Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S3S7 (285-296)

📘 Sách: Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S3 – Tác giả: Michael D. Robbins

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

S3S7: TCF 285-296

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.

Người ta đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với cuốn TCF ở bên cạnh, để bảo đảm tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn văn.

VIII. WHY IS KNOWLEDGE BOTH EXOTERIC AND ESOTERIC? 16

VIII. TẠI SAO TRI THỨC VỪA NGOẠI MÔN VỪA NỘI MÔN? 16

1. This seems an unusual question. After many years of studying esotericism, the very foundation of our study predicates a distinction between esoteric and exoteric knowledge.

1. Đây có vẻ là một câu hỏi khác thường. Sau nhiều năm nghiên cứu huyền bí học, chính nền tảng của việc học của chúng ta giả định một sự phân biệt giữa tri thức nội môn và ngoại môn.

2. Perhaps the answers to be offered are not as obvious as we may suppose.

2. Có lẽ những câu trả lời được đưa ra không hiển nhiên như chúng ta có thể nghĩ.

Footnote 16: In the Secret Doctrine we are told that there are seven branches of knowledge mentioned in the Puranas. S. D., I, 192.

Cước chú 16: Trong Giáo Lý Bí Nhiệm chúng ta được cho biết rằng có bảy ngành tri thức được nhắc đến trong các Purana. S. D., I, 192.

3. The Puranas are considered more exoteric than either the Vedas or Upanishads.

3. Các Purana được xem là ngoại môn hơn cả Veda lẫn Upanishad.

Correspondences can here be worked out in connection with:—

Những tương ứng ở đây có thể được triển khai liên hệ với:—

4. Perhaps some indications concerning these correspondences can be offered. It is probable that the correspondences will not always fit neatly.

4. Có lẽ có thể đưa ra một vài chỉ dẫn liên quan đến những tương ứng này. Có khả năng là các tương ứng ấy sẽ không phải lúc nào cũng khớp gọn ghẽ.

a. The seven Rays, the Lords of Sacrifice, Love and Knowledge.

a. Bảy cung, các Chúa Tể của Hi Sinh, Bác Ái và Tri Thức.

5. It is interesting that all seven of the rays are included under three headings—sacrifice, love and knowledge.

5. Thật thú vị khi cả bảy cung đều được bao gồm dưới ba tiêu đề—hi sinh, bác ái và tri thức.

6. It may be said with reason that all of the seven are characterized by all three of the qualities.

6. Có thể nói một cách hợp lý rằng cả bảy cung đều được đặc trưng bởi cả ba phẩm tính ấy.

7. From another perspective the Lord of Sacrifice may be considered the Lords upon the first ray; the Lord of Love may be considered the Ray Lord upon the second ray; the Lords of Knowledge will be the Ray Lords on the five Brahmic Rays—three, four, five, six and seven.

7. Từ một góc nhìn khác, Chúa Tể của Hi Sinh có thể được xem là các Chúa Tể trên cung một; Chúa Tể của Bác Ái có thể được xem là Chúa Tể Cung trên cung hai; các Chúa Tể của Tri Thức sẽ là các Chúa Tể Cung trên năm cung Brahma—ba, bốn, năm, sáu và bảy.

8. From yet another perspective the Lords of Sacrifice can be considered the Ray Lords expressing through the first and seventh rays: the Lords of Love can be considered the Ray Lords expressing through the second, fourth and sixth rays; the Lords of Knowledge can be considered as the Ray Lords expressing through the third and fifth rays.

8. Từ một góc nhìn khác nữa, các Chúa Tể của Hi Sinh có thể được xem là các Chúa Tể Cung biểu lộ qua cung một và cung bảy; các Chúa Tể của Bác Ái có thể được xem là các Chúa Tể Cung biểu lộ qua cung hai, cung bốn và cung sáu; các Chúa Tể của Tri Thức có thể được xem là các Chúa Tể Cung biểu lộ qua cung ba và cung năm.

b. The seven states of consciousness.

b. Bảy trạng thái tâm thức.

1. Each state of consciousness correlates with one of the seven planes and is principally expressive on that particular plane.

1. Mỗi trạng thái tâm thức tương ứng với một trong bảy cõi và chủ yếu biểu lộ trên cõi đặc thù ấy.

c. The seven states of matter or planes.

c. Bảy trạng thái của vật chất hay các cõi.

1. We are speaking here of the atomic structure of the planes. From another perspective, the planes can be equated with states of consciousness.

1. Ở đây chúng ta đang nói về cấu trúc nguyên tử của các cõi. Từ một góc nhìn khác, các cõi có thể được xem là tương đương với các trạng thái tâm thức.

d. The seven types of forces.

d. Bảy loại mãnh lực.

1. These are the seven Shaktis or the seven types of energy/force emanating from the source—i.e., the Monad.

1. Đây là bảy Shaktis hay bảy loại năng lượng/mãnh lực phát xuất từ nguồn cội—tức là chân thần.

e. The seven Initiations and many other septenates.

e. Bảy lần điểm đạo và nhiều bộ bảy khác.

1. The seven initiations give entrée into the seven states of consciousness which are fully expressed upon the seven systemic or solar planes.

1. Bảy lần điểm đạo cho phép đi vào bảy trạng thái tâm thức được biểu lộ đầy đủ trên bảy cõi hệ thống hay thái dương.

The Gnosis, the hidden knowledge, is the seventh Principle, the six schools of Indian philosophy are the six principles. —S. D., I, 299.

Minh triết, tri thức ẩn tàng, là Nguyên khí thứ bảy; sáu trường phái triết học Ấn Độ là sáu nguyên khí. —S. D., I, 299.

1. The six surround the one making the seven. Similarly, twelve surround the one making the thirteen as in the case of Christ and His twelve disciples.

1. Sáu cái bao quanh một cái, tạo thành bảy. Tương tự như vậy, mười hai cái bao quanh một cái, tạo thành mười ba, như trong trường hợp của Đức Christ và mười hai đệ tử của Ngài.

2. If the seventh principle is atma, then the Gnosis corresponds with atmic knowledge which is considered “hidden knowledge”. The Gnosis does not correspond to the Monad.

2. Nếu nguyên khí thứ bảy là atma, thì Gnosis tương ứng với tri thức atma, vốn được xem là “tri thức ẩn tàng”. Gnosis không tương ứng với chân thần.

3. If, however, the “Atman” is considered the seventh principle (and the “Atman” is not atma but the Spirit) and then the Gnosis would correspondence to the Monad.

3. Tuy nhiên, nếu “Atman” được xem là nguyên khí thứ bảy (và “Atman” không phải là atma mà là tinh thần) thì Gnosis sẽ tương ứng với chân thần.

These six schools are:—

Sáu trường phái này là:—

a. The school of Logic.. Proof of right perception.

a. Trường phái Luận lý.. Chứng minh về tri giác đúng đắn.

1. This can be considered a school in which correct thinking is pursued.

1. Điều này có thể được xem là một trường phái trong đó tư duy đúng đắn được theo đuổi.

2. The senses can mislead, and common thoughts can bewilder. Perceptions must be verified through the powers of logical thought.

2. Các giác quan có thể đánh lừa, và những tư tưởng thông thường có thể làm rối trí. Các tri giác phải được kiểm chứng qua các năng lực của tư duy luận lý.

3. The rays involved are especially the third and the fifth.

3. Các cung liên hệ đặc biệt là cung ba và cung năm.

4. Planets concerned are Saturn (the planet of logic), Mercury (the planet of thought) and Venus (the planet of lucidity).

4. Các hành tinh liên quan là Sao Thổ (hành tinh của luận lý), Sao Thủy (hành tinh của tư tưởng) và Sao Kim (hành tinh của sự minh triệt).

5. The plane involved is especially the mental plane.

5. Cõi liên hệ đặc biệt là cõi trí.

6. We may infer that the initiation concerned is the third.

6. Chúng ta có thể suy ra rằng lần điểm đạo liên hệ là lần điểm đạo thứ ba.

b. The atomic school… System of particulars. Elements.

b. Trường phái nguyên tử… Hệ thống các biệt thể. Các nguyên tố.

Alchemy and chemistry.

Thuật luyện kim và hóa học.

1. This can be considered the school in which matter is scientifically investigated and transmuted.

1. Điều này có thể được xem là trường phái trong đó vật chất được khảo cứu một cách khoa học và được chuyển hoá.

2. Alchemy is found upon the seventh ray and chemistry upon the fifth. Both the fifth and seventh rays (concrete rays) pursue an understanding of particulars. An understanding of “elements” or essences is reached through analysis—again upon the fifth ray.

2. Thuật luyện kim thuộc cung bảy và hóa học thuộc cung năm. Cả cung năm lẫn cung bảy (các cung cụ thể) đều theo đuổi sự thấu hiểu về các biệt thể. Sự thấu hiểu về các “nguyên tố” hay tinh túy đạt được qua phân tích—một lần nữa, trên cung năm.

3. The planets involved are Uranus (seventh ray) and Venus (fifth ray). Both of these are involved in the alchemical process.

3. Các hành tinh liên hệ là Sao Thiên Vương (cung bảy) và Sao Kim (cung năm). Cả hai đều tham dự vào tiến trình luyện kim.

4. The plane specifically involved is the seventh, though higher planes may also be studied as regards their particulars, their elements, and the transmutative process.

4. Cõi đặc biệt liên hệ là cõi thứ bảy, mặc dù các cõi cao hơn cũng có thể được nghiên cứu xét về các biệt thể, các nguyên tố và tiến trình chuyển hoá của chúng.

5. We may infer that the initiation concerned is especially the first, involving the act of transmutation.

5. Chúng ta có thể suy ra rằng lần điểm đạo liên hệ đặc biệt là lần điểm đạo thứ nhất, bao hàm hành vi chuyển hoá.

6. As suggested above, there will not be a neat, one-to-one correspondence between the septenates given in the excerpt above, and the six or seven approaches to philosophical understanding.

6. Như đã gợi ý ở trên, sẽ không có một sự tương ứng gọn ghẽ, một-một giữa các bộ bảy được nêu trong đoạn trích trên và sáu hay bảy cách tiếp cận đối với sự thấu hiểu triết học.

c. The Sankhya school… System of numbers. The materialistic school. The theory of the seven states of matter or prakriti.

c. Trường phái Sankhya… Hệ thống các con số. Trường phái duy vật. Lý thuyết về bảy trạng thái của vật chất hay prakriti.

1. The rays most concerned with mathematics are the second, third, fourth and fifth.

1. Các cung liên hệ nhiều nhất với toán học là cung hai, cung ba, cung bốn và cung năm.

2. Since the “Sankhya school” is to be considered the “materialistic school” we can pretty well eliminate the second and fourth rays (which are rays of subjectivity rather than of form when considering form from the material perspective).

2. Vì “trường phái Sankhya” được xem là “trường phái duy vật”, chúng ta khá có thể loại bỏ cung hai và cung bốn (vốn là các cung của tính chủ quan hơn là của hình tướng khi xét hình tướng từ quan điểm vật chất).

3. The seventh ray must also be included because the “seven states of matter” are studied in this school.

3. Cung bảy cũng phải được bao gồm vì “bảy trạng thái của vật chất” được nghiên cứu trong trường phái này.

4. Thus, rays three, five and seven are representative of this school.

4. Do đó, cung ba, cung năm và cung bảy là tiêu biểu cho trường phái này.

5. There is probably also a strong relation to the deva kingdom as the Raja Deva Lords are the beings who inform the seven planes or seven states of matter.

5. Có lẽ cũng có một liên hệ mạnh mẽ với giới thiên thần vì các Raja Deva Lords là những hữu thể thấm nhuần bảy cõi hay bảy trạng thái của vật chất.

6. This school would also be concerned with the principles of form building—considering form as the foundation through which the second aspect of divinity must learn to express.

6. Trường phái này cũng sẽ quan tâm đến các nguyên khí của việc xây dựng hình tướng—xem hình tướng như nền tảng qua đó phương diện thứ hai của thiên tính phải học cách biểu lộ.

7. How does the second school differ from the third, as there seem to be a number of states in common? Perhaps we might say that the third school deals with the planes as a whole and the second school with the particular atoms to be found upon those planes.

7. Trường phái thứ hai khác với trường phái thứ ba như thế nào, khi dường như có một số trạng thái chung? Có lẽ chúng ta có thể nói rằng trường phái thứ ba bàn đến các cõi như những toàn thể, còn trường phái thứ hai bàn đến các nguyên tử biệt thể được tìm thấy trên các cõi ấy.

8. The numerical relationship of the many forms of vibration would be pursued and understood in this school.

8. Mối liên hệ số học của nhiều hình thức rung động sẽ được theo đuổi và thấu hiểu trong trường phái này.

9. A mastery of numbers would also be related to the mastery of mantra, achieved upon the third and seventh rays (both of which during different developmental stages, rule the throat center and both of which are rays of magic).

9. Sự làm chủ các con số cũng sẽ liên hệ với sự làm chủ mantram, đạt được trên cung ba và cung bảy (cả hai, trong những giai đoạn phát triển khác nhau, đều cai quản trung tâm cổ họng và đều là các cung của huyền thuật).

10. The adherents in this school would understand the sound formulas through which the matter of any plane could be manipulated. There is more third ray in this approach, and more fifth ray to be found in the “atomic school”. Both share the seventh ray.

10. Những người theo trường phái này sẽ hiểu các công thức âm thanh qua đó vật chất của bất kỳ cõi nào cũng có thể được thao tác. Có nhiều cung ba hơn trong cách tiếp cận này, và nhiều cung năm hơn trong “trường phái nguyên tử”. Cả hai cùng chia sẻ cung bảy.

11. It is difficult to infer that the Sankhya school has a relation to any particular initiation.

11. Thật khó suy ra rằng trường phái Sankhya có liên hệ với bất kỳ lần điểm đạo đặc thù nào.

d. The school of Yoga… Union. The rule of daily life. Mysticism.

d. Trường phái Yoga… Hợp nhất. Quy luật của đời sống hằng ngày. Thần bí học.

1. A number of rays are suggested in the procedures of the “school of Yoga”. It is the fourth school and, to a degree, correlates with the fourth ray, which always tends to promote at-one-ment or union.

1. Một số cung được gợi ra trong các thủ tục của “trường phái Yoga”. Đây là trường phái thứ tư và, ở một mức độ nào đó, tương quan với cung bốn, vốn luôn có khuynh hướng thúc đẩy sự hợp nhất hay hiệp nhất.

2. The concept of the “rule of daily life”, however, suggests the seventh ray—the Ray of Law and Order. The mystical factor in this school suggests the sixth ray.

2. Tuy nhiên, khái niệm “quy luật của đời sống hằng ngày” gợi ra cung bảy—Cung của Định luật và Trật tự. Yếu tố thần bí trong trường phái này gợi ra cung sáu.

3. Of course there are many different kinds of yoga, each of them coming forth on one or two rays in particular.

3. Dĩ nhiên có nhiều loại yoga khác nhau, mỗi loại trong số đó xuất hiện đặc biệt trên một hay hai cung.

a Karma Yoga—principally the third and seventh rays

a Karma Yoga—chủ yếu là cung ba và cung bảy

b Laya Yoga—principally the seventh ray

b Laya Yoga—chủ yếu là cung bảy

c Hatha Yoga—principally the fourth ray (according to the Tibetan), though it would be difficult to exclude the seventh ray.

c Hatha Yoga—chủ yếu là cung bốn (theo Chân sư Tây Tạng), mặc dù khó có thể loại trừ cung bảy.

d Bhakti Yoga—principally the sixth ray

d Bhakti Yoga—chủ yếu là cung sáu

e Gnani Yoga—principally the third and fifth rays

e Gnani Yoga—chủ yếu là cung ba và cung năm

f Raja Yoga—principally the second and fifth rays

f Raja Yoga—chủ yếu là cung hai và cung năm

g Agni Yoga—principally the first ray, but the second ray should not be ignored because Agni Yoga is the “Yoga of Synthesis” and synthesis is the second aspect of the will.

g Agni Yoga—chủ yếu là Cung một, nhưng không nên bỏ qua cung hai vì Agni Yoga là “Yoga của Tổng Hợp” và tổng hợp là phương diện thứ hai của ý chí.

1. The idea in relation to Yoga—that two things which are separated must be joined—suggests the general need for the fourth ray, which links and fuses factors which are separated. The second ray does something of the same.

1. Ý tưởng liên hệ với Yoga—rằng hai điều bị tách rời phải được kết hợp—gợi ra nhu cầu tổng quát về cung bốn, vốn nối kết và dung hợp các yếu tố bị tách rời. Cung hai cũng làm điều tương tự ở một mức độ nào đó.

2. Yoga is found related to all planes, all states of consciousness and all initiations.

2. Yoga được thấy là liên hệ với mọi cõi, mọi trạng thái tâm thức và mọi lần điểm đạo.

e. The school of Ceremonial religion… Ritual. Worship of the devas or Gods.

e. Trường phái Tôn giáo nghi lễ… Nghi thức. Sự thờ phụng các thiên thần hay các Thượng đế.

1. This is in many ways a Jupiterian school.

1. Đây theo nhiều phương diện là một trường phái thuộc Sao Mộc.

2. The religious factor suggests the importance of the sixth ray.

2. Yếu tố tôn giáo gợi ra tầm quan trọng của cung sáu.

3. The fact that the religion is “ceremonial” suggests the presence of the seventh ray.

3. Việc tôn giáo này mang tính “nghi lễ” gợi ra sự hiện diện của cung bảy.

4. The “worship of the devas” suggests the presence of both the sixth and seventh rays. The sixth ray is the ‘ray of worship’, and connection with the devas is particular the province of the seventh ray—though all ray types can connect with the devas who are to be found on all rays.

4. “Sự thờ phụng các thiên thần” gợi ra sự hiện diện của cả cung sáu lẫn cung bảy. Cung sáu là ‘cung của sự thờ phụng’, và sự kết nối với các thiên thần đặc biệt thuộc phạm vi của cung bảy—mặc dù mọi loại cung đều có thể kết nối với các thiên thần hiện diện trên mọi cung.

5. In this context the devas are considered as “gods” or shining ones.

5. Trong bối cảnh này, các thiên thần được xem là các “thượng đế” hay các đấng sáng chói.

6. The two parallel evolutions (man and deva) are especially linked upon the seventh and fourth rays.

6. Hai tiến trình tiến hoá song song (con người và thiên thần) được nối kết đặc biệt trên cung bảy và cung bốn.

7. Both the astral and physical planes are especially involved in this school. Right practices and right ritual must be combined with right desire and aspiration.

7. Cả cõi cảm dục lẫn cõi hồng trần đều đặc biệt liên hệ trong trường phái này. Những thực hành đúng đắn và nghi lễ đúng đắn phải được kết hợp với dục vọng và khát vọng đúng đắn.

8. We may infer that the initiations involved are the first and second, especially—both, initiations of the threshold.

8. Chúng ta có thể suy ra rằng các lần điểm đạo liên hệ đặc biệt là lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai—cả hai đều là những lần điểm đạo của ngưỡng cửa.

9. On a higher turn of the spiral, the buddhic plane must be involved for we are dealing with that which religion hopes to invoke—i.e., the unitive sense which is characteristic of buddhi.

9. Trên một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc, cõi Bồ đề phải được bao gồm vì chúng ta đang bàn đến điều mà tôn giáo hy vọng khẩn cầu—tức là cảm thức hợp nhất vốn là đặc trưng của Bồ đề.

f. The Vedanta school… Has to do with non-duality. Deals with the relation of Atma in man to the Logos.

f. Trường phái Vedanta… Liên quan đến phi nhị nguyên. Bàn đến mối liên hệ của Atma trong con người với Logos.

1. This is the highest school of the six schools.

1. Đây là trường phái cao nhất trong sáu trường phái.

2. It is the Divine Will (related to the first ray) that resolves duality into unity and synthesis.

2. Chính Ý Chí thiêng liêng (liên hệ với Cung một) giải quyết nhị nguyên tính thành hợp nhất và tổng hợp.

3. The first ray is the ray of non-duality.

3. Cung một là cung của phi nhị nguyên.

4. We note that the school deals with the “Atma” and not the “Atman”. The “Atman” is pure Spirit. The “Atma” is related to the atmic plane (the “nirvanic plane”) and the spiritual will which emanates from that plane.

4. Chúng ta lưu ý rằng trường phái này bàn đến “Atma” chứ không phải “Atman”. “Atman” là Tinh thần thuần túy. “Atma” liên hệ với cõi atma (cõi “Niết Bàn”) và ý chí tinh thần phát xuất từ cõi đó.

5. It may be questioned whether the atmic plane is a plane of completed non-dualism. It may by hypothesized that monadic identification (achieved on the sixth plane/or second) is required for the full realization of non-dualism.

5. Có thể đặt câu hỏi liệu cõi atma có phải là một cõi của phi nhị nguyên hoàn toàn hay không. Có thể giả định rằng sự đồng hoá chân thần (đạt được trên cõi thứ sáu/hay thứ hai) là cần thiết cho sự chứng nghiệm trọn vẹn về phi nhị nguyên.

6. There is the possibility, however, that when the term “Atma” is used, the “Atman” may be meant, in which case monadic identification would be sought in this school.

6. Tuy nhiên, cũng có khả năng là khi thuật ngữ “Atma” được dùng, người ta thực sự muốn nói đến “Atman”, trong trường hợp đó sự đồng hoá chân thần sẽ được tìm kiếm trong trường phái này.

7. The initiations involved are the fifth and the sixth, and the planes corresponding to these initiations are respectively the fifth and sixth (numbering from below).

7. Các lần điểm đạo liên hệ là lần điểm đạo thứ năm và thứ sáu, và các cõi tương ứng với các lần điểm đạo này lần lượt là cõi thứ năm và thứ sáu (đếm từ dưới lên).

8. Which “Logos” is here meant? The Planetary Logos? The Solar Logos?

8. “Logos” ở đây được hiểu là Logos nào? Hành Tinh Thượng đế? Thái dương Thượng đế?

9. It would seem more proper to say that this school must deal with the relation of the Monad to the Planetary Logos or Solar Logos. Such a relationship is often mentioned, whereas the relationship of “Atma” to the Planetary Logos or Solar Logos is not often mentioned (unless, of course, the “Atma” really means the “Atman” or immortal Spirit.

9. Có vẻ thích đáng hơn khi nói rằng trường phái này phải bàn đến mối liên hệ của chân thần với Hành Tinh Thượng đế hay Thái dương Thượng đế. Một mối liên hệ như vậy thường được nhắc đến, trong khi mối liên hệ của “Atma” với Hành Tinh Thượng đế hay Thái dương Thượng đế lại không thường được nhắc đến (trừ phi, dĩ nhiên, “Atma” thực sự có nghĩa là “Atman” hay Tinh thần bất tử.

10. We can successfully relate the “Atma” to the Monad: atma or the “Atma” usually means the spiritual will(associated with the first aspect of divinity) and the first expression of pure being (Monad) is the will.

10. Chúng ta có thể liên hệ thành công “Atma” với chân thần: atma hay “Atma” thường có nghĩa là ý chí tinh thần (gắn với phương diện thứ nhất của thiên tính) và sự biểu lộ đầu tiên của bản thể thuần túy (chân thần) là ý chí.

The Gnosis or hidden knowledge is the same as Atma vidya, or Theosophy, and includes the other six.

Gnosis hay tri thức ẩn tàng cũng chính là Atma vidya, hay Thông Thiên Học, và bao gồm sáu trường phái kia.

1. The seventh school works through “Atma Vidya” or Divine Wisdom (Theosophy).

1. Trường phái thứ bảy hoạt động qua “Atma Vidya” hay Minh Triết Thiêng Liêng (Thông Thiên Học).

2. It is, in a way, the synthesis of all the other schools and draws from them.

2. Theo một nghĩa nào đó, đây là sự tổng hợp của tất cả các trường phái khác và rút ra từ chúng.

3. The synthetic ray in our solar system is the second ray of Love-Wisdom—the ray of the pure “Gnosis”.

3. Cung tổng hợp trong hệ mặt trời của chúng ta là cung hai của Bác Ái – Minh Triết—cung của “Gnosis” thuần túy.

4. The plane concerned would be especially the monadic plane—a plane of synthesis.

4. Cõi liên hệ đặc biệt sẽ là cõi chân thần—một cõi của tổng hợp.

5. The “Vedantic school” could be considered a reflection of states and processes on the logoic plane, though the atmic plane is involved, as plane one (logoic) is easily reflected in planet three (atmic)

5. “Trường phái Vedanta” có thể được xem là một phản ánh của các trạng thái và tiến trình trên cõi logoic, mặc dù cõi atma cũng được bao gồm, vì cõi một (logoic) dễ dàng được phản ánh trong cõi ba (atma)

6. We may infer that the initiation concerned would the seventh which is synthetic and ruled by the second ray. The sixth initiation, the initiation which leads to the retraction of the extended consciousness into the Monad, may also be involved.

6. Chúng ta có thể suy ra rằng lần điểm đạo liên hệ sẽ là lần thứ bảy, vốn có tính tổng hợp và được cung hai cai quản. Lần điểm đạo thứ sáu, lần điểm đạo dẫn đến sự rút lại tâm thức mở rộng vào trong chân thần, cũng có thể được bao gồm.

7. The planes involved may be considered the sixth and seventh (or the second and first, numbering from above), whereas, in relation to the “Vedanta school” the planes involved include the atmic, as well as the monadic and logoic.

7. Các cõi liên hệ có thể được xem là cõi thứ sáu và thứ bảy (hay cõi thứ hai và thứ nhất, nếu đếm từ trên xuống), trong khi, liên hệ với “trường phái Vedanta”, các cõi liên hệ bao gồm cõi atma cũng như cõi chân thần và cõi logoic.

We can now take up the question next in order, which was worded: “Why do we consider certain aspects of knowledge esoteric and other aspects as exoteric?

Giờ đây chúng ta có thể xét đến câu hỏi kế tiếp theo thứ tự, được nêu như sau: “Tại sao chúng ta xem một số phương diện của tri thức là huyền bí và những phương diện khác là ngoại môn?

1. We are restating the initial question.

1. Chúng ta đang phát biểu lại câu hỏi ban đầu.

The answer to this practically involves the realisation that some knowledge deals with the subjective side of life, and the other type of knowledge with the objective side;

Câu trả lời cho điều này trên thực tế bao hàm sự chứng nghiệm rằng một loại tri thức bàn đến mặt chủ quan của sự sống, còn loại tri thức kia bàn đến mặt khách quan;

1. It will be our task to carefully define “subjective” and “objective”. From the strictly human perspective, subjectivity seems to begin upon the astral level, but this is not true subjectivity which, in relation to the Planetary Logos begins with the higher mental plane and, in relation to the Solar Logos begins with the buddhic plane.

1. Nhiệm vụ của chúng ta sẽ là xác định cẩn thận “chủ quan” và “khách quan”. Từ quan điểm thuần túy nhân loại, tính chủ quan dường như bắt đầu ở mức cảm dục, nhưng đó không phải là tính chủ quan đích thực; tính chủ quan đích thực, liên hệ với Hành Tinh Thượng đế, bắt đầu từ Cõi thượng trí, và liên hệ với Thái dương Thượng đế, bắt đầu từ cõi Bồ đề.

2. This would mean that when we, as human beings, enter the etheric body of the Planetary Logos or Solar Logos, we enter that which for them is principled substance, thus directly related to their monadic identity, and thus subjective to a degree.

2. Điều này có nghĩa là khi chúng ta, với tư cách con người, đi vào thể dĩ thái của Hành Tinh Thượng đế hay Thái dương Thượng đế, chúng ta đi vào điều mà đối với Các Ngài là chất liệu nguyên khí, do đó trực tiếp liên hệ với bản sắc chân thần của Các Ngài, và vì vậy ở một mức độ nào đó là chủ quan đối với Các Ngài.

3. If we follow the law of analogy and determine that true subjectivity begins no lower than the systemic higher mental plane where the human causal body is found, then, as regards the consciousness of the Planetary Logos or Solar Logos, subjectivity for these great beings does not begin until we reach the higher levels of the cosmic mental plane where their causal bodies are located—so we are told.

3. Nếu chúng ta theo định luật tương đồng và xác định rằng tính chủ quan đích thực không bắt đầu thấp hơn cõi thượng trí của hệ thống, nơi thể nguyên nhân của con người được tìm thấy, thì xét về tâm thức của Hành Tinh Thượng đế hay Thái dương Thượng đế, tính chủ quan đối với các Đại Hữu Thể này chỉ bắt đầu khi chúng ta đạt đến các mức cao hơn của cõi trí vũ trụ, nơi các thể nguyên nhân của Các Ngài tọa lạc—ít nhất là như chúng ta được cho biết.

that one type of knowledge is concerned with energy and force (hence the danger of undue hasty revelation) and another with that which is energised.

rằng một loại tri thức liên hệ với năng lượng và mãnh lực (do đó có sự nguy hiểm của việc mặc khải quá sớm một cách thiếu thận trọng) và loại kia liên hệ với điều được tiếp năng lượng.

1. All is energy or force or some combination of the two; even matter is force.

1. Mọi sự đều là năng lượng hay mãnh lực hay một sự kết hợp nào đó của cả hai; ngay cả vật chất cũng là mãnh lực.

2. From one perspective, forces are those factors which are energized. Forces are played upon by higher forces we call energies.

2. Từ một góc nhìn, các mãnh lực là những yếu tố được tiếp năng lượng. Các mãnh lực chịu tác động của những mãnh lực cao hơn mà chúng ta gọi là năng lượng.

3. DK is telling us that if knowledge comes too early in the developmental process, too much power will be put into the hands of those who, literally, do not know what they are doing.

3. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng nếu tri thức đến quá sớm trong tiến trình phát triển, quá nhiều quyền năng sẽ được đặt vào tay những kẻ, theo nghĩa đen, không biết mình đang làm gì.

4. Every factor in cosmos is both energized (or forced), and energizing (and forcing).

4. Mọi yếu tố trong vũ trụ vừa được tiếp năng lượng (hay bị tác động bằng mãnh lực), vừa tiếp năng lượng cho cái khác (và tác động bằng mãnh lực).

5. Energy is a higher force; force is a lower energy.

5. Năng lượng là một mãnh lực cao hơn; mãnh lực là một năng lượng thấp hơn.

6. Often the dividing line between energy and force is considered the higher mental plane. All dynamic factors focused below the higher mental plane (the soul plane) are considered forces; all dynamic factors pertaining to the higher mental plane and above are considered energies.

6. Thông thường, ranh giới phân chia giữa năng lượng và mãnh lực được xem là Cõi thượng trí. Mọi yếu tố động lực tập trung bên dưới Cõi thượng trí (cõi linh hồn) đều được xem là các mãnh lực; mọi yếu tố động lực thuộc về Cõi thượng trí và cao hơn đều được xem là các năng lượng.

Therefore it will be apparent that until the faculty of ascertaining subjective information is achieved, whole ranges of facts will remain outside the scope of the consciousness of the majority.

Do đó sẽ hiển nhiên rằng cho đến khi đạt được năng lực xác định thông tin chủ quan, toàn bộ những phạm vi sự kiện sẽ vẫn nằm ngoài tầm với của tâm thức của đa số.

1. VSK suggests that “subjective knowledge then is dealing with energy and force; objective knowledge with that which is energized (unless the order of the reference is reversed.)”

1. VSK gợi ý rằng “tri thức chủ quan khi ấy bàn đến năng lượng và mãnh lực; tri thức khách quan bàn đến điều được tiếp năng lượng (trừ phi trật tự quy chiếu bị đảo ngược).”

2. It becomes clear that the majority of human begins is not subjectively aware. Since many in this majority are aware of the feelings, emotions and mental states, true subjectivity must lie beyond these.

2. Rõ ràng là đa số nhân loại không nhận biết một cách chủ quan. Vì nhiều người trong số đông này nhận biết được cảm giác, cảm xúc và các trạng thái trí tuệ, nên tính chủ quan đích thực phải nằm vượt ra ngoài những điều ấy.

3. We realized how imprisoned we are by the factor of nescience—“unknowing”.

3. Chúng ta nhận ra mình bị giam hãm biết bao bởi yếu tố vô minh—“không biết”.

As we have been told, the goal of evolution is the attainment of consciousness on all planes;

Như chúng ta đã được bảo, mục tiêu của tiến hoá là đạt được tâm thức trên mọi cõi;

4. For practical purposes and in relation to humanity, this means the attainment of consciousness on all levels of the cosmic physical plane.

4. Vì những mục đích thực tiễn và liên hệ với nhân loại, điều này có nghĩa là đạt được tâm thức trên mọi mức của cõi hồng trần vũ trụ.

