Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến trang sách tương ứng trong TCF
S3S8: TCF 296-307
|
for July 25. to |
cho ngày 25 tháng 7. đến |
|
Two-week Review Session to Follow |
Tiếp theo là Buổi Ôn Tập Hai Tuần |
|
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) |
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện) |
|
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. |
Đề nghị đọc phần Bình Luận này với quyển TCF ở bên cạnh, để bảo đảm tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ ra, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. |
|
1. We recall our context, the nine introductory questions to the second section of A Treatise on Cosmic Fire—Solar Fire, the Fire of Mind. |
1. Chúng ta nhớ lại bối cảnh của mình, chín câu hỏi nhập đề cho phần thứ hai của Luận về Lửa Vũ Trụ—Lửa Thái dương, lửa của trí tuệ. |
|
2. We are dealing here with the second part of the last question; the first part of the question on the relation between the ten schemes and all the septenates dealt with the inter-related parts. |
2. Ở đây chúng ta đang bàn đến phần thứ hai của câu hỏi cuối cùng; phần thứ nhất của câu hỏi về mối liên hệ giữa mười hệ hành tinh và tất cả các bộ bảy đã bàn đến các phần có liên hệ tương hỗ. |
|
3. The following excerpt is taken from the end of the Earlier section but belongs with that which is following: |
3. Đoạn trích sau đây được lấy từ cuối phần trước nhưng thuộc về phần tiếp theo: |
|
I would here point out very briefly certain facts, not pausing to elaborate or to elucidate, but simply making various statements which—as the knowledge of man progresses—will assume their rightful place in the ordered scheme. |
Ở đây tôi muốn chỉ ra thật vắn tắt một số sự kiện, không dừng lại để khai triển hay làm sáng tỏ, mà chỉ đơn giản nêu ra nhiều phát biểu khác nhau; những phát biểu này—khi tri thức của con người tiến bộ—sẽ đảm nhận vị trí thích đáng của chúng trong hệ thống có trật tự. |
|
4. We can see that Master DK is writing for the long term. We can understand that many important seeds of knowledge are planted by this book. |
4. Chúng ta có thể thấy rằng Chân sư DK đang viết cho dài hạn. Chúng ta có thể hiểu rằng nhiều hạt giống tri thức quan trọng được gieo xuống bởi quyển sách này. |
|
They will then be seen as enlightening and revealing the necessary sequence of development. |
Khi ấy chúng sẽ được thấy là soi sáng và mặc khải trình tự phát triển cần thiết. |
|
5. As esotericists, we have the same obligation. Much that we believe and teach will not be immediately assimilated, but we work for the future as much as the present and must not be discouraged by this necessity. |
5. Với tư cách là các nhà bí truyền học, chúng ta cũng có cùng nghĩa vụ ấy. Nhiều điều chúng ta tin và giảng dạy sẽ không được đồng hoá ngay lập tức, nhưng chúng ta làm việc cho tương lai cũng nhiều như cho hiện tại và không được nản lòng vì sự cần thiết này. |
|
2. The Work of the Atomic Units. |
2. Công Việc của các Đơn Vị Nguyên Tử. |
|
a. The seven Heavenly Men, considered in relation to the Entity of Whom the solar Logos is a reflection, are as the seven centres in the physical body of a human being. This will be realised as the correspondence between the cosmic physical plane and the systemic physical plane is studied. |
a. Bảy Đấng Thiên Nhân, được xét trong mối liên hệ với Thực Thể mà Thái dương Thượng đế là một phản ánh của Ngài, cũng như bảy trung tâm trong thể xác của một con người. Điều này sẽ được chứng nghiệm khi sự tương ứng giữa cõi hồng trần vũ trụ và cõi hồng trần hệ thống được nghiên cứu. |
|
6. VSK offers: “We recall the importance of ‘knowing the charts’; of memorizing the septenates of the planes, the various names and centers which reside on each plane or subplane. If anyone is having trouble with the names and levels at this stage, a further study on the various charts in TCF will repay the time and will ensure the work to follow proceeds as clearly as possible in your mind”. |
6. VSK đưa ra: “Chúng ta nhớ lại tầm quan trọng của việc ‘biết các biểu đồ’; của việc ghi nhớ các bộ bảy của các cõi, các tên gọi và trung tâm khác nhau cư ngụ trên mỗi cõi hay cõi phụ. Nếu ở giai đoạn này có ai gặp khó khăn với các tên gọi và cấp độ, thì việc nghiên cứu thêm các biểu đồ khác nhau trong TCF sẽ đáng với thời gian bỏ ra và sẽ bảo đảm rằng công việc tiếp theo diễn tiến rõ ràng nhất có thể trong trí tuệ của bạn”. |
|
7. We will attempt to place the names of the planets in relation to these centers; this is a key problem for the disciples to solve in dealing with this Treatise. |
7. Chúng ta sẽ cố gắng đặt tên các hành tinh trong mối liên hệ với các trung tâm này; đây là một vấn đề then chốt để các đệ tử giải quyết khi nghiên cứu bộ Luận này. |
|
8. DK speaks above of the “physical body of a human being”. The seven centers are in the etheric body of the human being, which body is also considered physical from the occult perspective. |
8. Ở trên, DK nói về “thể xác của một con người”. Bảy trung tâm nằm trong thể dĩ thái của con người, mà thể này cũng được xem là hồng trần từ quan điểm huyền bí học. |
|
9. We must assume here that DK is not talking about the physical glands, all of which are found upon the densest level of the systemic physical plane. |
9. Ở đây chúng ta phải giả định rằng DK không nói về các tuyến hồng trần, tất cả đều được tìm thấy trên cấp độ đậm đặc nhất của cõi hồng trần hệ thống. |
|
Evolution of a Solar Logos |
Sự Tiến Hóa của một Thái dương Thượng đế |


|
10. We note from Chart V (TCF 344), Evolution of a Solar Logos, that “The Seven Planetary Logoi” are to be found on the second systemic sub-plane of the cosmic physical plane. If they are as etheric centers, their location is on the second cosmic ether. |
10. Từ Biểu đồ V (TCF 344), Sự Tiến Hóa của một Thái dương Thượng đế, chúng ta lưu ý rằng “Bảy Hành Tinh Thượng đế” được tìm thấy trên cõi phụ hệ thống thứ hai của cõi hồng trần vũ trụ. Nếu các Ngài là các trung tâm dĩ thái, thì vị trí của các Ngài nằm trên dĩ thái vũ trụ thứ hai. |
|
11. If the position of these Planetary Logoi is compared with the position of man’s etheric centers in Chart VIII (TCF 817), it will be noticed that man’s centers are spread across the four systemic ethers (though we must bear in mind that the large chart may be somewhat generalized): |
11. Nếu vị trí của các Hành Tinh Thượng đế này được so sánh với vị trí các trung tâm dĩ thái của con người trong Biểu đồ VIII (TCF 817), sẽ nhận thấy rằng các trung tâm của con người trải rộng qua bốn dĩ thái hệ thống (mặc dù chúng ta phải ghi nhớ rằng biểu đồ lớn có thể phần nào được khái quát hóa): |
|
a. Man’s she head center is located on the atomic level of the etheric plane. |
a. Trung tâm đầu của con người nằm trên cấp độ nguyên tử của cõi dĩ thái. |
|
b. The heart center is located on the sub-atomic level of the etheric plane. |
b. Trung tâm tim nằm trên cấp độ hạ nguyên tử của cõi dĩ thái. |
|
c. The throat center is located on the super-etheric level of the etheric plane. |
c. Trung tâm cổ họng nằm trên cấp độ siêu dĩ thái của cõi dĩ thái. |
|
d. The base of the spine center, sacral center, the solar plexus center and the splenic center are all located on the fourth ether. |
d. Trung tâm đáy cột sống, trung tâm xương cùng, trung tâm tùng thái dương và trung tâm lá lách đều nằm trên dĩ thái thứ tư. |
|
e. It will be noticed that the splenic center is a minor center and that a major center, the ajna center is omitted. It is a higher center in some senses, and is easily related either to the number four or two. |
e. Cần lưu ý rằng trung tâm lá lách là một trung tâm phụ và rằng một trung tâm chính, trung tâm ajna, đã bị bỏ qua. Theo một số nghĩa, đó là một trung tâm cao hơn, và dễ dàng liên hệ hoặc với số bốn hoặc số hai. |
|
f. It is doubtful that the ajna center, being a center which is both higher and more complex than the throat center, belongs on the fourth ether, but the numerical resonance is there. For the moment, and until more is known, we will refrain from attempting to place it. |
f. Đáng ngờ rằng trung tâm ajna, là một trung tâm vừa cao hơn vừa phức tạp hơn trung tâm cổ họng, lại thuộc về dĩ thái thứ tư, nhưng sự cộng hưởng số học thì có đó. Tạm thời, và cho đến khi biết thêm, chúng ta sẽ không cố gắng đặt nó vào vị trí nào. |
|
12. It may be that the Chart VI has conventionalized the placement of the Planetary Logoi. Perhaps, placing them in their proper relations on the cosmic physical plane would have made the chart too busy or cluttered. We will have to search for hints in this regard. |
12. Có thể Biểu đồ VI đã quy ước hóa việc đặt vị trí các Hành Tinh Thượng đế. Có lẽ việc đặt các Ngài vào đúng các tương quan của mình trên cõi hồng trần vũ trụ sẽ làm biểu đồ trở nên quá rối hoặc chật chội. Chúng ta sẽ phải tìm kiếm những gợi ý về phương diện này. |
|
13. As it now stands, all the seven Planetary Logoi are located on the higher correspondence to the sub-atomic ether, which, given the uneven development of the Planetary Logoi may not seem justifiable. None of the Planetary Logoi are placed on the higher correspondence to the atomic ether. Instead, on that level, we find “The Three Logoi”. |
13. Theo cách nó hiện đang được trình bày, cả bảy Hành Tinh Thượng đế đều nằm trên sự tương ứng cao hơn với dĩ thái hạ nguyên tử, điều này, xét đến sự phát triển không đồng đều của các Hành Tinh Thượng đế, có thể dường như không chính đáng. Không Hành Tinh Thượng đế nào được đặt trên sự tương ứng cao hơn với dĩ thái nguyên tử. Thay vào đó, ở cấp độ ấy, chúng ta thấy “Ba Thượng đế”. |
|
14. There is no immediate reason to suppose that these Three Logoi are, necessarily, Planetary Logoi. As explained elsewhere, they may simply be the Brahma, Vishnu and Shiva of our particular solar system, and correspondences to the three Buddhas of Activity Who surround Sanat Kumara (cf. TCF 1238). We note that the word “Planetary” is omitted from the title that describes these three triangles. |
14. Không có lý do trực tiếp nào để giả định rằng Ba Thượng đế này nhất thiết là các Hành Tinh Thượng đế. Như đã được giải thích ở nơi khác, các Ngài có thể đơn giản là Brahma, Vishnu và Shiva của hệ mặt trời đặc thù của chúng ta, và là những tương ứng với ba Đức Phật Hoạt Động bao quanh Đức Sanat Kumara (x. TCF 1238). Chúng ta lưu ý rằng từ “Hành Tinh” bị lược bỏ khỏi nhan đề mô tả ba tam giác này. |
|
15. The following references speak of the numbering of the Heavenly Men—as seven, ten or twelve. Even those not listed among the seven may be located physically on the second cosmic ether. |
15. Các tham chiếu sau đây nói về việc đánh số các Đấng Thiên Nhân—là bảy, mười hay mười hai. Ngay cả những vị không được liệt kê trong số bảy vị cũng có thể nằm về mặt hồng trần trên dĩ thái vũ trụ thứ hai. |
|
On the second plane are found the seven Heavenly Men, Who are His principal centres of force. There are others, but we are not here concerned with Them. These latter have achieved a certain specific goal, and are the [Page 520] embodiment of centres which are now quiescent or out of manifestation, the logoic kundalini having turned its attention elsewhere. Under another enumeration they make the ten of the esoteric life, and can also be enumerated as twelve, thus forming the twelve-petalled Lotus, or the heart centre in the Body of the ONE ABOUT WHOM NOUGHT MAY BE SAID. (TCF 519-520) |
Trên cõi thứ hai được tìm thấy bảy Đấng Thiên Nhân, là những trung tâm mãnh lực chính yếu của Ngài. Còn có những vị khác, nhưng ở đây chúng ta không quan tâm đến Các Ngài. Những vị sau này đã đạt được một mục tiêu đặc thù nào đó, và là hiện thân của các trung tâm hiện đang tĩnh lặng hoặc ngoài biểu hiện, vì kundalini logoic đã chuyển sự chú ý của nó sang nơi khác. Theo một cách đánh số khác, các vị ấy tạo thành mười của sự sống bí truyền, và cũng có thể được tính là mười hai, như thế hình thành Hoa sen mười hai cánh, hay trung tâm tim trong Thể của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ. (TCF 519-520) |
|
b. Three of these centres, therefore |
b. Vì vậy, ba trong số các trung tâm này |
|
16. We continue to speak of the Planetary Logoi or Heavenly Men. |
16. Chúng ta tiếp tục nói về các Hành Tinh Thượng đế hay các Đấng Thiên Nhân. |
|
Concern the lower centres of the cosmic Being. |
Liên quan đến các trung tâm thấp của Hữu Thể vũ trụ. |
|
17. The cosmic Being is the Solar Logos. DK seems to be making sure that we keep this thought in mind. |
17. Hữu Thể vũ trụ là Thái dương Thượng đế. DK dường như đang bảo đảm rằng chúng ta giữ ý tưởng này trong tâm trí. |
|
18. The lower centers are to be considered as the base of the spine center, the sacral center and the solar plexus center. The splenic center is a minor center, and though sometimes listed instead of the sacral center, cannot really be considered one of the three lower major centers. |
18. Các trung tâm thấp được xem là trung tâm đáy cột sống, trung tâm xương cùng và trung tâm tùng thái dương. Trung tâm lá lách là một trung tâm phụ, và dù đôi khi được liệt kê thay cho trung tâm xương cùng, thực sự không thể được xem là một trong ba trung tâm thấp chính yếu. |
|
Have their analogies on the dense, liquid and gaseous planes. |
Có những tương tự của chúng trên các cõi đậm đặc, lỏng và khí. |
|
19. What does DK mean by “analogies”? |
19. DK muốn nói gì bởi “các tương tự”? |
|
20. Since we are working in a cosmic context, the dense, liquid and gaseous planes will be the systemic physical-etheric, the systemic astral and the systemic mental planes. Systemic planes are “solar planes”, and the two descriptors can be used interchangeably. |
20. Vì chúng ta đang làm việc trong một bối cảnh vũ trụ, các cõi đậm đặc, lỏng và khí sẽ là cõi hồng trần-dĩ thái hệ thống, cõi cảm dục hệ thống và cõi trí hệ thống. Các cõi hệ thống là “các cõi thái dương”, và hai cách mô tả này có thể được dùng thay thế cho nhau. |
|
21. Although the Planetary Logoi considered as centers within the Solar Logos are to be found focussed on the cosmic ethers, their arenas of focussed action can be keyed to any of the cosmic physical subplanes, including the three worlds which constitute the dense physical body of the Solar Logos. Each of the Planetary Logoi is, therefore, associated with a particular sub-plane of the cosmic physical plane rather than the others, though all, in some respect, are active in relation to all sub-planes. |
21. Mặc dù các Hành Tinh Thượng đế, được xét như các trung tâm bên trong Thái dương Thượng đế, được tìm thấy tập trung trên các dĩ thái vũ trụ, các trường hoạt động tập trung của các Ngài có thể được quy chiếu với bất kỳ cõi phụ nào của cõi hồng trần vũ trụ, kể cả ba cõi giới cấu thành thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế. Vì vậy, mỗi Hành Tinh Thượng đế được liên kết với một cõi phụ đặc thù của cõi hồng trần vũ trụ hơn là với các cõi khác, dù tất cả, trong một số phương diện, đều hoạt động liên hệ với mọi cõi phụ. |
|
22. For instance, we live focussed largely on the solar sub-plane of the cosmic physical plane. On this plane we can experience the influence of all the Planetary Logoi, and so it goes with respect to all the solar planes. |
22. Chẳng hạn, chúng ta sống tập trung phần lớn trên cõi phụ thái dương của cõi hồng trần vũ trụ. Trên cõi này chúng ta có thể kinh nghiệm ảnh hưởng của tất cả các Hành Tinh Thượng đế, và điều ấy cũng đúng đối với mọi cõi thái dương. |
|
23. We may also infer that there are certain structures on the cosmic dense, liquid and gaseous planes which resonate to the three centers under discussion. |
23. Chúng ta cũng có thể suy ra rằng có những cấu trúc nào đó trên các cõi đậm đặc, lỏng và khí vũ trụ cộng hưởng với ba trung tâm đang được bàn đến. |
|
Are at present the object of the attention of cosmic kundalini. |
Hiện nay là đối tượng của sự chú ý của kundalini vũ trụ. |
|
24. We are given an important piece of information—that cosmic kundalini (presumably the kundalini of the Solar Logos considered as a cosmic Being) is focussed in His three lower centers. |
24. Chúng ta được cung cấp một mẩu thông tin quan trọng—rằng kundalini vũ trụ (có lẽ là kundalini của Thái dương Thượng đế được xét như một Hữu Thể vũ trụ) được tập trung trong ba trung tâm thấp của Ngài. |
|
25. If this is the case—that the kundalini of the Solar Logos is focussed only in His lower centers—then we are learning something about the degree of advancement of this Being. |
25. Nếu đúng như vậy—rằng kundalini của Thái dương Thượng đế chỉ tập trung trong các trung tâm thấp của Ngài—thì chúng ta đang học được điều gì đó về mức độ tiến bộ của Hữu Thể này. |
|
26. A few quotations below may assist us in the consideration of kundalini in relation to the planets: |
26. Một vài trích dẫn dưới đây có thể giúp chúng ta trong việc xem xét kundalini liên hệ với các hành tinh: |
|
“Our solar system, being considered as of the fourth [Page 362] order, and our scheme being the fourth in order, there is consequently a moment of special opportunity afforded our planetary Logos through the alignment brought about. It eventuates in the turning of the attention of the logoic kundalini fire towards this centre, our scheme, and the subsequent results are in process of working out.” (TCF 361-362) |
“Hệ mặt trời của chúng ta, được xem là thuộc bậc [Page 362] thứ tư, và hệ hành tinh của chúng ta là hệ thứ tư theo thứ tự, do đó có một thời điểm cơ hội đặc biệt được dành cho Hành Tinh Thượng đế của chúng ta nhờ sự chỉnh hợp được tạo ra. Nó đưa đến việc lửa kundalini logoic chuyển sự chú ý của nó về trung tâm này, hệ của chúng ta, và các kết quả tiếp theo hiện đang trong tiến trình biểu lộ.” (TCF 361-362) |
|
27. From this quotation we realize that the Earth (a non-sacred planetary scheme) may be considered one of the three lower centers in the cosmic Being even though the Earth is not one of the seven sacred planets. |
27. Từ trích dẫn này chúng ta nhận ra rằng Trái Đất (một hệ hành tinh không thiêng liêng) có thể được xem là một trong ba trung tâm thấp trong Hữu Thể vũ trụ mặc dù Trái Đất không phải là một trong bảy hành tinh thiêng liêng. |
|
28. We must determine, however, whether the word “eventuates” signals that cosmic kundalini will be turned to our Earth at a later date or whether it is directed to the Earth at this time. |
28. Tuy nhiên, chúng ta phải xác định liệu từ “đưa đến” có báo hiệu rằng kundalini vũ trụ sẽ được chuyển đến Trái Đất của chúng ta vào một ngày sau này hay liệu hiện nay nó đang được hướng đến Trái Đất. |
|
3. A certain great logoic centre will be vitalised and the attention of logoic kundalini will pass from the present triangle in process of forming (the Earth, Venus, and a scheme whose name it is advisable to withhold) to the other. (TCF 390) |
3. Một trung tâm logoic vĩ đại nào đó sẽ được tiếp sinh lực và sự chú ý của kundalini logoic sẽ chuyển từ tam giác hiện tại đang trong tiến trình hình thành (Trái Đất, Sao Kim, và một hệ mà tên của nó nên được giữ kín) sang tam giác kia. (TCF 390) |
|
29. In this section of TCF, DK is speaking of the solar systemic centers to which logoic kundalini will be directed in the next round. |
29. Trong phần này của TCF, DK đang nói về các trung tâm hệ thống thái dương mà kundalini logoic sẽ được hướng đến trong cuộc tuần hoàn kế tiếp. |
|
30. However, in passing, He seems to mention the planets to which logoic kundalini is presently directed. The Earth, Venus and another scheme are mentioned. |
30. Tuy nhiên, nhân tiện, Ngài dường như nhắc đến các hành tinh mà kundalini logoic hiện đang được hướng đến. Trái Đất, Sao Kim và một hệ khác được nhắc đến. |
|
31. We note that this triangle is only in process of forming and so the circulation of kundalini through this triangle is certainly not fully active. |
31. Chúng ta lưu ý rằng tam giác này chỉ mới đang trong tiến trình hình thành và vì vậy sự lưu chuyển của kundalini qua tam giác này chắc chắn chưa hoàn toàn hoạt động. |
|
32. The mentioning of the Earth confirms (in relation to the first reference on TCF 361-362) that logoic kundalini is directed to our Earth at this time. |
32. Việc nhắc đến Trái Đất xác nhận (liên hệ với tham chiếu đầu tiên ở TCF 361-362) rằng kundalini logoic đang được hướng đến Trái Đất của chúng ta vào lúc này. |
|
33. Given the numerical alignment of our planetary scheme with the order number of the Solar Logos (He is a Logos of the “fourth order”), and given the great crises unfolding on our planet and planetary chain, the direction of logoic kundalini to the Earth-scheme does not seem unreasonable. |
33. Xét đến sự chỉnh hợp số học của hệ hành tinh chúng ta với số thứ tự của Thái dương Thượng đế (Ngài là một Thượng đế thuộc “bậc thứ tư”), và xét đến những khủng hoảng lớn đang diễn ra trên hành tinh và dãy hành tinh của chúng ta, việc hướng kundalini logoic đến hệ Trái Đất dường như không phải là điều vô lý. |
|
34. Venus, we are told, is a planetary scheme which is very greatly unfolded, and so logoic kundalini has probably been directed there to promote this unfoldment. |
34. Chúng ta được cho biết rằng Sao Kim là một hệ hành tinh đã khai mở rất lớn, và vì vậy kundalini logoic có lẽ đã được hướng đến đó để thúc đẩy sự khai mở này. |
|
35. The third planetary scheme is left unnamed. We may gather the inferences and attempt to name it. |
35. Hệ hành tinh thứ ba không được nêu tên. Chúng ta có thể tập hợp các suy luận và thử gọi tên nó. |
|
36. Another quote involving the Earth and Venus as planets presently simulated by logoic kundalini is as follows: |
36. Một trích dẫn khác liên quan đến Trái Đất và Sao Kim như những hành tinh hiện đang được kundalini logoic kích thích như sau: |
|
Such an event transpires in this round in relation to the centre which our planetary Logos [Page 369] embodies. It became geometrically linked with two other centres, of which Venus was one, and logoic Kundalini—circulating with tremendous force through this adjusted Triangle—brought about that intensification of vibration in the human family which resulted in individualisation. (TCF 368-369) |
Một biến cố như thế xảy ra trong cuộc tuần hoàn này liên hệ với trung tâm mà Hành Tinh Thượng đế của chúng ta [Page 369] hiện thân. Nó đã được nối kết về mặt hình học với hai trung tâm khác, trong đó Sao Kim là một, và kundalini logoic—lưu chuyển với mãnh lực to lớn qua Tam Giác đã được điều chỉnh này—đã tạo ra sự tăng cường rung động trong gia đình nhân loại, đưa đến biệt ngã hóa. (TCF 368-369) |
|
37. And another, similarly confirming. |
37. Và một trích dẫn khác, xác nhận tương tự. |
|
38. We see the link of logoic kundalini to the process of individualization on Earth. This will be taken up in greater detail when we reach that particular section of the book. |
38. Chúng ta thấy mối liên hệ của kundalini logoic với tiến trình biệt ngã hóa trên Trái Đất. Điều này sẽ được bàn đến chi tiết hơn khi chúng ta đến phần đặc thù ấy của quyển sách. |
|
Via the Venus chain of our scheme. |
Qua dãy Sao Kim của hệ chúng ta. |
|
As the result of a stimulation, originating in the Venus scheme. |
Là kết quả của một sự kích thích, phát sinh từ hệ Sao Kim. |
|
Because logoic kundalini had vitalised one of the systemic triangles of force, of which (temporarily) Venus and the Earth formed two points of the triangle. |
Bởi vì kundalini logoic đã tiếp sinh lực cho một trong các tam giác mãnh lực hệ thống, trong đó (tạm thời) Sao Kim và Trái Đất tạo thành hai điểm của tam giác. |
|
This produced the individualisation of those, particularly in the human Hierarchy, who form a particular centre in the body of the planetary Logos. (TCF 379) |
Điều này tạo ra sự biệt ngã hóa của những ai, đặc biệt trong Huyền Giai Tinh Thần nhân loại, tạo thành một trung tâm đặc thù trong thể của Hành Tinh Thượng đế. (TCF 379) |
|
39. Here we read of the temporary stimulation of Venus as part of a triangle. We could hypothesize that Venus is now so fully developed, that logoic kundalini will no longer be directed to it. |
39. Ở đây chúng ta đọc thấy về sự kích thích tạm thời của Sao Kim như một phần của một tam giác. Chúng ta có thể giả thuyết rằng Sao Kim hiện đã phát triển đầy đủ đến mức kundalini logoic sẽ không còn được hướng đến nó nữa. |
|
40. And another reference, similarly confirming… |
40. Và một tham chiếu khác, xác nhận tương tự… |
|
c. That the planetary Logos did not come from the Venus scheme but from the Venus chain of His own scheme, the Earth scheme. Owing to systemic [Page 387] alignment logoic kundalini could flow through a certain triangle of which two points were Venus and the Earth. This caused an acceleration of vibration, and enabled the Heavenly Man of our scheme to take a minor initiation, and to set about His preparations for a major initiation. (TCF 386-387) |
c. Rằng Hành Tinh Thượng đế không đến từ hệ Sao Kim mà từ dãy Sao Kim của chính hệ của Ngài, hệ Trái Đất. Do sự chỉnh hợp hệ thống [Page 387] kundalini logoic có thể chảy qua một tam giác nào đó mà hai điểm là Sao Kim và Trái Đất. Điều này gây ra một sự gia tốc rung động, và giúp Đấng Thiên Nhân của hệ chúng ta nhận một điểm đạo nhỏ, và bắt đầu các chuẩn bị của Ngài cho một điểm đạo lớn. (TCF 386-387) |
|
41. We also learn that logoic kundalini is turning from the lowest two and a half systemic planes. We remember that the three centers under discussion (which are the object of the attention of cosmic kundalini) are concerned with the three lowest planes in the body of manifestation of the Solar Logos. |
41. Chúng ta cũng học được rằng kundalini logoic đang quay khỏi hai cõi rưỡi thấp nhất của hệ thống. Chúng ta nhớ rằng ba trung tâm đang được bàn đến (là đối tượng của sự chú ý của kundalini vũ trụ) liên quan đến ba cõi thấp nhất trong thể biểu hiện của Thái dương Thượng đế. |
|
These two and a half planes are of peculiar interest to the Logos, as they embody: |
Hai cõi rưỡi này đặc biệt đáng quan tâm đối với Thượng đế, vì chúng hiện thân cho: |
|
That which, for Him, lies below the threshold of consciousness. |
Điều mà, đối với Ngài, nằm dưới ngưỡng tâm thức. |
|
Those centres from which logoic kundalini is turning. |
Những trung tâm mà kundalini logoic đang quay khỏi. |
|
That which is not considered a principle. |
Điều không được xem là một nguyên khí. |
|
That which is gradually passing into obscuration. (TCF 530) |
Điều đang dần dần đi vào sự che khuất. (TCF 530) |
|
42. In some references, the Logos is said to have no focus in the entirety of the three lower planes. Here, we are given that idea that He is, indeed, concerned with the systemic higher mental plane. |
42. Trong một số tham chiếu, Thượng đế được nói là không có tiêu điểm trong toàn bộ ba cõi thấp. Ở đây, chúng ta được trao cho ý tưởng rằng Ngài quả thực có liên hệ với cõi thượng trí hệ thống. |
|
43. As for the nature of the third planet, if we consider Earth to represent the base of the spine center of the Solar Logos (which is a relationship indicated in the following excerpt)… |
43. Về bản chất của hành tinh thứ ba, nếu chúng ta xem Trái Đất là đại diện cho trung tâm đáy cột sống của Thái dương Thượng đế (một mối liên hệ được chỉ ra trong đoạn trích sau)… |
|
It relates finally the lowest centre at the base of the spine to the highest centre, the head centre. This is a correspondence to the relation of the Earth to the Sun. Think this out. (EA 25) |
Cuối cùng nó liên hệ trung tâm thấp nhất ở đáy cột sống với trung tâm cao nhất, trung tâm đầu. Đây là một tương ứng với mối liên hệ của Trái Đất với Mặt Trời. Hãy suy nghĩ điều này. (EA 25) |
|
44. And Venus as the solar plexus center of the Logos (as least reasonably related to it), since of Venus it is said… |
44. Và Sao Kim là trung tâm tùng thái dương của Thượng đế (ít nhất là có thể liên hệ hợp lý với nó), vì về Sao Kim có nói rằng… |
|
“It is the home of the planetary Logos of the sixth Ray. This may sound like a contradiction, but it is not so really; we must remember the interlocking, the gradual shifting and changing, that takes place in time on all [Page 596] the Rays. (TCF 595-596) |
“Nó là nơi cư ngụ của Hành Tinh Thượng đế thuộc cung sáu. Điều này có thể nghe như một mâu thuẫn, nhưng thực ra không phải vậy; chúng ta phải nhớ đến sự đan xen, sự chuyển dịch và thay đổi dần dần, diễn ra theo thời gian trên mọi [Page 596] cung. (TCF 595-596) |
|
45. then we have a basis for seeking to determine the third planet. |
45. thì chúng ta có một cơ sở để tìm cách xác định hành tinh thứ ba. |
|
46. The following reference also links Venus to the solar plexus center and to the emotional nature of the Solar Logos: |
46. Tham chiếu sau đây cũng liên kết Sao Kim với trung tâm tùng thái dương và với bản chất cảm xúc của Thái dương Thượng đế: |
|
Seek not to work out hypotheses of alignment based on the physical planets. The truth lies not there. Only three of the physical planets (and those three in etheric matter) enter into the final alignment that marks the attainment [7] by the Logos of the cosmic egoic consciousness, which is His goal of attainment. Of these three, the earth is not one, but Venus has her place corresponding to the emotional permanent atom. (LOM 6-7) |
Đừng tìm cách xây dựng các giả thuyết chỉnh hợp dựa trên các hành tinh hồng trần. Sự thật không nằm ở đó. Chỉ có ba hành tinh hồng trần (và ba hành tinh ấy trong vật chất dĩ thái) đi vào sự chỉnh hợp cuối cùng đánh dấu sự thành đạt [7] của Thượng đế về tâm thức chân ngã vũ trụ, là mục tiêu thành đạt của Ngài. Trong ba hành tinh ấy, Trái Đất không phải là một, nhưng Sao Kim có vị trí của nó tương ứng với nguyên tử trường tồn cảm xúc. (LOM 6-7) |
|
47. That planet could be Mars, easily associated with the sacral center, or Mercury (closely related to the base of the spine) in which case the Earth (though it has a definite connection with the logoic base of the spine center) could be assigned the position of the sacral center. |
47. Hành tinh ấy có thể là Sao Hỏa, dễ dàng gắn với trung tâm xương cùng, hoặc Sao Thủy (liên hệ chặt chẽ với đáy cột sống), trong trường hợp đó Trái Đất (dù có một liên hệ xác định với trung tâm đáy cột sống logoic) có thể được gán vào vị trí của trung tâm xương cùng. |
|
48. Mercury, however, is planet of great development, and (in relation to is main function) should not be put ‘below’ Venus in relation to the solar logoic centers. |
48. Tuy nhiên, Sao Thủy là hành tinh có sự phát triển lớn, và (liên hệ với chức năng chính của nó) không nên được đặt ‘thấp hơn’ Sao Kim trong tương quan với các trung tâm của Thái dương Thượng đế. |
|
49. Thus, the most reasonable triangle would be Earth, Mars, Venus, rather than Mercury, Earth, Venus. Naturally, this is a hypothesis which must be tested in the future, according to the Law of Correspondences and also experimentally, when experiment becomes possible. |
49. Vì vậy, tam giác hợp lý nhất sẽ là Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Kim, hơn là Sao Thủy, Trái Đất, Sao Kim. Dĩ nhiên, đây là một giả thuyết phải được kiểm nghiệm trong tương lai, theo định luật tương ứng và cũng bằng thực nghiệm, khi việc thực nghiệm trở nên khả hữu. |
|
50. Let us pause here for an interesting speculation: |
50. Chúng ta hãy dừng lại ở đây để có một suy đoán thú vị: |
|
a. There may be more than one planetary scheme involved in the functioning of any particular solar logoic chakra—perhaps a triangle of influences, with one of them major. |
a. Có thể có nhiều hơn một hệ hành tinh tham gia vào hoạt động của bất kỳ luân xa thái dương logoic đặc thù nào—có lẽ là một tam giác các ảnh hưởng, với một trong số đó là chính yếu. |
|
b. According to the different rays expressed by a Planetary Logos through his different periodical vehicles, so may be his temporary involvement with any particular solar logoic chakra. For instance— |
b. Theo các cung khác nhau được một Hành Tinh Thượng đế biểu lộ qua các vận cụ tuần hoàn khác nhau của ngài, thì sự tham gia tạm thời của ngài vào bất kỳ luân xa thái dương logoic đặc thù nào cũng có thể như vậy. Chẳng hạn— |
|
i. The Planetary Logos of Earth has a third ray personality, so during the time when the Planetary Logos’ personality ray is stronger than either His soul or monadic ray, His chakric functioning could be through a center correlated with the third ray. Such a chakra would be the sacral center or the splenic center. (With regard to the average man, we know that the Earth is said to be the ruler of his throat center—a center strongly correlated to the expression of the third ray.) |
i. Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất có phàm ngã cung ba, vì thế trong thời kỳ mà cung phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế mạnh hơn cung linh hồn hay cung chân thần của Ngài, hoạt động luân xa của Ngài có thể thông qua một trung tâm tương quan với cung ba. Một luân xa như thế sẽ là trung tâm xương cùng hoặc trung tâm lá lách. (Liên hệ với con người trung bình, chúng ta biết rằng Trái Đất được nói là chủ tinh của trung tâm cổ họng của y—một trung tâm tương quan mạnh với sự biểu lộ của cung ba.) |
|
ii. During the period in which the Planetary Logos of the Earth-scheme is functioning most powerfully in His second ray soul, His chakric functioning could be through a center related to the second ray. Such a chakra would be the solar plexus center. We remember that the solar plexus center of the human being has two points within it—a higher and a lower. At a certain stage of solar logoic evolution, Venus could represent the higher point in the solar plexus and Earth the lower and more material point. But since the solar plexus is definitely connected with the astral plane and the sixth ray, the second ray soul of the Planetary Logos of Earth would correlate with it resonantly. |
ii. Trong thời kỳ mà Hành Tinh Thượng đế của hệ Trái Đất đang hoạt động mạnh mẽ nhất trong linh hồn cung hai của Ngài, hoạt động luân xa của Ngài có thể thông qua một trung tâm liên hệ với cung hai. Một luân xa như thế sẽ là trung tâm tùng thái dương. Chúng ta nhớ rằng trung tâm tùng thái dương của con người có hai điểm bên trong nó—một điểm cao hơn và một điểm thấp hơn. Ở một giai đoạn nào đó của sự tiến hóa thái dương logoic, Sao Kim có thể đại diện cho điểm cao hơn trong tùng thái dương và Trái Đất là điểm thấp hơn và vật chất hơn. Nhưng vì trung tâm tùng thái dương chắc chắn liên kết với cõi cảm dục và cung sáu, linh hồn cung hai của Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất sẽ tương quan với nó một cách cộng hưởng. |
|
iii. During the period to come in which the Planetary Logos of the Earth-scheme will be functioning most powerfully in His first ray Monad, His chakric functioning could be through a center related to the first ray. Such a chakra would be the base of the spine center. |
iii. Trong thời kỳ sắp đến mà Hành Tinh Thượng đế của hệ Trái Đất sẽ hoạt động mạnh mẽ nhất trong Chân thần cung một của Ngài, hoạt động luân xa của Ngài có thể thông qua một trung tâm liên hệ với cung một. Một luân xa như thế sẽ là trung tâm đáy cột sống. |
|
iv. In all of these assignments, I am confining myself principally to a consideration of the three lower centers. |
iv. Trong tất cả các sự quy gán này, tôi chủ yếu tự giới hạn vào việc xem xét ba trung tâm thấp. |
|
c. If we extend this picture to all of the Logoi of the planetary schemes, we will see how a number of them can change their chakric involvement at different points in the evolutionary process. |
c. Nếu chúng ta mở rộng bức tranh này đến tất cả các Thượng đế của các hệ hành tinh, chúng ta sẽ thấy cách một số vị trong các Ngài có thể thay đổi sự tham gia luân xa của mình tại những điểm khác nhau trong tiến trình tiến hoá. |
|
d. The picture would be one of great complexity. Whether or not a triangle of planets goes to the constitution of a particular solar logoic chakra, a Planetary Logos could still change chakric involvement based upon the major ray through which He is expressing. |
d. Bức tranh ấy sẽ là một bức tranh cực kỳ phức tạp. Dù một tam giác các hành tinh có đi vào cấu tạo của một luân xa thái dương logoic đặc thù hay không, một Hành Tinh Thượng đế vẫn có thể thay đổi sự tham gia luân xa dựa trên cung chính yếu mà qua đó Ngài đang biểu lộ. |
|
e. Non-sacred planets would be expressing primarily through their personality ray (the Earth, Mars and Pluto are examples). Sacred planets through their soul ray, and it may be that synthesizing planets would express through their monadic ray. |
e. Các hành tinh không thiêng liêng sẽ biểu lộ chủ yếu qua cung phàm ngã của chúng (Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Diêm Vương là các ví dụ). Các hành tinh thiêng liêng qua cung linh hồn của chúng, và có thể các hành tinh tổng hợp sẽ biểu lộ qua cung chân thần của chúng. |
|
[Page 297] |
|
|
c. One of these centres corresponds to the solar plexus and is the synthesiser of the lower three, thus making a quaternary. |
c. Một trong các trung tâm này tương ứng với trung tâm tùng thái dương và là yếu tố tổng hợp của ba trung tâm thấp, như thế tạo thành một bộ bốn. |
|
51. From this excerpt, we understand the if the solar plexus center is to synthesize the lower three, then, the splenic center must be included, even though it is a minor center. |
51. Từ đoạn trích này, chúng ta hiểu rằng nếu trung tâm tùng thái dương phải tổng hợp ba trung tâm thấp, thì trung tâm lá lách phải được bao gồm, dù nó là một trung tâm phụ. |
|
52. Because there must be four centers to consider, its may be advisable to take Pluto into consideration. |
52. Bởi vì phải có bốn trung tâm để xem xét, có lẽ nên đưa Sao Diêm Vương vào sự cân nhắc. |
|
53. Pluto was not publicly discovered when TCF was written, so there are some assumptions to be made: |
53. Sao Diêm Vương chưa được khám phá công khai khi TCF được viết, vì vậy có một số giả định cần được đưa ra: |
|
a. DK knew about the existence of Pluto (since He is a specialist in solar energies). |
a. DK biết về sự hiện hữu của Sao Diêm Vương (vì Ngài là một chuyên gia về các năng lượng thái dương). |
|
b. DK wrote His descriptions with Pluto in mind. |
b. DK đã viết các mô tả của Ngài với Sao Diêm Vương trong tâm trí. |
|
c. Or, DK did not write His descriptions with Pluto in mind. |
c. Hoặc, DK đã không viết các mô tả của Ngài với Sao Diêm Vương trong tâm trí. |
|
54. If we do assume that DK implied the presence of Pluto and wrote in such as way as to leave room for its inclusion, then the three named non-sacred planets will be included: Pluto, Mars and Earth. |
54. Nếu chúng ta quả thực giả định rằng DK hàm ý sự hiện diện của Sao Diêm Vương và đã viết theo cách để chừa chỗ cho việc bao gồm nó, thì ba hành tinh không thiêng liêng được nêu tên sẽ được bao gồm: Sao Diêm Vương, Sao Hỏa và Trái Đất. |
|
55. They can reasonably be assigned as follows: |
55. Chúng có thể được quy gán một cách hợp lý như sau: |
|
a. Pluto—base of the spine center |
a. Sao Diêm Vương—trung tâm đáy cột sống |
|
b. Mars—sacral center |
b. Sao Hỏa—trung tâm xương cùng |
|
c. Earth—splenic center |
c. Trái Đất—trung tâm lá lách |
|
d. Venus—solar plexus center |
d. Sao Kim—trung tâm tùng thái dương |
|
56. The fifth and sixth rays are expressing through Venus, along with the second. Venus is directly associated with kama-manas. The following reference illustrates this: |
56. Cung năm và cung sáu đang biểu lộ qua Sao Kim, cùng với cung hai. Sao Kim được liên kết trực tiếp với trí-cảm. Tham chiếu sau đây minh họa điều này: |
|
You will see, therefore, the significance of that triangle of planets [Page 362] (at which I hinted in A Treatise on Cosmic Fire): the Earth-Venus-Mercury. From certain angles, these are related to the Personality of our planetary Logos: |
Vì vậy, bạn sẽ thấy thâm nghĩa của tam giác hành tinh ấy [Page 362] (mà tôi đã gợi ý trong Luận về Lửa Vũ Trụ): Trái Đất-Sao Kim-Sao Thủy. Từ một số góc độ, chúng liên hệ với Phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta: |
|
57. Always attend to DK when He says, “from certain angles”. Our task is to discover which angles. |
57. Hãy luôn chú ý khi DK nói, “từ một số góc độ”. Nhiệm vụ của chúng ta là khám phá những góc độ nào. |
|
1. The Earth—planetary vital body. |
1. Trái Đất—thể sinh lực hành tinh. |
|
2. Venus—planetary astral vehicle, or Kama-manas. |
2. Sao Kim—vận cụ cảm dục hành tinh, hay trí-cảm. |
|
3. Mercury—planetary mind. (EA 361-362) |
3. Sao Thủy—trí tuệ hành tinh. (EA 361-362) |
|
58. If these planetary schemes are related to the personality of our Planetary Logos, there must be something in the nature of these planetary schemes which correlates with the principles or factors stimulated by them within the constitution of our Planetary Logos. |
58. Nếu các hệ hành tinh này liên hệ với phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, thì phải có điều gì đó trong bản chất của các hệ hành tinh này tương quan với các nguyên khí hay các yếu tố được chúng kích thích bên trong cấu tạo của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. |
|
59. It is apparent from considering kama-manas that it represents a combination of the numbers six and five—six for kama and five for manas. |
59. Rõ ràng là khi xét trí-cảm, nó đại diện cho một sự kết hợp của các số sáu và năm—sáu cho kama và năm cho manas. |
|
60. Interestingly, the solar plexus center is the fifth center (counting from above) and is ruled by the sixth ray. Numerically, Venus fits in this position. |
60. Thật thú vị, trung tâm tùng thái dương là trung tâm thứ năm (đếm từ trên xuống) và được cai quản bởi cung thứ sáu. Về mặt số học, Sao Kim phù hợp với vị trí này. |
|
61. Venus is sometimes considered as the heart center of our Solar Logos, and, one day, it may be, but it is necessary to think carefully about its present function, which may be more the solar plexus center than the heart center. We do recognize, however, the relationship between these two centers and the manner in which the energy of the solar plexus center is intended to be elevated to the heart center. |
61. Đôi khi Sao Kim được xem là trung tâm tim của Thái dương Thượng đế của chúng ta, và một ngày nào đó nó có thể sẽ là như vậy, nhưng cần suy nghĩ cẩn thận về chức năng hiện tại của nó, chức năng này có thể là trung tâm tùng thái dương hơn là trung tâm tim. Tuy nhiên, chúng ta quả thực nhận ra mối liên hệ giữa hai trung tâm này và cách năng lượng của trung tâm tùng thái dương được dự định nâng lên trung tâm tim. |
|
62. If the solar plexus center were only one of three to be considered, then the triangle Venus, Mars, Earth would be reasonable, with Venus representing the solar plexus center, Mars the sacral center and Earth the base of the spine center. We have seen how the Earth can be associated with the base of the spine center. The question is, “Is the Earth presently fulfilling that function, or is it a function to be fulfilled at a later date—for instance in the next solar system?” We can also infer the relationship of Earth to all things etheric. The great fertility of our planet upon its physical level of expression indicates its etheric potency. |
62. Nếu trung tâm tùng thái dương chỉ là một trong ba trung tâm cần được xem xét, thì tam giác Sao Kim, Sao Hỏa, Trái Đất sẽ là hợp lý, với Sao Kim đại diện cho trung tâm tùng thái dương, Sao Hỏa là trung tâm xương cùng và Trái Đất là trung tâm đáy cột sống. Chúng ta đã thấy cách Trái Đất có thể được liên kết với trung tâm đáy cột sống. Câu hỏi là, “Liệu Trái Đất hiện nay đang thực hiện chức năng đó, hay đó là một chức năng sẽ được thực hiện vào một ngày sau này—chẳng hạn trong hệ mặt trời kế tiếp?” Chúng ta cũng có thể suy ra mối liên hệ của Trái Đất với mọi điều thuộc dĩ thái. Sự phì nhiêu lớn lao của hành tinh chúng ta trên cấp độ biểu lộ hồng trần của nó cho thấy tiềm lực dĩ thái của nó. |
|
63. As well, the Earth with its third ray personality can reasonably be related to the sacral center of the Solar Logos because of the amazing fecundity of Earth in relation to the material plane. |
63. Ngoài ra, Trái Đất với cung phàm ngã ba của nó có thể được liên hệ một cách hợp lý với trung tâm xương cùng của Thái dương Thượng đế vì khả năng sinh sản kỳ diệu của Trái Đất trong tương quan với cõi vật chất. |
|
64. If, however, the solar plexus center is one of four centers which must be considered (TCF 297, point “c.”), then Pluto will have to be added. Indeed, it would not be entirely reasonable to exclude it (even though it was not discovered at the time of the writing), as it is definitely one of the non-sacred planets and is reasonably much more related to the lower vehicles of the Solar Logos than to the higher. |
64. Tuy nhiên, nếu trung tâm tùng thái dương là một trong bốn trung tâm phải được xem xét (TCF 297, điểm “c.”), thì Sao Diêm Vương sẽ phải được thêm vào. Quả thật, sẽ không hoàn toàn hợp lý nếu loại trừ nó (dù vào thời điểm tác phẩm được viết ra nó chưa được khám phá), vì nó rõ ràng là một trong các hành tinh không thiêng liêng và hợp lý mà nói thì liên hệ với các vận cụ thấp của Thái dương Thượng đế nhiều hơn là với các vận cụ cao. |
|
65. The proposed quaternary in which the solar plexus center (hypothetically Venus) is the synthesizer of the lower three would then be as assigned above: Pluto, base of the spine center; Mars, sacral center; Earth, splenic center; Venus, solar plexus center. |
65. Khi ấy, bộ bốn được đề nghị, trong đó trung tâm tùng thái dương (theo giả thuyết là Sao Kim) là yếu tố tổng hợp của ba trung tâm thấp hơn, sẽ được phân định như trên: Sao Diêm Vương, trung tâm đáy cột sống; Sao Hỏa, trung tâm xương cùng; Trái Đất, trung tâm lá lách; Sao Kim, trung tâm tùng thái dương. |
|
66. Two questions would arise in this assignment: |
66. Hai câu hỏi sẽ nảy sinh trong cách phân định này: |
|
a. Why should Venus not be the heart center? |
a. Tại sao Sao Kim lại không là trung tâm tim? |
|
b. Why should the Earth, when it is a planet more advanced than either Mars or Pluto, be associated with a minor center such as the spleen? |
b. Tại sao Trái Đất, khi nó là một hành tinh tiến hóa hơn cả Sao Hỏa lẫn Sao Diêm Vương, lại được gắn với một trung tâm phụ như lá lách? |
|
67. We are, after all, flatly told that: |
67. Rốt cuộc, chúng ta được nói thẳng rằng: |
|
Venus corresponds to the heart centre in the body logoic, and has an inter-relationship therefore with all the other centres in the solar system wherein the heart aspect is the one of greater prominence. (TCF 182) |
Sao Kim tương ứng với trung tâm tim trong thể của Thượng đế, và do đó có mối tương liên với tất cả các trung tâm khác trong hệ mặt trời nơi phương diện tim là phương diện nổi trội hơn cả. (TCF 182) |
|
68. The focus must be upon the word “corresponds”, because if Venus were prominent in one of the major triangles of the solar logoic body, such as the triangle below the solar logoic diaphragm, Venus could correspond to the heart center and still not be the heart center. |
68. Trọng tâm phải đặt vào từ “tương ứng”, bởi vì nếu Sao Kim nổi bật trong một trong các tam giác chính của thể Thượng đế, chẳng hạn tam giác bên dưới cơ hoành của Thái dương Thượng đế, thì Sao Kim vẫn có thể tương ứng với trung tâm tim mà vẫn không là trung tâm tim. |
|
69. To support this point of view, we are told the following: |
69. Để hỗ trợ cho quan điểm này, chúng ta được cho biết điều sau: |
|
The Lord of Venus holds place in the logoic quaternary, as does the Lord of Earth. (TCF 300) |
Chúa Tể của Sao Kim giữ vị trí trong bộ tứ của Thượng đế, cũng như Chúa Tể của Trái Đất. (TCF 300) |
|
70. The “quaternary” is most often the lower self. The centers below the diaphragm (and the solar plexus center is, indeed, below the diaphragm) are those centers which express themselves through the quaternary. |
70. “Bộ tứ” thường là phàm ngã thấp. Các trung tâm bên dưới cơ hoành (và trung tâm tùng thái dương quả thực ở bên dưới cơ hoành) là những trung tâm tự biểu lộ qua bộ tứ. |
|
71. The following reference, and there are many others, supports this position: |
71. Tài liệu dẫn chiếu sau đây, và còn nhiều tài liệu khác nữa, ủng hộ lập trường này: |
|
“Quaternary. The fourfold lower self, or man, in the three worlds. There are various divisions of this, but perhaps for our purpose the best is to enumerate the four as follows: |
