Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S3S6 (269-84)

📘 Sách: Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S3 – Tác giả: Michael D. Robbins

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

S3S6: TCF 269-284

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình giải xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.

Xin đề nghị rằng phần Bình Giải này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để bảo đảm tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.

4. The Heavenly Men and Man.

4. Các Đấng Thiên Nhân và Con Người.

The final part of question six is: Who are the Manasaputras?

Phần cuối của câu hỏi thứ sáu là: Manasaputra là ai?

1. The term “Manasaputras” is generic. The Solar Angel is a Manasaputra but so are the Heavenly Men.

1. Thuật ngữ “Manasaputras” có tính khái quát. Thái dương Thiên Thần là một Manasaputra nhưng các Đấng Thiên Nhân cũng vậy.

This will be dealt with in greater detail in connection with our planet when taking up the subject of the coming of the Lords of Flame. It is desirable now to make certain facts clear which must form the basis of any thought upon this subject.

Điều này sẽ được bàn chi tiết hơn khi liên hệ với hành tinh của chúng ta lúc đề cập đến chủ đề sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Lửa. Hiện nay, điều mong muốn là làm sáng tỏ một số sự kiện nhất định, những điều phải tạo thành nền tảng cho mọi tư tưởng về chủ đề này.

2. The Lords of the Flame are Solar Angels.

2. Các Đấng Chúa Tể của Lửa là các Thái dương Thiên Thần.

3. Have we wondered why they are called “Lords of the Flame”? Occultly, the “Flame” is frequently the “Flame of Spirit”. From one perspective, these “Lords” serve the Spirit or Monad of humanity.

3. Chúng ta có từng tự hỏi vì sao Các Ngài được gọi là “Các Đấng Chúa Tể của Lửa” không? Theo huyền bí học, “Lửa” thường là “Lửa của tinh thần”. Từ một góc độ, các “Đấng Chúa Tể” này phụng sự tinh thần hay chân thần của nhân loại.

4. From another perspective, their bodies are of flame. They themselves are a divine fire. They are fire beings.

4. Từ một góc độ khác, thể của Các Ngài là lửa. Chính Các Ngài một ngọn lửa thiêng liêng. Các Ngài là những hữu thể lửa.

5. In the words of Master Morya they could be considered beings from the “fiery world”.

5. Theo lời của Chân sư Morya, Các Ngài có thể được xem là những hữu thể đến từ “thế giới lửa”.

6. They emanate from a world in which fire is the great reality—as indeed it is everywhere, however occluded to the normal senses.

6. Các Ngài phát xuất từ một thế giới trong đó lửa là thực tại lớn lao—quả thật là như vậy ở khắp nơi, dù bị che khuất đối với các giác quan thông thường.

[Page 270]

[Page 270]

The Divine Manasaputras,13,14. Who are known in the Secret Doctrine by diverse names, are the Mind-born Sons of Brahma, the third aspect logoic.

Các Manasaputra Thiêng Liêng,13,14. những Đấng được biết đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm dưới nhiều danh xưng khác nhau, là các Con của Brahma sinh ra từ trí tuệ, tức phương diện logoic thứ ba.

7. We note that the term “Divine” has been added before “Manasaputras”. This is almost always the indication that the Entities under discussion are the Heavenly Men.

7. Chúng ta lưu ý rằng từ “Thiêng Liêng” đã được thêm vào trước “Manasaputras”. Đây hầu như luôn là dấu hiệu cho thấy các Thực Thể đang được bàn đến là các Đấng Thiên Nhân.

8. We are familiar with the thought that Brahma represents the third aspect of divinity, Vishnu the second and Shiva the first.

8. Chúng ta quen thuộc với tư tưởng rằng Brahma tượng trưng cho phương diện thứ ba của thiên tính, Vishnu là phương diện thứ hai và Shiva là phương diện thứ nhất.

9. If these Manasaputras are Sons of Brahma, then, clearly they are associated with the third aspect of divinity.

9. Nếu các Manasaputras này là các Con của Brahma, thì rõ ràng các Ngài liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính.

10. That they are “mind-born” suggests that they are the product of emanation or radiation from the core of that which in any system represents Brahma.

10. Việc các Ngài là “sinh ra từ trí tuệ” gợi ý rằng các Ngài là sản phẩm của sự phát xạ hay bức xạ từ cốt lõi của điều mà trong bất kỳ hệ thống nào cũng tượng trưng cho Brahma.

11. They do not, however, belong to the third aspect of divinity in the same sense as Fohat and His “Sons”.

11. Tuy nhiên, các Ngài không thuộc về phương diện thứ ba của thiên tính theo cùng ý nghĩa như Fohat và các “Con” của Ngài.

12. We must remember that these mind-born Sons are “Dragons of Wisdom” and are becoming ever more perfect in the expression of the Love-Wisdom principle on their own levels of development.

12. Chúng ta phải nhớ rằng các Con sinh ra từ trí tuệ này là “Những Rồng Minh Triết” và đang ngày càng trở nên hoàn hảo hơn trong sự biểu lộ nguyên khí Bác Ái – Minh Triết trên các cấp độ phát triển riêng của các Ngài.

Footnote 13:

Chú thích cuối trang 13:

In the Secret Doctrine the Heavenly Men are spoken of as:

Trong Giáo Lý Bí Nhiệm, các Đấng Thiên Nhân được nói đến như sau:

1. Agents of creation. They are the totality of manifestation. —S. D., I, 470.

1. Các tác nhân của sáng tạo. Các Ngài là toàn thể biểu hiện. —S. D., I, 470.

13. Thus, they have an association with the third aspect which functions under the “Ray of Creative Intelligence”, the Tibetan’s preferred name for the third ray.

13. Như vậy, các Ngài có liên hệ với phương diện thứ ba, phương diện hoạt động dưới “Cung của Trí Thông Minh Sáng Tạo”, danh xưng mà Chân sư Tây Tạng ưa dùng cho cung ba.

14. The manifestation of which they are the totality can only be manifestation within the solar system.

14. Biểu hiện mà các Ngài là toàn thể chỉ có thể là biểu hiện bên trong hệ mặt trời.

15. There may be some supremely exalted septenate of which it could be said that they are the totality of manifestation in the entire universe.

15. Có thể có một bộ bảy tối cao nào đó mà về nó người ta có thể nói rằng họ là toàn thể biểu hiện trong toàn thể vũ trụ.

2. They are pre-cosmic. —S. D., I, 470.

2. Các Ngài là tiền-vũ trụ. —S. D., I, 470.

16. In this case the term “cosmic” suggests a solar system as a cosmos. That they are “pre-cosmic” suggests that they exist before a solar system comes into manifestation.

16. Trong trường hợp này, thuật ngữ “vũ trụ” gợi ý một hệ mặt trời như một vũ trụ. Việc các Ngài là “tiền-vũ trụ” gợi ý rằng các Ngài hiện hữu trước khi một hệ mặt trời đi vào biểu hiện.

17. There is also the suggestion that they have a life-focus on planes higher than the cosmic physical.

17. Cũng có gợi ý rằng các Ngài có tiêu điểm sự sống trên những cõi cao hơn cõi hồng trần vũ trụ.

3. They are the sumtotal of solar and lunar entities. —S. D., I, 152, 470. Compare II, 374.

3. Các Ngài là tổng thể của các thực thể thái dương và thái âm. —S. D., I, 152, 470. So sánh II, 374.

18. This may be largely the case within our solar system. Of course, these Manasaputras cannot be conceived as comprising, in addition, the body and subtler vehicles of the Solar Logos per se.

18. Điều này có thể phần lớn đúng trong hệ mặt trời của chúng ta. Dĩ nhiên, không thể hình dung các Manasaputras này là bao gồm thêm cả thể và các vận cụ vi tế hơn của Thái dương Thượng đế chính nó.

19. It can be inferred that within the bodies proper (both objective and subjective) of the Solar Logos there are at least solar entities. Are there lunar entities, however, within the bodies of the Solar Logos, per se?

19. Có thể suy ra rằng trong các thể đúng nghĩa (cả khách quan lẫn chủ quan) của Thái dương Thượng đế, ít nhất có các thực thể thái dương. Tuy nhiên, có các thực thể thái âm bên trong các thể của Thái dương Thượng đế, chính nó, hay không?

4. They are the seven Biblical Archangels.

4. Các Ngài là bảy Tổng Thiên Thần trong Kinh Thánh.

20. We enter the subject of ‘angelology’. We come to understand that at least one interpretation of the nature of the Archangels is that they are Planetary Logoi.

20. Chúng ta bước vào chủ đề ‘thiên thần học’. Chúng ta đi đến chỗ hiểu rằng ít nhất một cách giải thích về bản chất của các Tổng Thiên Thần là các Ngài là các Hành Tinh Thượng đế.

21. The Archangels are also conceived as intra-planetary beings, and, therefore, as beings lesser than the Planetary Logoi.

21. Các Tổng Thiên Thần cũng được quan niệm là những hữu thể nội-hành-tinh, và do đó là những hữu thể thấp hơn các Hành Tinh Thượng đế.

They are the seven Forces or creative Powers.

Các Ngài là bảy Mãnh Lực hay các Quyền Năng sáng tạo.

22. It is interesting that they are not called the seven “Energies”. We might say that when an “Energy” expresses itself creatively on a lower plane, it is called a “Force”.

22. Điều thú vị là các Ngài không được gọi là bảy “Năng Lượng”. Chúng ta có thể nói rằng khi một “Năng Lượng” biểu lộ một cách sáng tạo trên một cõi thấp hơn, nó được gọi là một “Mãnh Lực”.

They are the seven Spirits before the Throne.

Các Ngài là Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai.

23. Much depends upon which “throne” we are discussing. In this case the “throne” is that of the Solar Logos. Each Planetary Logos, of course, is also a kind of “throne” and has its “seven Spirits” or “Ray Lords”.

23. Nhiều điều tùy thuộc vào việc chúng ta đang bàn đến “ngai” nào. Trong trường hợp này, “ngai” là của Thái dương Thượng đế. Dĩ nhiên, mỗi Hành Tinh Thượng đế cũng là một loại “ngai” và có “bảy Thánh Linh” hay “các Chúa Tể Cung” của riêng mình.

They are the seven Spirits of the Planets. —S. D., I, 472, 153.

Các Ngài là bảy Thánh Linh của các Hành Tinh. —S. D., I, 472, 153.

24. The word “Spirits” in this context represents the great Being Who informs an entire planetary scheme.

24. Từ “Thánh Linh” trong ngữ cảnh này tượng trưng cho Hữu Thể vĩ đại đang thấm nhuần toàn bộ một hệ hành tinh.

25. We must be cautious in the use of the term spirit of the planet because it can also be used as follows, indicating not a monadic Entity but an involutionary one.:

25. Chúng ta phải thận trọng khi dùng thuật ngữ tinh linh linh địa cầu vì nó cũng có thể được dùng như sau, để chỉ không phải một Thực Thể chân thần mà là một thực thể giáng hạ tiến hoá:

“All the involutionary lives, as earlier pointed out, form the vehicles for the spirit of the planet, or the planetary entity, who is the sumtotal of the elemental essences in process of involution”. (TCF 302)

“Tất cả các sự sống giáng hạ tiến hoá, như đã chỉ ra trước đây, tạo thành các vận cụ cho tinh linh linh địa cầu, hay thực thể hành tinh, là tổng thể của các tinh chất hành khí trong tiến trình giáng hạ tiến hoá”. (TCF 302)

5. In Their totality They are the Secret Unpronounceable Name. —S. D., I, 473.

5. Trong tính toàn thể của Các Ngài, Các Ngài là Danh Xưng Bí Mật Không Thể Phát Âm. —S. D., I, 473.

26. Presumably this “Name” is the “Name” of the Solar Logos. On His own level Sanat Kumara has also a “Secret Unpronounceable Name” and, by analogy, there are probably certainly planetary beings who, in their totality, constitute that name.

26. Có lẽ “Danh Xưng” này là “Danh Xưng” của Thái dương Thượng đế. Trên cấp độ riêng của Ngài, Đức Sanat Kumara cũng có một “Danh Xưng Bí Mật Không Thể Phát Âm” và, theo định luật tương đồng, hầu như chắc chắn cũng có những hữu thể hành tinh mà trong tính toàn thể của họ cấu thành danh xưng ấy.

27. We are alerted to the idea that each syllable in that Name has a planetary key. Perhaps, then, each syllable in the Name of Sanat Kumara has a ray key.

27. Chúng ta được lưu ý đến ý tưởng rằng mỗi âm tiết trong Danh Xưng ấy có một khóa hành tinh. Có lẽ, vậy thì, mỗi âm tiết trong Danh Xưng của Đức Sanat Kumara có một khóa cung.

6. They are the collective Dhyan Chohans. —S. D., I, 477.

6. Các Ngài là tập thể các Dhyan Chohan. —S. D., I, 477.

28. The term “Dhyan Chohans” is also generic, and is also applied to the Solar Angels. The term suggests a high priest of meditation.

28. Thuật ngữ “Dhyan Chohans” cũng có tính khái quát, và cũng được áp dụng cho các Thái dương Thiên Thần. Thuật ngữ này gợi ý một vị đại tư tế của tham thiền.

7. They are the seven Kumaras. The seven Rishis. —S. D., I, 493. III, 196, 327.

7. Các Ngài là bảy Kumara. Bảy Rishi. —S. D., I, 493. III, 196, 327.

29. “Kumaras” are chaste and holy youths. Manasaputras, in this context, are Kumaras of a solar systemic type. We are also well familiar with the thought that there are Kumaras of an intra-planetary type—for instance, the seven Kumaras which express in relation to our own planetary scheme.

29. “Kumaras” là những thanh niên trinh khiết và thánh thiện. Manasaputras, trong ngữ cảnh này, là các Kumara thuộc loại hệ mặt trời. Chúng ta cũng rất quen thuộc với tư tưởng rằng có những Kumara thuộc loại nội-hành-tinh—chẳng hạn như bảy Kumara biểu lộ liên hệ với hệ hành tinh riêng của chúng ta.

30. “Rishis” are great Teachers. The term is usually used in connection with the Seven Rishis of the Great Bear—the informing Lives of the seven major stars of that constellation.

30. “Rishis” là những Huấn sư vĩ đại. Thuật ngữ này thường được dùng liên hệ với Bảy Rishi của Đại Hùng Tinh—các Sự Sống đang thấm nhuần bảy ngôi sao chính của chòm sao ấy.

8. They are the Sons of Light. —S. D., I, 521, 522.

8. Các Ngài là các Con của Ánh sáng. —S. D., I, 521, 522.

31. “Light” can be considered in relation to both the third and second aspects of divinity.

31. “Ánh sáng” có thể được xét trong liên hệ với cả phương diện thứ ba lẫn phương diện thứ hai của thiên tính.

32. If they are both Sons of Brahma and Sons of Light, then Brahma is Light.

32. Nếu các Ngài vừa là các Con của Brahma vừa là các Con của Ánh sáng, thì Brahma là Ánh sáng.

9. They are the Hierarchy of creative Powers. —S. D., I, 233.

9. Các Ngài là Thánh đoàn của các Quyền Năng sáng tạo. —S. D., I, 233.

33. There are many Hierarchies of creative powers. DK gives us twelve such Creative Hierarchies in EA 34-35. It would seem that the Planetary Logoi are not included in this enumeration—that they are, in fact, greater that the types of entities found among the twelve. This has yet to be convincingly reasoned.

33. Có nhiều Thánh đoàn của các quyền năng sáng tạo. Chân sư DK cho chúng ta mười hai Huyền Giai Sáng Tạo như thế trong EA 34-35. Có vẻ như các Hành Tinh Thượng đế không được bao gồm trong sự liệt kê này—rằng trên thực tế các Ngài lớn lao hơn các loại thực thể được tìm thấy trong số mười hai loại ấy. Điều này vẫn chưa được lý giải một cách thuyết phục.

34. To arrive at a conclusion, it would have to be determined whether the causal bodies of the Planetary Logoi are incorporated into the structure of the causal body of the Solar Logos, for the Twelve Creative Hierarchies are emanations from the second tier of the solar logoic causal body.

34. Để đi đến một kết luận, cần phải xác định xem các thể nguyên nhân của các Hành Tinh Thượng đế có được kết hợp vào cấu trúc của thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế hay không, vì Mười Hai Huyền Giai Sáng Tạo những phát xạ từ tầng thứ hai của thể nguyên nhân thái dương logoic.

35. We also have the problem that the causal bodies of Planetary Logoi such as our own are focussed on the third subplane of the cosmic mental plane, whereas the causal body of the Solar Logos is focussed on the first subplane.

35. Chúng ta cũng có vấn đề là các thể nguyên nhân của những Hành Tinh Thượng đế như hành tinh của chúng ta được tập trung trên cõi phụ thứ ba của cõi trí vũ trụ, trong khi thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế được tập trung trên cõi phụ thứ nhất.

36. A study of the formation of ‘group lotuses’ (a study beyond our ken) would be required.

36. Cần phải có một nghiên cứu về sự hình thành của ‘các hoa sen nhóm’ (một nghiên cứu vượt ngoài tầm hiểu biết của chúng ta).

10. They are the veiled synthesis. —S. D., I, 362.

10. Các Ngài là tổng hợp được che giấu. —S. D., I, 362.

37. They are “veiled” to intelligences such as the human being. To greater intelligences, they are unveiled.

37. Các Ngài “được che giấu” đối với những trí tuệ như con người. Đối với những trí tuệ lớn lao hơn, các Ngài không bị che giấu.

38. The Heavenly Men also work together in a unity which is representative of a hidden synthesis.

38. Các Đấng Thiên Nhân cũng cùng nhau hoạt động trong một hợp nhất tượng trưng cho một tổng hợp ẩn kín.

39. DK speaks of “that great veil which has been wisely thrown over all planetary lore” (TCF 1051) In fact, we know very little of the true nature and functioning of the Planetary Logoi.

39. Chân sư DK nói về “tấm màn lớn lao đã được khôn ngoan phủ lên toàn bộ tri thức hành tinh ấy” (TCF 1051). Thật vậy, chúng ta biết rất ít về bản chất và hoạt động thực sự của các Hành Tinh Thượng đế.

11. They are our own planetary deities. —S. D., I, 153.

11. Các Ngài là các thần linh hành tinh của chính chúng ta. —S. D., I, 153.

40. Here their nature clearly given.

40. Ở đây bản chất của các Ngài được nêu ra rõ ràng.

12. They are all men, the product of other worlds. —S. D., I, 132.

12. Các Ngài đều là người, sản phẩm của những thế giới khác. —S. D., I, 132.

41. Like the Solar Logos, they are the product of other maha-kalpas. Their true origin is not given to us, though they were “men” many maha-kalpas ago.

41. Giống như Thái dương Thượng đế, các Ngài là sản phẩm của những maha-kalpa khác. Nguồn gốc thực sự của các Ngài không được tiết lộ cho chúng ta, dù các Ngài đã là “người” từ nhiều maha-kalpa trước.

42. It may be supposed, however, that they are group Entities, and, as such, are specific groupings of Solar Angels. As such, they may have been, one day long ago, groupings of human beings of some kind. I do not think it is correct to consider that they may ever have been an individual human being even though it is said that they were “men”. Interestingly, the word “men” is a plural, perhaps hinting in a very subtle manner at their group origin.

42. Tuy nhiên, có thể giả định rằng các Ngài là những Thực Thể nhóm, và như thế là những tập hợp đặc thù của các Thái dương Thiên Thần. Như vậy, có thể vào một ngày xa xưa nào đó, các Ngài đã từng là những tập hợp của những con người thuộc một loại nào đó. Tôi không nghĩ là đúng khi cho rằng các Ngài từng có thể là một con người cá biệt, dù có nói rằng các Ngài là “người”. Điều thú vị là từ “người” ở số nhiều, có lẽ gợi ý một cách rất tinh tế về nguồn gốc nhóm của các Ngài.

13. They are closely connected with the seven stars of the Great Bear. —S. D., I, 488. S. D., II 332. II, 579, 668. S. D., III, 195.

13. Các Ngài có liên hệ mật thiết với bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh. —S. D., I, 488. S. D., II 332. II, 579, 668. S. D., III, 195.

43. The seven major stars informed by the Seven Rishis, serve as the prototypes of the Heavenly Men, and are connected with the Heavenly Men according to similarity of ray.

43. Bảy ngôi sao chính được Bảy Rishi thấm nhuần đóng vai trò là nguyên mẫu của các Đấng Thiên Nhân, và được nối kết với các Đấng Thiên Nhân theo sự tương đồng về cung.

14. They are symbolised by circles. —S. D., II, 582.

14. Các Ngài được biểu tượng hóa bằng các vòng tròn. —S. D., II, 582.

44. If we study the cosmic monadic plane on TCF 344, we shall find seven great circles symbolizing seven super-constellational Logoi. We can analogize that on the systemic monadic plane, seven such circles (related to the Heavenly Men can likewise be found).

44. Nếu nghiên cứu cõi chân thần vũ trụ trên TCF 344, chúng ta sẽ thấy bảy vòng tròn lớn tượng trưng cho bảy Thượng đế siêu-chòm-sao. Chúng ta có thể suy theo định luật tương đồng rằng trên cõi chân thần hệ thống, cũng có thể tìm thấy bảy vòng tròn như thế (liên hệ với các Đấng Thiên Nhân).

15. They are collectively the fallen Angels. —S. D., II, 284, 541.

15. Tập thể các Ngài là các Thiên Thần sa ngã. —S. D., II, 284, 541.

45. Again, caution is required, because the “fallen Angels” are usually considered to be Solar Angels or Asuras. The Manasaputras are “fallen Angels” because they express their qualities in dense manifestation—i.e., within the physical body of the Solar Logos.

45. Một lần nữa, cần thận trọng, vì “các Thiên Thần sa ngã” thường được xem là các Thái dương Thiên Thần hay Asura. Các Manasaputras là “các Thiên Thần sa ngã” vì các Ngài biểu lộ phẩm tính của mình trong biểu hiện đậm đặc—tức là bên trong thể xác của Thái dương Thượng đế.

46. The term “fallen” is often equivalent to “manifested”.

46. Thuật ngữ “sa ngã” thường tương đương với “được biểu hiện”.

Footnote 14:

Chú thích cuối trang 14:

The Sons of Mind: are known by various terms, such as:—”The Manasaputras, the Prajapatis, the Kumaras, the Primordial Seven, the Rudras, the Heavenly Men, the Rishis, the Spirits before the Throne.

Các Con của Trí Tuệ: được biết đến dưới nhiều thuật ngữ khác nhau, như:—”Các Manasaputras, các Prajapatis, các Kumara, Bảy Đấng Nguyên Sơ, các Rudra, các Đấng Thiên Nhân, các Rishi, các Thánh Linh trước Thánh Ngai.

47. We recognize these terms as frequently used in The Secret Doctrine. Let us tabulate these for ease of assimilation.

47. Chúng ta nhận ra các thuật ngữ này thường được dùng trong Giáo Lý Bí Nhiệm. Hãy lập bảng các thuật ngữ này để dễ tiếp thu.

a. The Sons of Mind

a. Các Con của Trí Tuệ

b. The Manasaputras

b. Các Manasaputras

c. The Prajapatis

c. Các Prajapatis

d. The Kumaras

d. Các Kumara

e. The Primordial Seven

e. Bảy Đấng Nguyên Sơ

f. The Heavenly Men

f. Các Đấng Thiên Nhân

g. The Rudras

g. Các Rudra

h. The Rishis

h. Các Rishi

i. The Spirits before the Throne

i. Các Thánh Linh trước Thánh Ngai

48. Some of these terms are expanded in The Secret Doctrine, an authoritative which may be consulted for further light. Each term gives a slightly different perspective on these great Planetary Logoi.

48. Một số thuật ngữ này được khai triển trong Giáo Lý Bí Nhiệm, một thẩm quyền có thể được tham khảo để có thêm ánh sáng. Mỗi thuật ngữ đem lại một góc nhìn hơi khác về các Hành Tinh Thượng đế vĩ đại này.

They are the seven planetary Logoi, and are the Lords of the Rays, the seven Heavenly Men.

Các Ngài là bảy Hành Tinh Thượng đế, và là các Chúa Tể của các Cung, bảy Đấng Thiên Nhân.

49. Another name is given: they are the “Lords of the Rays”. They must, however, be distinguished from intra-planetary Ray Lords, who are shamballic beings.

49. Một danh xưng khác được nêu ra: các Ngài là “các Chúa Tể của các Cung”. Tuy nhiên, các Ngài phải được phân biệt với các Chúa Tể Cung nội-hành-tinh, là những hữu thể shamballic.

They developed the mind aspect in the first solar system, that in which Brahma was paramount, and in Himself embodied objective existence.

Các Ngài đã phát triển phương diện trí tuệ trong hệ mặt trời thứ nhất, hệ trong đó Brahma là tối thượng, và trong chính Ngài đã hiện thân sự tồn tại khách quan.

50. Brahma, in this context, is a great Entity who expresses the entirety of the third aspect of our Solar Logos.

50. Brahma, trong ngữ cảnh này, là một Thực Thể vĩ đại biểu lộ toàn bộ phương diện thứ ba của Thái dương Thượng đế của chúng ta.

51. We see that in the Heavenly Men the mind aspect is very fully developed. Towards this type of development, human beings strive.

51. Chúng ta thấy rằng nơi các Đấng Thiên Nhân, phương diện trí tuệ được phát triển rất đầy đủ. Con người phấn đấu hướng tới loại phát triển này.

52. There are many human beings in the present solar system for whom Brahma is still paramount. We might say that for humanity in its present state of development, Brahma is generally paramount. Humanity is struggling to enter into a stage in which Vishnu will emerge into power.

52. Có nhiều con người trong hệ mặt trời hiện tại mà đối với họ Brahma vẫn là tối thượng. Chúng ta có thể nói rằng đối với nhân loại trong trạng thái phát triển hiện nay, Brahma nhìn chung là tối thượng. Nhân loại đang vật lộn để bước vào một giai đoạn trong đó Vishnu sẽ xuất hiện trong quyền năng.

53. We gather that in what is usually called the first solar system, Brahma was the embodiment of objective existence. Brahma was the cause and sustaining source of objective existence.

53. Chúng ta hiểu rằng trong điều thường được gọi là hệ mặt trời thứ nhất, Brahma là hiện thân của sự tồn tại khách quan. Brahma là nguyên nhân và nguồn duy trì của sự tồn tại khách quan.

This He did in the same sense as that in which the second aspect (the Vishnu or Dragon of Wisdom aspect) is the sumtotal of existence in this the second system.

Điều này Ngài đã làm theo cùng ý nghĩa mà trong đó phương diện thứ hai (phương diện Vishnu hay Rồng Minh Triết) là tổng thể của sự tồn tại trong hệ thứ hai này.

54. Spelling this out, in the present solar system Vishnu embodies the sumtotal of existence.

54. Nói rõ ra, trong hệ mặt trời hiện tại, Vishnu hiện thân tổng thể của sự tồn tại.

55. These statements are somewhat enigmatical, however, for Brahma, Vishnu and Shiva all exist in all solar systems. Nor can it be said that the Solar Logos during the first solar system is entirely Brahma, or entirely Vishnu in this system and destined to be entirely Shiva in the next.

55. Tuy nhiên, các phát biểu này có phần bí ẩn, vì Brahma, Vishnu và Shiva đều hiện hữu trong mọi hệ mặt trời. Cũng không thể nói rằng Thái dương Thượng đế trong hệ mặt trời thứ nhất hoàn toàn là Brahma, hay hoàn toàn là Vishnu trong hệ này và được định sẵn sẽ hoàn toàn là Shiva trong hệ kế tiếp.

56. We can say however that the previous solar system was our Solar Logos’ Brahmic incarnation, whereas in this solar system He is undergoing His ‘Vishnu’ incarnation—i.e., an incarnation in which Vishnu is dominant just as in the last incarnation Brahma was dominant.

56. Tuy nhiên, chúng ta có thể nói rằng hệ mặt trời trước là lần lâm phàm Brahmic của Thái dương Thượng đế chúng ta, trong khi trong hệ mặt trời này Ngài đang trải qua lần lâm phàm ‘Vishnu’ của Ngài—tức là một lần lâm phàm trong đó Vishnu chiếm ưu thế cũng như trong lần lâm phàm trước Brahma chiếm ưu thế.

The cells in Their bodies are made up of the units of the human and deva evolutions in the same manner (only on a higher turn of the spiral) as the bodies of human beings are made up of living organisms, the various animated cells, or the lesser lives.

Các tế bào trong thể của Các Ngài được cấu thành từ các đơn vị của tiến hoá nhân loại và thiên thần theo cùng cách thức (chỉ ở một vòng xoắn cao hơn) như thể của con người được cấu thành từ các cơ thể sống, các tế bào sinh động khác nhau, hay các sự sống nhỏ hơn.

57. Histology is the study of cells. To study man and certain of the devas is to study ‘planetary histology’. Some great Beings may do this in those centers of light which are the higher correspondences to our universities.

57. Mô học là ngành nghiên cứu về tế bào. Nghiên cứu con người và một số thiên thần là nghiên cứu ‘mô học hành tinh’. Một số Hữu Thể vĩ đại có thể làm điều này trong những trung tâm ánh sáng là các tương ứng cao hơn của các đại học của chúng ta.

58. DK is calling the cells “lesser lives”.

58. Chân sư DK đang gọi các tế bào là “các sự sống nhỏ hơn”.

59. We will question whether DK includes all members of the deva kingdom or only the self-conscious devas.

59. Chúng ta sẽ đặt câu hỏi liệu Chân sư DK có bao gồm mọi thành viên của giới thiên thần hay chỉ các thiên thần có ngã thức.

60. It is probable that many of the functions of the tiny life called a cell can be analogized to the functions of a human being.

60. Có khả năng là nhiều chức năng của sự sống nhỏ bé được gọi là tế bào có thể được suy theo định luật tương đồng với các chức năng của con người.

This is a basic fact in occultism, and the relationship between the cells in the human vehicles, and the cells in the bodies of a Heavenly [Page 271] Man, will be productive of illumination if carefully studied.

Đây là một sự kiện căn bản trong huyền bí học, và mối tương quan giữa các tế bào trong các hiện thể của con người, và các tế bào trong các thể của một Đấng Thiên Nhân [Page 271]sẽ sản sinh sự soi sáng nếu được nghiên cứu cẩn trọng.

61. Presumably the types of cells in the human body would correlate with the types of human beings within the body of a Planetary Logos.

61. Có thể giả định rằng các loại tế bào trong thể xác con người sẽ tương ứng với các loại người trong thể của một Đức Hành Tinh Thượng Đế.

62. Cells often go to the constitution of certain organs and this determines their function. There are also mobile cells. Within the blood stream there is an important division between red and white blood cells which, no doubt, can be analogized significantly.

62. Các tế bào thường góp phần vào cấu tạo của một số cơ quan nhất định và điều này quyết định chức năng của chúng. Cũng có những tế bào di động. Trong dòng máu có một sự phân chia quan trọng giữa hồng cầu và bạch cầu, điều này hẳn có thể được suy diễn theo phép tương đồng một cách đầy thâm nghĩa.

63. This would be a worthy project for someone with a good amount of fifth ray and a penchant for analogy. DK is suggesting that it be done.

63. Đây sẽ là một công trình xứng đáng cho ai đó có khá nhiều cung năm và thiên hướng về phép tương đồng. Chân sư DK đang gợi ý rằng điều này nên được thực hiện.

64. Just as we expect that the cells in our body will serve the integrity of our body, so the Planetary Logos may expect that the men and devas that go to the cellular constitution of His centers will serve the integrity of His body (both objective and subjective).

64. Cũng như chúng ta mong đợi rằng các tế bào trong cơ thể mình sẽ phụng sự sự toàn vẹn của cơ thể mình, thì Đức Hành Tinh Thượng Đế có thể mong đợi rằng những người nam và nữ cùng các thiên thần tạo nên cấu trúc tế bào của các trung tâm của Ngài sẽ phụng sự sự toàn vẹn của thể Ngài (cả khách quan lẫn chủ quan).

65. It is a well-recognized truth that cancer cells work against this integrity.

65. Một chân lý đã được công nhận rộng rãi là các tế bào ung thư hoạt động chống lại sự toàn vẹn này.

66. Cancer is related to what we might call ‘rogue individualism’. The word “rogue” suggests rouge, rough, red and Mars—a planet significant of rebellion.

66. Ung thư có liên hệ với điều mà chúng ta có thể gọi là “chủ nghĩa cá nhân nổi loạn”. Từ “rogue” gợi đến rouge, rough, red và Sao Hỏa—một hành tinh có ý nghĩa về sự phản loạn.

Just as a human being has an originating source, the Monad, and a semi-permanent vehicle, the causal body, but manifests through his lower principles (of which the dense physical is not one)

Cũng như một con người có một nguồn gốc phát sinh, tức chân thần, và một hiện thể bán thường tồn, tức thể nguyên nhân, nhưng biểu lộ qua các nguyên khí thấp của y (trong đó thể xác đậm đặc không phải là một)

67. May it be said as well that the human Monad is, for the Planetary Logos a “semi-permanent vehicle”?

67. Có thể nói thêm rằng chân thần con người, đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế, là một “hiện thể bán thường tồn” chăng?

68. Even for the human being, the monadic vesture as presently constituted, is semi-permanent.

68. Ngay cả đối với con người, lớp áo chân thần như hiện nay được cấu thành cũng là bán thường tồn.

so a Heavenly Man has an originating source, His Monad,

thì một Đấng Thiên Nhân có một nguồn gốc phát sinh, tức chân thần của Ngài,

69. Presumably this Monad will be found upon the cosmic monadic plane (cf. TCF 344).

69. Có lẽ chân thần này sẽ được tìm thấy trên cõi chân thần vũ trụ (x. TCF 344).

a semi-permanent body on the monadic levels of the solar system,

một thể bán thường tồn trên các cấp độ chân thần của hệ mặt trời,

70. There is given an analogy between the causal body of a human being (definitely semi-permanent in its nature) and some kind of planetary logoic vehicle found on the systemic monadic plane—a vehicle which is definitely semi-permanent.

70. Ở đây có một phép tương đồng giữa thể nguyên nhân của con người (rõ ràng là bán thường tồn trong bản chất của nó) và một loại hiện thể hành tinh thượng đế nào đó được tìm thấy trên cõi chân thần của hệ—một hiện thể rõ ràng là bán thường tồn.

71. This reference is another way of saying that our present monadic structure (and presumably the monadic structure of certain types of devas) is semi-permanent, for our monadic sheath is part of the constitution of that planetary logoic vehicle which is here said to be semi-permanent. Thus there can be no absolute permanence to the human monadic structure found upon the cosmic physical plane.

71. Tham chiếu này là một cách khác để nói rằng cấu trúc chân thần hiện nay của chúng ta (và có lẽ cả cấu trúc chân thần của một số loại thiên thần) là bán thường tồn, vì lớp vỏ chân thần của chúng ta là một phần trong cấu tạo của hiện thể hành tinh thượng đế ấy, hiện thể ở đây được nói là bán thường tồn. Do đó không thể có sự thường tồn tuyệt đối đối với cấu trúc chân thần của con người được tìm thấy trên cõi hồng trần vũ trụ.

72. When our monadic sheath is destroyed (at which initiation?, the seventh?) it will represent a type of liberation for the Planetary Logoi, just as the destruction of the causal body at the fourth initiation represents a type of liberation for a man.

72. Khi lớp vỏ chân thần của chúng ta bị hủy diệt (ở lần điểm đạo nào? lần thứ bảy chăng?) điều đó sẽ tượng trưng cho một loại giải thoát đối với các Hành Tinh Thượng đế, cũng như sự hủy diệt thể nguyên nhân ở lần điểm đạo thứ tư tượng trưng cho một loại giải thoát đối với con người.

73. The semi-permanent bodies of the Planetary Logoi are symbolized as triangles upon the systemic monadic plane. Many human and deva units go to the constitution of one of those triangles.

73. Các thể bán thường tồn của các Hành Tinh Thượng đế được biểu tượng hóa thành các tam giác trên cõi chân thần của hệ. Nhiều đơn vị người và thiên thần góp phần vào cấu tạo của một trong các tam giác ấy.

but manifests through three lower sheaths, our atmic, buddhic, and manasic levels.

nhưng biểu lộ qua ba lớp vỏ thấp hơn, các cấp độ atma, Bồ đề và manas của chúng ta.

74. The semi-permanent body of the Planetary Logos is the analogy to our causal body.

74. Thể bán thường tồn của Đức Hành Tinh Thượng Đế là phép tương đồng với thể nguyên nhân của chúng ta.

75. The analogy which is suggested is: the planetary logoic semi-permanent body on the systemic monadic plane/three lower sheaths on systemic atmic, buddhic and manasic levels = the human causal body/lower mental, astral and etheric vehicles or sheaths.

75. Phép tương đồng được gợi ra là: thể bán thường tồn hành tinh thượng đế trên cõi chân thần của hệ/ba lớp vỏ thấp hơn trên các cấp độ atma, Bồ đề và manas của hệ = thể nguyên nhân của con người/các hiện thể hay lớp vỏ hạ trí, cảm dục và dĩ thái.

76. it would seem that for the Planetary Logos the systemic manasic planes cannot be considered as related His dense physical body, but rather to his etheric body.

76. Dường như đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế, các cõi manas của hệ không thể được xem là liên hệ với thể xác đậm đặc của Ngài, mà đúng hơn là với thể dĩ thái của Ngài.

77. The causal bodies of men (considered in aggregation) are sheaths for our Planetary Logos. This is probably true on other planets as well.

77. Các thể nguyên nhân của loài người (xét trong tổng thể) là các lớp vỏ cho Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Điều này có lẽ cũng đúng trên các hành tinh khác.

78. We are realizing that the planes of the spiritual triad are quite ‘personal’ in relation to a Planetary Logos just as the eighteen lower systemic subplanes are ‘personal’ in relation to the entity, man.

78. Chúng ta đang chứng nghiệm rằng các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần khá là “cá nhân” trong tương quan với một Đức Hành Tinh Thượng Đế, cũng như mười tám cõi phụ thấp hơn của hệ là “cá nhân” trong tương quan với thực thể là con người.

79. The higher three subplanes of the systemic mental plane are still areas for the manifestation of a Planetary Logos.

79. Ba cõi phụ cao hơn của cõi trí của hệ vẫn là những khu vực để một Đức Hành Tinh Thượng Đế biểu lộ.

80. We must consider whether the concrete mental planes are or are not an aspect of His three lower sheaths which house principles (mental, astral and etheric sheaths). The term “manasic levels” used in the extract immediately above could justify the inclusion of these four lower sub-planes.

80. Chúng ta phải xét xem các cõi trí cụ thể có hay không là một phương diện của ba lớp vỏ thấp hơn của Ngài, là những lớp vỏ chứa các nguyên khí (các lớp vỏ trí tuệ, cảm dục và dĩ thái). Thuật ngữ “các cấp độ manas” được dùng trong đoạn trích ngay bên trên có thể biện minh cho việc bao gồm bốn cõi phụ thấp hơn này.

81. One answer could be that they are not yet, but through man’s illumination, must become so. The mystery of the upright or inverted pentagram may be considered related.

81. Một câu trả lời có thể là chúng chưa phải như vậy, nhưng thông qua sự soi sáng của con người, chúng phải trở thành như vậy. Huyền nhiệm của ngôi sao năm cánh dựng đứng hay đảo ngược có thể được xem là có liên hệ.

82. From another perspective, it is possible to consider the atmic sheath in relation to the mental body of the Planetary Logos; the buddhic vehicle in relation to the emotional body of the Planetary Logos; and the entire manasic vehicle in relation to the etheric body of the Planetary Logos.

82. Từ một góc nhìn khác, có thể xem lớp vỏ atma tương quan với thể trí của Đức Hành Tinh Thượng Đế; hiện thể Bồ đề tương quan với thể cảm xúc của Đức Hành Tinh Thượng Đế; và hiện thể manas toàn bộ tương quan với thể dĩ thái của Đức Hành Tinh Thượng Đế.

83. Were this the case, we can see that the higher mental plane would definitely represent an area of etheric expression. Would this be so for the concrete mental plane as well? According to one theory, yes.

83. Nếu là như vậy, chúng ta có thể thấy rằng cõi thượng trí chắc chắn sẽ tượng trưng cho một khu vực biểu lộ dĩ thái. Điều này có đúng cho cả cõi trí cụ thể không? Theo một lý thuyết, là đúng.

84. If our Planetary Logos is “extraneous to the astral and physical planes just as a human being is to the physical”, then both the astral and physical planes represent the dense physical (unprincipled) vehicle of the Planetary Logos.

84. Nếu Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta “ở ngoài cõi cảm dục và cõi hồng trần cũng như con người ở ngoài thể xác”, thì cả hai cõi cảm dục và cõi hồng trần đều tượng trưng cho hiện thể xác đậm đặc (không nguyên khí) của Đức Hành Tinh Thượng Đế.

He is extraneous to the astral and physical planes just as a human being is to the physical.

Ngài ở ngoài cõi cảm dục và cõi hồng trần cũng như con người ở ngoài thể xác.

85. We are pondering then, if the Planetary Logos is also extraneous to the concrete mental levels. We know that He is not extraneous to the higher mental subplanes on which the causal body and the manasic permanent atom are found.

85. Khi ấy chúng ta đang suy ngẫm liệu Đức Hành Tinh Thượng Đế cũng có ở ngoài các cấp độ trí cụ thể hay không. Chúng ta biết rằng Ngài không ở ngoài các cõi phụ thượng trí, nơi thể nguyên nhân và nguyên tử trường tồn manas được tìm thấy.

86. Can it be, then, that the entire mental plane is involved in the etheric expression of the Planetary Logos?

86. Vậy có thể chăng toàn bộ cõi trí đều tham dự vào sự biểu lộ dĩ thái của Đức Hành Tinh Thượng Đế?

87. We see that when comparing the manner in which the human being is numbered with the ‘numbering’ of the Planetary Logos, the correspondences are not exact. The human being has four etheric sub-planes and three dense physical sub-planes. How many etheric sub-planes are associated with the expression of our Planetary Logos?

87. Chúng ta thấy rằng khi so sánh cách con người được đánh số với “sự đánh số” của Đức Hành Tinh Thượng Đế, các tương ứng không hoàn toàn chính xác. Con người có bốn cõi phụ dĩ thái và ba cõi phụ xác đậm đặc. Có bao nhiêu cõi phụ dĩ thái gắn liền với sự biểu lộ của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta?

88. The correspondences between man and the Solar Logos are far more exact.

88. Các tương ứng giữa con người và Thái dương Thượng đế chính xác hơn nhiều.

89. When dealing with the correspondences between man and the Planetary Logos we must remember that a Planetary Logos may be associated with three distinct types of beings: the Lord of the planetary scheme; the Lords of the planetary schemes; the Lords of the planetary globes.

89. Khi bàn đến các tương ứng giữa con người và Đức Hành Tinh Thượng Đế, chúng ta phải nhớ rằng một Đức Hành Tinh Thượng Đế có thể gắn liền với ba loại hữu thể khác biệt: Chúa Tể của hệ hành tinh; các Chúa Tể của các hệ hành tinh; các Chúa Tể của các bầu hành tinh.

90. If there seem to be some rather wide discrepancies regarding the comparison between the Planetary Logos and the Solar Logos (the Planetary Logos seeming far to ‘low’ by comparison), it may be that either a Chain Lord or a Globe Lord is being discussed.

90. Nếu dường như có một số sai biệt khá lớn liên quan đến sự so sánh giữa Đức Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế (Đức Hành Tinh Thượng Đế dường như thấp hơn rất nhiều khi so sánh), thì có thể là hoặc một Chúa Tể Dãy hoặc một Chúa Tể Bầu hành tinh đang được bàn đến.

91. The matter is abstruse, but a Planetary Logos has a semi-permanent vehicle on the cosmic mental plane, just as does a Solar Logos. Then why this discussion of a Planetary Logos’ semi-permanent vehicle on the systemic monadic levels. The analogy does not fit.

91. Vấn đề này rất thâm áo, nhưng một Đức Hành Tinh Thượng Đế có một hiện thể bán thường tồn trên cõi trí vũ trụ, cũng như một Thái dương Thượng đế. Vậy thì tại sao lại có cuộc bàn luận này về hiện thể bán thường tồn của một Đức Hành Tinh Thượng Đế trên các cấp độ chân thần của hệ? Phép tương đồng không khớp.

92. Could it be, however, that a Globe Lord has a semi-permanent vehicle on the systemic monadic plane? Could it be that a Chain-Lord has a semi-permanent vehicle on that part of the cosmic astral plane that corresponds to the systemic monadic plane?

92. Tuy nhiên, có thể chăng một Chúa Tể Bầu hành tinh có một hiện thể bán thường tồn trên cõi chân thần của hệ? Có thể chăng một Chúa Tể Dãy có một hiện thể bán thường tồn trên phần của cõi cảm dục vũ trụ tương ứng với cõi chân thần của hệ?

93. Such questions are meant to induce careful speculation based on a close study of the Law of Correspondences. We are apparently dealing with a very veiled area of the teaching.

93. Những câu hỏi như thế nhằm khơi gợi sự suy đoán cẩn trọng dựa trên việc nghiên cứu sát sao định luật tương ứng. Rõ ràng chúng ta đang đề cập đến một lĩnh vực giáo huấn được che phủ rất kỹ.

Man vitalises the physical vehicle with his force or heat but he does not occultly count it as a principle.

Con người tiếp sinh lực cho hiện thể hồng trần bằng mãnh lực hay nhiệt của y nhưng về mặt huyền bí học y không tính nó như một nguyên khí.

94. A principle, we remember, can be considered a qualified aspect of monadic expression.

94. Chúng ta nhớ rằng một nguyên khí có thể được xem là một phương diện được phẩm tính hóa của sự biểu lộ chân thần.

95. We note the equivalence of “force and heat”. Heat, we remember, is associated with fire by friction, and light, generally, with solar fire. Would “energy” and “light”, therefore, be equivalent terms? Energy/Force = Light/Heat

95. Chúng ta lưu ý sự tương đương của “mãnh lực và nhiệt”. Chúng ta nhớ rằng nhiệt gắn liền với lửa ma sát, còn ánh sáng nói chung gắn liền với Lửa Thái dương. Vậy thì “năng lượng” và “ánh sáng” có phải là những thuật ngữ tương đương không? Năng lượng/Mãnh lực = Ánh sáng/Nhiệt

So the Heavenly Man is extraneous to the two lower planes of manifestation though He vitalises them with His force.

Vì vậy Đấng Thiên Nhân ở ngoài hai cõi thấp hơn của sự biểu lộ mặc dù Ngài tiếp sinh lực cho chúng bằng mãnh lực của Ngài.

96. Just as the Solar Logos is extraneous to what: the three lower levels of the systemic planes or the twenty-one lowest systemic subplanes.

96. Cũng như Thái dương Thượng đế ở ngoài điều gì: ba cấp độ thấp hơn của các cõi hệ hay hai mươi mốt cõi phụ thấp nhất của hệ.

97. As suggested, the concrete levels of the systemic mental plane may be in a special category. They are certainly not principled in relation to the Solar Logos; no level of the systemic mental plane is.

97. Như đã gợi ý, các cấp độ cụ thể của cõi trí của hệ có thể thuộc một loại đặc biệt. Chúng chắc chắn không phải là nguyên khí trong tương quan với Thái dương Thượng đế; không có cấp độ nào của cõi trí của hệ là như vậy.

98. May it be that just as the four ethers of the Solar Logos are the logoic, monadic, atmic and buddhic planes, so, correspondingly, the four ethers of the Heavenly Man (considered as the Planetary Logos) are the monadic, atmic, buddhic and manasic systemic planes (or at least the higher manasic sub-planes)? This would make sense.

98. Có thể chăng cũng như bốn cõi dĩ thái của Thái dương Thượng đế là các cõi thượng đế, chân thần, atma và Bồ đề, thì tương ứng như vậy, bốn cõi dĩ thái của Đấng Thiên Nhân (được xem như Đức Hành Tinh Thượng Đế) là các cõi chân thần, atma, Bồ đề và manas của hệ (hoặc ít nhất là các cõi phụ manas cao hơn)? Điều này có vẻ hợp lý.

99. Remember that the term Heavenly Man (though usually equivalent with the term “Planetary Logos”) may also refer to a lesser type of being within the planetary scheme—such as a Chain Lord or a Globe Lord.

99. Hãy nhớ rằng thuật ngữ Đấng Thiên Nhân (dù thường tương đương với thuật ngữ “Đức Hành Tinh Thượng Đế”) cũng có thể chỉ một loại hữu thể thấp hơn trong hệ hành tinh—chẳng hạn như một Chúa Tể Dãy hay một Chúa Tể Bầu hành tinh.

100. Earlier we read that the Heavenly Man expresses Himself through the atmic, buddhic and manasic planes, just as a human being expresses through the lower mental, astral and etheric planes.

100. Trước đó chúng ta đã đọc rằng Đấng Thiên Nhân biểu lộ chính Ngài qua các cõi atma, Bồ đề và manas, cũng như con người biểu lộ qua các cõi hạ trí, cảm dục và dĩ thái.

101. What is the nature of the being (within the planetary scheme) for whom the atmic, buddhic and manasic planes are as the mental, emotional and etheric bodies and not as etheric sub-planes? For the true Heavenly Man/Planetary Logos (with His causal body on the third level of the cosmic mental plane), the atmic, buddhic and manasic planes (at least the higher manasic sub-planes) are as ethers. But for the type of Heavenly Man described earlier, the atmic, buddhic and manasic planes are related to the vehicles of the personality. Could such a Heavenly Man be a Chain Lord?

101. Bản chất của hữu thể nào (bên trong hệ hành tinh) mà đối với hữu thể ấy các cõi atma, Bồ đề và manas giống như các thể trí, cảm xúc và dĩ thái chứ không phải như các cõi phụ dĩ thái? Đối với Đấng Thiên Nhân/Đức Hành Tinh Thượng Đế đích thực (với thể nguyên nhân của Ngài trên cấp độ thứ ba của cõi trí vũ trụ), các cõi atma, Bồ đề và manas (ít nhất là các cõi phụ manas cao hơn) giống như các cõi dĩ thái. Nhưng đối với loại Đấng Thiên Nhân được mô tả trước đó, các cõi atma, Bồ đề và manas lại liên hệ với các hiện thể của phàm ngã. Một Đấng Thiên Nhân như thế có thể là một Chúa Tể Dãy chăng?

102. The expression of the greatest Heavenly Man of our planetary scheme, seems to be, as it were, ‘down one notch’ or plane (or portion thereof) from the expression of the Solar Logos, the ‘Brother’ of the Heavenly Man considered as the Planetary Logos.

102. Sự biểu lộ của Đấng Thiên Nhân vĩ đại nhất trong hệ hành tinh của chúng ta, dường như, có thể nói như vậy, “thấp hơn một nấc” hay một cõi (hoặc một phần của cõi) so với sự biểu lộ của Thái dương Thượng đế, “Huynh Đệ” của Đấng Thiên Nhân được xem như Đức Hành Tinh Thượng Đế.

