đều được biết đến như “Những Rồng Minh Triết”, danh xưng này chứng thực tầm quan trọng của Bác Ái – Minh Triết trong sự biểu lộ của các Ngài.

150. We can see by analogy that the Solar Angel (also a Manasaputra on its own level) will be strongly identified with Active Intelligence, even though it is a “Heart of Fiery Love”. The Solar Angel reflects its great source, Sirius, in which manas and love are united. The Heavenly Men reflect the Pleiades in which manas and love are also powerfully united, for the Pleiades are the source of cosmic buddhi and yet give manas to the Heavenly Men.

150. Theo phép loại suy, chúng ta có thể thấy rằng Thái dương Thiên Thần (cũng là một Manasaputra trên cấp độ riêng của nó) sẽ được đồng hoá mạnh mẽ với Trí tuệ năng động, dù nó là một “Trái Tim của Bác Ái Rực Lửa”. Thái dương Thiên Thần phản chiếu nguồn gốc vĩ đại của nó là Sirius, nơi manas và bác ái hợp nhất. Các Đấng Thiên Nhân phản chiếu Pleiades, nơi manas và bác ái cũng hợp nhất một cách mạnh mẽ, vì Pleiades là nguồn của buddhi vũ trụ nhưng lại ban manas cho các Đấng Thiên Nhân.

On the plane of objectivity.

Trên cõi khách quan.

III 3. Atma The Triad.

III 3. Atma Tam nguyên tinh thần.

4. Buddhi The Triad.

4. Buddhi Tam nguyên tinh thần.

5. Manas The Triad.

5. Manas Tam nguyên tinh thần.

From the standpoint of evolution we regard the higher two and the highest one as the correspondence to the Absolute as He manifests in duality.

Từ quan điểm tiến hoá, chúng ta xem hai nguyên khí cao hơn và một nguyên khí cao nhất là sự tương ứng với Đấng Tuyệt Đối khi Ngài biểu lộ trong nhị nguyên tính.

151. The highest two (Active Intelligence and Love Wisdom) are considered expressions of the Monad, here termed the “Absolute”

151. Hai nguyên khí cao nhất (Trí tuệ năng động và Bác Ái – Minh Triết) được xem là những biểu lộ của Chân Thần, ở đây được gọi là “Đấng Tuyệt Đối”

152. Thus we have a one and a two leading to an objective third.

152. Như vậy chúng ta có một và hai dẫn đến một thứ ba khách quan.

153. Perhaps it is because the prakritic expression of the Monad comes first in time that Prakriti is listed above Purusha (Love-Wisdom).

153. Có lẽ vì sự biểu lộ prakriti của Chân Thần đến trước về thời gian nên Prakriti được liệt kê trên Purusha (Bác Ái – Minh Triết).

154. We have the six, which is considered the perfect number, because the product of its factors and their sum are the same.

154. Chúng ta có số sáu, được xem là con số hoàn hảo, vì tích của các thừa số của nó và tổng của chúng là như nhau.

155. Thus, as relates to the psychic nature of the microcosm, we have been given the ‘one-two-three’. Interestingly, that which (in this enumeration) lies below and is considered objective, from the lower perspective would be considered deeply subjective.

155. Như vậy, liên quan đến bản chất thông linh của vi mô, chúng ta đã được trao cho ‘một-hai-ba’. Điều thú vị là cái mà (trong cách liệt kê này) nằm bên dưới và được xem là khách quan, từ quan điểm thấp hơn, lại sẽ được xem là sâu xa chủ quan.

This is prior to objectivity, which requires the presence of the three.

Điều này có trước tính khách quan, vốn đòi hỏi sự hiện diện của bộ ba.

156. The nature of objectivity has been raised from its usual level. In this enumeration, the spiritual triad represents objectivity. The number three relates to the third and objectivizing ray.

156. Bản chất của tính khách quan đã được nâng lên khỏi cấp độ thông thường của nó. Trong cách liệt kê này, Tam nguyên tinh thần tượng trưng cho tính khách quan. Con số ba liên hệ với cung ba và cung khách quan hóa.

157. The general statement, however, is interesting—that “objectivity…requires the presence of the three”.

157. Tuy nhiên, phát biểu tổng quát này rất đáng chú ý—rằng “tính khách quan… đòi hỏi sự hiện diện của bộ ba”.

158. It is interesting that when considering the solar system, subjectivity begins on the cosmic astral plane, ‘above’ the cosmic physical. That plane, cosmically, is the sixth (numbering from above).

158. Thật thú vị là khi xem xét hệ mặt trời, tính chủ quan bắt đầu trên cõi cảm dục vũ trụ, ‘ở trên’ cõi hồng trần vũ trụ. Cõi đó, xét theo vũ trụ, là cõi thứ sáu (đếm từ trên xuống).

159. Correspondingly, in this subjective enumeration, we have only six factors.

159. Tương ứng, trong cách liệt kê chủ quan này, chúng ta chỉ có sáu yếu tố.

160. If the will aspect of the Monad were added, there would be seven, but that Will is greatly involved in the process which characterizes this solar system.

160. Nếu phương diện ý chí của Chân Thần được thêm vào, sẽ có bảy, nhưng Ý chí đó liên hệ rất sâu với tiến trình đặc trưng cho hệ mặt trời này.

In manifestation we might regard the principles as follows:

Trong biểu hiện chúng ta có thể xem các nguyên khí như sau:

161. Thus far we have listed six principles (from the a higher “psychic” perspective—really a deeply spiritual or subjective perspective), none of them considered from vehicular point of view. According to the Tibetan, none of the foregoing six have been considered in relation to manifestation.

161. Cho đến nay chúng ta đã liệt kê sáu nguyên khí (từ một quan điểm “thông linh” cao hơn—thực ra là một quan điểm sâu xa tinh thần hay chủ quan), không nguyên khí nào trong số đó được xét từ quan điểm vận cụ. Theo Chân sư Tây Tạng, không điều nào trong sáu điều vừa nêu được xem xét trong liên hệ với biểu hiện.

162. In other words, this means that the foregoing enumeration must be considered as if it were abstracted from manifestation.

162. Nói cách khác, điều này có nghĩa là cách liệt kê vừa nêu phải được xem như thể nó đã được rút ra khỏi biểu hiện.

163. Now DK is going to consider yet another enumeration related to psyche or soul, and not to objectivity as we normally consider it.

163. Giờ đây Chân sư DK sẽ xem xét thêm một cách liệt kê khác liên hệ với tâm linh hay linh hồn, chứ không phải với tính khách quan như chúng ta thường quan niệm.

164. It is important to remember that the following enumeration is a psychic nature which is related to manifestation.

164. Điều quan trọng là phải nhớ rằng cách liệt kê sau đây là một bản chất thông linh có liên hệ với biểu hiện.

[Page 264]

[Page 264]

First Principle The sphere of manifestation, monadic egg.

Nguyên khí Thứ nhất Khối cầu biểu hiện, noãn chân thần.

165. In this enumeration we are not dealing with the Monad as a principle, or with the twofold psychic nature of the Monad as Active Intelligence and Love-Wisdom.

165. Trong cách liệt kê này, chúng ta không bàn đến Chân Thần như một nguyên khí, cũng không bàn đến bản chất thông linh nhị phân của Chân Thần như Trí tuệ năng động và Bác Ái – Minh Triết.

166. We are dealing with the monadic vehicle—the Monad’s “sphere of manifestation”, the monadic egg.

166. Chúng ta đang bàn đến vận cụ chân thần—“khối cầu biểu hiện” của Chân Thần, noãn chân thần.

167. All the factors listed below are ‘contained’ in their expression within this monadic egg.

167. Tất cả các yếu tố được liệt kê dưới đây đều được ‘chứa đựng’ trong sự biểu lộ của chúng bên trong noãn chân thần này.

168. We note, however, that although we are speaking of that which occurs “in manifestation” no further vehicles are listed, but only energies which we recognize as principles or faculties.

168. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý rằng mặc dù đang nói về điều xảy ra “trong biểu hiện”, không có vận cụ nào khác được liệt kê, mà chỉ có những năng lượng mà chúng ta nhận ra là các nguyên khí hay năng lực.

169. What is also curious is to see the “sphere of manifestation” or “monadic egg”, which is obviously a vehicle, listed as a principle.

169. Điều cũng kỳ lạ là thấy “khối cầu biểu hiện” hay “noãn chân thần”, vốn hiển nhiên là một vận cụ, lại được liệt kê như một nguyên khí.

Second Principle Atma Will.

Nguyên khí Thứ hai Atma Ý chí.

170. Some thinkers when attempting to assign rays to Purpose, Will and Intention, have assigned the second ray to the principle of Will.

170. Một số nhà tư tưởng khi cố gắng gán các cung cho Mục Đích, Ý chí và Ý định, đã gán cung hai cho nguyên khí Ý chí.

Third Principle Buddhi Pure reason, wisdom.

Nguyên khí Thứ ba Buddhi Lý trí thuần túy, minh triết.

171. The buddhic vehicle has sometimes been considered as a tangible vehicle for the subtle embodiment of life processes occurring on the highest three planes of the cosmic physical plane.

171. Vận cụ bồ đề đôi khi đã được xem là một vận cụ hữu hình cho sự thể hiện vi tế của các tiến trình sự sống diễn ra trên ba cõi cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ.

Fourth Principle Manas Pure mind, higher mind.

Nguyên khí Thứ tư Manas Trí tuệ thuần túy, thượng trí.

172. To consider higher mind as “pure mind” is interesting and instructive.

172. Việc xem thượng trí như “trí tuệ thuần túy” thật thú vị và giàu tính chỉ dẫn.

Fifth Principle Manas Lower mind.

Nguyên khí Thứ năm Manas Hạ trí.

173. In this enumeration, DK continues to split the mental plane.

173. Trong cách liệt kê này, Chân sư DK tiếp tục phân chia cõi trí.

Sixth Principle Kama-manas

Nguyên khí Thứ sáu Thể trí cảm

Seventh Principle Pure emotion, or feeling.

Nguyên khí Thứ bảy Cảm xúc thuần túy, hay cảm giác.

174. This is the first time that “pure emotion”, feeling or kama is listed. Kama-manas is retained.

174. Đây là lần đầu tiên “cảm xúc thuần túy”, cảm giác hay kama được liệt kê. Thể trí cảm vẫn được giữ lại.

175. This listing is distinctive for listing two principles which are “pure”.

175. Cách liệt kê này đặc biệt ở chỗ liệt kê hai nguyên khí là “thuần túy”.

176. It is obvious that one day “kama-manas” will disappear, and so may kama as well.

176. Hiển nhiên là một ngày nào đó “thể trí cảm” sẽ biến mất, và kama cũng có thể như vậy.

177. We are considering a psychic enumeration of principles in relation to manifestation. This must mean that manifestation (in the sense here meant) must necessary include the principles ‘below’ higher mind, or “pure mind”.

177. Chúng ta đang xem xét một cách liệt kê thông linh về các nguyên khí trong liên hệ với biểu hiện. Điều này hẳn phải có nghĩa rằng biểu hiện (theo nghĩa được dùng ở đây) tất yếu phải bao gồm các nguyên khí ‘bên dưới’ thượng trí, hay “trí tuệ thuần túy”.

These are the principles for the microcosm viewed as having transcended the physical bodies altogether, and thus the tabulation deals entirely with the subjective life, or the development of the psyche or soul.

Đây là các nguyên khí dành cho vi mô được nhìn như đã vượt hẳn các thể xác, và vì vậy bảng liệt kê hoàn toàn bàn về đời sống chủ quan, hay sự phát triển của tâm linh hoặc linh hồn.

178. The physical bodies are both etheric and dense physical.

178. Các thể xác hồng trần bao gồm cả hai là thể dĩ thái và thể xác đậm đặc.

179. The soul is distinctly related to the astral nature, just as the Monad is to the mind and the personality to the physical nature.

179. Linh hồn liên hệ rõ rệt với bản chất cảm dục, cũng như Chân Thần liên hệ với trí tuệ và phàm ngã liên hệ với bản chất hồng trần.

180. We have now had two psychic enumerations pertaining to psyche and soul.

180. Giờ đây chúng ta đã có hai cách liệt kê thông linh liên quan đến tâm linh và linh hồn.

181. One was very high, its lowest point of expression being the principles of the spiritual triad.

181. Một cách rất cao, điểm biểu lộ thấp nhất của nó là các nguyên khí của Tam nguyên tinh thần.

182. The second took psychic development down into the personality nature but stopped before reaching the etheric-physical level.

182. Cách thứ hai đưa sự phát triển thông linh xuống vào bản chất phàm ngã nhưng dừng lại trước khi chạm đến cấp độ dĩ thái-hồng trần.

This should be borne carefully in mind else confusion will ensue. In our enumeration we are here dealing with subjectivity and not with form. We have, therefore, considered:

Điều này cần được ghi nhớ cẩn thận, nếu không sự lẫn lộn sẽ phát sinh. Trong cách liệt kê của chúng ta ở đây, chúng ta đang bàn đến tính chủ quan chứ không phải hình tướng. Vì vậy, chúng ta đã xem xét:

183. The points of view keep changing and so do the enumerations associated with them.

183. Các quan điểm cứ thay đổi và những cách liệt kê gắn với chúng cũng vậy.

184. No factor (whether principle or vehicle) in the human energy system will always hold the same numerical position. Placement in the scheme of enumeration depends upon context.

184. Không yếu tố nào (dù là nguyên khí hay vận cụ) trong hệ thống năng lượng của con người sẽ luôn giữ cùng một vị trí số học. Vị trí trong sơ đồ liệt kê tùy thuộc vào ngữ cảnh.

185. DK is offering a summary below:

185. Dưới đây Chân sư DK đưa ra một bản tóm lược:

a. Sevenfold objectivity….the material forms.

a. Tính khách quan thất phân….các hình tướng vật chất.

186. The first enumeration dealt with sevenfold objectivity.

186. Cách liệt kê thứ nhất bàn về tính khách quan thất phân.

b. Sevenfold subjectivity…the psychic evolution.

b. Tính chủ quan thất phân…sự tiến hoá thông linh.

187. The third enumeration dealt with sevenfold subjectivity, or the psychic evolution.

187. Cách liệt kê thứ ba bàn về tính chủ quan thất phân, hay sự tiến hoá thông linh.

c. Sevenfold spirituality…the life of the Entity.

c. Tính tinh thần thất phân…sự sống của Thực Thể.

188. The second enumeration, which was psychic in a sense (because it discussed the psychic nature of the Monad), and descended no lower that the spiritual triad, is the enumeration which DK said must be considered as reflective of “sevenfold spirituality”. Surely the spiritual triad can be considered as related to the Spirit/Monad—as its personality expression.