5. We note that the thought that man can transcend consciousness when he enters the triadal realms is more a heuristic device than a statement of fact. At a certain point the life aspect may emerge insistently, but the pursuit of consciousness continues, even well beyond the cosmic physical plane.

5. Chúng ta lưu ý rằng ý tưởng cho rằng con người có thể vượt lên trên tâm thức khi y đi vào các cõi tam nguyên tinh thần mang tính phương tiện gợi mở hơn là một phát biểu sự kiện. Ở một điểm nào đó, phương diện sự sống có thể xuất hiện một cách mạnh mẽ, nhưng việc theo đuổi tâm thức vẫn tiếp tục, ngay cả vượt xa ngoài cõi hồng trần vũ trụ.

owing to the small evolutionary attainment of the race only the physical plane is as yet in any way brought under conscious control.

do thành tựu tiến hoá còn ít ỏi của nhân loại nên cho đến nay chỉ có cõi hồng trần phần nào được đặt dưới sự kiểm soát có ý thức.

6. From a Master’s perspective man’s degree of attainment is small, even tiny. We are principally focussed on the very lowest levels of the cosmic physical plane. This is not a flattering fact.

6. Từ quan điểm của một Chân sư, mức độ thành tựu của con người là nhỏ bé, thậm chí rất nhỏ. Chúng ta chủ yếu tập trung trên những mức thấp nhất của cõi hồng trần vũ trụ. Đây không phải là một sự thật đáng tự hào.

The knowledge which deals with that plane, [Page 286] the information which is concerned with densest objectivity, the sumtotal of facts connected with the five lower subplanes of the physical plane are (from the occult standpoint) considered exoteric.

Tri thức bàn đến cõi đó, [Page 286] thông tin liên hệ với tính khách quan đậm đặc nhất, tổng thể các sự kiện gắn với năm cõi phụ thấp của cõi hồng trần đều được xem là ngoại môn theo quan điểm huyền bí.

7. The five lower subplanes of the systemic physical plane are considered exoteric. They correspond to the Brahmic subplanes of the cosmic physical plane.

7. Năm cõi phụ thấp của cõi hồng trần hệ thống được xem là ngoại môn. Chúng tương ứng với các cõi phụ Brahmic của cõi hồng trần vũ trụ.

8. That which is Brahmic pertains to the first solar system and to the material aspect ruled by Saturn.

8. Điều thuộc Brahmic liên hệ với hệ mặt trời thứ nhất và với phương diện vật chất do Sao Thổ cai quản.

9. Yet, humanity is only now in process of discovering that which is to be found upon the fourth ether, the lowest etheric subplane. Though here listed as exoteric, the facts and phenomena of the third etheric sub-plane are, for man, still quite esoteric.

9. Tuy nhiên, nhân loại chỉ mới đang trong tiến trình khám phá điều được tìm thấy trên dĩ thái thứ tư, cõi phụ dĩ thái thấp nhất. Dù ở đây được liệt kê là ngoại môn, các sự kiện và hiện tượng của cõi phụ dĩ thái thứ ba, đối với con người, vẫn còn khá huyền bí.

10. When we remember that the human throat center expresses through the third ether, and that the throat center is, relatively, an exoteric center representing the mind and the personality, we can understand a little better why the third ether is considered exoteric.

10. Khi nhớ rằng trung tâm cổ họng của con người biểu lộ qua dĩ thái thứ ba, và rằng trung tâm cổ họng, xét tương đối, là một trung tâm ngoại môn đại diện cho trí tuệ và phàm ngã, chúng ta có thể hiểu rõ hơn đôi chút vì sao dĩ thái thứ ba được xem là ngoại môn.

11. Still, we would be hard-pressed to discuss the knowledge and phenomena associated with the third systemic ether.

11. Tuy vậy, chúng ta vẫn sẽ rất khó bàn đến tri thức và các hiện tượng gắn với dĩ thái thứ ba của hệ thống.

During the next two races the other two subplanes will be mastered,

Trong hai nhân loại kế tiếp, hai cõi phụ còn lại sẽ được làm chủ,

12. This means that the sub-atomic and atomic etheric sub-planes will be mastered.

12. Điều này có nghĩa là các cõi phụ dĩ thái hạ nguyên tử và nguyên tử sẽ được làm chủ.

13. This tells us that the heart center will be powerfully developed during the sixth root race and that the head center will be powerfully developed during the seventh.

13. Điều này cho chúng ta biết rằng trung tâm tim sẽ được phát triển mạnh mẽ trong giống dân gốc thứ sáu và trung tâm đầu sẽ được phát triển mạnh mẽ trong giống dân gốc thứ bảy.

14. The heart center expresses on the sub-atomic etheric plane (the second sub-plane) and the head center upon the atomic etheric plane (the first sub-plane).

14. Trung tâm tim biểu lộ trên cõi dĩ thái hạ nguyên tử (cõi phụ thứ hai) và trung tâm đầu trên cõi dĩ thái nguyên tử (cõi phụ thứ nhất).

15. In our Aryan civilization, the throat center is the center of greatest moment.

15. Trong nền văn minh Arya của chúng ta, trung tâm cổ họng là trung tâm quan trọng nhất.

and the entire mass of knowledge concerned with physical and etheric matter, with energy, form and experience on the physical plane, will be easily available to man, and concern only his five physical senses.

toàn bộ khối tri thức liên hệ với vật chất hồng trần và dĩ thái, với năng lượng, hình tướng và kinh nghiệm trên cõi hồng trần, sẽ dễ dàng sẵn có cho con người, và chỉ liên hệ đến năm giác quan hồng trần của y.

16. DK is predicting the type of knowledge which will be available to man once the sixth and seventh sub-races have run their course.

16. Chân sư DK đang tiên đoán loại tri thức sẽ sẵn có cho con người một khi giống dân phụ thứ sáu và thứ bảy đã hoàn tất tiến trình của chúng.

17. Everything in relation to physical and etheric matter will be known and will be apprehended directly through one or other of his five physical senses—hearing, touch, sight, taste and smell.

17. Mọi điều liên hệ với vật chất hồng trần và dĩ thái sẽ được biết đến và sẽ được lĩnh hội trực tiếp qua một hay nhiều trong năm giác quan hồng trần của y—thính giác, xúc giác, thị giác, vị giác và khứu giác.

18. We will presume that taste and smell will undergo a great development in the sixth and seventh root races respectively.

18. Chúng ta sẽ giả định rằng vị giác và khứu giác sẽ trải qua một sự phát triển lớn lao lần lượt trong giống dân gốc thứ sáu và thứ bảy.

19. From this perspective the sense of taste must be related to the heart center and the sense of smell to the head center.

19. Từ góc nhìn này, vị giác phải liên hệ với trung tâm tim và khứu giác với trung tâm đầu.

20. DK is predicting that during the next two races we will hear, touch, see, taste and smell etherically—i.e., (at the end of the seventh root race) on all the etheric sub-planes of the systemic etheric-physical plane).

20. Chân sư DK đang tiên đoán rằng trong hai nhân loại kế tiếp, chúng ta sẽ nghe, chạm, thấy, nếm và ngửi một cách dĩ thái—tức là (vào cuối giống dân gốc thứ bảy) trên mọi cõi phụ dĩ thái của cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống).

Information and knowledge of the life evolving through the forms will for a considerably longer time be considered esoteric, as also will the apprehension and comprehension of the matter aspect, and the laws governing energy on the astral and the mental planes. This is stated in connection with average man, the rank and file of humanity.

Thông tin và tri thức về sự sống tiến hoá qua các hình tướng sẽ trong một thời gian còn khá dài nữa được xem là huyền bí, cũng như sự lĩnh hội và thấu hiểu phương diện vật chất, và các định luật chi phối năng lượng trên cõi cảm dục và cõi trí. Điều này được phát biểu liên hệ với con người trung bình, hàng ngũ đông đảo của nhân loại.

21. Knowledge of life (which is a far more esoteric factor than form) will remain esoteric. Knowledge of energy, form and experience upon the physical plane is almost completely exoteric.

21. Tri thức về sự sống (vốn là một yếu tố huyền bí hơn hình tướng rất nhiều) sẽ vẫn còn huyền bí. Tri thức về năng lượng, hình tướng và kinh nghiệm trên cõi hồng trần hầu như hoàn toàn là ngoại môn.

22. The astral and mental planes have a type of matter associated with them; knowledge of this type of matter will remain esoteric for yet a while as will knowledge of the laws governing energy of the astral and mental planes.

22. Cõi cảm dục và cõi trí có một loại vật chất gắn với chúng; tri thức về loại vật chất này sẽ còn huyền bí thêm một thời gian nữa, cũng như tri thức về các định luật chi phối năng lượng của cõi cảm dục và cõi trí.

23. What is stated here relates to the consciousness of the average human being which cannot yet penetrate into the etheric, astral and mental planes. Even a true comprehension of the matter aspect will evade the understanding of the average individual.

23. Điều được nêu ở đây liên hệ với tâm thức của con người trung bình, vốn chưa thể xuyên nhập vào các cõi dĩ thái, cảm dục và trí. Ngay cả một sự thấu hiểu đích thực về phương diện vật chất cũng sẽ vượt khỏi khả năng hiểu biết của cá nhân trung bình.

24. To the true disciple, however, knowledge of the astral and mental planes is already becoming exoteric and the etheric plane is rapidly being disclosed.

24. Tuy nhiên, đối với đệ tử chân chính, tri thức về cõi cảm dục và cõi trí đã đang trở nên ngoại môn, và cõi dĩ thái đang nhanh chóng được khai lộ.

Objective or exoteric information is largely that obtained or ascertained by men in the Hall of Learning by means of the five senses, and by experiment.

Thông tin khách quan hay ngoại môn phần lớn là điều được những người nam và nữ thu nhận hay xác định trong Phòng Hiểu Biết bằng năm giác quan và bằng thực nghiệm.

25. There are three major “halls”:

25. Có ba “phòng” chính:

a The Hall of Ignorance

a Phòng Vô Minh

b The Hall of Learning

b Phòng Hiểu Biết

c The Hall of Wisdom

c Phòng Minh triết

26. The Hall of Learning is obviously principally rules by the germinating mind, for the five senses and experiment are the means of learning within that Hall.

26. Phòng Hiểu Biết hiển nhiên chủ yếu được cai quản bởi trí tuệ đang nảy mầm, vì năm giác quan và thực nghiệm là những phương tiện học hỏi trong Phòng ấy.

27. We can see that the Hall of Learning is largely a Brahmic experience.

27. Chúng ta có thể thấy rằng Phòng Hiểu Biết phần lớn là một kinh nghiệm Brahmic.

Experiment in due course of time and after many cycles of incarnation is transmuted into experience, and this produces eventually that which we call instinct, or the habitual reaction of some type of consciousness to a given set of circumstances, or of environment. 

Thực nghiệm, theo thời gian và sau nhiều chu kỳ lâm phàm, được chuyển hoá thành kinh nghiệm, và điều này cuối cùng tạo ra cái mà chúng ta gọi là bản năng, hay phản ứng theo thói quen của một loại tâm thức nào đó trước một tập hợp hoàn cảnh hay môi trường nhất định.

28. The sequence to bear in mind in the mind is that experiment leads to experience which, when repeated, leads to the development of instinct.

28. Trình tự cần ghi nhớ là thực nghiệm dẫn đến kinh nghiệm, và kinh nghiệm khi được lặp lại sẽ dẫn đến sự phát triển của bản năng.

29. We must note that instinct is a reaction of consciousness and that it is a habitual reaction. This means it is automatic and does not require the participation of a reflective consciousness.

29. Chúng ta phải lưu ý rằng bản năng là một phản ứng của tâm thức và đó là một phản ứng theo thói quen. Điều này có nghĩa là nó mang tính tự động và không đòi hỏi sự tham gia của một tâm thức phản tỉnh.

These two factors of the senses and of experimental contact can be seen working out in the animal and human kingdoms;

Hai yếu tố này của các giác quan và sự tiếp xúc bằng thực nghiệm có thể được thấy đang vận hành trong giới động vật và giới nhân loại;

30. This is a factor which humans and animals share.

30. Đây là một yếu tố mà con người và động vật cùng chia sẻ.

the difference between the two exists in the ability of the man consciously to remember, apprehend, anticipate, and utilise the fruits of past experience, and thus influence the present and prepare for the future.

sự khác biệt giữa hai giới nằm ở khả năng của con người trong việc nhớ lại một cách có ý thức, lĩnh hội, dự liệu và sử dụng các thành quả của kinh nghiệm quá khứ, và do đó ảnh hưởng đến hiện tại và chuẩn bị cho tương lai.

31. Let us tabulate wherein man differs from the animal in his use of the senses and experimental contact:

31. Chúng ta hãy lập bảng những điểm trong đó con người khác với động vật trong việc sử dụng các giác quan và sự tiếp xúc bằng thực nghiệm:

a Man consciously remembers

a Con người nhớ lại một cách có ý thức

b Man consciously apprehends

b Con người một cách hữu thức lĩnh hội

c Man consciously anticipates

c Con người một cách hữu thức dự liệu

d Man consciously utilizes the fruits of past experience

d Con người một cách hữu thức sử dụng những thành quả của kinh nghiệm quá khứ

e By doing this, man influences the present and prepares of the future.

e Khi làm như vậy, con người ảnh hưởng đến hiện tại và chuẩn bị cho tương lai.

32. Perhaps the important and operative work here is “consciously”. The animal also remembers, apprehends, anticipates, etc., but all at an instinctual level. The animal does not consciously recognize that it is engaged in such acts.

32. Có lẽ từ quan trọng và có tác dụng ở đây là “một cách hữu thức”. Con vật cũng nhớ, lĩnh hội, dự liệu, v.v., nhưng tất cả đều ở cấp độ bản năng. Con vật không nhận biết một cách hữu thức rằng nó đang tham gia vào những hành vi như thế.

He employs the physical brain for this purpose. An animal likewise has an instinctual memory, apprehension, and an embryo anticipation,

Y sử dụng bộ não hồng trần cho mục đích này. Con vật cũng có ký ức bản năng, sự lĩnh hội và một mầm mống dự liệu,

33. Here we see that the animal shares with man the following:

33. Ở đây chúng ta thấy rằng con vật chia sẻ với con người những điều sau đây:

a Memory (not conscious but instinctual)

a Ký ức (không hữu thức mà là bản năng)

b Apprehension (grasp of recognition)

b Sự lĩnh hội (nắm bắt bằng nhận biết)

c Anticipation (of an embryonic variety)

c Sự dự liệu (thuộc loại phôi thai)

but (lacking mind) he is unable to adjust them to circumstances in the sense of prearrangement, and lacks the capacity consciously to utilise, and thus reap, the benefit of past events, and to learn from experience in the manner which a man does.

nhưng (do thiếu trí tuệ) nó không thể điều chỉnh chúng theo hoàn cảnh theo nghĩa sắp đặt trước, và thiếu khả năng một cách hữu thức sử dụng, và nhờ đó gặt hái, lợi ích của các biến cố quá khứ, cũng như học hỏi từ kinh nghiệm theo cách mà con người làm được.

34. Let us tabulate what an animal cannot do because it lacks mind:

34. Hãy lập bảng những điều con vật không thể làm vì nó thiếu trí tuệ:

a The animal cannot adjust its memory, apprehension and embryonic anticipation to circumstances

a Con vật không thể điều chỉnh ký ức, sự lĩnh hội và sự dự liệu phôi thai của nó theo hoàn cảnh

b The animal cannot prearrange that which it remembers, apprehends or anticipates.

b Con vật không thể sắp đặt trước điều mà nó nhớ, lĩnh hội hay dự liệu.

c The animal cannot utilise past events consciously

c Con vật không thể sử dụng các biến cố quá khứ một cách hữu thức

d The animal, thus, cannot (at least consciously) reap the benefit of past events

d Vì vậy, con vật không thể (ít nhất là một cách hữu thức) gặt hái lợi ích từ các biến cố quá khứ

e The animal, thus, cannot learn from experience in the same manner than man does.

e Vì vậy, con vật không thể học hỏi từ kinh nghiệm theo cùng một cách như con người.

The [Page 287] animal uses the solar plexus in the same way that a man uses the brain; it is the organ of instinct.

Con vật [Page 287] sử dụng tùng thái dương theo cùng cách mà con người sử dụng bộ não; đó là cơ quan của bản năng.

35. Here we have a contrast between the solar plexus center and the brain. The brain is ruled by the third, fifth and seventh rays; the solar plexus center is ruled by the sixth ray.

35. Ở đây chúng ta có một sự tương phản giữa trung tâm tùng thái dương và bộ não. Bộ não được cai quản bởi cung ba, cung năm và cung bảy; trung tâm tùng thái dương được cai quản bởi cung sáu.

36. Yet, in a way, the solar plexus is the third chakra (counting from below) and thus correlates with the number of the animal kingdom—the third.

36. Tuy nhiên, theo một cách nào đó, tùng thái dương là luân xa thứ ba (đếm từ dưới lên) và vì thế tương ứng với số của giới động vật—số ba.

37. The solar plexus center is the organ of instinct; the brain is the organ of thought.

37. Trung tâm tùng thái dương là cơ quan của bản năng; bộ não là cơ quan của tư tưởng.

38. When man acts through the solar plexus center, he is acting instinctually and is little better than the animal.

38. Khi con người hành động qua trung tâm tùng thái dương, y đang hành động theo bản năng và hầu như không hơn con vật là bao.

39. The following in relation to the kingdoms is of great interest in this context:

39. Điều sau đây liên quan đến các giới rất đáng quan tâm trong bối cảnh này:

1. 5th Kingdom Intuition spiritual soul head centre

1. Giới thứ năm Linh thị linh hồn tinh thần trung tâm đầu

2. 4th Kingdom Intelligence human soul throat centre

2. Giới thứ tư Trí tuệ linh hồn nhân loại trung tâm cổ họng

3. 3rd Kingdom Instinct animal soul solar plexus

3. Giới thứ ba Bản năng hồn động vật tùng thái dương

4. 2nd Kingdom Sentiency feeling consciousness heart centre

4. Giới thứ hai Cảm ứng tâm thức cảm giác trung tâm tim

5. 1st Kingdom Response sub-consciousness base of spine (EXH 92)

5. Giới thứ nhất Đáp ứng tiềm thức đáy cột sống (EXH 92)

All that can be acquired by instinct and by the use of the concrete mind functioning through the physical brain can be considered as dealing with that which we call exoteric.  

Tất cả những gì có thể đạt được bằng bản năng và bằng việc sử dụng trí cụ thể vận hành qua bộ não hồng trần đều có thể được xem là đề cập đến điều mà chúng ta gọi là ngoại môn.

40. Here is a concise definition of that which is exoteric.

40. Đây là một định nghĩa súc tích về điều được gọi là ngoại môn.

41. Acquisitions by both instinct and by the concrete mind functioning through the physical brain are considered exoteric.

41. Những gì đạt được bằng cả bản năng lẫn trí cụ thể vận hành qua bộ não hồng trần đều được xem là ngoại môn.

42. We note that it is the concrete mind that is considered exoteric and not the abstract mind. The abstract mind is resident within what may be called the ethers of the Planetary Logos but not the ethers of the Solar Logos.

42. Chúng ta lưu ý rằng chính trí cụ thể được xem là ngoại môn chứ không phải trí trừu tượng. Trí trừu tượng cư ngụ trong điều có thể gọi là các dĩ thái của Hành Tinh Thượng đế nhưng không phải các dĩ thái của Thái dương Thượng đế.

43. It is clear that that which is limited by the physical brain’s apprehension of the world is exoteric.

43. Rõ ràng rằng điều bị giới hạn bởi sự lĩnh hội của bộ não hồng trần về thế giới là ngoại môn.

It is thus evident how the range of fact will differ according to:

Vì vậy hiển nhiên là phạm vi của sự kiện sẽ khác nhau tùy theo:

44. Here DK is dealing with what different types of people consider exoteric and esoteric.

44. Ở đây Chân sư DK đang bàn đến điều mà các loại người khác nhau xem là ngoại môn và nội môn.

a. The age of the soul.

a. Tuổi của linh hồn.

45. The older the soul the more sensitive the soul. Many subtler impressions come to the older soul.

45. Linh hồn càng già thì linh hồn càng nhạy cảm. Nhiều ấn tượng tinh tế hơn đến với linh hồn già hơn.

b. Experience developed and used.

b. Kinh nghiệm được phát triển và sử dụng.

1. Two individuals can have the same types of experiences, but unless such experiences are developed and used, they will be of little value. Some know how to profit more intelligently from their experiences.

1. Hai cá nhân có thể có cùng những loại kinh nghiệm, nhưng nếu những kinh nghiệm ấy không được phát triển và sử dụng thì chúng sẽ ít giá trị. Một số người biết cách thu lợi từ kinh nghiệm của mình một cách thông minh hơn.

c. Condition of the brain and the physical body.

c. Tình trạng của bộ não và thể xác.

1. An older soul will possess a brain and physical body which are in better and more refined condition than those of lesser development.

1. Một linh hồn già hơn sẽ sở hữu một bộ não và thể xác ở tình trạng tốt hơn và tinh luyện hơn so với những người kém phát triển hơn.

d. Circumstances and environment.

d. Hoàn cảnh và môi trường.

1. Some environments are conducive to the reception of more subtle impressions. Other environments are crude and shut out the higher vibrations.

1. Một số môi trường thuận lợi cho việc tiếp nhận những ấn tượng tinh tế hơn. Những môi trường khác thì thô trược và ngăn chặn các rung động cao hơn.

2. It is sometimes the case that, according to merit, so will be the environment wherein one finds oneself.

2. Đôi khi đúng là, tùy theo công trạng, môi trường mà người ta thấy mình ở trong cũng sẽ tương ứng như vậy.

3. Thus, it is evident that that which is considered factual will change according to a number of variables.

3. Do đó, hiển nhiên là điều được xem là sự kiện sẽ thay đổi tùy theo một số biến số.

As time progresses and man reaches a fair state of evolution, mind is more rapidly developed, and a new factor comes gradually into play.

Khi thời gian tiến triển và con người đạt đến một trạng thái tiến hoá khá cao, trí tuệ được phát triển nhanh hơn, và một yếu tố mới dần dần đi vào hoạt động.

1. It is clear that those with a more developed mind consider as factual a far wider range of impressions.

1. Rõ ràng là những ai có trí tuệ phát triển hơn xem một phạm vi ấn tượng rộng lớn hơn nhiều là sự kiện.

Little by little the intuition, or the transcendental mind, begins to function, and eventually supersedes the lower or concrete mind.  

Từng chút một, trực giác, hay trí tuệ siêu việt, bắt đầu hoạt động, và cuối cùng thay thế hạ trí hay trí cụ thể.

1. Here we find a brilliant definition of the intuition. It is important to realize that the intuition can be considered a higher aspect of the mind and not a faculty opposed to mind. We must remember that one of the same planets which rules concrete thinking, Mercury, is also a planet of the intuition.

1. Ở đây chúng ta thấy một định nghĩa xuất sắc về trực giác. Điều quan trọng là nhận ra rằng trực giác có thể được xem là một phương diện cao hơn của trí tuệ chứ không phải một năng lực đối lập với trí tuệ. Chúng ta phải nhớ rằng một trong những hành tinh cai quản tư duy cụ thể, Sao Thủy, cũng là một hành tinh của trực giác.

2. The field of mind immediately ‘beyond’ the field of the concrete mind is the field of the higher mind. There is to be found a reflection of buddhic intuition within the causal body. When the Tibetan speaks of “transcendental mind”, He may be speaking not only of the pure buddhic faculty but of the expression of that faculty as it is reflected through the apparatus of the egoic lotus within the causal body.

2. Lĩnh vực của trí tuệ ngay “vượt lên trên” lĩnh vực của trí cụ thể là lĩnh vực của thượng trí. Có thể tìm thấy một phản ánh của trực giác Bồ đề bên trong thể nguyên nhân. Khi Chân sư Tây Tạng nói về “trí tuệ siêu việt”, có thể Ngài không chỉ nói về năng lực Bồ đề thuần túy mà còn về sự biểu lộ của năng lực ấy khi nó được phản chiếu qua bộ máy của Hoa Sen Chân Ngã trong thể nguyên nhân.

It then utilises the physical brain as a receiving plate, but at the same time develops certain centres in the head, and thus transfers the zone of its activity from the physical brain to the higher head centres, existing in etheric matter.

Khi đó nó sử dụng bộ não hồng trần như một tấm tiếp nhận, nhưng đồng thời phát triển một số trung tâm trong đầu, và nhờ đó chuyển dịch vùng hoạt động của nó từ bộ não hồng trần sang các trung tâm đầu cao hơn, hiện hữu trong chất liệu dĩ thái.

1. A relationship between the intuition and the physical brain is given. The condition of the physical brain will in part determine the ability to receive impression from the intuition.

1. Một mối liên hệ giữa trực giác và bộ não hồng trần được nêu ra. Tình trạng của bộ não hồng trần sẽ phần nào quyết định khả năng tiếp nhận ấn tượng từ trực giác.

2. We see that the intuition is a controlling and utilizing factor, utilizing the physical brain and exercising a developmental force upon etheric centers in the head.

2. Chúng ta thấy rằng trực giác là một yếu tố kiểm soát và sử dụng, sử dụng bộ não hồng trần và tác động một mãnh lực phát triển lên các trung tâm dĩ thái trong đầu.

3. We thus see an important connection between the intuition and the higher ethers of the human being.

3. Vì vậy chúng ta thấy một mối liên hệ quan trọng giữa trực giác và các dĩ thái cao hơn của con người.

4. We are not told which centers are involved, but a study of laya yoga reveals that there are many head centers which are not usually discussed in the teaching. The nature and function of these centers belong to the arcana of occultism.

4. Chúng ta không được cho biết những trung tâm nào có liên quan, nhưng một nghiên cứu về laya yoga cho thấy có nhiều trung tâm đầu thường không được bàn đến trong giáo huấn. Bản chất và chức năng của các trung tâm này thuộc về những huyền nhiệm của huyền bí học.

5. Within the physical brain the pineal gland is definitely involved in registering soul and triadal influence. Correspondingly, on etheric levels, the major head center is the major center involved, but there are other proximate centers of great importance in this regard.

5. Trong bộ não hồng trần, tuyến tùng quả chắc chắn có liên quan đến việc ghi nhận ảnh hưởng của linh hồn và Tam nguyên tinh thần. Tương ứng như vậy, trên các cấp dĩ thái, trung tâm đầu chính là trung tâm chủ yếu có liên quan, nhưng còn có những trung tâm lân cận khác rất quan trọng về phương diện này.

For the mass of humanity, this will be effected during the opening up of the etheric subplanes during the next two races.

Đối với đại đa số nhân loại, điều này sẽ được thực hiện trong quá trình khai mở các cõi phụ dĩ thái trong hai giống dân gốc kế tiếp.

1. Will all four etheric sub-planes be opened up for humanity during the next two root races? This was mentioned above, even though only two of the etheric sub-planes are considered esoteric.

1. Liệu cả bốn cõi phụ dĩ thái có được khai mở cho nhân loại trong hai giống dân gốc kế tiếp hay không? Điều này đã được nhắc đến ở trên, dù chỉ có hai cõi phụ dĩ thái được xem là nội môn.

2. There is a difference between the opening up of the etheric sub-planes and the mastery of the highest two—presumably by those who are more advanced. Contrast what is said of the higher two sub-planes on p. 286. with what is said here on p. 287.

2. Có một sự khác biệt giữa việc khai mở các cõi phụ dĩ thái và việc làm chủ hai cõi cao nhất—có lẽ là bởi những ai tiến bộ hơn. Hãy đối chiếu điều được nói về hai cõi phụ cao hơn ở trang 286. với điều được nói ở đây tại trang 287.

This is paralleled in the animal kingdom by the gradual transference of the zone of activity from the solar plexus to the rudimentary brain, and its gradual development by the aid of manas.

Điều này được song hành trong giới động vật bởi sự chuyển dịch dần dần vùng hoạt động từ tùng thái dương sang bộ não sơ khai, và sự phát triển dần dần của nó nhờ sự trợ giúp của manas.

1. We see that all of nature is evolving simultaneously. When the ethers are opened up for humanity, the physical brain will be opened up for the animal kingdom.

1. Chúng ta thấy rằng toàn thể thiên nhiên đang tiến hoá đồng thời. Khi các dĩ thái được khai mở cho nhân loại, bộ não hồng trần sẽ được khai mở cho giới động vật.

2. The movement of human consciousness into the ethers corresponds to an increasing access of the intuition; the movement of animal consciousness into a rudimentary physical brain corresponds to the movement from animal instinct into a rudimentary intellect.

2. Sự chuyển động của tâm thức con người vào các dĩ thái tương ứng với sự gia tăng tiếp cận trực giác; sự chuyển động của tâm thức động vật vào một bộ não hồng trần sơ khai tương ứng với sự chuyển động từ bản năng động vật sang một trí năng sơ khai.

3. The excerpt seems to suggest that manas, to some extent, exists within the animal, and that the animal physical brain will be developed by the manasic faculty.

3. Đoạn trích dường như gợi ý rằng manas, ở một mức độ nào đó, hiện hữu trong con vật, và rằng bộ não hồng trần của con vật sẽ được phát triển bởi năng lực manas.

As we consider these points, it will become apparent that the esoteric aspects of knowledge are really those zones of consciousness which are not yet conquered, and brought within the radius of control of the indwelling Entity.

Khi chúng ta xem xét những điểm này, sẽ trở nên hiển nhiên rằng các phương diện nội môn của tri thức thực sự là những vùng tâm thức chưa được chinh phục, và được đưa vào trong bán kính kiểm soát của Thực Thể nội tại.

1. This shows that what may be considered either esoteric and exoteric is relative, and is wholly dependent on the capacity of the Entity.

1. Điều này cho thấy rằng cái có thể được xem là nội môn hay ngoại môn đều có tính tương đối, và hoàn toàn tùy thuộc vào năng lực của Thực Thể.

2. That which is conquered is familiar and exoteric; that which is not yet subdued is unfamiliar and esoteric.

2. Điều đã được chinh phục thì quen thuộc và ngoại môn; điều chưa được chế ngự thì xa lạ và nội môn.

3. The “radius of control” is a phrase reminiscent of the “sphere of influence” discussed when considering the parallels between the four types of atoms (the Solar Logos, the Planetary Logos, the human being and the atom of substance/matter).

3. Cụm từ “bán kính kiểm soát” gợi nhớ đến “khối cầu ảnh hưởng” được bàn đến khi xem xét những sự song hành giữa bốn loại nguyên tử (Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế, con người và nguyên tử của chất liệu/vật chất).

4. In short, that which is unknown but accessible to the individual is still exoteric. But that which is unknown and for which the faculties of penetration have not yet been developed, is esoteric.

4. Tóm lại, điều chưa biết nhưng cá nhân vẫn có thể tiếp cận thì vẫn là ngoại môn. Nhưng điều chưa biết và những năng lực thâm nhập vào đó chưa được phát triển thì là nội môn.

5. The factor of control of that which is accessed is also a part of the equation. DK seems to be saying that if one penetrates into unknown dimensions but does not control those dimensions, those dimensions are still somewhat esoteric and not fully exoteric.

5. Yếu tố kiểm soát điều đã được tiếp cận cũng là một phần của phương trình. Chân sư DK dường như đang nói rằng nếu người ta thâm nhập vào những chiều kích chưa biết nhưng không kiểm soát được những chiều kích ấy, thì những chiều kích ấy vẫn còn phần nào nội môn và chưa hoàn toàn ngoại môn.

The point to be emphasised is that when this is realised the true significance of the esoteric and the occult will be appreciated, and the endeavor of all KNOWERS will be to draw within the zone of their knowledge other [Page 288] units who are ready for a similar expansion of consciousness.

Điểm cần nhấn mạnh là khi điều này được nhận ra thì thâm nghĩa chân thực của nội môn và huyền bí sẽ được trân trọng, và nỗ lực của mọi THỨC GIẢ sẽ là kéo vào trong vùng tri thức của mình những đơn vị [Page 288] khác đã sẵn sàng cho một sự mở rộng tâm thức tương tự.

1. The suggestion offered is that those who know (i.e., the “KNOWERS”) are obliged to find appropriate methods of passing on that which they know.

1. Điều được gợi ý là những ai biết (tức là các “THỨC GIẢ”) có bổn phận phải tìm ra những phương pháp thích hợp để truyền đạt điều họ biết.

2. The entire process of initiation functions on this basis. The initiates seek to provide opportunity (for those who are ready) to become initiate.