103. BUT, the expression of Chain Lords and Globe Lords seems to be ‘down a number of notches’, or planes (or portions thereof), from the expression of both the Solar Logos and the Planetary Logos.

103. NHƯNG, sự biểu lộ của các Chúa Tể Dãy và các Chúa Tể Bầu hành tinh dường như “thấp hơn nhiều nấc”, hay nhiều cõi (hoặc nhiều phần của cõi), so với sự biểu lộ của cả Thái dương Thượng đế lẫn Đức Hành Tinh Thượng Đế.

104. The concrete mental plane remains in an ambiguous position with respect to these beings. To the Solar Logos, the concrete mental plane and the higher mental plane are both part of the dense physical vehicle—i.e., the gaseous level.

104. Cõi trí cụ thể vẫn ở trong một vị trí mơ hồ đối với các hữu thể này. Đối với Thái dương Thượng đế, cõi trí cụ thể cõi thượng trí đều là một phần của hiện thể xác đậm đặc—tức cấp độ khí.

105. Perhaps for the Heavenly Man as Planetary Logos the higher mental plane pertains to the etheric structure of the Planetary Logos, but the lower mental plane to the gaseous level.

105. Có lẽ đối với Đấng Thiên Nhân với tư cách Đức Hành Tinh Thượng Đế, cõi thượng trí thuộc về cấu trúc dĩ thái của Đức Hành Tinh Thượng Đế, còn cõi hạ trí thì thuộc về cấp độ khí.

106. For a lesser type of Heavenly Man, perhaps a Chain Lord, the entire systemic manasic plane would represent the etheric expression, with the buddhic plane representing the emotional and the atmic plane representing the mental.

106. Đối với một loại Đấng Thiên Nhân thấp hơn, có lẽ là một Chúa Tể Dãy, toàn bộ cõi manas của hệ sẽ tượng trưng cho sự biểu lộ dĩ thái, với cõi Bồ đề tượng trưng cho thể cảm xúc và cõi atma tượng trưng cho thể trí.

107. For a still lesser type of Heavenly Man, perhaps a Globe Lord (with a semi-permanent body on the atmic plane?), the lower mental plane would represent the etheric level, the higher mental plane the emotional, and the buddhic plane the mental.

107. Đối với một loại Đấng Thiên Nhân còn thấp hơn nữa, có lẽ là một Chúa Tể Bầu hành tinh (với một thể bán thường tồn trên cõi atma?), cõi hạ trí sẽ tượng trưng cho cấp độ dĩ thái, cõi thượng trí cho thể cảm xúc, và cõi Bồ đề cho thể trí.

108. We have to find the span of sub-planes utilized as ethers by each of these types of beings: the Grand Heavenly Man or Solar Logos; the Planetary Logos as the greatest type of Heavenly Man; the Chain Lord as the secondary type of Heavenly Man; and the Globe Lord as the tertiary type of Heavenly Man.

108. Chúng ta phải tìm ra khoảng cõi phụ được dùng như các cõi dĩ thái bởi mỗi loại hữu thể này: Đại Đấng Thiên Nhân hay Thái dương Thượng đế; Đức Hành Tinh Thượng Đế như loại Đấng Thiên Nhân vĩ đại nhất; Chúa Tể Dãy như loại Đấng Thiên Nhân thứ cấp; và Chúa Tể Bầu hành tinh như loại Đấng Thiên Nhân tam cấp.

109. Below I have offered a thought about ‘sub-plane overlap’ which may complicate the matter further, but in which there may be some truth.

109. Dưới đây tôi đã nêu ra một ý nghĩ về “sự chồng lấn cõi phụ” có thể làm vấn đề thêm phức tạp, nhưng trong đó có thể có phần nào chân lý.

The human being realises his relationship (as a cell in the body) to a Heavenly Man only when he is developing the consciousness of the Ego on its own plane.

Con người chứng nghiệm mối tương quan của mình (như một tế bào trong thể) với một Đấng Thiên Nhân chỉ khi y đang phát triển tâm thức của chân ngã trên chính cõi của nó.

110. We note the word “realises”. The soul is the principle of consciousness. The development of consciousness of the Ego on its own plane really begins with the initiation process, at which time the Monad is making a definite impact on the Ego (on its own plane).

110. Chúng ta lưu ý từ “chứng nghiệm”. Linh hồn là nguyên khí của tâm thức. Sự phát triển tâm thức của chân ngã trên chính cõi của nó thực sự bắt đầu với tiến trình điểm đạo, vào lúc đó chân thần đang tạo ra một tác động rõ rệt lên chân ngã (trên chính cõi của nó).

The first faint tremor of the impact of monadic “destiny” (I know not how else to express this concept) makes itself felt, but is registered only by the soul of the initiate and on the level of soul consciousness; it is never registered by the man on the physical plane who is taking the first initiation; his brain cannot respond to this high vibration. (R&I 312-313)

Sự rung động mờ nhạt đầu tiên của tác động từ “định mệnh” chân thần (tôi không biết diễn đạt khái niệm này cách nào khác) bắt đầu được cảm nhận, nhưng chỉ được ghi nhận duy nhất bởi linh hồn của điểm đạo đồ và trên cấp độ tâm thức linh hồn; nó không bao giờ được ghi nhận bởi con người trên cõi hồng trần đang trải qua lần điểm đạo thứ nhất; bộ não của y không thể đáp ứng với rung động cao này. (R&I 312-313)

111. The true cellular nature of man (planetarily considered) is monadic.

111. Bản chất tế bào đích thực của con người (xét theo hành tinh) là chân thần.

112. If the Monad is as a cell to one type of Heavenly Man, to what type of Heavenly Man is the Ego as a cell?

112. Nếu chân thần giống như một tế bào đối với một loại Đấng Thiên Nhân, thì chân ngã giống như một tế bào đối với loại Đấng Thiên Nhân nào?

113. A number of the occult blinds used by DK when discussing the Planetary Logos relate to the mystery of the nature and interplay of the three types of Heavenly Men.

113. Một số màn che huyền bí mà Chân sư DK dùng khi bàn về Đức Hành Tinh Thượng Đế có liên hệ với huyền nhiệm về bản chất và sự tương tác của ba loại Đấng Thiên Nhân.

If it might be so expressed, the groups of causal bodies are the lowest forms through which a Heavenly Man manifests, just as the physical body is the lowest through which a human being manifests, and this in its etheric connotation.

Nếu có thể diễn đạt như vậy, thì các nhóm thể nguyên nhân là những hình thức thấp nhất mà qua đó một Đấng Thiên Nhân biểu lộ, cũng như thể xác là hình thức thấp nhất mà qua đó một con người biểu lộ, và điều này theo hàm nghĩa dĩ thái của nó.

114. It may be a strange thought for some that the human being is not really manifesting through a dense physical body, but that it is simply an automaton.

114. Đối với một số người, có thể là một ý nghĩ lạ rằng con người thực ra không biểu lộ qua một thể xác đậm đặc, mà thể ấy chỉ đơn thuần là một cơ cấu tự động.

115. We find in the extract above a direct analogy between groups of causal bodies and the physical body of man. The Planetary Logos/groups of causal bodies = man/his physical body. We must, however, be careful about the manner in which we define the term “physical”. In this context, it means etheric.

115. Trong đoạn trích trên, chúng ta thấy một phép tương đồng trực tiếp giữa các nhóm thể nguyên nhân và thể xác của con người. Đức Hành Tinh Thượng Đế/các nhóm thể nguyên nhân = con người/thể xác của y. Tuy nhiên, chúng ta phải cẩn trọng về cách định nghĩa thuật ngữ “hồng trần”. Trong ngữ cảnh này, nó có nghĩa là dĩ thái.

116. Since the dense physical body of a human being is not a principle (in relation to man) man’s true physical body is considered his etheric body. It is important that we remember this.

116. Vì thể xác đậm đặc của con người không phải là một nguyên khí (trong tương quan với con người), nên thể hồng trần đích thực của con người được xem là thể dĩ thái của y. Điều quan trọng là chúng ta phải nhớ điều này.

117. It is thus clear and confirmed that the higher mental plane (on the two lower levels of which, causal bodies can be found—can they be found on the first level?) is considered in relation to the Heavenly Man (as Planetary Logos) an area of etheric expression.

117. Như vậy, rõ ràng và được xác nhận rằng cõi thượng trí (trên hai cấp độ thấp hơn của cõi này có thể tìm thấy các thể nguyên nhân—chúng có thể được tìm thấy trên cấp độ thứ nhất không?) được xem trong tương quan với Đấng Thiên Nhân (với tư cách Đức Hành Tinh Thượng Đế) là một khu vực của sự biểu lộ dĩ thái.

118. Since human causal bodies are not found on the concrete mental subplanes, those subplanes cannot be considered etheric in relation to the Planetary Logos or greatest planetary Heavenly Man.

118. Vì các thể nguyên nhân của con người không được tìm thấy trên các cõi phụ trí cụ thể, nên các cõi phụ ấy không thể được xem là dĩ thái trong tương quan với Đức Hành Tinh Thượng Đế hay Đấng Thiên Nhân hành tinh vĩ đại nhất.

119. Yet, we have been reading of a type of Heavenly Man for whom the entire manasic plane stands as an area of etheric expression. The nature of such a lesser Heavenly Man must be ascertained.

119. Tuy nhiên, chúng ta đã đọc về một loại Đấng Thiên Nhân mà đối với Ngài toàn bộ cõi manas là một khu vực biểu lộ dĩ thái. Bản chất của một Đấng Thiên Nhân thấp hơn như thế phải được xác định.

120. It is also confirmed that the lower mental plane must be considered equivalent to the gaseous subplane of the Planetary Logos’ dense physical vehicle.

120. Điều cũng được xác nhận là cõi hạ trí phải được xem là tương đương với cõi phụ khí của hiện thể xác đậm đặc của Đức Hành Tinh Thượng Đế.

121. If these speculations are correct, we can see that each of these great beings has a differing number of systemic etheric sub-planes go to the constitution of the etheric sub-planes of these beings.

121. Nếu những suy đoán này là đúng, chúng ta có thể thấy rằng mỗi một trong các đại hữu thể này có một số lượng khác nhau các cõi phụ dĩ thái của hệ góp phần vào cấu tạo các cõi phụ dĩ thái của các hữu thể ấy.

122. The Solar Logos has a fourth etheric vehicle with seven systemic sub-planes (the seven sub-planes of the systemic buddhic plane). The Planetary Logos has a fourth etheric vehicle with only three systemic sub-planes (the three sub-planes of the systemic higher mental plane). We could speculate upon the number of systemic sub-planes which go to the constitution of a Chain Lord and Globe Lord, but not enough is known to make such speculation really profitable. We can only speculate that the numbers will vary.

122. Thái dương Thượng đế có một hiện thể dĩ thái thứ tư với bảy cõi phụ của hệ (bảy cõi phụ của cõi Bồ đề của hệ). Đức Hành Tinh Thượng Đế có một hiện thể dĩ thái thứ tư chỉ với ba cõi phụ của hệ (ba cõi phụ của cõi thượng trí của hệ). Chúng ta có thể suy đoán về số lượng cõi phụ của hệ góp phần vào cấu tạo của một Chúa Tể Dãy và Chúa Tể Bầu hành tinh, nhưng chưa biết đủ để làm cho sự suy đoán ấy thực sự hữu ích. Chúng ta chỉ có thể suy đoán rằng các con số sẽ khác nhau.

123. If we hope in any way to maintain numerical consistency between the numbers of systemic sub-planes involved in the expression of (for instance) the four etheric vehicles of these different types of beings, we shall have to have what we might call plane-overlap. This is perhaps an unusual idea and there is no way to verify that if may be true.

123. Nếu chúng ta hy vọng bằng cách nào đó duy trì được tính nhất quán số học giữa số lượng các cõi phụ của hệ tham dự vào sự biểu lộ của (chẳng hạn) bốn hiện thể dĩ thái của các loại hữu thể khác nhau này, thì chúng ta sẽ phải có điều mà có thể gọi là sự chồng lấn cõi. Đây có lẽ là một ý tưởng khác thường và không có cách nào để kiểm chứng rằng nó có thể là đúng.

124. For instance, a Solar Logos has seven systemic sub-planes which constitute His lowest or fourth ether, the buddhic plane. Is it justifiable to think that a Planetary Logos has only three systemic sub-planes constituting His fourth or lowest ether (i.e., the higher mental plane)?

124. Chẳng hạn, một Thái dương Thượng đế có bảy cõi phụ của hệ cấu thành cõi dĩ thái thấp nhất hay thứ tư của Ngài, tức cõi Bồ đề. Có chính đáng không khi nghĩ rằng một Đức Hành Tinh Thượng Đế chỉ có ba cõi phụ của hệ cấu thành cõi dĩ thái thứ tư hay thấp nhất của Ngài (tức cõi thượng trí)?

125. OR, using the principle of plane overlap, may the lowest of the Planetary Logos’ four etheric vehicles consist of three systemic sub-planes on the higher mental plane and the four lowest sub-planes on the systemic buddhic plane.

125. HOẶC, dùng nguyên lý chồng lấn cõi, liệu hiện thể dĩ thái thấp nhất trong bốn hiện thể dĩ thái của Đức Hành Tinh Thượng Đế có thể gồm ba cõi phụ của hệ trên cõi thượng trí và bốn cõi phụ thấp nhất trên cõi Bồ đề của hệ chăng.

126. If we give this idea credence, we shall have to think that our usual maps of the planes and sub-planes are drawn from the perspective of the Solar Logos and man, and not from the perspective of any of the Heavenly Men in a planetary scheme.

126. Nếu chúng ta chấp nhận ý tưởng này, chúng ta sẽ phải nghĩ rằng các bản đồ thông thường của chúng ta về các cõi và cõi phụ được vẽ từ quan điểm của Thái dương Thượng đế và con người, chứ không phải từ quan điểm của bất kỳ Đấng Thiên Nhân nào trong một hệ hành tinh.

127. Just as there are no hard and fast boundaries between the signs of the zodiac, so there would be a system of relativity defining the boundaries of various planes, depending upon the type of entity or being under discussion.

127. Cũng như không có những ranh giới cứng nhắc giữa các dấu hiệu hoàng đạo, thì sẽ có một hệ thống tính tương đối xác định ranh giới của các cõi khác nhau, tùy thuộc vào loại thực thể hay hữu thể đang được bàn đến.

128. We think of our systemic higher mental plane as mental, but to a Planetary Logos it is etheric (or, at least, part of His etheric constitution) and to a Solar Logos it is gaseous (along with the concrete mental sub-planes). To a Chain Lord it may be analogous to the astral body and to a Globe Lord the higher mental plane may be as the lower mental plane.

128. Chúng ta nghĩ về cõi thượng trí của hệ như là trí tuệ, nhưng đối với một Đức Hành Tinh Thượng Đế, nó là dĩ thái (hoặc ít nhất là một phần trong cấu tạo dĩ thái của Ngài) và đối với một Thái dương Thượng đế, nó là khí (cùng với các cõi phụ trí cụ thể). Đối với một Chúa Tể Dãy, nó có thể tương tự như thể cảm dục, và đối với một Chúa Tể Bầu hành tinh, cõi thượng trí có thể giống như cõi hạ trí.

129. If we study what might be called ‘the continuum of prakritic vibration’, we may be able to more easily understand the principle of ‘planar overlap’.

129. Nếu chúng ta nghiên cứu điều có thể được gọi là “liên tục thể của rung động prakriti”, chúng ta có thể hiểu dễ hơn nguyên lý “chồng lấn cõi”.

130. Obviously, we cannot ascertain the truth here. All we can do is follow the suggested analogies and attend to the implications.

130. Hiển nhiên, chúng ta không thể xác định chân lý ở đây. Tất cả những gì chúng ta có thể làm là theo các phép tương đồng được gợi ý và chú ý đến các hàm ý của chúng.

131. VSK suggests: “This is related to table on TCF 331, and helps solve the problem of the question of which is the colour of buddhi.”

131. VSK gợi ý: “Điều này có liên hệ với bảng ở TCF 331, và giúp giải quyết vấn đề câu hỏi màu sắc của Bồ đề là gì.”

It should be borne in mind that the manifesting Existences embody certain planes, and have Their points of deepest involution on diverse levels:

Cần ghi nhớ rằng các Hữu Thể đang biểu lộ nhập thể một số cõi nhất định, và có các điểm giáng hạ tiến hoá sâu nhất của Các Ngài trên những cấp độ khác nhau:

132. Here are series of important comparisons which will convey to us the areas of manifestation for three types of self-conscious entities.

132. Ở đây là một loạt so sánh quan trọng sẽ truyền đạt cho chúng ta các khu vực biểu lộ của ba loại thực thể ngã thức.

133. Man, a Planetary Logos and a Solar Logos are all “manifesting Existences”.

133. Con người, một Đức Hành Tinh Thượng Đế và một Thái dương Thượng đế đều là những “Hữu Thể đang biểu lộ”.

134. This extract seems to confirm the possibility of the validity of ‘planar overlap’.

134. Đoạn trích này dường như xác nhận khả năng hiệu lực của “sự chồng lấn cõi”.

135. If we say that “manifesting Existences embody certain planes”, may it be justifiable to say that they also embody certain sub-planes?

135. Nếu chúng ta nói rằng “các Hữu Thể đang biểu lộ nhập thể một số cõi nhất định”, thì có chính đáng không khi nói rằng các Ngài cũng nhập thể một số cõi phụ nhất định?

136. In studying the planar gamut of manifestation for diverse entities, the principle of relativity will, it seems, have to be considered.

136. Khi nghiên cứu toàn bộ dải cõi biểu lộ của các thực thể khác nhau, dường như nguyên lý tính tương đối sẽ phải được xét đến.

a. A Man originates on the monadic level, has his main focal point on the fifth level, the mental, but is seeking full conscious development on the three lower planes, the mental, the astral and the physical.

a. Một Con Người phát sinh trên cấp độ chân thần, có điểm tập trung chính của mình trên cấp độ thứ năm, tức cõi trí, nhưng đang tìm kiếm sự phát triển hữu thức trọn vẹn trên ba cõi thấp hơn, tức cõi trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần.

137. The relationship between the two an the five is here clearly evident, for the human Monad’s center of origination is on the second plane while the main focal point of man-the-Monad is on the fifth plane.

137. Mối tương quan giữa số hai và số năm ở đây hiển nhiên rõ rệt, vì trung tâm phát sinh của chân thần con người ở trên cõi thứ hai trong khi điểm tập trung chính của con người-như-chân-thần ở trên cõi thứ năm.

138. There is also an implied connection between the numbers one and five, for the Monad, although on the second plane, represents the first aspect of divinity. The numbers one and five are, of course, intimately related. The number one is the Father and five is the Son.

138. Cũng có một mối liên hệ hàm ẩn giữa các số mộtnăm, vì chân thần, dù ở trên cõi thứ hai, lại tượng trưng cho phương diện thứ nhất của thiên tính. Dĩ nhiên, các số một và năm có liên hệ mật thiết. Số một là Cha và số năm là Con.

139. When dealing with the true origin of man, it is practical to indicate the monadic level, but what of the Sea of Fire? When the monadic sheath is destroyed, then man-the-essential-Monad is surely not destroyed, but (so it seems reasonable to infer) would be liberated into the sea of fire.

139. Khi bàn đến nguồn gốc đích thực của con người, việc chỉ ra cấp độ chân thần là thực tiễn, nhưng còn Biển Lửa thì sao? Khi lớp vỏ chân thần bị hủy diệt, thì con người-như-chân-thần-bản chất chắc chắn không bị hủy diệt, mà (dường như có thể suy ra hợp lý như vậy) sẽ được giải thoát vào biển lửa.

140. The monadic level is the operative point of monadic focus for man’s entire pilgrimage into the lower five planes, however when dealing with the more remote origin of the Monad and its eventual destiny, still higher planes (i.e., cosmic sub-planes) will have to be considered.

140. Cấp độ chân thần là điểm hoạt động của sự tập trung chân thần cho toàn bộ cuộc hành hương của con người vào năm cõi thấp hơn, tuy nhiên khi bàn đến nguồn gốc xa xôi hơn của chân thần và định mệnh cuối cùng của nó, thì các cõi còn cao hơn nữa (tức các cõi phụ vũ trụ) sẽ phải được xét đến.

b. A Heavenly Man has His source outside the solar system (as man outside the three worlds of his endeavor),

b. Một Đấng Thiên Nhân có nguồn gốc của Ngài ở ngoài hệ mặt trời (cũng như con người ở ngoài ba cõi giới của nỗ lực của mình),

141. When the Tibetan references the solar system He often confines Himself to the cosmic physical plane.

141. Khi Chân sư Tây Tạng nhắc đến hệ mặt trời, Ngài thường tự giới hạn vào cõi hồng trần vũ trụ.

142. Since we are talking about sources, we are talking about Monads. It must be remembered, however, that the Ego is, in a way, the source for manifesting man, just as the planetary logoic Ego or the solar logoic Ego would be sources for the manifesting Planetary Logos and Solar Logos respectively.

142. Vì chúng ta đang nói về các nguồn gốc, nên chúng ta đang nói về các chân thần. Tuy nhiên, phải nhớ rằng chân ngã, theo một cách nào đó, là nguồn gốc cho con người đang biểu lộ, cũng như chân ngã hành tinh thượng đế hay chân ngã thái dương thượng đế sẽ là nguồn gốc cho Đức Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế đang biểu lộ tương ứng.

143. Nevertheless, we do seem to be talking of Monads.

143. Tuy nhiên, chúng ta quả thực dường như đang nói về các chân thần.

144. The true origin of a Planetary Logos or Heavenly Man (let us, for the most part, treat these terms as equivalent) is probably the cosmic monadic plane. This may be inferred because the causal body of a Planetary Logos is found upon the higher levels of the cosmic mental plane, just as the causal body of man is found upon the higher levels of the systemic mental plane.

144. Nguồn gốc đích thực của một Đức Hành Tinh Thượng Đế hay Đấng Thiên Nhân (phần lớn chúng ta hãy xem các thuật ngữ này là tương đương) có lẽ là cõi chân thần vũ trụ. Điều này có thể được suy ra vì thể nguyên nhân của một Đức Hành Tinh Thượng Đế được tìm thấy trên các cấp độ cao hơn của cõi trí vũ trụ, cũng như thể nguyên nhân của con người được tìm thấy trên các cấp độ cao hơn của cõi trí của hệ.

145. It is probable that the Heavenly Man here discussed is the greatest of our planetary Heavenly Men—the Planetary Logos.

145. Có lẽ Đấng Thiên Nhân được bàn đến ở đây là vĩ đại nhất trong các Đấng Thiên Nhân hành tinh của chúng ta—Đức Hành Tinh Thượng Đế.

146. When (on p. 271) DK spoke of a Heavenly Man who “has an originating source, His Monad, a semi-permanent body on the monadic levels of the solar system”, we have to be very careful. Does the Heavenly Man there under discussion have both “an originating source, His Monad” and “a semi-permanent body of the monadic levels of the solar system”?

146. Khi (ở tr. 271) Chân sư DK nói về một Đấng Thiên Nhân “có một nguồn gốc khởi nguyên, Chân thần của Ngài, một thể bán thường tồn trên các cấp độ chân thần của hệ mặt trời”, chúng ta phải hết sức cẩn trọng. Phải chăng Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến ở đây có cả “một nguồn gốc khởi nguyên, Chân thần của Ngài” “một thể bán thường tồn trên các cấp độ chân thần của hệ mặt trời”?

147. OR, is the phrase “a semi-permanent body on the monadic levels of the solar system” a phrase in apposition, referring to “His Monad”?

147. HAY, cụm từ “một thể bán thường tồn trên các cấp độ chân thần của hệ mặt trời” là một cụm từ đồng vị, quy chiếu về “Chân thần của Ngài”?

148. Why is the word “and” not used before “a semi-permanent body” just as it is earlier in the paragraph when describing a human being, for a human being has a Monad as an “originating source” and a “semi-permanent vehicle, the causal body”? Is this just an error? Or is it meant to produce ambiguity and, hence, a deeper search.

148. Tại sao từ “và” lại không được dùng trước “một thể bán thường tồn” như đã được dùng trước đó trong đoạn khi mô tả một con người, vì con người có một Chân thần như một “nguồn gốc khởi nguyên” một “vận cụ bán thường tồn, thể nguyên nhân”? Đây chỉ là một sai sót chăng? Hay điều đó được dụng ý để tạo ra sự mơ hồ và do đó dẫn đến một sự truy cứu sâu hơn.

149. If the solar system is considered to be the cosmic physical plane, then all three types of planetary Heavenly Men may have originating sources outside the solar system.

149. Nếu hệ mặt trời được xem là cõi hồng trần vũ trụ, thì cả ba loại Đấng Thiên Nhân hành tinh đều có thể có các nguồn gốc khởi nguyên bên ngoài hệ mặt trời.

150. The Monad of our Planetary Logos (and of all Planetary Logoi) are, we infer, to be found upon the cosmic monadic plane. Where are the originating sources of those Heavenly Men known as Chain Lords and Globe Lords?

150. Chân thần của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta (và của mọi Hành Tinh Thượng đế) theo suy luận của chúng ta được tìm thấy trên cõi chân thần vũ trụ. Các nguồn gốc khởi nguyên của những Đấng Thiên Nhân được biết đến như các Chúa Tể của Dãy và các Chúa Tể của Bầu Hành Tinh ở đâu?

151. If the aggregations of human Monads on the systemic monadic plane are a kind of causal body to a certain type of Heavenly Man, then the monadic origin of that type of Heavenly Man would certainly be found outside the solar system (considering the solar system as the cosmic physical plane).

151. Nếu các tập hợp những Chân thần nhân loại trên cõi chân thần của hệ thống là một loại thể nguyên nhân đối với một loại Đấng Thiên Nhân nào đó, thì nguồn gốc chân thần của loại Đấng Thiên Nhân ấy hẳn nhiên sẽ được tìm thấy bên ngoài hệ mặt trời (khi xem hệ mặt trời như cõi hồng trần vũ trụ).

152. We cannot say upon what type of contra-parallel the Monad of a Chain Lord may be found, or the Monad of a Globe Lord, but it would seem likely to be on cosmic planes above the cosmic physical plane (on which the human Monad has its point of focus).

152. Chúng ta không thể nói Chân thần của một Chúa Tể của Dãy hay của một Chúa Tể của Bầu Hành Tinh có thể được tìm thấy trên loại đối song nào, nhưng có vẻ hợp lý là nó nằm trên các cõi vũ trụ cao hơn cõi hồng trần vũ trụ (nơi Chân thần nhân loại có điểm tập trung của nó).

153. We are somewhat limited here because we do not know what might be called the ‘developmental proportion’ between a Planetary Logos and His subsidiaries—Chain Lords and Globe Lords. We have some idea of how to measure man against a Solar Logos or Planetary Logos, but how to measure a Globe Lord or a Chain Lord against a Planetary Logos?

153. Ở đây chúng ta phần nào bị giới hạn vì không biết điều có thể gọi là “tỉ lệ phát triển” giữa một Hành Tinh Thượng đế và các phân thể phụ thuộc của Ngài—các Chúa Tể của Dãy và các Chúa Tể của Bầu Hành Tinh. Chúng ta có một vài ý niệm về cách đo lường con người so với một Thái dương Thượng đế hay Hành Tinh Thượng đế, nhưng làm sao đo lường một Chúa Tể của Bầu Hành Tinh hay một Chúa Tể của Dãy so với một Hành Tinh Thượng đế?

154. The Tibetan has been talking mainly about four types of atoms—the tiny atom of matter/substance; man as an atom; the Planetary Logos as an atom and the Solar Logos as an atom.

154. Chân sư Tây Tạng chủ yếu đang nói về bốn loại nguyên tử—nguyên tử cực nhỏ của vật chất/chất liệu; con người như một nguyên tử; Hành Tinh Thượng đế như một nguyên tử và Thái dương Thượng đế như một nguyên tử.

155. May it be possible that there are also inferences concerning Globe Lords and Chain Lords as atoms?

155. Có thể chăng cũng có những suy luận liên quan đến các Chúa Tể của Bầu Hành Tinh và các Chúa Tể của Dãy như những nguyên tử?

156. The three worlds of man’s endeavor are the physical-etheric, the astral and the lower mental worlds.

156. Ba cõi giới của nỗ lực nơi con người là các cõi hồng trần-dĩ thái, cảm dục và hạ trí.

157. What are the three worlds of endeavor for the type of Heavenly Man here discussed? If the Heavenly Man is the Planetary Logos, then the three worlds are the cosmic physical plane, the cosmic astral plane and the lower cosmic mental plane. Thus, the originating source of the Planetary Logos would have to be ‘above’ even the cosmic mental plane.

157. Ba cõi giới của nỗ lực đối với loại Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến ở đây là gì? Nếu Đấng Thiên Nhân là Hành Tinh Thượng đế, thì ba cõi giới ấy là cõi hồng trần vũ trụ, cõi cảm dục vũ trụ và cõi hạ trí vũ trụ. Như vậy, nguồn gốc khởi nguyên của Hành Tinh Thượng đế hẳn phải ở “trên” cả cõi trí tuệ vũ trụ.

has His main focal point on the second plane of the system, the monadic,

có điểm tập trung chính của Ngài trên cõi thứ hai của hệ thống, cõi chân thần,

158. What for man is monadic and his highest point of focus is for the type of Heavenly Man here discussed an intermediary point of expression. We note, however, that the causal body of a Planetary Logos is not found upon the systemic monadic plane but upon the cosmic mental plane.

158. Điều gì đối với con người là chân thần và là điểm tập trung cao nhất của y thì đối với loại Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến ở đây lại là một điểm biểu lộ trung gian. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý rằng thể nguyên nhân của một Hành Tinh Thượng đế không được tìm thấy trên cõi chân thần của hệ thống mà trên cõi trí tuệ vũ trụ.

159. So for the Planetary Logos (the greatest of the three types planetary Heavenly Men), the focus on the systemic monadic plane is not a causal focus, though such a focus may be considered an analogy to causal focus for a lesser type of planetary Heavenly Man.

159. Vì vậy, đối với Hành Tinh Thượng đế (vĩ đại nhất trong ba loại Đấng Thiên Nhân hành tinh), điểm tập trung trên cõi chân thần của hệ thống không phải là một điểm tập trung nguyên nhân, mặc dù một điểm tập trung như vậy có thể được xem là một sự tương đồng với điểm tập trung nguyên nhân đối với một loại Đấng Thiên Nhân hành tinh thấp hơn.

and is seeking consciousness on the planes of the Triad,—this in relation to all the cells in His body.

và đang tìm kiếm tâm thức trên các cõi của Tam nguyên tinh thần,—điều này trong liên hệ với mọi tế bào trong thể của Ngài.

160. This is an important point. Man (as a cell in the body of the Planetary Logos) is the medium through which a Heavenly Man is seeking to expand His consciousness on the cosmic physical plane.

160. Đây là một điểm quan trọng. Con người (như một tế bào trong thể của Hành Tinh Thượng đế) là trung gian mà qua đó một Đấng Thiên Nhân đang tìm cách mở rộng tâm thức của Ngài trên cõi hồng trần vũ trụ.

161. Man is seeking full consciousness development on the lower three systemic planes and “A Heavenly Man” is seeking full consciousness development through man through the spiritual triad of man—the spiritual triad being for man as the personality of the Monad.

161. Con người đang tìm kiếm sự phát triển trọn vẹn của tâm thức trên ba cõi thấp của hệ thống và “một Đấng Thiên Nhân” đang tìm kiếm sự phát triển trọn vẹn của tâm thức qua con người, thông qua tam nguyên tinh thần của con người—tam nguyên tinh thần đối với con người cũng như phàm ngã của chân thần.

162. Man, it would seem, is as a cell of consciousness for the type of Heavenly Man here discussed and indispensable for the expansion of the consciousness.

162. Có vẻ như con người là một tế bào tâm thức đối với loại Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến ở đây và là điều không thể thiếu cho sự mở rộng của tâm thức.

163. We are told that the type of Heavenly Man here discussed “has His main focal point on the second plane of the system, the monadic”. This statement must be compared with the ‘location’ of the “main focal point” for man and for the Solar Logos. Man has his main focal point on causal levels. From what is said about the Solar Logos, it seems possible that He, too, has His main focal point on cosmic causal levels, for we are told that He “has His main focal point on the cosmic mental plane”.

163. Chúng ta được cho biết rằng loại Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến ở đây “có điểm tập trung chính của Ngài trên cõi thứ hai của hệ thống, cõi chân thần”. Phát biểu này phải được so sánh với “vị trí” của “điểm tập trung chính” nơi con người và nơi Thái dương Thượng đế. Con người có điểm tập trung chính của mình trên các cấp độ nguyên nhân. Từ những gì được nói về Thái dương Thượng đế, có vẻ có thể là Ngài cũng có điểm tập trung chính của Ngài trên các cấp độ nguyên nhân vũ trụ, vì chúng ta được cho biết rằng Ngài “có điểm tập trung chính của Ngài trên cõi trí tuệ vũ trụ”.

164. If the Heavenly Man here discussed is really the Planetary Logos of the Earth-scheme, something is out of proportion. If the Heavenly Man under discussion is really the full Planetary Logos, He too should have His main focal point on what for Him are causal levels, but this is not the case.

164. Nếu Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến ở đây thực sự là Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh Địa Cầu, thì có điều gì đó mất cân xứng. Nếu Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến thực sự là Hành Tinh Thượng đế trọn vẹn, thì Ngài cũng phải có điểm tập trung chính của Ngài trên điều mà đối với Ngài là các cấp độ nguyên nhân, nhưng không phải như vậy.

165. The conclusion to be drawn is that when Master DK speaks of a Heavenly Man, He is not always talking about the same type of being!

165. Kết luận phải rút ra là khi Chân sư DK nói về một Đấng Thiên Nhân, Ngài không phải lúc nào cũng nói về cùng một loại hữu thể!

166. It may be that there is a type of blinding going on, by means of which a Globe Lord or Chain Lord is discussed in relation to man, and not always the great Planetary Logos of the entire Earth-scheme.

166. Có thể đang diễn ra một loại che mờ nào đó, nhờ đó một Chúa Tể của Bầu Hành Tinh hay Chúa Tể của Dãy được bàn đến trong liên hệ với con người, chứ không phải lúc nào cũng là Hành Tinh Thượng đế vĩ đại của toàn bộ hệ hành tinh Địa Cầu.

167. Because there are three types of Heavenly Men associated with our planetary scheme, one must remain very alert with regard to the meaning of the references. A sense of proportion will be an important guide.

167. Bởi vì có ba loại Đấng Thiên Nhân gắn liền với hệ hành tinh của chúng ta, người ta phải luôn hết sức tỉnh táo đối với ý nghĩa của các quy chiếu. Ý thức về tỉ lệ sẽ là một chỉ dẫn quan trọng.

He developed consciousness on the three [Page 272] lower planes of the three worlds during the first solar system, again in relation to the cells in His body.

Ngài đã phát triển tâm thức trên ba [Page 272] cõi thấp của ba cõi giới trong hệ mặt trời thứ nhất, một lần nữa trong liên hệ với các tế bào trong thể của Ngài.

168. The more one studies these references in depth, their many layers are revealed, if not understood. The Tibetan packs so much information into a few words

168. Càng nghiên cứu sâu những quy chiếu này, nhiều tầng lớp của chúng càng được bộc lộ ra, dù chưa hẳn được thấu hiểu. Chân sư Tây Tạng gói ghém quá nhiều thông tin trong một vài từ

169. Just as the Solar Logos has evolved considerably since His expression through His first major solar system, so have Heavenly Men.

169. Cũng như Thái dương Thượng đế đã tiến hóa đáng kể kể từ khi Ngài biểu lộ qua hệ mặt trời lớn đầu tiên của Ngài, các Đấng Thiên Nhân cũng vậy.

170. When the Tibetan speaks of the “first solar system”, does He mean the first of three major solar systems or the first of the five of which our present solar system is the fifth.

170. Khi Chân sư Tây Tạng nói về “hệ mặt trời thứ nhất”, Ngài muốn nói đến hệ mặt trời lớn thứ nhất trong ba hệ mặt trời lớn hay hệ thứ nhất trong năm hệ mà hệ mặt trời hiện tại của chúng ta là hệ thứ năm.

171. The first of the five would have to have been a very material solar system.

171. Hệ thứ nhất trong năm hẳn phải là một hệ mặt trời rất vật chất.

172. If we use analogy, we shall see that the efforts of the Heavenly Man under discussion in relation to the first major solar system were analogically closer to the present efforts of man than the Heavenly Man’s efforts in relation to the present solar system.

172. Nếu dùng sự tương đồng, chúng ta sẽ thấy rằng những nỗ lực của Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến liên hệ với hệ mặt trời lớn thứ nhất gần với những nỗ lực hiện nay của con người hơn, theo nghĩa tương đồng, so với những nỗ lực của Đấng Thiên Nhân liên hệ với hệ mặt trời hiện tại.

173. We are told that the Heavenly Man is presently seeking consciousness on the planes of the Triad. This would mean (if the Heavenly Man under discussion is the full Planetary Logos) that He is seeking a type of etheric consciousness.

173. Chúng ta được cho biết rằng Đấng Thiên Nhân hiện đang tìm kiếm tâm thức trên các cõi của Tam nguyên tinh thần. Điều này có nghĩa (nếu Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến là Hành Tinh Thượng đế trọn vẹn) rằng Ngài đang tìm kiếm một loại tâm thức dĩ thái.

174. Yet we are told that the Planetary Logos is not only seeking consciousness but “control” on the cosmic astral plane. Does this not seem like a discrepancy?

174. Tuy nhiên, chúng ta được cho biết rằng Hành Tinh Thượng đế không chỉ tìm kiếm tâm thức mà còn tìm kiếm “sự kiểm soát” trên cõi cảm dục vũ trụ. Điều này chẳng phải có vẻ như một sự bất nhất sao?

175. It is clear that some type of Heavenly Man is seeking consciousness through the cells of His body on the triadal levels, but is it the great Planetary Logos or a lesser Heavenly Man within the greater?

175. Rõ ràng là một loại Đấng Thiên Nhân nào đó đang tìm kiếm tâm thức qua các tế bào trong thể của Ngài trên các cấp độ tam nguyên, nhưng đó là Hành Tinh Thượng đế vĩ đại hay một Đấng Thiên Nhân thấp hơn bên trong Đấng lớn hơn?

176. The term “in relation to the cells in His body” (the human and deva units) is of importance. Man in the aggregate is an extension of the consciousness of the Heavenly Man. This is probably true on all planets and in relation to all Heavenly Men.

176. Thuật ngữ “trong liên hệ với các tế bào trong thể của Ngài” (các đơn vị người và thiên thần) là điều quan trọng. Con người trong tổng thể là một sự mở rộng của tâm thức của Đấng Thiên Nhân. Điều này có lẽ đúng trên mọi hành tinh và trong liên hệ với mọi Đấng Thiên Nhân.

177. Really, man is an extension of the consciousness of all planetary Heavenly Men. It is simply a question of determining what type of extension. Obviously, the unit man means more to a Globe Lord than to a Chain Lord, and more to a Chain Lord than to a Planetary Logos.

177. Thực ra, con người là một sự mở rộng của tâm thức của mọi Đấng Thiên Nhân hành tinh. Chỉ là vấn đề xác định loại mở rộng nào. Hiển nhiên, đơn vị con người có ý nghĩa đối với một Chúa Tể của Bầu Hành Tinh nhiều hơn đối với một Chúa Tể của Dãy, và có ý nghĩa đối với một Chúa Tể của Dãy nhiều hơn đối với một Hành Tinh Thượng đế.

Man is repeating His endeavor up to the fifth Initiation which will bring him to a stage of consciousness achieved by a Heavenly Man in a much earlier mahamanvantara.

Con người đang lặp lại nỗ lực của Ngài cho đến lần điểm đạo thứ năm, điều sẽ đưa y đến một giai đoạn tâm thức mà một Đấng Thiên Nhân đã đạt được trong một Đại giai kỳ sinh hóa sớm hơn rất nhiều.

178. This is an extraordinary statement productive of expanded perspective.

178. Đây là một phát biểu phi thường, tạo ra một viễn cảnh được mở rộng.

179. The words “much earlier” demand to be quantified. Our Solar Logos has had, according to one method of enumeration, five solar systemic expressions. This is the fifth.

179. Những từ “sớm hơn rất nhiều” đòi hỏi phải được định lượng. Theo một phương pháp liệt kê, Thái dương Thượng đế của chúng ta đã có năm lần biểu lộ hệ mặt trời. Đây là lần thứ năm.

180. The words “much earlier” suggest that when our Heavenly Man (if we are now talking about the Planetary Logos) was (in composite form) an initiate of the fifth degree, it may not have been within the solar systems generated by our Solar Logos. During such solar systems (even if there were five) the Solar Logos has been a Solar Logos and, presumably, the Planetary Logos has been some kind of Planetary Logos—not just a man of the fifth initiation.

180. Những từ “sớm hơn rất nhiều” gợi ý rằng khi Đấng Thiên Nhân của chúng ta (nếu giờ đây chúng ta đang nói về Hành Tinh Thượng đế) là một điểm đạo đồ bậc năm (trong hình thức tổng hợp), thì điều đó có thể đã không nằm trong các hệ mặt trời do Thái dương Thượng đế của chúng ta tạo ra. Trong các hệ mặt trời như thế (ngay cả nếu có năm), Thái dương Thượng đế đã là một Thái dương Thượng đế và, có lẽ, Hành Tinh Thượng đế đã là một loại Hành Tinh Thượng đế nào đó—chứ không chỉ là một con người ở lần điểm đạo thứ năm.

181. We cannot consider that a Heavenly Man in a much earlier Mahamanvantara was just as a single, individual man is now. A Planetary Logos is a group being, and it takes many men (developed later as Solar Angels) to form the composite-yet-unified consciousness of a Planetary Logos.

181. Chúng ta không thể xem rằng một Đấng Thiên Nhân trong một Đại giai kỳ sinh hóa sớm hơn rất nhiều đã chỉ giống như một con người đơn lẻ, cá biệt như hiện nay. Một Hành Tinh Thượng đế là một hữu thể nhóm, và cần nhiều con người (về sau phát triển thành các Thái dương Thiên Thần) để hình thành tâm thức tổng hợp nhưng hợp nhất của một Hành Tinh Thượng đế.

The Pitris who formed the egoic body of a human being do not—alone and isolated—form planetary Logoi. The forty-nine groups of solar fires concerned in the great work are those spoken of, and they become the forty-nine planetary Logoi in connexion with seven solar systems. (TCF 879)

Các tổ phụ đã hình thành thể chân ngã của một con người không—một mình và cô lập—hình thành các Hành Tinh Thượng đế. Bốn mươi chín nhóm lửa thái dương liên quan đến đại công việc là những nhóm được nói đến, và chúng trở thành bốn mươi chín Hành Tinh Thượng đế liên hệ với bảy hệ mặt trời. (TCF 879)

182. This is a very important point. Some may wish to debate it: namely that great group beings are ‘composite-yet-unitary’ entities.

182. Đây là một điểm rất quan trọng. Một số người có thể muốn tranh luận về điều này: tức là những hữu thể nhóm vĩ đại là những thực thể ‘tổng hợp nhưng đơn nhất’.

183. The many former men who now constitute a Heavenly Man were in the stage that many men are now “many” mahamanvantaras ago!

183. Nhiều con người trước kia mà nay cấu thành một Đấng Thiên Nhân đã ở trong giai đoạn mà nhiều con người nay đang ở, từ “nhiều” Đại giai kỳ sinh hóa trước!

184. At the very least, this statement gives some kind of idea of how long it takes to produce a Heavenly Man (though which of the Heavenly Men we do not know).

184. Ít nhất, phát biểu này cho một ý niệm nào đó về việc cần bao lâu để tạo ra một Đấng Thiên Nhân (mặc dù chúng ta không biết là loại nào trong các Đấng Thiên Nhân).

185. One must think of a few of the elevations through which man (individually and in increasingly large aggregates can pass)

185. Người ta phải nghĩ đến một vài cấp thăng tiến mà con người (cá nhân và trong những tập hợp ngày càng lớn hơn có thể đi qua)

a. Man

a. Con người

b. Solar Angel

b. Thái dương Thiên Thần

c. Groups of Solar Angels

c. Các nhóm Thái dương Thiên Thần

d. Still greater groupings of Solar Angels

d. Những tập hợp còn lớn hơn của các Thái dương Thiên Thần

e. Globe Lords

e. Các Chúa Tể của Bầu Hành Tinh

f. Chain Lords

f. Các Chúa Tể của Dãy

g. Entities manifesting through Kingdoms of Nature (cf. TCF 648)

g. Các Thực Thể biểu lộ qua các giới trong thiên nhiên (x. TCF 648)

h. Planetary Logoi

h. Các Hành Tinh Thượng đế

186. No doubt many steps are omitted, for our knowledge of the many rungs of this particular ‘Ladder of Entities’ is minimal. If, however, we understand these, ladders, we shall know the destiny of the various kinds of entities we can identify.

186. Hẳn nhiên nhiều nấc đã bị bỏ sót, vì tri thức của chúng ta về nhiều bậc trên “Thang Các Thực Thể” đặc thù này là rất ít ỏi. Tuy nhiên, nếu chúng ta hiểu được những chiếc thang này, chúng ta sẽ biết vận mệnh của các loại thực thể khác nhau mà chúng ta có thể đồng hoá với.

In connection with the initiations this should be carefully borne in mind.

Liên hệ với các cuộc điểm đạo, điều này cần được ghi nhớ cẩn thận.

187. This sentence draws immediate attention to TCF 384, where initiations for man, the Planetary Logos and the Solar Logos are discussed. Man is mentioned in relation to the “first cosmic initiation”, and our Planetary Logos in relation to the “second cosmic initiation”.

187. Câu này lập tức hướng sự chú ý đến TCF 384, nơi các cuộc điểm đạo của con người, Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế được bàn đến. Con người được nhắc đến trong liên hệ với “cuộc điểm đạo vũ trụ thứ nhất”, và Hành Tinh Thượng đế của chúng ta trong liên hệ với “cuộc điểm đạo vũ trụ thứ hai”.

188. The implication is that many mahamanvantaras lie between the first cosmic initiation being taken by man (his fifth planetary initiation) and the second initiation to be taken by the Planetary Logos.

188. Hàm ý là nhiều Đại giai kỳ sinh hóa nằm giữa cuộc điểm đạo vũ trụ thứ nhất do con người thọ nhận (lần điểm đạo hành tinh thứ năm của y) và cuộc điểm đạo thứ hai sẽ do Hành Tinh Thượng đế thọ nhận.

189. In fact the orders of initiation suggested must necessarily be different. It is as if the Planetary Logos must have a first cosmic initiation on His own level, and that the first cosmic initiation of a Planetary Logos is not the same as the first cosmic initiation for man. Again, this inference may be debated.

189. Thực ra, các cấp bậc điểm đạo được gợi ý hẳn nhiên phải khác nhau. Dường như Hành Tinh Thượng đế phải có một cuộc điểm đạo vũ trụ thứ nhất trên cấp độ riêng của Ngài, và cuộc điểm đạo vũ trụ thứ nhất của một Hành Tinh Thượng đế không giống với cuộc điểm đạo vũ trụ thứ nhất của con người. Một lần nữa, suy luận này có thể bị tranh luận.

190. Because the fifth initiation is mentioned in relation to the type of Heavenly Man under discussion (TCF 272), and because on TCF 384, the fifth initiation is implied to be the “first cosmic initiation”, it is likely that the type of Heavenly Man under discussion is, indeed, the Planetary Logos.

190. Bởi vì lần điểm đạo thứ năm được nhắc đến trong liên hệ với loại Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến (TCF 272), và bởi vì ở TCF 384, lần điểm đạo thứ năm được hàm ý là “cuộc điểm đạo vũ trụ thứ nhất”, nên có khả năng loại Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến quả thực là Hành Tinh Thượng đế.

191. We are dealing with great Entities and vast cycles. No wonder we can only analogize towards some very loose, approximative speculations when dealing with these matters.

191. Chúng ta đang bàn đến những Thực Thể vĩ đại và những chu kỳ bao la. Không lạ gì khi chúng ta chỉ có thể suy luận theo tương đồng để đi đến một vài phỏng đoán rất lỏng và gần đúng khi xử lý những vấn đề này.

c. A solar Logos has His origin on a still higher cosmic level,

c. một Thái dương Thượng đế có nguồn gốc của Ngài trên một cấp độ vũ trụ còn cao hơn,

192. We must think carefully here. If our Planetary Logos has His causal body on the third level of the cosmic mental plane, and the Solar Logos has His causal body on the first level of the cosmic mental plane, is there any reason to think that both of them should not have their monadic origins on the cosmic monadic plane?

192. Ở đây chúng ta phải suy nghĩ cẩn thận. Nếu Hành Tinh Thượng đế của chúng ta có thể nguyên nhân của Ngài trên cấp độ thứ ba của cõi trí tuệ vũ trụ, và Thái dương Thượng đế có thể nguyên nhân của Ngài trên cấp độ thứ nhất của cõi trí tuệ vũ trụ, thì có lý do gì để nghĩ rằng cả hai vị lại không có nguồn gốc chân thần của mình trên cõi chân thần vũ trụ?

193. Yet, even if both the Planetary Logos and the Solar Logos originated on the cosmic monadic plane, that high plane would necessarily be divided into various vibratory levels, and presumably the origin of the Solar Logos would be rather higher on the cosmic monadic plane than the origin of the Planetary Logos.

193. Tuy nhiên, ngay cả nếu cả Hành Tinh Thượng đế lẫn Thái dương Thượng đế đều khởi nguyên trên cõi chân thần vũ trụ, thì cõi cao ấy hẳn nhiên phải được phân chia thành nhiều cấp độ rung động khác nhau, và có lẽ nguồn gốc của Thái dương Thượng đế sẽ cao hơn khá nhiều trên cõi chân thần vũ trụ so với nguồn gốc của Hành Tinh Thượng đế.

194. We note that the sentence used the word “level” rather than “plane”. This invites the foregoing speculation.

194. Chúng ta lưu ý rằng câu văn dùng từ “cấp độ” thay vì “cõi”. Điều này gợi ra suy đoán vừa nêu.

has His main focal point on the cosmic mental plane but is expressing Himself through the three lower cosmic planes just as man is seeking self-expression in the three worlds.

có điểm tập trung chính của Ngài trên cõi trí tuệ vũ trụ nhưng đang biểu lộ chính Ngài qua ba cõi vũ trụ thấp cũng như con người đang tìm kiếm sự tự biểu lộ trong ba cõi giới.

195. We note that the Solar Logos, although a “Brother” of the Planetary Logoi, has “His main focal point” on a much higher level than have the Heavenly Men Logoi.

195. Chúng ta lưu ý rằng Thái dương Thượng đế, dù là một “Huynh Đệ” của các Hành Tinh Thượng đế, lại có “điểm tập trung chính của Ngài” trên một cấp độ cao hơn rất nhiều so với các Đấng Thiên Nhân là các Hành Tinh Thượng đế.