188. Cách liệt kê thứ hai, vốn theo một nghĩa nào đó là thông linh (vì nó bàn về bản chất thông linh của Chân Thần), và không hạ thấp hơn Tam nguyên tinh thần, là cách liệt kê mà Chân sư DK nói phải được xem là phản ánh “tính tinh thần thất phân”. Chắc chắn Tam nguyên tinh thần có thể được xem là liên hệ với Tinh thần/Chân Thần—như sự biểu lộ phàm ngã của nó.

We will note also that in the tabulation of the spiritual life of the Monad we considered it as fivefold.

Chúng ta cũng sẽ lưu ý rằng trong bảng liệt kê đời sống tinh thần của Chân Thần, chúng ta đã xem nó là ngũ phân.

189. Yes, in a way, but the Monad was added above its two “psychic” expressions, Active-Intelligence and Love-Wisdom, to make a sixth.

189. Đúng vậy, theo một nghĩa nào đó, nhưng Chân Thần đã được thêm lên trên hai biểu lộ “thông linh” của nó là Trí tuệ năng động và Bác Ái – Minh Triết để tạo thành yếu tố thứ sáu.

This was necessarily so in this fivefold evolution,

Điều này tất yếu là như vậy trong sự tiến hoá ngũ phân này,

190. We are engaged in a fivefold evolution because in our solar system we are completing the Brahmic tendencies of the earlier solar system.

190. Chúng ta đang tham dự vào một sự tiến hoá ngũ phân vì trong hệ mặt trời của chúng ta, chúng ta đang hoàn tất các khuynh hướng Brahma của hệ mặt trời trước.

191. The fivefold Master represents, from a certain perspective humanly considered, the apotheosis of human development in relation to the fivefold first solar system. The number of Brahma is five and that solar system was the Brahmic system.

191. Chân sư ngũ phân, từ một quan điểm nào đó xét theo con người, tượng trưng cho đỉnh cao thần thánh hóa của sự phát triển nhân loại trong liên hệ với hệ mặt trời thứ nhất ngũ phân. Con số của Brahma là năm và hệ mặt trời đó là hệ thống Brahma.

but the remaining two principles might be considered as:

nhưng hai nguyên khí còn lại có thể được xem là:

192. Remaining ‘above’ and not ‘below’.

192. Còn lại ‘ở trên’ chứ không phải ‘ở dưới’.

6. The life of the Heavenly Man in Whose body the human Monad finds a place.

6. Sự sống của Đấng Thiên Nhân mà trong thể của Ngài, Chân Thần nhân loại tìm được một chỗ.

193. This life (of the Heavenly Man) is definitely associated with the second subplane of the cosmic physical plane.

193. Sự sống này (của Đấng Thiên Nhân) chắc chắn liên hệ với cõi phụ thứ hai của cõi hồng trần vũ trụ.

7. The life of the Logos in Whose body the Heavenly Man finds place.

7. Sự sống của Thượng đế mà trong thể của Ngài, Đấng Thiên Nhân tìm được chỗ.

194. This life (of the Solar Logos) is definitely associated with the first subplane of the cosmic physical plane.

194. Sự sống này (của Thái dương Thượng đế) chắc chắn liên hệ với cõi phụ thứ nhất của cõi hồng trần vũ trụ.

195. This is an amazing way to consider the microcosm. The spiritual triad is, indeed, related to the personality nature of the human Spirit, and is its lowest point of expression.

195. Đây là một cách đáng kinh ngạc để xem xét vi mô. Quả thật, Tam nguyên tinh thần liên hệ với bản chất phàm ngã của Tinh thần con người, và là điểm biểu lộ thấp nhất của nó.

196. In this expanded (now sevenfold) enumeration (even eightfold if the Monad is included), the spiritual triad represents quite a material field of expression.

196. Trong cách liệt kê mở rộng này (nay là thất phân) (thậm chí bát phân nếu bao gồm Chân Thần), Tam nguyên tinh thần tượng trưng cho một trường biểu lộ khá vật chất.

197. We now depart from text to consider a number of footnotes.

197. Giờ đây chúng ta rời bản văn để xem xét một số cước chú.

Footnote 10:

Cước chú 10:

Enumeration of the Principles. —S. D., II, 627, 631.

Sự liệt kê các nguyên khí. —S. D., II, 627, 631.

1st Principle Dense physical body. Sthula Sharira.

Nguyên khí 1 Thể xác đậm đặc. Sthula Sharira.

2nd Principle Etheric body. Linga Sharira.

Nguyên khí 2 Thể dĩ thái. Linga Sharira.

3rd Principle Prana. Vital energy.

Nguyên khí 3 Prana. Năng lượng sinh lực.

4th Principle Kama-rupa. Energy of desire.

Nguyên khí 4 Kama-rupa. Năng lượng dục vọng.

—S. D., I, 136.

—S. D., I, 136.

(These are the lower four principles.)

(Đây là bốn nguyên khí thấp.)

198. There is much in this enumeration, thus far, which would suggest the very first enumeration (sevenfold objectivity), but have we noticed that it is different. The fourth principle is not kama-manas, but kama-rupa.

198. Cho đến đây, có nhiều điều trong cách liệt kê này gợi ý cách liệt kê thứ nhất (tính khách quan thất phân), nhưng chúng ta có nhận ra rằng nó khác không. Nguyên khí thứ tư không phải là thể trí cảm, mà là kama-rupa.

199. Could this be the enumeration of man before the glamorous confusion between kama and manas occurred?

199. Liệu đây có phải là cách liệt kê con người trước khi sự lẫn lộn ảo cảm giữa kama và manas xảy ra không?

200. We noticed that only in the psychic enumeration (sevenfold subjectivity) was kama (pure emotion, feeling) listed as a separated principle.

200. Chúng ta đã lưu ý rằng chỉ trong cách liệt kê thông linh (tính chủ quan thất phân) kama (cảm xúc thuần túy, cảm giác) mới được liệt kê như một nguyên khí tách biệt.

201. Also, in this enumeration, the etheric expression is not divided into etheric body and prana. The lower two principles are the dense physical body and the etheric body. But, as we have been taught, this must be a low enumeration, indeed, as the physical body, even for man, is not a principle.

201. Ngoài ra, trong cách liệt kê này, biểu lộ dĩ thái không được chia thành thể dĩ thái và prana. Hai nguyên khí thấp là thể xác đậm đặc và thể dĩ thái. Nhưng như chúng ta đã được dạy, đây hẳn là một cách liệt kê rất thấp, vì thể xác, ngay cả đối với con người, cũng không phải là một nguyên khí.

5th Principle Manas. The energy of thought. The middle principle. —S. D., II, 83, 84. II, 332. S. D., II, 669.

Nguyên khí 5 Manas. Năng lượng của tư tưởng. Nguyên khí ở giữa. —S. D., II, 83, 84. II, 332. S. D., II, 669.

202. Another name for manas is the “middle principle”. In this respect it is a linking principle and related to solar fire. There is no distinction made here between lower mind and manas as in the enumeration on sevenfold objectivity.

202. Một tên gọi khác của manas là “nguyên khí ở giữa”. Về phương diện này, nó là một nguyên khí nối kết và liên hệ với Lửa Thái dương. Ở đây không có sự phân biệt giữa hạ trí và manas như trong cách liệt kê về tính khách quan thất phân.

6th Principle Buddhi. The energy of love. —S. D., II, 649, 676. S. D., III, 58.

Nguyên khí 6 Buddhi. Năng lượng của bác ái. —S. D., II, 649, 676. S. D., III, 58.

203. The wisdom aspect of buddhi is not here emphasized.

203. Ở đây phương diện minh triết của buddhi không được nhấn mạnh.

7th Principle Atma. The synthetic principle. —S. D., I, 357, 201. S. D., III, 142.

Nguyên khí 7 Atma. Nguyên khí tổng hợp. —S. D., I, 357, 201. S. D., III, 142.

204. Usually, the Monad is considered the factor in the constitution of man responsible for synthesis. Here Atma or the will aspect is related to the “synthetic principle”.

204. Thông thường, Chân Thần được xem là yếu tố trong cấu tạo của con người chịu trách nhiệm về sự tổng hợp. Ở đây Atma hay phương diện ý chí được liên hệ với “nguyên khí tổng hợp”.

205. In a way, it is appropriate to consider Atma synthetic. The highest of the seven principle gathers all other principles into itself before being absorbed by the monadic source.

205. Theo một nghĩa nào đó, việc xem Atma là tổng hợp là thích đáng. Nguyên khí cao nhất trong bảy nguyên khí thu tập tất cả các nguyên khí khác vào chính nó trước khi được hấp thu bởi nguồn chân thần.

206. The synthesizing planets gather all other planets into themselves, until only one synthesizer is left, itself to be absorbed by the Sun.

206. Các hành tinh tổng hợp thu tập tất cả các hành tinh khác vào chính chúng, cho đến khi chỉ còn lại một hành tinh tổng hợp, rồi chính nó được hấp thu vào Mặt Trời.

207. VSK queries: “So is this the better explanation of four wicks, as the lower four principles, dense body, etheric, prana, and kama rupa?

207. VSK nêu câu hỏi: “Vậy đây có phải là lời giải thích tốt hơn về bốn tim đèn, như bốn nguyên khí thấp: thể xác đậm đặc, thể dĩ thái, prana, và kama rupa không?

See S. D., III, 201, note.

Xem S. D., III, 201, ghi chú.

a. Buddhi is the vehicle for atma.

a. Buddhi là vận cụ cho atma.

b. Manas is the vehicle for buddhi.

b. Manas là vận cụ cho buddhi.

c. Kamarupa is the vehicle for manas. —S. D., II, 171.

c. Kamarupa là vận cụ cho manas. —S. D., II, 171.

d. The etheric body is the vehicle for prana.

d. Thể dĩ thái là vận cụ cho prana.

208. VSK calls our attention to the following: “So, then, the etheric body, is not ‘the vehicle for’ kamarupa or astral energy, but for ‘prana’. From what source does this prana enter? Recall the Great Bear correlation to prana”.

208. VSK lưu ý chúng ta điều sau đây: “Vậy thì, thể dĩ thái không phải là ‘vận cụ cho’ kamarupa hay năng lượng cảm dục, mà là cho ‘prana’. Prana này đi vào từ nguồn nào? Hãy nhớ sự tương quan của Đại Hùng Tinh với prana”.

209. Yes, there is a skip here. Why is there no vehicle for kama (or, as here stated, “kama rupa”)? Of course the etheric body of the average human being today is very much an expression of astral energy.

209. Đúng vậy, ở đây có một chỗ bị bỏ qua. Tại sao lại không có vận cụ cho kama (hay như ở đây nói, “kama rupa”)? Dĩ nhiên, thể dĩ thái của con người trung bình ngày nay phần lớn là một biểu lộ của năng lượng cảm dục.

210. In the tabulation immediately above there is a very definite split between subjectivity (in the three worlds) and the objectivity represented by prana and the etheric body.

210. Trong bảng liệt kê ngay phía trên có một sự phân chia rất rõ rệt giữa tính chủ quan (trong ba cõi thấp) và tính khách quan được biểu hiện bởi prana và thể dĩ thái.

211. From a broader perspective, there is no energy or force which the etheric body will not conduct, even though the means of this conduction is obscure.

211. Từ một quan điểm rộng hơn, không có năng lượng hay mãnh lực nào mà thể dĩ thái không dẫn truyền, dù phương tiện của sự dẫn truyền này còn mơ hồ.

Remember also:—

Hãy cũng ghi nhớ rằng:—

a. That the physical body is not a principle. —S. D., II, 652. III, 445. III, 652.

a. Rằng thể xác không phải là một nguyên khí. —S. D., II, 652. III, 445. III, 652.

212. This is a familiar thought by now, even though modern man treats the physical body as if it were his most important possession, and even as himself.

212. Đến nay đây đã là một tư tưởng quen thuộc, mặc dù con người hiện đại đối xử với thể xác như thể đó là sở hữu quan trọng nhất của y, và thậm chí như chính bản thân y.

b. That atma is not a principle. See also S. D., III, 62, 63. III, 293.

b. Rằng atma không phải là một nguyên khí. Xem thêm S. D., III, 62, 63. III, 293.

213. This only makes sense if “atma” is “the Atman”, which, as essential being, cannot be a principle of essential being.

213. Điều này chỉ có ý nghĩa nếu “atma” là “Atman”, mà với tư cách là bản thể cốt yếu, không thể là một nguyên khí của bản thể cốt yếu.

Other enumerations, differing in certain particulars will be found:—S.D., I, 177, 181, 685. II, 669. III, 476, 560. The latter is more esoteric.

Những cách liệt kê khác, khác nhau ở một số chi tiết, sẽ được tìm thấy ở:—S.D., I, 177, 181, 685. II, 669. III, 476, 560. Cách sau là huyền bí hơn.

214. HPB seemed often to debate with the Brahmin scholar T. Subba Row on how to divide the human being. That was an interesting high-level debate between arhats!

214. Dường như HPB thường tranh luận với học giả Bà-la-môn T. Subba Row về cách phân chia con người. Đó là một cuộc tranh luận cấp cao đầy thú vị giữa các arhat!

It might be useful here to consider another enumeration of the principles of man10. as he manifests in the [Page 265] three worlds, the planes whereon the subjective and the objective are united.

Ở đây có thể hữu ích khi xem xét một cách liệt kê khác về các nguyên khí của con người10. khi y biểu hiện trong [Page 265] ba cõi thấp, là các cõi nơi chủ quan và khách quan được hợp nhất.

215. This will be an enumeration which does not take in the source (the Monad) at all. If we review the enumerations as we have been studying them, we see that all of them have, thus far, included the Monad.

215. Đây sẽ là một cách liệt kê hoàn toàn không bao gồm nguồn cội (Chân thần). Nếu chúng ta điểm lại các cách liệt kê như đã nghiên cứu, ta sẽ thấy rằng cho đến nay tất cả đều đã bao gồm Chân thần.

What have we there? Let us begin where man begins, with the lowest:

Ở đó chúng ta có gì? Hãy bắt đầu từ nơi con người bắt đầu, với cái thấp nhất:

7. The etheric body 1. The vital body.

7. Thể dĩ thái 1. Thể sinh lực/thể dĩ thái.

6. Prana 2. Vital force.

6. Prana 2. Sinh lực.

5. Kama-manas 3. Desire Mind.

5. Kama-manas 3. Trí-cảm dục vọng.

216. This is literally the meaning of kama-manas—“desire mind”.

216. Đây đúng theo nghĩa đen là ý nghĩa của kama-manas—“trí dục vọng”.