2. Toàn bộ tiến trình điểm đạo vận hành trên cơ sở này. Các điểm đạo đồ tìm cách tạo cơ hội (cho những ai đã sẵn sàng) để trở thành điểm đạo đồ.

3. Note the word “draw” with the implication that the sharing of knowledge through the initiation process is accomplished through the Law of Attraction.

3. Hãy lưu ý từ “kéo” với hàm ý rằng việc chia sẻ tri thức qua tiến trình điểm đạo được thực hiện thông qua Định luật Hấp Dẫn.

4. Upon our planet there is constantly at work a process by means of which the exoteric is rendered esoteric. To cooperate in this process is to cooperate with the evolution of the planet.

4. Trên hành tinh của chúng ta luôn luôn có một tiến trình hoạt động, nhờ đó cái ngoại môn được làm cho trở thành nội môn. Hợp tác trong tiến trình này là hợp tác với sự tiến hoá của hành tinh.

5. What is said of the planet can, of course, be said of the cosmos as a whole. There is a constant movement intended to bring the unknown to light.

5. Dĩ nhiên, điều được nói về hành tinh cũng có thể được nói về toàn thể vũ trụ. Có một sự vận động liên tục nhằm đưa điều chưa biết ra ánh sáng.

In this thought lies the key to the work of the Brotherhood. They attract by Their force into certain fields of realisation and endeavor and by that attraction and the response of those human atoms who are ready, the group soul on the upward arc, or a particular centre of a Heavenly Man, is co-ordinated.

Chính trong tư tưởng này có chìa khóa cho công việc của Huynh đệ Đoàn. Các Ngài thu hút bằng mãnh lực của Các Ngài vào những lĩnh vực nhất định của (sự)chứng nghiệmnỗ lựcnhờ sự thu hút ấy cùng sự đáp ứng của những nguyên tử nhân loại đã sẵn sàng, hồn nhóm trên cung đi lên, hay một trung tâm đặc biệt của một Đấng Thiên Nhân, được phối hợp.

1. The “Brotherhood” is the Great White Lodge, the Spiritual Hierarchy of our planet.

1. “Huynh đệ Đoàn” là Thánh đoàn, Huyền Giai Tinh Thần của hành tinh chúng ta.

2. The action of the Spiritual Hierarchy serves the development of the Planetary Logos.

2. Hoạt động của Huyền Giai Tinh Thần phục vụ cho sự phát triển của Hành Tinh Thượng đế.

3. Are there two factors which are co-ordinated? The group soul and a particular center in the Heavenly Man?

3. Có phải có hai yếu tố được phối hợp không? Hồn nhóm và một trung tâm đặc biệt trong Đấng Thiên Nhân?

4. It would seem that group consciousness within the human race is promoted by the attractive action of the Brotherhood. As well, the heart center of the Heavenly Man is also stimulated, because the Ashrams are closely related to the heart expression of the Planetary Logos. Hierarchy is the heart center of the Heavenly Man.

4. Dường như tâm thức nhóm trong nhân loại được thúc đẩy bởi hoạt động hấp dẫn của Huynh đệ Đoàn. Đồng thời, trung tâm tim của Đấng Thiên Nhân cũng được kích thích, bởi vì các ashram có liên hệ mật thiết với biểu hiện tim của Hành Tinh Thượng đế. Thánh đoàn là trung tâm tim của Đấng Thiên Nhân.

5. Note DK speaks of the “group soul on the upward arc”. He is differentiating this from the function of the group soul on the involutionary arc, during which time no self-consciousness exists for participating units within the group soul.

5. Lưu ý rằng Chân sư DK nói về “hồn nhóm trên cung đi lên”. Ngài đang phân biệt điều này với chức năng của hồn nhóm trên cung giáng hạ tiến hoá, trong thời gian đó không có ngã thức đối với các đơn vị tham dự trong hồn nhóm.

6. The more the human being integrates into the Hierarchy, the more the One Soul of Humanity becomes a reality.

6. Con người càng tích hợp vào Thánh đoàn, Một Linh Hồn của Nhân Loại càng trở thành một thực tại.

7. VSK asks: “So which centre within the Planetary Logos are we likely to be working with. Are ‘we’ (e.g. this study group even, or any identifiable group) in any particular ashramic or sub ray group. We need to know this in order to know who are those we can serve and who are those who can serve us.”

7. VSK hỏi: “Vậy thì có lẽ chúng ta đang làm việc với trung tâm nào trong Hành Tinh Thượng đế? ‘Chúng ta’ (chẳng hạn ngay cả nhóm nghiên cứu này, hay bất kỳ nhóm có thể nhận diện nào) có ở trong một nhóm ashram hay cung phụ đặc biệt nào không? Chúng ta cần biết điều này để biết ai là những người chúng ta có thể phụng sự và ai là những người có thể phụng sự chúng ta.”

8. I would submit that those working closely with the Master DK are working with the second, third and (to a degree) the first ray. Both heart and throat centers are very important.

8. Tôi xin đề nghị rằng những ai làm việc mật thiết với Chân sư DK đang làm việc với cung hai, cung ba và (ở một mức độ nào đó) cung một. Cả trung tâm tim lẫn trung tâm cổ họng đều rất quan trọng.

In the same way the animal is brought at a certain stage into the zone of influence of the lesser sons of mind—human beings who are the elder brothers of the animals, as the Masters of the Wisdom are the Elder Brothers where humanity is concerned. So the interlocking proceeds and the division of responsibility.

Cũng theo cách ấy, con vật được đưa vào ở một giai đoạn nhất định trong vùng ảnh hưởng của các con nhỏ của Trí Tuệ—những con người là các huynh trưởng của loài vật, cũng như các Chân sư Minh Triết là các Huynh Trưởng đối với nhân loại. Vì vậy sự móc nối cứ tiếp diễn và sự phân chia trách nhiệm cũng vậy.

1. The analogy is clear and humbling. Is the difference in consciousness between a Master and a human being in some way proportional to the difference between the human being and an animal? This is the suggestion.

1. Sự tương đồng thật rõ ràng và khiến ta khiêm nhường. Phải chăng sự khác biệt về tâm thức giữa một Chân sư và một con người theo một cách nào đó tỷ lệ với sự khác biệt giữa con người và con vật? Đó là điều được gợi ý.

2. Those who presently care for animals and seek to increase their intelligence and responsiveness are undertaking a work parallel to that which the Masters perform for human beings. Perhaps the same degree of patience is required of the Master as is required of the one who trains animals. In fact, perhaps more patience is required of the Master.

2. Những ai hiện đang chăm sóc loài vật và tìm cách gia tăng trí tuệ cùng khả năng đáp ứng của chúng đang đảm nhận một công việc song hành với điều mà các Chân sư thực hiện cho con người. Có lẽ Chân sư cũng cần cùng một mức độ kiên nhẫn như người huấn luyện loài vật. Thật ra, có lẽ Chân sư còn cần nhiều kiên nhẫn hơn.

3. We note the relationship of brotherhood which exists between the various kingdoms. We think of the Masters as our Elder Brothers; do we think of the animals as our younger brothers?

3. Chúng ta lưu ý mối liên hệ huynh đệ tồn tại giữa các giới khác nhau. Chúng ta nghĩ đến các Chân sư như những Huynh Trưởng của mình; vậy chúng ta có nghĩ đến loài vật như những người em của mình không?

4. This ends Master DK’s attempt to answer the question, “Why is Knowledge both Exoteric and Esoteric?” Do we think we are better informed on the matter?

4. Điều này kết thúc nỗ lực của Chân sư DK nhằm trả lời câu hỏi, “Vì sao Tri Thức vừa Ngoại Môn vừa Nội Môn?” Chúng ta có nghĩ rằng mình đã được soi sáng hơn về vấn đề này không?

5. Perhaps we are left with the impression that it is of the utmost importance to penetrate rightly into knowledge which is esoteric. By doing so we are contributing to the evolutionary process of the Planetary Logos.

5. Có lẽ chúng ta còn lại với ấn tượng rằng việc thâm nhập đúng đắn vào tri thức nội môn là điều tối quan trọng. Khi làm như vậy, chúng ta đang góp phần vào tiến trình tiến hoá của Hành Tinh Thượng đế.

IX. WHAT IS THE RELATION BETWEEN:

IX. MỐI LIÊN HỆ GIỮA NHỮNG ĐIỀU SAU ĐÂY LÀ GÌ:

a. The ten planetary schemes?

a. Mười hệ hành tinh?

b. The seven sacred planets?

b. Bảy hành tinh thiêng liêng?

c. The seven chains in a scheme?

c. Bảy dãy trong một hệ hành tinh?

d. The seven globes in a chain?

d. Bảy bầu hành tinh trong một dãy?

e. The seven rounds on a globe?

e. Bảy cuộc tuần hoàn trên một bầu hành tinh?

f. The seven root-races and the seven subraces?

f. Bảy giống dân gốc và bảy giống dân phụ?

1. We now undertake a question of vast proportions.

1. Giờ đây chúng ta bắt đầu một câu hỏi có quy mô rất lớn.

2. We note that there are many sevens and only one ten. There are said to be ten planetary schemes. One might wonder why there are not said to be twelve.

2. Chúng ta lưu ý rằng có nhiều số bảy và chỉ một số mười. Người ta nói có mười hệ hành tinh. Có thể tự hỏi vì sao không phải là mười hai.

Some esoteric thinkers believe that there are twelve planets to be considered in our solar system, and there is a basis for their conclusion. (EP II 99)

Một số nhà tư tưởng huyền bí tin rằng có mười hai hành tinh cần được xét đến trong hệ mặt trời của chúng ta, và có cơ sở cho kết luận của họ. (EP II 99)

1. Esoterically, it may be questioned whether there are (at times) as many as ten chains in a scheme and ten globes in a chain. The number ten certainly appears when considering planetary chains.

1. Về mặt huyền bí, có thể đặt câu hỏi liệu có phải (đôi khi) có đến mười dãy trong một hệ hành tinh và mười bầu hành tinh trong một dãy hay không. Con số mười chắc chắn xuất hiện khi xét đến các dãy hành tinh.

2. Below is a section interpolated to make the point:

2. Dưới đây là một đoạn được chèn vào để làm rõ điểm này:

Forget not that the schemes manifest as seven, as ten, as three from the angle of the Eternal Now, or—from the point of view of a Heavenly Man—the manifestation may be written as (3|7) [put a circle around the 3|7—ed.]. In time and space the order might be stated to be 7-3-10, and at certain stages 10-7-3. As the opposites merge the ten become the seven and the three, and it is during this process that entire chains and globes, and eventually schemes, will apparently vanish from objectivity, and drop out of sight. They will be simply absorbed. (TCF 414-415)

Đừng quên rằng các hệ hành tinh biểu lộ thành bảy, thành mười, thành ba từ góc độ của Hiện Tại Vĩnh Cửu, hoặc—từ quan điểm của một Đấng Thiên Nhân—sự biểu lộ có thể được viết là (3|7) [hãy đặt một vòng tròn quanh 3|7—b.t.]. Trong thời gian và không gian, trật tự có thể được phát biểu là 7-3-10, và ở những giai đoạn nhất định là 10-7-3. Khi các đối cực hòa nhập, mười trở thành bảy và ba, và chính trong tiến trình này mà toàn bộ các dãy và bầu hành tinh, và cuối cùng là các hệ hành tinh, dường như sẽ biến mất khỏi tính khách quan và khuất khỏi tầm nhìn. Chúng sẽ đơn giản được hấp thụ. (TCF 414-415)

1. The principle that ‘for every seven there is a ten’ is often true, though whether it is constantly true is to be determined.

1. Nguyên lý rằng ‘cứ mỗi bảy thì có một mười’ thường là đúng, dù việc nó có luôn luôn đúng hay không thì còn phải xác định.

We have in this question a vast quantity of matter to deal with and it will be impossible for us to do more than to get a broad and general idea.

Trong câu hỏi này chúng ta có một khối lượng chất liệu rất lớn để bàn đến và chúng ta sẽ không thể làm gì hơn ngoài việc có được một ý niệm rộng và tổng quát.

1. This is another of those questions of vast scope, comparable to the question which undertook to explore the analogical relationships between the four types of atoms.

1. Đây là một câu hỏi khác có phạm vi rất rộng, tương đương với câu hỏi đã tìm cách khảo sát các mối liên hệ tương đồng giữa bốn loại nguyên tử.

The subject is so vast and the comprehensiveness of the interrelated points is so great that we shall only attain lucidity if we confine our attention to certain broad general conceptions, leaving the subsidiary points for more detailed elucidation at some later period.

Chủ đề này quá rộng lớn và tính bao quát của các điểm liên hệ lẫn nhau quá lớn đến nỗi chúng ta chỉ có thể đạt được sự sáng tỏ nếu giới hạn sự chú ý của mình vào một số quan niệm rộng và tổng quát, để lại các điểm phụ cho sự làm sáng tỏ chi tiết hơn vào một thời kỳ nào đó sau này.

1. That more detailed elucidation will probably come when the new esoteric schools are firmly established, perhaps centuries into the future.

1. Sự làm sáng tỏ chi tiết hơn ấy có lẽ sẽ đến khi các trường nội môn mới được thiết lập vững chắc, có thể là nhiều thế kỷ trong tương lai.

2. When Master DK says that “the comprehensiveness of the interrelated points is so great” we can easily see how strongly He represents the second Ray of “Detailed Unity” and “Comprehensive Inclusiveness”. He seems particularly to be a representative of the third aspect of the second ray (cf. DINA II 518).

2. Khi Chân sư DK nói rằng “tính bao quát của các điểm liên hệ lẫn nhau quá lớn”, chúng ta có thể dễ dàng thấy Ngài biểu hiện mạnh mẽ biết bao cung hai của “Hợp Nhất Chi Tiết” và “Tính Bao Gồm Toàn Diện”. Dường như Ngài đặc biệt là một đại diện của phương diện thứ ba của cung hai (x. DINA II 518).

1. The Inter-related Parts

1. Các Phần Liên Hệ Lẫn Nhau

Primarily I would suggest that we consider this subject only as it concerns a Heavenly Man, that we omit from our immediate calculations the consideration of the cellular composition of His body (those separated units of consciousness which we call deva and human [Page 289] beings), and that we view the matter from what is to the human being, the group concept, and not the individual.

Trước hết tôi xin gợi ý rằng chúng ta chỉ nên xét chủ đề này trong chừng mực nó liên quan đến một Đấng Thiên Nhân, rằng chúng ta loại ra khỏi những tính toán trước mắt việc xem xét thành phần tế bào trong thể của Ngài (những đơn vị tâm thức tách biệt mà chúng ta gọi là thiên thần và con người [Page 289]), và rằng chúng ta nhìn vấn đề từ điều đối với con người là quan niệm nhóm, chứ không phải cá nhân.

1. For the sake of lucidity, DK is thinking in larger wholes. Too rapid a presentation of a mass of detail can overwhelm and bewilder.

1. Vì mục đích sáng tỏ, Chân sư DK đang suy nghĩ theo những toàn thể lớn hơn. Việc trình bày quá nhanh một khối lượng chi tiết có thể làm người ta choáng ngợp và bối rối.

2. We notice, as well, that He is not discussing the solar systemic implications of the question but is confining himself to a consideration of the question as it relates to a Heavenly Man —probably our Heavenly Man.

2. Chúng ta cũng nhận thấy rằng Ngài không bàn đến những hàm ý thuộc hệ mặt trời của câu hỏi mà đang giới hạn mình vào việc xem xét câu hỏi trong mối liên hệ với một Đấng Thiên Nhân—có lẽ là Đấng Thiên Nhân của chúng ta.

3. We are reminded that human and deva units of consciousness constitute the cellular composition of the body of the Planetary Logos or Heavenly Man.

3. Chúng ta được nhắc rằng các đơn vị tâm thức nhân loại và thiên thần cấu thành thành phần tế bào trong thể của Hành Tinh Thượng đế hay Đấng Thiên Nhân.

4. The calculations omitted will one day have to be addressed.

4. Những tính toán bị loại ra ấy một ngày nào đó sẽ phải được bàn đến.

5. When thinking of a Heavenly Man or Planetary Logos we must always think in group terms. The consciousness of a Heavenly Man is both a one and a many.

5. Khi nghĩ về một Đấng Thiên Nhân hay Hành Tinh Thượng đế, chúng ta luôn phải suy nghĩ theo thuật ngữ nhóm. Tâm thức của một Đấng Thiên Nhân vừa là một vừa là nhiều.

The entire middle section of this treatise on the Fires has to do with the development of the consciousness of a Heavenly Man, and the application by Him of the knowledge gained (through the aid of manas or mind) in a previous solar system, to the acquisition of wisdom through objectivity, and to the transmutation of the earlier acquired faculty into applied Love.

Toàn bộ phần giữa của bộ luận này về các Loại Lửa bàn đến sự phát triển tâm thức của một Đấng Thiên Nhân, và việc Ngài áp dụng tri thức đã đạt được (nhờ sự trợ giúp của manas hay trí tuệ) trong một hệ mặt trời trước đây, vào việc thu đạt minh triết thông qua tính khách quan, và vào sự chuyển hoá năng lực đã thu đạt trước kia thành Bác Ái được áp dụng.

1. We are now focussed in the large middle section of TCF. DK tells us that this section is concerned mostly with the development of the consciousness of the Heavenly Man, though, of course, many other subjects are treated.

1. Hiện nay chúng ta đang tập trung vào phần giữa lớn của TCF. Chân sư DK cho biết phần này chủ yếu liên quan đến sự phát triển tâm thức của Đấng Thiên Nhân, dù dĩ nhiên còn nhiều chủ đề khác cũng được bàn đến.

2. For the sake of clarity, let us tabulate the knowledge to be acquired concerning the Heavenly Man:

2. Để rõ ràng, hãy lập bảng tri thức cần được thu đạt liên quan đến Đấng Thiên Nhân:

a The development of the consciousness of the Heavenly Man

a Sự phát triển tâm thức của Đấng Thiên Nhân

b The application by the Heavenly Man of knowledge gained in a previous solar system. This knowledge was gained by the aid of manas or mind. We note that DK does not tell us which solar system. It could be the one immediately previous to this solar system, or a still earlier solar system.

b Việc Đấng Thiên Nhân áp dụng tri thức đã đạt được trong một hệ mặt trời trước đây. Tri thức này đã được thu đạt nhờ sự trợ giúp của manas hay trí tuệ. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK không cho biết đó là hệ mặt trời nào. Có thể là hệ mặt trời ngay trước hệ mặt trời này, hoặc một hệ mặt trời còn sớm hơn nữa.

c The acquisition by the Heavenly Man of wisdom. Wisdom is gained through the experience of objectivity.

c Việc Đấng Thiên Nhân thu đạt minh triết. Minh triết được thu đạt qua kinh nghiệm về tính khách quan.

d The transmutation by the Heavenly Man of earlier acquired faculty into applied Love.

d Việc Đấng Thiên Nhân chuyển hoá năng lực đã thu đạt trước kia thành Bác Ái được áp dụng.

1. It is clear that the Heavenly Man is moving from knowledge to wisdom and love. This is His task in the present solar system.

1. Rõ ràng là Đấng Thiên Nhân đang chuyển từ tri thức sang minh triết và bác ái. Đây là công việc của Ngài trong hệ mặt trời hiện tại.

This is His work in the same sense that the work of the cells within His body is to develop the mind principle.

Đây là công việc của Ngài theo cùng ý nghĩa như công việc của các tế bào trong thể của Ngài là phát triển nguyên khí trí tuệ.

1. The contrast emerges clearly: the Heavenly Man is developing Love-Wisdom; man (a cell in the body of the Heavenly Man) is developing mind.

1. Sự tương phản hiện ra rõ ràng: Đấng Thiên Nhân đang phát triển Bác Ái – Minh Triết; con người (một tế bào trong thể của Đấng Thiên Nhân) đang phát triển trí tuệ.

2. We might say that a Heavenly Man or Planetary Logos is growing into a type of Love-Wisdom which is already the possession of the Solar Logos. Relative to man, the Planetary Logos already has a full measure of Love-Wisdom.

2. Chúng ta có thể nói rằng một Đấng Thiên Nhân hay Hành Tinh Thượng đế đang tăng trưởng vào một loại Bác Ái – Minh Triết vốn đã là sở hữu của Thái dương Thượng đế. So với con người, Hành Tinh Thượng đế đã có một mức độ trọn vẹn của Bác Ái – Minh Triết.

When through experience in the three worlds the human units have accomplished this, they can then gain—through the final initiations—something of the group concept, or the conscious realisation of place, and of energised activity within the ring-pass-not of their particular planetary Logos.

Khi qua kinh nghiệm trong ba cõi thấp các đơn vị nhân loại đã hoàn thành điều này, khi đó họ có thể đạt được—qua các lần điểm đạo cuối cùng—một phần nào quan niệm nhóm, hay sự chứng nghiệm hữu thức về vị trí, và về hoạt động được tiếp năng lượng bên trong vòng-giới-hạn của Hành Tinh Thượng đế đặc thù của họ.

1. It is only the final initiations (in the series of initiations which pertain to humanity) that convey to man “something of the group concept”.

1. Chỉ các lần điểm đạo cuối cùng (trong chuỗi điểm đạo liên quan đến nhân loại) mới truyền đạt cho con người “một phần nào quan niệm nhóm”.

2. The later initiations apply to the spiritual triad and Monad. We remember that the Heavenly Man (whichever of three Heavenly Men may be meant!) is attempting to master the planes of the spiritual triad and is expressing Himself largely on those planes. Therefore, when the initiatory process of man raises his point of tension to triadal levels (through which the Heavenly Man is focussed), he enters more fully into the life of the Heavenly Man.

2. Các lần điểm đạo về sau áp dụng cho Tam nguyên tinh thần và chân thần. Chúng ta nhớ rằng Đấng Thiên Nhân (dù là bất kỳ Đấng nào trong ba Đấng Thiên Nhân được ngụ ý!) đang cố gắng làm chủ các cõi của Tam nguyên tinh thần và đang biểu lộ chính Ngài phần lớn trên các cõi ấy. Vì vậy, khi tiến trình điểm đạo của con người nâng điểm tập trung nhất tâm của y lên các cấp độ tam nguyên tinh thần (qua đó Đấng Thiên Nhân được tập trung), y đi vào đầy đủ hơn trong sự sống của Đấng Thiên Nhân.

3. We remember, perhaps, from the last Commentary, the scale problems encountered when comparing the Solar Logos, the Heavenly Man and Man. That there are, so we think, three types of Heavenly Men to be found within the planetary scheme of Earth, we must be alert to which type of Heavenly Man may be meant in any particular context.

3. Có lẽ chúng ta còn nhớ, từ Cổ Luận trước, những vấn đề về tỉ lệ gặp phải khi so sánh Thái dương Thượng đế, Đấng Thiên Nhân và con người. Vì có, theo chúng ta nghĩ, ba loại Đấng Thiên Nhân được tìm thấy trong hệ hành tinh của Trái Đất, nên chúng ta phải tỉnh táo để nhận ra trong bất kỳ ngữ cảnh cụ thể nào đang nói đến loại Đấng Thiên Nhân nào.

4. This problem is simplified, in a way, by realizing that all Heavenly Men are really ONE Heavenly Man working through His emanated aspects.

4. Vấn đề này, theo một cách nào đó, được đơn giản hóa khi nhận ra rằng mọi Đấng Thiên Nhân thực ra chỉ là MỘT Đấng Thiên Nhân đang hoạt động qua các phương diện được phát xạ của Ngài.

5. Let us examine DK’s understanding of the meaning of the “group concept”:

5. Chúng ta hãy khảo sát sự thấu hiểu của Chân sư DK về ý nghĩa của “khái niệm nhóm”:

a The group concept is the conscious realization of place within the ring-pass-not of the Heavenly Man

a Khái niệm nhóm là sự chứng nghiệm có ý thức về vị trí bên trong vòng-giới-hạn của Đấng Thiên Nhân

b The group concept is the conscious realization of energized activity within the ring-pass-not of the Heavenly Man.

b Khái niệm nhóm là sự chứng nghiệm có ý thức về hoạt động được tiếp năng lượng bên trong vòng-giới-hạn của Đấng Thiên Nhân.

1. It is becoming clear that group consciousness is realized as one begins to enter in the consciousness of the Heavenly Man. This occurs on the levels of the spiritual triad. Therefore, group consciousness, in the way Master DK describes it, is not really understood until the human being’s later initiations which polarize his consciousness within the spiritual triad. This should be a significant realization for aspirants and disciples aspiring to group consciousness.

1. Ngày càng rõ rằng tâm thức nhóm được chứng nghiệm khi người ta bắt đầu đi vào tâm thức của Đấng Thiên Nhân. Điều này xảy ra trên các cấp độ của Tam nguyên tinh thần. Vì vậy, tâm thức nhóm, theo cách Chân sư DK mô tả, thực ra không được thấu hiểu cho đến các lần điểm đạo muộn hơn của con người, những lần điểm đạo phân cực tâm thức của y trong Tam nguyên tinh thần. Đây hẳn phải là một chứng nghiệm quan trọng đối với những người chí nguyện và các đệ tử đang khát vọng đạt tới tâm thức nhóm.

2. Let us pause to consider: to what extent do we have a conscious realization of place and of energized activity within the ring-pass-not of our particular Planetary Logos? Do we know what kind of a cell we are and what may be our function within the planetary logoic economy?

2. Chúng ta hãy dừng lại để suy xét: chúng ta có sự chứng nghiệm có ý thức về vị trí và về hoạt động được tiếp năng lượng của mình trong vòng-giới-hạn của Đức Hành Tinh Thượng Đế riêng của chúng ta đến mức nào? Chúng ta có biết mình là loại tế bào nào và chức năng của mình trong Định luật Tiết Kiệm của Hành Tinh Thượng đế có thể là gì không?

Therefore, we might consider the following points:

Vì vậy, chúng ta có thể xét các điểm sau đây:

First: The work of the units who go to the make-up of a particular planetary Logos. This is of a threefold nature:

Thứ nhất: Công việc của các đơn vị tạo nên cấu thành của một Hành Tinh Thượng đế cụ thể. Điều này có bản chất tam phân:

1. Men and devas are such units.

1. Những người nam và nữ và các thiên thần là những đơn vị như thế.

2. It becomes clear that Master DK is speaking in broad and general terms of human and deva units which are to be found in all Planetary Logoi. We will learn below that He is not speaking only of the Planetary Logos of the Earth-scheme.

2. Ngày càng rõ rằng Chân sư DK đang nói theo những thuật ngữ rộng và tổng quát về các đơn vị nhân loại và thiên thần được tìm thấy trong mọi Hành Tinh Thượng đế. Chúng ta sẽ thấy dưới đây rằng Ngài không chỉ nói về Đức Hành Tinh Thượng Đế của hệ Địa Cầu.

3. Appended to this Commentary will be another document called: “Tabulation on the Work of Three Types of Units. Man, Heavenly Man/Planetary Logos and Solar Logos are described in three parallel columns for ease of comprehension.

3. Đính kèm theo Cổ Luận này sẽ là một tài liệu khác có tên: “Bảng Tổng Hợp về Công Việc của Ba Loại Đơn Vị. Con người, Đấng Thiên Nhân/Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế được mô tả trong ba cột song song để dễ thấu hiểu.

a. To attain the consciousness of the realised control of their own individual ring-pass-not, or of their own sphere of activity.

a. Đạt tới tâm thức về sự kiểm soát đã được chứng nghiệm đối với vòng-giới-hạn cá nhân riêng của họ, hay đối với khối cầu hoạt động riêng của họ.

1. We note that not only must the human being achieve control of his own individual ring-pass-not but it must be a “realized control”; he must be conscious of the control.

1. Chúng ta lưu ý rằng con người không những phải đạt được sự kiểm soát đối với vòng-giới-hạn cá nhân riêng của mình mà đó còn phải là một “sự kiểm soát đã được chứng nghiệm”; y phải có ý thức về sự kiểm soát ấy.

2. The sphere of the human being’s activity embraces all his vehicles through which his seven principles function, but the sphere of activity over which the human being must gain control does not include the entirety of his demonstration as a Monad.

2. Khối cầu hoạt động của con người bao trùm mọi vận cụ của y, qua đó bảy nguyên khí của y hoạt động, nhưng khối cầu hoạt động mà con người phải giành quyền kiểm soát không bao gồm toàn bộ sự biểu lộ của y với tư cách một chân thần.

This covers the period of evolution up to the first Initiation, or their entrance upon the Path, and thus into the spiritual kingdom.

Điều này bao trùm giai đoạn tiến hoá cho đến lần điểm đạo thứ nhất, hay việc họ bước vào Con Đường, và như thế đi vào giới tinh thần.

1. The sentence immediately above is of great importance. Three experiences are given equivalence: entry upon the Path, the first initiation and entry into the spiritual kingdom (the kingdom of souls).

1. Câu ngay phía trên có tầm quan trọng lớn lao. Ba kinh nghiệm được xem là tương đương: bước vào Con Đường, lần điểm đạo thứ nhất và bước vào giới tinh thần (giới của các linh hồn).

2. There is often question in the minds of students concerning the beginning of the Path. In this reference the moment of beginning is stated in no uncertain terms. The Path, per se, is not really the Path of Aspiration, but the Path of Probationary Discipleship.

2. Trong tâm trí các đạo sinh thường có câu hỏi liên quan đến sự khởi đầu của Con Đường. Trong đoạn này, thời điểm bắt đầu được nêu ra hết sức rõ ràng. Chính Con Đường, tự nó, thực ra không phải là Con Đường Khát Vọng, mà là Con Đường Dự Bị của địa vị đệ tử.

3. By the time the first initiation is reached the disciple has a degree of control over his own individual ring-pass-not. How much control is probably a technical matter.

3. Vào lúc đạt đến lần điểm đạo thứ nhất, đệ tử đã có một mức độ kiểm soát nào đó đối với vòng-giới-hạn cá nhân riêng của mình. Mức độ kiểm soát bao nhiêu có lẽ là một vấn đề kỹ thuật.

It concerns the awakening of consciousness on the three lower planes.

Điều này liên quan đến sự thức tỉnh của tâm thức trên ba cõi thấp.

1. By the time the first initiation is reached, consciousness is awakened on the three lower planes; the question is, “to what extent is it awakened”?

1. Vào lúc đạt đến lần điểm đạo thứ nhất, tâm thức được thức tỉnh trên ba cõi thấp; câu hỏi là, “nó được thức tỉnh đến mức nào”?

b. To attain the consciousness of the particular centre in the body of one of the planetary Logoi—which centre embodies their group activity.

b. Đạt tới tâm thức của trung tâm đặc thù trong thể của một trong các Hành Tinh Thượng đế—trung tâm ấy hiện thân cho hoạt động nhóm của họ.

1. Here we are speaking of the task of those who are attaining to Mastership.

1. Ở đây chúng ta đang nói về nhiệm vụ của những ai đang đạt tới Chân sư quả.

2. Group activity will occur along one of seven lines.

2. Hoạt động nhóm sẽ diễn ra dọc theo một trong bảy đường.

3. The reference could make it seem that a Master on Earth must achieve consciousness not only with an aspect of or center in His own Planetary Logos but, possibly, with a particular center in another Planetary Logos.

3. Đoạn tham chiếu này có thể khiến người ta tưởng rằng một Chân sư trên Trái Đất không những phải đạt được tâm thức về một phương diện hay một trung tâm trong Đức Hành Tinh Thượng Đế của chính Ngài mà còn, có thể, về một trung tâm đặc thù trong một Hành Tinh Thượng đế khác.

4. There is a simpler reading of the situation. A human unit, for instance, on the verge of achieving Mastership, must attain to the consciousness of a particular center within the body of His own Planetary Logos.

4. Có một cách đọc đơn giản hơn về tình huống này. Chẳng hạn, một đơn vị nhân loại, đang ở ngưỡng đạt tới Chân sư quả, phải đạt tới tâm thức của một trung tâm đặc thù trong thể của Đức Hành Tinh Thượng Đế riêng của mình.

5. Although the term “planetary chain” is not used in this reference, the “particular centre in the body of one of the planetary Logoi” could be a planetary chain. We could hypothesize that the Master is attaining to ‘chain-consciousness’. The following is interesting in this regard:

5. Mặc dù thuật ngữ “dãy hành tinh” không được dùng trong đoạn tham chiếu này, “trung tâm đặc thù trong thể của một trong các Hành Tinh Thượng đế” có thể là một dãy hành tinh. Chúng ta có thể giả định rằng Chân sư đang đạt tới ‘tâm thức dãy’. Điều sau đây thật đáng chú ý về phương diện này:

A Master wields the law in the three worlds, whilst a Chohan of the sixth initiation wields the law in the chain on all levels; a Chohan of the seventh initiation wields the law in the solar system. (IHS 90)

Một Chân sư vận dụng định luật trong ba cõi giới, trong khi một Chohan của lần điểm đạo thứ sáu vận dụng định luật trong dãy trên mọi cấp độ; một Chohan của lần điểm đạo thứ bảy vận dụng định luật trong hệ mặt trời. (IHS 90)

1. For instance, a Master who achieved Mastership upon the Earth-globe might, at Mastership attain to the consciousness of the Lord of the Earth-chain.