“Bộ tứ. Phàm ngã thấp tứ phân, hay con người, trong ba cõi giới. Có nhiều cách phân chia khác nhau về điều này, nhưng có lẽ đối với mục đích của chúng ta, cách tốt nhất là liệt kê bốn phần như sau: |
|
1. Lower mind. |
1. Hạ trí. |
|
2. Emotional or kamic body. |
2. Thể cảm xúc hay thể cảm dục. |
|
3. Prana, or the Life Principle. |
3. Prana, hay Nguyên khí Sự sống. |
|
4. The etheric body, or the highest division of the twofold physical body.” (IHS 223) |
4. Thể dĩ thái, hay phân bộ cao nhất của thể xác nhị phân.” (IHS 223) |
|
72. The heart center corresponds to buddhi and the buddhic plane; it is not particularly expressive in relation to the lower quaternary (unless through one of its lower functions). The solar plexus center, however, certainly is. |
72. Trung tâm tim tương ứng với Bồ đề và cõi Bồ đề; nó không đặc biệt biểu lộ trong liên hệ với bộ tứ thấp (trừ phi qua một trong các chức năng thấp của nó). Tuy nhiên, trung tâm tùng thái dương thì chắc chắn có. |
|
73. The only way the heart center could be part of a lower quaternary, is if we consider four chakras together: the base of the spine center, the sacral center, the solar plexus center and the heart center, with three chakras superior to it. |
73. Cách duy nhất để trung tâm tim có thể là một phần của bộ tứ thấp là nếu chúng ta xét bốn luân xa cùng nhau: trung tâm đáy cột sống, trung tâm xương cùng, trung tâm tùng thái dương và trung tâm tim, với ba luân xa ở cao hơn nó. |
|
74. The heart center is so placed that it could be part of two quaternaries—a lower and a higher. The higher would consist of head center, ajna center, throat center and heart center. But since the Earth is mentioned with Venus as part of a quaternary, the quaternary must be a lower quaternary. |
74. Trung tâm tim được đặt ở vị trí sao cho nó có thể là một phần của hai bộ tứ—một thấp và một cao. Bộ tứ cao sẽ gồm trung tâm đầu, trung tâm ajna, trung tâm cổ họng và trung tâm tim. Nhưng vì Trái Đất được nhắc đến cùng với Sao Kim như là một phần của một bộ tứ, nên bộ tứ ấy hẳn phải là một bộ tứ thấp. |
|
75. Nevertheless, it is only with difficulty that the heart center (relating as it does to the buddhic plane) can be conceived of as integral to personality functioning. The heart will have personal functions, but its true nature admits to the buddhic plane and to Hierarchy. |
75. Tuy nhiên, chỉ với khó khăn người ta mới có thể hình dung trung tâm tim (vì nó liên hệ với cõi Bồ đề) là thành phần nguyên vẹn của hoạt động phàm ngã. Tim sẽ có những chức năng cá nhân, nhưng bản chất đích thực của nó thuộc về cõi Bồ đề và Thánh đoàn. |
|
76. Since we know that the Earth must definitely relate to a center below the solar logoic diaphragm, and since we are told that the Lord of Earth and the Lord of Venus both hold place in the logoic quaternary, it seems reasonable to place Venus, temporarily at least, below the logoic diaphragm. |
76. Vì chúng ta biết rằng Trái Đất chắc chắn phải liên hệ với một trung tâm bên dưới cơ hoành của Thái dương Thượng đế, và vì chúng ta được cho biết rằng Chúa Tể của Trái Đất và Chúa Tể của Sao Kim cả hai đều giữ vị trí trong bộ tứ của Thượng đế, nên có vẻ hợp lý khi tạm thời ít nhất đặt Sao Kim bên dưới cơ hoành của Thượng đế. |
|
77. In another solar system or, perhaps, at another time in this solar system, Venus may indeed fulfill the place of logoic heart center. Presently, there are strong reasons why it should not be taken as the heart center. |
77. Trong một hệ mặt trời khác hoặc có lẽ vào một thời điểm khác trong hệ mặt trời này, Sao Kim quả thực có thể đảm nhiệm vị trí trung tâm tim của Thượng đế. Hiện nay, có những lý do mạnh mẽ khiến nó không nên được xem là trung tâm tim. |
|
78. Probably a better candidate for the heart center is Jupiter, about which more can later be discussed. |
78. Có lẽ một ứng viên tốt hơn cho trung tâm tim là Sao Mộc, về hành tinh này sau đó có thể bàn thêm. |
|
79. There is one additional reference which seems to suggest that Venus is not part of the logoic quaternary, but we have just been told flatly that it is. The following reference will have to be considered carefully in relation to all the foregoing: |
79. Có thêm một tài liệu dẫn chiếu dường như gợi ý rằng Sao Kim không là một phần của bộ tứ của Thượng đế, nhưng chúng ta vừa được nói thẳng rằng nó là như vậy. Tài liệu dẫn chiếu sau đây sẽ phải được xem xét cẩn thận trong liên hệ với tất cả những điều đã nói ở trên: |
|
The four schemes which form the logoic Quaternary [Page 406] will merge into their synthesising scheme, that of Saturn, while Venus and Mercury will merge into Uranus and Neptune. No importance need be attached to the sequence of these names. The dual fact is all that is necessary to grasp. (TCF 405-406) |
Bốn hệ hành tinh tạo thành Bộ Tứ của Thượng đế [Page 406] sẽ hợp nhất vào hệ tổng hợp của chúng, tức hệ của Sao Thổ, trong khi Sao Kim và Sao Thủy sẽ hợp nhất vào Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương. Không cần gán tầm quan trọng nào cho trình tự của các tên gọi này. Chỉ cần nắm được sự kiện nhị nguyên là đủ. (TCF 405-406) |
|
80. If we interpret the foregoing literally, neither Mercury nor Venus will merge into Saturn and, therefore, will not be found within the logoic quaternary. This seems reasonable with respect to Mercury, despite its connection with kundalini and the base of the spine center. Mercury is an old and occult planet identified with the third aspect and has been active, it would seem, longer than Venus. |
80. Nếu chúng ta diễn giải điều trên theo nghĩa đen, thì cả Sao Thủy lẫn Sao Kim đều sẽ không hợp nhất vào Sao Thổ và do đó sẽ không được tìm thấy trong bộ tứ của Thượng đế. Điều này có vẻ hợp lý đối với Sao Thủy, bất chấp mối liên hệ của nó với kundalini và trung tâm đáy cột sống. Sao Thủy là một hành tinh cổ xưa và huyền bí, được đồng hóa với phương diện thứ ba, và dường như đã hoạt động lâu hơn Sao Kim. |
|
81. Mercury’s association with the kundalini would seem to be one of its lower functions, but like kundalini, Mercury is a great connector. |
81. Sự liên kết của Sao Thủy với kundalini dường như là một trong các chức năng thấp của nó, nhưng cũng như kundalini, Sao Thủy là một tác nhân kết nối vĩ đại. |
|
82. If Venus is not to be included in the logoic quaternary, then another (presently named) planet must be found to be assigned in its place. It cannot be Mercury, because Mercury is given (in the excerpt above) as not being one of those planets which merges into Saturn. |
82. Nếu Sao Kim không được kể vào bộ tứ của Thượng đế, thì phải tìm một hành tinh khác (đã được đặt tên hiện nay) để thay vào vị trí của nó. Không thể là Sao Thủy, vì Sao Thủy được nêu ra (trong đoạn trích trên) là không phải một trong những hành tinh hợp nhất vào Sao Thổ. |
|
83. Of the known planets, Pluto, Earth and Mars will surely merge into Saturn. There are no more known planets to substitute. One would have to resort to unknown planets, which does not seem probable, as they are farther out in the system and, therefore, less central and less likely to be associated with major chakras. |
83. Trong các hành tinh đã biết, Sao Diêm Vương, Trái Đất và Sao Hỏa chắc chắn sẽ hợp nhất vào Sao Thổ. Không còn hành tinh đã biết nào khác để thay thế. Người ta sẽ phải viện đến các hành tinh chưa biết, điều này dường như không có khả năng, vì chúng ở xa hơn trong hệ và do đó kém trung tâm hơn, cũng ít có khả năng được liên kết với các luân xa chính hơn. |
|
84. There is a possibility (in relation to the known planets) that Saturn will absorb Mars, Earth, Vulcan, Jupiter, AND, as well, both Mercury and Venus (as suggested on Chart VI, TCF 373). Pluto is a special case and was not discovered when TCF was written. One would suspect, however, that it would also have to be absorbed by the Brahmic planet, Saturn. |
84. Có một khả năng (liên hệ với các hành tinh đã biết) là Sao Thổ sẽ hấp thu Sao Hỏa, Trái Đất, Vulcan, Sao Mộc, VÀ, ngoài ra, cả Sao Thủy lẫn Sao Kim nữa (như được gợi ý trong Biểu đồ VI, TCF 373). Sao Diêm Vương là một trường hợp đặc biệt và chưa được khám phá khi TCF được viết. Tuy nhiên, người ta có thể ngờ rằng nó cũng sẽ phải được hấp thu bởi hành tinh Brahma, Sao Thổ. |
|
85. At least, the thought that Saturn would initially absorb Mercury and Venus is one interpretation of the fact that, in Chart VI, all those planetary schemes are gathered around Saturn. |
85. Ít nhất, ý nghĩ rằng Sao Thổ ban đầu sẽ hấp thu Sao Thủy và Sao Kim là một cách diễn giải sự kiện rằng, trong Biểu đồ VI, tất cả các hệ hành tinh ấy đều được tập hợp quanh Sao Thổ. |
|
86. Were this the case, however, Mercury and Venus would somehow have to maintain their distinct identities within the absorber, Saturn, in order later to be merged into Uranus and Neptune respectively. |
86. Tuy nhiên, nếu là như vậy, thì bằng cách nào đó Sao Thủy và Sao Kim sẽ phải duy trì bản sắc riêng biệt của chúng bên trong hành tinh hấp thu là Sao Thổ, để sau này lần lượt được hợp nhất vào Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương. |
|
87. Such an interpretation is, of course, a stretch, but we are faced with an apparent blatant contradiction—the Venus both is and is not a part of the logoic quaternary, and we have to make an effort to resolve it. |
87. Dĩ nhiên, cách diễn giải như vậy là khá gượng ép, nhưng chúng ta đang đối diện với một mâu thuẫn hiển nhiên và trắng trợn—Sao Kim vừa là vừa không là một phần của bộ tứ của Thượng đế, và chúng ta phải nỗ lực giải quyết điều đó. |
|
88. If we at least lay out the reasoning, we shall have made some progress towards resolution. |
88. Nếu ít nhất chúng ta trình bày được lập luận, thì chúng ta cũng đã đạt được một số tiến bộ hướng tới sự giải quyết. |
|
89. VSK has some suggestions on the basis of the duality of the solar plexus center, about which we learn in DINA II. She states: “Well … the solar plexus is dual. So, in relation to higher and lower, are we dealing explicitly with the Venus and Earth duality as solar plexus/spleen?, or with the Venus and Mercury marriage into a hermaphrodite in the solar plexus? This would make sense for the Capricorn/Scorpio hierarchies marrying also—Venus representing Capricorn and Mercury, Scorpio. This would leave the Earth for a placement in the dense physical as the base of the spine? |
89. VSK có một số gợi ý dựa trên tính nhị nguyên của trung tâm tùng thái dương, điều mà chúng ta được biết trong DINA II. Bà nói: “… tùng thái dương là nhị nguyên. Vậy, trong liên hệ với cao và thấp, chúng ta có đang minh nhiên xử lý tính nhị nguyên Sao Kim và Trái Đất như tùng thái dương/lá lách không, hay là với sự kết hợp của Sao Kim và Sao Thủy thành một thể lưỡng tính trong tùng thái dương? Điều này sẽ có ý nghĩa đối với việc các Huyền Giai Ma Kết/Hổ Cáp cũng kết hợp—Sao Kim đại diện cho Ma Kết và Sao Thủy cho Hổ Cáp. Như thế sẽ để lại Trái Đất cho một vị trí trong thể xác đậm đặc như đáy cột sống chăng? |
|
d. The centre which is analogous to that at the base of the spine, or the reservoir of kundalini, has a permanence which is not seen in the other two lower centres. |
d. Trung tâm tương tự với trung tâm ở đáy cột sống, hay hồ chứa kundalini, có một tính bền vững không thấy được trong hai trung tâm thấp kia. |
|
90. Now, we are back to a consideration of only two lower centers instead of three. |
90. Giờ đây, chúng ta lại quay về việc chỉ xét hai trung tâm thấp thay vì ba. |
|
The Heavenly Man Who embodies this principle and is the source of generative heat to His Brothers, must be sought for by the aid of the intuition. Concrete Mind will not here avail. |
Đấng Thiên Nhân hiện thân cho nguyên khí này và là nguồn nhiệt sinh sản cho Các Huynh Đệ của Ngài, phải được tìm ra nhờ sự trợ giúp của trực giác. Trí cụ thể ở đây sẽ không hữu dụng. |
|
91. When DK tells us to seek the planet associated with kundalini by means of the intuition, one wonders if He is hinting at a planet which is related to the intuitive function. Such a planet could be Mercury (associated strongly with both kundalini and with the intuition). But would Mercury supply “generative heat”? And of course there are other problems in assigning only Mercury to the base of the spine function. |
91. Khi Chân sư DK bảo chúng ta tìm hành tinh gắn với kundalini bằng trực giác, người ta tự hỏi liệu Ngài có đang ám chỉ một hành tinh liên hệ với chức năng trực giác hay không. Một hành tinh như vậy có thể là Sao Thủy (liên kết mạnh mẽ cả với kundalini lẫn trực giác). Nhưng liệu Sao Thủy có cung cấp “nhiệt” sinh sản không? Và dĩ nhiên còn có những vấn đề khác trong việc gán chỉ riêng Sao Thủy cho chức năng đáy cột sống. |
|
92. In relation to the excerpt immediately above, the following reference is of value: |
92. Liên hệ với đoạn trích ngay trên, tài liệu dẫn chiếu sau đây có giá trị: |
|
In connection with these two planets, it must be remembered that Venus is a sacred planet and the Earth is not. This means that certain of the planets are to the Logos what the permanent atoms are to man. They embody principles. Certain planets afford only temporary [Page 299] homes to these principles. Others persist throughout the mahamanvantara. Of these Venus is one. (TCF 298-299) |
Liên quan đến hai hành tinh này, cần nhớ rằng Sao Kim là một hành tinh thiêng liêng còn Trái Đất thì không. Điều này có nghĩa là một số hành tinh đối với Thượng đế cũng như các nguyên tử trường tồn đối với con người. Chúng hiện thân cho các nguyên khí. Một số hành tinh chỉ cung cấp những nơi cư trú tạm thời [Page 299] cho các nguyên khí này. Những hành tinh khác tồn tại suốt Đại giai kỳ sinh hóa. Sao Kim là một trong số đó. (TCF 298-299) |
|
93. We learn that only sacred planets are the analogy to permanent atoms and “embody principles”. Earth, it appears, is not one of these. |
93. Chúng ta biết rằng chỉ các hành tinh thiêng liêng mới là loại suy với các nguyên tử trường tồn và “hiện thân cho các nguyên khí”. Có vẻ như Trái Đất không thuộc số này. |
|
94. We are learning that Venus persists throughout the mahamanvantara. The implication is that the Earth does not, and that Earth provides only a “temporary” home to logoic principles. |
94. Chúng ta đang học rằng Sao Kim tồn tại suốt Đại giai kỳ sinh hóa. Hàm ý là Trái Đất không như vậy, và rằng Trái Đất chỉ cung cấp một nơi cư trú “tạm thời” cho các nguyên khí của Thượng đế. |
|
95. Venus cannot be the base of the spine center. Earth, it appears, cannot because it does not last throughout the mahamanvantara (and a certain “permanence” is required of the base of the spine center, as indicated above). While it appears that Earth does not endure throughout the mahamanvantara, the Tibetan has only hinted at this possibility and has not confirmed it. (Planetary lore as given in the Secret Doctrine does not suggest that the planets came into manifestation at different times, yet DK seems to suggest so.) |
95. Sao Kim không thể là trung tâm đáy cột sống. Có vẻ như Trái Đất cũng không thể, vì nó không tồn tại suốt Đại giai kỳ sinh hóa (và một tính “bền vững” nhất định được đòi hỏi nơi trung tâm đáy cột sống, như đã chỉ ra ở trên). Dù có vẻ rằng Trái Đất không tồn tại suốt Đại giai kỳ sinh hóa, Chân sư Tây Tạng chỉ mới ám chỉ khả năng này chứ chưa xác nhận nó. (Tri thức hành tinh như được trình bày trong Giáo Lý Bí Nhiệm không gợi ý rằng các hành tinh đi vào biểu hiện vào những thời điểm khác nhau, tuy nhiên DK dường như lại gợi ý như thế.) |
|
96. We are left with Mars and Pluto, but as they, too, are non-sacred, do we have any confidence that they would last throughout the mahamanvantara? |
96. Chúng ta còn lại Sao Hỏa và Sao Diêm Vương, nhưng vì chúng cũng là các hành tinh không thiêng liêng, liệu chúng ta có thể tin rằng chúng sẽ tồn tại suốt Đại giai kỳ sinh hóa không? |
|
97. The planet in question is the “source of generative heat to His Brothers”. This sounds very much like Mars, which is associated with both generation (sex and reproduction) and with heat (frictional fires), and which is said to rule kundalini latent. |
97. Hành tinh đang được nói đến là “nguồn nhiệt sinh sản cho Các Huynh Đệ của Ngài”. Điều này nghe rất giống Sao Hỏa, vốn gắn với cả sự sinh sản (tình dục và sinh sản) lẫn nhiệt (các lửa ma sát), và được nói là cai quản kundalini tiềm ẩn. |
|
98. Further, Mars is associated with “kundalini latent” as stated in the excerpt below: |
98. Hơn nữa, Sao Hỏa được liên kết với “kundalini tiềm ẩn” như được nêu trong đoạn trích dưới đây: |
|
Mercury demonstrates kundalini in intelligent activity, while Mars demonstrates kundalini latent. The truth lies hid in their two astrological symbols. In transmutation and planetary geometrising, the secret may be revealed. (TCF 181) |
Sao Thủy biểu lộ kundalini trong hoạt động thông minh, trong khi Sao Hỏa biểu lộ kundalini tiềm ẩn. Chân lý ẩn giấu trong hai biểu tượng chiêm tinh của chúng. Trong sự chuyển hoá và sự hình học hóa hành tinh, bí mật có thể được tiết lộ. (TCF 181) |
|
99. We see both Mars and Mercury associated with kundalini. Mercury, because it is very old, may well be one of those planets which lasts throughout the mahamanvantara, and it is, as well, a close companion to Venus, which does, we are told, last the duration. |
99. Chúng ta thấy cả Sao Hỏa lẫn Sao Thủy đều được liên kết với kundalini. Sao Thủy, vì rất cổ xưa, rất có thể là một trong những hành tinh tồn tại suốt Đại giai kỳ sinh hóa, và ngoài ra, nó còn là bạn đồng hành gần gũi của Sao Kim, hành tinh mà chúng ta được cho biết là quả thực tồn tại trọn thời kỳ ấy. |
|
100. But Mercury, though associated with kundalini, cannot be considered either a source of generative power or of heat. |
100. Nhưng Sao Thủy, dù được liên kết với kundalini, không thể được xem là nguồn của quyền năng sinh sản hay của nhiệt. |
|
101. Pluto, which lies at the extremity of our solar system, also cannot be considered a source of heat. Pluto is cold and ‘hell’ is cold (at least as Dante conceives it in The Inferno). |
101. Sao Diêm Vương, nằm ở cực biên của hệ mặt trời chúng ta, cũng không thể được xem là một nguồn nhiệt. Sao Diêm Vương lạnh, và ‘địa ngục’ thì lạnh (ít nhất theo cách Dante hình dung trong Địa Ngục). |
|
102. Interestingly, Pluto is not listed amongst the planetary schemes surrounding Saturn (TCF 373), but Mars is. Could it be that Mars, as the alter-ego of Pluto, could absorb Pluto, before Mars was absorbed into Saturn? |
102. Điều thú vị là Sao Diêm Vương không được liệt kê среди các hệ hành tinh bao quanh Sao Thổ (TCF 373), nhưng Sao Hỏa thì có. Liệu có thể là Sao Hỏa, với tư cách đối phần của Sao Diêm Vương, có thể hấp thu Sao Diêm Vương trước khi chính Sao Hỏa được hấp thu vào Sao Thổ chăng? |
|
103. In some way, could both Mars and Pluto be associated with the base of the spine center in the Solar Logos? |
103. Theo một cách nào đó, liệu cả Sao Hỏa lẫn Sao Diêm Vương đều có thể được liên kết với trung tâm đáy cột sống trong Thái dương Thượng đế chăng? |
|
104. The problem is, there are a number of planets which each could reasonably be associated with the base of the spine center in various of its functions: Pluto, Mars, Mercury, Earth, Saturn and Uranus! There are reasonable justifications for all. |
104. Vấn đề là có một số hành tinh, mỗi hành tinh đều có thể được liên kết một cách hợp lý với trung tâm đáy cột sống trong những chức năng khác nhau của nó: Sao Diêm Vương, Sao Hỏa, Sao Thủy, Trái Đất, Sao Thổ và Sao Thiên Vương! Tất cả đều có những biện minh hợp lý. |
|
a. Pluto—DK assigns Pluto the base of the spine center for man. |
a. Sao Diêm Vương—DK gán Sao Diêm Vương cho trung tâm đáy cột sống của con người. |
|
b. Mars—DK tells us it demonstrates as “kundalini latent” |
b. Sao Hỏa—DK cho chúng ta biết nó biểu lộ như “kundalini tiềm ẩn” |
|
c. Mercury—DK tells us it “demonstrates kundalini in intelligent activity” |
c. Sao Thủy—DK cho chúng ta biết nó “biểu lộ kundalini trong hoạt động thông minh” |
|
d. Earth—DK gives analogies which make this clear. |
d. Trái Đất—DK đưa ra những loại suy khiến điều này trở nên rõ ràng. |
|
e. Saturn—it rules the foundation, the anchor, and is the esoteric and hierarchical ruler of Libra, which can be associated with the sushumna as the “Royal Road” into Shamballa or the head center. Shamballa is closely connected with Libra. |
e. Sao Thổ—nó cai quản nền tảng, cái neo giữ, và là chủ tinh huyền bí và chủ tinh theo Thánh đoàn của Thiên Bình, dấu hiệu có thể được liên kết với sushumna như “Con Đường Hoàng Gia” đi vào Shamballa hay trung tâm đầu. Shamballa liên hệ chặt chẽ với Thiên Bình. |
|
f. Uranus—it is the planet of the seven ray (in its soul nature) and the base of the spine center is the seventh chakra numbering from above. |
f. Sao Thiên Vương—đó là hành tinh của cung bảy (trong bản chất linh hồn của nó) và trung tâm đáy cột sống là luân xa thứ bảy tính từ trên xuống. |
|
105. From a higher point of view, chakras are like planets and all of them are responsive to all planets in the greater system (which the chakric system reflects). |
105. Từ một quan điểm cao hơn, các luân xa giống như các hành tinh và tất cả chúng đều đáp ứng với mọi hành tinh trong hệ lớn hơn (mà hệ luân xa phản ánh). |
|
e. The three higher centres, or the Heavenly Men Who correspond to the head, the heart and the throat of the solar Logos, have Their etheric analogies on the three higher etheric levels of the cosmic physical plane, just as the Heavenly Man Who embodies the logoic solar plexus finds His manifesting source on the fourth etheric. |
e. Ba trung tâm cao hơn, hay các Đấng Thiên Nhân tương ứng với đầu, tim và cổ họng của Thái dương Thượng đế, có những loại suy dĩ thái của Các Ngài trên ba cấp dĩ thái cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ, cũng như Đấng Thiên Nhân hiện thân cho trung tâm tùng thái dương của Thượng đế tìm thấy nguồn biểu hiện của Ngài trên cõi dĩ thái thứ tư. |
|
106. Here we find a description which seems to contradict Chart V, TCF 344. There we see that the seven Planetary Logoi are focussed on the systemic monadic plane which is the sub-atomic level of the cosmic etheric plane. (As stated, the chart on 344. could be generalized). |
106. Ở đây chúng ta gặp một mô tả dường như mâu thuẫn với Biểu đồ V, TCF 344. Ở đó chúng ta thấy bảy Hành Tinh Thượng đế được tập trung trên cõi chân thần của hệ, vốn là cấp độ hạ nguyên tử của cõi dĩ thái vũ trụ. (Như đã nói, biểu đồ ở trang 344. có thể được khái quát hóa). |
|
107. But what is here said, corresponds well with Chart VIII, The Egoic Lotus and the Centres, in which the major three chakras of the human being (the head center, the heart center and the throat center) are found on the three highest systemic etheric sub-planes. |
107. Nhưng điều được nói ở đây lại tương ứng tốt với Biểu đồ VIII, Hoa Sen Chân Ngã và các Trung Tâm, trong đó ba luân xa chính của con người (trung tâm đầu, trung tâm tim và trung tâm cổ họng) được tìm thấy trên ba cõi phụ dĩ thái cao nhất của hệ. |
|
108. Just as in the case of a human being, the solar plexus center is found upon the fourth ether. Whatever planetary scheme we determine for the logoic solar plexus center, its focus will be upon the systemic buddhic plane which is the fourth cosmic ether. |
108. Cũng như trong trường hợp con người, trung tâm tùng thái dương được tìm thấy trên dĩ thái thứ tư. Dù chúng ta xác định hệ hành tinh nào cho trung tâm tùng thái dương của Thượng đế, tiêu điểm của nó sẽ nằm trên cõi Bồ đề của hệ, vốn là dĩ thái vũ trụ thứ tư. |
|
109. If we believe that Venus may serve as the logoic solar plexus center (for many reasons above stated), then its major focus will be upon the systemic buddhic plane. Of the four planets considered for membership in the logoic quaternary (Pluto, Mars, Earth and Venus), Venus is most appropriately related to the systemic buddhic plane. |
109. Nếu chúng ta tin rằng Sao Kim có thể phục vụ như trung tâm tùng thái dương của Thượng đế (vì nhiều lý do đã nêu trên), thì tiêu điểm chính của nó sẽ nằm trên cõi Bồ đề của hệ. Trong bốn hành tinh được xét để thuộc về bộ tứ của Thượng đế (Sao Diêm Vương, Sao Hỏa, Trái Đất và Sao Kim), Sao Kim là hành tinh liên hệ thích hợp nhất với cõi Bồ đề của hệ. |
|
110. Our Solar Logos is strongly astral-buddhic in His nature, but He has not yet taken the third cosmic initiation. His solar plexus center is highly developed but, not yet being an initiate of the cosmic third degree, we might say that His heart center is not so fully developed. |
110. Thái dương Thượng đế của chúng ta có bản chất cảm dục-Bồ đề rất mạnh, nhưng Ngài chưa trải qua lần điểm đạo vũ trụ thứ ba. Trung tâm tùng thái dương của Ngài phát triển cao, nhưng vì chưa là một điểm đạo đồ của bậc ba vũ trụ, chúng ta có thể nói rằng trung tâm tim của Ngài chưa phát triển đầy đủ đến thế. |
|
111. This thought tends to be confirmed in the following: |
111. Tư tưởng này có xu hướng được xác nhận trong đoạn sau: |
|
We have been told that the solar Logos, on the cosmic planes, works at the problem of cosmic mind; that He functions in His physical solar system, is polarised in His cosmic astral, or emotional body, and is developing [53] cosmic mind. (LOM 52-53) |
Chúng ta đã được cho biết rằng Thái dương Thượng đế, trên các cõi vũ trụ, đang làm việc với vấn đề của trí tuệ vũ trụ; rằng Ngài hoạt động trong hệ mặt trời vật chất của Ngài, được phân cực trong thể cảm dục, hay thể cảm xúc, vũ trụ của Ngài, và đang phát triển trí tuệ vũ trụ. (LOM 52-53) |
|
112. Yet, Venus, is the most unfolded planet in our solar system and would, therefore, correspond to an extensively unfolded center in the Solar Logos. Again, it is more likely that Venus (extensively developed) corresponds to the logoic solar plexus center (also extensively developed if the Solar Logos is polarized in his emotional nature). |
112. Tuy vậy, Sao Kim là hành tinh được khai mở nhất trong hệ mặt trời của chúng ta và do đó sẽ tương ứng với một trung tâm được khai mở rộng rãi trong Thái dương Thượng đế. Một lần nữa, có nhiều khả năng là Sao Kim (được phát triển rộng rãi) tương ứng với trung tâm tùng thái dương của Thượng đế (cũng được phát triển rộng rãi nếu Thái dương Thượng đế được phân cực trong bản chất cảm xúc của Ngài). |
|
113. Our astral-buddhic Solar Logos is still, due to His stage of unfoldment, more astral than buddhic. |
113. Thái dương Thượng đế cảm dục-Bồ đề của chúng ta, do giai đoạn khai mở của Ngài, vẫn còn cảm dục hơn là Bồ đề. |
|
114. Now to the matter of the three higher centers. We can hypothesize Saturn for the throat center; Jupiter for the heart center; and Uranus/Neptune for the head center, with Neptune representing the heart in the head. |
114. Giờ đến vấn đề ba trung tâm cao hơn. Chúng ta có thể giả thuyết Sao Thổ cho trung tâm cổ họng; Sao Mộc cho trung tâm tim; và Sao Thiên Vương/Sao Hải Vương cho trung tâm đầu, với Sao Hải Vương đại diện cho tim trong đầu. |
|
115. If we do this, we shall still have to contend with the following statement: |
115. Nếu làm như vậy, chúng ta vẫn sẽ phải đối diện với phát biểu sau: |
|
Three of the sacred planets, it should be remembered, are the home of the three major Rays, of the embodied forms of the three logoic aspects or principles. Other planets are embodiments of the four minor rays. We might consider—from the standpoint of the present—that Venus, Jupiter and Saturn might be considered as the vehicles of the three super-principles at this time. Mercury, the Earth and Mars are closely allied to these three, but a hidden mystery lies here. (TCF 299) |
Cần nhớ rằng ba hành tinh thiêng liêng là nơi cư ngụ của ba Cung chính, của các hình tướng hiện thân của ba phương diện hay nguyên khí của Thượng đế. Các hành tinh khác là hiện thân của bốn cung phụ. Chúng ta có thể xem xét—từ quan điểm hiện tại—rằng Sao Kim, Sao Mộc và Sao Thổ có thể được xem là các vận cụ của ba siêu-nguyên khí vào lúc này. Sao Thủy, Trái Đất và Sao Hỏa liên kết chặt chẽ với ba hành tinh này, nhưng ở đây có một bí mật ẩn giấu. (TCF 299) |
|
116. Much depends upon what is meant by the “super-principles”. Are the three rays of aspect necessarily meant, or the three principles which are presently most active in the expression of our Solar Logos? |
116. Nhiều điều tùy thuộc vào ý nghĩa của “siêu-nguyên khí”. Có nhất thiết là ba Cung Trạng Thái được nói đến không, hay là ba nguyên khí hiện đang hoạt động mạnh nhất trong sự biểu lộ của Thái dương Thượng đế chúng ta? |
|
117. As we are dealing not only with a mystery, but with a “hidden mystery” no immediate and completely satisfying resolution may be expected. |
117. Vì chúng ta không chỉ đang xử lý một bí mật, mà là một “bí mật ẩn giấu”, nên không thể mong đợi một sự giải quyết tức thời và hoàn toàn thỏa đáng. |
|
118. A close study of laya yoga reveals that there are many important centers in the area of the head. First these must be named and correlated with the Trans-Himalayan system for they derive from an explicitly Hindu system. Then some correlations with discovered (and even undiscovered) planets can be made. |
118. Một nghiên cứu kỹ về laya yoga cho thấy có nhiều trung tâm quan trọng trong vùng đầu. Trước hết, các trung tâm này phải được nêu tên và đối chiếu với hệ thống Xuyên-Hy Mã Lạp Sơn vì chúng xuất phát từ một hệ thống Ấn giáo minh nhiên. Sau đó có thể thực hiện một số đối chiếu với các hành tinh đã được khám phá (và cả chưa được khám phá). |
|
119. As for Vulcan, it is a planet reasonably correlated with the seven major head centers which are the higher correspondences of the normal seven chakras. (We cannot deny its relation to the “Heart of the Sun” in relation to man, and so must reserve judgment on whether it is to be associated with the heart in the head center of the Solar Logos. |
119. Còn về Vulcan, đó là một hành tinh có thể được đối chiếu hợp lý với bảy trung tâm đầu chính, là những tương ứng cao hơn của bảy luân xa thông thường. (Chúng ta không thể phủ nhận mối liên hệ của nó với “Trái Tim của Mặt Trời” trong liên hệ với con người, và vì vậy phải tạm giữ phán đoán về việc liệu nó có nên được liên kết với trung tâm tim trong đầu của Thái dương Thượng đế hay không. |
|
120. Mercury would have a role in relation to the ajna center, as is already the case in the advanced human being (probably past the third initiation). |
120. Sao Thủy sẽ có một vai trò trong liên hệ với trung tâm ajna, như đã là trường hợp nơi con người tiến hóa cao (có lẽ sau lần điểm đạo thứ ba). |
|
121. The ajna and sacral center are sometimes not counted when the chakras are enumerated, because they are said to derive their existence from the interplay of the two chakras which surround or ‘bracket’ them. |
121. Trung tâm ajna và trung tâm xương cùng đôi khi không được tính đến khi liệt kê các luân xa, vì người ta nói rằng chúng phát sinh sự tồn tại của mình từ sự tương tác của hai luân xa bao quanh hay ‘kẹp’ chúng. |
|
122. We note that in correlating the chakras to the five Brahmic planes, the sacral and ajna center are omitted: |
122. Chúng ta lưu ý rằng khi đối chiếu các luân xa với năm cõi Brahma, trung tâm xương cùng và trung tâm ajna bị bỏ qua: |
|
a. The base of the spine center is correlated to the etheric plane |
a. Trung tâm đáy cột sống được đối chiếu với cõi dĩ thái |
|
b. The solar plexus center is correlate to the astral |
b. Trung tâm tùng thái dương được đối chiếu với cõi cảm dục |
|
c. The throat center to the mental |
c. Trung tâm cổ họng với cõi trí |
|
d. The heart center to the buddhic |
d. Trung tâm tim với cõi Bồ đề |
|
e. The head center to the atmic |
e. Trung tâm đầu với cõi atma |
|
123. Of the sacral center it is said: |
123. Về trung tâm xương cùng, có nói rằng: |
|
One major centre is here omitted because it is primarily related to the physical body and its expression of life perpetuation. That is the sacral centre. Just as the physical body is regarded by true esotericists as not a principle so the sacral centre is regarded as “a necessary evocation between that which is high and that which is low, and between that which is sounded forth from the centre in the throat and that which replies to a deeply sounded note.” (EA 428) |
Một trung tâm chính bị bỏ qua ở đây vì nó chủ yếu liên hệ với thể xác và sự biểu lộ của nó về việc duy trì sự sống. Đó là trung tâm xương cùng. Cũng như thể xác được các nhà bí truyền học chân chính xem là không phải một nguyên khí, thì trung tâm xương cùng cũng được xem là “một sự gợi lên cần thiết giữa cái ở trên cao và cái ở dưới thấp, và giữa cái được xướng lên từ trung tâm ở cổ họng và cái đáp lại một âm điệu được xướng lên từ sâu thẳm.” (EA 428) |
|
124. We note that the ajna center is omitted from the tabulation of centers in Chart VIII. |
124. Chúng ta lưu ý rằng trung tâm ajna bị bỏ qua trong bảng liệt kê các trung tâm ở Biểu đồ VIII. |
|
125. During the process of obscuration, some chakric correspondences may change, for lower centers disappear, just as they do when a human being is dying. But we need not think of these eventualities at this time. |
125. Trong tiến trình che khuất, một số tương ứng luân xa có thể thay đổi, vì các trung tâm thấp biến mất, cũng như chúng biến mất khi một con người đang chết. Nhưng hiện nay chúng ta chưa cần nghĩ đến những khả tính ấy. |
|
f. This Heavenly Man, with His etheric vortex or wheel of force on the fourth cosmic ether, is in this fourth round, a vital factor in planetary evolution. |
f. Đấng Thiên Nhân này, với xoáy dĩ thái hay bánh xe mãnh lực của Ngài trên dĩ thái vũ trụ thứ tư, trong cuộc tuần hoàn thứ tư này là một nhân tố sinh lực trong tiến hóa hành tinh. |
|
126. Go back to point “e.” to reestablish continuity. We are speaking of the planet which embodies the logoic solar plexus center. |
126. Hãy quay lại điểm “e.” để tái lập tính liên tục. Chúng ta đang nói về hành tinh hiện thân cho trung tâm tùng thái dương của Thượng đế. |
|
127. The hint here given tends to confirm the possibility of Venus as the ruler of the logoic solar plexus. |
127. Gợi ý được đưa ra ở đây có xu hướng xác nhận khả năng Sao Kim là hành tinh cai quản trung tâm tùng thái dương của Thượng đế. |
|
128. When the term “planetary evolution” is used here, of what planet are we speaking? It is probable that we are speaking of evolution within the Earth-scheme, and particularly within the Earth-chain and upon the Earth-globe. |
128. Khi thuật ngữ “tiến hóa hành tinh” được dùng ở đây, chúng ta đang nói về hành tinh nào? Có khả năng là chúng ta đang nói về tiến hóa bên trong hệ Địa Cầu, và đặc biệt trong Dãy Địa Cầu và trên bầu hành tinh Địa Cầu. |
|
129. Should this be the case, Venus fits very well, for it is and has been very influential in relation to the evolutionary process of the Heavenly Man of Earth. |
129. Nếu đúng như vậy, Sao Kim rất phù hợp, vì nó đang và đã có ảnh hưởng rất lớn trong liên hệ với tiến trình tiến hóa của Đấng Thiên Nhân của Trái Đất. |
|
130. In the term “vital” there may be a hint relating to etheric vitality. It is said that the etheric body is a reflection of the development of the causal body. The causal body is ruled by Venus in certain important respects. If the causal body influences the etheric body, we can see why Venus would be related to vitality. |
130. Trong từ “sinh lực” có thể có một gợi ý liên hệ với sinh lực dĩ thái. Người ta nói rằng thể dĩ thái là sự phản ánh của sự phát triển của thể nguyên nhân. Thể nguyên nhân được Sao Kim cai quản trong một số phương diện quan trọng. Nếu thể nguyên nhân ảnh hưởng đến thể dĩ thái, chúng ta có thể thấy vì sao Sao Kim lại liên hệ với sinh lực. |
|
g. When the Heavenly Man, Who is at present demonstrating through the Earth scheme, has succeeded in vitalising His middle centre, or in directing the force of planetary kundalini away from the lower centres to the solar plexus centre, a new cycle will be reached, and much of the present distress will be ended. |
g. Khi Đấng Thiên Nhân, Đấng hiện đang biểu lộ qua hệ Địa Cầu, đã thành công trong việc tiếp sinh lực cho trung tâm giữa của Ngài, hay trong việc hướng mãnh lực kundalini hành tinh ra khỏi các trung tâm thấp đến trung tâm tùng thái dương, một chu kỳ mới sẽ đạt tới, và phần lớn nỗi khốn khổ hiện nay sẽ chấm dứt. |
|
131. It would seem that much planetary distress is related to the activation of the two lower centers—the based of the spine and the sacral center, especially. |
131. Có vẻ như nhiều khốn khổ hành tinh liên hệ với sự hoạt hóa của hai trung tâm thấp—đặc biệt là trung tâm đáy cột sống và trung tâm xương cùng. |
|
132. It is sometimes difficult to draw an analogy between the seven chains of our Heavenly Man and His seven chakras. Two sets of seven are present, however, the middle chakra (the Earth-chain) is the most material, whereas the middle chakra (either the solar plexus center or the heart center, depending upon the perspective) is not the most material center. |
132. Đôi khi khó rút ra một loại suy giữa bảy dãy của Đấng Thiên Nhân chúng ta và bảy luân xa của Ngài. Tuy nhiên, có hai bộ bảy hiện diện; luân xa giữa (Dãy Địa Cầu) là vật chất nhất, trong khi luân xa giữa (hoặc trung tâm tùng thái dương hoặc trung tâm tim, tùy theo góc nhìn) lại không là trung tâm vật chất nhất. |
|
133. So the first chain in the series of seven chains does not correspond (at least in materiality) to the first chakra in a series of seven chakras. |
133. Vì vậy, dãy thứ nhất trong chuỗi bảy dãy không tương ứng (ít nhất về tính vật chất) với luân xa thứ nhất trong chuỗi bảy luân xa. |
|
His work is as yet in an embryonic condition, and two and a half more cycles must transpire before He has accomplished the necessary work. |
Công việc của Ngài hiện vẫn còn ở trong tình trạng phôi thai, và còn phải trải qua thêm hai chu kỳ rưỡi nữa trước khi Ngài hoàn thành công việc cần thiết. |
|
134. As we are in the middle of the fourth round, this suggests that the fifth and sixth rounds must elapse before this work is accomplished. There is also the possibility that either shorter of longer cycles could be indicated. |
134. Vì chúng ta đang ở giữa cuộc tuần hoàn thứ tư, điều này gợi ý rằng các cuộc tuần hoàn thứ năm và thứ sáu phải trôi qua trước khi công việc này được hoàn tất. Cũng có khả năng là những chu kỳ ngắn hơn hoặc dài hơn được hàm ý. |
|
135. The sixth round however, may reasonably be correlated with buddhi (the sixth principle) and with the Venus chain (which depending upon the perspective) is either the second or the sixth chain. The Logos of Venus, we remember has a Monad on the sixth ray and is working in relation to the sixth level of the cosmic astral plane. |
135. Tuy nhiên, cuộc tuần hoàn thứ sáu có thể được đối chiếu một cách hợp lý với Bồ đề (nguyên khí thứ sáu) và với dãy Sao Kim (tùy theo góc nhìn, hoặc là dãy thứ hai hoặc là dãy thứ sáu). Chúng ta nhớ rằng Thượng đế của Sao Kim có một chân thần trên cung sáu và đang hoạt động trong liên hệ với cấp độ thứ sáu của cõi cảm dục vũ trụ. |
|
136. The solar plexus center of our Heavenly Man is considered to be the “middle center”. It stands in the middle of the five centers up the spine. |
136. Trung tâm tùng thái dương của Đấng Thiên Nhân của chúng ta được xem là “trung tâm ở giữa”. Nó đứng ở giữa năm trung tâm dọc theo cột sống. |
|
137. The Earth-chain is, in a way, the middle center when considering the planetary chains as centers. |
137. Dãy Địa Cầu, theo một nghĩa nào đó, là trung tâm ở giữa khi xem các dãy hành tinh như những trung tâm. |
|
138. We, therefore, have a correlation between our Earth-chain and the solar plexus center. |
138. Vì vậy, chúng ta có một sự tương quan giữa Dãy Địa Cầu của chúng ta và trung tâm tùng thái dương. |
|
139. This fits well with the idea that in the fourth root race, humanity was working very much with the sixth ray and the solar plexus center. |
139. Điều này rất phù hợp với ý tưởng rằng trong giống dân gốc thứ tư, nhân loại đã hoạt động rất nhiều với cung sáu và trung tâm tùng thái dương. |
|
140. From this perspective, the third chain would correspond to the Lemurian root race, the fourth chain to the Atlantean and the fifth chain to the Aryan root race. |
140. Từ góc độ này, dãy thứ ba sẽ tương ứng với giống dân gốc Lemuria, dãy thứ tư với Atlantis và dãy thứ năm với giống dân gốc Arya. |
|
141. The solar plexus center can be a turbulent center, but also, at the second initiation, a center of peace which reflects the heart center and proves a vehicle for the energy of love. |
141. Trung tâm tùng thái dương có thể là một trung tâm đầy xáo động, nhưng cũng có thể, ở lần điểm đạo thứ hai, là một trung tâm bình an phản chiếu trung tâm tim và chứng tỏ là một vận cụ cho năng lượng bác ái. |
|
142. It would seem that the Tibetan is thinking of the solar plexus center more in its Venusian aspect (calm and reflective of love) than in a more Martian aspect. |
142. Có vẻ như Chân sư Tây Tạng đang nghĩ về trung tâm tùng thái dương nhiều hơn trong phương diện Kim Tinh của nó (điềm tĩnh và phản chiếu bác ái) hơn là trong một phương diện Hỏa Tinh hơn. |
|
143. We remember that our Heavenly Man is working upon his second cosmic initiation (TCF 384). Much will depend upon what is meant by two and a half more cycles. If these cycles are rounds, the time spent may be too little for our Planetary Logos to achieve the second cosmic initiation. This is even more the case if the two and half more cycles refer to root races. |
143. Chúng ta nhớ rằng Đấng Thiên Nhân của chúng ta đang nỗ lực hướng tới lần điểm đạo vũ trụ thứ hai của Ngài (TCF 384). Nhiều điều sẽ tùy thuộc vào ý nghĩa của hai chu kỳ rưỡi nữa. Nếu các chu kỳ này là các cuộc tuần hoàn, thì khoảng thời gian dành ra có thể là quá ít để Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đạt được lần điểm đạo vũ trụ thứ hai. Điều này lại càng đúng hơn nếu hai chu kỳ rưỡi nữa ám chỉ các giống dân gốc. |
|
144. If, however, the cycles relate to chains—such that two and a half more ‘chain emphases’ have to pass before he has accomplished the necessary work, then, perhaps, the completion of the two and half cycles may see the taking of the second cosmic initiation, which we certainly expect within this mahamanvantara. |
144. Tuy nhiên, nếu các chu kỳ liên hệ đến các dãy—đến mức hai “trọng điểm dãy” rưỡi nữa phải trôi qua trước khi Ngài hoàn tất công việc cần thiết—thì có lẽ việc hoàn tất hai chu kỳ rưỡi có thể chứng kiến việc thọ nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ hai, điều mà chúng ta chắc chắn trông đợi trong mahamanvantara này. |
|
145. Just as the third cosmic initiation is the “goal” for the Solar Logos (and yet He is destined to take the fourth or fifth cosmic initiation before the conclusion of this solar system—depending upon which reference is credited), so it may be that although the goal for the Planetary Logos is the second cosmic initiation, He may still take a further initiation during the present solar system. |
145. Cũng như lần điểm đạo vũ trụ thứ ba là “mục tiêu” đối với Thái dương Thượng đế (và tuy thế Ngài được định sẽ thọ nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ tư hoặc thứ năm trước khi hệ mặt trời này kết thúc—tùy theo tài liệu tham chiếu nào được chấp nhận), thì có thể là mặc dù mục tiêu của Hành Tinh Thượng đế là lần điểm đạo vũ trụ thứ hai, Ngài vẫn có thể thọ nhận thêm một lần điểm đạo nữa trong hệ mặt trời hiện tại. |
|
When that is done, the result in connection with the human units in incarnation will be threefold: |
Khi điều đó được thực hiện, kết quả liên quan đến các đơn vị nhân loại đang lâm phàm sẽ là tam phân: |
|
146. We are speaking of the results to be achieved when the two and half more cycles have elapsed. If we wish to be inclusive, we shall see that such cycles could be: |
146. Chúng ta đang nói về những kết quả sẽ đạt được khi hai chu kỳ rưỡi nữa đã trôi qua. Nếu muốn bao gồm, chúng ta sẽ thấy rằng các chu kỳ ấy có thể là: |
|
a. Root race cycles |
a. Các chu kỳ giống dân gốc |
|
b. Round cycles (i.e., chain-round cycles). |
b. Các chu kỳ cuộc tuần hoàn (tức là các chu kỳ cuộc tuần hoàn của dãy). |
|
c. Chain cycles (which related to ‘scheme rounds’ rather then chain rounds). |
c. Các chu kỳ dãy (liên hệ đến các ‘cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh’ hơn là các cuộc tuần hoàn của dãy). |
|
Sex stimulation, as now understood, will be showing a tendency to manifest in creation, not so much on the physical plane, as on the astral and mental, demonstrating in the creations of art and beauty, and the objective work of the scientists. |
Sự kích thích tính dục, như hiện nay được hiểu, sẽ cho thấy một khuynh hướng biểu hiện trong sáng tạo, không nhiều trên cõi hồng trần cho bằng trên cõi cảm dục và cõi trí, biểu lộ trong các sáng tạo của nghệ thuật và cái đẹp, và trong công trình khách quan của các nhà khoa học. |
|
147. For such creative work to emerge, the third petal (associated with the throat center) will have to be unfolded—especially if we are dealing with the “objective work of the scientists”. This will not occur for the majority probably until the next round. |
147. Để công việc sáng tạo như thế xuất hiện, cánh hoa thứ ba (liên kết với trung tâm cổ họng) sẽ phải được khai mở—đặc biệt nếu chúng ta đang bàn đến “công trình khách quan của các nhà khoa học”. Điều này có lẽ sẽ không xảy ra với đa số cho đến cuộc tuần hoàn kế tiếp. |
|
Lotuses of passion or desire. They are so called because their fundamental nature is embodied love in some one or other form. The bulk of the Monads of Love are among this large group and they are to be seen incarnating in the bulk of the well-to-do, kindly people of the world. They are divided into five groups, of whom three individualised upon this planet, and two were the very latest to individualise upon the moon chain. They have two petals unfolded and the third is for them at this time the object of their attention. Many may succeed in unfolding it before the seventh rootrace of this round but the bulk of them will unfold it in the second rootrace of the next round, and will stand ready before the close of the round to pass on to the probationary path, having unfolded one tier of petals, and organised the second. (TCF 842) |
Những Hoa sen của đam mê hay dục vọng. Chúng được gọi như vậy vì bản chất căn bản của chúng là bác ái nhập thể dưới hình thức này hay hình thức khác. Phần lớn các Chân thần Bác Ái thuộc về nhóm lớn này và có thể thấy họ nhập thể trong phần đông những người khá giả, tử tế trên thế giới. Họ được chia thành năm nhóm, trong đó ba nhóm đã biệt ngã hóa trên hành tinh này, và hai nhóm là những nhóm biệt ngã hóa muộn nhất trên Dãy Mặt Trăng. Họ đã khai mở hai cánh hoa và cánh hoa thứ ba hiện nay là đối tượng chú ý của họ. Nhiều người có thể thành công trong việc khai mở nó trước giống dân gốc thứ bảy của cuộc tuần hoàn này nhưng phần lớn họ sẽ khai mở nó trong giống dân gốc thứ hai của cuộc tuần hoàn kế tiếp, và sẽ sẵn sàng trước khi cuộc tuần hoàn kết thúc để bước vào Con Đường Dự Bị, sau khi đã khai mở một tầng cánh hoa và tổ chức tầng thứ hai. (TCF 842) |
|
148. Creative work of some kind can also begin at an earlier stage, before the complete unfoldment of the third petal: |
148. Công việc sáng tạo thuộc một loại nào đó cũng có thể bắt đầu ở một giai đoạn sớm hơn, trước khi cánh hoa thứ ba được khai mở hoàn toàn: |
|
Creative work can be carried forward when two of the “knowledge petals” of the egoic lotus are unfolded. The man can produce, through knowledge and creative energy, something upon the physical plane which will be expressive of the soul’s creative power. When two of the “love petals” are also unfolded, then a genius makes his appearance. (EA 18) |
Công việc sáng tạo có thể được tiếp tục khi hai trong các “cánh hoa tri thức” của Hoa Sen Chân Ngã được khai mở. Con người có thể tạo ra, thông qua tri thức và năng lượng sáng tạo, một điều gì đó trên cõi hồng trần sẽ biểu lộ quyền năng sáng tạo của linh hồn. Khi hai trong các “cánh hoa bác ái” cũng được khai mở, thì một thiên tài xuất hiện. (EA 18) |
|