196. If the Heavenly Man under discussion is the Planetary Logos, then it would seem (as pointed out above) that the Law of Analogy has been violated. All three of the beings under discussion should have their main point of focus on causal levels. But, again, it would be reasonable for lesser Heavenly Men to have lesser main points of focus on the cosmic physical plane instead of on the cosmic mental plane.

196. Nếu Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến là Hành Tinh Thượng đế, thì có vẻ như (như đã chỉ ra ở trên) định luật tương đồng đã bị vi phạm. Cả ba hữu thể đang được bàn đến đều phải có điểm tập trung chính của mình trên các cấp độ nguyên nhân. Nhưng, một lần nữa, sẽ hợp lý nếu các Đấng Thiên Nhân thấp hơn có các điểm tập trung chính thấp hơn trên cõi hồng trần vũ trụ thay vì trên cõi trí tuệ vũ trụ.

197. Why a great difference in main point of focus between a Solar Logos and a Planetary Logos would be so hard to fathom is because other points of comparison do not show the Planetary Logoi and the Solar Logos so far removed from each other. They are, after all, “Brothers” (“Martanda and His Seven Brothers”) coming into manifestation (as The Secret Doctrine tells us) at the same time. At least this would be so for the physical manifestation of the sacred planets in relation to the physical manifestation of the Sun.

197. Lý do khiến một khác biệt lớn trong điểm tập trung chính giữa một Thái dương Thượng đế và một Hành Tinh Thượng đế khó lòng thấu hiểu là vì những điểm so sánh khác không cho thấy các Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế cách xa nhau đến thế. Rốt cuộc, các Ngài là “Huynh Đệ” (“Martanda và Bảy Huynh Đệ của Ngài”) cùng đi vào biểu lộ (như Giáo Lý Bí Nhiệm cho chúng ta biết) vào cùng một thời điểm. Ít nhất điều này sẽ đúng đối với sự biểu lộ hồng trần của các hành tinh thiêng liêng trong liên hệ với sự biểu lộ hồng trần của Mặt Trời.

198. It is hard to imagine why it should not be said that the Planetary Logoi have their main point of focus on the cosmic mental plane just as does the Solar Logos—though on a lower level of the cosmic mental plane. In fact, this must necessarily be the case if the Law of Analogy is to be upheld.

198. Thật khó hình dung tại sao lại không thể nói rằng các Hành Tinh Thượng đế có điểm tập trung chính của mình trên cõi trí tuệ vũ trụ cũng như Thái dương Thượng đế—dù ở một cấp độ thấp hơn của cõi trí tuệ vũ trụ. Thực ra, điều này hẳn phải là như vậy nếu định luật tương đồng được duy trì.

199. While we cannot confirm that it is so, but it seems more and more probable that there are types of Heavenly Man which DK periodically references are of a lower order than a Planetary Logos—for instance a Globe Lord or Chain Lord. Then the discrepancy between the expression of the Solar Logos and “a Heavenly Man” would make more sense.

199. Dù chúng ta không thể xác nhận là như vậy, nhưng ngày càng có vẻ có xác suất rằng những loại Đấng Thiên Nhân mà Chân sư DK định kỳ nhắc đến thuộc một trật tự thấp hơn Hành Tinh Thượng đế—chẳng hạn một Chúa Tể của Bầu Hành Tinh hay Chúa Tể của Dãy. Khi đó, sự sai khác giữa sự biểu lộ của Thái dương Thượng đế và “một Đấng Thiên Nhân” sẽ có ý nghĩa hơn.

200. We remember that the term “Heavenly Man” is generic and can refer to at least three categories of entity associated with the manifestation of a planetary scheme: the Planetary Logos, a Chain Lord, and a Globe Lord.

200. Chúng ta nhớ rằng thuật ngữ “Đấng Thiên Nhân” là một thuật ngữ tổng quát và có thể quy chiếu đến ít nhất ba loại thực thể gắn liền với sự biểu lộ của một hệ hành tinh: Hành Tinh Thượng đế, một Chúa Tể của Dãy, và một Chúa Tể của Bầu Hành Tinh.

201. It would be productive to search the contexts in which the words “the Heavenly Man” and “a Heavenly Man” are used. Revelations concerning the levels of Heavenly Men might then appear.

201. Sẽ hữu ích nếu truy cứu các ngữ cảnh trong đó những từ “đấng Thiên Nhân” và “một Đấng Thiên Nhân” được dùng. Khi đó, những mặc khải liên quan đến các cấp độ của các Đấng Thiên Nhân có thể sẽ xuất hiện.

202. In any case the analogy between the Solar Logos and man is very close: Solar Logos/three lower cosmic planes = Man/three lower systemic planes.

202. Dù sao đi nữa, sự tương đồng giữa Thái dương Thượng đế và con người là rất gần: Thái dương Thượng đế/ba cõi vũ trụ thấp = Con người/ba cõi thấp của hệ thống.

Therefore, the seven major planes of the solar system are in the same relation to Him cosmically as the physical plane is to a human being. They form His etheric and dense bodies.  

Do đó, bảy cõi chính của hệ mặt trời có cùng mối liên hệ với Ngài về mặt vũ trụ như cõi hồng trần đối với một con người. Chúng tạo thành thể dĩ thái và thể đậm đặc của Ngài.  

203. We are speaking of the Solar Logos and man.

203. Chúng ta đang nói về Thái dương Thượng đế và con người.

204. This is another tremendously important statement. All the lower twenty-one systemic subplanes are the dense physical nature of the Solar Logos—material dense, liquid and gaseous.

204. Đây là một phát biểu cực kỳ quan trọng khác. Toàn bộ hai mươi mốt cõi phụ thấp của hệ thống là bản chất hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế—vật chất đậm đặc, lỏng và khí.

205. The four higher systemic planes (twenty-eight systemic subplanes) are the etheric nature of the Solar Logos.

205. Bốn cõi chính cao hơn của hệ thống (hai mươi tám cõi phụ của hệ thống) là bản chất dĩ thái của Thái dương Thượng đế.

206. As previously stated, it would seem that the dense physical nature for our Planetary Logos should be the lower eighteen subplanes, and that the four ethers would be constituted by:

206. Như đã nói trước đây, có vẻ như bản chất hồng trần đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta phải là mười tám cõi phụ thấp, và bốn dĩ thái sẽ được cấu thành bởi:

a. The higher mental subplanes

a. các cõi phụ thượng trí

b. The buddhic plane

b. cõi Bồ đề

c. The atmic plane

c. cõi atma

d. The monadic plane

d. cõi chân thần

207. The only “atom” which is directly and unequivocally related to man, analogically, is the Solar Logos. The sevens fit together very well when considering the human being and the “Grand Heavenly Man”.

207. “Nguyên tử” duy nhất có liên hệ trực tiếp và minh bạch với con người, theo tương đồng, là Thái dương Thượng đế. Các bộ bảy ăn khớp với nhau rất tốt khi xét con người và “Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại”.

208. Our analogical ingenuity is required when we start comparing the three types of planetary Heavenly Men with either the human being or the Solar Logos.

208. Sự khéo léo suy luận theo tương đồng của chúng ta là điều cần thiết khi bắt đầu so sánh ba loại Đấng Thiên Nhân hành tinh với con người hoặc với Thái dương Thượng đế.

209. Even when the great Heavenly Man called the Planetary Logos is meant, He may be functioning through various of His emanated aspects (a Globe Lord or a Chain Lord). Thus, when we are told that a Heavenly Man (Planetary Logos) is functioning in a certain manner and in relation to certain planes, it may indeed be the Planetary Logos functioning but through His lesser aspects (Globe Lords and Chain Lords).

209. Ngay cả khi Đấng Thiên Nhân vĩ đại được gọi là Hành Tinh Thượng đế được ngụ ý, Ngài vẫn có thể đang hoạt động qua nhiều phương diện xuất lộ của Ngài (một Chúa Tể của Bầu Hành Tinh hay một Chúa Tể của Dãy). Vì vậy, khi chúng ta được cho biết rằng một Đấng Thiên Nhân (Hành Tinh Thượng đế) đang hoạt động theo một cách nào đó và trong liên hệ với những cõi nào đó, thì quả thực có thể là Hành Tinh Thượng đế đang hoạt động nhưng qua các phương diện thấp hơn của Ngài (các Chúa Tể của Bầu Hành Tinh và các Chúa Tể của Dãy).

210. Thus, when a Globe Lord functions in a certain way and in relation to a certain plane, it is, indeed, the Planetary Logos (the greatest of the planetary Heavenly Men) that is functioning—‘behind’ and through the Globe Lord.

210. Vì vậy, khi một Chúa Tể của Bầu Hành Tinh hoạt động theo một cách nào đó và trong liên hệ với một cõi nào đó, thì quả thực chính Hành Tinh Thượng đế (vĩ đại nhất trong các Đấng Thiên Nhân hành tinh) đang hoạt động—ở “phía sau” và thông qua Chúa Tể của Bầu Hành Tinh.

211. Interesting problems are revealed when considering the constitution of a Planetary Logos. For instance, how many Sanat Kumaras are there? Some at globe levels? Some fewer at chain levels? One originating Sanat Kumara at the scheme level?

211. Những vấn đề thú vị được bộc lộ khi xem xét cấu tạo của một Hành Tinh Thượng đế. Chẳng hạn, có bao nhiêu Đức Sanat Kumara? Một số ở các cấp độ bầu hành tinh? Một số ít hơn ở các cấp độ dãy? Một Đức Sanat Kumara khởi nguyên ở cấp độ hệ hành tinh?

212. The same question can be applied to Buddhas of Activity and their higher correspondences (cf. TCF 873). The various kinds of Buddhas, all interrelated and the lesser as emanations of the greater, are found at the globe, chain and scheme levels.

212. Cùng một câu hỏi có thể được áp dụng cho các Đức Phật Hoạt Động và các tương ứng cao hơn của các Ngài (x. TCF 873). Các loại Đức Phật khác nhau, tất cả đều liên hệ với nhau và loại thấp hơn là những xuất lộ của loại cao hơn, được tìm thấy ở các cấp độ bầu hành tinh, dãy và hệ hành tinh.

213. By understanding the dynamics of the process of emanation, it is possible to speak of an ‘originating being’ in terms of His emanations. The lesser emanations naturally would have a lesser scope of expression, but the emanative source works through the lesser emanations.

213. Bằng cách thấu hiểu động lực của tiến trình xuất lộ, người ta có thể nói về một ‘hữu thể khởi nguyên’ theo các xuất lộ của Ngài. Các xuất lộ thấp hơn dĩ nhiên sẽ có phạm vi biểu lộ nhỏ hơn, nhưng nguồn xuất lộ ấy lại hoạt động qua các xuất lộ thấp hơn.

214. Thus, in a planetary scheme, there are many individual Heavenly Men (as there are a number of globes and chains), and yet, but one Heavenly Man (the emanative source of them all—the Planetary Logos).

214. Vì vậy, trong một hệ hành tinh, có nhiều Đấng Thiên Nhân cá biệt (cũng như có một số bầu hành tinh và dãy), nhưng đồng thời chỉ có một Đấng Thiên Nhân (nguồn xuất lộ của tất cả các vị ấy—Hành Tinh Thượng đế).

215. Entities of different power and scope are ‘spread’ differently across the systemic and cosmic planes. Each type of entity has its own particular ‘space’ for expression.

215. Các thực thể có quyền năng và phạm vi khác nhau được “trải” khác nhau trên các cõi của hệ thống và các cõi vũ trụ. Mỗi loại thực thể có “không gian” biểu lộ riêng biệt của nó.

It might be stated that:

Có thể phát biểu rằng:

1. He vitalises them by His life and heat.

1. Ngài tiếp sinh lực cho chúng bằng sự sống và nhiệt của Ngài.

216. Life relates to the first aspect of divinity and “heat” to the third. In this context, “light” relates to the second aspect.

216. Sự sống liên hệ với phương diện thứ nhất của thiên tính và “nhiệt” với phương diện thứ ba. Trong ngữ cảnh này, “ánh sáng” liên hệ với phương diện thứ hai.

2. He animates them.

2. Ngài làm cho chúng sinh động.

217. The word “animate” suggests not only vitalization but the influence of the soul or “anima”.

217. Từ “làm cho sinh động” gợi ý không chỉ sự tiếp sinh lực mà còn ảnh hưởng của linh hồn hay “anima”.

3. He is fully conscious through them.

3. Ngài hoàn toàn có tâm thức qua chúng.

218. Through both His etheric and dense vehicles, or only through His etheric vehicle, since the dense vehicle is not a principle?

218. Qua cả hai vận cụ dĩ thái và đậm đặc của Ngài, hay chỉ qua vận cụ dĩ thái của Ngài, vì vận cụ đậm đặc không phải là một nguyên khí?

219. What does it mean that the Solar Logos descends no lower than the systemic buddhic plane?

219. Điều đó có nghĩa gì khi nói rằng Thái dương Thượng đế không giáng xuống thấp hơn cõi Bồ đề của hệ thống?

220. One can imagine however, that as man solarizes his consciousness the consciousness of the Solar Logos would, through man, penetrate deeper and deeper into the matter which for Him is unprincipled.

220. Tuy nhiên, người ta có thể hình dung rằng khi con người thái dương hóa tâm thức của mình, tâm thức của Thái dương Thượng đế sẽ, thông qua con người, thâm nhập ngày càng sâu hơn vào vật chất vốn đối với Ngài là không có nguyên khí.

4. The etheric is in time His lowest principle, but the dense physical is not counted.

4. Thể dĩ thái theo thời gian là nguyên khí thấp nhất của Ngài, nhưng thể hồng trần đậm đặc thì không được tính.

221. In what way “not counted”? Probably, simply, not counted as a principle.

221. “Không được tính” theo nghĩa nào? Có lẽ đơn giản là không được tính như một nguyên khí.

222. Does this mean that the Solar Logos is not fully conscious through His dense physical vehicles—the lower three systemic planes? That they are below the threshold of His consciousness, just as there are certain physiological functions in man’s body which are below the threshold?

222. Điều này có nghĩa rằng Thái dương Thượng đế không hoàn toàn có tâm thức qua các vận cụ hồng trần đậm đặc của Ngài—ba cõi thấp của hệ thống? Rằng chúng ở dưới ngưỡng tâm thức của Ngài, cũng như có những chức năng sinh lý nào đó trong thể con người ở dưới ngưỡng ấy?

223. The words “in time” are enigmatic. Does this suggest that the principles of the Solar Logos are numbered differently ‘out of time’?

223. Những từ “theo thời gian” thật bí ẩn. Điều này có gợi ý rằng các nguyên khí của Thái dương Thượng đế được đánh số khác đi khi ‘ngoài thời gian’ không?

224. Perhaps, time and space (as we conceived them) only refer to the cosmic physical plane on which the solar logoic etheric body is the only principle.

224. Có lẽ thời gian và không gian (như chúng ta quan niệm) chỉ quy chiếu đến cõi hồng trần vũ trụ, trên đó thể dĩ thái thái dương thượng đế là nguyên khí duy nhất.

The dense cosmic physical body is composed of matter of the three lower planes of the solar system, the mental, the astral and the physical. The buddhic plane is consequently the fourth cosmic ether.

Thể hồng trần vũ trụ đậm đặc được cấu thành từ vật chất của ba cõi thấp của hệ mặt trời: cõi trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần. Do đó cõi Bồ đề là dĩ thái vũ trụ thứ tư.

225. This is simple cosmic geography and must be grasped by all students of TCF.

225. Đây là địa lý học vũ trụ đơn giản và phải được mọi đạo sinh của TCF nắm vững.

226. VSK asks: “Why in this last sentence, is “consequently” italicized – emphasizing this point?” 

226. VSK hỏi: “Vì sao trong câu cuối này, từ “consequently” lại được in nghiêng—để nhấn mạnh điểm này?” 

227. May it be suggested that the relationship between man and the Solar Logos is simply being driven home?

227. Có thể gợi ý rằng mối liên hệ giữa con người và Thái dương Thượng đế đơn giản đang được nhấn mạnh chăng?

228. Also, the abstraction of the Solar Logos from the lower three systemic planes is being emphasized.

228. Ngoài ra, sự trừu xuất của Thái dương Thượng đế khỏi ba cõi hệ thống thấp cũng đang được nhấn mạnh.

d. The Heavenly Men form the seven centres in the body of the Logos.

d. Các Đấng Thiên Nhân tạo thành bảy trung tâm trong thể của Thượng đế.

229. Yes, seven, but by other enumerations there are ten Heavenly Men. Or are there really twelve major Heavenly Men, for, one day, each constellation of the zodiac will be known as ruled by one of the Planetary Logoi.

229. Đúng, bảy, nhưng theo những cách liệt kê khác thì có mười Đấng Thiên Nhân. Hay thật ra có mười hai Đấng Thiên Nhân chính yếu, vì một ngày kia, mỗi chòm sao trong hoàng đạo sẽ được biết là do một trong các Hành Tinh Thượng đế cai quản.

230. The Heavenly Men here referenced must necessarily be Scheme Lords. The lesser, emanative extensions of the Planetary Logos are not centres in the body of the Logos.

230. Các Đấng Thiên Nhân được nhắc đến ở đây nhất thiết phải là các Chúa Tể của hệ hành tinh. Những sự mở rộng xuất lộ thấp hơn của Hành Tinh Thượng đế không phải là các trung tâm trong thể của Thượng đế.

Therefore, They are the spheres of fire which animate His body, and each of Them expresses one form of His force manifestation, according to Their place within the body.

Vì vậy, Các Ngài là những khối cầu lửa làm sinh động thể của Ngài, và mỗi Đấng trong Các Ngài biểu lộ một hình thức biểu hiện mãnh lực của Ngài, tùy theo vị trí của Các Ngài trong thể ấy.

231. Another name for a chakra is a “sphere of fire”.

231. Một tên gọi khác của luân xa là “khối cầu lửa”.

232. One of the great questions is: how can any entity be itself to itself, and yet constitute but a functional part of a greater encompassing entity?

232. Một trong những câu hỏi lớn là: làm sao bất kỳ thực thể nào có thể là chính nó đối với chính nó, mà đồng thời lại chỉ cấu thành một phần chức năng của một thực thể bao quát lớn hơn?

233. This is only possible if apparently separate entities are not separate at all. Every sphere is organically related to a larger encompassing sphere, until the universal ‘Sphere of all Spheres’ is reached.

233. Điều này chỉ có thể nếu những thực thể có vẻ tách biệt thật ra hoàn toàn không tách biệt. Mỗi khối cầu đều liên hệ hữu cơ với một khối cầu bao quát lớn hơn, cho đến khi đạt tới ‘Khối Cầu của mọi Khối Cầu’ vũ trụ.

e. Human beings, when centred within their groups on causal levels, form one or other of the seven centres in the body of a Heavenly Man.

e. Con người, khi được định tâm trong các nhóm của mình trên các cấp độ nguyên nhân, tạo thành trung tâm này hay trung tâm kia trong thể của một Đấng Thiên Nhân.

234. Here is a big hint. What kind of Heavenly Man are we discussing? It surely must be evident that in the section of TCF we are studying the mystery of the various types of Heavenly Men through subtle hints if not over statements.

234. Đây là một gợi ý lớn. Chúng ta đang bàn về loại Đấng Thiên Nhân nào? Hẳn phải rõ rằng trong phần của TCF mà chúng ta đang nghiên cứu, chúng ta đang khảo sát huyền nhiệm về các loại Đấng Thiên Nhân khác nhau qua những gợi ý tinh tế, nếu không phải là những phát biểu trực tiếp.

235. If planetary chains are as major chakras to a Heavenly Man (considered as the Planetary Logos), then (in relation to such a Heavenly Man) what kind of centers or chakras are formed by human beings within their groups on causal levels?

235. Nếu các dãy hành tinh là những luân xa chính đối với một Đấng Thiên Nhân (được xem như Hành Tinh Thượng đế), thì (liên hệ với một Đấng Thiên Nhân như thế) con người trong các nhóm của mình trên các cấp độ nguyên nhân tạo thành loại trung tâm hay luân xa nào?

236. The answer must come—“much smaller centers”.

236. Câu trả lời hẳn phải là—“những trung tâm nhỏ hơn nhiều”.

237. However, if the type of Heavenly Man discussed is a Globe Lord, then it is conceivable that groups of human beings on causal levels could serve as at least minor centers in relation to such an entity.

237. Tuy nhiên, nếu loại Đấng Thiên Nhân được bàn đến là một Chúa Tể của bầu hành tinh, thì có thể hình dung rằng các nhóm người trên các cấp độ nguyên nhân có thể phục vụ như ít nhất là những trung tâm phụ đối với một thực thể như vậy.

238. It would seem that the seven major groups of human Monads on the systemic monadic plane could serve as the major seven centers of a Globe Lord.

238. Có vẻ như bảy nhóm lớn các chân thần người trên cõi chân thần hệ thống có thể phục vụ như bảy trung tâm chính của một Chúa Tể của bầu hành tinh.

239. On the chain level, all Monads on all globes of a chain would have to be considered in seven great aggregates, even to comprise minor chain centers—for are not the globes within a chain the major chakras of that chain?

239. Ở cấp độ dãy, tất cả các chân thần trên mọi bầu hành tinh của một dãy sẽ phải được xét trong bảy tập hợp lớn, ngay cả để cấu thành những trung tâm dãy phụ—vì chẳng phải các bầu hành tinh trong một dãy là những luân xa chính của dãy đó sao?

240. We are just trying to keep our determinations in proportion through the Law of Analogy.

240. Chúng ta chỉ đang cố giữ cho các xác định của mình đúng tỉ lệ qua định luật tương đồng.

241. On the scheme level, all monads on all chains would have to be considered in seven great aggregates, even to comprise minor scheme centers, for are not the seven chains within a planetary scheme the seven major chakras of that scheme?

241. Ở cấp độ hệ hành tinh, tất cả các chân thần trên mọi dãy sẽ phải được xét trong bảy tập hợp lớn, ngay cả để cấu thành những trung tâm hệ hành tinh phụ, vì chẳng phải bảy dãy trong một hệ hành tinh là bảy luân xa chính của hệ đó sao?

Each of the seven chains might be looked upon as picturing the seven centres of one of the Heavenly Men. (TCF 206)

Mỗi một trong bảy dãy có thể được xem như phác họa bảy trung tâm của một trong các Đấng Thiên Nhân. (TCF 206)

242. We are dealing with a problem of scale which should not be ignored.

242. Chúng ta đang xử lý một vấn đề về quy mô mà không nên bỏ qua.

243. In relation to the excerpt above, we must also remember that the true groups of human beings which go to the constitution of a Heavenly Man are now focussed upon the triadal planes; i.e., the Hierarchy changed its focus to the buddhic plane and the majority of Ashrams are now found on the buddhic plane and not on the causal planes.

243. Liên hệ với đoạn trích trên, chúng ta cũng phải nhớ rằng các nhóm người đích thực cấu thành nên một Đấng Thiên Nhân hiện nay được tập trung trên các cõi tam nguyên tinh thần; tức là, Thánh đoàn đã chuyển trọng tâm sang cõi Bồ đề và đa số các ashram hiện nay được tìm thấy trên cõi Bồ đề chứ không phải trên các cõi nguyên nhân.

244. We have to debate whether TCF was written before this great ‘move’, during it, or after it (unlikely).

244. Chúng ta phải bàn xem liệu TCF được viết trước cuộc “chuyển dời” lớn lao này, trong khi nó diễn ra, hay sau đó (điều này khó xảy ra).

f. The solar Logos forms one centre in the body of a still greater cosmic ENTITY.

f. Thái dương Thượng đế tạo thành một trung tâm trong thể của một THỰC THỂ vũ trụ còn lớn hơn nữa.

245. This ENTITY is not what is usually considered the One About Whom Naught May Be Said, but a cosmic ENTITY which is only a chakra in the One About Whom Naught May Be Said. (cf. TCF 293).

245. THỰC THỂ này không phải là điều thường được xem là Đấng Bất Khả Tư Nghị, mà là một THỰC THỂ vũ trụ chỉ là một luân xa trong Đấng Bất Khả Tư Nghị. (xem TCF 293).

246. Not much is said about the Cosmic Logos who contains our solar system as but a chakra. Because not much is said, perhaps this ENTITY should be called the One About Whom Not Much Is Said!

246. Không có nhiều điều được nói về Thượng đế Vũ Trụ chứa hệ mặt trời của chúng ta chỉ như một luân xa. Vì không có nhiều điều được nói, có lẽ THỰC THỂ này nên được gọi là Đấng mà về Ngài Không Nhiều Điều Được Nói Đến!

Human beings therefore [Page 273] find their place within one of the forty-nine centres (not groups, for a centre may be made up of many groups, corresponding to the different parts) of the seven Heavenly Men.

Vì vậy, con người [Page 273] tìm thấy vị trí của mình trong một trong bốn mươi chín trung tâm (không phải các nhóm, vì một trung tâm có thể được tạo thành từ nhiều nhóm, tương ứng với các phần khác nhau) của bảy Đấng Thiên Nhân.

247. If the seven Heavenly Men have forty-nine centers, then it is reasonable to think of these centers as forty-nine planetary chains (of the principle seven Planetary Logoi).

247. Nếu bảy Đấng Thiên Nhân có bốn mươi chín trung tâm, thì hợp lý khi nghĩ về các trung tâm này như bốn mươi chín dãy hành tinh (của bảy Hành Tinh Thượng đế chính yếu).

248. The excerpt suggests that human beings are found on each and all of these forty-nine planetary chains.

248. Đoạn trích gợi ý rằng con người được tìm thấy trên từng và mọi dãy hành tinh trong bốn mươi chín dãy này.

249. How many groups go to the constitution of a center? Well, we can imagine that there are many, many kinds of lives and groups of lives which go to the constitution of a planetary chain.

249. Có bao nhiêu nhóm cấu thành một trung tâm? Chúng ta có thể hình dung rằng có rất, rất nhiều loại sự sống và nhóm sự sống cấu thành một dãy hành tinh.

250. What is being said is that man is not part of the constitution of all groups that constitute one of the forty-nine centers. This must be obvious, because some of those groups are animal, plant, deva, etc. groups.

250. Điều đang được nói là con người không phải là một phần trong cấu tạo của mọi nhóm cấu thành một trong bốn mươi chín trung tâm. Điều này hẳn là hiển nhiên, vì một số nhóm ấy là các nhóm động vật, thực vật, thiên thần, v.v.

251. This material about globes, chains and schemes is heavily veiled. It is so veiled, that we do not know how heavily it is veiled; we, therefore, imagine what is to be revealed as much more transparent than it really is.

251. Tài liệu này về các bầu hành tinh, các dãy và các hệ hành tinh được che phủ rất dày. Nó được che phủ đến mức chúng ta không biết nó được che phủ nặng đến mức nào; vì vậy, chúng ta tưởng tượng điều sẽ được tiết lộ minh bạch hơn thực tế rất nhiều.

252. Not until we know much more about the vibratory and ‘aggregatory’ nature of matter-substance and the many different methods of expressing polarity, will we know how chains and schemes are actually formed.

252. Chỉ đến khi chúng ta biết nhiều hơn rất nhiều về bản chất rung động và ‘kết tập’ của vật chất-chất liệu và nhiều phương pháp khác nhau để biểu lộ sự phân cực, chúng ta mới biết các dãy và các hệ hành tinh thực sự được hình thành như thế nào.

A Heavenly Man, with His seven centres,

Một Đấng Thiên Nhân, với bảy trung tâm của Ngài,

253. Here the term “Heavenly Man” definitely means one of the Planetary Logoi.

253. Ở đây, thuật ngữ “Đấng Thiên Nhân” chắc chắn có nghĩa là một trong các Hành Tinh Thượng đế.

254. These centers are planetary chains.

254. Các trung tâm này là các dãy hành tinh.

forms one centre in the body of the solar Logos.

tạo thành một trung tâm trong thể của Thái dương Thượng đế.

255. Determining which planetary schemes represent which centers is a vexed question requiring ongoing investigation.

255. Việc xác định hệ hành tinh nào tượng trưng cho trung tâm nào là một vấn đề nan giải, đòi hỏi sự khảo cứu liên tục.

256. Throughout these commentaries, many thoughts have been offered on this subject and will be offered.

256. Xuyên suốt các phần bình giải này, nhiều tư tưởng đã được nêu ra về chủ đề này và sẽ còn được nêu ra.

I would here point out to you the close connection existing between the seven Rishis of the Great Bear and the seven Heavenly Men.

Ở đây tôi muốn chỉ ra cho bạn mối liên hệ mật thiết hiện hữu giữa bảy Đấng Rishi của Đại Hùng Tinh và bảy Đấng Thiên Nhân.

257. The Seven Rishis are ‘prototypical’ to the Heavenly Men.

257. Bảy Đấng Rishi là những nguyên mẫu đối với các Đấng Thiên Nhân.

The seven Rishis (as They are called) of the Great Bear express Themselves through the medium of the seven planetary Logoi Who are Their Representatives and to Whom They stand in the relation of prototype. (EA 85)

Bảy Đấng Rishi (như Các Ngài được gọi) của Đại Hùng Tinh biểu lộ Chính Mình qua trung gian của bảy Hành Tinh Thượng đế, là những Đấng Đại Diện của Các Ngài và đối với các Ngài, Các Đấng Rishi đứng trong mối quan hệ nguyên mẫu. (EA 85)

The seven Rishis of the Great Bear are to Them what the Monad is to the evolving human unit.

Bảy Đấng Rishi của Đại Hùng Tinh đối với Các Ngài cũng như chân thần đối với đơn vị người đang tiến hoá.

258. If this is the case, what is the Solar Logos to the seven Heavenly Men? Does the Solar Logos stand more as the soul to the Heavenly Men?

258. Nếu đúng như vậy, thì Thái dương Thượng đế là gì đối với bảy Đấng Thiên Nhân? Có phải Thái dương Thượng đế đứng gần như linh hồn đối với các Đấng Thiên Nhân chăng?

259. Compared to the duration of a Monad, there are many appearances of the “evolving human unit”—IF by this phrase is meant the human personality.

259. So với thời lượng của một chân thần, có nhiều lần xuất hiện của “đơn vị người đang tiến hoá”—NẾU cụm từ này được hiểu là phàm ngã con người.

260. Of course, the “evolving human unit” could be considered as the soul nature of the human being.

260. Dĩ nhiên, “đơn vị người đang tiến hoá” có thể được xem là bản chất linh hồn của con người.

261. Really, both the personality and the soul nature (and its form) evolve, but the evolution of the soul nature and its form is the more substantial, and the degree of evolution of the personality is only a reflection of the evolution of the soul.

261. Thật ra, cả phàm ngã lẫn bản chất linh hồn (và hình tướng của nó) đều tiến hoá, nhưng sự tiến hoá của bản chất linh hồn và hình tướng của nó thì đáng kể hơn, còn mức độ tiến hoá của phàm ngã chỉ là sự phản chiếu của sự tiến hoá của linh hồn.

262. If, for instance, the “evolving human unit” meant the soul nature, then the Seven Rishis would hold the “Fixed Design” for each Heavenly Man, and the Heavenly Man would attempt to express this Fixed Design through its soul nature.

262. Chẳng hạn, nếu “đơn vị người đang tiến hoá” có nghĩa là bản chất linh hồn, thì Bảy Đấng Rishi sẽ nắm giữ “Thiết Kế Cố Định” cho mỗi Đấng Thiên Nhân, và Đấng Thiên Nhân sẽ cố gắng biểu lộ Thiết Kế Cố Định này qua bản chất linh hồn của mình.

263. One would expect at least several incarnations of a Heavenly Man during the term of supervision by one of the Rishis.

263. Người ta hẳn sẽ mong đợi ít nhất vài lần lâm phàm của một Đấng Thiên Nhân trong thời kỳ được một trong các Đấng Rishi giám sát.

264. Although this interesting analogy is given, it must not be forgotten that a Heavenly Man has His own monadic nature. His Monad and the Monad of one of the Seven Rishis are not identical in Time and Space, though essentially, they are the same (for all Monads are ONE).

264. Dù phép tương đồng thú vị này được đưa ra, không được quên rằng một Đấng Thiên Nhân có bản chất chân thần riêng của Ngài. Chân thần của Ngài và chân thần của một trong Bảy Đấng Rishi không đồng nhất trong Thời Gian và Không Gian, dù về bản chất, chúng là một (vì mọi chân thần đều là MỘT).

265. If the human Monad is the prototype to man (considered as a soul), then a Rishi (considered monadically) is a prototype to a Heavenly Man considered as a soul.

265. Nếu chân thần người là nguyên mẫu đối với con người (được xem như một linh hồn), thì một Đấng Rishi (được xét theo phương diện chân thần) là nguyên mẫu đối với một Đấng Thiên Nhân được xem như một linh hồn.

266. The analogy, however, is not exact.

266. Tuy nhiên, phép tương đồng này không chính xác hoàn toàn.

267. Whenever we say that a greater entity holds a function for that lower entity as a periodical vehicle of that lower entity (for instance, a soul or monad), we must realize that the lower entity has its own soul or Monad, and that the place held by the greater entity does not replace the soul function or monadic function of the lesser entity. This bears pondering.

267. Bất cứ khi nào chúng ta nói rằng một thực thể lớn hơn giữ một chức năng cho thực thể thấp hơn như một vận cụ chu kỳ của thực thể thấp hơn ấy (chẳng hạn như một linh hồn hay chân thần), chúng ta phải nhận ra rằng thực thể thấp hơn có linh hồn hoặc Chân thần riêng của nó, và vị trí do thực thể lớn hơn nắm giữ không thay thế chức năng linh hồn hay chức năng chân thần của thực thể nhỏ hơn. Điều này đáng để suy ngẫm.

VII. WHY IS THE PROGRESS OF EVOLUTION CYCLIC?

VII. TẠI SAO TIẾN TRÌNH TIẾN HOÁ LẠI CÓ TÍNH CHU KỲ?

This question is one which necessarily appalls us and makes us wonder.

Câu hỏi này là một câu hỏi nhất thiết khiến chúng ta kinh ngạc và tự hỏi.

268. VSK muses: “Well, now that you mention it, I could be appalled, but I didn’t know it was that bad. Now I wonder more …”

268. VSK ngẫm nghĩ: “Ồ, giờ bạn nhắc đến thì tôi có thể kinh ngạc, nhưng tôi đâu biết nó nghiêm trọng đến thế. Giờ tôi càng thắc mắc hơn …”

269. It would seem that one would have to know a great deal more than we do to be sufficiently appalled!

269. Có vẻ như người ta sẽ phải biết nhiều hơn chúng ta rất nhiều mới có thể kinh ngạc đầy đủ!

270. We do know that those who consider the progress of evolution as simply linear, will never understand the true process. For them, the science of astrology will be irrelevant and the process of reincarnation (as it is) practically meaningless.

270. Chúng ta biết rằng những ai xem tiến trình tiến hoá chỉ đơn thuần là tuyến tính sẽ không bao giờ hiểu được tiến trình đích thực. Đối với họ, khoa học chiêm tinh sẽ không thích đáng và tiến trình luân hồi (đúng như nó là) hầu như vô nghĩa.

Let us, therefore, deal with it as follows: Certain ideas are involved in the thought of cyclic progression, and these ideas it might pay us well to contemplate.

Vì vậy, chúng ta hãy bàn đến nó như sau: Có những ý tưởng nhất định hàm chứa trong tư tưởng về sự tiến triển theo chu kỳ, và những ý tưởng này rất đáng để chúng ta chiêm ngưỡng.

271. Now we will analyze the concept of “cyclic progression”.

271. Giờ đây chúng ta sẽ phân tích khái niệm “sự tiến triển theo chu kỳ”.

1. The Idea of Repetition.

1. Ý tưởng về sự lặp lại.

272. Without repetition, there is insufficient progression for growth. The greater must impart itself to the lesser. Because the absorptive power of the lesser is limited in scope compared to what is to be imparted by the greater, the instrumentality of repetition is needed to render the impartation successful.

272. Không có sự lặp lại thì không có đủ sự tiến triển cho tăng trưởng. Cái lớn hơn phải truyền đạt chính nó cho cái nhỏ hơn. Vì năng lực hấp thụ của cái nhỏ hơn bị giới hạn về phạm vi so với điều sẽ được cái lớn hơn truyền đạt, nên phương tiện lặp lại là cần thiết để làm cho sự truyền đạt thành công.

273. As human beings, we repeat what we have to say in order to make an impression.

273. Là con người, chúng ta lặp lại điều mình phải nói để tạo ấn tượng.

274. We do notice how often and from how many different angles DK seems to repeat Himself so that we may understand.

274. Chúng ta nhận thấy Chân sư DK dường như thường lặp lại Chính Mình biết bao và từ bao nhiêu góc độ khác nhau để chúng ta có thể thấu hiểu.

This repetition involves the following factors:

Sự lặp lại này bao gồm các yếu tố sau:

a. Repetition in time: The thought of cyclic activity necessitates periods of time of differing length—greater or lesser cycles—but (according to their length) of uniform degree.

a. Sự lặp lại trong thời gian: Tư tưởng về hoạt động theo chu kỳ đòi hỏi những khoảng thời gian có độ dài khác nhau—những chu kỳ lớn hơn hay nhỏ hơn—nhưng (theo độ dài của chúng) có mức độ đồng nhất.

275. Different cycles are of different duration. However, a particular category of cycle will be of uniform duration.

275. Những chu kỳ khác nhau có thời lượng khác nhau. Tuy nhiên, một loại chu kỳ nhất định sẽ có thời lượng đồng nhất.

276. The term “degree”, however, is perplexing.

276. Tuy nhiên, thuật ngữ “mức độ” thật khó hiểu.

277. A being in manifestation will pass through certain repetitive cycles in time. I, who occupy a certain space, will pass through a certain number of uniform days—the days of my ongoingness.

277. Một hữu thể đang biểu hiện sẽ đi qua những chu kỳ lặp lại nhất định trong thời gian. Tôi, kẻ chiếm một không gian nhất định, sẽ đi qua một số ngày đồng nhất nhất định—những ngày của sự tiếp diễn của tôi.

278. The period of Earth around the Sun will (at this approximate time in the evolutionary process of our solar system) always take 365¼ Earth days.

278. Chu kỳ Trái Đất quay quanh Mặt Trời sẽ (vào thời điểm gần đúng này trong tiến trình tiến hoá của hệ mặt trời chúng ta) luôn mất 365¼ ngày Trái Đất.

279. The uniformity of cyclic events is a vital principle of the order which characterizes cosmos. We do not expect that one revolution of the Earth around the Sun will be of the usual duration and the next revolution half as long.

279. Tính đồng nhất của các biến cố chu kỳ là một nguyên lý thiết yếu của trật tự đặc trưng cho vũ trụ. Chúng ta không mong đợi rằng một vòng quay của Trái Đất quanh Mặt Trời sẽ có thời lượng thông thường còn vòng quay kế tiếp lại chỉ dài bằng một nửa.

280. All this is another way of saying that the cycles of nature are regular. Cycles of different types have different durations, but cycles of the same type have uniform duration.

280. Tất cả điều này là một cách khác để nói rằng các chu kỳ của bản chất là đều đặn. Các chu kỳ thuộc những loại khác nhau có thời lượng khác nhau, nhưng các chu kỳ cùng loại có thời lượng đồng nhất.

281. When dealing with tightening and loosening spirals, the cycles proceed according to definite formulas and not randomly.

281. Khi bàn đến những vòng xoắn siết chặt và nới lỏng, các chu kỳ diễn tiến theo những công thức xác định chứ không ngẫu nhiên.

A manvantara, or Day of Brahma, is always of a certain length, and so is a mahamanvantara. The cycles wherein an atom of any plane revolves upon its axis are uniform on its own plane.

Một giai kỳ sinh hóa, hay Ngày của Brahma, luôn có một độ dài nhất định, và một Đại giai kỳ sinh hóa cũng vậy. Các chu kỳ trong đó một nguyên tử của bất kỳ cõi nào quay quanh trục của nó đều đồng nhất trên chính cõi của nó.

282. DK gives examples of the kind we have been discussing.

282. Chân sư DK đưa ra những ví dụ thuộc loại chúng ta đang bàn đến.

283. The uniform “Day of Brahma” is uniform with respect to our solar system and, perhaps, with respect to solar systems like ours. But presumably, there may be “Days of Brahma” in other kinds of systems which are of different duration from “Days of Brahma” within out own system.

283. “Ngày của Brahma” đồng nhất là đồng nhất đối với hệ mặt trời của chúng ta và, có lẽ, đối với những hệ mặt trời giống như hệ của chúng ta. Nhưng có lẽ, có thể có những “Ngày của Brahma” trong những loại hệ khác có thời lượng khác với những “Ngày của Brahma” trong chính hệ của chúng ta.

284. The cycles of any particular category of entity in nature are uniform “on its own plane”. This may mean that an entity, whose structure consists of a number of planes, has cycles of revolution which are different on the various planes upon which it expresses—different, but uniform on each particular plane.

284. Các chu kỳ của bất kỳ loại thực thể riêng biệt nào trong bản chất đều đồng nhất “trên chính cõi của nó”. Điều này có thể có nghĩa là một thực thể, có cấu trúc gồm một số cõi, có các chu kỳ quay khác nhau trên những cõi khác nhau mà nó biểu lộ—khác nhau, nhưng đồng nhất trên từng cõi riêng biệt.

285. One wonders whether we are being told that a “Day of Brahma” has something to do with revolution/rotation upon an axis.

285. Người ta tự hỏi liệu chúng ta có đang được bảo rằng một “Ngày của Brahma” có liên hệ nào đó với sự quay/quay tròn quanh một trục hay không.

286. One wonders further whether repetition in time always involves revolution and rotation (as distinct from vibration).

286. Người ta còn tự hỏi thêm liệu sự lặp lại trong thời gian có luôn bao hàm sự quay và quay tròn (phân biệt với rung động) hay không.

287. We learn from HPB that such a “Day” can be determined by planetary movement.

287. Chúng ta học được từ HPB rằng một “Ngày” như vậy có thể được xác định bằng chuyển động hành tinh.

“One day out of this long life of Brahma is called Kalpa; and a Kalpa is that portion of time which intervenes between one conjunction of all the planets on the horizon of Lanka, at the first point of Aries, and a subsequent similar conjunction.” (TCF 36, note 6)

“Một ngày trong đời sống dài lâu này của Brahma được gọi là Kalpa; và một Kalpa là khoảng thời gian xen giữa một lần đồng vị của tất cả các hành tinh trên chân trời Lanka, tại điểm đầu tiên của Bạch Dương, và một lần đồng vị tương tự tiếp theo.” (TCF 36, chú thích 6)

288. We have been describing “Repetition in Time”.

288. Chúng ta đã mô tả “Sự lặp lại trong Thời gian”.

289. This type of repetition may be considered related to the kind of repetition described below.

289. Loại lặp lại này có thể được xem là có liên hệ với loại lặp lại được mô tả dưới đây.

b. Repetition in fact:  This involves the idea of a key measure, or sound of any particular group of atoms that go to the composition of any particular form.

b. Sự lặp lại trong sự kiện:  Điều này bao hàm ý tưởng về một nhịp độ chủ âm, hay âm thanh của bất kỳ nhóm nguyên tử riêng biệt nào cấu thành bất kỳ hình tướng riêng biệt nào.

290. Here we are dealing with the phenomenon of frequency, pitch and key-note.

290. Ở đây chúng ta đang bàn đến hiện tượng tần số, cao độ và chủ âm.

291. The example suggests minute and extremely rapid cycles.

291. Ví dụ này gợi ý những chu kỳ cực nhỏ và cực kỳ nhanh.

292. When contrasting the first type of repetition with the second, we may have to contrast revolution/rotation with vibration/oscillation.

292. Khi đối chiếu loại lặp lại thứ nhất với loại thứ hai, có lẽ chúng ta phải đối chiếu sự quay/quay tròn với rung động/dao động.

293. It is clear that fact and form are related.

293. Rõ ràng là sự kiệnhình tướng có liên hệ với nhau.

This grouping of atoms will tend to the make-up of a particular series of circumstances and will repeat the measure or sound when an animating factor is brought to bear upon them.

Sự kết nhóm các nguyên tử này sẽ có xu hướng tạo nên một chuỗi hoàn cảnh riêng biệt và sẽ lặp lại nhịp độ hay âm thanh khi một yếu tố làm sinh động được tác động lên chúng.

294. If a certain stimulating note is sounding, a group of atoms (responding to the sounding note) will continue to be similarly related and will thus appear as an ongoing form—the form will remain the same. They repeat their relationship, and, thus, the circumstances they represent keep re-presenting themselves.

294. Nếu một âm điệu kích thích nào đó đang được xướng lên, một nhóm nguyên tử (đáp ứng với âm điệu đang vang lên) sẽ tiếp tục liên hệ với nhau theo cách tương tự và do đó sẽ xuất hiện như một hình tướng tiếp diễn—hình tướng sẽ vẫn như cũ. Chúng lặp lại mối liên hệ của mình, và do đó, những hoàn cảnh mà chúng biểu thị cứ tiếp tục tự trình hiện.

295. Something significant is here suggested about the habit nature.

295. Ở đây có điều gì đó quan trọng được gợi ra về bản chất thói quen.

296. When this type of repetition recurs, we say “the same thing happened again”.

296. Khi loại lặp lại này tái diễn, chúng ta nói “cùng một việc lại xảy ra”.

297. If circumstances are to change, then the frequency, pitch or key-notes of the associated atomic aggregates have to change.

297. Nếu hoàn cảnh phải thay đổi, thì tần số, cao độ hay các chủ âm của những tập hợp nguyên tử liên hệ phải thay đổi.

298. The atoms must become refined and newly aggregated if they are to respond differently to the animating factor to which, in the past, they always responded similarly. In other words, the animating factor is not solely responsible for the response; it is also the condition of the atoms, their quality and their relationship to each other.

298. Các nguyên tử phải trở nên tinh luyện và được kết tập lại theo cách mới nếu chúng phải đáp ứng khác đi với yếu tố làm sinh động mà trong quá khứ chúng luôn đáp ứng giống nhau. Nói cách khác, yếu tố làm sinh động không phải là điều duy nhất chịu trách nhiệm cho sự đáp ứng; còn có tình trạng của các nguyên tử, phẩm tính của chúng và mối liên hệ của chúng với nhau.

299. Change of circumstance can occur in two ways; either the condition of the responding atoms, their quality and their relationship to each other changes; or, the quality and intensity of the animating factor or note will change.

299. Sự thay đổi hoàn cảnh có thể xảy ra theo hai cách; hoặc tình trạng của các nguyên tử đáp ứng, phẩm tính của chúng và mối liên hệ của chúng với nhau thay đổi; hoặc phẩm tính và cường độ của yếu tố làm sinh động hay âm điệu sẽ thay đổi.

When the vitalising force is contacting at stated periods a certain set of atoms, it will call forth from them a specific sound which will demonstrate objectively as environing circumstances.  

Khi mãnh lực tiếp sinh lực tiếp xúc vào những thời điểm nhất định với một tập hợp nguyên tử nào đó, nó sẽ gọi ra từ chúng một âm thanh đặc thù, âm thanh này sẽ biểu hiện khách quan thành những hoàn cảnh bao quanh.  

300. In case we do not recognize it, we are being given a very clear lesson in micro-occultism.

300. Trong trường hợp chúng ta không nhận ra điều đó, thì ở đây chúng ta đang được trao cho một bài học rất rõ ràng về huyền bí học vi mô.

301. We also gather that circumstance is sound and sound is circumstance. As well, the sound of circumstance is an atomic evocation.

301. Chúng ta cũng hiểu rằng hoàn cảnh là âm thanhâm thanh là hoàn cảnh. Ngoài ra, âm thanh của hoàn cảnh là một sự gợi lên nguyên tử.

302. What is required for a change of circumstances can loosely be called ‘atomic reconditioning’.

302. Điều cần thiết cho một sự thay đổi hoàn cảnh có thể được gọi một cách lỏng là ‘sự tái định hình nguyên tử’.

In other words, [Page 274] the interplay of the Self and the not-self is invariably of a cyclic nature.

Nói cách khác, [Page 274] sự tương tác giữa Bản Ngã và không-phải-Bản Ngã luôn luôn có bản chất chu kỳ.

303. For instance, the Solar Angel sends out cyclic impulses to its ‘shadow man’. The man then responds according to his present condition.

303. Chẳng hạn, Thái dương Thiên Thần phát ra những xung lực chu kỳ đến ‘người bóng’ của nó. Khi ấy con người đáp ứng tùy theo tình trạng hiện tại của mình.

304. It is important to recognize that that factor within man (or any other type of Man) which we call the Self, relates to the not-Self in a cyclic manner.

304. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng yếu tố bên trong con người (hay bất kỳ loại Người nào khác) mà chúng ta gọi là Bản Ngã liên hệ với không-phải-Bản Ngã theo một cách thức chu kỳ.

The same quality in tone will be called forth by the Self as it indwells the form, but the key will ascend by gradual degrees.

Cùng một phẩm tính trong âm điệu sẽ được Bản Ngã gọi ra khi nó ngự trong hình tướng, nhưng chủ âm sẽ thăng lên theo những cấp độ dần dần.

305. A “key” is a tonal center or musical pitch around which a musical composition revolves and to which it invariably and finally returns (at least before writing with consistency in a given key was abandoned in the late 19th century).

305. Một “chủ âm” là một trung tâm âm điệu hay cao độ âm nhạc mà quanh đó một tác phẩm âm nhạc xoay chuyển và cuối cùng luôn quay về (ít nhất là trước khi việc sáng tác nhất quán trong một chủ âm nhất định bị từ bỏ vào cuối thế kỷ 19th).

306. It is the fundamental tone or tonic that is keyed-up—i.e., ascends by gradual degrees. Every entity (and both planes and sub-planes are atomic aggregates ensouled by great devic entities) has its fundamental note or keynote.

306. Chính âm cơ bản hay âm chủ được nâng lên—tức là, thăng lên theo những cấp độ dần dần. Mọi thực thể (và cả các cõi lẫn cõi phụ đều là những tập hợp nguyên tử được các thực thể thiên thần lớn phú linh) đều có âm cơ bản hay chủ âm của nó.

307. As the atomic form is refined and the interrelation of atoms is rendered more archetypal, the ability to vibrate to higher frequencies grows, and, correspondingly, the pitch or key of the atomic response rises. In other words, the atoms vibrate to a faster measure.

307. Khi hình tướng nguyên tử được tinh luyện và mối tương liên của các nguyên tử trở nên nguyên mẫu hơn, khả năng rung động với những tần số cao hơn tăng lên, và tương ứng như vậy, cao độ hay chủ âm của sự đáp ứng nguyên tử tăng lên. Nói cách khác, các nguyên tử rung động theo một nhịp độ nhanh hơn.

308. As the basic or fundamental note rises, the relationship between all atomic factors is intensified and purified.

308. Khi âm cơ bản hay âm nền tăng lên, mối liên hệ giữa mọi yếu tố nguyên tử được tăng cường và thanh lọc.

309. Our Solar Logos, for instance, has changed His key-note from F to G. This represents an elevated vibration and a change from the color green to blue.