1. Chẳng hạn, một Chân sư đã đạt Chân sư quả trên bầu Địa Cầu có thể, khi đạt Chân sư quả, đạt tới tâm thức của Chúa Tể của Dãy Địa Cầu.

2. We will have to stay alert in the attempt to understand which of these two interpretations is more correct:

2. Chúng ta sẽ phải luôn tỉnh táo trong nỗ lực hiểu xem cách diễn giải nào trong hai cách sau đây là đúng hơn:

a Attainment to the consciousness of a center (perhaps a chain) within the Planetary Logos which is expressing through the planet on which the Master lives.

a Đạt tới tâm thức của một trung tâm (có lẽ là một dãy) bên trong Đức Hành Tinh Thượng Đế đang biểu lộ qua hành tinh nơi Chân sư cư ngụ.

b Attainment to the consciousness of a center within a different Planetary Logos.

b Đạt tới tâm thức của một trung tâm bên trong một Hành Tinh Thượng đế khác.

This carries them to the fifth Initiation, and covers the period wherein consciousness is awakened on the five planes of evolution.

Điều này đưa họ đến lần điểm đạo thứ năm, và bao trùm giai đoạn trong đó tâm thức được thức tỉnh trên năm cõi tiến hoá.

1. We learn that for a Master, consciousness is awakened on five planes of evolution. A Master is not yet the master of the five; He has mastered only the lower three.

1. Chúng ta biết rằng đối với một Chân sư, tâm thức được thức tỉnh trên năm cõi tiến hoá. Một Chân sư chưa phải là bậc thầy của năm cõi ấy; Ngài mới chỉ làm chủ ba cõi thấp hơn.

2. A first degree initiate is awakened on three planes of evolution but he is not the master of those three planes.

2. Một điểm đạo đồ bậc một được thức tỉnh trên ba cõi tiến hoá nhưng y chưa phải là bậc thầy của ba cõi ấy.

3. We need, therefore, to distinguish between awakening and mastery. This is a consideration similar to that between the “opening up” of certain ethers and their mastery.

3. Vì vậy, chúng ta cần phân biệt giữa sự thức tỉnh và sự làm chủ. Đây là một suy xét tương tự như sự khác biệt giữa việc “mở ra” một số dĩ thái nào đó và việc làm chủ chúng.

c. To attain to the consciousness of the centre in the Body of the Logos of which any particular planetary [Page 290] Logos is the sumtotal. This carries them to the seventh Initiation and covers the period of the awakening of consciousness on the seven planes of the solar system.

c. Đạt tới tâm thức của trung tâm trong Thể của Thượng đế mà bất kỳ Hành Tinh [Page 290] Thượng đế cụ thể nào cũng là tổng thể. Điều này đưa họ đến lần điểm đạo thứ bảy và bao trùm giai đoạn thức tỉnh tâm thức trên bảy cõi của hệ mặt trời.

1. In these three explanations, we have moved from the first, through the fifth and to the seventh initiation.

1. Trong ba giải thích này, chúng ta đã đi từ lần điểm đạo thứ nhất, qua lần thứ năm và đến lần thứ bảy.

2. When the term “the Logos” is used, we know it is the Solar Logos.

2. Khi thuật ngữ “Thượng đế” được dùng, chúng ta biết đó là Thái dương Thượng đế.

3. In point “b.” the human or deva unit discovers its place within a Planetary Logos (either the Planetary Logos of his own planet or the Planetary Logos of another). In point “c.”, the place of the human or deva unit within the Solar Logos is revealed.

3. Ở điểm “b.” đơn vị nhân loại hay thiên thần khám phá vị trí của mình trong một Hành Tinh Thượng đế (hoặc Đức Hành Tinh Thượng Đế của hành tinh riêng mình hoặc Đức Hành Tinh Thượng Đế của một hành tinh khác). Ở điểm “c.”, vị trí của đơn vị nhân loại hay thiên thần trong Thái dương Thượng đế được mặc khải.

4. It is suggested that each Planetary Logos is the “sumtotal” of a particular center within a Solar Logos. Obviously, since there are only seven major centers within a Solar Logos, there must be some Planetary Logoi who doe not comprise the sumtotal of a major solar logoic center.

4. Người ta gợi ý rằng mỗi Hành Tinh Thượng đế là “tổng thể” của một trung tâm đặc thù trong một Thái dương Thượng đế. Hiển nhiên, vì chỉ có bảy trung tâm chính trong một Thái dương Thượng đế, nên hẳn phải có một số Hành Tinh Thượng đế không cấu thành tổng thể của một trung tâm chính của Thái dương Thượng đế.

5. Whereas, the attainment discussed in point “b.” might be confined to the consciousness of a planetary chain, the attainment in point “c.” could well involve the consciousness of an entire planetary scheme.

5. Trong khi sự đạt được được bàn đến ở điểm “b.” có thể bị giới hạn trong tâm thức của một dãy hành tinh, thì sự đạt được ở điểm “c.” rất có thể liên quan đến tâm thức của toàn bộ một hệ hành tinh.

6. Let us tabulate the correlations between the initiation in question, the type of consciousness achieved and the planes of expression through which the evolving human or deva unit functions at different levels of initiation.

6. Chúng ta hãy lập bảng các tương quan giữa lần điểm đạo đang xét, loại tâm thức đạt được và các cõi biểu lộ mà qua đó đơn vị nhân loại hay thiên thần đang tiến hoá hoạt động ở những cấp độ điểm đạo khác nhau.

Initiation

Consciousness

Planes

First Initiation

Consciousness of the unit’s individual ring-pass-not

Thee systemic planes

Fifth Initiation

Consciousness of a particular center is his (or a) Planetary Logos, which center embodies the unit’s group activity. This may be chain consciousness

Five systemic planes

Seventh Initiation

Consciousness of that center within the Solar Logos of which his (or a) Planetary Logos is the sumtotal. He attains to the consciousness of that particular Planetary Logos (probably his own) to which he is most related. For instance, a seventh degree initiate who achieved the seventh initiation on Earth would probably be most related (or at least, immediately related) to the Planetary Logos of the Earth-scheme. This type of consciousness may be considered scheme consciousness.

Seven systemic planes

1. We can see what a huge difference exists between the consciousness of an initiate of the first degree and an initiate of the fifth degree, a Master. The first degree initiate has consciousness awakened on only three systemic sub-planes on one globe. A Master has consciousness awakened on five systemic sub-planes which (according to the hypothesis here developed) are to be found throughout a particular planetary chain. The first degree initiate is confined to one globe and the Master (according to this hypothesis) has expression through seven globes.

1. Chúng ta có thể thấy sự khác biệt lớn lao biết bao giữa tâm thức của một điểm đạo đồ bậc một và một điểm đạo đồ bậc năm, một Chân sư. Điểm đạo đồ bậc một chỉ có tâm thức được thức tỉnh trên ba cõi phụ hệ thống trên một bầu hành tinh. Một Chân sư có tâm thức được thức tỉnh trên năm cõi phụ hệ thống, mà theo giả thuyết được triển khai ở đây, được tìm thấy khắp một dãy hành tinh cụ thể. Điểm đạo đồ bậc một bị giới hạn vào một bầu hành tinh và Chân sư (theo giả thuyết này) có sự biểu lộ qua bảy bầu hành tinh.

2. The seventh degree initiate has expression through seven chains, and thus through an entire planetary scheme.

2. Điểm đạo đồ bậc bảy có sự biểu lộ qua bảy dãy, và như thế qua toàn bộ một hệ hành tinh.

3. We will check to see whether this line of reasoning squares with what the Tibetan has said of the chain expression of a Master or a Chohan of the seventh degree.

3. Chúng ta sẽ kiểm tra xem đường lối lập luận này có phù hợp với điều Chân sư Tây Tạng đã nói về sự biểu lộ qua dãy của một Chân sư hay một Chohan bậc bảy hay không.

These expansions are attained by the aid of mind, transmuted in due course of time into love-wisdom, and entail the conscious control of the entire seven planes of the solar system, or of the lowest cosmic plane.

Những sự mở rộng này đạt được nhờ sự trợ giúp của trí tuệ, được chuyển hoá theo thời gian thành Bác Ái – Minh Triết, và bao hàm sự kiểm soát có ý thức đối với trọn vẹn bảy cõi của hệ mặt trời, hay cõi vũ trụ thấp nhất.

1. The expansions we are discussing are really initiations. The great “manasic initiations” begin with the first. Throughout the initiation process (governed generically by Venus—the planet which unites mind and love), manas is transmuted into love-wisdom.

1. Những sự mở rộng mà chúng ta đang bàn đến thực ra là các lần điểm đạo. Những “điểm đạo manas” lớn bắt đầu từ lần thứ nhất. Suốt tiến trình điểm đạo (được Sao Kim chi phối theo nghĩa tổng quát—hành tinh hợp nhất trí tuệ và bác ái), manas được chuyển hoá thành Bác Ái – Minh Triết.

2. We have been speaking of the progressive awakening of consciousness, but now we speak of “conscious control”.

2. Chúng ta đã nói về sự thức tỉnh tiến dần của tâm thức, nhưng giờ đây chúng ta nói đến “sự kiểm soát có ý thức”.

3. The human or deva unit has, therefore, three kinds of progressive relationships with the seven systemic planes:

3. Vì vậy, đơn vị nhân loại hay thiên thần có ba loại quan hệ tiến dần với bảy cõi hệ thống:

a Awakening upon a plane

a Sự thức tỉnh trên một cõi

b Control of a plane

b Sự kiểm soát một cõi

c Mastery of a plane

c Sự làm chủ một cõi

Second: The work of the Heavenly Men Who in their totality are the seven centres in the body of the Logos. This work is again threefold:

Thứ hai: Công việc của các Đấng Thiên Nhân mà trong tổng thể của Các Ngài là bảy trung tâm trong thể của Thượng đế. Công việc này lại cũng có tính tam phân:

1. This is a very interesting statement and may required investigation. In our solar system we have many Heavenly Men. DK states that there are ten planetary schemes. If we work with the planet Vulcan and stop our count with the planet Pluto, we shall have the ten schemes. As discussed above, there may be twelve major scheme.

1. Đây là một phát biểu rất thú vị và có thể đòi hỏi sự khảo cứu. Trong hệ mặt trời của chúng ta có nhiều Đấng Thiên Nhân. DK nói rằng có mười hệ hành tinh. Nếu chúng ta tính cả hành tinh Vulcan và dừng lại ở hành tinh Sao Diêm Vương, chúng ta sẽ có mười hệ. Như đã bàn ở trên, có thể có mười hai hệ chính.

2. Even if we do not concern ourselves with the many other planets in our solar system (more than 115), we still have a discrepancy. It is as if the ten Heavenly Men comprise the seven centers in the body of the Solar Logos. The reason we are justified in counting more Heavenly Men than seven is the phrase “in their totality”. The Heavenly Men in their totality are more than seven!

2. Ngay cả khi chúng ta không bận tâm đến nhiều hành tinh khác trong hệ mặt trời của mình (hơn 115), chúng ta vẫn có một sự chênh lệch. Dường như mười Đấng Thiên Nhân cấu thành bảy trung tâm trong thể của Thái dương Thượng đế. Lý do khiến chúng ta có cơ sở để đếm số Đấng Thiên Nhân nhiều hơn bảy nằm ở cụm từ “trong tổng thể của Các Ngài”. Các Đấng Thiên Nhân trong tổng thể của Các Ngài nhiều hơn bảy!

3. There may be a way that more than one Heavenly Man go to the constitution of a particular major center of a Solar Logos.

3. Có thể có một cách nào đó để hơn một Đấng Thiên Nhân cùng tạo nên cấu thành của một trung tâm chính cụ thể của một Thái dương Thượng đế.

4. When we consider all the many Heavenly Men, there may be a way in which each of them (however minor) is related to one of the major centers, just as in the human body, the minute centers are related to minor centers and the minor centers to major centers. Speculation upon these types of relationships will not be fruitful until more of the undiscovered planets are discovered.

4. Khi chúng ta xét đến tất cả nhiều Đấng Thiên Nhân, có thể có một cách mà mỗi vị trong Các Ngài (dù nhỏ đến đâu) đều liên hệ với một trong các trung tâm chính, cũng như trong thể người, các trung tâm nhỏ bé liên hệ với các trung tâm phụ và các trung tâm phụ liên hệ với các trung tâm chính. Sự suy đoán về các loại quan hệ này sẽ không sinh kết quả cho đến khi nhiều hành tinh chưa được khám phá được khám phá.

a. To attain to full self-consciousness, or to individual consciousness on the five planes;

a. Đạt tới đầy đủ ngã thức, hay tâm thức cá nhân trên năm cõi;

1. DK is speaking of that type of Heavenly Man who is a Planetary Logos. As we have mentioned, the term “Heavenly Man” may be generic and may refer to a Globe Lord or a Chain Lord as well.

1. DK đang nói về loại Đấng Thiên Nhân là một Hành Tinh Thượng đế. Như chúng ta đã đề cập, thuật ngữ “Đấng Thiên Nhân” có thể mang tính tổng quát và cũng có thể chỉ một Chúa Tể Bầu Hành Tinh hay một Chúa Tể Dãy.

2. The planes upon which a Heavenly Man is focussed in the attempt to achieve full self-consciousness are the atmic plane, the buddhic plane and the higher levels of the mental plane.

2. Các cõi mà trên đó một Đấng Thiên Nhân được tập trung trong nỗ lực đạt tới đầy đủ ngã thức là cõi atma, cõi Bồ đề và các cấp độ cao hơn của cõi trí.

to vibrate with conscious activity within Their Own ring-pass-not, a planetary scheme.

để rung động với hoạt động có ý thức bên trong vòng-giới-hạn riêng của Các Ngài, một hệ hành tinh.

1. It is evident that it takes a long while before any entity becomes fully conscious of the many types of lives gathered within its own ring-pass-not.

1. Hiển nhiên là phải mất một thời gian rất dài trước khi bất kỳ thực thể nào trở nên hoàn toàn có ý thức về nhiều loại sự sống được tập hợp trong vòng-giới-hạn riêng của nó.

2. We can attest that this is certainly true of the human being; here the same is stated of a Planetary Logos or Heavenly Man, and no doubt the same is true of a Solar Logos.

2. Chúng ta có thể xác nhận rằng điều này chắc chắn đúng với con người; ở đây điều tương tự được nói về một Hành Tinh Thượng đế hay Đấng Thiên Nhân, và hẳn nhiên điều tương tự cũng đúng với một Thái dương Thượng đế.

3. The ring-pass-not of the type of Heavenly Man here being considered is a planetary scheme.

3. Vòng-giới-hạn của loại Đấng Thiên Nhân đang được xét ở đây là một hệ hành tinh.

This covers a period in the scheme of involution, and of that period during the evolutionary stage which is comprised within the first three rounds up to the entrance upon the fourth round.

Điều này bao trùm một giai đoạn trong hệ hành tinh của giáng hạ tiến hoá, và của giai đoạn ấy trong chặng thăng thượng tiến hoá được bao gồm trong ba cuộc tuần hoàn đầu cho đến khi bước vào cuộc tuần hoàn thứ tư.

1. This process, we recognize, is that which corresponds to the development of a human being up to the first initiation.

1. Chúng ta nhận ra rằng tiến trình này tương ứng với sự phát triển của một con người cho đến lần điểm đạo thứ nhất.

2. May it be that our Planetary Logos took (with respect to our Earth-chain) only the first initiation at the point of His entrance upon the fourth round?

2. Có thể nào Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta chỉ nhận lần điểm đạo thứ nhất (xét theo Dãy Địa Cầu của chúng ta) vào thời điểm Ngài bước vào cuộc tuần hoàn thứ tư?

3. Is the process of involution to be considered separately from the process of rounds? We seem to be dealing with something of an enigma. Even in the fourth round there is both an involutionary and evolutionary portion of the round.

3. Liệu tiến trình giáng hạ tiến hoá có nên được xét riêng biệt với tiến trình các cuộc tuần hoàn không? Dường như chúng ta đang đối diện với một điều gì đó bí ẩn. Ngay cả trong cuộc tuần hoàn thứ tư cũng có cả một phần giáng hạ tiến hoá lẫn một phần thăng thượng tiến hoá của cuộc tuần hoàn.

4. May it be that the first three rounds are in some way considered involutionary?

4. Có thể nào ba cuộc tuần hoàn đầu, theo một cách nào đó, được xem là thuộc giáng hạ tiến hoá?

5. Because on our planet we are more than midway through the fourth round, it may be presume that our Heavenly Man/Planetary Logos has passed the planetary logoic equivalent to the first initiation. (We do have to be careful with regard to the kind of initiations we are discussing. TCF 384. offers some keys. On this page we notice that our Planetary Logos is moving towards his second cosmic initiation, even though engaged in a lesser series of seven, in which He is taking the fourth.)

5. Vì trên hành tinh của chúng ta, chúng ta đã đi quá nửa cuộc tuần hoàn thứ tư, nên có thể giả định rằng Đấng Thiên Nhân/Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đã vượt qua tương đương hành tinh thượng đế của lần điểm đạo thứ nhất. (Chúng ta quả thật phải cẩn trọng đối với loại điểm đạo đang được bàn đến. TCF 384. đưa ra một số chìa khóa. Ở trang này chúng ta lưu ý rằng Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đang tiến tới lần điểm đạo vũ trụ thứ hai của Ngài, dù đang tham dự vào một chuỗi bảy nhỏ hơn, trong đó Ngài đang nhận lần thứ tư.)

6. We may be able to differentiate these types or series of initiations if we consider the series of seven as related to a Chain-Lord, and the series in which our Heavenly Man has not yet taken the second (cosmic) as related to the Planetary Logos or Heavenly Man in His entirety. This leaves open the question of what constitutes initiations for the Globe-Lord. May it be the development of root races?

6. Chúng ta có thể phân biệt các loại hay các chuỗi điểm đạo này nếu xem chuỗi bảy là liên hệ với một Chúa Tể Dãy, và chuỗi trong đó Đấng Thiên Nhân của chúng ta chưa nhận lần thứ hai (vũ trụ) là liên hệ với Hành Tinh Thượng đế hay Đấng Thiên Nhân trong toàn thể của Ngài. Điều này để ngỏ câu hỏi về điều gì cấu thành các lần điểm đạo đối với Chúa Tể Bầu Hành Tinh. Có thể đó là sự phát triển của các Giống dân gốc chăng?

7. We are not told when our Planetary Logos will achieve His second cosmic initiation. We may infer that it will be some time within the present Mahamanvantara, just as the Solar Logos will take His fourth or fifth cosmic initiation within the present Mahamanvantara.

7. Chúng ta không được cho biết khi nào Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta sẽ đạt lần điểm đạo vũ trụ thứ hai của Ngài. Chúng ta có thể suy ra rằng điều đó sẽ xảy ra vào một thời điểm nào đó trong Đại giai kỳ sinh hóa hiện tại, cũng như Thái dương Thượng đế sẽ nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ tư hay thứ năm của Ngài trong Đại giai kỳ sinh hóa hiện tại.

b. To attain to the consciousness of the solar Logos, within Whose body They form the centres.

b. Đạt tới tâm thức của Thái dương Thượng đế, trong thể của Ngài Các Ngài tạo thành các trung tâm.

1. The Solar Logos in question is almost certainly that particular Solar Logos in which the Planetary Logoi form centers. This means that the Solar Logos in question is not one of the other six Solar Logoi in the Seven Solar Systems of Which Ours is One.

1. Thái dương Thượng đế được nói đến ở đây gần như chắc chắn là chính Thái dương Thượng đế cụ thể mà trong đó các Hành Tinh Thượng đế tạo thành các trung tâm. Điều này có nghĩa là Thái dương Thượng đế được nói đến ở đây không phải là một trong sáu Thái dương Thượng đế khác trong Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ Của Chúng Ta Là Một.

2. The Heavenly Man in question is rising to the consciousness of His own Solar Logos.

2. Đấng Thiên Nhân đang được nói đến đang vươn lên tới tâm thức của Thái dương Thượng đế riêng của Ngài.

3. If we cross reference DK’s statement here, to what is said of the human being (or deva unit) in point “b.”, then the Planetary Logos to which the human being must come into closer relationship (by attaining the consciousness of a particular center within that Planetary Logos) is almost certainly the Planetary Logos expressing through the planet on which the human being finds himself and not another Planetary Logos within the solar system.

3. Nếu chúng ta đối chiếu phát biểu của DK ở đây với điều được nói về con người (hay đơn vị thiên thần) ở điểm “b.”, thì Hành Tinh Thượng đế mà con người phải đi vào mối liên hệ gần gũi hơn (bằng cách đạt tới tâm thức của một trung tâm đặc thù trong Hành Tinh Thượng đế ấy) gần như chắc chắn là Đức Hành Tinh Thượng Đế biểu lộ qua hành tinh nơi con người hiện diện chứ không phải một Hành Tinh Thượng đế khác trong hệ mặt trời.

4. It should be said that the Planetary Logoi do have (at least potentially) relationships with the other Solar Logoi within the Seven Solar Systems of Which Ours is One just as the human being (at least potentially) has relationships with Planetary Logoi other than his own.

4. Cần nói rằng các Hành Tinh Thượng đế quả có (ít nhất là trên tiềm năng) những mối liên hệ với các Thái dương Thượng đế khác trong Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ Của Chúng Ta Là Một, cũng như con người (ít nhất là trên tiềm năng) có những mối liên hệ với các Hành Tinh Thượng đế khác ngoài vị của riêng mình.

It entails the attainment by a Heavenly Man of a group consciousness of a sevenfold nature, or the achievement of accurate vibratory relationship with the other Heavenly Men Who form the other centres.

Điều này bao hàm việc một Đấng Thiên Nhân đạt được một tâm thức nhóm có bản chất thất phân, hay đạt được mối quan hệ rung động chính xác với các Đấng Thiên Nhân khác tạo thành các trung tâm khác.

1. As a Planetary Logos seeks to attain to the consciousness of His Solar Logos, He does so in the company of six other Solar Logoi. We have suggested that the many Planetary Logoi form, essentially, seven major centers within the Solar Logos.

1. Khi một Hành Tinh Thượng đế tìm cách đạt tới tâm thức của Thái dương Thượng đế của Ngài, Ngài làm điều đó cùng với sáu Thái dương Thượng đế khác. Chúng ta đã gợi ý rằng nhiều Hành Tinh Thượng đế, về bản chất, tạo thành bảy trung tâm chính trong Thái dương Thượng đế.

2. Thus, it is through a form of planetary group consciousness that a Planetary Logos approaches the consciousness of His Solar Logos.

2. Vì vậy, chính qua một hình thức tâm thức nhóm hành tinh mà một Hành Tinh Thượng đế tiếp cận tâm thức của Thái dương Thượng đế của Ngài.

3. A human being attempting to attain to the consciousness of a certain center within his own Heavenly Man would, in a parallel manner, do so through the process of an increasing group consciousness. Whether or not this is done in groups of seven cannot be stated at this time. Perhaps we might say that the seven Ashrams are the correspondence to the seven Heavenly Men. Thus for a human being in an Ashram there would be a group approach within his own Ashram—an Ashram related to six other Ashrams, the members of which are likewise approaching the consciousness of a Chain-Lord.

3. Một con người đang cố đạt tới tâm thức của một trung tâm nào đó trong Đấng Thiên Nhân riêng của mình, theo cách song hành, cũng sẽ làm như vậy qua tiến trình một tâm thức nhóm ngày càng tăng trưởng. Việc này có được thực hiện trong các nhóm bảy hay không thì hiện nay chưa thể nói. Có lẽ chúng ta có thể nói rằng bảy ashram là sự tương ứng với bảy Đấng Thiên Nhân. Như vậy, đối với một con người trong một ashram, sẽ có một sự tiếp cận theo nhóm bên trong chính ashram của y—một ashram liên hệ với sáu ashram khác, mà các thành viên của chúng cũng đang tiếp cận tâm thức của một Chúa Tể Dãy.

4. The principle to emerge is that the approach to identification with a greater consciousness is done in group formation. For instance, the members of an Ashram together approach identification with their Master’s consciousness.

4. Nguyên lý nổi lên ở đây là sự tiếp cận đến đồng hoá với một tâm thức lớn hơn được thực hiện trong đội hình nhóm. Chẳng hạn, các thành viên của một ashram cùng nhau tiếp cận sự đồng hoá với tâm thức của Chân sư của họ.

It carries with it the capacity to have full conscious control on the seven planes of the solar system,

Điều này mang theo năng lực có được sự kiểm soát có ý thức trọn vẹn trên bảy cõi của hệ mặt trời,

1. The Solar Logos already has this capacity. As the Heavenly Men approach the consciousness of the Solar Logos, the capacity of this greater Logos gradually becomes theirs.

1. Thái dương Thượng đế đã sẵn có năng lực này. Khi các Đấng Thiên Nhân tiếp cận tâm thức của Thái dương Thượng đế, năng lực của Thượng đế lớn lao hơn này dần dần trở thành của Các Ngài.

2. A Solar Logos is already awakened on the seven planes of the solar system, but must attain full self-consciousness on these planes just as the Heavenly Man must attain full self-consciousness on five.

2. Một Thái dương Thượng đế đã được thức tỉnh trên bảy cõi của hệ mặt trời, nhưng phải đạt tới đầy đủ ngã thức trên các cõi này cũng như Đấng Thiên Nhân phải đạt tới đầy đủ ngã thức trên năm cõi.

3. We remember the sequence of a) awakening, b) control and c) mastery. The phrase “full conscious control” begins to sound like mastery.

3. Chúng ta nhớ chuỗi a) thức tỉnh, b) kiểm soát và c) làm chủ. Cụm từ “sự kiểm soát có ý thức trọn vẹn” bắt đầu nghe giống như sự làm chủ.

and covers that period of development which is undergone in a planetary chain during the fourth, fifth, and sixth rounds.

và bao trùm giai đoạn phát triển được trải qua trong một dãy hành tinh trong các cuộc tuần hoàn thứ tư, thứ năm và thứ sáu.

1. It would seem that the first three rounds are of a material and personal nature. The next three (the fourth, fifth and sixth) seem given to the development of consciousness.

1. Dường như ba cuộc tuần hoàn đầu có bản chất vật chất và cá nhân. Ba cuộc tiếp theo (thứ tư, thứ năm và thứ sáu) dường như được dành cho sự phát triển của tâm thức.

2. This period in the life of a Heavenly Man corresponds to that period in the life of a human being when he achieved Mastership. Consciousness, per se, if fully developed.

2. Giai đoạn này trong sự sống của một Đấng Thiên Nhân tương ứng với giai đoạn trong sự sống của một con người khi y đạt Chân sư quả. Tâm thức, tự nó, nếu được phát triển đầy đủ.

3. We might conclude that in the life of a Heavenly Man, three rounds take him to the point of the first initiation and three more rounds take him to the point of the fifth initiation (if the parallel with the development of a human being is warranted).

3. Chúng ta có thể kết luận rằng trong sự sống của một Đấng Thiên Nhân, ba cuộc tuần hoàn đưa Ngài đến điểm của lần điểm đạo thứ nhất và ba cuộc tuần hoàn nữa đưa Ngài đến điểm của lần điểm đạo thứ năm (nếu sự song hành với sự phát triển của con người là xác đáng).

4. We remember that our Planetary Logos working through his fourth chain is involved in a series of seven initiations.

4. Chúng ta nhớ rằng Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đang hoạt động qua dãy thứ tư của Ngài và đang tham dự vào một chuỗi bảy lần điểm đạo.

5. As the Heavenly Man is currently working on the mastery of five planes, the phase here discussed will take him to the point of attainment of a Solar Logos.

5. Vì Đấng Thiên Nhân hiện đang làm việc trên sự làm chủ năm cõi, nên giai đoạn được bàn ở đây sẽ đưa Ngài đến điểm thành tựu của một Thái dương Thượng đế.

6. The human being achieves Mastership or five initiations in the phase indicated in point “b.” We might ask why a Heavenly Man does not achieve six initiations, given that six rounds elapse.

6. Con người đạt Chân sư quả hay năm lần điểm đạo trong giai đoạn được chỉ ra ở điểm “b.” Chúng ta có thể hỏi tại sao một Đấng Thiên Nhân lại không đạt sáu lần điểm đạo, khi mà sáu cuộc tuần hoàn đã trôi qua.

7. We should remember that when a Heavenly Man undergoes five initiation He becomes the Heavenly Man of a sacred planet.

7. Chúng ta nên nhớ rằng khi một Đấng Thiên Nhân trải qua năm lần điểm đạo, Ngài trở thành Đấng Thiên Nhân của một hành tinh thiêng liêng.

It should be borne in mind that a paralleling recognition should here be given to the fact that the solar Logos holds an analogous position in the body of a cosmic Entity to that held by a Heavenly Man in the body of a solar Logos.

Cần ghi nhớ rằng ở đây cũng nên có một sự nhận biết song hành đối với sự kiện rằng Thái dương Thượng đế giữ một vị trí tương tự trong thể của một Thực Thể vũ trụ như vị trí mà một Đấng Thiên Nhân giữ trong thể của một Thái dương Thượng đế.

1. The cosmic Entity here discussed is a Cosmic Logos expressing through seven major Solar Logoi and probably through many more of a minor kind.

1. Thực Thể vũ trụ được bàn đến ở đây là một Thượng đế Vũ Trụ biểu lộ qua bảy Thái dương Thượng đế chính và có lẽ qua nhiều vị nhỏ hơn nữa.

2. The particular Cosmic Logos to which we are related has sometimes been called the Sirian Logos, or the Logos of the Seven Solar Systems of Which Ours is One.

2. Thượng đế Vũ Trụ cụ thể mà chúng ta có liên hệ đôi khi được gọi là Sirian Logos, hay Thượng đế của Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ Của Chúng Ta Là Một.

3. This is a crucial analogical statement; if forgotten, false conclusions about the place of our Solar Logos within the One About Whom Naught May Be Said may occur and have occurred in the works of some theorists.

3. Đây là một phát biểu tương đồng cực kỳ quan trọng; nếu bị quên đi, những kết luận sai lầm về vị trí của Thái dương Thượng đế của chúng ta trong Đấng Bất Khả Tư Nghị có thể xảy ra và đã xảy ra trong các công trình của một số nhà lý thuyết.

c. To attain to the consciousness of a greater centre on cosmic levels. This covers the period of the seventh round, and gives to a Heavenly Man (when these rounds are viewed in the light of the Eternal Now, and not from the standpoint of time and of space) the consciousness of [Page 291] the cosmic astral, or the second lowest plane of the cosmic planes.

c. Đạt tới tâm thức của một trung tâm lớn hơn trên các cấp độ vũ trụ. Điều này bao trùm giai đoạn của cuộc tuần hoàn thứ bảy, và ban cho một Đấng Thiên Nhân (khi các cuộc tuần hoàn này được nhìn dưới ánh sáng của Hiện Tại Vĩnh Cửu, chứ không từ quan điểm của thời gian và không gian) tâm thức của [Page 291] cõi cảm dục vũ trụ, hay cõi thấp thứ hai trong các cõi vũ trụ.

1. This is an amazing excerpt and requires much deep thought. Let us gather our thoughts. The analogies between the three types of attainment in point “c.” may not be exact.

1. Đây là một đoạn trích đáng kinh ngạc và đòi hỏi nhiều suy tư sâu sắc. Chúng ta hãy tập hợp các ý nghĩ của mình. Những sự tương đồng giữa ba loại thành tựu ở điểm “c.” có thể không hoàn toàn chính xác.