4. Lower mind 4. Concrete mind.

4. Hạ trí 4. Trí cụ thể.

3. Manas 5. Higher or abstract mind.

3. Manas 5. Thượng trí hay trí trừu tượng.

217. We remember that in the psychic enumeration, manas was called “pure mind”.

217. Chúng ta nhớ rằng trong cách liệt kê thông linh, manas được gọi là “trí thuần khiết”.

2. Buddhi 6. Wisdom, Christ force, intuition.

2. Bồ đề 6. Minh triết, mãnh lực Christ, trực giác.

218. In the spiritual enumeration buddhi was called the “Christ Principle”. The idea of love is missing here, but the intuition is added.

218. Trong cách liệt kê tinh thần, buddhi được gọi là “Nguyên Khí Christ”. Ở đây ý niệm về bác ái vắng mặt, nhưng trực giác lại được thêm vào.

1. Atma 7. Spiritual Will.

1. Atma 7. Ý chí tinh thần.

This is the lowest enumeration for little evolved man at the present time.

Đây là cách liệt kê thấp nhất dành cho con người ít tiến hoá ở thời điểm hiện nay.

219. It may be the lowest enumeration for little-evolved man at present, but unlike the enumeration offered in the footnotes and referencing The Secret Doctrine, the physical body is not offered as a principle.

219. Có thể đây là cách liệt kê thấp nhất dành cho con người ít tiến hoá hiện nay, nhưng khác với cách liệt kê được nêu trong các cước chú và dẫn chiếu đến Giáo Lý Bí Nhiệm, thể xác không được nêu như một nguyên khí.

220. It is important to note the dual system of numbering, where each “1.” is a “7.”, each “2.” a “6.”, and so forth.

220. Điều quan trọng là phải lưu ý hệ thống đánh số kép, trong đó mỗi “1.” là một “7.”, mỗi “2.” là một “6.”, v.v.

221. We note that with respect to the etheric body, the term “vital” is used. The etheric body is called the “vital body” and prana is called “vital force”. These changes in terminology are instructive.

221. Chúng ta lưu ý rằng đối với thể dĩ thái, thuật ngữ “sinh lực” được dùng. Thể dĩ thái được gọi là “thể sinh lực” và prana được gọi là “sinh lực”. Những thay đổi trong thuật ngữ này có tính chỉ dẫn.

222. VSK muses: “This enumeration suggests more … what … the dual fires by friction and dual fires of mind, as given so far in this Treatise. Where do we ‘hang’ all of these various versions – i.e., off of what ‘man’ and at what stage? Each is variously true, but from which perspectives? We need to straighten out a code for these”.

222. VSK suy ngẫm: “Cách liệt kê này gợi ra nhiều hơn nữa … điều gì … về các lửa ma sát nhị phân và các lửa của trí tuệ nhị phân, như đã được trình bày cho đến nay trong Luận này. Chúng ta sẽ ‘treo’ tất cả những phiên bản khác nhau này vào đâu – nghĩa là, vào ‘con người’ nào và ở giai đoạn nào? Mỗi cách đều đúng theo những cách khác nhau, nhưng từ những phối cảnh nào? Chúng ta cần làm sáng tỏ một mã cho những điều này”.

223. Go to it, VSK!

223. Hãy bắt tay vào đi, VSK!

224. The next enumeration is challenging. We begin to understand DK as a master at presenting alternative perspectives on a single subject.

224. Cách liệt kê kế tiếp là một thách thức. Chúng ta bắt đầu hiểu DK là một chân sư trong việc trình bày những phối cảnh thay thế về cùng một chủ đề.

From the standpoint of the Ego what can be seen?

Từ quan điểm của Chân ngã có thể thấy điều gì?

225. All of these “standpoints” can be better understood if we, imaginatively, identify with the particular center of focus concerned—in this case, the Ego.

225. Tất cả những “quan điểm” này có thể được hiểu rõ hơn nếu chúng ta, bằng sự tưởng tượng, đồng hoá với trung tâm tập chú đặc thù đang được xét đến—trong trường hợp này là Chân ngã.

I. The Absolute…Atma. Pure will-to-be.

I. Tuyệt Đối…Atma. Ý chí-thuần-khiết-để-hiện-hữu.

226. Normally, we would associate the “pure will-to-be” with the Monad, and the spiritual will with atma.

226. Thông thường, chúng ta sẽ liên kết “ý chí-thuần-khiết-để-hiện-hữu” với Chân thần, và ý chí tinh thần với atma.

227. This enumeration has something in common with the enumeration of “sevenfold spirituality”—there is a one, a two and a three.

227. Cách liệt kê này có điểm chung với cách liệt kê về “tính tinh thần thất phân”—có một, hai và ba.

II. The Duad.

II. Nhị nguyên.

1. Buddhi………Pure reason, wisdom.

1. Bồ đề………Lý trí thuần khiết, minh triết.

2. Manas……….Pure mind.

2. Manas……….Trí thuần khiết.

III. The Triad.

III. Tam nguyên tinh thần.

3. The causal body.

3. Thể nguyên nhân.

4. Lower mind.

4. Hạ trí.

5. Kama-manas.

5. Kama-manas.

6. Prana.

6. Prana.

7. The etheric body.

7. Thể dĩ thái.

228. The use of the term “Triad” surmounting a series of five principle/vehicles is not easy to comprehend. Five is the number of Brahma and three is the number of the third ray which is the Ray of Brahma.

228. Việc dùng thuật ngữ “Tam nguyên tinh thần” bao trùm lên một chuỗi năm nguyên khí/vận cụ không dễ hiểu. Năm là con số của Brahma và ba là con số của cung ba, vốn là Cung của Brahma.

229. The “Triad”, as here presented, represents the objective field of expression for the more subjective principles.

229. “Tam nguyên tinh thần”, như được trình bày ở đây, biểu thị trường biểu đạt khách quan cho các nguyên khí chủ quan hơn.

230. The other ‘one-two-three formulation’ can be found in the middle of p. 263, and descends no lower than manas.

230. Công thức “một-hai-ba” kia có thể được tìm thấy ở giữa trang 263, và không hạ xuống thấp hơn manas.

231. The ‘one-two-three’ formulation suggests the first three rows of the Tetraktys.

231. Công thức “một-hai-ba” gợi ra ba hàng đầu tiên của Tetraktys.

232. In this enumeration, the physical body is again deleted, and kama-manas is included rather than kama.

232. Trong cách liệt kê này, thể xác lại bị loại bỏ, và kama-manas được bao gồm thay vì kama.

233. We also have, in effect, three minds—the concrete mind, the “Son of Mind” (within the causal body) and the “pure mind” or abstract mind which is manas and is associated with the spiritual triad.

233. Trên thực tế, chúng ta cũng có ba trí—trí cụ thể, “Con của Trí Tuệ” (bên trong thể nguyên nhân) và “trí thuần khiết” hay trí trừu tượng là manas và được liên kết với Tam Nguyên Tinh Thần.

234. In this enumeration we have split the triad—the highest aspect, atma, from the lower two.

234. Trong cách liệt kê này, chúng ta đã tách Tam nguyên tinh thần—phương diện cao nhất, atma, ra khỏi hai phương diện thấp hơn.

235. As well, every principle/vehicle below the first subplane of the mental plane is considered material (i.e., associated with the number three).

235. Hơn nữa, mọi nguyên khí/vận cụ bên dưới cõi phụ thứ nhất của cõi trí đều được xem là vật chất (tức là, gắn với con số ba).

236. VSK muses: “Curious enough to see the “Triad” as inclusive of the lowest, and below buddhi and manas? Quite a materialization of the triadal fires therefore, very ‘encased’, as hinted below?”

236. VSK suy ngẫm: “Thật kỳ lạ khi thấy ‘Tam nguyên tinh thần’ lại bao gồm cái thấp nhất, và ở dưới buddhi và manas? Vậy là một sự hiện hình khá mạnh của các lửa tam nguyên tinh thần, rất ‘bị bao bọc’, như được ám chỉ bên dưới chăng?”

237. We have to remember that the real Ego (considering man, per se, and not in combination with the Solar Angel) is the spiritual triad and not either the Solar Angel or the consciousness within the causal body. (cf. TCF 176-177).

237. Chúng ta phải nhớ rằng Chân ngã thực sự (xét con người, chính nó, chứ không phải trong sự kết hợp với Thái dương Thiên Thần) là Tam Nguyên Tinh Thần chứ không phải Thái dương Thiên Thần hay tâm thức bên trong thể nguyên nhân. (x. TCF 176-177).

238. So, as this enumeration is given from the standpoint of the Ego, it begins with the highest aspect of the triadal Ego—namely, Atma. At least this is one way of trying to understand why the Monad should be excluded.

238. Vì vậy, do cách liệt kê này được đưa ra từ quan điểm của Chân ngã, nó bắt đầu với phương diện cao nhất của Chân ngã tam nguyên tinh thần—tức là Atma. Ít nhất đây là một cách để cố gắng hiểu vì sao Chân thần lại bị loại trừ.

In these various enumerations of the principles we are dealing with them (as H. P. B. has pointed out they must be dealt with)11, [12: S. D., III, 456] from differing standpoints, dependent upon the stage reached and the angle of vision.

Trong những cách liệt kê khác nhau này về các nguyên khí, chúng ta đang đề cập đến chúng (như H. P. B. đã chỉ ra rằng chúng phải được đề cập đến)11, [12: S. D., III, 456] từ những quan điểm khác nhau, tùy thuộc vào giai đoạn đã đạt tới và góc độ tầm nhìn.

239. These are the two criteria by means of which to create enumerations of the principles and vehicles of man:

239. Đây là hai tiêu chí để tạo ra các cách liệt kê những nguyên khí và vận cụ của con người:

a. The stage reached—in evolution

a. Giai đoạn đã đạt tới—trong tiến hoá

b. The angle of vision of the one who enumerated.

b. Góc độ tầm nhìn của người đã liệt kê.

240. VSK muses: “Yes, this is really the key point to learn: there are many ways of enumeration. If students really GET this, they won’t become as frustrated with the apparent contradictions, but realize differences are a matter of scale and stage”.

240. VSK suy ngẫm: “Đúng vậy, đây thực sự là điểm then chốt cần học: có nhiều cách liệt kê. Nếu các đạo sinh thực sự NẮM ĐƯỢC điều này, họ sẽ không trở nên quá thất vọng vì những mâu thuẫn bề ngoài, mà nhận ra rằng khác biệt là vấn đề của thang bậc và giai đoạn”.

241. We now depart from text to deal with some footnotes.

241. Giờ đây chúng ta rời phần văn bản chính để bàn đến một số cước chú.

Footnote 11:

Cước chú 11:

H. P. Blavatsky says in the Secret Doctrine in connection with the Principles.

H. P. Blavatsky nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm liên quan đến các Nguyên khí.

a. That mistakes in the classification are very possible. —S. D., II, 677.

a. Rằng những sai lầm trong việc phân loại là hoàn toàn có thể xảy ra. —S. D., II, 677.

242. We have seen the extraordinary complexity and, therefore, can understand why.

242. Chúng ta đã thấy sự phức tạp phi thường và vì thế có thể hiểu tại sao.

b. That we must seek the occult meaning. —S. D., II, 652.

b. Rằng chúng ta phải tìm kiếm ý nghĩa huyền bí. —S. D., II, 652.

That there are really six not seven principles.

Rằng thực sự có sáu chứ không phải bảy nguyên khí.

243. There are at least two ways to approach this:

243. Có ít nhất hai cách để tiếp cận điều này:

a. The first: the physical body, included in some enumerations is not a principle.

a. Cách thứ nhất: thể xác, được bao gồm trong một số cách liệt kê, không phải là một nguyên khí.

b. The second: that the highest principle is the Atman, which as pure being, is not really a principle.

b. Cách thứ hai: nguyên khí cao nhất là Atman, mà với tư cách là bản thể thuần khiết, thực ra không phải là một nguyên khí.

c. If one looks a six equal-sized coins arranged around a seventh coin of the same size, one will understand the principles and the central life force which permeates each of the six.

c. Nếu người ta nhìn vào sáu đồng tiền có cùng kích thước được sắp quanh đồng tiền thứ bảy cũng cùng kích thước, người ta sẽ hiểu các nguyên khí và mãnh lực sự sống trung tâm thấm nhuần mỗi một trong sáu đồng kia.

c. That there are several classifications. —S. D., III, 374, 446.

c. Rằng có nhiều cách phân loại. —S. D., III, 374, 446.

244. This has been demonstrated throughout this section.

244. Điều này đã được chứng minh xuyên suốt phần này.

d. That the esoteric enumeration cannot be made to correspond with the exoteric—S. D., III, 476.

d. Rằng cách liệt kê huyền bí không thể làm cho tương ứng với cách liệt kê ngoại môn—S. D., III, 476.

245. We have seen that there are a number of enumerations which definitely do not correspond to each other. Much depends on what we mean by “esoteric” and “exoteric”. The enumeration associated with “sevenfold spirituality” is definitely esoteric. Is the enumeration corresponding to “sevenfold subjectivity” also to be considered esoteric? “Subjectivity”, after all, may not quite be “spirituality”. What of the enumeration offered from the perspective of the Ego?

245. Chúng ta đã thấy rằng có một số cách liệt kê rõ ràng không tương ứng với nhau. Nhiều điều tùy thuộc vào điều chúng ta muốn nói là gì khi dùng “huyền bí” và “ngoại môn”. Cách liệt kê gắn với “tính tinh thần thất phân” chắc chắn là huyền bí. Còn cách liệt kê tương ứng với “tính chủ quan thất phân” cũng được xem là huyền bí chăng? Rốt cuộc, “tính chủ quan” có thể chưa hẳn là “tính tinh thần”. Còn cách liệt kê được đưa ra từ phối cảnh của Chân ngã thì sao?

e. That the numbering of the principles is a question of spiritual progress. —S. D., III, 456, 460.

e. Rằng việc đánh số các nguyên khí là một vấn đề của tiến bộ tinh thần. —S. D., III, 456, 460.

246. VSK: “All confusions nicely covered here!”

246. VSK: “Mọi sự rối rắm đều được bao quát thật gọn ở đây!”

247. VSK suggests that we should have started this whole section with the extract immediately above!

247. VSK gợi ý rằng lẽ ra chúng ta nên bắt đầu toàn bộ phần này bằng đoạn trích ngay phía trên!

We have considered them thus in answering question six because we have sought to emphasise and to impress clearly upon our minds that the three lines of development must be remembered when considering the evolution of the Manasaputras.

Chúng ta đã xem xét chúng như vậy khi trả lời câu hỏi sáu vì chúng ta đã tìm cách nhấn mạnh và ghi khắc rõ ràng vào trí tuệ mình rằng phải ghi nhớ ba đường phát triển khi xem xét sự tiến hoá của các Manasaputra.