309. Chẳng hạn, Thái dương Thượng đế của chúng ta đã đổi chủ âm của Ngài từ F sang G. Điều này biểu thị một rung động được nâng cao và một sự thay đổi từ màu lục sang màu lam.

310. The gradual degrees of ascent are the stages of the initiatory process.

310. Những cấp độ thăng lên dần dần là các giai đoạn của tiến trình điểm đạo.

311. All of initiation is a ‘keying-up’ in relation to higher stimulus.

311. Toàn bộ điểm đạo là một sự ‘nâng chủ âm’ trong liên hệ với kích thích cao hơn.

312. The “same quality in tone” reflects the fact that the basic identity of the responding aggregate remains the same; but as the quality of the aggregate changes (not the identity) the key-pitch or key-note changes.

312. “Cùng một phẩm tính trong âm điệu” phản ánh sự kiện rằng bản sắc cơ bản của tập hợp đáp ứng vẫn giữ nguyên; nhưng khi phẩm tính của tập hợp thay đổi (không phải bản sắc) thì cao độ chủ âm hay chủ âm thay đổi.

It is similar to the effect produced in striking the same note in different octaves, beginning at the base.

Điều này tương tự như hiệu quả tạo ra khi gõ cùng một nốt ở những quãng tám khác nhau, bắt đầu từ nốt trầm.

313. We recognize the same “quality” in a note sounded in its different octaves. F1. is twice as slow as F2, which is twice as slow as F3, which is four times as fast as F1. –BUT, each sounding of an F (though the Fs are of different frequencies) is qualitatively recognized as an F. We say to ourselves, “Ah, that is the same note sounded in different octaves”. The octave changes, but the note does not. If you are not convinced of this phenomenon, go to a piano and sound the different octaves of the same note and you will recognize the Tibetan’s point.

313. Chúng ta nhận ra cùng một “phẩm tính” trong một nốt được xướng lên ở những quãng tám khác nhau của nó. F1. chậm gấp đôi F2, và F3 lại nhanh gấp đôi F 2, tức nhanh gấp bốn lần F1. –NHƯNG, mỗi lần vang lên của một nốt F (dù các nốt F có tần số khác nhau) đều được nhận ra về mặt phẩm tính là một nốt F. Chúng ta tự nhủ, “À, đó là cùng một nốt được xướng lên ở những quãng tám khác nhau”. Quãng tám thay đổi, nhưng nốt thì không. Nếu bạn chưa tin hiện tượng này, hãy đến một cây đàn piano và gõ những quãng tám khác nhau của cùng một nốt, bạn sẽ nhận ra ý của Chân sư Tây Tạng.

314. One could begin with a high note and sound progressively lower octaves of that note; the recognition would be the same.

314. Người ta có thể bắt đầu với một nốt cao và lần lượt xướng những quãng tám thấp hơn của nốt ấy; sự nhận biết vẫn sẽ như nhau.

315. Does evolution begin at the “base”? Yes, in a way. Involution begins with a note of high frequency; the process takes the descending life to a note of low frequency; evolution is a re-ascent from low frequency to high frequency.

315. Tiến hoá có bắt đầu từ “đáy” không? Có, theo một nghĩa nào đó. Giáng hạ tiến hoá bắt đầu với một nốt có tần số cao; tiến trình này đưa sự sống đi xuống đến một nốt có tần số thấp; tiến hoá là sự thăng trở lại từ tần số thấp lên tần số cao.

316. In much of the description of Repetition in Fact, we notice that Repetition in Time is implied. The stimuli to which Repetition in Fact is made are very often cyclic stimuli repeated in time.

316. Trong phần lớn mô tả về Sự lặp lại trong Sự kiện, chúng ta nhận thấy Sự lặp lại trong Thời gian được hàm ý. Những kích thích mà Sự lặp lại trong Sự kiện đáp ứng đến rất thường là những kích thích chu kỳ được lặp lại trong thời gian.

317. A problem arises in considering the two excerpts above. Is the ascent of the key by gradual degrees done in octaves or in lesser divisions? The movement of our Solar Logos from a focus on the note F to a focus on the note G is not an ascent by octaves.

317. Một vấn đề nảy sinh khi xem xét hai đoạn trích trên. Sự thăng lên của chủ âm theo những cấp độ dần dần có diễn ra theo quãng tám hay theo những phân chia nhỏ hơn không? Sự chuyển dịch của Thái dương Thượng đế của chúng ta từ sự tập trung vào nốt F sang sự tập trung vào nốt G không phải là một sự thăng lên theo quãng tám.

318. Further, when considering the four notes of a man: the fundamental, the third of the personality, the fifth of the soul and the octave of the Monad, it is clear that the ascent from the base or fundamental passes through notes within the octave which separates the fundamental from the note of the Monad.

318. Hơn nữa, khi xét bốn âm điệu của một con người: âm cơ bản, quãng ba của phàm ngã, quãng năm của linh hồn và quãng tám của Chân thần, thì rõ ràng rằng sự thăng lên từ nền tảng hay âm cơ bản đi qua các âm điệu trong quãng tám vốn phân cách âm cơ bản với âm điệu của Chân thần.

319. If we wish to synthesize these ideas, we might say that ascent occurs both by octaves and by means of notes within the octave. Perhaps truly climactic evolutionary events are marked by achieving the higher octave of the fundamental from which the evolutionary process began.

319. Nếu muốn tổng hợp các ý tưởng này, chúng ta có thể nói rằng sự thăng lên diễn ra vừa bằng các quãng tám vừa bằng các âm điệu bên trong quãng tám. Có lẽ những biến cố tiến hoá thực sự mang tính cao trào được đánh dấu bằng việc đạt tới quãng tám cao hơn của âm cơ bản từ đó tiến trình tiến hoá đã khởi đầu.

c. Repetition in space:  This concept is involved deep in the greater concept of karma, which is really the law that governs the matter of the solar system, and which commenced its work in earlier solar systems.

c. Sự lặp lại trong không gian:  Khái niệm này hàm chứa sâu xa trong khái niệm lớn hơn về nghiệp quả, vốn thực sự là định luật chi phối vấn đề vật chất của hệ mặt trời, và đã bắt đầu công việc của nó trong các hệ mặt trời trước đós.

320. A man is born, then dies, then reappears in space, cyclically. He appears and disappears from space (i.e., from a given field of perception). This dynamic is related to the manifestation process and to the Law of Periodicity.

320. Một người được sinh ra, rồi chết đi, rồi lại xuất hiện trong không gian, theo chu kỳ. Y xuất hiện và biến mất khỏi không gian (tức là khỏi một trường tri giác nhất định). Động thái này liên hệ với tiến trình biểu hiện và với Định luật Chu Kỳ.

321. We are getting into deep matters here.

321. Ở đây chúng ta đang đi vào những vấn đề sâu xa.

322. Karma is an obscure subject and DK is offering some occult elucidation.

322. Nghiệp quả là một chủ đề tối nghĩa và Chân sư DK đang đưa ra một vài sự làm sáng tỏ huyền bí học.

323. Karma is related to materiality—to the nature, quality and disposition of matter.

323. Nghiệp quả liên hệ với tính vật chất—với bản chất, phẩm tính và sự sắp đặt của vật chất.

324. The Law of Karma, we are told, commenced its work in earlier solar systems—note the plural. These systems were all governed by the third aspect of divinity. Our solar system is the first in the series of six (or seven) which is to be governed by the second aspect.

324. Chúng ta được cho biết rằng Định luật Nghiệp quả đã bắt đầu công việc của nó trong các hệ mặt trời trước đós—hãy lưu ý số nhiều. Các hệ này đều được chi phối bởi phương diện thứ ba của thiên tính. Hệ mặt trời của chúng ta là hệ đầu tiên trong chuỗi sáu (hoặc bảy) hệ sẽ được chi phối bởi phương diện thứ hai.

We have, therefore, cycles in order, and repetition in an ever-ascending spiral, under definite law.

Do đó, chúng ta có các chu kỳ theo trật tự, và sự lặp lại trong một đường xoắn ốc luôn đi lên, dưới định luật xác định.

325. In the above excerpt, DK is trying to convey to us something about Repetition in Space.

325. Trong đoạn trích trên, Chân sư DK đang cố truyền đạt cho chúng ta điều gì đó về Sự lặp lại trong Không gian.

326. When we are told that we have “cycles in order”, something of Repetition in Time is suggested.

326. Khi được bảo rằng chúng ta có “các chu kỳ theo trật tự”, điều đó gợi ý phần nào về Sự lặp lại trong Thời gian.

327. Really, what is being described is spiral-cyclic motion—the motion of the second aspect of divinity.

327. Thực ra, điều đang được mô tả là chuyển động chu kỳ-xoắn ốc—chuyển động của phương diện thứ hai của thiên tính.

328. If time is related to the first and third aspects of divinity, space is related to the second aspect.

328. Nếu thời gian liên hệ với phương diện thứ nhất và thứ ba của thiên tính, thì không gian liên hệ với phương diện thứ hai.

329. Just as there was a uniformity of degree within a specific category of cycle in relation to Repetition in Time, so the spiral cycles, though not necessarily uniform, do proceed (not randomly) but under definite law. They also proceed in an orderly manner.

329. Cũng như đã có một tính đồng đều về cấp độ trong một loại chu kỳ nhất định liên hệ với Sự lặp lại trong Thời gian, thì các chu kỳ xoắn ốc, dù không nhất thiết đồng đều, vẫn tiến hành (không phải ngẫu nhiên) mà dưới định luật xác định. Chúng cũng tiến hành một cách có trật tự.

330. There is a suggestion that the second and seventh rays are cooperating.

330. Có một gợi ý rằng cung hai và cung bảy đang hợp tác với nhau.

331. A simple way of viewing this idea of Repetition in Space is that certain cyclic events occur in a certain order in the same location in space.

331. Một cách đơn giản để nhìn ý tưởng về Sự lặp lại trong Không gian này là một số biến cố chu kỳ xảy ra theo một trật tự nhất định tại cùng một vị trí trong không gian.

332. For instance, the appearance of the personality of man is a cyclic event and the evolution of that personality is a spiral-cyclic event. The appearance of that personality always occurs on this planet—i.e., in the same ‘place’ or ‘space’. Man, as a personality, reappears cyclically in the same space.

332. Chẳng hạn, sự xuất hiện của phàm ngã con người là một biến cố chu kỳ và sự tiến hoá của phàm ngã ấy là một biến cố chu kỳ-xoắn ốc. Sự xuất hiện của phàm ngã ấy luôn xảy ra trên hành tinh này— tức là, trong cùng một ‘nơi chốn’ hay ‘không gian’. Con người, với tư cách một phàm ngã, tái xuất hiện theo chu kỳ trong cùng một không gian.

333. VSK queries: “Why would karma be more related to space? As an ENTITY, is space the material and destiny therefore of Itself?

333. VSK nêu câu hỏi: “Tại sao nghiệp quả lại liên hệ với không gian nhiều hơn? Với tư cách một THỰC THỂ, phải chăng không gian là chất liệu và do đó là định mệnh của Chính Nó?

334. There is much to suggest that karma is equally related to time. Saturn, Lord of Karma, is also Lord of Time.

334. Có nhiều điều cho thấy nghiệp quả cũng liên hệ ngang nhau với thời gian. Sao Thổ, Chúa Tể của Nghiệp quả, cũng là Chúa Tể của Thời gian.

335. Jupiter, in its relation to karma, may have more to do with growthful repetition in space.

335. Sao Mộc, trong mối liên hệ của nó với nghiệp quả, có thể liên quan nhiều hơn đến sự lặp lại tăng trưởng trong không gian.growthful repetition in space.

336. Here is a brief summary of the three types of repetition thus far addressed:

336. Sau đây là bản tóm lược ngắn về ba loại lặp lại đã được đề cập cho đến nay:

a. The entity remains as it is, but rotates uniformly and revolves uniformly. Different types of entities rotate and revolve producing cycles of different duration, but there is uniformity within any type of cycle. For instance, planetary periods differ in duration from each other, but each cycle of a given planet is uniform in duration in relation to all the other cycles of that planet. Repetition in Time.

a. Thực thể vẫn giữ nguyên như nó là, nhưng quay đều và vận hành đều. Những loại thực thể khác nhau quay và vận hành tạo ra các chu kỳ có thời lượng khác nhau, nhưng có sự đồng đều trong bất kỳ loại chu kỳ nào. Chẳng hạn, các chu kỳ hành tinh khác nhau về thời lượng, nhưng mỗi chu kỳ của một hành tinh nhất định đều đồng đều về thời lượng so với tất cả các chu kỳ khác của hành tinh đó. Sự lặp lại trong Thời gian.

b. The entity remains more or less as it is, but its quality improves, so it rises in its frequency through the rising in frequency of its atomic constituents, but the frequency of the elements composing it may remain in relatively the same proportion though all units rise. If the relative proportion changed too much, the form would no longer be recognizable as itself. Its identity would have changed. We have two related types of repetition: Repetition in Fact and Repetition in Form (discussed below).

b. Thực thể vẫn ít nhiều như cũ, nhưng phẩm tính của nó được cải thiện, nên nó tăng tần số thông qua sự tăng tần số của các thành phần nguyên tử của nó, nhưng tần số của các nguyên tố cấu thành nó có thể vẫn giữ trong cùng một tỉ lệ tương đối dù mọi đơn vị đều tăng lên. Nếu tỉ lệ tương đối thay đổi quá nhiều, hình tướng sẽ không còn được nhận ra là chính nó nữa. Bản sắc của nó hẳn đã thay đổi. Chúng ta có hai loại lặp lại liên hệ với nhau: Sự lặp lại trong Sự kiện và Sự lặp lại trong Hình tướng (được bàn dưới đây).

c. The entity disappears and reappears, disappears and reappears according to karmic law. This is Repetition in Space.

c. Thực thể biến mất rồi tái xuất hiện, biến mất rồi tái xuất hiện theo định luật nghiệp quả. Đây là Sự lặp lại trong Không gian.

The thoughts thus conveyed might be expressed likewise as follows:

Những tư tưởng được truyền đạt như vậy cũng có thể được diễn đạt như sau:

337. The three kinds of repetition have been fairly comprehensible. It remains to be seen whether the same ease of comprehension will follow.

337. Ba loại lặp lại này khá dễ hiểu. Còn phải xem liệu cùng một sự dễ hiểu ấy có tiếp tục theo sau hay không.

a. The solar system repeating its activity

a. Hệ mặt trời lặp lại hoạt động của nó

….Repetition in Space.

….Sự lặp lại trong Không gian.

338. The macrocosmic unit with respect to the sequence of four types of repetition here listed, is the solar system. The solar system is the largest unit listed among these four.

338. Đơn vị đại thiên địa, xét theo chuỗi bốn loại lặp lại được liệt kê ở đây, là hệ mặt trời. Hệ mặt trời là đơn vị lớn nhất được liệt kê trong bốn đơn vị này.

339. It would seem that the solar system has its allotted space, and for the duration of the solar system that space is held.

339. Có vẻ như hệ mặt trời có không gian được phân định cho nó, và trong suốt thời gian tồn tại của hệ mặt trời, không gian ấy được giữ vững.

340. Of course, if we go beyond the context of one solar system, we will also find the solar system repeating in time.

340. Dĩ nhiên, nếu vượt ra ngoài bối cảnh của một hệ mặt trời, chúng ta cũng sẽ thấy hệ mặt trời lặp lại trong thời gian.

b. A planetary chain repeating its activity

b. Một dãy hành tinh lặp lại hoạt động của nó

….Repetition in Time.

….Sự lặp lại trong Thời gian.

341. Now, what do we mean by a “planetary chain”? We have seen that planetary schemes are sometimes (when compared to the solar system considered as a solar scheme) called “planetary chains”.

341. Vậy, giờ đây, chúng ta muốn nói gì khi nói “dãy hành tinh”? Chúng ta đã thấy rằng các hệ hành tinh đôi khi (khi so sánh với hệ mặt trời được xem như một hệ mặt trời) được gọi là “các dãy hành tinh”.

342. Or, by planetary chain, is a large chakra in a planetary scheme meant?

342. Hoặc, phải chăng dãy hành tinh có nghĩa là một luân xa lớn trong một hệ hành tinh?

343. We are told that a planetary scheme does not have the same number of chains at all times, and so it is possible that they appear and disappear.

343. Chúng ta được cho biết rằng một hệ hành tinh không có cùng một số dãy ở mọi thời điểm, và vì thế có thể là chúng xuất hiện rồi biến mất.

344. We also are faced with the question of whether a Planetary Logos functioning through a planetary scheme undergoes a number of incarnations during the incarnation of the solar system. If there are multiple incarnations of a scheme, then we would have Repetition in Time.

344. Chúng ta cũng phải đối diện với câu hỏi liệu một Hành Tinh Thượng đế hoạt động thông qua một hệ hành tinh có trải qua một số lần lâm phàm trong suốt sự lâm phàm của hệ mặt trời hay không. Nếu có nhiều lần lâm phàm của một hệ, thì chúng ta sẽ có Sự lặp lại trong Thời gian.

345. If there are several incarnations of a planetary chain (a major planetary chakra) we would also have Repetition in Time.

345. Nếu có nhiều lần lâm phàm của một dãy hành tinh (một luân xa hành tinh lớn) thì chúng ta cũng sẽ có Sự lặp lại trong Thời gian.

346. Also, an incarnation of a planetary scheme or planetary chain may not mean the complete disappearance and reappearance of the entire scheme or chain; it can mean a rotating change in emphasis upon any particular scheme or chakra. This would be another reasonable way of considering the processes of a planetary scheme or chain in relation to Repetition in Time.

346. Ngoài ra, một lần lâm phàm của một hệ hành tinh hay dãy hành tinh có thể không có nghĩa là toàn bộ hệ hay dãy hoàn toàn biến mất rồi tái xuất hiện; nó có thể có nghĩa là một sự thay đổi luân phiên về trọng tâm nhấn mạnh trên bất kỳ hệ hay luân xa cụ thể nào. Đây sẽ là một cách hợp lý khác để xem xét các tiến trình của một hệ hay dãy hành tinh liên hệ với Sự lặp lại trong Thời gian.

347. Yet it can be inferred that a planetary scheme or chain also has it proper space.

347. Tuy nhiên, có thể suy ra rằng một hệ hay dãy hành tinh cũng có không gian riêng thích hợp của nó.space.

c. The constant consecutive reverberation of a plane note, of a subplane note, and of all that is called into objectivity by that note

c. Sự vang dội liên tiếp không ngừng của một âm điệu cõi, của một âm điệu cõi phụ, và của tất cả những gì được gọi vào tính khách quan bởi âm điệu ấy

…..Plane Repetition.

…..Sự lặp lại của Cõi.

348. A new form of repetition is introduced here; it is called “Plane Repetition”. It does seem to relate to “Repetition in Fact”. Planar-circumstances and sub-planar-circumstances are called into manifestation by certain resounding keynotes vibrating to a certain frequencies. The concept of frequency implies the constant repetition of a vibratory cycle in which a certain number of vibrations occur per unit of time.

348. Ở đây một hình thức lặp lại mới được đưa vào; nó được gọi là “Sự lặp lại của Cõi”. Nó dường như có liên hệ với “Sự lặp lại trong Sự kiện”. Các hoàn cảnh cõi và cõi phụ được gọi vào biểu hiện bởi những chủ âm vang lên nhất định đang rung động ở những tần số nhất định. Khái niệm về tần số hàm ý sự lặp lại không ngừng của một chu kỳ rung động trong đó một số rung động nhất định xảy ra trên mỗi đơn vị thời gian.

349. Planes and subplanes, too, are keyed-up as evolution persists. That a plane or sub-plane continues to appear as an ‘evoked condition’ or circumstance is due to the constant sounding of the note characterizing it.

349. Các cõi và cõi phụ cũng được nâng âm khi tiến hoá tiếp diễn. Việc một cõi hay cõi phụ tiếp tục xuất hiện như một ‘điều kiện’ hay hoàn cảnh được gợi lên là do sự xướng lên liên tục của âm điệu đặc trưng cho nó.

350. There is a constant ‘consecutiveness’ to the reverberation of the plane note. The determined frequency is sustained. The plane note does not change pitch, unless by a definite act of will of the particular type of Logos Who is ensouling the plane.

350. Có một tính ‘liên tiếp’ không ngừng đối với sự vang dội của âm điệu cõi. Tần số đã được xác định được duy trì. Âm điệu cõi không đổi cao độ, trừ phi bởi một hành vi ý chí xác định của loại Thượng đế đặc thù đang phú linh cõi ấy.

d. The tendency of atoms to perpetuate their activity, and thus produce similarity of circumstance, of environment and of vehicle

d. Khuynh hướng của các nguyên tử muốn duy trì hoạt động của chúng, và do đó tạo ra sự tương tự về hoàn cảnh, về môi trường và về vận cụ

….Form Repetition.

….Sự lặp lại của Hình tướng.

351. The fact that we can recognize forms as persistent is due to “Form Repetition” which, again, seems to be related to “Repetition in Fact”. Form Repetition occurs within Plane Repetition. Forms are produced from the substance of planes. The planar and sub-planar substances are of a certain nature because of their keynote. Those substances, aggregated in unique mixtures, produce:

351. Sự kiện rằng chúng ta có thể nhận ra các hình tướng là bền vững là nhờ “Sự lặp lại của Hình tướng”, điều này, một lần nữa, dường như liên hệ với “Sự lặp lại trong Sự kiện”. Sự lặp lại của Hình tướng xảy ra trong Sự lặp lại của Cõi. Các hình tướng được tạo ra từ chất liệu của các cõi. Các chất liệu cõi và cõi phụ có một bản chất nhất định do chủ âm của chúng. Những chất liệu ấy, khi được kết tập trong những hỗn hợp độc đáo, tạo ra:

a. Similarity of circumstance

a. Sự tương tự về hoàn cảnh

b. Similarity of environment

b. Sự tương tự về môi trường

c. Similarity of vehicle

c. Sự tương tự về vận cụ

352. Within a given solar system (the bounded context which we are discussing), the Solar Logos ‘holds the space’ persistently; the schemes and chains endure for a greater or lesser time and are activated in order; the planes persist in a certain condition according to their keynote; the forms within the planes are evoked into continuing presence by the tendency of their atomic constituents to respond to stimulation in a repetitious manner.

352. Trong một hệ mặt trời nhất định (bối cảnh giới hạn mà chúng ta đang bàn đến), Thái dương Thượng đế ‘giữ không gian’ một cách bền bỉ; các hệ và các dãy tồn tại trong thời gian dài hay ngắn hơn và được hoạt hoá theo trật tự; các cõi tồn tại trong một điều kiện nhất định theo chủ âm của chúng; các hình tướng bên trong các cõi được gợi vào sự hiện diện liên tục bởi khuynh hướng của các thành phần nguyên tử của chúng đáp ứng với kích thích theo một cách lặp đi lặp lại.

When we carry these ideas on to every plane in the solar system, and from thence to the cosmic planes, we have opened up for ourselves infinitude.

Khi chúng ta mang những ý tưởng này đến mọi cõi trong hệ mặt trời, và từ đó đến các cõi vũ trụ, chúng ta đã mở ra cho chính mình tính vô cùng.

353. I would call it a ‘virtual infinitude’. The time spans involved are so great compared to the tiny life cycle of man that the time involved seems infinite.

353. Tôi sẽ gọi đó là một tính vô cùng ‘ảo như thật’. Những khoảng thời gian liên hệ ở đây quá lớn so với chu kỳ sống nhỏ bé của con người đến nỗi thời gian liên hệ dường như vô hạn.

354. It is clear that the principle of repetition—in space, in time, in fact, in form, in relation to planes and subplanes—is ubiquitous throughout the Universe.

354. Rõ ràng là nguyên lý lặp lại—trong không gian, trong thời gian, trong sự kiện, trong hình tướng, liên hệ với các cõi và cõi phụ—hiện diện khắp nơi trong Vũ trụ.

2. Repetition of Cyclic Action is Governed by Two Laws:

2. Sự lặp lại của Hoạt động Chu kỳ được chi phối bởi Hai Định luật:

355. Thus far we have dealt somewhat with the Idea of Repetition.

355. Cho đến nay chúng ta đã phần nào bàn đến Ý tưởng về Sự lặp lại.

356. We now deal with two laws governing Cyclic Action.

356. Giờ đây chúng ta bàn đến hai định luật chi phối Hoạt động Chu kỳ.

Perhaps it is more accurate to say that it is governed by one law, primarily, and a subsidiary law.

Có lẽ nói chính xác hơn là nó được chi phối chủ yếu bởi một định luật, và một định luật phụ.

357. DK approaches with specificity, arranging the two laws in a hierarchy.

357. Chân sư DK tiếp cận một cách cụ thể, sắp xếp hai định luật theo một thứ bậc.

This leads [Page 275] to two general types of cycles, and is involved in the very nature of the Self and of the not-self. The interplay of the two by the aid of mind produces that which we call environment or circumstance.

Điều này dẫn [Page 275] đến hai loại chu kỳ tổng quát, và hàm chứa trong chính bản chất của Ngã và vô-ngã. Sự tương tác của hai điều này với sự trợ giúp của trí tuệ tạo ra điều mà chúng ta gọi là môi trường hay hoàn cảnh.

358. Self is Spirit; not-Self is matter; mind is the link between the two (solar fire).

358. Ngã là Tinh thần; vô-ngã là vật chất; trí tuệ là mối liên kết giữa hai điều ấy (lửa thái dương).

359. Solar fire is the fire of ‘bridging mind’. It is quality of mind that can create a bridge between Spirit and Matter/matter. It comes (as far as we in our solar system are concerned) from the cosmic mental plane.

359. Lửa thái dương là lửa của ‘trí tuệ bắt cầu’. Chính phẩm tính của trí tuệ có thể tạo ra một cây cầu giữa Tinh thần và Vật chất/vật chất. Nó đến (ít nhất là đối với chúng ta trong hệ mặt trời này) từ cõi trí vũ trụ.

360. Is the Tibetan saying that environment and circumstance are produced by the interplay between two general types of cycles, or by the interplay between Self and not-self by the aid of mind? Let us seek clarification below.

360. Phải chăng Chân sư Tây Tạng đang nói rằng môi trường và hoàn cảnh được tạo ra bởi sự tương tác giữa hai loại chu kỳ tổng quát, hay bởi sự tương tác giữa Ngã và vô-ngã với sự trợ giúp của trí tuệ? Hãy tìm sự làm sáng tỏ ở dưới.

361. Repetition of Cyclic Action is involved in the very nature of the Self and the not-Self.

361. Sự lặp lại của Hoạt động Chu kỳ hàm chứa trong chính bản chất của Ngã và vô-ngã.

The general law, which produces cyclic effect, is the Law of Attraction and Repulsion, of which the subsidiary law is the Law of Periodicity, and of Rebirth.

Định luật tổng quát, tạo ra hiệu quả chu kỳ, là Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi, mà định luật phụ của nó là Định luật Chu Kỳ, và Tái sinh.

362. Here, the names of the two laws are given.

362. Ở đây, tên của hai định luật được nêu ra.

363. Since the Law of Periodicity is the second Fundamental of the Secret Doctrine, it is strange to see it presented as a subsidiary of the Law of Attraction.

363. Vì Định luật Chu Kỳ là Căn Bản thứ hai của Giáo Lý Bí Nhiệm, nên thật lạ khi thấy nó được trình bày như một định luật phụ của Định luật Hấp Dẫn.

364. If the Law of Attraction and Repulsion causes cyclic effect, let us see how this may be the case. Let us examine the reincarnational cycle of man. Death ensues when the attraction of the soul overpowers the attraction of matter. The incarnating consciousness is then repelled from the lower three worlds of form. Incarnation resumes (normally) when the attractive power of matter and the magnetic attraction towards the three worlds (which we call desire) overpower the attractive power which held the Jiva on higher mental plane. The Jiva, or reincarnating consciousness, is then temporarily repelled from the world of the soul and drawn into the lower three worlds.

364. Nếu Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi gây ra hiệu quả chu kỳ, hãy xem điều này có thể như thế nào. Hãy khảo sát chu kỳ tái sinh của con người. Cái chết xảy đến khi sức hút của linh hồn thắng thế sức hút của vật chất. Khi đó tâm thức nhập thể bị đẩy ra khỏi ba cõi thấp của hình tướng. Sự nhập thể lại tiếp tục (một cách bình thường) khi quyền năng hấp dẫn của vật chất và sức hút từ tính hướng về ba cõi giới (mà chúng ta gọi là dục vọng) thắng thế quyền năng hấp dẫn đã giữ Jiva trên Cõi thượng trí. Khi đó Jiva, hay tâm thức tái sinh, tạm thời bị đẩy khỏi thế giới của linh hồn và bị kéo vào ba cõi thấp.

365. These changes of attraction occur cyclically.

365. Những thay đổi về sức hút này xảy ra theo chu kỳ.

366. The two poles are alternatively activated. As well, surfeit in relation to one pole is experienced within the form simultaneously with a desire for the opposite pole; then this reverses. When surfeit is experienced in relation to one pole, attraction is experienced in relation to the opposite pole.

366. Hai cực được hoạt hoá luân phiên. Đồng thời, sự bão hoà quá mức đối với một cực được kinh nghiệm bên trong hình tướng cùng lúc với một ham muốn đối với cực đối nghịch; rồi điều này đảo ngược. Khi sự bão hoà quá mức được kinh nghiệm đối với một cực, thì sức hút được kinh nghiệm đối với cực đối nghịch.

367. Eventually, there is only attraction towards the Self which is not bi-polar.

367. Cuối cùng, chỉ còn sức hút hướng về Ngã vốn không lưỡng cực.

Cyclic evolution is entirely the result of the activity of matter, and of the Will or Spirit.

Tiến hoá chu kỳ hoàn toàn là kết quả của hoạt động của vật chất, và của Ý chí hay Tinh thần.

368. Spirit proceeds by pulsations. Matter will only configure itself under the moulding influence of a Spirit-pulsation. We might call such pulsation, ‘formative pulsation’. Rhythmic, formative, “moulding” pulsation produces cyclic evolution.

368. Tinh thần tiến hành bằng những nhịp xung. Vật chất chỉ tự cấu hình dưới ảnh hưởng uốn nắn của một nhịp xung của Tinh thần. Chúng ta có thể gọi nhịp xung như thế là ‘nhịp xung tạo hình’. Những nhịp xung nhịp nhàng, tạo hình, “uốn nắn” tạo ra tiến hoá chu kỳ.

369. We are considering the cause of cyclic evolution as an interplay between the first and third aspects of divinity.

369. Chúng ta đang xét nguyên nhân của tiến hoá chu kỳ như một sự tương tác giữa phương diện thứ nhất và thứ ba của thiên tính.

370. It is the consciousness (the product of Spirit and matter) that evolves spiral cyclically.

370. Chính tâm thức (sản phẩm của Tinh thần và vật chất) tiến hoá theo chu kỳ-xoắn ốc.

371. Pulsations come via the Will and are impulsed by Spirit. Pulsations rise in quality incrementally and carry progressively the “Fixed Design” of the archetype towards which consciousness must rise—spiral-cyclically.

371. Các nhịp xung đến qua Ý chí và được Tinh thần thúc đẩy. Các nhịp xung tăng lên về phẩm tính từng bước và mang ngày càng “Thiết Kế Cố Định” của nguyên mẫu mà tâm thức phải vươn lên tới—theo chu kỳ-xoắn ốc.

372. In colloquial language, the pulsations of Spirit persistently “raise the bar”.

372. Nói theo ngôn ngữ thông thường, các nhịp xung của Tinh thần liên tục “nâng chuẩn lên”.

373. Will is equated with Spirit. Elsewhere, Will is considered a faculty of the Spirit.

373. Ý chí được đồng nhất với Tinh thần. Ở nơi khác, Ý chí được xem là một năng lực của Tinh thần.

It is produced by the interaction of active matter and moulding Spirit.

Nó được tạo ra bởi sự tương tác giữa vật chất hoạt động và Tinh thần uốn nắn.

374. How interesting to consider Spirit as a factor which moulds.

374. Thật thú vị khi xem Tinh thần như một yếu tố uốn nắn.

375. We are reminded that Vulcan (a planetary force which shapes and moulds) is a first ray planet related to Spirit.

375. Chúng ta được nhắc rằng Vulcan (một mãnh lực hành tinh tạo hình và uốn nắn) là một hành tinh cung một liên hệ với Tinh thần.

376. The soul builds, but it builds to achieve that which is indicated by the mould of Spirit.

376. Linh hồn xây dựng, nhưng nó xây dựng để đạt được điều được chỉ ra bởi khuôn mẫu của Tinh thần.

377. The Monad/Spirit holds the archetypal form.

377. Chân thần/Tinh thần nắm giữ hình tướng nguyên mẫu.

Every form holds hid a Life.

Mọi hình tướng đều ẩn giấu một Sự sống.

378. The Spirit indwells every form.

378. Tinh thần ngự bên trong mọi hình tướng.

Every life constantly reaches out after the similar life latent in other forms.

Mọi sự sống không ngừng vươn ra tìm kiếm sự sống tương tự tiềm ẩn trong các hình tướng khác.

379. This relates to that later phase of the evolutionary process when Spirit begins to merge with Spirit; the One rediscovers itself in all things.

379. Điều này liên hệ với giai đoạn sau của tiến trình tiến hoá khi Tinh thần bắt đầu hợp nhất với Tinh thần; Đấng Duy Nhất tái khám phá chính mình trong vạn vật.

When Spirit and matter sound the same note evolution will cease.

Khi Tinh thần và vật chất xướng cùng một âm điệu, tiến hoá sẽ chấm dứt.

380. Soul is the means by which the note of Spirit is transferred to the note of matter. Soul is the modulator respecting both the note of Spirit and the note of matter.

380. Linh hồn là phương tiện nhờ đó âm điệu của Tinh thần được chuyển sang âm điệu của vật chất. Linh hồn là bộ điều biến đối với cả âm điệu của Tinh thần lẫn âm điệu của vật chất.

381. When the same note is sounded by Spirit and matter, we have reached a condition of stasis or equilibrium. There is then no more longing or desire (under the Law of Attraction) arising in matter/form. There is then no more need to bestow arising in Spirit (for the note of Spirit has been bestowed).

381. Khi cùng một âm điệu được Tinh thần và vật chất xướng lên, chúng ta đã đạt tới một trạng thái tĩnh tại hay quân bình. Khi đó không còn sự khao khát hay dục vọng nào nữa (dưới Định luật Hấp Dẫn) phát sinh trong vật chất/hình tướng. Khi đó cũng không còn nhu cầu ban phát nào phát sinh trong Tinh thần nữa (vì âm điệu của Tinh thần đã được ban phát).

382. The Law of Attraction and Repulsion has ceased. Spirit and matter are now as one and so there need be no more attraction between them.

382. Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi đã chấm dứt. Tinh thần và vật chất giờ đây như một, và vì thế không còn cần có sức hút giữa chúng nữa.

When the note sounded by the form is stronger than that of Spirit, we have attraction between forms.

Khi âm điệu do hình tướng xướng lên mạnh hơn âm điệu của Tinh thần, chúng ta có sức hút giữa các hình tướng.

383. At this stage, the power of Spirit is passive; forms are dynamic and interactive. Spirit exerts no felt influence.

383. Ở giai đoạn này, quyền năng của Tinh thần là thụ động; các hình tướng thì năng động và tương tác. Tinh thần không tạo ra ảnh hưởng khả cảm nào.

When the note sounded by Spirit is stronger than that of matter and form, we have Spirit repelling form.

Khi âm điệu do Tinh thần xướng lên mạnh hơn âm điệu của vật chất và hình tướng, chúng ta có Tinh thần đẩy lùi hình tướng.

384. At this stage, Spirit begins its long search for Spirit (at first discovering soul) and in doing so repels the form, for form is seen as an interference in the process of uniting Spirit to Spirit (even though Spirit is one in all things).

384. Ở giai đoạn này, Tinh thần bắt đầu cuộc tìm kiếm lâu dài của nó đối với Tinh thần (lúc đầu khám phá ra linh hồn), và khi làm như vậy nó đẩy lùi hình tướng, vì hình tướng được thấy như một sự cản trở trong tiến trình hợp nhất Tinh thần với Tinh thần (dù Tinh thần là một trong vạn vật).

Here we have the basis for the battlefield of life,

Ở đây chúng ta có cơ sở cho chiến trường của sự sống,

385. The battle is based on this: will Spirit win through the initial utilization of soul, or will matter continue to attract?

385. Cuộc chiến dựa trên điều này: liệu Tinh thần có chiến thắng thông qua việc sử dụng linh hồn ban đầu hay vật chất sẽ tiếp tục hấp dẫn?

and its myriads of intermediate stages, which might be expressed as follows:

và vô số giai đoạn trung gian của nó, có thể được diễn tả như sau:

a. The period of the domination of the form note is that of involution.

a. Giai đoạn âm điệu của hình tướng thống trị là giai đoạn của giáng hạ tiến hoá.

386. I, the Spirit in form, desire form, continuously forgetting that I am Spirit

386. Tôi, Tinh thần trong hình tướng, ham muốn hình tướng, liên tục quên rằng tôi là Tinh thần

b. The period of the repulsion of form by Spirit is that of the battlefield of the three worlds.

b. Giai đoạn Tinh thần đẩy lùi hình tướng là giai đoạn của chiến trường trong ba cõi giới.

387. To this should be added, ‘the intermittent repulsion of Spirit by form’. Christ was despised and rejected.

387. Nên thêm vào đây, ‘sự đẩy lùi gián đoạn của Tinh thần bởi hình tướng’. Đức Christ đã bị khinh miệt và chối bỏ.

388. Sometimes form will look attractive and sometimes not. The consciousness is caught between wanting form and not wanting it. The Law of Repulse, the fourth Law of the Soul, is active. There is an oscillating rejection of the not-Self.

388. Đôi khi hình tướng sẽ trông hấp dẫn và đôi khi thì không. Tâm thức bị mắc kẹt giữa việc muốn hình tướng và không muốn nó. Định luật Đẩy Lùi, Định luật thứ tư của Linh hồn, đang hoạt động. Có một sự khước từ dao động đối với vô-ngã.

389. During this stage, the instrument of Spirit (and warrior on behalf of Spirit) is soul—not really mentioned in this tabulation.

389. Trong giai đoạn này, công cụ của Tinh thần (và chiến binh thay mặt cho Tinh thần) là linh hồn—điều này thực ra không được nhắc đến trong bảng liệt kê này.

390. Yet, in a way, soul is also form, and the Spirit must one day repel the form-of-soul as well.

390. Tuy nhiên, theo một nghĩa nào đó, linh hồn cũng là hình tướng, và một ngày kia Tinh thần cũng phải đẩy lùi hình tướng-của-linh-hồn.

c. The period of the attraction of Spirit and Spirit, and the consequent withdrawal from form is that of the Path.

c. Giai đoạn của sức hút giữa Tinh thần và Tinh thần, và sự rút lui khỏi hình tướng do đó, là giai đoạn của Con Đường.

391. Here is an excellent definition of the Path.

391. Đây là một định nghĩa tuyệt vời về Con Đường.

392. An intermediate stage is to be attracted to soul qualities.

392. Một giai đoạn trung gian là bị hấp dẫn bởi các phẩm tính của linh hồn.

393. The attraction of Spirit and Spirit is recognized with the finding of pure being in an attraction.

393. Sức hút giữa Tinh thần và Tinh thần được nhận ra khi tìm thấy bản thể thuần túy trong một sức hút.

394. Soul attraction is based on quality; Spirit-attraction is based on that which transcends quality—pure being.

394. Sức hút của linh hồn dựa trên phẩm tính; sức hút của Tinh thần dựa trên điều vượt lên trên phẩm tính—bản thể thuần túy.

395. Practically, if attracted units can share the experience of being alive—spiritually, then the attracted units are approaching to the state of Spirit being attracted by Spirit. To the degree that we are consciously the Monad, we can do this.

395. Trên thực tế, nếu các đơn vị bị hấp dẫn có thể chia sẻ kinh nghiệm đang sống—về mặt tinh thần, thì các đơn vị bị hấp dẫn ấy đang tiến gần đến trạng thái Tinh thần bị Tinh thần hấp dẫn. Trong chừng mực chúng ta hữu thức là Chân thần, chúng ta có thể làm được điều này.

d. The period of domination of the note of Spirit is that of the higher planes of evolution.

d. Giai đoạn của sự thống trị của âm điệu Tinh thần là giai đoạn của các cõi tiến hoá cao hơn.

396. We are speaking of the note of the higher planes of evolution—the cosmic ethers.

396. Chúng ta đang nói về âm điệu của các cõi tiến hoá cao hơn—các dĩ thái vũ trụ.

397. Normally, until the later stages of evolution, life is weaker than quality. This is so until Spirit dominates.

397. Thông thường, cho đến các giai đoạn sau của tiến hoá, sự sống yếu hơn phẩm tính. Điều này đúng cho đến khi Tinh thần thống trị.

398. The note of Spirit is the note the Monad is sounding. It is preceded by the note of the soul within the causal body and by the note of the spiritual triad (which, with the note of Spirit, is muted by the note of the soul within the causal body—until the causal body is destroyed).

398. Âm điệu của Tinh thần là âm điệu mà Chân thần đang xướng lên. Nó được đi trước bởi âm điệu của linh hồn bên trong thể nguyên nhân và bởi âm điệu của Tam Nguyên Tinh Thần (mà cùng với âm điệu của Tinh thần, bị âm điệu của linh hồn bên trong thể nguyên nhân làm cho dịu xuống—cho đến khi thể nguyên nhân bị phá huỷ).

To the synchronisation of the notes, or to the lack of synchronisation, may be attributed all that occurs in the world cycles.

Mọi điều xảy ra trong các chu kỳ thế giới có thể được quy cho sự đồng bộ hóa của các âm điệu, hoặc cho sự thiếu đồng bộ hóa.

399. Synchronization causes the cessation of attraction and repulsion. Non-synchronization necessitates the continued activity of the Law of Attraction and Repulsion—leading to harmonization, unification and finally identification and synchronization.

399. Sự đồng bộ hóa gây ra sự chấm dứt của hấp dẫn và đẩy lùi. Sự không đồng bộ hóa đòi hỏi hoạt động tiếp tục của Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi—dẫn đến sự hài hoà, hợp nhất và cuối cùng là đồng hoá và đồng bộ hóa.

Thus we have the production of harmony; first, the basic note of matter, then the note of Spirit gradually overcoming the lower note and usurping attention [Page 276] till gradually the note of Spirit overpowers all other notes.

Như vậy chúng ta có sự tạo ra hài hoà; trước hết là âm điệu cơ bản của vật chất, rồi âm điệu của Tinh thần dần dần thắng vượt âm điệu thấp hơn và chiếm lấy sự chú ý [Page 276] cho đến khi dần dần âm điệu của Tinh thần áp đảo mọi âm điệu khác.

400. Here we have the entire evolutionary process expressed in musical terms.

400. Ở đây chúng ta có toàn bộ tiến trình tiến hoá được diễn đạt bằng ngôn ngữ âm nhạc.

401. When the note of Spirit overpowers all other notes, we have the perfection of the ‘Chord of the Monad’.

401. Khi âm điệu của Tinh thần áp đảo mọi âm điệu khác, chúng ta có sự hoàn thiện của ‘Hợp âm của Chân thần’.

“At first, there is dissonance and discord, a clashing of the colours, and a fight between the Higher and the Lower. But as time progresses, and later with the aid of the Master, harmony of colour and tone is produced (a synonymous matter), until eventually you will have the basic note of matter, the major third of the aligned Personality, the dominant fifth of the Ego, followed by the full chord of the Monad or Spirit.” (LOM 4)

“Thoạt đầu, có sự bất hoà và nghịch âm, sự xung đột của các màu sắc, và cuộc chiến giữa Cái Cao và Cái Thấp. Nhưng khi thời gian trôi qua, và về sau với sự trợ giúp của Chân sư, sự hài hoà của màu sắc và âm điệu được tạo ra (đó là những điều đồng nghĩa), cho đến cuối cùng bạn sẽ có âm điệu cơ bản của vật chất, quãng ba trưởng của Phàm ngã đã chỉnh hợp, quãng năm át của Chân ngã, tiếp theo là hợp âm trọn vẹn của Chân thần hay Tinh thần.” (LOM 4)

402. Has the “note of Spirit” usurped attention within our psyche? This note will eventually become demanding and dominant. But first the soul note, considered, literally as the dominant fifth, must attract attention.

402. Phải chăng “âm điệu của Tinh thần” đã chiếm lấy sự chú ý trong tâm lý của chúng ta? Âm điệu này cuối cùng sẽ trở nên đòi hỏi và thống trị. Nhưng trước hết âm điệu của linh hồn, được xem theo nghĩa đen là quãng năm át, phải thu hút sự chú ý.

403. The soul note attracts attention (utilizing the quality of the second ray); the note of Spirit usurps attention, utilizing the quality of the first ray.

403. Âm điệu của linh hồn thu hút sự chú ý (sử dụng phẩm tính của cung hai); âm điệu của Tinh thần chiếm lấy sự chú ý, sử dụng phẩm tính của cung một.

404. The word “usurping” is definitely a first ray word!

404. Từ “chiếm lấy” rõ ràng là một từ của cung một!

Yet it must be borne in mind that it is the note of the life that holds the form together.

Tuy nhiên cần ghi nhớ rằng chính âm điệu của sự sống giữ cho hình tướng kết hợp với nhau.

405. The note of matter would not be sounding if the note of Spirit ceased sounding.

405. Âm điệu của vật chất sẽ không vang lên nếu âm điệu của Tinh thần ngừng vang lên.

406. We remember the moulding effect of the Spirit. The coherence of matter is caused by a process of Spirit-moulding. Spirit forces material factors together creating a ring-pass-not. Soul sustains the enforced relationship through the power of attraction.

406. Chúng ta nhớ đến hiệu quả uốn nắn của Tinh thần. Sự kết dính của vật chất được gây ra bởi một tiến trình Tinh thần-uốn nắn. Tinh thần ép các yếu tố vật chất lại với nhau tạo ra một vòng-giới-hạn. Linh hồn duy trì mối quan hệ bị áp đặt ấy qua quyền năng của sức hút.

The note of the Sun, for instance, holds in just attraction the circling spheres, the planets.

Chẳng hạn, âm điệu của Mặt Trời giữ các khối cầu quay tròn, các hành tinh, trong một sức hút chính xác.

407. Here is a new angle on the Law of Attraction. The “note of the Sun” is an attractive force.

407. Đây là một góc nhìn mới về Định luật Hấp Dẫn. “Âm điệu của Mặt Trời” là một mãnh lực hấp dẫn.

408. Do we realize that in life we are attracted by various sounding notes, and even ‘held in orbit’ by certain greater notes. Just as the planets do, we circle around the sources from whence these notes emanate.

408. Chúng ta có nhận ra rằng trong đời sống chúng ta bị hấp dẫn bởi nhiều âm điệu đang vang lên khác nhau, và thậm chí còn được ‘giữ trong quỹ đạo’ bởi một số âm điệu lớn hơn nào đó không? Cũng như các hành tinh, chúng ta quay quanh những nguồn phát ra các âm điệu ấy.

409. The note of the Sun (in the present solar system) can be considered the note G.

409. Âm điệu của Mặt Trời (trong hệ mặt trời hiện tại) có thể được xem là nốt G.

410. We note that the type of attraction is “just attraction”, suggesting the influence of Libra, and a type of attraction which is not too great or too little. The attraction is absolutely balanced and proportionate (Libra) so that the circling spheres or planets can maintain their correct position relative to the source of attraction—the Sun.

410. Chúng ta lưu ý rằng loại hấp dẫn này là “chính là hấp dẫn”, gợi ý ảnh hưởng của Thiên Bình, và là một loại hấp dẫn không quá lớn cũng không quá nhỏ. Sức hấp dẫn ấy hoàn toàn quân bình và tương xứng (Thiên Bình) để các khối cầu hay hành tinh đang tuần hoàn có thể duy trì vị trí đúng đắn của chúng tương quan với nguồn hấp dẫn—Mặt Trời.

411. May we think that different notes sounding forth from the Sun will produce planetary orbits of different kinds? Perhaps the orbital arrangement created through the sounding of the note G is entirely different from the orbital arrangement in the last solar system which was produced by the sounding of the note F.

411. Chúng ta có thể nghĩ rằng những âm điệu khác nhau được xướng lên từ Mặt Trời sẽ tạo ra những quỹ đạo hành tinh thuộc những loại khác nhau chăng? Có lẽ sự sắp xếp quỹ đạo được tạo ra qua việc xướng lên nốt G hoàn toàn khác với sự sắp xếp quỹ đạo trong hệ mặt trời trước vốn được tạo ra qua việc xướng lên nốt F.

412. It may be that there will be seven solar systems, and that each of them sounded a particular note of the scale beginning with the fundamental note C. Our solar system is the fifth and the note G is the fifth note in the diatonic scale beginning with C.

412. Có thể sẽ có bảy hệ mặt trời, và mỗi hệ trong số đó đã xướng lên một nốt đặc thù của âm giai bắt đầu bằng nốt căn bản C. Hệ mặt trời của chúng ta là hệ thứ năm và nốt G là nốt thứ năm trong âm giai bảy nốt bắt đầu từ C.

413. From another perspective however, the next solar system is to be sounding the note of Will or C. Much thought will be required to clarify the number of solar systems through which our Solar Logos manifests and the nature of the different notes sounding through each.

413. Tuy nhiên, từ một góc độ khác, hệ mặt trời kế tiếp sẽ xướng lên nốt của Ý Chí hay C. Sẽ cần nhiều suy tư để làm sáng tỏ số lượng các hệ mặt trời qua đó Thái dương Thượng đế của chúng ta biểu hiện và bản chất của những nốt khác nhau được xướng lên qua mỗi hệ.

The notes synchronise and harmonise till the stage of adequacy is reached and the period of abstraction.

Các nốt đồng bộ hóa và hài hòa hóa cho đến khi đạt tới giai đoạn đầy đủ và thời kỳ trừu xuất.

414. The process of evolution (sonically considered) is very much the adjusting of note to note.

414. Tiến trình tiến hoá (xét về mặt âm thanh) phần lớn chính là sự điều chỉnh nốt này với nốt kia.

415. The stages of mutual interplay given are:

415. Các giai đoạn tương tác hỗ tương được nêu ra là:

a. Synchronization

a. Đồng bộ hóa

b. Harmonization

b. Hài hòa hóa

c. Adequacy

c. Sự đầy đủ

d. Abstraction.

d. Trừu xuất.

416. The term synchronization introduces the time factor. In order to harmonize properly, the notes involved must sound rhythmically in relation to each other. Their cycles must be related and synchronized.

416. Thuật ngữ đồng bộ hóa đưa vào yếu tố thời gian. Để hài hòa đúng đắn, các nốt liên hệ phải được xướng lên một cách nhịp điệu trong tương quan với nhau. Các chu kỳ của chúng phải có liên hệ và được đồng bộ hóa.

Cyclic evolution proceeds. A human being, similarly, holds (by means of his note) the atoms of the three bodies together, being to them as the central sun to the planets.