149. In the matter of true creativity, we are speaking of a significant transference from humanity’s sacral center to its throat center. This requires the treading of the Probationary Path or very nearly so. Will two and a half root races be sufficient to see this accomplished? It may not be so, because the bulk of the Lotuses of Passion and Desire (comprising a large percentage of our humanity) will not even be on the Path until the fifth round, as indicated in the quotation above (TCF 842) |
149. Trong vấn đề sáng tạo chân chính, chúng ta đang nói đến một sự chuyển dịch đáng kể từ trung tâm xương cùng của nhân loại lên trung tâm cổ họng. Điều này đòi hỏi phải bước trên Con Đường Dự Bị hoặc rất gần như thế. Liệu hai giống dân gốc rưỡi có đủ để thấy điều này được hoàn thành không? Có thể là không, vì phần lớn các Hoa sen của Đam mê và Dục vọng (chiếm một tỉ lệ lớn trong nhân loại chúng ta) thậm chí sẽ chưa ở trên Đường Đạo cho đến cuộc tuần hoàn thứ năm, như được chỉ ra trong đoạn trích dẫn trên (TCF 842) |
|
150. So perhaps when it comes to looking for great changes in relation to humanity as a whole we shall have to wait until rounds elapse and not just root races. |
150. Vì vậy có lẽ khi nói đến việc tìm kiếm những thay đổi lớn liên quan đến toàn thể nhân loại, chúng ta sẽ phải chờ cho các cuộc tuần hoàn trôi qua chứ không chỉ các giống dân gốc. |
|
151. The above discussion is the attempt to establish the nature of the two and a half cycles—whether root race cycles, chain round cycles, or, even, scheme-round cycles. |
151. Cuộc thảo luận trên là nỗ lực nhằm xác lập bản chất của hai chu kỳ rưỡi—liệu là các chu kỳ giống dân gốc, các chu kỳ cuộc tuần hoàn của dãy, hay thậm chí các chu kỳ cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh. |
|
152. To wait until other chain periods to see these developments manifest seems, from one perspective, too long a wait. |
152. Việc phải chờ đến những thời kỳ dãy khác mới thấy các phát triển này biểu hiện, từ một góc độ nào đó, dường như là một sự chờ đợi quá lâu. |
|
Crime, as now seen, based largely on the sex emotion, [Page 298] will be a thing of the past, and physical plane license, orgy and horror will be reduced seventy-five per cent. |
Tội phạm, như hiện nay được thấy, phần lớn dựa trên cảm xúc tính dục, [Page 298] sẽ trở thành chuyện của quá khứ, và sự buông thả, truỵ lạc cùng kinh hoàng trên cõi hồng trần sẽ giảm đi bảy mươi lăm phần trăm. |
|
153. This development will be related to the raising of the energy of the sacral center to the throat center (and, to some extent, of the solar plexus center to the heart). |
153. Sự phát triển này sẽ liên hệ đến việc nâng năng lượng của trung tâm xương cùng lên trung tâm cổ họng (và, ở một mức độ nào đó, của trung tâm tùng thái dương lên tim). |
|
154. The great majority of humanity is still too undeveloped to accomplish these ends in immediately succeeding root races, though many will. There are some ten million years before the end of the sixth root race and quite a bit longer, one might hypothesize, before the end of the seventh. |
154. Đại đa số nhân loại vẫn còn quá kém phát triển để hoàn thành những mục tiêu này trong các giống dân gốc kế tiếp ngay sau đó, dù nhiều người sẽ làm được. Còn khoảng mười triệu năm trước khi giống dân gốc thứ sáu kết thúc và, có thể giả định, còn lâu hơn khá nhiều trước khi giống dân gốc thứ bảy kết thúc. |
|
Later, we shall have a transition period again, analogous to that period wherein kama-manas was developed, and we shall then have the entire race expressing a developed synthesis of intellect-intuition, preparatory to that advanced stage which will come at the close of the next root race, the sixth. This takes us to a period ten million years hence, when the intellect will have in its turn slipped below the threshold of consciousness, as did the instinct. (EP I357) |
Về sau, chúng ta sẽ lại có một thời kỳ chuyển tiếp, tương tự với thời kỳ mà kama-manas đã được phát triển, và khi ấy chúng ta sẽ có toàn thể nhân loại biểu lộ một sự tổng hợp đã phát triển của trí năng-trực giác, chuẩn bị cho giai đoạn cao cấp sẽ đến vào lúc kết thúc giống dân gốc kế tiếp, tức giống dân thứ sáu. Điều này đưa chúng ta đến một thời kỳ cách nay mười triệu năm, khi trí năng đến lượt nó sẽ trượt xuống dưới ngưỡng tâm thức, như bản năng đã từng như vậy. (EP I357) |
|
155. But if the work of the Planetary Logos is just in an “embryonic condition”, the cycles of which we are speaking will probably have to be planetary cycles rather than racial cycles. Planetary-chain cycles are rounds. Racial cycles are root races and pertain only to one “world period” (defining a word period as the duration of a chain-round as it affects a particular globe or “world”. |
155. Nhưng nếu công việc của Hành Tinh Thượng đế chỉ mới ở trong một “tình trạng phôi thai”, thì các chu kỳ mà chúng ta đang nói đến có lẽ sẽ phải là các chu kỳ hành tinh hơn là các chu kỳ nhân loại. Các chu kỳ dãy hành tinh là các cuộc tuần hoàn. Các chu kỳ nhân loại là các giống dân gốc và chỉ liên quan đến một “thời kỳ thế giới” mà thôi (định nghĩa một thời kỳ thế giới là thời lượng của một cuộc tuần hoàn của dãy khi nó tác động lên một bầu hành tinh hay “thế giới” cụ thể. |
|
The interplay between the three dense physical planets will be perfected and man will pass at will from one to another. |
Sự tương tác giữa ba hành tinh hồng trần đậm đặc sẽ được hoàn thiện và con người sẽ đi qua theo ý muốn từ hành tinh này sang hành tinh khác. |
|
156. Which are the three dense physical planets? Are they the three which are part of the three planetary schemes that we began discussing on TCF 296? These would include the Earth, Mars and Venus, with Pluto and Mercury as additional possibilities. Pluto seems a very remote possibility, when considering travel between planets. Yet the time discussed is a long way into the future, and who knows what might be possible? |
156. Ba hành tinh hồng trần đậm đặc ấy là những hành tinh nào? Có phải là ba hành tinh thuộc ba hệ hành tinh mà chúng ta đã bắt đầu bàn đến ở TCF 296 không? Những hành tinh này sẽ gồm Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Kim, với Sao Diêm Vương và Sao Thủy như những khả năng bổ sung. Sao Diêm Vương dường như là một khả năng rất xa vời khi xét đến việc du hành giữa các hành tinh. Tuy nhiên, thời điểm được bàn đến còn rất xa trong tương lai, và ai biết được điều gì có thể xảy ra? |
|
157. Mercury, Earth, Mars and Venus are dense. Other planets are considered physical but are not dense in the same way—some are gaseous giants, relatively. |
157. Sao Thủy, Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Kim là đậm đặc. Các hành tinh khác được xem là hồng trần nhưng không đậm đặc theo cùng cách ấy—một cách tương đối, một số là những hành tinh khí khổng lồ. |
|
158. The planets among which the easiest interplay would be established would be Earth, Mars and Venus. The possibility of travel to Pluto now seems remote. |
158. Những hành tinh mà giữa chúng sự tương tác dễ dàng nhất sẽ được thiết lập là Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Kim. Khả năng du hành đến Sao Diêm Vương hiện nay dường như xa vời. |
|
159. But, we may be talking about a different mode of travel than we can now imagine. The hint is given in “pass at will” from one to another. |
159. Nhưng có thể chúng ta đang nói về một phương thức di chuyển khác với điều mà hiện nay chúng ta có thể hình dung. Gợi ý được đưa ra trong cụm từ “đi qua theo ý muốn” từ hành tinh này sang hành tinh khác. |
|
160. What will be the vehicles used? Will there be energetic streams along which human beings can pass at will in their subtler vehicles? If so, it would seem that some rounds would have to elapse before this would be possible. |
160. Những vận cụ nào sẽ được sử dụng? Liệu sẽ có những dòng năng lượng mà dọc theo đó con người có thể đi qua theo ý muốn trong các vận cụ vi tế hơn của họ chăng? Nếu vậy, có vẻ như một số cuộc tuần hoàn sẽ phải trôi qua trước khi điều này có thể xảy ra. |
|
I would here point out the inadvisability of the method whereby the names of the globes in a chain, just as the names of a chain in a scheme, follow the planetary nomenclature. This has led to confusion, |
Ở đây tôi muốn chỉ ra sự không nên của phương pháp theo đó tên các bầu hành tinh trong một dãy, cũng như tên của một dãy trong một hệ hành tinh, lại theo danh pháp hành tinh. Điều này đã dẫn đến sự nhầm lẫn, |
|
161. While this practice of naming may have led to confusion, no alternative is offered, and the old method is put forward even in this book. |
161. Dù cách đặt tên này có thể đã dẫn đến sự nhầm lẫn, không có phương án thay thế nào được đưa ra, và phương pháp cũ vẫn được trình bày ngay trong quyển sách này. |
|
A clue tending towards the correct understanding lies hid in the words: “Venus is the Earth’s primary.” [17: S. D., II, 33. I, 323.] |
Một đầu mối hướng đến sự thấu hiểu đúng đắn nằm ẩn trong những lời: “Sao Kim là nguyên mẫu của Trái Đất.” [17: S. D., II, 33. I, 323.] |
|
162. The “primary” in this case is the model, archetype, teacher or guide. The technical name for the relationship is “alter ego”; Venus is the alter ego of Earth. “Alter ego” means “other self”. |
162. “Nguyên mẫu” trong trường hợp này là mô hình, nguyên mẫu, huấn sư hay người hướng dẫn. Tên kỹ thuật cho mối quan hệ này là “alter ego”; Sao Kim là alter ego của Trái Đất. “Alter ego” có nghĩa là “cái ngã khác”. |
|
163. If Venus is Earth’s primary, then Mars is Pluto’s primary. |
163. Nếu Sao Kim là nguyên mẫu của Trái Đất, thì Sao Hỏa là nguyên mẫu của Sao Diêm Vương. |
|
It is not permissible to say much about this mystery, that “Venus is the Earth’s alter ego,” nor is it advisable, but certain ideas may be suggested which—if brooded on—may result in a wider grasp of the beauty of nature’s synthesis, and of the wonderful correlation of all that is in process of evolution. |
Không được phép nói nhiều về huyền nhiệm này, rằng “Sao Kim là alter ego của Trái Đất”, và cũng không nên làm vậy, nhưng có thể gợi ra một vài ý tưởng mà—nếu được chiêm ngưỡng—có thể dẫn đến một sự nắm bắt rộng hơn về vẻ đẹp của sự tổng hợp của bản chất, và về sự tương quan kỳ diệu của tất cả những gì đang trong tiến trình tiến hoá. |
|
164. One of the purposes of A Treatise on Cosmic Fire is to induce an appreciation of the beauty of nature’s synthesis and of the wonderful correlation of which DK speaks. |
164. Một trong những mục đích của Luận về Lửa Vũ Trụ là khơi dậy sự trân trọng đối với vẻ đẹp của sự tổng hợp của bản chất và sự tương quan kỳ diệu mà Chân sư DK nói đến. |
|
165. We see how many things concerning the planetary lore are veiled. Because Venus is the planet most closely related to the Earth, information which is too explicit would probably reveal knowledges easily misused. Because we do not yet know enough, we do not suspect the ways of misuse of abuse, but those who know, foresee. |
165. Chúng ta thấy biết bao điều liên quan đến tri thức hành tinh được che giấu. Bởi vì Sao Kim là hành tinh có liên hệ mật thiết nhất với Trái Đất, thông tin quá minh bạch có lẽ sẽ tiết lộ những tri thức rất dễ bị lạm dụng. Bởi vì chúng ta chưa biết đủ, chúng ta không ngờ đến những cách lạm dụng hay sử dụng sai trái, nhưng những ai biết thì thấy trước. |
|
Perhaps some idea may be gained if we remember that, in an occult sense, Venus is to the Earth what the higher Self is to man. |
Có lẽ có thể đạt được một vài ý niệm nếu chúng ta nhớ rằng, theo nghĩa huyền bí, Sao Kim đối với Trái Đất cũng như chân ngã đối với con người. |
|
166. What is the “higher Self” to man? Shall we consider the Higher Self as the soul nature of man, consciousness with the egoic lotus/causal body? Shall we consider man as the personality expressing through the eighteen lower sub-planes? |
166. “Chân ngã” là gì đối với con người? Chúng ta có nên xem Chân ngã là bản chất linh hồn của con người, là tâm thức cùng với Hoa Sen Chân Ngã/thể nguyên nhân chăng? Chúng ta có nên xem con người là phàm ngã biểu lộ qua mười tám cõi phụ thấp hơn chăng? |
|
167. VSK suggests: “In a way this seems to suggest Venus as the heart, as the heart to base seems correlative of higher Self to man, if we place man in this context as the physical incarnation.” |
167. VSK gợi ý: “Theo một nghĩa nào đó, điều này dường như gợi ý Sao Kim là tim, vì tim đối với đáy cột sống dường như tương quan với chân ngã đối với con người, nếu chúng ta đặt con người trong ngữ cảnh này như sự nhập thể hồng trần.” |
|
The coming of the Lords of Flame to the Earth was all under law and not just an accidental and fortunate happening; it was a planetary matter which finds its correspondence in the connection between the mental unit and the manasic permanent atom. |
Sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Lửa đến Trái Đất đều hoàn toàn theo định luật và không chỉ là một biến cố ngẫu nhiên và may mắn; đó là một vấn đề hành tinh tìm thấy sự tương ứng của nó trong mối liên kết giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas. |
|
168. It was not only the benevolence of the “Hearts of Fiery Love” (the Solar Angels) which caused them to come. Planetary necessity invoked these Solar Angels, who probably had association with our particular Planetary Logos in a past mahakalpa. |
168. Không chỉ lòng từ ái của các “Trái Tim của Bác Ái Rực Lửa” (các Thái dương Thiên Thần) đã khiến các Ngài đến. Sự cần thiết hành tinh đã khẩn cầu các Thái dương Thiên Thần này, những Đấng có lẽ đã có liên hệ với Hành Tinh Thượng đế đặc thù của chúng ta trong một mahakalpa quá khứ. |
|
169. We are not now speaking only the mental unit and manasic permanent atom of man. We are speaking of these structures as they pertain to the Planetary Logos. |
169. Hiện nay chúng ta không chỉ nói về đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas của con người. Chúng ta đang nói về các cấu trúc này trong chừng mực chúng liên hệ đến Hành Tinh Thượng đế. |
|
170. Of course, the mental unit and manasic permanent atom of man needed to be ‘interventionally’ connected so that a bridge could be made whereby the planetary solar nature (represented by the cosmic etheric planes) could be united with the planetary lunar nature (represented by the eighteen lower sub-planes). |
170. Dĩ nhiên, đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas của con người cần phải được kết nối một cách ‘can thiệp’ để một cây cầu có thể được tạo ra, nhờ đó bản chất thái dương hành tinh (được biểu trưng bởi các cõi dĩ thái vũ trụ) có thể được hợp nhất với bản chất thái âm hành tinh (được biểu trưng bởi mười tám cõi phụ thấp hơn). |
|
171. Of all ‘divine interventions” the coming of the Solar Angels was one of the most spectacular (at least in relation to our Planetary Logos and the future of the then animal-man). |
171. Trong tất cả những ‘sự can thiệp thiêng liêng’, sự giáng lâm của các Thái dương Thiên Thần là một trong những sự kiện ngoạn mục nhất (ít nhất là liên quan đến Hành Tinh Thượng đế của chúng ta và tương lai của người thú thời ấy). |
|
Again, as the antaskarana is built by individual man between these two points, so—again in a planetary sense—is a channel being built by collective man on this planet to its primary, Venus. |
Lại nữa, cũng như antahkarana được cá nhân con người xây dựng giữa hai điểm này, thì—một lần nữa theo nghĩa hành tinh—một kênh dẫn đang được nhân loại tập thể trên hành tinh này xây dựng đến nguyên mẫu của nó, Sao Kim. |
|
172. Individual man builds an antahkarana between two points in his own esoteric anatomy; the Planetary Logos of Earth is doing the same by utilizing one of its organs, “collective man” as the staging point of a planetary antahkarana to Venus, the Earth’s primary. |
172. Cá nhân con người xây dựng một antahkarana giữa hai điểm trong giải phẫu huyền bí của chính mình; Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất cũng đang làm điều tương tự bằng cách sử dụng một trong các cơ quan của Ngài, “nhân loại tập thể”, như điểm trung chuyển của một antahkarana hành tinh đến Sao Kim, nguyên mẫu của Trái Đất. |
|
173. Part of the Path of Sirius may be a Path to Venus for training in the process of reaching Sirius. Some of the planets have “schools” which are related to the treading of the Paths of Higher Evolution. |
173. Một phần của Con đường Sirius có thể là một Con đường đến Sao Kim để được huấn luyện trong tiến trình đạt đến Sirius. Một số hành tinh có những “trường học” liên hệ đến việc bước đi trên các Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. |
|
In connection with these two planets, it must be remembered that Venus is a sacred planet and the Earth is not. |
Liên quan đến hai hành tinh này, cần nhớ rằng Sao Kim là một hành tinh thiêng liêng còn Trái Đất thì không. |
|
174. This is a fundamental distinction between the two, just as the Solar Angel is a sacred entity and the entity man (in general) is not. |
174. Đây là một sự phân biệt căn bản giữa hai hành tinh, cũng như Thái dương Thiên Thần là một thực thể thiêng liêng còn thực thể con người (nói chung) thì không. |
|
This means that certain of the planets are to the Logos what the permanent atoms are to man. They embody principles. Certain planets afford only temporary [Page 299] homes to these principles. Others persist throughout the mahamanvantara. Of these Venus is one. |
Điều này có nghĩa là một số hành tinh đối với Thượng đế cũng như các nguyên tử trường tồn đối với con người. Chúng nhập thể các nguyên khí. Một số hành tinh chỉ cung cấp những nơi cư ngụ tạm thời [Page 299] cho các nguyên khí này. Những hành tinh khác tồn tại suốt mahamanvantara. Sao Kim là một trong số đó. |
|
175. This is an important paragraph. |
175. Đây là một đoạn rất quan trọng. |
|
176. Of Saturn we learn, on TCF 406, |
176. Về Sao Thổ, chúng ta học được ở TCF 406, |
|
“Uranus and Neptune are reflections of the logoic astral and mental permanent atoms. Saturn is in fact the correspondence to the logoic physical permanent atom. This is an occult mystery and must not be separated from its allied truth in the cosmic scheme. (TCF 406) |
“Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương là những phản chiếu của các nguyên tử trường tồn cảm dục và trí tuệ của Thượng đế. Thật ra Sao Thổ là sự tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế. Đây là một huyền nhiệm huyền bí và không được tách rời khỏi chân lý liên hệ của nó trong hệ thống vũ trụ. (TCF 406) |
|
177. Another important reference in this regard is as follows: |
177. Một tài liệu tham chiếu quan trọng khác về phương diện này như sau: |
|
“In the direct alignment of certain planets in the process of systemic evolution, with each other and with the Sun comes Logoic or divine alignment. Think this out, but one word of warning I give. Seek not to work out hypotheses of alignment based on the physical planets. The truth lies not there. Only three of the physical planets (and those three in etheric matter) enter into the final alignment that marks the attainment [7] by the Logos of the cosmic egoic consciousness, which is His goal of attainment. Of these three, the earth is not one, but Venus has her place corresponding to the emotional permanent atom”. (LOM 6-7) |
“Trong sự chỉnh hợp trực tiếp của một số hành tinh trong tiến trình tiến hoá hệ thống, với nhau và với Mặt Trời, xuất hiện sự chỉnh hợp của Thượng đế hay thiêng liêng. Hãy suy ngẫm điều này, nhưng tôi đưa ra một lời cảnh báo. Đừng tìm cách xây dựng các giả thuyết chỉnh hợp dựa trên các hành tinh hồng trần. Chân lý không nằm ở đó. Chỉ có ba hành tinh hồng trần (và ba hành tinh ấy ở trong vật chất dĩ thái) đi vào sự chỉnh hợp cuối cùng đánh dấu sự đạt được [7] của Thượng đế đối với tâm thức chân ngã vũ trụ, vốn là mục tiêu thành tựu của Ngài. Trong ba hành tinh ấy, trái đất không phải là một, nhưng Sao Kim có vị trí của nó tương ứng với nguyên tử trường tồn cảm xúc”. (LOM 6-7) |
|
178. If Venus “has her place corresponding to the emotional permanent atom”, and Neptune is but a “reflection” of the emotional permanent atom, it must an ‘upward’ reflection, for Neptune is the higher octave of Venus. |
178. Nếu Sao Kim “có vị trí của nó tương ứng với nguyên tử trường tồn cảm xúc”, và Sao Hải Vương chỉ là một “phản chiếu” của nguyên tử trường tồn cảm xúc, thì đó hẳn phải là một phản chiếu ‘hướng lên’, vì Sao Hải Vương là quãng tám cao hơn của Sao Kim. |
|
179. If we follow the implied analogy, we will look for that planet which is the correspondence of the mental permanent atom; we have learned that Uranus, like Neptune, is but a reflection, in this case, it would seem of the logoic mental permanent atom. |
179. Nếu chúng ta theo phép tương đồng được hàm ý, chúng ta sẽ tìm hành tinh là sự tương ứng của nguyên tử trường tồn trí tuệ; chúng ta đã biết rằng Sao Thiên Vương, cũng như Sao Hải Vương, chỉ là một phản chiếu, trong trường hợp này dường như là phản chiếu của nguyên tử trường tồn trí tuệ của Thượng đế. |
|
180. Would Mercury then be the correspondence to the logoic mental permanent atom? We do not know that the Solar Logos has a mental unit, personal se. The mental unit as a structure may be unique to man because of his arrested development on the Moon-chain. But there are so many close analogies between man and the Solar Logos that we should not discount the possibility. |
180. Vậy thì Sao Thủy có phải là sự tương ứng với nguyên tử trường tồn trí tuệ của Thượng đế không? Chúng ta không biết Thái dương Thượng đế có một đơn vị hạ trí, chính nó, hay không. Đơn vị hạ trí như một cấu trúc có thể là độc nhất nơi con người vì sự phát triển bị đình trệ của y trên Dãy Mặt Trăng. Nhưng có quá nhiều phép tương đồng gần gũi giữa con người và Thái dương Thượng đế đến mức chúng ta không nên loại trừ khả năng ấy. |
|
181. Since Earth is in a process of arrested development, just as man is, it may be wondered whether the Planetary Logos of Earth also has a mental unit just as man has. |
181. Vì Trái Đất đang trong một tiến trình phát triển bị đình trệ, cũng như con người, nên có thể tự hỏi liệu Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất cũng có một đơn vị hạ trí giống như con người hay không. |
|
182. The term “reflection” may be misleading, because, as stated the reflection is, it seems, an ‘upward’ reflection. We might infer that Uranus would be the correspondence to the logoic atmic permanent atom and Neptune the correspondence of the logoic buddhic permanent atom. This would stand to reason as no human being coordinates the buddhic vehicle unless Neptune is prominent in his astrological chart. Yet, Neptune is also said to be a planet which is not a true member of our solar system. |
182. Thuật ngữ “phản chiếu” có thể gây hiểu lầm, bởi vì, như đã nói, phản chiếu ấy dường như là một phản chiếu ‘hướng lên’. Chúng ta có thể suy ra rằng Sao Thiên Vương sẽ là sự tương ứng với nguyên tử trường tồn atma của Thượng đế và Sao Hải Vương là sự tương ứng với nguyên tử trường tồn Bồ đề của Thượng đế. Điều này có vẻ hợp lý vì không một con người nào phối hợp vận cụ Bồ đề trừ phi Sao Hải Vương nổi bật trong lá số chiêm tinh của ông. Tuy nhiên, Sao Hải Vương cũng được nói là một hành tinh không phải là thành viên đích thực của hệ mặt trời chúng ta. |
|
183. We have Jupiter and Vulcan to account for. Jupiter can be related to the buddhic level and Vulcan to either the physical or the atmic levels (though it has a mysterious relation to the “heart of the sun” (EA 393). |
183. Chúng ta còn phải tính đến Sao Mộc và Vulcan. Sao Mộc có thể liên hệ với cấp độ Bồ đề và Vulcan với các cấp độ hồng trần hoặc atma (dù nó có một liên hệ huyền nhiệm với “trái tim của mặt trời” (EA 393). |
|
184. Saturn is a very sacred planet, but there is also an esoteric Saturn. It would be strange if the three synthesizing planets were not related to the permanent atoms within the spiritual triad of the Solar Logos, and thus essentially related to His three major principle. The three planets associated with the three “super-principles” (Saturn, Jupiter and Venus) may be, two of them, only temporary representatives of the three major logoic principles). |
184. Sao Thổ là một hành tinh rất thiêng liêng, nhưng cũng có một esoteric Sao Thổ. Sẽ là điều lạ nếu ba hành tinh tổng hợp không liên hệ với các nguyên tử trường tồn bên trong Tam Nguyên Tinh Thần của Thái dương Thượng đế, và do đó về bản chất liên hệ với ba nguyên khí chính của Ngài. Ba hành tinh gắn với ba “siêu-nguyên khí” (Sao Thổ, Sao Mộc và Sao Kim) có thể, trong đó hai hành tinh, chỉ là những đại diện tạm thời của ba nguyên khí chính của Thượng đế). |
|
185. We cannot be dogmatic about these matters; we can only gather the indications. |
185. Chúng ta không thể giáo điều về những vấn đề này; chúng ta chỉ có thể thu thập các dấu hiệu. |
|
186. The implication in the excerpt under discussion is that the Earth, not being a sacred planet, affords only a temporary home to a solar logoic principle. This may also be the case with other non-sacred planets such as Mars and Pluto, and the two non-sacred and presently unknown planets veiled by the Sun and Moon. |
186. Hàm ý trong đoạn trích đang được bàn đến là Trái Đất, vì không phải là một hành tinh thiêng liêng, chỉ cung cấp một nơi cư ngụ tạm thời cho một nguyên khí của Thái dương Thượng đế. Điều này cũng có thể đúng với các hành tinh không thiêng liêng khác như Sao Hỏa và Sao Diêm Vương, và hai hành tinh không thiêng liêng hiện chưa được biết đến bị Mặt Trời và Mặt Trăng che giấu. |
|
187. Venus, we learn, lasts throughout the mahamanvantara. If we consult the Secret Doctrine, it would seem that Martanda (the Sun) and His seven Brothers all precipitate into objectivity at one moment in cosmic time. May it be that only the sacred planets accompany Martanda into objective manifestation, but that the Earth, Mars, Pluto and others, do not? Modern science may have something to say of this, but will it be occultly definitive? |
187. Chúng ta biết rằng Sao Kim tồn tại suốt mahamanvantara. Nếu tham khảo Giáo Lý Bí Nhiệm, có vẻ như Martanda (Mặt Trời) và bảy Huynh Đệ của Ngài đều cùng ngưng tụ vào tính khách quan trong một khoảnh khắc của thời gian vũ trụ. Có thể chăng chỉ các hành tinh thiêng liêng đi cùng Martanda vào biểu hiện khách quan, còn Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Diêm Vương và các hành tinh khác thì không? Khoa học hiện đại có thể có điều gì đó để nói về việc này, nhưng liệu nó có mang tính quyết định theo huyền bí học không? |
|
188. Martanda only has seven Brothers accompanying Him into manifestation. There is no room for all the ten planets (and even far more, according to the Tibetan), at the outset of solar systemic manifestation—unless the Secret Doctrine only discussed the seven. |
188. Chỉ có bảy Huynh Đệ đi cùng Martanda vào biểu hiện. Không có chỗ cho cả mười hành tinh (và thậm chí còn nhiều hơn nữa, theo Chân sư Tây Tạng), vào lúc khởi đầu biểu hiện của hệ mặt trời—trừ phi Giáo Lý Bí Nhiệm chỉ bàn đến bảy hành tinh. |
|
189. Even if all planets came into manifestation with Martanda, some of them would have to fade from manifestation sooner than others which, like Venus, endure throughout the mahakalpa. |
189. Ngay cả nếu tất cả các hành tinh đều đi vào biểu hiện cùng với Martanda, một số trong chúng cũng sẽ phải mờ dần khỏi biểu hiện sớm hơn những hành tinh khác, những hành tinh mà, như Sao Kim, tồn tại suốt mahakalpa. |
|
190. There is an implication that Venus lasts throughout the mahamanvantara and Earth does not. We might assume that Mercury, which is “far older than the Earth) (SD I. 180), and probably “older” in certain ways than Venus, also endures throughout the mahamanvantara. |
190. Có một hàm ý rằng Sao Kim tồn tại suốt mahamanvantara còn Trái Đất thì không. Chúng ta có thể giả định rằng Sao Thủy, hành tinh “cổ xưa hơn nhiều so với Trái Đất” (SD I. 180), và có lẽ “cổ xưa hơn” theo một số phương diện nào đó so với Sao Kim, cũng tồn tại suốt mahamanvantara. |
|
191. We are told that our Solar Logos will take His fourth initiation in this solar system and, in some references, we are told that He will take his fifth. |
191. Chúng ta được cho biết rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta sẽ thọ nhận lần điểm đạo thứ tư của Ngài trong hệ mặt trời này và, trong một số tài liệu tham chiếu, chúng ta được cho biết rằng Ngài sẽ thọ nhận lần điểm đạo thứ năm của Ngài. |
|
Then, in a dual synthesis, they will pass on into the third system, that in which the Power aspect is developed, and the head centres will be complete. This achieved, our Logos has triumphed, and measured up to the sixth cosmic Initiation, just as He should measure up in this system to the fourth. (TCF 590) |
Rồi, trong một sự tổng hợp nhị phân, các Ngài sẽ đi vào hệ thống thứ ba, hệ thống trong đó phương diện Quyền năng được phát triển, và các trung tâm đầu sẽ hoàn tất. Khi điều này đạt được, Thượng đế của chúng ta đã chiến thắng, và đạt đến lần Điểm đạo vũ trụ thứ sáu, cũng như Ngài phải đạt đến lần thứ tư trong hệ thống này. (TCF 590) |
|
The 5th Mahamanvantara (or solar system) The solar Logos achieves His fifth major Initiation. (TCF 605) |
Đại giai kỳ sinh hóa thứ 5 (hay hệ mặt trời) Thái dương Thượng đế đạt được lần Điểm đạo lớn thứ năm của Ngài. (TCF 605) |
|
192. Our solar system is the fifth from one perspective detailed on the pages indicated. |
192. Hệ mặt trời của chúng ta là hệ thứ năm theo một góc nhìn được trình bày chi tiết ở các trang đã nêu. |
|
193. Now if some planets represent His physical, and astral permanent atoms (forgetting for the moment the possibility of a solar logoic mental unit), what will happen to them at the fourth initiation? They should be destroyed (or absorbed) just as the atomic triangle of man is destroyed at the fourth initiation. |
193. Bây giờ nếu một số hành tinh đại diện cho các nguyên tử trường tồn hồng trần và cảm dục của Ngài (tạm quên đi khả năng có một đơn vị hạ trí của Thái dương Thượng đế), thì điều gì sẽ xảy ra với chúng ở lần điểm đạo thứ tư? Chúng phải bị hủy diệt (hoặc được hấp thu) cũng như tam giác nguyên tử của con người bị hủy diệt ở lần điểm đạo thứ tư. |
|
194. Venus, being (hypothetically) correlated with the emotional permanent atom would then have to be destroyed/absorbed at the fourth major initiation. Yet it is said that Venus that it persists throughout the mahamanvantara. If this is the case, the mahamanvantara would have to end at the fourth initiation of the Solar Logos and could not go on to the fifth, as Venus would be absorbed and would not, therefore, persist throughout the mahamanvantara. |
194. Khi ấy Sao Kim, vì (theo giả thuyết) tương quan với nguyên tử trường tồn cảm xúc, sẽ phải bị hủy diệt/hấp thu ở lần điểm đạo lớn thứ tư. Tuy nhiên, người ta nói về Sao Kim rằng nó tồn tại suốt mahamanvantara. Nếu đúng như vậy, thì mahamanvantara sẽ phải kết thúc ở lần điểm đạo thứ tư của Thái dương Thượng đế và không thể tiếp tục đến lần thứ năm, vì Sao Kim sẽ bị hấp thu và do đó sẽ không tồn tại suốt mahamanvantara. |
|
195. The one means of escaping from this contradiction might be found in the words from LOM 6: |
195. Phương cách duy nhất để thoát khỏi mâu thuẫn này có thể được tìm thấy trong những lời ở LOM 6: |
|
“Seek not to work out hypotheses of alignment based on the physical planets. The truth lies not there.” |
“Đừng tìm cách xây dựng các giả thuyết chỉnh hợp dựa trên các hành tinh hồng trần. Chân lý không nằm ở đó.” |
|
196. Yet the section above speaks of the attainment by the Logos of “cosmic egoic consciousness”, which means only the third initiation and not the end of the solar system. (cf. LOM 6-7) |
196. Tuy nhiên, đoạn trên nói về sự đạt được của Thượng đế đối với “tâm thức chân ngã vũ trụ”, điều này chỉ có nghĩa là lần điểm đạo thứ ba chứ không phải sự kết thúc của hệ mặt trời. (xem LOM 6-7) |
|
“Only three of the physical planets (and those three in etheric matter) enter into the final alignment that marks the attainment [7] by the Logos of the cosmic egoic consciousness, which is His goal of attainment. Of these three, the earth is not one, but Venus has her place corresponding to the emotional permanent atom.” |
“Chỉ có ba hành tinh hồng trần (và ba hành tinh ấy ở trong vật chất dĩ thái) đi vào sự chỉnh hợp cuối cùng đánh dấu sự đạt được [7] của Thượng đế đối với tâm thức chân ngã vũ trụ, vốn là mục tiêu thành tựu của Ngài. Trong ba hành tinh ấy, trái đất không phải là một, nhưng Sao Kim có vị trí của nó tương ứng với nguyên tử trường tồn cảm xúc.” |
|
197. So the alignment here discussed immediately above is not really the final alignment planned for this solar system, because the final alignment must relate to either the fourth or the fifth cosmic initiation for the Solar Logos. |
197. Vì vậy sự chỉnh hợp được bàn đến ngay trên đây thực ra không phải là sự chỉnh hợp cuối cùng được hoạch định cho hệ mặt trời này, bởi vì sự chỉnh hợp cuối cùng phải liên hệ đến hoặc lần điểm đạo vũ trụ thứ tư hoặc thứ năm của Thái dương Thượng đế. |
|
198. VSK wonders: “Or if earth is the mental unit to Venus mental permanent atom, then is Vulcan the base/physical permanent atom? |
198. VSK tự hỏi: “Hay nếu Trái Đất là đơn vị hạ trí đối với nguyên tử trường tồn trí tuệ của Sao Kim, thì Vulcan có phải là nguyên tử trường tồn đáy/hồng trần không? |
|
199. The following reference will put us in the correct context to address VSK’s question: |
199. Tài liệu tham chiếu sau đây sẽ đặt chúng ta vào đúng ngữ cảnh để giải đáp câu hỏi của VSK: |
|
The coming of the Lords of Flame to the Earth was all under law and not just an accidental and fortunate happening; it was a planetary matter which finds its correspondence in the connection between the mental unit and the manasic permanent atom. Again, as the antaskarana is built by individual man between these two points, so—again in a planetary sense—is a channel being built by collective man on this planet to its primary, Venus. (TCF 298) |
Sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Lửa đến Trái Đất đều hoàn toàn theo định luật và không chỉ là một biến cố ngẫu nhiên và may mắn; đó là một vấn đề hành tinh tìm thấy sự tương ứng của nó trong mối liên kết giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas. Lại nữa, cũng như antaskarana được cá nhân con người xây dựng giữa hai điểm này, thì—một lần nữa theo nghĩa hành tinh—một kênh dẫn đang được nhân loại tập thể trên hành tinh này xây dựng đến nguyên mẫu của nó, Sao Kim. (TCF 298) |
|
200. In relation to what VSK asks, I would suggest that the relationship between Venus and the Earth as these two relate to the permanent atom and the mental unit, must be conceived as an intra-terrestrial matter. We are not, then, speaking of the manasic permanent atom and the mental unit of the Solar Logos (because we are not even sure whether the Solar Logos has a manasic permanent atom). I would suggest that the manasic permanent atom and mental unit of which we are speaking pertain to the constitution of the Earth itself and that with the awakening of the planetary heart (of Earth), the time came for the union of the manasic permanent atom and mental unit of the Planetary Logos of Earth. Since Earth was arrested in its development as was man (by reflection) it is quite reasonable that Earth would have a mental unit as well as a manasic permanent atom. |
200. Liên quan đến điều VSK hỏi, tôi xin gợi ý rằng mối quan hệ giữa Sao Kim và Trái Đất khi hai hành tinh này liên hệ với nguyên tử trường tồn và đơn vị hạ trí phải được quan niệm như một vấn đề nội tại của Trái Đất. Như vậy, chúng ta không nói về nguyên tử trường tồn manas và đơn vị hạ trí của Thái dương Thượng đế (vì chúng ta thậm chí còn không chắc liệu Thái dương Thượng đế có có một nguyên tử trường tồn manas hay không). Tôi xin gợi ý rằng nguyên tử trường tồn manas và đơn vị hạ trí mà chúng ta đang nói đến thuộc về cấu tạo của chính Trái Đất và rằng cùng với sự thức tỉnh của tim hành tinh (của Trái Đất), thời điểm đã đến cho sự hợp nhất của nguyên tử trường tồn manas và đơn vị hạ trí của Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất. Vì Trái Đất bị đình trệ trong sự phát triển của nó cũng như con người (theo phản chiếu), nên hoàn toàn hợp lý khi Trái Đất sẽ có một đơn vị hạ trí cũng như một nguyên tử trường tồn manas. |
|
201. There is one line of thought which may point to the possibility that a Solar Logos has a mental unit as well as a manasic permanent atom. In the following reference we learn that a Solar Logos has a Solar Angel of which the Solar Angel of man is a dim reflection. May it be that the purpose of the Solar Angel of the Solar Logos is to unite the manasic permanent atom and the mental unit of the Solar Logos? |
201. Có một đường tư tưởng có thể chỉ ra khả năng rằng một Thái dương Thượng đế có một đơn vị hạ trí cũng như một nguyên tử trường tồn manas. Trong tài liệu tham chiếu sau đây, chúng ta biết rằng một Thái dương Thượng đế có một Thái dương Thiên Thần mà Thái dương Thiên Thần của con người chỉ là một phản chiếu mờ nhạt. Có thể chăng mục đích của Thái dương Thiên Thần của Thái dương Thượng đế là hợp nhất nguyên tử trường tồn manas và đơn vị hạ trí của Thái dương Thượng đế? |
|
202. Or perhaps, there are other purposes for the Solar Angel than to unite those two units. Obviously, to know such things is far beyond human possibility. |
202. Hoặc có lẽ Thái dương Thiên Thần còn có những mục đích khác ngoài việc hợp nhất hai đơn vị ấy. Hiển nhiên, biết được những điều như thế vượt xa khả năng của con người. |
|
Three of the sacred planets, it should be remembered, are the home of the three major Rays, of the embodied forms of the three logoic aspects or principles. Other planets are embodiments of the four minor rays. We might consider—from the standpoint of the present—that Venus, Jupiter and Saturn might be considered as the vehicles of the three super-principles at this time. |
Cần nhớ rằng ba hành tinh thiêng liêng là nơi cư ngụ của ba Cung chính, của các hình tướng nhập thể của ba phương diện hay nguyên khí của Thượng đế. Các hành tinh khác là sự nhập thể của bốn cung phụ. Chúng ta có thể xem xét—từ quan điểm hiện tại—rằng Sao Kim, Sao Mộc và Sao Thổ có thể được xem là các vận cụ của ba siêu-nguyên khí vào lúc này. |
|
203. We are now discussing which of the rays and principles are embodied in (or express through) various of the planets. |
203. Hiện nay chúng ta đang bàn đến việc những cung và nguyên khí nào được nhập thể trong (hay biểu lộ qua) các hành tinh khác nhau. |
|
204. We are told that Venus, Jupiter and Saturn represent the three “super-principles” at this time, which is probably the same as saying the three rays of aspect, or the principles of atma (first ray), buddhi (second ray) and manas (third ray) express through these three (at this time). |
204. Chúng ta được cho biết rằng Sao Kim, Sao Mộc và Sao Thổ đại diện cho ba “siêu-nguyên khí” vào lúc này, điều này có lẽ cũng tương đương với việc nói rằng ba Cung Trạng Thái, hay các nguyên khí atma (cung một), Bồ đề (cung hai) và manas (cung ba) biểu lộ qua ba hành tinh này (vào lúc này). |
|
205. It is not likely that these three planets represent any super-Entity (as do Saturn/Mars/Earth and Uranus/Venus/Jupiter—cf. EP II 99). |
205. Khó có khả năng ba hành tinh này đại diện cho bất kỳ siêu-Thực Thể nào (như Sao Thổ/Sao Hỏa/Trái Đất và Sao Thiên Vương/Sao Kim/Sao Mộc—xem EP II 99). |
|
206. It is also probable that the order in which the three are presented is significant. You will notice that their order is the order in which they are found as one moves ‘outward’ from the Sun and so, is, a conventional order. |
206. Cũng có thể trật tự mà ba hành tinh này được trình bày là có ý nghĩa. Bạn sẽ nhận thấy rằng trật tự của chúng là trật tự theo đó chúng được tìm thấy khi người ta di chuyển “ra ngoài” từ Mặt Trời và vì thế, đó là một trật tự quy ước. |
|
207. If these planets were to be assigned (and only from the standpoint of the present) as representatives of the three super-principles, one could reason as follows: |
207. Nếu các hành tinh này được gán (và chỉ từ quan điểm của hiện nay) như những đại diện của ba siêu-nguyên khí, người ta có thể lý luận như sau: |
|
a. Saturn is clearly connected with both the third and first ray. It may be inferred with reason that the personality ray of Saturn is ray one. |
a. Sao Thổ rõ ràng liên hệ với cả cung ba lẫn cung một. Có thể suy ra một cách hợp lý rằng cung phàm ngã của Sao Thổ là cung một. |
|
b. Venus is clearly connected with the fifth, second and sixth rays. It may be inferred with reason that the personality ray of Venus is the second ray and perhaps its major monadic ray. |
b. Sao Kim rõ ràng liên hệ với các cung năm, hai và sáu. Có thể suy ra một cách hợp lý rằng cung phàm ngã của Sao Kim là cung hai và có lẽ là cung chân thần chính của nó. |
|
c. Jupiter is clearly connected with the second and seventh rays. Some ray six may be possible, and as Jupiter/Zeus is the King of the Gods who hurls thunderbolts, there may be some ray one. From the astronomical perspective, Jupiter does have a “red eye”, red being the esoteric color of the first ray. If Jupiter has a seventh ray Monad, one day it will be a first ray Monad (as seventh ray souls when transferring onto one of the Rays of Aspect, transfer to the first ray). |
c. Sao Mộc rõ ràng liên hệ với các cung hai và bảy. Có thể có một ít cung sáu, và vì Sao Mộc/Zeus là Vua của các Thượng đế phóng ra những tia sét, nên có thể có một ít cung một. Từ góc độ thiên văn học, Sao Mộc quả thật có một “con mắt đỏ”, màu đỏ là màu sắc huyền bí của cung một. Nếu Sao Mộc có một chân thần cung bảy, thì một ngày nào đó nó sẽ là một chân thần cung một (vì các linh hồn cung bảy khi chuyển sang một trong Các Cung Trạng Thái thì chuyển sang cung một). |
|
208. In the present, our second solar system is still under the rulership of Brahma (the third aspect) for which Entity, Saturn stands the “head”. Our Solar Logos (on His own level) is not yet a sacred Solar Logos. |
208. Hiện nay, hệ mặt trời thứ hai của chúng ta vẫn còn dưới sự cai quản của Brahma (phương diện thứ ba), mà đối với Thực Thể ấy, Sao Thổ là “đầu”. Thái dương Thượng đế của chúng ta (trên cấp độ riêng của Ngài) vẫn chưa là một Thái dương Thượng đế thiêng liêng. |
|
209. According to present reasoning, one would not assign Venus in either the first or third position (regarding “super-principles”). The natural placement for Venus is as the expression of the second great principle. Indeed, we are told (in a blinded manner, I think) that Venus is the “heart centre” of the Solar Logos. |
209. Theo lối lý luận hiện nay, người ta sẽ không đặt Sao Kim vào vị trí thứ nhất hay thứ ba (xét về các “siêu-nguyên khí”). Vị trí tự nhiên của Sao Kim là như biểu hiện của nguyên khí vĩ đại thứ hai. Thật vậy, chúng ta được cho biết (theo một cách che giấu, tôi nghĩ vậy) rằng Sao Kim là “trung tâm tim” của Thái dương Thượng đế. |
|
“Venus corresponds to the heart centre in the body logoic, and has an inter-relationship therefore with all the other centres in the solar system wherein the heart aspect is the one of greater prominence.” (TCF 182). |
“Sao Kim tương ứng với trung tâm tim trong thể của Thượng đế, và do đó có một mối tương liên với tất cả các trung tâm khác trong hệ mặt trời, nơi phương diện tim là phương diện nổi trội hơn cả.” (TCF 182). |
|
210. Because of its sixth ray monadic nature, Venus is naturally connected to the solar plexus, and thus, again to the astral nature. |
210. Vì bản chất chân thần cung sáu của nó, Sao Kim tự nhiên liên hệ với tùng thái dương, và do đó, một lần nữa, với bản chất cảm dục. |
|
“It is the home of the planetary Logos of the sixth Ray. This may sound like a contradiction, but it is not so really; we must remember the interlocking, the gradual shifting and changing, that takes place in time on all [Page 596] the Rays. In the same way the Earth chain is the third if viewed from one aspect and the fifth viewed from another”. (TCF 595-596) |
“Đó là nơi cư ngụ của Hành Tinh Thượng đế thuộc cung sáu. Điều này có thể nghe như một mâu thuẫn, nhưng thật ra không phải vậy; chúng ta phải nhớ đến sự đan xen, sự chuyển dịch và thay đổi dần dần, diễn ra theo thời gian trên mọi [Page 596] cung. Cũng theo cách ấy, Dãy Địa Cầu là dãy thứ ba nếu nhìn từ một phương diện và là dãy thứ năm nếu nhìn từ một phương diện khác”. (TCF 595-596) |
|
211. Admittedly, Venus could embody the mental principle because of its fifth ray soul, but this would mean that Venus (the most unfolded of the planets) was the distributor of the fifth ray coming through the solar logoic mind, which is most unlikely in our astral-buddhic solar system wherein the Solar Logos has not yet achieved cosmic mental polarization. |
211. Phải thừa nhận rằng Sao Kim có thể hiện thân cho nguyên khí trí tuệ vì linh hồn cung năm của nó, nhưng điều này sẽ có nghĩa rằng Sao Kim (hành tinh khai mở nhất) là đấng phân phối cung năm đi qua trí tuệ của Thái dương Thượng đế, điều này rất khó có khả năng trong hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề của chúng ta, nơi Thái dương Thượng đế vẫn chưa đạt được sự phân cực trí tuệ vũ trụ. |
|
We have been told that the solar Logos, on the cosmic planes, works at the problem of cosmic mind; that He functions in His physical solar system, is polarised in His cosmic astral, or emotional body, and is developing [53] cosmic mind. (LOM 52-53) |
Chúng ta đã được cho biết rằng Thái dương Thượng đế, trên các cõi vũ trụ, đang làm việc với vấn đề của trí tuệ vũ trụ; rằng Ngài hoạt động trong hệ mặt trời hồng trần của Ngài, được phân cực trong thể cảm dục, hay thể cảm xúc vũ trụ của Ngài, và đang phát triển [53] trí tuệ vũ trụ. (LOM 52-53) |
|
212. Further, since Venus is the most unfolded planet in our solar system (though not the most spiritually advanced), it is unlikely that a planet so unfolded would represent a principle which is not yet much unfolded in our solar system. |
212. Hơn nữa, vì Sao Kim là hành tinh khai mở nhất trong hệ mặt trời của chúng ta (dù không phải là hành tinh tiến bộ tinh thần nhất), nên khó có khả năng một hành tinh khai mở như vậy lại đại diện cho một nguyên khí chưa được khai mở nhiều trong hệ mặt trời của chúng ta. |
|
213. Further we are told that Venus corresponds to the heart center in the body logoic, so it would be strange to list it as representing a mental super-principle. |
213. Hơn nữa, chúng ta được cho biết rằng Sao Kim tương ứng với trung tâm tim trong thể của Thượng đế, nên sẽ là điều lạ nếu liệt kê nó như đại diện cho một siêu-nguyên khí trí tuệ. |
|
214. Further, the mental super-principle should express through a planet which was harmonious with the third ray. Venus is not, unless we deem its fifth ray expression to be a lower octave of the fifth ray. |
214. Hơn nữa, siêu-nguyên khí trí tuệ phải biểu lộ qua một hành tinh hài hòa với cung ba. Sao Kim thì không như vậy, trừ phi chúng ta xem biểu hiện cung năm của nó là một quãng tám thấp của cung năm. |
|
215. If, despite these objections, we were to assign Venus to the mental super-principle (representing the third ray), then we would have to find a placement for Saturn and Jupiter. |
215. Nếu, bất chấp những phản đối này, chúng ta gán Sao Kim cho siêu-nguyên khí trí tuệ (đại diện cho cung ba), thì chúng ta sẽ phải tìm vị trí cho Sao Thổ và Sao Mộc. |
|
216. Since it is not conceivable that Saturn represents buddhi and the second ray, the order would have to be Saturn representing atma and the first ray; Jupiter representing buddhi and the second ray and Venus representing manas and the third ray. |
216. Vì không thể hình dung rằng Sao Thổ đại diện cho Bồ đề và cung hai, nên trật tự sẽ phải là: Sao Thổ đại diện cho atma và cung một; Sao Mộc đại diện cho Bồ đề và cung hai; và Sao Kim đại diện cho manas và cung ba. |
|
217. As stated above, however, there are problems with this assignment. |
217. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, có những vấn đề với cách gán này. |
|
218. If, however, we determine that Venus should be held in relation to the second super-principle, buddhi, then it seems we would have to distribute Saturn and Jupiter in relation to the first and third super-principles. |
218. Tuy nhiên, nếu chúng ta xác định rằng Sao Kim nên được giữ trong mối liên hệ với siêu-nguyên khí thứ hai, Bồ đề, thì dường như chúng ta sẽ phải phân phối Sao Thổ và Sao Mộc theo siêu-nguyên khí thứ nhất và thứ ba. |