248. The three lines of development, in essence are:

248. Ba đường phát triển, về bản chất, là:

a. Sevenfold objectivity

a. Tính khách quan thất phân

b. Sevenfold subjectivity

b. Tính chủ quan thất phân

c. Sevenfold spirituality

c. Tính tinh thần thất phân

2. The Objective Development.

2. Sự phát triển khách quan.

249. We now enter a section which will focus on bodies and sheaths.

249. Giờ đây chúng ta đi vào một phần sẽ tập trung vào các thể và các vỏ bọc.

250. In the preceding section, the focus was mostly upon principles (or faculties) but some vehicles were mentioned:

250. Trong phần trước, trọng tâm chủ yếu đặt vào các nguyên khí (hay các năng lực), nhưng một số vận cụ đã được nhắc đến:

a. The monadic egg

a. Noãn chân thần

b. The causal body

b. Thể nguyên nhân

c. The etheric body.

c. Thể dĩ thái.

This is sevenfold in evolution and in time, ninefold during obscuration, and tenfold at dissolution.

Điều này là thất phân trong tiến hoá và trong thời gian, cửu phân trong thời kỳ che khuất, và thập phân khi tan rã.

251. Let us trust that the meaning of these statements will be clarified below.

251. Chúng ta hãy tin rằng ý nghĩa của những phát biểu này sẽ được làm sáng tỏ ở dưới.

252. Centers eight and nine appear as absorbers during obscuration.

252. Các trung tâm tám và chín xuất hiện như những bộ hấp thụ trong thời kỳ che khuất.

253. Planetarily, Saturn, Lord of Time, is effective during the stages of sevenfoldness. Neptune and Uranus as two superior synthesizers, become active at obscuration.

253. Ở cấp hành tinh, Sao Thổ, Chúa Tể của Thời Gian, có hiệu lực trong các giai đoạn của tính thất phân. Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương, với tư cách hai đấng tổng hợp cao hơn, trở nên hoạt động trong thời kỳ che khuất.

254. The Sun, as the tenth factor, enters as an absorber at the period of final dissolution, absorbing the synthesizing planets into itself. Such absorption may not occur in relation to the physical planets. The physicalization of the planets may (at absorption) be a stage long past.

254. Mặt Trời, như yếu tố thứ mười, đi vào như một bộ hấp thụ trong thời kỳ tan rã cuối cùng, hấp thụ các hành tinh tổng hợp vào chính nó. Sự hấp thụ như thế có thể không xảy ra liên hệ với các hành tinh hồng trần. Sự hiện hình hồng trần của các hành tinh có thể (vào lúc hấp thụ) đã là một giai đoạn qua từ lâu.

255. What is said of planets can be analogized to principles and rays in somewhat the same pattern.

255. Điều được nói về các hành tinh có thể được suy theo tương đồng với các nguyên khí và các cung trong một mô hình phần nào tương tự.

Macrocosmic

Đại thiên địa

256. Well, I see the Tibetan has said precisely what I offered immediately above. Probably, from any readings, I unconsciously ‘knew’ that it was coming.

256. Tôi thấy Chân sư Tây Tạng đã nói chính xác điều tôi vừa nêu ngay phía trên. Có lẽ, từ một số lần đọc nào đó, tôi đã vô thức ‘biết’ rằng điều ấy sắp đến.

1. The seven sacred planets of the solar system.

1. Bảy hành tinh thiêng liêng của hệ mặt trời.

257. As always, we must wonder whether the seven sacred planets are to be discriminated from the three synthesizing planets.

257. Như thường lệ, chúng ta phải tự hỏi liệu bảy hành tinh thiêng liêng có phải được phân biệt với ba hành tinh tổng hợp hay không.

258. It is reasonable to assume that by the time obscuration sets in, a number of planets which are now non-sacred will then be sacred.

258. Có lý khi giả định rằng vào lúc thời kỳ che khuất bắt đầu, một số hành tinh hiện nay chưa thiêng liêng khi ấy sẽ là thiêng liêng.

259. Saturn stands at the head of these seven sacred planets as is indicated in TCF Chart VI below:

259. Sao Thổ đứng đầu bảy hành tinh thiêng liêng này như được chỉ ra trong Biểu đồ VI của TCF dưới đây:

s3s5-tcf-259-269-01.png

2. The two which are hid, which are the synthesising planets.

2. Hai hành tinh ẩn giấu, là các hành tinh tổng hợp.

260. Is not Saturn to be considered a synthesizing planet?

260. Chẳng phải Sao Thổ cũng nên được xem là một hành tinh tổng hợp sao?

3. The one final synthesising planet—the Sun. Seven added to two added to one make ten.

3. Một hành tinh tổng hợp cuối cùng—Mặt Trời. Bảy cộng hai cộng một thành mười.

261. This is a curious statement, for we know that the Sun is not a “planet” and, since Neptune and Uranus are listed, the Sun does not stand for either of them.

261. Đây là một phát biểu kỳ lạ, vì chúng ta biết rằng Mặt Trời không phải là một “hành tinh” và, vì Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương đã được liệt kê, Mặt Trời không đại diện cho một trong hai hành tinh ấy.

262. As well, we cannot really say that Neptune and Uranus are “hid” (for we see them objectively as heavenly bodies) but, rather, that their functions as synthesizers and absorbers is in latency.

262. Hơn nữa, chúng ta không thể thực sự nói rằng Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương là “ẩn giấu” (vì chúng ta thấy chúng một cách khách quan như các thiên thể), mà đúng hơn là các chức năng của chúng như những đấng tổng hợp và hấp thụ đang ở trạng thái tiềm ẩn.

263. We remember now that we are considering our enumerations from a vehicular level, which was not formerly the case.

263. Giờ đây chúng ta nhớ rằng mình đang xem xét các cách liệt kê từ cấp độ vận cụ, điều trước đây không phải như vậy.

There are ten centres in the Grand Heavenly Man.

Có mười trung tâm trong Đại Đấng Thiên Nhân.

264. The Grand Heavenly Man is the Solar Logos in its entirety (though the term sometimes seems to refer to the “Son” aspect of the Solar Logos)

264. Đại Đấng Thiên Nhân là Thái dương Thượng đế trong toàn thể của Ngài (mặc dù thuật ngữ này đôi khi dường như chỉ phương diện “Con” của Thái dương Thượng đế)

265. Is the Grand Heavenly Man, Himself, to be considered the tenth center? The Chart above may make it seem so.

265. Có phải chính Đại Đấng Thiên Nhân được xem là trung tâm thứ mười không? Biểu đồ trên có thể khiến người ta thấy như vậy.

266. On the other hand, the large circle containing the seven smaller circles can be considered in relation to number eight, with Neptune as nine and Uranus as ten. The Sun must then be counted as the eleventh inclusive of the lesser ten.

266. Mặt khác, vòng tròn lớn chứa bảy vòng tròn nhỏ có thể được xét liên hệ với số tám, với Sao Hải Vương là chín và Sao Thiên Vương là mười. Khi đó Mặt Trời phải được tính là yếu tố thứ mười một bao gồm mười yếu tố nhỏ hơn.

A Heavenly Man

Một Đấng Thiên Nhân

1. The seven chains of a scheme.

1. Bảy dãy của một hệ hành tinh.

2. The two synthesising chains.

2. Hai dãy tổng hợp.

3. One ultimate chain. [See interpretations below]

3. Một dãy tối hậu. [Xem các diễn giải bên dưới]

267. We have an exact correspondence to the Solar Logos in a Planetary Logos.

267. Chúng ta có một sự tương ứng chính xác với Thái dương Thượng đế trong một Hành Tinh Thượng đế.

268. But the term “one ultimate chain” does not correspond well with Chart VI above, unless the large circle of Saturn is considered one of the synthesizing chains, and Neptune or Uranus the others. In that case, either Neptune or Uranus, would act as the final absorber, itself to be absorbed into the Sun.

268. Nhưng thuật ngữ “một dãy tối hậu” không tương ứng tốt với Biểu đồ VI ở trên, trừ phi vòng tròn lớn của Sao Thổ được xem là một trong các dãy tổng hợp, và Sao Hải Vương hoặc Sao Thiên Vương là dãy còn lại. Trong trường hợp đó, hoặc Sao Hải Vương hoặc Sao Thiên Vương sẽ hoạt động như bộ hấp thụ cuối cùng, rồi chính nó lại được hấp thụ vào Mặt Trời.

269. If there is an analogy on the level of a Heavenly Man, then, within the planetary scheme, there will be a correspondence to the large circle surrounding the seven schemes—i.e., there will be a large chain surrounding the seven chains usually considered.

269. Nếu có một phép tương đồng ở cấp độ của một Đấng Thiên Nhân, thì bên trong hệ hành tinh sẽ có một tương ứng với vòng tròn lớn bao quanh bảy hệ—nghĩa là, sẽ có một dãy lớn bao quanh bảy dãy thường được xét đến.

270. Two other chains will also be found subjectively—one of them as the final absorber, itself to be absorbed into the Logos of the planetary scheme.

270. Hai dãy khác cũng sẽ được tìm thấy một cách chủ quan—một trong số đó là bộ hấp thụ cuối cùng, rồi chính nó lại được hấp thụ vào Thượng đế của hệ hành tinh.

271. So we see that we have two schematics under consideration:

271. Vì vậy chúng ta thấy rằng có hai sơ đồ đang được xem xét:

a. One in which the Sun (or the Planetary Logos if dealing with the planetary and not the solar systemic level) is considered the tenth factor and the final absorber

a. Một sơ đồ trong đó Mặt Trời (hay Hành Tinh Thượng đế nếu đang xét cấp hành tinh chứ không phải cấp hệ mặt trời) được xem là yếu tố thứ mười và là bộ hấp thụ cuối cùng

b. And the other in which the Sun (or the Planetary Logos if dealing with the planetary and not the solar systemic level) is considered the eleventh factor.

b. Và sơ đồ kia trong đó Mặt Trời (hay Hành Tinh Thượng đế nếu đang xét cấp hành tinh chứ không phải cấp hệ mặt trời) được xem là yếu tố thứ mười một.

272. If the first option is correct, then just as the Sun is called “the one final synthesising planet”, so the Planetary Logos will be called the “one ultimate chain”.

272. Nếu phương án thứ nhất là đúng, thì cũng như Mặt Trời được gọi là “một hành tinh tổng hợp cuối cùng”, Hành Tinh Thượng đế sẽ được gọi là “một dãy tối hậu”.

273. There is something about the first option which is numerically more elegant.

273. Có điều gì đó ở phương án thứ nhất khiến nó thanh nhã hơn về mặt số học.

274. The real question: what to do with the big circle surrounding the seven schemes, and, if analogy, holds—with the big circle surrounding the seven chains? When considering Saturn and all that is included within it, is an “esoteric Saturn” (a kind of eighth factor) to be considered? Or in this set up, is Saturn simply the seventh factor, Neptune and Uranus (and their synthesising-chain correspondences) the eighth and ninth, and the Sun (or Planetary Logos) the tenth?

274. Câu hỏi thực sự là: phải làm gì với vòng tròn lớn bao quanh bảy hệ, và, nếu phép tương đồng giữ vững—với vòng tròn lớn bao quanh bảy dãy? Khi xét Sao Thổ và mọi điều được bao gồm trong nó, có nên xét đến một “Sao Thổ huyền bí” (một loại yếu tố thứ tám) hay không? Hay trong cách sắp đặt này, Sao Thổ đơn giản là yếu tố thứ bảy, Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương (và các tương ứng dãy-tổng hợp của chúng) là thứ tám và thứ chín, còn Mặt Trời (hay Hành Tinh Thượng đế) là thứ mười?

275.

275.

[Page 267]

[Page 267]

There are ten centres in a planetary Logos.

Có mười trung tâm trong một Hành Tinh Thượng đế.

276. If there are ten centers in a Planetary Logos, then, by analogy, there are ten centers in as Solar Logos and in man. With respect to man, we usually think of seven major centers, but seven (from the occult perspective) is not a complete number.

276. Nếu có mười trung tâm trong một Hành Tinh Thượng đế, thì theo phép tương đồng, có mười trung tâm trong một Thái dương Thượng đế và trong con người. Đối với con người, chúng ta thường nghĩ đến bảy trung tâm chính, nhưng bảy (theo phối cảnh huyền bí) không phải là một con số trọn vẹn.

277. The old question to be debated: are the ten included within the seven, or are there three additional? This question has different answers depending upon the perspective. DK frequently speaks of seven major centers, but in systems of ten, there are always the “supernal three to be reckoned with”. Much of this has to do with the manner in which the highest head center is divided.

277. Câu hỏi cũ cần được tranh luận: mười trung tâm ấy có được bao gồm trong bảy trung tâm hay có thêm ba trung tâm nữa? Câu hỏi này có những câu trả lời khác nhau tùy theo phối cảnh. DK thường nói đến bảy trung tâm chính, nhưng trong các hệ thống mười, luôn có “ba trung tâm thiên thượng phải được tính đến”. Phần lớn điều này liên quan đến cách trung tâm đầu cao nhất được phân chia.

Microcosm

Tiểu thiên địa

1. The seven vehicles employed:

1. Bảy vận cụ được sử dụng:

a. The atmic sheath.

a. Vỏ bọc atma.

b. The buddhic vehicle.

b. Vận cụ Bồ đề.

c. The causal or egoic body.

c. Thể nguyên nhân hay thể chân ngã.

278. It is interesting to realize that no manasic sheath is mentioned. In a way, none exists, because the causal body is used as the sheath for higher mind.

278. Thật thú vị khi nhận ra rằng không có vỏ bọc manas nào được nhắc đến. Theo một nghĩa nào đó, không có vỏ bọc ấy, vì thể nguyên nhân được dùng như vỏ bọc cho thượng trí.

279. However, after the destruction of the causal body, is there a higher mind? For instance, do arhats who are the directors of scientific Ashrams on the higher mental plane use a higher manasic vehicle to influence those Ashrams and build thought appropriate to those Ashrams? They no longer have a causal sheath.

279. Tuy nhiên, sau khi thể nguyên nhân bị phá hủy, có còn thượng trí không? Chẳng hạn, các arhat là những vị điều hành các ashram khoa học trên Cõi thượng trí có dùng một vận cụ manas cao hơn để ảnh hưởng đến các ashram ấy và xây dựng tư tưởng thích hợp cho các ashram ấy không? Các vị ấy không còn vỏ bọc nguyên nhân nữa.

280. The very reason man has a casual body is that (when the time for individualization came) he had not built for himself a vehicle of higher manas and had to be provided with one by external agencies—i.e., Solar Angels.

280. Chính lý do con người có thể nguyên nhân là vì (khi thời điểm biệt ngã hóa đến) y chưa tự xây dựng cho mình một vận cụ của thượng manas và phải được cung cấp một vận cụ như thế bởi các tác nhân bên ngoài—tức là, các Thái dương Thiên Thần.