Tiến hoá theo chu kỳ tiếp diễn. Tương tự như vậy, một con người giữ các nguyên tử của ba thể lại với nhau (bằng nốt của y), đối với chúng cũng như mặt trời trung tâm đối với các hành tinh.

417. To the atoms of our little system we (the human being) are as the central sun is to the planets.

417. Đối với các nguyên tử của tiểu hệ của chúng ta, chúng ta (con người) cũng như mặt trời trung tâm đối với các hành tinh.

418. The atoms of our vehicles are held in attractive relation by the sounding of our note.

418. Các nguyên tử của các vận cụ chúng ta được giữ trong tương quan hấp dẫn nhờ việc xướng lên nốt của chúng ta.

419. The atoms do not so much revolve as rotate on their own axis. But the sheaths of our nature do revolve around a central axis. This type of revolution could equally be considered rotation.

419. Các nguyên tử không quay quanh nhiều cho bằng quay trên trục riêng của chúng. Nhưng các thể vỏ của bản chất chúng ta thì quay quanh một trục trung tâm. Loại chuyển động quay quanh này cũng có thể được xem là sự quay tròn.

Primarily, nevertheless, it may be posited that the Law of Attraction is the demonstration of the powers of Spirit, whilst the Law of Repulsion governs the form.

Tuy nhiên, trước hết, có thể khẳng định rằng Định luật Hấp Dẫn là sự biểu lộ các quyền năng của Tinh thần, trong khi Định luật Đẩy Lùi chi phối hình tướng.

420. We see the Law of Attraction (and Repulsion) as placed between Spirit and matter and partaking of the qualities of both.

420. Chúng ta thấy Định luật Hấp Dẫn (và Định luật Đẩy Lùi) được đặt giữa tinh thần và vật chất và dự phần vào các phẩm tính của cả hai.

421. Attraction, therefore, is fundamentally of the Spirit and repulsion of the form.

421. Do đó, hấp dẫn về căn bản thuộc về tinh thần, còn đẩy lùi thuộc về hình tướng.

422. From what is here suggested, the Law of Attraction and Repulsion represents an oscillation between the quality of Spirit and the quality of Matter.

422. Từ điều được gợi ý ở đây, Định luật Hấp Dẫn và Định luật Đẩy Lùi biểu thị một sự dao động giữa phẩm tính của Tinh thần và phẩm tính của Vật chất.

423. This statement reminds one of the thought—in relation to the Ray of Harmony through Conflict—that harmony represents the higher part of the ray and conflict the lower.

423. Phát biểu này gợi nhớ đến tư tưởng—liên quan đến Cung Hài Hòa qua Xung Đột—rằng hài hòa biểu thị phần cao hơn của cung, còn xung đột là phần thấp hơn.

Spirit attracts Spirit throughout the greater cycle.

Tinh thần hấp dẫn tinh thần trong suốt đại chu kỳ.

424. What kind of cycle is meant by “the greater cycle”? Would this be the type of cycle to which the Monad (uninvolved with descent into the five planes of human and superhuman evolution) is subjected?

424. “Đại chu kỳ” hàm ý loại chu kỳ nào? Có phải đây là loại chu kỳ mà chân thần (không dính líu đến sự giáng xuống năm cõi của tiến hoá nhân loại và siêu nhân loại) phải chịu không?

425. We do not know the pre-planetary history of the Monad nor its future. Perhaps both its history and future are involved “the greater cycle”. Certainly, it would seem to be true of its future.

425. Chúng ta không biết lịch sử tiền-hành tinh của chân thần cũng như tương lai của nó. Có lẽ cả lịch sử lẫn tương lai của nó đều nằm trong “đại chu kỳ”. Chắc chắn điều này dường như đúng đối với tương lai của nó.

In lesser cycles, Spirit temporarily attracts matter.

Trong các tiểu chu kỳ, tinh thần tạm thời hấp dẫn vật chất.

426. It would seem that, temporarily (for however many millions of years). humanity has been passing through a lesser cycle.

426. Dường như, một cách tạm thời (dù là trong bao nhiêu triệu năm), nhân loại đã và đang đi qua một tiểu chu kỳ.

427. Could we say that the entire ‘Pilgrimage into Matter’ of the Monad has been a lesser cycle? From what is here said, it would seem so.

427. Chúng ta có thể nói rằng toàn bộ cuộc “Hành Hương vào Vật Chất” của chân thần là một tiểu chu kỳ chăng? Từ điều được nói ở đây, dường như là như vậy.

428. The cycles in which the Spirit manifests via soul as the personality are, by this definition, “lesser cycles”.

428. Các chu kỳ trong đó Tinh thần biểu hiện qua linh hồn như là phàm ngã, theo định nghĩa này, là “tiểu chu kỳ”.

The tendency of Spirit is to merge and blend with Spirit.

Khuynh hướng của Tinh thần là hòa nhập và dung hợp với Tinh thần.

429. The Law of Spirit is the Law of Synthesis. Spirit seeks to merge with itself. Shall we say that the Spirit, temporarily bound by the form, seeks its liberation by finding Spirit in other forms?

429. Định luật của Tinh thần là Định luật Tổng Hợp. Tinh thần tìm cách hòa nhập với chính nó. Chúng ta có nên nói rằng Tinh thần, tạm thời bị ràng buộc bởi hình tướng, tìm kiếm sự giải thoát của mình bằng cách tìm thấy Tinh thần trong những hình tướng khác chăng?

430. All that is here said pertains to interplay within the Veil of Illusion, for we know that Spirit is, essentially, One.

430. Tất cả những gì được nói ở đây đều liên quan đến sự tương tác bên trong Bức Màn Ảo Tưởng, vì chúng ta biết rằng Tinh thần, về bản chất, là Một.

Form repulses form, and thus brings about separation.

Hình tướng đẩy lùi hình tướng, và do đó tạo ra sự phân ly.

431. The motion of form life is rotary. Rotating forms naturally spin off other forms with which they come into contact.

431. Chuyển động của sự sống hình tướng là chuyển động quay tròn. Những hình tướng quay tròn tự nhiên hất văng những hình tướng khác mà chúng tiếp xúc.

432. The purpose of form, per se, and operating under its own law (the Law of Economy) is to remain distinct from other forms.

432. Mục đích của hình tướng, chính nó, và khi vận hành dưới định luật riêng của nó (Định luật Tiết Kiệm), là duy trì sự phân biệt với các hình tướng khác.

But—during the great cycle of evolution

Nhưng—trong đại chu kỳ tiến hoá

433. … necessitating the fusing power of the second ray and the Law of Attraction…

433. … đòi hỏi quyền năng dung hợp của cung hai và Định luật Hấp Dẫn…

—when the third factor of Mind comes in,

—khi yếu tố thứ ba là Trí tuệ đi vào,

434. In this context, mind is the second which is the third—the “Son”, third in order, but second in placement within the Trinity.

434. Trong ngữ cảnh này, trí tuệ là yếu tố thứ hai mà lại là thứ ba—“Người Con”, thứ ba theo thứ tự, nhưng thứ hai về vị trí trong Tam Vị.

435. Mind (related to solar fire and originating on the cosmic mental plane) is the bridging energy.

435. Trí tuệ (liên hệ với lửa của trí tuệ và phát sinh trên cõi trí vũ trụ) là năng lượng bắt cầu.

and when the point of balance is the goal,

và khi điểm quân bình là mục tiêu,

436. That “point of balance” being governed by Libra with its mixture of third and second rays…

436. “Điểm quân bình” ấy được Thiên Bình chi phối với sự pha trộn của cung ba và cung hai…

437. We can see that Mind is an ordering faculty.

437. Chúng ta có thể thấy rằng Trí tuệ là một năng lực sắp xếp.

the cyclic display of the interaction between Spirit and form is seen, and the result is the ordered cycles of the planets, of a human being, and of an atom.

sự biểu lộ theo chu kỳ của sự tương tác giữa Tinh thần và hình tướng được thấy rõ,kết quả là các chu kỳ có trật tự của các hành tinh, của một con người, và của một nguyên tử.

438. Spiral cyclic motion—the second type of motion (related to Mind, as here described) produces forms which gradually evolve in ordered cycles.

438. Chuyển động xoắn ốc theo chu kỳ—loại chuyển động thứ hai (liên hệ với Trí tuệ, như được mô tả ở đây)—tạo ra những hình tướng dần dần tiến hoá trong các chu kỳ có trật tự.

439. Spirit moulds; matter is moulded; form (relating to the second aspect of divinity) is produced.

439. Tinh thần nắn khuôn; vật chất được nắn khuôn; hình tướng (liên hệ với phương diện thứ hai của thiên tính) được tạo ra.

440. While it may seem that “form” should relate more to the third aspect of divinity, it is truly related to the geometrizing of the second aspect.

440. Dù có vẻ như “hình tướng” nên liên hệ nhiều hơn với phương diện thứ ba của thiên tính, nhưng thật ra nó liên hệ với sự hình học hóa của phương diện thứ hai.

441. We could say, in a way, that form is related both to the third and second aspects, but more essentially to the second.

441. Theo một cách nào đó, chúng ta có thể nói rằng hình tướng liên hệ cả với phương diện thứ ba lẫn phương diện thứ hai, nhưng về cốt yếu thì với phương diện thứ hai nhiều hơn.

442. Spirit is sattvic, or pulsating; matter is tamasic, inert; form is rajasic—in a process of constant change as it seeks to approximate the Fixed Design inhering in Spirit.

442. Tinh thần là sattva, hay rung động; vật chất là tamas, trì trệ; hình tướng là rajas—trong một tiến trình biến đổi không ngừng khi nó tìm cách xấp xỉ Mô Hình Cố Định vốn nội tại trong Tinh thần.

443. There must eventually arise an orderly regulation in the oscillating process of attraction to Spirit and attraction to matter. This is the “cyclic display of the interaction between Spirit and form..,”

443. Cuối cùng phải xuất hiện một sự điều hòa có trật tự trong tiến trình dao động giữa hấp dẫn hướng về Tinh thần và hấp dẫn hướng về vật chất. Đây là “sự biểu lộ theo chu kỳ của sự tương tác giữa Tinh thần và hình tướng…”

444. The term “cosmos” suggests beauty and order. Cosmos also suggests the second ray, Mind and the Law of Attraction and Repulsion.

444. Thuật ngữ “vũ trụ” gợi ý vẻ đẹp và trật tự. Vũ trụ cũng gợi ý cung hai, Trí tuệ và Định luật Hấp Dẫn và Định luật Đẩy Lùi.

445. We can associate the Law of Attraction (and Repulsion) with the orderly building of the form and its orderly unfoldment through ordered cycles.

445. Chúng ta có thể liên kết Định luật Hấp Dẫn (và Định luật Đẩy Lùi) với sự kiến tạo có trật tự của hình tướng và sự khai mở có trật tự của nó qua các chu kỳ có trật tự.

446. We see how much seventh ray is suggested. Jupiter (a planet expressing both the second and seventh ray) is implicated in this process cyclic, developmental process.

446. Chúng ta thấy cung bảy được gợi ý nhiều đến mức nào. Sao Mộc (một hành tinh biểu lộ cả cung hai lẫn cung bảy) có liên can trong tiến trình theo chu kỳ, mang tính phát triển này.

447. Jupiter (as ruler of the twelfth sign, Pisces) is related to the ending of cycles in fulfillment.

447. Sao Mộc (với tư cách chủ tinh của dấu hiệu thứ mười hai, Song Ngư) liên hệ với sự kết thúc các chu kỳ trong sự hoàn thành.

448. Two trinities are being discussed: Spirit/Mind/Form; Spirit/Consciousness/Matter

448. Hai bộ ba đang được bàn đến: Tinh thần/Trí tuệ/Hình tướng; Tinh thần/Tâm thức/Vật chất

449. When we are told that there is a cyclic display of interaction between Spirit and form, we should not discount the interplay between the first and second aspects of divinity.

449. Khi được cho biết rằng có một sự biểu lộ theo chu kỳ của sự tương tác giữa Tinh thần và hình tướng, chúng ta không nên xem nhẹ sự tương tác giữa phương diện thứ nhất và thứ hai của thiên tính.

Thus, through repetition, is consciousness developed, and responsive faculty induced.

Như vậy, qua sự lặp lại, tâm thức được phát triển, và năng lực đáp ứng được tạo ra.

450. Without repetition in the form of ‘cyclic ritual’ consciousness will not unfold.

450. Nếu không có sự lặp lại dưới hình thức “nghi lễ theo chu kỳ”, tâm thức sẽ không khai mở.

451. By means of cyclic repetition, Spirit makes its impress upon matter/form.

451. Bằng phương tiện lặp lại theo chu kỳ, Tinh thần tạo dấu ấn của nó lên vật chất/hình tướng.

452. Consciousness is Spirit penetrating and pervading matter/form such that it knows matter/form.

452. Tâm thức là Tinh thần thâm nhập và thấm khắp vật chất/hình tướng đến mức nó biết vật chất/hình tướng.

When this faculty is of such a nature that it is an inherent part of the Entity’s working capital, it has to be exercised on every plane, and again cyclic action is the law, and hence rebirth again and again is the method of exercise.

Khi năng lực này có bản chất đến mức nó là một phần cố hữu trong vốn hoạt động của Thực Thể, thì nó phải được vận dụng trên mọi cõi, và một lần nữa hoạt động theo chu kỳ là định luật, và do đó tái sinh hết lần này đến lần khác là phương pháp vận dụng.

453. We are speaking of the exercise of “responsive faculty”.

453. Chúng ta đang nói về sự vận dụng “năng lực đáp ứng”.

454. That which is developed must be exercised and, thus, unfolded through exercise.

454. Điều gì được phát triển thì phải được vận dụng và do đó được khai mở qua sự vận dụng.

455. The method of exercising responsive faculty on every plane is through the instrumentality of rebirth. Rebirth offers an orderly, cyclic approach to expression on all planes—in this case, an ascending, spiral-cyclic expression.

455. Phương pháp vận dụng năng lực đáp ứng trên mọi cõi là thông qua công cụ tái sinh. Tái sinh đem lại một cách tiếp cận có trật tự, theo chu kỳ đối với sự biểu lộ trên mọi cõi—trong trường hợp này là một sự biểu lộ đi lên, xoắn ốc theo chu kỳ.

When the innate conscious faculty of every unit of consciousness has become co-ordinated as part of the equipment of the Logos on every plane of the solar system, then, and only then, will cyclic evolution cease, will rotary movement on every plane of the cosmic physical plane be of such a uniform vibration as to set up action on the next cosmic plane, the astral.

Khi năng lực tâm thức bẩm sinh của mọi đơn vị tâm thức đã trở nên phối hợp như một phần của trang bị của Thượng đế trên mọi cõi của hệ mặt trời, thì khi ấy, và chỉ khi ấy, tiến hoá theo chu kỳ mới chấm dứt, chuyển động quay tròn trên mọi cõi của cõi hồng trần vũ trụ mới có được một rung động đồng nhất đến mức thiết lập hoạt động trên cõi vũ trụ kế tiếp, tức cõi cảm dục.

456. We are speaking of the solar logoic development on all planes and subplanes of the cosmic physical plane.

456. Chúng ta đang nói về sự phát triển logoi thái dương trên mọi cõi và cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ.

457. Every unit of life within the solar system must become coordinated with the Purpose of the Solar Logos. Then, there will be no independent units, per se, though free will, will, nevertheless, persist. The action of each Self-conscious unit will be but an aspect of the conscious expression of the Solar Logos. God-the-Solar-Logos will be “all-in-all” on the cosmic physical plane.

457. Mọi đơn vị sự sống bên trong hệ mặt trời phải trở nên phối hợp với Thiên Ý của Thái dương Thượng đế. Khi ấy, sẽ không còn những đơn vị độc lập, chính chúng, dù ý chí tự do vẫn sẽ tiếp tục tồn tại. Hoạt động của mỗi đơn vị ngã thức sẽ chỉ là một phương diện của sự biểu lộ có ý thức của Thái dương Thượng đế. Thượng đế-với-tư-cách-Thái-dương-Thượng-đế sẽ là “tất cả trong mọi sự” trên cõi hồng trần vũ trụ.

458. With such an occurrence, rotary motion on all planes and subplanes of the cosmic physical plane will be numerically coordinated and harmonized according to logoic Purpose. Friction will cease. The solar logoic mission will be accomplished and a new ‘area’ of cosmic expression will be assayed.

458. Với một biến cố như thế, chuyển động quay tròn trên mọi cõi và cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ sẽ được phối hợp và hài hòa về mặt số lượng theo Thiên Ý logoi. Ma sát sẽ chấm dứt. Sứ mệnh logoi thái dương sẽ được hoàn tất và một “lĩnh vực” mới của sự biểu lộ vũ trụ sẽ được thử nghiệm.

459. The next higher plane cannot be attracted to the lower (and vice versa), while there is much unresolved dissonance on the lower. If we harmonize the level of our present the next higher level will be invoked.

459. Cõi cao hơn kế tiếp không thể bị hấp dẫn xuống cõi thấp hơn (và ngược lại), khi ở cõi thấp hơn còn nhiều bất hòa chưa được giải quyết. Nếu chúng ta hài hòa cấp độ hiện tại của mình thì cấp độ cao hơn kế tiếp sẽ được khẩn cầu lên.

460. When there is no more to be done, life moves on (and ‘up’).

460. Khi không còn gì phải làm nữa, sự sống tiếp tục tiến lên (và “đi lên”).

[Page 277]

[Page 277]

3. The Third Idea Involved Is That of the Two Types of Cycles

3. Ý Tưởng Thứ Ba Được Bao Hàm Là Ý Tưởng Về Hai Loại Chu Kỳ

461. We have just dealt with two laws, one of which is the subsidiary of the other.

461. Chúng ta vừa bàn đến hai định luật, trong đó một định luật là phụ thuộc của định luật kia.

a. The Law of Attraction and Repulsion

a. Định luật Hấp Dẫn và Định luật Đẩy Lùi

b. The Law of Periodicity (the effect of the magnetisms and antipathies induced by the Law of Attraction and Repulsion)

b. Định luật Tuần Hoàn (hệ quả của các từ điện và phản cảm được tạo ra bởi Định luật Hấp Dẫn và Định luật Đẩy Lùi)

462. Now, we address two types of cycles.

462. Giờ đây, chúng ta bàn đến hai loại chu kỳ.

1. Rotation on the axis: This is to be seen whether we are dealing with a minute atom of substance, with a planet revolving on its axis, with the rotation of the causal body, or with the rotation of a solar system.

1. Sự quay trên trục: Điều này được thấy dù chúng ta đang đề cập đến một nguyên tử cực nhỏ của chất liệu, một hành tinh quay trên trục của nó, sự quay của thể nguyên nhân, hay sự quay của một hệ mặt trời.

463. DK affirms the ubiquity of the process of rotation.

463. Chân sư DK khẳng định tính phổ biến khắp nơi của tiến trình quay.

464. It comes a no surprise to think of a planet revolving on its axis (rotating, really), but the rotating of the atom on its axis may be a new idea, and the “rotation of the causal body” on its axis a revolutionary concept.

464. Không có gì ngạc nhiên khi nghĩ đến một hành tinh quay trên trục của nó (thật ra là quay tròn), nhưng việc nguyên tử quay trên trục của nó có thể là một ý tưởng mới, và “sự quay của thể nguyên nhân” trên trục của nó là một khái niệm mang tính cách mạng.

465. The causal body may inherently contain an entire zodiac and planetary system which determines the astrology of the soul. When certain sections of the causal body appear before one’s ‘face’, the energies belonging to the appearing section must be faced.

465. Thể nguyên nhân có thể vốn chứa toàn bộ một hoàng đạo và hệ hành tinh quyết định chiêm tinh học của linh hồn. Khi những phần nào đó của thể nguyên nhân xuất hiện trước “gương mặt” của một người, các năng lượng thuộc phần xuất hiện ấy phải được đối diện.

466. The rotation of a solar system (as an entirety) has also not been suspected by modern astronomical science, but the rotation of the Sun itself, on its own axis, has been identified.

466. Sự quay của một hệ mặt trời (như một toàn thể) cũng chưa được khoa học thiên văn hiện đại ngờ tới, nhưng sự quay của chính Mặt Trời trên trục riêng của nó thì đã được nhận diện.

a. In relation to the human being, this might be considered as the rotation of the various sheaths around the central consciousness during any one incarnation.

a. Liên hệ với con người, điều này có thể được xem như sự quay của các thể vỏ khác nhau quanh tâm thức trung tâm trong bất kỳ một kiếp lâm phàm nào.

467. We should attend closely to what is said. A kind of central position is given to a “central consciousness”.

467. Chúng ta nên chú ý kỹ đến điều được nói ra. Một loại vị trí trung tâm được dành cho một “tâm thức trung tâm”.

468. It is suggested that all the sheaths of man rotate around this central consciousness during the process of incarnation.

468. Điều được gợi ý là tất cả các thể vỏ của con người đều quay quanh tâm thức trung tâm này trong tiến trình lâm phàm.

469. This is conceivable in relation to all sheaths except the etheric body which seems to conform to the contours of the non-rotating physical body, and yet it may be the case.

469. Điều này có thể hình dung được đối với mọi thể vỏ ngoại trừ thể dĩ thái, vốn dường như tuân theo các đường nét của thể xác không quay, tuy nhiên có thể vẫn là như vậy.

470. One can be sure that the periods of rotation of the sheaths is one of the secrets of initiation.

470. Có thể chắc chắn rằng các chu kỳ quay của các thể vỏ là một trong những bí mật của điểm đạo.

471. One can also reasonably infer that such rotation is keyed to planetary cycles.

471. Người ta cũng có thể suy ra một cách hợp lý rằng sự quay như thế được điều chỉnh theo các chu kỳ hành tinh.

472. Such rotation would account for spiral-cyclic encounters with similar conditions. There will be a general repetition of the kind of experience encountered as the sheath rotates or revolves, however, the quality of the sheath may have been elevated during the time period from the beginning of one cycle of rotation to the beginning of the next. The quality of response at similar points in the rotational cycle (one on a lower and one on a higher turn of the spiral) will thus be elevated or enhanced.

472. Sự quay như thế sẽ giải thích cho những cuộc gặp gỡ xoắn ốc theo chu kỳ với các điều kiện tương tự. Sẽ có một sự lặp lại tổng quát về loại kinh nghiệm gặp phải khi thể vỏ quay hay xoay vòng; tuy nhiên, phẩm tính của thể vỏ có thể đã được nâng cao trong khoảng thời gian từ đầu một chu kỳ quay đến đầu chu kỳ kế tiếp. Phẩm tính của sự đáp ứng tại những điểm tương tự trong chu kỳ quay (một ở vòng thấp hơn và một ở vòng cao hơn của đường xoắn ốc) do đó sẽ được nâng cao hay tăng cường.

473. In other words, if we encounter circumstances with enhanced equipment, our response to those circumstances will be elevated above what it formerly was. We will have grown.

473. Nói cách khác, nếu chúng ta gặp những hoàn cảnh với trang bị được tăng cường, thì sự đáp ứng của chúng ta đối với những hoàn cảnh ấy sẽ được nâng cao hơn trước kia. Chúng ta sẽ đã trưởng thành.

474. From another perspective, if analogous urges emanate from a rotating sheath at ‘parallel’ points in the rotational cycle (and the quality of the rotating sheath has improved over what it was one cycle before) the expression of the vehicle will be enhanced regardless of what type of circumstances are encountered.

474. Từ một góc độ khác, nếu những thôi thúc tương đồng phát ra từ một thể vỏ đang quay tại những điểm “song song” trong chu kỳ quay (và phẩm tính của thể vỏ đang quay đã được cải thiện so với một chu kỳ trước đó) thì sự biểu lộ của vận cụ sẽ được tăng cường bất kể gặp phải loại hoàn cảnh nào.

b. In relation to a Heavenly Man it might be considered as the rotation of a globe within a chain, or the period of one incarnation.

b. Liên hệ với một Đấng Thiên Nhân, điều này có thể được xem như sự quay của một bầu hành tinh trong một dãy, hay chu kỳ của một lần lâm phàm.

475. This is an occult hint and a little thought about it reveals how deeply veiled is this matter of the structure of globes, chains and schemes.

475. Đây là một gợi ý huyền bí và chỉ cần suy nghĩ đôi chút về nó sẽ thấy vấn đề cấu trúc của các bầu hành tinh, các dãy và các hệ hành tinh được che giấu sâu xa đến mức nào.

476. Is it being said that one rotation of a globe within a chain represents one incarnation of the Heavenly Man expressing through a particular scheme?

476. Có phải đang nói rằng một vòng quay của một bầu hành tinh trong một dãy biểu thị một lần lâm phàm của Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua một hệ hành tinh đặc thù không?

477. Or is the incarnating entity the Globe Lord or Chain Lord?

477. Hay thực thể đang lâm phàm là Chúa Tể của Bầu Hành Tinh hay Chúa Tể của Dãy?

478. Note that in relation to the incarnation, we are not speaking of the cyclic disappearance of that which is rotating. Obviously, more than the physical globe is rotating.

478. Lưu ý rằng liên hệ với sự lâm phàm, chúng ta không nói về sự biến mất theo chu kỳ của cái đang quay. Hiển nhiên, không chỉ bầu hành tinh hồng trần là đang quay.

479. We might also ask, what sheath or sheaths within the globe are rotating? Not just its physical sheath, presumably, for that rotation occurs on a daily basis, and can hardly be canned “one incarnation”. A globe will, however, have a number of interior sheaths with differing periods of rotation. Some of the internal sheaths (for instance a causal sheath) may be very slow in their rotation when compared to the cycles familiar to man.

479. Chúng ta cũng có thể hỏi, thể vỏ nào hay những thể vỏ nào bên trong bầu hành tinh đang quay? Có lẽ không chỉ là thể hồng trần của nó, vì sự quay đó diễn ra hằng ngày, và khó có thể gọi là “một lần lâm phàm”. Tuy nhiên, một bầu hành tinh sẽ có một số thể vỏ nội tại với những chu kỳ quay khác nhau. Một số thể vỏ bên trong (chẳng hạn một thể nguyên nhân) có thể quay rất chậm so với các chu kỳ quen thuộc với con người.

480. Will every globe also have a monadic sheath which rotates? If so, one rotation per one incarnation may seem more reasonable.

480. Mỗi bầu hành tinh cũng sẽ có một thể chân thần quay chăng? Nếu vậy, một vòng quay cho một lần lâm phàm có vẻ hợp lý hơn.

481. In any case, one rotation of a globe within a chain does represent the period of one incarnation for some type of planetary Heavenly Man (of which, we remember, there can be at least three).

481. Dù sao đi nữa, một vòng quay của một bầu hành tinh trong một dãy quả thật biểu thị chu kỳ của một lần lâm phàm đối với một loại Đấng Thiên Nhân hành tinh nào đó (mà chúng ta nhớ rằng có thể có ít nhất ba).

482. We can hardly think of this rotation as related simply to the cycle of one day and night. Our Earth-globe for instance, does rotate once a day and night.

482. Chúng ta khó có thể nghĩ sự quay này chỉ đơn giản liên hệ với chu kỳ một ngày và một đêm. Chẳng hạn, bầu hành tinh Trái Đất của chúng ta quả thật quay một lần mỗi ngày đêm.

483. Additionally, a structural question arises: can a planetary chain rotate? And if so, what is the nature of its rotation? It is easy to understand how a globe may rotate, but the rotation of a planetary chain or a planetary scheme are harder to conceive. This question bears upon the actual structure of a planetary chain and a planetary scheme.

483. Ngoài ra, một câu hỏi về cấu trúc được đặt ra: một dãy hành tinh có thể quay không? Và nếu có, bản chất sự quay của nó là gì? Thật dễ hiểu cách một bầu hành tinh có thể quay, nhưng sự quay của một dãy hành tinh hay một hệ hành tinh thì khó hình dung hơn. Câu hỏi này liên quan đến cấu trúc thực sự của một dãy hành tinh và một hệ hành tinh.

484. It is clear that the diagrams we have depicting planetary globes, chains and schemes are not suggestive of the real structure of the planetary system.

484. Rõ ràng là các sơ đồ chúng ta có mô tả các bầu hành tinh, các dãy và các hệ hành tinh không gợi ra cấu trúc thực của hệ hành tinh.

c. In relation to a solar Logos it might be considered as one complete revolution of the Sun in space, with all that is included within the ring-pass-not.

c. Liên hệ với một Thái dương Thượng đế, điều này có thể được xem như một vòng quay trọn vẹn của Mặt Trời trong không gian, cùng với tất cả những gì được bao gồm bên trong vòng-giới-hạn.

485. The term revolution is used, but really, rotation is meant.

485. Thuật ngữ vòng quay được dùng, nhưng thật ra điều được hàm ý là sự quay tròn.

486. We are not just talking about the rotation of the Sun as a sphere—a period of some twenty-seven days. We are talking of the rotation of the entire solar sphere, with a period of rotation close to 100,000. years.

486. Chúng ta không chỉ nói về sự quay của Mặt Trời như một khối cầu—một chu kỳ khoảng hai mươi bảy ngày. Chúng ta đang nói về sự quay của toàn bộ khối cầu thái dương, với chu kỳ quay gần 100,000. năm.

The exact figures of the cycle which covers the vast rotation must remain as yet esoteric, but it may be stated that it approximates one hundred thousand years, being, as might be supposed, controlled by the energy of the first aspect, and therefore of the first Ray. (TCF 1057)

Các con số chính xác của chu kỳ bao trùm sự quay vĩ đại này hiện vẫn phải còn là huyền bí, nhưng có thể nói rằng nó xấp xỉ một trăm ngàn năm, và như có thể được giả định, bị chi phối bởi năng lượng của phương diện thứ nhất, và do đó bởi Cung một. (TCF 1057)

2. Rotation around an orbit. 

2. Sự quay quanh một quỹ đạo. 

487. DK seems to be deliberately blurring the distinction between terms. When orbital motion is considered, the term usually used is “revolution”

487. Dường như Chân sư DK cố ý làm mờ đi sự phân biệt giữa các thuật ngữ. Khi xét đến chuyển động quỹ đạo, thuật ngữ thường được dùng là “vòng quay”

This is the revolution of a sphere of life,

Đây là vòng quay của một khối cầu sự sống,

488. Here, in the very next sentence, He uses the preferred term.

488. Ở đây, ngay trong câu kế tiếp, Ngài dùng thuật ngữ được ưa dùng.

489. He similarly blurs the distinction between the terms “sign” and “constellation”.

489. Tương tự, Ngài cũng làm mờ đi sự phân biệt giữa các thuật ngữ “dấu hiệu” và “chòm sao”.

not only on its axis, but along a spheroidal path or orbit around a central point.

không chỉ trên trục của nó, mà còn dọc theo một đường hay quỹ đạo hình cầu quanh một điểm trung tâm.

490. Such a path, as we know, is nominally “spheroidal” but often, in fact, elliptical.

490. Như chúng ta biết, một đường như thế trên danh nghĩa là “hình cầu” nhưng thường, trên thực tế, là hình elip.

a. In connection with man this might be considered as the revolution of the wheel of life, or the passage of an entity through the three lower planes down into incarnation and back again.

a. Liên hệ với con người, điều này có thể được xem như vòng quay của bánh xe sự sống, hay sự đi qua của một thực thể xuyên qua ba cõi thấp xuống đến lâm phàm rồi trở lại.

491. Pictorially, this type of revolution will probably not appear as does the revolution of the Earth around the Sun.

491. Về mặt hình ảnh, loại vòng quay này có lẽ sẽ không xuất hiện như vòng quay của Trái Đất quanh Mặt Trời.

492. Yet, often processes which we interpret as symbolic have a literal meaning. Accordingly, one wonders about a type of motion occurring within the causal body which is pictorially closer to the revolution of the Earth around the Sun than may be imagined. In a way, the three lower planes are contained within the causal body (for the permanent atoms generating these bodies are thus contained) and so the type of revolution of the wheel of life here described is pictorially conceivable.

492. Tuy nhiên, thường thì những tiến trình mà chúng ta diễn giải như biểu tượng lại có một ý nghĩa theo nghĩa đen. Theo đó, người ta tự hỏi về một loại chuyển động xảy ra bên trong thể nguyên nhân mà về mặt hình ảnh gần với vòng quay của Trái Đất quanh Mặt Trời hơn là người ta có thể tưởng tượng. Theo một nghĩa nào đó, ba cõi thấp được chứa đựng bên trong thể nguyên nhân (vì các nguyên tử trường tồn tạo ra các thể này được chứa đựng như vậy) và do đó loại vòng quay của bánh xe sự sống được mô tả ở đây là điều có thể hình dung về mặt hình ảnh.

493. When we speak of the “wheel of life” some sort of occult ‘wheel’ may, indeed, be involved. The mysteries, then, would be protected by the assumption that the teacher could not possibly be literal in His meaning.

493. Khi chúng ta nói về “bánh xe sự sống”, quả thật có thể có một “bánh xe” huyền bí nào đó được bao hàm. Khi ấy, các huyền nhiệm sẽ được bảo vệ bởi giả định rằng huấn sư không thể nào lại có ý nghĩa theo nghĩa đen trong điều Ngài nói.

494. One can easily think of the latitudinal rotation of the causal body on its axis (rotation parallel to the lines of latitude), but what of a longitudinal rotation. The planes, we remember, rotate from East to West and the rays from North to South. For DK the planes rotate latitudinally, and the rays longitudinally (parallel to the lines of longitude).

494. Người ta có thể dễ dàng nghĩ đến sự quay theo vĩ độ của thể nguyên nhân trên trục của nó (sự quay song song với các đường vĩ độ), nhưng còn sự quay theo kinh độ thì sao. Chúng ta nhớ rằng các cõi quay từ Đông sang Tây và các cung từ Bắc xuống Nam. Đối với Chân sư DK, các cõi quay theo vĩ độ, còn các cung quay theo kinh độ (song song với các đường kinh độ).

495. In relation to the causal body we can conceive of an orbit for the movement from East to West and an orbit for the movement from North to South.

495. Liên hệ với thể nguyên nhân, chúng ta có thể hình dung một quỹ đạo cho chuyển động từ Đông sang Tây và một quỹ đạo cho chuyển động từ Bắc xuống Nam.

496. The North/South rotation may pictorially describe the process of incarnation and release from incarnation.

496. Sự quay Bắc/Nam có thể mô tả bằng hình ảnh tiến trình lâm phàm và giải thoát khỏi lâm phàm.

497. These movements may occultly describe the inner workings of the “Wheel of Life”.

497. Những chuyển động này có thể mô tả một cách huyền bí các hoạt động nội tại của “Bánh Xe Sự Sống”.

b. In connection with a Heavenly Man it might be considered as the cycle which we call a round in which the life of the Heavenly Man cycles through all the seven globes.

b. Liên hệ với một Đấng Thiên Nhân, điều này có thể được xem như chu kỳ mà chúng ta gọi là một cuộc tuần hoàn, trong đó sự sống của Đấng Thiên Nhân tuần hoàn qua cả bảy bầu hành tinh.

498. This is one type of round—a chain-round. There seems also to be a scheme-round of much longer duration in which a Heavenly Man cycles through all seven chains—or through more, considering that there may be ten.

498. Đây là một loại cuộc tuần hoàn—một cuộc tuần hoàn của dãy. Dường như cũng có một cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh với thời lượng dài hơn nhiều, trong đó một Đấng Thiên Nhân tuần hoàn qua cả bảy dãy—hay qua nhiều hơn, nếu xét rằng có thể có mười.

499. There is probably an analogy between one incarnational turning of the wheel of life for a man, and the period of one round. Is a round equivalent to one type of incarnation of a Heavenly Man? A few sentences earlier we learned that the rotation of a globe in a chain was equivalent to “one incarnation”. Much will depend upon the type of Heavenly Man we are discussing.

499. Có lẽ có một sự tương đồng giữa một vòng quay lâm phàm của bánh xe sự sống đối với con người, và chu kỳ của một cuộc tuần hoàn. Một cuộc tuần hoàn có tương đương với một loại lâm phàm của một Đấng Thiên Nhân không? Vài câu trước chúng ta đã biết rằng sự quay của một bầu hành tinh trong một dãy tương đương với “một lần lâm phàm”. Nhiều điều sẽ tùy thuộc vào loại Đấng Thiên Nhân mà chúng ta đang bàn đến.

500. All lesser incarnations of the lesser types of Heavenly Men within a Planetary Logos are really incarnations of that Planetary Logos—this we hypothesized. But the rotation of all sheaths pertaining to a globe may be one incarnation of that type of Heavenly Man which is a Globe Lord, and the completion of a round may be one incarnation of that type of Heavenly Man which is a Chain Lord.

500. Mọi lần lâm phàm nhỏ hơn của các loại Đấng Thiên Nhân thấp hơn bên trong một Hành Tinh Thượng đế thật ra đều là những lần lâm phàm của Hành Tinh Thượng đế ấy—đó là điều chúng ta đã giả thuyết. Nhưng sự quay của mọi thể vỏ liên hệ với một bầu hành tinh có thể là một lần lâm phàm của loại Đấng Thiên Nhân là Chúa Tể của Bầu Hành Tinh, và sự hoàn tất một cuộc tuần hoàn có thể là một lần lâm phàm của loại Đấng Thiên Nhân là Chúa Tể của Dãy.

501. If there are seven rounds per chain and seven or ten chains, then the number of these types of ‘incarnations’ for a Heavenly Man would be either forty-nine or seventy.

501. Nếu có bảy cuộc tuần hoàn cho mỗi dãy và bảy hay mười dãy, thì số lượng các loại “lần lâm phàm” này đối với một Đấng Thiên Nhân sẽ là bốn mươi chín hoặc bảy mươi.

502. These numbers, themselves, may have to be multiplied by seven or ten when considering greater planetary cycles—i.e., scheme-rounds.

502. Chính các con số này có thể còn phải được nhân với bảy hoặc mười khi xét đến các chu kỳ hành tinh lớn hơn—tức là các cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh.

c. In connection with the solar Logos it is the complete revolution of the solar system around its cosmic centre.

c. Liên hệ với Thái dương Thượng đế, đó là vòng quay trọn vẹn của hệ mặt trời quanh trung tâm vũ trụ của nó.

503. This type of cycle has a duration, we are told, of approximately 250,000. years. The cosmic centre is the star Alcyone in the Pleiades.

503. Chúng ta được cho biết loại chu kỳ này có thời lượng xấp xỉ 250,000. năm. Trung tâm vũ trụ là ngôi sao Alcyone trong chòm Thất Nữ.

Ponder on this and remember also that our Sun is travelling through space (carrying our solar system along in its sphere of influence) around our own central and conditioning star which it has been rightly presumed exists in the constellation Taurus, the Bull, being found in the Pleiades. (EA 111)

Hãy suy ngẫm về điều này và cũng hãy nhớ rằng Mặt Trời của chúng ta đang du hành trong không gian (mang theo hệ mặt trời của chúng ta trong khối cầu ảnh hưởng của nó) quanh ngôi sao trung tâm và tác động lên chúng ta, mà người ta đã giả định đúng đắn là tồn tại trong chòm Kim Ngưu, Con Bò Đực, được tìm thấy trong chòm Thất Nữ. (EA 111)

504. Some modern astronomers think this type of cycle is not possible given the mass of the Sun and the distance of the Sun from the Pleiades.

504. Một số nhà thiên văn học hiện đại cho rằng loại chu kỳ này là không thể có xét theo khối lượng của Mặt Trời và khoảng cách từ Mặt Trời đến chòm Thất Nữ.

505. The question naturally arises (if the analogies presented are really tight) whether one cycle of our solar system around the Pleiades represents some type of ‘incarnation’ for our Solar Logos. Such a revolution certainly must represent a developmental phase for our Solar Logos.

505. Câu hỏi tự nhiên nảy sinh (nếu các tương đồng được trình bày thật sự chặt chẽ) là liệu một chu kỳ của hệ mặt trời chúng ta quanh chòm Thất Nữ có biểu thị một loại “lần lâm phàm” nào đó của Thái dương Thượng đế chúng ta không. Một vòng quay như thế chắc chắn phải biểu thị một giai đoạn phát triển đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta.

It is to be noted at this point that the ideas dealt with in connection with cyclic evolution cannot be posited apart from the concept of consciousness.

Cần lưu ý rằng tại điểm này, các ý tưởng được bàn đến liên quan đến tiến hoá theo chu kỳ không thể được đặt ra tách rời khỏi khái niệm tâm thức.

506. The concept of “cyclic evolution” and the “concept of consciousness” are inseparable.

506. Khái niệm “tiến hoá theo chu kỳ” và “khái niệm tâm thức” là bất khả phân ly.

507. During cyclic evolution, the evolution of consciousness is the most important result (though, naturally, there will also be evolution of the form as an instrument of consciousness).

507. Trong tiến hoá theo chu kỳ, sự tiến hoá của tâm thức là kết quả quan trọng nhất (dù dĩ nhiên cũng sẽ có sự tiến hoá của hình tướng như một công cụ của tâm thức).

508. Spiral-cyclic motion is the method by which consciousness evolves.

508. Chuyển động xoắn ốc theo chu kỳ là phương pháp nhờ đó tâm thức tiến hoá.

The ideas of [Page 278] time, of space, and of activity (from the point of view of the occultist), can only be conceived as relative to some conscious entity, to some Thinker.

Các ý tưởng về [Page 278] thời gian, không gian, và hoạt động (theo quan điểm của nhà huyền bí học), chỉ có thể được quan niệm là tương đối đối với một thực thể có tâm thức nào đó, đối với một Đấng Tư Tưởng nào đó.

509. Time, space and motion are an archetypal trinity.

509. Thời gian, không gian và chuyển động là một bộ ba nguyên mẫu.

510. VSK suggests: “So, without a Thinker to conceive it, cyclic evolution ‘does not exist’.”

510. VSK gợi ý: “Vì vậy, nếu không có một Đấng Tư Tưởng để quan niệm ra nó, tiến hoá theo chu kỳ ‘không tồn tại’.”

511. Time, space and motion are categories of perception. The entire Universe is a perceptual process. The Universe arises through a mysterious ‘Act of Self-Perception’.

511. Thời gian, không gian và chuyển động là những phạm trù của tri giác. Toàn thể Vũ Trụ là một tiến trình tri giác. Vũ Trụ phát sinh qua một ‘Hành Động Tự Tri Giác’ huyền nhiệm.

512. From this perspective, time, space and activity are categories of consciousness.

512. Từ góc nhìn này, thời gian, không gian và hoạt động là những phạm trù của tâm thức.

Time to the occultist is that cycle, greater or lesser, in which some life runs some specific course, in which some particular period begins, continues, and ends, in connection with the awareness of some Entity, and is recognised only as time when the participating life has reached a considerable stage of awareness.

Đối với nhà huyền bí học, thời gian là chu kỳ, lớn hơn hay nhỏ hơn, trong đó một sự sống nào đó vận hành một tiến trình đặc thù nào đó, trong đó một giai đoạn đặc biệt nào đó bắt đầu, tiếp diễn và kết thúc, liên hệ với sự nhận biết của một Thực Thể nào đó, và chỉ được nhận biết là thời gian khi sự sống tham dự đã đạt đến một giai đoạn nhận biết đáng kể.

513. Time is defined primarily as a cycle.

513. Thời gian trước hết được định nghĩa như một chu kỳ.

514. The “greater” or “lesser” can be determined only in comparison with other such cycles.

514. “Lớn hơn” hay “nhỏ hơn” chỉ có thể được xác định khi so sánh với những chu kỳ khác như thế.

515. The factor of awareness is inseparable from cycles of time. A cycle of time is marked, therefore, by the beginning and end of the awareness of some Entity.

515. Yếu tố nhận biết là không thể tách rời khỏi các chu kỳ thời gian. Vì vậy, một chu kỳ thời gian được đánh dấu bởi sự khởi đầu và kết thúc của sự nhận biết của một Thực Thể nào đó.

516. Undeveloped entities are not immediately aware of the time cycles in which they are participating and of which they are already aware in the higher aspects of their nature.

516. Những thực thể chưa phát triển không lập tức nhận biết được các chu kỳ thời gian mà chúng đang tham dự và về đó chúng đã sẵn nhận biết trong các phương diện cao hơn của bản chất chúng.

517. All this is another way of saying that unless a cycle of time is perceived by some Entity, it does not exist. If there is no consciousness of time, there is no time.

517. Tất cả điều này là một cách khác để nói rằng trừ phi một chu kỳ thời gian được một Thực Thể nào đó tri giác, nó không tồn tại. Nếu không có tâm thức về thời gian, thì không có thời gian.

518. A unit of time, then, is the relative duration of a ‘span of awareness’.

518. Vậy thì, một đơn vị thời gian là độ dài tương đối của một ‘khoảng nhận biết’.

519. Time, in the largest sense is, therefore, a non-continuous act of Self-Perception. If Self-perception is continuous, one has only endless duration or timelessness.

519. Vì vậy, theo nghĩa rộng nhất, thời gian là một hành động Tự Tri Giác không liên tục. Nếu tự tri giác là liên tục, người ta chỉ có sự kéo dài vô tận hay phi thời gian.

520. Thus, there is no strictly objective time. Time is essentially the result of a subjective process and is a subjective measurement.

520. Do đó, không có thời gian khách quan theo nghĩa nghiêm ngặt. Về bản chất, thời gian là kết quả của một tiến trình chủ quan và là một sự đo lường chủ quan.

Footnote 15: The Secret Doctrine says:

Cước chú 15: Giáo Lý Bí Nhiệm nói rằng:

1. The Universe is in reality but a huge aggregation of states of consciousness. —S. D., II, 633. I, 70, 626,

1. Vũ Trụ trong thực tại chỉ là một tập hợp khổng lồ những trạng thái tâm thức. —S. D., II, 633. I, 70, 626,

521. There are many states of consciousness within the One Consciousness.

521. Có nhiều trạng thái tâm thức bên trong Tâm Thức Duy Nhất.

522. The Universe is not an objective something; it is a subjective something.

522. Vũ Trụ không phải là một cái gì khách quan; nó là một cái gì chủ quan.

523. The Universe is a Self-perception.

523. Vũ Trụ là một sự Tự tri giác.

524. The Universal Self becomes the Universe through Self-perception.

524. Đại Ngã Vũ Trụ trở thành Vũ Trụ qua sự Tự tri giác.

2. Spirit and consciousness are synonymous terms. —S. D., I, 43, 125, 349, 350, 592, 593.

2. Tinh thần và tâm thức là những thuật ngữ đồng nghĩa. —S. D., I, 43, 125, 349, 350, 592, 593.

525. This may be so from one perspective. From another perspective, consciousness may be understood as a limitation upon Spirit (considered as Pure Being).

525. Điều này có thể đúng từ một góc nhìn. Từ một góc nhìn khác, tâm thức có thể được hiểu như một sự giới hạn đặt lên Tinh thần (được xem như Bản Thể Thuần Khiết).

526. At the highest level of cosmos, it may be presumed that the Perceiver, the Perceived and the Perceiving are so interwoven as to be indistinguishable.

526. Ở cấp độ cao nhất của vũ trụ, có thể giả định rằng Đấng Tri Giác, cái được tri giác và sự tri giác đan xen với nhau đến mức không thể phân biệt.

3. Every atom in the universe is endowed with consciousness. —S. D., I, 105. II, 709, 742.

3. Mọi nguyên tử trong vũ trụ đều được phú cho tâm thức. —S. D., I, 105. II, 709, 742.

527. This is by now a familiar idea. The consciousness with which the atom is endowed is not self-consciousness but a kind of sensitive responsiveness to other such units.

527. Đến nay đây là một ý tưởng quen thuộc. Tâm thức mà nguyên tử được phú cho không phải là ngã thức mà là một loại đáp ứng nhạy cảm đối với những đơn vị khác cùng loại.

4. Six types of Consciousness as embodied in the on the five planes of Human Evolution. —S. D., I, 123. II, 678.

4. Sáu loại Tâm thức như được thể hiện trong trên năm cõi của Tiến Hoá Nhân Loại. —S. D., I, 123. II, 678.

528. It is interesting that although there are seven principles, there are six types of consciousness. Actually, however, a final type of consciousness is added following the six, just as a final, synthetic School of Indian Philosophy is added after the description of the usual six Schools.

528. Điều đáng chú ý là mặc dù có bảy nguyên khí, lại có sáu loại tâm thức. Tuy nhiên, trên thực tế, một loại tâm thức cuối cùng được thêm vào sau sáu loại ấy, cũng như một Trường phái Triết học Ấn Độ cuối cùng, có tính tổng hợp, được thêm vào sau khi mô tả sáu Trường phái thông thường.

a. The Mineral Kingdom 1.

a. Giới kim thạch 1.

Intelligent activity. All atoms show ability to select, to discriminate intelligently under the Law of Attraction and Repulsion. —S. D., I, 295.

Hoạt động thông minh. Mọi nguyên tử đều cho thấy khả năng chọn lựa, phân biện một cách thông minh dưới Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. —S. D., I, 295.

529. The Law of Attraction and Repulsion is, in this case, a subset of the Law of Economy.

529. Trong trường hợp này, Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi là một tập con của Định luật Tiết Kiệm.

530. Each of the cosmic laws is contained within the other two as a subsidiary expression.

530. Mỗi định luật vũ trụ đều được chứa trong hai định luật kia như một biểu hiện phụ thuộc.

b. Vegetable Kingdom 2.

b. Giới thực vật 2.

Intelligent activity plus embryo sensation or feeling.

Hoạt động thông minh cộng với cảm giác hay cảm thọ phôi thai.

531. The degree of responsiveness is greatly increased over the type of response evident in the mineral kingdom. The influence of the Law of Attraction and Repulsion is far more accentuated.

531. Mức độ đáp ứng gia tăng rất nhiều so với loại đáp ứng biểu lộ trong giới kim thạch. Ảnh hưởng của Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi được nhấn mạnh hơn nhiều.

532. The vegetable kingdom is developing a nascent sense of touch under the Law of Attraction and Repulsion.

532. Giới thực vật đang phát triển một cảm giác xúc chạm sơ khai dưới Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi.

533. If this is the case, is the mineral kingdom developing a kind of ‘hearing’, though the sense of touch (in this solar system) is the most prominent sense and virtually equivalent to consciousness.

533. Nếu đúng như vậy, thì phải chăng giới kim thạch đang phát triển một loại ‘thính giác’, mặc dù xúc giác (trong hệ mặt trời này) là giác quan nổi trội nhất và hầu như tương đương với tâm thức.

c. Animal Kingdom 3.

c. Giới động vật 3.

Intelligent activity, sensation plus instinct, or embryo mentality. —S. D., III, 573, 574.

Hoạt động thông minh, cảm giác cộng với bản năng, hay trí tuệ phôi thai. —S. D., III, 573, 574.

534. Manas (a third factor) enters in relation to the third kingdom, the animal.

534. Manas (một yếu tố thứ ba) đi vào liên hệ với giới thứ ba, tức giới động vật.

535. Neither minerals or plants have eyes, per se, but animals do.

535. Cả khoáng vật lẫn thực vật đều không có mắt chính chúng, nhưng động vật thì có.

536. The emergence or the eye and the emergence of instinct as nascent intelligence are coeval.

536. Sự xuất hiện của mắt và sự xuất hiện của bản năng như trí thông minh sơ khai là đồng thời.

These three embody the sub-human consciousness.