|
219. Saturn has an easy fit to principle one or three, since it expresses both the first and third rays and can be as easily understood as atmic or manasic. |
219. Sao Thổ rất dễ phù hợp với nguyên khí một hoặc ba, vì nó biểu hiện cả cung một lẫn cung ba và có thể được hiểu dễ dàng như atma hoặc manas. |
|
220. Jupiter is “King of the Gods”, hence its relation to the first ray; and because of its seventh ray (whether this seventh ray represents its monadic or personality nature), it is related naturally to ray three (since, materially, ray seven is a lower octave of ray three) |
220. Sao Mộc là “Vua của các Thượng đế”, do đó có liên hệ với cung một; và vì cung bảy của nó (dù cung bảy này đại diện cho bản chất chân thần hay phàm ngã của nó), nó tự nhiên liên hệ với cung ba (vì, về mặt vật chất, cung bảy là một quãng tám thấp của cung ba) |
|
221. Jupiter rules all vehicles which are expressions for indwelling powers—such as the causal vehicle and the monadic vehicle. Vehicles always can be related to the third aspect of divinity. |
221. Sao Mộc cai quản mọi vận cụ là những biểu hiện cho các quyền năng ngự bên trong—chẳng hạn như vận cụ nguyên nhân và vận cụ chân thần. Các vận cụ luôn có thể được liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính. |
|
222. Jupiter is also connected with the Monad which is King, at least temporarily. And Jupiter certainly represents the Sun, who is certainly King. |
222. Sao Mộc cũng liên hệ với Chân thần là Vua, ít nhất là tạm thời. Và Sao Mộc chắc chắn đại diện cho Mặt Trời, vốn chắc chắn là Vua. |
|
223. We have three principle possibilities for assigning these three planets to “super-principles”: |
223. Chúng ta có ba khả năng nguyên tắc để gán ba hành tinh này cho các “siêu-nguyên khí”: |
|
[table 4] |
|
Option 1 |
Option 2 |
Option 3 |
|
Jupiter-R1 |
Saturn-R1. atma |
Saturn-R1. atma |
|
Venus-R2 |
Venus-R2. |
Jupiter-R2. buddhi |
|
Saturn-R3 |
Jupiter-R3. (from R7) |
Venus—R3. manas |
|
224. Each of these three arrangements has something to recommend it. |
224. Mỗi một trong ba cách sắp xếp này đều có điều gì đó đáng để ủng hộ. |
|
225. We note that we do not place Venus as the embodiment of the first principle as it would not make sense; for the same reason (that it would not make sense), Saturn is not placed as the embodiment of the second principle |
225. Chúng ta lưu ý rằng chúng ta không đặt Sao Kim như hiện thân của nguyên khí thứ nhất vì điều đó sẽ không hợp lý; cũng vì lý do ấy (rằng điều đó sẽ không hợp lý), Sao Thổ không được đặt như hiện thân của nguyên khí thứ hai |
|
226. Much depends on whether we consider that Jupiter or Saturn should represent the first principle. Saturn, of course, has a perfect fit with the atmic plane which, in fact, it rules. |
226. Nhiều điều tùy thuộc vào việc chúng ta có xem Sao Mộc hay Sao Thổ nên đại diện cho nguyên khí thứ nhất hay không. Dĩ nhiên, Sao Thổ hoàn toàn phù hợp với cõi atma mà thật ra nó cai quản. |
|
227. While Jupiter could be understood as embodying (monadically—eventually) the first aspect, it does not fit well with atma, per se. It is more in relation to the Monad that Jupiter finds its place, and the Monad is a great first ray center, though placed upon the second subplane of any of the cosmic planes. |
227. Dù Sao Mộc có thể được hiểu là hiện thân (về mặt chân thần—về sau) của phương diện thứ nhất, nó không thật sự phù hợp với atma, chính nó. Sao Mộc tìm được vị trí của mình nhiều hơn trong mối liên hệ với Chân thần, và Chân thần là một trung tâm cung một vĩ đại, dù được đặt trên cõi phụ thứ hai của bất kỳ cõi vũ trụ nào. |
|
228. How then can a choice be made? The only place where Jupiter is completely resonant is in relation to buddhi, for Jupiter is now expressing the second ray through its soul nature. |
228. Vậy thì làm sao có thể đưa ra lựa chọn? Nơi duy nhất mà Sao Mộc hoàn toàn cộng hưởng là trong mối liên hệ với Bồ đề, vì hiện nay Sao Mộc đang biểu hiện cung hai qua bản chất linh hồn của nó. |
|
229. Saturn is completely resonant in relation to the first or third super-principle. |
229. Sao Thổ hoàn toàn cộng hưởng trong mối liên hệ với siêu-nguyên khí thứ nhất hoặc thứ ba. |
|
230. Venus is most resonant in relation to the second super-principle, and somewhat, through its fifth ray soul, to the third principle—but its emphasis in the solar system does not seem to be primarily mental (as the heart center is so often emphasized in relation to it). Venus cannot represent the first principle. |
230. Sao Kim cộng hưởng mạnh nhất trong mối liên hệ với siêu-nguyên khí thứ hai, và phần nào đó, qua linh hồn cung năm của nó, với nguyên khí thứ ba—nhưng trọng tâm của nó trong hệ mặt trời dường như không chủ yếu là trí tuệ (vì trung tâm tim thường được nhấn mạnh rất nhiều khi nói về nó). Sao Kim không thể đại diện cho nguyên khí thứ nhất. |
|
231. If we choose an option with Venus in the second position, we should remember that our system is primarily an astral-buddhic system. If our Solar Logos has not yet achieved cosmic mind, He certainly has not achieved the fullness of cosmic buddhi, but His astral body may reflect buddhi. Venus, in fact, represents the emotional permanent atom of the Solar Logos, and thus (through its relation to buddhic Neptune) is a good conduit for buddhic energy, especially in an astral-buddhic system. |
231. Nếu chúng ta chọn một phương án với Sao Kim ở vị trí thứ hai, chúng ta nên nhớ rằng hệ của chúng ta chủ yếu là một hệ cảm dục-Bồ đề. Nếu Thái dương Thượng đế của chúng ta vẫn chưa đạt được trí tuệ vũ trụ, thì chắc chắn Ngài cũng chưa đạt được sự viên mãn của Bồ đề vũ trụ, nhưng thể cảm dục của Ngài có thể phản chiếu Bồ đề. Thật vậy, Sao Kim đại diện cho nguyên tử trường tồn cảm xúc của Thái dương Thượng đế, và do đó (qua mối liên hệ của nó với Sao Hải Vương Bồ đề) là một ống dẫn tốt cho năng lượng Bồ đề, đặc biệt trong một hệ cảm dục-Bồ đề. |
|
232. Thus Venus would not have to convey the fullness of the second principle, but only as much of it as could be focussed in the solar logoic solar plexus center which Venus, reasonably, represents (as argued earlier). |
232. Vì vậy Sao Kim sẽ không phải chuyển tải trọn vẹn nguyên khí thứ hai, mà chỉ nhiều đến mức có thể được tập trung trong trung tâm tùng thái dương của Thái dương Thượng đế mà Sao Kim, một cách hợp lý, đại diện (như đã lập luận trước đó). |
|
233. Then we would have Jupiter and Saturn to divide between the first and third principles. Do we feel more comfortable with Jupiter as representing atma and the first ray or manas and the third ray. Like Venus, there is not much suggestion of the third ray in Jupiter (though there is much suggestion of the seventh, relating Jupiter to all manner of vehicles). |
233. Khi đó chúng ta sẽ có Sao Mộc và Sao Thổ để phân chia giữa nguyên khí thứ nhất và thứ ba. Chúng ta cảm thấy thoải mái hơn khi xem Sao Mộc đại diện cho atma và cung một hay manas và cung ba? Giống như Sao Kim, không có nhiều gợi ý về cung ba trong Sao Mộc (dù có rất nhiều gợi ý về cung bảy, liên hệ Sao Mộc với mọi loại vận cụ). |
|
234. One more point concerning the possibility of Venus representing manas, the third principle. It is clear that our Solar Logos has not yet taken the third cosmic initiation. To activate buddhi, He would have to take the fourth. To activate atma, He would have to take the fifth. Obviously, as He is working towards the third, a planet represented the third principle would be more unfolded that the planets representing the second and first principles. In fact, Venus is far more unfolded than either Jupiter or Saturn (each of which is focussed in their third chain, whereas Venus is focussed in its fifth). Such reasoning as this would make Venus a candidate for the embodiment of the third super-principle. |
234. Thêm một điểm nữa liên quan đến khả năng Sao Kim đại diện cho manas, nguyên khí thứ ba. Rõ ràng là Thái dương Thượng đế của chúng ta vẫn chưa nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ ba. Để hoạt hóa Bồ đề, Ngài sẽ phải nhận lần điểm đạo thứ tư. Để hoạt hóa atma, Ngài sẽ phải nhận lần điểm đạo thứ năm. Hiển nhiên, vì Ngài đang hướng tới lần điểm đạo thứ ba, nên một hành tinh đại diện cho nguyên khí thứ ba sẽ khai mở hơn các hành tinh đại diện cho nguyên khí thứ hai và thứ nhất. Thật vậy, Sao Kim khai mở hơn rất nhiều so với cả Sao Mộc lẫn Sao Thổ (mỗi hành tinh này đều tập trung trong dãy thứ ba của chúng, trong khi Sao Kim tập trung trong dãy thứ năm của nó). Lối lý luận như thế này sẽ khiến Sao Kim trở thành một ứng viên cho hiện thân của siêu-nguyên khí thứ ba. |
|
235. Were we to make Venus the representative of manas, then Jupiter would quite naturally represent buddhi and Saturn, atma. |
235. Nếu chúng ta xem Sao Kim là đại diện của manas, thì Sao Mộc sẽ khá tự nhiên đại diện cho Bồ đề và Sao Thổ đại diện cho atma. |
|
236. In this section we have been told of the relationship between Venus and Earth in relation to the manasic permanent atom and mental unit. We do not know whether the Solar Logos has a mental unit, but if so, the Earth could be a good candidate. The symbol for the Earth (the even-armed cross within the circle) is the symbol which can be used of the fourfold mental unit even as it is appropriate for the fourfold base of the spine center. |
236. Trong phần này, chúng ta đã được cho biết về mối liên hệ giữa Sao Kim và Trái Đất liên quan đến nguyên tử trường tồn manas và đơn vị hạ trí. Chúng ta không biết liệu Thái dương Thượng đế có một đơn vị hạ trí hay không, nhưng nếu có, Trái Đất có thể là một ứng viên tốt. Biểu tượng của Trái Đất (thập giá có bốn cánh bằng nhau bên trong vòng tròn) là biểu tượng có thể dùng cho đơn vị hạ trí tứ phân cũng như nó thích hợp cho đáy cột sống tứ phân. |
|
237. Should we conceive that the presence of the logoic Solar Angel indicates the need for a mental unit as well as a manasic permanent atom, then the Earth, the incarnation of which does not last throughout the mahamanvantara, may be a good candidate, playing that role to its primary Venus, which does last throughout the mahamanvantara. |
237. Nếu chúng ta hình dung rằng sự hiện diện của Thái dương Thiên Thần của Thượng đế cho thấy nhu cầu về một đơn vị hạ trí cũng như một nguyên tử trường tồn manas, thì Trái Đất, sự lâm phàm của nó không kéo dài suốt mahamanvantara, có thể là một ứng viên tốt, đóng vai trò đó đối với Sao Kim nguyên thủy của nó, hành tinh quả thật kéo dài suốt mahamanvantara. |
|
238. Should we choose to think of Earth as a mental unit (even though its relations to the spleen, sacral center and base of the spine center can be reasonably established) it would go far to suggesting the primacy of the order of the super-principles as follows: Saturn, atma: Jupiter, buddhi; Venus, manas. |
238. Nếu chúng ta chọn nghĩ về Trái Đất như một đơn vị hạ trí (dù các mối liên hệ của nó với lá lách, trung tâm xương cùng và đáy cột sống có thể được xác lập một cách hợp lý) thì điều đó sẽ góp phần lớn vào việc gợi ý tính ưu tiên của trật tự các siêu-nguyên khí như sau: Sao Thổ, atma; Sao Mộc, Bồ đề; Sao Kim, manas. |
|
239. Reasoning, however, will only take us so far. Intuitive conviction is necessary and until such conviction dawns with certitude, it may be best to leave the conclusion unresolved. It will be necessary for thinkers on these matters to make their own choice. Nothing definitive can be stated here. |
239. Tuy nhiên, lý luận chỉ có thể đưa chúng ta đi đến một mức nào đó. Cần có sự xác tín trực giác, và cho đến khi sự xác tín ấy lóe lên với tính chắc chắn, có lẽ tốt hơn là để kết luận ở trạng thái chưa giải quyết. Những nhà tư tưởng về các vấn đề này sẽ cần tự đưa ra lựa chọn của mình. Không thể phát biểu điều gì dứt khoát ở đây. |
|
240. All three options have something reasonable about them—unfortunately. |
240. Cả ba phương án đều có điều gì đó hợp lý—thật không may. |
|
241. My preference would be the first column with Jupiter, temporarily representing the first super-principle. |
241. Sở thích của tôi là cột thứ nhất với Sao Mộc tạm thời đại diện cho siêu-nguyên khí thứ nhất. |
|
Mercury, the Earth and Mars are closely allied to these three, but a hidden mystery lies here. |
Sao Thủy, Trái Đất và Sao Hỏa liên kết chặt chẽ với ba hành tinh này, nhưng ở đây có một huyền nhiệm ẩn giấu. |
|
242. We have two sets of three planets, of which the ones immediately above must be in some way a lower correspondence to Saturn, Jupiter and Venus. |
242. Chúng ta có hai bộ ba hành tinh, trong đó những hành tinh vừa nêu trên hẳn phải theo một cách nào đó là sự tương ứng thấp hơn với Sao Thổ, Sao Mộc và Sao Kim. |
|
243. In the triangle Mercury, Earth and Mars, we have one sacred and two non-sacred planets. |
243. Trong tam giác Sao Thủy, Trái Đất và Sao Hỏa, chúng ta có một hành tinh thiêng liêng và hai hành tinh không thiêng liêng. |
|
244. If the planets Saturn, Jupiter and Venus rule for the moment the three “super-principles” then these three may perhaps be associated with lower principles—i.e., those to be found in relation to the lower vehicles and chakras. |
244. Nếu các hành tinh Sao Thổ, Sao Mộc và Sao Kim hiện thời cai quản ba “siêu-nguyên khí” thì có lẽ ba hành tinh này có thể được liên kết với các nguyên khí thấp hơn—tức là những nguyên khí được tìm thấy liên quan đến các vận cụ thấp và các luân xa. |
|
245. Conventional wisdom concerning these three planets lists Mercury as a mental planet, Mars as strongly emotional/idealistic, and Earth as a physical planet. |
245. Minh triết quy ước liên quan đến ba hành tinh này liệt kê Sao Thủy như một hành tinh trí tuệ, Sao Hỏa như một hành tinh cảm xúc/lý tưởng mạnh mẽ, và Trái Đất như một hành tinh hồng trần. |
|
246. Of course, something other than the conventional approach may be involved in this listing. |
246. Dĩ nhiên, có thể có điều gì đó khác với cách tiếp cận quy ước được bao hàm trong cách liệt kê này. |
|
247. As regards the effect of these three on humanity, Mercury certainly influences the human mind, and in fact, rules the entire Fourth Creative Hierarchy. Mars strongly affects humanity’s astral functioning and the condition of its solar plexus. Earth represents the “field of experience” and is associated with the physical nature. |
247. Xét về ảnh hưởng của ba hành tinh này lên nhân loại, Sao Thủy chắc chắn ảnh hưởng đến trí tuệ con người, và thật ra cai quản toàn bộ Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư. Sao Hỏa ảnh hưởng mạnh đến hoạt động cảm dục của nhân loại và tình trạng của tùng thái dương của nó. Trái Đất đại diện cho “trường kinh nghiệm” và được liên kết với bản chất hồng trần. |
|
248. Relations of Mercury: |
248. Các mối liên hệ của Sao Thủy: |
|
a. Mercury is related to Saturn because they both transmit the third ray—Mercury through its personality (and probably major monadic ray) and Saturn through its soul and certainly through its Monad. |
a. Sao Thủy liên hệ với Sao Thổ vì cả hai đều truyền dẫn cung ba—Sao Thủy qua phàm ngã của nó (và có lẽ là cung chân thần chính) và Sao Thổ qua linh hồn của nó và chắc chắn qua Chân thần của nó. |
|
b. Mercury and Saturn are both planets of mentality, and they rule, respectively, the higher and lower antahkarana. |
b. Sao Thủy và Sao Thổ đều là những hành tinh của trí tuệ, và lần lượt cai quản antahkarana cao và thấp. |
|
c. Mercury and Jupiter are the rulers of the Mutable Cross. |
c. Sao Thủy và Sao Mộc là các chủ tinh của Thập Giá Biến đổi. |
|
d. On a higher turn of the spiral, they can both relate to the abstract mind. |
d. Trên một vòng xoắn cao hơn của chu kỳ, cả hai đều có thể liên hệ với trí trừu tượng. |
|
e. Mercury and Venus are a natural pair, Mercury being the inspiration of the Buddha and Venus the inspiration of the Christ. |
e. Sao Thủy và Sao Kim là một cặp tự nhiên, Sao Thủy là nguồn cảm hứng của Đức Phật và Sao Kim là nguồn cảm hứng của Đức Christ. |
|
f. Mercury and Venus together represent the mental nature of the Divine Hermaphrodite. |
f. Sao Thủy và Sao Kim cùng nhau đại diện cho bản chất trí tuệ của Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng. |
|
249. Relations of Earth: |
249. Các mối liên hệ của Trái Đất: |
|
a. The Earth is naturally related to Saturn, as Saturn represents the mental nature and Earth, the physical, of a great Entity on the third ray. (EP II 99) |
a. Trái Đất tự nhiên liên hệ với Sao Thổ, vì Sao Thổ đại diện cho bản chất trí tuệ và Trái Đất đại diện cho bản chất hồng trần của một Thực Thể vĩ đại trên cung ba. (EP II 99) |
|
b. Saturn and Earth together rule the throat center of the disciple and average man respectively. |
b. Sao Thổ và Trái Đất cùng nhau lần lượt cai quản trung tâm cổ họng của đệ tử và của người trung bình. |
|
c. Saturn and Earth are both related to materiality. |
c. Sao Thổ và Trái Đất đều liên hệ với tính vật chất. |
|
d. Earth and Venus are closely related, as Venus is the Earth’s alter ego. |
d. Trái Đất và Sao Kim liên hệ chặt chẽ với nhau, vì Sao Kim là đối phần của Trái Đất. |
|
e. Earth and Jupiter are less related, even though Jupiter/Zeus presides as King of the Gods on Earth. Further Earth and Jupiter are co-rulers of Sagittarius (along with Mars in the hierarchical position). |
e. Trái Đất và Sao Mộc ít liên hệ hơn, dù Sao Mộc/Zeus ngự trị như Vua của các Thượng đế trên Trái Đất. Hơn nữa, Trái Đất và Sao Mộc là các đồng chủ tinh của Nhân Mã (cùng với Sao Hỏa ở vị trí huyền giai). |
|
f. In the same way that Saturn cannot easily be related to the buddhic or astral levels, neither can the Earth (yet), though its second ray soul may one day make such a relationship possible. |
f. Cũng như Sao Thổ không thể dễ dàng được liên hệ với các cấp độ Bồ đề hay cảm dục, Trái Đất cũng vậy (chưa thể), dù linh hồn cung hai của nó một ngày nào đó có thể làm cho mối liên hệ ấy trở nên khả hữu. |
|
250. Relations of Mars: |
250. Các mối liên hệ của Sao Hỏa: |
|
a. Mars is related to Saturn just as is the Earth, because Mars represents the astral nature of the great Entity upon the third ray for whom Saturn is as the mental body. (cf. EP II 99) |
a. Sao Hỏa liên hệ với Sao Thổ cũng như Trái Đất, vì Sao Hỏa đại diện cho bản chất cảm dục của Thực Thể vĩ đại trên cung ba mà đối với Thực Thể ấy, Sao Thổ giống như thể trí. (xem EP II 99) |
|
b. Mars is related to Jupiter as the solar plexus is to the heart. They share the rulership of Sagittarius (along with the Earth). |
b. Sao Hỏa liên hệ với Sao Mộc như tùng thái dương liên hệ với tim. Chúng cùng chia sẻ quyền cai quản Nhân Mã (cùng với Trái Đất). |
|
c. Mars has a great deal of sixth ray and Jupiter may have some as well, as the planet related to uplift and enthusiasm, as well as to faith and vision. If the sixth ray were located anywhere in Jupiter’s system it would be as the personality. |
c. Sao Hỏa có rất nhiều cung sáu và Sao Mộc cũng có thể có một ít, như hành tinh liên hệ với sự nâng cao và nhiệt thành, cũng như với đức tin và tầm nhìn. Nếu cung sáu được đặt ở đâu đó trong hệ của Sao Mộc thì đó sẽ là ở phàm ngã. |
|
d. Mars and Venus are another natural pair, with Venus representing the Higher Self and Mars the personality (all aspects of the personality). |
d. Sao Hỏa và Sao Kim là một cặp tự nhiên khác, với Sao Kim đại diện cho Bản Ngã Cao Siêu và Sao Hỏa đại diện cho phàm nhân (mọi phương diện của phàm nhân). |
|
e. Just as male and female are related so are Mars and Venus. |
e. Cũng như nam và nữ có liên hệ với nhau, Sao Hỏa và Sao Kim cũng vậy. |
|
251. On the globe level, Mars, Earth and Mercury form a sequence, in which Mars rules the third globe, Earth and fourth and Mercury the fifth globe in the Earth chain. At least, at present, the globes are named in this manner. |
251. Trên cấp độ bầu hành tinh, Sao Hỏa, Trái Đất và Sao Thủy tạo thành một chuỗi, trong đó Sao Hỏa cai quản bầu hành tinh thứ ba, Trái Đất bầu hành tinh thứ tư và Sao Thủy bầu hành tinh thứ năm trong Dãy Địa Cầu. Ít nhất, hiện nay các bầu hành tinh được gọi tên theo cách này. |
|
252. Our problem would be to discover how Mercury, Mars and Earth would correspond to Saturn, Jupiter and Venus. Along with this, we would wish to locate the lesser principles to which Mercury, Mars and Earth relate. |
252. Vấn đề của chúng ta là khám phá xem Sao Thủy, Sao Hỏa và Trái Đất sẽ tương ứng với Sao Thổ, Sao Mộc và Sao Kim như thế nào. Cùng với điều này, chúng ta sẽ muốn xác định các nguyên khí thấp hơn mà Sao Thủy, Sao Hỏa và Trái Đất liên hệ tới. |
|
253. One method of relationship would have Earth representing the mental unit to the representation of the manasic permanent atom by Venus. Mars would represent the astral permanent atom (and the principle of kama), opposing Jupiter as the representative of buddhi. The Mercury would relate to the base of the spine center (not its only relation, to be sure) but one which would make sense in this configuration. Vulcan would have strong relation to the physical permanent atom. |
253. Một phương pháp liên hệ sẽ là để Trái Đất đại diện cho đơn vị hạ trí đối với sự đại diện của nguyên tử trường tồn manas bởi Sao Kim. Sao Hỏa sẽ đại diện cho nguyên tử trường tồn cảm dục (và nguyên khí kama), đối ứng với Sao Mộc như đại diện của Bồ đề. Khi đó Sao Thủy sẽ liên hệ với đáy cột sống (dĩ nhiên không phải là mối liên hệ duy nhất của nó) nhưng là một mối liên hệ có ý nghĩa trong cấu hình này. Vulcan sẽ có liên hệ mạnh với nguyên tử trường tồn hồng trần. |
|
254. Gemini has much to do with the rulership of the etheric body, and Mercury rules Gemini. Mercury is related to the “kundalini active” and to the ‘Caduceus power’ as the base of the spine. Further, the base of the spine is definitely related to the etheric body (as has been established by DK in a earlier section of this book). |
254. Song Tử có rất nhiều liên hệ với quyền cai quản thể dĩ thái, và Sao Thủy cai quản Song Tử. Sao Thủy liên hệ với “kundalini hoạt động” và với “quyền năng Caduceus” như đáy cột sống. Hơn nữa, đáy cột sống chắc chắn liên hệ với thể dĩ thái (như đã được Chân sư DK xác lập trong một phần trước của cuốn sách này). |
|
255. It must be clear that a number of different planets can carry a significant role in relation to a number or the different chakras and permanent atoms. |
255. Hẳn phải rõ rằng một số hành tinh khác nhau có thể giữ một vai trò quan trọng liên hệ với một số luân xa và nguyên tử trường tồn khác nhau. |
|
a. Saturn can relate to the atmic permanent atom, the manasic permanent atom and the mental unit. It also has a natural rulership of the throat center. |
a. Sao Thổ có thể liên hệ với nguyên tử trường tồn atma, nguyên tử trường tồn manas và đơn vị hạ trí. Nó cũng có quyền cai quản tự nhiên đối với trung tâm cổ họng. |
|
b. Jupiter can be understood as relating to the buddhic permanent atom and to the heart center. |
b. Sao Mộc có thể được hiểu là liên hệ với nguyên tử trường tồn Bồ đề và với trung tâm tim. |
|
c. Venus can be understood as relating to the buddhic permanent atom (by reflection) and to the logoic solar plexus. The question we have been entertaining is whether Venus should also be related to the manasic permanent atom of the Solar Logos. Certainly, the energies which Venus sponsors do relate do the manasic permanent atom of our Planetary Logos. Within man its natural place is in relation to the ajna center. |
c. Sao Kim có thể được hiểu là liên hệ với nguyên tử trường tồn Bồ đề (qua phản chiếu) và với tùng thái dương của Thượng đế. Câu hỏi mà chúng ta đang xem xét là liệu Sao Kim cũng nên được liên hệ với nguyên tử trường tồn manas của Thái dương Thượng đế hay không. Chắc chắn, các năng lượng mà Sao Kim bảo trợ quả thật liên hệ với nguyên tử trường tồn manas của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Trong con người, vị trí tự nhiên của nó là liên hệ với trung tâm ajna. |
|
d. Mercury can be understood as related to buddhi and, therefore, to the buddhic permanent atom. It is a versatile planet with additional relations to the abstract mind and hence to the manasic permanent atom. It also has a natural relation to the ajna center and base of the spine center in man. |
d. Sao Thủy có thể được hiểu là liên hệ với Bồ đề và do đó với nguyên tử trường tồn Bồ đề. Đó là một hành tinh đa năng với những mối liên hệ bổ sung tới trí trừu tượng và vì thế tới nguyên tử trường tồn manas. Nó cũng có một mối liên hệ tự nhiên với trung tâm ajna và đáy cột sống trong con người. |
|
e. Mars can be understood in relation to the entire atomic triangle in man, consisting of mental unit, astral permanent atom, and physical permanent atom. Mars is a natural ruler of the solar plexus center in average man, and when considering the two points within the solar plexus center, Mars is reasonably associated with the lower of the two. Since Mars rules “kundalini latent”, it, too, is reasonably associated with the base of the spine center. |
e. Sao Hỏa có thể được hiểu trong mối liên hệ với toàn bộ tam giác nguyên tử trong con người, gồm đơn vị hạ trí, nguyên tử trường tồn cảm dục và nguyên tử trường tồn hồng trần. Sao Hỏa là chủ tinh tự nhiên của trung tâm tùng thái dương ở người trung bình, và khi xét hai điểm bên trong trung tâm tùng thái dương, Sao Hỏa được liên kết một cách hợp lý với điểm thấp hơn trong hai điểm ấy. Vì Sao Hỏa cai quản “kundalini tiềm ẩn”, nó cũng được liên kết một cách hợp lý với đáy cột sống. |
|
f. The Earth, as stated, may be hypothetically associated with the mental unit of the Solar Logos, and, to a degree with the mental unit in man. It has a natural connection with the vitality of the spleen; related to this idea is the fact that, heliocentrically, the Earth is found in the sign opposite the Sun. Earth is a fertile planet and thus naturally related to the sacral center which can as easily be considered ruled by the fertile third ray as by the seventh. Earth, we remember, has a third ray personality. In relation to the future, Earth will have a place as the base of the spine center of the Solar Logos or as one of the planets related. |
f. Trái Đất, như đã nói, có thể được liên kết theo giả thuyết với đơn vị hạ trí của Thái dương Thượng đế, và ở một mức độ nào đó với đơn vị hạ trí trong con người. Nó có một mối liên hệ tự nhiên với sinh lực của lá lách; liên hệ với ý tưởng này là sự kiện rằng, theo nhật tâm, Trái Đất được tìm thấy trong dấu hiệu đối diện với Mặt Trời. Trái Đất là một hành tinh phì nhiêu và do đó tự nhiên liên hệ với trung tâm xương cùng, trung tâm này có thể được xem là do cung ba phì nhiêu cai quản cũng dễ dàng như do cung bảy. Chúng ta nhớ rằng Trái Đất có phàm ngã cung ba. Liên hệ với tương lai, Trái Đất sẽ có một vị trí như đáy cột sống của Thái dương Thượng đế hoặc như một trong những hành tinh liên hệ. |
|
256. When we look at the three planets Mercury, Mars and the Earth, we see that they are all to be related to the base of the spine center. |
256. Khi chúng ta nhìn vào ba hành tinh Sao Thủy, Sao Hỏa và Trái Đất, chúng ta thấy rằng cả ba đều phải được liên hệ với đáy cột sống. |
|
257. A reasonable assignment of Mercury, Mars and the Earth to the atomic triangle, seems to be Earth as the mental unit, Mars as the astral permanent atom, and Mercury in relation to the base of the spine center. It would be hard to assign Mercury to the physical permanent atom. |
257. Một cách gán hợp lý Sao Thủy, Sao Hỏa và Trái Đất cho tam giác nguyên tử dường như là: Trái Đất như đơn vị hạ trí, Sao Hỏa như nguyên tử trường tồn cảm dục, và Sao Thủy liên hệ với đáy cột sống. Sẽ khó mà gán Sao Thủy cho nguyên tử trường tồn hồng trần. |
|
258. Another reasonable rearrangement would be: Mercury as the mental unit, Mars as the astral permanent atom, and the Earth as the physical permanent atom. |
258. Một cách sắp xếp lại hợp lý khác sẽ là: Sao Thủy như đơn vị hạ trí, Sao Hỏa như nguyên tử trường tồn cảm dục, và Trái Đất như nguyên tử trường tồn hồng trần. |
|
259. Mercury certainly has a relationship to the concrete mind of man and hence, its connection with the mental unit is not unreasonable. The only difficulty with this arrangement is that Mercury is a planet older and more occult than Venus, and so it would be hard to imagine Venus in the superior position of manasic permanent atom and Mercury in the inferior position of mental unit. |
259. Sao Thủy chắc chắn có một mối liên hệ với trí cụ thể của con người và do đó, mối liên hệ của nó với đơn vị hạ trí không phải là vô lý. Khó khăn duy nhất với cách sắp xếp này là Sao Thủy là một hành tinh cổ xưa hơn và huyền bí hơn Sao Kim, nên sẽ khó hình dung Sao Kim ở vị trí cao hơn là nguyên tử trường tồn manas và Sao Thủy ở vị trí thấp hơn là đơn vị hạ trí. |
|
260. If we wish to look at the lower quaternary of the Solar Logos as composed of lower manas, kama-manas, kama and the etheric-physical nature, then a natural assignment of the planets is as follows: |
260. Nếu chúng ta muốn nhìn bộ tứ thấp của Thái dương Thượng đế như được cấu thành bởi hạ trí, trí-cảm, kama và bản chất dĩ thái-hồng trần, thì một cách gán tự nhiên cho các hành tinh là như sau: |
|
a. Mercury, lower manas |
a. Sao Thủy, hạ trí |
|
b. Venus, kama-manas |
b. Sao Kim, trí-cảm |
|
c. Mars, kama and the lower part of kama-manas. |
c. Sao Hỏa, kama và phần thấp của trí-cảm. |
|
d. Earth, the etheric-physical nature. Earth is related to both the etheric and physical body. |
d. Trái Đất, bản chất dĩ thái-hồng trần. Trái Đất liên hệ với cả thể dĩ thái lẫn thể xác. |
|
261. So, we see that nothing is exactly straightforward. The relationships are intricate. By examining them closely, however, as we have here, we are preparing the mind for the receipt of the confirmatory intuition—one fine day! |
261. Vì vậy, chúng ta thấy rằng không có gì hoàn toàn thẳng tắp. Các mối liên hệ rất phức tạp. Tuy nhiên, bằng cách khảo sát chúng kỹ lưỡng, như chúng ta đã làm ở đây, chúng ta đang chuẩn bị trí tuệ để tiếp nhận trực giác xác nhận—vào một ngày đẹp trời nào đó! |
|
262. When comparing the three super-principles and the planets which today represent them, with the other three planets given as associated with the higher three, one proposed line-up, from top to bottom is: |
262. Khi so sánh ba siêu-nguyên khí và các hành tinh ngày nay đại diện cho chúng, với ba hành tinh khác được nêu là liên kết với ba nguyên khí cao hơn, một cách sắp hàng được đề nghị, từ trên xuống dưới là: |
|
a. Saturn |
a. Sao Thổ |
|
b. Jupiter |
b. Sao Mộc |
|
c. Venus |
c. Sao Kim |
|
d. Earth |
d. Trái Đất |
|
e. Mars |
e. Sao Hỏa |
|
f. Mercury |
f. Sao Thủy |
|
263. Probably Pluto should be here, at the base of the spine center, and Mercury, ever wandering, ubiquitous, should be related, ultimately to the ajna center, a center which does not seem to have a relationship to the five permanent atoms (plus the mental unit). |
263. Có lẽ Sao Diêm Vương nên ở đây, tại đáy cột sống, và Sao Thủy, luôn lang thang, hiện diện khắp nơi, rốt cuộc nên được liên hệ với trung tâm ajna, một trung tâm dường như không có mối liên hệ với năm nguyên tử trường tồn (cộng với đơn vị hạ trí). |
|
264. Interestingly, the ajna center and the sacral center are not related to permanent atoms. Mobile Mercury is easily related to the ajna center (just as it is in man after the third initiation); it is also easily relation to the personality nature of man (ruled by the number four, the number of the soul ray of Mercury). |
264. Điều thú vị là trung tâm ajna và trung tâm xương cùng không liên hệ với các nguyên tử trường tồn. Sao Thủy linh động dễ dàng được liên hệ với trung tâm ajna (cũng như trong con người sau lần điểm đạo thứ ba); nó cũng dễ dàng liên hệ với bản chất phàm ngã của con người (được cai quản bởi con số bốn, con số của cung linh hồn của Sao Thủy). |
|
265. In relation to man, the alignment of Mercury, Venus, Mars and Earth relates to personality, mind, astral nature and etheric-physical nature. |
265. Liên hệ với con người, sự chỉnh hợp của Sao Thủy, Sao Kim, Sao Hỏa và Trái Đất liên hệ với phàm ngã, trí tuệ, bản chất cảm dục và bản chất dĩ thái-hồng trần. |
|
266. Or alternatively, Mercury, Venus, Mars and Earth could relate to the mind, the kama-manasic nature, the astral nature and the etheric-physical nature. |
266. Hoặc theo cách khác, Sao Thủy, Sao Kim, Sao Hỏa và Trái Đất có thể liên hệ với trí tuệ, bản chất trí-cảm, bản chất cảm dục và bản chất dĩ thái-hồng trần. |
|
267. The sacral center is said to relate to the dense physical nature, and hence to the Moon veiling Uranus. Since Mars rules the physical body rather than the etheric body, it too accords with the sacral center. |
267. Trung tâm xương cùng được nói là liên hệ với bản chất hồng trần đậm đặc, và do đó với Mặt Trăng che giấu Sao Thiên Vương. Vì Sao Hỏa cai quản thể xác hơn là thể dĩ thái, nó cũng phù hợp với trung tâm xương cùng. |
|
The evolution of the inner round has a close connection with this problem. |
Sự tiến hoá của cuộc tuần hoàn nội tại có một mối liên hệ chặt chẽ với vấn đề này. |
|
268. There is not much to say about this here. The “inner round” is a specialized study, in relation to which a number of things have been hinted, but nothing conclusively given. |
268. Không có nhiều điều để nói về việc này ở đây. “Cuộc tuần hoàn nội tại” là một nghiên cứu chuyên biệt, liên hệ với nó đã có một số điều được gợi ý, nhưng không có gì được đưa ra một cách kết luận. |
|
269. Mercury (so close to the Sun) is a planet closely connected with the “inner round”. We will take up the exploration of the inner round when more substantive references appear. |
269. Sao Thủy (ở rất gần Mặt Trời) là một hành tinh liên hệ chặt chẽ với “cuộc tuần hoàn nội tại”. Chúng ta sẽ tiếp tục việc khảo sát cuộc tuần hoàn nội tại khi xuất hiện thêm những dẫn chiếu có nội dung thực chất hơn. |
|
Perhaps some light may be thrown upon the obscurity of the matter by the realisation that just as the Logos has (in the non-sacred planets) the correspondence to the permanent atoms in the human being, |
Có lẽ một ít ánh sáng có thể được rọi vào sự tối nghĩa của vấn đề này nhờ sự chứng nghiệm rằng cũng như Thượng đế có (trong các hành tinh không thiêng liêng) sự tương ứng với các nguyên tử trường tồn trong con người, |
|
270. There are three non-sacred planets usually listed—Earth, Mars and Pluto. At the time TCF was written, Pluto had not been written and Esoteric Astrology, too, had not been written. |
270. Thường có ba hành tinh không thiêng liêng được liệt kê—Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Diêm Vương. Vào thời điểm TCF được viết, Sao Diêm Vương chưa được viết đến và Chiêm Tinh Học Nội Môn, cũng vậy, chưa được viết. |
|
271. Since there are five permanent atoms in the human being, the Tibetan is suggesting non-sacred planets. As we are not sure of the names and nature of the non-sacred planets veiled by the Sun and Moon, it would be difficult to assign them to the five logoic permanent atoms as we know them (not including the mental unit). |
271. Vì có năm nguyên tử trường tồn trong con người, Chân sư Tây Tạng đang gợi ý các hành tinh không thiêng liêng. Vì chúng ta không chắc về tên gọi và bản chất của các hành tinh không thiêng liêng bị Mặt Trời và Mặt Trăng che giấu, nên sẽ khó gán chúng cho năm nguyên tử trường tồn của Thượng đế như chúng ta biết (không kể đơn vị hạ trí). |
|
272. Further, we are also given correspondences through which some sacred planets are associated as correspondences to the logoic permanent atoms—Saturn to the physical permanent atom, Venus to the emotional permanent atom, and Neptune and Uranus tenuously to the astral and manasic permanent atoms respectively. |
272. Hơn nữa, chúng ta cũng được cho những sự tương ứng qua đó một số hành tinh thiêng liêng được liên kết như những tương ứng với các nguyên tử trường tồn của Thượng đế—Sao Thổ với nguyên tử trường tồn hồng trần, Sao Kim với nguyên tử trường tồn cảm xúc, và Sao Hải Vương cùng Sao Thiên Vương một cách mong manh với các nguyên tử trường tồn cảm dục và manas tương ứng. |
|
273. It may be that DK is not talking about all five of the permanent atoms, but only those which relate to the development of the human part of the human being—i.e., his personality nature. |
273. Có thể Chân sư DK không nói về cả năm nguyên tử trường tồn, mà chỉ nói về những nguyên tử liên hệ với sự phát triển của phần người trong con người—tức là bản chất phàm ngã của y. |
|
274. If so, we would only be dealing with the Earth, Mars and Pluto schemes (even though Pluto had not yet been discovered at the time of the writing). |
274. Nếu vậy, chúng ta sẽ chỉ xử lý các hệ hành tinh Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Diêm Vương (dù Sao Diêm Vương vẫn chưa được khám phá vào thời điểm bản văn được viết). |
|
275. Earth, Mars and Pluto are all related to the base of the spine center, and also the sacral center. Mars and Pluto are easily related to the solar plexus center. |
275. Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Diêm Vương đều liên hệ với đáy cột sống, và cả trung tâm xương cùng nữa. Sao Hỏa và Sao Diêm Vương dễ dàng liên hệ với trung tâm tùng thái dương. |
|
2. Two of the other non-sacred planets—Mars and Pluto—function in connection with the sacral centre (Mars) and the solar plexus (Pluto). This latter planet becomes active in the life of the man who is “becoming alive in the higher sense, his lower nature passes into the smoke and darkness of Pluto, who governs the lesser burning ground, in order that the man may live in truth in the higher land of light.” (EA 78) |
2. Hai trong số các hành tinh không thiêng liêng khác—Sao Hỏa và Sao Diêm Vương—hoạt động liên hệ với trung tâm xương cùng (Sao Hỏa) và tùng thái dương (Sao Diêm Vương). Hành tinh sau này trở nên hoạt động trong đời sống của con người đang “trở nên sống động theo nghĩa cao hơn, bản chất thấp của y đi vào khói và bóng tối của Sao Diêm Vương, đấng cai quản vùng đất cháy nhỏ hơn, để con người có thể sống chân thật trong miền ánh sáng cao hơn.” (EA 78) |
|
276. The three lower permanent atoms in the atomic triangle are two permanent atoms and one “unit”—the mental unit. |
276. Ba nguyên tử trường tồn thấp trong tam giác nguyên tử là hai nguyên tử trường tồn và một “đơn vị”—đơn vị hạ trí. |
|
277. Interestingly, not only are all three planets reasonably related to the base of the spine center, they are also reasonably related to the concrete mind, with its center, presumably, as the mental unit. Earth plays the role of mental unit to Venus’ manasic permanent atom; Mars rules the five senses and the concrete mind and would thus be associated with the mental unit; Pluto, is naturally a mental planet involved in the penetrative, investigative mind. |
277. Điều đáng chú ý là không những cả ba hành tinh đều có liên hệ hợp lý với trung tâm đáy cột sống, mà chúng còn đều có liên hệ hợp lý với trí cụ thể, với trung tâm của nó, có lẽ, là đơn vị hạ trí. Trái Đất đóng vai trò đơn vị hạ trí đối với nguyên tử trường tồn manas của Sao Kim; Sao Hỏa cai quản năm giác quan và trí cụ thể nên vì thế sẽ được liên kết với đơn vị hạ trí; Sao Diêm Vương, một cách tự nhiên, là một hành tinh trí tuệ liên quan đến trí tuệ xuyên thấu, khảo sát. |
|
278. How then to assign the three of these planetary schemes at least to the members of the atomic triangle? |
278. Vậy thì làm thế nào để gán ba hệ hành tinh này ít nhất cho các thành viên của tam giác nguyên tử? |
|
279. The non-scared planets are said to relate to the personality of man, and in this we may gather hints: the Moon relates to the dense physical body; the Earth to the etheric body; Mars, reasonably to the astral; Pluto to the mental and the Sun to the integrated personality. |
279. Các hành tinh không thiêng liêng được nói là liên hệ với phàm ngã của con người, và từ đó chúng ta có thể thu thập những gợi ý: Mặt Trăng liên hệ với thể xác đậm đặc; Trái Đất với thể dĩ thái; Sao Hỏa, một cách hợp lý, với thể cảm dục; Sao Diêm Vương với thể trí và Mặt Trời với Phàm ngã tích hợp. |
|
280. In some ways, Mars and Pluto could be interchangeable, as Pluto rules Hades, the “underworld” of lower astral plane, which is the domain of the solar plexus center. Mars is a mental planet also and we can reverse them, relating Mars to concrete mind, the five senses and orthodox science which utilizes the concrete mind. |
280. Theo một số phương diện, Sao Hỏa và Sao Diêm Vương có thể hoán đổi cho nhau, vì Sao Diêm Vương cai quản Hades, “âm giới” của cõi cảm dục thấp, vốn là lãnh vực của trung tâm tùng thái dương. Sao Hỏa cũng là một hành tinh trí tuệ và chúng ta có thể đảo ngược chúng, liên hệ Sao Hỏa với trí cụ thể, năm giác quan và khoa học chính thống vốn sử dụng trí cụ thể. |
|
281. With this in mind, we could assign Pluto to the mental unit, Mars to the astral permanent atom and the Earth to the physical permanent atom. IF we wish to reverse the positions of Mars and Pluto, this too is possible. |
281. Với điều này trong tâm trí, chúng ta có thể gán Sao Diêm Vương cho đơn vị hạ trí, Sao Hỏa cho nguyên tử trường tồn cảm dục và Trái Đất cho nguyên tử trường tồn hồng trần. NẾU chúng ta muốn đảo vị trí của Sao Hỏa và Sao Diêm Vương, điều này cũng có thể. |
|
282. We can see what we might call a ‘justifiable fluidity of assignments’. |
282. Chúng ta có thể thấy điều mà ta có thể gọi là một “tính linh động có thể biện minh được của các sự gán định”. |
|
so the middle evolution between these two (God and man) is the Heavenly Man, whose body is made up of human and deva monads, and Who has likewise His permanent atoms. |
vì vậy, sự tiến hoá trung gian giữa hai Đấng này (Thượng đế và con người) là Đấng Thiên Nhân, mà thể của Ngài được cấu thành bởi các chân thần người và thiên thần, và Đấng ấy cũng có các nguyên tử trường tồn của Ngài. |
|
283. The Heavenly Man is the middle evolution between the Solar Logos and man. |
283. Đấng Thiên Nhân là sự tiến hoá trung gian giữa Thái dương Thượng đế và con người. |
|
284. Human and deva Monads constitute the centers of the Heavenly Man. What constitutes the permanent atoms of the Heavenly Man? |
284. Các chân thần người và thiên thần cấu thành các trung tâm của Đấng Thiên Nhân. Điều gì cấu thành các nguyên tử trường tồn của Đấng Thiên Nhân? |
|
285. The Heavenly Man, we remember, works on the levels of the spiritual triad at the mastery, especially, of the fourth and fifth planes. |
285. Chúng ta nhớ rằng Đấng Thiên Nhân hoạt động trên các cấp độ của Tam nguyên tinh thần trong địa vị chân sư, đặc biệt là của cõi thứ tư và thứ năm. |
|
286. On TCF 533. we learn that the Solar Logos works through only one permanent atom and the Planetary Logos through two. This probably tells us something about where these permanent atoms are located. |
286. Trong TCF 533. chúng ta biết rằng Thái dương Thượng đế chỉ hoạt động qua một nguyên tử trường tồn và Hành Tinh Thượng đế qua hai. Điều này có lẽ cho chúng ta biết điều gì đó về nơi các nguyên tử trường tồn này tọa lạc. |
|
287. It may be that with regard to the cosmic physical plane, the Solar Logos works only through one permanent atom and the Planetary Logos through two. |
287. Có thể là xét theo cõi hồng trần vũ trụ, Thái dương Thượng đế chỉ hoạt động qua một nguyên tử trường tồn và Hành Tinh Thượng đế qua hai. |
|
288. The principles of the Planetary Logos seem strangely spread across the planes, and there is probably a much closer analogy to the manner in which the permanent atoms of the Solar Logos are apportioned to planes than the manner in which the permanent atoms of the Planetary Logos are apportioned. |
288. Các nguyên khí của Hành Tinh Thượng đế dường như được trải ra một cách kỳ lạ trên các cõi, và có lẽ có một sự tương đồng gần gũi hơn nhiều với cách các nguyên tử trường tồn của Thái dương Thượng đế được phân bổ cho các cõi hơn là cách các nguyên tử trường tồn của Hành Tinh Thượng đế được phân bổ. |
|
289. It can be inferred that the physical permanent atom of the Solar Logos is to be found on the systemic logoic plane. Are the two permanent atoms of the Planetary Logos (the two which, hypothetically, are to be found on the cosmic physical plane) to be found on the atmic and buddhic planes? This is not easy to solve. |
289. Có thể suy ra rằng nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế được tìm thấy trên cõi logoi hệ thống. Hai nguyên tử trường tồn của Hành Tinh Thượng đế (hai nguyên tử mà, theo giả thuyết, được tìm thấy trên cõi hồng trần vũ trụ) có được tìm thấy trên cõi atma và cõi Bồ đề không? Điều này không dễ giải quyết. |
|
290. Or is the physical permanent atom of the Planetary Logos to be found on the atmic plane and the emotional permanent atom on the monadic level? |
290. Hay nguyên tử trường tồn hồng trần của Hành Tinh Thượng đế được tìm thấy trên cõi atma và nguyên tử trường tồn cảm xúc trên cấp độ chân thần? |
|
Always the three higher principles can be distinguished in importance from the four lower. |
Ba nguyên khí cao hơn luôn có thể được phân biệt về tầm quan trọng với bốn nguyên khí thấp hơn. |
|
291. Saturn, Jupiter and Venus (at this time) correspond to three higher; DK, however, has given us only three lower planets (Mercury, Earth and Mars) and four lower principles. |
291. Sao Thổ, Sao Mộc và Sao Kim (vào lúc này) tương ứng với ba nguyên khí cao hơn; tuy nhiên, Chân sư DK chỉ cho chúng ta ba hành tinh thấp hơn (Sao Thủy, Trái Đất và Sao Hỏa) và bốn nguyên khí thấp hơn. |
|
292. We found that when we were attempting to assign Mercury, Earth and Mars to the four lower principles, that we were in need of Pluto. |
292. Chúng ta nhận thấy rằng khi cố gắng gán Sao Thủy, Trái Đất và Sao Hỏa cho bốn nguyên khí thấp hơn, chúng ta cần đến Sao Diêm Vương. |
|
293. There are so many different ways of numbering the principles that there is no one definitive assignment of planets to principles. |
293. Có quá nhiều cách khác nhau để đánh số các nguyên khí đến nỗi không có một sự gán định dứt khoát duy nhất nào của các hành tinh cho các nguyên khí. |
|
The key is hidden in the fact that between the number of a globe in a chain and its corresponding chain lies a method of communication. |
Chìa khóa được ẩn giấu trong sự kiện rằng giữa số của một bầu hành tinh trong một Dãy và Dãy tương ứng của nó có một phương pháp giao tiếp. |
|
294. This method of communication occurs through the principle of ‘numerical resonance’. |
294. Phương pháp giao tiếp này xảy ra thông qua nguyên lý “cộng hưởng số học”. |
|
295. We are dealing with wholes within wholes: a globe is a whole contained within a greater whole called a chain; a chain is a whole contained within a greater whole called a scheme. |
295. Chúng ta đang bàn đến những toàn thể nằm trong những toàn thể: một bầu hành tinh là một toàn thể được chứa trong một toàn thể lớn hơn gọi là một Dãy; một Dãy là một toàn thể được chứa trong một toàn thể lớn hơn gọi là một hệ hành tinh. |
|
296. Man is contained with the Heavenly Man, Who is contained within the Solar Logos. |
296. Con người được chứa trong Đấng Thiên Nhân, Đấng được chứa trong Thái dương Thượng đế. |
|
297. Aggregations of permanent atoms are contained within a permanent atom of a higher nature; aggregations of the permanent atoms of a higher nature are contained within a permanent atom of a still higher nature. |
297. Những tập hợp các nguyên tử trường tồn được chứa trong một nguyên tử trường tồn có bản chất cao hơn; những tập hợp các nguyên tử trường tồn có bản chất cao hơn được chứa trong một nguyên tử trường tồn có bản chất còn cao hơn nữa. |
|
298. For some Entities globes are as permanent atoms; for Entities greater still (like the Planetary Logos) chains are as permanent atoms. |
298. Đối với một số Thực Thể, các bầu hành tinh giống như các nguyên tử trường tồn; đối với các Thực Thể còn lớn hơn nữa (như Hành Tinh Thượng đế), các Dãy giống như các nguyên tử trường tồn. |
|
299. For the Solar Logos, some planetary schemes are as permanent atoms. |
299. Đối với Thái dương Thượng đế, một số hệ hành tinh giống như các nguyên tử trường tồn. |
|
300. For the Solar Logos the non-sacred schemes are as the permanent atoms (even though some of the permanent atoms, when viewed in other contexts, are associated with sacred planets). |