281. So the causal body is, in a way, man’s own, and yet the template for the causal body was not provided by him through his own exertion.

281. Vì vậy, theo một nghĩa nào đó, thể nguyên nhân là của riêng con người, nhưng khuôn mẫu cho thể nguyên nhân lại không do y cung cấp bằng nỗ lực riêng của mình.

d. The mental body.

d. Thể trí.

e. The astral body.

e. Thể cảm dục.

f. The etheric body.

f. Thể dĩ thái.

g. The dense physical.

g. Thể xác đậm đặc.

282. Since we are dealing with sheaths, we do not have to be concerned with the fact that the dense physical body is not a principle. The fact that it is not a principle means that it is not a direct expression of the Monad in this solar system but can be made to align with and respond to monadic energy.

282. Vì chúng ta đang đề cập đến các vỏ bọc, nên không cần bận tâm đến sự kiện rằng thể xác đậm đặc không phải là một nguyên khí. Việc nó không phải là một nguyên khí có nghĩa là nó không phải là một sự biểu đạt trực tiếp của Chân thần trong hệ mặt trời này, nhưng có thể được làm cho chỉnh hợp với và đáp ứng năng lượng chân thần.

2. Two synthesising bodies:

2. Hai thể tổng hợp:

a. The causal body.

a. Thể nguyên nhân.

b. The physical body.

b. Thể xác.

3. One synthesising body:

3. Một thể tổng hợp:

a. The monadic sheath.

a. Vỏ bọc chân thần.

283. If we count, we shall see that we do not have a true ten. The causal body and the physical body are repeated.

283. Nếu chúng ta đếm, sẽ thấy rằng chúng ta không có một mười đích thực. Thể nguyên nhân và thể xác được lặp lại.

284. Rather, we have a seven and an eight once the monadic sheath is added.

284. Đúng hơn, chúng ta có một bảy và một tám khi vỏ bọc chân thần được thêm vào.

285. Two of the three synthesizing bodies are also called “periodical vehicles”—the causal body and the monadic sheath. They are periodical because they manifest in cycles: for the Monad, in cycles of ones and threes, and for the causal body, in cycles of threes and sevens.

285. Hai trong ba thể tổng hợp cũng được gọi là “các vận cụ chu kỳ”—thể nguyên nhân và vỏ bọc chân thần. Chúng có tính chu kỳ vì chúng biểu hiện theo chu kỳ: đối với Chân thần, theo các chu kỳ của một và ba, và đối với thể nguyên nhân, theo các chu kỳ của ba và bảy.

286. We note that the causal and physical apparatus are called bodies and the monadic apparatus is called a sheath.

286. Chúng ta lưu ý rằng bộ máy nguyên nhân và hồng trần được gọi là các thể còn bộ máy chân thần được gọi là một vỏ bọc.

287. With respect to the monadic sheath, the ‘Sword of Spirit’ has a scabbard.

287. Đối với vỏ bọc chân thần, ‘Thanh Kiếm của Tinh thần’ có một vỏ kiếm.

There are seven centres in the physical vehicle which correspond to these bodies, with the synthesising centres at the heart and throat; the head is then the ultimate synthesiser.

Có bảy trung tâm trong vận cụ hồng trần tương ứng với các thể này, với các trung tâm tổng hợp ở tim và cổ họng; khi đó đầu là đấng tổng hợp tối hậu.

288. In the case of the enumeration of the seven bodies, two of the bodies were repeated in the tabulation; this is also true within the tabulation of the centres; the throat and heart are repeated.

288. Trong trường hợp cách liệt kê bảy thể, hai thể đã được lặp lại trong bảng; điều này cũng đúng trong bảng các trung tâm; cổ họng và tim được lặp lại.

289. We may presume that the base of the spine center would be connected with the physical body; it is reasonable, but would it be correct? Elsewhere, the base of the spine is related to the etheric plane. (cf. TCF 167) Though it is also, naturally, related to the physical elemental life (EP II 304)

289. Chúng ta có thể giả định rằng trung tâm đáy cột sống sẽ được nối với thể xác; điều đó có vẻ hợp lý, nhưng có đúng không? Ở nơi khác, đáy cột sống được liên hệ với cõi dĩ thái. (x. TCF 167) Mặc dù dĩ nhiên nó cũng liên hệ với sự sống hành khí hồng trần.

290. Yet, the sacral center is, in a way, very related to the physical plane, and the action of the sacral center produces the generation of the physical body. The sacral center has, as well, a connection with the mental elemental. (EP II 304)

290. Tuy nhiên, trung tâm xương cùng, theo một nghĩa nào đó, lại rất liên hệ với cõi hồng trần, và hoạt động của trung tâm xương cùng tạo ra sự phát sinh của thể xác. Trung tâm xương cùng cũng có một liên hệ với hành khí trí tuệ. (EP II 304)

291. If we are going to relate the chakras to the vehicles, the throat center will relate to the mental vehicle and we shall have to find the manner of assigning the ajna center. We have the ajna and heart centers and the buddhic and causal vehicles? Shall the ajna center be connected with the causal body? It would seem that the heart center can reasonably be associated with both the buddhic vehicle and the causal vehicle (for the causal body is, in a way, the middle of the three periodical vehicles even as the heart chakras is the middlemost chakra). Further, the causal body can be considered a kind of heart center of the Monad.

291. Nếu chúng ta sẽ liên hệ các luân xa với các vận cụ, thì trung tâm cổ họng sẽ liên hệ với vận cụ trí và chúng ta sẽ phải tìm ra cách gán trung tâm ajna. Chúng ta có các trung tâm ajna và tim, cùng các vận cụ Bồ đề và nguyên nhân chăng? Có nên nối trung tâm ajna với thể nguyên nhân không? Có vẻ như trung tâm tim có thể được liên kết một cách hợp lý với cả vận cụ Bồ đề lẫn vận cụ nguyên nhân (vì thể nguyên nhân, theo một nghĩa nào đó, là trung gian của ba vận cụ chu kỳ cũng như luân xa tim là luân xa ở giữa nhất). Hơn nữa, thể nguyên nhân có thể được xem như một loại trung tâm tim của Chân thần.

292. In relating the ajna center to the causal body, we must remember the roles of Mercury and Venus in relation to both the ajna center and to the causal body (which is a Venusian vehicle housing the “Son of Mind”, Mercury).

292. Khi liên hệ trung tâm ajna với thể nguyên nhân, chúng ta phải nhớ đến vai trò của Sao Thủy và Sao Kim liên quan đến cả trung tâm ajna lẫn thể nguyên nhân (vốn là một vận cụ Sao Kim chứa đựng “Con của Trí Tuệ”, Sao Thủy).

293. As for the physical and etheric vehicles, we shall have to divide them between the base of the spine and the sacral center.

293. Đối với các vận cụ hồng trần và dĩ thái, chúng ta sẽ phải phân chúng giữa đáy cột sống và trung tâm xương cùng.

294. In this enumeration, it seems reasonable to associate the throat center with the mental vehicle.

294. Trong cách liệt kê này, dường như hợp lý khi liên kết trung tâm cổ họng với thể trí.

295. We can see that attempting to establish correspondences between the chakras and the vehicles (as here enumerated) is not an entirely straightforward process.

295. Chúng ta có thể thấy rằng việc cố gắng thiết lập các tương ứng giữa các luân xa và các vận cụ (như được liệt kê ở đây) không phải là một tiến trình hoàn toàn đơn giản.

296. In this method of enumerating, the ten are included within the seven.

296. Trong phương pháp liệt kê này, mười được bao gồm trong bảy.

This tabulation deals entirely with the form side, and with the vehicles indwelt by the Logos, the Manasaputras and by Man.

Bảng này hoàn toàn đề cập đến phương diện hình tướng, và đến các vận cụ được Thượng đế, các Manasaputra và con người ngự bên trong.

297. All rays and tendencies express through the physical vehicle. It is incorrect to think that the structure of the physical vehicle reflects only the physical ray. All internal qualities (for instance, ray qualities of the interior vehicles) can be expertly read in the physical body. However, who is the expert?

297. Mọi cung và khuynh hướng đều biểu lộ qua vận cụ hồng trần. Thật sai lầm khi nghĩ rằng cấu trúc của vận cụ hồng trần chỉ phản ánh cung thể xác. Mọi phẩm tính bên trong (thí dụ, các phẩm tính cung của các vận cụ nội tại) đều có thể được đọc một cách thành thạo trong thể xác. Tuy nhiên, ai là chuyên gia đó?

298. We shall encounter the same difficulties when we attempt to assign planetary chakras and solar chakras to their corresponding vehicles. It would be worth the effort to try. We might learn much about the constitution of our planet and solar system thereby.

298. Chúng ta sẽ gặp cùng những khó khăn ấy khi cố gắng gán các luân xa hành tinh và các luân xa thái dương cho những vận cụ tương ứng của chúng. Sẽ đáng công để thử làm điều đó. Nhờ vậy, chúng ta có thể học được nhiều điều về cấu tạo của hành tinh chúng ta và của hệ mặt trời.

299. The attention would be given to answering questions like:

299. Sự chú ý sẽ được dành cho việc trả lời những câu hỏi như:

a. Which chains in a Planetary Logos represent which chakras in that Logos?

a. Những dãy nào trong một Hành Tinh Thượng đế đại diện cho những luân xa nào trong Thượng đế ấy?

b. Which planetary schemes in a Solar Logos represent which chakras in that Logos?

b. Những hệ hành tinh nào trong một Thái dương Thượng đế đại diện cho những luân xa nào trong Thượng đế ấy?

300. Whereas we are definitely dealing with nine well known planets and even ten if Vulcan is included, the same cannot be said when dealing with planetary chains, the lore around which is much more obscure.

300. Trong khi chúng ta rõ ràng đang đề cập đến chín hành tinh quen thuộc và thậm chí là mười nếu kể cả Vulcan, thì điều tương tự không thể nói được khi bàn đến các dãy hành tinh, tri thức quanh chúng mờ tối hơn nhiều.

301. I will leave speculations about these correspondences until later commentaries when the structure of our planetary scheme and our solar system are the major focus.

301. Tôi sẽ để những suy đoán về các tương ứng này lại cho các phần bình luận sau, khi cấu trúc của hệ hành tinh chúng ta và của hệ mặt trời chúng ta là trọng tâm chính.

3. The Subjective Development.

3. Sự phát triển chủ quan.

This is also sevenfold:

Điều này cũng là thất phân:

1. Astral… pure desire, emotion, feeling.

1. Cảm dục… dục vọng thuần túy, cảm xúc, cảm giác.

2. Kama-manas… desire-mind.

2. Trí-cảm… trí tuệ-dục vọng.

3. Manas… lower concrete mind.

3. Manas… hạ trí cụ thể.

4. Higher manas… abstract or pure mind.

4. Thượng manas… trí trừu tượng hay trí tuệ thuần túy.

5. Buddhi… pure reason, intuition.

5. Bồ đề… lý trí thuần túy, trực giác.

6. Atma… pure will, realisation.

6. Atma… ý chí thuần túy, chứng nghiệm.

7. Monadic… Will, love-wisdom, intelligence.

7. Chân thần… Ý chí, Bác Ái – Minh Triết, trí tuệ.

302. We notice that the tabulation immediately above is almost a direct repetition of the tabulation to be found on p. 264. as follows:

302. Chúng ta nhận thấy rằng bảng ngay phía trên hầu như là một sự lặp lại trực tiếp của bảng được tìm thấy ở trang 264. như sau:

s3s5-tcf-259-269-02.png

303. Immediately below, for our convenience is a tabulation for the comparative study of these two tabulations on the subjective nature of man.

303. Ngay bên dưới, để tiện cho chúng ta, là một bảng dùng cho việc nghiên cứu so sánh hai bảng này về bản chất chủ quan của con người.

Tabulation of Distinctions

Bảng Phân Biệt

Tabulation on Sevenfold Subjectivity p. 264

Tabulation on Subjective Development p. 267

Monadic level

The sphere of manifestation, the monadic egg.

Will, love-wisdom, intelligence.

Atmic level

Atma Will.

Pure will, realisation.

Buddhi level

Buddhi Pure reason, wisdom.

Pure reason, intuition

Higher Manasic level

Manas Pure mind, higher mind.

Abstract or pure mind.

Manasic level

Manas Lower mind.

Lower concrete mind.

Kama-manasic level

Kama-manas

Desire-mind.

Astral Level

Pure emotion, or feeling.

Pure desire, emotion, feeling.

304. On this page, 267, we are not using the word “Principle”, but the functions listed are, indeed, principles.

304. Ở trang này, 267, chúng ta không dùng từ “Nguyên khí”, nhưng các chức năng được liệt kê quả thật là các nguyên khí.

305. Very illuminating descriptors are placed beside the different functions. Some of quite familiar. It is important to notice the term “realisation” used in connection with atma. This term helps us understand what may be achieved using the atmic faculty. On the third subplane from below (on the atmic plane) the higher psychic faculty of “realisation” is located.

305. Những từ mô tả rất soi sáng được đặt bên cạnh các chức năng khác nhau. Một số khá quen thuộc. Điều quan trọng là lưu ý thuật ngữ “chứng nghiệm” được dùng liên hệ với atma. Thuật ngữ này giúp chúng ta hiểu điều gì có thể đạt được khi sử dụng năng lực atma. Trên cõi phụ thứ ba tính từ dưới lên (trên cõi atma), năng lực thông linh cao hơn của “chứng nghiệm” được định vị.

306. The atmic plane is also called the “nirvanic plane”. On this plane, the Buddha achieved “realisation”.

306. Cõi atma cũng được gọi là “cõi Niết Bàn”. Trên cõi này, Đức Phật đã đạt được “chứng nghiệm”.

307. Notice that on the monadic plane, the usual Will, Wisdom and Activity are replaced by Will, Love-Wisdom and Intelligence. This gives a more rounded view of monadic life.

307. Hãy lưu ý rằng trên cõi chân thần, Ý chí, Minh triết và Hoạt động thông thường được thay bằng Ý chí, Bác Ái – Minh Triết và Trí tuệ. Điều này đem lại một cái nhìn trọn vẹn hơn về sự sống chân thần.

This deals with the sevenfold development of inherent love-wisdom by the aid of mind.

Điều này đề cập đến sự phát triển thất phân của bác ái-minh triết cố hữu nhờ sự trợ giúp của trí tuệ.

308. Subjective development is really the development of “inherent love wisdom”. The lowest principle or level is the astral nature which is a direct reflection of love-wisdom.

308. Sự phát triển chủ quan thật ra là sự phát triển của “bác ái-minh triết cố hữu”. Nguyên khí hay cấp độ thấp nhất là bản chất cảm dục, vốn là một phản chiếu trực tiếp của bác ái-minh triết.