Ba giới này thể hiện tâm thức dưới nhân loại.

537. The human being is possessed of mineral, vegetative and animal life. He is the macrocosm to these three microcosms. The three lower kingdoms exist within man.

537. Con người sở hữu sự sống khoáng vật, thực vật và động vật. Y là đại thiên địa đối với ba tiểu thiên địa này. Ba giới thấp tồn tại bên trong con người.

d. Human consciousness 4.

d. Tâm thức nhân loại 4.

Intelligent activity, love or perfected feeling or realisation and will, or intelligent purpose. The three aspects. S. D., I, 215, 231. —S. D., II, 552. III, 579.

Hoạt động thông minh, bác ái hay cảm thọ được hoàn thiện hay (sự)chứng nghiệm, và ý chí, hay mục đích thông minh. Ba phương diện. S. D., I, 215, 231. —S. D., II, 552. III, 579.

538. Interesting definitions are here given:

538. Ở đây có những định nghĩa đáng chú ý:

a. Love is perfected feeling. Thus the astral and buddhic faculties are linked.

a. Bác ái là cảm thọ được hoàn thiện. Như vậy, các năng lực cảm dục và Bồ đề được nối kết.

b. Love also appears to be ‘perfected realization’ which we might call “pure reason”. Love is a blend of the apotheosis of touch and sight.

b. Bác ái dường như cũng là ‘(sự)chứng nghiệm được hoàn thiện’, điều mà chúng ta có thể gọi là “lý trí thuần khiết”. Bác ái là sự pha trộn của đỉnh cao của xúc chạm và thị giác.

c. Will is “intelligent purpose”; this equivalence pertains to the atmic plane which is both a plane of will (the first of the five Brahmic planes) and a plane of intelligence (the third of the cosmic-physical subplanes).

c. Ý chí là “mục đích thông minh”; sự tương đương này liên hệ đến cõi atma, vốn vừa là một cõi của ý chí (cõi thứ nhất trong năm cõi Brahma) vừa là một cõi của trí thông minh (cõi phụ thứ ba của cõi hồng trần vũ trụ).

This is Self-Consciousness—the middle point. —S. D., I, 297.

Đây là Ngã thức—điểm ở giữa. —S. D., I, 297.

539. The ‘middle law’, the Law of Karma, must be closely associated with man. It cannot apply to those entities possessing only “sub-human consciousness” and, thus, devoid of individual responsibility.

539. “Định luật ở giữa”, Định luật Nghiệp quả, hẳn phải gắn bó chặt chẽ với con người. Nó không thể áp dụng cho những thực thể chỉ sở hữu “tâm thức dưới nhân loại” và vì vậy không có trách nhiệm cá nhân.

540. Self-consciousness is positioned midway between sub-consciousness and group consciousness (the highest expression of which is universal consciousness or God-consciousness).

540. Ngã thức được đặt ở giữa tiềm thức và tâm thức nhóm (mà biểu hiện cao nhất của nó là tâm thức vũ trụ hay tâm thức Thượng đế).

e. Spiritual Consciousness 5.

e. Tâm thức tinh thần 5.

Buddhic realisation. The unit is aware of his group. The separated unit identifies himself with his ray or type. —S. D., III, 572. I, 183, 623.

(Sự)chứng nghiệm Bồ đề. Đơn vị nhận biết nhóm của mình. Đơn vị tách biệt đồng hoá chính mình với cung hay loại của mình. —S. D., III, 572. I, 183, 623.

541. The term “spiritual” again refers to that which transpires within the spiritual triad.

541. Thuật ngữ “tinh thần” ở đây một lần nữa chỉ điều diễn ra bên trong tam nguyên tinh thần tinh thần.

542. Spiritual consciousness is group consciousness.

542. Tâm thức tinh thần là tâm thức nhóm.

543. We see that consciousness of one’s ray is inseparable from group consciousness. Is buddhi required truly to identify one’s ray? Certainly, mentality alone cannot do it.

543. Chúng ta thấy rằng tâm thức về cung của mình là không thể tách rời khỏi tâm thức nhóm. Có phải Bồ đề là điều cần thiết để thật sự đồng hoá được cung của mình không? Chắc chắn chỉ riêng trí tuệ thì không thể làm được điều đó.

544. The term “realisation” is used. Elsewhere, the term “realisation” is associated with the atmic plane, and it has just been associated with love.

544. Thuật ngữ “(sự)chứng nghiệm” được dùng. Ở nơi khác, thuật ngữ “(sự)chứng nghiệm” được liên kết với cõi atma, và vừa rồi nó cũng đã được liên kết với bác ái.

f. Atmic Consciousness 6.

f. Tâm thức atma 6.

The consciousness of the unit of the Septenary solar system. —S. D., II, 673. II, 741.

Tâm thức của đơn vị thuộc hệ mặt trời thất phân. —S. D., II, 673. II, 741.

545. This seems a great extension over the manner in which atmic consciousness have been previously described.

545. Điều này dường như là một sự mở rộng lớn so với cách tâm thức atma đã được mô tả trước đây.

546. To what degree is the septenary solar system realized by the atmically conscious unit? It would seem that the solar system in its Brahmic aspect could be conceived, since the atmic plane is the first of the Brahmic planes.

546. Đơn vị có tâm thức atma chứng nghiệm hệ mặt trời thất phân đến mức nào? Có vẻ như hệ mặt trời trong phương diện Brahma của nó có thể được quan niệm, vì cõi atma là cõi thứ nhất trong các cõi Brahma.

547. We remember the relationship between the Heavenly Men (the Divine Manasaputras) and the third or Brahmic aspect of divinity.

547. Chúng ta nhớ mối liên hệ giữa các Đấng Thiên Nhân (các Manasaputra thiêng liêng) và phương diện thứ ba hay phương diện Brahma của thiên tính.

These two embody super-consciousness.

Hai loại này thể hiện siêu tâm thức.

548. Atmic and buddhic consciousness are “super-consciousness”. We understand that such consciousness partakes of the consciousness of the Planetary Logos.

548. Tâm thức atma và Bồ đề là “siêu tâm thức”. Chúng ta hiểu rằng loại tâm thức ấy dự phần vào tâm thức của Đức Hành Tinh Thượng Đế.

The seventh type embraces them all and is God Consciousness. —S. D., II, 740. note.

Loại thứ bảy bao trùm tất cả chúng và là Tâm thức Thượng đế. —S. D., II, 740. chú thích.

549. This is consciousness as apprehended on the seventh or logoic level. Probably monadic consciousness should be included in “God Consciousness”.

549. Đây là tâm thức như được lĩnh hội trên cấp độ thứ bảy hay cấp độ logoic. Có lẽ tâm thức chân thần nên được bao gồm trong “Tâm thức Thượng đế”.

550. The seventh type of consciousness may be conceived as a correspondence to Atma-Vidya, or the seventh and synthetic school of Indian Philosophy.

550. Loại tâm thức thứ bảy có thể được quan niệm như một tương ứng với Atma-Vidya, hay trường phái thứ bảy và có tính tổng hợp của Triết học Ấn Độ.

Study also S. D., I, 300, 301, 183, 221, 623. S. D., II, 32. note, 741, 552. note. —S. D., III, 573, 574, 558, 557, 584.

Cũng hãy nghiên cứu S. D., I, 300, 301, 183, 221, 623. S. D., II, 32. chú thích, 741, 552. chú thích. —S. D., III, 573, 574, 558, 557, 584.

551. We return now to the definitions of time.

551. Giờ đây chúng ta trở lại các định nghĩa về thời gian.

Time has been defined as a succession of states of consciousness,

Thời gian đã được định nghĩa là một chuỗi tiếp nối các trạng thái tâm thức,

552. This is the definition of time which the Secret Doctrine has most emphasized.

552. Đây là định nghĩa về thời gian mà Giáo Lý Bí Nhiệm đã nhấn mạnh nhiều nhất.

553. Presumably if there were not succession of states of consciousness, there would be no time. All states are really states of consciousness. If there are no changes of states of consciousness, a state of timelessness supervenes.

553. Có lẽ nếu không có sự tiếp nối của các trạng thái tâm thức, sẽ không có thời gian. Mọi trạng thái thực ra đều là trạng thái tâm thức. Nếu không có những thay đổi của các trạng thái tâm thức, thì trạng thái phi thời gian sẽ xuất hiện.

554. Continuous identical perception is timelessness.

554. Tri giác đồng nhất liên tục là phi thời gian.

555. One thing succeeds another through a change in the object of perception.

555. Một sự vật nối tiếp một sự vật khác qua sự thay đổi trong đối tượng của tri giác.

556. Those who appreciate eternity are perceiving that which does not change, even though they are simultaneously aware of the illusion of that which changes. To master this dual form of perception is to master the art of living.

556. Những ai cảm nhận được vĩnh cửu đang tri giác điều không thay đổi, dù đồng thời họ vẫn nhận biết ảo tưởng của điều thay đổi. Làm chủ hình thức tri giác nhị nguyên này là làm chủ nghệ thuật sống.

557. Time is based upon limitation of perception. The expression of Uranian perception instead of Saturnian perception would overcome this limitation. Uranus is the planet of simultaneity.

557. Thời gian dựa trên sự giới hạn của tri giác. Sự biểu lộ của tri giác Uranus thay vì tri giác Saturn sẽ vượt qua giới hạn này. Uranus là hành tinh của tính đồng thời.

558. What is to be pondered is how to overcome the sense of succession or of the occurrence of one thing after another. The All-Seeing Eye (the ‘Eye of Simultaneity’) can do this.

558. Điều cần được suy ngẫm là làm thế nào để vượt qua cảm giác về sự tiếp nối hay về việc một sự việc xảy ra sau một sự việc khác. Con Mắt Thấy Tất Cả (tức ‘Con Mắt của Tính Đồng Thời’) có thể làm được điều này.

559. Succession is overcome by Omnipresence. Time, Saturn (Father Time) and Omnipresence are all related to the third aspect of divinity.

559. Sự tiếp nối được vượt qua bằng Tính Hiện Diện Khắp Nơi. Thời gian, Saturn (Cha Thời Gian) và Tính Hiện Diện Khắp Nơi đều liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính.

560. Our sense of the Eternal Now will grow as we overcome the sense of distinct areas of space. If one can be (as it were) omnipresent and see all things simultaneously, one’s sense of time will profoundly alter.

560. Cảm nhận của chúng ta về Hiện Tại Vĩnh Cửu sẽ tăng trưởng khi chúng ta vượt qua cảm giác về những vùng không gian tách biệt. Nếu một người có thể, nói như vậy, hiện diện khắp nơi và thấy mọi sự đồng thời, thì cảm nhận của người ấy về thời gian sẽ thay đổi sâu sắc.

561. We can practice such perception through the use of the creative imagination.

561. Chúng ta có thể thực hành loại tri giác ấy qua việc sử dụng sự tưởng tượng sáng tạo.

15. and it therefore may be studied from the point of view of

15. và vì vậy nó có thể được nghiên cứu từ quan điểm của

562. We are being given the manner in which time may be studied.

562. Chúng ta đang được chỉ cho cách thức mà thời gian có thể được nghiên cứu.

[Page 279]

[Page 279]

a. Logoic consciousness, or the successive states of divine realisation within the solar sphere.

a. Tâm thức logoic, hay các trạng thái kế tiếp nhau của sự chứng nghiệm thiêng liêng bên trong khối cầu thái dương.

563. We are considering time in relation to a Solar Logos.

563. Chúng ta đang xem xét thời gian trong liên hệ với một Thái dương Thượng đế.

564. We presume that these successive states of realisation are ordered.

564. Chúng ta giả định rằng các trạng thái chứng nghiệm kế tiếp nhau này là có trật tự.

565. How does the Solar Logos perceive time? Since the changes perceived are longer than the changes perceived by lesser entities, relatively great ‘spans of consciousness (great, to a lesser being) may be perceived as but an hour, a day, a month, etc. Hence the time categories—an hour, day, week, month, year or century of Brahma.

565. Thái dương Thượng đế tri giác thời gian như thế nào? Vì những thay đổi được tri giác dài hơn những thay đổi được các thực thể nhỏ hơn tri giác, nên những ‘khoảng tâm thức’ tương đối lớn (lớn đối với một hữu thể nhỏ hơn) có thể được tri giác chỉ như một giờ, một ngày, một tháng, v.v. Do đó mới có các phạm trù thời gian—một giờ, một ngày, một tuần, một tháng, một năm hay một thế kỷ của Brahma.

566. Successive states are really successively perceived states. Perhaps in the solar logoic consciousness, the sense of succession has given way to the sense of simultaneity. Yet even a Solar Logos has a time/space schedule.

566. Các trạng thái kế tiếp nhau thực ra là các trạng thái được tri giác kế tiếp nhau. Có lẽ trong tâm thức logoic thái dương, cảm giác về sự tiếp nối đã nhường chỗ cho cảm giác về tính đồng thời. Tuy vậy, ngay cả một Thái dương Thượng đế cũng có một lịch trình thời gian/không gian.

567. A solar system exists in time so long as a Solar Logos meditates upon the essential idea or pattern which the solar system embodies.

567. Một hệ mặt trời tồn tại trong thời gian chừng nào một Thái dương Thượng đế còn tham thiền về ý tưởng hay mô hình cốt yếu mà hệ mặt trời ấy thể hiện.

b. Planetary consciousness, or the consciousness of a Heavenly Man as He cycles successively through the scheme.

b. Tâm thức hành tinh, hay tâm thức của một Đấng Thiên Nhân khi Ngài tuần hoàn kế tiếp nhau qua hệ hành tinh.

568. We are considering time in relation to a Planetary Logos.

568. Chúng ta đang xem xét thời gian trong liên hệ với một Hành Tinh Thượng đế.

569. The Heavenly Man who is the Planetary Logos cycles through globes, rounds and chains.

569. Đấng Thiên Nhân là Hành Tinh Thượng đế tuần hoàn qua các bầu hành tinh, các cuộc tuần hoàn và các Dãy.

570. The manner of this cyclic succession is mysterious. Theosophists seem to have reduced the process to a very orderly and sequential pattern, but, from a study of DK, there seems to be much more to it and much more that occurs with simultaneity.

570. Cách thức của sự kế tiếp theo chu kỳ này là điều huyền nhiệm. Các nhà Thông Thiên Học dường như đã giản lược tiến trình này thành một mô hình rất trật tự và tuần tự, nhưng qua việc nghiên cứu Chân sư DK, dường như còn nhiều điều hơn thế và còn nhiều điều xảy ra trong tính đồng thời hơn nữa.

571. The successive cycles are probably determined by the focus or attention of the Planetary Logos. Events may be going on everywhere, but the Planetary Logos’ main focus may be relatively sequential—in a manner not yet even partially revealed, though analogically related to chakric development with the human being.

571. Các chu kỳ kế tiếp nhau có lẽ được quyết định bởi tiêu điểm hay sự chú ý của Hành Tinh Thượng đế. Các sự kiện có thể đang diễn ra ở khắp nơi, nhưng tiêu điểm chính của Hành Tinh Thượng đế có thể tương đối tuần tự—theo một cách thức mà cho đến nay vẫn chưa được mặc khải dù chỉ một phần, tuy có liên hệ theo định luật tương đồng với sự phát triển luân xa nơi con người.

c. Causal consciousness, or the successive expanding of the intelligent awareness of a human being from life to life.

c. Tâm thức nguyên nhân, hay sự mở rộng kế tiếp nhau của nhận biết thông minh của một con người từ kiếp này sang kiếp khác.

572. Time may be studied in relation to the man-as-Ego by considering causal consciousness.

572. Thời gian có thể được nghiên cứu trong liên hệ với con người-như-chân ngã bằng cách xem xét tâm thức nguyên nhân.

573. The life of the little personality is of short duration from the perspective the consciousness of the Ego on its own plane.

573. Sự sống của phàm ngã nhỏ bé có thời lượng ngắn ngủi từ góc nhìn của tâm thức của chân ngã trên cõi riêng của nó.

574. What are the successive states of consciousness registered by the soul on its own plane? Of what relative duration are these successive states?

574. Những trạng thái tâm thức kế tiếp nhau nào được linh hồn ghi nhận trên cõi riêng của nó? Những trạng thái kế tiếp nhau này có thời lượng tương đối ra sao?

575. One of the ‘spans of awareness’ for the Ego on its own plane will be a unit of expanded intelligent awareness. Expansions as a result of an incarnation lived will be registered.

575. Một trong những ‘khoảng nhận biết’ của chân ngã trên cõi riêng của nó sẽ là một đơn vị nhận biết thông minh được mở rộng. Những sự mở rộng do kết quả của một kiếp sống đã được sống sẽ được ghi nhận.

576. The sense of time is inseparable from the factor of comparison.

576. Cảm giác về thời gian là không thể tách rời khỏi yếu tố so sánh.

577. If a ‘span of awareness’ cannot be compared with another span, the sense of whether that span is long or short cannot be determined. Thus, much of an entity’s sense of time (the seeming length of time of any occurrence) depends upon which successive states of consciousness are registered by any type of entity.

577. Nếu một ‘khoảng nhận biết’ không thể được so sánh với một khoảng khác, thì không thể xác định được cảm giác rằng khoảng ấy là dài hay ngắn. Vì vậy, phần lớn cảm nhận về thời gian của một thực thể (độ dài dường như có của bất kỳ biến cố nào) tùy thuộc vào những trạng thái tâm thức kế tiếp nhau nào được ghi nhận bởi bất kỳ loại thực thể nào.

578. The question arises concerning whether great consciousnesses register minute states of consciousness. What do they notice? Do they notice tiny events? It would seem not. And yet it is said that “Not a sparrow falls…”

578. Câu hỏi được đặt ra là liệu những tâm thức lớn có ghi nhận những trạng thái tâm thức vi tế hay không. Các Ngài chú ý điều gì? Các Ngài có chú ý đến những biến cố nhỏ bé không? Có vẻ là không. Tuy nhiên, người ta vẫn nói rằng “Không một con chim sẻ nào rơi xuống…”

d. Human consciousness, or the awareness of a man on the physical plane, and progressively on the emotional and the mental planes.

d. Tâm thức con người, hay sự nhận biết của một người trên cõi hồng trần, và dần dần trên cõi cảm dục và cõi trí.

579. Time may be studied in relation to man the personality.

579. Thời gian có thể được nghiên cứu trong liên hệ với con người là phàm ngã.

580. We remind ourselves that time and the factor of awareness are inseparable. A unit of time is a span of awareness.

580. Chúng ta tự nhắc mình rằng thời gian và yếu tố nhận biết là không thể tách rời. Một đơn vị thời gian là một khoảng nhận biết.

581. We gather the impression that the sense of time on the physical plane is altered as awareness embraces more phenomena on the astral and mental planes.

581. Chúng ta có ấn tượng rằng cảm giác về thời gian trên cõi hồng trần bị thay đổi khi sự nhận biết bao trùm nhiều hiện tượng hơn trên cõi cảm dục và cõi trí.

582. We may infer that the ‘spans of awareness’ for greater entities are of relatively greater duration than the ‘spans of awareness’ for lesser entities.

582. Chúng ta có thể suy ra rằng các ‘khoảng nhận biết’ của những thực thể lớn hơn có thời lượng tương đối lớn hơn các ‘khoảng nhận biết’ của những thực thể nhỏ hơn.

583. Questions arise as to the rapidity of successive states on the different planes. Are there more successive states to be registered on lower planes than on higher? This is not easy to answer, but one senses that the answer would be significant.

583. Những câu hỏi được đặt ra về tốc độ của các trạng thái kế tiếp nhau trên các cõi khác nhau. Có phải trên các cõi thấp có nhiều trạng thái kế tiếp nhau cần được ghi nhận hơn trên các cõi cao không? Điều này không dễ trả lời, nhưng người ta cảm thấy rằng câu trả lời sẽ có ý nghĩa quan trọng.

e. Animal, vegetable and mineral consciousness which differs from the human consciousness in many particulars, and primarily in that it does not co-ordinate, or deduce and recognise separate identity. It resembles human consciousness in that it covers the response to successive contacts of the units involved during their small cycles.

e. Tâm thức động vật, thực vật và khoáng vật khác với tâm thức con người ở nhiều phương diện, và trước hết ở chỗ nó không phối hợp, không suy diễn và không nhận ra bản sắc tách biệt. Nó giống tâm thức con người ở chỗ nó bao gồm sự đáp ứng đối với những tiếp xúc kế tiếp nhau của các đơn vị liên hệ trong các chu kỳ nhỏ của chúng.

584. One gathers that for the subconscious units involves, there is no sense of time. The sense of time pertains to those entities with self-conscious awareness.

584. Người ta có ấn tượng rằng đối với các đơn vị tiềm thức liên hệ, không có cảm giác về thời gian. Cảm giác về thời gian thuộc về những thực thể có nhận biết ngã thức.

585. Important differences are given between human consciousness in contrast with animal, vegetable and mineral consciousness.

585. Những khác biệt quan trọng được nêu ra giữa tâm thức con người và tâm thức động vật, thực vật và khoáng vật.

586. The consciousness of the subhuman kingdoms does not

586. Tâm thức của các giới dưới nhân loại không

a. Co-ordinate

a. Phối hợp

b. Deduce

b. Suy diễn

c. Recognize separate identity.

c. Nhận ra bản sắc tách biệt.

587. In this, subhuman consciousness differs from human consciousness.

587. Ở điểm này, tâm thức dưới nhân loại khác với tâm thức con người.

588. Both are similar in that they register successive contacts.

588. Cả hai giống nhau ở chỗ chúng ghi nhận những tiếp xúc kế tiếp nhau.

589. The sense of successiveness relates to the scope of the consciousness. Given a consciousness of sufficient scope, the illusion of successiveness is negated, though, paradoxically that which was formerly interpreted as successiveness is noticed.

589. Cảm giác về tính kế tiếp liên hệ với tầm mức của tâm thức. Với một tâm thức có tầm mức đủ rộng, ảo tưởng về tính kế tiếp bị phủ định, dù nghịch lý thay, điều trước đây được diễn giải như tính kế tiếp vẫn được nhận thấy.

f. Atomic consciousness, demonstrating through successive states of repulsion and attraction. In this last definition lies the key to the other states of consciousness.

f. Tâm thức nguyên tử, biểu lộ qua các trạng thái kế tiếp nhau của sự đẩy lùi và hấp dẫn. Chính trong định nghĩa cuối cùng này có chìa khóa cho các trạng thái tâm thức khác.

590. We are being given the essential character of the consciousness of the atom.

590. Chúng ta đang được trao cho đặc tính cốt yếu của tâm thức của nguyên tử.

591. The key to all states of consciousness is here given.

591. Ở đây chìa khóa cho mọi trạng thái tâm thức được trao ra.

592. Let us see if we can offer an interpretation.

592. Hãy xem liệu chúng ta có thể đưa ra một cách diễn giải hay không.

593. Attention is attracted, and attention endures as long as attraction to the object of attention lasts. Changes of successive states of awareness are determined by attraction and repulsion. When a new attraction overcomes the prevailing attraction the state of consciousness changes. Consciousness engages or disengages with an object according to attraction or repulsion. Thus, changes of interest yield successive states of consciousness and, thus, changes of interest determine the sense of the passage of time.

593. Sự chú ý bị thu hút, và sự chú ý kéo dài chừng nào sự hấp dẫn đối với đối tượng của sự chú ý còn kéo dài. Những thay đổi của các trạng thái nhận biết kế tiếp nhau được quyết định bởi hấp dẫn và đẩy lùi. Khi một sự hấp dẫn mới vượt thắng sự hấp dẫn đang chi phối, trạng thái tâm thức thay đổi. Tâm thức gắn kết hay tách rời khỏi một đối tượng tùy theo hấp dẫn hay đẩy lùi. Vì vậy, những thay đổi trong mối quan tâm tạo ra các trạng thái tâm thức kế tiếp nhau, và như thế, những thay đổi trong mối quan tâm quyết định cảm giác về sự trôi qua của thời gian.

594. Successive states of attraction or repulsion create successive ‘spans of awareness’, and successive ‘spans of awareness’ are time.

594. Những trạng thái hấp dẫn hay đẩy lùi kế tiếp nhau tạo ra những ‘khoảng nhận biết’ kế tiếp nhau, và những ‘khoảng nhận biết’ kế tiếp nhau thời gian.

595. If there were one continuous and unchanging span of awareness, the state of timelessness would supervene.

595. Nếu chỉ có một khoảng nhận biết liên tục và không thay đổi, thì trạng thái phi thời gian sẽ xuất hiện.

596. All this is an effort to define time as a perception.

596. Tất cả điều này là một nỗ lực nhằm định nghĩa thời gian như một tri giác.

597. It may be that one can manipulate time, from the fourth plane (or fourth dimension). It is hard to think about playing with time when one is still limited to three-dimensional consciousness. But if we were focussed buddhically, it would make more sense.

597. Có thể là người ta có thể thao tác với thời gian từ cõi thứ tư (hay chiều thứ tư). Thật khó nghĩ về việc đùa với thời gian khi người ta vẫn còn bị giới hạn trong tâm thức ba chiều. Nhưng nếu chúng ta được tập trung một cách Bồ đề, điều đó sẽ có ý nghĩa hơn nhiều.

An atom revolves upon its axis.

Một nguyên tử quay quanh trục của nó.

598. We have begun with the Logos and worked our way down to the atom.

598. Chúng ta đã bắt đầu với Logos và lần xuống đến nguyên tử.

In its revolution it comes within the field of activity of other atoms. These it either attracts and swings into its own field of operation, or it repulses and drives them outside its range of activity, causing separation.

Trong sự quay của nó, nó đi vào trong trường hoạt động của các nguyên tử khác. Những nguyên tử này nó либо hấp dẫn và kéo vào trường vận hành riêng của nó, hoặc đẩy lùi và xua chúng ra ngoài phạm vi hoạt động của nó, gây nên sự phân ly.

599. We see that the atom of matter/substance is affected by the Law of Attraction and Repulsion even if the manner in which this law operates on the atomic level is as a subset of the Law of Economy.

599. Chúng ta thấy rằng nguyên tử của vật chất/chất liệu bị ảnh hưởng bởi Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi, cho dù cách thức định luật này vận hành ở cấp độ nguyên tử là như một tập con của Định luật Tiết Kiệm.

600. At the atomic levels there is a constant process of aggregation based on attraction and a constant process of dispersion based on repulsion.

600. Ở các cấp độ nguyên tử có một tiến trình kết tụ liên tục dựa trên hấp dẫn và một tiến trình phân tán liên tục dựa trên đẩy lùi.

One thing to be borne in mind in the concept of mutual attraction is the preservation of identity in cohesion.

Một điều cần ghi nhớ trong khái niệm về sự hấp dẫn hỗ tương là sự bảo tồn bản sắc trong sự cố kết.

601. Through attraction, there is a repeated pattern of association of those atoms which are drawn together and held together by their attraction for one another.

601. Qua hấp dẫn, có một mô hình lặp đi lặp lại của sự liên kết giữa những nguyên tử được kéo lại với nhau và được giữ lại với nhau bởi sự hấp dẫn của chúng đối với nhau.

602. This cohesion and pattern-retention of mutually attracted atoms promotes the sense of continuity of identity.

602. Sự cố kết này và sự duy trì mô hình của các nguyên tử hấp dẫn lẫn nhau thúc đẩy cảm giác về tính liên tục của bản sắc.

603. When we look in the mirror we see pretty much the same form and figure. We say, then, that we “recognize ourselves”. If, however, the atoms of our form and figure did not cohere, but were constantly being dispersed, the form and figure would be changing constantly and would not be recognizable as consistent. From one moment to the next, we would not recognize the changing form and figure as ourselves or as pertaining to ourselves.

603. Khi chúng ta nhìn vào gương, chúng ta thấy gần như cùng một hình tướng và vóc dáng. Khi đó chúng ta nói rằng mình “nhận ra chính mình”. Tuy nhiên, nếu các nguyên tử của hình tướng và vóc dáng của chúng ta không cố kết mà liên tục bị phân tán, thì hình tướng và vóc dáng ấy sẽ thay đổi liên tục và sẽ không thể được nhận ra là nhất quán. Từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, chúng ta sẽ không nhận ra hình tướng và vóc dáng đang thay đổi ấy là chính mình hay thuộc về mình.

604. The sense of continuity of identity necessitates the existence of a stable form which is based upon the continuous cohesion and pattern-retention of mutually attracted atoms.

604. Cảm giác về tính liên tục của bản sắc đòi hỏi sự hiện hữu của một hình tướng ổn định, vốn dựa trên sự cố kết liên tục và sự duy trì mô hình của các nguyên tử hấp dẫn lẫn nhau.

605. Because energy states and energy forms within our energy system demonstrate repetition, we are endowed with the sense of a distinct identity which is perceived as this and not that. If change of energy states and energy forms is ongoing and highly variable, we will not recognize a sense of continuous identity, because we will become identified with that which is constantly changing.

605. Bởi vì các trạng thái năng lượng và các hình tướng năng lượng bên trong hệ thống năng lượng của chúng ta biểu lộ sự lặp lại, chúng ta được phú cho cảm giác về một bản sắc riêng biệt, được tri giác là cái này chứ không phải cái kia. Nếu sự thay đổi của các trạng thái năng lượng và các hình tướng năng lượng là liên tục và rất biến thiên, chúng ta sẽ không nhận ra một cảm giác về bản sắc liên tục, bởi vì chúng ta sẽ đồng hoá với điều đang thay đổi không ngừng.

606. When, however, there is Self-identification as Pure Being, the sense of identity-as-Essence will be continuous, regardless of the even highly variable changes of energy states and energy forms within our energy system.

606. Tuy nhiên, khi có sự đồng hoá với Đại Ngã như Bản Thể Thuần Khiết, thì cảm giác về bản sắc-như-Tinh Yếu sẽ liên tục, bất kể những thay đổi, dù rất biến thiên, của các trạng thái năng lượng và các hình tướng năng lượng bên trong hệ thống năng lượng của chúng ta.

607. We are gathering that something about the rate of rotation of an atom determines whether it will be attracted to or repellant of other atoms. The whole process almost certainly has a numerical key.

607. Chúng ta đang hiểu rằng một điều gì đó về tốc độ quay của một nguyên tử quyết định liệu nó sẽ bị hấp dẫn đối với hay đẩy lùi các nguyên tử khác. Toàn bộ tiến trình này gần như chắc chắn có một chìa khóa số học.

608. We are understanding the relationship of repetition to the preservation of a cohesive identity—an identity which seems or appears the same from moment to moment. Underlying this illusion of sameness is the great Principle of Unrepeatability advanced by Master Morya.

608. Chúng ta đang hiểu mối liên hệ của sự lặp lại với sự bảo tồn một bản sắc cố kết—một bản sắc dường như hay có vẻ là giống nhau từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác. Nằm bên dưới ảo tưởng về tính giống nhau này là Nguyên khí lớn lao của Tính Không Thể Lặp Lại do Chân sư Morya đề xướng.

609. We are also understanding that even though an atom coheres with other atoms to which it is attracted, it does not lose its distinctive identity by doing do.

609. Chúng ta cũng đang hiểu rằng dù một nguyên tử kết dính với những nguyên tử khác mà nó bị thu hút đến, nó cũng không vì thế mà đánh mất bản sắc riêng biệt của mình.

A human being in objective manifestation likewise revolves upon his axis, or around his central point, his mainspring of animation;

Một con người trong biểu hiện khách quan cũng vậy, quay quanh trục của mình, hay quanh điểm trung tâm của mình, nguồn động lực sinh hoạt của mình;

610. Master DK is giving us hints about occult anatomy.

610. Chân sư DK đang ban cho chúng ta những gợi ý về giải phẫu học huyền bí.

611. The phrase “mainspring of animation” suggests the driving power (“mainspring”) of the soul (the animator).

611. Cụm từ “nguồn động lực sinh hoạt” gợi ý quyền năng thúc đẩy (“động lực chính”) của linh hồn (đấng hoạt hóa).

612. We might question whether that “central point” is the jewel in the lotus.

612. Chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu “điểm trung tâm” ấy có phải là bảo châu trong hoa sen hay không.

613. Almost certainly the causal sheath revolves around the jewel as the central point.

613. Gần như chắc chắn thể nguyên nhân quay quanh bảo châu như điểm trung tâm.

this brings him within the range of activity of other men, other human atoms.

điều này đưa y vào trong phạm vi hoạt động của những người khác, những nguyên tử nhân loại khác.

614. There is an ongoing question here: what is it that brings the man “within the range of activity of other men”. Is it the revolution on his axis that does so? Or something else?

614. Ở đây có một câu hỏi đang tiếp diễn: điều đưa con người “vào trong phạm vi hoạt động của những người khác”? Có phải sự quay quanh trục của y làm điều đó không? Hay là điều gì khác?

615. Of the atom of substance, the following is said: “In its revolution it comes within the field of activity of other atoms.” This sentence suggests that during the course of its revolution the atom comes within the field of activity of the other atoms, but not that the revolution is the cause of coming within range of others.

615. Về nguyên tử của chất liệu, điều sau đây được nói: “Trong sự quay của nó, nó đi vào trong trường hoạt động của những nguyên tử khác.” Câu này gợi ý rằng trong tiến trình quay của mình, nguyên tử đi vào trong trường hoạt động của các nguyên tử khác, nhưng không phải rằng sự quay là nguyên nhân khiến nó đi vào trong phạm vi của những nguyên tử khác.

616. But it is probably so that the changes due to rotation account for whether there is attraction or repulsion with respect to the others.

616. Nhưng có lẽ đúng là những thay đổi do sự quay gây ra giải thích việc có sự thu hút hay đẩy lùi đối với những nguyên tử khác.

617. Analogizing to the human level, we all know that at some times we are attracted to other human beings and at other times repelled by the same human beings. The phase of vehicular rotation could account somewhat for this.

617. Tương tự ở cấp độ con người, tất cả chúng ta đều biết rằng có những lúc chúng ta bị thu hút đến những con người khác và vào những lúc khác lại bị chính những con người ấy đẩy lùi. Giai đoạn quay của vận cụ có thể phần nào giải thích điều này.

This similarly either tends to co-operation or cohesion, or to separation or repulsion.

Điều này cũng tương tự, hoặc có khuynh hướng dẫn đến hợp tác hay kết dính, hoặc dẫn đến tách biệt hay đẩy lùi.

618. It seems most reasonable to conclude that it is not the atom’s rotation on its axis (whether the human atom or the atom of substance) that brings it within range of other atoms, but that the phase of rotation does contribute to whether there is attraction to or repulsion from other atoms.

618. Có vẻ hợp lý nhất khi kết luận rằng không phải sự quay của nguyên tử quanh trục của nó (dù là nguyên tử nhân loại hay nguyên tử chất liệu) đưa nó vào trong phạm vi của những nguyên tử khác, mà là giai đoạn quay có góp phần quyết định việc có sự thu hút đến hay đẩy lùi khỏi những nguyên tử khác hay không.

619. If, in man, the rotation of his sheaths is keyed to various planetary cycles, it is clear that at different times in a complete planetary cycle the conditions inducing attraction or repulsion change.

619. Nếu, nơi con người, sự quay của các thể của y được điều chỉnh theo nhiều chu kỳ hành tinh khác nhau, thì rõ ràng là vào những thời điểm khác nhau trong một chu kỳ hành tinh trọn vẹn, các điều kiện gây ra thu hút hay đẩy lùi sẽ thay đổi.

Again it must be borne in mind that even in cohesion identity is preserved.

Một lần nữa cần ghi nhớ rằng ngay cả trong sự kết dính, bản sắc vẫn được bảo tồn.

620. What was true of an atom of substance is true of man; just because a man coheres with others, does mean he loses his sense of identity. In fact, in true group consciousness, the sense of distinctive identity may be enhanced—harmoniously.

620. Điều đúng với một nguyên tử chất liệu cũng đúng với con người; chỉ vì một người kết dính với những người khác không có nghĩa là y đánh mất cảm thức về bản sắc của mình. Thật ra, trong tâm thức nhóm chân chính, cảm thức về bản sắc riêng biệt có thể được tăng cường—một cách hài hòa.

[Page 280]

[Page 280]

A Heavenly Man, through the form of a planetary chain, similarly revolves upon His axis, and a like phenomenon may be observed.

Một Đấng Thiên Nhân, thông qua hình tướng của một dãy hành tinh, cũng tương tự quay quanh trục của Ngài, và một hiện tượng tương tự có thể được quan sát.

621. The question has already been posed: if a planetary chain revolves how does it do so? It is easy to imagine the revolution of globes upon their axis. Are chains laid out in space as is the solar system and its planets, or are the globes in a chain super-imposable? From the way chains are represented in theosophical literature, we shall not get any real assistance in answering this question.

621. Câu hỏi đã được nêu ra rồi: nếu một dãy hành tinh quay thì nó quay như thế nào? Thật dễ hình dung sự quay của các bầu hành tinh quanh trục của chúng. Các dãy có được bố trí trong không gian như hệ mặt trời và các hành tinh của nó không, hay các bầu hành tinh trong một dãy là chồng khít lên nhau? Từ cách các dãy được trình bày trong văn liệu Thông Thiên Học, chúng ta sẽ không nhận được sự trợ giúp thực sự nào để trả lời câu hỏi này.

622. Several thoughts and questions arise in connection with this excerpt:

622. Một số ý nghĩ và câu hỏi nảy sinh liên quan đến đoạn trích này:

a. Could it be that at any one time, one chain is focal, in such a way that it is used as the center of revolution for a Planetary Logos?

a. Có thể nào vào bất kỳ một thời điểm nào, một dãy là tiêu điểm, theo cách mà nó được dùng làm trung tâm quay cho một Hành Tinh Thượng đế?

b. When a Planetary Logos changes focus, concentrating on different globes or chains, does His external axis also change orientation?

b. Khi một Hành Tinh Thượng đế thay đổi tiêu điểm, tập trung vào những bầu hành tinh hay những dãy khác nhau, thì trục bên ngoài của Ngài cũng có thay đổi định hướng không?

c. Can the planetary chains be conceived as built together as molecules are built together?

c. Có thể quan niệm các dãy hành tinh được cấu tạo cùng nhau như các phân tử được cấu tạo cùng nhau không?

d. Can one conceive of the planetary chains ‘piled’, as it were, one on top of another other such that they all chains (and even all globes) share the same axis, like many Russian Dolls?

d. Có thể quan niệm các dãy hành tinh được “xếp chồng”, có thể nói như vậy, cái này lên trên cái kia để tất cả các dãy (và thậm chí mọi bầu hành tinh) cùng chia sẻ một trục, như nhiều búp bê Nga không?

623. It is because we human beings do not know real structure of planetary chains that we cannot yet answer such questions.

623. Chính vì chúng ta, những con người, không biết cấu trúc thực sự của các dãy hành tinh nên chúng ta chưa thể trả lời những câu hỏi như thế.

624. We do not know whether the globes in a chain are superimposed upon each other, yet each preserving the integrity of its distinctive sheaths.

624. Chúng ta không biết liệu các bầu hành tinh trong một dãy có chồng khít lên nhau hay không, nhưng mỗi bầu vẫn bảo tồn tính toàn vẹn của các thể riêng biệt của nó.

625. We do not know how the chains are distributed in space and whether they are, again, superimposed upon each other, each preserving the integrity of its distinctive sheaths.

625. Chúng ta không biết các dãy được phân bố trong không gian như thế nào và liệu chúng, một lần nữa, có chồng khít lên nhau hay không, mỗi dãy vẫn bảo tồn tính toàn vẹn của các thể riêng biệt của nó.

626. By a process of what we could call ‘electrical differentiation’, the integrity of the distinctive sheaths could be preserved even through the process of superimposition. Then is could be said of the sheaths of globes and chains that “even in cohesion [their] identity is preserved”.

626. Bằng một tiến trình mà chúng ta có thể gọi là “biến phân điện”, tính toàn vẹn của các thể riêng biệt có thể được bảo tồn ngay cả xuyên qua tiến trình chồng khít. Khi đó có thể nói về các thể của các bầu hành tinh và các dãy rằng “ngay cả trong sự kết dính, bản sắc [của chúng] vẫn được bảo tồn”.

627. This seems true of the sheaths of man. They are in a way, superimposed, and in a relationship that we could call cohesive, yet, within this cohesion their identity is preserved.

627. Điều này dường như đúng với các thể của con người. Theo một cách nào đó, chúng chồng khít lên nhau, và ở trong một mối liên hệ mà chúng ta có thể gọi là kết dính, tuy nhiên, trong sự kết dính này, bản sắc của chúng vẫn được bảo tồn.

628. Under the Law of Attraction, there is the induction of amalgamation accompanied by the preservation of distinction of the amalgamated units.

628. Dưới Định luật Hấp Dẫn, có sự cảm ứng của sự hòa trộn đi kèm với việc bảo tồn tính phân biệt của các đơn vị đã được hòa trộn.

A planet repulses a planet similarly charged, for it is a known law that like particles repel each other,

Một hành tinh đẩy lùi một hành tinh mang điện tích tương tự, vì đó là một định luật đã biết rằng các hạt giống nhau đẩy lùi nhau,

629. We are viewing planets almost as ions or charged particles. There are a few occult hints concerning the manner in which planets are “charged”. We are told that Earth is in a masculine (“positive”) incarnation:

629. Chúng ta đang nhìn các hành tinh gần như những ion hay những hạt mang điện. Có một vài gợi ý huyền bí liên quan đến cách các hành tinh được “nạp điện”. Chúng ta được cho biết rằng Trái Đất đang ở trong một lần lâm phàm nam tính (“dương”):

“Likewise certain of the planetary schemes are positive and others negative; three of the schemes are dual, both negative and positive. The same can be predicated anent a solar system, and, curiously enough, anent the planes themselves. For instance, in connection with the earth scheme we have a positive polarity of a temporary nature based on the type of incarnation our particular Heavenly Man is undergoing on our planet. By this is meant that there are masculine and feminine incarnations undergone by Heavenly Men as by men, considering the entire subject from the angle of electrical polarity and not from sex as understood in connection with the physical body.” (TCF 322)

“Cũng vậy, một số hệ hành tinh là dương và những hệ khác là âm; ba trong các hệ là kép, vừa âm vừa dương. Điều tương tự cũng có thể được khẳng định về một hệ mặt trời, và, thật kỳ lạ, về chính các cõi nữa. Chẳng hạn, liên quan đến hệ Địa Cầu, chúng ta có một cực tính dương mang tính tạm thời dựa trên loại lâm phàm mà Đấng Thiên Nhân đặc thù của chúng ta đang trải qua trên hành tinh của chúng ta. Điều này có nghĩa là có những lần lâm phàm nam tính và nữ tính mà các Đấng Thiên Nhân trải qua cũng như con người, nếu xét toàn bộ chủ đề từ góc độ cực tính điện chứ không phải từ giới tính như được hiểu liên quan đến thể xác.” (TCF 322)

630. Given the attractive relationship between the Heavenly Man of Earth and the Heavenly Man of Venus, we could infer that one is in a positive and one a negative (receptive) incarnation. If so, their “charges” would be opposite.

630. Với mối liên hệ hấp dẫn giữa Đấng Thiên Nhân của Trái Đất và Đấng Thiên Nhân của Sao Kim, chúng ta có thể suy ra rằng một vị đang ở trong lần lâm phàm dương và một vị ở trong lần lâm phàm âm (tiếp nhận). Nếu vậy, “điện tích” của các Ngài sẽ đối nghịch nhau.

but occultly it is a known law that they will eventually attract each other as the vibration becomes sufficiently strong.

nhưng về mặt huyền bí, đó là một định luật đã biết rằng cuối cùng chúng sẽ hút nhau khi rung động trở nên đủ mạnh.

631. Presumably, this type of attraction between similarly charged atoms or particles occurs when the Law of Synthesis becomes the law characterizing planetary processes. The word “eventually” is used and this suggests, in this context, the later stages of planetary evolution.

631. Có lẽ loại thu hút này giữa những nguyên tử hay hạt mang điện tích tương tự xảy ra khi Định luật Tổng Hợp trở thành định luật đặc trưng cho các tiến trình hành tinh. Từ “cuối cùng” được dùng, và điều này gợi ý, trong ngữ cảnh này, các giai đoạn muộn hơn của tiến hoá hành tinh.

632. Like attracts like when Spirit seeks to merge with Spirit. This attraction of like for like can already be seen operative on the level of soul.

632. Cái giống nhau hút cái giống nhau khi tinh thần tìm cách hòa nhập với tinh thần. Sự thu hút của cái giống nhau đối với cái giống nhau này đã có thể được thấy đang hoạt động ở cấp độ linh hồn.

633. Another way of understanding this phenomenon on the human level is as follows: personalities draw opposites and souls/spirits draw complementaries and similars

633. Một cách khác để hiểu hiện tượng này ở cấp độ con người là như sau: các phàm ngã hút các đối cực và các linh hồn/tinh thần hút các yếu tố bổ sung và tương đồng

A negative planet will be attracted by a positive, and so on through all forms.

Một hành tinh âm sẽ bị thu hút bởi một hành tinh dương, và cứ thế xuyên qua mọi hình tướng.

634. This is the usual condition in the earlier stages of evolution.

634. Đây là tình trạng thông thường trong các giai đoạn đầu của tiến hoá.

635. When obscuration, merging and absorption come, it would seem that we are dealing with the fusing of like with like. For this reason, Venus, a planet of quality similar to Neptune, would merge into Neptune, and Mercury, a planet which shares many qualities in common with Uranus, would merge into Uranus.

635. Khi sự che mờ, hòa nhập và hấp thụ đến, dường như chúng ta đang xử lý sự dung hợp của cái giống với cái giống. Vì lý do này, Sao Kim, một hành tinh có phẩm tính tương tự Sao Hải Vương, sẽ hòa nhập vào Sao Hải Vương, và Sao Thủy, một hành tinh chia sẻ nhiều phẩm tính chung với Sao Thiên Vương, sẽ hòa nhập vào Sao Thiên Vương.

636. Of course, similarity of quality does not necessarily determine whether the two planets involved are in a positive or negative incarnation.

636. Dĩ nhiên, sự tương đồng về phẩm tính không nhất thiết quyết định liệu hai hành tinh liên hệ có ở trong lần lâm phàm dương hay âm hay không.

637. We gather that a planet has a fundamental polarity, and various periods of shifting polarity. Probably for final absorption, it is the fundamental polarity that counts.

637. Chúng ta rút ra rằng một hành tinh có một cực tính căn bản, và nhiều thời kỳ cực tính thay đổi. Có lẽ đối với sự hấp thụ cuối cùng, chính cực tính căn bản mới là điều quan trọng.

This is the manifestation of SEX in substance of every kind, from the tiny atom in the body to the vast planetary chains, and this is the basis of activity.

Đây là biểu hiện của TÌNH DỤC trong chất liệu thuộc mọi loại, từ nguyên tử nhỏ bé trong cơ thể cho đến những dãy hành tinh bao la, và đây là nền tảng của hoạt động.

638. It would seem in this context that the term “chains” means schemes. We recall that the term “chains” suggests relation to a greater “scheme”—in this case a solar scheme.

638. Dường như trong ngữ cảnh này, thuật ngữ “dãy” có nghĩa là các hệ hành tinh. Chúng ta nhớ rằng thuật ngữ “dãy” gợi ý mối liên hệ với một “hệ hành tinh” lớn hơn—trong trường hợp này là một hệ hành tinh thái dương.

639. It becomes clear that most atoms are characterized by one polarity or another. Perhaps some atoms (like some planets) have both polarities (TCF 322).

639. Rõ ràng là hầu hết các nguyên tử được đặc trưng bởi cực tính này hay cực tính kia. Có lẽ một số nguyên tử (như một số hành tinh) có cả hai cực tính (TCF 322).

640. Just as sexual attraction is more evident in younger people, so it may be with respect to all types of atoms—the attraction between atoms of different polarities is accentuated in the earlier phases of evolution.

640. Cũng như sự hấp dẫn tính dục rõ rệt hơn nơi người trẻ, có thể cũng vậy đối với mọi loại nguyên tử—sự thu hút giữa các nguyên tử có cực tính khác nhau được nhấn mạnh hơn trong các giai đoạn đầu của tiến hoá.

Radiatory activity is simply the interplay between male and female, and this can be seen in the physical atom of the scientist, among men and women, and in the vaster atom of a solar system as it vibrates with its cosmic opposite.

Hoạt động bức xạ chỉ đơn giản là sự tương tác giữa nam và nữ, và điều này có thể được thấy trong nguyên tử hồng trần của nhà khoa học, giữa những người nam và nữ, và trong nguyên tử rộng lớn hơn của một hệ mặt trời khi nó rung động với đối cực vũ trụ của nó.

641. From units that are attracted to each other a radiation goes forth. Through this radiatory activity interplay is promoted.

641. Từ những đơn vị bị thu hút lẫn nhau, một sự bức xạ phát ra. Thông qua hoạt động bức xạ này, sự tương tác được thúc đẩy.

642. As well, the magnetism between opposing poles evokes radiation.

642. Đồng thời, từ tính giữa các cực đối nghịch cũng gợi lên bức xạ.

643. When radiation emanates from the nucleus of an atom (of any kind) towards a satellite of that atom, we see the same interplay between positive and negative.

643. Khi bức xạ phát ra từ hạt nhân của một nguyên tử (thuộc bất kỳ loại nào) hướng đến một vệ tinh của nguyên tử ấy, chúng ta thấy cùng một sự tương tác giữa dương và âm.

644. We see that radiatory activity is promoted by the Law of Attraction. Perhaps, without the Law of Attraction, radiatory activity is not even possible.

644. Chúng ta thấy rằng hoạt động bức xạ được thúc đẩy bởi Định luật Hấp Dẫn. Có lẽ, nếu không có Định luật Hấp Dẫn, hoạt động bức xạ thậm chí cũng không thể có được.

645. We are discussing the close relationship between magnetism and electricity (or radiation).

645. Chúng ta đang bàn đến mối liên hệ mật thiết giữa từ điện và điện lực (hay bức xạ).

We might, therefore, consider time as that process of activity, or that progression in development, wherein the indwelling Consciousness is seeking its opposite, and coming under the Law of Attraction, which leads to atomic, human, planetary, spiritual, solar and cosmic marriage.

Vì vậy, chúng ta có thể xem thời gian như tiến trình hoạt động ấy, hay sự tiến triển trong phát triển ấy, trong đó Tâm thức nội tại đang tìm kiếm đối cực của mình, và đi vào dưới Định luật Hấp Dẫn, vốn dẫn đến hôn phối nguyên tử, nhân loại, hành tinh, tinh thần, thái dương và vũ trụ.

646. This is an unusual definition of time.

646. Đây là một định nghĩa khác thường về thời gian.

647. Time is defined not as a span but as a “process of activity”.

647. Thời gian được định nghĩa không phải như một khoảng mà như một “tiến trình hoạt động”.

648. It would seem that time is defined as that process of activity during which (under the Law of Attraction) the marriage partner is sought and marriage consummated.

648. Dường như thời gian được định nghĩa là tiến trình hoạt động trong đó (dưới Định luật Hấp Dẫn) người bạn đời hôn phối được tìm kiếm và hôn phối được hoàn tất.