2. In point “c.”—

2. Ở điểm “c.”—

a The human being attains to the consciousness of the Planetary Logos in its entirety, not just to the consciousness of a Chain-Lord

a Con người đạt tới tâm thức của Đức Hành Tinh Thượng Đế trong toàn thể của Ngài, chứ không chỉ tới tâm thức của một Chúa Tể Dãy

b If the analogy to the attainment of the human being were to be exact, the Planetary Logos (in point “c.”) would attain to the consciousness of a Cosmic Logos—the Logos of the SSOWOIO. However, DK simply says that the Heavenly Man or Planetary Logos seeks to “attain to the consciousness of a greater centre”. The Heavenly Man’s attainment may not be to the entirety of the consciousness of the Cosmic Logos which includes His Solar Logos. Or, it may.

b Nếu sự tương đồng với thành tựu của con người là hoàn toàn chính xác, thì Hành Tinh Thượng đế (ở điểm “c.”) sẽ đạt tới tâm thức của một Thượng đế Vũ Trụ—Thượng đế của Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ Của Chúng Ta Là Một. Tuy nhiên, DK chỉ đơn giản nói rằng Đấng Thiên Nhân hay Hành Tinh Thượng đế tìm cách “đạt tới tâm thức của một trung tâm lớn hơn”. Thành tựu của Đấng Thiên Nhân có thể không đạt tới toàn thể tâm thức của Thượng đế Vũ Trụ, vốn bao gồm Thái dương Thượng đế của Ngài. Hoặc, điều đó có thể.

c If the analogy to the attainment of the human being were to be exact, then the Solar Logos (in point “c.”) would attain to the consciousness of the One About Whom Naught May Be Said, but instead, the Solar Logos strives to attain to the consciousness of a Cosmic Logos—a lesser attainment. Unless, DK is blinding the term “Cosmic Logos”, applying it to both a Cosmic Logos in which Solar Logoi are its chakras, and to a Super-Cosmic Logos, in which Cosmic Logoi are its centers. This possibility cannot be entirely discounted.

c Nếu phép loại suy với sự thành tựu của con người là chính xác, thì Thái dương Thượng đế (ở điểm “c.”) sẽ đạt đến tâm thức của Đấng Bất Khả Tư Nghị, nhưng thay vào đó, Thái dương Thượng đế phấn đấu để đạt đến tâm thức của một Thượng đế Vũ Trụ—một thành tựu thấp hơn. Trừ phi, Chân sư DK đang che mờ thuật ngữ “Thượng đế Vũ Trụ”, áp dụng nó cho cả một Thượng đế Vũ Trụ mà trong đó các Thái dương Thượng đế là các luân xa của Ngài, lẫn cho một Thượng đế Siêu Vũ Trụ, mà trong đó các Thượng đế Vũ Trụ là các trung tâm của Ngài. Khả năng này không thể hoàn toàn bị loại trừ.

1. There are many mysteries hidden in the scope of these attempted attainments.

1. Có nhiều huyền nhiệm ẩn giấu trong phạm vi của những sự thành tựu được cố gắng này.

2. If we study the parallels closely, we shall ask whether, in point “b.” the Planetary Logos attains fully to the consciousness of the Solar Logos of which He is a part, or only partially? Full attainment to the consciousness of the Solar Logos seems more probable.

2. Nếu chúng ta nghiên cứu kỹ các điểm tương đồng, chúng ta sẽ hỏi liệu, ở điểm “b.”, Đức Hành Tinh Thượng Đế có đạt trọn vẹn đến tâm thức của Thái dương Thượng đế mà Ngài là một phần của nó hay chỉ đạt một phần? Việc đạt trọn vẹn đến tâm thức của Thái dương Thượng đế dường như có nhiều khả năng hơn.

3. We shall also ask whether the Solar Logos in point “b.” attains fully to the consciousness of the Cosmic Logos of which He is a part, or only partially. Again, as in the case of the Heavenly Man or Planetary Logos, full attainment to the consciousness of the Cosmic Logos seems more probable.

3. Chúng ta cũng sẽ hỏi liệu Thái dương Thượng đế ở điểm “b.” có đạt trọn vẹn đến tâm thức của Thượng đế Vũ Trụ mà Ngài là một phần của nó hay chỉ đạt một phần. Một lần nữa, như trong trường hợp của Đấng Thiên Nhân hay Đức Hành Tinh Thượng Đế, việc đạt trọn vẹn đến tâm thức của Thượng đế Vũ Trụ dường như có nhiều khả năng hơn.

4. If this is so, then the major blinding is occurring in point “c.” describing the Solar Logos’ final attainment. The wording is very strange and alerts one to the possibility of blinding. We shall discuss this more fully when commenting on the Solar Logos’ attainments directly.

4. Nếu đúng như vậy, thì sự che mờ chủ yếu đang xảy ra ở điểm “c.” mô tả sự thành tựu cuối cùng của Thái dương Thượng đế. Cách diễn đạt rất lạ và khiến người ta lưu ý đến khả năng có sự che mờ. Chúng ta sẽ bàn đầy đủ hơn về điều này khi bình luận trực tiếp về các sự thành tựu của Thái dương Thượng đế.

A great deal of the problem to be seen slowly working out at this time to a solution is due to the fact that the control of the Heavenly Man, Whose body our scheme may be, is as yet but partial, and His cosmic experience is as yet but imperfect.

Phần lớn vấn đề hiện nay đang dần dần được thấy là vận hành hướng đến một giải pháp là do sự kiện rằng sự kiểm soát của Đấng Thiên Nhân, mà thể của Ngài có thể là hệ hành tinh của chúng ta, cho đến nay vẫn chỉ là từng phần, và kinh nghiệm vũ trụ của Ngài cho đến nay vẫn còn bất toàn.

1. There is no question but that the term “Heavenly Man” is often used to indicate a great Being Who is manifesting through a planetary scheme. Because of this, it is difficult to differentiate between the terms “Heavenly Man” and “Planetary Logos”.

1. Không còn nghi ngờ gì rằng thuật ngữ “Đấng Thiên Nhân” thường được dùng để chỉ một Đại Hữu đang biểu hiện qua một hệ hành tinh. Vì điều này, thật khó phân biệt giữa các thuật ngữ “Đấng Thiên Nhân” và “Đức Hành Tinh Thượng Đế”.

2. The term, “Heavenly Man” we realize can be applied to lesser beings within the overall manifestation of the Planetary Logos—such as Globe-Lords and Chain-Lords.

2. Chúng ta nhận ra rằng thuật ngữ “Đấng Thiên Nhân” có thể được áp dụng cho những hữu thể thấp hơn bên trong sự biểu hiện tổng thể của Đức Hành Tinh Thượng Đế—chẳng hạn như các Chúa Tể Bầu Hành Tinh và các Chúa Tể Dãy.

3. It has also been suggested by competent theorists that the term “Heavenly Man” refers principally to the soul nature of the Planetary Logos, whereas the term “Planetary Logos” refers to the monadic nature of that Logos.

3. Cũng đã có gợi ý từ các nhà lý thuyết có năng lực rằng thuật ngữ “Đấng Thiên Nhân” chủ yếu chỉ bản chất linh hồn của Đức Hành Tinh Thượng Đế, trong khi thuật ngữ “Đức Hành Tinh Thượng Đế” chỉ bản chất chân thần của Thượng đế ấy.

4. This cannot yet be confirmed. In many places it is quite evident that the two terms are used interchangeably.

4. Điều này chưa thể được xác nhận. Ở nhiều nơi, khá rõ ràng rằng hai thuật ngữ này được dùng thay thế cho nhau.

5. Apparently our Heavenly Man has not yet achieved complete control over His own vehicles. He is, we are told, struggling on the cosmic astral plane, just as a human being who has not achieved full self-control will struggle in his own astral nature.

5. Rõ ràng Đấng Thiên Nhân của chúng ta vẫn chưa đạt được sự kiểm soát hoàn toàn đối với các vận cụ của chính Ngài. Chúng ta được cho biết rằng Ngài đang vật lộn trên cõi cảm dục vũ trụ, cũng như một con người chưa đạt được sự tự chủ trọn vẹn sẽ vật lộn trong bản chất cảm dục của riêng mình.

6. As for the imperfect cosmic experience of the Planetary Logos, it is clear that His consciousness does not yet extend fully into the consciousness of the Solar Logos and so any fullness of extra-systemic experience is not yet possible for Him.

6. Về kinh nghiệm vũ trụ bất toàn của Đức Hành Tinh Thượng Đế, rõ ràng là tâm thức của Ngài vẫn chưa vươn trọn vẹn vào tâm thức của Thái dương Thượng đế, và vì vậy bất kỳ sự viên mãn nào của kinh nghiệm ngoài hệ nào cũng chưa thể có đối với Ngài.

This necessarily affects the cells in His body in the same way that lack of astral control in the case of a human being, affects his vehicle.

Điều này tất yếu ảnh hưởng đến các tế bào trong thể của Ngài theo cùng cách mà sự thiếu kiểm soát cảm dục, trong trường hợp của con người, ảnh hưởng đến vận cụ của ông ta.

1. Lack of astral control often leads to devitalization and disease. Our Planetary Logos is passing through a period difficulty and, in a way, of planetary illness.

1. Sự thiếu kiểm soát cảm dục thường dẫn đến mất sinh lực và bệnh tật. Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đang trải qua một giai đoạn khó khăn và, theo một nghĩa nào đó, của bệnh trạng hành tinh.

2. The implication of the excerpt is that the Planetary Logos’ lack of astral control (which is hinted) has an effect on the human and deva units which serve Him as cells. In the human being, for instance, the astral nature would be particularly affected.

2. Hàm ý của đoạn trích là sự thiếu kiểm soát cảm dục của Đức Hành Tinh Thượng Đế (được ám chỉ) có ảnh hưởng lên các đơn vị nhân loại và thiên thần phụng sự Ngài như những tế bào. Chẳng hạn, nơi con người, bản chất cảm dục sẽ bị ảnh hưởng đặc biệt.

It might here be pointed out that the evolution of the Heavenly Men is unequal, and that our planetary Logos has not the control, for instance, that the Heavenly Man of the Venus chain has achieved.

Ở đây có thể chỉ ra rằng sự tiến hoá của các Đấng Thiên Nhân là không đồng đều, và Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta chẳng hạn không có được sự kiểm soát mà Đấng Thiên Nhân của dãy Kim Tinh đã đạt được.

1. This seems quite evident given the very full unfoldment of Venus.

1. Điều này dường như khá hiển nhiên xét theo sự khai mở rất đầy đủ của Kim Tinh.

2. Human beings are characterized by unequal development. Why should it not be so for Planetary Logoi and Solar Logoi as well, and beyond?

2. Con người được đặc trưng bởi sự phát triển không đồng đều. Tại sao điều đó lại không đúng đối với các Hành Tinh Thượng đế và các Thái dương Thượng đế nữa, và còn vượt xa hơn?

3. While our Planetary Logos is struggling to take His fourth initiation in a series of seven, it may be that the Planetary Logos of Venus has not only taken this initiation but the corresponding fifth as well. Venus is, after all, presently expressing through its fifth chain and is focused in the fifth globe of that chain. (EA 693).

3. Trong khi Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đang phấn đấu để nhận lần điểm đạo thứ tư trong một chuỗi bảy lần, có thể Đức Hành Tinh Thượng Đế của Kim Tinh không những đã nhận lần điểm đạo này mà còn cả lần thứ năm tương ứng nữa. Rốt cuộc, hiện nay Kim Tinh đang biểu hiện qua dãy thứ năm của nó và được tập trung trong bầu hành tinh thứ năm của dãy ấy. (EA 693).

In each round one subplane of the cosmic astral plane is brought under control, and the consciousness of the Heavenly Man expands to include one subplane more. The planetary Lord of Venus has dominated and controlled the five subplanes and is working on the sixth.  

Trong mỗi cuộc tuần hoàn, một cõi phụ của cõi cảm dục vũ trụ được đưa vào sự kiểm soát, và tâm thức của Đấng Thiên Nhân mở rộng để bao gồm thêm một cõi phụ nữa. Chúa Tể hành tinh của Kim Tinh đã chế ngự và kiểm soát năm cõi phụ và đang hoạt động trên cõi phụ thứ sáu.

1. This is a most valuable reference, clarifying the relationship between our Planetary Logos and the Planetary Logos of Venus in relation to the cosmic astral plane.

1. Đây là một dẫn chiếu vô cùng giá trị, làm sáng tỏ mối liên hệ giữa Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và Đức Hành Tinh Thượng Đế của Kim Tinh liên quan đến cõi cảm dục vũ trụ.

2. Human beings are attempting to control and master the sub-planes of the cosmic physical plane. Planetary Logoi are attempting to dominate and control the sub-planes of the cosmic astral plane. The Heavenly Men (which?) are, we have learned, at the same time attempting to achieve mastery on the sub-planes of the cosmic physical plane.

2. Con người đang cố gắng kiểm soát và làm chủ các cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ. Các Hành Tinh Thượng đế đang cố gắng chế ngự và kiểm soát các cõi phụ của cõi cảm dục vũ trụ. Các Đấng Thiên Nhân (những Đấng nào?) đồng thời, như chúng ta đã học, cũng đang cố gắng đạt quyền làm chủ trên các cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ.

3. The Planetary Logos of Venus is a Master of manas (considered in relation to the cosmic astral plane) and is attempting to develop His buddhic principle (again, in relation to the cosmic astral plane). This means that the Planetary Logos of the Venus-scheme is working in relation to the sixth sub-plane (numbering from below) of the cosmic astral plane, which correlates with the sixth or buddhi principle. To develop cosmic manas in relation to the cosmic mental plane and cosmic buddhi in relation to the cosmic buddhic plane, lies fare ahead.

3. Đức Hành Tinh Thượng Đế của Kim Tinh là một Chân sư của manas (được xét trong liên hệ với cõi cảm dục vũ trụ) và đang cố gắng phát triển nguyên khí Bồ đề của Ngài (một lần nữa, trong liên hệ với cõi cảm dục vũ trụ). Điều này có nghĩa là Đức Hành Tinh Thượng Đế của hệ hành tinh Kim Tinh đang hoạt động trong liên hệ với cõi phụ thứ sáu (đếm từ dưới lên) của cõi cảm dục vũ trụ, tương ứng với nguyên khí thứ sáu hay Bồ đề. Việc phát triển manas vũ trụ trong liên hệ với cõi trí vũ trụ và Bồ đề vũ trụ trong liên hệ với cõi Bồ đề vũ trụ còn ở rất xa phía trước.

4. With respect to the cosmic astral plane, our Planetary Logos has not yet achieved mastery of manas.

4. Xét về cõi cảm dục vũ trụ, Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta vẫn chưa đạt được quyền làm chủ manas.

5. On EA 693. we learned that Venus was expressing through its fifth chain and fifth globe. On TCF 300. we learn that Venus is also in its fifth round (in that fifth chain and fifth globe). From one perspective, Venus can be delineated by the series of numbers 5.5.5.

5. Trong EA 693. chúng ta đã học rằng Kim Tinh đang biểu hiện qua dãy thứ năm và bầu hành tinh thứ năm của nó. Trong TCF 300. chúng ta biết rằng Kim Tinh cũng đang ở cuộc tuần hoàn thứ năm của nó (trong dãy thứ năm và bầu hành tinh thứ năm ấy). Từ một góc nhìn, Kim Tinh có thể được mô tả bằng chuỗi số 5.5.5.

6. Perhaps other Planetary Logoi can be delineated by three numbers describing the chain and globe in which that Planetary Logos is focussed and the round in that chain which is occurring. The process of the Planetary Logos of the Earth would now be described as 4.4.4. The number of planet Earth, however, is 777.

6. Có lẽ các Hành Tinh Thượng đế khác có thể được mô tả bằng ba con số diễn tả dãy và bầu hành tinh mà Hành Tinh Thượng đế ấy được tập trung vào, cùng cuộc tuần hoàn đang diễn ra trong dãy đó. Tiến trình của Đức Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất hiện nay sẽ được mô tả là 4.4.4. Tuy nhiên, số của hành tinh Trái Đất là 777.

It has been stated that a mystery lies hid in the 777. incarnations. This figure provides room for much speculation.19. It should be pointed out that it does not hold the number of a stated cycle of incarnations through which a man must pass, but holds the key to the three major cycles previously mentioned. Primarily this number applies to the planetary Logos of our scheme and not so much to other schemes. Each Heavenly Man has His number and the number of our Heavenly Man lies hid in the above three figures, just as 666. and 888. holds the mystery hid of two other Heavenly Men. (TCF 306)

Đã có lời nói rằng một huyền nhiệm ẩn giấu trong 777. lần lâm phàm. Con số này tạo ra nhiều chỗ cho suy đoán.19. Cần chỉ ra rằng nó không giữ con số của một chu kỳ lâm phàm đã được nêu mà con người phải trải qua, nhưng giữ chìa khóa cho ba chu kỳ chính đã được đề cập trước đó. Trước hết, con số này áp dụng cho Đức Hành Tinh Thượng Đế của hệ hành tinh chúng ta hơn là cho các hệ khác. Mỗi Đấng Thiên Nhân có con số của Ngài và con số của Đấng Thiên Nhân của chúng ta ẩn giấu trong ba con số trên, cũng như 666. và 888. giữ huyền nhiệm ẩn giấu của hai Đấng Thiên Nhân khác. (TCF 306)

Our planetary Logos is engaged in a similar work on the fourth and fifth.

Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đang tham gia vào một công việc tương tự trên cõi phụ thứ tư và thứ năm.

1. The Planetary Logos of Earth is of lesser unfoldment that the Planetary Logos of Venus. Both are focussed on the cosmic astral plane, but the numbers four and five are significant for our Planetary Logos and the numbers five and six for the Planetary Logos of Venus.

1. Đức Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất có mức khai mở thấp hơn Đức Hành Tinh Thượng Đế của Kim Tinh. Cả hai đều được tập trung trên cõi cảm dục vũ trụ, nhưng các số bốn và năm có ý nghĩa đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, còn các số năm và sáu có ý nghĩa đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế của Kim Tinh.

The work, as in all cycles, overlaps and it might be explained thus:

Công việc này, như trong mọi chu kỳ, có sự chồng lấn và có thể được giải thích như sau:

He is perfecting the control of the fourth subplane on the cosmic astral plane, and has nearly completed it.

Ngài đang hoàn thiện sự kiểm soát cõi phụ thứ tư trên cõi cảm dục vũ trụ, và gần như đã hoàn tất điều đó.

1. The fact that our Planetary Logos has nearly completed His control of the fourth sub-plane of the cosmic astral plane may tell us something about how much time remains before the Planetary Logos will have completed His fourth initiation through the Earth-chain. This type of initiation is not a full planetary initiation, but a partial initiation taken through a chain (and not throughout the entire planetary scheme).

1. Sự kiện rằng Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đã gần như hoàn tất sự kiểm soát của Ngài đối với cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục vũ trụ có thể cho chúng ta biết điều gì đó về khoảng thời gian còn lại trước khi Đức Hành Tinh Thượng Đế sẽ hoàn tất lần điểm đạo thứ tư của Ngài qua Dãy Địa Cầu. Loại điểm đạo này không phải là một điểm đạo hành tinh trọn vẹn, mà là một điểm đạo từng phần được nhận qua một dãy (chứ không phải xuyên suốt toàn bộ hệ hành tinh).

2. Perhaps the Planetary Logos’ completion of the mastery on the fourth sub-plane of the cosmic astral plane will signal an attainment for our Solar Logos—an attainment in resonance with the number four.

2. Có lẽ việc Đức Hành Tinh Thượng Đế hoàn tất quyền làm chủ trên cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục vũ trụ sẽ báo hiệu một thành tựu cho Thái dương Thượng đế của chúng ta—một thành tựu cộng hưởng với số bốn.

3. It might be, however, that the entire Earth-scheme would have to attain significantly before an attainment in resonance with the number four would occur of the Solar Logos—since the Earth-scheme is the fourth scheme from the Sun (given the usual methods of counting the planetary orbs nearest the Sun).

3. Tuy nhiên, cũng có thể toàn bộ hệ Địa Cầu sẽ phải đạt được tiến bộ đáng kể trước khi một thành tựu cộng hưởng với số bốn xảy ra nơi Thái dương Thượng đế—vì hệ Địa Cầu là hệ thứ tư tính từ Mặt Trời (theo phương pháp thông thường để đếm các bầu hành tinh gần Mặt Trời nhất).

He is beginning to work at the control of the fifth subplane—a control which will be perfected in the fifth round.

Ngài đang bắt đầu hoạt động để kiểm soát cõi phụ thứ năm—một sự kiểm soát sẽ được hoàn thiện trong cuộc tuần hoàn thứ năm.

1. The fifth round of the Earth-chain. This is a chain-round and not a scheme-round.

1. Cuộc tuần hoàn thứ năm của Dãy Địa Cầu. Đây là một cuộc tuần hoàn của dãy chứ không phải một cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh.

2. Our Planetary Logos’ work upon the fifth sub-plane of the cosmic astral plane (numbering from below) must correlate with the entry of so many human beings into the Fifth Kingdom, the Kingdom of the Soul.

2. Công việc của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta trên cõi phụ thứ năm của cõi cảm dục vũ trụ (đếm từ dưới lên) hẳn phải tương ứng với việc rất nhiều con người bước vào giới thứ năm, giới của linh hồn.

3. Activation of the fifth spirilla in so many human beings must also correspond, as would the activation of the third and fifth sub-planes of the cosmic physical plane (the systemic atmic and mental planes).

3. Sự hoạt hóa loa tuyến thứ năm nơi rất nhiều con người cũng hẳn phải tương ứng, cũng như sự hoạt hóa các cõi phụ thứ ba và thứ năm của cõi hồng trần vũ trụ (các cõi atma và trí của hệ).

He is sensing and responding to the vibration of the sixth subplane, but is not as yet fully conscious on that subplane.

Ngài đang cảm nhận và đáp ứng với rung động của cõi phụ thứ sáu, nhưng vẫn chưa hoàn toàn hữu thức trên cõi phụ đó.

1. The implication is that the Planetary Logos of Venus is fully conscious on the sixth sub-plane of the cosmic astral plane and beginning to respond to the vibration of the seventh sub-plane.

1. Hàm ý là Đức Hành Tinh Thượng Đế của Kim Tinh hoàn toàn hữu thức trên cõi phụ thứ sáu của cõi cảm dục vũ trụ và đang bắt đầu đáp ứng với rung động của cõi phụ thứ bảy.

2. On the human level, there are some who are beginning to respond to the energy of buddhi, the sixth principle. The majority of the human race is not responsive in this way. The reaching out of our Planetary Logos to the sixth level of the cosmic astral plane corresponds to the reaching out of a number of human beings to the sixth principle.

2. Ở cấp độ con người, có một số người đang bắt đầu đáp ứng với năng lượng của Bồ đề, nguyên khí thứ sáu. Đa số nhân loại không đáp ứng theo cách này. Sự vươn tới của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đến cấp độ thứ sáu của cõi cảm dục vũ trụ tương ứng với sự vươn tới của một số con người đến nguyên khí thứ sáu.

3. We must be careful to keep clear the relationship between planes and principles. There is not always a one-to-one correspondence between a plane and a principle.

3. Chúng ta phải cẩn thận giữ cho rõ mối liên hệ giữa các cõi và các nguyên khí. Không phải lúc nào cũng có sự tương ứng một-một giữa một cõi và một nguyên khí.

We have a corresponding reflection to this in the fourth and fifth root-races on this planet, in which the astral consciousness of the Atlantean cycle is being perfected, the fifth principle is being developed, and the sixth is being gradually sensed. This deserves thoughtful consideration.

Chúng ta có một sự phản chiếu tương ứng của điều này trong giống dân gốc thứ tư và thứ năm trên hành tinh này, trong đó tâm thức cảm dục của chu kỳ Atlantis đang được hoàn thiện, nguyên khí thứ năm đang được phát triển, và nguyên khí thứ sáu đang dần dần được cảm nhận. Điều này đáng được suy xét cẩn trọng.

1. We are given a very clear analogy. The fourth sub-plane of the cosmic astral plane corresponds to the Atlantean consciousness, the fifth sub-plane to the Aryan consciousness, and the sixth sub-plane to the incipient intuitive consciousness of the sixth root race.

1. Chúng ta được trao cho một phép loại suy rất rõ ràng. Cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục vũ trụ tương ứng với tâm thức Atlantis, cõi phụ thứ năm tương ứng với tâm thức Arya, và cõi phụ thứ sáu tương ứng với tâm thức trực giác sơ khởi của giống dân gốc thứ sáu.

2. We can understand the progress made the by Planetary Logos will affect the perfecting of human consciousness.

2. Chúng ta có thể hiểu rằng sự tiến bộ do Đức Hành Tinh Thượng Đế đạt được sẽ ảnh hưởng đến sự hoàn thiện của tâm thức con người.

3. With the perfecting of Atlantean consciousness we are achieving equilibrium on the astral plane and a responsiveness of humanity’s astral body to the energy of love. Humanity is slowly developing it mental nature and, now, the responsiveness of that mental nature to the light of the soul. As humanity enters the sixth subrace of the fifth root race, the abstract mind will be the focus of cultivation—we are told.

3. Cùng với sự hoàn thiện của tâm thức Atlantis, chúng ta đang đạt được sự quân bình trên cõi cảm dục và khả năng đáp ứng của thể cảm dục của nhân loại đối với năng lượng của tình thương. Nhân loại đang chậm rãi phát triển bản chất trí tuệ của mình và, hiện nay, khả năng đáp ứng của bản chất trí tuệ ấy đối với ánh sáng của linh hồn. Khi nhân loại bước vào giống dân phụ thứ sáu của giống dân gốc thứ năm, trí trừu tượng sẽ là trọng tâm của sự vun bồi—chúng ta được cho biết như vậy.

4. As previously stated, some human beings are ‘sensing after’ the intuition just as the Planetary Logos is seeking awareness on the sixth sub-plane of the cosmic astral plane.

4. Như đã nói trước đây, một số con người đang ‘cảm tìm’ trực giác cũng như Đức Hành Tinh Thượng Đế đang tìm kiếm sự nhận biết trên cõi phụ thứ sáu của cõi cảm dục vũ trụ.

5. In retrospect, what DK has said of the work of the Heavenly Man is profound and not totally understandable given our present state of mental unfoldment.

5. Nhìn lại, điều Chân sư DK đã nói về công việc của Đấng Thiên Nhân là sâu sắc và không hoàn toàn có thể hiểu được xét theo trạng thái khai mở trí tuệ hiện nay của chúng ta.

6. We now consider the work of the Solar Logos.

6. Giờ đây chúng ta xét đến công việc của Thái dương Thượng đế.

Third: The work of a solar logos is again of a corresponding nature:

Thứ ba: Công việc của một Thái dương Thượng đế lại có bản chất tương ứng:

[Page 292]

[Page 292]

a. He has to attain to the full consciousness of His entire ring-pass-not, or of the seven planes of the solar system.

a. Ngài phải đạt đến tâm thức trọn vẹn của toàn bộ vòng-giới-hạn của Ngài, hay của bảy cõi của hệ mặt trời.

1. We remember that the human being had to attain full consciousness on three systemic planes and the Heavenly Man on five. We also remember that the Heavenly Man was moving towards awareness on seven—a state which the Solar Logos already has achieved.

1. Chúng ta nhớ rằng con người phải đạt tâm thức trọn vẹn trên ba cõi của hệ, còn Đấng Thiên Nhân trên năm cõi. Chúng ta cũng nhớ rằng Đấng Thiên Nhân đang tiến tới sự nhận biết trên bảy cõi—một trạng thái mà Thái dương Thượng đế đã đạt được rồi.

This covers a period wherein five of the Heavenly Men, or five of His centres, and therefore, five schemes, reach a stage of accurate response to contact and stimulation.

Điều này bao trùm một giai đoạn trong đó năm Đấng Thiên Nhân, hay năm trung tâm của Ngài, và do đó năm hệ hành tinh, đạt đến một giai đoạn đáp ứng chính xác với tiếp xúc và kích thích.

1. Whether we speak of the human being, the Planetary Logos or the Solar Logos, we are, in this context, discussing a Brahmic period, correlated, in part, to the number five.

1. Dù chúng ta nói về con người, Đức Hành Tinh Thượng Đế hay Thái dương Thượng đế, thì trong ngữ cảnh này chúng ta đang bàn về một giai đoạn Brahma, tương quan một phần với con số năm.

2. Remembering—the human being during this period awakened to the three lower systemic planes; the Heavenly Man (awakening to five systemic planes) progressed through the first three rounds (presumably on the Earth-chain, though we cannot say that there is not a parallel process of rounds occurring on all seven chains);

2. Hãy nhớ rằng—con người trong giai đoạn này đã thức tỉnh với ba cõi thấp của hệ; Đấng Thiên Nhân (thức tỉnh với năm cõi của hệ) đã tiến qua ba cuộc tuần hoàn đầu tiên (có lẽ trên Dãy Địa Cầu, dù chúng ta không thể nói rằng không có một tiến trình song song của các cuộc tuần hoàn đang diễn ra trên cả bảy dãy);

3. For the Solar Logos, five planetary schemes have developed during this first stage, listed under point “a.”

3. Đối với Thái dương Thượng đế, năm hệ hành tinh đã phát triển trong giai đoạn đầu tiên này, được liệt kê dưới điểm “a.”

4. We might inquire: does the development of the five planetary schemes correspond to a kind of first initiation for the Solar Logos, just as in the case of the human being the first initiation follows the awakening of his consciousness on the three lower systemic planes?

4. Chúng ta có thể hỏi: sự phát triển của năm hệ hành tinh có tương ứng với một loại lần điểm đạo thứ nhất đối với Thái dương Thượng đế hay không, cũng như trong trường hợp con người, lần điểm đạo thứ nhất theo sau sự thức tỉnh của tâm thức y trên ba cõi thấp của hệ?

5. The development of five planetary schemes within the Solar Logos may signal that the material and personality phase of His development in this second solar system has come to an end. This development is a kind of recapitulation of the overall development which occurred during the first solar system—a Brahmic system correlating to the number five even as our present system correlates to seven.

5. Sự phát triển của năm hệ hành tinh bên trong Thái dương Thượng đế có thể báo hiệu rằng giai đoạn vật chất và phàm ngã trong sự phát triển của Ngài trong hệ mặt trời thứ hai này đã đi đến chấm dứt. Sự phát triển này là một loại tái diễn toàn bộ sự phát triển đã xảy ra trong hệ mặt trời thứ nhất—một hệ Brahma tương quan với con số năm cũng như hệ hiện tại của chúng ta tương quan với bảy.

6. Which are the five schemes? This would not be easy to assess, but we could certainly infer that they would be those which correspond to the Brahmic Rays—the third ray and the four Rays of Attribute. We could presume that all planetary schemes ruled more by the third ray than by the second or first would have reached this stage of accurate response to contact and stimulation.

6. Năm hệ ấy là những hệ nào? Điều này sẽ không dễ đánh giá, nhưng chắc chắn chúng ta có thể suy ra rằng đó sẽ là những hệ tương ứng với các Cung Brahma—cung ba và bốn Cung Thuộc Tính. Chúng ta có thể giả định rằng tất cả các hệ hành tinh được cai quản bởi cung ba nhiều hơn cung hai hay cung một đều đã đạt đến giai đoạn đáp ứng chính xác với tiếp xúc và kích thích này.

7. Has this stage of development already occurred? We see that it has occurred for man, the individual, because many men have moved beyond the first initiation.

7. Giai đoạn phát triển này đã xảy ra rồi chăng? Chúng ta thấy rằng nó đã xảy ra đối với con người, cá nhân, bởi vì nhiều người đã vượt quá lần điểm đạo thứ nhất.

8. We see that this stage of development has already occurred for our Planetary Logos, because He is already in his fourth round, and the first stage ended at the completion of the third.

8. Chúng ta thấy rằng giai đoạn phát triển này đã xảy ra rồi đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, bởi vì Ngài đã ở trong cuộc tuần hoàn thứ tư của Ngài, và giai đoạn đầu tiên đã kết thúc khi hoàn tất cuộc tuần hoàn thứ ba.

9. We do not know enough about planetary development (at least from observation) to conclude that the Solar Logos, as well, has completed the first stage. But since the development of man, the Planetary Logos and the Solar Logos run somewhat in parallel, we might conclude on this basis that the Solar Logos, too, has reached and passed the first stage.

9. Chúng ta không biết đủ về sự phát triển hành tinh (ít nhất là từ quan sát) để kết luận rằng Thái dương Thượng đế cũng đã hoàn tất giai đoạn đầu tiên. Nhưng vì sự phát triển của con người, Đức Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế diễn ra phần nào song song, nên trên cơ sở này chúng ta có thể kết luận rằng Thái dương Thượng đế cũng đã đạt đến và vượt qua giai đoạn đầu tiên.

10. From the initiatory standpoint we would certainly have to say so, because our Solar Logos has for His objective a kind of third cosmic initiation.

10. Từ quan điểm điểm đạo, chắc chắn chúng ta phải nói như vậy, bởi vì Thái dương Thượng đế của chúng ta có mục tiêu là một loại lần điểm đạo vũ trụ thứ ba.