300. Đối với Thái dương Thượng đế, các hệ hành tinh không thiêng liêng giống như các nguyên tử trường tồn (dù rằng một số nguyên tử trường tồn, khi được nhìn trong những bối cảnh khác, lại được liên kết với các hành tinh thiêng liêng). |
|
301. Is it not possible that there may be sacred and non-sacred globes, the non-sacred globes associated with lower permanent atoms? |
301. Chẳng phải có thể có các bầu hành tinh thiêng liêng và không thiêng liêng sao, trong đó các bầu hành tinh không thiêng liêng được liên kết với các nguyên tử trường tồn thấp hơn? |
|
302. Also, may there not be sacred and non-sacred chains, the lower of the planetary chains to be associated with the lower permanent atoms? |
302. Ngoài ra, chẳng phải cũng có thể có các Dãy thiêng liêng và không thiêng liêng sao, trong đó các Dãy hành tinh thấp hơn được liên kết với các nguyên tử trường tồn thấp hơn? |
|
303. We recognize that there are times when a unit of life is considered to correspond to a chakra and others when it is considered to correspond to a permanent atom. |
303. Chúng ta nhận ra rằng có những lúc một đơn vị sự sống được xem là tương ứng với một luân xa và những lúc khác lại được xem là tương ứng với một nguyên tử trường tồn. |
|
304. A permanent atom generates a vehicle; a chakra animates a vehicles and sustains it with life energy. |
304. Một nguyên tử trường tồn tạo ra một vận cụ; một luân xa làm sinh động một vận cụ và duy trì nó bằng năng lượng sự sống. |
|
305. It is no easy matter to sort out when a unit of life is to be considered a permanent atom (and thus related to the matter aspect—though attached to the life aspect) and when a chakra, and thus related direction to the life aspect, for all chakras are vortices sustained by monadic fire. |
305. Không dễ gì phân định khi nào một đơn vị sự sống phải được xem là một nguyên tử trường tồn (và do đó liên hệ với phương diện vật chất—dù gắn với phương diện sự sống) và khi nào là một luân xa, và do đó liên hệ trực tiếp với phương diện sự sống, vì mọi luân xa đều là những xoáy lực được duy trì bởi lửa chân thần. |
|
306. Permanent atoms, however, are also related to principles. |
306. Tuy nhiên, các nguyên tử trường tồn cũng liên hệ với các nguyên khí. |
|
The same is true likewise of the correspondence between a chain of globes and a scheme of analogous number. |
Điều tương tự cũng đúng đối với sự tương ứng giữa một Dãy các bầu hành tinh và một hệ hành tinh có số tương tự. |
|
307. The methods of communication between wholes within whole (according to the principle of numerical resonance) are clear. |
307. Các phương pháp giao tiếp giữa những toàn thể nằm trong toàn thể (theo nguyên lý cộng hưởng số học) là rõ ràng. |
|
308. The Earth globe (the fourth globe) has a special mode of connection with the Earth-chain (the fourth chain in the Earth-scheme) and the Earth-chain with the Earth-scheme (which is the fourth scheme in the solar system). |
308. Bầu hành tinh Trái Đất (bầu thứ tư) có một phương thức liên kết đặc biệt với Dãy Địa Cầu (Dãy thứ tư trong hệ Địa Cầu) và Dãy Địa Cầu với hệ Địa Cầu (là hệ thứ tư trong hệ mặt trời). |
|
309. The Mercury-globe (the fifth) of the Earth-chain, has special communication with the Mercury-chain of the Earth-scheme, and with the Mercury chain with the Mercury-scheme of the solar system, and of course, with the Mercury-scheme, etc. |
309. Bầu hành tinh Sao Thủy (bầu thứ năm) của Dãy Địa Cầu có sự giao tiếp đặc biệt với Dãy Sao Thủy của hệ Địa Cầu, và Dãy Sao Thủy với hệ Sao Thủy của hệ mặt trời, và dĩ nhiên, với hệ Sao Thủy, v.v. |
|
The connection between Venus and the Earth lies hid in number, and it took a moment of mysterious alignment between a globe, its corresponding chain and the scheme of allied number to effect the momentous occurrence known as the coming of the Lords of Flame. |
Mối liên hệ giữa Sao Kim và Trái Đất được ẩn giấu trong con số, và cần đến một khoảnh khắc chỉnh hợp huyền nhiệm giữa một bầu hành tinh, Dãy tương ứng của nó và hệ hành tinh có số liên hệ để tạo nên biến cố trọng đại được biết đến như sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Lửa. |
|
310. The coming of the Lord of the Flame (the Solar Angels, Prometheus) was, from the cosmological perspective, a numerological event. |
310. Sự giáng lâm của Chúa Tể của Lửa (các Thái dương Thiên Thần, Prometheus), xét từ quan điểm vũ trụ luận, là một biến cố số học huyền bí. |
|
311. The Earth-globe was the recipient. From one perspective, the Venus-globe of the Venus-chain aligned with that chain, and the Venus-chain with the Venus-scheme. The operative numbers are two and six. At least there are charts which show this connection. |
311. Bầu hành tinh Trái Đất là bên tiếp nhận. Từ một góc nhìn, bầu hành tinh Sao Kim của Dãy Sao Kim đã chỉnh hợp với Dãy ấy, và Dãy Sao Kim với hệ Sao Kim. Các con số tác động là hai và sáu. Ít nhất cũng có những biểu đồ cho thấy mối liên hệ này. |
|
312. However, the numbering is different below. |
312. Tuy nhiên, cách đánh số ở dưới lại khác. |
|
It occurred in the third rootrace in the fourth round. |
Điều đó xảy ra trong giống dân gốc thứ ba của cuộc tuần hoàn thứ tư. |
|
313. Within the Earth-chain and Earth-scheme. |
313. Bên trong Dãy Địa Cầu và hệ Địa Cầu. |
|
Here we have an analogy between the quaternary and the Triad, carrying the interpretation up to a Heavenly Man. |
Ở đây chúng ta có một sự tương đồng giữa bộ tứ và Tam nguyên tinh thần, đưa sự diễn giải lên đến một Đấng Thiên Nhân. |
|
314. The Earth-scheme represents the quaternary and the Venus-scheme the Triad. |
314. Hệ Địa Cầu tượng trưng cho bộ tứ và hệ Sao Kim tượng trưng cho Tam nguyên tinh thần. |
|
The chain was the fourth chain and the globe, the fourth. |
Dãy là Dãy thứ tư và bầu hành tinh cũng là bầu thứ tư. |
|
315. The recipient chain and globe are being described: the fourth chain of the Earth-scheme and the fourth globe within that fourth chain (the Earth-chain). |
315. Dãy và bầu hành tinh tiếp nhận đang được mô tả: Dãy thứ tư của hệ Địa Cầu và bầu hành tinh thứ tư trong Dãy thứ tư ấy (Dãy Địa Cầu). |
|
The fourth [Page 300] chain in the Venus scheme and the fourth globe in that chain were closely involved in the transaction. |
Dãy thứ tư [Page 300] trong hệ Sao Kim và bầu hành tinh thứ tư trong Dãy ấy đã tham dự mật thiết vào giao dịch này. |
|
316. This is a fascinating piece of information. In the images given in Chart VII, TCF 385, we are shown that the sixth globe of the second chain (the Venus-chain) of the Earth-scheme is aligned with the fourth globe of the fourth chain of the Earth-scheme. DK is telling us that the fourth chain of the Venus scheme (and its fourth globe) was closely involved. |
316. Đây là một mẩu thông tin đầy hấp dẫn. Trong các hình ảnh được đưa ra ở Biểu đồ VII, TCF 385, chúng ta được cho thấy rằng bầu hành tinh thứ sáu của Dãy thứ hai (Dãy Sao Kim) của hệ Địa Cầu được chỉnh hợp với bầu hành tinh thứ tư của Dãy thứ tư của hệ Địa Cầu. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng Dãy thứ tư của hệ Sao Kim (và bầu hành tinh thứ tư của nó) đã tham dự mật thiết. |
|
317. Elsewhere, we have also learned that the sixth chain of the Venus-scheme was involved. |
317. Ở nơi khác, chúng ta cũng đã biết rằng Dãy thứ sáu của hệ Sao Kim đã tham dự. |
|
“Venus may have had much to do with the impartation of the stimulation which resulted in great events on Earth via the Venus chain of our scheme, but our scheme gave, in a mysterious manner, more than was received, though the [Page 378] gift was not of the same nature. The coming in of the Venusian influence to our chain, and to our planet, with the subsequent stimulation of certain groups in the fourth Creative Hierarchy, the human, caused a paralleling event of even greater magnitude in the Venus scheme. This affected the sixth Hierarchy, one of the deva Hierarchies, dwelling in the Venus scheme. This stimulation emanated via our sixth chain (or the second according to the angle of vision) and affected a corresponding chain in the Venus scheme. The magnitude of the difference may be seen in the fact that in our case one globe alone was affected, whereas the influence of our scheme on the Venusian was such that an entire chain was stimulated. This was brought about through the positive polarity of the Heavenly Man of the Earth scheme”. (TCF 377-378) |
“Sao Kim có thể đã liên quan rất nhiều đến việc truyền đạt sự kích thích dẫn đến những biến cố lớn lao trên Trái Đất qua Dãy Sao Kim của hệ chúng ta, nhưng hệ chúng ta, theo một cách huyền nhiệm, đã cho nhiều hơn là nhận, dù món quà [Page 378] không cùng bản chất. Sự đi vào của ảnh hưởng Sao Kim đến Dãy chúng ta, và đến hành tinh chúng ta, cùng với sự kích thích tiếp theo đối với một số nhóm trong Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức giới nhân loại, đã gây ra một biến cố song hành còn lớn lao hơn trong hệ Sao Kim. Điều này ảnh hưởng đến Huyền Giai thứ sáu, một trong các Huyền Giai thiên thần, cư ngụ trong hệ Sao Kim. Sự kích thích này phát xuất qua Dãy thứ sáu của chúng ta (hay Dãy thứ hai tùy theo góc độ tầm nhìn) và ảnh hưởng đến một Dãy tương ứng trong hệ Sao Kim. Mức độ khác biệt có thể thấy ở chỗ trong trường hợp của chúng ta chỉ một bầu hành tinh bị ảnh hưởng, trong khi ảnh hưởng của hệ chúng ta lên hệ Sao Kim lại đến mức cả một Dãy được kích thích. Điều này được mang lại nhờ cực tính dương của Đấng Thiên Nhân của hệ Địa Cầu”. (TCF 377-378) |
|
318. VSK muses: “What did Venus get out of this? An ‘earth’ ground for her livewire sparkies? Earth to earth plug in?” |
318. VSK suy ngẫm: “Sao Kim đã nhận được gì từ việc này? Một nền ‘đất’ cho những tia lửa sống động của nàng? Trái Đất nối phích cắm với Trái Đất chăng?” |
|
h. The progress of development of the Heavenly Men is by no means uniform. |
h. Sự tiến triển phát triển của các Đấng Thiên Nhân tuyệt nhiên không đồng đều. |
|
319. We are not talking here about the spiritual development or spiritual maturity of the Heavenly Man or His spiritual status relative to other Heavenly Men. We are speaking about the unfoldment of a Planetary Logos. A more spiritually developed Heavenly Man can be unfolded to a lesser extent than a less spiritually developed Heavenly Man. |
319. Ở đây chúng ta không nói về sự phát triển tinh thần hay sự trưởng thành tinh thần của Đấng Thiên Nhân hoặc địa vị tinh thần của Ngài so với các Đấng Thiên Nhân khác. Chúng ta đang nói về sự khai mở của một Hành Tinh Thượng đế. Một Đấng Thiên Nhân phát triển tinh thần hơn có thể được khai mở ở mức độ ít hơn một Đấng Thiên Nhân kém phát triển tinh thần hơn. |
|
One point has not been emphasised hitherto, and that is, that the problem before each of Them is dissimilar, and, therefore, it is not possible for man correctly to gauge the work done by Them and Their relative point of attainment. |
Có một điểm cho đến nay chưa được nhấn mạnh, đó là vấn đề trước mặt mỗi Đấng là khác nhau, và vì vậy, con người không thể đánh giá đúng công việc do Các Ngài thực hiện và điểm thành tựu tương đối của Các Ngài. |
|
320. We are speaking of matters beyond our ken. We know something of the rays of the various Heavenly Men and their possible ‘positions’ within the body of expression of the Solar Logos, but really, we know little if anything of their problems. |
320. Chúng ta đang nói về những vấn đề vượt ngoài tầm hiểu biết của mình. Chúng ta biết đôi chút về các cung của những Đấng Thiên Nhân khác nhau và những “vị trí” khả dĩ của Các Ngài trong thể biểu hiện của Thái dương Thượng đế, nhưng thật ra, chúng ta biết rất ít, nếu có, về các vấn đề của Các Ngài. |
|
321. We have been told, we remember, that the Heavenly Man of the Earth-scheme is finishing His work in relation to the fourth sub-plane of the cosmic astral plane and is starting his work upon the fifth. The Heavenly Man of the Venus-scheme has dominated and controlled the fifth sub-plane of the cosmic astral plane and is “working on the sixth”. |
321. Chúng ta đã được cho biết, như ta nhớ, rằng Đấng Thiên Nhân của hệ Địa Cầu đang hoàn tất công việc của Ngài liên hệ với cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục vũ trụ và đang bắt đầu công việc của Ngài trên cõi phụ thứ năm. Đấng Thiên Nhân của hệ Sao Kim đã chi phối và kiểm soát cõi phụ thứ năm của cõi cảm dục vũ trụ và đang “hoạt động trên cõi thứ sáu”. |
|
322. While we cannot gauge the work done by them or their relative point of attainment, we can collect what we have been told and make reasoned inference. Our intuitive apprehension of their work and attainment may also be stimulated. |
322. Dù chúng ta không thể đánh giá công việc do Các Ngài thực hiện hay điểm thành tựu tương đối của Các Ngài, chúng ta vẫn có thể tập hợp những gì đã được cho biết và đưa ra suy luận hợp lý. Sự nắm bắt trực giác của chúng ta về công việc và thành tựu của Các Ngài cũng có thể được kích thích. |
|
It has been said that as Venus is in the fifth round, the Venusian Lord is further progressed than His brothers. |
Người ta đã nói rằng vì Sao Kim đang ở cuộc tuần hoàn thứ năm, Chúa Tể Sao Kim tiến bộ hơn các huynh đệ của Ngài. |
|
323. “Further progressed” is another way of saying “further unfolded”, but as we will see below, the word “progressed” is a little ambiguous, whereas the term “unfolded” is not. |
323. “Tiến bộ hơn” là một cách khác để nói “được khai mở hơn”, nhưng như chúng ta sẽ thấy dưới đây, từ “tiến bộ” hơi mơ hồ, trong khi thuật ngữ “được khai mở” thì không. |
|
This is not altogether so. |
Điều này không hoàn toàn đúng. |
|
324. Here DK is hinting at the fact that while Planetary Logos of Venus has unfolded His process to a great extent, that Logos is not as spiritually developed or spiritually mature as some other Planetary Logoi Who have not unfolded their process to the same extent. |
324. Ở đây Chân sư DK đang gợi ý rằng trong khi Hành Tinh Thượng đế của Sao Kim đã khai mở tiến trình của Ngài đến một mức độ lớn, Thượng đế ấy lại không phát triển tinh thần hay trưởng thành tinh thần bằng một số Hành Tinh Thượng đế khác, những Đấng không khai mở tiến trình của Các Ngài đến cùng mức độ ấy. |
|
325. The Planetary Logos of Venus is developmentally mature without being as spiritually mature as some of the other Planetary Logoi. |
325. Hành Tinh Thượng đế của Sao Kim trưởng thành về mặt phát triển mà không trưởng thành về mặt tinh thần bằng một số Hành Tinh Thượng đế khác. |
|
Just as in the development of humanity three main lines may be seen with four lesser lines merging into one of the three main lines, |
Cũng như trong sự phát triển của nhân loại có thể thấy ba đường chính với bốn đường nhỏ hơn hợp vào một trong ba đường chính, |
|
326. These are the ray lines, the prominence of which are correlated with the stage of unfoldment of man—the first three rays (of aspect) coming later in the developmental sequence. |
326. Đây là các đường cung, mà mức độ nổi bật của chúng tương quan với giai đoạn khai mở của con người—ba cung đầu tiên (các cung trạng thái) đến sau hơn trong trình tự phát triển. |
|
so in connection with the Heavenly Men, there are three main lines of which the Venusian is not one. |
thì liên hệ với các Đấng Thiên Nhân cũng vậy, có ba đường chính mà đường Sao Kim không phải là một trong số đó. |
|
327. This and the following statement are of such importance. When it is said that Venus corresponds to the heart center of the Solar Logos, these statements must be brought in as counterbalances. |
327. Điều này và phát biểu tiếp theo có tầm quan trọng đến thế. Khi nói rằng Sao Kim tương ứng với trung tâm tim của Thái dương Thượng đế, những phát biểu này phải được đưa vào như những đối trọng. |
|
328. The “three main lines” refer to Planetary Logoi who are expressing the three major rays—the first, second and third. |
328. “Ba đường chính” ám chỉ các Hành Tinh Thượng đế đang biểu lộ ba cung chính—cung một, cung hai và cung ba. |
|
329. Now we see the possible contradiction: if Venus expresses one of the three super-principles, then why is it that it is not one of the “three main lines”? |
329. Giờ đây chúng ta thấy mâu thuẫn khả dĩ: nếu Sao Kim biểu lộ một trong ba siêu nguyên khí, thì tại sao nó lại không phải là một trong “ba đường chính”? |
|
330. The answer, of course, lies in the fact that Venus expresses one of the super-principles at this time. What this means is that the planet which ultimately will express that super-principle (perhaps Neptune, if the super-principle is buddhi) is not yet sufficiently unfolded to be as solar systemically expressive of the buddhic principle (as it will later). |
330. Câu trả lời, dĩ nhiên, nằm trong sự kiện rằng Sao Kim biểu lộ một trong các siêu nguyên khí vào lúc này. Điều này có nghĩa là hành tinh mà rốt cuộc sẽ biểu lộ siêu nguyên khí ấy (có lẽ là Sao Hải Vương, nếu siêu nguyên khí là Bồ đề) vẫn chưa được khai mở đầy đủ để có thể biểu lộ nguyên khí Bồ đề một cách có tính hệ mặt trời như vậy (như nó sẽ làm về sau). |
|
331. The resolution of Venus into Neptune (as a higher expression of the buddhic principle than Venus can be) is not difficult. |
331. Sự phân giải Sao Kim vào Sao Hải Vương (như một biểu hiện cao hơn của nguyên khí Bồ đề so với điều Sao Kim có thể là) không khó. |
|
332. The resolution of Venus (considered as the manasic permanent atom of the Solar Logos) into Saturn (considered as the third ray planet to preside over the manasic principle) is far more difficult. |
332. Sự phân giải Sao Kim (được xem như nguyên tử trường tồn manas của Thái dương Thượng đế) vào Sao Thổ (được xem như hành tinh cung ba chủ trì nguyên khí manas) khó hơn nhiều. |
|
The Lord of Venus holds place in the logoic quaternary, as does the Lord of Earth. |
Chúa Tể của Sao Kim giữ vị trí trong bộ tứ logoi, cũng như Chúa Tể của Trái Đất vậy. |
|
333. This is a golden statement, denoting Venus as a highly unfolded planet of medium spiritual maturity or stature. |
333. Đây là một phát biểu vàng, cho thấy Sao Kim là một hành tinh được khai mở cao với mức trưởng thành hay tầm vóc tinh thần trung bình. |
|
334. The quaternary, as stated previously in this Commentary, refers to the lower or more material nature of the being in question. |
334. Bộ tứ, như đã nói trước đây trong phần Bình Giải này, ám chỉ bản chất thấp hơn hay vật chất hơn của hữu thể đang được xét. |
|
335. Although the heart is one of the four lower major chakras, it is related far more to the soul expression of any entity than to its personality expression. |
335. Mặc dù tim là một trong bốn luân xa chính thấp hơn, nó liên hệ với biểu hiện linh hồn của bất kỳ thực thể nào nhiều hơn rất nhiều so với biểu hiện phàm ngã của thực thể ấy. |
|
336. If Venus is a member of the logoic quaternary, it must be found at the very highest point of that quaternary, which would correlate it to the solar plexus center. |
336. Nếu Sao Kim là một thành viên của bộ tứ logoi, thì nó phải được tìm thấy ở điểm cao nhất của bộ tứ ấy, điều này sẽ tương quan nó với trung tâm tùng thái dương. |
|
337. One day, when other Planetary Logoi have ‘moved on’, it is very reasonable to think of Venus as the true correspondence to the heart center of the then expressing Solar Logos. |
337. Một ngày kia, khi các Hành Tinh Thượng đế khác đã “tiến xa hơn”, thật rất hợp lý để nghĩ về Sao Kim như sự tương ứng đích thực với trung tâm tim của Thái dương Thượng đế đang biểu lộ vào lúc đó. |
|
338. Could Venus correlate with both the solar plexus center of the Logos and with His manasic permanent atom (should He have one)? We remember that globes, chains and planetary schemes may correlate (from different perspectives) with both permanent atoms and chakras. |
338. Liệu Sao Kim có thể tương quan vừa với trung tâm tùng thái dương của Logos vừa với nguyên tử trường tồn manas của Ngài (nếu Ngài có một nguyên tử như thế) không? Chúng ta nhớ rằng các bầu hành tinh, các Dãy và các hệ hành tinh có thể tương quan (từ những góc nhìn khác nhau) với cả nguyên tử trường tồn lẫn luân xa. |
|
339. In this solar system, the logoic solar plexus center is what Venus will finally express (so I think), but may presently be working most through its fifth ray soul to express more along the manasic line than the heart-line. Later it will be replaced and will express more heartfully. |
339. Trong hệ mặt trời này, trung tâm tùng thái dương logoi là điều mà Sao Kim cuối cùng sẽ biểu lộ (tôi nghĩ vậy), nhưng hiện nay có thể đang hoạt động chủ yếu qua cung linh hồn thứ năm của nó để biểu lộ nhiều hơn theo đường manas hơn là đường tim. Về sau nó sẽ được thay thế và sẽ biểu lộ bằng tim nhiều hơn. |
|
340. Venus, as a sacred planet, has transcended its personality expression which is probably along the soft line—ray two perhaps. However it has not yet fulfilled its monadic expression which is along the sixth and second ray lines. Rather, it is expressive of the manasic number five which may relate it to the logoic manasic permanent atom, and somewhat to the logoic Solar Angel. In other words, it would be that planet within the solar logoic expression which would be most attuned to the logoic Solar Angel. |
340. Sao Kim, như một hành tinh thiêng liêng, đã vượt qua biểu hiện phàm ngã của nó, có lẽ theo đường mềm—có lẽ là cung hai. Tuy nhiên nó vẫn chưa hoàn tất biểu hiện chân thần của nó, vốn theo các đường cung sáu và cung hai. Trái lại, nó biểu lộ con số manas năm, điều này có thể liên hệ nó với nguyên tử trường tồn manas logoi, và phần nào với Thái dương Thiên Thần logoi. Nói cách khác, đó sẽ là hành tinh trong biểu hiện logoi thái dương nào được chỉnh hợp nhiều nhất với Thái dương Thiên Thần logoi. |
|
341. Even though Solar Angels express most through the number five, in our solar system (due to the Sirian inspiration), the number is very closely related to the number two. |
341. Dù các Thái dương Thiên Thần biểu lộ nhiều nhất qua con số năm, trong hệ mặt trời của chúng ta (do cảm hứng từ Sirius), con số này lại liên hệ rất chặt chẽ với con số hai. |
|
342. The entire causal body is built upon the manasic permanent atom, and the Venusian line of inspiration is that which starts the building of the causal body and sees it through. |
342. Toàn bộ thể nguyên nhân được xây dựng trên nguyên tử trường tồn manas, và đường cảm hứng Sao Kim là điều khởi đầu việc xây dựng thể nguyên nhân và theo suốt tiến trình ấy. |
|
The main idea underlying the question we have been endeavoring to answer has to do with the relationship between the schemes, chains, rounds, and races, and it should be borne in mind that these manifestations bear the same relationship to a Heavenly Man as incarnations do to a human being. |
Ý tưởng chính nằm bên dưới câu hỏi mà chúng ta đã cố gắng trả lời liên quan đến mối tương quan giữa các hệ hành tinh, các Dãy, các cuộc tuần hoàn và các nhân loại, và cần ghi nhớ rằng những biểu hiện này mang cùng mối tương quan với một Đấng Thiên Nhân như các lần lâm phàm đối với một con người. |
|
343. With regard to a human being, but one term is used—“incarnations”. With respect to a Heavenly Man, four terms are used: “schemes, chains, rounds and races.” The term “schemes” may relate more to the incarnations of a Solar Logos. But chains, rounds and races are clearly meant to relate to the incarnations of a Heavenly Man. |
343. Đối với một con người, chỉ một thuật ngữ được dùng—“các lần lâm phàm”. Đối với một Đấng Thiên Nhân, bốn thuật ngữ được dùng: “các hệ hành tinh, các Dãy, các cuộc tuần hoàn và các nhân loại.” Thuật ngữ “các hệ hành tinh” có thể liên hệ nhiều hơn đến các lần lâm phàm của một Thái dương Thượng đế. Nhưng các Dãy, các cuộc tuần hoàn và các nhân loại rõ ràng được dùng để liên hệ với các lần lâm phàm của một Đấng Thiên Nhân. |
|
344. Can there be more than one planetary scheme per Planetary Logos per solar system? This is a deep question and not easily answered. |
344. Có thể có hơn một hệ hành tinh cho mỗi Hành Tinh Thượng đế trong mỗi hệ mặt trời không? Đây là một câu hỏi sâu xa và không dễ trả lời. |
|
345. The major Planetary Logoi developed from comets (says the Secret Doctrine) at the same time the Sun developed from a comet. We do not see the Sun changing its vehicle of expression during a solar system, and so, it is unlikely that a Planetary Logos or Heavenly Man would change His vehicle of expression during a solar system. The indicated thought is that a Planetary Logos or Heavenly Man will have but one planetary scheme through which to express per solar system. |
345. Các Hành Tinh Thượng đế lớn phát triển từ các sao chổi (theo Giáo Lý Bí Nhiệm) cùng lúc Mặt Trời phát triển từ một sao chổi. Chúng ta không thấy Mặt Trời thay đổi vận cụ biểu hiện của nó trong một hệ mặt trời, và vì vậy, khó có khả năng một Hành Tinh Thượng đế hay Đấng Thiên Nhân lại thay đổi vận cụ biểu hiện của Ngài trong một hệ mặt trời. Tư tưởng được chỉ ra là một Hành Tinh Thượng đế hay Đấng Thiên Nhân sẽ chỉ có một hệ hành tinh để biểu lộ trong mỗi hệ mặt trời. |
|
346. If chains, rounds and races are as incarnations to a Heavenly Man, then they must be incarnations of different scope and on different levels. |
346. Nếu các Dãy, các cuộc tuần hoàn và các nhân loại đều giống như các lần lâm phàm đối với một Đấng Thiên Nhân, thì chúng hẳn phải là những lần lâm phàm có phạm vi khác nhau và trên những cấp độ khác nhau. |
|
347. In other words: some of them are major incarnations, some minor and some relatively minute. |
347. Nói cách khác: một số là những lần lâm phàm lớn, một số nhỏ và một số tương đối rất nhỏ. |
|
348. Man, however, seems to have incarnations only of one kind, though the duration of life may be greater or lesser in different incarnations. (Sometimes astral and mental incarnations are discussed in relation to man, but the meaning of these terms is presently indefinite.) |
348. Tuy nhiên, con người dường như chỉ có những lần lâm phàm thuộc một loại, dù thời lượng sống có thể lớn hơn hay nhỏ hơn trong những lần lâm phàm khác nhau. (Đôi khi người ta bàn đến các lần lâm phàm cảm dục và trí tuệ liên hệ với con người, nhưng ý nghĩa của các thuật ngữ này hiện nay chưa xác định.) |
|
349. Nevertheless, though they all take place with similar vehicles of expression, some of those incarnations are considered major and some minor, depending upon the relationship of the incarnation to the task of soul expression. |
349. Tuy vậy, dù tất cả đều diễn ra với những vận cụ biểu hiện tương tự, một số lần lâm phàm ấy được xem là lớn và một số là nhỏ, tùy theo mối liên hệ của lần lâm phàm với nhiệm vụ biểu hiện linh hồn. |
|
This gives the opportunity here to bring out perhaps a little more clearly the place of cycles in the evolution of all these Entities from a man up to a cosmic Logos, via a Heavenly Man and a solar Logos. [18: S. D., I, 258]. |
Điều này cho ta cơ hội ở đây để có lẽ làm sáng tỏ hơn đôi chút vị trí của các chu kỳ trong sự tiến hoá của tất cả các Thực Thể này, từ con người lên đến một Thượng đế vũ trụ, qua một Đấng Thiên Nhân và một Thái dương Thượng đế. [18: S. D., I, 258]. |
|
350. We are given a series of four logoi: man as logos, the Planetary Logos, the Solar Logos and the Cosmic Logos. |
350. Chúng ta được cho một chuỗi bốn logos: con người như logos, Hành Tinh Thượng đế, Thái dương Thượng đế và Thượng đế Vũ Trụ. |
|
351. A Planetary Logos, Solar Logos and even a Cosmic Logos are all incarnations within Beings still greater than they are. |
351. Một Hành Tinh Thượng đế, Thái dương Thượng đế và ngay cả một Thượng đế Vũ Trụ đều là những lần lâm phàm bên trong những Hữu Thể còn lớn hơn chính Các Ngài. |
|
352. In what type of being is a man an incarnation? |
352. Con người là một lần lâm phàm trong loại hữu thể nào? |
|
353. If chains, rounds and races are all as incarnations in the life of a Heavenly Man, what are correspondences of these term in the life of a man? In an incarnation, man too, must have his chains, round and races. What are they? |
353. Nếu các Dãy, các cuộc tuần hoàn và các nhân loại đều giống như các lần lâm phàm trong đời sống của một Đấng Thiên Nhân, thì những sự tương ứng của các thuật ngữ này trong đời sống của con người là gì? Trong một lần lâm phàm, con người cũng phải có các Dãy, các cuộc tuần hoàn và các nhân loại của mình. Chúng là gì? |
|
354. Perhaps the major periods in a man’s incarnated life (said to be seven periods—seven times ten), are as chains; the years during those periods may be as rounds; and the months of those years may be as races. |
354. Có lẽ các giai đoạn lớn trong đời sống lâm phàm của một người (được nói là bảy giai đoạn—bảy lần mười) giống như các Dãy; các năm trong những giai đoạn ấy giống như các cuộc tuần hoàn; và các tháng của những năm ấy giống như các nhân loại. |
|
355. One could continue the analogy which, of course, is only indicative and not exact. Still, when cycles occur within the Planetary Logos in which we “live and move and have our being”, those cycles must be reflected within our incarnated life. |
355. Người ta có thể tiếp tục phép tương đồng này, dĩ nhiên chỉ có tính gợi ý chứ không chính xác. Tuy nhiên, khi các chu kỳ xảy ra bên trong Hành Tinh Thượng đế mà trong đó chúng ta “sống, chuyển động và hiện hữu”, thì những chu kỳ ấy hẳn phải được phản ánh trong đời sống lâm phàm của chúng ta. |
|
Just as it is pointed out in the Secret Doctrine that there are greater and lesser cycles in the evolution of a solar system, so it can be predicated equally of a Heavenly Man, of a human being, and of an atom. |
Cũng như đã được chỉ ra trong Giáo Lý Bí Nhiệm rằng có những chu kỳ lớn và nhỏ trong sự tiến hoá của một hệ mặt trời, thì điều đó cũng có thể được khẳng định tương tự đối với một Đấng Thiên Nhân, một con người, và một nguyên tử. |
|
356. Great areas of thought are being opened with this statement. |
356. Những lĩnh vực tư tưởng rộng lớn đang được mở ra bởi phát biểu này. |
|
357. The Science of Cycles is of tremendous importance, but obscure to the human intellect. When a man has achieved a knowledge of the Science of Cycles, he functions upon the atmic plane and is a Master. Even a Master, however, would insist that His knowledge of the Science of Cycles is minimal. |
357. Khoa Học về các Chu Kỳ có tầm quan trọng vô cùng lớn, nhưng lại mờ tối đối với trí tuệ con người. Khi một người đã đạt được tri thức về Khoa Học về các Chu Kỳ, y hoạt động trên cõi atma và là một Chân sư. Tuy nhiên, ngay cả một Chân sư cũng sẽ khẳng định rằng tri thức của Ngài về Khoa Học về các Chu Kỳ là tối thiểu. |
|
358. A careful study of astrology can give us a good idea of greater and lesser cycles within a cycle of incarnation. |
358. Một sự nghiên cứu cẩn thận về chiêm tinh học có thể cho chúng ta một ý niệm tốt về các chu kỳ lớn và nhỏ bên trong một chu kỳ lâm phàm. |
|
359. Planetary cycles are fairly easy to discern; ray cycles within the individual incarnation are far more difficult to discern, but nonetheless effective along with the ongoing astrological changes. |
359. Các chu kỳ hành tinh khá dễ phân biện; các chu kỳ cung bên trong lần lâm phàm cá nhân thì khó phân biện hơn nhiều, nhưng dẫu vậy vẫn có hiệu lực cùng với những biến đổi chiêm tinh đang tiếp diễn. |
|
This brings us, therefore, to another statement: |
Do đó, điều này đưa chúng ta đến một phát biểu khác: |
|
i. The cycles in the evolutionary process of all these Entities may be divided mainly into three groups, though necessarily these groups can be extended into septenates and into an infinity of multiples of seven. |
i. Các chu kỳ trong tiến trình tiến hoá của tất cả các Thực Thể này có thể được chia chủ yếu thành ba nhóm, dù tất yếu các nhóm này có thể được mở rộng thành các bộ bảy và thành vô số bội số của bảy. |
|
360. The statement in this section can easily be related to Chart XII, TCF 130. describing Parabrahm. In this Chart we see a Great Entity divided first into three main groups and then into many descending septenates. |
360. Phát biểu trong phần này có thể dễ dàng được liên hệ với Biểu đồ XII, TCF 130. mô tả Parabrahm. Trong Biểu đồ này chúng ta thấy một Thực Thể Vĩ Đại trước hết được chia thành ba nhóm chính rồi sau đó thành nhiều bộ bảy đi xuống. |
|
361. Each of the three main groups, apparently, is divisible into septenates. |
361. Mỗi một trong ba nhóm chính ấy, dường như, đều có thể chia thành các bộ bảy. |
|
362. The term “infinity” is used here is a figurative rather than literal sense. It simply means “countless” or “incapable of being counted by the mind of man at this time”. |
362. Thuật ngữ “vô số” được dùng ở đây theo nghĩa hình tượng hơn là nghĩa đen. Nó đơn giản có nghĩa là “không đếm xuể” hay “không thể được trí tuệ con người vào lúc này đếm được”. |
|
Parabrahm TCF Chart 12 |
Parabrahm Biểu đồ 12 của TCF |

|
[Page 301] |
|
|
In connection with a solar Logos the cycles might be called: |
Liên hệ với một Thái dương Thượng đế, các chu kỳ có thể được gọi là: |
|
1. One hundred years of Brahma. |
1. Một trăm năm của Brahma. |
|
2. A year of Brahma. |
2. Một năm của Brahma. |
|
3. A day of Brahma. |
3. Một ngày của Brahma. |
|
363. We are speaking of the three major cycles which can be divided into many septenates. |
363. Chúng ta đang nói về ba chu kỳ chính, có thể được chia thành nhiều bộ bảy. |
|
364. One hundred years of Brahma is an occult century consisting of 311,040,000,000,000. years. |
364. Một trăm năm của Brahma là một thế kỷ huyền bí gồm 311,040,000,000,000. năm. |
|
365. A day of Brahma is called a manvantara and has duration of 4,320,000,000. Earth years. One day and one night of Brahma contain 8,640,000,000. years |
365. Một ngày của Brahma được gọi là một manvantara và có thời lượng 4,320,000,000. năm Trái Đất. Một ngày và một đêm của Brahma chứa 8,640,000,000. năm |
|
366. A year of Brahma consists of 360. such days and nights, or 3,110,400,000,000. Earth years. |
366. Một năm của Brahma gồm 360. ngày và đêm như thế, hay 3,110,400,000,000. năm Trái Đất. |
|
These periods have been computed by the Hindu students and are the sumtotal of time as we understand it or the duration of a solar system. |
Các chu kỳ này đã được các đạo sinh Ấn Độ tính toán và là tổng số thời gian như chúng ta hiểu, hay thời lượng của một hệ mặt trời. |
|
367. India is ruled by Capricorn and, thus, Saturn, and so it has a special ability to understand cycles of time. |
367. Ấn Độ được cai quản bởi Ma Kết và do đó bởi Sao Thổ, nên nước này có một khả năng đặc biệt để thấu hiểu các chu kỳ thời gian. |
|
368. Beyond time as it relates to the duration solar system, the Tibetan is suggesting we can have no understanding. |
368. Vượt ra ngoài thời gian trong mối liên hệ của nó với thời lượng của hệ mặt trời, Chân sư Tây Tạng gợi ý rằng chúng ta không thể có sự thấu hiểu nào. |
|
369. The figures hypothesized by modern astrophysics even for the duration of the entire cosmos, are much, much smaller than the figure here presented for the duration of a solar system. We have huge discrepancy on our hands and it will one day have to be resolved. |
369. Những con số do vật lý thiên văn hiện đại giả định, ngay cả đối với thời lượng của toàn thể vũ trụ, cũng nhỏ hơn rất rất nhiều so với con số được trình bày ở đây cho thời lượng của một hệ mặt trời. Chúng ta đang đối diện với một sự chênh lệch rất lớn, và một ngày nào đó nó sẽ phải được giải quyết. |
|
In connection with a Heavenly Man we have the corresponding cycles to those of the Logos: |
Liên quan đến một Đấng Thiên Nhân, chúng ta có các chu kỳ tương ứng với các chu kỳ của Thượng đế: |
|
1. The period of a planetary scheme. |
1. Chu kỳ của một hệ hành tinh. |
|
370. We have been told the following: |
370. Chúng ta đã được cho biết điều sau đây: |
|
Certain planets afford only temporary [Page 299] homes to these principles. Others persist throughout the mahamanvantara. Of these Venus is one. (TCF 298-299) |
Một số hành tinh chỉ cung cấp những nơi cư ngụ tạm thời [Page 299] cho các nguyên khí này. Những hành tinh khác tồn tại suốt Đại giai kỳ sinh hóa. Trong số đó có Kim Tinh. (TCF 298-299) |
|
371. If this is the case, then, the duration of those Planetary Logoi which persist throughout the mahamanvantara will be one occult century—just the duration of a Solar Logos. |
371. Nếu đúng như vậy, thì thời lượng của những Đức Hành Tinh Thượng Đế tồn tại suốt Đại giai kỳ sinh hóa sẽ là một thế kỷ huyền bí—đúng bằng thời lượng của một Thái dương Thượng đế. |
|
372. When the time for obscuration comes, it will have to be relatively quick in terms of solar systemic time, because a planet like Venus must be absorbed into a synthesizing planet and yet at the same time, it must persist throughout the mahamanvantara. Naturally, the Tibetan has used only general language which is not meant to be scientifically precise. |
372. Khi thời điểm để đi vào sự che khuất đến, điều đó sẽ phải diễn ra tương đối nhanh xét theo thời gian của hệ mặt trời, bởi vì một hành tinh như Kim Tinh phải được hấp thu vào một hành tinh tổng hợp, nhưng đồng thời nó vẫn phải tồn tại suốt Đại giai kỳ sinh hóa. Đương nhiên, Chân sư Tây Tạng chỉ dùng ngôn ngữ tổng quát, không nhằm chính xác theo nghĩa khoa học. |
|
373. Of course, not all Planetary Logoi last throughout the mahamanvantara; their duration, then, must be one of the secrets of initiation. |
373. Dĩ nhiên, không phải mọi Đức Hành Tinh Thượng Đế đều tồn tại suốt Đại giai kỳ sinh hóa; vì vậy thời lượng của Các Ngài hẳn phải là một trong những bí mật của điểm đạo. |
|
374. According to the calculations of the occult historian Phillip Lindsay, from the beginning of our solar system to the present day, 155,520,000,000,000. Earth-years have elapsed. He calculates as well that the Earth has been in existence for 65,320,372,949,101. years. |
374. Theo các tính toán của nhà sử học huyền bí Phillip Lindsay, từ lúc khởi đầu hệ mặt trời của chúng ta cho đến ngày nay, 155,520,000,000,000. năm Trái Đất đã trôi qua. Ông cũng tính rằng Trái Đất đã tồn tại được 65,320,372,949,101. năm. |
|
375. This would mean that Venus, as a planet that endures throughout the greater mahamanvantara, would have been in existence some ninety trillion years before the Earth. Whether or not this makes cosmological sense is yet to be determined. |
375. Điều này có nghĩa là Kim Tinh, với tư cách một hành tinh tồn tại suốt Đại giai kỳ sinh hóa lớn hơn, đã hiện hữu trước Trái Đất khoảng chín mươi nghìn tỉ năm. Điều này có hợp lý về mặt vũ trụ học hay không vẫn còn phải được xác định. |
|
376. A compilation on “manvantara” and “mahamanvantara” must be made, as the two terms are used in a number of ways which are not consistent, even though the Tibetan does say, “A manvantara, or Day of Brahma, is always of a certain length, and so is a mahamanvantara.” (TCF 273) In practice, however, one has often to intuit the meaning of the Tibetan’s use of the term. |
376. Cần phải thực hiện một bản tổng hợp về “manvantara” và “Đại giai kỳ sinh hóa”, vì hai thuật ngữ này được dùng theo nhiều cách không nhất quán, mặc dù Chân sư Tây Tạng có nói: “Một manvantara, hay một Ngày của Brahma, luôn luôn có một độ dài nhất định, và một Đại giai kỳ sinh hóa cũng vậy.” (TCF 273) Tuy nhiên, trên thực tế, người ta thường phải trực giác ra ý nghĩa trong cách Chân sư Tây Tạng dùng thuật ngữ này. |
|
2. The period of a planetary chain. |
2. Chu kỳ của một Dãy hành tinh. |
|
377. Normally, we could not know anything about such a duration, but some hints are given in various places of TCF and in the Secret Doctrine. |
377. Thông thường, chúng ta không thể biết gì về một thời lượng như thế, nhưng một vài gợi ý được đưa ra ở nhiều chỗ trong TCF và trong Giáo Lý Bí Nhiệm. |
|
378. Using very rounded figures, if the duration of a round as it passes through a globe period is approximately 300,000,000. years, and if there are seven such periods in every round, plus equal intervals between globes, then we have some 4,200,000,000. year per round, which multiplied by seven for seven rounds, would be approximately 28,000,000,000. years. But between rounds there may also be a pralaya equal to the duration of the found itself, and so the seven rounds would elapse in some 56,000,000,000. Earth years. |
378. Dùng những con số rất làm tròn, nếu thời lượng của một cuộc tuần hoàn khi nó đi qua một chu kỳ bầu hành tinh xấp xỉ 300,000,000. năm, và nếu có bảy chu kỳ như thế trong mỗi cuộc tuần hoàn, cộng với những khoảng cách bằng nhau giữa các bầu hành tinh, thì chúng ta có khoảng 4,200,000,000. năm cho mỗi cuộc tuần hoàn; nhân với bảy cho bảy cuộc tuần hoàn, sẽ xấp xỉ 28,000,000,000. năm. Nhưng giữa các cuộc tuần hoàn cũng có thể có một giai kỳ qui nguyên bằng với thời lượng của chính cuộc tuần hoàn, và như vậy bảy cuộc tuần hoàn sẽ trôi qua trong khoảng 56,000,000,000. năm Trái Đất. |
|
379. This is a figure (far from accurate, but maybe indicative) which would apply to the duration of a planetary chain. |
379. Đây là một con số (không chính xác chút nào, nhưng có lẽ có tính chỉ dấu) có thể áp dụng cho thời lượng của một Dãy hành tinh. |
|
380. If there are seven such chains in a planetary scheme, then multiplying 56,000,000,000. by seven, we get about 380,000,000,000. years for the duration of a planetary scheme. |
380. Nếu có bảy Dãy như thế trong một hệ hành tinh, thì nhân 56,000,000,000. với bảy, chúng ta được khoảng 380,000,000,000. năm cho thời lượng của một hệ hành tinh. |
|
381. We can see that this figure falls far short of an occult century or maha kalpa which is said to be the duration of some planetary schemes. |
381. Chúng ta có thể thấy rằng con số này còn kém rất xa một thế kỷ huyền bí hay maha kalpa, vốn được nói là thời lượng của một số hệ hành tinh. |
|
382. There are, however, so many possible variables, that such calculations must be considered of the crudest order, uninformed of the hidden facts involved in the planetary process. |
382. Tuy nhiên, có quá nhiều biến số khả dĩ, nên những phép tính như thế phải được xem là thuộc loại thô sơ nhất, không được soi sáng bởi các sự kiện ẩn kín liên quan đến tiến trình hành tinh. |
|
383. In the cycles below, we can assume that the period of pralaya or quiescence which follows manifestation is of equal duration to the manifestation. |
383. Trong các chu kỳ dưới đây, chúng ta có thể giả định rằng chu kỳ giai kỳ qui nguyên hay tĩnh chỉ theo sau biểu hiện có thời lượng bằng với biểu hiện. |
|
384. A planetary chain is said to endure for one mahamanvantara or one year of Brahma. Obviously, there are at least two uses to the term “mahamanvantara”, one of them equaling a year of Brahma, the other equaling one hundred years of Brahma. |
384. Một Dãy hành tinh được nói là tồn tại trong một Đại giai kỳ sinh hóa hay một năm của Brahma. Rõ ràng, có ít nhất hai cách dùng thuật ngữ “Đại giai kỳ sinh hóa”, một cách bằng một năm của Brahma, cách kia bằng một trăm năm của Brahma. |
|
385. Here are some quotations which will be useful, if for nothing else, to provoke perplexity: |
385. Sau đây là một số trích dẫn sẽ hữu ích, nếu không vì điều gì khác, thì ít nhất cũng để khơi lên sự bối rối: |
|
A chain,37. in its totality corresponds to the body egoic of a human being, to the causal body with its seven great [Page 383] cycles mentioned elsewhere in these pages, and hinted at in certain occult books. (TCF 382-383) |
Một Dãy,37. trong toàn thể của nó, tương ứng với thể chân ngã của một con người, với thể nguyên nhân cùng bảy chu kỳ lớn [Page 383] của nó được nhắc đến ở nơi khác trong những trang này, và được ám chỉ trong một số sách huyền bí. (TCF 382-383) |
|
In considering planetary pralaya we might briefly enumerate the following periods of quiescence: |
Khi xem xét giai kỳ qui nguyên hành tinh, chúng ta có thể ngắn gọn liệt kê các chu kỳ tĩnh chỉ sau đây: |
|
386. It is a reasonable assumption that the periods of quiescence following a period of activity more or less equal the period of activity. |
386. Đó là một giả định hợp lý rằng các chu kỳ tĩnh chỉ theo sau một chu kỳ hoạt động ít nhiều bằng với chu kỳ hoạt động. |
|
387. In the life of man, however, the conventional eight hours of sleep, do not equal the sixteen hours of waking that preceded it. How far can we carry this analogy? |
387. Tuy nhiên, trong đời sống con người, tám giờ ngủ theo quy ước không bằng mười sáu giờ thức trước đó. Chúng ta có thể mang phép loại suy này đi xa đến đâu? |
|
Between Two Globes in a Chain. This covers the period of abstraction of the seeds of all life, and its transference from one sphere to another. The seed manu of a globe gathers all the life forces into Himself, as does the Logos at the close of a system, and as also transpires at the close of a chain, and holds them quiescent in His aura. This covers a period of a manvantara, or of one day of Brahma. (TCF 743) |
Giữa Hai Bầu Hành Tinh trong một Dãy. Điều này bao gồm chu kỳ rút các hạt giống của mọi sự sống, và sự chuyển dịch chúng từ khối cầu này sang khối cầu khác. Manu hạt giống của một bầu hành tinh thu tập mọi mãnh lực sự sống vào trong Chính Ngài, cũng như Thượng đế làm vào lúc kết thúc một hệ, và cũng như điều xảy ra vào lúc kết thúc một Dãy, rồi giữ chúng trong trạng thái tĩnh chỉ trong hào quang của Ngài. Điều này bao gồm một chu kỳ của một manvantara, hay một ngày của Brahma. (TCF 743) |
|
Between Two Chains. This covers the period of a mahamanvantara, or of one year of Brahma. [3,110,400,000,000. Earth years] There are many ways of arriving at the greater cycles, but there is no need to confuse with the intricacies of figures. |
Giữa Hai Dãy. Điều này bao gồm chu kỳ của một Đại giai kỳ sinh hóa, hay một năm của Brahma. [3,110,400,000,000. năm Trái Đất] Có nhiều cách để đi đến các chu kỳ lớn hơn, nhưng không cần phải gây rối trí bằng những phức tạp của các con số. |
|
388. This statement alone should probably dissuade us from going too far into calculation. The missing keys will be given to us when we approach the point of trustworthiness, and when our intellect/intuition suffices. |
388. Chỉ riêng phát biểu này thôi có lẽ cũng đủ khiến chúng ta không đi quá xa vào việc tính toán. Những chìa khóa còn thiếu sẽ được trao cho chúng ta khi chúng ta tiến gần đến điểm đáng tin cậy, và khi trí tuệ/trực giác của chúng ta đủ sức. |
|
The ten Prajapatis or Rishis, or [Page 744] the ten planetary Logoi, manifest through Their ten schemes in time and space, the hour of Their appearing differing. Each likewise manifests as does the Logos through a septenate and a triad, making again a ten of perfection. |
Mười Prajapati hay Rishi, hay [Page 744] mười Đức Hành Tinh Thượng Đế, biểu hiện qua mười hệ của Các Ngài trong thời gian và không gian, giờ xuất hiện của Các Ngài khác nhau. Mỗi vị cũng biểu hiện như Thượng đế qua một bộ bảy và một bộ ba, lại tạo thành một số mười của sự toàn hảo. |
|
389. Is the word “hour” used here is a figurative sense or literally in terms of an hour of Brahma? Probably, it is a figurative use, but, for those who know, the literal “hour” of the appearance of any one of the Planetary Logoi could be calculated. |
389. Từ “giờ” ở đây được dùng theo nghĩa hình tượng hay theo nghĩa đen như một giờ của Brahma? Có lẽ đó là cách dùng hình tượng, nhưng đối với những ai biết, “giờ” theo nghĩa đen của sự xuất hiện của bất kỳ một Đức Hành Tinh Thượng Đế nào cũng có thể được tính ra. |
|
Between Two Solar Systems. This covers the period of one hundred years of Brahma, and through the study of the planetary cycles comprehension of these greater cycles may come. Complication comes to the student nevertheless in the fact that two of the schemes cover their cyclic periods in five rounds, while others have seven; one scheme has but three rounds, but a mystery is hidden here: on the inner round one planet has nine cycles to run before the purpose of its Lord is completed. |
Giữa Hai Hệ Mặt Trời. Điều này bao gồm chu kỳ một trăm năm của Brahma, và qua việc nghiên cứu các chu kỳ hành tinh, sự thấu hiểu các chu kỳ lớn hơn này có thể đến. Tuy nhiên, sự phức tạp đến với đạo sinh ở chỗ hai trong các hệ hoàn tất các chu kỳ của chúng trong năm cuộc tuần hoàn, trong khi các hệ khác có bảy; một hệ chỉ có ba cuộc tuần hoàn, nhưng ở đây có một huyền nhiệm ẩn giấu: trên cuộc tuần hoàn bên trong, một hành tinh có chín chu kỳ phải trải qua trước khi mục đích của Chúa Tể của nó được hoàn tất. |
