Bình giảng về Lửa Vũ Trụ S5S1 (465-475)

📘 Sách: Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S5 – Tác giả: Michael D. Robbins

Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến trang sách tương ứng trong TCF

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

TCF 465-475: S5S1

3 April – 17 April 2007

3 tháng 4 – 17 tháng 4 năm 2007

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Phần gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.

Đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc cùng với quyển TCF ở bên cạnh, để bảo đảm tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia ra, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.

Our subject for immediate consideration concerns the [Page 466] deva evolution, and the effect of the incoming ray upon them.

Chủ đề chúng ta trực tiếp xem xét liên quan đến [Page 466] sự tiến hoá thiên thần, và ảnh hưởng của cung đang đi vào đối với họ.

1. The “incoming ray” is the seventh, directly related to the deva evolution.

1. “Cung đang đi vào” là cung bảy, trực tiếp liên hệ với sự tiến hoá thiên thần.

2. However, it must be noted that the fourth ray is also “incoming” (having made an impact in 1925 with a still greater impact expected in the year 2025). The fourth ray is also related to the deva kingdom and upon the fourth plane the human and deva evolutions find “group unity” and a “definite and permanent alliance [between them] may be seen”.

2. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng cung bốn cũng đang “đi vào” (đã tạo một tác động vào năm 1925 và một tác động còn lớn hơn nữa được chờ đợi vào năm 2025). Cung bốn cũng liên hệ với giới thiên thần, và trên cõi thứ tư, sự tiến hoá nhân loại và thiên thần tìm thấy “sự hợp nhất nhóm” và “một liên minh xác định và thường tồn [giữa họ] có thể được thấy”.

The first point to be noted is that this influence at this time affects primarily the devas of the physical plane, the devas of the ethers, or of the shadows, as they are sometimes called, and not, to the same extent, the devas of the astral or mental planes.

Điểm đầu tiên cần lưu ý là ảnh hưởng này vào lúc này tác động chủ yếu đến các thiên thần của cõi hồng trần, các thiên thần của các cõi dĩ thái, hay của bóng tối, như đôi khi họ được gọi như vậy, chứ không tác động đến cùng mức độ ấy đối với các thiên thần của cõi cảm dục hay cõi trí.

3. All the devas are responsive to the seventh ray, but the devas of the physical plane (“of the shadows”) are the most responsive. These devas are members of the “Army of the Voice” whereas the astral and mental devas are not.

3. Tất cả các thiên thần đều đáp ứng với cung bảy, nhưng các thiên thần của cõi hồng trần (“của bóng tối”) là những vị đáp ứng mạnh nhất. Các thiên thần này là thành viên của “Đạo quân của Âm Thanh”, trong khi các thiên thần cảm dục và trí tuệ thì không phải.

These particular devas in “their serried ranks” are the directive agents of the divine energy which implements the purposes of Deity upon the physical plane. They work only on etheric levels—either upon our physical plane or on the cosmic etheric levels. They are therefore active in the realm of maya, which is the etheric plane as we usually understand it, or upon the planes of the Spiritual Triad. They are not active on the three gross physical levels or upon the astral or mental planes, nor are they active upon the highest or logoic plane. There they are implicit or latent but not active. (R&I 179)

Những thiên thần đặc biệt này trong “hàng ngũ dày đặc” của họ là các tác nhân chỉ đạo của năng lượng thiêng liêng, năng lượng thực hiện các mục đích của Thượng đế trên cõi hồng trần. Họ chỉ hoạt động trên các cấp độ dĩ thái—hoặc trên cõi hồng trần của chúng ta hoặc trên các cấp độ dĩ thái vũ trụ. Vì vậy, họ hoạt động trong lĩnh vực của ảo lực, tức cõi dĩ thái như chúng ta thường hiểu, hoặc trên các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần. Họ không hoạt động trên ba cấp độ hồng trần thô trược hay trên các cõi cảm dục hoặc trí tuệ, và họ cũng không hoạt động trên cõi cao nhất hay cõi Thượng đế. Tại đó họ hàm ẩn hay tiềm tàng nhưng không hoạt động. (R&I 179)

Every Ray affects in more or less degree the plane or subplane which is its numerical correspondence;

Mỗi cung tác động ở mức độ nhiều hay ít lên cõi hay cõi phụ là tương ứng số học của nó;

4. This is an indispensable thought. All things are linked according to the principle of numerical affinity.

4. Đây là một tư tưởng không thể thiếu. Mọi sự vật đều được liên kết theo nguyên lý của sự tương hợp số học.

5. When training to utilize the Law of Correspondences it is useful to choose a number, for instance, the number two, and attempt to think of all relevant associations to this number. Much will be learnt thereby. We notice, actually, that DK frequently does this; at least there are a number of footnotes which focus on one number or another—for instance, the numbers one, four, five and six.

5. Khi được huấn luyện để sử dụng định luật tương ứng, sẽ hữu ích nếu chọn một con số, chẳng hạn số hai, và cố gắng suy nghĩ về mọi liên hệ thích đáng với con số này. Nhờ đó sẽ học được nhiều điều. Thực ra, chúng ta nhận thấy rằng Chân sư DK thường xuyên làm điều này; ít nhất có một số chú thích tập trung vào con số này hay con số khác—chẳng hạn các số một, bốn, năm và sáu.

the student should bear this in mind, and should therefore recollect that for all purposes of investigation at this time the seventh Ray of Ceremonial Magic will have a powerful influence:

đạo sinh nên ghi nhớ điều này, và vì vậy nên nhớ rằng đối với mọi mục đích khảo cứu vào lúc này, cung bảy của huyền thuật nghi lễ sẽ có một ảnh hưởng mạnh mẽ:

6. We are living in that period in which the seventh Ray of Ceremonial Magic is ‘incoming’. It has been increasing in strength since 1675. Students of history will easily be able to confirm this increase.

6. Chúng ta đang sống trong giai đoạn mà cung bảy của huyền thuật nghi lễ đang “đi vào”. Nó đã gia tăng sức mạnh từ năm 1675. Những người nghiên cứu lịch sử sẽ dễ dàng có thể xác nhận sự gia tăng này.

7. If we propose that the seventh ray has a cycle of 700 years, we can see the importance of the year 2025—the year in which “in all probability will be set for the first stage of the externalisation of the Hierarchy”. (EXH 530)

7. Nếu chúng ta giả định rằng cung bảy có một chu kỳ 700 năm, chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của năm 2025—năm mà “rất có thể sẽ được ấn định cho giai đoạn đầu tiên của sự ngoại hiện của Thánh đoàn”. (EXH 530)

On the seventh or physical plane, regarding it as a unit.

Trên cõi thứ bảy hay cõi hồng trần, xét nó như một đơn vị.

8. The systemic physical plane in both its etheric and dense aspects is here to be regarded as a unit. Because the seventh ray is peculiarly effective on etheric levels and because the dense levels are directly responsive to the ethers, the seventh ray influence may be considered pervasive throughout both aspects of the systemic physical plane.

8. Ở đây cõi hồng trần của hệ thống trong cả hai phương diện dĩ thái và đậm đặc của nó phải được xem như một đơn vị. Bởi vì cung bảy có hiệu lực đặc biệt trên các cấp độ dĩ thái và bởi vì các cấp độ đậm đặc trực tiếp đáp ứng với các cõi dĩ thái, ảnh hưởng của cung bảy có thể được xem là lan khắp cả hai phương diện của cõi hồng trần của hệ thống.

On the seventh subplane or the lowest subplane on the physical, the astral and the mental planes.

Trên cõi phụ thứ bảy hay cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần, cõi cảm dục và cõi trí.

9. The sub-plane influence is not to be forgotten.

9. Không được quên ảnh hưởng của cõi phụ.

10. Presumably this influence will also apply to the seventh subplanes of the buddhic, atmic, monadic and logoic systemic planes and to the entire cosmic physical plane.

10. Có lẽ ảnh hưởng này cũng sẽ áp dụng cho các cõi phụ thứ bảy của các cõi Bồ đề, atma, chân thần và logoic của hệ thống, và cho toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ.

On the seventh or lowest human principle: prana in the etheric body.

Trên nguyên khí nhân loại thứ bảy hay thấp nhất: prana trong thể dĩ thái.

11. Sometime prana is called the seventh principle, but usually it is accompanied by mention of the etheric body as a still lower ‘principle’ even thought the etheric body is a vehicle.

11. Đôi khi prana được gọi là nguyên khí thứ bảy, nhưng thường nó đi kèm với việc nhắc đến thể dĩ thái như một “nguyên khí” còn thấp hơn nữa, dù thể dĩ thái là một vận cụ.

12. Close study of TCF 260-269 will confirm this. When prana is mentioned as a principle, so is the etheric body. It is difficult to discern why the energy (prana) is always linked with the vehicle (the etheric body), even when the discussion focusses on energies.

12. Việc nghiên cứu kỹ TCF 260-269 sẽ xác nhận điều này. Khi prana được nhắc đến như một nguyên khí, thì thể dĩ thái cũng vậy. Thật khó phân biện vì sao năng lượng (prana) luôn được liên kết với vận cụ (thể dĩ thái), ngay cả khi cuộc thảo luận tập trung vào các năng lượng.

On all Monads in incarnation who are seventh Ray Monads.

Trên tất cả các chân thần đang lâm phàm là các chân thần cung bảy.

13. This statement at least confirms for us the existence of seventh ray Monads.

13. Ít nhất phát biểu này xác nhận cho chúng ta sự hiện hữu của các chân thần cung bảy.

14. When thinking of seventh ray Monads (and, for that matter, all Monads on the Rays of Attribute), we must realize that such monadic rays are not major or principal monadic rays, which can only be rays one, two or three).

14. Khi suy nghĩ về các chân thần cung bảy (và, về điểm này, tất cả các chân thần trên Các Cung Thuộc Tính), chúng ta phải nhận ra rằng các cung chân thần như thế không phải là các cung chân thần chính yếu hay chủ yếu, vốn chỉ có thể là cung một, hai hoặc ba).

On a peculiar group of devas who are the agents, or “mediates” between magicians (either white or black) and the elemental forces.

Trên một nhóm thiên thần đặc biệt là các tác nhân, hay “trung gian” giữa các nhà huyền thuật (hoặc chánh đạo hoặc hắc thuật) và các mãnh lực hành khí.

15. We are beginning that section of the book in which a considerable variety of devic lives will be described.

15. Chúng ta đang bắt đầu phần của quyển sách trong đó một sự đa dạng đáng kể của các sự sống thiên thần sẽ được mô tả.

16. It is interesting to see the word “mediates” used as a noun.

16. Thật thú vị khi thấy từ “trung gian” được dùng như một danh từ.

17. It will be important for us to distinguish between devas and elemental forces.

17. Điều quan trọng đối với chúng ta là phải phân biệt giữa thiên thần và các mãnh lực hành khí.

18. We note that the group of “mediates” can be enlisted by either the white or black magicians.

18. Chúng ta lưu ý rằng nhóm “trung gian” này có thể được cả các nhà huyền thuật chánh đạo lẫn hắc thuật sử dụng.

19. Can we distinguish between this group and the “devas of the shadows” in general?

19. Chúng ta có thể phân biệt nhóm này với “các thiên thần của bóng tối” nói chung hay không?

This group is occultly known as “The Mediatory Seventh,” and is divided into two divisions:

Nhóm này được biết một cách huyền bí là “Thứ Bảy Trung Gian”, và được chia thành hai phân bộ:

a. Those working with evolutionary forces.

a. Những vị làm việc với các mãnh lực thăng thượng tiến hoá.

b. Those working with involutionary forces.

b. Những vị làm việc với các mãnh lực giáng hạ tiến hoá.

20. We see that the seventh ray is of importance for the progress of both involutionary and evolutionary forces.

20. Chúng ta thấy rằng cung bảy có tầm quan trọng đối với sự tiến triển của cả các mãnh lực giáng hạ tiến hoá lẫn thăng thượng tiến hoá.

One group is the agent of constructive purpose, and the other of destructive.

Một nhóm là tác nhân của mục đích kiến tạo, và nhóm kia là của sự phá huỷ.

21. There may have been a time when work with involutionary forces would have been considered “constructive”, but such is not now the case, especially in relation to man.

21. Có thể đã từng có một thời mà việc làm việc với các mãnh lực giáng hạ tiến hoá được xem là “kiến tạo”, nhưng hiện nay không còn như vậy nữa, đặc biệt trong liên hệ với con người.

22. The implication is that the black magicians work with those members of the “Mediatory Seventh” who are engaged in working involutionary forces.

22. Hàm ý ở đây là các nhà hắc thuật làm việc với những thành viên của “Thứ Bảy Trung Gian” đang tham gia vận hành các mãnh lực giáng hạ tiến hoá.

23. Presumably, the white magicians would work with members of the “Mediatory Seventh” engaged in working with evolutionary forces.

23. Có lẽ các nhà huyền thuật chánh đạo sẽ làm việc với những thành viên của “Thứ Bảy Trung Gian” đang tham gia làm việc với các mãnh lực thăng thượng tiến hoá.

24. The destructive type of work has for its symbol the Moon, whereas the constructive work is symbolized by the Sun.

24. Loại công việc phá huỷ có biểu tượng là Mặt Trăng, trong khi công việc kiến tạo được biểu tượng bằng Mặt Trời.

More need not be submitted anent this group as they are not easily contacted, fortunately for man, and can as yet only be reached by a particular group ritual accurately performed,—a thing as yet practically unknown.

Không cần trình bày thêm về nhóm này vì họ không dễ được tiếp xúc, may mắn thay cho con người, và cho đến nay chỉ có thể được tiếp cận bằng một nghi thức nhóm đặc biệt được thực hiện một cách chính xác,—một điều cho đến nay hầu như chưa được biết đến.

25. The above sections seem to confirm that the members of the “Mediatory Seventh” are not the usual devas of the shadows.

25. Các phần trên dường như xác nhận rằng các thành viên của “Thứ Bảy Trung Gian” không phải là các thiên thần của bóng tối thông thường.

26. The Tibetan does not share why contact with this group of devas would be dangerous to man. We may presume that such devas would render man’s desires and intentions physically effective; such is the selfishness and distortion of human consciousness that man is not yet ready for such power.

26. Chân sư Tây Tạng không chia sẻ vì sao việc tiếp xúc với nhóm thiên thần này lại nguy hiểm đối với con người. Chúng ta có thể giả định rằng các thiên thần như thế sẽ khiến các ham muốn và ý định của con người trở nên hữu hiệu về mặt hồng trần; sự ích kỷ và méo mó của tâm thức con người lớn đến mức con người chưa sẵn sàng cho quyền năng như thế.

27. Here DK hints at the potency of ritual and the need for its accurate performance if certain devas are to be invoked and set to work.

27. Ở đây Chân sư DK gợi ý về uy lực của nghi thức và nhu cầu phải thực hiện nó một cách chính xác nếu một số thiên thần nào đó được khẩn cầu và được đưa vào hoạt động.

28. He also comments on the degree of accuracy in rituals presently preformed; quite simply, hardly any of them are performed with occult accuracy.

28. Ngài cũng bình luận về mức độ chính xác trong các nghi thức hiện đang được thực hiện; nói đơn giản, hầu như không nghi thức nào trong số đó được thực hiện với sự chính xác huyền bí.

29. We will need the physical presence of advanced members of the Spiritual Hierarchy before such ritualistic accuracy is possible.

29. Chúng ta sẽ cần sự hiện diện hồng trần của các thành viên tiến hoá cao của Huyền Giai Tinh Thần trước khi sự chính xác nghi lễ như thế trở nên khả hữu.

The Masons eventually will be one of the chief agents of contact, and as men are as yet not ready for such power as this will put into their hands, [Page 467] true masonry will develop but slowly. Nevertheless, under the magnetic force of this seventh Ray, the growth of masonry is inevitably sure.

Các Hội viên Tam Điểm rốt cuộc sẽ là một trong những tác nhân chính của sự tiếp xúc, và vì con người hiện chưa sẵn sàng cho quyền năng mà điều này sẽ đặt vào tay họ, [Page 467] nghề Tam Điểm chân chính sẽ chỉ phát triển chậm chạp. Tuy nhiên, dưới mãnh lực từ tính của cung bảy này, sự phát triển của Tam Điểm chắc chắn là điều không thể tránh khỏi.

30. We may presume that “slowly” means over the centuries.

30. Chúng ta có thể giả định rằng “chậm chạp” có nghĩa là qua nhiều thế kỷ.

31. What we have today, even in the best Masonic Lodges, is but an approximation of the Masonry of the future—a Masonry which will, at last, be effective in the wielding of occult energies and forces and not merely an allegorical method of education.

31. Điều chúng ta có ngày nay, ngay cả trong những Hội quán Tam Điểm tốt nhất, cũng chỉ là một sự xấp xỉ của Tam Điểm trong tương lai—một nền Tam Điểm mà cuối cùng sẽ hữu hiệu trong việc vận dụng các năng lượng và mãnh lực huyền bí chứ không chỉ là một phương pháp giáo dục mang tính ngụ ngôn.

32. It is clear that although Masonry (like the Church) has failed in the past (failed to keep humanity true to its deeper purposes) it will, at length, succeed. Such is the power of the incoming seventh ray.

32. Rõ ràng là mặc dù Tam Điểm (cũng như Giáo hội) đã thất bại trong quá khứ (thất bại trong việc giữ cho nhân loại trung thành với các mục đích sâu xa hơn của mình), cuối cùng nó sẽ thành công. Đó là quyền năng của cung bảy đang đi vào.

This Ray of Ceremonial Magic will consequently have a very profound effect upon the physical plane, for not only is this plane coming under its cyclic force but at all times its planetary Logos has a special effect upon it;

Do đó, Cung Huyền Thuật Nghi Lễ này sẽ có một ảnh hưởng rất sâu sắc lên cõi hồng trần, vì không những cõi này đang đi vào dưới mãnh lực chu kỳ của nó mà vào mọi lúc Hành Tinh Thượng đế của nó cũng có một tác động đặc biệt lên nó;

33. Again we note that although the seventh ray is peculiarly related to etheric expression, the entire seventh plane comes strongly under its influence. DK tells us that effect of the seventh ray upon the lowest of the seven planes will be “profound”. This word should be carefully weighed. The seventh ray reaches into the “depths”.

33. Một lần nữa chúng ta lưu ý rằng mặc dù cung bảy có liên hệ đặc biệt với sự biểu hiện dĩ thái, toàn bộ cõi thứ bảy đều chịu mạnh mẽ ảnh hưởng của nó. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng tác động của cung bảy lên cõi thấp nhất trong bảy cõi sẽ là “sâu sắc”. Từ này cần được cân nhắc cẩn thận. Cung bảy vươn xuống các “chiều sâu”.

34. The “cyclic force” of the seventh ray relates to the fact that since 1675 its ‘incoming’ cycle began.

34. “Mãnh lực chu kỳ” của cung bảy liên hệ với sự kiện rằng từ năm 1675 chu kỳ “đi vào” của nó đã bắt đầu.

35. We may propose that the Planetary Logos of the seventh ray is, at this time, the Logos of the planet Uranus, which Logos has, we hypothesize, a seventh ray soul.

35. Chúng ta có thể đề xuất rằng Hành Tinh Thượng đế của cung bảy vào lúc này là Thượng đế của hành tinh Sao Thiên Vương, mà chúng ta giả thuyết rằng có linh hồn cung bảy.

the Raja-Lord of this plane is what is occultly termed the “Reflection in the Water of Chaos” of the planetary Logos.

Raja-Lord của cõi này là điều được gọi một cách huyền bí là “Sự Phản Chiếu trong Nước của Hỗn Mang” của Hành Tinh Thượng đế.

36. We find a quite extraordinary name for the physical plane. Is it strange to us that the etheric-physical plane should be considered the “Water of Chaos”? May it be that those who have ‘seen’ the etheric plane can confirm the validity of this appellation?

36. Chúng ta gặp một danh xưng thật phi thường cho cõi hồng trần. Có lạ chăng đối với chúng ta khi cõi dĩ thái-hồng trần được xem là “Nước của Hỗn Mang”? Có thể nào những ai đã “thấy” cõi dĩ thái có thể xác nhận tính xác đáng của danh xưng này?

37. What is perhaps more important is that Raja Deva Lords are reflections of the Planetary Logos on the various planes.

37. Điều có lẽ quan trọng hơn là các Raja Deva Lords là những phản chiếu của Hành Tinh Thượng đế trên các cõi khác nhau.

Hence in the matter of this plane (which is the body of the Raja-Lord) certain very definite events are occurring which—though invisible to the ordinary man—are apparent to the eye of the spiritual man or adept.

Vì thế, trong chất liệu của cõi này (vốn là thể của Raja-Lord) một số biến cố rất xác định đang xảy ra, mà—dù vô hình đối với người bình thường—lại hiển nhiên trước mắt người tinh thần hay chân sư.

38. The Raja Lord in question is the Lord Kshiti. It is evident that His body comprises both the etheric and dense levels of the systemic etheric-physical plane.

38. Raja Lord được nói đến ở đây là Chúa Kshiti. Hiển nhiên là thể của Ngài bao gồm cả các cấp độ dĩ thái lẫn đậm đặc của cõi dĩ thái-hồng trần của hệ thống.

39. The human personality is, it seems, greatly focussed in that area of the divine expression in which certain important events of an occult nature are occurring.

39. Dường như phàm ngã con người được tập trung rất mạnh vào khu vực ấy của biểu hiện thiêng liêng, nơi một số biến cố quan trọng có tính huyền bí đang xảy ra.

40. Is DK giving the term “spiritual man” an equivalence to the word “adept”, or does He mean to include those who have taken the third initiation and are thus focussed within the lowest level of the spiritual triad

40. Có phải Chân sư DK đang cho thuật ngữ “người tinh thần” tương đương với từ “chân sư”, hay Ngài muốn bao gồm cả những ai đã trải qua lần điểm đạo thứ ba và do đó được tập trung trong cấp độ thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần

The matter of the plane becomes receptive to positive force for the feminine or deva aspect, being negative, becomes responsive to the positive energy of the Heavenly Man.