11. There is another alternative to the one in which the five planetary schemes expressing the Brahmic rays are considered the five which have reached this stage of development. We could take, instead, the ‘chakric approach’.

11. Có một khả năng khác ngoài khả năng cho rằng năm hệ hành tinh biểu hiện các cung Brahma là năm hệ đã đạt đến giai đoạn phát triển này. Thay vào đó, chúng ta có thể chọn ‘cách tiếp cận theo luân xa’.

12. Perhaps those planetary schemes which represent the sacral center, the solar plexus center, the throat center, the ajna center and, perhaps, the heart center are relatively developed.

12. Có lẽ những hệ hành tinh đại diện cho trung tâm xương cùng, trung tâm tùng thái dương, trung tâm cổ họng, ajna và có lẽ cả trung tâm tim là tương đối phát triển.

13. The heart center is a problem, as it should not fully unfold until the Entity in question is a relatively high initiate. One could substitute the base of the spine center, and indeed, it develops early, but its full development does not come until the fifth initiation (at least this is so for the human being). We know that the head center and the base of the spine center are the last to develop fully, on the Path of Initiation. In this case we are dealing with the cosmic Path of Initiation. Do the parallels hold?

13. Trung tâm tim là một vấn đề, vì nó không nên khai mở trọn vẹn cho đến khi Thực Thể đang xét là một điểm đạo đồ tương đối cao. Người ta có thể thay bằng trung tâm đáy cột sống, và quả thực nó phát triển sớm, nhưng sự phát triển trọn vẹn của nó không đến cho đến lần điểm đạo thứ năm (ít nhất điều này đúng đối với con người). Chúng ta biết rằng trung tâm đầu và trung tâm đáy cột sống là những trung tâm phát triển trọn vẹn sau cùng, trên Con Đường Điểm Đạo. Trong trường hợp này chúng ta đang bàn đến Con Đường Điểm Đạo vũ trụ. Các điểm tương đồng có còn đứng vững không?

14. When comparing man, the Planetary Logos and the Solar Logos, we see a difference in the numbers appearing as significant during this first and Brahmic stage: for man the number is three; for the Planetary Logos the number is also three; for the Solar Logos the number is five.

14. Khi so sánh con người, Đức Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế, chúng ta thấy có một khác biệt trong các con số xuất hiện như có ý nghĩa trong giai đoạn đầu tiên và Brahma này: đối với con người con số là ba; đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế con số cũng là ba; đối với Thái dương Thượng đế con số là năm.

15. From another perspective the numbers are three, five and seven characterize this first stage for the three entities in question.

15. Từ một góc nhìn khác, các con số ba, nămbảy đặc trưng cho giai đoạn đầu tiên này đối với ba thực thể đang được xét.

b. He has to attain to the consciousness of the cosmic Logos within Whose body He is a centre.

b. Ngài phải đạt đến tâm thức của Thượng đế Vũ Trụ mà trong thể của Ngài, Ngài là một trung tâm.

1. A Cosmic Logos has Solar Logoi for His chakras or centers.

1. Một Thượng đế Vũ Trụ có các Thái dương Thượng đế là các luân xa hay các trung tâm của Ngài.

He must find by experience His place within the cosmic group of which He is a part,

Ngài phải tìm ra bằng kinh nghiệm vị trí của Ngài trong nhóm vũ trụ mà Ngài là một phần của nó,

1. This is a group of Solar Logoi—the Solar Logoi found in the Seven Solar Systems of Which Ours is One.

1. Đây là một nhóm các Thái dương Thượng đế—các Thái dương Thượng đế được tìm thấy trong Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của chúng ta là một trong số đó.

in much the same way as a planetary Logos pursues a similar course.

theo cách gần giống như một Đức Hành Tinh Thượng Đế theo đuổi một tiến trình tương tự.

1. The Planetary Logos finds His place within a planetary group.

1. Đức Hành Tinh Thượng Đế tìm ra vị trí của Ngài trong một nhóm hành tinh.

2. A human being finds his place within a group of human beings.

2. Con người tìm ra vị trí của mình trong một nhóm người.

This is achieved when all the Heavenly Men or each of the seven centres are awakened and functioning consciously and freely, with their systemic inter-relation adjusted and controlled by the Law of Action and Reaction.

Điều này đạt được khi tất cả các Đấng Thiên Nhân hay mỗi một trong bảy trung tâm được thức tỉnh và hoạt động một cách hữu thức và tự do, với mối tương liên hệ thống của chúng được điều chỉnh và kiểm soát bởi Định luật Tác Động và Phản Ứng.

1. In the previous stage (a more individual stage of the Solar Logos) five planetary schemes were involved. In the present stage, seven are necessary.

1. Trong giai đoạn trước (một giai đoạn mang tính cá thể hơn của Thái dương Thượng đế), đã có năm hệ hành tinh liên quan. Trong giai đoạn hiện tại, bảy hệ là cần thiết.

2. The interrelation of the five schemes was characterized by “accurate response to contact and stimulation”. The systemic interrelation of the seven is “adjusted and controlled by the Law of Action and Reaction”, which is another name for the Law of Karma. The Law of Action and Reaction can be understood to correlate with the second cosmic law—the Law of Attraction and Repulsion.

2. Mối tương liên của năm hệ được đặc trưng bởi “sự đáp ứng chính xác với tiếp xúc và kích thích”. Mối tương liên hệ thống của bảy hệ thì “được điều chỉnh và kiểm soát bởi Định luật Tác Động và Phản Ứng”, vốn là một tên gọi khác của định luật nghiệp quả. Định luật Tác Động và Phản Ứng có thể được hiểu là tương quan với định luật vũ trụ thứ hai—Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi.

3. In the case of all three types of atoms, the second stage (given in each case under point “b.”) corresponds to development related to the second aspect of divinity and not to the third aspect as was the case under point “a.”

3. Trong trường hợp của cả ba loại nguyên tử, giai đoạn thứ hai (được nêu trong mỗi trường hợp dưới điểm “b.”) tương ứng với sự phát triển liên hệ đến phương diện thứ hai của thiên tính chứ không phải phương diện thứ ba như đã là trường hợp dưới điểm “a.”

4. We are reminded that five is one of the major numbers of the first solar system which is correlated to the third aspect of divinity. Seven is the number correlated to the second aspect and to the major theme of the second solar system—Love-Wisdom.

4. Chúng ta được nhắc rằng năm là một trong những con số chính của hệ mặt trời thứ nhất vốn tương quan với phương diện thứ ba của thiên tính. Bảy là con số tương quan với phương diện thứ hai và với chủ đề chính của hệ mặt trời thứ hai—Bác Ái – Minh Triết.

It brings within His control not only the seven subplanes of the cosmic physical plane (our seven major planes) but necessarily also the cosmic astral plane.

Điều này đưa vào trong sự kiểm soát của Ngài không chỉ bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ (bảy cõi chính của chúng ta) mà tất yếu còn cả cõi cảm dục vũ trụ.

1. Just as the potential for the Heavenly Men (in stage two, “b.”) extended to full conscious control on the seven planes of the solar system, so the potential for a Solar Logos reaches beyond control of the seven sub-planes of the cosmic physical plane and into the cosmic astral plane. We do not know how ‘far’ upon the cosmic astral plane this control extends.

1. Cũng như tiềm năng đối với các Đấng Thiên Nhân (ở giai đoạn hai, “b.”) mở rộng đến sự kiểm soát hữu thức trọn vẹn trên bảy cõi của hệ mặt trời, thì tiềm năng đối với một Thái dương Thượng đế cũng vươn vượt khỏi sự kiểm soát bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ và đi vào cõi cảm dục vũ trụ. Chúng ta không biết sự kiểm soát này mở rộng ‘xa’ đến đâu trên cõi cảm dục vũ trụ.

2. We can imagine, however, that if the most unfolded of the Planetary Logoi (Venus) has mastered the fifth sub-level of the cosmic astral plane and is working upon the sixth, that the Solar Logos must minimally have mastered the sixth and perhaps even the seventh.

2. Tuy nhiên, chúng ta có thể hình dung rằng nếu Hành Tinh Thượng đế được khai mở nhất (Kim Tinh) đã làm chủ cõi phụ thứ năm của cõi cảm dục vũ trụ và đang hoạt động trên cõi phụ thứ sáu, thì Thái dương Thượng đế tối thiểu hẳn đã làm chủ cõi phụ thứ sáu và có lẽ cả cõi phụ thứ bảy nữa.

3. The excerpt seems to suggest that He has achieved control on all sub-planes of the cosmic astral plane—which would stand to reason.

3. Đoạn trích dường như gợi ý rằng Ngài đã đạt được sự kiểm soát trên mọi cõi phụ của cõi cảm dục vũ trụ—điều này hẳn là hợp lý.

4. Does the Solar Logos do this in stage two? The Planetary Logos’ work upon the cosmic astral plane was not mentioned until stage three; perhaps in stage three for the Solar Logos we must consider work upon the cosmic mental plane.

4. Thái dương Thượng đế có làm điều này trong giai đoạn hai không? Công việc của Đức Hành Tinh Thượng Đế trên cõi cảm dục vũ trụ đã không được nhắc đến cho đến giai đoạn ba; có lẽ trong giai đoạn ba đối với Thái dương Thượng đế, chúng ta phải xét đến công việc trên cõi trí vũ trụ.

5. For the Planetary Logos, this second developmental stage corresponded to the periods of the fourth, fifth and sixth rounds (DK did not say “chains”). To what in the process of the Solar Logos does this second phrase correspond?

5. Đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế, giai đoạn phát triển thứ hai này tương ứng với các thời kỳ của cuộc tuần hoàn thứ tư, thứ năm và thứ sáu (Chân sư DK không nói “các dãy”). Cụm từ thứ hai này tương ứng với điều gì trong tiến trình của Thái dương Thượng đế?

6. May it be inferred that just as there are planetary rounds, so there are solar rounds—solar rounds which involve planetary schemes and greater solar rounds which involve the entire solar system (just as there are rounds in a planetary scheme which involve the distinct chains and greater planetary rounds which involve the entire planetary scheme.

6. Có thể suy ra rằng cũng như có các cuộc tuần hoàn hành tinh, thì cũng có các cuộc tuần hoàn thái dương—các cuộc tuần hoàn thái dương liên quan đến các hệ hành tinh và các cuộc tuần hoàn thái dương lớn hơn liên quan đến toàn bộ hệ mặt trời (cũng như có các cuộc tuần hoàn trong một hệ hành tinh liên quan đến các dãy riêng biệt và các cuộc tuần hoàn hành tinh lớn hơn liên quan đến toàn bộ hệ hành tinh).

7. There are many parallels to be held in mind simultaneously, but they do not seem to involve strict exactitude of analogy.

7. Có nhiều điểm tương đồng phải được giữ trong tâm trí cùng một lúc, nhưng chúng dường như không bao hàm sự chính xác nghiêm ngặt của phép loại suy.

c. To attain to the consciousness of the centre in the body of the ONE ABOUT WHOM NOUGHT MAY BE SAID. This centre is formed by the sphere of influence of a cosmic Logos. In the body of a cosmic Logos, a solar Logos is a centre.

c. Để đạt đến tâm thức của trung tâm trong thể của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ. Trung tâm này được hình thành bởi khối cầu ảnh hưởng của một Thượng đế Vũ Trụ. Trong thể của một Thượng đế Vũ Trụ, một Thái dương Thượng đế là một trung tâm.

1. This is the enigmatic statement. We will notice the confusion is focussed around the words “the centre”. Why “the”? Could it be that the word “the” hints at the possibility that the center to be attained is the very center of the One About Whom Naught May Be Said?

1. Đây là phát biểu bí ẩn. Chúng ta sẽ nhận thấy sự lẫn lộn tập trung quanh các từ “trung tâm”. Tại sao lại là “trung tâm”? Có thể nào từ này gợi ý khả năng rằng trung tâm cần đạt đến chính là trung tâm đích thực của Đấng Bất Khả Tư Nghị?

2. Analogically, at this third stage, and comparing the task of the Solar Logos with the paralleling tasks of a man and a Heavenly Man, it would seem necessary for the Solar Logos to attain to the consciousness of the One About Whom Naught May Be Said (a Super-Cosmic Logos) just as the Planetary Logos should (in the third stage) be attaining to the consciousness of the Cosmic Logos.

2. Theo phép loại suy, ở giai đoạn thứ ba này, và khi so sánh nhiệm vụ của Thái dương Thượng đế với các nhiệm vụ song hành của một con người và một Đấng Thiên Nhân, dường như cần thiết rằng Thái dương Thượng đế phải đạt đến tâm thức của Đấng Bất Khả Tư Nghị (một Thượng đế Siêu Vũ Trụ) cũng như Đức Hành Tinh Thượng Đế nên (ở giai đoạn thứ ba) đạt đến tâm thức của Thượng đế Vũ Trụ.

3. Our question must be, “How far into the consciousness of the One About Whom Naught May Be Said will the Solar Logos penetrate? And how far into the consciousness of the Cosmic Logos will the Planetary Logos penetrate?”

3. Câu hỏi của chúng ta phải là, “Thái dương Thượng đế sẽ thâm nhập vào tâm thức của Đấng Bất Khả Tư Nghị đến mức nào? Và Đức Hành Tinh Thượng Đế sẽ thâm nhập vào tâm thức của Thượng đế Vũ Trụ đến mức nào?”

4. If there is blinding in this excerpt it is around the words “the centre” and also found in relation to the words “cosmic Logos”. It may simply be that DK uses the term “Cosmic Logos” to apply to two sorts of beings:

4. Nếu có sự che mắt nào trong đoạn trích này thì nó nằm quanh các từ “trung tâm” và cũng được thấy trong mối liên hệ với các từ “Thượng đế Vũ Trụ”. Có thể đơn giản là Chân sư DK dùng thuật ngữ “Thượng đế Vũ Trụ” để áp dụng cho hai loại Hữu thể:

a The type of Being for Whom Solar Logoi are as chakras

a Loại Hữu thể mà đối với Ngài, các Thái dương Thượng đế là các luân xa

b And the type of Being for Whom ‘Constellational Logoi’ are as chakras.

b Và loại Hữu thể mà đối với Ngài, các ‘Thượng đế Chòm sao’ là các luân xa.

1. In the chart on TCF 293, He calls what we would call a “Super-Cosmic Logos”, the “Unknown”.

1. Trong biểu đồ ở trang TCF 293, Ngài gọi điều mà chúng ta sẽ gọi là một “Thượng đế Siêu Vũ Trụ” là “Đấng Vô Danh”.

2. There is much blinding in relation to Cosmic Logoi and Super-Cosmic Logoi. This occurs because the term “One About Whom Naught May Be Said” may, in different instances, be used to refer to both Cosmic Logoi and Super-Cosmic Logoi. Considerable errors can be made if one is not aware of such blinds.

2. Có rất nhiều sự che mắt liên quan đến các Thượng đế Vũ Trụ và các Thượng đế Siêu Vũ Trụ. Điều này xảy ra vì thuật ngữ “Đấng Bất Khả Tư Nghị” trong những trường hợp khác nhau có thể được dùng để chỉ cả các Thượng đế Vũ Trụ lẫn các Thượng đế Siêu Vũ Trụ. Có thể mắc phải những sai lầm đáng kể nếu người ta không nhận biết được những sự che mắt như thế.

We must bear in mind that this enumeration is given from the standpoint of the present, and from the angle of vision (relatively limited) of the Heavenly Man of our particular scheme, and that it is therefore circumscribed by His peculiar conditions, which govern the intelligence of the cells in His body;

Chúng ta phải ghi nhớ rằng sự liệt kê này được đưa ra từ quan điểm của hiện tại, và từ góc nhìn (tương đối hạn chế) của Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh đặc thù của chúng ta, và vì thế nó bị giới hạn bởi những điều kiện đặc thù của Ngài, là những điều kiện chi phối trí tuệ của các tế bào trong thể của Ngài;

1. Master DK is telling us we cannot really understand these cosmic matters because our intelligence is limited due to the limitations of the Planetary Logos in whose body of manifestation we are merely cells.

1. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng chúng ta không thể thật sự hiểu các vấn đề vũ trụ này vì trí tuệ của chúng ta bị giới hạn do những giới hạn của Đức Hành Tinh Thượng Đế mà trong thể biểu hiện của Ngài chúng ta chỉ đơn thuần là những tế bào.

2. When DK presents us with such information, it may be that He is focussed in that part of planetary consciousness from which the perspective and limited consciousness of the Planetary Logos can be understood.

2. Khi Chân sư DK trình bày cho chúng ta loại thông tin như thế này, có thể Ngài đang tập trung trong phần tâm thức hành tinh mà từ đó có thể hiểu được viễn cảnh và tâm thức hạn chế của Đức Hành Tinh Thượng Đế.

it is given from the point of view of differentiation and not of synthesis.

nó được đưa ra từ quan điểm của sự biến phân chứ không phải của tổng hợp.

1. It is surely necessary for us to differentiate—at least initially. The manner in which all these Beings are superimposed, however, eludes us. They are all blended with each other, and there are not three separate processes at all, but one great process which includes all the three.

1. Chắc chắn chúng ta cần phải phân biệt—ít nhất là lúc ban đầu. Tuy nhiên, cách thức mà tất cả các Hữu thể này chồng phủ lên nhau thì vượt ngoài tầm nắm bắt của chúng ta. Tất cả các Ngài đều được hòa trộn với nhau, và hoàn toàn không có ba tiến trình tách biệt, mà chỉ có một tiến trình vĩ đại bao gồm cả ba.

2. Moreover, the process of each affects the processes of the others. The truer picture is one of complete interdependence. There is, as it were, but one action, rather than three.

2. Hơn nữa, tiến trình của mỗi vị đều ảnh hưởng đến các tiến trình của những vị khác. Bức tranh chân thực hơn là bức tranh về sự tương thuộc hoàn toàn. Có thể nói, chỉ có một hành động, hơn là ba.

A synthetic absorption proceeds eventually in connection with all these Entities, and each undergoes a process, paralleling on His Own level that undergone by the Microcosm;

Một sự hấp thu tổng hợp rốt cuộc diễn ra liên hệ với tất cả các Thực thể này, và mỗi vị đều trải qua một tiến trình, song hành trên cấp độ riêng của Ngài với tiến trình mà Tiểu thiên địa trải qua;

1. At the termination of every large life cycle, the process of “synthetic absorption” occurs.

1. Vào lúc kết thúc của mỗi chu kỳ sống lớn, tiến trình “hấp thu tổng hợp” xảy ra.

in the case of the Microcosm the causal body or the body of the Ego acts as the synthesiser of the energy of the Quaternary or lower Self, and the spiritual.

trong trường hợp của Tiểu thiên địa, thể nguyên nhân hay thể của chân ngã hoạt động như yếu tố tổng hợp năng lượng của Bộ Tứ hay phàm ngã, và của tinh thần.

1. If the experiences of man as quaternary are synthesized (after every incarnation) into the causal body, so it must be for the Planetary Logos (who certainly has a causal body on the cosmic mental plane) and for the Solar Logos Who also has a causal body on that plane—two sub-planes higher than the causal body of our Planetary Logos.

1. Nếu các kinh nghiệm của con người như một bộ tứ được tổng hợp (sau mỗi lần lâm phàm) vào thể nguyên nhân, thì điều đó cũng phải đúng đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế (Đấng chắc chắn có một thể nguyên nhân trên cõi trí vũ trụ) và đối với Thái dương Thượng đế, Đấng cũng có một thể nguyên nhân trên cõi đó—cao hơn hai cõi phụ so với thể nguyên nhân của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta.

2. In the two excerpts above we are told that greater Entities undergo processes paralleling those of the lesser entity man. We are justified, then, in analogizing from man’s dynamics to the dynamics of the greater Beings which include him.

2. Trong hai đoạn trích trên, chúng ta được cho biết rằng các Thực thể lớn hơn trải qua những tiến trình song hành với các tiến trình của thực thể nhỏ hơn là con người. Vì vậy, chúng ta có cơ sở để suy theo phép tương đồng từ động lực học của con người sang động lực học của các Hữu thể lớn hơn bao gồm y.

3. Just as the fruits of man’s entire incarnational cycle are absorbed into his causal body and then, quite suddenly into the spiritual triad, so it must be for the Planetary Logos and Solar Logos. They too must have a spiritual triad, and synthetic absorption of the fruits of Their personal processes into the causal body must occur over time, and then, quite suddenly, into that which for them corresponds to the spiritual triad of man.

3. Cũng như các thành quả của toàn bộ chu kỳ nhập thể của con người được hấp thu vào thể nguyên nhân của y rồi sau đó, khá đột ngột, vào Tam Nguyên Tinh Thần, thì điều đó cũng phải đúng đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế. Các Ngài cũng phải có một Tam Nguyên Tinh Thần, và sự hấp thu tổng hợp các thành quả của các tiến trình cá nhân của Các Ngài vào thể nguyên nhân hẳn phải diễn ra theo thời gian, rồi sau đó, khá đột ngột, vào cái mà đối với Các Ngài tương ứng với Tam Nguyên Tinh Thần của con người.

[Page 293]

[Page 293]

TABULATlON II

BẢNG II

1. The following table is of great value and a necessarily constant point of reference for those who want to understand the relationships of related atoms in proportion.

1. Bảng sau đây có giá trị rất lớn và là một điểm quy chiếu thường xuyên cần thiết đối với những ai muốn hiểu các mối liên hệ của các nguyên tử tương quan theo đúng tỉ lệ.

EVOLUTION IN THE UNIVERSE

TIẾN HOÁ TRONG VŨ TRỤ

Evolution in the Universe (Tabulation II)

Evolution in the Universe (Tabulation II)

Evolution in the Universe (Tabulation II)

Evolution in the Universe (Tabulation II)

Evolution in the Universe (Tabulation II)

Entity

Vehicle

Center

Space

Time

The Unknown

7. constellations

cosmic Logos

5. cosmic planes.

A cosmic Logos

7. solar systems

solar Logos

4. cosmic planes.

A solar Logos

7. planetary schemes

Heavenly Man

3. cosmic planes.

Period of 3. solar systems.

A Heavenly Man

7. planetary chains

Chohans and groups

2. cosmic planes.

Period of 1. solar system.

A Man

7. etheric centers

a Principle

1. cosmic plane.

Period of 1. planetary scheme.

1. The major theme of this table is quite straightforward. Greater Entities include lesser entities as chakras.

1. Chủ đề chính của bảng này khá trực tiếp. Các Thực thể lớn hơn bao gồm các thực thể nhỏ hơn như những luân xa.

2. The “Unknown” can be called a ‘Super-Cosmic Logos’ Who has for its chakras Constellational-Logoi (also called Cosmic Logoi).

2. “Đấng Vô Danh” có thể được gọi là một ‘Thượng đế Siêu Vũ Trụ’, Đấng có các Thượng đế Chòm sao (cũng được gọi là các Thượng đế Vũ Trụ) làm các luân xa của mình.

3. Cosmic Logoi (or Constellational-Logoi) have Solar Logoi for their chakras.

3. Các Thượng đế Vũ Trụ (hay các Thượng đế Chòm sao) có các Thái dương Thượng đế làm các luân xa của mình.

4. Solar Logoi have Planetary Logoi or Heavenly Men for their chakras.

4. Các Thái dương Thượng đế có các Hành Tinh Thượng đế hay các Đấng Thiên Nhân làm các luân xa của mình.

5. Heavenly Men have planetary chains for their chakras.

5. Các Đấng Thiên Nhân có các dãy hành tinh làm các luân xa của mình.

6. But a Heavenly Man does not have the individual men as His chakras, but rather, perhaps, groups of men. The strict analogy breaks down when we come to the being “man”—in the fifth row.

6. Nhưng một Đấng Thiên Nhân không có từng con người riêng lẻ làm các luân xa của Ngài, mà đúng hơn, có lẽ là các nhóm người. Phép tương đồng nghiêm ngặt bị phá vỡ khi chúng ta đến với hữu thể “con người”—ở hàng thứ năm.

7. We see here that there is a gap—a gap between the Heavenly Man who has seven planetary chains as His chakras and a Man who has seven etheric centers as his chakras.

7. Ở đây chúng ta thấy có một khoảng trống—một khoảng trống giữa Đấng Thiên Nhân có bảy dãy hành tinh làm các luân xa của Ngài và một Con Người có bảy trung tâm dĩ thái làm các luân xa của mình.

8. This gap suggests that the Heavenly Men who are Globe-Lords are missing. While Chain-Lords would have globes as their chakras, so Globe-Lords could have men as their chakras—at least groups of men (whether on triadal/ashramic levels or on monadic levels).

8. Khoảng trống này gợi ý rằng các Đấng Thiên Nhân là các Chúa Tể Bầu Hành Tinh đang bị thiếu. Trong khi các Chúa Tể Dãy sẽ có các bầu hành tinh làm các luân xa của mình, thì các Chúa Tể Bầu Hành Tinh có thể có con người làm các luân xa của mình—ít nhất là các nhóm người (dù ở các cấp độ tam nguyên tinh thần/ashram hay ở các cấp độ chân thần).

9. There are only five rows in this tabulation, but if in the first column, Chain-Lords and Globe-Lords were added, there would be seven rows, completing the tabulation more satisfactorily.

9. Chỉ có năm hàng trong bảng này, nhưng nếu trong cột thứ nhất thêm vào các Chúa Tể Dãy và các Chúa Tể Bầu Hành Tinh, thì sẽ có bảy hàng, hoàn tất bảng một cách thỏa đáng hơn.

10. One of the things we should notice is that groups of men could be considered chakras for a Globe-Lord.

10. Một trong những điều chúng ta nên lưu ý là các nhóm người có thể được xem là các luân xa đối với một Chúa Tể Bầu Hành Tinh.

11. For what type of being would a man, himself be considered as a chakra? Perhaps in groups of seven and nine to be found within Ashrams. DK hinted at this in the ways He organized groups.

11. Đối với loại hữu thể nào thì chính con người sẽ được xem là một luân xa? Có lẽ trong các nhóm bảy và chín được tìm thấy trong các ashram. Chân sư DK đã gợi ý điều này qua những cách Ngài tổ chức các nhóm.

12. Adding Chain-Lords and Globe-Lords to the first column does not complete the tabulation entirely.

12. Việc thêm các Chúa Tể Dãy và các Chúa Tể Bầu Hành Tinh vào cột thứ nhất không hoàn tất bảng này một cách trọn vẹn.

13. When we reach column three, row four, we see that “Chohans and groups” are considered to be as centres in the expression of a Heavenly Man. This is accurate enough as long as we realize that there are—

13. Khi chúng ta đến cột ba, hàng bốn, chúng ta thấy rằng “các Chohan và các nhóm” được xem như các trung tâm trong sự biểu lộ của một Đấng Thiên Nhân. Điều này đủ chính xác miễn là chúng ta nhận ra rằng có—

a Globe Chohans and groups

a các Chohan Bầu Hành Tinh và các nhóm

b Chain Chohans and groups

b các Chohan Dãy và các nhóm

c And Scheme Chohans and groups

c Và các Chohan Hệ Hành Tinh và các nhóm

14. This kind of thinking is related to the idea that there are three different types of Buddhas related to globes, chains and schemes. The Buddhas of Activity of Whom we have heard so much are related to our globe. (cf. TCF 873)

14. Lối suy nghĩ này liên hệ với ý tưởng rằng có ba loại Phật khác nhau liên hệ với các bầu hành tinh, các dãy và các hệ hành tinh. Các Đức Phật Hoạt Động mà chúng ta đã nghe nói rất nhiều có liên hệ với bầu hành tinh của chúng ta. (xem TCF 873)

15. We can see how complex the picture may become. Of course, as DK would say, we are viewing it from the perspective of differentiation and not from the perspective of synthesis.

15. Chúng ta có thể thấy bức tranh có thể trở nên phức tạp đến mức nào. Dĩ nhiên, như Chân sư DK sẽ nói, chúng ta đang nhìn nó từ viễn cảnh của sự biến phân chứ không phải từ viễn cảnh của tổng hợp.

16. When considering column three, we note that beings are listed, whereas in column two, structures are listed.

16. Khi xem xét cột ba, chúng ta lưu ý rằng các hữu thể được liệt kê, trong khi ở cột hai, các cấu trúc được liệt kê.

17. Each being in column three is really an emanation of a superior being. Cosmic Logoi, Solar Logoi and Planetary Logoi are all mind-born emanations. Chohans and their groups have, apparently, worked their way ‘up’ from below, but considered as cells within the Heavenly Man they also are mind-born.

17. Mỗi hữu thể trong cột ba thật ra là một phát xạ của một hữu thể cao hơn. Các Thượng đế Vũ Trụ, các Thái dương Thượng đế và các Hành Tinh Thượng đế đều là những phát xạ do trí tuệ sinh ra. Các Chohan và các nhóm của các vị, dường như, đã tự mình tiến “lên” từ bên dưới, nhưng khi được xem như các tế bào bên trong Đấng Thiên Nhân thì họ cũng do trí tuệ sinh ra.

18. If we consider the term “Principle”, we can think of it as an entified aspect of the Monad. The Monad is the real identity, and the principle is a diversification of the Monad, sharing in the identity of the Monad. Principles are ensouled by monadic identity.

18. Nếu chúng ta xét thuật ngữ “Nguyên khí”, chúng ta có thể nghĩ về nó như một phương diện được hữu thể hóa của chân thần. Chân thần là bản sắc thực sự, và nguyên khí là một sự đa dạng hóa của chân thần, cùng chia sẻ bản sắc của chân thần. Các nguyên khí được phú linh bởi bản sắc chân thần.

19. We know as well that each chakra expresses particularly one principle: the heart chakra expresses buddhi particularly; the throat chakra expresses manas particularly; the head chakra expresses atma particularly. Other assignments could be conceived, though some difficulty could occur in the assigning. We have seen that there are diverse ways of numbering the human unit—its vehicles and its principles.

19. Chúng ta cũng biết rằng mỗi luân xa biểu lộ đặc biệt một nguyên khí: luân xa tim biểu lộ Bồ đề một cách đặc biệt; trung tâm cổ họng biểu lộ manas một cách đặc biệt; luân xa đầu biểu lộ atma một cách đặc biệt. Tuy vậy, có thể hình dung những sự quy gán khác, dù có thể nảy sinh một số khó khăn trong việc quy gán. Chúng ta đã thấy rằng có nhiều cách khác nhau để đánh số đơn vị con người—các vận cụ và các nguyên khí của nó.

20. Column four, titled “Space” is very interesting. The space of man is one cosmic plane; the space of a Heavenly Man is two cosmic planes; the space of a Solar Logos is three cosmic planes; the space of a Cosmic Logos is four cosmic planes; the space of a Super-Cosmic Logos is five cosmic planes.

20. Cột bốn, mang tiêu đề “Không gian” rất thú vị. Không gian của con người là một cõi vũ trụ; không gian của một Đấng Thiên Nhân là hai cõi vũ trụ; không gian của một Thái dương Thượng đế là ba cõi vũ trụ; không gian của một Thượng đế Vũ Trụ là bốn cõi vũ trụ; không gian của một Thượng đế Siêu Vũ Trụ là năm cõi vũ trụ.

21. Each “space” conveys an idea of the focus of that particular entity’s labor. Man as man labors on the cosmic physical plane; the Planetary Logos has much to do on the cosmic astral plane; the Solar Logos (facing His third cosmic initiation), must be laboring on the cosmic mental plane; we can only extend the analogy, with the idea that a Cosmic Logos is mastering the cosmic buddhic plane and a Super-Cosmic Logos the cosmic atmic plane.

21. Mỗi “không gian” truyền đạt một ý niệm về tiêu điểm lao động của thực thể đặc thù ấy. Con người với tư cách con người lao động trên cõi hồng trần vũ trụ; Đức Hành Tinh Thượng Đế có rất nhiều việc trên cõi cảm dục vũ trụ; Thái dương Thượng đế (đang đối diện với lần điểm đạo vũ trụ thứ ba của Ngài), hẳn phải đang lao động trên cõi trí vũ trụ; chúng ta chỉ có thể mở rộng phép tương đồng, với ý tưởng rằng một Thượng đế Vũ Trụ đang làm chủ cõi Bồ đề vũ trụ và một Thượng đế Siêu Vũ Trụ đang làm chủ cõi atma vũ trụ.

22. If a Super-Constellational Logos is really a One About Whom Naught May Be Said, then this Being must be a kind of cosmic Master, but not a cosmic Chohan of the sixth or seventh cosmic degrees.

22. Nếu một Thượng đế Siêu Chòm sao thật sự là một Đấng Bất Khả Tư Nghị, thì Hữu thể này hẳn phải là một loại chân sư vũ trụ, nhưng không phải là một Chohan vũ trụ ở các cấp độ vũ trụ thứ sáu hay thứ bảy.