|
(TCF 743-744) |
(TCF 743-744) |
|
390. There is no way we (at present) will make perfect sense out of what is given, but we shall at least lay out some ways of calculating. |
390. Hiện nay không có cách nào để chúng ta hiểu hoàn toàn những gì được đưa ra, nhưng ít nhất chúng ta cũng sẽ trình bày một vài cách tính. |
|
391. If we think carefully, we shall see that there are seven globes in a chain (if there are not ten) and that each globe period is one manvantara, and interim period between globes is one manvantara. |
391. Nếu suy nghĩ cẩn thận, chúng ta sẽ thấy rằng có bảy bầu hành tinh trong một Dãy (nếu không phải là mười), và mỗi chu kỳ bầu hành tinh là một manvantara, và chu kỳ trung gian giữa các bầu hành tinh là một manvantara. |
|
392. This sums to fourteen manvantaras per chain per round. |
392. Tổng cộng là mười bốn manvantara cho mỗi Dãy trong mỗi cuộc tuần hoàn. |
|
393. If there are seven rounds, then there are 14×7. = 98. manvantaras per chain, or 98. days of Brahma per chain. (Probably additional spans are hear being ignored, like twilight periods, but the calculations are only meant to be indicative.) |
393. Nếu có bảy cuộc tuần hoàn, thì có 14×7. = 98. manvantara cho mỗi Dãy, hay 98. ngày của Brahma cho mỗi Dãy. (Có lẽ những khoảng thời gian bổ sung đang bị bỏ qua ở đây, như các thời kỳ hoàng hôn, nhưng các phép tính chỉ nhằm có tính chỉ dấu.) |
|
394. This is hardly the 360. days of one year of Brahma. |
394. Điều này khó có thể là 360. ngày của một năm Brahma. |
|
395. There follows another reference which does not, at first sight, correlate well with the references immediately preceding: |
395. Tiếp theo là một dẫn chiếu khác mà thoạt nhìn không tương hợp tốt với các dẫn chiếu ngay trước đó: |
|
396. A manvantara in the previous sections refers to globe period. In the reference following, a manvantara refers to a complete round. Thus, in the following reference, the period of a manvantara is seven times longer than in the foregoing. In fact, if the inter-chain periods are counted (as they must be) a day of Brahma in the following references, is fourteen times longer than in the foregoing references. |
396. Một manvantara trong các phần trước ám chỉ chu kỳ bầu hành tinh. Trong dẫn chiếu sau đây, một manvantara ám chỉ một cuộc tuần hoàn trọn vẹn. Vì vậy, trong dẫn chiếu sau đây, chu kỳ của một manvantara dài gấp bảy lần trong các dẫn chiếu trước. Thực ra, nếu các chu kỳ giữa các Dãy được tính đến (và chúng phải được tính), thì một ngày của Brahma trong các dẫn chiếu sau đây dài gấp mười bốn lần trong các dẫn chiếu trước. |
|
397. A year of Brahma in the foregoing refers to a chain period; the inter-chain period following a chain period also endures for a year. Again, in the following, a year of Brahma is fourteen times longer. |
397. Một năm của Brahma trong phần trước ám chỉ một chu kỳ Dãy; chu kỳ giữa các Dãy theo sau một chu kỳ Dãy cũng kéo dài một năm. Một lần nữa, trong phần sau, một năm của Brahma dài gấp mười bốn lần. |
|
398. We shall cross these bridges when we arrive at the references here inserted for clarification and contrast. |
398. Chúng ta sẽ qua những cây cầu này khi đến các dẫn chiếu được chèn vào đây để làm sáng tỏ và đối chiếu. |
|
a. 100. years of Brahma An occult century. The period of a solar system. |
a. 100. năm của Brahma Một thế kỷ huyền bí. Chu kỳ của một hệ mặt trời. |
|
b. One year of Brahma The period of seven chains, where the seven planetary schemes are concerned. |
b. Một năm của Brahma Chu kỳ của bảy Dãy, khi liên quan đến bảy hệ hành tinh. |
|
399. But are there, perhaps, seven periods of seven chains in the duration of a Planetary Logos? |
399. Nhưng có lẽ nào lại có bảy chu kỳ của bảy Dãy trong thời lượng của một Đức Hành Tinh Thượng Đế chăng? |
|
400. It hardly squares with the statement that some Planetary Logoi last throughout the mahamanvantara, if the duration of a Planetary Logos is only one year of Brahma! |
400. Điều này hầu như không phù hợp với phát biểu rằng một số Đức Hành Tinh Thượng Đế tồn tại suốt Đại giai kỳ sinh hóa, nếu thời lượng của một Đức Hành Tinh Thượng Đế chỉ là một năm của Brahma! |
|
401. But if as well as seven rounds per chain, there are seven ‘chain-rounds’ per scheme, then we have a duration of some seven years of Brahma for a planetary scheme (consisting of seven chains). |
401. Nhưng nếu ngoài bảy cuộc tuần hoàn cho mỗi Dãy, còn có bảy ‘chu kỳ-Dãy’ cho mỗi hệ, thì chúng ta có thời lượng khoảng bảy năm của Brahma cho một hệ hành tinh (gồm bảy Dãy). |
|
402. If there were ten chains per planetary scheme, and ten scheme rounds, then the duration of each planetary scheme would be ten years of Brahma. |
402. Nếu có mười Dãy cho mỗi hệ hành tinh, và mười cuộc tuần hoàn hệ, thì thời lượng của mỗi hệ hành tinh sẽ là mười năm của Brahma. |
|
403. We must remember that globes exist simultaneously with other globes; chain simultaneously with other chains; and schemes simultaneously with other schemes. |
403. Chúng ta phải nhớ rằng các bầu hành tinh tồn tại đồng thời với các bầu hành tinh khác; các Dãy đồng thời với các Dãy khác; và các hệ đồng thời với các hệ khác. |
|
404. There must be a movement within the solar system (a kind of solar scheme round) which takes the focus of the Solar Logos from one planetary scheme to another. |
404. Phải có một chuyển động bên trong hệ mặt trời (một loại cuộc tuần hoàn hệ mặt trời) đưa tiêu điểm của Thái dương Thượng đế từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác. |
|
405. If there are ten planetary schemes, with each planetary scheme lasting ten years of Brahma, we have obviously achieved our necessary one hundred years of Brahma for the entire solar system. |
405. Nếu có mười hệ hành tinh, mỗi hệ hành tinh kéo dài mười năm của Brahma, thì rõ ràng chúng ta đạt được một trăm năm Brahma cần thiết cho toàn bộ hệ mặt trời. |
|
406. Of course, it cannot be that simple. The solar logoic focus does not wait for ten years of Brahma in connection with one planetary scheme to elapse before moving on to the next planetary scheme. |
406. Dĩ nhiên, không thể đơn giản như thế. Tiêu điểm logoi mặt trời không chờ cho mười năm của Brahma liên quan đến một hệ hành tinh trôi qua rồi mới chuyển sang hệ hành tinh kế tiếp. |
|
407. Probably as each period of seven chains is completed, the focus moves on. |
407. Có lẽ khi mỗi chu kỳ bảy Dãy hoàn tất, tiêu điểm sẽ chuyển đi. |
|
408. Even this is a huge simplification, because, we must remember that planetary schemes are like chakras and it is obvious that the focus of the indwelling life is not only on one chakra at a time. They are all active and functioning in triangles, even though there may be one particular triangle which is focal (of all the possible triangles) and one particular chakra within that focal triangle, which, itself, is focal. |
408. Ngay cả điều này cũng là một sự đơn giản hóa rất lớn, bởi vì chúng ta phải nhớ rằng các hệ hành tinh giống như các luân xa, và hiển nhiên tiêu điểm của sự sống nội tại không chỉ đặt trên một luân xa tại một thời điểm. Tất cả chúng đều hoạt động và vận hành trong các tam giác, mặc dù có thể có một tam giác đặc biệt là tiêu điểm (trong tất cả các tam giác khả hữu) và một luân xa đặc biệt bên trong tam giác tiêu điểm ấy, bản thân nó lại là tiêu điểm. |
|
409. In one section of the book we are told that the life of the Solar Logos circulates seven times around the solar system. |
409. Trong một phần của quyển sách, chúng ta được cho biết rằng sự sống của Thái dương Thượng đế tuần hoàn bảy lần quanh hệ mặt trời. |
|
410. |
410. |
|
The Sun is the physical body of the solar Logos, His body of manifestation, and His life sweeps cycling through the seven schemes in the same sense as the life of a planetary Logos sweeps seven times around His scheme of seven chains. Each chain holds a position analogous to a globe in a planetary chain. Note the beauty of the correspondence, yet withal the lack of detailed analogy.4. (TCF 255) |
Mặt Trời là thể xác của Thái dương Thượng đế, thể biểu hiện của Ngài, và sự sống của Ngài quét theo chu kỳ qua bảy hệ theo cùng ý nghĩa như sự sống của một Đức Hành Tinh Thượng Đế quét bảy lần quanh hệ của Ngài gồm bảy Dãy. Mỗi Dãy giữ một vị trí tương tự như một bầu hành tinh trong một Dãy hành tinh. Hãy lưu ý vẻ đẹp của sự tương ứng này, nhưng đồng thời cũng là sự thiếu vắng loại suy chi tiết.4. (TCF 255) |
|
411. There are ten schemes in a Solar Logos however (at least ten rather major ones) and if each scheme has the attention of the Solar Logos for a year of Brahma, and if the sweep of logoic attention goes seven times around through the ten schemes, then only seventy years of Brahma will have elapsed, and not an occult century. |
411. Tuy nhiên, có mười hệ trong một Thái dương Thượng đế (ít nhất là mười hệ khá lớn), và nếu mỗi hệ nhận được sự chú ý của Thái dương Thượng đế trong một năm của Brahma, và nếu sự quét của sự chú ý logoi đi bảy lần qua mười hệ, thì chỉ có bảy mươi năm của Brahma trôi qua, chứ không phải một thế kỷ huyền bí. |
|
412. This too is a problematic picture, as there must be inter-scheme periods of equal duration to the scheme period. In which case we would have 140. years of Brahma—too many. |
412. Đây cũng là một bức tranh có vấn đề, vì phải có những chu kỳ giữa các hệ có thời lượng bằng với chu kỳ của hệ. Trong trường hợp đó, chúng ta sẽ có 140. năm của Brahma—quá nhiều. |
|
413. But, if there are only seven schemes considered in the sweep, and if the attention of the Solar Logos moves on after every solar systemic “year”, but pauses a year before reaching the next scheme which is to be attended to, then we would have ninety-eight years of Brahma (98) which is getting pretty close to the one hundred years necessitated by a solar system! |
413. Nhưng nếu chỉ có bảy hệ được xét trong sự quét, và nếu sự chú ý của Thái dương Thượng đế chuyển đi sau mỗi “năm” của hệ mặt trời, nhưng dừng lại một năm trước khi đến hệ kế tiếp cần được chú ý, thì chúng ta sẽ có chín mươi tám năm của Brahma (98), khá gần với một trăm năm cần thiết cho một hệ mặt trời! |
|
414. The view taken here is utterly simplistic and does not account for when a the planetary scheme may appear (or disappear) or how many chains a Planetary Logos may be expressing through at any one time, as sometimes there are ten, sometimes seven and sometimes only three. |
414. Quan điểm được đưa ra ở đây hoàn toàn quá đơn giản và không tính đến việc khi nào hệ hành tinh có thể xuất hiện (hay biến mất), hoặc một Đức Hành Tinh Thượng Đế có thể đang biểu lộ qua bao nhiêu Dãy tại bất kỳ thời điểm nào, vì đôi khi là mười, đôi khi là bảy, và đôi khi chỉ là ba. |
|
415. And, there is a further problem: some schemes undergo their development is less or more than seven rounds: |
415. Và còn một vấn đề nữa: một số hệ trải qua sự phát triển của chúng trong ít hơn hoặc nhiều hơn bảy cuộc tuần hoàn: |
|
Complication comes to the student nevertheless in the fact that two of the schemes cover their cyclic periods in five rounds, [probably Venus and Mercury] while others have seven [such as the Earth-scheme]; one scheme has but three rounds, but a mystery is hidden here: on the inner round one planet has nine cycles to run before the purpose of its Lord is completed. (TCF 744) |
Tuy nhiên, sự phức tạp đến với đạo sinh ở chỗ hai trong các hệ hoàn tất các chu kỳ của chúng trong năm cuộc tuần hoàn, [có lẽ là Kim Tinh và Sao Thủy] trong khi các hệ khác có bảy [chẳng hạn như hệ Địa Cầu]; một hệ chỉ có ba cuộc tuần hoàn, nhưng ở đây có một huyền nhiệm ẩn giấu: trên cuộc tuần hoàn bên trong, một hành tinh có chín chu kỳ phải trải qua trước khi mục đích của Chúa Tể của nó được hoàn tất. (TCF 744) |
|
416. Clearly, important keys are missing and without them there is no way to solve the intricacies of planetary cycles within the solar system. |
416. Rõ ràng là những chìa khóa quan trọng đang thiếu, và không có chúng thì không thể nào giải được những phức tạp của các chu kỳ hành tinh trong hệ mặt trời. |
|
417. The following reference is important as it relates to planetary schemes appearing at different times during the occult century: |
417. Dẫn chiếu sau đây quan trọng vì nó liên hệ đến việc các hệ hành tinh xuất hiện vào những thời điểm khác nhau trong thế kỷ huyền bí: |
|
The ten Prajapatis or Rishis, or [Page 744] the ten planetary Logoi, manifest through Their ten schemes in time and space, the hour of Their appearing differing. (TCF 743-744) |
Mười Prajapati hay Rishi, hay [Page 744] mười Đức Hành Tinh Thượng Đế, biểu hiện qua mười hệ của Các Ngài trong thời gian và không gian, giờ xuất hiện của Các Ngài khác nhau. (TCF 743-744) |
|
418. In addition to the sweep of the solar logoic attention around the seven (or ten) schemes (maybe the three additional schemes are included in the sweep of seven—just as the synthesizing petals open simultaneously with the opening of some of the lower petals), there are also solar systemic dynamics which will relate to which triangles are active in the solar system and which planets are particularly active in each triangle. |
418. Ngoài sự quét của sự chú ý logoi mặt trời quanh bảy (hay mười) hệ (có lẽ ba hệ bổ sung được bao gồm trong sự quét của bảy—cũng như các cánh hoa tổng hợp mở ra đồng thời với sự mở ra của một số cánh hoa thấp hơn), còn có những động lực học của hệ mặt trời liên hệ đến việc những tam giác nào đang hoạt động trong hệ mặt trời và những hành tinh nào đặc biệt hoạt động trong mỗi tam giác. |
|
419. Even if we have the good fortune to get some reasonable ideas concerning the sequentiality of solar systemic development, there is a whole science which deals with the factor of simultaneous solar systemic development. If we knew the human chakra system very well and the time of its awakening over the, say, twenty-five million years of human evolution, then we could analogize to the solar system and understand something about the periods of activation for the various planetary schemes. |
419. Ngay cả nếu chúng ta may mắn có được một số ý niệm hợp lý về tính tuần tự của sự phát triển hệ mặt trời, vẫn còn cả một khoa học bàn đến yếu tố đồng thời của sự phát triển hệ mặt trời. Nếu chúng ta biết rất rõ hệ thống luân xa của con người và thời điểm thức tỉnh của nó trong, giả sử, hai mươi lăm triệu năm tiến hoá của nhân loại, thì chúng ta có thể loại suy sang hệ mặt trời và hiểu được phần nào về các chu kỳ hoạt hóa của những hệ hành tinh khác nhau. |
|
420. If the life of the Solar Logos sweeps seven times around the solar system, and the life of the Planetary Logos sweeps seven times around His scheme of seven chains, then, in some way, the life of the human Monad/Ego must sweep seven times around the chakric system of the developing human unit. It is as if in each human being each chakra will receive seven stimulating impulses over the course of a human incarnation. |
420. Nếu sự sống của Thái dương Thượng đế quét bảy lần quanh hệ mặt trời, và sự sống của Đức Hành Tinh Thượng Đế quét bảy lần quanh hệ của Ngài gồm bảy Dãy, thì bằng cách nào đó, sự sống của chân thần/chân ngã con người phải quét bảy lần quanh hệ thống luân xa của đơn vị nhân loại đang phát triển. Dường như trong mỗi con người, mỗi luân xa sẽ nhận được bảy xung lực kích thích trong suốt một lần lâm phàm của con người. |
|
c. One week of Brahma The period of seven rounds in one scheme. It has a chain significance. |
c. Một tuần của Brahma Chu kỳ của bảy cuộc tuần hoàn trong một hệ. Nó có ý nghĩa của Dãy. |
|
421. If a round is a day, the seven rounds is obviously a week. The other way of measuring Brahmic days must be considered here, however. In that method, a globe period lasts a day of Brahma and so does an inter-globe period or pralaya. The duration of a single round (using the slower measure) would be fourteen times longer than the round which is considered to comprise just a day of Brahma. Using the single measure, a single round would last two weeks. |
421. Nếu một cuộc tuần hoàn là một ngày, thì bảy cuộc tuần hoàn hiển nhiên là một tuần. Tuy nhiên, ở đây phải xét đến cách đo khác về các ngày Brahma. Theo phương pháp đó, một chu kỳ bầu hành tinh kéo dài một ngày của Brahma và một chu kỳ giữa các bầu hành tinh hay giai kỳ qui nguyên cũng vậy. Thời lượng của một cuộc tuần hoàn đơn lẻ (dùng cách đo chậm hơn) sẽ dài gấp mười bốn lần cuộc tuần hoàn được xem là chỉ gồm một ngày của Brahma. Dùng cách đo đơn, một cuộc tuần hoàn đơn lẻ sẽ kéo dài hai tuần. |
|
d. One day of Brahma The occult period of a round. |
d. Một ngày của Brahma Chu kỳ huyền bí của một cuộc tuần hoàn. |
|
e. One hour of Brahma Concerns interchain affairs. |
e. Một giờ của Brahma Liên quan đến các vấn đề giữa các Dãy. |
|
422. It seems pretty clear that the coming of the Lords of the Flame to Earth—which coming took place (in a focal way) as a transaction between two chains in the Earth-scheme—took place during a certain hour of Brahma. |
422. Có vẻ khá rõ rằng sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa đến Trái Đất—một sự giáng lâm đã diễn ra (theo cách tiêu điểm) như một giao dịch giữa hai Dãy trong hệ Địa Cầu—đã diễn ra trong một giờ nhất định của Brahma. |
|
f. One Brahmic minute Concerns the planetary centres, and therefore egoic groups. |
f. Một phút Brahma Liên quan đến các trung tâm hành tinh, và do đó đến các nhóm chân ngã. |
|
423. When the word “planetary” is used here, it must refer to a globe. Egoic groups are significant centers on a globe. |
423. Khi từ “hành tinh” được dùng ở đây, nó phải ám chỉ một bầu hành tinh. Các nhóm chân ngã là những trung tâm có ý nghĩa trên một bầu hành tinh. |
|
g. One Brahmic moment Concerns an egoic group, and its relation to the whole. (TCF 792) |
g. Một khoảnh khắc Brahma Liên quan đến một nhóm chân ngã, và mối liên hệ của nó với toàn thể. (TCF 792) |
|
424. There is so much occultism buried in these references. We could spend many pages right here exploring the intricacies, but it seems best to wait until this page comes up in the natural course of study and see if we can add significantly to what is said. |
424. Có quá nhiều huyền bí học được chôn giấu trong những dẫn chiếu này. Chúng ta có thể dành nhiều trang ngay tại đây để khảo sát những phức tạp ấy, nhưng có lẽ tốt hơn là chờ cho đến khi trang này xuất hiện trong tiến trình học tập tự nhiên và xem liệu chúng ta có thể bổ sung đáng kể cho những gì đã được nói hay không. |
|
3. The period of a planetary round. |
3. Chu kỳ của một cuộc tuần hoàn hành tinh. |
|
425. As stated, much depends on how we conceive of the round. In the reference on TCF 792, a round is considered to be a manvantara. This type of manvantara must be greater than that manvantara which is measured by the duration of a period between globes (and thus, by implication, also the duration of globe period). |
425. Như đã nói, многое phụ thuộc vào cách chúng ta quan niệm về cuộc tuần hoàn. Trong dẫn chiếu ở TCF 792, một cuộc tuần hoàn được xem là một manvantara. Loại manvantara này phải lớn hơn manvantara được đo bằng thời lượng của một chu kỳ giữa các bầu hành tinh (và do đó, theo hàm ý, cũng bằng thời lượng của chu kỳ bầu hành tinh). |
|
426. It is as if there are fourteen of the globe and ‘inter-globe’ manvantaras in one of the round manvantaras. |
426. Dường như có mười bốn manvantara bầu hành tinh và ‘giữa các bầu hành tinh’ trong một manvantara cuộc tuần hoàn. |
|
427. For an exacting analysis of manvantaras in relation to the Earth-globe, see the words of the occult historian, Phillip Lindsay. |
427. Để có một phân tích chính xác về các manvantara liên hệ với bầu Địa Cầu, xin xem lời của nhà sử học huyền bí Phillip Lindsay. |
|
428. In the following statements, VSK is attempting to find out how old our Planetary Logos may be in terms of years, days and hours. The method is interesting but the initial premise may not be correct, for it would seem that our Planetary Logos does not last the entirety of one hundred years of Brahma. |
428. Trong các phát biểu sau đây, VSK đang cố tìm xem Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta có thể bao nhiêu tuổi tính theo năm, ngày và giờ. Phương pháp này thú vị nhưng tiền đề ban đầu có thể không đúng, vì dường như Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta không tồn tại trọn vẹn suốt một trăm năm của Brahma. |
|
429. VSK: “So, for example, earth has 100. years of Brahma. Of these, are we about 57. years in, some 208. days and about 13. hours into the occult century. Let us calculate: |
429. VSK: “Ví dụ, Địa Cầu có 100. năm của Brahma. Trong số đó, phải chăng chúng ta đang ở khoảng 57. năm, khoảng 208. ngày và khoảng 13. giờ trong thế kỷ huyền bí. Hãy tính: |
|
1. dividing 100. years by 7. schemes x 4th scheme = 57.1. years |
1. chia 100. năm cho 7. hệ x hệ thứ 4 = 57.1. năm |
|
2. dividing 360/365? days by 7. chains x 4th chain = 208. days |
2. chia 360/365? ngày cho 7. Dãy x Dãy thứ 4 = 208. ngày |
|
3. dividing 24. hours by 7. rounds x 4th round = 13.7. hours” |
3. chia 24. giờ cho 7. cuộc tuần hoàn x cuộc tuần hoàn thứ 4 = 13.7. giờ” |
|
430. DK has told us that our Solar Logos is about half way through His development. Half of an occult century is fifty years of Brahma. |
430. Chân sư DK đã cho chúng ta biết rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta đang ở khoảng giữa tiến trình phát triển của Ngài. Một nửa của một thế kỷ huyền bí là năm mươi năm của Brahma. |
|
431. The figures suggested by VSK are not all that different. |
431. Những con số do VSK gợi ý không khác biệt đến thế. |
|
432. The complication would come were we to know which planetary schemes appear at the beginning and which later, and when. The schemes which had not appeared in manifestation would not be receiving the attention of the Solar Logos. One could presume, however, there would always be seven through which circulation could occur—at least until a period of absorption/obscuration began—but this assumption would probably be incorrect. DK tells us… |
432. Sự phức tạp sẽ xuất hiện nếu chúng ta biết hệ hành tinh nào xuất hiện lúc khởi đầu và hệ nào xuất hiện về sau, và vào lúc nào. Những hệ chưa xuất hiện trong biểu hiện sẽ không nhận được sự chú ý của Thái dương Thượng đế. Tuy nhiên, người ta có thể giả định rằng luôn luôn sẽ có bảy hệ để sự tuần hoàn có thể diễn ra—ít nhất cho đến khi một chu kỳ hấp thu/che khuất bắt đầu—nhưng giả định này có lẽ không đúng. Chân sư DK cho chúng ta biết… |
|
433. It might also be possible that the attention of the Solar Logos could seem to leave the arena of outer progress if that attention was focussed on planetary schemes that had not yet materialized? This is not too far fetched as there would be a number of strictly etheric schemes to which the Solar Logos would have to attend when “making His rounds”! |
433. Cũng có thể sự chú ý của Thái dương Thượng đế dường như rời khỏi đấu trường của tiến trình bên ngoài nếu sự chú ý ấy tập trung vào những hệ hành tinh chưa hiện hình chăng? Điều này không quá xa vời, vì sẽ có một số hệ hoàn toàn dĩ thái mà Thái dương Thượng đế phải chú ý đến khi “đi các vòng của Ngài”! |
|
434. In all truth, our speculation merely serves to indicate intricacies we cannot manage. |
434. Thật ra, sự suy đoán của chúng ta chỉ nhằm chỉ ra những phức tạp mà chúng ta không thể xử lý được. |
|
Within these three divisions, |
Trong ba phân chia này, |
|
435. The period of a planetary scheme, the period of a planetary chain, the period of a planetary round are the three main divisions. |
435. Chu kỳ của một hệ hành tinh, chu kỳ của một Dãy hành tinh, chu kỳ của một cuộc tuần hoàn hành tinh là ba phân chia chính. |
|
which are the differentiations of the three great cycles of incarnation of a planetary Logos, are numerous lesser cycles or incarnations but they all fall within one or other of the three main divisions. |
là những sự biến phân của ba chu kỳ lớn của sự lâm phàm của một Đức Hành Tinh Thượng Đế, có nhiều chu kỳ hay lần lâm phàm nhỏ hơn nhưng tất cả chúng đều thuộc vào một trong ba phân chia chính ấy. |
|
436. The divisions immediately below seem to fall within the greater period of a round, which of course, falls within the period of manifestation of a chain, and it within the scheme. |
436. Những phân chia ngay bên dưới dường như thuộc vào chu kỳ lớn hơn của một cuộc tuần hoàn, mà dĩ nhiên lại thuộc vào chu kỳ biểu hiện của một Dãy, và Dãy ấy lại thuộc vào hệ. |
|
Such lesser cycles might be easily comprehended if it were pointed out that they mark such periods as: |
Những chu kỳ nhỏ hơn như thế có thể dễ dàng được hiểu nếu chỉ ra rằng chúng đánh dấu những chu kỳ như: |
|
a. The period of manifestation on a globe. |
a. Chu kỳ biểu hiện trên một bầu hành tinh. |
|
b. The period of a root-race. |
b. Chu kỳ của một giống dân gốc. |
|
437. Root races are hypothesized to have different durations. For instance, Phillip Lindsay, hypothesizes the durations of the various root races as follows: |
437. Các giống dân gốc được giả thuyết là có những thời lượng khác nhau. Chẳng hạn, Phillip Lindsay giả thuyết thời lượng của các giống dân gốc khác nhau như sau: |
|
a. Root race I: 74,429,108. or 69,120,000. years |
a. Giống dân gốc I: 74,429,108. hoặc 69,120,000. năm |
|
b. Root race II: 55,821,831. or 51,840,000. years |
b. Giống dân gốc II: 55,821,831. hoặc 51,840,000. năm |
|
c. Root race III: 37,214,554. or 34,560,000. years |
c. Giống dân gốc III: 37,214,554. hoặc 34,560,000. năm |
|
d. Root race IV: 18,607,277. or 17,280,000. years |
d. Giống dân gốc IV: 18,607,277. hoặc 17,280,000. năm |
|
e. Root race V: Undetermined. |
e. Giống dân gốc V: Chưa xác định. |
|
f. Root race VI: Will endure some 10,000,000. years |
f. Giống dân gốc VI: Sẽ kéo dài khoảng 10,000,000. năm |
|
c. The period of a sub-race. |
c. Chu kỳ của một giống dân phụ. |
|
438. Subraces are often given as enduring for equal divisions of a root race. If there are variations in the durations of root races, why should there not be variations in the durations of sub-races. Hypothetically, the same might be true for branch races. |
438. Các giống dân phụ thường được cho là kéo dài theo những phân chia bằng nhau của một giống dân gốc. Nếu có những biến thiên trong thời lượng của các giống dân gốc, tại sao lại không có những biến thiên trong thời lượng của các giống dân phụ. Theo giả thuyết, điều tương tự cũng có thể đúng đối với các giống dân nhánh. |
|
d. The period of a branch race. |
d. Chu kỳ của một giống dân nhánh. |
|
439. A globe period is apparently one seventh of a round (if that round is through seven rather than ten globes), but if an equal interval between globes is added, then a globe period is one fourteenth of a round. |
439. Một chu kỳ bầu hành tinh hiển nhiên bằng một phần bảy của một cuộc tuần hoàn (nếu cuộc tuần hoàn đó đi qua bảy thay vì mười bầu hành tinh), nhưng nếu thêm vào một khoảng cách bằng nhau giữa các bầu hành tinh, thì một chu kỳ bầu hành tinh bằng một phần mười bốn của một cuộc tuần hoàn. |
|
440. Just as root races are of different duration, it may make sense to think of globe periods as of different durations. However, we are not given the key to understand the differences in the duration of globe periods, if they exist. |
440. Cũng như các giống dân gốc có thời lượng khác nhau, có lẽ hợp lý khi nghĩ rằng các chu kỳ bầu hành tinh cũng có những thời lượng khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta không được trao chìa khóa để hiểu những khác biệt trong thời lượng của các chu kỳ bầu hành tinh, nếu những khác biệt ấy thực sự tồn tại. |
|
441. Root-races, sub-races and branch races are hypothesized, by Phillip Lindsay, to overlap. There is, however, no discontinuity in the manifestation of the races of men that would give us a pralaya after every root race or sub-race or branch race. |
441. Phillip Lindsay giả thuyết rằng các giống dân gốc, giống dân phụ và giống dân nhánh chồng lấn lên nhau. Tuy nhiên, không có sự gián đoạn nào trong sự biểu hiện của các nhân loại người khiến chúng ta có một giai kỳ qui nguyên sau mỗi giống dân gốc, giống dân phụ hay giống dân nhánh. |
|
442. Pralayas do, however, seem to occur between globe periods, rounds, and chain-periods. We cannot say that pralayas occur after planetary schemes, because many of the planetary schemes have the same duration as a solar system, so a scheme pralaya would be the same as a solar systemic pralaya. |
442. Tuy nhiên, các giai kỳ qui nguyên dường như xảy ra giữa các chu kỳ bầu hành tinh, các cuộc tuần hoàn và các chu kỳ dãy. Chúng ta không thể nói rằng các giai kỳ qui nguyên xảy ra sau các hệ hành tinh, bởi vì nhiều hệ hành tinh có cùng thời lượng với một hệ mặt trời, nên một giai kỳ qui nguyên của hệ hành tinh sẽ cũng là một giai kỳ qui nguyên của hệ mặt trời. |
|
443. VSK questions: “So continuing, if a round were a day, would a globe be an hour, and have its divisions of minutes, a root-race being a minute? But that makes us very minute, and brings us down to the second too quickly…” |
443. VSK đặt câu hỏi: “Cứ tiếp tục như vậy, nếu một cuộc tuần hoàn là một ngày, thì một bầu hành tinh có phải là một giờ, và có những phân chia thành phút của nó, một giống dân gốc là một phút chăng? Nhưng điều đó khiến chúng ta trở nên quá nhỏ bé, và đưa chúng ta xuống đến giây quá nhanh…” |
|
444. We can see that we have entered a field of great intricacy. I would recommend a careful study of Phillip Lindsay’s Earth History for an excellent presentation of the intricacies—as far as the mind of man may penetrate. |
444. Chúng ta có thể thấy rằng mình đã bước vào một lĩnh vực vô cùng phức tạp. Tôi xin đề nghị nghiên cứu cẩn thận Lịch Sử Địa Cầu của Phillip Lindsay để có một trình bày xuất sắc về những sự phức tạp ấy—xa đến mức trí tuệ con người có thể thâm nhập. |
|
In order to apprehend even cursorily the identity of manifestation of a planetary Logos in a root-race, for instance, it must be remembered that the sumtotal of human and deva units upon a planet make the body vital of a planetary Logos, (TCF 301) |
Để nắm bắt dù chỉ lướt qua bản sắc của sự biểu hiện của một Hành Tinh Thượng đế trong một giống dân gốc chẳng hạn, cần phải nhớ rằng tổng thể cộng gộp của các đơn vị người và thiên thần trên một hành tinh tạo nên thể sinh lực của một Hành Tinh Thượng đế, (TCF 301) |
|
445. The reference above goes far in placing those centers in which human and deva units (considered as Monads) find their place. They are only found in centers within the “vital body of a planetary Logos”. Of course, the monadic level is upon the sub-atomic plane of the vital body of a planetary Logos (from one perspective). |
445. Đoạn dẫn trên giúp rất nhiều trong việc xác định vị trí của những trung tâm trong đó các đơn vị người và thiên thần (được xét như các Chân thần) tìm thấy chỗ đứng của mình. Chúng chỉ được tìm thấy trong các trung tâm bên trong “thể sinh lực của một Hành Tinh Thượng đế”. Dĩ nhiên, cấp độ chân thần nằm trên cõi hạ nguyên tử của thể sinh lực của một Hành Tinh Thượng đế (xét từ một góc nhìn). |
|
446. Or perhaps if we consider that the higher mental plane (whereon are found the egoic bodies of human beings) should also be considered a kind of ether in relation to the Planetary Logos, then the monadic plane would be considered the atomic level of the etheric body of the Planetary Logos. |
446. Hoặc có lẽ nếu chúng ta xét rằng cõi thượng trí (nơi tìm thấy các thể chân ngã của con người) cũng nên được xem là một loại dĩ thái trong tương quan với Hành Tinh Thượng đế, thì cõi chân thần sẽ được xem là cấp độ nguyên tử của thể dĩ thái của Hành Tinh Thượng đế. |
|
447. Let us note the following references pertaining to human and deva units and their relation to the centers in Planetary Logoi and Solar Logoi. |
447. Chúng ta hãy lưu ý những đoạn dẫn sau đây liên quan đến các đơn vị người và thiên thần cùng mối liên hệ của chúng với các trung tâm trong các Hành Tinh Thượng đế và các Thái dương Thượng đế. |
|
the sumtotal of humanity (the fourth Hierarchy) being found, with the deva evolution, as the centres of the solar Logos. (TCF 460) |
tổng thể cộng gộp của nhân loại (Huyền Giai thứ tư), cùng với sự tiến hóa thiên thần, được tìm thấy như các trung tâm của Thái dương Thượng đế. (TCF 460) |
|
448. Within the human being, the chakras are found on various of the four ethers. By analogy, this may be the case for the Planetary Logos with respect to the chakras formed by human and deva units. |
448. Bên trong con người, các luân xa được tìm thấy trên nhiều cõi của bốn dĩ thái. Theo phép tương đồng, điều này có thể cũng đúng với Hành Tinh Thượng đế đối với các luân xa được hình thành bởi các đơn vị người và thiên thần. |
|
A very real distinction must be made by students between the centres and the remainder of the body, as they investigate the construction of the body of the solar Logos or of a planetary Logos. The centres are allied or connected with consciousness, and are composed of self-conscious units—the human Monads. The remainder of the body is composed of deva substance, yet the two together form a unity. (TCF 636-637) |
Các đạo sinh phải tạo ra một sự phân biệt rất thực giữa các trung tâm và phần còn lại của thể, khi họ khảo cứu cấu tạo của thể của Thái dương Thượng đế hay của một Hành Tinh Thượng đế. Các trung tâm liên kết hay nối kết với tâm thức, và được cấu thành bởi các đơn vị tự ý thức—các Chân thần người. Phần còn lại của thể được cấu thành bởi chất liệu thiên thần, tuy vậy cả hai cùng nhau tạo thành một hợp nhất. (TCF 636-637) |
|
449. Here is another reference of great value. We have often been told that the centers of a Planetary Logos are composed of human and deva units—as indicated in the references immediately below. |
449. Đây là một đoạn dẫn khác có giá trị lớn. Chúng ta thường được bảo rằng các trung tâm của một Hành Tinh Thượng đế được cấu thành bởi các đơn vị người và thiên thần—như được chỉ ra trong các đoạn dẫn ngay bên dưới. |
|
450. In the reference immediately above, the deva units are not mentioned as self-conscious, yet many of them are. |
450. Trong đoạn dẫn ngay phía trên, các đơn vị thiên thần không được nhắc đến như là tự ý thức, tuy nhiên nhiều đơn vị trong số đó là như vậy. |
|
The human and deva units on the upward arc, who are the cells in His body, go to the formation of the centres, and not to the remainder of the cellular vital substance of His vehicles. |
Các đơn vị người và thiên thần trên cung đi lên, là những tế bào trong thể của Ngài, góp phần vào sự hình thành các trung tâm, chứ không phải vào phần còn lại của chất liệu sinh lực tế bào trong các vận cụ của Ngài. |
|
451. I think we must differentiate between “deva units” (self-conscious) and “deva substance” (not self-conscious). The term “unit” often (but not always) means a self-aware, conscious entity. |
451. Tôi nghĩ chúng ta phải phân biệt giữa “các đơn vị thiên thần” (tự ý thức) và “chất liệu thiên thần” (không tự ý thức). Thuật ngữ “đơn vị” thường (nhưng không phải luôn luôn) có nghĩa là một thực thể hữu thức, tự nhận biết. |
|
Man has a body made up of matter which is applied to different uses, yet which forms a unit. In this unit there are certain areas of more vital importance than other areas from the standpoint of energising force. Such an area as the heart may, in this connection, be considered and compared (as regards force value) with such an area as the calf of the leg. The entity, man, utilises both, but the heart centre is of paramount importance. Thus is it also with a Heavenly Man. The two great Hierarchies—deva and human—are force centres in the body of a planetary Logos; (TCF 356) |
Con người có một thể được cấu thành bởi vật chất được dùng vào những công dụng khác nhau, tuy vậy vẫn tạo thành một đơn vị. Trong đơn vị này có những khu vực quan trọng về sinh lực hơn những khu vực khác xét từ quan điểm của mãnh lực tiếp sinh lực. Một khu vực như tim, trong mối liên hệ này, có thể được xem xét và so sánh (về giá trị mãnh lực) với một khu vực như bắp chân. Thực thể là con người sử dụng cả hai, nhưng trung tâm tim có tầm quan trọng tối thượng. Với một Đấng Thiên Nhân cũng vậy. Hai Huyền Giai lớn—thiên thần và người—là những trung tâm mãnh lực trong thể của một Hành Tinh Thượng đế; (TCF 356) |
|
452. The two great hierarchies themselves, and as a whole, are apparently force centers within the Planetary Logos. |
452. Bản thân hai huyền giai lớn ấy, và xét như một toàn thể, hiển nhiên là những trung tâm mãnh lực bên trong Hành Tinh Thượng đế. |
|
453. We may find that human and deva units are not mixed in the various centers of a Planetary Logos. In fact, it may be the human Monads constitute the higher centers and the deva units the four lower. If so, this would fit well with the division of the seven rays into the three Rays of Attribute and the Four Rays of Aspect. |
453. Chúng ta có thể thấy rằng các đơn vị người và thiên thần không pha trộn trong các trung tâm khác nhau của một Hành Tinh Thượng đế. Thật ra, có thể các Chân thần người cấu thành các trung tâm cao hơn và các đơn vị thiên thần cấu thành bốn trung tâm thấp. Nếu vậy, điều này sẽ rất phù hợp với sự phân chia bảy cung thành ba Các Cung Thuộc Tính và Bốn Các Cung Trạng Thái. |
|
454. On our planet, the deva units outnumber the human units (presently) by 140. billion to 60. billion. |
454. Trên hành tinh của chúng ta, các đơn vị thiên thần hiện nay đông hơn các đơn vị người theo tỉ lệ 140. tỉ so với 60. tỉ. |
|
455. Is DK suggesting the one of the two hierarchies is associated with centers of greater “force value” than the other. If such is the case, it would likely be the case that the human units are identified with centers of greater “force value”. |
455. Có phải Chân sư DK đang gợi ý rằng một trong hai huyền giai này được liên kết với các trung tâm có “giá trị mãnh lực” lớn hơn huyền giai kia không. Nếu đúng như vậy, thì rất có thể các đơn vị người được đồng hoá với các trung tâm có “giá trị mãnh lực” lớn hơn. |
|
the other evolutions of an involutionary nature extant within the scheme, and the remainder of the active substance of the globes, and all contained therein, go to the content of the remainder of His body. (TCF 356) |
các tiến hóa khác có bản chất giáng hạ tiến hoá hiện tồn trong hệ hành tinh, và phần còn lại của chất liệu hoạt động của các bầu hành tinh, cùng mọi thứ chứa trong đó, góp vào nội dung của phần còn lại trong thể của Ngài. (TCF 356) |
|
456. We judge that human and deva units are at least part of the active substance of the globes. |
456. Chúng ta phán đoán rằng các đơn vị người và thiên thần ít nhất là một phần của chất liệu hoạt động của các bầu hành tinh. |
|
457. What are these “other evolutions of an involutionary nature extant within the scheme”? Are they not devically related, or would it be more proper to think of them as elemental lives. |
457. Những “tiến hóa khác có bản chất giáng hạ tiến hoá hiện tồn trong hệ hành tinh” này là gì? Chúng không có liên hệ thiên thần sao, hay sẽ thích đáng hơn nếu nghĩ về chúng như các sự sống hành khí. |
|
whilst the sumtotal of lesser lives upon a planet (from the material bodies of men or devas down to the other kingdoms of nature) form His body corporeal, and are divisible into two types of such lives: (TCF 301) |
trong khi tổng thể của các sự sống nhỏ hơn trên một hành tinh (từ các thể vật chất của người hay thiên thần xuống đến các giới khác của tự nhiên) tạo thành thể xác của Ngài, và được chia thành hai loại sự sống như vậy: (TCF 301) |
|
458. The division between the lesser and greater lives in a Planetary Logos is clear. As Monads, human and deva units on the upward arc form part of the Planetary Logos’ etheric body—probably centers within the etheric body, as the formation of centers are caused by monadic power. |
458. Sự phân chia giữa các sự sống nhỏ hơn và lớn hơn trong một Hành Tinh Thượng đế là rõ ràng. Với tư cách các Chân thần, các đơn vị người và thiên thần trên cung đi lên tạo thành một phần của thể dĩ thái của Hành Tinh Thượng đế—có lẽ là các trung tâm bên trong thể dĩ thái, vì sự hình thành các trung tâm được gây ra bởi quyền năng chân thần. |
|
459. The lesser lives are found within the body corporeal of the Planetary Logos, and interestingly, these lesser lives are both on the involutionary arc and the evolutionary arc. |
459. Các sự sống nhỏ hơn được tìm thấy trong thể xác của Hành Tinh Thượng đế, và điều đáng chú ý là các sự sống nhỏ hơn này vừa ở trên cung giáng hạ tiến hoá vừa ở trên cung thăng thượng tiến hoá. |
|
460. We are well familiar with the fact that human units have “material bodies”; this extract affirms the idea that devas, also, have material bodies. |
460. Chúng ta rất quen thuộc với sự kiện rằng các đơn vị người có “thể vật chất”; đoạn trích này khẳng định ý tưởng rằng các thiên thần cũng có những thể vật chất. |
|
a. Those on the evolutionary arc, such as in the animal kingdom. |
a. Những sự sống trên cung thăng thượng tiến hoá, chẳng hạn như trong giới động vật. |
|
461. The animal kingdom is an aspect of the body corporeal of the (or a) Planetary Logos. |
461. Giới động vật là một phương diện của thể xác của (hay một) Hành Tinh Thượng đế. |
|
[Page 302] |
|
|
b. Those on the involutionary arc, such as the totality of all elemental material forms within His sphere of influence. |
b. Những sự sống trên cung giáng hạ tiến hoá, chẳng hạn như toàn thể mọi hình tướng vật chất hành khí trong phạm vi ảnh hưởng của Ngài. |
|
462. The elemental lives on the involutionary arc are an aspect of the body corporeal of a Planetary Logos. |
462. Các sự sống hành khí trên cung giáng hạ tiến hoá là một phương diện của thể xác của một Hành Tinh Thượng đế. |
|
463. The main division within the vehicles of the Planetary Logos is between His etheric and material nature. |
463. Sự phân chia chính trong các vận cụ của Hành Tinh Thượng đế là giữa bản chất dĩ thái và bản chất vật chất của Ngài. |
|
All the involutionary lives, as earlier pointed out, form the vehicles for the spirit of the planet, or the planetary entity, who is the sumtotal of the elemental essences in process of involution. |
Tất cả các sự sống giáng hạ tiến hoá, như đã chỉ ra trước đây, tạo thành các vận cụ cho tinh linh linh địa cầu, hay thực thể hành tinh, là tổng thể của các tinh chất hành khí trong tiến trình giáng hạ tiến hoá. |
|
464. Here we have an excellent definition of the “spirit of the planet” or the “planetary entity”. It is the “sumtotal of the elemental essences in the processes of involution” |
464. Ở đây chúng ta có một định nghĩa rất xuất sắc về “tinh linh linh địa cầu” hay “thực thể hành tinh”. Đó là “tổng thể của các tinh chất hành khí trong các tiến trình giáng hạ tiến hoá” |
|
465. Below are some further descriptions of this entity. |
465. Dưới đây là một vài mô tả thêm về thực thể này. |
|
The planetary Entity is on the involutionary arc and is a very low grade Entity. He is the sum total of all the elemental lives of the planet. (TCF 105) |
Thực Thể Hành Tinh ở trên cung giáng hạ tiến hoá và là một Thực Thể có cấp độ rất thấp. Ngài là tổng thể của mọi sự sống hành khí của hành tinh. (TCF 105) |
|
The spirit of the planet (or the planetary entity) likewise has his cycles, and in the absorption of [Page 108] planetary prana, and in its correct distribution, lies the secret of fertility and equable vegetation. (TCF 107-108) |
Tinh linh linh địa cầu (hay thực thể hành tinh) cũng có các chu kỳ của y, và chính trong sự hấp thụ prana hành tinh [Page 108] và trong sự phân phối đúng đắn của nó mà có bí mật của sự phì nhiêu và thảm thực vật đồng đều. (TCF 107-108) |
|
466. We seem to be told that the “planetary entity” is involved in the absorption of planetary prana and its correct distribution. |
466. Chúng ta dường như được cho biết rằng “thực thể hành tinh” có liên quan đến sự hấp thụ prana hành tinh và sự phân phối đúng đắn của nó. |
|
467. The “spirit of the planet” (an involutionary entity) is to be differentiated from the “Planetary Spirit” (another name of the Planetary Logos). |
467. “Tinh linh linh địa cầu” (một thực thể giáng hạ tiến hoá) cần được phân biệt với “Tinh Thần Hành Tinh” (một tên gọi khác của Hành Tinh Thượng đế). |
|
It might here be noted that the planetary Entity is the sumtotal of all the elemental lives of the lesser Builders functioning as, or forming, the substance of any particular globe in physical objectivity. (TCF 845) |
Ở đây cần lưu ý rằng thực thể hành tinh là tổng thể của mọi sự sống hành khí của các vị tiểu kiến tạo hoạt động như, hay tạo thành, chất liệu của bất kỳ bầu hành tinh nào trong tính khách quan hồng trần. (TCF 845) |
|
4. The builders of the etheric body of the planetary Entity. |
4. Các đấng kiến tạo của thể dĩ thái của thực thể hành tinh. |
|
This great involutionary life must remain for many aeons a mystery. His etheric body is now in process of building, and only in another solar system will he assume definite physical form. Sufficient energy has not yet been generated to permit of his manifestation objectively. He remains as yet subjective. He has his solar correspondence. (TCF 933) |
Sự sống giáng hạ tiến hoá vĩ đại này phải còn là một huyền nhiệm trong nhiều đại kiếp nữa. Thể dĩ thái của y hiện đang trong tiến trình được kiến tạo, và chỉ trong một hệ mặt trời khác y mới đảm nhận hình tướng hồng trần xác định. Chưa có đủ năng lượng được phát sinh để cho phép sự biểu hiện của y một cách khách quan. Hiện nay y vẫn còn chủ quan. Y có đối phần thái dương của mình. (TCF 933) |
|
468. The place of the planetary entity in relation to a Heavenly Man is given below. |
468. Vị trí của thực thể hành tinh trong tương quan với một Đấng Thiên Nhân được nêu dưới đây. |
|
He holds a position (in relation to a Heavenly Man) analogous to that held by the different elementals that go to the make-up of man’s three bodies, physical, astral and mental, and he is—like all manifesting beings—threefold in his nature, but involutionary. |
Y giữ một vị trí (trong tương quan với một Đấng Thiên Nhân) tương tự với vị trí của các hành khí khác nhau góp phần vào sự cấu thành ba thể của con người—hồng trần, cảm dục và trí tuệ—và y cũng như mọi hữu thể đang biểu hiện, có bản chất tam phân, nhưng là tam phân giáng hạ tiến hoá. |
|
469. Just as a human being has three (or four) elementals which go to the formation of his personality, so does a Heavenly Man have a threefold planetary entity |
469. Cũng như một con người có ba (hay bốn) hành khí góp phần vào sự hình thành phàm ngã của y, thì một Đấng Thiên Nhân cũng có một thực thể hành tinh tam phân |
|
Therefore, man and devas (differentiating the devas from the lesser Builders) form the SOUL of a Heavenly Man. |
Do đó, con người và thiên thần (phân biệt thiên thần với các vị tiểu kiến tạo) tạo thành LINH HỒN của một Đấng Thiên Nhân. |
|
470. This is an important distinction. The devas here referenced are on the “upward arc”; the lesser builders are not. |
470. Đây là một sự phân biệt quan trọng. Các thiên thần được nhắc đến ở đây thuộc “cung đi lên”; các vị tiểu kiến tạo thì không. |
|
471. The soul of the Heavenly Man is expressing through his etheric body; apparently His personality nature is expressing through his bodily, corporeal nature. |
471. Linh hồn của Đấng Thiên Nhân đang biểu lộ qua thể dĩ thái của Ngài; hiển nhiên bản chất phàm ngã của Ngài đang biểu lộ qua bản chất thể xác, vật chất của Ngài. |
|
Other lives form his BODY, and it is with body and soul that we are concerned in these two divisions of our thesis on FIRE. |
Các sự sống khác tạo thành THỂ của Ngài, và chính với thể và linh hồn mà chúng ta quan tâm trong hai phần phân chia này của luận đề chúng ta về LỬA. |
|
472. We notice–not yet is our concern focussed on the Spirit aspect. |
472. Chúng ta nhận thấy—mối quan tâm của chúng ta chưa tập trung vào phương diện Tinh thần. |
|
473. The section of TCF coving the Fires of Matter concerned “body”; the section (this present section) covering the Fires of Mind, concerns “soul”. |
473. Phần của TCF bao quát các Lửa của Vật Chất liên quan đến “thể”; phần (phần hiện tại này) bao quát các Lửa của Trí Tuệ liên quan đến “linh hồn”. |
|
One group manifests the fire of matter, |