Chất liệu của cõi trở nên tiếp nhận mãnh lực dương, vì phương diện nữ tính hay thiên thần, vốn là âm, trở nên đáp ứng với năng lượng dương của Đấng Thiên Nhân.

41. It would seem that the etheric-physical plane (being devic) is becoming receptive to the seventh ray energy of the Heavenly Man (transmitted to Him, let us hypothesize, through the planet Uranus.

41. Dường như cõi dĩ thái-hồng trần (vì thuộc thiên thần) đang trở nên tiếp nhận năng lượng cung bảy của Đấng Thiên Nhân (được truyền đến Ngài, hãy giả thuyết, qua hành tinh Sao Thiên Vương.

42. Ray cycles occur according to the increasing or decreasing ‘intensity of attention’ of the intra-planetary Ray Lords. An ‘incoming ray’ correlates with the augmented attentiveness of a Ray Lord in relation to the lower worlds (either three or five systemic planes); an ‘outgoing ray” correlates with a decreasing attentiveness of a Ray Lord in relation to the lower worlds (either three or five”. Such cycles may also be dependent upon cycles of extra-planetary Ray Lords to which the increasing and decreasing attentiveness of intra-planetary Ray Lords is correlated.

42. Các chu kỳ cung xảy ra tùy theo “cường độ chú ý” tăng hay giảm của các Đấng Chúa Tể Cung nội hành tinh. Một “cung đang đi vào” tương ứng với sự chú tâm gia tăng của một Đấng Chúa Tể Cung đối với các cõi thấp (hoặc ba hoặc năm cõi của hệ thống); một “cung đang đi ra” tương ứng với sự chú tâm suy giảm của một Đấng Chúa Tể Cung đối với các cõi thấp (hoặc ba hoặc năm cõi). Những chu kỳ như thế cũng có thể tùy thuộc vào các chu kỳ của các Đấng Chúa Tể Cung ngoại hành tinh, mà sự chú tâm tăng và giảm của các Đấng Chúa Tể Cung nội hành tinh có tương quan với chúng.

43. We recall that when ray cycles end, the ray in question is still expressed but it is not absorbed.

43. Chúng ta nhớ rằng khi các chu kỳ cung chấm dứt, cung được nói đến vẫn còn được biểu lộ nhưng không được hấp thụ.

When the cycle is drawing to a close more and more of the ray influence or magnetism will be felt elsewhere, until practically all of it will be passed on unabsorbed.(TCF 439)

Khi chu kỳ đang đi đến chỗ kết thúc, ngày càng nhiều ảnh hưởng hay từ điện của cung sẽ được cảm nhận ở nơi khác, cho đến khi thực tế hầu như toàn bộ nó sẽ được chuyển đi mà không được hấp thụ.(TCF 439)

This energy, finding the line of least resistance, pours into the substance of the plane, or the substantial body of the Deva Lords.

Năng lượng này, tìm thấy con đường ít trở ngại nhất, tuôn vào chất liệu của cõi, hay thể chất liệu của các Deva Lords.

44. The “line of least resistance” depends upon the particular ray cycles which are operative at any particular time in planetary unfoldment.

44. “Con đường ít trở ngại nhất” tùy thuộc vào các chu kỳ cung đặc biệt nào đang hoạt động vào bất kỳ thời điểm nào trong sự khai mở hành tinh.

45. We should hold firmly in mind that the substance of a plane is the substantial body of a Deva Lord.

45. Chúng ta nên ghi nhớ vững chắc rằng chất liệu của một cõi là thể chất liệu của một Deva Lord.

46. We note that DK has called such bodies “substantial” and not “material”.

46. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK đã gọi các thể như thế là “chất liệu” chứ không phải “vật chất”.

47. It does seem however that the dense physical plane (which is “material”) is part of the body of the Lord Kshiti.

47. Tuy nhiên, dường như cõi hồng trần đậm đặc (vốn là “vật chất”) là một phần của thể của Chúa Kshiti.

Owing to the receptive condition of this body it follows certain lines and produces definitely constructive results.

Do tình trạng tiếp nhận của thể này, nó đi theo những đường hướng nhất định và tạo ra những kết quả rõ rệt có tính kiến tạo.

48. We are learning that constructiveness depends upon the receptivity of a Raja Deva Lord to those particular positive impulses of a Heavenly Man which are correlated with the energy condition of the Raja Deva Lord.

48. Chúng ta đang học rằng tính kiến tạo tùy thuộc vào sự tiếp nhận của một Raja Deva Lord đối với những xung lực dương đặc biệt của một Đấng Thiên Nhân, những xung lực có tương quan với tình trạng năng lượng của Raja Deva Lord.

Constructive results transpire in the negative etheric matter of the plane and on the four higher subplanes. On the lower three a contrary effect is produced, and the energy of the Heavenly Man will lead to the destruction of form, preparatory to the building work. The building ever originates on, and proceeds from, etheric levels.

Các kết quả kiến tạo diễn ra trong chất liệu dĩ thái âm của cõi và trên bốn cõi phụ cao hơn. Trên ba cõi phụ thấp hơn, một tác động ngược lại được tạo ra, và năng lượng của Đấng Thiên Nhân sẽ dẫn đến sự phá huỷ hình tướng, chuẩnbị cho công việc xây dựng. Công việc xây dựng luôn luôn khởi đầu trên, và tiến ra từ, các cấp độ dĩ thái.

49. Here is an important distinction. We have been studying positive and negative results related to two groups of the “Mediatory Seven”.

49. Đây là một phân biệt quan trọng. Chúng ta đã nghiên cứu các kết quả dương và âm liên hệ với hai nhóm của “Thứ Bảy Trung Gian”.

50. We are learning that constructiveness occurs via etheric matter, negative to the positive impulse of the Planetary Logos, and that destructiveness occurs upon the lower three, definitely material sub-planes.

50. Chúng ta đang học rằng tính kiến tạo xảy ra qua chất liệu dĩ thái, vốn âm đối với xung lực dương của Hành Tinh Thượng đế, và rằng tính phá huỷ xảy ra trên ba cõi phụ thấp hơn, những cõi phụ vật chất rõ rệt.

51. We have learned at various times that the members of the Black Lodge also work within the ethers, but here it may suggest that their efforts are focussed upon the lower three sub-planes. Indeed it would seem that these Lords of Form are ‘imprisoned’ by a great material Deva.

51. Chúng ta đã học vào nhiều lúc rằng các thành viên của Hắc đoàn cũng làm việc trong các cõi dĩ thái, nhưng ở đây có thể gợi ý rằng các nỗ lực của họ được tập trung vào ba cõi phụ thấp hơn. Quả thật dường như các Chúa Tể của Hình Tướng này bị một Đại thiên thần vật chất “giam giữ”.

52. Is there an implication that the ‘work’ of the Black Lodge is somehow made to fit in with the destructive intentions of the Planetary Logos—destructive in relation to old forms so that newer and more suitable forms may be created?

52. Có phải ở đây hàm ý rằng “công việc” của Hắc đoàn bằng cách nào đó được làm cho phù hợp với các ý định phá huỷ của Hành Tinh Thượng đế—phá huỷ đối với các hình tướng cũ để những hình tướng mới hơn và thích hợp hơn có thể được tạo ra?

53. In any case we are learning to consider the etheric body as a realm of definitely constructive influence. This correlates with its general solar character. The denser three sub-planes are more specifically lunar in nature. From following the tendencies of the Moon, destruction results.

53. Dù sao đi nữa, chúng ta đang học cách xem thể dĩ thái như một lĩnh vực có ảnh hưởng rõ rệt mang tính kiến tạo. Điều này tương ứng với đặc tính thái dương tổng quát của nó. Ba cõi phụ đậm đặc hơn có bản chất nguyệt tính rõ rệt hơn. Từ việc đi theo các khuynh hướng của Mặt Trăng, sự phá huỷ phát sinh.

LAW VI

ĐỊNH LUẬT VI

When the building energies of the soul are active in the body, then there is health, clean interplay and right activity. When the builders are the lunar lords and those who work under the control of the moon and at the behest of the lower Personal self, then you have disease, ill health and death. (EH 191)

Khi các năng lượng xây dựng của linh hồn hoạt động trong thể, thì có sức khỏe, sự tương tác trong sạch và hoạt động đúng đắn. Khi các đấng kiến tạo là các nguyệt tinh quân và những vị làm việc dưới sự kiểm soát của mặt trăng và theo mệnh lệnh của phàm ngã thấp, thì bạn có bệnh tật, sức khỏe kém và cái chết. (EH 191)

Cataclysms of a world wide nature will occur during the next one thousand years; continents will be shaken; lands will be raised and submerged,

Những biến động có tính đại hồng thủy trên phạm vi toàn thế giới sẽ xảy ra trong một nghìn năm tới; các lục địa sẽ bị rung chuyển; đất đai sẽ được nâng lên và chìm xuống,

54. We see that the Department of the Manu will be greatly involved in the process, for it is that department which raises and lowers lands and continents.

54. Chúng ta thấy rằng Ban của Đức Manu sẽ can dự rất nhiều vào tiến trình này, vì chính ban đó nâng lên và hạ xuống các vùng đất và lục địa.

a—By the Manu, in manipulating that which is necessary in the moving of continents, and the submerging of lands. (LOM 189)

a—Bởi Đức Manu, trong việc điều khiển điều cần thiết cho sự chuyển động của các lục địa, và sự chìm xuống của các vùng đất. (LOM 189)

In this is the case, the higher psychism will begin to make itself felt. On the physical plane a great deal of interesting electrical phenomena will be seen, and the opportunity of the [Page 436] Manu to separate races, to segregate types, and to submerge and detach continents will be great. (TCF 435-436)

Trong trường hợp này, thông linh cao hơn sẽ bắt đầu biểu lộ tác động của nó. Trên cõi hồng trần, rất nhiều hiện tượng điện lý thú sẽ được thấy, và cơ hội của [Page 436] Đức Manu để phân tách các nhân loại, phân ly các loại hình, và làm chìm xuống cũng như tách rời các lục địa sẽ rất lớn. (TCF 435-436)

55. The implication is that during the coming seventh ray Age, the agnichaitans will be very active, and that they are responsive to the seventh ray because it is the ray most influential on the seventh plane in relation to which the agnichaitans demonstrate most forcefully.

55. Hàm ý ở đây là trong Kỷ nguyên cung bảy sắp đến, các agnichaitans sẽ rất hoạt động, và rằng họ đáp ứng với cung bảy vì đó là cung có ảnh hưởng mạnh nhất trên cõi thứ bảy, là cõi mà các agnichaitans biểu lộ mãnh liệt nhất.

culminating in the profound material disaster which will overtake the world towards the close of the fourth branch race of the sixth subrace. This will usher in the infant sixth rootrace.

đạt đến cực điểm trong tai hoạ vật chất sâu sắc sẽ giáng xuống thế giới vào gần cuối giống dân phụ thứ tư của giống dân phụ thứ sáu. Điều này sẽ mở đầu cho giống dân gốc thứ sáu còn non trẻ.

56. We may wonder whether two periods are here discussed. One period seem to focus on the next one thousand years. The second period seems much more distant.

56. Chúng ta có thể tự hỏi liệu ở đây có đang bàn đến hai giai đoạn hay không. Một giai đoạn dường như tập trung vào một nghìn năm tới. Giai đoạn thứ hai dường như xa hơn nhiều.

57. This conclusion is based upon the thought that we are only now entering the sixth subrace of the fifth root race. The first branch race will naturally have its inception at the time the sixth subrace is beginning. HPB has suggested that branch races may last some twenty-five thousand years, and even more. The close the fourth branch-race of the sixth subrace of the fifth root race could, presumably, take us some hundred thousand or more years into the future (if HPB’s figures can be applied in this instance).

57. Kết luận này dựa trên ý nghĩ rằng hiện nay chúng ta chỉ mới đang bước vào giống dân phụ thứ sáu của giống dân gốc thứ năm. Giống dân nhánh thứ nhất tự nhiên sẽ khởi đầu vào lúc giống dân phụ thứ sáu đang bắt đầu. HPB đã gợi ý rằng các giống dân nhánh có thể kéo dài khoảng hai mươi lăm nghìn năm, và thậm chí còn hơn thế. Gần cuối giống dân nhánh thứ tư của giống dân phụ thứ sáu của giống dân gốc thứ năm, có lẽ sẽ đưa chúng ta đến một trăm nghìn năm hoặc hơn trong tương lai (nếu các con số của HPB có thể được áp dụng trong trường hợp này).

58. If this were the case, the material disasters which will be so noticeable during the next thousand years, will only culminate many years later.

58. Nếu đúng như vậy, thì các tai hoạ vật chất sẽ rất đáng chú ý trong một nghìn năm tới chỉ đạt đến cực điểm nhiều năm về sau.

59. As always, we must be most careful when considering the subject of sub-races, branch-races and root races, as much overlapping of cycles can occur (in a manner confusing to us).

59. Như mọi khi, chúng ta phải hết sức cẩn trọng khi xem xét chủ đề các giống dân phụ, giống dân nhánh và giống dân gốc, vì có thể xảy ra nhiều sự chồng lấn chu kỳ (theo một cách khiến chúng ta bối rối).

60. One important piece of information is here given—that the infant sixth root race will begin as the fourth branch race of the sixth subrace and of the fifth root race is coming to a close.

60. Ở đây có một mẩu thông tin quan trọng được đưa ra—rằng giống dân gốc thứ sáu còn non trẻ sẽ bắt đầu khi giống dân nhánh thứ tư của giống dân phụ thứ sáu và của giống dân gốc thứ năm đang đi đến chỗ kết thúc.

61. In other references we are told of the duration of the sixth root race—namely that it will be coming to an end some ten million years from now. Given the great number of years before its conclusion, a beginning some hundred thousand or more years from now would not be surprising.

61. Trong các tham chiếu khác, chúng ta được biết về thời lượng của giống dân gốc thứ sáu—cụ thể là nó sẽ đi đến chỗ kết thúc vào khoảng mười triệu năm kể từ bây giờ. Với số năm rất lớn trước khi nó kết thúc, một sự khởi đầu vào khoảng một trăm nghìn năm hoặc hơn kể từ bây giờ sẽ không có gì đáng ngạc nhiên.

62. We may ask: are all beginnings of all root races correlated with the onset of planetary disaster? There was a great war in Atlantis followed by a “flood” (one of several in planetary history) which was considered by many a planetary disaster.

62. Chúng ta có thể hỏi: phải chăng mọi sự khởi đầu của mọi giống dân gốc đều tương quan với sự khởi phát của tai hoạ hành tinh? Đã có một cuộc đại chiến ở Atlantis tiếp theo là một “trận lụt” (một trong nhiều trận trong lịch sử hành tinh) mà nhiều người xem là một tai hoạ hành tinh.

63. Of the end of the timing of the end of the sixth root race, the following is said:

63. Về thời điểm kết thúc của giống dân gốc thứ sáu, điều sau đây được nói đến:

Later, we shall have a transition period again, analogous to that period wherein kama-manas was developed, and we shall then have the entire race expressing a developed synthesis of intellect-intuition, preparatory to that advanced stage which will come at the close of the next root race, the sixth. This takes us to a period ten million years hence, when the intellect will have in its turn slipped below the threshold of consciousness, as did the instinct. (EP I 357)

Về sau, chúng ta sẽ lại có một giai đoạn chuyển tiếp, tương tự với giai đoạn trong đó kama-manas đã được phát triển, và khi ấy chúng ta sẽ có toàn thể nhân loại biểu lộ một tổng hợp đã phát triển của trí năng-trực giác, chuẩn bị cho giai đoạn tiến bộ ấy sẽ đến vào lúc kết thúc giống dân gốc kế tiếp, tức giống dân gốc thứ sáu. Điều này đưa chúng ta đến một thời kỳ mười triệu năm nữa, khi trí năng đến lượt nó sẽ trượt xuống dưới ngưỡng tâm thức, như bản năng đã từng như vậy. (EP I 357)

64. In any case we are warned that we should not be too ‘systematic’ in our proposals about the beginning of sub-races and branch races. One would expect, perhaps, the sixth root race to begin with the onset of the sixth subrace or, even more precisely, with the onset of the sixth branch race of the sixth subrace of the fifth root race, but apparently this is not entirely the case.

64. Dù sao đi nữa, chúng ta được cảnh báo rằng không nên quá “có hệ thống” trong các đề xuất của mình về sự khởi đầu của các giống dân phụ và giống dân nhánh. Có lẽ người ta sẽ mong đợi giống dân gốc thứ sáu bắt đầu với sự khởi phát của giống dân phụ thứ sáu hoặc, chính xác hơn nữa, với sự khởi phát của giống dân nhánh thứ sáu của giống dân phụ thứ sáu của giống dân gốc thứ năm, nhưng rõ ràng không hoàn toàn là như vậy.

The devas of the ethers, with which we are most concerned, [Page 468] will be affected in several ways, and the results upon the other evolutions will be far-reaching.

Các thiên thần của các cõi dĩ thái, là những vị mà chúng ta quan tâm nhất, [Page 468] sẽ bị tác động theo nhiều cách, và các kết quả đối với những sự tiến hoá khác sẽ có tầm ảnh hưởng sâu rộng.

65. We are alerted to the great interdependency of all living beings and their forms.

65. Chúng ta được cảnh báo về sự phụ thuộc lẫn nhau to lớn của mọi sinh thể và các hình tướng của chúng.

We must remember always that the devas are the qualities and attributes of matter, the active builders, who work consciously or unconsciously upon the plane.

Chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng các thiên thần là các phẩm tính và thuộc tính của vật chất, là các đấng kiến tạo hoạt động, làm việc một cách hữu thức hay vô thức trên cõi.

66. This is an important definition. To call devas “active builders” and to say that they work both consciously and unconsciously is not surprising, but to call them the “qualities and attributes of matter” seems to take away something of their independence from matter, per se.

66. Đây là một định nghĩa quan trọng. Gọi các thiên thần là “các đấng kiến tạo hoạt động” và nói rằng họ làm việc cả một cách hữu thức lẫn vô thức thì không có gì đáng ngạc nhiên, nhưng gọi họ là “các phẩm tính và thuộc tính của vật chất” dường như lấy đi phần nào tính độc lập của họ đối với chính vật chất.

67. The suggestion is that matter would have not qualities or attributes were it not for the work of the deva kingdom. Qualities and attributes must therefore be related to devic motion (devic suppliancy).

67. Gợi ý ở đây là vật chất sẽ không có phẩm tính hay thuộc tính nào nếu không có công việc của giới thiên thần. Vì vậy, các phẩm tính và thuộc tính phải liên hệ với chuyển động thiên thần (sự mềm dẻo thiên thần).

Here I would point out that all the devas of the higher levels of the mental plane, for instance, and of the systemic planes from there on to the centre (the divine plane, the plane of the Logos, sometimes called Adi) co-operate consciously, and are of high rank in the system, and of position equal to all the ranks and grades of the Hierarchy from a first degree initiate up to, but not including, the Lord of the World Himself.

Ở đây tôi muốn chỉ ra rằng tất cả các thiên thần của các cấp độ cao hơn của cõi trí, chẳng hạn, và của các cõi của hệ thống từ đó tiến vào trung tâm (cõi thiêng liêng, cõi của Thượng đế, đôi khi được gọi là Adi) đều hợp tác một cách hữu thức, và có cấp bậc cao trong hệ thống, và có địa vị tương đương với mọi cấp bậc và đẳng cấp của Thánh đoàn từ một điểm đạo đồ bậc một cho đến, nhưng không bao gồm, chính Đức Chúa Tể Thế Giới.

68. This is a profound section.

68. Đây là một đoạn sâu sắc.

69. We learn that conscious cooperation in the deva kingdom seems to begin on the higher mental plane of the cosmic physical plane.

69. Chúng ta học được rằng sự hợp tác hữu thức trong giới thiên thần dường như bắt đầu trên cõi thượng trí của cõi hồng trần vũ trụ.

70. The higher mental plane is that level of nature on which the human being becomes for the first time an initiate—a first degree initiate, for initiations are taken in the causal body.

70. Cõi thượng trí là cấp độ của bản chất nơi con người lần đầu tiên trở thành một điểm đạo đồ—một điểm đạo đồ bậc một, vì các cuộc điểm đạo được thực hiện trong thể nguyên nhân.

71. We know that there are many ranks of initiates from initiates of the first degree, through the initiates of Hierarchy, Masters, Chohans, and even those of greater status such as the Buddhas of Activity.

71. Chúng ta biết rằng có nhiều cấp bậc điểm đạo đồ từ các điểm đạo đồ bậc một, qua các điểm đạo đồ của Thánh đoàn, các Chân sư, các Chohan, và thậm chí cả những vị có địa vị cao hơn như các Đức Phật Hoạt Động.

72. Here we learn that there are members of the deva kingdom who correspond to all these grades of initiates.

72. Ở đây chúng ta học được rằng có những thành viên của giới thiên thần tương ứng với tất cả các cấp bậc điểm đạo đồ ấy.

73. The implication is that there are devas in our planetary system whose status corresponds to the Kumaras surrounding Sanat Kumara, but does not equal the spiritual status of Sanat Kumara, Himself.

73. Hàm ý ở đây là có những thiên thần trong hệ hành tinh của chúng ta có địa vị tương ứng với các Kumaras bao quanh Đức Sanat Kumara, nhưng không ngang bằng địa vị tinh thần của chính Đức Sanat Kumara.

74. Additionally, we note the special connection of the plane of Adi to the Logos (i.e., Solar Logos). This is true just as the Planetary Logos has a special relationship to the monadic plane.

74. Ngoài ra, chúng ta lưu ý mối liên hệ đặc biệt của cõi Adi với Thượng đế (tức Thái dương Thượng đế). Điều này đúng cũng như Hành Tinh Thượng đế có một liên hệ đặc biệt với cõi chân thần.