This proceeds macrocosmically through the seven Heavenly Men, Who are [Page 268] actively intelligent, inherently love, and are objectively seen through Their forms, the planetary schemes.

Điều này tiến triển ở cấp đại thiên địa qua bảy Đấng Thiên Nhân, Đấng là [Page 268] trí tuệ hoạt động, vốn là bác ái, và được thấy một cách khách quan qua các hình tướng của Các Ngài, tức các hệ hành tinh.

309. The Primordial Ray is associated with Active Intelligence. The Divine Ray is associated with Love-Wisdom.

309. Cung Nguyên Sơ gắn liền với Trí Tuệ Hoạt Động. Cung Thiêng Liêng gắn liền với Bác Ái – Minh Triết.

310. The Heavenly Men are already love-wisdom in expression. Man, as yet, is not.

310. Các Đấng Thiên Nhân đã là bác ái-minh triết trong biểu hiện. Còn con người thì chưa.

In Their totality They are the Logos, the Grand Man of the Heavens.

Trong tổng thể của Các Ngài, Các Ngài là Thượng đế, Đại Nhân của Thiên Giới.

311. Is the Solar Logos more than the sum total of the Planetary Logoi? It would seem so, just as man is more than the sum total of his principles and their vehicles.

311. Thái dương Thượng đế có hơn tổng số các Hành Tinh Thượng đế không? Dường như là có, cũng như con người hơn tổng số các nguyên khí của y và các vận cụ của chúng.

312. Wheels within wheels; spheres within spheres; beings within beings must be pondered.

312. Bánh xe trong bánh xe; khối cầu trong khối cầu; hữu thể trong hữu thể phải được suy ngẫm.

In the case of a Heavenly Man the development proceeds through the seven groups of human entities who form Their psychic centres. These groups are on their own plane developing intelligence, are inherently love, and can be objectively contacted on the seven chains of a scheme.

Trong trường hợp của một Đấng Thiên Nhân, sự phát triển tiến hành qua bảy nhóm thực thể nhân loại tạo thành các trung tâm thông linh của Các Ngài. Những nhóm này trên cõi riêng của chúng đang phát triển trí tuệ, vốn là bác ái, và có thể được tiếp xúc một cách khách quan trên bảy dãy của một hệ hành tinh.

313. We are being given the manner in which subjective development proceeds in relation to a Heavenly Man.

313. Chúng ta đang được cho biết cách thức mà sự phát triển chủ quan tiến hành trong liên hệ với một Đấng Thiên Nhân.

314. The human entities here named must be considered in their monadic aspects, because it is as Monads that human beings are included in the formation of the chakras of the Heavenly Man.

314. Những thực thể nhân loại được nêu tên ở đây phải được xét trong các phương diện chân thần của chúng, bởi vì chính với tư cách các chân thần mà con người được bao gồm trong sự hình thành các luân xa của Đấng Thiên Nhân.

315. We note a fundamental difference between a Heavenly Man and a human being. The Heavenly Men are already actively intelligent. The human being is only “developing intelligence”.

315. Chúng ta lưu ý một khác biệt căn bản giữa một Đấng Thiên Nhân và một con người. Các Đấng Thiên Nhân đã là trí tuệ hoạt động. Con người chỉ mới “đang phát triển trí tuệ”.

316. It would seem that man can be found on all seven chains of a planetary scheme. Since not all chains are in dense objectivity, the term “objectively contacted” seems to be relative. In other words, on every chain, man achieves a kind of objectivity depending upon the degree of objectivity possible on any particular chain.

316. Dường như con người có thể được tìm thấy trên cả bảy dãy của một hệ hành tinh. Vì không phải mọi dãy đều ở trong tính khách quan đậm đặc, nên thuật ngữ “được tiếp xúc một cách khách quan” dường như có tính tương đối. Nói cách khác, trên mỗi dãy, con người đạt được một loại tính khách quan tùy theo mức độ khách quan có thể có trên bất kỳ dãy riêng biệt nào.

317. The term “psychic centers” also bears examining. The psychic centers of a man would reasonably be found on the astral plane. Would the psychic centers of a Planetary Logos be found upon the cosmic astral plane? If so, man as Monad cannot participate in their constitution.

317. Thuật ngữ “các trung tâm thông linh” cũng cần được khảo sát. Các trung tâm thông linh của một người hẳn là được tìm thấy trên cõi cảm dục. Liệu các trung tâm thông linh của một Hành Tinh Thượng đế có được tìm thấy trên cõi cảm dục vũ trụ không? Nếu vậy, con người với tư cách chân thần không thể tham gia vào cấu tạo của chúng.

318. When considering the psychic centers of a Planetary Logos, three levels of expression may be examined: the buddhic plane, the monadic plane, and perhaps one of the subplanes of the cosmic astral plane.

318. Khi xét các trung tâm thông linh của một Hành Tinh Thượng đế, có thể khảo sát ba cấp độ biểu hiện: cõi Bồ đề, cõi chân thần, và có lẽ một trong các cõi phụ của cõi cảm dục vũ trụ.

319. The seven groups of human entities must be considered as seven groups within the entire planetary scheme and not as the groupings of seven which are found on any particular globe or any particular chain. All the lesser grouping must be included within the seven major scheme groupings.

319. Bảy nhóm thực thể nhân loại phải được xem là bảy nhóm bên trong toàn bộ hệ hành tinh và không phải là các nhóm bảy được tìm thấy trên bất kỳ bầu hành tinh riêng biệt nào hay bất kỳ dãy riêng biệt nào. Mọi nhóm nhỏ hơn phải được bao gồm trong bảy nhóm hệ hành tinh chính yếu.

320. We notice that the Tibetan does not specify on which plane these seven groups of human entities are to be found. It is not unreasonable to think of the monadic plane as the major focus with its seven ‘ray-spheres’ which represent the seven archetypal principles of a Planetary Logos.

320. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng không xác định bảy nhóm thực thể nhân loại này được tìm thấy trên cõi nào. Không phải là vô lý khi nghĩ đến cõi chân thần như tiêu điểm chính với bảy “khối cầu-cung” của nó, vốn đại diện cho bảy nguyên khí nguyên mẫu của một Hành Tinh Thượng đế.

321. The ashramic groupings with which our texts have made us familiar are only a small part of these seven major groupings of human beings in a Heavenly Man.

321. Những nhóm ashram mà các văn bản của chúng ta đã làm cho chúng ta quen thuộc chỉ là một phần nhỏ của bảy nhóm lớn này của nhân loại trong một Đấng Thiên Nhân.

322. We can see that the Tibetan has veiled much in a few apparently simple words.

322. Chúng ta có thể thấy rằng Chân sư Tây Tạng đã che giấu nhiều điều trong một vài lời có vẻ đơn giản.

In the case of individual man, the development proceeds through his seven centres, which are the key to his psychic evolution.

Trong trường hợp của con người cá nhân, sự phát triển tiến hành qua bảy trung tâm của y, vốn là chìa khóa cho sự tiến hoá thông linh của y.

323. We must not think of seven centers as existing on only one plane; the chakras are really multi-planar. The etheric chakras, astral chakras, mental chakras, etc., are really part of a single chakric structure with different vibrational divisions. Perhaps there are even buddhic chakras, and atmic chakras, as a Master has thirty-five centers.

323. Chúng ta không được nghĩ rằng bảy trung tâm chỉ tồn tại trên một cõi; các luân xa thật ra là đa cõi. Các luân xa dĩ thái, luân xa cảm dục, luân xa trí tuệ, v.v. thật ra là một phần của một cấu trúc luân xa duy nhất với những phân chia rung động khác nhau. Có lẽ thậm chí còn có các luân xa Bồ đề, và các luân xa atma, vì một Chân sư có ba mươi lăm trung tâm.

324. If the seven centres of man are “the key to his psychic evolution”, then the seven centers of a Planetary Logos must also be the key to His psychic evolution.

324. Nếu bảy trung tâm của con người là “chìa khóa cho sự tiến hoá thông linh của y”, thì bảy trung tâm của một Hành Tinh Thượng đế cũng phải là chìa khóa cho sự tiến hoá thông linh của Ngài.

325. It will be necessary to examine the relation of the centers of force on systemic monadic plane to the “psychic evolution” of a Planetary Logos.

325. Sẽ cần phải khảo sát mối liên hệ của các trung tâm mãnh lực trên cõi chân thần hệ thống với “sự tiến hoá thông linh” của một Hành Tinh Thượng đế.

326. If we think analogically it would seem that the Planetary Logos should be pursuing His psychic evolution through His seven chains, which correspond to the seven major chakras in man. For a Heavenly Man to pursue His psychic evolution only through groupings of human beings seems far too limiting.

326. Nếu chúng ta suy nghĩ theo định luật tương đồng thì dường như Hành Tinh Thượng đế phải đang theo đuổi sự tiến hoá thông linh của Ngài qua bảy dãy của Ngài, vốn tương ứng với bảy luân xa chính yếu trong con người. Để một Đấng Thiên Nhân theo đuổi sự tiến hoá thông linh của Ngài chỉ qua các nhóm con người thì dường như quá hạn hẹp.

327. When speaking of the chakras or centers within a Heavenly Man, the Tibetan appears to use what we might call ‘level blinds’. Planetary-chains are centers; planetary globes are centers; groupings of lives higher than man can be considered centers (for instance, higher kingdoms); and of course, groupings of human beings can be considered to be centers. To get a clear idea of the possible centers within a Heavenly Man, however, we have to keep such levels clearly in mind.

327. Khi nói về các luân xa hay trung tâm bên trong một Đấng Thiên Nhân, Chân sư Tây Tạng dường như dùng điều mà chúng ta có thể gọi là “những tấm màn cấp độ”. Các dãy hành tinh là các trung tâm; các bầu hành tinh là các trung tâm; các nhóm sự sống cao hơn con người có thể được xem là các trung tâm (thí dụ, các giới cao hơn); và dĩ nhiên, các nhóm con người có thể được xem là các trung tâm. Tuy nhiên, để có được một ý niệm rõ ràng về những trung tâm khả hữu bên trong một Đấng Thiên Nhân, chúng ta phải giữ rõ ràng những cấp độ như thế trong tâm trí.

328. We should pause to consider the meaning of “psychic evolution”. From a simple perspective, we can consider it to be ‘subjective evolution’—the evolution of consciousness and not the evolution of the form or the matter composing the form.

328. Chúng ta nên dừng lại để xem xét ý nghĩa của “sự tiến hoá thông linh”. Từ một góc nhìn đơn giản, chúng ta có thể xem đó là “sự tiến hoá chủ quan”—sự tiến hoá của tâm thức chứ không phải sự tiến hoá của hình tướng hay của vật chất cấu thành hình tướng.

A man is also developing intelligence, is inherently love, and is objectively seen through one or other of his bodies.

Con người cũng đang phát triển trí tuệ, vốn là bác ái, và được thấy một cách khách quan qua thể này hay thể khác của y.

329. We do not see principles. We only see the bodies, vehicles or sheathes through which those principles function.

329. Chúng ta không thấy các nguyên khí. Chúng ta chỉ thấy các thể, vận cụ hay các vỏ bọc mà qua đó những nguyên khí ấy hoạt động.

What I seek to emphasise is the fact of the psychic development, and also that subjective evolution is the main enterprise of the Logos, of a planetary Logos and of a man.

Điều tôi tìm cách nhấn mạnh là sự kiện của sự phát triển thông linh, và cũng là rằng sự tiến hoá chủ quan là công việc chính của Thượng đế, của một Hành Tinh Thượng đế và của con người.

330. We are no longer in a solar system the major purpose of which is to develop matter and form.

330. Chúng ta không còn ở trong một hệ mặt trời mà mục đích chính là phát triển vật chất và hình tướng nữa.

331. Matter/form should become the focus of attention only to the degree that they can be utilized to promote the development of consciousness.

331. Vật chất/hình tướng chỉ nên trở thành tiêu điểm chú ý ở mức độ mà chúng có thể được sử dụng để thúc đẩy sự phát triển của tâm thức.

Active intelligent love (the bringing forth from latency of the inherent quality of love by the intelligent application of the mind faculty) will be the result of the evolutionary process.

Bác ái trí tuệ hoạt động (sự đưa phẩm tính bác ái cố hữu từ trạng thái tiềm ẩn ra ngoài nhờ sự vận dụng trí tuệ một cách thông minh) sẽ là kết quả của tiến trình tiến hoá.

332. This is such a clear exposition of the purpose and method of the evolutionary process.

332. Đây là một sự trình bày hết sức rõ ràng về mục đích và phương pháp của tiến trình tiến hoá.

333. We see how important is the utilization of the mind faculty in the bringing forth of love from latency into objectivity.

333. Chúng ta thấy việc sử dụng năng lực trí tuệ quan trọng biết bao trong việc đưa bác ái từ trạng thái tiềm ẩn vào tính khách quan.

334. The planet Venus is precisely involved in this use of the mind faculty in relation to the emerging expression of love.

334. Hành tinh Sao Kim chính xác là có liên quan đến việc sử dụng năng lực trí tuệ này trong mối liên hệ với sự biểu lộ đang xuất hiện của bác ái.

Just as objectivity is dual, life-form, so subjectivity is dual, mind-love, and the blending of the two produces consciousness.

Cũng như tính khách quan là nhị nguyên, sự sống-hình tướng, thì tính chủ quan cũng là nhị nguyên, trí tuệ-bác ái, và sự hòa trộn của hai điều ấy tạo ra tâm thức.

335. Objective duality can be understood by the two lowest principles (in some enumerations): the etheric body (form) and prana (life).

335. Nhị nguyên khách quan có thể được hiểu qua hai nguyên khí thấp nhất (trong một số cách liệt kê): thể dĩ thái (hình tướng) và prana (sự sống).

336. Remember that it is only in manifestation that we speak of “life-form” and not of Spirit-Matter.

336. Hãy nhớ rằng chỉ trong biểu hiện chúng ta mới nói đến “sự sống-hình tướng” chứ không nói đến Tinh thần-Vật chất.

337. The lowest fire (fire by friction) is also dual: fire active and radiatory and fire latent.

337. Ngọn lửa thấp nhất (Lửa ma sát) cũng là nhị nguyên: lửa hoạt động và phóng xạ, và lửa tiềm ẩn.

338. The lower mental fire is the fire of the mental elemental life.

338. Lửa trí tuệ thấp hơn là lửa của sự sống hành khí trí tuệ.

339. The higher of the two mental fires, solar fire, is associated with love.

339. Ngọn lửa trí tuệ cao hơn trong hai ngọn lửa trí tuệ, Lửa Thái dương, gắn liền với bác ái.

340. VSK reminds us that the Tibetan’s statement is “relevant to reinforcing the theme of the duality of the two fires, frictional and solar, objectivity and subjectivity, and the functionality of these FOUR (‘attributes’) producing consciousness”.