649. It is interesting to realize that Libra the sign of marriage and that Saturn Lord of Time (we are defining time) is the strongest planet in Libra

649. Thật thú vị khi nhận ra rằng Thiên Bình là dấu hiệu của hôn phối và Sao Thổ là Chúa Tể của Thời Gian (chúng ta đang định nghĩa thời gian) là hành tinh mạnh nhất trong Thiên Bình.

650. This definition needs to be related to the definition of time as the “succession of states of consciousness”.

650. Định nghĩa này cần được liên hệ với định nghĩa về thời gian như là “sự tiếp nối của các trạng thái tâm thức”.

651. We can never divorce the nature of time from consciousness and experience. It is as if to say that there is no time apart from the experience of time. This means that if a span of activity is not beheld it does not exist. Thus time, becomes, in a way, ‘duration of perception’.

651. Chúng ta không bao giờ có thể tách rời bản chất của thời gian khỏi tâm thức và kinh nghiệm. Như thể muốn nói rằng không có thời gian tách biệt khỏi kinh nghiệm về thời gian. Điều này có nghĩa là nếu một khoảng hoạt động không được tri nhận thì nó không tồn tại. Vì vậy, thời gian, theo một cách nào đó, trở thành ‘thời lượng của tri giác’.

652. The key to solving the riddle of time is to examine simplicity and complexity in the process of perception.

652. Chìa khóa để giải câu đố về thời gian là khảo sát tính đơn giản và tính phức tạp trong tiến trình tri giác.

653. In states of profound absorption or concentration, there is the sense of timelessness, or the sense that great ‘amounts’ of time pass very quickly, or that small ‘amounts’ of time are of great duration.

653. Trong những trạng thái hấp thụ hay tập trung sâu sắc, có cảm giác vô thời gian, hoặc cảm giác rằng những “lượng” thời gian lớn trôi qua rất nhanh, hoặc rằng những “lượng” thời gian nhỏ lại có thời lượng rất lớn.

654. We often think that time, per se, is real but that our sense of time is subjective and variable. What I am emphasizing is that ‘real time’ is subjective, or is created by a subjective act—that of perception.

654. Chúng ta thường nghĩ rằng thời gian, chính nó, là thực nhưng cảm thức của chúng ta về thời gian thì chủ quan và biến đổi. Điều tôi đang nhấn mạnh là “thời gian thực” là chủ quan, hay được tạo ra bởi một hành vi chủ quan—đó là tri giác.

This idea is comparatively simple in relation to a human being, and can be seen in daily demonstration in his contacts with other men; these contacts are governed, for instance, very largely by his likes and dislikes.

Ý tưởng này tương đối đơn giản khi liên hệ với một con người, và có thể được thấy trong biểu hiện hằng ngày nơi những tiếp xúc của y với những người khác; chẳng hạn, những tiếp xúc này phần lớn được chi phối bởi những điều y thích và không thích.

655. This is the usual astral responsiveness. We can imagine that the astral body and its rotation on its axis account very much for whether human units are attracted to or repelled from each other.

655. Đây là sự đáp ứng cảm dục thông thường. Chúng ta có thể hình dung rằng thể cảm dục và sự quay của nó quanh trục của nó giải thích rất nhiều việc các đơn vị nhân loại bị thu hút đến hay bị đẩy lùi khỏi nhau.

All these attractions and repulsions are under law, and their cause exists in form itself.

Mọi sự thu hút và đẩy lùi này đều ở dưới định luật, và nguyên nhân của chúng tồn tại trong chính hình tướng.

656. If the attractions and repulsions are under law, they must be based on mathematical relations. Coherence or separation are mathematically determined. Frequency of vibration or rotation will determine attraction and repulsion. Quantity is quality.

656. Nếu các sự thu hút và đẩy lùi ở dưới định luật, chúng phải dựa trên những tương quan toán học. Sự kết dính hay tách rời được quyết định về mặt toán học. Tần số rung động hay quay sẽ quyết định sự thu hút và đẩy lùi. Số lượng phẩm tính.

657. In practical life, we often see that people function according to rhythms which render them either attractive or repulsive to other people. The nature of rhythm is determined mathematically.

657. Trong đời sống thực tiễn, chúng ta thường thấy rằng con người hoạt động theo những nhịp điệu khiến họ hoặc hấp dẫn hoặc gây đẩy lùi đối với những người khác. Bản chất của nhịp điệu được quyết định về mặt toán học.

The emotion of like or of dislike is nothing else but the realisation by the conscious entity of the swinging into his magnetic radius of an atomic form which he is led, by the very law of his own being, to either attract or repulse.

Cảm xúc thích hay không thích không gì khác hơn là sự chứng nghiệm của thực thể hữu thức về việc một hình tướng nguyên tử dao động vào trong bán kính từ tính của y, mà do chính định luật của bản thể mình, y bị dẫn dắt để hoặc thu hút hoặc đẩy lùi nó.

658. To be attracted or repelled seems (initially at least) to be beyond the control of the indweller.

658. Việc bị thu hút hay bị đẩy lùi dường như (ít nhất là lúc đầu) vượt ngoài sự kiểm soát của đấng nội tại.

659. Playing with language, we can think that we like people who are like us. At least there must be certain significant points in common.

659. Chơi đùa với ngôn ngữ, chúng ta có thể nghĩ rằng chúng ta thích những người giống chúng ta. Ít nhất phải có một số điểm chung quan trọng nào đó.

Only when the form is transcended, and Spirit seeks out Spirit, will the phenomena of repulsion cease.

Chỉ khi hình tướng được siêu vượt, và tinh thần tìm đến tinh thần, thì hiện tượng đẩy lùi mới chấm dứt.

660. We are being told that in the state of synthesis, in which Spirit has sought, found and merged with Spirit, the state of repulsion has ceased. Synthesis, then, in a non-polar state beyond the state of attraction or repulsion.

660. Chúng ta đang được cho biết rằng trong trạng thái tổng hợp, trong đó tinh thần đã tìm kiếm, tìm thấy và hòa nhập với tinh thần, trạng thái đẩy lùi đã chấm dứt. Như vậy, tổng hợp là một trạng thái phi cực tính vượt lên trên trạng thái thu hút hay đẩy lùi.

This will be the inevitable finale at the cessation of solar evolution, and it will bring about pralaya.

Đây sẽ là kết cục tất yếu khi sự tiến hoá thái dương chấm dứt, và nó sẽ mang lại Giai kỳ qui nguyên.

661. Finales (even in music) occur under the Law of Synthesis—bringing all together in “one accord”.

661. Những kết khúc (ngay cả trong âm nhạc) xảy ra dưới Định luật Tổng Hợp—đưa tất cả vào “một hòa điệu”.

The duration of the interplay, the period of the search of Spirit for Spirit, and [Page 281] the vibratory process necessitated by the utilisation of the form, this we call Time, whether in connection with a man, a planetary Logos, or the Deity.

Thời lượng của sự tương tác, thời kỳ của cuộc tìm kiếm của tinh thần đối với tinh thần, và [Page 281] tiến trình rung động cần thiết do sự sử dụng hình tướng, đó là điều chúng ta gọi là Thời Gian, dù liên hệ với một con người, một Hành Tinh Thượng đế, hay Thượng đế.

662. Are “time” and “duration” equivalent terms? If so, it seems that the term “time” is being defined by an equivalent term. And yet there are subtle differences in connotation between “time” and “duration”.

662. “Thời gian” và “thời lượng” có phải là những thuật ngữ tương đương không? Nếu vậy, dường như thuật ngữ “thời gian” đang được định nghĩa bằng một thuật ngữ tương đương. Tuy nhiên, có những khác biệt tinh tế về hàm ý giữa “thời gian” và “thời lượng”.

663. The operative terms in this definition are “duration” and “period”. I have earlier used the word “span”, suggesting much of the same.

663. Những thuật ngữ tác động trong định nghĩa này là “thời lượng” và “thời kỳ”. Trước đây tôi đã dùng từ “khoảng”, gợi ý phần lớn cùng một điều.

664. Unless the Law of Attraction is operative, the experience of time will not be operative. Under the Law of Attraction, change and interplay occur. Change and interplay produce sequences of conscious events.

664. Trừ phi Định luật Hấp Dẫn đang hoạt động, kinh nghiệm về thời gian sẽ không hoạt động. Dưới Định luật Hấp Dẫn, sự thay đổi và sự tương tác xảy ra. Sự thay đổi và sự tương tác tạo ra những chuỗi sự kiện hữu thức.

665. In a state of Pure Spirit or Pure Matter there is no change and thus no sequence of states of consciousness and, thus, no experience of time, and, thus, no time.

665. Trong trạng thái Tinh thần Thuần túy hay Vật chất Thuần túy không có sự thay đổi và do đó không có chuỗi các trạng thái tâm thức và, vì vậy, không có kinh nghiệm về thời gian, và, vì vậy, không có thời gian.

666. To the one who perceives only changelessness, there is no time.

666. Đối với kẻ chỉ tri nhận sự bất biến, thì không có thời gian.

Space, again, is included in the idea of consciousness, and its utilisation of matter. Space, for the Logos, is literally the form wherein His conscious activities and purposes are worked out—the solar ring-pass-not.

Không gian, một lần nữa, được bao hàm trong ý niệm về tâm thức, và sự sử dụng vật chất của nó. Không gian, đối với Thượng đế, theo nghĩa đen là hình tướng trong đó các hoạt động và mục đích hữu thức của Ngài được triển khai—vòng-giới-hạn thái dương.

667. Usually, we associate space with formlessness. This may be true of the most abstract definition of SPACE as the ABSOLUTE.

667. Thông thường, chúng ta liên kết không gian với tính vô tướng. Điều này có thể đúng với định nghĩa trừu tượng nhất của KHÔNG GIAN như TUYỆT ĐỐI.

668. But, within Universe, space is form. Or more properly, space is also a perception—a perception of form rather than a perception of relative duration (time)

668. Nhưng trong Vũ trụ, không gian là hình tướng. Hay nói đúng hơn, không gian cũng là một tri giác—một tri giác về hình tướng hơn là một tri giác về thời lượng tương đối (thời gian).

669. It seems that the Tibetan has entered into very abstract considerations in this section of the book. Whenever speaking of Time and Space the utmost demands are placed on thought.

669. Dường như Chân sư Tây Tạng đã đi vào những suy xét rất trừu tượng trong phần này của quyển sách. Mỗi khi nói về Thời Gian và Không Gian, những đòi hỏi cao nhất đều được đặt lên tư tưởng.

670. We might call space, a sustained perception of that which is different from something else. Or a sustained perception of a certain group of interactive factors.

670. Chúng ta có thể gọi không gian là một tri giác được duy trì về cái khác với một cái gì khác. Hoặc là một tri giác được duy trì về một nhóm nhất định các yếu tố tương tác.

671. In other words, space for any entity is the wholeness of the contents of consciousness for that entity. Entities with greater consciousness express within and relate to a greater ‘space’. An entity’s ‘space’ is the ring pass not of that entity’s perception or registration. All space is psychological space or perceptual space.

671. Nói cách khác, không gian đối với bất kỳ thực thể nào là tính toàn thể của nội dung tâm thức đối với thực thể ấy. Những thực thể có tâm thức lớn hơn biểu lộ trong và liên hệ với một “không gian” lớn hơn. “Không gian” của một thực thể là vòng-giới-hạn của tri giác hay sự ghi nhận của thực thể ấy. Mọi không gian đều là không gian tâm lý hay không gian tri giác.

672. Man’s ‘space’ is the sphere of his perception. This sphere is a form.

672. “Không gian” của con người là khối cầu tri giác của y. Khối cầu này là một hình tướng.

The space wherein a planetary Logos works out His plans is similarly as much of solar space as His consciousness is developed enough to use.

Không gian trong đó một Hành Tinh Thượng đế triển khai các kế hoạch của Ngài cũng tương tự, là chừng nào của không gian thái dương mà tâm thức của Ngài đã phát triển đủ để sử dụng.

673. Again we see the relation of space to consciousness.

673. Một lần nữa chúng ta thấy mối liên hệ của không gian với tâm thức.

674. A Planetary Logos is contained within the ‘space’ of a Solar Logos because the consciousness of the Planetary Logos is contained within the consciousness of the Solar Logos.

674. Một Hành Tinh Thượng đế được chứa trong “không gian” của một Thái dương Thượng đế bởi vì tâm thức của Hành Tinh Thượng đế được chứa trong tâm thức của Thái dương Thượng đế.

675. We remember the definition of the Universe as a huge aggregation of states of consciousness—the lesser contained within the greater, and the greater Entities experiencing through the lesser.

675. Chúng ta nhớ định nghĩa về Vũ trụ như một tập hợp khổng lồ các trạng thái tâm thức—cái nhỏ hơn được chứa trong cái lớn hơn, và các Thực Thể lớn hơn kinh nghiệm thông qua cái nhỏ hơn.

Man again repeats the process and his ring-pass-not is included in the radius of his consciousness, and may be very circumscribed as in the case of the little evolved, or may be inclusive of a portion of planetary space of great extent, and even in the case of the very highly evolved may begin to touch the periphery of the sphere of influence of the planetary Logos in Whose body he is a cell.

Con người lại lặp lại tiến trình ấy và vòng-giới-hạn của y được bao gồm trong bán kính tâm thức của y, và có thể rất hạn hẹp như trong trường hợp của người ít tiến hoá, hoặc có thể bao gồm một phần không gian hành tinh rất rộng lớn, và thậm chí trong trường hợp của người rất cao độ tiến hoá có thể bắt đầu chạm đến chu vi của khối cầu ảnh hưởng của Hành Tinh Thượng đế mà trong thể của Ngài y là một tế bào.

676. We are speaking of ring-pass-nots of consciousness. A man’s ‘space’ expands as his consciousness expands.

676. Chúng ta đang nói về các vòng-giới-hạn của tâm thức. “Không gian” của một người mở rộng khi tâm thức của y mở rộng.

677. What are the limitations of the ‘space’ within which we, individually, express? How is this ‘space’ expanded when we merge in group consciousness? How is the ‘space’ expanded when we begin to merge into “God consciousness”?

677. Những giới hạn của “không gian” trong đó chúng ta, với tư cách cá nhân, biểu lộ là gì? “Không gian” này được mở rộng như thế nào khi chúng ta hòa nhập trong tâm thức nhóm? “Không gian” được mở rộng như thế nào khi chúng ta bắt đầu hòa nhập vào “tâm thức Thượng đế”?

Space for the atom (for instance, the atom in the physical body of man) will be the radius of the form in which is found the greater centre of consciousness of which it is a part

Không gian đối với nguyên tử (chẳng hạn, nguyên tử trong thể xác của con người) sẽ là bán kính của hình tướng trong đó tìm thấy trung tâm tâm thức lớn hơn mà nó là một phần của trung tâm ấy

678. The greater center of consciousness is the consciousness of the man who indwells the body of which the atom is a part.

678. Trung tâm tâm thức lớn hơn là tâm thức của con người nội tại trong thể mà nguyên tử là một phần của thể ấy.

679. In a way the consciousness of the atom is but a tiny aspect of the consciousness of the man who indwells the form.

679. Theo một cách nào đó, tâm thức của nguyên tử chỉ là một phương diện nhỏ bé của tâm thức của con người nội tại trong hình tướng.

and it will be both attracted and repulsed—attracted and built into the form of the greater Life, yet repulsed and thereby prevented from moving from a certain point within that form.

và nó sẽ vừa bị thu hút vừa bị đẩy lùi—bị thu hút và được xây dựng vào trong hình tướng của Sự sống lớn hơn, nhưng lại bị đẩy lùi và nhờ đó bị ngăn không cho di chuyển khỏi một điểm nhất định trong hình tướng ấy.

680. In the case of the atom of matter/substance, potential space (the entirety of the body in which it is found) is greater than the ring-pass-not within that space (or body) to which the atom is confined. A single atom will not be ‘free’ to wander to all part of the ‘space’ that is the body/form of man.

680. Trong trường hợp nguyên tử của vật chất/chất liệu, không gian tiềm năng (toàn bộ thể trong đó nó được tìm thấy) lớn hơn vòng-giới-hạn trong không gian ấy (hay thể ấy) mà nguyên tử bị giới hạn trong đó. Một nguyên tử đơn lẻ sẽ không “tự do” để lang thang đến mọi phần của “không gian” là thể/hình tướng của con người.

681. So it is for man; we cannot wander into all ‘spaces’ of which we may be theoretically cognizant. We are attracted by the greater, yet repulsed by it at the same time.

681. Con người cũng vậy; chúng ta không thể lang thang vào mọi “không gian” mà về mặt lý thuyết chúng ta có thể nhận biết. Chúng ta bị cái lớn hơn thu hút, nhưng đồng thời cũng bị nó đẩy lùi.

We have here dealt a little with time and space in their relation to a specific centre of consciousness;

Ở đây chúng ta đã bàn đôi chút về thời gian và không gian trong mối liên hệ của chúng với một trung tâm tâm thức đặc thù;

682. Be that centre of consciousness the consciousness of a tiny atom, a man, a Planetary Logos or a Solar Logos.

682. Dù trung tâm tâm thức ấy là tâm thức của một nguyên tử nhỏ bé, một con người, một Hành Tinh Thượng đế hay một Thái dương Thượng đế.

we have seen that they are simply forms of ideas to express the cyclic activity of an entity.

chúng ta đã thấy rằng chúng chỉ đơn giản là những hình thức của các ý tưởng để diễn đạt hoạt động chu kỳ của một thực thể.

683. What is said immediately above is what we must grasp, and it is difficult—that time and space “are simply forms of ideas to express the cyclic activity an entity”. Time and space are not even ideas, but only forms of ideas.

683. Điều vừa được nói ngay trên là điều chúng ta phải nắm bắt, và điều đó khó—rằng thời gian và không gian “chỉ đơn giản là những hình thức của các ý tưởng để diễn đạt hoạt động chu kỳ của một thực thể”. Thời gian và không gian thậm chí không phải là ý tưởng, mà chỉ là những hình thức của các ý tưởng.

684. Space is the totality of the sphere of consciousness; consciousness creates space. Time is that which interrupts the unvarying perception of essence.

684. Không gian là tổng thể của khối cầu tâm thức; tâm thức tạo ra không gian. Thời gian là cái làm gián đoạn tri giác bất biến về tinh túy.

685. Unless an entity is engaged in “cyclic activity” there would be no time and space.

685. Trừ phi một thực thể đang tham dự vào “hoạt động chu kỳ” thì sẽ không có thời gian và không gian.

686. All activity is, fundamentally, cyclic activity and is based upon the principle of pulsation between being and non-being.

686. Mọi hoạt động, về căn bản, đều là hoạt động chu kỳ và dựa trên nguyên khí dao động giữa hữu thể và phi hữu thể.

687. Time and space are based upon limitation and discontinuity of perception/consciousness.

687. Thời gian và không gian dựa trên sự giới hạn và tính gián đoạn của tri giác/tâm thức.

The subject is exceedingly abstruse, due to the low stage of the human intelligence, which is as yet so occupied with the objective or material side of manifestation that the attraction existing between Spirit and Spirit is little more than a concept.

Chủ đề này cực kỳ thâm áo, do giai đoạn thấp của trí tuệ nhân loại, vốn hiện còn quá bận rộn với phương diện khách quan hay vật chất của biểu hiện đến nỗi sự thu hút hiện hữu giữa tinh thần và tinh thần chỉ hơn một khái niệm rất ít.

688. We can all agree with the Tibetan. There are few sections of TCF which are more difficult than the section we have been examining.

688. Tất cả chúng ta đều có thể đồng ý với Chân sư Tây Tạng. Có rất ít phần trong TCF khó hơn phần mà chúng ta đã khảo sát.

689. Only if one is identified as Spirit will it be possible to fathom the attraction existing between Spirit and Spirit. It is that which causes the human Spirit to look beyond and through any differences in order to discover in the apparent ‘other’ that which is absolutely identical with itself (i.e., the Spirit) Right now, the registration of distinctions overpowers the search for identicality.

689. Chỉ khi một người được đồng hoá như tinh thần thì mới có thể thấu suốt sự thu hút hiện hữu giữa tinh thần và tinh thần. Chính điều đó khiến tinh thần nhân loại nhìn vượt lên và xuyên qua mọi khác biệt để khám phá nơi “kẻ khác” biểu kiến cái hoàn toàn đồng nhất với chính mình (tức là tinh thần). Ngay lúc này, sự ghi nhận các khác biệt lấn át việc tìm kiếm tính đồng nhất.

When more of the human family have their centre of consciousness in the Ego and hence are busy with the work of repulsing matter, and with the withdrawal of [Page 282] Spirit from form, then only will the transmutative process be comprehended,

Khi nhiều thành viên hơn của gia đình nhân loại có trung tâm tâm thức của họ ở trong chân ngã và do đó bận rộn với công việc đẩy lùi vật chất,với sự rút lui của [Page 282] tinh thần khỏi hình tướng, thì chỉ khi đó tiến trình chuyển hoá mới được thấu hiểu,

690. We are given the work to be accomplished by the human being who has his center of consciousness centered in the Ego

690. Chúng ta được cho biết công việc phải được hoàn thành bởi con người có trung tâm tâm thức đặt nơi chân ngã.

a. The work of repulsing matter

a. Công việc đẩy lùi vật chất

b. The work of withdrawing Spirit from form

b. Công việc rút tinh thần khỏi hình tướng

691. In the tabulation on TCF 275. we are given the interrelation between Spirit and form. The Ego is not mentioned.

691. Trong bảng liệt kê ở TCF 275, chúng ta được cho thấy mối tương quan giữa tinh thần và hình tướng. Chân ngã không được nhắc đến.

a. The period of the domination of the form note is that of involution.

a. Thời kỳ sự thống trị của âm điệu hình tướng là thời kỳ giáng hạ tiến hoá.

b. The period of the repulsion of form by Spirit is that of the battlefield of the three worlds.

b. Thời kỳ tinh thần đẩy lùi hình tướng là thời kỳ chiến trường của ba cõi thấp.

c. The period of the attraction of Spirit and Spirit, and the consequent withdrawal from form is that of the Path.

c. Thời kỳ tinh thần hút tinh thần, và hậu quả là sự rút lui khỏi hình tướng, là thời kỳ của Con Đường.

d. The period of domination of the note of Spirit is that of the higher planes of evolution.

d. Thời kỳ sự thống trị của âm điệu tinh thần là thời kỳ của các cõi cao hơn của tiến hoá.

692. Yet the Ego is to be considered an extension of the Spirit, and the consciousness which is centered in the Ego is passing through stage “b.” above. The “Law of Repulse” is a law of the soul. The work of the soul/Ego is also instrumental during the initial stages of withdrawing Spirit from form.

692. Tuy nhiên, chân ngã phải được xem là một sự mở rộng của tinh thần, và tâm thức được đặt trung tâm trong chân ngã đang đi qua giai đoạn “b.” ở trên. “Định luật Đẩy Lùi” là một định luật của linh hồn. Công việc của linh hồn/chân ngã cũng là công cụ trong các giai đoạn đầu của việc rút tinh thần khỏi hình tướng.

693. Such a human being (whose consciousness is centered in the Ego) is functioning under the fourth Law of the Soul—the Law of Repulse (which is also the first triadally impulsed soul law).

693. Một con người như thế (mà tâm thức được định tâm trong chân ngã) đang hoạt động dưới Định luật thứ tư của linh hồn—Định luật Đẩy Lùi (cũng là định luật linh hồn đầu tiên được Tam nguyên tinh thần thúc đẩy).

694. Centering the consciousness in the Ego is, of course, preliminary to the centering of consciousness in the Spirit.

694. Dĩ nhiên, việc định tâm tâm thức trong chân ngã là bước sơ bộ cho việc định tâm tâm thức trong tinh thần.

695. Before Spirit can merge with Spirit it must be abstracted from matter/form. The soul-center promotes this abstraction.

695. Trước khi tinh thần có thể hợp nhất với tinh thần, nó phải được rút ra khỏi vật chất/hình tướng. Trung tâm linh hồn thúc đẩy sự trừu xuất này.

696. The work of transmutation (although considered preliminary to transformation and transfiguration) requires a disidentification from matter/form.

696. Công việc chuyển hoá (dù được xem là bước sơ bộ cho chuyển đổi và Biến hình) đòi hỏi phải không còn đồng hoá với vật chất/hình tướng.

then only will time (as known in the three worlds) be transcended,

khi đó và chỉ khi đó thời gian (như được biết trong ba cõi thấp) mới được siêu vượt,

697. The suggestion is that there are more ways to understand time than as it is understood in the three worlds.

697. Điều được gợi ý là có nhiều cách để hiểu thời gian hơn là cách nó được hiểu trong ba cõi thấp.

698. The factor of Time is inescapable if there is to be a Universe. A Universe, in one respect, is the commencement of Time (as well as its sustainment and termination) within the infinite continuum of Endless Duration

698. Yếu tố Thời gian là điều không thể tránh khỏi nếu phải có một Vũ trụ. Xét theo một phương diện, một Vũ trụ là sự khởi đầu của Thời gian (cũng như sự duy trì và chấm dứt của nó) bên trong continuum vô hạn của Thời Lượng Vô Tận

and then only will space (as manifested to man through the three lower planes or the eighteen subplanes) be found to be a barrier.

và khi đó và chỉ khi đó không gian (như được biểu hiện cho con người qua ba cõi thấp hay mười tám cõi phụ) mới được thấy là một rào cản.

699. The normal ‘space’ for the average human being is the ring-pass-not of the eighteen lower subplanes. Within these worlds he normally lives and moves and has his being and feels no conscious confinement thereby.

699. “Không gian” thông thường đối với con người trung bình là vòng-giới-hạn của mười tám cõi phụ thấp. Trong các thế giới này, y bình thường sống, vận động và tồn tại, và không cảm thấy có sự giam hãm hữu thức nào bởi điều đó.

700. Let us tabulate the results of centering consciousness in the Ego:

700. Chúng ta hãy lập bảng các kết quả của việc định tâm tâm thức trong chân ngã:

a. The transmutative process will be comprehended

a. Tiến trình chuyển hoá sẽ được thấu hiểu

b. Time (as we know it) will be transcended

b. Thời gian (như chúng ta biết) sẽ được siêu vượt

c. Space (as manifested through the eighteen sub-planes) will be found to be a barrier

c. Không gian (như được biểu hiện qua mười tám cõi phụ) sẽ được thấy là một rào cản

This same statement can be predicated of the seven Logoi and of the solar Logos, extending the idea to other planes, solar and cosmic.

Cùng một phát biểu này có thể được áp dụng cho bảy Các Thượng đế và cho Thái dương Thượng đế, mở rộng ý tưởng sang các cõi khác, thái dương và vũ trụ.

701. The “seven Logoi” (in this context) are the seven Planetary Logoi. Usually, when Planetary Logoi are indicated, the Tibetan will say so.

701. “Bảy Các Thượng đế” (trong ngữ cảnh này) là bảy Hành Tinh Thượng đế. Thông thường, khi muốn chỉ các Hành Tinh Thượng đế, Chân sư Tây Tạng sẽ nói rõ như vậy.

702. The Planetary Logoi are cosmic beings, and the time they experience can be conceived as relating to the eighteen lower cosmic subplanes which, as well, is their confining ‘space’—especially when they are non-sacred Planetary Logoi.

702. Các Hành Tinh Thượng đế là những hữu thể vũ trụ, và thời gian mà Các Ngài trải nghiệm có thể được quan niệm là liên hệ với mười tám cõi phụ vũ trụ thấp, vốn cũng là “không gian” giam hãm Các Ngài—đặc biệt khi Các Ngài là các Hành Tinh Thượng đế không thiêng liêng.

703. The twenty-one lower cosmic subplanes determine time and space for a Solar Logos.

703. Hai mươi mốt cõi phụ vũ trụ thấp xác định thời gian và không gian đối với một Thái dương Thượng đế.

704. One cannot experience of time outside of one’s space. One cannot experience relative space except through the processes of time.

704. Người ta không thể trải nghiệm thời gian bên ngoài không gian của mình. Người ta không thể trải nghiệm không gian tương đối ngoại trừ qua các tiến trình của thời gian.

705. Long ago Planetary Logoi and Solar Logoi achieved transmutation as it is necessitated in the human evolutionary process, and transcended time (humanly considered) and broke through the barrier of ‘human space’ produced by the limitations of human consciousness.

705. Từ lâu, các Hành Tinh Thượng đế và các Thái dương Thượng đế đã đạt được sự chuyển hoá như điều cần thiết trong tiến trình tiến hoá của con người, và đã siêu vượt thời gian (xét theo cách hiểu của con người) cũng như phá vỡ rào cản của “không gian nhân loại” do các giới hạn của tâm thức con người tạo ra.

706. Is it not, therefore, interesting that these great beings must pass though other and greater transmutations; transcend time of an entirely different order (related, of course, to the limitations of their perceptual process—vast though it is); and enlarge their conception of ‘space’.

706. Vậy chẳng phải là điều thú vị sao khi những hữu thể vĩ đại này phải trải qua những sự chuyển hoá khác và lớn lao hơn; siêu vượt thời gian thuộc một trật tự hoàn toàn khác (dĩ nhiên liên hệ đến các giới hạn của tiến trình tri giác của Các Ngài—dù nó bao la đến đâu); và mở rộng quan niệm của Các Ngài về “không gian”.

707. When we humans speak of transcending time and space, we rarely think that those beings (who many mahamanvantaras ago were human) are even now attempting to transcend time and space as time and space appear to them!

707. Khi chúng ta, loài người, nói về việc siêu vượt thời gian và không gian, chúng ta hiếm khi nghĩ rằng những hữu thể ấy (những Đấng từ nhiều Đại giai kỳ sinh hóa trước đã từng là con người) thậm chí ngay bây giờ vẫn đang cố gắng siêu vượt thời gian và không gian như thời gian và không gian xuất hiện đối với Các Ngài!

So also can it be narrowed down to the subhuman, and to the involutionary lives, remembering ever that as the consciousness is more confined and restricted so inertia, lack of response and limitation of radiation will be seen.

Tương tự như vậy, điều này cũng có thể được thu hẹp xuống giới dưới nhân loại và các sự sống giáng hạ tiến hoá, luôn ghi nhớ rằng khi tâm thức càng bị giam hãm và hạn chế hơn thì quán tính, sự thiếu đáp ứng và sự giới hạn của bức xạ sẽ càng được thấy rõ.

708. Such subhuman lives are overcome by the energy of the third aspect through which ‘amalgamative radiation’ is not produced.

708. Những sự sống dưới nhân loại như thế bị năng lượng của phương diện thứ ba chế ngự, qua đó “bức xạ dung hợp” không được tạo ra.

709. Compared, for instance, to a Planetary Logos, the human being is

709. Chẳng hạn, so với một Hành Tinh Thượng đế, con người là

a. Restricted and confined

a. Bị hạn chế và giam hãm

b. Characterized by inertia

b. Được đặc trưng bởi quán tính

c. Characterized by lack of response

c. Được đặc trưng bởi sự thiếu đáp ứng

d. Characterized by limitation of radiation

d. Được đặc trưng bởi sự giới hạn của bức xạ

710. A similar restriction will be noted when comparing a Planetary Logos to the Solar Logos, though these two types of beings are far closer in their degree of unfoldment than is a man to a Planetary Logos or Solar Logos.

710. Một sự hạn chế tương tự sẽ được lưu ý khi so sánh một Hành Tinh Thượng đế với Thái dương Thượng đế, dù hai loại hữu thể này gần nhau hơn nhiều về mức độ khai mở so với con người đối với một Hành Tinh Thượng đế hay Thái dương Thượng đế.

By a close scrutiny of chart V (See p. 344), it will be apparent wherein lies the problem of the Logos, and wherein lies the accuracy of the correspondence between Him and His reflection Man.

Bằng sự khảo sát kỹ lưỡng Biểu đồ V (xem tr. 344), sẽ trở nên hiển nhiên chính trong đâu có vấn đề của Thượng đế, và chính trong đâu có tính chính xác của sự tương ứng giữa Ngài và phản ánh của Ngài là Con Người.

711. Chart V is one of the great charts in TCF. An extraordinary amount of knowledge can be mined from a prolonged and careful examination of the chart.

711. Biểu đồ V là một trong những biểu đồ lớn trong TCF. Một lượng tri thức phi thường có thể được khai thác từ việc khảo sát kéo dài và cẩn trọng biểu đồ này.

712. As previously stated, the analogy between the Solar Logos and Man is in many points closer than the analogy between the Planetary Logos and Man.

712. Như đã nói trước đây, sự tương đồng giữa Thái dương Thượng đế và Con Người ở nhiều điểm gần hơn sự tương đồng giữa Hành Tinh Thượng đế và Con Người.

713. The chart suggests far more than it depicts literally. Far more is implied than is presented.

713. Biểu đồ gợi ra nhiều hơn rất nhiều so với điều nó mô tả theo nghĩa đen. Nhiều điều được hàm ý hơn là được trình bày.

714. We will note that the cosmic atmic plane and the cosmic astral plane are left apparently blank, which is hardly the case. Important centers of focus for our Planetary Logos (and even for out Solar Logos) are there to be found. But a single chart cannot illustrate all pertinent relationships.

714. Chúng ta sẽ lưu ý rằng cõi atma vũ trụ và cõi cảm dục vũ trụ dường như bị để trống, trong khi thực tế hầu như không phải vậy. Những trung tâm tập chú quan trọng của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta (và ngay cả của Thái dương Thượng đế của chúng ta) được tìm thấy ở đó. Nhưng một biểu đồ đơn lẻ không thể minh hoạ mọi tương quan thích đáng.

715. In relation to the shared problems of Man and the Solar Logos, they are problems incident to the fact that both beings are midway through their process of evolution.

715. Liên quan đến những vấn đề chung của Con Người và Thái dương Thượng đế, đó là những vấn đề phát sinh từ sự kiện rằng cả hai hữu thể đều đang ở giữa tiến trình tiến hoá của mình.

716. Is it not interesting that Man is considered a “reflection” of the Solar Logos. This is not said in so many words with regard to our Heavenly Man.

716. Chẳng phải là điều thú vị sao khi Con Người được xem là một “phản ánh” của Thái dương Thượng đế. Điều này không được nói rõ như thế đối với Đấng Thiên Nhân của chúng ta.

717. What may be the “problem of the Logos”? The following quotations concerning the Solar Logos and Man suggest some of the problems:

717. “Vấn đề của Thượng đế” có thể là gì? Những trích dẫn sau đây liên quan đến Thái dương Thượng đế và Con Người gợi ý một số vấn đề:

Both are at their point of deepest involution. (TCF 282)

Cả hai đều ở tại điểm giáng hạ tiến hoá sâu nhất của mình. (TCF 282)

We have been told that the solar Logos, on the cosmic planes, works at the problem of cosmic mind; that He functions in His physical solar system, is polarised in His cosmic astral, or emotional body, and is developing cosmic mind. (LOM 52-53)

Chúng ta đã được cho biết rằng Thái dương Thượng đế, trên các cõi vũ trụ, đang làm việc với vấn đề của trí tuệ vũ trụ; rằng Ngài hoạt động trong hệ mặt trời hồng trần của Ngài, được phân cực trong thể cảm dục, hay thể cảm xúc, vũ trụ của Ngài, và đang phát triển trí tuệ vũ trụ. (LOM 52-53)

Man has to bring down into conscious full control, the God within. Through that control he must dominate circumstance, make his environment his instrument and manipulate matter. On cosmic levels the Logos does likewise. Both are far from achievement. (TCF 282)

Con Người phải đưa Thượng đế bên trong xuống dưới sự kiểm soát đầy đủ và hữu thức. Qua sự kiểm soát đó, y phải chế ngự hoàn cảnh, biến môi trường của mình thành công cụ của mình và thao tác vật chất. Trên các cấp độ vũ trụ, Thượng đế cũng làm như vậy. Cả hai còn rất xa thành tựu. (TCF 282)

Just as the planet called the earth is regarded as the turning point or the battle-ground between Spirit and matter, and is therefore, from that very consideration, of great importance, so our solar system holds an analogous place in the cosmic scheme. The cosmic man, the solar Arjuna, is wrestling for His individualised perfected self-consciousness, and for freedom and liberation from the form, and from the not-self. So man on this planet battles for similar ideals on his tiny scale; so battle in heaven Michael and His Angels, or the divine Heavenly Men, Whose problem is the same on the higher scale. (TCF 242)

Cũng như hành tinh gọi là Trái Đất được xem là điểm ngoặt hay chiến trường giữa tinh thần và vật chất, và vì thế, chính từ sự xem xét đó, có tầm quan trọng lớn lao, thì hệ mặt trời của chúng ta cũng giữ một vị trí tương tự trong hệ hành tinh vũ trụ. Con người vũ trụ, Arjuna thái dương, đang vật lộn để đạt ngã thức biệt ngã hóa hoàn hảo của Ngài, và để có tự do cùng giải thoát khỏi hình tướng, khỏi cái không-phải-ngã. Con người trên hành tinh này cũng chiến đấu cho những lý tưởng tương tự ở quy mô nhỏ bé của mình; cũng như trên thiên giới Michael và các Thiên Thần của Ngài, hay các Đấng Thiên Nhân thiêng liêng, chiến đấu, mà vấn đề của Các Ngài cũng y hệt ở quy mô cao hơn. (TCF 242)

718. The close scrutiny which DK suggests will not be easy.

718. Sự khảo sát kỹ lưỡng mà Chân sư DK gợi ý sẽ không dễ dàng.

719. The alignments between the numbers two and four are evident in the chart.

719. Những sự chỉnh hợp giữa các con số haibốn là hiển nhiên trong biểu đồ.

720. We note our Solar Logos’ relation to the fourth Rishi of the Great Bear, remembering that our Logos is of the fourth order.

720. Chúng ta lưu ý mối liên hệ của Thái dương Thượng đế của chúng ta với vị Rishi thứ tư của Đại Hùng Tinh, ghi nhớ rằng Thượng đế của chúng ta thuộc cấp thứ tư.

721. Four is the number of struggle towards harmony, and two the number of the love-wisdom which arises harmony is achieved.

721. Bốn là con số của sự đấu tranh hướng tới hài hoà, và hai là con số của bác ái-minh triết nảy sinh khi hài hoà được đạt tới.

722. The Chart suggests that we live in an astral-buddhic solar system, and that the struggle towards the full achievement of Cosmic Love pertains to our Solar Logos.

722. Biểu đồ gợi ý rằng chúng ta sống trong một hệ mặt trời cảm dục-bồ đề, và rằng sự đấu tranh hướng tới việc thành tựu trọn vẹn Bác Ái Vũ Trụ liên quan đến Thái dương Thượng đế của chúng ta.

723. Incidentally, the line from the Logos passes through the Vishnu aspect on the logoic plane and a fourth Planetary Logos on the monadic plane. Is this Planetary Logos the Logos of the Earth-scheme, or of the sacred planet of the fourth ray—Mercury egoically, and Vulcan, monadically?

723. Nhân tiện, đường từ Thượng đế đi qua phương diện Vishnu trên cõi logoic và một Hành Tinh Thượng đế thứ tư trên cõi chân thần. Hành Tinh Thượng đế này là Thượng đế của hệ hành tinh Địa Cầu, hay của hành tinh thiêng liêng thuộc cung bốn—Sao Thủy về mặt chân ngã, và Vulcan về mặt chân thần?

724. I will call our attention to the following fact now, and hope later to suggest some thoughts re its elucidation: On the cosmic monadic plane, the line which passes through the fourth Rishi of the Great Bear originates in a triangle which is either the second or the third depending on the mode of counting the seven triangles in each large circle. This must be very significant for all that is transpiring within our solar system.

724. Bây giờ tôi sẽ lưu ý chúng ta đến sự kiện sau đây, và hy vọng sau này sẽ gợi ra vài tư tưởng liên quan đến sự làm sáng tỏ nó: Trên cõi chân thần vũ trụ, đường đi qua vị Rishi thứ tư của Đại Hùng Tinh bắt nguồn trong một tam giác hoặc là tam giác thứ hai hoặc thứ ba tùy theo cách đếm bảy tam giác trong mỗi vòng tròn lớn. Điều này hẳn phải rất có ý nghĩa đối với mọi điều đang diễn ra trong hệ mặt trời của chúng ta.

725. That little triangle in the fourth large circle is what we might call a ‘sleeping hint’, awaiting the day of its revelation—when?—centuries ahead?

725. Tam giác nhỏ ấy trong vòng tròn lớn thứ tư là điều mà chúng ta có thể gọi là một “gợi ý đang ngủ”, chờ đợi ngày được mặc khải—khi nào?—nhiều thế kỷ phía trước chăng?

s3s6-tcf-269-284-01.png

726. VSK states: “The following list is a beautiful demonstration of numerical resonance to context in a seven point list”.

726. VSK nói: “Danh sách sau đây là một minh hoạ đẹp đẽ về sự cộng hưởng số học với ngữ cảnh trong một danh sách bảy điểm”.

727. Here we are given a tabulation of conditions and problems shared by both Man and the Solar Logos.

727. Ở đây chúng ta được cho một bảng liệt kê các điều kiện và vấn đề được chia sẻ bởi cả Con Người lẫn Thái dương Thượng đế.

First. Both are in objective manifestation on the physical plane.

Thứ nhất. Cả hai đều đang ở trong biểu hiện khách quan trên cõi hồng trần.

728. In relation to a human being, we are dealing with the systemic physical plane.

728. Liên hệ với một con người, chúng ta đang đề cập đến cõi hồng trần hệ thống.

729. In relation to the Solar Logos, we are dealing with the cosmic physical plane. Note that the Tibetan requires that we realize that it is the cosmic physical plane which pertains to the Solar Logos.

729. Liên hệ với Thái dương Thượng đế, chúng ta đang đề cập đến cõi hồng trần vũ trụ. Lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng đòi hỏi chúng ta phải chứng nghiệm rằng chính cõi hồng trần vũ trụ là điều liên quan đến Thái dương Thượng đế.

Second. Both are at their point of deepest involution.

Thứ hai. Cả hai đều ở tại điểm giáng hạ tiến hoá sâu nhất của mình.

730. This means that both beings are subject to the number four, which represents the midway point in a sevenfold cycle.

730. Điều này có nghĩa là cả hai hữu thể đều chịu dưới con số bốn, tượng trưng cho điểm ở giữa trong một chu kỳ thất phân.

731. This statement should be compared with information found on TCF 384.

731. Phát biểu này nên được so sánh với thông tin tìm thấy ở TCF 384.

Third. Both are trammelled by matter, and are developing consciousness (egoic consciousness) on the physical plane—man on the solar physical, and the Logos on the cosmic physical plane.

Thứ ba. Cả hai đều bị trói buộc bởi vật chất, và đang phát triển tâm thức (tâm thức chân ngã) trên cõi hồng trần—con người trên cõi hồng trần thái dương, và Thượng đế trên cõi hồng trần vũ trụ.

732. Man well knows that he is not free; is it surprising to think of the great Solar Logos as a Being who, relatively, also is not free, but like man, trammeled by matter?

732. Con Người biết rất rõ rằng y không tự do; vậy có đáng ngạc nhiên không khi nghĩ về Thái dương Thượng đế vĩ đại như một Hữu thể mà, tương đối mà nói, cũng không tự do, nhưng giống như con người, bị vật chất trói buộc?

733. Most human beings have not yet developed full egoic consciousness on the physical plane—the solar (or systemic) physical. The Solar Logos, likewise, as He expresses Himself upon the cosmic physical plane, has not yet developed the capacity to access the full consciousness of His own Ego on its own plane—the cosmic mental plane.

733. Phần lớn con người chưa phát triển đầy đủ tâm thức chân ngã trên cõi hồng trần—cõi hồng trần thái dương (hay hệ thống). Tương tự như vậy, Thái dương Thượng đế, khi Ngài biểu lộ chính mình trên cõi hồng trần vũ trụ, vẫn chưa phát triển năng lực tiếp cận trọn vẹn tâm thức của chính chân ngã của Ngài trên cõi riêng của nó—cõi trí vũ trụ.

734. If the Solar Logos has to develop the capacity to register and express egoic consciousness on the cosmic physical plane, this must certainly be true of the Planetary Logoi.

734. Nếu Thái dương Thượng đế phải phát triển năng lực ghi nhận và biểu lộ tâm thức chân ngã trên cõi hồng trần vũ trụ, thì điều này chắc chắn cũng đúng đối với các Hành Tinh Thượng đế.

735. We can only imagine what type of Solar Angel has created the causal body of the Solar Logos

735. Chúng ta chỉ có thể hình dung loại Thái dương Thiên Thần nào đã tạo ra thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế

“A solar Logos uses for His energy centres the planetary schemes, each of which embodies a peculiar type of energy, and each of which, therefore, vibrates to the key of the logoic solar Angel, of which the human solar Angel is a dim reflection. It is interesting here to note that as the human solar Angel is a unity, manifesting through three tiers of petals, the logoic correspondence is even more interesting, for that great cosmic Entity demonstrates on the cosmic mental plane as a triple flame working through seven tiers of petals, and it is the energy from these seven circles of energy which pulsates through the medium of any scheme. All this is hidden in the mystery of the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, and it is not possible for men to solve it,—the truth being obscure to even the highest Dhyan Chohan of our system.

“Một Thái dương Thượng đế sử dụng các hệ hành tinh làm các trung tâm năng lượng của Ngài, mỗi hệ hành tinh thể hiện một loại năng lượng đặc thù, và do đó, mỗi hệ hành tinh rung động theo chủ âm của Thái dương Thiên Thần logoic, mà Thái dương Thiên Thần của con người chỉ là một phản ánh mờ nhạt. Ở đây thật thú vị khi lưu ý rằng cũng như Thái dương Thiên Thần của con người là một đơn vị, biểu lộ qua ba tầng cánh hoa, thì sự tương ứng logoic còn thú vị hơn nữa, vì Thực Thể vũ trụ vĩ đại ấy biểu lộ trên cõi trí vũ trụ như một ngọn lửa tam phân hoạt động qua bảy tầng cánh hoa, và chính năng lượng từ bảy vòng năng lượng này đập nhịp qua trung gian của bất kỳ hệ hành tinh nào. Tất cả điều này được ẩn giấu trong huyền nhiệm của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ, và con người không thể giải được,—sự thật vẫn mờ tối ngay cả đối với vị Dhyan Chohan cao nhất của hệ thống chúng ta.

736. If the planetary schemes, as chakras of the Solar Logos, vibrate to the key of the logoic Solar Angel, then the chakras of man must necessarily vibrate to the key of man’s Solar Angel.

736. Nếu các hệ hành tinh, với tư cách là các luân xa của Thái dương Thượng đế, rung động theo chủ âm của Thái dương Thiên Thần logoic, thì các luân xa của con người tất yếu cũng phải rung động theo chủ âm của Thái dương Thiên Thần của con người.

737. It may be inferred that the logoic Solar Angel also has or focusses upon a ray, just as does man’s Solar Angel. This ray is, probably, what we call the soul ray or egoic ray. It is interesting to realize that all our chakras vibrate to the key of our soul ray. Probably there is a contest within each chakra to see whether it will be ruled by the soul ray or personality ray of the indwelling entity.

737. Có thể suy ra rằng Thái dương Thiên Thần logoic cũng có hay tập chú vào một cung, cũng như Thái dương Thiên Thần của con người. Cung này có lẽ là điều chúng ta gọi là cung linh hồn hay cung chân ngã. Thật thú vị khi nhận ra rằng tất cả các luân xa của chúng ta đều rung động theo chủ âm của cung linh hồn của chúng ta. Có lẽ có một sự tranh chấp bên trong mỗi luân xa để xem liệu nó sẽ được cai quản bởi cung linh hồn hay cung phàm ngã của thực thể nội tại.

738. Further, all the planetary schemes vibrate to the key of the Solar Logos’ soul ray, as is evidenced from the chart immediately below:

738. Hơn nữa, tất cả các hệ hành tinh đều rung động theo chủ âm của cung linh hồn của Thái dương Thượng đế, như được chứng minh từ biểu đồ ngay bên dưới:

s3s6-tcf-269-284-02.png

Fourth. Man has to bring down into conscious full control, the God within. Through that control he must dominate circumstance, make his environment his instrument and manipulate matter. On cosmic levels the Logos does likewise. Both are far from achievement.

Thứ tư. Con Người phải đưa Thượng đế bên trong xuống dưới sự kiểm soát đầy đủ và hữu thức. Qua sự kiểm soát đó, y phải chế ngự hoàn cảnh, biến môi trường của mình thành công cụ của mình và thao tác vật chất. Trên các cấp độ vũ trụ, Thượng đế cũng làm như vậy. Cả hai còn rất xa thành tựu.

739. The human being is seeking mastery on the eighteen lower subplanes of the systemic physical plane and, eventually, upon the twenty-one lower subplanes.

739. Con người đang tìm kiếm quyền làm chủ trên mười tám cõi phụ thấp của cõi hồng trần hệ thống và, cuối cùng, trên hai mươi mốt cõi phụ thấp.

740. The Solar Logos, analogously to man, must seek mastery upon the eighteen lower cosmic subplanes and eventually upon twenty-one such planes.

740. Tương tự với con người, Thái dương Thượng đế phải tìm kiếm quyền làm chủ trên mười tám cõi phụ vũ trụ thấp và cuối cùng trên hai mươi mốt cõi như thế.

741. It is interesting that our Solar Logos, though presently astrally polarized, has taken the second cosmic initiation and is working towards the third.

741. Thật thú vị khi Thái dương Thượng đế của chúng ta, dù hiện nay phân cực cảm xúc, đã nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ hai và đang tiến tới lần điểm đạo thứ ba.

742. Following analogy, there must be many human beings who, having taken the second initiation, are still astrally polarized, as they work towards the third initiation.

742. Theo phép tương đồng, hẳn phải có nhiều con người, dù đã nhận lần điểm đạo thứ hai, vẫn còn phân cực cảm xúc khi họ tiến tới lần điểm đạo thứ ba.

743. This is interesting because at the second initiation the human being must have achieved spiritual intelligence and an illumined mind.

743. Điều này thật thú vị vì ở lần điểm đạo thứ hai con người hẳn phải đạt được trí tuệ tinh thần và một trí tuệ được soi sáng.

744. Can we say that the Solar Logos has achieved spiritual intelligence and an illumined mind even though astrally polarized? Perhaps. Probably because our Solar Logos is of such an astral-buddhic nature the astral-buddhic relationship will always be inordinately strong regardless of the degree of spiritual intelligence and mental illumination achieved.

744. Chúng ta có thể nói rằng Thái dương Thượng đế đã đạt được trí tuệ tinh thần và một trí tuệ được soi sáng dù vẫn phân cực cảm xúc không? Có lẽ. Có lẽ bởi vì Thái dương Thượng đế của chúng ta có bản chất cảm dục-bồ đề đến mức mối liên hệ cảm dục-bồ đề sẽ luôn mạnh một cách quá mức bất kể mức độ trí tuệ tinh thần và sự soi sáng trí tuệ đã đạt được.

Fifth. Both work in, with, and by, electrical force.