75. Further, the manner in which the planes are described is important; the idea of ‘ascent’ is not emphasized; rather, a progressive ‘journey’ towards the “centre”. The planet of Adi, therefore, is the inner most plane of the cosmic physical plane, not just the ‘highest’.

75. Hơn nữa, cách các cõi được mô tả là quan trọng; ý tưởng về “sự đi lên” không được nhấn mạnh; đúng hơn là một “hành trình” tiến dần về phía “trung tâm”. Vì vậy, cõi Adi là cõi bên trong nhất của cõi hồng trần vũ trụ, chứ không chỉ là cõi “cao nhất”.

76. May there be devas which are equivalent in consciousness to man at all his various levels of consciousness below that of first degree initiate, or is there a strange ‘cut-off point’ signaling that all devas below the rank of initiate of the first degree are unconscious workers.

76. Có thể nào có những thiên thần tương đương về tâm thức với con người ở mọi cấp độ tâm thức khác nhau của y dưới cấp độ của điểm đạo đồ bậc một, hay có một “điểm cắt” kỳ lạ báo hiệu rằng mọi thiên thần dưới cấp bậc điểm đạo đồ bậc một đều là những người hoạt động vô thức.

77. We have learned that some devas become self-conscious by passing through the human kingdom. Have all self-conscious devas been men at some point? It does not seem to be the case. May it be that from the time of the first degree, men may enter the deva kingdom as self-conscious devas?

77. Chúng ta đã học rằng một số thiên thần trở nên ngã thức bằng cách đi qua giới nhân loại. Phải chăng mọi thiên thần ngã thức đều đã từng là con người ở một thời điểm nào đó? Dường như không phải vậy. Có thể nào từ bậc một, con người có thể đi vào giới thiên thần như những thiên thần ngã thức?

78. If we think carefully about all this, there seems to be strange hiatus between self-conscious devas of the first degree and the usual unconscious (unselfconscious devic workers upon the concrete sub-planes).

78. Nếu chúng ta suy nghĩ cẩn thận về tất cả điều này, dường như có một khoảng gián đoạn kỳ lạ giữa các thiên thần ngã thức bậc một và các vô thức thông thường (các người hoạt động thiên thần vô ngã thức trên các cõi phụ cụ thể).

79. The following paragraph is most interesting in regard to the relation between the deva and human kingdoms:

79. Đoạn sau đây rất thú vị liên quan đến mối quan hệ giữa giới thiên thần và giới nhân loại:

Certain groups of devas who desire to pass into the human kingdom, having developed certain faculties, can do so via the bird kingdom, and certain devas who wish to get in communication with human beings can do so via the bird kingdom. This truth is hinted at in the Christian Bible and Christian religious representations by angels or devas being frequently represented as having wings. These cases are not many, as the usual method is for the devas gradually to work themselves towards individualisation through expansive feeling, but in the cases which do occur these devas pass several cycles in the bird kingdom, building in a response to a vibration which will ultimately swing them into the human family. In this way they become accustomed to the use of a gross form without the limitations, and impurities, which the animal kingdom engenders. (TCF 895)

Một số nhóm thiên thần mong muốn đi vào giới nhân loại, sau khi đã phát triển một số năng lực nhất định, có thể làm như vậy qua giới chim, và một số thiên thần muốn tiếp xúc với con người có thể làm như vậy qua giới chim. Chân lý này được gợi ý trong Kinh Thánh Cơ Đốc giáo và trong các hình tượng tôn giáo Cơ Đốc giáo khi các thiên thần hay devas thường được mô tả là có cánh. Những trường hợp này không nhiều, vì phương pháp thông thường là các thiên thần dần dần tự tiến tới biệt ngã hóa qua cảm xúc mở rộng, nhưng trong những trường hợp có xảy ra, các thiên thần này trải qua vài chu kỳ trong giới chim, xây dựng trong mình một sự đáp ứng với một rung động mà cuối cùng sẽ đưa họ vào gia đình nhân loại. Bằng cách này họ trở nên quen với việc sử dụng một hình tướng thô nặng mà không có những giới hạn và tạp chất do giới động vật tạo ra. (TCF 895)

80. It would appear that devas do individualize without having to pass through the human kingdom, but when they first individualize they cannot yet be equivalent to first degree initiates. Rather they might be somewhat parallel in consciousness to newly individualized man. Yet in the sections above, self-conscious devas below possessing a consciousness less than that of the first degree human are not mentioned. Instead, we learn that the devas who work below the abstract planes (where deva-initiates of the first degree can be found) are unconscious. Obviously, the information necessary to solve this puzzle is missing.

80. Dường như các thiên thần biệt ngã hóa mà không cần phải đi qua giới nhân loại, nhưng khi họ lần đầu biệt ngã hóa thì họ chưa thể tương đương với các điểm đạo đồ bậc một. Đúng hơn, họ có thể phần nào song song về tâm thức với con người mới biệt ngã hóa. Tuy nhiên, trong các phần trên, các thiên thần ngã thức có tâm thức thấp hơn tâm thức của con người bậc một không được nhắc đến. Thay vào đó, chúng ta học được rằng các thiên thần làm việc dưới các cõi trừu tượng (nơi có thể tìm thấy các thiên thần-điểm đạo đồ bậc một) là vô thức. Rõ ràng là thiếu thông tin cần thiết để giải quyết câu đố này.

81. Obviously, men who are not yet first degree initiates work on the eighteen concrete sub-planes. Why are there no devas parallel to the human being (i.e., self-conscious) on these sub-planes? Why are the devic workers on these concrete planes all unconscious—or are they?

81. Rõ ràng, những người chưa phải là điểm đạo đồ bậc một vẫn làm việc trên mười tám cõi phụ cụ thể. Vì sao không có các thiên thần song song với con người (tức ngã thức) trên các cõi phụ này? Vì sao các người hoạt động thiên thần trên các cõi cụ thể này đều vô thức—hay có phải họ như vậy không?

Below these higher levels, where the concrete is touched, we have lesser grades of devas who work unconsciously,

Dưới các cấp độ cao hơn này, nơi cái cụ thể được chạm đến, chúng ta có các cấp bậc thiên thần thấp hơn làm việc một cách vô thức,

82. Yes, but do we have only “lesser grades of devas who work unconsciously”? Are there not also other grades of devas who may be self-conscious?

82. Đúng vậy, nhưng có phải chúng ta chỉ có “các cấp bậc thiên thần thấp hơn làm việc một cách vô thức” hay không? Chẳng lẽ không có cả những cấp bậc khác của thiên thần có thể là ngã thức sao?

83. The sentence above seems to point in only one direction, but it may not be complete. In any case, one of the important pieces of information with respect to the deva kingdom concerns which groups of devas work consciously and which unconsciously, and where they work.

83. Câu trên dường như chỉ theo một hướng, nhưng có thể chưa trọn vẹn. Dù sao đi nữa, một trong những mẩu thông tin quan trọng liên quan đến giới thiên thần là nhóm thiên thần nào hoạt động một cách hữu thức và nhóm nào hoạt động một cách vô thức, và ở đâu họ hoạt động.

84. The lower eighteen sub-planes are ‘lunar’ and hence the work of (at least the majority of) devas expressing through those planes is unconscious. The higher mental plane and the planes above it are ‘solar’, and hence the work of the devas which express through these planes is conscious—and, so it would seem highly conscious.

84. Mười tám cõi phụ thấp là “thái âm”, và do đó công việc của (ít nhất là đa số) các thiên thần biểu lộ qua những cõi ấy là vô thức. Cõi thượng trí và các cõi bên trên nó là “thái dương”, và do đó công việc của các thiên thần biểu lộ qua những cõi này là hữu thức—và, dường như là như vậy, rất hữu thức.

with the following exceptions, who are conscious forces and entities and of high position:

với những ngoại lệ sau đây, là những mãnh lực và thực thể hữu thức và có địa vị cao:

85. The following Entities work on the lower eighteen sub-planes but they work consciously.

85. Các Thực Thể sau đây hoạt động trên mười tám cõi phụ thấp nhưng các vị ấy hoạt động một cách hữu thức.

a. The Raja-lord of a plane.

a. Raja-Lord của một cõi.

86. We could call the seven Raja-lords the “Seven Sons of Fohat”.

86. Chúng ta có thể gọi bảy Raja-Lord là “Bảy Con của Fohat”.

b. Seven devas who work under Him, and are the entities who inform the matter of the seven subplanes.

b. Bảy thiên thần hoạt động dưới quyền Ngài, và là những thực thể thấm nhuần vật chất của bảy cõi phụ.

87. Taken together these seven devas on each systemic plane constitute the forty-nine fires.

87. Gộp lại, bảy thiên thần này trên mỗi cõi của hệ mặt trời cấu thành bốn mươi chín ngọn lửa.

c. Fourteen representatives of the Rays, Who cycle into and out of power, according to the Ray, waxing or waning.

c. Mười bốn đại diện của các cung, Các Ngài luân phiên đi vào và ra khỏi quyền lực, tùy theo cung, tăng hay giảm.

88. Do we find it surprising that there are fourteen representatives of the rays rather than seven? We must consider the rays in relation to both the Great Bear and Little Bear.

88. Chúng ta có thấy ngạc nhiên rằng có mười bốn đại diện của các cung thay vì bảy không? Chúng ta phải xét các cung trong liên hệ với cả Đại Hùng Tinh và Tiểu Hùng Tinh.

89. The “fourteen representatives of the Rays” are, in fact, devic lives. Are They intra-planetary Ray Lords? Do they represent the rays in relation to two of the aspects of divinity, such as the will aspect and the intelligence aspect? Or two others?

89. “Mười bốn đại diện của các cung” này thật ra là các sự sống thiên thần. Các Ngài có phải là những Đấng Chúa Tể Cung nội hành tinh không? Các Ngài có đại diện cho các cung trong liên hệ với hai phương diện của thiên tính, chẳng hạn phương diện ý chí và phương diện trí tuệ không? Hay là hai phương diện khác?

90. Can it be that these representatives control the two processes of “incoming” and “outgoing”?

90. Có thể nào những đại diện này kiểm soát hai tiến trình “đi vào” và “đi ra” không?

91. When the number fourteen in mentioned, one must also think of the fourteen Manus of our planetary chain, and perhaps of fourteen greater scheme manus.

91. Khi số mười bốn được nhắc đến, người ta cũng phải nghĩ đến mười bốn Đức Manu của dãy hành tinh chúng ta, và có lẽ cả mười bốn manu lớn hơn của hệ hành tinh.

92. The number fourteen suggests that the usual seven are divided according to polarity.

92. Số mười bốn gợi ý rằng con số bảy thông thường được phân chia theo cực tính.

93. The following is important in relation to the seven major stars of both the Great Bear and Little Bear.

93. Điều sau đây rất quan trọng liên quan đến bảy ngôi sao chính của cả Đại Hùng Tinh lẫn Tiểu Hùng Tinh.

A steady recollection of the twelve basic energies [85] (five major and seven minor which are in reality, and apart from astral reversion due to the Great Illusion, seven major and five minor) will be of value. These work out into human expression via the Lords of the twelve signs and the twelve planetary Rulers. These twelve basic energies emanate from the seven stars of the Great Bear (transmitted through seven stars of the Little Bear); two of them come from Sirius and three from the Pleiades. This set-up (if I may use such an unorthodox term) will be the condition of the major solar sphere of influence at the end of the Great Age of Brahma, as it is esoterically called. In the “interim or interlude of evolution” (which is the inadequate translation of an occult phrase given to a world cycle in the Masters’ Archives) these energies are stepped down into forces and are literally sixteen all told—from the angle of manifestation, I would remind you—and make literally: 7+7+2=16=7. (EA 84-85)

Việc luôn ghi nhớ mười hai năng lượng căn bản [85] (năm chính và bảy phụ, mà trên thực tế, và tách khỏi sự đảo ngược cảm dục do Đại Ảo Tưởng, là bảy chính và năm phụ) sẽ có giá trị. Chúng biểu hiện thành sự biểu lộ nơi con người qua các Chúa Tể của mười hai dấu hiệu và mười hai chủ tinh hành tinh. Mười hai năng lượng căn bản này phát xạ từ bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh (được truyền qua bảy ngôi sao của Tiểu Hùng Tinh); hai trong số đó đến từ Sirius và ba từ Pleiades. Cấu trúc này (nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ không chính thống như vậy) sẽ là điều kiện của khối cầu ảnh hưởng thái dương chính vào cuối Đại giai kỳ sinh hóa của Brahma, như nó được gọi một cách huyền bí. Trong “khoảng giữa hay quãng ngừng của tiến hoá” (là bản dịch chưa đầy đủ của một cụm từ huyền bí dùng cho một chu kỳ thế giới trong Văn Khố của các Chân sư), các năng lượng này được hạ xuống thành các mãnh lực và theo nghĩa đen là mười sáu tất cả—xét từ góc độ biểu hiện, tôi xin nhắc các bạn như vậy—và theo nghĩa đen tạo thành: 7+7+2=16=7. (EA 84-85)

d. Four devas who are the plane representatives of the four Maharajahs (the Lords of Karma) and are the focal points for karmic influence in connection with man.

d. Bốn thiên thần là những đại diện cõi của bốn Maharajah (các Đấng Chúa Tể của Nghiệp Quả) và là các tiêu điểm cho ảnh hưởng nghiệp quả liên quan đến con người.

94. Which planes are here indicated? All the planes of the cosmic physical plane? Or the customary lower four divisions of the eighteen lower sub-planes—the lower mental, the astral, the etheric and the physical?

94. Ở đây những cõi nào được chỉ ra? Tất cả các cõi của cõi hồng trần vũ trụ chăng? Hay là bốn phân bộ thấp thông thường của mười tám cõi phụ thấp—cõi hạ trí, cõi cảm dục, cõi dĩ thái và cõi hồng trần?

95. As we realize, the Four Maharajas are not the only Lords of Karma to be found within the confines of our solar system. The three Lipika Lords are even greater.

95. Như chúng ta nhận ra, Bốn Maharajah không phải là những Đấng Chúa Tể của Nghiệp Quả duy nhất được tìm thấy trong phạm vi hệ mặt trời của chúng ta. Ba Đấng Chúa Tể Lipika còn vĩ đại hơn nữa.

96. We realize that the four plane representatives of the Four Maharajas are the administrators of karma in relation to man.

96. Chúng ta nhận ra rằng bốn đại diện cõi của Bốn Maharajah là những vị quản trị nghiệp quả liên quan đến con người.

The four Maharajahs are the dispensers of karma to the Heavenly Men, and thus to the cells, centres, and organs of His body necessarily;

Bốn Maharajah là những vị phân phối nghiệp quả cho các Đấng Thiên Nhân, và do đó tất yếu cũng cho các tế bào, các trung tâm và các cơ quan trong thể của Ngài;

97. This gives us an idea of the status of the four Maharajas. They are lives of such great magnitude that They can dispense karma to the Heavenly Men. It appears that They work through Their representatives on the plane level who dispense karma to man.

97. Điều này cho chúng ta một ý niệm về địa vị của bốn Maharajah. Các Ngài là những sự sống có tầm mức lớn lao đến nỗi có thể phân phối nghiệp quả cho các Đấng Thiên Nhân. Dường như Các Ngài hoạt động qua các đại diện của mình ở cấp độ cõi, những vị phân phối nghiệp quả cho con người.

98. The Four Maharajas, therefore, reach man via the plane representatives, among other channels.

98. Vì vậy, Bốn Maharajah tiếp cận con người qua các đại diện cõi, cùng với những kênh khác.

99. Since the Solar Angels who have man under supervision are also Sirianly related karmic agents, we may wonder about the relation of the Solar Angels to the Four Maharajas and Their plane representatives.

99. Vì các Thái dương Thiên Thần giám sát con người cũng là những tác nhân nghiệp quả có liên hệ với Sirius, nên chúng ta có thể tự hỏi về mối liên hệ của các Thái dương Thiên Thần với Bốn Maharajah và các đại diện cõi của Các Ngài.

but the whole system works through graded representatives;

nhưng toàn bộ hệ thống hoạt động qua những đại diện theo cấp bậc;

100. If we could but envision the many graded representatives we would envision the ‘Ladder of Hierarchy’

100. Giá như chúng ta có thể hình dung nhiều đại diện theo cấp bậc ấy, chúng ta sẽ hình dung được “Nấc Thang của Thánh Đoàn”

the same laws govern these agents of plane karma as govern the systemic and cosmic, and during plane manifestation they are, for instance, the only unit in form [Page 469] permitted to pass beyond the plane ring-pass-not. All other units in manifestation on a plane have to discard the vehicle through which they function before they can pass on to subtler levels.

các định luật chi phối những tác nhân của nghiệp quả cõi này cũng chi phối nghiệp quả của hệ thống và vũ trụ, và trong thời kỳ biểu hiện trên cõi, chẳng hạn, họ là đơn vị duy nhất trong hình tướng [Page 469] được phép vượt ra ngoài vòng-giới-hạn của cõi. Mọi đơn vị khác đang biểu hiện trên một cõi đều phải loại bỏ vận cụ mà họ hoạt động qua đó trước khi có thể chuyển sang các cấp độ vi tế hơn.

101. These statements have considerable consequences.

101. Những phát biểu này có những hệ quả đáng kể.

102. First of all it appears that the plane representatives of the Four Maharajas are to be considered ‘units in form’.

102. Trước hết, dường như các đại diện cõi của Bốn Maharajah phải được xem là những “đơn vị trong hình tướng”.

103. Further, it would appear that the plane representatives of the Four Maharajas can (as they pass to higher planes) retain the vehicles they use when expressing through the lower planes.

103. Hơn nữa, dường như các đại diện cõi của Bốn Maharajah có thể (khi họ chuyển sang các cõi cao hơn) giữ lại các vận cụ mà họ dùng khi biểu lộ qua các cõi thấp hơn.

104. Man passes to levels higher than the physical every night when asleep, and appropriately, functions while doing so in vehicles ‘higher’ than the sleeping physical body. Were he to focus permanently on that subtler level called the astral plane, he would have to discard the etheric physical vehicle.

104. Con người đi đến các cấp độ cao hơn cõi hồng trần mỗi đêm khi ngủ, và một cách thích hợp, hoạt động khi ấy trong những vận cụ “cao hơn” thể xác đang ngủ. Nếu y tập trung thường trực trên cấp độ vi tế hơn ấy gọi là cõi cảm dục, y sẽ phải loại bỏ vận cụ hồng trần dĩ thái.

105. From these statements, it would seem that the plane representatives of the Four Maharajas do not necessarily act exclusively on one or other of the four lower planes (enumerated by dividing the physical plane into its etheric and physical components).

105. Từ những phát biểu này, dường như các đại diện cõi của Bốn Maharajah không nhất thiết chỉ hoạt động riêng biệt trên một hay cõi nào khác trong bốn cõi thấp (được liệt kê bằng cách chia cõi hồng trần thành các thành phần dĩ thái và hồng trần của nó).

106. Further a most important hint is given and one, really, that is quite enigmatical. How can a being function on a higher plane using a vehicle of a lower plane? Or is this not really what is meant?

106. Hơn nữa, một gợi ý hết sức quan trọng được đưa ra, và thật ra là một gợi ý khá bí ẩn. Làm sao một hữu thể có thể hoạt động trên một cõi cao hơn bằng cách dùng một vận cụ của cõi thấp hơn? Hay đó thật ra không phải là điều được hàm ý?

107. If the vehicle of such a representative retained on the physical plane, or on any particular plane before the passage to a higher plane, or is it, as it were, ‘taken along’?

107. Vận cụ của một đại diện như thế có được giữ lại trên cõi hồng trần, hay trên bất kỳ cõi đặc thù nào trước khi chuyển sang cõi cao hơn, hay là, nói như vậy, nó được “mang theo”?

108. The discarding of a vehicle may not be a permanent discarding. As stated, man working on the astral plane ‘leaves’ rather than discards his physical vehicle while such work is proceeding.

108. Việc loại bỏ một vận cụ có thể không phải là sự loại bỏ vĩnh viễn. Như đã nói, con người hoạt động trên cõi cảm dục thì “rời” hơn là loại bỏ vận cụ hồng trần của mình trong khi công việc ấy đang diễn ra.

109. The manner of the passage of energies from one plane to another (whether ascending or descending) has many unsuspected complexities associated with it.

109. Cách thức các năng lượng đi từ cõi này sang cõi khác (dù đi lên hay đi xuống) có liên hệ với nhiều sự phức tạp chưa được ngờ tới.

c. Types of Karma. We might here enumerate the different types of KARMA, even though we have not the time to enlarge upon the subject. A book by itself of vast proportions could not contain all that might be said.

c. Các loại nghiệp quả. Ở đây chúng ta có thể liệt kê các loại NGHIỆP QUẢ khác nhau, dù chúng ta không có thời gian để khai triển chủ đề này. Chỉ riêng một quyển sách đồ sộ cũng không thể chứa hết mọi điều có thể nói ra.

110. We gather a small hint at the vast scope of Master DK’s knowledge in this regard.

110. Chúng ta thu nhận được một gợi ý nhỏ về phạm vi bao la trong tri thức của Chân sư DK về phương diện này.

We should bear in mind that KARMA is imposed upon the ensouling entity through the medium of matter or of substance itself (which is coloured by it) and that this matter or substance is intelligent material composed of deva essence.

Chúng ta nên ghi nhớ rằng NGHIỆP QUẢ được áp đặt lên thực thể phú linh qua trung gian của chính vật chất hay chất liệu (vốn được nhuốm màu bởi nó) và rằng vật chất hay chất liệu này là vật liệu thông minh được cấu thành từ tinh chất thiên thần.

111. We note the presence of the first ray (the ray of imposition) in the appearance of Karma, as Karma is imposed.

111. Chúng ta lưu ý sự hiện diện của cung một (cung của sự áp đặt) trong sắc tướng của Nghiệp Quả, vì Nghiệp Quả được áp đặt.

112. The Law of Karma reaches entities via the medium of matter and/or substance.

112. Định luật Nghiệp Quả tiếp cận các thực thể qua trung gian của vật chất và/hoặc chất liệu.