23. We could also infer that the two unlisted beings (Chain-Lords and Globe-Lords) would also be working on the higher parts of the cosmic physical plane and on the lower parts of the cosmic astral plane. The Planetary Logoi, while mastering the triadal levels of the cosmic physical plane are definitely establishing themselves on the higher levels of the cosmic astral plane. The Chain-Lords and Globe-Lords being lesser beings, could not establish themselves so high on the cosmic astral plane.

23. Chúng ta cũng có thể suy ra rằng hai hữu thể không được liệt kê (các Chúa Tể Dãy và các Chúa Tể Bầu Hành Tinh) cũng sẽ đang hoạt động trên các phần cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ và trên các phần thấp hơn của cõi cảm dục vũ trụ. Các Hành Tinh Thượng đế, trong khi làm chủ các cấp độ tam nguyên tinh thần của cõi hồng trần vũ trụ, chắc chắn đang thiết lập chính mình trên các cấp độ cao hơn của cõi cảm dục vũ trụ. Các Chúa Tể Dãy và các Chúa Tể Bầu Hành Tinh là những hữu thể nhỏ hơn, nên không thể thiết lập chính mình cao đến thế trên cõi cảm dục vũ trụ.

24. As previously stated, it is to be debated just how ‘low’ upon the cosmic physical plane the Planetary Logos is focussed. It seems that His task is really work upon the cosmic astral plane. Rather, it would seem that the two types of Heavenly Men called Globe Lord and Chain Lords would be more at work upon the cosmic physical plane. There may be occult blinds involved in attempting to solve this problem.

24. Như đã nói trước đây, vẫn còn có thể tranh luận rằng Đức Hành Tinh Thượng Đế tập trung “thấp” đến mức nào trên cõi hồng trần vũ trụ. Có vẻ như nhiệm vụ của Ngài thật sự là công việc trên cõi cảm dục vũ trụ. Đúng hơn, có vẻ như hai loại Đấng Thiên Nhân được gọi là Chúa Tể Bầu Hành Tinh và Chúa Tể Dãy sẽ hoạt động nhiều hơn trên cõi hồng trần vũ trụ. Có thể có những sự che mắt huyền bí liên quan trong nỗ lực giải quyết vấn đề này.

25. However, if the Solar Logos is still working on the mastery of the seven sub-planes of the cosmic physical plane (as appears to be the case under point “a.” describing the Solar Logos) it is also possible for the Planetary Logos of a scheme also to be working upon the cosmic physical plane).

25. Tuy nhiên, nếu Thái dương Thượng đế vẫn còn đang làm việc để làm chủ bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ (như dường như là trường hợp ở điểm “a.” mô tả Thái dương Thượng đế) thì cũng có thể Đức Hành Tinh Thượng Đế của một hệ hành tinh cũng đang làm việc trên cõi hồng trần vũ trụ).

26. If we analogize to man, even though a human being may be working on mental polarization, he may also be working upon the mastery of his ethers, and may, also, have something still to do to ensure the mastery of his astral body.

26. Nếu chúng ta suy theo phép tương đồng với con người, thì dù một con người có thể đang làm việc về sự phân cực trí tuệ, y cũng có thể đang làm việc để làm chủ các dĩ thái của mình, và cũng có thể vẫn còn điều gì đó phải làm để bảo đảm sự làm chủ thể cảm dục của mình.

27. The fifth column deals with Time. A Man persists for the duration of one planetary scheme. We might infer that the duration of one planetary scheme would be sufficient time for Man to become more than Man.

27. Cột thứ năm bàn đến Thời gian. Một Con Người tồn tại trong suốt thời gian của một hệ hành tinh. Chúng ta có thể suy ra rằng thời lượng của một hệ hành tinh sẽ là đủ thời gian để Con Người trở thành hơn cả Con Người.

28. A Heavenly Man is said to persist for the period of one solar system? Is this really long enough? Will our present Planetary Logoi not incarnate on a higher turn of the spiral in the next solar system, and did they not (at least some of them) incarnate in the previous solar system? These are difficult questions. We are told, for instance, that our present Buddhas of Activity were Planetary Logoi in a previous solar system. And here they are functioning in our present solar system.

28. Một Đấng Thiên Nhân được nói là tồn tại trong thời kỳ của một hệ mặt trời? Điều này thật sự đã đủ dài chưa? Chẳng lẽ các Hành Tinh Thượng đế hiện tại của chúng ta sẽ không nhập thể trên một vòng xoắn cao hơn trong hệ mặt trời kế tiếp, và chẳng lẽ các Ngài đã không (ít nhất một số vị) nhập thể trong hệ mặt trời trước đó sao? Đây là những câu hỏi khó. Chẳng hạn, chúng ta được cho biết rằng các Đức Phật Hoạt Động hiện tại của chúng ta đã là các Hành Tinh Thượng đế trong một hệ mặt trời trước đây. Và ở đây các Ngài đang hoạt động trong hệ mặt trời hiện tại của chúng ta.

In the last solar system They were the planetary Logoi of three planets in which the mind principle reached its highest stage of development; They embody in Themselves in a most peculiar manner the wisdom aspect of the second ray, as it expresses itself primarily through what has been called in the Bhagavad Gita “skill in action.” Hence Their name, the Buddhas of Activity. (R&I 267-268)

Trong hệ mặt trời trước Các Ngài là các Hành Tinh Thượng đế của ba hành tinh trong đó nguyên khí trí tuệ đạt đến giai đoạn phát triển cao nhất của nó; Các Ngài hiện thân trong Chính Mình theo một cách hết sức đặc biệt phương diện minh triết của cung hai, như nó biểu lộ chủ yếu qua điều đã được gọi trong Bhagavad Gita là “thiện xảo trong hành động.” Vì thế mới có danh xưng của Các Ngài, các Đức Phật Hoạt Động. (R&I 267-268)

1. It could be anticipated for instance that the Planetary Logos of our Earth, with His Monad on the first ray, would not achieve full expression of that monadic nature until the next solar system, which is ruled by the first ray.

1. Chẳng hạn, có thể dự đoán rằng Đức Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất chúng ta, với chân thần của Ngài trên cung một, sẽ không đạt được sự biểu lộ trọn vẹn của bản chất chân thần ấy cho đến hệ mặt trời kế tiếp, là hệ được cai quản bởi cung một.

2. That our three Buddhas of Activity were Planetary Logoi in the previous solar system is something of an enigma, because they seem, in this solar system, to be subservient to the Planetary Logos of the Earth. They are now demonstrating in a service capacity on high levels of our own planetary manifestation in this solar system. There are many enigmas! The history and destiny of the Planetary Logoi must be searched to determine whether they appear in only one solar system or in more.

2. Việc ba Đức Phật Hoạt Động của chúng ta đã là các Hành Tinh Thượng đế trong hệ mặt trời trước là một điều khá bí ẩn, bởi vì trong hệ mặt trời này các Ngài dường như lại phụ thuộc vào Đức Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất. Hiện nay các Ngài đang biểu hiện trong năng lực phụng sự trên các cấp độ cao của chính biểu hiện hành tinh của chúng ta trong hệ mặt trời này. Có rất nhiều điều bí ẩn! Lịch sử và định mệnh của các Hành Tinh Thượng đế phải được khảo cứu để xác định xem các Ngài chỉ xuất hiện trong một hệ mặt trời hay trong nhiều hơn.

3. As for the Solar Logoi, it is said that they undergo three incarnations in three consecutive solar systems; we must also remember that from a certain angle of vision, our present solar system is the fifth and not the second. Therefore the duration of a Solar Logos could be five solar systems (or even six or seven) and not three.

3. Đối với các Thái dương Thượng đế, người ta nói rằng các Ngài trải qua ba lần nhập thể trong ba hệ mặt trời liên tiếp; chúng ta cũng phải nhớ rằng từ một góc nhìn nào đó, hệ mặt trời hiện tại của chúng ta là hệ thứ năm chứ không phải hệ thứ hai. Vì vậy thời lượng của một Thái dương Thượng đế có thể là năm hệ mặt trời (hoặc thậm chí sáu hay bảy) chứ không phải ba.

4. The Time column is left blank in the first and second rows. We would be dealing with the durations of such Entities as Cosmic Logoi and Super-Cosmic Logoi. If the duration of a solar system is 311,040,000,000,000. years, what guess would we hazard concerning the duration of the ‘system’ of a Cosmic Logos or a Super-Cosmic Logos? Some time when there is nothing else to do, it might be fun to think about such things!

4. Cột Thời gian được để trống ở hàng thứ nhất và thứ hai. Khi ấy chúng ta sẽ phải bàn đến thời lượng của những Thực thể như các Thượng đế Vũ Trụ và các Thượng đế Siêu Vũ Trụ. Nếu thời lượng của một hệ mặt trời là 311,040,000,000,000. năm, thì chúng ta sẽ dám phỏng đoán thế nào về thời lượng của “hệ” của một Thượng đế Vũ Trụ hay một Thượng đế Siêu Vũ Trụ? Vào lúc nào đó khi không còn gì khác để làm, có lẽ sẽ thú vị khi suy nghĩ về những điều như thế!

5. The problem is complicated by the fact that super-giant stars, which presumably are the expressions of advanced Solar Logoi, endure in objectivity for a shorter time than do stars of less intensity. The Pleiades, for instance, are the Hub around which so may systems, including our own, revolve (we are told), but the duration of the Pleiades as stars is shorter than the duration of the stars which are said to revolve around them. Problem? Enigma? Certainly!

5. Vấn đề trở nên phức tạp bởi sự kiện rằng các sao siêu khổng lồ, vốn được giả định là những biểu hiện của các Thái dương Thượng đế tiến hóa cao, lại tồn tại trong tính khách quan trong thời gian ngắn hơn các ngôi sao có cường độ thấp hơn. Chẳng hạn, Thất Nữ Tinh là Trung Tâm mà quanh đó rất nhiều hệ, kể cả hệ của chúng ta, quay quanh (như chúng ta được cho biết), nhưng thời lượng của Thất Nữ Tinh với tư cách các ngôi sao lại ngắn hơn thời lượng của các ngôi sao được nói là quay quanh chúng. Vấn đề? Bí ẩn? Chắc chắn là vậy!

6. For the sake of continuity let us include the beginning of the sentence of which the following is the ending. There has been much intervening material.

6. Để giữ tính liên tục, chúng ta hãy đưa vào phần mở đầu của câu mà phần sau đây là đoạn kết. Đã có rất nhiều tài liệu xen vào ở giữa.

In the case of the Microcosm the causal body or the body of the Ego acts as the synthesiser of the energy of the Quaternary or lower Self, and the spiritual

Trong trường hợp của Tiểu thiên địa, thể nguyên nhân hay thể của chân ngã hoạt động như yếu tố tổng hợp năng lượng của Bộ Tứ hay phàm ngã, và thể

[Page 294] or monadic sheath as the synthesiser of the seven principles, making thus the three, the seven, and the ten.

[Page 294] tinh thần hay chân thần như yếu tố tổng hợp của bảy nguyên khí, nhờ đó tạo thành bộ ba, bộ bảy, và bộ mười.

1. Just as the Ego sheath or body synthesized the lower quaternary, so the monadic sheath synthesizes the seven principles. The Monad is a three; the seven principles are of course seven. Together they are the ten of perfection.

1. Cũng như thể hay vỏ bọc chân ngã tổng hợp bộ tứ thấp, thì vỏ bọc chân thần tổng hợp bảy nguyên khí. Chân thần là ba; bảy nguyên khí dĩ nhiên là bảy. Cùng nhau chúng là mười của sự toàn hảo.

2. We note that DK does not tell us that the Ego or the Monad, per se, are the synthesizers, but their sheaths.

2. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK không nói với chúng ta rằng chính chân ngã hay chân thần là các yếu tố tổng hợp, mà là các vỏ bọc của chúng.

In closing I would point out that the mind must carefully be kept from reducing all these ideas into a rankly materialistic concept.

Kết lại, tôi muốn chỉ ra rằng thể trí phải được giữ gìn cẩn thận để không biến tất cả những ý tưởng này thành một quan niệm duy vật thô thiển.

1. A timely warning. Our minds are far too materially inclined to see the reality behind what has been presented above.

1. Đây là một lời cảnh báo kịp thời. Thể trí của chúng ta quá thiên về vật chất để thấy được thực tại nằm sau những gì đã được trình bày ở trên.

2. We will, in our thought, inevitably materialize the concept—hopefully not rankly so!

2. Trong tư tưởng của mình, chúng ta chắc chắn sẽ hiện hình khái niệm ấy—hy vọng là không quá thô thiển như vậy!

It must be rigidly borne in mind that we are dealing with the subjective life, and not with the objective form, and that we are considering, for instance, the synthesis of the principles or the qualitating energies and not the synthesis of form.

Cần phải ghi nhớ một cách nghiêm ngặt rằng chúng ta đang bàn đến sự sống chủ quan, chứ không phải hình tướng khách quan, và rằng chẳng hạn, chúng ta đang xem xét sự tổng hợp của các nguyên khí hay các năng lượng mang phẩm tính chứ không phải sự tổng hợp của hình tướng.

1. DK is asking us to think with the “esoteric sense”, and not merely in terms of form.

1. Chân sư DK đang yêu cầu chúng ta suy nghĩ bằng “cảm quan huyền bí”, chứ không chỉ đơn thuần theo các thuật ngữ của hình tướng.

2. It is the synthesis of principles and qualities that we seek to understand. The forms, per se, do not synthesize.

2. Chính sự tổng hợp của các nguyên khí và các phẩm tính là điều chúng ta tìm cách thấu hiểu. Chính các hình tướng không tổng hợp.

3. All the principles and qualities interpenetrate. Every lower principle is simply an emanated extension of a corresponding principle which animates Beings of vaster scope. The qualities found ‘above’ are found below in attenuation—but the qualities are the same. The same note of the musical scale, whether sounding in high or low octaves, is recognizable as qualitatively identical

3. Tất cả các nguyên khí và phẩm tính đều xuyên thấm lẫn nhau. Mỗi nguyên khí thấp chỉ đơn giản là một sự mở rộng được phát xạ ra của một nguyên khí tương ứng đang linh hoạt hóa các Hữu thể có tầm mức rộng lớn hơn. Những phẩm tính được tìm thấy “ở trên” cũng được tìm thấy ở dưới trong trạng thái suy giảm—nhưng các phẩm tính vẫn là như nhau. Cùng một âm điệu của thang âm nhạc, dù vang lên ở quãng tám cao hay thấp, vẫn được nhận ra là đồng nhất về phẩm tính

4. It is the interpenetration that is hard to grasp, and upon this interpenetration we must meditate if we are to understand the lesser beings as definite extensions of the greater.

4. Chính sự xuyên thấm lẫn nhau này là điều khó nắm bắt, và chúng ta phải tham thiền về sự xuyên thấm ấy nếu muốn hiểu các hữu thể nhỏ hơn như những sự mở rộng xác định của các hữu thể lớn hơn.

Through each etheric centre man is bringing to perfect vibration some one principle or quality through which the subjective life may express itself.

Qua mỗi trung tâm dĩ thái, con người đang đưa đến rung động hoàn hảo một nguyên khí hay phẩm tính nào đó, nhờ đó sự sống chủ quan có thể biểu lộ.

1. The Tibetan is focussing in column three of the chart on TCF 293, and beginning one of His marvelous syntheses.

1. Chân sư Tây Tạng đang tập trung vào cột ba của biểu đồ ở TCF 293, và bắt đầu một trong những tổng hợp kỳ diệu của Ngài.

2. Each of our etheric centers has great value as a vehicle of expression for a subjective principle or quality. Perhaps when considering chakric development we should bear the instrumentality of the chakras in mind.

2. Mỗi trung tâm dĩ thái của chúng ta đều có giá trị lớn như một vận cụ biểu lộ cho một nguyên khí hay phẩm tính chủ quan. Có lẽ khi xem xét sự phát triển luân xa, chúng ta nên ghi nhớ tính công cụ của các luân xa.

Through each chain in a scheme a Heavenly Man is endeavoring to do the same.

Qua mỗi dãy trong một hệ hành tinh, một Đấng Thiên Nhân đang nỗ lực làm điều tương tự.

1. From this reference there can be no doubt: chains are the major chakras in a Heavenly Man.

1. Từ chỗ dẫn chiếu này, không thể còn nghi ngờ gì nữa: các dãy là những luân xa chính trong một Đấng Thiên Nhân.

Through each scheme in a system, a solar Logos is working at the same thing; the goal is synthetic quality and not primarily the perfection of the form.

Qua mỗi hệ hành tinh trong một hệ mặt trời, một Thái dương Thượng đế đang làm việc cho cùng một điều; mục tiêu là phẩm tính tổng hợp chứ không chủ yếu là sự toàn hảo của hình tướng.

1. The goal in our particular solar system is qualitative, and not, strictly speaking, the perfection of form.

1. Mục tiêu trong hệ mặt trời đặc thù của chúng ta là về phẩm tính, chứ không phải, nói cho đúng, là sự toàn hảo của hình tướng.

2. The term “synthetic quality” suggests the union of the first and second aspects of divinity.

2. Thuật ngữ “phẩm tính tổng hợp” gợi ý sự hợp nhất của phương diện thứ nhất và thứ hai của thiên tính.

3. Chakras are as chains are as schemes—and, of course, the analogy continues.

3. Các luân xa cũng như các dãy cũng như các hệ hành tinh—và dĩ nhiên, phép tương đồng còn tiếp tục.

The response of the energised form to the qualitative life is naturally—under the law—equal to the demand, but this is of secondary importance and is not the object in view.

Sự đáp ứng của hình tướng được tiếp năng lượng đối với sự sống mang phẩm tính đương nhiên—dưới định luật—tương xứng với nhu cầu, nhưng điều này chỉ có tầm quan trọng thứ yếu và không phải là mục tiêu được nhắm đến.

1. DK is telling us that there will be a gradual improvement of the form, even a movement towards perfection, but the enhancement of the form is only secondary to the merging of life and quality. We remember this particularly important trinity: “Life, Quality, Appearance”.

1. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng sẽ có một sự cải thiện dần dần của hình tướng, thậm chí một sự chuyển động hướng tới toàn hảo, nhưng sự tăng cường của hình tướng chỉ là thứ yếu so với sự hòa nhập của sự sống và phẩm tính. Chúng ta nhớ đến bộ ba đặc biệt quan trọng này: “Sự sống, Phẩm tính, Sắc tướng”.

2. When in our own lives, we see the form fall short of perfection, our attention should be directed to the manner in which consciousness is developing within the form. If new and better qualities of consciousness are emerging despite the evident imperfections of the form, the evolutionary process is on track.

2. Khi trong chính đời sống của mình, chúng ta thấy hình tướng còn kém xa sự toàn hảo, thì sự chú ý của chúng ta nên được hướng đến cách thức mà tâm thức đang phát triển bên trong hình tướng. Nếu những phẩm tính mới và tốt hơn của tâm thức đang xuất hiện bất chấp những bất toàn hiển nhiên của hình tướng, thì tiến trình tiến hoá đang đi đúng hướng.

We have seen that the work to be accomplished in all the above cases is necessarily threefold:

Chúng ta đã thấy rằng công việc phải được hoàn thành trong tất cả các trường hợp trên nhất thiết là tam phân:

1. We enter a summation.

1. Chúng ta bước vào một phần tổng kết.

First. The development of individual consciousness.

Thứ nhất. Sự phát triển của tâm thức cá nhân.

1. This is the first stage for all three entities which have been considered.

1. Đây là giai đoạn thứ nhất đối với cả ba thực thể đã được xem xét.

Second. The development of group consciousness.

Thứ hai. Sự phát triển của tâm thức nhóm.

1. This is the second stage for all three entities considered.

1. Đây là giai đoạn thứ hai đối với cả ba thực thể được xem xét.

Third. The development of God consciousness, of that consciousness in each case which represents the highest spiritual Source,

Thứ ba. Sự phát triển của tâm thức Thượng đế, của tâm thức mà trong mỗi trường hợp đại diện cho Nguồn tinh thần cao nhất,

1. That which is “God” is relative; God-consciousness means, in this context, consciousness of the whole.

1. Điều là “Thượng đế” thì có tính tương đối; tâm thức Thượng đế, trong ngữ cảnh này, có nghĩa là tâm thức về toàn thể.

a God for the man is the Planetary Logos

a Thượng đế đối với con người là Đức Hành Tinh Thượng Đế

b God of the Planetary Logos is the Cosmic Logos

b Thượng đế của Đức Hành Tinh Thượng Đế là Thượng đế Vũ Trụ

c God for the Solar Logos is the One About Whom Naught May Be Said.

c Thượng đế đối với Thái dương Thượng đế là Đấng Bất Khả Tư Nghị.

1. Further and more fundamentally, God-consciousness is consciousness of the Essence, which is one and the same in an entity of any scope—great or small.

1. Xa hơn và căn bản hơn nữa, tâm thức Thượng đế là tâm thức về Bản Chất, vốn là một và như nhau trong một thực thể ở bất kỳ tầm mức nào—lớn hay nhỏ.

and which is recognised as the same in essence as the God within the individual, whether man or solar Logos.

và được nhận ra là đồng nhất về bản chất với Thượng đế bên trong cá nhân, dù là con người hay Thái dương Thượng đế.

1. Thus, God can be appreciated in relation to scope—which is a relative way of considering God.

1. Như vậy, Thượng đế có thể được cảm nhận trong mối liên hệ với tầm mức—đó là một cách tương đối để xem xét Thượng đế.

2. Or God can be appreciated in relation to Essence—through which the identicality of all ‘Gods’ is registered.

2. Hoặc Thượng đế có thể được cảm nhận trong mối liên hệ với Bản Chất—nhờ đó tính đồng nhất của mọi “Thượng đế” được ghi nhận.

This concept must be meditated upon by all thinkers and its synthesis emphasised.

Khái niệm này phải được mọi nhà tư tưởng tham thiền và sự tổng hợp của nó phải được nhấn mạnh.

1. The concept that God is One in Essence.

1. Khái niệm rằng Thượng đế là Một trong Bản Chất.

The relation of the cell to the group, of the group to the aggregate of groups, and of them all to the indwelling Entity Who holds them in synthetic correlation by means of the Law of Attraction and Repulsion is of vital moment.

Mối liên hệ của tế bào với nhóm, của nhóm với tập hợp các nhóm, và của tất cả chúng với Thực thể nội tại Đấng giữ chúng trong sự tương quan tổng hợp bằng Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi là điều có tầm quan trọng thiết yếu.

1. DK is offering us a synthetic vision of lesser wholes forever included within greater wholes—yet every whole is of identical Essence.

1. Chân sư DK đang trao cho chúng ta một linh ảnh tổng hợp về những toàn thể nhỏ hơn mãi mãi được bao gồm trong những toàn thể lớn hơn—nhưng mọi toàn thể đều có cùng một Bản Chất.

2. A powerful piece of occultism is offered, for the any greater entity holds in synthetic correlation the lesser entities who comprise its vehicles of expression by means of the Law of Attraction and Repulsion.

2. Một mảnh huyền bí học đầy mãnh lực được đưa ra, vì bất kỳ thực thể lớn hơn nào cũng giữ trong sự tương quan tổng hợp các thực thể nhỏ hơn cấu thành các vận cụ biểu lộ của nó bằng Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi.

3. We are invited to ponder the nature of synthetic correlation and its relation to the Law of Attraction and Repulsion. Within synthetic correlation, the intended archetypal relation of all parts within the whole is preserved through a process of dynamic equilibrium.

3. Chúng ta được mời suy ngẫm về bản chất của sự tương quan tổng hợp và mối liên hệ của nó với Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. Trong sự tương quan tổng hợp, mối liên hệ nguyên mẫu được dự định của mọi phần trong toàn thể được bảo tồn qua một tiến trình quân bình động.

4. We have much to ponder.

4. Chúng ta có nhiều điều để suy ngẫm.

Two main ideas must always be borne in mind:

Hai ý tưởng chính phải luôn được ghi nhớ:

[Page 295] That the terms “cell, group, or congery of groups” relate entirely to the form of vehicle, and thus to the matter aspect.

[Page 295] Rằng các thuật ngữ “tế bào, nhóm, hay tập hợp các nhóm” hoàn toàn liên hệ đến hình tướng của vận cụ, và do đó đến phương diện vật chất.

1. When considering such terms, we must realize that they are entirely relative. The nature of the including entity must be understood if the relations of the included parts to the including entity are also to be understood.

1. Khi xem xét những thuật ngữ như thế, chúng ta phải nhận ra rằng chúng hoàn toàn tương đối. Bản chất của thực thể bao hàm phải được thấu hiểu nếu những tương quan của các phần được bao hàm đối với thực thể bao hàm cũng được thấu hiểu.

2. We are interested in the form, but more interested in the essential quality within the form.

2. Chúng ta quan tâm đến hình tướng, nhưng còn quan tâm hơn đến phẩm tính cốt yếu bên trong hình tướng.

That the idea of an Entity Who synthesises the groups and is the animating life of the cell has to do with the Spirit aspect.

Rằng ý niệm về một Thực Thể tổng hợp các nhóm và là sự sống linh hoạt của tế bào có liên quan đến phương diện tinh thần.

1. That which synthesizes is of the Spirit.

1. Điều tổng hợp là thuộc về tinh thần.

2. We have the cell (an aspect of form) and the animating life (related to Spirit).

2. Chúng ta có tế bào (một phương diện của hình tướng) và sự sống linh hoạt (liên hệ với tinh thần).

3. Though the book A Treatise on Cosmic Fire describes many types of forms and their interrelationships, the animating life within the form and the intended qualitative synthesis are ever to be held in mind.

3. Mặc dù quyển Luận về Lửa Vũ Trụ mô tả nhiều loại hình tướng và những tương quan qua lại của chúng, sự sống linh hoạt bên trong hình tướng và sự tổng hợp phẩm tính được dự định luôn luôn phải được ghi nhớ.

These two concepts lead necessarily to a third, that of the development of consciousness, which is the gradual expansion of the realisation of the Indweller in the form, the apprehension by the Self of the relation of the form to Itself, and of its slow utilisation and control.

Hai khái niệm này tất yếu dẫn đến một khái niệm thứ ba, đó là sự phát triển của tâm thức, là sự mở rộng dần dần của sự chứng nghiệm về Đấng Nội Tại trong hình tướng, sự lĩnh hội của Bản Ngã về tương quan của hình tướng với Chính Nó, và sự sử dụng cùng kiểm soát chậm rãi của nó.

1. Again we are presented with the trinity of Spirit, matter and the result of their merging—soul.

1. Một lần nữa chúng ta được trình bày bộ ba tinh thần, vật chất và kết quả của sự hòa nhập giữa chúng—linh hồn.

2. We are given another excellent definition of consciousness. It is defined in terms of realization. Realization requires the one who realizes—or the Indweller within the form.

2. Chúng ta được trao cho một định nghĩa tuyệt hảo khác về tâm thức. Nó được định nghĩa theo sự chứng nghiệm. Sự chứng nghiệm đòi hỏi đấng chứng nghiệm—hay Đấng Nội Tại bên trong hình tướng.

3. Initially, the Indweller does not realize his relation to the form. The gradual growth of consciousness makes this possible. Consciousness reveals the relation of Spirit/Life/Indweller to the form through which Spirit/Life/Indweller intends fully to express.

3. Ban đầu, Đấng Nội Tại không chứng nghiệm được tương quan của y với hình tướng. Sự tăng trưởng dần dần của tâm thức làm cho điều này trở nên khả hữu. Tâm thức mặc khải tương quan của tinh thần/Sự sống/Đấng Nội Tại với hình tướng mà qua đó tinh thần/Sự sống/Đấng Nội Tại dự định biểu lộ trọn vẹn.

4. With the growth of consciousness, three factors emerge:

4. Cùng với sự tăng trưởng của tâm thức, ba yếu tố xuất hiện:

a Apprehension of the relation of the Self to the form

a Sự lĩnh hội tương quan của Bản Ngã với hình tướng

b The slow utilization of the form

b Sự sử dụng chậm rãi hình tướng

c The gradual achievement by the Indweller of the control of form

c Sự thành tựu dần dần của Đấng Nội Tại trong việc kiểm soát hình tướng

This persists until that Realisation includes the cell, the group, and the totality of groups.

Điều này tiếp diễn cho đến khi sự Chứng Nghiệm ấy bao gồm cả tế bào, nhóm, và toàn thể các nhóm.

1. The realization to which the units included within any self-conscious whole eventually arrive, is the result of a greater Realization (the Realization of the Indweller) which gradually pervades the units which He indwells.

1. Sự chứng nghiệm mà các đơn vị được bao hàm trong bất kỳ toàn thể tự ý thức nào cuối cùng đạt đến, là kết quả của một sự Chứng Nghiệm lớn hơn (sự Chứng Nghiệm của Đấng Nội Tại), vốn dần dần thấm khắp các đơn vị mà Ngài ngự bên trong.

2. Man is growing in consciousness towards God; but man’s growth is the result of God’s growth in consciousness towards man, groups of men and congeries of men.

2. Con người đang tăng trưởng trong tâm thức hướng về Thượng đế; nhưng sự tăng trưởng của con người là kết quả của sự tăng trưởng trong tâm thức của Thượng đế hướng về con người, các nhóm người và những tập hợp người.

3. The consciousness of the greater grows into and pervades the consciousness of the lesser; the consciousness of the lesser grows into and is included within the consciousness of the greater.

3. Tâm thức của cái lớn hơn tăng trưởng đi vào và thấm khắp tâm thức của cái nhỏ hơn; tâm thức của cái nhỏ hơn tăng trưởng đi vào và được bao hàm trong tâm thức của cái lớn hơn.

These ideas can be applied to the three grades of consciousness referred to. As follows:

Những ý tưởng này có thể được áp dụng cho ba cấp độ tâm thức đã được nhắc đến. Như sau:

1. Earlier, DK referred to three grades of entities—Man, the Planetary Logos/Heavenly Man and the Solar Logos.

1. Trước đó, Chân sư DK đã nhắc đến ba cấp độ thực thể—Con Người, Hành Tinh Thượng đế/Đấng Thiên Nhân và Thái dương Thượng đế.

2. Now, in keeping with His theme of emphasizing the importance of synthetic quality, He is referring to these entities as “three grades of consciousness”.

2. Giờ đây, phù hợp với chủ đề của Ngài là nhấn mạnh tầm quan trọng của phẩm tính tổng hợp, Ngài đang nói đến các thực thể này như là “ba cấp độ của tâm thức”.

Man, the lowest type of coherent consciousness (using the word “consciousness” in its true connotation as the “One who knows”) is but a cell, a minute atom within a group.

Con người, loại tâm thức mạch lạc thấp nhất (dùng từ “tâm thức” theo hàm nghĩa chân thực của nó là “Đấng biết”) chỉ là một tế bào, một nguyên tử cực nhỏ bên trong một nhóm.

1. The terms “atom” and “cell” are again seen as equivalent.

1. Các thuật ngữ “nguyên tử” và “tế bào” một lần nữa được xem là tương đương.

2. One is conscious if one knows; but to be truly conscious, must one know that one knows?

2. Một người là hữu thức nếu người ấy biết; nhưng để thật sự hữu thức, người ấy có phải biết rằng mình biết không?

3. A “coherent consciousness” has a constant center and is not fragmented. The center coordinates the consciousness and renders it coherent. All states of consciousness relate to the center.

3. Một “tâm thức mạch lạc” có một trung tâm thường hằng và không bị phân mảnh. Trung tâm điều phối tâm thức và làm cho nó mạch lạc. Mọi trạng thái tâm thức đều liên hệ với trung tâm.

4. In an animal there is consciousness but no stable center or ‘ego’ to which to relate the ever-changing states of consciousness.

4. Trong một con vật có tâm thức nhưng không có trung tâm ổn định hay ‘chân ngã’ để liên hệ các trạng thái tâm thức luôn biến đổi.

A Heavenly Man represents a coherent conscious group.

Một Đấng Thiên Nhân tượng trưng cho một nhóm tâm thức mạch lạc.

1. The Heavenly Man is composed of many individual consciousnesses.

1. Đấng Thiên Nhân được cấu thành bởi nhiều tâm thức cá biệt.

2. A Heavenly Man is one and yet many. This is true of every type of consciousness progressing beyond the individual consciousness of the human being. The many know and feel themselves definitely to be the one.

2. Một Đấng Thiên Nhân là một nhưng đồng thời là nhiều. Điều này đúng với mọi loại tâm thức tiến vượt quá tâm thức cá nhân của con người. Nhiều biết và cảm nhận một cách rõ rệt rằng mình là Một.