340. VSK nhắc chúng ta rằng phát biểu của Chân sư Tây Tạng “liên quan đến việc củng cố chủ đề về tính nhị nguyên của hai ngọn lửa, ma sát và thái dương, khách quan và chủ quan, và chức năng của bốn điều này (‘thuộc tính’) tạo ra tâm thức”.

341. From a planetary perspective, the subjective duality called mind-love can be considered as Mercury-Venus.

341. Từ góc nhìn hành tinh, nhị nguyên chủ quan được gọi là trí tuệ-bác ái có thể được xem là Sao Thủy-Sao Kim.

342. The soul nature can be considered as the duality of “mind-love”. The Spirit nature as will-love, or atma-buddhi. Yet, overall, the Monad is a Trinity.

342. Bản chất linh hồn có thể được xem là nhị nguyên của “trí tuệ-bác ái”. Bản chất tinh thần là ý chí-bác ái, hay atma-bồ đề. Tuy nhiên, xét tổng thể, chân thần là một Tam Nguyên Tinh Thần.

Spirit alone is unity, and is undivided;

Chỉ riêng tinh thần là hợp nhất, và không phân chia;

343. At least this is the case in this solar system. Presently (when viewing the unfoldment of matter, mind, Spirit) we have a five. In the last solar system, it is likely we had a three. In the next solar system we may well have a seven, with what we call Spirit divided, and synthesized by something superior which pervades the other six aspects.

343. Ít nhất điều này đúng trong hệ mặt trời này. Hiện nay (khi nhìn sự khai mở của vật chất, trí tuệ, Tinh thần) chúng ta có một năm. Trong hệ mặt trời trước, có lẽ chúng ta đã có một ba. Trong hệ mặt trời kế tiếp, rất có thể chúng ta sẽ có một bảy, với điều mà chúng ta gọi là Tinh thần được phân chia, và được tổng hợp bởi một điều gì đó cao hơn thấm nhuần sáu phương diện kia.

the development of Spirit (or its assumption of the fruits of evolution) is only to be realised and brought about when the dual evolution of the form and the psyche is consummated.

sự phát triển của Tinh thần (hay sự tiếp nhận của nó đối với những thành quả của tiến hoá) chỉ được chứng nghiệm và được mang lại khi sự tiến hoá nhị nguyên của hình tướng và của tâm linh được hoàn tất.

344. The relative perfection of the lower quaternary must precede the development of the fifth factor which hovers above the square as the elevated point of the pyramid.

344. Sự hoàn thiện tương đối của bộ tứ thấp phải đi trước sự phát triển của yếu tố thứ năm, vốn lơ lửng phía trên hình vuông như đỉnh nâng cao của kim tự tháp.

345. This is an arresting phrase: “its assumption of the fruits of evolution”. Spirit as pure being cannot develop, but Spirit as a center of awareness can, indeed, do so. Everything accomplished below is eventually translated into the domain of Spirit—sequentially from the personality to the causal body to the spiritual triad and eventually to the Monad.

345. Đây là một cụm từ gây chú ý: “sự tiếp nhận của nó đối với những thành quả của tiến hoá”. Tinh thần như bản thể thuần túy không thể phát triển, nhưng Tinh thần như một trung tâm nhận biết thì quả thật có thể. Mọi điều được hoàn thành ở bên dưới cuối cùng đều được chuyển dịch vào lĩnh vực của Tinh thần—tuần tự từ phàm ngã đến thể nguyên nhân đến Tam Nguyên Tinh Thần và cuối cùng đến chân thần.

346. This transference will mean that Spirit/Monad will be more fully endowed and capable with respect to the possibility of functioning and expressing within the lower five worlds of human and super-human evolution.

346. Sự chuyển giao này sẽ có nghĩa là Tinh thần/chân thần sẽ được phú cho đầy đủ hơn và có năng lực hơn đối với khả năng hoạt động và biểu lộ trong năm cõi thấp của sự tiến hoá nhân loại và siêu nhân loại.

Then Spirit garners the fruits of evolution and gathers to itself the qualities nurtured during manifestation,—perfect love and perfect intelligence showing forth then as active intelligent love-wisdom.

Khi đó Tinh thần gặt hái những thành quả của tiến hoá và thu về cho chính nó những phẩm tính được nuôi dưỡng trong thời kỳ biểu hiện,—bác ái hoàn hảo và trí tuệ hoàn hảo khi ấy biểu lộ như bác ái-minh triết trí tuệ hoạt động.

347. We are not here speaking of the growth of the power aspect.

347. Ở đây chúng ta không nói về sự tăng trưởng của phương diện quyền năng.

348. Spirit is here represented as a great magnet for nurtured quality.

348. Ở đây Tinh thần được trình bày như một nam châm lớn đối với phẩm tính được nuôi dưỡng.

349. The instrument of expression for Spirit (the first aspect) will be the perfected combination of the qualities of the first and second aspects: active intelligence love-wisdom.

349. Công cụ biểu lộ của Tinh thần (phương diện thứ nhất) sẽ là sự kết hợp hoàn thiện của các phẩm tính thuộc phương diện thứ nhất và thứ hai: trí tuệ hoạt động bác ái-minh triết.

350. A Heavenly Man is such an expression and man is learning to be. A Heavenly Man is relatively perfect with respect to His cellular constituent, man, but not with respect to His own objectives.

350. Một Đấng Thiên Nhân là một biểu lộ như thế và con người đang học để trở thành như vậy. Một Đấng Thiên Nhân tương đối hoàn thiện đối với thành phần tế bào của Ngài là con người, nhưng không hoàn thiện đối với các mục tiêu riêng của Ngài.

We might, therefore, answer the questions: “What is the Mind aspect and why is it so important?” by saying that the mind aspect is in reality the ability or capacity of the logoic Existence to think, to act, to build, and to evolve in order to develop the faculty of active love.

Vì vậy, chúng ta có thể trả lời những câu hỏi: “Phương diện Trí Tuệ là gì và tại sao nó quan trọng đến thế?” bằng cách nói rằng phương diện trí tuệ thật ra là khả năng hay năng lực của Sự Tồn Tại logoi để suy nghĩ, hành động, kiến tạo và tiến hoá nhằm phát triển năng lực bác ái hoạt động.

351. This is a most purposeful definition of the mind aspect.

351. Đây là một định nghĩa hết sức có mục đích về phương diện trí tuệ.

352. We see that mind is a capacity of the “logoic Existence”. This is another way of saying that mind is a capacity of the Planetary Logos.

352. Chúng ta thấy rằng trí tuệ là một năng lực của “Sự Tồn Tại logoi”. Đây là một cách khác để nói rằng trí tuệ là một năng lực của Hành Tinh Thượng đế.

353. The faculties or abilities of Logoic Mind are as follows:

353. Các năng lực hay khả năng của Trí Tuệ Logoi như sau:

a. To think

a. Suy nghĩ

b. To act

b. Hành động

c. To build

c. Kiến tạo

d. To evolve

d. Tiến hoá

354. The conclusion to be derived is that mind serves love, and that mind must build the foundation by means of which love can emerge from latency to objective expression.

354. Kết luận cần rút ra là trí tuệ phụng sự bác ái, và trí tuệ phải xây dựng nền tảng nhờ đó bác ái có thể xuất hiện từ trạng thái tiềm ẩn đến biểu lộ khách quan.

When the Logos, Who IS active intelligence, has run His [Page 269] life-cycle, He will be also love fully manifested throughout Nature.

Khi Thượng đế, Đấng LÀ trí tuệ hoạt động, đã hoàn tất chu kỳ sống [Page 269] của Ngài, Ngài cũng sẽ là bác ái được biểu lộ trọn vẹn khắp Thiên Nhiên.

355. A Solar Logos is called a “Lion of Cosmic Will”, suggesting, at least, that the Love-Wisdom aspect has been developed within Him.

355. Một Thái dương Thượng đế được gọi là “Sư Tử của Ý Chí Vũ Trụ”, ít nhất gợi ý rằng phương diện Bác Ái – Minh Triết đã được phát triển trong Ngài.

356. A Planetary Logos is called a “Dragon of Wisdom” indicating that He is possessed of wisdom and of love, but has surely mastered active intelligence.

356. Một Hành Tinh Thượng đế được gọi là “Rồng của Minh Triết”, cho thấy rằng Ngài sở hữu minh triết và bác ái, nhưng chắc chắn đã làm chủ trí tuệ hoạt động.

357. In this excerpt, DK is suggesting that the Solar Logos still has much to develop of the love aspect, but surely IS active intelligence.

357. Trong đoạn trích này, Chân sư DK đang gợi ý rằng Thái dương Thượng đế vẫn còn nhiều điều phải phát triển nơi phương diện bác ái, nhưng chắc chắn LÀ trí tuệ hoạt động.

358. If the fourth cosmic initiation still lies ahead of the Solar Logos, we can understand that He still has much to achieve in terms of the expression of love.

358. Nếu lần điểm đạo vũ trụ thứ tư vẫn còn ở phía trước đối với Thái dương Thượng đế, chúng ta có thể hiểu rằng Ngài vẫn còn nhiều điều phải đạt được xét về sự biểu lộ của bác ái.

359. What seems to be full development of a principle when seen from ‘below’ is not considered full development with respect to the objectives of the being in question.

359. Điều có vẻ là sự phát triển trọn vẹn của một nguyên khí khi được nhìn từ “bên dưới” thì không được xem là sự phát triển trọn vẹn đối với các mục tiêu của hữu thể đang được nói đến.

360. The life-cycle of the Logos is one Century of Brahma.

360. Chu kỳ sống của Thượng đế là một Thế Kỷ của Brahma.

This can be likewise predicated of a Heavenly Man in His sphere and of a man in his tiny cycle. Thus the importance of manas can be fully seen. It is the means whereby evolution becomes possible, comprehension is achieved, and activity is generated and utilised.

Điều này cũng có thể được khẳng định tương tự đối với một Đấng Thiên Nhân trong khối cầu của Ngài và đối với con người trong chu kỳ nhỏ bé của y. Do đó tầm quan trọng của manas có thể được thấy trọn vẹn. Đó là phương tiện nhờ đó tiến hoá trở nên khả hữu, sự thấu hiểu được đạt tới, và hoạt động được tạo ra và được sử dụng.

361. Although there are great differences in the extent to which the Grand Heavenly Man, the Heavenly Man and man have developed the three faculties corresponding to the three aspects, it appears that all of them, on their own level, have as a principle task the development of love.

361. Mặc dù có những khác biệt lớn về mức độ mà Đại Thiên Nhân, Đấng Thiên Nhân và con người đã phát triển ba năng lực tương ứng với ba phương diện, dường như rằng tất cả họ, trên cấp độ riêng của mình, đều có một nhiệm vụ nguyên lý là phát triển bác ái.

362. Let us tabulate for the sake of impression:

362. Chúng ta hãy lập bảng để tạo ấn tượng:

363. Manas is the means:

363. Manas là phương tiện:

a. Whereby evolution becomes possible

a. Nhờ đó tiến hoá trở nên khả hữu

b. Whereby comprehension is achieved

b. Nhờ đó sự thấu hiểu được đạt tới

c. Whereby activity is generated

c. Nhờ đó hoạt động được tạo ra

d. Whereby activity is utilized

d. Nhờ đó hoạt động được sử dụng

Let us now consider how this question can be expressed in terms of Fire:

Bây giờ chúng ta hãy xét xem câu hỏi này có thể được diễn đạt như thế nào theo thuật ngữ của Lửa:

364. The following is a list of contrasts between Objectivity, Subjectivity and Spirituality

364. Sau đây là một danh sách các tương phản giữa Tính khách quan, Tính chủ quan và Tính tinh thần

365. When reading the second and third column immediately below, we must think in terms of subjectivity.

365. Khi đọc cột thứ hai và thứ ba ngay bên dưới, chúng ta phải suy nghĩ theo phương diện chủ quan.

366. The subjective terms used are “God”, “Light”, “heat”, “illumination”, “fire”, and again “heat”. They refer to an animating principle.

366. Các thuật ngữ chủ quan được dùng là “Thượng đế”, “Ánh sáng”, “nhiệt”, “sự soi sáng”, “lửa”, và một lần nữa là “nhiệt”. Chúng quy chiếu đến một nguyên khí làm sinh động.

Objectively Subjectively

Một cách khách quan Một cách chủ quan

1. The sea of fire 1. Our God is a consuming fire Energising will

1. Biển lửa 1. Thượng đế của chúng ta là ngọn lửa thiêu đốt Ý chí tiếp năng lượng

2. The akasha 2. The Light of God Form aspect.

2. Akasha 2. Ánh Sáng của Thượng đế Phương diện hình tướng.

3. The aether 3. The heat of matter Activity aspect.

3. Dĩ thái 3. Nhiệt của vật chất Phương diện hoạt động.

4. The air 4. The illumination of the intuition.

4. Không khí 4. Sự soi sáng của trực giác.

5. Fire 5. The fire of mind.

5. Lửa 5. Lửa của trí tuệ.

6. The astral light 6. The heat of the emotions.

6. Ánh sáng cảm dục 6. Nhiệt của các cảm xúc.

7. Physical plane electricity7. Kundalini and prana.

7. Điện của cõi hồng trần 7. Kundalini và prana.

367. Here we have the five of the “elements” listed, with water correlated to the “astral light”, and earth to “physical plane electricity”.

367. Ở đây chúng ta có năm “nguyên tố” được liệt kê, với nước được tương quan với “ánh sáng cảm dục”, và đất với “điện của cõi hồng trần”.

368. It is important to recognize that the great aphorism describing the God of our solar system—“Our God is a consuming fire”—is associated with the logoic systemic plane, and to no lower plane. All form upon the cosmic physical plane is consumed in the Sea of Fire, where it is ‘de-aggregated’ by the fiery process.

368. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng đại châm ngôn mô tả Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta—“Thượng đế của chúng ta là ngọn lửa thiêu đốt”—được liên kết với cõi hệ thống logoi, chứ không với cõi thấp hơn nào. Mọi hình tướng trên cõi hồng trần vũ trụ đều bị tiêu hủy trong Biển Lửa, nơi chúng bị “giải kết tập” bởi tiến trình lửa.

369. Note that the akasha is associated with light as well as with sound. This is fitting as the second ray (which is related to the second plane) is the ray of the light-bearer and also the ray of the Divine Word.

369. Hãy lưu ý rằng akasha được liên kết với ánh sáng cũng như với âm thanh. Điều này là thích hợp vì cung hai (liên hệ với cõi thứ hai) là cung của đấng mang ánh sáng và cũng là cung của Linh từ Thiêng Liêng.