113. Devas, because the are substantial are necessarily karmic agents. Devas are the ‘limiting’ kingdom—powerfully ruled by Saturn, the chief Lord of Karma among the Planetary Deities.

113. Các thiên thần, bởi vì họ là chất liệu, tất yếu là những tác nhân nghiệp quả. Các thiên thần là giới “giới hạn”—được Sao Thổ, Đấng Chúa Tể chính của Nghiệp Quả trong số các Thượng đế Hành Tinh, cai quản một cách mạnh mẽ.

114. Matter/substance is coloured by karma—an interesting thought. As the colour of any substance is dependent upon its frequency, we may infer that karma is the controller of the frequency of matter/substance. Ones limitations or opportunities relate directly to the frequency of the matter through which one expresses.

114. Vật chất/chất liệu được nhuốm màu bởi nghiệp quả—một ý tưởng thú vị. Vì màu sắc của bất kỳ chất liệu nào cũng tùy thuộc vào tần số của nó, chúng ta có thể suy ra rằng nghiệp quả là yếu tố kiểm soát tần số của vật chất/chất liệu. Những giới hạn hay cơ hội của một người liên hệ trực tiếp với tần số của vật chất mà qua đó người ấy biểu lộ.

115. We also are given an excellent definition of matter-substance or substance-matter. We note that it is both intelligent and composed of deva essence. Its intelligence is inherent and need not be imposed. Intelligence is inherent in matter-substance, i.e., within deva essence. This type of inherent intelligence is the intelligence of the third aspect of divinity, the Brahma aspect.

115. Chúng ta cũng được trao cho một định nghĩa rất hay về vật chất-chất liệu hay chất liệu-vật chất. Chúng ta lưu ý rằng nó vừa thông minh vừa được cấu thành từ tinh chất thiên thần. Trí tuệ của nó là cố hữu và không cần được áp đặt. Trí tuệ là cố hữu trong vật chất-chất liệu, tức là trong tinh chất thiên thần. Loại trí tuệ cố hữu này là trí tuệ của phương diện thứ ba của thiên tính, phương diện Brahma.

116. We also realize that Karma is particularly related to the third aspect of divinity—again suggesting the association with Brahma and Saturn.

116. Chúng ta cũng nhận ra rằng Nghiệp Quả đặc biệt liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính—một lần nữa gợi ý sự liên kết với Brahma và Sao Thổ.

117. We may also infer that, as all Entities in cosmos are subject to karma of some kind, the type of matter/substance through which they express will be the medium for the imposition of that karma.

117. Chúng ta cũng có thể suy ra rằng, vì mọi Thực Thể trong vũ trụ đều chịu một loại nghiệp quả nào đó, nên loại vật chất/chất liệu mà qua đó các vị ấy biểu lộ sẽ là trung gian cho sự áp đặt nghiệp quả ấy.

118. Karma is the nature of ‘conditioning’, and all conditioning operates with respect to the deva kingdom. Without the D/devas, the Spirit is utterly free in its own Essence; the Deva Kingdom (even as that Kingdom expresses on the symbolic ‘Heights of the Universe’) is a limiting, conditioning kingdom. It was born of the Self-Perception of the Universal Logos. From another perspective, the Deva Kingdom (universally considered) was born of division. We note that Saturn is the ‘Planet of Division’ separating ‘this’ from ‘that’.

118. Nghiệp Quả là bản chất của sự “tác động định hình”, và mọi sự tác động định hình đều vận hành đối với giới thiên thần. Không có các thiên thần, Tinh thần hoàn toàn tự do trong Bản Thể riêng của nó; Giới Thiên Thần (ngay cả khi Giới ấy biểu lộ trên những “Đỉnh Cao của Vũ Trụ” mang tính biểu tượng) là một giới giới hạn, định hình. Nó được sinh ra từ Sự Tự Tri Giác của Thượng đế Vũ Trụ. Từ một góc nhìn khác, Giới Thiên Thần (xét một cách phổ quát) được sinh ra từ sự phân chia. Chúng ta lưu ý rằng Sao Thổ là “Hành Tinh của Sự Phân Chia”, tách biệt “cái này” khỏi “cái kia”.

119. In short, D/devas are the Self-Reflection of ‘God’ the Universal Logos.

119. Tóm lại, các thiên thần là Sự Tự Phản Chiếu của “Thượng đế”, tức Thượng đế Vũ Trụ.

Cosmic Karma—Imposed upon the solar Logos from outside of the system.

Nghiệp quả vũ trụ—Được áp đặt lên Thái dương Thượng đế từ bên ngoài hệ thống.

120. We may presume that the Karmic Lords of Sirius are one of the chief Agents of this imposition.

120. Chúng ta có thể giả định rằng các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả của Sirius là một trong những Tác Nhân chính của sự áp đặt này.

Systemic Karma—The working out by the Logos of effects set in motion in previous Kalpas, and which influence His present type of Body.

Nghiệp quả hệ thống—Sự triển khai của Thượng đế đối với các hiệu quả đã được khởi động trong những Kalpa trước, và những hiệu quả ấy ảnh hưởng đến loại Thể hiện tại của Ngài.

121. We gather that the conditioning of the body of any entity (great or of lesser scope) is karmically determined.

121. Chúng ta hiểu rằng sự định hình của thể của bất kỳ thực thể nào (lớn hay nhỏ hơn) đều được quyết định bởi nghiệp quả.

122. The term “Kalpas” in this context provably means mahamanvantaras. We understand that our Solar Logos (as a Solar Logos and not as some lesser B/being) has passed through four such Kalpas prior to His expression through our present solar system.

122. Thuật ngữ “Kalpas” trong ngữ cảnh này có thể được chứng minh là có nghĩa Đại giai kỳ sinh hóa. Chúng ta hiểu rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta (với tư cách là một Thái dương Thượng đế chứ không phải như một hữu thể nhỏ hơn nào đó) đã trải qua bốn Kalpas như thế trước khi biểu lộ qua hệ mặt trời hiện tại của Ngài.

123. We are also given a simple definition of karma—“the working out of effects set in motion”. All created patterns exist because they have been created. Because they exist, they present themselves as conditions or as karma. We are presented with that which we create and have to deal with it—modifying it, neutralizing it, offsetting it, or using it as a constructive foundation.

123. Chúng ta cũng được trao cho một định nghĩa đơn giản về nghiệp quả—“sự triển khai của các hiệu quả đã được khởi động”. Mọi mô hình được tạo ra đều tồn tại vì chúng đã được tạo ra. Bởi vì chúng tồn tại, chúng tự trình hiện như những điều kiện hay như nghiệp quả. Chúng ta được đặt trước điều mà mình tạo ra và phải xử lý nó—biến đổi nó, trung hòa nó, hóa giải nó, hoặc dùng nó như một nền tảng xây dựng.

124. Colloquially, we “make our bed…”

124. Nói theo cách thông thường, chúng ta “tự trải giường cho mình…”

125. Karma is intimately related to the factor if creativity. That which we create is that which we meet and re-meet until our creations accord with a will higher than our own.

125. Nghiệp quả liên hệ mật thiết với yếu tố sáng tạo. Điều chúng ta tạo ra là điều chúng ta gặp đi gặp lại cho đến khi những sáng tạo của chúng ta phù hợp với một ý chí cao hơn ý chí riêng của mình.

Planetary Karma—The individual karma of a Heavenly Man, which is just as different from that of another Heavenly Man, as is the karma of the different members of the human family.

Nghiệp quả hành tinh—Nghiệp quả cá biệt của một Đấng Thiên Nhân, khác với nghiệp quả của một Đấng Thiên Nhân khác cũng như nghiệp quả của các thành viên khác nhau trong gia đình nhân loại.

126. It is easy to forget that the great Entities called Planetary Logoi also possess a unique individuality. Because we cannot fathom Their character with any degree of completeness, we often overlook Their uniqueness. Astrology, however, reminds us of this uniqueness.

126. Thật dễ quên rằng những Thực Thể vĩ đại được gọi là các Hành Tinh Thượng đế cũng sở hữu một cá tính độc đáo. Vì chúng ta không thể thấu hiểu Tính cách của Các Ngài ở bất kỳ mức độ trọn vẹn nào, chúng ta thường bỏ qua tính độc đáo ấy. Tuy nhiên, chiêm tinh học nhắc chúng ta về tính độc đáo này.

127. We are reminded that our particular Planetary Logos has a heavy karma related to the mystery of personality. It would seem that His personality elemental has not been mastered.

127. Chúng ta được nhắc rằng Hành Tinh Thượng đế đặc thù của chúng ta có một nghiệp quả nặng nề liên quan đến huyền nhiệm của phàm ngã. Dường như hành khí phàm ngã của Ngài chưa được chế ngự.

Herein lies the mystery of our planet, the most mysterious of all the planets. Just as the karma of individuals differs, so differs the karma of the various Logoi, and the karma of our planetary Logos has been a heavy one, and veiled in the mystery of personality at this time. (TCF 207)

Chính trong đó có huyền nhiệm của hành tinh chúng ta, bí ẩn nhất trong mọi hành tinh. Cũng như nghiệp quả của các cá nhân khác nhau, nghiệp quả của các Logoi khác nhau cũng khác nhau, và nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta là một nghiệp quả nặng nề, và hiện nay được che phủ trong huyền nhiệm của phàm ngã. (TCF 207)

The Karma of a chain, which is bound up in the life experience of that entity who ensouls a chain, and is a centre in the body of a Heavenly Man, in the same sense as a Heavenly Man within His scheme is a centre in the body of the solar Logos.

Nghiệp quả của một dãy, gắn liền với kinh nghiệm sống của thực thể phú linh một dãy, và là một trung tâm trong thể của một Đấng Thiên Nhân, theo cùng ý nghĩa như một Đấng Thiên Nhân trong hệ hành tinh của Ngài là một trung tâm trong thể của Thái dương Thượng đế.

128. Here the status of a chain as a center within a Planetary Logos is clearly set forth.

128. Ở đây địa vị của một dãy như một trung tâm bên trong một Hành Tinh Thượng đế được trình bày rõ ràng.

129. Just as a Planetary Logos ensouls a planetary scheme, so a Being called a Chain-Lord ensouls a planetary chain.

129. Cũng như một Hành Tinh Thượng đế phú linh một hệ hành tinh, thì một Hữu Thể được gọi là Chúa Tể Dãy phú linh một dãy hành tinh.

130. Such a Chain-Lord is not the Planetary Logos per se and would have a relative degree of autonomy in determining His own, individual karma just as a Planetary Logos, though an aspect of the body corporate of a Solar Logos and His solar system, has a relative degree of autonomy in determining His individual karma.

130. Một Chúa Tể Dãy như thế không phải là chính Hành Tinh Thượng đế, và sẽ có một mức độ tự trị tương đối trong việc quyết định nghiệp quả cá biệt của riêng Ngài, cũng như một Hành Tinh Thượng đế, dù là một phương diện của toàn thể hợp nhất nơi thể của một Thái dương Thượng đế và hệ mặt trời của Ngài, vẫn có một mức độ tự trị tương đối trong việc quyết định nghiệp quả cá biệt của Ngài.

131. On these high levels we are dealing with the appearance of “Mind-born Sons”. There is a clear understanding that although great Beings are some what autonomous of the still greater Beings Who incorporate Them, nevertheless, They are expressions or emanations of these still greater Beings.

131. Ở những cấp độ cao này, chúng ta đang đề cập đến sự xuất hiện của các “Con sinh ra từ Trí Tuệ”. Có một sự hiểu biết rõ ràng rằng mặc dù các Hữu Thể vĩ đại có phần nào tự trị đối với những Hữu Thể còn vĩ đại hơn đang bao hàm Các Ngài, tuy nhiên, Các Ngài vẫn là những biểu lộ hay phát xạ của những Hữu Thể còn vĩ đại hơn ấy.

132. We come to understand that the ‘behavior’ of entities is not entirely determined by the will of the larger Entity within whose body of manifestation they form a corporate part.

132. Chúng ta đi đến chỗ hiểu rằng “hành vi” của các thực thể không hoàn toàn do ý chí của Thực Thể lớn hơn quyết định, trong thể biểu hiện của Ngài họ tạo thành một phần hợp nhất.

133. The Lord of the Moon-chain, for instance, is to be considered, from one perspective, as an expression of our Planetary Logos and yet as an independent, Karma-generating Being in His own right.

133. Chẳng hạn, Chúa Tể của Dãy Mặt Trăng phải được xem, từ một góc độ, như một biểu lộ của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, nhưng đồng thời cũng là một Hữu Thể độc lập tự tạo nghiệp quả theo quyền riêng của Ngài.

134. We generate Karma according to the nature, quality and scope of our consciousness.

134. Chúng ta tạo ra Nghiệp Quả tùy theo bản chất, phẩm tính và phạm vi của tâm thức mình.

Globe Karma—The individual destiny of the entity who is a centre in the body of the ensouling Life of a chain.

Nghiệp quả của bầu hành tinh—Định mệnh cá biệt của thực thể là một trung tâm trong thể của Sự Sống phú linh một dãy.

135. DK is informing us that there are Globe-Lords just as there are Lords of Chains and of planetary schemes. (cf. TCF 648)

135. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng có những Chúa Tể Bầu Hành Tinh cũng như có những Chúa Tể Dãy và Chúa Tể các hệ hành tinh. (xem TCF 648)

136. All self-conscious entities incorporated within a greater system have individual destinies as well something we might call ‘shared destiny’—the destiny (and associated Karma) of the greater system in which they are incorporated.

136. Mọi thực thể tự ý thức được bao hàm trong một hệ thống lớn hơn đều có những định mệnh cá biệt cũng như điều mà chúng ta có thể gọi là “định mệnh chung”—định mệnh (và Nghiệp Quả đi kèm) của hệ thống lớn hơn mà trong đó họ được bao hàm.

137. Planetary karma affects the human being over and above his individual karma. We could say that chain karma is necessarily experienced (as an imposition) by a Globe-Lord and that scheme karma is experienced by both a Globe-Lord and the Chain-Lord, while not replacing the individual Karma of either of these Entities.

137. Nghiệp quả hành tinh ảnh hưởng đến con người vượt lên trên nghiệp quả cá biệt của y. Chúng ta có thể nói rằng nghiệp quả của dãy tất yếu được một Chúa Tể Bầu Hành Tinh trải nghiệm (như một sự áp đặt), và nghiệp quả của hệ hành tinh được cả Chúa Tể Bầu Hành Tinh lẫn Chúa Tể Dãy trải nghiệm, trong khi không thay thế Nghiệp Quả cá biệt của một trong hai Thực Thể này.

138. We see that there is a fascinating interplay between compulsion and freedom.

138. Chúng ta thấy có một sự tương tác đầy hấp dẫn giữa cưỡng bách và tự do.

These five existences above enumerated, who are worked upon by karma, are all cosmic and solar Lords of Light, Who achieved intelligence, and passed through the human kingdom many kalpas ago.

Năm hiện hữu được liệt kê ở trên này, những vị chịu sự tác động của nghiệp quả, đều là các Chúa Tể Ánh Sáng vũ trụ và thái dương, những vị đã đạt được trí tuệ, và đã đi qua giới nhân loại từ nhiều kalpa trước.

139. It is affirmed that even great Entities (“solar Lords of Light”) are “worked upon” by karma. This simply means that they are ‘conditioned’ by the nature, quality, pattern and destiny of the One in Whom They live and move and have Their being.

139. Ở đây khẳng định rằng ngay cả những Thực Thể vĩ đại (“các Chúa Tể Ánh Sáng thái dương”) cũng “chịu sự tác động” của nghiệp quả. Điều này đơn giản có nghĩa là các vị ấy được “định hình” bởi bản chất, phẩm tính, mô hình và định mệnh của Đấng mà trong Ngài Các Ngài sống, vận động và hiện hữu.

140. Are the “kalpas” here mentioned equivalent to mahamanvantaras? It may well be the case. A human being is separated in development from a Solar Angel by just such a mahamanvantara.

140. Những “kalpas” được nhắc đến ở đây có tương đương với Đại giai kỳ sinh hóa không? Rất có thể là như vậy. Một con người được tách biệt về mặt phát triển với một Thái dương Thiên Thần bởi chính một Đại giai kỳ sinh hóa như thế.

141. We are being told, apparently, that Chain-Lords and even Globe-Lords are Beings far in advance of man.

141. Dường như ở đây chúng ta được cho biết rằng các Chúa Tể Dãy và ngay cả các Chúa Tể Bầu Hành Tinh cũng là những Hữu Thể vượt xa con người.

142. We note that we are not told that such Lords were individual human beings but that They passed through the human kingdom. This is so because such greater Entities are to be considered corporate Entities—made of many human beings or (so we are told) of cooperative congeries of Solar Angels.

142. Chúng ta lưu ý rằng không hề nói với chúng ta rằng những Chúa Tể như thế từng là những con người cá biệt, mà là Các Ngài đã đi qua giới nhân loại. Điều này là như vậy bởi vì những Thực Thể lớn hơn ấy phải được xem là những Thực Thể hợp nhất—được tạo thành từ nhiều con người hay (như chúng ta được cho biết) từ những tập hợp hợp tác của các Thái dương Thiên Thần.

Plane Karma—This is inextricably mixed up with the [Page 470] karma of the planetary Logos and of the Raja-Lord, and is dependent upon the interplay between these two opposite poles,—the masculine and feminine aspect of the Divine Hermaphrodite.

Nghiệp quả cõi—Điều này gắn chặt không thể tách rời với [Page 470] nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế và của Raja-Lord, và tùy thuộc vào sự tương tác giữa hai cực đối nghịch này,—phương diện nam và nữ của Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng.

143. Here is an important revelation: Raja-Lords are to be considered the polar opposites of Planetary Logoi. Together They are the major components of the “Divine Hermaphrodite”. The Planetary Logos is to be considered a “Divine Hermaphrodite” because of His intimate association with the Raja-Deva Lords.

143. Đây là một mặc khải quan trọng: các Raja-Lord phải được xem là những cực đối nghịch với các Hành Tinh Thượng đế. Cùng nhau Các Ngài là những thành phần chính của “Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng”. Hành Tinh Thượng đế phải được xem là một “Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng” vì mối liên hệ mật thiết của Ngài với các Raja-Deva Lords.

144. When considering the “Divine Hermaphrodite” the Planetary Logos is to be considered as the masculine pole and the Raja Deva Lords as the feminine pole.

144. Khi xét đến “Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng”, Hành Tinh Thượng đế phải được xem là cực nam và các Raja Deva Lords là cực nữ.

145. Not only to Planetary Logoi have karma but, predictably, so do Raja Deva Lords.

145. Không chỉ các Hành Tinh Thượng đế mới có nghiệp quả mà, như có thể dự đoán, các Raja Deva Lords cũng vậy.

146. The term “Divine Hermaphrodite” has needed explaining, and now we are given an important explanation.

146. Thuật ngữ “Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng” vốn cần được giải thích, và giờ đây chúng ta được trao cho một lời giải thích quan trọng.

147. The “Hermes” of the “Divine Hermaphrodite” is masculine. The “Aphrodite” is feminine. Hermes is Mercury—a male. Aphrodite is Venus, a female.

147. “Hermes” trong “Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng” là nam tính. “Aphrodite” là nữ tính. Hermes là Mercury—một nam thần. Aphrodite là Venus, một nữ thần.

148. Had we realized that Venus is intimately related to both form and the devas? Yet, in practice, Mercury, with its “wings” cannot evolution dissociated from the devas.

148. Liệu chúng ta đã nhận ra rằng Venus liên hệ mật thiết với cả hình tướng lẫn các thiên thần chưa? Tuy nhiên, trên thực tế, Mercury, với “đôi cánh” của nó, không thể tiến hoá tách rời khỏi các thiên thần.

The Karma of a subplane, or the destiny of certain lesser entities who manifest through these planes.

Nghiệp quả của một cõi phụ, hay định mệnh của một số thực thể nhỏ hơn biểu lộ qua các cõi ấy.

149. These lesser entities may be conceived as related to Raja Deva Lords just as Chain-Lords are related to Planetary Logoi. In both cases a lesser septenate is expressive of a greater unity.

149. Những thực thể nhỏ hơn này có thể được quan niệm là liên hệ với các Raja Deva Lords cũng như các Chúa Tể Dãy liên hệ với các Hành Tinh Thượng đế. Trong cả hai trường hợp, một bộ bảy nhỏ hơn biểu lộ một hợp nhất lớn hơn.

150. Planar destiny is devic destiny. The factors of destiny, division and entity cannot be separated.

150. Định mệnh cõi là định mệnh thiên thần. Các yếu tố định mệnh, phân chia và thực thể không thể tách rời nhau.

In these two types of karma,

Trong hai loại nghiệp quả này,

151. We are speaking of the karma of planes and of subplanes.

151. Chúng ta đang nói về nghiệp quả của các cõi và các cõi phụ.

we have what one might term the “Karma of the Hierarchies” as it has been brought about since the manifesting of the solar system.

chúng ta có điều mà người ta có thể gọi là “Nghiệp quả của các Huyền Giai” như nó đã được tạo ra kể từ khi hệ mặt trời biểu hiện.

152. By “Hierarchies” we mean Creative Hierarchies. Creative Hierarchies are solar systemic congeries of lives and do not pertain only the Planetary Logoi.

152. Bởi “các Huyền Giai” chúng ta muốn nói đến Các Huyền Giai Sáng Tạo. Các Huyền Giai Sáng Tạo là những tập hợp sự sống của hệ mặt trời và không chỉ liên quan đến các Hành Tinh Thượng đế.

153. We must recall that karma is always imposed from ‘above’ partially on the basis of that which has transpired ‘below’ and partially because of the very nature of that which is ‘above’.

153. Chúng ta phải nhớ rằng nghiệp quả luôn được áp đặt từ “trên cao”, một phần dựa trên điều đã xảy ra ở “bên dưới” và một phần do chính bản chất của điều ở “trên cao”.