Một nhóm biểu hiện lửa của vật chất, |
|
474. These are the lives that go to the formation of the body of the Planetary Logos. |
474. Đây là những sự sống góp phần vào sự hình thành thể của Hành Tinh Thượng đế. |
|
the other group the fire of mind, |
nhóm kia biểu hiện lửa của trí tuệ, |
|
475. These are the human and deva lives which go to the formation of the soul of the Planetary Logos |
475. Đây là những sự sống người và thiên thần góp phần vào sự hình thành linh hồn của Hành Tinh Thượng đế |
|
for the devas are the personification of the active universal mind, |
vì các thiên thần là hiện thân của trí tuệ vũ trụ hoạt động, |
|
476. This seems to suggest an aspect of the mind that correlates with the third ray, for it is “active” and the third ray is the “Ray of Activity”. |
476. Điều này dường như gợi ý một phương diện của trí tuệ tương ứng với cung ba, vì nó là “hoạt động” và cung ba là “Cung của Hoạt Động”. |
|
even though man is considered manasic in a different sense. Man bridges in essence; the devas bridge in matter. |
mặc dù con người được xem là manas theo một ý nghĩa khác. Con người bắt cầu trong bản chất; thiên thần bắt cầu trong vật chất. |
|
477. It is being suggested that manas is a bridging power. |
477. Ở đây đang gợi ý rằng manas là một quyền năng bắt cầu. |
|
478. It is suggested that devas relate and harmonize diverse material expressions, but the bridging is not subjective. |
478. Có ý rằng thiên thần liên kết và hài hòa những biểu hiện vật chất đa dạng, nhưng sự bắt cầu ấy không mang tính chủ quan. |
|
479. For man, the bridging is subjective—a bridging in consciousness and a bridging is Spirit. |
479. Đối với con người, sự bắt cầu là chủ quan—một sự bắt cầu trong tâm thức và một sự bắt cầu trong Tinh thần. |
|
480. All bridging is a form of harmonization. The harmonization of the material sphere is the work of the devas; the harmonization of the soul life (or of the consciousness) is the work of man. |
480. Mọi sự bắt cầu đều là một hình thức hài hòa hóa. Sự hài hòa hóa của lĩnh vực vật chất là công việc của thiên thần; sự hài hòa hóa của đời sống linh hồn (hay của tâm thức) là công việc của con người. |
|
481. It does not seem necessary to harmonize Spirit with Spirit, but the Spirit in all things must be recognized, and identification of Spirit with Spirit achieved. This seems more the work of man than of the devas. |
481. Dường như không cần phải hài hòa Tinh thần với Tinh thần, nhưng Tinh thần trong mọi sự vật phải được nhận biết, và sự đồng hoá Tinh thần với Tinh thần phải được đạt tới. Điều này dường như là công việc của con người hơn là của thiên thần. |
|
In connection with Man the cycles are equally threefold: |
Liên quan đến Con Người, các chu kỳ cũng tam phân như nhau: |
|
482. We have been examining the threefold cycles of the Logos and Planetary Logos. Schemes, chains and rounds are the major cycles for the Planetary Logos. The solar system, systemic schemes (the analogue to chains) and systemic rounds would be the major cycles for the Solar Logos. |
482. Chúng ta đã khảo sát các chu kỳ tam phân của Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế. Các hệ hành tinh, các dãy và các cuộc tuần hoàn là những chu kỳ chính đối với Hành Tinh Thượng đế. Hệ mặt trời, các hệ hành tinh hệ thống (tương tự với các dãy) và các cuộc tuần hoàn hệ thống sẽ là những chu kỳ chính đối với Thái dương Thượng đế. |
|
1. The Monadic cycle, which corresponds in man to the 100. years of Brahma, and to a planetary scheme. |
1. Chu kỳ chân thần, tương ứng nơi con người với 100. năm của Brahma, và với một hệ hành tinh. |
|
483. The equivalence is as follows: 100. years of Brahma for a Solar Logos is as the period of a planetary scheme for a Planetary Logos is ad the monadic cycle for man. |
483. Sự tương đương như sau: 100. năm của Brahma đối với một Thái dương Thượng đế cũng như chu kỳ của một hệ hành tinh đối với một Hành Tinh Thượng đế và như chu kỳ chân thần đối với con người. |
|
484. This first division of time is a “life-time”. |
484. Sự phân chia thời gian thứ nhất này là một “đời sống”. |
|
2. The Egoic cycle. |
2. Chu kỳ chân ngã. |
|
485. This second division of time is, perhaps, as a year, when compared to a life-time. |
485. Sự phân chia thời gian thứ hai này, có lẽ, giống như một năm, khi so với một đời sống. |
|
3. The Personality cycle. |
3. Chu kỳ phàm ngã. |
|
486. This third division of time is, perhaps, as a day, when compared to a life-time or a year. |
486. Sự phân chia thời gian thứ ba này, có lẽ, giống như một ngày, khi so với một đời sống hay một năm. |
|
487. The major divisions for the Solar Logos are the “Occult Century”, the “Year of Brahma” and the “Day of Brahma”. There are also perhaps weeks and months of Brahma, uniting numbers of days into larger units. |
487. Những phân chia chính đối với Thái dương Thượng đế là “Thế Kỷ Huyền Bí”, “Năm của Brahma” và “Ngày của Brahma”. Có lẽ cũng còn có những tuần và tháng của Brahma, kết hợp nhiều ngày thành những đơn vị lớn hơn. |
|
488. The implication in relation to man, is that a number of personality cycles could be united into significant units. |
488. Hàm ý đối với con người là một số chu kỳ phàm ngã có thể được kết hợp thành những đơn vị có ý nghĩa. |
|
489. The same could be said of egoic cycles, analogized in the life of man to spans of years which carry a certain qualitative significance. |
489. Điều tương tự cũng có thể được nói về các chu kỳ chân ngã, được loại suy trong đời sống con người như những khoảng năm mang một ý nghĩa phẩm tính nhất định. |
|
490. It may be in relation to these cycles that we have to differentiate between the ray cycles and subray cycles of the Monad, soul and personality. |
490. Có thể chính trong tương quan với các chu kỳ này mà chúng ta phải phân biệt giữa các chu kỳ cung và chu kỳ cung phụ của chân thần, linh hồn và phàm ngã. |
|
In these thoughts on cycles we have opened up a vast range of thought, especially if we link the idea of egoic and personality cycles to the vaster periods in connection with a planetary Logos. |
Trong những suy tưởng này về các chu kỳ, chúng ta đã mở ra một phạm vi tư tưởng rộng lớn, đặc biệt nếu chúng ta liên kết ý tưởng về các chu kỳ chân ngã và phàm ngã với những thời kỳ bao la hơn liên quan đến một Hành Tinh Thượng đế. |
|
491. Looking at the three divisions in relation to the structure of the Planetary Logos, we can imagine that the duration of a planetary scheme correlates with the occult century for the Solar Logos. The duration of planetary chains correlate with Years of Brahma; the duration of globes within a chain correlate to Days of Brahma. |
491. Xét ba phân chia này trong tương quan với cấu trúc của Hành Tinh Thượng đế, chúng ta có thể hình dung rằng thời lượng của một hệ hành tinh tương ứng với thế kỷ huyền bí đối với Thái dương Thượng đế. Thời lượng của các dãy hành tinh tương ứng với các Năm của Brahma; thời lượng của các bầu hành tinh trong một dãy tương ứng với các Ngày của Brahma. |
|
492. Laying out a tabulation, we would have the following suggestive categorizations: |
492. Nếu lập thành một bảng, chúng ta sẽ có những phân loại gợi ý như sau: |
|
Solar Logos |
Planetary Logos |
Man |
|
Occult Century |
Duration of a Planetary Scheme |
The Monadic Cycle |
|
Year of Brahma |
Duration of a Planetary Chain |
The Egoic Cycle |
|
Day of Brahma |
Duration of a Planetary Globe |
The Personality Cycle |
|
493. We have already seen however that there are a number of ways to view these relationships, and no fixed and certain method has been established. |
493. Tuy nhiên, chúng ta đã thấy rằng có nhiều cách để nhìn các mối liên hệ này, và chưa có một phương pháp cố định và chắc chắn nào được xác lập. |
|
The idea is capable of vast expansion, and is governed by certain fundamental ideas that must be carefully considered and contemplated. |
Ý tưởng này có khả năng mở rộng rất lớn, và được chi phối bởi một số ý tưởng nền tảng cần phải được xem xét và chiêm ngưỡng cẩn thận. |
|
494. All is numbered. The correlations between the numbers may not be entirely straightforward, but useful analogies are suggested. |
494. Mọi sự đều được đánh số. Những tương quan giữa các con số có thể không hoàn toàn trực tiếp, nhưng những phép tương đồng hữu ích được gợi ra. |
|
495. The threefold division is found in all three of these units. |
495. Sự phân chia tam phân được tìm thấy trong cả ba đơn vị này. |
|
[Page 303] |
|
|
The cycles in a man’s personality manifestation demonstrate in groups of fours and sevens, and follow the usual evolutionary sequence, as: |
Các chu kỳ trong sự biểu hiện phàm ngã của một con người biểu lộ thành những nhóm bốn và bảy, và tuân theo trình tự tiến hoá thông thường, như sau: |
|
496. Is there significance to the fact that the fours precede the sevens and that the sevens do not precede the fours? |
496. Có ý nghĩa gì trong sự kiện rằng số bốn đi trước số bảy và số bảy không đi trước số bốn chăng? |
|
497. We have a possible suggestion of the division of time into the month, which can be considered, approximately, as four weeks with seven days in each week. |
497. Chúng ta có một gợi ý khả dĩ về sự phân chia thời gian thành tháng, có thể được xem, một cách gần đúng, như bốn tuần với bảy ngày trong mỗi tuần. |
|
498. VSK suggests: “We see how Earth’s numbers are also related to man’s numbers (since man is the fourth kingdom) and the Earth is the planet numbered fourth from the Sun (if Vulcan is counted). Earth may also be considered the fourth in the septenate (consider the chain), and the seventh in the decad. |
498. VSK gợi ý: “Chúng ta thấy các con số của Trái Đất cũng liên hệ với các con số của con người (vì con người là giới thứ tư) và Trái Đất là hành tinh được đánh số thứ tư tính từ Mặt Trời (nếu tính cả Vulcan). Trái Đất cũng có thể được xem là thứ tư trong bộ bảy (hãy xét dãy), và là thứ bảy trong bộ mười.. |
|
499. VSK states further: “Similarly the four relates Earth to both the fourfold base chakra and fourfold heart. Earth which is said to be associated with the solar systemic base of the spine center, is easily related to the number seven, since the base of the spine center is the seventh center and the number of the Earth is 777.” |
499. VSK còn nói thêm: “Tương tự, số bốn liên hệ Trái Đất với cả luân xa đáy tứ phân và tim tứ phân. Trái Đất, vốn được nói là liên kết với trung tâm đáy cột sống của hệ mặt trời, dễ dàng được liên hệ với số bảy, vì trung tâm đáy cột sống là trung tâm thứ bảy và số của Trái Đất là 777.” |
|
500. The number four is a number naturally associated with the personality since the personality is composed of four elementals. |
500. Số bốn là một con số tự nhiên gắn với phàm ngã vì phàm ngã được cấu thành bởi bốn hành khí. |
|
501. The number seven is a number of material expression, and the personality holds the position of “body” (or material expression) in the trinity of Spirit, soul and body. |
501. Số bảy là một con số của biểu hiện vật chất, và phàm ngã giữ vị trí của “thể” (hay biểu hiện vật chất) trong tam vị Tinh thần, linh hồn và thể. |
|
502. Could the Tibetan be telling us that the personality develops in cycles of seven, which cycles are gathered into units of four? This would correlate the number twenty–eight with personality development. |
502. Có phải Chân sư Tây Tạng đang nói với chúng ta rằng phàm ngã phát triển theo những chu kỳ bảy, và những chu kỳ ấy được gom lại thành những đơn vị bốn? Điều này sẽ liên hệ con số hai mươi–tám với sự phát triển phàm ngã. |
|
503. Interestingly, twenty-eight is a Capricornian number (as we are told, intuition the Secret Doctrine that there are twenty-eight stars in the constellation Capricorn) and Capricorn is the sign associated with the Creative Hierarchy (Makara) one aspect of which is associated with the human personality (cf. EA 35). |
503. Điều thú vị là, hai mươi tám là một con số Ma Kết (như chúng ta được nói, trong Giáo Lý Bí Nhiệm rằng có hai mươi tám ngôi sao trong chòm sao Ma Kết) và Ma Kết là dấu hiệu gắn với Huyền Giai Sáng Tạo (Makara), một phương diện của nó được liên kết với phàm ngã con người (x. EA 35). |
|
504. It would be interested to calculate at what point in his long series of lives, a man truly becomes a personality? |
504. Sẽ là điều đáng quan tâm nếu tính xem tại điểm nào trong chuỗi dài các kiếp sống của mình, một con người thật sự trở thành một phàm ngã? |
|
505. In EP II, 16, we are told the following of the stage of dominant personality: |
505. Trong EP II, 16, chúng ta được cho biết điều sau đây về giai đoạn phàm ngã trội vượt: |
|
“Integrate the three sheaths into a unity which for three and sometimes seven lives (occasionally eleven lives) will function as a dominant personality in some field of wide expression, using the energy of ambition to bring this about.” |
“Hãy tích hợp ba thể vỏ thành một hợp nhất mà trong ba và đôi khi bảy kiếp sống (thỉnh thoảng mười một kiếp sống) sẽ hoạt động như một phàm ngã trội vượt trong một lĩnh vực biểu hiện rộng lớn nào đó, sử dụng năng lượng của tham vọng để thực hiện điều này.” |
|
506. May it be that there are earlier stages of personality expression which cannot be considered “dominant”, and in which the personality is yet to be reckoned with? |
506. Có thể chăng có những giai đoạn sớm hơn của sự biểu hiện phàm ngã mà chưa thể được xem là “trội vượt”, và trong đó phàm ngã vẫn chưa phải là điều cần được tính đến? |
|
507. When considering these numbers, we note that seven is four more than three, and eleven is four more than seven. |
507. Khi xem xét các con số này, chúng ta lưu ý rằng bảy thì bốnnhiều hơn ba, và mười một thì bốn nhiều hơn bảy. |
|
508. If, however, the four and seven of personality cycles are not hierarchicalized, such that the sevens are subsets of the fours, then we would have the grouping of individual lives into groups of four and groups of seven. |
508. Tuy nhiên, nếu bốn và bảy của các chu kỳ phàm ngã không được thánh đoàn hóa, sao cho các bộ bảy là các tập con của các bộ bốn, thì khi ấy chúng ta sẽ có sự nhóm các sự sống cá nhân thành các nhóm bốn và các nhóm bảy. |
|
509. Obviously, much remains to be studied, inferred and intuited. |
509. Hiển nhiên, vẫn còn nhiều điều cần được nghiên cứu, suy luận và trực giác nhận biết. |
|
510. In what is immediately below, DK seems to be telling us that personality development takes place for a long time and involves many lives. Perhaps, He is not only considering the time when all constituents of the personality are reasonably integrated. |
510. Trong điều ngay bên dưới, DK dường như đang nói với chúng ta rằng sự phát triển phàm ngã diễn ra trong một thời gian dài và bao gồm nhiều kiếp sống. Có lẽ, Ngài không chỉ xét đến thời điểm khi mọi thành phần của phàm ngã được tích hợp một cách tương đối hợp lý. |
|
511. The quotation from EP II, 16, focuses on the stages of personality integration and one might think that the personality is a factor which can only be considered at much later stages of evolution in the long cycle of lives. |
511. Trích dẫn từ EP II, 16, tập trung vào các giai đoạn tích hợp phàm ngã, và người ta có thể nghĩ rằng phàm ngã là một yếu tố chỉ có thể được xét đến ở những giai đoạn tiến hoá muộn hơn nhiều trong chu kỳ dài của các kiếp sống. |
|
512. However, the following reference must also be considered in this respect: |
512. Tuy nhiên, cũng phải xét đến dẫn chiếu sau đây trong phương diện này: |
|
What the Personality spends many thousands of lives in establishing is not going to be lightly altered when the Ego—working in the lower consciousness—seeks to effect a change. (LOM 82) |
Điều mà Phàm ngã phải trải qua nhiều ngàn kiếp sống để thiết lập sẽ không dễ dàng bị thay đổi khi Chân ngã—hoạt động trong tâm thức thấp—tìm cách tạo ra một sự thay đổi. (LOM 82) |
|
513. From this reference, it definitely seems that the personality is present and active for many thousands of lives. One would also have to ask if this present personality has a personality ray, even at the very early stages of evolution and even if it does not emerge into noticeability? |
513. Từ dẫn chiếu này, dứt khoát có vẻ như phàm ngã hiện diện và hoạt động trong nhiều ngàn kiếp sống. Người ta cũng phải hỏi liệu phàm ngã hiện diện này có một cung phàm ngã hay không, ngay cả ở những giai đoạn rất sớm của tiến hoá và ngay cả nếu nó chưa nổi lên đủ để được nhận thấy? |
|
a. Differentiation, the involutionary process, or the one becoming the many, the homogeneous becoming the heterogeneous. |
a. Biến phân, tiến trình giáng hạ tiến hoá, hay cái một trở thành cái nhiều, cái đồng nhất trở thành cái dị biệt. |
|
514. This would involve the build-up of the individual vehicles of the personality. |
514. Điều này sẽ bao hàm sự xây dựng các vận cụ cá nhân của phàm ngã. |
|
b. Balance, or the process of karmic adjustment. |
b. Cân bằng, hay tiến trình điều chỉnh nghiệp quả. |
|
515. This would involve a period of repentance, or a turning from a strictly selfish path to one which is more social and considerate. |
515. Điều này sẽ bao hàm một giai đoạn sám hối, hay quay khỏi một con đường hoàn toàn ích kỷ để hướng sang một con đường có tính xã hội và biết quan tâm hơn. |
|
c. Synthesis, or spiritualisation, the many again becoming the One. |
c. Tổng hợp, hay tinh thần hóa, cái nhiều lại trở thành Đấng Duy Nhất. |
|
516. This would involve the strictly spiritual phase of personality development. Obviously, soul cycles of different kinds would lie behind the types of cycles of personality unfoldment. |
516. Điều này sẽ bao hàm giai đoạn phát triển phàm ngã thuần túy tinh thần. Hiển nhiên, đằng sau các loại chu kỳ khai mở phàm ngã sẽ là các chu kỳ linh hồn thuộc những loại khác nhau. |
|
d. Obscuration, or liberation, the end of the evolutionary process, or the freeing of Spirit from the limitations of matter. |
d. Lu mờ, hay giải thoát, sự kết thúc của tiến trình tiến hoá, hay sự giải phóng tinh thần khỏi những giới hạn của vật chất. |
|
517. The personality is involved in all these stages, for one has a personality even up to the fourth initiation which, for man, is liberation and obscuration—relatively. |
517. Phàm ngã dự phần trong tất cả các giai đoạn này, vì người ta có phàm ngã ngay cả cho đến lần điểm đạo thứ tư, mà đối với con người, đó là giải thoát và lu mờ—một cách tương đối. |
|
518. DK seems to be suggesting that the personality cycles in fours and sevens (whether the sevens are arranged in four groupings, or whether cycles of four and cycle of sevens follow each other) are operative throughout the entire build-up of the personality, its equilibrization, its elevation and final obscuration. |
518. DK dường như đang gợi ý rằng các chu kỳ phàm ngã theo bộ bốn và bộ bảy (dù các bộ bảy được sắp thành bốn nhóm, hay dù các chu kỳ bốn và các chu kỳ bảy nối tiếp nhau) đều vận hành xuyên suốt toàn bộ quá trình xây dựng phàm ngã, sự cân bằng hóa, sự nâng cao và sự lu mờ sau cùng của nó. |
|
519. It is clear that different types of egoic cycles accompany different groupings of personality cycles—especially since personality cycles seems to last for thousands of lives and egoic cycles would naturally change during those thousands of lives. |
519. Rõ ràng là các loại chu kỳ chân ngã khác nhau đi kèm với các cách nhóm khác nhau của các chu kỳ phàm ngã—đặc biệt vì các chu kỳ phàm ngã dường như kéo dài hàng ngàn kiếp sống và các chu kỳ chân ngã tự nhiên sẽ thay đổi trong suốt những ngàn kiếp sống ấy. |
|
By this we must understand that all incarnations on the physical plane are not of equal importance, but some are of more moment than others; |
Bởi điều này chúng ta phải hiểu rằng không phải mọi lần lâm phàm trên cõi hồng trần đều có tầm quan trọng ngang nhau, mà một số có ý nghĩa trọng đại hơn những số khác; |
|
520. We can give easy assent to this idea. One day we shall also have the perspective to judge which of our life cycles have been important or momentous and which of relative insignificance. |
520. Chúng ta có thể dễ dàng tán đồng ý tưởng này. Một ngày nào đó chúng ta cũng sẽ có được viễn cảnh để phán đoán chu kỳ sống nào của mình là quan trọng hay trọng đại và chu kỳ nào tương đối không đáng kể. |
|
some, from the point of view of the Ego, are practically negligible, others count; |
một số, từ quan điểm của Chân ngã, thực tế là không đáng kể, những số khác thì đáng kể; |
|
521. We see that the personality is not really in a position to judge. It the Ego and its perspective which are important in determining the momentous or non-momentous nature of personality life-cycles. |
521. Chúng ta thấy rằng phàm ngã thật ra không ở vào vị thế để phán đoán. Chính Chân ngã và viễn cảnh của nó mới là điều quan trọng trong việc xác định tính chất trọng đại hay không trọng đại của các chu kỳ sống phàm ngã. |
|
some are to the evolving human Spirit of importance analogous to the incarnation of a planetary Logos in a globe, or through a root-race, whilst others are as relatively unimportant to him as the manifestation of a branch-race is to a Heavenly Man. |
một số có tầm quan trọng đối với Tinh thần nhân loại đang tiến hoá tương tự như sự lâm phàm của một Hành Tinh Thượng đế trong một bầu hành tinh, hay qua một giống dân gốc, trong khi những số khác lại tương đối không quan trọng đối với y như sự biểu hiện của một giống dân nhánh đối với một Đấng Thiên Nhân. |
|
522. DK is trying to give us analogy concerning man and the Planetary Logos. |
522. DK đang cố gắng đưa ra cho chúng ta một phép tương đồng liên quan đến con người và Hành Tinh Thượng đế. |
|
523. If a Planetary Logos incarnates in a globe, during a given round, He accomplishes the expression of seven root races. Such an incarnation (through a globe) is, in way and loosely, seven times more powerful or comprehensive as His incarnation in on root race alone. |
523. Nếu một Hành Tinh Thượng đế lâm phàm trong một bầu hành tinh, trong một cuộc tuần hoàn nhất định, Ngài hoàn thành sự biểu lộ của bảy giống dân gốc. Một lần lâm phàm như thế (qua một bầu hành tinh), theo một cách nào đó và nói rộng ra, mạnh mẽ hay bao quát hơn gấp bảy lần so với sự lâm phàm của Ngài chỉ trong một giống dân gốc. |
|
524. We judge, then, on the human scale, that, there are some personality incarnations where perhaps seven times more is accomplished than in others—or perhaps even forty-nine times more. The numbers should not be taken literally, and are merely suggested by DK’s allusion to root races and branch races. |
524. Vậy thì, trên thang đo nhân loại, chúng ta phán đoán rằng có những lần phàm ngã lâm phàm mà có lẽ thành tựu được nhiều hơn gấp bảy lần so với những lần khác—hoặc thậm chí nhiều hơn gấp bốn mươi chín lần. Không nên hiểu các con số này theo nghĩa đen, mà chúng chỉ được gợi ra bởi ám chỉ của DK đến các giống dân gốc và các giống dân nhánh. |
|
525. We can wonder why, in mid-paragraph, DK switches from discussing a Planetary Logos to discussing a Heavenly Man? Are they considered here to be the same, as often then are? |
525. Chúng ta có thể tự hỏi vì sao, giữa đoạn văn, DK chuyển từ việc bàn về một Hành Tinh Thượng đế sang bàn về một Đấng Thiên Nhân? Ở đây các ngài có được xem là một, như thường vẫn vậy chăng? |
|
526. Probably as the later stages of evolution are reached, the personality incarnations become of increasing moment, and sum or synthesize the results of many earlier incarnations. |
526. Có lẽ khi các giai đoạn muộn hơn của tiến hoá được đạt đến, các lần phàm ngã lâm phàm trở nên ngày càng trọng yếu hơn, và tổng kết hay tổng hợp các kết quả của nhiều lần lâm phàm trước đó. |
|
527. It may well be possible that the work of one personality incarnation may synthesize the results of seven lesser personality incarnations. From this perspective, a series of four momentous personality incarnations, could sum or synthesize the results of twenty-eight lesser personality incarnations. |
527. Rất có thể công việc của một lần phàm ngã lâm phàm có thể tổng hợp các kết quả của bảy lần phàm ngã lâm phàm nhỏ hơn. Từ góc nhìn này, một chuỗi bốn lần phàm ngã lâm phàm trọng đại có thể tổng kết hay tổng hợp các kết quả của hai mươi tám lần phàm ngã lâm phàm nhỏ hơn. |
|
528. There is a definite synthesizing effect as the later stages of personality development are reached. |
528. Có một hiệu quả tổng hợp rõ rệt khi các giai đoạn muộn hơn của sự phát triển phàm ngã được đạt đến. |
|
As yet, owing to the small point of development of the average man, the astral incarnations or cycles count for little, but they are by no means to be discounted, and are oft relatively of more importance than the physical. |
Hiện nay, do điểm tiến hoá còn thấp của con người trung bình, các lần lâm phàm hay các chu kỳ cảm dục ít được tính đến, nhưng tuyệt nhiên không nên xem nhẹ chúng, và chúng thường tương đối quan trọng hơn cả hồng trần. |
|
529. What do we man by “astral incarnations or cycles”? |
529. Chúng ta muốn nói gì bởi “các lần lâm phàm hay các chu kỳ cảm dục”? |
|
a. Do we mean the duration of life upon the astral plane following the death of the physical body? |
a. Có phải chúng ta muốn nói đến thời gian sống trên cõi cảm dục sau cái chết của thể xác không? |
|
b. Do we mean the amount of time spent upon the astral plane during a physical incarnation? |
b. Có phải chúng ta muốn nói đến khoảng thời gian trải qua trên cõi cảm dục trong một lần lâm phàm hồng trần không? |
|
c. Do we mean a type of incarnation or cycle in which the Ego moves towards objectivity but stops short of producing an expression upon the physical plane? |
c. Có phải chúng ta muốn nói đến một loại lâm phàm hay chu kỳ trong đó Chân ngã tiến về phía khách quan tính nhưng dừng lại trước khi tạo ra một biểu hiện trên cõi hồng trần? |
|
530. The suggestion is that if the average man were more highly developed, these astral incarnations or cycles would count for more. |
530. Gợi ý ở đây là nếu con người trung bình phát triển cao hơn, thì các lần lâm phàm hay các chu kỳ cảm dục này sẽ được tính đến nhiều hơn. |
|
531. There seems no easy way, at present, to determine which of the three options given above DK may mean by “astral incarnations of cycles”. |
531. Hiện nay dường như không có cách dễ dàng nào để xác định trong ba khả năng nêu trên, DK có thể muốn nói gì bởi “các lần lâm phàm hay các chu kỳ cảm dục”. |
|
532. The term “cycles” could easily relate to the astral, post-mortem state. But the term “incarnation” is not so easy to use in this manner. |
532. Thuật ngữ “chu kỳ” có thể dễ dàng liên hệ với trạng thái cảm dục sau khi chết. Nhưng thuật ngữ “lâm phàm” thì không dễ dùng theo cách này. |
|
In due course of time the astral cycles will be better comprehended and their relation to the physical. |
Đến đúng thời điểm, các chu kỳ cảm dục sẽ được thấu hiểu rõ hơn và mối liên hệ của chúng với cõi hồng trần cũng vậy. |
|
533. There may, indeed, be periods during the long development of the human being when the soul does not “put-down” a physical expression. |
533. Quả thật có thể có những giai đoạn trong quá trình phát triển lâu dài của con người khi linh hồn không “đặt xuống” một biểu hiện hồng trần. |
|
534. The whole presentation here is somewhat enigmatic. |
534. Toàn bộ cách trình bày ở đây có phần bí ẩn. |
|
535. We may also be inclined to wonder whether the personality cycles of four and seven are, all of them, physical? Some could be astral and some physical? |
535. Chúng ta cũng có thể nghiêng về việc tự hỏi liệu các chu kỳ phàm ngã của bốn và bảy có phải tất cả đều là hồng trần hay không? Một số có thể là cảm dục và một số là hồng trần chăng? |
|
536. DK is introducing a subject which will need much future elucidation, but which seems to hold many hints for the development of man. |
536. DK đang giới thiệu một chủ đề sẽ cần được làm sáng tỏ nhiều trong tương lai, nhưng dường như chứa đựng nhiều gợi ý cho sự phát triển của con người. |
|
When it is realised that the physical body is not a principle but that the kama-manasic principle (or desire-mind principle) is one of the most vital to man then the period or cycle in which a man functions on the fifth subplane of the astral (the fundamentally kama-manasic plane) will assume its rightful place. |
Khi người ta chứng nghiệm rằng thể xác không phải là một nguyên khí mà rằng nguyên khí trí-cảm (hay nguyên khí dục-trí) là một trong những nguyên khí thiết yếu nhất đối với con người thì giai đoạn hay chu kỳ trong đó một người hoạt động trên cõi phụ thứ năm của cõi cảm dục (cõi căn bản là trí-cảm) sẽ đảm nhận vị trí chính đáng của nó. |
|
537. The two lower sub-planes of the astral plane are not, we are told, areas of human functioning. They are, as it were, “off limits” as are the two lowest sub-planes of the etheric-physical plane (which are ‘lower’ than man’s objective nature). |
537. Chúng ta được cho biết rằng hai cõi phụ thấp nhất của cõi cảm dục không phải là những khu vực hoạt động của con người. Có thể nói, chúng “ngoài giới hạn”, cũng như hai cõi phụ thấp nhất của cõi dĩ thái-hồng trần (vốn “thấp” hơn bản chất khách quan của con người). |
|
538. One would wonder however, if in the very earliest days of human development they might not be, somehow, involved. |
538. Tuy nhiên, người ta sẽ tự hỏi liệu trong những ngày đầu tiên nhất của sự phát triển nhân loại, bằng cách nào đó chúng có thể không dự phần hay sao. |
|
539. To what degree, actually, can kama be mixed with manas for early man—a creature possessed of very small development? |
539. Thực ra, ở con người sơ khai—một tạo vật có rất ít phát triển—kama có thể hòa trộn với manas đến mức nào? |
|
540. In any case, modern average man is well acquainted with this fifth sub-plane of the astral, and it is very important to him. |
540. Dù sao đi nữa, con người trung bình hiện đại rất quen thuộc với cõi phụ thứ năm này của cõi cảm dục, và nó rất quan trọng đối với y. |
|
541. DK is speaking of a period or cycle in which man is functioning on the fifth sub-plane of the astral: |
541. DK đang nói về một giai đoạn hay chu kỳ trong đó con người đang hoạt động trên cõi phụ thứ năm của cõi cảm dục: |
|
a. Again, this could be during those lives when this sub-plane was focal (and so occur during physical incarnations). This would be another way of saying that what the man was doing astrally (during a given incarnation) was of greater importance than what he was doing physically during that same incarnation. |
a. Một lần nữa, điều này có thể là trong những kiếp sống khi cõi phụ này là tiêu điểm (và như vậy xảy ra trong các lần lâm phàm hồng trần). Đây sẽ là một cách khác để nói rằng điều con người làm trên cõi cảm dục (trong một lần lâm phàm nhất định) quan trọng hơn điều y làm trên cõi hồng trần trong chính lần lâm phàm ấy. |
|
b. Or, DK could be comparing the period following physical death to the importance of the preceding physical life, telling us that the subsequent astral experience was of greater moment that the physical experience. |
b. Hoặc, DK có thể đang so sánh giai đoạn sau cái chết hồng trần với tầm quan trọng của đời sống hồng trần trước đó, nói với chúng ta rằng kinh nghiệm cảm dục tiếp theo có ý nghĩa trọng đại hơn kinh nghiệm hồng trần. |
|
542. DK’s use of the word “vital” in relation to the kama-manasic plane is most interesting, as there are long stages in human development when man is animated from the astral plane. |
542. Việc DK dùng từ “thiết yếu” liên hệ với cõi trí-cảm là rất thú vị, vì có những giai đoạn dài trong sự phát triển nhân loại khi con người được tiếp sinh lực từ cõi cảm dục. |
|
It is so again with the mental cycles and so with the causal. |
Điều này cũng đúng như vậy với các chu kỳ trí tuệ và cũng vậy với các chu kỳ nguyên nhân. |
|
543. This sentence inclines us to believe that DK not so much speaking of mental incarnations or causal incarnations, as of the period of time spent ‘on’ those planes either during or after a particular physical incarnation. |
543. Câu này khiến chúng ta nghiêng về tin rằng DK không hẳn đang nói về các lần lâm phàm trí tuệ hay các lần lâm phàm nguyên nhân, mà là về khoảng thời gian trải qua “trên” các cõi ấy hoặc trong hoặc sau một lần lâm phàm hồng trần nhất định. |
|
544. Following physical death, time is spent on the mental plane, and between incarnations, consciousness is focussed in the causal body. Such durations can be considered cycles. |
544. Sau cái chết hồng trần, thời gian được trải qua trên cõi trí, và giữa các lần lâm phàm, tâm thức được tập trung trong thể nguyên nhân. Những khoảng thời gian như thế có thể được xem là các chu kỳ. |
|
545. While such ‘cycles’ may all be part of the same incarnation, the time spent in the subjective worlds can be considered as independent cycles and, perhaps, almost as incarnations in their own right. |
545. Dù các “chu kỳ” như thế đều có thể là những phần của cùng một lần lâm phàm, thời gian trải qua trong các thế giới chủ quan có thể được xem là những chu kỳ độc lập và, có lẽ, gần như là những lần lâm phàm theo đúng nghĩa riêng của chúng. |
|
546. Strictly speaking, the causal cycles should not be considered part of the personality cycles. |
546. Nói một cách nghiêm ngặt, các chu kỳ nguyên nhân không nên được xem là một phần của các chu kỳ phàm ngã. |
|
The causal cycles or the egoic cycles, which include all the groups of lesser [Page 304] cycles in the three worlds correspond to a complete round in the cycles of a Heavenly Man. There are seven such cycles, but the number of lesser cycles (included within the seven) is one of the secrets of Initiation. |
Các chu kỳ nguyên nhân hay các chu kỳ chân ngã, bao gồm tất cả các nhóm chu kỳ [Page 304]nhỏ hơn trong ba cõi giới tương ứng với một cuộc tuần hoàn trọn vẹn trong các chu kỳ của một Đấng Thiên Nhân. Có bảy chu kỳ như thế, nhưng số lượng các chu kỳ nhỏ hơn (được bao gồm trong bảy chu kỳ ấy) là một trong những bí mật của điểm đạo. |
|
547. Here we have some very important information. |
547. Ở đây chúng ta có một số thông tin rất quan trọng. |
|
548. Usually, when considering the time-based analogies between the Solar Logos, Planetary Logos and human being, we are confronted with three periods, but really, there are four: |
548. Thông thường, khi xét các phép tương đồng dựa trên thời gian giữa Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế và con người, chúng ta đối diện với ba giai đoạn, nhưng thật ra có bốn: |
|
a. The duration of the entire life cycle of the Solar Logos, Planetary Logos or man. |
a. Thời lượng của toàn bộ chu kỳ sống của Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế hay con người. |
|
b. The duration within such a life cycle that corresponds to a planetary scheme (for a Solar Logos), a chain (for a Planetary Logos) and an egoic cycle (for a man). |
b. Thời lượng bên trong một chu kỳ sống như thế tương ứng với một hệ hành tinh (đối với một Thái dương Thượng đế), một Dãy (đối với một Hành Tinh Thượng đế) và một chu kỳ chân ngã (đối với con người). |
|
c. There is also the period which corresponds to a chain (for a Solar Logos), a globe (for a Planetary Logos) and a personality cycle (for a man). |
c. Cũng có giai đoạn tương ứng với một Dãy (đối với một Thái dương Thượng đế), một bầu hành tinh (đối với một Hành Tinh Thượng đế) và một chu kỳ phàm ngã (đối với con người). |
|
d. But the factor of a round must be introduced. A round is a manner of dividing these various periods. A round has relevance to both a chain and to a globe. |
d. Nhưng phải đưa vào yếu tố của một cuộc tuần hoàn. Một cuộc tuần hoàn là một cách phân chia các giai đoạn khác nhau này. Một cuộc tuần hoàn có liên hệ với cả một Dãy lẫn một bầu hành tinh. |
|
e. For a man, the analogy to a round has both egoic and personality significance. |
e. Đối với con người, phép tương đồng với một cuộc tuần hoàn có cả ý nghĩa chân ngã lẫn phàm ngã. |
|
f. A chain round is equivalent to seven “globe periods”. So, in a sense, a round presents us with a larger time-frame than a globe. |
f. Một cuộc tuần hoàn của Dãy tương đương với bảy “giai đoạn bầu hành tinh”. Vì vậy, theo một nghĩa nào đó, một cuộc tuần hoàn cho chúng ta một khung thời gian lớn hơn một bầu hành tinh. |
|
549. Let’s see if we can decipher what DK seems to be saying above: |
549. Hãy xem liệu chúng ta có thể giải mã điều DK dường như đang nói ở trên hay không: |
|
a. He seems to be telling us that the causal or egoic cycles include the personality cycles of fours and sevens, for such cycles are the cycles which are both “lesser” and which relate to the “three worlds”. |
a. Ngài dường như đang nói với chúng ta rằng các chu kỳ nguyên nhân hay chân ngã bao gồm các chu kỳ phàm ngã của bốn và bảy, vì các chu kỳ như thế là những chu kỳ vừa “nhỏ hơn” vừa liên hệ đến “ba cõi giới”. |
|
b. A causal cycle corresponds to a “complete round in the cycles of a Heavenly Man”. To what kind of round? A chain round? Or a scheme round? |
b. Một chu kỳ nguyên nhân tương ứng với “một cuộc tuần hoàn trọn vẹn trong các chu kỳ của một Đấng Thiên Nhân”. Đó là loại cuộc tuần hoàn nào? Một cuộc tuần hoàn của Dãy? Hay một cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh? |
|
c. If there are seven such rounds, or seven such egoic cycles, then we are probably talking about scheme rounds, for given that there are minimally seven chains in a planetary scheme, and seven rounds for each chain, then, altogether there would be forty-nine such chain rounds in the duration of a planetary scheme. But DK tells us that there are seven complete rounds or cycles in the cycles of a Heavenly Man. |
c. Nếu có bảy cuộc tuần hoàn như thế, hay bảy chu kỳ chân ngã như thế, thì có lẽ chúng ta đang nói về các cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh, vì nếu có tối thiểu bảy Dãy trong một hệ hành tinh, và bảy cuộc tuần hoàn cho mỗi Dãy, thì tổng cộng sẽ có bốn mươi chín cuộc tuần hoàn của Dãy như thế trong thời lượng của một hệ hành tinh. Nhưng DK nói với chúng ta rằng có bảy cuộc tuần hoàn hay chu kỳ trọn vẹn trong các chu kỳ của một Đấng Thiên Nhân. |
|
550. Major hints concerning timing for all three types of entity are now being given, but they are hard to decipher. Could we decipher them, we would know a great deal more about the intended development of our solar system, and where we now stand in that development; about the intended development of our Planetary Logos and where we now stand in that development; and about the intended development of the human being and were we stand in that process. |
550. Những gợi ý lớn liên quan đến thời điểm cho cả ba loại thực thể hiện đang được đưa ra, nhưng rất khó giải mã. Nếu chúng ta có thể giải mã chúng, chúng ta sẽ biết nhiều hơn rất nhiều về sự phát triển được dự định của hệ mặt trời chúng ta, và hiện nay chúng ta đang đứng ở đâu trong sự phát triển ấy; về sự phát triển được dự định của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta và hiện nay chúng ta đang đứng ở đâu trong sự phát triển ấy; và về sự phát triển được dự định của con người và hiện nay chúng ta đang đứng ở đâu trong tiến trình ấy. |
|
551. From what we read of the Tibetan immediately below, we realize that He does express these numbers in terms of their priorities. |
551. Từ điều chúng ta đọc được của Chân sư Tây Tạng ngay bên dưới, chúng ta nhận ra rằng Ngài quả thật biểu đạt các con số này theo thứ bậc ưu tiên của chúng. |
|
552. If egoic cycles proceed in groups of sevens and of threes, then the sevens are the major cycles and the threes the lesser. Similarly, for the personality, the fours are greater and the sevens the lesser. |
552. Nếu các chu kỳ chân ngã tiến hành theo các nhóm bảy và ba, thì các bộ bảy là các chu kỳ lớn và các bộ ba là các chu kỳ nhỏ hơn. Tương tự, đối với phàm ngã, các bộ bốn là lớn hơn và các bộ bảy là nhỏ hơn. |
|
553. In man, the Planetary Logos and the Solar Logos, there are seven major egoic cycles and “a number of lesser cycles (included within the seven). |
553. Trong con người, Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế, có bảy chu kỳ chân ngã lớn và “một số chu kỳ nhỏ hơn (được bao gồm trong bảy chu kỳ ấy). |
|
554. We have been told that the number of these lesser cycles is one of the “mysteries of initiation”, but, may it be that DK has just given us a big hint, by telling us that egoic cycles proceed in groups of sevens and of threes. Could there be three sub-cycles, therefore, within every one of the greater seven. |
554. Chúng ta đã được cho biết rằng số lượng các chu kỳ nhỏ hơn này là một trong những “huyền nhiệm của điểm đạo”, nhưng liệu có thể DK vừa mới cho chúng ta một gợi ý lớn, khi nói rằng các chu kỳ chân ngã tiến hành theo các nhóm bảy và ba. Vậy có thể có ba chu kỳ phụ bên trong mỗi một trong bảy chu kỳ lớn hơn chăng. |
|
555. We already may infer that in every scheme round there are seven chain rounds. |
555. Chúng ta đã có thể suy ra rằng trong mỗi cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh có bảy cuộc tuần hoàn của Dãy. |
|
556. May it be that chain rounds are proceeding simultaneously on all seven chains? And that the completion of one round in all seven chains is, itself, considered a scheme round? |
556. Liệu có phải các cuộc tuần hoàn của Dãy đang tiến hành đồng thời trên cả bảy Dãy? Và việc hoàn tất một cuộc tuần hoàn trên cả bảy Dãy, tự nó, được xem là một cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh chăng? |
|
557. This is a very important possibility. The old Theosophical teaching made all chain development entirely sequential—as if there could be no development on chain two before chain one was completely developed or very nearly so. |
557. Đây là một khả năng rất quan trọng. Giáo huấn Thông Thiên Học cũ đã xem toàn bộ sự phát triển của các Dãy là hoàn toàn tuần tự—như thể không thể có sự phát triển nào trên dãy hai trước khi dãy một được phát triển hoàn toàn hoặc gần như vậy. |
|
558. But if chains are chakras in the Planetary Logos, this would not make entire sense. In our own chakra system, there is simultaneous development in all the chakras, even though the lower chakras tend to develop (for the most part) first—except perhaps, for the full development of the base of the spine center. |
558. Nhưng nếu các Dãy là các luân xa trong Hành Tinh Thượng đế, thì điều này sẽ không hoàn toàn hợp lý. Trong hệ thống luân xa của chính chúng ta, có sự phát triển đồng thời trong tất cả các luân xa, dù các luân xa thấp có khuynh hướng phát triển trước tiên (phần lớn là như vậy)—ngoại trừ có lẽ sự phát triển đầy đủ của trung tâm đáy cột sống. |
|
559. The whole matter is exceedingly intricate, and it is lot easier to understand that we know very little than to posit what we do know (or, rather, can infer). |
559. Toàn bộ vấn đề này cực kỳ phức tạp, và dễ hiểu hơn nhiều khi thừa nhận rằng chúng ta biết rất ít thay vì khẳng định điều chúng ta biết (hay đúng hơn, có thể suy ra). |
|
560. There may also be ‘overlap dynamics’, because even if rounds are moving on all chains of a Planetary Logos simultaneously, they may not move at the same speed. Then we would have to ask: “when would a scheme round (as hypothesized above) be completed?”. Perhaps the next scheme round would have begun (at least on some chains) before the previous scheme round was completed. |
560. Cũng có thể có những “động lực chồng lấn”, bởi vì ngay cả nếu các cuộc tuần hoàn đang vận động đồng thời trên mọi Dãy của một Hành Tinh Thượng đế, chúng có thể không vận động với cùng một tốc độ. Khi ấy chúng ta sẽ phải hỏi: “khi nào thì một cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh (như giả thuyết nêu trên) được hoàn tất?”. Có lẽ cuộc tuần hoàn kế tiếp của hệ hành tinh đã bắt đầu (ít nhất trên một số Dãy) trước khi cuộc tuần hoàn trước đó của hệ hành tinh được hoàn tất. |
|
561. It should be noted that there are other ways to consider a scheme round: |
561. Cần lưu ý rằng còn có những cách khác để xét một cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh: |
|
a. The completion of a series of seven chain-rounds in relation to one chain |
a. Sự hoàn tất một chuỗi bảy cuộc tuần hoàn của Dãy liên hệ với một Dãy |
|
b. The completion of seven chain-rounds in relation to all seven chains. If the life of the Solar Logos sweeps seven times around His entire solar system, then the life of the Planetary Logos must also sweep seven times around a planetary scheme. The chain-rounds on any chain will not account for the fullness of this sweep. |
b. Sự hoàn tất bảy cuộc tuần hoàn của Dãy liên hệ với cả bảy Dãy. Nếu sự sống của Thái dương Thượng đế quét bảy lần quanh toàn bộ hệ mặt trời của Ngài, thì sự sống của Hành Tinh Thượng đế cũng phải quét bảy lần quanh một hệ hành tinh. Các cuộc tuần hoàn của Dãy trên bất kỳ Dãy nào sẽ không giải thích được sự trọn vẹn của sự quét này. |
|
562. What is said of a Planetary Logos could be said of a Solar Logos, for the Solar Logos would have the higher analogy to scheme rounds (considering His planetary schemes as if they were chains). |
562. Điều được nói về một Hành Tinh Thượng đế cũng có thể được nói về một Thái dương Thượng đế, vì Thái dương Thượng đế sẽ có phép tương đồng cao hơn với các cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh (xét các hệ hành tinh của Ngài như thể chúng là các Dãy). |
|
563. In any case, if we suppose, hypothetically, that there are three sub-cycles within any greater egoic cycle of seven, the three could be divided in this wise:. The first three scheme rounds could be considered initial and material, relating most to the third ray; the second three scheme rounds could be considered in relation to consciousness and the second ray; the final scheme round could be considered synthetic and related to the first ray. |
563. Dù sao đi nữa, nếu chúng ta giả định, theo giả thuyết, rằng có ba chu kỳ phụ bên trong bất kỳ chu kỳ chân ngã lớn nào trong bảy chu kỳ, thì ba chu kỳ ấy có thể được phân chia như sau:. Ba cuộc tuần hoàn đầu tiên của hệ hành tinh có thể được xem là khởi đầu và vật chất, liên hệ nhiều nhất với cung ba; ba cuộc tuần hoàn thứ hai của hệ hành tinh có thể được xem là liên hệ với tâm thức và cung hai; cuộc tuần hoàn cuối cùng của hệ hành tinh có thể được xem là tổng hợp và liên hệ với cung một. |
|
564. The major seven and the lesser sevens (making forty-nine) would proceed, but the lesser sevens would be divided into three great groupings of 3, 3. and 1. |
564. Bảy chu kỳ lớn và các bộ bảy nhỏ hơn (thành bốn mươi chín) sẽ tiến hành, nhưng các bộ bảy nhỏ hơn sẽ được chia thành ba nhóm lớn là 3, 3. và 1. |
|
565. Within each of the subsidiary or lesser seven (making forty-nine in all) the cycles of fours and sevens (correlated to the personality) would be occurring. The greater cycles would include the lesser. |
565. Bên trong mỗi bộ bảy phụ hay nhỏ hơn (thành bốn mươi chín tất cả), các chu kỳ bốn và bảy (tương quan với phàm ngã) sẽ diễn ra. Các chu kỳ lớn hơn sẽ bao gồm các chu kỳ nhỏ hơn. |
|
566. Carrying the analogy further, the monadic cycles would include the egoic and the egoic the personality cycles. |
566. Tiếp tục phép tương đồng xa hơn, các chu kỳ chân thần sẽ bao gồm các chu kỳ chân ngã, và các chu kỳ chân ngã sẽ bao gồm các chu kỳ phàm ngã. |
|
567. Looking at the Planetary Logos, each scheme round would be as a major egoic cycle. Each scheme round would have seven chain rounds (according to this hypothesis—one chain round occurring more or less simultaneously on each of the seven chains). BUT, the chain rounds can be divided into seven world periods (one for each globe) and the seven world periods into seven root races. So we have a 7—sub 7—sub-sub 7. And within the root races, the personality cycles of fours and sevens would proceed. |
567. Xét Hành Tinh Thượng đế, mỗi cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh sẽ như một chu kỳ chân ngã lớn. Mỗi cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh sẽ có bảy cuộc tuần hoàn của Dãy (theo giả thuyết này—mỗi cuộc tuần hoàn của Dãy xảy ra ít nhiều đồng thời trên mỗi một trong bảy Dãy). NHƯNG, các cuộc tuần hoàn của Dãy có thể được chia thành bảy giai đoạn thế giới (mỗi giai đoạn cho một bầu hành tinh) và bảy giai đoạn thế giới thành bảy giống dân gốc. Như vậy chúng ta có một 7—phụ 7—phụ-phụ 7. Và bên trong các giống dân gốc, các chu kỳ phàm ngã của bốn và bảy sẽ tiến hành. |