370. In the sequence—vibration, light, sound, color—light is found in the second position and, thus, related to the second ray.

370. Trong chuỗi—rung động, ánh sáng, âm thanh, màu sắc—ánh sáng được tìm thấy ở vị trí thứ hai và do đó liên hệ với cung hai.

371. We note that the monadic level is the source of the “form aspect”. This is fitting as the second ray is the “Form Builder”, and the monadic plane is the archetypal plane with respect to the cosmic physical plane.

371. Chúng ta lưu ý rằng cấp độ chân thần là nguồn của “phương diện hình tướng”. Điều này là thích hợp vì cung hai là “Đấng Kiến Tạo Hình Tướng”, và cõi chân thần là cõi nguyên mẫu đối với cõi hồng trần vũ trụ.

372. The “Forms” which Plato discussed (another names for archetypes) are the patterns on which all lesser forms in the World of Becoming are built; these “Forms” pertain to the monadic plane.

372. Những “Hình Tướng” mà Plato đã bàn đến (một tên gọi khác của các nguyên mẫu) là những mô hình trên đó mọi hình tướng thấp hơn trong Thế Giới Đang Trở Thành được xây dựng; những “Hình Tướng” này thuộc về cõi chân thần.

373. Will, Love and Activity are associated with the first three elements and planes.

373. Ý chí, Bác ái và Hoạt động được liên kết với ba nguyên tố và ba cõi đầu tiên.

374. The atmic plane correlates to the third aspect of divinity.

374. Cõi atma tương quan với phương diện thứ ba của thiên tính.

375. The third fire, fire by friction, is associated with heat, and is also associated with the atmic plane considered as the archetypal Brahmic plane.

375. Ngọn lửa thứ ba, Lửa ma sát, gắn liền với nhiệt, và cũng gắn liền với cõi atma được xem như cõi Brahma nguyên mẫu.

376. Saturn and Mars are two planets which cause resistance (and therefore, friction) and contention (and therefore friction).

376. Sao Thổ và Sao Hỏa là hai hành tinh gây ra sự kháng cự (và do đó, ma sát) và xung đột (và do đó ma sát).

377. Saturn rules the atmic plane and Mars the astral plane. In relation to both of these planes the term “heat” is found associated.

377. Sao Thổ cai quản cõi atma và Sao Hỏa cai quản cõi cảm dục. Liên hệ với cả hai cõi này, thuật ngữ “nhiệt” được thấy là gắn liền.

378. Both Saturn and Mars (along with Earth) are closely related to the third aspect of divinity.

378. Cả Sao Thổ lẫn Sao Hỏa (cùng với Trái Đất) đều liên hệ chặt chẽ với phương diện thứ ba của thiên tính.

379. Saturn has a fohatic connection, for Fohat can be considered as the ‘heat of matter’. Fohat is ‘the Life of the Father within Matter’ and His presence generates the ‘Heat of the Mother—Matter’.

379. Sao Thổ có một liên hệ fohat, vì Fohat có thể được xem là “nhiệt của vật chất”. Fohat là “Sự Sống của Chúa Cha bên trong Vật Chất” và sự hiện diện của Ngài tạo ra “Nhiệt của Mẹ—Vật Chất”.

380. Because there is heat of emotion on the astral plane, the astral light distorts and deludes.

380. Bởi vì có nhiệt của cảm xúc trên cõi cảm dục, nên ánh sáng cảm dục làm méo mó và mê hoặc.

381. In relation to the phrase “the illumination of the intuition”, is not the intuition inherently illuminating? Or might we say that the intuition can be characterized by different degrees of illumination?

381. Liên hệ với cụm từ “sự soi sáng của trực giác”, chẳng phải trực giác vốn dĩ có tính soi sáng sao? Hay chúng ta có thể nói rằng trực giác có thể được đặc trưng bởi những mức độ soi sáng khác nhau?

382. In relation to physical plane electricity, we are speaking of both physical and etheric phenomena. Kundalini has both its physical and etheric components, though it is more an etheric than a dense physical fire. Prana is definitely etheric.

382. Liên hệ với điện của cõi hồng trần, chúng ta đang nói đến cả hiện tượng hồng trần lẫn dĩ thái. Kundalini có cả thành phần hồng trần lẫn dĩ thái của nó, dù nó là một lửa dĩ thái hơn là một lửa hồng trần đậm đặc. Prana chắc chắn là dĩ thái.

383. The suggestion is that electricity is more an etheric than a physical force. But, of course, the etheric plane is included within the physical plane considered as a whole.

383. Gợi ý ở đây là điện mang tính dĩ thái hơn là một mãnh lực hồng trần. Nhưng dĩ nhiên, cõi dĩ thái được bao gồm trong cõi hồng trần khi xét như một toàn thể.

384. When considering the terms “light” and “heat” in relation to each other, “light” will be associated with the second aspect of divinity, and “heat” with the third—as we see in this tabulation. There is also a way in which “light” is to be associated with the third aspect of divinity when considering Power, Love and Light.

384. Khi xét các thuật ngữ “ánh sáng” và “nhiệt” trong mối liên hệ với nhau, “ánh sáng” sẽ được gắn với phương diện thứ hai của thiên tính, và “nhiệt” với phương diện thứ ba—như chúng ta thấy trong bảng này. Cũng có một cách mà “ánh sáng” được gắn với phương diện thứ ba của thiên tính khi xét Quyền năng, Bác ái và Ánh sáng.

385. The factor of spirituality (and not objectivity or subjectivity) is described immediately below.

385. Yếu tố tính tinh thần (chứ không phải tính khách quan hay tính chủ quan) được mô tả ngay bên dưới.

Spiritually.

Một cách tinh thần.

This is hid in a threefold mystery:

Điều này được ẩn giấu trong một huyền nhiệm tam phân:

1. The mystery of electricity.

1. Huyền nhiệm của điện.

2. The mystery of the seven constellations.

2. Huyền nhiệm của bảy chòm sao.

3. The mystery of the ONE ABOVE THE LOGOS.

3. Huyền nhiệm của ĐẤNG DUY NHẤT Ở TRÊN THƯỢNG ĐẾ.

386. We can relate the “mystery of electricity” to the cosmic physical plane.

386. Chúng ta có thể liên hệ “huyền nhiệm của điện” với cõi hồng trần vũ trụ.

387. The “seven constellations” are the Seven Solar Systems of Which Ours is One, and in this tabulation may be related to the cosmic astral plane.

387. “Bảy chòm sao” là Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của chúng ta là một trong đó, và trong bảng này có thể được liên hệ với cõi cảm dục vũ trụ.

388. The ONE ABOVE THE LOGOS is the One About Whom Naught May Be Said and can be related, in this context, to the cosmic mental plane.

388. ĐẤNG DUY NHẤT Ở TRÊN THƯỢNG ĐẾ là Đấng Bất Khả Tư Nghị và trong ngữ cảnh này có thể được liên hệ với cõi trí vũ trụ.

389. These are the three great factors underlying the sevenfold objectivity and sevenfold subjectivity.

389. Đây là ba yếu tố lớn làm nền tảng cho tính khách quan thất phân và tính chủ quan thất phân.

390. It is inferred from this tabulation that the seven constellations are different from the ONE ABOVE THE LOGOS. It can be intuited that the ONE ABOVE THE LOGOS contains the seven constellations as chakras within its body of expression. (cf. TCF 293)

390. Từ bảng này có thể suy ra rằng bảy chòm sao khác với ĐẤNG DUY NHẤT Ở TRÊN THƯỢNG ĐẾ. Có thể trực giác được rằng ĐẤNG DUY NHẤT Ở TRÊN THƯỢNG ĐẾ chứa bảy chòm sao như các luân xa bên trong thể biểu lộ của Ngài. (xem TCF 293)

391. If we think carefully, we will realize that every one of the seven constellations is, in scope, really above the Logos. In fact, our Logos holds the position of heart center in one (and only one) of these constellations which, in scope, is above Him (i.e., above our Logos).

391. Nếu suy nghĩ cẩn thận, chúng ta sẽ nhận ra rằng mỗi một trong bảy chòm sao ấy, về phạm vi, thực sự đều ở trên Thượng đế. Thật vậy, Thượng đế của chúng ta giữ vị trí trung tâm tim trong một (và chỉ một) trong các chòm sao này, vốn về phạm vi là ở trên Ngài (tức là trên Thượng đế của chúng ta).

392. But the meaning of the ONE ABOVE THE LOGOS is not to be taken literally, but as a code name of the super-constellational Logos we call the One About Whom Naught May Be Said.

392. Nhưng ý nghĩa của ĐẤNG Ở TRÊN THƯỢNG ĐẾ không nên được hiểu theo nghĩa đen, mà là như một mật danh của Thượng đế siêu-chòm-sao mà chúng ta gọi là Đấng Bất Khả Tư Nghị.

393. We notice that the three aspects of divinity (here listed as “Energising Will”, “Form aspect” and “Activity aspect”) are correlated with the first three objective manifestations (the sea of fire, the akasha and the aether).

393. Chúng ta nhận thấy rằng ba phương diện của thiên tính (ở đây được liệt kê là “Ý Chí phát động”, “phương diện hình tướng” và “phương diện hoạt động”) có tương quan với ba biểu hiện khách quan đầu tiên (biển lửa, akasha và aether).

394. If we carry the analogy further we can see that the three super-factors here listed can also be correlated with the first three factors listed under both objectivity and subjectivity.

394. Nếu tiếp tục định luật tương đồng, chúng ta có thể thấy rằng ba siêu-nhân tố được liệt kê ở đây cũng có thể được liên hệ với ba nhân tố đầu tiên được liệt kê dưới cả tính khách quan lẫn tính chủ quan.

a. “The mystery of electricity” with the aether and the “activity aspect”

a. “Bí nhiệm của điện” với aether và “phương diện hoạt động”

b. “The mystery of the seven constellations” with the akasha, with “the Light of God” and the “form aspect”.

b. “Bí nhiệm của bảy chòm sao” với akasha, với “Ánh sáng của Thượng đế” và “phương diện hình tướng”.

c. “The mystery of the ONE ABOVE THE LOGOS” with sea of fire, with “our God is a consuming fire” and with “energising will”

c. “Bí nhiệm của ĐẤNG Ở TRÊN THƯỢNG ĐẾ” với biển lửa, với “Thượng đế của chúng ta là ngọn lửa thiêu đốt” và với “ý chí phát động”

395. At this point we should recall that all of the foregoing has been related to the attempt to answer the initial question:

395. Tại điểm này, chúng ta nên nhớ rằng tất cả những điều trình bày trên đây đều liên hệ đến nỗ lực trả lời câu hỏi ban đầu:

VI. WHAT IS THE MIND ASPECT? WHY IS THE MANASIC PRINCIPLE OF SUCH IMPORTANCE? WHO ARE THE MANASAPUTRAS?

VI. PHƯƠNG DIỆN TRÍ TUỆ LÀ GÌ? TẠI SAO NGUYÊN KHÍ MANAS LẠI QUAN TRỌNG ĐẾN THẾ? MANASAPUTRA LÀ AI?

396. There are still several pages to go before we come to the end of the section attempting to answer this question.

396. Vẫn còn vài trang nữa trước khi chúng ta đi đến phần cuối của mục đang cố gắng trả lời câu hỏi này.

397. We have been dealing with a number of different ways of understanding the constitution of man (and of greater beings): sevenfold objectivity, sevenfold subjectivity and sevenfold spirituality.

397. Chúng ta đã bàn đến một số cách khác nhau để hiểu cấu tạo của con người (và của các hữu thể lớn lao hơn): tính khách quan thất phân, tính chủ quan thất phân và tính tinh thần thất phân.

398. In order to understand the mind aspect and the importance of the manasic principle, we have had to see its place within various ways of looking at the constitution of man (and the greater beings—our Planetary Logos and Solar Logos).

398. Để hiểu phương diện trí tuệ và tầm quan trọng của nguyên khí manas, chúng ta đã phải thấy vị trí của nó trong nhiều cách nhìn khác nhau về cấu tạo của con người (và các hữu thể lớn lao hơn—Đức Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế của chúng ta).

399. We have learned that the emergence of love from a state of latency to a state of expression and objectivity depends upon the work of mind and active intelligence.

399. Chúng ta đã học rằng sự xuất hiện của bác ái từ trạng thái tiềm ẩn sang trạng thái biểu lộ và khách quan tùy thuộc vào công việc của trí tuệ và trí thông minh hoạt động.

400. Logoic mind has built the vehicles enumerated in this section and differentiated the principles through which ‘Spirit-as-Monad’ expresses through those vehicle. We are studying the divisions (especially) of man’s manifestation and, thus, those divisions through which love must come to express and on the basis of which a greater love is to be developed.

400. Trí tuệ logoic đã xây dựng các vận cụ được liệt kê trong mục này và đã biến phân các nguyên khí qua đó ‘Tinh thần-như-Chân thần’ biểu lộ qua các vận cụ ấy. Chúng ta đang nghiên cứu các phân bộ (đặc biệt) của biểu hiện nơi con người và, do đó, những phân bộ qua đó bác ái phải đi đến chỗ biểu lộ và trên cơ sở đó một tình thương lớn lao hơn sẽ được phát triển.

401. The Tibetan posed a deep question to Himself. It is clear, is it not, that He has chosen as His method of answering, a most “expansive response”—a response, sometimes so expansive and so abstract, that we may have wondered if He was answering the question at all!

401. Chân sư Tây Tạng đã tự đặt ra cho mình một câu hỏi sâu sắc. Rõ ràng, phải không, là Ngài đã chọn làm phương pháp trả lời của Ngài một “đáp ứng mở rộng” nhất mực—một đáp ứng đôi khi mở rộng và trừu tượng đến mức chúng ta có thể đã tự hỏi liệu Ngài có đang trả lời câu hỏi ấy hay không!

402. In the foregoing section (S3S5) the Tibetan has addressed Himself to two parts of the three parts of the question: “WHAT IS THE MIND ASPECT? WHY IS THE MANASIC PRINCIPLE OF SUCH IMPORTANCE?”

402. Trong mục trên đây (S3S5), Chân sư Tây Tạng đã bàn đến hai phần trong ba phần của câu hỏi: “PHƯƠNG DIỆN TRÍ TUỆ LÀ GÌ? TẠI SAO NGUYÊN KHÍ MANAS LẠI QUAN TRỌNG ĐẾN THẾ?”

403. In the commentary on S3S6, we will consider the final part of the threefold question: “WHO ARE THE MANASAPUTRAS?”

403. Trong phần bình giải về S3S6, chúng ta sẽ xem xét phần cuối cùng của câu hỏi tam phân: “MANASAPUTRA LÀ AI?”

Leave a Comment

Scroll to Top