It is the result of the past of this system, and not so much the working out of effects originating in previous solar systems.

Đó là kết quả của quá khứ của hệ thống này, chứ không hẳn là sự triển khai của những hiệu quả phát sinh trong các hệ mặt trời trước.

154. This is a significant statement tending to minimize in our minds the karmic effects of past solar systems upon the Creative Hierarchies.

154. Đây là một phát biểu quan trọng, có xu hướng làm giảm trong tâm trí chúng ta những hiệu quả nghiệp quả của các hệ mặt trời quá khứ đối với Các Huyền Giai Sáng Tạo.

155. When we were discussing the various types of Entities along the ‘Man-line’ (i.e., Solar Logoi, Planetary Logoi, Chain-Lords and Globe-Lords), the strong karmic influence of past solar systems was suggested.

155. Khi chúng ta đang bàn đến các loại Thực Thể khác nhau dọc theo “đường Con Người” (tức là các Thái dương Thượng đế, các Hành Tinh Thượng đế, các Chúa Tể Dãy và các Chúa Tể Bầu Hành Tinh), ảnh hưởng nghiệp quả mạnh mẽ của các hệ mặt trời quá khứ đã được gợi ý.

156. We are invited to examine the closer relationship between the evolution of the Creative Hierarchies and the condition of the planes and sub-planes.

156. Chúng ta được mời khảo sát mối liên hệ gần gũi hơn giữa sự tiến hoá của Các Huyền Giai Sáng Tạo và điều kiện của các cõi và cõi phụ.

157. Yet, some of the lower Creative Hierarchy are definitely related to conditions in the past solar system, and the highest of the Creative Hierarchy discussed in TCF and EA achieved liberation in the previous solar system—so there is a relationship which cannot be ignored.

157. Tuy nhiên, một số Huyền Giai Sáng Tạo thấp chắc chắn có liên hệ với các điều kiện trong hệ mặt trời quá khứ, và cao nhất trong các Huyền Giai Sáng Tạo được bàn đến trong TCF và EA đã đạt giải thoát trong hệ mặt trời trước—vì thế có một mối liên hệ không thể bỏ qua.

The Karma of the kingdoms of nature as we know them on our planet:

Nghiệp quả của các giới trong thiên nhiên như chúng ta biết trên hành tinh của mình:

a. The mineral kingdom.

a. giới kim thạch.

b. The vegetable kingdom.

b. giới thực vật.

c. The animal kingdom.

c. giới động vật.

158. It is significant that certain kingdoms of nature are not mentioned—the Kingdom of Souls, the Kingdom of Planetary Lives, the Kingdom of Solar Lives and as well the Human Kingdom.

158. Điều đáng chú ý là một số giới trong thiên nhiên không được nhắc đến—Thiên Giới, giới Các Sự Sống Hành tinh, giới Các Sự sống Thái Dương và cả giới nhân loại nữa.

159. Of course, the karma of such kingdoms has already been mentioned, though not in relation to the idea of “kingdoms” per se.

159. Dĩ nhiên, nghiệp quả của những giới như thế đã được nhắc đến rồi, dù không liên hệ với ý niệm “giới” chính nó.

This is necessarily the karma of the different lunar Lords who ensoul these kingdoms, and who are working out their purposes through them.

Đây tất yếu là nghiệp quả của các nguyệt tinh quân khác nhau phú linh những giới này, và đang triển khai các mục đích của họ qua chúng.

160. We note that even “lunar Lords” ensoul kingdoms. Lunar Lords are possessed of the soul aspect just as are the members of higher kingdoms (though what might be called the ‘scope of soul’ is far more curtailed).

160. Chúng ta lưu ý rằng ngay cả các “nguyệt tinh quân” cũng phú linh các giới. Các nguyệt tinh quân sở hữu phương diện linh hồn cũng như các thành viên của những giới cao hơn (dù điều có thể gọi là “phạm vi của linh hồn” bị giới hạn hơn rất nhiều).

We must note that we have touched therefore upon cosmic, solar, and lunar karma. In the latter is hid the great mystery of the Moon, and her place in the planetary scheme.

Vì vậy, chúng ta phải lưu ý rằng mình đã chạm đến nghiệp quả vũ trụ, thái dương và thái âm. Trong loại sau cùng này ẩn giấu huyền nhiệm lớn lao của Mặt Trăng, và vị trí của nó trong hệ hành tinh.

161. These are the three types of karma which can engage the understanding of man.

161. Đây là ba loại nghiệp quả có thể thu hút sự thấu hiểu của con người.

162. We have learned various things about the “mystery of the Moon”, but, increasingly, we come to understand that it is a “great” mystery. Much of the mystery of our Heavenly Man (who ensouls “the most mysterious of all the planets”) is probably connected with the “great mystery of the Moon”. These mysteries will be revealed in due time. All we can do presently is to gather the evidence.

162. Chúng ta đã học được nhiều điều về “huyền nhiệm của Mặt Trăng”, nhưng càng lúc chúng ta càng hiểu rằng đó là một huyền nhiệm “lớn lao”. Phần lớn huyền nhiệm của Đấng Thiên Nhân của chúng ta (Đấng phú linh “hành tinh bí ẩn nhất trong mọi hành tinh”) có lẽ liên hệ với “huyền nhiệm lớn lao của Mặt Trăng”. Những huyền nhiệm này sẽ được mặc khải đúng lúc. Hiện nay tất cả những gì chúng ta có thể làm là thu thập chứng cứ.

The Karma of the Human Hierarchy54,55,56 in its seven groups, and of the individual Monads.

Nghiệp quả của Huyền Giai Nhân Loại54,55,56 trong bảy nhóm của nó, và của các chân thần cá biệt.

163. How shall we look at the “seven groups” of the Human Hierarchy?

163. Chúng ta nên nhìn “bảy nhóm” của Huyền Giai Nhân Loại như thế nào?

a.          According to monadic rays?

a.          Theo các cung chân thần chăng?

b.         According to soul rays?

b.         Theo các cung linh hồn chăng?

c.          According to the seven root races?

c.          Theo bảy giống dân gốc chăng?

164. In a way we cannot consider the Monads as “individual”, and yet for purposes of normal human understanding, the Monads are considered individual. If there is no “my soul and thine” how much less is there no ‘my Monad and thine’?!

164. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta không thể xem các chân thần là “cá biệt”, nhưng vì mục đích thấu hiểu thông thường của con người, các chân thần được xem là cá biệt. Nếu không có “linh hồn của tôi và của bạn” thì lại càng không có “chân thần của tôi và của bạn” biết bao!

This in itself is a vast and intricate subject and—during the particular cycle of the Earth globe—can be divided into:

Bản thân điều này là một chủ đề bao la và phức tạp, và—trong chu kỳ đặc thù của bầu hành tinh Trái Đất—có thể được chia thành:

165. The particular cycle on the Earth globe through which we are presently passing is the fourth round (as this round ‘passes through’ the Earth-globe).

165. Chu kỳ đặc thù trên bầu hành tinh Trái Đất mà hiện nay chúng ta đang đi qua là cuộc tuần hoàn thứ tư (khi cuộc tuần hoàn này “đi qua” bầu hành tinh Trái Đất).

[Page 471]

[Page 471]

a. World karma. (The seven root-races.)

a. Nghiệp quả thế giới. (Bảy giống dân gốc.)

166. We realize that on our globe we have already passed through a great deal of “world karma”, since five root races have nearly concluded.

166. Chúng ta nhận ra rằng trên bầu hành tinh của mình, chúng ta đã đi qua rất nhiều “nghiệp quả thế giới”, vì năm giống dân gốc gần như đã kết thúc.

b. Racial karma, or the destiny and purpose of each root-race.

b. Nghiệp quả chủng tộc, hay định mệnh và mục đích của mỗi giống dân gốc.

167. We have learned much about the functioning of various of the root races. It would be well to frame for ourselves the purpose of each root race. What has been the destiny of the Lemurian and Atlantean root races? We know something of the developments achieved during them and of how they met their end. Their purpose appears to have been the development and cultivation of certain aspects of the human energy system and the consciousness pertaining to those aspects, or perhaps (since the expansion of consciousness is the goal of this solar system, the purpose of the rootraces should be expressed primarily in terms of consciousness and only secondary in terms of the improvement of the quality of the form which expresses that consciousness). The physical-etheric vehicle and the consciousness pertaining to it were developed in Lemuria and the astral vehicle and the consciousness pertaining to it were developed in Atlantis.

167. Chúng ta đã học được nhiều điều về hoạt động của các giống dân gốc khác nhau. Sẽ là điều tốt nếu tự mình xác định mục đích của mỗi giống dân gốc. Định mệnh của các giống dân gốc Lemuria và Atlantis là gì? Chúng ta biết phần nào về những phát triển đã đạt được trong các thời kỳ ấy và về cách chúng đi đến chỗ kết thúc. Mục đích của chúng dường như là sự phát triển và trau dồi một số phương diện của hệ thống năng lượng con người và tâm thức liên hệ với những phương diện ấy, hoặc có lẽ (vì sự mở rộng tâm thức là mục tiêu của hệ mặt trời này, nên mục đích của các giống dân gốc trước hết nên được diễn tả theo tâm thức và chỉ thứ yếu theo sự cải thiện phẩm tính của hình tướng biểu lộ tâm thức ấy). Vận cụ hồng trần-dĩ thái và tâm thức liên hệ với nó đã được phát triển trong Lemuria, còn vận cụ cảm dục và tâm thức liên hệ với nó đã được phát triển trong Atlantis.

168. The Aryan root race has been destined to cultivate the principle of mentality in all its aspects. The Word of Power “Three Minds Unite” applies to this root race particularly.

168. Giống dân gốc Arya đã được định sẵn để trau dồi nguyên khí trí tuệ trong mọi phương diện của nó. Quyền năng từ “ba trí hợp nhất” đặc biệt áp dụng cho giống dân gốc này.

c. Subrace karma, for each subrace has its own destiny to work out.

c. Nghiệp quả giống dân phụ, vì mỗi giống dân phụ đều có định mệnh riêng cần triển khai.

169. This idea follows naturally. At the present time sub-races three, four and five of the Aryan root race are engaged in interactions with far reaching implications for the destiny of humanity.

169. Ý tưởng này tiếp nối một cách tự nhiên. Hiện nay, các giống dân phụ thứ ba, thứ tư và thứ năm của giống dân gốc Arya đang tham gia vào những tương tác có hàm ý sâu rộng đối với định mệnh của nhân loại.

d. National karma.

d. Nghiệp quả quốc gia.

170. This type of karma may be considered to work out at the “branch race” level, though a branch race may include a number of nations.

170. Loại nghiệp quả này có thể được xem là triển khai ở cấp độ “chủng tộc nhánh”, dù một chủng tộc nhánh có thể bao gồm một số quốc gia.

171. A study of human history (even in the very truncated form available to us) will reveal much of the rise, flourishing and fall of nations.

171. Việc nghiên cứu lịch sử nhân loại (ngay cả dưới hình thức rất rút gọn mà chúng ta có được) sẽ cho thấy nhiều điều về sự trỗi dậy, hưng thịnh và suy tàn của các quốc gia.

e. Family karma.

e. Nghiệp quả gia đình.

172. This would be a fascinating study but would require a reliable ability to trace the incarnations of related human beings.

172. Đây sẽ là một nghiên cứu hấp dẫn nhưng đòi hỏi một khả năng đáng tin cậy trong việc truy dấu các lần lâm phàm của những con người có liên hệ với nhau.

173. Something of this type of karma may be understood from the study of significant dynasties—great “families” prominent in the history of our planet.

173. Một phần của loại nghiệp quả này có thể được hiểu qua việc nghiên cứu những triều đại quan trọng—những “gia đình” lớn nổi bật trong lịch sử hành tinh chúng ta.

f. Individual karma.

f. Nghiệp quả cá nhân.

174. This seems to be the type of karma which captures the greatest share of students’ attention though, relatively, it is of the smallest moment.

174. Đây dường như là loại nghiệp quả thu hút phần chú ý lớn nhất của các đạo sinh, dù xét tương đối, nó lại là điều nhỏ nhất.

All these different types of karma are intermingled and bound up in a manner inconceivable and inextricable [Page 472] to man;

Tất cả những loại nghiệp quả khác nhau này đan xen và gắn chặt với nhau theo một cách không thể quan niệm nổi và không thể tháo gỡ [Page 472] đối với con người;

175. To the Lords of Karma and Their higher agents, the intermingling of these various types of karma is ‘conceivable’.

175. Đối với các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả và các tác nhân cao hơn của Các Ngài, sự đan xen của những loại nghiệp quả khác nhau này là điều “có thể quan niệm được”.

even the adepts cannot untangle the mystery beyond that of the groups affiliated with them,

ngay cả các chân sư cũng không thể tháo gỡ huyền nhiệm vượt quá phạm vi những nhóm liên kết với Các Ngài,

176. This untangling presumably includes a knowledge of the karma of the individuals in such groups.

176. Việc tháo gỡ này hẳn nhiên bao gồm sự hiểu biết về nghiệp quả của các cá nhân trong những nhóm như thế.

177. Not all karma needs to be known by an adept—only that which might be called relevant karma—the karma relevant to the carrying out of present group purposes.

177. Không phải mọi nghiệp quả đều cần được một chân sư biết đến—chỉ cần biết điều có thể gọi là nghiệp quả liên hệ—nghiệp quả liên hệ đến việc thực hiện các mục đích nhóm hiện tại.

178. While it may be necessary for the adepts to understand something of the karma of the units participating in Their groups, the focus of Their attention is not particularly upon the individual. To Them, group karma is naturally more important.

178. Tuy có thể cần thiết để các chân sư hiểu phần nào về nghiệp quả của những đơn vị tham gia trong các nhóm của Các Ngài, nhưng trọng tâm chú ý của Các Ngài không đặc biệt đặt trên cá nhân. Đối với Các Ngài, nghiệp quả nhóm tự nhiên quan trọng hơn.

179. The ideas of tangling and untangling suggests the close relation to the Third Ray of Active Intelligence—the Ray of the Weaver.

179. Những ý niệm về sự rối buộc và tháo gỡ gợi ra mối liên hệ mật thiết với cung ba Hoạt Động Trí Tuệ—Cung của Đấng Dệt.

while the Chohans of the higher degrees work with the karma of the larger groups (which are the aggregates of the lesser groups).

trong khi các Chohan ở những cấp cao hơn làm việc với nghiệp quả của các nhóm lớn hơn (là những tổng thể của các nhóm nhỏ hơn).

180. Presumably, the adepts cannot yet understand this greater type of karma which the Chohans can understand.

180. Hẳn nhiên, các chân sư chưa thể hiểu loại nghiệp quả lớn lao hơn này mà các Chohan có thể hiểu.

181. The karma of the individual units in the group is of still less moment to the Chohan than to the adept, though Chohans would be capable of understanding individual karma if there were a necessity to do so. Master Morya said something to this effect: “Show me the man and I will tell you his past.”

181. Nghiệp quả của các đơn vị cá nhân trong nhóm còn ít quan trọng đối với Chohan hơn là đối với chân sư, dù các Chohan vẫn có khả năng hiểu nghiệp quả cá nhân nếu có nhu cầu phải làm như vậy. Chân sư Morya đã nói điều gì đó theo ý này: “Hãy chỉ cho tôi người ấy và tôi sẽ nói cho bạn biết quá khứ của y.”

182. Hereafter follow extensive footnotes on the subject of karma.

182. Sau đây là những cước chú dài về đề tài nghiệp quả.

54: Karma and Reincarnation, the fourth and fifth doctrines of the Wisdom-religion.

54: Nghiệp quả và Luân hồi, giáo lý thứ tư và thứ năm của Minh Triết Ngàn Đời.

183. Such numbering is interesting. Karma as the Law of Action and Reaction is naturally associated with the number four. The Fourth Path is the Path to Sirius which, for our solar system, is the great Source of karmic administration.

183. Cách đánh số như vậy thật đáng chú ý. Nghiệp quả như Định luật Hành Động và Phản Ứng tự nhiên được liên kết với số bốn. Con Đường thứ tư là Con Đường đến Sirius, vốn đối với hệ mặt trời chúng ta là Nguồn lớn của sự quản trị nghiệp quả.

184. Reincarnation is associated with the number five because the impulse for reincarnation emanates from the higher mental plane—the higher sub-planes of the fifth plane. This is the case not only for the incarnation of a human being but also for a Heavenly Man or Solar Logos (though in Their cases the impulse emanates from the fifth cosmic plane).

184. Luân hồi được liên kết với số năm vì xung lực luân hồi phát ra từ Cõi thượng trí—các cõi phụ cao hơn của cõi thứ năm. Điều này không chỉ đúng đối với sự nhập thể của một con người mà còn đúng đối với một Đấng Thiên Nhân hay Thái dương Thượng đế (dù trong trường hợp của Các Ngài, xung lực phát ra từ cõi vũ trụ thứ năm).

These two are, in reality, the A, B, C, of the Wisdom-religion.

Hai điều này, thật ra, là A, B, C của Minh Triết Ngàn Đời.

185. It can be safely stated that if Karma and Reincarnation are understood, the essence of the Wisdom-Religion can also be understood with relative ease. Western religions have either eliminated or deemphasized both, with detrimental effect upon the followers of those religions.

185. Có thể khẳng định chắc chắn rằng nếu Nghiệp quả và Luân hồi được thấu hiểu, thì tinh túy của Minh Triết Ngàn Đời cũng có thể được thấu hiểu tương đối dễ dàng. Các tôn giáo phương Tây hoặc đã loại bỏ hoặc đã giảm nhẹ cả hai điều này, gây tác hại cho những người theo các tôn giáo ấy.

Karma is the sum total of our acts, both in the present life and in the preceding births. It is of three kinds:—

Nghiệp quả là tổng số các hành vi của chúng ta, cả trong đời sống hiện tại lẫn trong các lần sinh trước. Nó có ba loại:—

1. Sanchita karma

1. Sanchita karma

2. Prarabdha karma

2. Prarabdha karma

3. Agami karma

3. Agami karma

186. We are reminded that the true definition of “karma” is “action”.

186. Chúng ta được nhắc rằng định nghĩa đích thực của “karma” là “hành động”.

187. The principal idea is that a man (or any self-conscious being) faces that which he has created.

187. Ý chính là con người (hay bất kỳ hữu thể ngã thức nào) phải đối diện với điều mà y đã tạo ra.

“Sanchita karma includes human merits and demerits accumulated in the preceding and in all other previous births.

“Sanchita karma bao gồm công và tội của con người được tích lũy trong lần sinh trước và trong tất cả các lần sinh trước đó.

188. Merit and demerit are always determined relative to some standard of behavior. The standard or standards relate specifically to Law—either the laws of the land or the laws of the soul.

188. Công và tội luôn được xác định tương đối theo một tiêu chuẩn hành vi nào đó. Tiêu chuẩn hay các tiêu chuẩn ấy liên hệ đặc biệt đến Định luật—hoặc các luật lệ của quốc gia hoặc các định luật của linh hồn.

189. Merit suggests bestowal and demerit, theft. The meritorious person is contributing to the welfare of the system within which he must, perforce, play his part; a person who has accumulated many demerits has subtly or overtly taken or stolen valuable energy from that same system.

189. Công gợi ý sự ban cho, còn tội gợi ý sự lấy cắp. Người có công đang đóng góp vào phúc lợi của hệ thống mà trong đó y buộc phải đóng vai trò của mình; một người đã tích lũy nhiều tội đã một cách kín đáo hay công khai lấy đi hoặc đánh cắp năng lượng quý giá từ chính hệ thống ấy.

That portion of the Sanchita karma destined to influence human life in one or the present incarnation is called Prarabdha.

Phần của Sanchita karma được định để ảnh hưởng đến đời sống con người trong một hay lần nhập thể hiện tại được gọi là Prarabdha.

190. Each human being has a large backlog of merit and demerit. The karma based upon demerit naturally decreases as the human unit reaches higher stages of evolution. Much demerit is offset by the more highly evolved soul who (as well) no longer generates the karma of demerit.

190. Mỗi con người đều có một tồn kho lớn về công và tội. Nghiệp quả dựa trên tội tự nhiên giảm đi khi đơn vị nhân loại đạt đến các giai đoạn tiến hoá cao hơn. Nhiều tội được hóa giải bởi linh hồn tiến hóa cao hơn, Đấng cũng không còn tạo ra nghiệp quả của tội nữa.

191. It becomes clear that no one incarnation will serve to express the sum of all merit and demerit. All such expression is justly, wisely and mathematically apportioned so as to promote the best conditions for the evolution of the soul, the group, humanity and the planet as a whole. The mathematics involved must be of an extraordinary intricacy.

191. Rõ ràng là không một lần nhập thể nào có thể biểu lộ tổng số toàn bộ công và tội. Mọi sự biểu lộ như thế đều được phân phối một cách công bằng, minh triết và toán học nhằm thúc đẩy những điều kiện tốt nhất cho sự tiến hoá của linh hồn, của nhóm, của nhân loại và của toàn thể hành tinh. Toán học liên hệ ở đây hẳn phải có mức độ phức tạp phi thường.

The third kind of karma is the result of the merits and demerits of the present acts.

Loại nghiệp quả thứ ba là kết quả của công và tội của các hành vi hiện tại.

192. This is the karma being generated in the present—from moment to moment. Once generated it becomes part of Sanchita karma.

192. Đây là nghiệp quả đang được tạo ra trong hiện tại—từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác. Một khi đã được tạo ra, nó trở thành một phần của Sanchita karma.

Agami extends over all your words, thoughts, and acts.

Agami bao trùm mọi lời nói, tư tưởng và hành vi của bạn.

193. We note that Agami karma does not extend over emotional re-actions unless such reactions are perpetuated in such a manner as to become acts.

193. Chúng ta lưu ý rằng Agami karma không bao trùm các phản ứng cảm xúc trừ khi những phản ứng ấy được kéo dài theo cách khiến chúng trở thành các hành vi.