Thứ năm. Cả hai đều hoạt động trong, với, và bằng mãnh lực điện.

745. Is this to say that both are related to the Pleiades? The Solar Logos has a special relationship to the Pleiades who are a major source of cosmic buddhi. The Path which the Solar Logos is treading leads to the cosmic buddhic plane, and the Sun is said to revolve around the Pleiades.

745. Điều này có phải muốn nói rằng cả hai đều liên hệ với Pleiades không? Thái dương Thượng đế có một mối liên hệ đặc biệt với Pleiades, vốn là một nguồn chính của Bồ đề vũ trụ. Con Đường mà Thái dương Thượng đế đang bước đi dẫn đến cõi bồ đề vũ trụ, và Mặt Trời được nói là quay quanh Pleiades.

Sixth. Both come under the laws governing forms and hence both are controlled in time and space by KARMA, which is the Law of forms. It has to do with quality, as force has to do with vibration.

Thứ sáu. Cả hai đều nằm dưới các định luật chi phối các hình tướng và do đó cả hai đều bị NGHIỆP QUẢ kiểm soát trong thời gian và không gian, mà nghiệp quả là Định luật của các hình tướng. Nó liên quan đến phẩm tính, cũng như mãnh lực liên quan đến rung động.

746. Human beings who hope soon to “be rid of karma” had best attend to this excerpt. Beings far greater than a Solar Logos (if they manifest through a form) are still subject to the Law of Forms.

746. Những con người hy vọng sớm “thoát khỏi nghiệp quả” tốt nhất nên chú ý đến đoạn trích này. Những hữu thể lớn lao hơn nhiều so với một Thái dương Thượng đế (nếu biểu lộ qua một hình tướng) vẫn còn chịu dưới Định luật của các Hình Tướng.

747. We are given a profound hint: Karma is related to quality as force is related to vibration.

747. Chúng ta được cho một gợi ý sâu sắc: Nghiệp quả liên hệ với phẩm tính cũng như mãnh lực liên hệ với rung động.

748. The reason that Karma adjusts the interplay of forms with mathematical exactitude (the fourth ray is the Ray of Mathematical Exactitude) is to bring about the emergence of the second aspect or quality.

748. Lý do khiến Nghiệp quả điều chỉnh sự tương tác của các hình tướng với độ chính xác toán học (cung bốn là Cung của Độ Chính Xác Toán Học) là để mang lại sự xuất hiện của phương diện thứ hai hay phẩm tính.

749. Force causes vibration; this interaction pertains to the third aspect of divinity. It is amazing how much the Law of Karma works with and promotes the emergence of the second aspect, even though first and third ray methods are utilized.

749. Mãnh lực gây ra rung động; sự tương tác này liên quan đến phương diện thứ ba của thiên tính. Thật đáng kinh ngạc khi Định luật Nghiệp quả hoạt động cùng với và thúc đẩy sự xuất hiện của phương diện thứ hai đến mức nào, dù các phương pháp của cung một và cung ba được sử dụng.

750. If one studies the third and second rays of Libra, one can see how the second ray is meant to emerge from the balancing of forces made possible by the third aspect.

750. Nếu nghiên cứu cung ba và cung hai của Libra, người ta có thể thấy cách mà cung hai được dự định xuất hiện từ sự quân bình các mãnh lực được phương diện thứ ba làm cho khả hữu.

751. Interestingly, the second aspect of divinity is the “form builder”. Force and vibration pertain to the matter aspect. The second aspect pertains to the patterning and cohesion of form.

751. Thật thú vị, phương diện thứ hai của thiên tính là “đấng kiến tạo hình tướng”. Mãnh lực và rung động liên quan đến phương diện vật chất. Phương diện thứ hai liên quan đến sự tạo mô hình và sự cố kết của hình tướng.

752. When we consider the planet Saturn, we may come to understand that second ray purposes lie behind all the drastic hard-line disciplining administered by this planetary Lord of Karma.

752. Khi xem xét hành tinh Sao Thổ, chúng ta có thể đi đến chỗ hiểu rằng các mục đích của cung hai nằm phía sau mọi sự rèn kỷ luật nghiêm khắc cứng rắn do vị Chúa Tể Nghiệp Quả hành tinh này áp đặt.

753. Basically, Karma serves the growth of consciousness.

753. Về căn bản, Nghiệp quả phụng sự sự tăng trưởng của tâm thức.

Seventh. Both work through forms made up of:

Thứ bảy. Cả hai đều hoạt động qua các hình tướng được cấu thành bởi:

754. Here the formal constitutions of Man and the Solar Logos are compared.

754. Ở đây các cấu tạo hình tướng của Con Người và Thái dương Thượng đế được so sánh.

[Page 283]

[Page 283]

a. Three main types of forms: A mental form, one aspect of manifestation; an astral form, a second aspect; and a physical form, the third aspect.

a. Ba loại hình tướng chính: Một hình tướng trí tuệ, một phương diện của biểu hiện; một hình tướng cảm dục, phương diện thứ hai; và một hình tướng hồng trần, phương diện thứ ba.

755. From one perspective the mental form is correlated to the first ray, the astral to the second and the physical form to the third. There is also a legitimate way to reverse the correlation for the mental and physical forms, assigning the third ray to the mental body and the first to the physical form.

755. Từ một góc nhìn, hình tướng trí tuệ tương ứng với cung một, hình tướng cảm dục với cung hai và hình tướng hồng trần với cung ba. Cũng có một cách hợp lý để đảo ngược sự tương ứng đối với hình tướng trí tuệ và hồng trần, gán cung ba cho thể trí và cung một cho hình tướng hồng trần.

The mental vibration sets the key measure and seeks to utilise and co-ordinate the physical body at Will. It deals with or links up the consciousness to the three forms in one direction; it repulses and causes separation in another.

Rung động trí tuệ đặt ra nhịp điệu chủ âm và tìm cách sử dụng cũng như phối hợp thể xác theo Ý chí. Nó đề cập đến hay nối kết tâm thức với ba hình tướng theo một hướng; theo hướng khác, nó đẩy lùi và gây ra sự phân ly.

756. The mind has a dual function—that which links and that which repels and separates.

756. Trí tuệ có một chức năng kép—chức năng nối kết và chức năng đẩy lùi, phân ly.

757. The body is to be controlled by the mind. “Mind over matter”.

757. Thể phải được trí tuệ kiểm soát. “Trí tuệ trên vật chất”.

758. The mind is the dominating principle within the personality. “I come forth and from the plane of mind I rule.”

758. Trí tuệ là nguyên khí chi phối bên trong phàm ngã. “Ta xuất hiện và từ cõi trí ta cai quản.”

759. In the words “key measure” the principle of rhythm is suggested. At first the “key measure” applies to the personality.

759. Trong các từ “nhịp điệu chủ âm”, nguyên lý nhịp điệu được gợi ra. Lúc đầu, “nhịp điệu chủ âm” áp dụng cho phàm ngã.

760. The key measure which is set by the mental vibration should eventually resonate to the keynote of the soul. This will occur when the mind can be held steady in the light. Still later, the “key measure” will resonate to monadic vibration.

760. Nhịp điệu chủ âm được đặt ra bởi rung động trí tuệ cuối cùng nên cộng hưởng với chủ âm của linh hồn. Điều này sẽ xảy ra khi trí tuệ có thể được giữ vững trong ánh sáng. Về sau nữa, “nhịp điệu chủ âm” sẽ cộng hưởng với rung động chân thần.

761. The mental vibration is both attractive and repulsive. Towards the later stages of evolution it cooperates in repulsing the attractiveness of the form. It assists the man to discriminate in relation to his desires and to ‘see through’ the lure of form.

761. Rung động trí tuệ vừa hấp dẫn vừa đẩy lùi. Về các giai đoạn sau của tiến hoá, nó hợp tác trong việc đẩy lùi sức hấp dẫn của hình tướng. Nó giúp con người phân biện liên quan đến các ham muốn của mình và “nhìn thấu” sự quyến rũ của hình tướng.

762. The mental vibration also assists soul consciousness to infuse the form, working out strategies by means of which this can be done.

762. Rung động trí tuệ cũng giúp tâm thức linh hồn thấm nhuần hình tướng, vạch ra các chiến lược nhờ đó điều này có thể được thực hiện.

763. Man is the Thinker and in his nature manas is paramount. Let us ponder the mental vibration we are generating and expressing.

763. Con Người là Nhà Tư Tưởng và trong bản chất của y manas là tối thượng. Chúng ta hãy suy ngẫm về rung động trí tuệ mà chúng ta đang tạo ra và biểu lộ.

The astral vibration deals with the quality, with the attractive measure. It is the psychic element.

Rung động cảm dục liên quan đến phẩm tính, đến nhịp điệu hấp dẫn. Nó là yếu tố thông linh.

764. The word “measure” suggests rhythm and mathematics.

764. Từ “nhịp điệu” gợi ra nhịp điệu và toán học.

765. So far we have been given two kinds of measures:

765. Cho đến nay chúng ta đã được cho hai loại nhịp điệu:

a. The “key measures”

a. “Nhịp điệu chủ âm”

b. The “attractive measure”

b. “Nhịp điệu hấp dẫn”

766. The astral vibration is selective of external quality which harmonizes with inherent quality and repellant to that which felt as inharmonious.

766. Rung động cảm dục có tính chọn lọc đối với phẩm tính bên ngoài hài hoà với phẩm tính nội tại và có tính đẩy lùi đối với điều được cảm thấy là bất hài hoà.

767. The “psychic element” is the sensitive element.

767. “Yếu tố thông linh” là yếu tố nhạy cảm.

The physical is the meeting ground of consciousness with the material form. This last is the result produced by the union of the key measure and the quality of tone.

Hồng trần là nơi gặp gỡ của tâm thức với hình tướng vật chất. Điều sau cùng này là kết quả được tạo ra bởi sự kết hợp của nhịp điệu chủ âm và phẩm tính của âm điệu.

768. More profound occultism!

768. Huyền bí học sâu sắc hơn nữa!

769. We are dealing with the magical process. It is indicated that the physical nature is the result of the collaboration between mind and the astral nature. In the magical process, the production of the final external form also depends upon the collaboration of the mind and the astral body.

769. Chúng ta đang đề cập đến tiến trình huyền thuật. Điều được chỉ ra là bản chất hồng trần là kết quả của sự cộng tác giữa trí tuệ và bản chất cảm dục. Trong tiến trình huyền thuật, việc tạo ra hình tướng bên ngoài cuối cùng cũng tùy thuộc vào sự cộng tác của trí tuệ và thể cảm dục.

770. The initiation process demands that consciousness infuse the material form. Thus, are the “prisoners of the planet” redeemed.

770. Tiến trình điểm đạo đòi hỏi tâm thức phải thấm nhuần hình tướng vật chất. Nhờ đó, “những tù nhân của hành tinh” được cứu chuộc.

771. We are to ponder on the “key measure” which, eventually, is to vibrate to monadic purpose (for the Monad is reflected in the mind), and the “quality of tone” (reflective of the soul) through which this key measure must express.

771. Chúng ta phải suy ngẫm về “nhịp điệu chủ âm”, mà cuối cùng sẽ rung động theo mục đích chân thần (vì chân thần được phản ánh trong trí tuệ), và “phẩm tính của âm điệu” (phản ánh linh hồn) qua đó nhịp điệu chủ âm này phải biểu lộ.

772. Within the personality the mind is the representative of the Monad and the astral body of the Ego.. The monadic ray has a special effect upon the mind and the soul ray upon the astral body.

772. Bên trong phàm ngã, trí tuệ là đại diện của chân thần và thể cảm dục là đại diện của chân ngã.. Cung chân thần có một tác động đặc biệt lên trí tuệ và cung linh hồn lên thể cảm dục.

The Personality ray finds its major field of activity and expression in the physical body. It determines its life trend and purpose, its appearance and occupation. It is selective of quality, when influenced by the egoic ray.

Cung phàm ngã tìm thấy lĩnh vực hoạt động và biểu lộ chính của nó trong thể xác. Nó xác định xu hướng sống và mục đích, vẻ ngoài và nghề nghiệp của thể ấy. Nó có tính chọn lọc đối với phẩm tính, khi bị cung chân ngã tác động.

The Egoic Ray has direct and specific action upon the astral body. Hence the battlefield of the life is ever on the plane of illusions as the soul seeks to dispel the ancient glamour, the aspirant is enabled to walk in the light.

Cung Chân ngã có tác động trực tiếp và đặc thù lên thể cảm dục. Vì thế chiến trường của đời sống luôn ở trên cõi ảo tưởng khi linh hồn tìm cách làm tiêu tan ảo cảm cổ xưa, người chí nguyện được giúp để bước đi trong ánh sáng.

The Monadic Ray influences the mental body, after integration of the personality has been brought about. It causes the mind nature to achieve that clear vision which finds its consummation at the fourth initiation, and releases the man from the limitations of form. There is an analogy to this triplicity and an interesting symbolic relation in the three Initiators. (EP I 406)

Cung Chân thần ảnh hưởng đến thể trí, sau khi sự tích hợp của phàm ngã đã được thực hiện. Nó khiến bản chất trí tuệ đạt được linh thị sáng tỏ, vốn đạt đến sự viên mãn ở lần điểm đạo thứ tư, và giải thoát con người khỏi các giới hạn của hình tướng. Có một sự tương đồng với bộ ba này và một mối liên hệ biểu tượng thú vị trong ba Đấng Điểm đạo. (EP I 406)

773. All that is here said is true of both man and the Solar Logos.

773. Tất cả những gì được nói ở đây đều đúng cho cả con người lẫn Thái dương Thượng đế.

b. Seven centres of force which hold the three forms in one coherent whole, and cause their vitalisation and their co-ordination.

b. Bảy trung tâm mãnh lực giữ ba hình tướng trong một toàn thể cố kết, và gây ra sự tiếp sinh lực cũng như sự phối hợp của chúng.

774. Let us tabulate the functions of the seven centers of force in relation to both man and Solar Logos.

774. Chúng ta hãy lập bảng các chức năng của bảy trung tâm mãnh lực liên hệ với cả con người lẫn Thái dương Thượng đế.

a. The centers hold the three forms in one coherent whole

a. Các trung tâm giữ ba hình tướng trong một toàn thể cố kết

b. The centers cause the vitalization of the three forms

b. Các trung tâm gây ra sự tiếp sinh lực cho ba hình tướng

c. The centers cause the coordination of the three forms.

c. Các trung tâm gây ra sự phối hợp của ba hình tướng.

775. If the Planetary Logoi are the centers in the body of a Solar Logos, then we learn something about the influence of the planets on the coherency of the three bodies logoic, on their vitalization and their coordination.

775. Nếu các Hành Tinh Thượng đế là các trung tâm trong thể của một Thái dương Thượng đế, thì chúng ta học được điều gì đó về ảnh hưởng của các hành tinh đối với tính cố kết của ba thể logoic, đối với sự tiếp sinh lực và sự phối hợp của chúng.

776. We remember that the seven chakras are extensions of monadic energy (meditated by the Ego on its own plane). So really, it is the Monad (whether of man or Planetary Logos) that is causing coherence, vitalization and coordination.

776. Chúng ta nhớ rằng bảy luân xa là những sự mở rộng của năng lượng chân thần (được chân ngã tham thiền trên cõi riêng của nó). Vì vậy, thực sự chính chân thần (dù của con người hay của Hành Tinh Thượng đế) là điều gây ra sự cố kết, sự tiếp sinh lực và sự phối hợp.

They put the triple unit into correlation with their main centre of consciousness on the higher planes, whether that centre is the causal body of man, of a planetary Logos, or of a solar Logos.

Chúng đặt đơn vị tam phân vào trong sự tương quan với trung tâm tâm thức chính của chúng trên các cõi cao, dù trung tâm ấy là thể nguyên nhân của con người, của một Hành Tinh Thượng đế, hay của một Thái dương Thượng đế.

777. Here the causal body is references as the “main centre of consciousness”, but in other sections of the book we learn that the energy pulsing through the causal body (cohering, vitalizing and coordinating) really emanates from the Monad.

777. Ở đây thể nguyên nhân được nhắc đến như “trung tâm tâm thức chính”, nhưng trong những phần khác của sách, chúng ta biết rằng năng lượng đang đập nhịp xuyên qua thể nguyên nhân (kết dính, tiếp sinh lực và phối hợp) thực ra phát xuất từ chân thần.

778. We may remember that earlier in this Commentary we were discussing the “main focal point” of man, the Heavenly Man and the Solar Logos (TCF 271). Perhaps we can equate the terms “main centre of consciousness” with “main focal point” since the causal body is involved in relation to both terms.

778. Chúng ta có thể nhớ rằng trước đó trong phần Bình Luận này, chúng ta đã bàn đến “điểm tập trung chính” của con người, Đấng Thiên Nhân và Thái dương Thượng đế (TCF 271). Có lẽ chúng ta có thể xem các thuật ngữ “trung tâm tâm thức chính” và “điểm tập trung chính” là tương đương, vì thể nguyên nhân có liên hệ với cả hai thuật ngữ ấy.

779. However, we noticed that the “main focal point” of the type of Heavenly Man under discussion was considered the systemic monadic plane. From reading what is given above, we realize that the type of Heavenly Man there discussed was probably not the Planetary Logos in His fulness (though every type of Heavenly Man is an expression of the Planetary Logos).

779. Tuy nhiên, chúng ta nhận thấy rằng “điểm tập trung chính” của loại Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến được xem là cõi chân thần hệ thống. Khi đọc điều được trình bày ở trên, chúng ta nhận ra rằng loại Đấng Thiên Nhân được bàn đến ở đó có lẽ không phải là Hành Tinh Thượng đế trong sự viên mãn của Ngài (dù mọi loại Đấng Thiên Nhân đều là một biểu hiện của Hành Tinh Thượng đế).

780. We are here told that a Planetary Logos has for His “main centre of consciousness on the higher planes”, the causal body, yet in the section under “main focal point” the causal body was not mentioned in relation to a Heavenly Man.

780. Ở đây chúng ta được cho biết rằng một Hành Tinh Thượng đế có “trung tâm tâm thức chính của Ngài trên các cõi cao” là thể nguyên nhân, thế nhưng trong phần nói về “điểm tập trung chính”, thể nguyên nhân đã không được nhắc đến trong liên hệ với một Đấng Thiên Nhân.

781. In relation to that earlier section, it becomes clear that the Planetary Logos was functioning through a lesser Heavenly Man, and it was the function embodied by the lesser Heavenly Man that was being described by listing its “main focal point” on the systemic monadic plane.

781. Liên hệ với phần trước đó, điều trở nên rõ ràng là Hành Tinh Thượng đế đang hoạt động thông qua một Đấng Thiên Nhân nhỏ hơn, và chính chức năng được hiện thân bởi Đấng Thiên Nhân nhỏ hơn ấy đã được mô tả bằng cách liệt kê “điểm tập trung chính” của nó trên cõi chân thần hệ thống.

782. When the centres are rightly functioning and in a manner coordinated with each other, they will give access to Ego and Monad.

782. Khi các trung tâm vận hành đúng đắn và theo cách được phối hợp với nhau, chúng sẽ cho phép tiếp cận chân ngã và chân thần.

c. Millions of infinitesimal cells, each embodying a lesser life, each in a condition of constant activity, and each repulsing other cells so as to preserve individuality or identity, yet each held to each by a central attractive force.

c. Hàng triệu tế bào vô cùng nhỏ bé, mỗi tế bào hiện thân một sự sống nhỏ hơn, mỗi tế bào ở trong trạng thái hoạt động không ngừng, và mỗi tế bào đều đẩy lùi các tế bào khác để bảo tồn tính biệt ngã hay bản sắc, nhưng mỗi tế bào vẫn được giữ với nhau bởi một mãnh lực hấp dẫn trung tâm.

783. Here we have important information descriptive of a cell. When what is said here is applied to man as a cell in the Planetary Logos, the results are illuminating.

783. Ở đây chúng ta có thông tin quan trọng mô tả một tế bào. Khi điều được nói ở đây được áp dụng cho con người như một tế bào trong Hành Tinh Thượng đế, kết quả thật soi sáng.

784. The cell

784. Tế bào

a. Embodies a lesser life

a. Hiện thân một sự sống nhỏ hơn

b. Is in a condition of constant activity

b. Ở trong trạng thái hoạt động không ngừng

c. Is repulsing other cells so as to preserve individuality or identity. (On the human level, this is an interesting rationale for the dynamic of repulsion which goes on between human units. If human beings do not know who to repulse, their individuality and identity can be compromised.)

c. Đẩy lùi các tế bào khác để bảo tồn tính biệt ngã hay bản sắc. (Ở cấp độ con người, đây là một cơ sở lý giải thú vị cho động lực đẩy lùi diễn ra giữa các đơn vị nhân loại. Nếu con người không biết phải đẩy lùi ai, tính biệt ngã và bản sắc của họ có thể bị tổn hại.)

d. Is held to other cells by a central attractive force. (This relates to either the herd instinct or group instinct in man—inspired by the soul.)

d. Được giữ với các tế bào khác bởi một mãnh lực hấp dẫn trung tâm. (Điều này liên hệ hoặc với bản năng bầy đàn hoặc bản năng nhóm nơi con người—được linh hồn truyền cảm hứng.)

Thus we have produced the objective form of a crystal, a vegetable, an animal, a man, a planet, a system.

Như vậy chúng ta đã tạo ra hình tướng khách quan của một tinh thể, một thực vật, một động vật, một con người, một hành tinh, một hệ thống.

785. All these structures are composed of “cells”.

785. Tất cả các cấu trúc này đều được hợp thành từ “tế bào”.

786. We are familiar with the cell structure for the vegetable, animal or man. What is the analogue to a cell within a crystal? A molecule?

786. Chúng ta quen thuộc với cấu trúc tế bào của thực vật, động vật hay con người. Tương đồng của một tế bào trong một tinh thể là gì? Một phân tử chăng?

787. Within a planet, man is a cell. There is a necessity to determine the relationship of a man to the three types of Heavenly Men—Globe Lords, Chain Lords and the Scheme-Lord (the Planetary Logos).

787. Trong một hành tinh, con người là một tế bào. Cần phải xác định mối liên hệ của con người với ba loại Đấng Thiên Nhân—các Chúa Tể Bầu Hành Tinh, các Chúa Tể Dãy và Chúa Tể Hệ Hành Tinh (Hành Tinh Thượng đế).

788. Within a solar system, groupings of men are as cells. In relation to the Solar Logos, is it legitimate to look upon Ashrams as cells?

788. Trong một hệ mặt trời, các nhóm người là như những tế bào. Liên hệ với Thái dương Thượng đế, có chính đáng không khi xem các ashram như những tế bào?

Finally, both work, therefore, in a dual manner and each demonstrates both attraction and repulsion.

Sau cùng, do đó cả hai đều hoạt động theo cách nhị phân và mỗi bên đều biểu lộ cả hấp dẫn lẫn đẩy lùi.

789. We remember that we are dealing with the condition of and problems shared by a Solar Logos and a man.

789. Chúng ta nhớ rằng chúng ta đang bàn đến trạng thái và các vấn đề được chia sẻ bởi một Thái dương Thượng đế và một con người.

Attraction of matter to Spirit and the building of a form for the use of Spirit is the result of electrical energy in the universe, which in each case brings the lesser lives or spheres into its range of influence.

Sự hấp dẫn của vật chất đối với Tinh thần và việc xây dựng một hình tướng để Tinh thần sử dụng là kết quả của năng lượng điện trong vũ trụ, năng lượng này trong mỗi trường hợp đưa các sự sống hay các khối cầu nhỏ hơn vào trong phạm vi ảnh hưởng của nó.

790. This is the first stage of a threefold process and relates to the Pleiadian impulse. The Pleiades are the source of “electrical energy”.

790. Đây là giai đoạn thứ nhất của một tiến trình tam phân và liên hệ với xung lực Pleiades. Pleiades là nguồn của “năng lượng điện”.

791. We are linking “electrical energy” to the Law of Attraction. We are discussing, perhaps, the second aspect of Fohat as Eros. Electrical energy, in this case, is a form-builder.

791. Chúng ta đang liên kết “năng lượng điện” với Định luật Hấp Dẫn. Có lẽ chúng ta đang bàn đến phương diện thứ hai của Fohat như Eros. Năng lượng điện, trong trường hợp này, là một đấng kiến tạo hình tướng.

792. The material lives must be brought within the sphere of influence of Spirit. Electrical energy accomplishes this.

792. Các sự sống vật chất phải được đưa vào trong phạm vi ảnh hưởng của Tinh thần. Năng lượng điện thực hiện điều này.

793. The attracted material units obscure the Spirit, but a great act of service is thereby arranged.

793. Các đơn vị vật chất được hấp dẫn làm che khuất Tinh thần, nhưng nhờ đó một hành vi phụng sự lớn lao được sắp đặt.

The magnetic force, the life of the Logos gathers together His body of manifestation. The magnetic force of the Heavenly Man, the planetary Logos, gathers out of the solar ring-pass-not that which He needs for each incarnation.

Mãnh lực từ tính, sự sống của Thượng đế, tập hợp lại thể biểu hiện của Ngài. Mãnh lực từ tính của Đấng Thiên Nhân, Hành Tinh Thượng đế, tập hợp từ vòng-giới-hạn thái dương điều mà Ngài cần cho mỗi lần lâm phàm.

794. Notice the use of the words “energy” and “force”. We are dealing with electrical energy and magnetic force.

794. Hãy lưu ý việc dùng các từ “năng lượng” và “mãnh lực”. Chúng ta đang bàn đến năng lượng điện và mãnh lực từ tính.

795. We are focusing upon a process of selectivity conditioned by the karma of the gatherer and of the gathered.

795. Chúng ta đang tập trung vào một tiến trình chọn lọc được tác động bởi nghiệp quả của kẻ tập hợp và của những gì được tập hợp.

796. It is as if, for the duration of manifestation, both factors are attracted to each other—the one who serves as logos and the lesser units gathered by the logos (whether that logos is the central life of an atom, a man, a Planetary Logos or a Solar Logos).

796. Dường như trong suốt thời kỳ biểu hiện, cả hai yếu tố đều bị hấp dẫn lẫn nhau—đấng phụng sự như một logos và các đơn vị nhỏ hơn được logos tập hợp (dù logos ấy là sự sống trung tâm của một nguyên tử, một con người, một Hành Tinh Thượng đế hay một Thái dương Thượng đế).

[Page 284]

[Page 284]

The magnetic force of the Ego gathers, at each rebirth, matter within the particular sphere or scheme within which the Ego has place.

Mãnh lực từ tính của chân ngã, trong mỗi lần tái sinh, tập hợp vật chất trong khối cầu hay hệ hành tinh đặc thù mà trong đó chân ngã có chỗ đứng.

797. This matter is pre-conditioned by the previous incarnation of the particular Ego. The matter gathered has already been tinged by the quality of the Ego through frequent, former association.

797. Vật chất này đã được tác động trước bởi lần lâm phàm trước của chân ngã đặc thù ấy. Vật chất được tập hợp đã mang sắc thái phẩm tính của chân ngã do sự liên kết thường xuyên trước đây.

The focus of activity shifts from the active body to the active entity within that body, the master of his surroundings, the director of his possessions, and the one who is the breath itself, despatching the lives to the reservoir of substance, or recalling them at will to resume their relation to him. (R&I 103)

Trọng tâm hoạt động chuyển từ thể hoạt động sang thực thể hoạt động bên trong thể ấy, bậc chủ của hoàn cảnh quanh mình, người điều khiển những gì mình sở hữu, và đấng chính là hơi thở, phóng đi các sự sống vào kho chứa chất liệu, hoặc gọi chúng trở lại theo ý muốn để tiếp tục mối liên hệ của chúng với y. (R&I 103)

798. The same must be true of the Solar Logos and the Planetary Logos. They are (through previous experience) related to that which they gather. And when they are gathered by a far greater Entity, it is as a result of former association.

798. Điều tương tự hẳn cũng đúng đối với Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế. Các Ngài có liên hệ (qua kinh nghiệm trước đây) với điều mà Các Ngài tập hợp. Và khi Các Ngài được một Thực Thể lớn lao hơn rất nhiều tập hợp, điều đó là kết quả của sự liên kết trước kia.

799. When the Ego takes its ‘rest’ between incarnations, the matter previously conditioned by the Ego is also ‘resting’ within a “reservoir of life”

799. Khi chân ngã “nghỉ ngơi” giữa các lần nhập thể, vật chất trước đó đã được chân ngã tác động cũng đang “nghỉ ngơi” trong một “kho chứa sự sống”

So on down the scale, we find the lesser pursuing its round ever within the greater.

Cứ thế đi xuống theo thang bậc, chúng ta thấy cái nhỏ hơn luôn theo đuổi cuộc tuần hoàn của nó bên trong cái lớn hơn.

800. Even the Universal Logos pursues its round with the GREATER—the GREATEST OF ALL POSSIBLE—the ABSOLUTE.

800. Ngay cả Thượng đế Vũ Trụ cũng theo đuổi cuộc tuần hoàn của Ngài bên trong ĐẤNG LỚN HƠN—ĐẤNG VĨ ĐẠI NHẤT TRONG MỌI KHẢ THỂ—ĐẤNG TUYỆT ĐỐI.

Therefore we have (during a period of Attraction and Repulsion, or a life cycle) that which we call Time and Space, and this holds equally true in the life cycle of a Logos or an ant, or a crystal.

Do đó chúng ta có (trong một thời kỳ Hấp Dẫn và Đẩy Lùi, hay một chu kỳ sự sống) điều mà chúng ta gọi là Thời Gian và Không Gian, và điều này cũng đúng như nhau trong chu kỳ sự sống của một Thượng đế, một con kiến, hay một tinh thể.

801. A life cycle is by definition a period of attraction and repulsion. Between the poles the life cycle occurs. The ‘space’ for the occurrence of every life cycle is situated in a specific magnetic and repulsive relation to the two poles. That relation changes through the process of evolution, moving away from matter and towards Spirit. In other words, the attraction towards matter gives way to repulsion from matter, and the repulsion from Spirit gives way to attraction to Spirit.

801. Theo định nghĩa, một chu kỳ sự sống là một thời kỳ hấp dẫn và đẩy lùi. Chu kỳ sự sống xảy ra giữa hai cực. “Không gian” cho sự xảy ra của mọi chu kỳ sự sống được đặt trong một mối liên hệ từ tính và đẩy lùi đặc thù với hai cực ấy. Mối liên hệ đó thay đổi qua tiến trình tiến hoá, di chuyển xa khỏi vật chất và hướng về Tinh thần. Nói cách khác, sự hấp dẫn đối với vật chất nhường chỗ cho sự đẩy lùi khỏi vật chất, và sự đẩy lùi khỏi Tinh thần nhường chỗ cho sự hấp dẫn đối với Tinh thần.

802. The condition of Spirit and root Matter is timeless and spaceless. Through their electrical, magnetic interplay limited perception begins and thus begin time and space.

802. Trạng thái của Tinh thần và Vật chất căn bản là phi thời gian và phi không gian. Qua sự tương tác điện và từ tính của chúng, tri giác hữu hạn bắt đầu, và như thế thời gian và không gian bắt đầu.

803. Unless attraction and repulsion are operative we will not have time and space.

803. Nếu hấp dẫn và đẩy lùi không hoạt động, chúng ta sẽ không có thời gian và không gian.

804. Or, time and space manifest only during periods of attraction and repulsion between Spirit and Matter.

804. Hoặc, thời gian và không gian chỉ biểu hiện trong những thời kỳ có hấp dẫn và đẩy lùi giữa Tinh thần và Vật chất.

805. The coming together of Spirit and Matter create time and space and also bring about the effective emergence into prominence of the second aspect of divinity (the ‘Universe Builder’) with its second law—the Law of Attraction—coeval with time and space.

805. Sự hội tụ của Tinh thần và Vật chất tạo ra thời gian và không gian, đồng thời cũng làm xuất hiện một cách hữu hiệu và nổi bật phương diện thứ hai của thiên tính (Đấng “Kiến Tạo Vũ Trụ”) với định luật thứ hai của nó—Định luật Hấp Dẫn—đồng thời với thời gian và không gian.

806. We judge then that the following ideas are closely related:

806. Vậy chúng ta kết luận rằng các ý tưởng sau đây có liên hệ mật thiết với nhau:

a. The attraction and repulsion of Spirit and Matter

a. Sự hấp dẫn và đẩy lùi của Tinh thần và Vật chất

b. The Law of Attraction and Repulsion

b. Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi

c. The Law of Periodicity

c. Định luật Chu Kỳ

d. Time and Space

d. Thời Gian và Không Gian

There are cycles of activity in matter, due to some energising Will, and then Time and Space are known.

Có những chu kỳ hoạt động trong vật chất, do một Ý Chí tiếp năng lượng nào đó, và khi ấy Thời Gian và Không Gian được biết đến.

807. Unless there is a cycle of activity in matter, Time and Space will not be known.

807. Nếu không có một chu kỳ hoạt động trong vật chất, Thời Gian và Không Gian sẽ không được biết đến.

808. The Will (as Spirit or of Spirit) commences the engagement of Spirit and Matter.

808. Ý Chí (như Tinh thần hay của Tinh thần) khởi đầu sự gắn kết của Tinh thần và Vật chất.

809. The genesis of time and space require the instigation of cyclic and spiral cyclic activity in matter as an energizing Will engages with matter.

809. Sự phát sinh của thời gian và không gian đòi hỏi sự khởi phát hoạt động chu kỳ và xoắn ốc-chu kỳ trong vật chất khi một Ý Chí tiếp năng lượng gắn kết với vật chất.

810. We note the phrase, “Time and Space are known”. This phrase points to the fact that Time and Space are perceptions or, as Kant has said, “categories of consciousness”.

810. Chúng ta lưu ý cụm từ “Thời Gian và Không Gian được biết đến”. Cụm từ này chỉ ra sự kiện rằng Thời Gian và Không Gian là những tri giác hay, như Kant đã nói, là “những phạm trù của tâm thức”.

There are cycles of non-being when Time and Space are not, and the energising Will is withdrawn.

Có những chu kỳ phi hiện hữu khi Thời Gian và Không Gian không có, và Ý Chí tiếp năng lượng được rút lại.

811. This is of philosophical importance.

811. Điều này có tầm quan trọng triết học.

812. The only cycle of pure and true non-being is the cycle of the ABSOLUTE—as GOD-ALL-IN-ALL.

812. Chu kỳ duy nhất của phi hiện hữu thuần túy và chân thực là chu kỳ của ĐẤNG TUYỆT ĐỐI—như THƯỢNG ĐẾ-TẤT CẢ-TRONG-TẤT CẢ.

813. Paradoxically, although ‘within’ the ABSOLUTE, Time and Space are not, nevertheless this ‘STATE’ occurs periodically!

813. Một cách nghịch lý, dù “bên trong” ĐẤNG TUYỆT ĐỐI, Thời Gian và Không Gian không có, tuy nhiên “TRẠNG THÁI” này lại xảy ra một cách chu kỳ!

814. The cycles of non-being are devoid of the sequential changes caused by the Law of Attraction and Repulsion.

814. Các chu kỳ phi hiện hữu không có những biến đổi tuần tự do Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi gây ra.

815. We see how fundamental to the production of Time and Space is the “energizing Will”.

815. Chúng ta thấy “Ý Chí tiếp năng lượng” có tính nền tảng đến mức nào đối với việc tạo ra Thời Gian và Không Gian.

816. The Will is that which goes forth from the Real in order to create the un-Real.

816. Ý Chí là điều phát xuất từ Thực Tại để tạo ra cái phi-thực tại.

817. The Will is the catalyst for the emergence of interactive duality.

817. Ý Chí là chất xúc tác cho sự xuất hiện của nhị nguyên tính tương tác.

818. The cycles of non-being need not be absolute. Each entity enters, periodically, relative cycles of non-being relative.

818. Các chu kỳ phi hiện hữu không nhất thiết phải là tuyệt đối. Mỗi thực thể đi vào, theo chu kỳ, những chu kỳ phi hiện hữu tương đối.

But we must not forget that this is purely relative, and only to be considered from the standpoint of the particular life or entity involved, and the special stage of awareness reached. All must be interpreted in terms of consciousness.

Nhưng chúng ta không được quên rằng điều này hoàn toàn tương đối, và chỉ được xem xét từ quan điểm của sự sống hay thực thể đặc thù có liên quan, cùng giai đoạn nhận biết đặc biệt đã đạt được. Mọi sự đều phải được diễn giải theo tâm thức.

819. There are, apparently, many types of cycles of relative non-being, but, in cosmos, they are more an experience than a fact.

819. Hiển nhiên có nhiều loại chu kỳ của phi hiện hữu tương đối, nhưng trong vũ trụ, chúng là một kinh nghiệm hơn là một sự kiện.

820. In deepest sleep, time and space appear as naught—at least the awakening one remembers a period of apparent non-existence or nothingness. This is not to say that the abstracted consciousness was not conscious and aware on levels impenetrable to the waking consciousness.

820. Trong giấc ngủ sâu nhất, thời gian và không gian dường như là hư không—ít nhất người thức dậy nhớ lại một thời kỳ dường như không hiện hữu hay hư vô. Điều này không có nghĩa là tâm thức được rút ra ấy đã không có tâm thức và nhận biết trên những cấp độ mà tâm thức thức tỉnh không thể xuyên thấu.

821. A cycle of relative non-being is a cycle of abstraction, or pralaya but not a cycle of extinction.

821. Một chu kỳ phi hiện hữu tương đối là một chu kỳ trừu xuất, hay giai kỳ qui nguyên, nhưng không phải là một chu kỳ của sự diệt tuyệt.

822. Perhaps may be that within cosmos, any cycle of non-being is really illusory, for the cosmos is being in manifestation, and consciousness is inextinguishable (though its content in higher worlds is often unremembered by the human being immersed in the limited consciousness of the lower worlds).

822. Có lẽ trong vũ trụ, bất kỳ chu kỳ phi hiện hữu nào thực ra cũng là ảo tưởng, vì vũ trụ là bản thể đang biểu hiện, và tâm thức là bất khả diệt (dù nội dung của nó trong các thế giới cao thường không được con người đang chìm trong tâm thức hạn hẹp của các thế giới thấp ghi nhớ).

823. We now deal with the meaning of three kinds of cycles. In the immediately foregoing excerpts DK mentions only two.

823. Giờ đây chúng ta bàn đến ý nghĩa của ba loại chu kỳ. Trong các trích đoạn ngay trước đó, Chân sư DK chỉ nhắc đến hai loại.

The first type of cycle, or the period involved in one entire revolution of a sphere around its own centre of consciousness, is to the particular Entity involved (be he God or man) a lesser cycle.

Loại chu kỳ thứ nhất, hay thời kỳ bao hàm trong một vòng quay trọn vẹn của một khối cầu quanh trung tâm tâm thức riêng của nó, đối với Thực Thể đặc thù có liên quan (dù là Thượng đế hay con người) là một chu kỳ nhỏ hơn.

824. This is rotation upon an axis.

824. Đây là sự tự quay trên một trục.

825. One revolution/rotation of this kind is, for the Earth, a day and night cycle. Clearly, for the Earth, this is a lesser cycle when compared to the yearly revolution of the Earth around the Sun.

825. Một vòng quay/tự quay loại này, đối với Trái Đất, là một chu kỳ ngày và đêm. Rõ ràng, đối với Trái Đất, đây là một chu kỳ nhỏ hơn khi so với cuộc cách mạng hằng năm của Trái Đất quanh Mặt Trời.

826. For a human being, one lesser cycle is a complete rotation of all rotating sheaths. We do not know the periods for such rotations. The greater cycle is the cycle of incarnation.

826. Đối với một con người, một chu kỳ nhỏ hơn là một sự quay trọn vẹn của mọi vỏ bọc đang quay. Chúng ta không biết các chu kỳ của những sự quay như thế. Chu kỳ lớn hơn là chu kỳ nhập thể.

827. This type of cycle correlates to the third aspect of divinity and to rotary motion.

827. Loại chu kỳ này tương ứng với phương diện thứ ba của thiên tính và với chuyển động quay tròn.

The second type of cycle or the period involved in the complete circling of an orbit, or the revolution of a sphere around the centre of which it is an integral part, we can consider as a greater cycle.

Loại chu kỳ thứ hai hay thời kỳ bao hàm trong sự đi trọn một quỹ đạo, hay cuộc cách mạng của một khối cầu quanh trung tâm mà nó là một phần toàn vẹn, chúng ta có thể xem là một chu kỳ lớn hơn.

828. Thus we have rotation, per se, as a lesser cycle and revolution per se, as a greater cycle.

828. Như vậy chúng ta có sự tự quay, chính nó, như một chu kỳ nhỏ hơnsự cách mạng, chính nó, như một chu kỳ lớn hơn.

829. This second type of cycle correlates to the second aspect of divinity and to spiral-cyclic motion.

829. Loại chu kỳ thứ hai này tương ứng với phương diện thứ hai của thiên tính và với chuyển động xoắn ốc-chu kỳ.

830. For man it will be kind of ‘revolution’ around his Ego in the reincarnational cycle.

830. Đối với con người, đó sẽ là một loại “cách mạng” quanh chân ngã của y trong chu kỳ tái sinh.

831. For the Planetary Logos, this type of cycle will be a revolution around the Sun, defining the year.

831. Đối với Hành Tinh Thượng đế, loại chu kỳ này sẽ là một cuộc cách mạng quanh Mặt Trời, xác định năm.

832. For the Solar Logos this cycle will be a revolution (we are told) of the solar system around the Pleiades (especially with reference to the central star of the Pleiades, Alcyone).

832. Đối với Thái dương Thượng đế, chu kỳ này sẽ là một cuộc cách mạng (như chúng ta được cho biết) của hệ mặt trời quanh Pleiades (đặc biệt liên hệ đến ngôi sao trung tâm của Pleiades, Alcyone).

The third type of cycle has not so much to do with the transition of the form through a certain location in space but as the cycle which includes both the greater and the lesser cycles.

Loại chu kỳ thứ ba không liên hệ nhiều đến sự chuyển tiếp của hình tướng qua một vị trí nào đó trong không gian cho bằng là chu kỳ bao gồm cả chu kỳ lớn hơn lẫn chu kỳ nhỏ hơn.

833. This type of cycle, we can infer, will rightly be correlated with the first aspect of divinity and with the first type of motion—progressive.

833. Từ đó chúng ta có thể suy ra rằng loại chu kỳ này sẽ được tương ứng đúng đắn với phương diện thứ nhất của thiên tính và với loại chuyển động thứ nhất—tiến triển.

It has to do with the response of the ENTITY, to Whom our solar Logos is but a centre in His Body, to the contacts made on that centre and on its cosmic opposite.

Nó liên hệ đến sự đáp ứng của THỰC THỂ mà đối với Ngài, Thái dương Thượng đế của chúng ta chỉ là một trung tâm trong Thể của Ngài, đối với những tiếp xúc được tạo ra trên trung tâm ấy và trên cực đối nghịch vũ trụ của nó.

834. A great triangle is produced between the ENTITY (let us call it a Cosmic Logos) and two Solar Logoi—our Solar Logos and the Solar Logos who is His polar opposite. We have already speculated on the possibility of either the Logos of Sirius or the Logos of Alpha Centauri—the two stars closest to the Sun.

834. Một tam giác lớn được tạo ra giữa THỰC THỂ ấy (chúng ta hãy gọi là một Thượng đế Vũ Trụ) và hai Thái dương Thượng đế—Thái dương Thượng đế của chúng ta và Thái dương Thượng đế là cực đối nghịch của Ngài. Chúng ta đã suy đoán trước đây về khả năng đó là Thượng đế của Sirius hoặc Thượng đế của Alpha Centauri—hai ngôi sao gần Mặt Trời nhất.

835. In this type of cycle, the Cosmic Logos is responding to the interplay between Solar Logoi.

835. Trong loại chu kỳ này, Thượng đế Vũ Trụ đang đáp ứng với sự tương tác giữa các Thái dương Thượng đế.

836. If we try to keep our perspective in proportion, the ENTITY concerned will not be the Super-Cosmic Logos or the One About Whom Naught May Be Said, because it is the constellation of which our Logos is one small part which is a center in such a BEING. (cf. TCF 293)

836. Nếu chúng ta cố giữ tầm nhìn của mình đúng tỉ lệ, THỰC THỂ được nói đến sẽ không phải là Thượng đế Siêu Vũ Trụ hay Đấng Bất Khả Tư Nghị, bởi vì chính chòm sao mà Thượng đế của chúng ta là một phần nhỏ trong đó mới là một trung tâm trong một HỮU THỂ như thế. (xem TCF 293)

These two centres, for instance, our solar system and its cosmic opposite, in their interaction create a cycle period which has a relation to the “ONE WHO IS ABOVE OUR LOGOS.”

Chẳng hạn, hai trung tâm này, hệ mặt trời của chúng ta và cực đối nghịch vũ trụ của nó, trong sự tương tác của chúng tạo ra một chu kỳ có liên hệ với “ĐẤNG Ở TRÊN THƯỢNG ĐẾ CỦA CHÚNG TA.”

837. This whole subject is blinded. We have made some inferences elsewhere in this commentary.

837. Toàn bộ chủ đề này bị che giấu. Chúng ta đã đưa ra một vài suy luận ở nơi khác trong phần bình luận này.

838. The ONE WHO IS ABOVE OUR LOGOS is probably a Cosmic Logos and not a Super-Cosmic Logos.

838. ĐẤNG Ở TRÊN THƯỢNG ĐẾ CỦA CHÚNG TA có lẽ là một Thượng đế Vũ Trụ chứ không phải một Thượng đế Siêu Vũ Trụ.

839. One suspects that in considering these two Solar Logoi there is an analogy to the Earth (related to our Logos, perhaps) and Venus (related to the other Logos). If the analogy is appropriate, the other Logos is probably the Logos of Sirius.

839. Người ta nghi rằng khi xét đến hai Thái dương Thượng đế này có một sự tương đồng với Trái Đất (có lẽ liên hệ với Thượng đế của chúng ta) và Sao Kim (liên hệ với Thượng đế kia). Nếu sự tương đồng ấy thích hợp, thì Thượng đế kia có lẽ là Thượng đế của Sirius.

840. Have we noticed how great a leap there has been between the second type of cycle and the third?

840. Chúng ta có nhận thấy bước nhảy lớn đến mức nào giữa loại chu kỳ thứ hai và loại thứ ba không?

841. One suspects that in relation to this third cycle there will be a “driving forward through space” towards that great ENTITY which will act as an attractor for the two Solar Logoi under discussion.

841. Người ta nghi rằng liên hệ với chu kỳ thứ ba này sẽ có một “sự thúc đẩy tiến tới xuyên qua không gian” hướng về THỰC THỂ vĩ đại ấy, Đấng sẽ hoạt động như một lực hút đối với hai Thái dương Thượng đế đang được bàn đến.

This is, of course, beyond human conception, but must be included in our enumeration of cycles if exactitude is to be achieved.

Dĩ nhiên điều này vượt ngoài khả năng quan niệm của con người, nhưng phải được đưa vào sự liệt kê các chu kỳ của chúng ta nếu muốn đạt được tính chính xác.

842. On the solar logoic level

842. Ở cấp độ thái dương logoic

a. The entire solar system has one revolution every 100,000. or so years.

a. Toàn bộ hệ mặt trời có một vòng cách mạng mỗi 100,000. năm hoặc khoảng đó.

b. The entire solar system revolves (we are told) around the Pleiades every 250,000. years or so.

b. Toàn bộ hệ mặt trời quay quanh (như chúng ta được cho biết) Pleiades mỗi 250,000. năm hoặc khoảng đó.

c. Our solar system and another to which ours is intimately related, are related to a greater ENTITY, and this relationship should involve the motion of “progress onward”.

c. Hệ mặt trời của chúng ta và một hệ khác mà hệ của chúng ta có liên hệ mật thiết, đều có liên hệ với một THỰC THỂ lớn hơn, và mối liên hệ này hẳn phải bao hàm chuyển động của “sự tiến triển đi tới”.

d. DK gives a hint when He says that this third type of cycle does not involve the “transition of the form through a certain location in space”, as do the first and second cycles. If the motion of “progress onward” were involved, the location in space would not be a “certain location” but would be forever changing with the “driving forward” of the two Logoi towards their ‘Attractor’.

d. Chân sư DK đưa ra một gợi ý khi Ngài nói rằng loại chu kỳ thứ ba này không bao hàm “sự chuyển tiếp của hình tướng qua một vị trí nào đó trong không gian”, như hai chu kỳ thứ nhất và thứ hai. Nếu chuyển động của “sự tiến triển đi tới” có liên quan, thì vị trí trong không gian sẽ không phải là một vị trí “nhất định” mà sẽ luôn thay đổi cùng với “sự thúc đẩy tiến tới” của hai Thượng đế hướng về ‘Đấng Hấp Dẫn’ của Các Ngài.

e. This cycle would involve direct movement towards a cosmic center, and would naturally include the other two cycles of the Solar Logos—axial rotation and orbital revolution. The “driving forward” would render orbital revolution spiral-cyclic. So would it be, as well, for axial rotation

e. Chu kỳ này sẽ bao hàm chuyển động trực tiếp hướng về một trung tâm vũ trụ, và dĩ nhiên sẽ bao gồm hai chu kỳ kia của Thái dương Thượng đế—sự tự quay trên trục và sự cách mạng theo quỹ đạo. “Sự thúc đẩy tiến tới” sẽ làm cho sự cách mạng theo quỹ đạo trở thành xoắn ốc-chu kỳ. Điều đó cũng sẽ đúng đối với sự tự quay trên trục

843. Such a cycle in relation to man would relate to a return to the Monad.

843. Một chu kỳ như thế liên hệ với con người sẽ liên hệ đến sự trở về với chân thần.

844. We cannot hope to penetrate the veils hiding such cosmic occurrences. It does seem reasonable, however, to infer that this third type of cycle relates to Law of Monadic Return on both a human and solar logoic level.

844. Chúng ta không thể hy vọng xuyên thấu những bức màn che giấu các biến cố vũ trụ như thế. Tuy nhiên, có vẻ hợp lý khi suy ra rằng loại chu kỳ thứ ba này liên hệ với Định luật Trở Về của Chân Thần trên cả cấp độ con người lẫn cấp độ thái dương logoic.

845. To simplify, the first type of cycle can be correlated with the personality.

845. Để đơn giản hóa, loại chu kỳ thứ nhất có thể được tương ứng với phàm ngã.

846. The second type of cycle is a soul or egoic cycle.

846. Loại chu kỳ thứ hai là một chu kỳ linh hồn hay chân ngã.

847. The third type of cycle is inferred as a monadic cycle.

847. Loại chu kỳ thứ ba được suy ra là một chu kỳ chân thần.

848. The material we have been considering is deeply veiled and our intelligence is not sufficient to penetrate. DK uses the word “exceedingly abstruse”, and He means it!

848. Tài liệu mà chúng ta đang xem xét bị che phủ rất sâu và trí tuệ của chúng ta không đủ để xuyên thấu. Chân sư DK dùng từ “cực kỳ thâm áo”, và Ngài thực sự có ý như vậy!

Leave a Comment

Scroll to Top