3. There is a deep mystery here. The only way for the individual to become the One, is to move with others as if they all were One—which they are.

3. Ở đây có một huyền nhiệm sâu xa. Con đường duy nhất để cá nhân trở thành Đấng Duy Nhất là cùng chuyển động với những người khác như thể tất cả đều là Một—mà họ thật sự là như vậy.

4. The fallacy is to think that one’s individual consciousness is persistently elevated in a state of isolation from other consciousnesses.

4. Sai lầm là nghĩ rằng tâm thức cá nhân của một người liên tục được nâng cao trong một trạng thái cô lập khỏi các tâm thức khác.

5. Another way of saying this is that ‘We are the One at the Top’. The Universal Logos is the Ultimate One in Many and Many in One. The Many must know themselves not only as joined together in unity but, absolutely, as the One. This will require meditation.

5. Một cách khác để nói điều này là ‘Chúng taĐấng Duy NhấtĐỉnh Cao’. Thượng đế Vũ Trụ là Đấng Tối Hậu Một trong Nhiều và Nhiều trong Một. Nhiều phải biết chính mình không chỉ như được kết hợp trong hợp nhất mà còn, một cách tuyệt đối, như Đấng Duy Nhất. Điều này sẽ đòi hỏi tham thiền.

A solar Logos on His Own plane holds an analogous place to that of a Heavenly Man in a solar system, and from a still higher standpoint to that of a man within the solar system.

Một Thái dương Thượng đế trên cõi riêng của Ngài giữ một vị trí tương tự như vị trí của một Đấng Thiên Nhân trong một hệ mặt trời, và từ một quan điểm còn cao hơn nữa, tương tự như vị trí của một con người trong hệ mặt trời.

1. A Solar Logos is to man a great Being; to other Beings of far vaster scope, a Solar Logos is to them as a man is to Him.

1. Đối với con người, một Thái dương Thượng đế là một Đại Hữu Thể; đối với những Hữu Thể khác có tầm mức bao la hơn rất nhiều, một Thái dương Thượng đế đối với họ cũng như con người đối với Ngài.

2. To a Cosmic Logos, a Solar Logos is as a Planetary Logos is to Him (the Solar Logos).

2. Đối với một Vũ Trụ Thượng đế, một Thái dương Thượng đế cũng như một Hành Tinh Thượng đế đối với Ngài (Thái dương Thượng đế).

When the place of the solar planes within the cosmic scheme is duly apprehended it will be recognised that on cosmic levels of a high order the solar Logos is an Intelligence as relatively low in the order of cosmic consciousness as man is in relation to solar consciousness. He is but a cell in the body of the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID.

Khi vị trí của các cõi thái dương trong hệ vũ trụ được lĩnh hội đúng mức, người ta sẽ nhận ra rằng trên các cấp độ vũ trụ cao, Thái dương Thượng đế là một Trí Tuệ tương đối thấp trong trật tự tâm thức vũ trụ cũng như con người tương đối với tâm thức thái dương. Ngài chỉ là một tế bào trong thể của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ.

1. We are given a marvelous perspective which should help put relative magnitudes in proportion.

1. Chúng ta được trao cho một viễn tượng kỳ diệu, điều này sẽ giúp đặt những độ lớn tương đối vào đúng tỉ lệ.

2. A Solar Logos is, cosmically considered, not a great Being. To us, He is God!

2. Xét theo vũ trụ, một Thái dương Thượng đế không phải là một Đại Hữu Thể. Đối với chúng ta, Ngài là Thượng đế!

3. We are being told that man is but a cell in relation to a Solar Logos. Further, we are told that the Solar Logos is but a cell when compared to the One About Whom Naught May Be Said.

3. Chúng ta đang được bảo rằng con người chỉ là một tế bào trong tương quan với một Thái dương Thượng đế. Hơn nữa, chúng ta được bảo rằng Thái dương Thượng đế cũng chỉ là một tế bào khi so với Đấng Bất Khả Tư Nghị.

4. However, a man is also a cell in relation to a Planetary Logos. He cannot, then, be the same kind of cell in relation to a Solar Logos.

4. Tuy nhiên, con người cũng là một tế bào trong tương quan với một Hành Tinh Thượng đế. Vậy thì y không thể là cùng một loại tế bào trong tương quan với một Thái dương Thượng đế.

5. Which One About Whom Naught May Be Said are we talking about here? Is it a Super-Cosmic Logos (as Super-Constellational Logos), or could we be talking about the Galactic Logos? The latter possibility is more probable, as the tinyness of man when compared to the Solar Logos is more analogous to the tinyness of the Solar Logos when compared to the Galactic Logos (expressing through billions of stars).

5. Ở đây chúng ta đang nói đến Đấng Bất Khả Tư Nghị nào? Có phải là một Siêu Vũ Trụ Thượng đế (như một Thượng đế Siêu Chòm Sao), hay có thể chúng ta đang nói đến Ngân Hà Thượng đế? Khả năng sau có vẻ xác đáng hơn, vì sự nhỏ bé của con người khi so với Thái dương Thượng đế tương tự hơn với sự nhỏ bé của Thái dương Thượng đế khi so với Ngân Hà Thượng đế (biểu lộ qua hàng tỉ ngôi sao).

6. The One we usually refer to as the One About Whom Naught May Be Said is, in a way, only two removes away from the Solar Logos. In other words, we move from a Solar Logos to a Constellational Logos to a Super-Constellational Logos (the usual One About Whom Naught May Be Said). But we note that the name of this being is completely capitalized—maybe a hint, that the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID is far greater than a Super-Cosmic Logos. The billions of men within a Solar Logos correspond more closely to the billions of stars within a galaxy than to the number of Solar Logoi within a Super-Cosmic Logos (a relatively small being as great as it may seem to us).

6. Đấng mà chúng ta thường gọi là Đấng Bất Khả Tư Nghị, theo một nghĩa nào đó, chỉ cách Thái dương Thượng đế hai bậc. Nói cách khác, chúng ta đi từ một Thái dương Thượng đế đến một Chòm Sao Thượng đế rồi đến một Siêu Chòm Sao Thượng đế (Đấng Bất Khả Tư Nghị thông thường). Nhưng chúng ta lưu ý rằng danh xưng của Hữu Thể này được viết hoàn toàn bằng chữ hoa—có lẽ là một gợi ý rằng ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ vĩ đại hơn rất nhiều so với một Siêu Vũ Trụ Thượng đế. Hàng tỉ con người trong một Thái dương Thượng đế tương ứng gần gũi hơn với hàng tỉ ngôi sao trong một thiên hà hơn là với số lượng các Thái dương Thượng đế trong một Siêu Vũ Trụ Thượng đế (một hữu thể tương đối nhỏ dù đối với chúng ta có vẻ vĩ đại đến đâu).

His work parallels on cosmic levels the work of man on the solar planes. He has to undergo on the three lower cosmic planes a process of developing an apprehension of His environment of the same nature as man in the three worlds.

Công việc của Ngài song hành trên các cấp độ vũ trụ với công việc của con người trên các cõi thái dương. Ngài phải trải qua trên ba cõi vũ trụ thấp một tiến trình phát triển sự lĩnh hội về môi trường của Ngài có cùng bản chất như con người trong ba cõi thấp.

1. In stage one above, (point “a.”) man is awakening to consciousness on the three lower systemic planes.

1. Trong giai đoạn một ở trên, (điểm “a.”) con người đang thức tỉnh đến tâm thức trên ba cõi hệ thống thấp.

2. The corresponding stage for a Solar Logos would be His awakening to consciousness on the three lower cosmic planes.

2. Giai đoạn tương ứng đối với một Thái dương Thượng đế sẽ là sự thức tỉnh của Ngài đến tâm thức trên ba cõi vũ trụ thấp.

3. We note, however, that in the tabulation (appended to this Commentary) that the awakening of the Solar Logos which parallels the awakening of man on the three lower systemic planes, is an awakening of the Solar Logos on seven systemic planes. So the analogy presented in the excerpt immediately above is not presented in the large comparison between three entities found in this Commentary. The analogy presented immediately above is a truer analogy.

3. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý rằng trong bảng liệt kê (được phụ thêm vào Bản Bình Giải này), sự thức tỉnh của Thái dương Thượng đế song hành với sự thức tỉnh của con người trên ba cõi hệ thống thấp lại là sự thức tỉnh của Thái dương Thượng đế trên bảy cõi hệ thống. Vì vậy phép tương đồng được trình bày trong đoạn trích ngay bên trên không được trình bày trong sự so sánh lớn giữa ba thực thể tìm thấy trong Bản Bình Giải này. Phép tương đồng được trình bày ngay bên trên là phép tương đồng đúng hơn.

4. The analogy of man’s eventual mastery of three systemic planes to the Solar Logos’ eventually mastery of three cosmic planes seems sound and, no doubt, at some time, must be fulfilled. The question would be: “Does man complete his apprehension of the three lower worlds at the same time as the Solar Logos completes His apprehension of the three lower cosmic planes. It would seem that the period of the Solar Logos’ apprehension would come somewhat later in the process even though the development of man, the Planetary Logos and the Solar Logos all parallel each other.

4. Phép tương đồng giữa việc con người cuối cùng làm chủ ba cõi hệ thống với việc Thái dương Thượng đế cuối cùng làm chủ ba cõi vũ trụ có vẻ vững chắc và chắc chắn vào một lúc nào đó phải được hoàn tất. Câu hỏi sẽ là: “Con người có hoàn tất sự lĩnh hội của mình về ba cõi thấp cùng lúc với khi Thái dương Thượng đế hoàn tất sự lĩnh hội của Ngài về ba cõi vũ trụ thấp không?” Có vẻ như giai đoạn lĩnh hội của Thái dương Thượng đế sẽ đến muộn hơn đôi chút trong tiến trình mặc dù sự phát triển của con người, Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế đều song hành với nhau.

This fact should be remembered by all students [Page 296] of this central division of our subject; above all the analogy between the cosmic physical planes and the solar physical planes must be pondered upon. It holds hid the fourfold mystery:

Sự kiện này cần được ghi nhớ bởi tất cả các đạo sinh [Page 296] của phần trung tâm này trong chủ đề của chúng ta; trên hết, sự tương đồng giữa các cõi hồng trần vũ trụ và các cõi hồng trần thái dương phải được suy gẫm. Nó che giấu huyền nhiệm tứ phân:

1. Below are some speculations relating to the fourfold mystery.

1. Dưới đây là một vài suy đoán liên quan đến huyền nhiệm tứ phân.

2. The fourfoldness of the mystery suggests the relation between the four cosmic ethers and the four systemic ethers.

2. Tính tứ phân của huyền nhiệm gợi ý mối liên hệ giữa bốn dĩ thái vũ trụ và bốn dĩ thái hệ thống.

3. The number four is profoundly important to man (a member of the “Fourth Creative Hierarchy”, to our Planetary Logos (expressing through a planet the symbol of which is fourfold cross within the circle and which is fourth in order from the Sun if Vulcan is counted), and to the Solar Logos (Who expresses through a system of the “fourth order”)

3. Con số bốn có tầm quan trọng sâu xa đối với con người (một thành viên của “Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư”), đối với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta (biểu lộ qua một hành tinh có biểu tượng là thập giá tứ phân trong vòng tròn và đứng hàng thứ tư tính từ Mặt Trời nếu tính cả Vulcan), và đối với Thái dương Thượng đế (Đấng biểu lộ qua một hệ thống thuộc “trật tự thứ tư”)

1. The mystery of the Akasha.

1. Huyền nhiệm của Akasha.

1. It is evident that the Akasha, or the substance of the monadic plane, is important to both the Planetary Logos and the Solar Logos, though in different ways. We might study the Akasha to discover the mystery of the Monad, and its sounding through an entire descent and return as the Divine Pilgrim.

1. Rõ ràng là Akasha, hay chất liệu của cõi chân thần, quan trọng đối với cả Hành Tinh Thượng đế lẫn Thái dương Thượng đế, dù theo những cách khác nhau. Chúng ta có thể nghiên cứu Akasha để khám phá huyền nhiệm của chân thần, và sự xướng của nó xuyên suốt toàn bộ cuộc giáng hạ và trở về như Người Hành Hương Thiêng Liêng.

2. There must be many mysteries related to the Akasha, but we are looking for one which relates cosmic entities to solar systemic entities, or cosmic planes to solar ones.

2. Ắt hẳn có nhiều huyền nhiệm liên quan đến Akasha, nhưng chúng ta đang tìm một huyền nhiệm liên hệ các thực thể vũ trụ với các thực thể hệ thống thái dương, hoặc các cõi vũ trụ với các cõi thái dương.

3. When considering this subject, there is one very evident mystery: why should the Heavenly Man and Solar Logos, who in scope and power are reasonably similar, be so different in their expression—with the Solar Logos obliged to master two and a half cosmic subplanes, and the Heavenly Man obliged to master only the triadal planes of the cosmic physical plane. The Heavenly Men/Planetary Logoi are focused in the Akasha (a relatively low point, given that their causal bodies are found on the cosmic mental plane just as the causal body of a Solar Logos is).

3. Khi xem xét chủ đề này, có một huyền nhiệm rất hiển nhiên: tại sao Đấng Thiên Nhân và Thái dương Thượng đế, vốn tương đối tương đồng về tầm mức và quyền năng, lại khác biệt đến thế trong sự biểu lộ của các Ngài—với Thái dương Thượng đế buộc phải làm chủ hai cõi phụ rưỡi vũ trụ, còn Đấng Thiên Nhân chỉ buộc phải làm chủ các cõi tam nguyên tinh thần của cõi hồng trần vũ trụ. Các Đấng Thiên Nhân/Hành Tinh Thượng đế được tập trung trong Akasha (một điểm tương đối thấp, xét rằng các thể nguyên nhân của các Ngài được tìm thấy trên cõi trí vũ trụ cũng như thể nguyên nhân của một Thái dương Thượng đế vậy).

4. Again, are we speaking of the Planetary Logos, per se, or of one of the two other types of Heavenly Men which are part of the body of expression of the Planetary Logos?

4. Một lần nữa, chúng ta đang nói về chính Hành Tinh Thượng đế, hay về một trong hai loại Đấng Thiên Nhân khác vốn là một phần của thể biểu lộ của Hành Tinh Thượng đế?

5. The Mystery of the Akasha is related to the mystery of sound; the mystery of sound is related to the mystery of the Monad and its archetypal nature. The archetype sounds and structures all substances under its influence.

5. Huyền Nhiệm của Akasha liên hệ với huyền nhiệm của âm thanh; huyền nhiệm của âm thanh liên hệ với huyền nhiệm của chân thần và bản chất nguyên mẫu của nó. Nguyên mẫu xướng lên và cấu trúc mọi chất liệu dưới ảnh hưởng của nó.

2. The secret of the fifth round.

2. Bí mật của cuộc tuần hoàn thứ năm.

1. This secret may well have to do with the relationship between the number two and five. Remember how many fifth ray Monads are found treading the second Cosmic Path of Magnetic Work.

1. Bí mật này rất có thể liên quan đến mối tương quan giữa số hainăm. Hãy nhớ có bao nhiêu chân thần cung năm đang bước trên Con Đường Vũ Trụ thứ hai của Công Tác Từ Tính.

A large number of fifth ray people, those who have the Ray of Concrete Knowledge for their monadic ray, pass to this line of endeavour. (IHS 187)

Một số lượng lớn những người cung năm, những người có Cung Tri Thức Cụ Thể làm cung chân thần của mình, đi vào đường nỗ lực này. (IHS 187)

1. It may be that in the fifth round, the cosmic astral plane will be influential upon the cosmic ethers and that the solar logoic Solar Angel, as a super “Heart of Fiery Love”, will work through the cosmic astral plane to bring increasing cosmic love to the cosmic physical plane.

1. Có thể là trong cuộc tuần hoàn thứ năm, cõi cảm dục vũ trụ sẽ có ảnh hưởng lên các dĩ thái vũ trụ và Thái dương Thiên Thần logoic thái dương, như một “Trái Tim của Tình Yêu Rực Lửa” siêu, sẽ hoạt động qua cõi cảm dục vũ trụ để mang tình thương vũ trụ ngày càng gia tăng đến cõi hồng trần vũ trụ.

2. Again there are many mysteries to the fifth round (mysterious to us), but we are looking for a mystery based on the relationship between cosmic and solar planes.

2. Một lần nữa có nhiều huyền nhiệm đối với cuộc tuần hoàn thứ năm (huyền nhiệm đối với chúng ta), nhưng chúng ta đang tìm một huyền nhiệm dựa trên mối tương quan giữa các cõi vũ trụ và các cõi thái dương.

3. The esoteric significance of Saturn, the third planet.

3. Thâm nghĩa huyền bí của Sao Thổ, hành tinh thứ ba.

1. Well, Saturn is the correspondence to the logoic physical permanent atom (TCF 406). Esoteric Saturn is discussed on TCF 777.

1. Sao Thổ là sự tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần logoic (TCF 406). Sao Thổ huyền bí được bàn đến ở TCF 777.

2. We may be dealing with the difference between the entire personality nature of the Solar Logos ruled by Saturn (as it expresses on the cosmic physical plane, the cosmic astral plane and four subplanes of the cosmic mental plane), and the cosmic physical plane as the domain of Saturn.

2. Chúng ta có thể đang đề cập đến sự khác biệt giữa toàn bộ bản chất phàm ngã của Thái dương Thượng đế do Sao Thổ cai quản (khi nó biểu lộ trên cõi hồng trần vũ trụ, cõi cảm dục vũ trụ và bốn cõi phụ của cõi trí vũ trụ), cõi hồng trần vũ trụ như là lãnh vực của Sao Thổ.

3. Saturn is a physical indicator, but what is physical and to whom?

3. Sao Thổ là một chỉ báo hồng trần, nhưng điều gìhồng trần và đối với ai?

4. In the fifth round the lower realm of Saturn (the eighteen lower sub-planes) will be divided from the realm of Venus, the higher mind. Remember that we were talking about the secret of the fifth round.

4. Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, lãnh vực thấp hơn của Sao Thổ (mười tám cõi phụ thấp hơn) sẽ được phân chia khỏi lãnh vực của Sao Kim, thượng trí. Hãy nhớ rằng chúng ta đang nói về bí mật của cuộc tuần hoàn thứ năm.

5. This may also work out cosmically, with the eighteen lower cosmic sub-planes being divided from the realm whereon the solar logoic Solar Angel rules.

5. Điều này cũng có thể diễn ra trên bình diện vũ trụ, với mười tám cõi phụ thấp hơn vũ trụ được phân chia khỏi lãnh vực nơi Thái dương Thiên Thần logoic thái dương cai quản.

6. Saturn is involved in this division.

6. Sao Thổ có liên quan trong sự phân chia này.

7. So what is physical?

7. Vậy điều gìhồng trần?

8. The eighteen lower cosmic sub-planes are physical because they are the personality nature of the Solar Logos

8. Mười tám cõi phụ vũ trụ thấp hơn là hồng trần vì chúng là bản chất phàm ngã của Thái dương Thượng đế

9. The entire cosmic physical plane is physical

9. Toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ là hồng trần

10. The lower three worlds are physical (twenty one subplanes are physical to the Solar Logos and eighteen to the Planetary Logos)

10. Ba cõi thấp là hồng trần (hai mươi mốt cõi phụ là hồng trần đối với Thái dương Thượng đế và mười tám đối với Hành Tinh Thượng đế)

11. The systemic (solar) physical plane is physical

11. Cõi hồng trần hệ thống (thái dương) là hồng trần

4. The occult nature of cosmic kundalini, or the electrical force of the system.

4. Bản chất huyền bí của kundalini vũ trụ, hay mãnh lực điện của hệ thống.

1. There may be a relationship to Draco the Dragon representing the base of the spine center in the One About Whom Naught May Be Said.

1. Có thể có một mối liên hệ với Draco, Con Rồng tượng trưng cho trung tâm đáy cột sống trong Đấng Bất Khả Tư Nghị.

2. Draco works through the Pleiades and through Libra, and Venus is related to both.

2. Draco hoạt động qua Pleiades và qua Libra, và Sao Kim có liên hệ với cả hai.

“He is the meeting place for two types of force, spiritual or logoic, which reaches Him (via the logoic Lotus on cosmic mental planes) from the seven Rishis of the Great Bear on Their own plane, [atmic?] and, secondly, of buddhic force, which is transmitted via the Seven Sisters or the Pleiades from a constellation called the Dragon in some books, and from which has come the appellation “The Dragon of Wisdom.” (TCF 1162)

“Ngài là điểm gặp gỡ của hai loại mãnh lực, tinh thần hay logoic, đến với Ngài (qua Hoa sen logoic trên các cõi trí vũ trụ) từ bảy Đấng Rishi của Đại Hùng Tinh trên cõi riêng của Các Ngài, [atmic?] và, thứ hai, của mãnh lực Bồ đề, được truyền qua Bảy Chị Em hay Pleiades từ một chòm sao được gọi là Con Rồng trong một số sách, và từ đó mà có danh xưng “Con Rồng Minh Triết.” (TCF 1162)

1. Venus, is probably a planet who benefits very much from cosmic Kundalini.

1. Sao Kim có lẽ là một hành tinh được hưởng lợi rất nhiều từ kundalini vũ trụ.

2. Venus (focused in its 5th chain and 5th globe) is more advanced than any, and probably intimately related to the mystery of the fifth round.

2. Sao Kim (được tập trung trong dãy thứ 5 và bầu hành tinh thứ 5 của nó) tiến hóa hơn bất kỳ hành tinh nào khác, và có lẽ liên hệ mật thiết với huyền nhiệm của cuộc tuần hoàn thứ năm.th th

3. Two Triangles emerge:

3. Hai Tam Giác xuất hiện:

a Draco-Libra-Venus

a Draco-Libra-Sao Kim

b Draco-Pleiades –Venus

b Draco-Pleiades –Sao Kim

1. Is there a relationship between Draco and our Sun that is like the relationship between our Sun and the Earth?

1. Có mối liên hệ nào giữa Draco và Mặt Trời của chúng ta giống như mối liên hệ giữa Mặt Trời của chúng ta và Trái Đất không?

2. I will have to speculate further about which particular planets are connected by cosmic kundalini. Our Earth is very much involved presently, as the Solar Logos appears to be undergoing an initiation through the fourth scheme—ours! And we are a base of the spine center (or will be fully so some day)

2. Tôi sẽ còn phải suy đoán thêm về những hành tinh cụ thể nào được nối kết bởi kundalini vũ trụ. Trái Đất của chúng ta hiện nay liên hệ rất nhiều, vì Thái dương Thượng đế dường như đang trải qua một cuộc điểm đạo qua hệ hành tinh thứ tư—hệ của chúng ta! Và chúng ta là một trung tâm đáy cột sống (hoặc một ngày nào đó sẽ hoàn toàn như vậy)

3. I think Uranus and Saturn are also involved and Venus cannot be ignored.

3. Tôi nghĩ Sao Thiên Vương và Sao Thổ cũng có liên quan và không thể bỏ qua Sao Kim.

4. There is something going on in our solar system now between the cosmic ethers and the cosmic dense planes. This means that there is stimulated a relationship between Uranus (cosmic ethers) and Saturn (cosmic dense—in one of its lower rulerships). Since Earth is being initiated, Venus is involved in this initiation, so a kundalinic interplay may be going on between these two planets.

4. Hiện nay trong hệ mặt trời của chúng ta đang có điều gì đó diễn ra giữa các dĩ thái vũ trụ và các cõi đậm đặc vũ trụ. Điều này có nghĩa là một mối liên hệ được kích thích giữa Sao Thiên Vương (các dĩ thái vũ trụ) và Sao Thổ (đậm đặc vũ trụ—trong một trong những quyền cai quản thấp hơn của nó). Vì Trái Đất đang được điểm đạo, Sao Kim có liên quan trong cuộc điểm đạo này, nên một sự tương tác kundalini có thể đang diễn ra giữa hai hành tinh này.

One hint on this fourth point may be given for wise consideration. When the electrical interplay between the planets is better ascertained (and by this I mean their negative or positive interplay), then it will be revealed which are related or connected, and which are nearing the point of balance.

Một gợi ý về điểm thứ tư này có thể được đưa ra để suy xét một cách minh triết. Khi sự tương tác điện giữa các hành tinh được xác định rõ hơn (và bởi điều này tôi muốn nói đến sự tương tác âm hay dương của chúng), khi ấy sẽ được mặc khải hành tinh nào có liên hệ hay nối kết, và hành tinh nào đang tiến gần đến điểm quân bình.

1. In astrology we are given certain planetary pairs which suggest interplay. These pairs may or may not be related as positive to negative.

1. Trong chiêm tinh học, chúng ta được trao cho một số cặp hành tinh gợi ý sự tương tác. Những cặp này có thể có hoặc không có liên hệ như dương đối với âm.

2. Of course, all the planets are related and connected, but some especially so.

2. Dĩ nhiên, mọi hành tinh đều có liên hệ và nối kết, nhưng một số đặc biệt hơn.

3. It is inferred that the relationships which result in positive and negative interplay are useful in helping the Planetary Logoi involved to establish a point of balance.

3. Người ta suy ra rằng những mối liên hệ dẫn đến sự tương tác dương và âm hữu ích trong việc giúp các Hành Tinh Thượng đế liên quan thiết lập một điểm quân bình.

4. Presumably a planet with an established point of balance exhibits equilibrised electricity and is not involved in electrical interplay, just as the inert gases (or “noble” gases) do not combine with other elements as do elements with positive and negative valences.

4. Có lẽ một hành tinh với điểm quân bình đã được thiết lập biểu lộ điện năng được quân bình hóa và không tham gia vào sự tương tác điện, cũng như các khí trơ (hay khí “quý”) không kết hợp với các nguyên tố khác như các nguyên tố có hóa trị dương và âm vẫn làm.

5. A student in one of the classes offers the following interesting thought: “Here is a comment on the Akasha, in regard to the Planetary Logos. In view of the fact that His causal body is on the third Subplane of the Cosmic Mental, it seems that we could infer that He is still focused upon his physical nature, hence upon the Monadic plane. Yet we are told that He has passed already the first initiation. Thus, we would expect, by analogy, that He would have shifted the focus of His causal body onto the second Subplane, and his focus of attention upon the Cosmic Astral plane rather than on the Cosmic Physical!

5. Một đạo sinh trong một lớp học đưa ra ý tưởng thú vị sau đây: “Đây là một nhận xét về Akasha, liên quan đến Hành Tinh Thượng đế. Xét theo sự kiện rằng thể nguyên nhân của Ngài ở trên cõi phụ thứ ba của cõi trí vũ trụ, dường như chúng ta có thể suy ra rằng Ngài vẫn còn tập trung vào bản chất hồng trần của Ngài, do đó vào cõi chân thần. Tuy nhiên, chúng ta được bảo rằng Ngài đã vượt qua lần điểm đạo thứ nhất. Vì vậy, theo phép tương đồng, chúng ta sẽ mong đợi rằng Ngài đã chuyển tiêu điểm của thể nguyên nhân của Ngài lên cõi phụ thứ hai, và tiêu điểm chú ý của Ngài lên cõi cảm dục vũ trụ thay vì cõi hồng trần vũ trụ!

6. I have been attempting to call attention to the three different types of Heavenly Men within our planetary scheme. There is no question that our Planetary Logos, as the major planetary Heavenly Man of our planetary scheme, is focussed mainly on the cosmic astral plane. There are, however, subsidiary Heavenly Men within His body of expression—Chain Lord and Globe Lords, and it would be more natural for these aspects of Himself to be focussed on the cosmic physical plane.

6. Tôi đã cố gắng kêu gọi sự chú ý đến ba loại Đấng Thiên Nhân khác nhau trong hệ hành tinh của chúng ta. Không có nghi ngờ gì rằng Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, với tư cách là Đấng Thiên Nhân hành tinh chính yếu của hệ hành tinh chúng ta, được tập trung chủ yếu trên cõi cảm dục vũ trụ. Tuy nhiên, có những Đấng Thiên Nhân phụ thuộc trong thể biểu lộ của Ngài—Chúa Tể của Dãy và các Chúa Tể của bầu hành tinh, và sẽ tự nhiên hơn nếu những phương diện này của chính Ngài được tập trung trên cõi hồng trần vũ trụ.

7. In a way, through them, our Planetary Logos is focussed on the cosmic physical plane.

7. Theo một nghĩa nào đó, qua các Ngài, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta được tập trung trên cõi hồng trần vũ trụ.

8. Our Solar Logos, while polarized on the cosmic astral plane, is developing cosmic mind, and so must be active on the cosmic mental plane.

8. Thái dương Thượng đế của chúng ta, trong khi phân cực trên cõi cảm dục vũ trụ, đang phát triển trí tuệ vũ trụ, và vì thế phải hoạt động trên cõi trí vũ trụ.

We have been told that the solar Logos, on the cosmic planes, works at the problem of cosmic mind; that He functions in His physical solar system, is polarised in His cosmic astral, or emotional body, and is developing [53] cosmic mind. (LOM 52-53)

Chúng ta đã được bảo rằng Thái dương Thượng đế, trên các cõi vũ trụ, đang làm việc với vấn đề trí tuệ vũ trụ; rằng Ngài hoạt động trong hệ mặt trời hồng trần của Ngài, được phân cực trong thể cảm dục, hay cảm xúc, vũ trụ của Ngài, và đang phát triển [53] trí tuệ vũ trụ. (LOM 52-53)

1. Just as it is said that our Heavenly Man is working on the triadal levels of the cosmic physical plane, so it is said the our Solar Logos is working on all seven levels of the cosmic physical plane. And yet He is developing cosmic mind.

1. Cũng như người ta nói rằng Đấng Thiên Nhân của chúng ta đang làm việc trên các cấp độ tam nguyên tinh thần của cõi hồng trần vũ trụ, thì cũng nói rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta đang làm việc trên cả bảy cấp độ của cõi hồng trần vũ trụ. Tuy nhiên, Ngài đang phát triển trí tuệ vũ trụ.

2. If the Planetary Logos is working on the cosmic physical plane through His extensions (two lesser types of Heavenly Men), through what sort of extensions is the Solar Logos (essentially focussed on developing cosmic mind) working on the cosmic physical plane? Through certain of the Planetary Logoi?

2. Nếu Hành Tinh Thượng đế đang làm việc trên cõi hồng trần vũ trụ qua các sự mở rộng của Ngài (hai loại Đấng Thiên Nhân thấp hơn), thì Thái dương Thượng đế (về căn bản được tập trung vào việc phát triển trí tuệ vũ trụ) đang làm việc trên cõi hồng trần vũ trụ qua loại sự mở rộng nào? Qua một số Hành Tinh Thượng đế nào đó chăng?

3. We have the following:

3. Chúng ta có điều sau đây:

a The Planetary Logos focussed on the cosmic astral plane (fourth and fifth sub-planes), yet seeking in some manner (whether through extensions of Himself or not) to work on the triadal levels of the cosmic physical plane.

a Hành Tinh Thượng đế được tập trung trên cõi cảm dục vũ trụ (cõi phụ thứ tư và thứ năm), tuy vậy vẫn tìm cách nào đó (dù qua các sự mở rộng của chính Ngài hay không) để hoạt động trên các cấp độ tam nguyên tinh thần của cõi hồng trần vũ trụ.

b The Solar Logos, polarized on cosmic astral levels, but working on the cosmic mental plane to develop cosmic mind, yet, seeking, in some manner (whether through extensions of Himself or not) the mastery of the seven sub-planes of the cosmic physical plane. Perhaps He has already done this, as He has moved beyond the first cosmic initiation.

b Thái dương Thượng đế, phân cực trên các cấp độ cảm dục vũ trụ, nhưng đang hoạt động trên cõi trí vũ trụ để phát triển trí tuệ vũ trụ, tuy vậy vẫn tìm cách nào đó (dù qua các sự mở rộng của chính Ngài hay không) làm chủ bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ. Có lẽ Ngài đã làm được điều này rồi, vì Ngài đã vượt quá lần điểm đạo vũ trụ thứ nhất.

4. Although the level of the development of Man, the Heavenly Man (as Planetary Logos) and the Solar Logos are roughly analogous, they are not exactly analogous, as a close examination of the appended tabulation will reveal.

4. Mặc dù cấp độ phát triển của Con Người, Đấng Thiên Nhân (với tư cách là Hành Tinh Thượng đế) và Thái dương Thượng đế đại thể là tương đồng, nhưng chúng không hoàn toàn tương đồng, như một sự khảo sát kỹ lưỡng bảng đối chiếu kèm theo sẽ cho thấy.

Scroll to Top