What you think, what you speak, what you do, as well as whatever results your thoughts, words, and acts produce on yourself, and on those affected by them, fall under the category of the present karma, which will be sure to sway the balance of your life for good or for evil in your future development.”—The Theosophist, Vol. X, p. 235.

Điều bạn nghĩ, điều bạn nói, điều bạn làm, cũng như bất cứ kết quả nào mà các tư tưởng, lời nói và hành vi của bạn tạo ra trên chính bạn và trên những người bị chúng tác động, đều thuộc vào loại nghiệp quả hiện tại, vốn chắc chắn sẽ làm nghiêng cán cân đời sống của bạn theo hướng thiện hay ác trong sự phát triển tương lai của bạn.”—The Theosophist, Vol. X, p. 235.

194. We can see how closely related are thoughts, words and acts to the third ray—the Ray of Activity as well as the Ray of Thought. The third ray also rules the throat center from which words arise.

194. Chúng ta có thể thấy tư tưởng, lời nói và hành vi liên hệ chặt chẽ thế nào với cung ba—Cung của Hoạt Động cũng như Cung của Tư Tưởng. Cung ba cũng cai quản trung tâm cổ họng, từ đó lời nói phát sinh.

195. The domain of karma is the third aspect—the matter and intelligence aspect of divinity. Adjustments are made within this aspect in order to promote the better and fuller expression of the other two aspects through the third aspect.

195. Phạm vi của nghiệp quả là phương diện thứ ba—phương diện vật chất và trí tuệ của thiên tính. Những sự điều chỉnh được thực hiện trong phương diện này để thúc đẩy sự biểu lộ tốt hơn và đầy đủ hơn của hai phương diện kia qua phương diện thứ ba.

196. In this section we are examining karma from a very individual perspective, but the thought can be extended to the karma of Entities far greater than a human being.

196. Trong phần này chúng ta đang khảo sát nghiệp quả từ một góc nhìn rất cá nhân, nhưng tư tưởng này có thể được mở rộng đến nghiệp quả của những Thực Thể lớn lao hơn con người rất nhiều.

55: “Karma (action) is of three kinds:—

55: Nghiệp quả (hành động) có ba loại:—

1. Agami:—The bodily actions good and bad—done after the acquisition of the discriminative knowledge. (Vide Sri Sankaracharya’s Tatwa Bodh, question 34).

1. Agami:—Những hành động của thân, tốt và xấu—được thực hiện sau khi đạt được tri thức phân biện. (Xem Sri Sankaracharya’s Tatwa Bodh, câu hỏi 34).

197. We note that there can be no individual karma unless there is discriminative knowledge. This knowledge means that individualization has occurred at that the consciousness can discriminate between a self and a not-self—between an “I” and a “not-I”.

197. Chúng ta lưu ý rằng không thể có nghiệp quả cá nhân nếu không có tri thức phân biện. Tri thức này có nghĩa là sự biệt ngã hóa đã xảy ra và tâm thức có thể phân biệt giữa một ngã và một phi-ngã—giữa một “tôi” và một “không-phải-tôi”.

198. Quite simply, if we are self-consciousness beings, knowledge is responsibility. We are obliged to act according to what we know. If according to our present knowledge, we act well, the result is the karma of merit; if we act poorly or badly (i.e., beneath the standard of our present knowledge) the result is the karma of demerit).

198. Nói đơn giản, nếu chúng ta là những hữu thể ngã thức, thì tri thức là trách nhiệm. Chúng ta buộc phải hành động theo điều chúng ta biết. Nếu theo tri thức hiện tại của mình, chúng ta hành động đúng đắn, kết quả là nghiệp quả của công; nếu chúng ta hành động kém hay sai (tức là dưới tiêu chuẩn của tri thức hiện tại của mình) thì kết quả là nghiệp quả của tội).

199. When we speak of “bodily actions” we can consider the entire personality is the body. We act through out minds and speech (inner and outer) as well as through the physical vehicle.

199. Khi nói đến “những hành động của thân”, chúng ta có thể xem toàn bộ phàm ngã là thể. Chúng ta hành động qua thể trí và lời nói (bên trong và bên ngoài) cũng như qua vận cụ hồng trần.

2. Sanchita:—The actions formerly done, serving as seeds to grow the countless births; the store of former actions preserved. Ibid., question 35).

2. Sanchita:—Những hành động đã làm trước đây, đóng vai trò như những hạt giống làm nảy sinh vô số lần sinh; kho tàng những hành động trước kia được lưu giữ. Ibid., câu hỏi 35).

200. Actions are as seeds to “grow the countless births”. It is as if incarnations are generated to deal with the effects of former actions.

200. Các hành động giống như những hạt giống để “làm nảy sinh vô số lần sinh”. Dường như các lần nhập thể được tạo ra để xử lý các hậu quả của những hành động trước kia.

201. Every action has its effects and the effects must be confronted by the originator of the action.

201. Mọi hành động đều có hậu quả của nó và những hậu quả ấy phải được chính người khởi tạo hành động đối diện.

202. Births are generated for various purposes (one of which is “soul-purpose”), but one such purpose is to balance the effects generated by actions. Dissonant effects must be harmonized with the purpose of the Divine Plan.

202. Các lần sinh được tạo ra vì nhiều mục đích khác nhau (một trong số đó là “mục đích của linh hồn”), nhưng một mục đích như thế là quân bình các hậu quả do hành động tạo ra. Những hậu quả bất hòa phải được hài hòa với mục đích của Thiên Cơ.

And 3. Prarabdha:—The actions of this body (i.e. birth) which give pleasure or pain in this life alone. (Ibid., question 36.).”—The Theosophist, Vol. VIII, p. 170.

Và 3. Prarabdha:—Những hành động của thể này (tức là lần sinh này) đem lại lạc thú hay đau khổ chỉ trong đời này mà thôi. (Ibid., câu hỏi 36.).”—The Theosophist, Vol. VIII, p. 170.

203. It must be remembered that these actions have originated in past incarnations. Prarabdha karma is an aspect of a larger category of karma—Sanchita karma (the sum of accumulated karma—both positive and negative).

203. Cần nhớ rằng những hành động này đã phát sinh trong các lần nhập thể quá khứ. Prarabdha karma là một phương diện của một loại nghiệp quả lớn hơn—Sanchita karma (tổng số nghiệp quả tích lũy—cả tích cực lẫn tiêu cực).

56: Karma. “It must be remembered that in every action of man the influence of his prior karma constitutes an important element. For the accomplishment of every action, says, Sri Krishna, we need five essentials:—

56: Nghiệp quả. “Cần nhớ rằng trong mọi hành động của con người, ảnh hưởng của nghiệp quả trước đó của y tạo thành một yếu tố quan trọng. Để hoàn thành mọi hành động, Sri Krishna nói, chúng ta cần năm điều thiết yếu:—

1. The actor.

1. Tác nhân.

2. The determined will.

2. Ý chí kiên định.

3. Implements for committing the act, such as hands, tongue, etc.

3. Những công cụ để thực hiện hành động, như tay, lưỡi, v.v.

204. The five organs of action are the mouth, hands, legs, anus and genitals. (cf. TCF 194, footnote)

204. Năm cơ quan hành động là miệng, tay, chân, hậu môn và cơ quan sinh dục. (xem TCF 194, cước chú)

4. The exercise of these implements.

4. Sự vận dụng những công cụ này.

5. The influence of antecedent conduct.

5. Ảnh hưởng của hạnh kiểm trước đó.

205. There may have been a time when the Christ (Sri Krishna) possessed the fifth ray (as seems natural to one taking repeating incarnations in the first subrace of the fifth root-race). The fifth ray seems indicated in the manner in which the accomplishment of action is described above.

205. Có thể đã có một thời Đức Christ (Sri Krishna) sở hữu cung năm (điều này dường như tự nhiên đối với một Đấng mang các lần nhập thể lặp lại trong giống dân phụ thứ nhất của giống dân gốc thứ năm). Cung năm dường như được chỉ ra trong cách sự hoàn thành hành động được mô tả ở trên.

206. Man does not commit acts in a manner totally unconditioned by the past; antecedent conduct affects the manner in which acts are committed in the present.

206. Con người không thực hiện hành động theo cách hoàn toàn không bị quá khứ tác động; hạnh kiểm trước đó ảnh hưởng đến cách các hành động được thực hiện trong hiện tại.

207. Point #2 suggests that a “determined will” is necessary for the commission of acts. It would seem that the ‘desire to commit’ might also be effective and operative (and would be operative in the majority of instances).

207. Điểm số 2 gợi ý rằng một “ý chí kiên định” là cần thiết cho việc thực hiện các hành động. Dường như ‘ham muốn thực hiện’ cũng có thể hữu hiệu và tác động được (và sẽ tác động trong đa số trường hợp).

208. When there is no determined will or sufficient desire, action may still occur but it will be the repetition of past tendencies and will result in the perpetuation in the present of karma related to past action.

208. Khi không có ý chí kiên định hay ham muốn đủ mạnh, hành động vẫn có thể xảy ra nhưng đó sẽ là sự lặp lại của các khuynh hướng quá khứ và sẽ dẫn đến sự kéo dài trong hiện tại của nghiệp quả liên hệ đến hành động quá khứ.

The work which a man does with his body, speech or mind, whether it be just or unjust, has these five essentials or factors engaged in the performance. (Gita, XVIII, 13, 14, 15.)

Công việc mà con người làm bằng thân, lời nói hay trí tuệ, dù công chính hay bất công, đều có năm điều thiết yếu hay yếu tố này tham gia vào việc thực hiện. (Gita, XVIII, 13, 14, 15.)

209. We may ponder with care over these five essentials or factors as we analyze the karma we are in the process of generating.

209. Chúng ta có thể cẩn trọng suy ngẫm về năm điều thiết yếu hay yếu tố này khi phân tích nghiệp quả mà chúng ta đang trong tiến trình tạo ra.

These five essentials of karma are divided into 2 groups in the Mahabharata:—1, man’s present action (including the first four essentials) and, 2, the result of his past action (which forms the fifth essential).

Năm điều thiết yếu của nghiệp quả này được chia thành 2 nhóm trong Mahabharata:—1, hành động hiện tại của con người (bao gồm bốn điều thiết yếu đầu tiên) và, 2, kết quả của hành động quá khứ của y (tạo thành điều thiết yếu thứ năm).

210. The production of action, therefore, depends upon predispositions present in the moment and tendencies from the past.

210. Vì vậy, việc tạo ra hành động tùy thuộc vào những thiên hướng hiện diện trong khoảnh khắc hiện tại và những xu hướng từ quá khứ.

“At the same time it must be remarked that the result of human existence is not the work of a day or even a cycle. It is the aggregate sum of actions committed during innumerable previous existences.

“Đồng thời cũng phải nhận xét rằng kết quả của sự tồn tại con người không phải là công việc của một ngày hay thậm chí của một chu kỳ. Nó là tổng số cộng gộp của những hành động đã được thực hiện trong vô số kiếp sống trước.

211. We are learning that the past is highly effective in producing action originating in the present moment. We can understand why a foundation of good spiritual habits is a great asset to the man who seeks to extricate himself from karma of a binding kind.

211. Chúng ta đang học rằng quá khứ có hiệu lực rất lớn trong việc tạo ra hành động phát sinh trong khoảnh khắc hiện tại. Chúng ta có thể hiểu vì sao một nền tảng những thói quen tinh thần tốt là một tài sản lớn đối với con người đang tìm cách tự giải thoát khỏi nghiệp quả có tính ràng buộc.

Each action may in itself be as slight as can be conceived, like the minutest filaments of cotton,—such that hundreds of them may be blown away by a single breath; and yet, as similar filaments when closely packed and twisted together form a rope, so heavy and strong that it can be used to pull elephants and even huge ships with, so the articles of man’s karma, however trivial each of them may be in itself, would yet by the natural process of accretion, combine themselves closely and form a formidable Pasa (rope) to pull the man with, i.e. to influence his conduct for good or evil.”—The Theosophist, Vol. VII, p. 60.

Mỗi hành động tự nó có thể nhỏ bé đến mức có thể tưởng tượng được, như những sợi bông nhỏ nhất,—đến nỗi hàng trăm sợi như thế có thể bị thổi bay chỉ bởi một hơi thở; thế nhưng, cũng như những sợi tương tự khi được nén chặt và xoắn lại với nhau tạo thành một sợi dây nặng và bền đến mức có thể dùng để kéo voi và cả những con tàu lớn, thì những phần tử trong nghiệp quả của con người, dù mỗi phần tử tự nó có thể tầm thường đến đâu, vẫn sẽ, qua tiến trình bồi tích tự nhiên, kết hợp chặt chẽ với nhau và tạo thành một Pasa (sợi dây) đáng sợ để kéo con người, tức là để ảnh hưởng đến hạnh kiểm của y theo hướng thiện hay ác.”—The Theosophist, Vol. VII, p. 60.

212. We learn that acts, negligible in themselves, tend to aggregate and accrete so that, in combination, they form strong tendencies or inclinations towards the accomplishment of good or evil.

212. Chúng ta học được rằng những hành vi, tự chúng không đáng kể, có khuynh hướng kết tụ và bồi tích để rồi, khi kết hợp lại, chúng tạo thành những xu hướng hay khuynh hướng mạnh mẽ hướng đến việc thực hiện điều thiện hay điều ác.

213. We judge that even the slightest action must be considered of consequence; thoughts are slighter far than physical actions, but the inclination of the smallest thought towards good or evil cannot be ignored.

213. Chúng ta phán đoán rằng ngay cả hành động nhỏ nhất cũng phải được xem là có hệ quả; tư tưởng còn nhỏ nhẹ hơn nhiều so với hành động hồng trần, nhưng khuynh hướng của tư tưởng nhỏ nhất hướng về thiện hay ác không thể bị bỏ qua.

All the lesser grades of devas, “The Army of the Voice,” on each plane, the lesser builders and elementals in their myriads, work unconsciously, being guided and directed by words and sound.

Tất cả các cấp thiên thần thấp hơn, “Đạo quân của Tiếng Nói,” trên mỗi cõi, các vị tiểu kiến tạo và các hành khí vô số của họ, làm việc một cách vô thức, được hướng dẫn và chỉ đạo bởi lời nói và âm thanh.

214. We must remember that the “Army of the Voice” does not consist only of devas of the lesser grades. They are active also upon the planes of the spiritual triad (even if not on the logoic plane).

214. Chúng ta phải nhớ rằng “Đạo quân của Tiếng Nói” không chỉ gồm các thiên thần ở những cấp thấp hơn. Họ cũng hoạt động trên các cõi của Tam nguyên tinh thần (dù không ở cõi logoic).

215. Within themselves, these higher members of the “Army of the Voice” are agents for the expression of the Divine Will. We are told the following:

215. Trong chính bản thân mình, những thành viên cao hơn này của “Đạo quân của Tiếng Nói” là các tác nhân cho sự biểu lộ của Ý Chí thiêng liêng. Chúng ta được cho biết như sau:

In a peculiar sense, they are the embodiment of the divine purpose upon the planes of the Monad and of the Triad,… (R&I 179)

Theo một ý nghĩa đặc biệt, họ là hiện thân của thiên ý trên các cõi của chân thần và của Tam nguyên tinh thần,… (R&I 179)

216. Because words and sounds are produced by the throat center, and the throat center is ruled by the third ray, this “Army” (guided and directed by words and sound) is directly related to the third ray and to the third aspect of divinity. It is, after all, the “Army of the Voice”.

216. Bởi vì lời nói và âm thanh được tạo ra bởi trung tâm cổ họng, và trung tâm cổ họng được cai quản bởi cung ba, nên “Đạo quân” này (được hướng dẫn và chỉ đạo bởi lời nói và âm thanh) liên hệ trực tiếp với cung ba và với phương diện thứ ba của thiên tính. Rốt cuộc, đó là “Đạo quân của Tiếng Nói”.

In this way vibrations are set up in the essence of the planes by the conscious Builders.

Theo cách này, các rung động được thiết lập trong tinh chất của các cõi bởi các đấng kiến tạo hữu thức.

217. The “essence of the planes” is the intelligent essence of the elemental kingdoms. The “conscious Builders” impose vibrations of various, largely constructive kinds on this elemental essence.

217. “Tinh chất của các cõi” là tinh chất thông minh của các giới hành khí. Các “đấng kiến tạo hữu thức” áp đặt những rung động thuộc nhiều loại khác nhau, phần lớn mang tính kiến tạo, lên tinh chất hành khí này.

There is not much to be added at this point anent the deva evolution; much that might be imparted is perforce withheld owing to the danger arising from superficial knowledge, unaccompanied by wisdom and the inner vision.

Không có nhiều điều để thêm vào lúc này liên quan đến tiến hoá thiên thần; nhiều điều có thể được truyền đạt buộc phải bị giữ lại do mối nguy phát sinh từ tri thức hời hợt, không đi kèm minh triết và linh thị nội tại.

218. If more information anent the deva kingdom is to be imparted to us (and throughout TCF much is imparted) we must deepen our knowledge of the inner realities and possess the faculties increased wisdom and inner vision.

218. Nếu thêm thông tin liên quan đến giới thiên thần được truyền đạt cho chúng ta (và xuyên suốt TCF nhiều điều được truyền đạt) thì chúng ta phải đào sâu tri thức của mình về các thực tại bên trong và sở hữu những năng lực của minh triết gia tăng cùng linh thị nội tại.

219. “A little knowledge is a dangerous thing”, especially in relation to engagement with the deva kingdom.

219. “Một ít tri thức là điều nguy hiểm”, đặc biệt trong liên hệ với việc tiếp xúc với giới thiên thần.

There are three more points to add to the four already given, concerning primarily the relationship of the devas to man in the future, and their closer approximation to him through the incoming type of force.

Còn ba điểm nữa cần thêm vào bốn điểm đã nêu, chủ yếu liên quan đến mối quan hệ của các thiên thần với con người trong tương lai, và sự xích lại gần hơn của họ với con người qua loại mãnh lực đang đi vào.

220. We remember that this approximation reaches a high point of development on the buddhic plane.

220. Chúng ta nhớ rằng sự xích lại gần này đạt đến một điểm phát triển cao trên cõi Bồ đề.

221. The seventh ray force (related as it is to the fourth plane—as the plane which, holding the lower chakras of any system, induces precipitation) naturally facilitates this approximation.

221. Mãnh lực cung bảy (liên hệ như nó vốn có với cõi thứ tư—là cõi mà, giữ các luân xa thấp của bất kỳ hệ thống nào, gây ra sự ngưng tụ) tự nhiên tạo điều kiện cho sự xích lại gần này.

This approximation, though inevitable, will not have for the human hierarchy results entirely beneficent, and before the true method of contact is comprehended, and the consequent association wisely utilised, much suffering will eventuate and much bitter experience will be undergone.

Sự xích lại gần này, dù không thể tránh khỏi, sẽ không mang lại cho thang tiến hoá nhân loại những kết quả hoàn toàn tốt lành, và trước khi phương pháp tiếp xúc chân chính được thấu hiểu, và sự liên kết hệ quả được sử dụng một cách minh triết, nhiều đau khổ sẽ xảy ra và nhiều kinh nghiệm cay đắng sẽ phải trải qua.

222. These solemn words are to be taken into consideration by those who over-optimistically and lacking due preparation, seek to engage with the deva kingdom.

222. Những lời nghiêm trọng này cần được những ai quá lạc quan và thiếu chuẩn bị thích đáng mà tìm cách tiếp xúc với giới thiên thần lưu tâm.

223. DK suggests that there will be beneficent results but also those that are quite otherwise. For instance, early experimenters with radioactive elements learned much at great expense to their health.

223. Chân sư DK gợi ý rằng sẽ có những kết quả tốt lành nhưng cũng có những kết quả hoàn toàn ngược lại. Chẳng hạn, những người thử nghiệm sớm với các nguyên tố phóng xạ đã học được nhiều điều với cái giá rất lớn cho sức khỏe của họ.

224. What must emerge is knowledge of the “true method of contact”. Such knowledge is in the possession of the Members of the Spiritual Hierarchy and will be vouchsafed to certain members of humanity when they can truly be trusted.

224. Điều phải xuất hiện là tri thức về “phương pháp tiếp xúc chân chính”. Tri thức ấy nằm trong sự sở hữu của các Thành Viên của Huyền Giai Tinh Thần và sẽ được ban cho một số thành viên của nhân loại khi họ thật sự có thể được tín nhiệm.

When it is remembered that the devas are, in their totality, the mother aspect, the great builders of form, and the nourishers of that which is as yet unable to guard itself,

Khi nhớ rằng các thiên thần, trong tổng thể của họ, là phương diện mẹ, là những đấng kiến tạo vĩ đại của hình tướng, và là những đấng nuôi dưỡng điều còn chưa thể tự bảo vệ mình,

225. Let us tabulate those qualities of the deva kingdom which Master DK would have us remembers:

225. Chúng ta hãy lập bảng những phẩm tính của giới thiên thần mà Chân sư DK muốn chúng ta ghi nhớ:

a.          They are, in their totality, the “mother aspect”

a.          Trong tổng thể của họ, họ là “phương diện mẹ”

b.         They are the great builders of form

b.         Họ là những đấng kiến tạo vĩ đại của hình tướng

c.          They are the “nourishers of that which is as yet unable to guard itself”. Thus it is as that “Mother Aspect” of divinity guards that divine aspect called the “Son”—until the “Son” can function independently not only on its own planes but through those planes on which the “Mother” usually expresses—i.e., the most material planes.

c.          Họ là “những đấng nuôi dưỡng điều còn chưa thể tự bảo vệ mình”. Như thế, chính “Phương diện Mẹ” của thiên tính bảo vệ phương diện thiêng liêng được gọi là “Người Con”—cho đến khi “Người Con” có thể hoạt động độc lập không chỉ trên các cõi riêng của mình mà còn qua những cõi mà “Người Mẹ” thường biểu lộ—tức là các cõi vật chất nhất.

any return of man to a closer dependence upon the devas is as if a full grown man returned to the care of his mother, offering up his self-reliance in exchange for material benefit.

bất kỳ sự quay trở lại nào của con người đến một sự lệ thuộc gần gũi hơn vào các thiên thần cũng giống như một người trưởng thành quay lại với sự chăm sóc của mẹ mình, dâng nộp tính tự lực của mình để đổi lấy lợi ích vật chất.