|
568. Somehow, in all this, we have to group the lesser sevens in such a way that the threes (which are sub-cycles of the egoic cycles) emerge. |
568. Bằng cách nào đó, trong tất cả điều này, chúng ta phải nhóm các bộ bảy nhỏ hơn theo cách sao cho các bộ ba (là các chu kỳ phụ của các chu kỳ chân ngã) xuất hiện. |
|
569. Just as it is possible to divide any plane in the following manner: |
569. Cũng như có thể phân chia bất kỳ cõi nào theo cách sau đây: |
|
a. 3—3—1. (thus three divisions are created) |
a. 3—3—1. (như vậy tạo ra ba phân khu) |
|
b. 3—1—3. (thus three divisions are created) |
b. 3—1—3. (như vậy tạo ra ba phân khu) |
|
so we can find ways to group the sub-sevens and the sub-sub-sevens so that threefoldness emerges. |
thì chúng ta cũng có thể tìm ra những cách nhóm các bộ bảy phụ và các bộ bảy phụ-phụ sao cho tính tam phân xuất hiện. |
|
The egoic cycles proceed in groups of sevens and of threes, and not in groups of fours and sevens as do the personality cycles, and the same ratio must be predicated of the central cycles of a Heavenly Man and of a solar Logos. |
Các chu kỳ chân ngã tiến hành theo các nhóm bảy và ba, và không theo các nhóm bốn và bảy như các chu kỳ phàm ngã, và cùng một tỉ lệ ấy phải được khẳng định cho các chu kỳ trung tâm của một Đấng Thiên Nhân và của một Thái dương Thượng đế. |
|
570. VSK suggests: “These numbers, three and seven, are relevant to Saturn, but also of the soul as a three within the septenary; as opposed to the personality as the four of form within the septenary”. |
570. VSK gợi ý: “Các con số này, ba và bảy, có liên hệ với Sao Thổ, nhưng cũng liên hệ với linh hồn như một bộ ba bên trong bộ bảy; đối lập với phàm ngã như là bốn của hình tướng bên trong bộ bảy”. |
|
571. VSK says further: “Similarly, in relation to the centres, this is the throat (the three) and base (the seven)”. |
571. Bà còn nói thêm: “Tương tự, liên hệ với các trung tâm, đây là cổ họng (là ba) và đáy cột sống (là bảy)”. |
|
572. She continues: “This is another reinforcement of the definition of the threefold flame as simply the soul and the four wicks as the personality”. |
572. Bà tiếp tục: “Đây là một sự củng cố khác cho định nghĩa ngọn lửa tam phân đơn giản là linh hồn và bốn tim đèn là phàm ngã”. |
|
573. If we were to look at the development of the Planetary Logos and the Solar Logos in terms of egoic cycles of sevens and threes, and personality cycles of fours and sevens, we would have a way of dividing the planetary and solar systemic process into its most significant divisions. We would know much about the durations of schemes and chains, and perhaps also of globes. |
573. Nếu chúng ta xem sự phát triển của Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế theo các chu kỳ chân ngã của bảy và ba, và các chu kỳ phàm ngã của bốn và bảy, thì chúng ta sẽ có một cách phân chia tiến trình hành tinh và thái dương hệ thành những phân khu có ý nghĩa nhất của nó. Chúng ta sẽ biết nhiều về thời lượng của các hệ hành tinh và các Dãy, và có lẽ cả các bầu hành tinh nữa. |
|
574. What in man are the analogies to rootraces and branch races, for instance? Is a root race in a globe period when taken in relation to a Planetary Logos as one of the seven stages in the life of man (Shakespeare)? Is a globe period as one personality incarnation? Is a complete chain round as seven human incarnations? A large map based upon analogical considerations must be created. |
574. Chẳng hạn, trong con người, những gì là các phép tương đồng với các giống dân gốc và các giống dân nhánh? Một giống dân gốc trong một giai đoạn bầu hành tinh, khi được xét trong liên hệ với một Hành Tinh Thượng đế, có phải là một trong bảy giai đoạn trong đời sống con người (Shakespeare) không? Một giai đoạn bầu hành tinh có phải là một lần phàm ngã lâm phàm không? Một cuộc tuần hoàn trọn vẹn của Dãy có phải là bảy lần lâm phàm của con người không? Phải tạo ra một bản đồ lớn dựa trên các cân nhắc tương đồng. |
|
575. It would require a volume to unfold such a discussion, even if we really knew what we were doing and were not reduced to reasoned speculation. |
575. Sẽ cần đến cả một quyển sách để khai mở một cuộc thảo luận như thế, ngay cả nếu chúng ta thật sự biết mình đang làm gì và không bị giới hạn vào sự suy đoán có lý lẽ. |
|
576. This is an example of how just a few words can unveil an entire and comprehensive unit of work to be unfolded in the future. |
576. Đây là một ví dụ cho thấy chỉ vài lời cũng có thể vén mở cả một đơn vị công việc toàn diện và bao quát sẽ được khai mở trong tương lai. |
|
577. It must never be said that the ‘old’ Teaching does not contain the future. |
577. Không bao giờ được nói rằng Giáo huấn ‘cũ’ không chứa đựng tương lai. |
|
The monadic cycles proceed in groups of ones and of threes as do the basic cycles of those great Entities of which man is the microcosmic reflection. |
Các chu kỳ chân thần tiến hành theo các nhóm một và ba cũng như các chu kỳ căn bản của những Thực Thể vĩ đại mà con người là phản ánh tiểu thiên địa của các Ngài. |
|
578. The planetary logoic Monad and the solar logoic Monad also develop (monadically) in major cycles of ones and minor cycles of threes. |
578. Chân thần logoi hành tinh và chân thần logoi thái dương cũng phát triển (về mặt chân thần) trong các chu kỳ lớn của một và các chu kỳ nhỏ của ba. |
|
579. Here is a tabulation which may contribute to clarification: I will not fill it out entirely, because I cannot, but will offer suggestions concerning how it might be filled out. Naturally, what I say is mostly, highly speculative. |
579. Đây là một bảng liệt kê có thể góp phần làm sáng tỏ: tôi sẽ không điền đầy đủ toàn bộ, vì tôi không thể, nhưng sẽ đưa ra những gợi ý về cách nó có thể được điền vào. Dĩ nhiên, điều tôi nói phần lớn là có tính suy đoán rất cao. |
|
580. When considering these divisions, one must also consider the map on TCF, 293. |
580. Khi xem xét các phân chia này, người ta cũng phải xem xét sơ đồ ở TCF, 293. |

|
Entity |
Monadic major cycles |
Monadic minor cycles |
Egoic major cycles |
Egoic minor cycles |
Personality major cycles |
Personality minor cycles |
|
In groups of ones |
In groups of threes |
In groups of sevens |
In groups of threes |
In groups of fours |
In groups of sevens |
|
|
Solar Logos |
A total period of three solar systems or three occult centuries. |
Each of the three monadic divisions is an occult century of one hundred years of Brahma. |
Seven major systemic rounds involving the seven major planetary schemes are if they were, systemically, chains. |
Dividing each of the seven major systemic rounds into a R3, R2. and R1. portion (e.g. ) |
Solar logoic focus through the chains found in planetary schemes |
Solar logoic focus through chain-rounds as found occurring in planetary schemes. |
|
Planetary Logos |
The duration of one solar system, or one occult century. (We do not know if the Logoi of our present solar system incarnated in the previous major solar system. In some cases we may suspect so.) |
A division of (approximately) one occult century into three parts, probably according to the format: 3—3—1. |
Seven scheme rounds; it would be like dividing an (approximate) occult century into seven parts. |
The division of seven scheme rounds into forty-nine subsidiary chain rounds, and these forty-nine divided into three major groupings—again representing the first, second and third rays. The division could be 21—21—7. |
Planetary logoic focus through seven chains, and through forty-nine globe periods aggregated according to four factors: involution, balancing, synthesis and obscuration |
Expression of the Planetary Logos through seven globe-periods, and through those septenates representing root races and branch races. |
|
Man |
One major monadic cycle; the duration of the going forth and return of the Divine Pilgrim. The duration of one planetary scheme (which could be an entire Century of Brahma or a much shorter period, like seven years of Brahma or even a Year of Brahma (depending on how we measure solar- systemic ‘years’) |
The division of the one major monadic cycle into three divisions, corresponding to monadic involution and differentiation; monadic cultivation of consciousness and self-consciousness by rising through form; monadic self-consciousness or individualization—the becoming of man. The time period may correspond to one chain round; the in-metallization, in-vegetalization and in-zoonation of the human Monad did not necessarily all occur on this globe of our chain, but on earlier globes. |
The egoic cycle corresponds to progress through seven root races. The period corresponds to one globe period—i.e., the progress of a single chain round through one globe. |
Division of sub-races within each root race according to a threefold structure numbered perhaps as: 3—1—3. A sevenfold division within each subrace (i.e., branch races) would also be included here. |
Personality Incarnations within each subrace and branch race. |
Groups of seven personality incarnations within branch-races, collected into groups of four with respect to the sub-races within which the branch races are found. |
|
581. A careful reading of what is suggested will reveal just how much is missing. |
581. Việc đọc cẩn thận những gì được gợi ý sẽ cho thấy rõ còn thiếu bao nhiêu điều. |
|
582. There is an attempt to correlate: |
582. Có một nỗ lực nhằm tương quan: |
|
a. Greater and lesser time periods in relation to three types of Entities |
a. Các giai đoạn thời gian lớn hơn và nhỏ hơn liên hệ với ba loại Thực Thể |
|
b. Monadic, egoic and personal cycles and sub-cycles |
b. Các chu kỳ và chu kỳ phụ chân thần, chân ngã và cá nhân |
|
583. We begin with the time frames suggested on the chart on TCF, 293, and reprinted above. |
583. Chúng ta bắt đầu với các khung thời gian được gợi ra trên biểu đồ ở TCF, 293, và được in lại ở trên. |
|
584. Focusing on man alone we have: |
584. Chỉ tập trung vào con người, chúng ta có: |
|
a. The duration of the life cycle of the Monad, corresponding to the number one. |
a. Thời lượng của chu kỳ sống của chân thần, tương ứng với con số một. |
|
b. The three major stages of 1) monadic immersion in form, 2) re-emergence via growing consciousness, and 3) liberation through individualization. The phase of liberation really begins at individualization and continues until man is again identified as Monad. |
b. Ba giai đoạn lớn của 1) sự chìm đắm của chân thần trong hình tướng, 2) sự tái xuất hiện qua tâm thức ngày càng tăng trưởng, và 3) sự giải thoát qua biệt ngã hóa. Giai đoạn giải thoát thật ra bắt đầu từ biệt ngã hóa và tiếp tục cho đến khi con người lại được đồng hoá như chân thần. |
|
c. The seven egoic cycles (considering the Ego as essentially the spiritual triad, which is present before the Ego is created) concern participation in seven root races. Two and a half root races precede individualization (and can only be triadally impulsed), two and a half lead (for many) to Mastership, and two are lived as the Monad. |
c. Bảy chu kỳ chân ngã (xét Chân ngã như về bản chất là Tam nguyên tinh thần, vốn hiện hữu trước khi Chân ngã được tạo ra) liên quan đến sự tham dự vào bảy giống dân gốc. Hai giống dân gốc rưỡi đi trước sự biệt ngã hóa (và chỉ có thể được thúc đẩy theo tam nguyên), hai giống dân gốc rưỡi dẫn đến Chân sư quả vị (đối với nhiều người), và hai giống dân gốc được sống như chân thần. |
|
d. There are seven root races in all, but the threefold division of the seven major soul cycles (each correlated to a root race) are to be understood in relation to the threefold numbering: 2.5—2.5—2. |
d. Tổng cộng có bảy giống dân gốc, nhưng sự phân chia tam phân của bảy chu kỳ linh hồn chính (mỗi chu kỳ tương ứng với một giống dân gốc) cần được hiểu trong liên hệ với cách đánh số tam phân: 2.5—2.5—2. |
|
e. The personality cycles begin once individualization has occurred. Following individualization, there are four phases through which to pass: 1) involution; 2) balancing; 3) spiritualization; 4) obscuration. |
e. Các chu kỳ phàm ngã bắt đầu một khi sự biệt ngã hóa đã xảy ra. Sau sự biệt ngã hóa, có bốn giai đoạn phải đi qua: 1) giáng hạ tiến hoá; 2) quân bình; 3) tinh thần hóa; 4) che mờ. |
|
f. Note, this is a way of looking at the major personal four in a larger context. |
f. Lưu ý, đây là một cách nhìn bộ bốn phàm ngã chính trong một bối cảnh lớn hơn. |
|
g. Within these major four, cycles of seven personality lives continue to repeat. If we seek to find the four in the life cycle of the race of man, we can think of it this way: |
g. Trong bộ bốn chính này, các chu kỳ của bảy kiếp sống phàm ngã tiếp tục lặp lại. Nếu chúng ta tìm cách nhận ra bộ bốn trong chu kỳ sống của nhân loại, chúng ta có thể nghĩ theo cách này: |
|
i. Differentiation/Involution: half the Lemurian root race and the Atlantean root race. |
i. Biến phân/Giáng hạ tiến hoá: nửa giống dân gốc Lemuria và giống dân gốc Atlantis. |
|
ii. Balance/Adjustment: the Aryan root race. |
ii. Quân bình/Điều chỉnh: giống dân gốc Arya. |
|
iii. Synthesis/Spiritualization: the sixth root race. |
iii. Tổng hợp/Tinh thần hóa: giống dân gốc thứ sáu. |
|
iv. Obscuration/Liberation; the seventh root race. |
iv. Che mờ/Giải thoát; giống dân gốc thứ bảy. |
|
h. Naturally, there will be overlaps in the process. |
h. Một cách tự nhiên, sẽ có những chồng lấn trong tiến trình. |
|
i. There are many holes in this picture of the cycles of the development of man, but enough may have been hinted to allow a constructive piecing-together of the puzzle. |
i. Có nhiều chỗ khuyết trong bức tranh này về các chu kỳ phát triển của con người, nhưng cũng đã gợi ra đủ để cho phép ghép nối một cách xây dựng bức tranh đố này. |
|
If the general concept here laid down is studied in relation to the schemes, and other forms of manifestation to each other and, if the microcosm himself is studied as the clue to the whole, some idea will begin to permeate the mind as to the purpose underlying all these manifestations. |
Nếu khái niệm tổng quát được nêu ra ở đây được nghiên cứu trong liên hệ với các hệ hành tinh, và các hình thức biểu hiện khác trong tương quan với nhau và, nếu chính tiểu thiên địa được nghiên cứu như đầu mối cho toàn thể, một ý niệm nào đó sẽ bắt đầu thấm nhuần thể trí về mục đích nằm bên dưới mọi biểu hiện này. |
|
585. At first it would seem that we were simply studying cycles and sub-cycles. In fact, a study of these time periods and the types of forms through which manifestation occurs during these time periods, may well reveal something of the purpose underlying the entire manifestation—whether of a Solar Logos, a Planetary Logos or a man. |
585. Lúc đầu dường như chúng ta chỉ đơn giản nghiên cứu các chu kỳ và các chu kỳ phụ. Thực ra, việc nghiên cứu các thời kỳ này và các loại hình tướng mà qua đó sự biểu hiện xảy ra trong các thời kỳ ấy rất có thể sẽ tiết lộ đôi điều về mục đích nằm bên dưới toàn bộ sự biểu hiện—dù là của một Thái dương Thượng đế, một Hành Tinh Thượng đế hay một con người. |
|
586. The life cycles and developmental processes of other intermediate entities may also be somewhat clarified. |
586. Các chu kỳ sống và các tiến trình phát triển của những thực thể trung gian khác cũng có thể được làm sáng tỏ phần nào. |
|
587. Speculative thought and intuitive inference are required. |
587. Cần đến tư duy suy đoán và suy luận trực giác. |
|
It should be borne also in mind that just as the average man in each incarnation achieves three objects: |
Cũng nên ghi nhớ rằng cũng như con người trung bình trong mỗi lần lâm phàm đạt được ba mục tiêu: |
|
588. Analogizing continues. |
588. Sự loại suy tiếp tục. |
|
1. The development of consciousness or the awakening of the faculty of awareness, |
1. Sự phát triển của tâm thức hay sự thức tỉnh năng lực nhận biết, |
|
589. This first phase is personal and relates to the awakening of consciousness and faculty. |
589. Giai đoạn thứ nhất này mang tính cá nhân và liên hệ đến sự thức tỉnh của tâm thức và năng lực. |
|
2. The achievement of a certain proportion of permanent faculty, or the definite increase of the content of the causal body, |
2. Sự đạt được một tỉ lệ nhất định của năng lực trường tồn, hay sự gia tăng rõ rệt nội dung của thể nguyên nhân, |
|
590. This second phrase relates to the cultivation of the second aspect and to the ‘storage of value’. |
590. Cụm thứ hai này liên hệ đến việc vun bồi phương diện thứ hai và đến “sự tích trữ giá trị”. |
|
3. The making of karma, or the setting in motion (by action), of causes which necessitate certain unavoidable effects, |
3. Việc tạo nghiệp quả, hay khởi động (bằng hành động) những nguyên nhân khiến các kết quả tất yếu nào đó không thể tránh khỏi, |
|
591. This third phase relates mostly to the third aspect, to fire by friction and to all that holds a man prisoner in the three worlds. |
591. Giai đoạn thứ ba này chủ yếu liên hệ đến phương diện thứ ba, đến Lửa ma sát và đến mọi điều giam hãm con người trong ba cõi thấp. |
|
so a Heavenly Man at one stage of His evolution does the same. |
thì một Đấng Thiên Nhân ở một giai đoạn trong tiến hoá của Ngài cũng làm như vậy. |
|
592. What is the “one stage” of a Heavenly Man’s evolution? Is it the phase which corresponds to the development of the average man? |
592. “Một giai đoạn” trong tiến hoá của một Đấng Thiên Nhân là gì? Có phải đó là giai đoạn tương ứng với sự phát triển của con người trung bình không? |
|
593. A Heavenly Man, like a human being, awakens to greater awareness, stores permanent faculty, and sets certain causes in motion which will have unavoidable effects. |
593. Một Đấng Thiên Nhân, cũng như một con người, thức tỉnh đến sự nhận biết lớn lao hơn, tích trữ năng lực trường tồn, và khởi động những nguyên nhân nhất định sẽ có các kết quả không thể tránh khỏi. |
|
594. This will also be the case for the Solar Logos. |
594. Điều này cũng sẽ đúng đối với Thái dương Thượng đế. |
|
As man progresses and as he enters upon the Probationary Path and the subsequent Path of Initiation, he succeeds in bringing about some further noticeable developments. |
Khi con người tiến bộ và khi y bước vào Con Đường Dự Bị và tiếp đó là Con Đường Điểm Đạo, y thành công trong việc tạo ra một số phát triển thêm đáng chú ý. |
|
595. We are speaking here of developments beyond the three just listed. The three effects above pertained to the “average man”. Other developments will pertain to the man on the Probationary Path and the Path of Initiation. |
595. Ở đây chúng ta đang nói đến những phát triển vượt quá ba điều vừa liệt kê. Ba kết quả trên thuộc về “con người trung bình”. Những phát triển khác sẽ thuộc về con người trên Con Đường Dự Bị và Con Đường Điểm Đạo. |
|
1. As before, his consciousness expands, but he begins to work intelligently from above and does not work blindly on the lower planes. |
1. Như trước, tâm thức của y mở rộng, nhưng y bắt đầu hoạt động một cách thông minh từ bên trên và không hoạt động mù quáng trên các cõi thấp. |
|
596. Man achieves some degree of ‘super-vision’. |
596. Con người đạt được một mức độ nào đó của ‘siêu-thị’. |
|
[Page 305] |
|
|
2. The building of the causal body is carried to full completion, and he begins next to shatter what he earlier wrought, and to destroy the so carefully constructed, finding it too to be a limitation. |
2. Việc xây dựng thể nguyên nhân được đưa đến chỗ hoàn tất trọn vẹn, và tiếp theo y bắt đầu phá vỡ điều mà trước đó y đã tạo dựng, và hủy diệt cái được kiến tạo cẩn thận đến thế, vì nhận ra rằng nó cũng là một giới hạn. |
|
597. The acquisition of faculty and its storage is no longer an unconscious or quasi-conscious process; it is accomplished with deliberation and carried to completion. |
597. Việc thu nhận năng lực và tích trữ nó không còn là một tiến trình vô thức hay bán ý thức nữa; nó được thực hiện một cách có chủ ý và được đưa đến hoàn tất. |
|
598. That which is built is also destroyed—deliberately. |
598. Điều được xây dựng cũng bị hủy diệt—một cách có chủ ý. |
|
3. He ceases to make karma in the three worlds, but begins to work it off, or, literally, to “wind up his affairs.” |
3. Y ngừng tạo nghiệp quả trong ba cõi giới, nhưng bắt đầu giải trừ nó, hay nói sát hơn, là “thu xếp xong các công việc của mình.” |
|
599. The causes of re-engagement with the lower worlds are negated; imprisoning karma is no longer produced; the advancing human being is no longer magnetized by the eighteen lower sub-planes. |
599. Những nguyên nhân của sự tái dấn thân với các cõi thấp bị vô hiệu hóa; nghiệp quả giam hãm không còn được tạo ra nữa; con người đang tiến lên không còn bị mười tám cõi phụ thấp hút về bằng từ tính nữa. |
|
So do the Heavenly Men, for They likewise have a cosmic path to tread, analogous to that trodden by man, as he nears the goal of his endeavor. |
Các Đấng Thiên Nhân cũng vậy, vì Các Ngài cũng có một con đường vũ trụ phải bước đi, tương tự với con đường con người bước đi khi y tiến gần mục tiêu nỗ lực của mình. |
|
600. DK continues the analogy, telling us that Heavenly Men also acquire a kind of ‘super-vision’, also deliberately complete the causal body and then work at its destruction, and also no longer generate causes which will hold them in the eighteen lower cosmic sub-planes. |
600. Chân sư DK tiếp tục phép loại suy, cho chúng ta biết rằng các Đấng Thiên Nhân cũng đạt được một loại ‘siêu-thị’, cũng cố ý hoàn tất thể nguyên nhân rồi làm việc để hủy diệt nó, và cũng không còn tạo ra những nguyên nhân sẽ giữ Các Ngài trong mười tám cõi phụ vũ trụ thấp nữa. |
|
601. There is a mystery concerning the placement of the causal body of the Solar Logos and the causal body of the Planetary Logoi. |
601. Có một huyền nhiệm liên quan đến vị trí của thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế và thể nguyên nhân của các Hành Tinh Thượng đế. |
|
602. For the Solar Logos, He would no longer generate causes which would hold Him to twenty lower cosmic sub-planes, as His causal body is located on the atomic sub-plane of the cosmic mental plane. |
602. Đối với Thái dương Thượng đế, Ngài sẽ không còn tạo ra những nguyên nhân giữ Ngài vào hai mươi cõi phụ vũ trụ thấp, vì thể nguyên nhân của Ngài nằm trên cõi phụ nguyên tử của cõi trí vũ trụ. |
|
Again we can with exactitude carry the concept further still, and predicate action of a similar nature by the solar Logos. |
Một lần nữa chúng ta có thể, với sự chính xác, đẩy khái niệm này đi xa hơn nữa, và quy định hành động có tính chất tương tự nơi Thái dương Thượng đế. |
|
603. What is helpful in facilitating this comparison between the Solar Logos, our Planetary Logos and man, is that the three types of entities are at approximately the same stage of evolution—relatively considered. |
603. Điều hữu ích trong việc tạo thuận lợi cho sự so sánh giữa Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta và con người là ba loại thực thể này ở vào gần như cùng một giai đoạn tiến hoá—khi được xét một cách tương đối. |
|
The consideration of this question is nearly concluded and it must be apparent that the relation between the aforementioned manifestations is of a psychic nature (using the word psychic in its true sense, as having reference to the psyche, or soul, or consciousness) and deals with the gradual expansion of Soul-Knowledge in a Heavenly Man. |
Việc xem xét câu hỏi này gần như đã kết thúc và hẳn phải rõ rằng mối liên hệ giữa các biểu hiện vừa nêu mang bản chất thông linh (dùng từ thông linh theo nghĩa chân chính của nó, như có liên hệ đến psyche, hay linh hồn, hay tâm thức) và bàn đến sự mở rộng dần dần của Tri Thức-Linh Hồn trong một Đấng Thiên Nhân. |
|
604. DK is telling us that the true relations between the three types of entities are far more psychic or psychological than it is physical. The comparisons are between the types of consciousness and not so much the forms through which those consciousnesses function. |
604. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng những tương quan chân thực giữa ba loại thực thể này mang tính thông linh hay tâm lý học nhiều hơn là hồng trần. Các so sánh là giữa các loại tâm thức chứ không quá nhiều giữa các hình tướng mà qua đó các tâm thức ấy hoạt động. |
|
A word of warning should here be sounded. Though all these cosmic Beings find in man a reflection of Their Own Nature, yet the analogy of resemblance must not be pushed to extremity. Man reflects, but he reflects not perfectly; man is evolving, but he is not occupied with the same problems in exact detail as are the perfected Manasaputras. |
Ở đây cần xướng lên một lời cảnh báo. Dù tất cả các Đấng vũ trụ này đều tìm thấy nơi con người một sự phản chiếu của Chính Bản Chất của Các Ngài, tuy nhiên phép loại suy về sự tương đồng không được đẩy đến cực đoan. Con người phản chiếu, nhưng không phản chiếu một cách hoàn hảo; con người đang tiến hoá, nhưng không bận tâm đến cùng những vấn đề trong chi tiết chính xác như các Manasaputras đã hoàn thiện. |
|
605. Who are the “perfected Manasaputras”? The Planetary Logoi and even, from one perspective, the Solar Logos. |
605. Những “Manasaputras đã hoàn thiện” là ai? Các Hành Tinh Thượng đế và thậm chí, từ một góc độ, cả Thái dương Thượng đế. |
|
606. We are warned against formalizing the comparison excessively. We shall stray into error if we try to make all aspects of man’s type of manifestation correspond to the processes detected in the two superior types of Entities—Planetary Logoi and Solar Logoi. |
606. Chúng ta được cảnh báo đừng hình thức hóa sự so sánh một cách quá mức. Chúng ta sẽ lạc vào sai lầm nếu cố làm cho mọi phương diện của loại biểu hiện nơi con người tương ứng với các tiến trình được nhận ra nơi hai loại Thực Thể cao hơn—các Hành Tinh Thượng đế và các Thái dương Thượng đế. |
|
Man aims at becoming a Divine Manasaputra, or perfected Son of Mind showing forth all the powers inherent in mind, and thus becoming like unto his monadic source, a Heavenly Man. |
Con người nhắm đến việc trở thành một Manasaputra Thiêng liêng, hay Con của Trí Tuệ đã hoàn thiện, biểu lộ mọi quyền năng vốn có trong trí tuệ, và nhờ đó trở nên giống như nguồn chân thần của mình, một Đấng Thiên Nhân. |
|
607. A Heavenly Man is a “Divine Manasaputra”. A Solar Angel is a Manasaputra—who, one day, in aggregate, will be a Divine Manasaputra. |
607. Một Đấng Thiên Nhân là một “Manasaputra Thiêng liêng”. Một Thái dương Thiên Thần là một Manasaputra—mà một ngày kia, trong tổng thể, sẽ là một Manasaputra Thiêng liêng. |
|
608. A Heavenly Man is the monadic source of man (though still more ultimately, the Solar Logos is the source). Man, we have been taught, finds his place (at least temporarily) within the etheric chakras of the Heavenly Man. |
608. Một Đấng Thiên Nhân là nguồn chân thần của con người (dù rốt ráo hơn nữa, Thái dương Thượng đế mới là nguồn). Chúng ta đã được dạy rằng con người tìm thấy vị trí của mình (ít nhất là tạm thời) trong các luân xa dĩ thái của Đấng Thiên Nhân. |
|
A Heavenly Man has developed Manas, and is occupied with the problem of becoming a Son of Wisdom, not inherently but in full manifestation. |
Một Đấng Thiên Nhân đã phát triển Manas, và đang bận tâm với vấn đề trở thành một Con của Minh Triết, không phải theo bản chất cố hữu mà trong sự biểu hiện trọn vẹn. |
|
609. A Heavenly Man is now inherently a Son of Wisdom. A Solar Logos is a full Son of Wisdom (or “Dragon of Wisdom”). |
609. Một Đấng Thiên Nhân hiện nay về bản chất cố hữu là một Con của Minh Triết. Một Thái dương Thượng đế là một trọn vẹn Con của Minh Triết (hay “Rồng của Minh Triết”). |
|
610. A Heavenly Man aims at becoming like unto the Solar Logos—a Son of Wisdom “in full manifestation”. |
610. Một Đấng Thiên Nhân nhắm đến việc trở nên giống như Thái dương Thượng đế—một Con của Minh Triết “trong sự biểu hiện trọn vẹn”. |
|
A solar Logos is both a Divine Manasaputra and likewise a Dragon of Wisdom, |
Một Thái dương Thượng đế vừa là một Manasaputra Thiêng liêng, vừa đồng thời là một Rồng của Minh Triết, |
|
611. Here we have the direct statement that a Solar Logos is all that a Planetary Logos is—in fact a “Divine Manasaputra”. A Planetary Logos is attempting to become a full “Dragon of Wisdom”. A Solar Logos is already a “Dragon of Wisdom” (equivalently a “Son of Wisdom), and is attempting to become fully a “Lion of Cosmic Will”. It would seem that Sirius (so closely associated with the Leo) is a full “Lion of Cosmic Will”, whereas our own Solar Logos is not—yet. |
611. Ở đây chúng ta có lời khẳng định trực tiếp rằng một Thái dương Thượng đế là tất cả những gì một Hành Tinh Thượng đế là—thực sự là một “Manasaputra Thiêng liêng”. Một Hành Tinh Thượng đế đang cố trở thành một “Rồng của Minh Triết” trọn vẹn. Một Thái dương Thượng đế đã là một “Rồng của Minh Triết” (tương đương một “Con của Minh Triết”), và đang cố trở thành trọn vẹn một “Sư Tử của Ý Chí Vũ Trụ”. Dường như Sirius (gắn bó mật thiết với Leo) là một “Sư Tử của Ý Chí Vũ Trụ” trọn vẹn, còn Thái dương Thượng đế của chúng ta thì chưa—vẫn chưa. |
|
and His problem concerns itself [Page 306] with the development of the principle of cosmic Will which will make Him what has been called a “Lion of Cosmic Will.” |
và vấn đề của Ngài liên quan đến [Page 306] sự phát triển nguyên khí của Ý Chí vũ trụ, điều sẽ làm cho Ngài trở thành cái đã được gọi là một “Sư Tử của Ý Chí Vũ Trụ”. |
|
612. VSK suggests the following: “The ‘Lion’ is related to the Leo Creative Hierarchy of the Logoic Plane; the atomic plane, therefore, can be seen as related to the Lion and is logoic.” |
612. VSK gợi ý như sau: “ ‘Sư Tử’ có liên hệ với Huyền Giai Sáng Tạo Leo trên Cõi Logoic; vì vậy cõi nguyên tử có thể được xem là có liên hệ với Sư Tử và là logoic.” |
|
613. Adding to this, we find that the atomic plane is always associated with Vulcan which is closely related to Leo the Lion, for in this case, the Sun, which rules the atomic or logoic sub-plane, veils Vulcan. |
613. Thêm vào đó, chúng ta thấy rằng cõi nguyên tử luôn gắn liền với Vulcan, vốn có liên hệ mật thiết với Leo Sư Tử, vì trong trường hợp này, Mặt Trời, chủ tinh của cõi phụ nguyên tử hay logoic, che giấu Vulcan. |
|
Throughout all these graded manifestations the law holds good, and the lesser is included in the greater. |
Xuyên suốt mọi biểu hiện có cấp bậc này, định luật vẫn đúng, và cái nhỏ hơn được bao hàm trong cái lớn hơn. |
|
614. This is particularly important. All lesser cycles are part and parcel of the greater cycles. However, the intricate manner of their inclusion must be understood. |
614. Điều này đặc biệt quan trọng. Mọi chu kỳ nhỏ hơn đều là bộ phận cấu thành của các chu kỳ lớn hơn. Tuy nhiên, cần phải hiểu cách thức phức tạp mà chúng được bao hàm. |
|
615. Not only do greater time cycles include the lesser ones, but greater Entities include the lesser ones as aspects of themselves. |
615. Không những các chu kỳ thời gian lớn hơn bao gồm các chu kỳ nhỏ hơn, mà các Thực Thể lớn hơn còn bao gồm các thực thể nhỏ hơn như những phương diện của chính mình. |
|
Hence the need for the student to preserve with care a due sense of proportion, a discrimination as to time in evolution, and a just appreciation of the place of each unit within its greater sphere. |
Do đó cần cho đạo sinh phải cẩn trọng giữ gìn một Ý thức về tỉ lệ thích đáng, một sự phân biện về thời gian trong tiến hoá, và một sự đánh giá đúng đắn về vị trí của mỗi đơn vị trong khối cầu lớn hơn của nó. |
|
616. This requirement is simply stated, but it is a “tall order”. |
616. Yêu cầu này được phát biểu đơn giản, nhưng là một đòi hỏi rất cao. |
|
617. The three requirements: |
617. Ba yêu cầu là: |
|
a. A sense of proportion |
a. Ý thức về tỉ lệ |
|
b. An understanding of the time cycles unfolding in the evolutionary process of greater entities and the lesser entities contained within them. From this perspective, every lesser cycle pertaining to a lesser being is really part of a greater time cycle pertaining to the greater being who contains the lesser being. |
b. Sự thấu hiểu các chu kỳ thời gian đang khai mở trong tiến trình tiến hoá của các thực thể lớn hơn và các thực thể nhỏ hơn được chứa trong chúng. Từ góc độ này, mọi chu kỳ nhỏ hơn liên quan đến một hữu thể nhỏ hơn thực ra đều là một phần của chu kỳ thời gian lớn hơn liên quan đến hữu thể lớn hơn đang chứa hữu thể nhỏ hơn ấy. |
|
c. A sense of place |
c. Ý thức về vị trí |
|
618. Compared to the vision we now possess, the requirements would demand of us a relatively comprehensive vision. |
618. So với tầm nhìn mà hiện nay chúng ta sở hữu, các yêu cầu này sẽ đòi hỏi nơi chúng ta một tầm nhìn tương đối bao quát. |
|
Having sounded this note of warning we can now proceed with the concluding remarks anent this final question. |
Sau khi đã xướng lên nốt cảnh báo này, giờ đây chúng ta có thể tiếp tục với những nhận xét kết luận liên quan đến câu hỏi cuối cùng này. |
|
619. The note of warning is sounded to that aspect of us which is the concrete mind. It seeks exactitude of knowledge but often fails in wisdom and perspective. Until it possesses wisdom and perspective, exactitude of knowledge will also elude it. |
619. Nốt cảnh báo này được xướng lên cho phương diện nơi chúng ta là trí cụ thể. Nó tìm kiếm sự chính xác của tri thức nhưng thường thất bại trong minh triết và viễn cảnh. Chừng nào nó chưa sở hữu minh triết và viễn cảnh, sự chính xác của tri thức cũng sẽ lẩn tránh nó. |
|
It has been stated that a mystery lies hid in the 777. incarnations. |
Đã có lời nói rằng một huyền nhiệm ẩn giấu trong 777. lần lâm phàm. |
|
620. 777. is the number associated with Earth. |
620. 777. là con số gắn liền với Trái Đất. |
|
621. The 777. incarnations are to be divided into 700. + 70. + 7, with each of these numbers related to one of the tiers of petals of the egoic lotus, and presumably, to the relative amount of time it takes to unfold the petals of the lotus. |
621. 777. lần lâm phàm phải được chia thành 700. + 70. + 7, với mỗi con số này liên hệ với một trong các tầng cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã, và có lẽ với khoảng thời gian tương đối cần thiết để khai mở các cánh hoa của hoa sen. |
|
622. DK has already told us that the personality spends thousands of incarnations developing, so the number 777. cannot be taken literally as the number of incarnations spent in the development of the human being. |
622. Chân sư DK đã nói với chúng ta rằng phàm ngã trải qua hàng ngàn lần lâm phàm để phát triển, vì thế con số 777. không thể được hiểu theo nghĩa đen như số lần lâm phàm dùng cho sự phát triển của con người. |
|
This figure provides room for much speculation.[19: S. D., I, 191.] It should be pointed out that it does not hold the number of a stated cycle of incarnations through which a man must pass, but holds the key to the three major cycles previously mentioned. |
Con số này mở ra nhiều chỗ cho suy đoán.[19: S. D., I, 191.] Cần chỉ ra rằng nó không nắm giữ con số của một chu kỳ lâm phàm xác định mà một người phải trải qua, nhưng nắm giữ chìa khóa của ba chu kỳ chính đã được nhắc đến trước đây. |
|
623. As stated, it is a symbolic number. |
623. Như đã nói, đây là một con số biểu tượng. |
|
624. The number should be studied in relation to the three aspects of divinity. |
624. Con số này nên được nghiên cứu trong liên hệ với ba phương diện của thiên tính. |
|
Primarily this number applies to the planetary Logos of our scheme and not so much to other schemes. Each Heavenly Man has His number and the number of our Heavenly Man lies hid in the above three figures, just as 666. and 888. holds the mystery hid of two other Heavenly Men. |
Trước hết con số này áp dụng cho Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta chứ không nhiều cho các hệ hành tinh khác. Mỗi Đấng Thiên Nhân đều có con số của Ngài và con số của Đấng Thiên Nhân của chúng ta ẩn giấu trong ba con số trên, cũng như 666. và 888. giữ kín huyền nhiệm của hai Đấng Thiên Nhân khác. |
|
625. It is clear that 666. represents Mars, the ‘Opponent’, the combined form nature in rebellion against the soul—the “Beast”. |
625. Rõ ràng 666. đại diện cho Sao Hỏa, “Đối Thủ”, bản chất hình tướng kết hợp nổi loạn chống lại linh hồn—“Con Thú”. |
|
626. The number eight is consistently associated with Mercury; the Buddha, Who is symbolically Mercury, appears (so the legend goes) for eight minutes at the time of the Wesak Festival. 888. may be inferred to be the number of Mercury. |
626. Con số tám luôn luôn gắn liền với Sao Thủy; Đức Phật, Đấng tượng trưng là Sao Thủy, xuất hiện (theo truyền thuyết) trong tám phút vào thời điểm Lễ Hội Wesak. 888. có thể được suy ra là con số của Sao Thủy. |
|
627. Just as there is a natural triangle between the Mars the Earth and Mercury, so there is naturally a triangle between 666, 777, and 888. |
627. Cũng như có một tam giác tự nhiên giữa Sao Hỏa, Trái Đất và Sao Thủy, thì cũng tự nhiên có một tam giác giữa 666, 777 và 888. |
|
628. 666. represents particularly the threefold form, but especially the astral body. |
628. 666. đại diện đặc biệt cho hình tướng tam phân, nhưng nhất là thể cảm dục. |
|
629. 777. represents the etheric-physical body. |
629. 777. đại diện cho thể dĩ thái-hồng trần. |
|
630. 888. represents the mental body. |
630. 888. đại diện cho thể trí. |
|
631. We might conclude that 555. represents the Logos of the planet Venus. |
631. Chúng ta có thể kết luận rằng 555. đại diện cho Thượng đế của hành tinh Sao Kim. |
|
632. 666. equals 18, representing the three lower worlds of the 18. lower systemic subplanes over which Mars rules—for Mars rules all lunar vehicles and the personality as a whole. |
632. 666. bằng 18, đại diện cho ba cõi thấp của 18. cõi phụ hệ thống thấp mà Sao Hỏa cai quản—vì Sao Hỏa cai quản mọi vận cụ thái âm và toàn bộ phàm ngã. |
|
633. 777. equals 21, and shows the destiny of the Earth in relation to the higher mental plane, for the unfoldment of Earth requires a special activation of the higher mental plane (the 3. of which is added to 18. to make 21). |
633. 777. bằng 21, và cho thấy định mệnh của Trái Đất trong liên hệ với Cõi thượng trí, vì sự khai mở của Trái Đất đòi hỏi một sự hoạt hóa đặc biệt của Cõi thượng trí (mà 3. của nó được cộng vào 18. để thành 21). |
|
634. 888. equals 24. and suggests two numbers unusually important in our solar system because they embody both the numbers of our solar system and the future rays of man (the second ray soul and the fourth ray personality). Remember the relation of Mercury to the Fourth Creative Hierarchy. |
634. 888. bằng 24. và gợi ra hai con số quan trọng khác thường trong hệ mặt trời của chúng ta vì chúng hiện thân cả các con số của hệ mặt trời lẫn các cung tương lai của con người (cung linh hồn hai và cung phàm ngã bốn). Hãy nhớ mối liên hệ của Sao Thủy với Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư. |
|
635. 888. suggests a buddhic ascent which rises to the fourth systemic subplane of the buddhic plane. |
635. 888. gợi ra một sự thăng lên Bồ đề vươn đến cõi phụ hệ thống thứ tư của cõi Bồ đề. |
|
636. This method of relating the sum of the numbers to the systemic subplanes may not, however, be universally applicable—for instance, in the case of Venus—555. |
636. Tuy nhiên, phương pháp liên hệ tổng các con số với các cõi phụ hệ thống này có thể không áp dụng phổ quát—chẳng hạn trong trường hợp của Sao Kim—555. |
|
This number 777. is also the number of transmutation, which is the fundamental work of all the Heavenly Men. |
Con số 777. này cũng là con số của sự chuyển hoá, vốn là công việc căn bản của mọi Đấng Thiên Nhân. |
|
637. So, 777. has a relation to all Heavenly Men. |
637. Vì vậy, 777. có liên hệ với mọi Đấng Thiên Nhân. |
|
638. The seventh ray is the ‘Ray of Alchemy’, and the seventh Ray Lord is called the “Divine Alchemical Worker”. (EP I 85) |
638. Cung bảy là ‘Cung của thuật luyện kim’, và Đấng Chúa Tể Cung bảy được gọi là “Người Hoạt Động Thuật Luyện Kim Thiêng liêng”. (EP I 85) |
|
639. If 777. is the number of Earth, we can see how much work of transmutation is to be accomplished on our planet. |
639. Nếu 777. là con số của Trái Đất, chúng ta có thể thấy có biết bao công việc chuyển hoá phải được hoàn thành trên hành tinh của chúng ta. |
|
The basic work of man is accumulation and acquisition, or the acquiring of that which must later be transmuted. |
Công việc căn bản của con người là tích lũy và thu nhận, hay thu nhận điều mà về sau phải được chuyển hoá. |
|
640. The acquisitive third ray is involved in this accumulation. |
640. Cung ba có tính thu nhận có liên quan đến sự tích lũy này. |
|
641. We should remember our task on this planet: the gathering of that which is to be transmuted. |
641. Chúng ta nên nhớ nhiệm vụ của mình trên hành tinh này: thu gom điều sẽ được chuyển hoá. |
|
The work of transmutation, or the true cycle of 777. commences on the Probationary Path, and is definitely the activity of a Heavenly Man being realised and responded to by the cells in His Body. |
Công việc chuyển hoá, hay chu kỳ chân thực của 777. bắt đầu trên Con Đường Dự Bị, và rõ ràng là hoạt động của một Đấng Thiên Nhân đang được chứng nghiệm và được các tế bào trong Thể của Ngài đáp ứng. |
|
642. The true Probationary Path begins at the first initiation (or, more loosely, a little before). We gather then, that initiation is a Path of Transmutation. This Path is particularly related to the number 7, rather than 700. or 70. |
642. Con Đường Dự Bị đích thực bắt đầu ở lần điểm đạo thứ nhất (hay, nói rộng hơn, sớm hơn một chút). Từ đó chúng ta hiểu rằng điểm đạo là một Con Đường Chuyển Hoá. Con đường này đặc biệt liên hệ với con số 7, hơn là 700. hay 70. |
|
643. What actually is the cause of transmutation? It seems that the activity of the Heavenly Man must be registered, realized and responded to by human beings, the cells in the body of the Heavenly Man. |
643. Thực sự nguyên nhân của sự chuyển hoá là gì? Dường như hoạt động của Đấng Thiên Nhân phải được con người, là các tế bào trong thể của Đấng Thiên Nhân, ghi nhận, chứng nghiệm và đáp ứng. |
|
644. Thus, human transmutation is a planetary event. |
644. Vì vậy, sự chuyển hoá của con người là một biến cố hành tinh. |
|
Only when His Body has reached a certain vibratory movement can He truly influence the individual cells. |
Chỉ khi Thể của Ngài đã đạt đến một chuyển động rung động nhất định thì Ngài mới thực sự có thể ảnh hưởng đến các tế bào cá biệt. |
|
645. Interesting, the number 7. is associated with the planar structure of our cosmic physical plane. The planes are vibratorily separated from each other. |
645. Thật thú vị, con số 7. gắn liền với cấu trúc cõi của cõi hồng trần vũ trụ của chúng ta. Các cõi được về mặt rung động tách biệt với nhau. |
|
646. So the number 7. has an association with distinctive vibration. Transmutation, also, is a vibratory process. |
646. Vì vậy con số 7. có liên hệ với rung động đặc thù. Sự chuyển hoá cũng là một tiến trình rung động. |
|
647. Only when the Planetary Logos of our planetary scheme reaches the necessary point of development will man, as a kingdom, enter upon the possibility of transmutation. |
647. Chỉ khi Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta đạt đến điểm phát triển cần thiết thì con người, như một giới, mới bước vào khả năng chuyển hoá. |
|
648. It is clear that Mars is not yet involved in a transmutative process and that Mercury, by implication, has largely transcended it. |
648. Rõ ràng là Sao Hỏa chưa tham dự vào một tiến trình chuyển hoá và Sao Thủy, theo hàm ý, phần lớn đã vượt qua nó. |
|
This work of transmuting cell activity was begun on this planet during the last root-race, and the divine alchemy proceeds. |
Công việc chuyển hoá hoạt động tế bào này đã được bắt đầu trên hành tinh này trong giống dân gốc vừa qua, và thuật luyện kim thiêng liêng vẫn tiếp diễn. |
|
649. It is interesting that transmutation began in the fourth root race, or Atlantean root race. |
649. Thật thú vị khi sự chuyển hoá đã bắt đầu trong giống dân gốc thứ tư, hay giống dân gốc Atlantis. |
|
650. Four is a number of materiality just as is the number seven. Transmutation focusses especially on the improvement of material quality. |
650. Bốn là một con số của tính vật chất cũng như số bảy. Sự chuyển hoá đặc biệt tập trung vào việc cải thiện phẩm tính vật chất. |
|
The progress made is as yet but small, but each transmuted [Page 307] conscious cell increases the speed and the accuracy of the work. |
Tiến bộ đạt được cho đến nay vẫn còn nhỏ, nhưng mỗi tế bào hữu thức đã được chuyển hoá đều làm tăng tốc độ và độ chính xác của công việc. [Page 307] |
|
651. A disciple is a cell in process of transmutation. A Master is a transmuted cell. |
651. Một đệ tử là một tế bào đang trong tiến trình chuyển hoá. Một Chân sư là một tế bào đã được chuyển hoá. |
|
652. The number five (which works so closely with the number seven), is characteristic of the Master, and is a number the potency of which is necessary if the transmutation process is to be carried forward. |
652. Con số năm (vốn hoạt động rất mật thiết với con số bảy), là đặc trưng của Chân sư, và là một con số mà năng lực của nó là cần thiết nếu tiến trình chuyển hoá muốn được tiếp tục. |
|
Time alone is needed for the completion of the work. In connection with this matter of transmutation comes the legend of the Philosopher’s Stone, which is literally the application of the Rod of Initiation, in one sense. |
Chỉ cần thời gian cho sự hoàn tất công việc. Liên hệ với vấn đề chuyển hoá này là truyền thuyết về Hòn Đá của Nhà Hiền Triết, vốn theo một nghĩa nào đó, đúng theo nghĩa đen, là sự áp dụng Thần Trượng Điểm đạo. |
|
653. The number seven is also associated with patience (seventh ray) and the waiting necessary to produce a completed manifestation. |
653. Con số bảy cũng gắn liền với sự kiên nhẫn (cung bảy) và sự chờ đợi cần thiết để tạo ra một biểu hiện hoàn chỉnh. |
|
654. From the material perspective, the sign Virgo, which represents the “completion of the phase of material work” and the readiness for birth, is the seventh sign—numbering clockwise from Pisces. |
654. Từ góc độ vật chất, dấu hiệu hoàng đạo Virgo, vốn đại diện cho “sự hoàn tất giai đoạn công việc vật chất” và sự sẵn sàng cho sinh ra, là dấu hiệu thứ bảy—đếm theo chiều kim đồng hồ từ Pisces. |
|
655. Seven is the number of crystallization, and the seventh kingdom numbering from above is the mineral kingdom, to which the Philosopher’s Stone is related. |
655. Bảy là con số của sự kết tinh, và giới thứ bảy tính từ trên xuống là giới kim thạch, giới mà Hòn Đá của Nhà Hiền Triết có liên hệ. |
|
656. It is fascinating to think of the meaning of the Philosopher’s Stone as the application of the Rod of Initiation. |
656. Thật hấp dẫn khi suy nghĩ về ý nghĩa của Hòn Đá của Nhà Hiền Triết như là sự áp dụng Thần Trượng Điểm đạo. |
|
657. There is, indeed, a stone found in each such Rod. The application of this stone creates in man a crystalline state of perfection, also correlated with the number seven. |
657. Quả thật, có một viên đá được tìm thấy trong mỗi Thần Trượng như thế. Sự áp dụng viên đá này tạo ra nơi con người một trạng thái kết tinh của sự hoàn hảo, cũng tương ứng với con số bảy. |
|
658. Man is to become the “Diamond Soul”, which emphasizes the perfection and expression of the “jewel in the lotus”. This “jewel” is also, in another sense, the “Philosopher’s Stone”. The “jewel” is brought to perfection and full expression through the application of the “Rod of Initiation”. Man becomes, thus, a perfected stone. There are many analogies here to the Masonic method of training, through which process man becomes a “stone” to be built into the Temple with “right exactitude”. |
658. Con người sẽ trở thành “Linh Hồn Kim Cương”, điều nhấn mạnh sự hoàn hảo và biểu lộ của “ngọc trong hoa sen”. “Ngọc” này cũng, theo một nghĩa khác, là “Hòn Đá của Nhà Hiền Triết”. “Ngọc” được đưa đến hoàn hảo và biểu lộ trọn vẹn qua sự áp dụng “Thần Trượng Điểm đạo”. Vì vậy con người trở thành một viên đá hoàn thiện. Ở đây có nhiều phép loại suy với phương pháp huấn luyện của Hội Tam Điểm, qua tiến trình đó con người trở thành một “viên đá” để được xây vào Đền Thờ với “độ chính xác đúng đắn”. |