226. In this little section Master DK offers us a strong word of warning while simultaneously describing much that transpires in the life of millions of human beings today.

226. Trong đoạn ngắn này Chân sư DK đưa ra cho chúng ta một lời cảnh báo mạnh mẽ đồng thời mô tả nhiều điều đang diễn ra trong đời sống của hàng triệu con người ngày nay.

227. Those who seek to return to the care and nurture of the deva kingdom are relinquishing their hard-won freedoms. This is hardly appreciated as intercourse with the deva kingdom seems something relatively new. Our ancient intercourse with them is well-nigh forgotten.

227. Những ai tìm cách quay lại với sự chăm sóc và nuôi dưỡng của giới thiên thần đang từ bỏ những tự do khó nhọc mới giành được của mình. Điều này hầu như không được nhận ra vì sự giao tiếp với giới thiên thần dường như là điều tương đối mới. Sự giao tiếp cổ xưa của chúng ta với họ gần như đã bị quên lãng.

The devas are the mother of the form, but the self-conscious unit, MAN, should realize his independence of the form, and should follow the path of Self-expression.

Các thiên thần là mẹ của hình tướng, nhưng đơn vị ngã thức, CON NGƯỜI, nên nhận ra sự độc lập của mình đối với hình tướng, và nên đi theo con đường Tự-biểu lộ.

228. If we look at these statements in astrological terms we are speaking of the contrast between lunar and solar living. There is also an implied contrast between the signs Cancer and Virgo (both of them “Mothers of the Form”) and the sign Leo, the sign of “Self-expression”.

228. Nếu nhìn những phát biểu này theo thuật ngữ chiêm tinh, chúng ta đang nói đến sự tương phản giữa đời sống nguyệt tính và đời sống thái dương. Cũng có một sự tương phản hàm ẩn giữa các dấu hiệu Cự Giải và Xử Nữ (cả hai đều là “Những Người Mẹ của Hình Tướng”) và dấu hiệu Sư Tử, dấu hiệu của “Tự-biểu lộ”.

229. Long ages of materialistic living (millions of years) have set the stage for liberation from the form. Uranus, in its hierarchical relation to Leo, is the energy guaranteeing this liberation and producing, at length, the Master of the Wisdom.

229. Những thời đại dài của đời sống duy vật (hàng triệu năm) đã chuẩn bị sân khấu cho sự giải thoát khỏi hình tướng. Sao Thiên Vương, trong mối liên hệ huyền giai của nó với Sư Tử, là năng lượng bảo đảm sự giải thoát này và cuối cùng tạo ra Chân sư Minh Triết.

230. The “path of Self-expression” leads eventually to Mastership.

230. “Con đường Tự-biểu lộ” cuối cùng dẫn đến địa vị Chân sư.

This should be pondered on, for in days to come (when units here and there contact the devas, and inevitably pay the penalty) it may be helpful [Page 473] if the reason is understood, and man realises his necessary separation from these Essences in the three worlds.

Điều này nên được suy ngẫm, vì trong những ngày sắp tới (khi các đơn vị đây đó tiếp xúc với các thiên thần, và tất yếu phải trả giá) điều đó có thể hữu ích [Page 473] nếu lý do được thấu hiểu, và con người nhận ra sự tách biệt cần thiết của mình khỏi những Tinh Chất này trong ba cõi thấp.

231. This warning is even more solemn. It is as if all contact with the deva kingdom (and it will not yet be common) will entail a price—inevitably. DK uses the word “penalty” suggesting that much of the kind of contact which will eventuate is forbidden. Much of such contact will not be “the true method of contact”.

231. Lời cảnh báo này còn nghiêm trọng hơn nữa. Dường như mọi tiếp xúc với giới thiên thần (và điều đó sẽ chưa phổ biến) đều sẽ kéo theo một cái giá—một cách tất yếu. Chân sư DK dùng từ “hình phạt”, gợi ý rằng nhiều loại tiếp xúc sẽ xảy ra là bị cấm. Phần lớn những tiếp xúc như thế sẽ không phải là “phương pháp tiếp xúc chân chính”.

232. It is as if, through suffering, man will be warned that he must not go backwards by reuniting with the deva kingdom.

232. Dường như qua đau khổ, con người sẽ được cảnh báo rằng y không được đi lùi bằng cách tái hợp với giới thiên thần.

233. DK seems to be speaking specifically of the deva essences of the three lower worlds, from which man must finally learn to separate. Contact with the devas of higher planes (a contact likely to be somewhat mediated or attenuated at first) may result more in inspiration than in harm to and destruction of man’s personality vehicles.

233. Chân sư DK dường như đang nói riêng về các tinh chất thiên thần của ba cõi thấp, khỏi đó con người cuối cùng phải học cách tách biệt. Tiếp xúc với các thiên thần của những cõi cao hơn (một sự tiếp xúc lúc đầu có thể phần nào được trung gian hóa hay làm giảm nhẹ) có thể dẫn nhiều hơn đến cảm hứng thay vì gây tổn hại và hủy hoại các vận cụ phàm ngã của con người.

Approach between the two lines of evolution becomes possible on the plane of buddhi, but then it is an approach of two essences, and not an approach of the concrete to the essence.

Sự tiếp cận giữa hai đường tiến hoá trở nên có thể có trên cõi Bồ đề, nhưng khi ấy đó là sự tiếp cận của hai tinh chất, chứ không phải sự tiếp cận của cái cụ thể đến tinh chất.

234. Here is suggested the hierarchically sanctioned method of approach—the approach of two essences rather than the approach of concrete to the essence.

234. Ở đây gợi ra phương pháp tiếp cận được huyền giai chuẩn thuận—sự tiếp cận của hai tinh chất hơn là sự tiếp cận của cái cụ thể đến tinh chất.

235. Devas have already been called “essences”. It is only when man can approach them as an essence that he will be safe.

235. Các thiên thần đã được gọi là “những tinh chất”. Chỉ khi nào con người có thể tiếp cận họ như một tinh chất thì y mới được an toàn.

236. On the plane of buddhi (through which the fourth ray, so important to both evolutions, expresses itself) each of the kingdoms expresses its essence.

236. Trên cõi Bồ đề (qua đó cung bốn, rất quan trọng đối với cả hai đường tiến hoá, biểu lộ), mỗi giới biểu lộ tinh chất của mình.

Man, while functioning in material, substantial forms in the three worlds, may not trespass across the separating line between the two evolutions.

Con người, trong khi hoạt động trong những hình tướng vật chất, chất liệu ở ba cõi thấp, không được xâm phạm qua ranh giới phân cách giữa hai đường tiến hoá.

237. We are learning that man as a personality must not approach the deva kingdom nor trespass the boundary which separates the two kingdoms.

237. Chúng ta đang học rằng con người với tư cách phàm ngã không được tiếp cận giới thiên thần cũng không được vượt qua ranh giới phân cách hai giới.

238. The devas do not have “substantial forms in the three worlds” in the same way that man does. Man’s densest form is material which is not true of the devas.

238. Các thiên thần không có “những hình tướng chất liệu ở ba cõi thấp” theo cùng cách như con người. Hình tướng đậm đặc nhất của con người là vật chất, điều này không đúng với các thiên thần.

Only on the planes of solar fire or on the cosmic etheric levels may contact be permitted;

Chỉ trên các cõi của Lửa Thái dương hay trên các cấp độ dĩ thái vũ trụ thì sự tiếp xúc mới có thể được cho phép;

239. Realizing that the spiritual triad is the true Ego, we understand why DK calls the cosmic etheric levels “the planes of solar fire”. The higher mental subplanes may also be considered subplanes of solar fire (and from the human perspective, are), though they are not designated here as such. Does DK have a reason for not including the higher mental plane as a plane of sanctioned intercourse between the two kingdoms?

239. Nhận ra rằng Tam nguyên tinh thần là chân ngã đích thực, chúng ta hiểu vì sao Chân sư DK gọi các cấp độ dĩ thái vũ trụ là “các cõi của Lửa Thái dương”. Các cõi phụ thượng trí cũng có thể được xem là các cõi phụ của Lửa Thái dương (và từ góc nhìn con người, chúng như vậy), dù chúng không được chỉ định ở đây như thế. Phải chăng Chân sư DK có lý do nào đó khi không bao gồm Cõi thượng trí như một cõi của sự giao tiếp được chuẩn thuận giữa hai giới?

on the planes of the cosmic dense physical plane (our mental, astral and physical planes) disaster only results from contact. I have dwelt on this point, for the danger is real, and near at hand.

trên các cõi của cõi hồng trần đậm đặc vũ trụ (các cõi trí, cảm dục và hồng trần của chúng ta), chỉ có tai họa phát sinh từ sự tiếp xúc. Tôi đã bàn kỹ về điểm này, vì mối nguy là có thật, và đang ở rất gần.

240. It is clear that DK is indicating that human contact with all twenty-one lower sub-planes invites disaster.

240. Rõ ràng Chân sư DK đang chỉ ra rằng sự tiếp xúc của con người với tất cả hai mươi mốt cõi phụ thấp đều mời gọi tai họa.

241. This is hard to conceive, as an aspect of the beneficent Solar Angel is definitely ‘located’ on the 19th, 20th and 21st sub-planes.

241. Điều này khó hình dung, vì một phương diện của Thái dương Thiên Thần tốt lành rõ ràng được ‘định vị’ trên các cõi phụ thứ 19th, 20th và 21st.

242. It would seem, however that hierarchically sanctioned contact can only occur on planes beginning with the buddhic. Yet the Solar Angel (with Whom contact is eminently desirable) is contacted on the higher mental subplanes.

242. Tuy nhiên, dường như sự tiếp xúc được huyền giai chuẩn thuận chỉ có thể xảy ra trên các cõi bắt đầu từ cõi Bồ đề. Tuy thế, Thái dương Thiên Thần (Đấng mà sự tiếp xúc với Ngài là điều hết sức đáng mong muốn) lại được tiếp xúc trên các cõi phụ thượng trí.

243. The danger of which DK speaks is close at hand; perhaps immediately future decades (and certainly centuries) will see the danger emerge. The Piscean influence in almost spent and the influence of Aquarian force (uninterrupted by Piscean expression) will invite human and deva intercourse.

243. Mối nguy mà Chân sư DK nói đến đang ở rất gần; có lẽ những thập niên tương lai gần nhất (và chắc chắn là các thế kỷ) sẽ thấy mối nguy ấy xuất hiện. Ảnh hưởng Song Ngư hầu như đã cạn kiệt và ảnh hưởng của mãnh lực Bảo Bình (không bị gián đoạn bởi biểu lộ Song Ngư) sẽ mời gọi sự giao tiếp giữa con người và thiên thần.

The deva evolution will, through this seventh Ray force have much to do with the transmission of prana to units of the three higher kingdoms of nature, and this easier transmission (from the etheric levels of the physical plane) will parallel a correspondingly easier transmission of spiritual or psychical force from the fourth cosmic ether, the buddhic plane.

Tiến hoá thiên thần, qua mãnh lực cung bảy này, sẽ có rất nhiều liên hệ với sự truyền dẫn prana đến các đơn vị của ba giới cao hơn của thiên nhiên, và sự truyền dẫn dễ dàng hơn này (từ các cấp dĩ thái của cõi hồng trần) sẽ song hành với một sự truyền dẫn dễ dàng tương ứng của mãnh lực tinh thần hay thông linh từ dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề.

244. Here we are given one of the chief functions of the deva kingdom relative to the human—the facilitation of the transmission of prana to the human kingdom.

244. Ở đây chúng ta được cho biết một trong những chức năng chính của giới thiên thần đối với giới nhân loại—sự tạo điều kiện cho việc truyền dẫn prana đến giới nhân loại.

245. There is a predictable parallelism between this pranic transmission and the easier transmission of “spiritual or psychical force from the fourth cosmic ether…”

245. Có một tính song hành có thể dự đoán được giữa sự truyền dẫn prana này và sự truyền dẫn dễ dàng hơn của “mãnh lực tinh thần hay thông linh từ dĩ thái vũ trụ thứ tư…”

246. The energies of both types of ether—systemic and cosmic—will reach man with greater ease thanks to the facilitating effect of the seventh ray and the deva kingdom.

246. Các năng lượng của cả hai loại dĩ thái—hệ thống và vũ trụ—sẽ đến với con người dễ dàng hơn nhờ tác dụng tạo điều kiện của cung bảy và giới thiên thần.

247. We note that in connection with the buddhic plane, the terms “spiritual” and “psychical” are used to describe the type of energy or force which emanates from that plane.

247. Chúng ta lưu ý rằng liên hệ với cõi Bồ đề, các từ “tinh thần” và “thông linh” được dùng để mô tả loại năng lượng hay mãnh lực phát ra từ cõi ấy.

248. Is it reasonable to say that man’s true psyche concerns the buddhic plane as its initial point of departure and that there is no truly “spiritual” force until the buddhic level of the spiritual triad is accessed?

248. Có hợp lý không khi nói rằng psyche đích thực của con người liên hệ đến cõi Bồ đề như điểm khởi đầu ban sơ của nó và rằng không có mãnh lực nào thật sự “tinh thần” cho đến khi cấp độ Bồ đề của Tam nguyên tinh thần được tiếp cận?

The results of this pranic transmission will be more healthy physical bodies among the sons of men.

Kết quả của sự truyền dẫn prana này sẽ là những thể xác khỏe mạnh hơn nơi những người con của nhân loại.

249. We find here a very practical result of the pranic transmission between the deva and human kingdoms.

249. Ở đây chúng ta thấy một kết quả rất thực tiễn của sự truyền dẫn prana giữa giới thiên thần và giới nhân loại.

This need not be looked for at this time, and will only begin to be noticeable about three hundred years hence, when the incoming seventh Ray Egos will be numerically strong enough to be recognised as the prevailing type for a certain period.

Điều này không cần được mong đợi vào lúc này, và sẽ chỉ bắt đầu trở nên đáng chú ý khoảng ba trăm năm nữa, khi các chân ngã cung bảy đang đi vào sẽ đủ mạnh về số lượng để được nhận ra là loại hình chiếm ưu thế trong một thời kỳ nhất định.

250. Here are some important suggestions. The book was published in 1925, so we may expect that by 2225, or so, the seventh ray Egos will be the “prevailing type”. This is hardly yet the case.

250. Ở đây có vài gợi ý quan trọng. Cuốn sách được xuất bản năm 1925, vì vậy chúng ta có thể mong đợi rằng vào khoảng năm 2225, các chân ngã cung bảy sẽ là “loại hình chiếm ưu thế”. Điều này rõ ràng chưa phải như vậy.

251. It seems a long time to wait for the appearance of the healthier bodies which DK promises.

251. Có vẻ là một thời gian dài phải chờ đợi để những thể xác khỏe mạnh hơn mà Chân sư DK hứa hẹn xuất hiện.

252. We note that seventh ray Egos will not be the prevailing type indefinitely, but only “for a certain period”.

252. Chúng ta lưu ý rằng các chân ngã cung bảy sẽ không chiếm ưu thế mãi mãi, mà chỉ “trong một thời kỳ nhất định”.

253. The salutary effects we may expect from the incoming seventh ray will be most pronounced during this period of prevalence.

253. Những tác dụng tốt lành mà chúng ta có thể mong đợi từ cung bảy đang đi vào sẽ rõ rệt nhất trong thời kỳ chiếm ưu thế này.

Their physical bodies, owing to their being built for seventh Ray force will respond more readily than the others,

Các thể xác của họ, vì được xây dựng cho mãnh lực cung bảy sẽ đáp ứng dễ dàng hơn những thể khác,

254. Here is a hint that the bodies of those whose Egos are upon a given ray will be built for the handling of that type of ray force.

254. Ở đây có một gợi ý rằng các thể của những người có chân ngã thuộc một cung nhất định sẽ được xây dựng để xử lý loại mãnh lực cung ấy.

255. Is the physical body, then, always a kind of reflection of the ray force of the Ego, even though the actual ray of the body may not be the egoic ray?

255. Vậy thì thể xác có luôn luôn là một loại phản chiếu của mãnh lực cung của chân ngã, dù cung thực sự của thể có thể không phải là cung chân ngã hay không?

though first Ray egos and fifth Ray Egos will benefit enormously from this influence.

mặc dù các chân ngã cung một và các chân ngã cung năm sẽ được hưởng lợi rất lớn từ ảnh hưởng này.

256. We can understand the close connection between the first ray and the seventh. The fifth and seventh rays also cooperate closely at this time, and both of them are related to the planet Uranus.

256. Chúng ta có thể hiểu mối liên hệ mật thiết giữa cung một và cung bảy. Cung năm và cung bảy cũng hợp tác chặt chẽ vào lúc này, và cả hai đều liên hệ với hành tinh Uranus.

257. As Master R. has transferred to the third ray from the seventh with a number of His initiates of the second and third initiation, it is difficult to understand why third ray Egos (on a ray related in many ways to the seventh) should not benefit from this influence.

257. Vì Chân sư R. đã chuyển sang cung ba từ cung bảy cùng với một số điểm đạo đồ của Ngài ở lần điểm đạo thứ hai và lần điểm đạo thứ ba, nên thật khó hiểu tại sao các chân ngã cung ba (trên một cung có nhiều phương diện liên hệ với cung bảy) lại không được hưởng lợi từ ảnh hưởng này.

258. Are we being given a hint through the capitalization and non-capitalization of the word egos/Egos? We see that the word “egos” is in lower case in relation to the first ray and in upper case (“Egos”) in relation to the fifth ray. Or is this simply an overlooked typo?

258. Có phải chúng ta đang được gợi ý qua việc viết hoa và không viết hoa của từ egos/Egos chăng? Chúng ta thấy rằng từ “egos” được viết thường khi liên hệ với cung một và viết hoa (“Egos”) khi liên hệ với cung năm. Hay đây chỉ đơn giản là một lỗi in ấn bị bỏ sót?

259. Perhaps we are to remember that there are no true first ray Egos in incarnation on the planet at this time:

259. Có lẽ chúng ta nên nhớ rằng hiện nay không có chân ngã cung một đích thực nào đang lâm phàm trên hành tinh này:

As to the first ray egos, there are no pure first ray types on the planet. All so-called first ray egos are on the first subray of the second ray, which is in incarnation. (EP I 26-27)

Đối với các chân ngã cung một, không có kiểu người cung một thuần túy nào trên hành tinh. Tất cả những cái gọi là chân ngã cung một đều thuộc cung phụ một của cung hai, là cung đang lâm phàm. (EP I 26-27)

260. We must also remember that the fifth ray is a Ray of Attribute just as is the seventh, whereas the first ray is not.

260. Chúng ta cũng phải nhớ rằng cung năm là một Cung Thuộc Tính cũng như cung bảy, còn cung một thì không phải.

261. The term “on the planet” has to be analyzed. Perhaps it means that there are first ray egos within our planetary scheme but not specifically on or within the Earth-globe.

261. Cụm từ “trên hành tinh” cần được phân tích. Có lẽ điều đó có nghĩa là có những chân ngã cung một trong hệ hành tinh của chúng ta nhưng không đặc biệt ở trên hay trong Bầu Địa Cầu.

The etheric devas will build during a peculiarly favourable period,

Các thiên thần dĩ thái sẽ kiến tạo trong một giai đoạn đặc biệt thuận lợi,

262. What will determine this “peculiarly favourable period”? Will it be a sub-ray cycle of the larger seventh ray cycle which will characterize the Aquarian Age? Obviously, DK sees the forthcoming cycles and their favorable or unfavorable nature for such building.

262. Điều gì sẽ quyết định giai đoạn “đặc biệt thuận lợi” này? Có phải đó sẽ là một chu kỳ cung phụ của chu kỳ cung bảy lớn hơn, chu kỳ sẽ đặc trưng cho Kỷ Nguyên Bảo Bình? Rõ ràng, Chân sư DK nhìn thấy các chu kỳ sắp đến và tính chất thuận lợi hay bất lợi của chúng đối với công việc kiến tạo như thế.

263. He is telling, however, that beginning approximately with the year 2225, conditions will be unusually favorable for seventh ray influence on the physical-etheric vehicle.

263. Tuy nhiên, Ngài đang nói rằng bắt đầu khoảng năm 2225, các điều kiện sẽ thuận lợi khác thường cho ảnh hưởng cung bảy trên vận cụ hồng trần-dĩ thái.

264. That cycle will occur about 550 years from 1675 when the seventh ray first began its incoming cycle. If the seventh ray has seventy ray sub-cycles, seven of them will have elapsed and a sub-cycle under the first subray of the seventh ray will be in effect, though not for long.

264. Chu kỳ đó sẽ xuất hiện khoảng 550 năm kể từ năm 1675 khi cung bảy lần đầu bắt đầu chu kỳ đi vào của nó. Nếu cung bảy có bảy mươi chu kỳ phụ của cung, thì bảy chu kỳ trong số đó sẽ đã trôi qua và một chu kỳ phụ dưới cung phụ một của cung bảy sẽ có hiệu lực, dù không kéo dài lâu.

265. Such speculations must be considered with due reservation as too little is actually known about the duration of sub-cycles within a larger cycle.

265. Những suy đoán như thế phải được xem xét với sự dè dặt thích đáng vì thực sự người ta biết quá ít về thời lượng của các chu kỳ phụ trong một chu kỳ lớn hơn.

and the physical bodies then constructed will be distinguished by:

và các thể xác được cấu tạo khi ấy sẽ nổi bật bởi:

a. Resilience,

a. Tính đàn hồi,

266. The ability to recover from reverses rapidly…

266. Khả năng phục hồi nhanh chóng sau những nghịch cảnh…

b. Enormous physical magnetism, [Page 474]

b. Từ tính hồng trần to lớn, [Page 474]

267. Presumably substances with favorable magnetism could be easily attracted. This will conduce to the building and sustenance of the vehicles.

267. Có lẽ các chất liệu có từ tính thuận lợi có thể dễ dàng được thu hút. Điều này sẽ góp phần vào việc kiến tạo và duy trì các vận cụ.

c. Ability to reject false magnetism,

c. Khả năng loại bỏ từ tính sai lệch,

268. Thus, will the integrity of the vehicles be protected.

268. Nhờ đó, tính toàn vẹn của các vận cụ sẽ được bảo vệ.

d. Capacity to absorb solar rays,

d. Năng lực hấp thụ các tia thái dương,

269. This will lead to greatly increased vitality.

269. Điều này sẽ dẫn đến sinh lực gia tăng rất lớn.

e. Great strength and resistance,

e. Sức mạnh và sức đề kháng lớn,

270. Opportunities for sustained manifestation will be greatly aided by strong physical vehicles resistant to the usual forces of debilitation. The Kingdom of God can more readily manifest through such vehicles.

270. Những cơ hội cho sự biểu hiện bền vững sẽ được hỗ trợ rất nhiều nhờ các vận cụ hồng trần mạnh mẽ, có sức đề kháng với các lực làm suy nhược thông thường. Thiên Giới có thể biểu hiện dễ dàng hơn qua những vận cụ như thế.

f. A delicacy and refinement in appearance as yet unknown.

f. Một sự tinh tế và thanh nhã trong sắc tướng mà hiện nay chưa được biết đến.

271. We note that vehicles can be strong, resistant and enormously magnetic and still be both delicate and refined. When rays seven and four combine (as they soon will) the result will be beautification.

271. Chúng ta lưu ý rằng các vận cụ có thể mạnh mẽ, bền bỉ và có từ tính vô cùng lớn mà vẫn vừa tinh tế vừa thanh nhã. Khi cung bảy và cung bốn kết hợp (như chúng sẽ sớm làm), kết quả sẽ là sự mỹ hóa.

272. Our attention is drawn to the refining and transformative power of the seventh ray.

272. Sự chú ý của chúng ta được hướng đến quyền năng tinh luyện và chuyển đổi của cung bảy.

The etheric levels of the plane will be full of an increased activity, and slowly but surely, as the decades slip away, man will become conscious of these levels, and aware of their inhabitants.

Các cấp dĩ thái của cõi sẽ tràn đầy hoạt động gia tăng, và chậm mà chắc, khi các thập niên dần trôi qua, con người sẽ trở nên hữu thức về các cấp này, và nhận biết các cư dân của chúng.

273. When a dimension of nature becomes more active it attracts attention. DK told us that even at the end of the twentieth century greater etheric activity could be expected along with more wide-spread acknowledgement of the reality of the etheric planes.

273. Khi một chiều kích của bản chất trở nên hoạt động hơn, nó sẽ thu hút sự chú ý. Chân sư DK đã nói với chúng ta rằng ngay cả vào cuối thế kỷ hai mươi cũng có thể chờ đợi hoạt động dĩ thái lớn hơn cùng với sự thừa nhận rộng rãi hơn về thực tại của các cõi dĩ thái.

274. DK seems to be predicting that after approximately three hundred years—now about two hundred and twenty years—acknowledgement of the inhabitants of the etheric planes will occur.

274. Chân sư DK dường như đang tiên đoán rằng sau khoảng ba trăm năm—nay là khoảng hai trăm hai mươi năm—sự thừa nhận các cư dân của các cõi dĩ thái sẽ xảy ra.

275. Widespread consciousness on etheric levels is not yet possible, but the time is rapidly approaching.

275. Tâm thức phổ biến trên các cấp dĩ thái vẫn chưa thể có được, nhưng thời điểm ấy đang đến rất nhanh.

The immediate effect of this greater etheric energy will be that a numerically larger number of people will possess etheric vision, and will be able normally and naturally to live consciously on etheric levels.

Hiệu quả tức thời của năng lượng dĩ thái lớn hơn này sẽ là một số lượng người đông hơn về mặt số học sẽ sở hữu linh thị dĩ thái, và sẽ có thể một cách bình thường và tự nhiên sống một cách hữu thức trên các cấp dĩ thái.

276. Again, this is promised to begin in significant fulness around the year 2225.

276. Một lần nữa, điều này được hứa hẹn sẽ bắt đầu với mức độ đáng kể vào khoảng năm 2225.

The majority of men only function consciously on the three lower levels of the physical—the gaseous, the liquid, and the dense—and the etheric levels are as sealed to them as are the astral.

Đa số con người chỉ hoạt động một cách hữu thức trên ba cấp thấp của cõi hồng trần—thể khí, thể lỏng, và thể đậm đặc—và các cấp dĩ thái bị phong kín đối với họ cũng như các cấp cảm dục vậy.

277. DK is speaking of the growth of etheric consciousness. There have been times when He has said that there is no such thing as etheric consciousness, but here He states otherwise.

277. Chân sư DK đang nói về sự tăng trưởng của tâm thức dĩ thái. Đã có những lúc Ngài nói rằng không có cái gọi là tâm thức dĩ thái, nhưng ở đây Ngài lại phát biểu khác.

The four planes which constitute the etheric levels of the physical plane are the lowest correspondence to the four planes whereon the Monad and the Spiritual Triad are active, and—as I have oft told you—upon those levels there is no such thing as consciousness as we understand it. There is only a state of being and of activity for which we have no adequate or illustrative words. (R&I 178)

Bốn cõi cấu thành các cấp dĩ thái của cõi hồng trần là sự tương ứng thấp nhất với bốn cõi nơi chân thần và Tam Nguyên Tinh Thần hoạt động, và—như tôi đã thường nói với các bạn—trên những cấp đó không có cái gọi là tâm thức như chúng ta hiểu. Chỉ có một trạng thái hiện hữu và hoạt động mà chúng ta không có từ ngữ thích đáng hay minh họa để diễn tả. (R&I 178)

278. Already among those who are refined and sensitive, a movement towards what we may call “etheric consciousness” can be sensed.

278. Ngay từ bây giờ, nơi những người tinh luyện và nhạy cảm, có thể cảm nhận được một sự chuyển động hướng tới điều mà chúng ta có thể gọi là “tâm thức dĩ thái”.

279. We have been told that such consciousness is dependent upon a normal (through, today, rare) development of the physical eye.

279. Chúng ta đã được cho biết rằng tâm thức như thế tùy thuộc vào sự phát triển bình thường (dù ngày nay hiếm) của mắt hồng trần.

280. Etheric vision is even today emerging rapidly and can be enhanced through the refinement of the etheric-physical mechanism.

280. Linh thị dĩ thái ngay cả ngày nay cũng đang xuất hiện nhanh chóng và có thể được tăng cường qua sự tinh luyện của bộ máy dĩ thái-hồng trần.

In the coming centuries, man’s normal habitat will be the entire physical plane up to, though not including, the second subplane. The fourth and third etheric levels will be as familiar to him as the usual physical landscape to which he is now accustomed.

Trong các thế kỷ sắp tới, môi trường cư trú bình thường của con người sẽ là toàn bộ cõi hồng trần cho đến, nhưng không bao gồm, cõi phụ thứ hai. Các cấp dĩ thái thứ tư và thứ ba sẽ quen thuộc với y như phong cảnh hồng trần thông thường mà hiện nay y đã quen thuộc.

281. Here is an amazing prophecy and its fulfillment is suggested “in the coming centuries”.

281. Đây là một lời tiên tri đáng kinh ngạc và sự ứng nghiệm của nó được gợi ý là sẽ diễn ra “trong các thế kỷ sắp tới”.

282. One may imagine that when the Mercury decanate of Aquarius supervenes, these developments will occur. Mercury restores sight to the blind and is also a significant planetary ruler of the etheric body.

282. Người ta có thể hình dung rằng khi thập độ Mercury của Aquarius xuất hiện, những phát triển này sẽ xảy ra. Mercury phục hồi thị lực cho người mù và cũng là một chủ tinh hành tinh quan trọng của thể dĩ thái.

283. Interestingly only five sub-planes of the physical plane will be open to ‘sight’. This number corresponds with one of the chief numbers of Brahma—five. The subjective sub-planes (two and one) will not yet be open for inspection. It would seem that greater buddhic (and atmic) development will be required for their opening.

283. Điều thú vị là chỉ có năm cõi phụ của cõi hồng trần sẽ mở ra cho ‘thị giác’. Con số này tương ứng với một trong những con số chủ yếu của Brahma—năm. Các cõi phụ chủ quan (hai và một) sẽ chưa mở ra để khảo sát. Có vẻ như sẽ cần sự phát triển Bồ đề (và atma) lớn hơn để chúng được mở ra.

284. The higher two sub-planes of every system of seven sub-planes are considered subjective, and access to them unfolds only after access to the brahmic sub-planes has been achieved.

284. Hai cõi phụ cao hơn của mọi hệ thống bảy cõi phụ đều được xem là chủ quan, và việc tiếp cận chúng chỉ khai mở sau khi đã đạt được sự tiếp cận các cõi phụ brahmic.

The centre of attention of medical and scientific students will be focussed on the etheric body, and the dependence of the physical body upon the etheric body will be recognised.

Trung tâm chú ý của các đạo sinh y khoa và khoa học sẽ được tập trung vào thể dĩ thái, và sự lệ thuộc của thể xác vào thể dĩ thái sẽ được thừa nhận.

285. As it is now by the most progressive (and sensitive) members of the human race…

285. Như hiện nay đã được thừa nhận bởi những thành viên tiến bộ nhất (và nhạy cảm nhất) của nhân loại…

286. The medical and scientific communities are populated largely by those upon the fifth and seventh rays. Students and practitioners on these two rays tend to work closely together.

286. Các cộng đồng y khoa và khoa học phần lớn gồm những người thuộc cung năm và cung bảy. Các đạo sinh và người hành nghề trên hai cung này có khuynh hướng làm việc rất chặt chẽ với nhau.

This will change the attitude of the medical profession, and magnetic healing and vibratory stimulation will supersede the present methods of surgery and drug assimilation.

Điều này sẽ thay đổi thái độ của giới y khoa, và trị liệu từ tính và kích thích rung động sẽ thay thế các phương pháp phẫu thuật và hấp thụ dược chất hiện nay.

287. Again, we are not speaking of immediate developments, but by 2225, these prophecies will, we expect, unfold as realities.

287. Một lần nữa, chúng ta không nói về những phát triển tức thời, nhưng đến năm 2225, chúng ta kỳ vọng những lời tiên tri này sẽ mở ra như những thực tại.

288. Already great strides are being made in “magnetic healing and vibratory stimulation”.

288. Ngay từ bây giờ, những bước tiến lớn đang được thực hiện trong “trị liệu từ tính và kích thích rung động”.

289. Astrologically, Uranus (the planet of subtle energy transmission) will supersede in strength Mars (the planet of surgery). Neptune relates to drugs but also to subtle methods of energy transmission. Vulcan (the planet most related to vibration) will, likely, have been discovered, and the systemic law known as the Law of Vibration will be more fully understood.

289. Về mặt chiêm tinh, Uranus (hành tinh của sự truyền dẫn năng lượng vi tế) sẽ vượt Mars (hành tinh của phẫu thuật) về sức mạnh. Neptune liên hệ với dược chất nhưng cũng liên hệ với các phương pháp truyền dẫn năng lượng vi tế. Vulcan (hành tinh liên hệ nhiều nhất với rung động) có lẽ sẽ đã được khám phá, và định luật hệ thống được biết đến như Định luật Rung Động sẽ được thấu hiểu đầy đủ hơn.

290. The following statement from Esoteric Healing is significant in this regard:

290. Phát biểu sau đây từ Trị Liệu Huyền Môn có ý nghĩa quan trọng về phương diện này:

1. The etheric vehicle from the circulatory angle, is governed by the Moon, as it veils Vulcan. (EH 143)

1. Vận cụ dĩ thái, xét từ góc độ tuần hoàn, được Mặt Trăng cai quản, vì nó che phủ Vulcan. (EH 143)

Man’s vision being then normally etheric, will have the effect of forcing him to recognise that which is now called the “unseen world,” or the superphysical.

Linh thị của con người khi ấy vốn bình thường là dĩ thái, sẽ có tác dụng buộc y phải thừa nhận điều hiện nay được gọi là “thế giới vô hình,” hay siêu hồng trần.

291. With subtler vision forced upon him by the growing acuity of his senses, man will experience the necessary for a broad paradigm shift. Science (and a philosophy which is forced to acknowledge unprecedented scientific findings concerning the subtle worlds) will both be altered considerably.

291. Với linh thị vi tế hơn được áp đặt lên y bởi sự sắc bén ngày càng tăng của các giác quan, con người sẽ trải nghiệm điều cần thiết cho một sự chuyển đổi mô thức rộng lớn. Khoa học (và một triết học bị buộc phải thừa nhận những phát hiện khoa học chưa từng có liên quan đến các thế giới vi tế) cả hai sẽ đều thay đổi đáng kể.

Men in their etheric bodies will be noted, and communicated with, and the devas and elementals of the ethers will be studied and recognised.

Con người trong các thể dĩ thái của họ sẽ được nhận thấy và được giao tiếp, và các thiên thần cùng các hành khí của các cõi dĩ thái sẽ được nghiên cứu và thừa nhận.

292. There will be a revelation of the inhabitants of the etheric planes

292. Sẽ có một sự mặc khải về các cư dân của các cõi dĩ thái

a.          Devas

a.          Thiên thần

b.         Elementals

b.         Hành khí

c.          Men in etheric bodies

c.          Con người trong các thể dĩ thái

293. When DK speaks of “man in etheric bodies”, He may be referring to those who have recently passed on, or to those who are consciously doing specific work on the etheric planes.

293. Khi Chân sư DK nói về “con người trong các thể dĩ thái”, Ngài có thể đang chỉ những người vừa mới qua đời, hoặc những người đang hữu thức thực hiện công việc chuyên biệt trên các cõi dĩ thái.

294. He may also be speaking of living human beings who have the ability to exteriorize their etheric bodies.

294. Ngài cũng có thể đang nói về những con người đang sống có khả năng ngoại hiện các thể dĩ thái của họ.

295. We can see that as regards humanity in general, the contents of their consciousness will be greatly increased. They will be aware of far more than presently is possible.

295. Chúng ta có thể thấy rằng xét về nhân loại nói chung, nội dung tâm thức của họ sẽ được gia tăng rất nhiều. Họ sẽ nhận biết được nhiều hơn rất xa so với điều hiện nay có thể.

When this is so, then the true use of ceremonial ritual as a protection and safeguard to man will assume its right place.

Khi điều này xảy ra, thì công dụng chân chính của nghi lễ huyền môn như một sự bảo vệ và che chở cho con người sẽ đảm nhận vị trí đúng đắn của nó.

296. Presently it is assumed that ceremonial ritual is of value to humanity, but the accurate modus operandi of such ritual is largely unknown.

296. Hiện nay người ta cho rằng nghi lễ huyền môn có giá trị đối với nhân loại, nhưng phương thức vận hành chính xác của nghi lễ ấy phần lớn vẫn chưa được biết.

297. Later it will be possible to ‘see’ the inner processes accompanying such ritual and to understand the nature of those who cooperate all unseen in rendering properly executed ceremonial ritual effective.

297. Về sau sẽ có thể ‘thấy’ các tiến trình bên trong đi kèm với nghi lễ như thế và hiểu được bản chất của những ai hợp tác một cách vô hình trong việc làm cho nghi lễ huyền môn được thực hiện đúng đắn trở nên hữu hiệu.

298. There is given an important hint: ceremonial ritual (presumably only that type of ceremonial ritual which is properly and wisely executed) provides a “protection and safeguard to man”.

298. Ở đây có một gợi ý quan trọng: nghi lễ huyền môn (có lẽ chỉ loại nghi lễ huyền môn được thực hiện đúng đắn và minh triết) cung cấp một “sự bảo vệ và che chở cho con người”.

299. One wonder about how many such rituals are already performed on behalf of humanity by Those Who know.

299. Người ta tự hỏi có bao nhiêu nghi lễ như thế đã được thực hiện thay mặt cho nhân loại bởi Những Đấng biết.

300. Presumably, through accurately preformed ceremonial ritual, certain lives are brought into closer connection with humanity and other influences (inimical to man) are warded off—kept at a distance.

300. Có lẽ, qua nghi lễ huyền môn được thực hiện chính xác, một số sự sống nào đó được đưa vào mối liên hệ gần gũi hơn với nhân loại và những ảnh hưởng khác (thù nghịch với con người) bị xua đuổi—bị giữ ở khoảng cách xa.

301. The seventh ray is most effective in determining what influences shall be admitted into consciousness and presence, and which shall not.

301. Cung bảy hữu hiệu nhất trong việc quyết định những ảnh hưởng nào sẽ được cho phép đi vào tâm thức và hiện diện, và những ảnh hưởng nào sẽ không được phép.

[Page 475]

[Page 475]

The work of the devas in connection with the animal and the vegetable kingdoms will be likewise recognised, and much that is now possible through ignorance will become impossible and obsolete.

Công việc của các thiên thần liên hệ với giới động vật và giới thực vật cũng sẽ được thừa nhận, và nhiều điều hiện nay còn có thể do vô minh sẽ trở nên bất khả và lỗi thời.

302. The implication is that man will learn to use the vegetable and animal kingdoms wisely. Present abuse will cease as will the tendency to tamper genetically with the development of members of those kingdoms.

302. Hàm ý ở đây là con người sẽ học cách sử dụng giới thực vật và giới động vật một cách minh triết. Sự lạm dụng hiện nay sẽ chấm dứt, cũng như khuynh hướng can thiệp di truyền vào sự phát triển của các thành viên trong những giới ấy.

303. There is also the implication that vegetarianism will be far more prevalent and that the “cruel and inhuman meat eating.

303. Cũng còn có hàm ý rằng việc ăn chay sẽ phổ biến hơn rất nhiều và rằng “sự ăn thịt tàn nhẫn và vô nhân đạo.

This might be illustrated by pointing out that by the gradual coming in of human beings who are vegetarians by natural inclination and by the appearance of egos who are interested specifically in the welfare and nurture of the animals (as is the case so noticeably now) we have the cyclic appearance of a whole group of human units who have a definite karmic relation to the third kingdom. This relation is of a kind differing in specific detail from the meat-eating, and oft inhuman, groups of the past five hundred years. (TCF 1080)

Điều này có thể được minh họa bằng cách chỉ ra rằng do sự dần dần xuất hiện của những con người ăn chay theo khuynh hướng tự nhiên và do sự xuất hiện của các chân ngã đặc biệt quan tâm đến phúc lợi và sự nuôi dưỡng loài vật (như trường hợp hiện nay thấy rất rõ), chúng ta có sự xuất hiện theo chu kỳ của cả một nhóm đơn vị nhân loại có mối liên hệ nghiệp quả xác định với giới thứ ba. Mối liên hệ này thuộc một loại khác biệt về chi tiết chuyên biệt so với các nhóm ăn thịt, và thường là vô nhân đạo, của năm trăm năm qua. (TCF 1080)

304. All this will be part of the gradual refinement of the human vehicles and of human behavior expected under the incoming seventh ray.

304. Tất cả điều này sẽ là một phần của sự tinh luyện dần dần các vận cụ của con người và của hành vi con người được chờ đợi dưới cung bảy đang đi vào.

The time will come, when the attitude of man to the animal kingdom will be revolutionised, and the slaughter, ill-treatment, and that form of cruelty called “sport,” will be done away with.

Thời điểm sẽ đến khi thái độ của con người đối với giới động vật sẽ được cách mạng hóa, và việc tàn sát, ngược đãi, cùng hình thức tàn nhẫn được gọi là “thể thao,” sẽ bị xóa bỏ.

305. Much of this so-called “sport” takes place under an abuse of Martian energy as it relates to Aries and Sagittarius.

305. Phần lớn cái gọi là “thể thao” này diễn ra dưới sự lạm dụng năng lượng Martian khi nó liên hệ với Aries và Sagittarius.

306. The strained relationship between the Entities informing or ensouling the human and animal kingdoms will, through the instrumentality of the seventh ray and the Aquarian energy, be adjusted.

306. Mối quan hệ căng thẳng giữa các Thực Thể đang thấm nhuần hay phú linh cho giới nhân loại và giới động vật sẽ, thông qua công cụ của cung bảy và năng lượng Bảo Bình, được điều chỉnh.

307. It will become evident to man that the ‘animal’ which he must learn to subdue is the animal of his own physical nature. From another perspective the entire personality nature can be considered the ‘animal’ expressing under the Martian energy. The energies of Uranus, Jupiter, Saturn, Mercury and Venus will teach man how this personality can be trained, subdued and made to fulfill its proper function.

307. Con người sẽ thấy rõ rằng ‘con vật’ mà y phải học cách chế ngự chính là con vật của bản chất hồng trần của riêng y. Từ một góc nhìn khác, toàn bộ bản chất phàm ngã có thể được xem là ‘con vật’ biểu lộ dưới năng lượng Martian. Các năng lượng của Uranus, Jupiter, Saturn, Mercury và Venus sẽ dạy con người cách phàm ngã này có thể được huấn luyện, chế ngự và khiến nó hoàn thành chức năng thích hợp của mình.

A mysterious change in the attitude of men and women to the sex question, marriage and the work of procreation will result from the development of etheric vision, and the consequent recognition of the devas.

Một sự thay đổi huyền nhiệm trong thái độ của những người nam và nữ đối với vấn đề tính dục, hôn nhân và công việc sinh sản sẽ phát sinh từ sự phát triển của linh thị dĩ thái, và sự thừa nhận tiếp theo đó về các thiên thần.

308. Probably the growth of the human foetus will be ‘seen’ directly and appreciated.

308. Có lẽ sự phát triển của thai nhi con người sẽ được ‘thấy’ trực tiếp và được trân trọng.

309. We must remember that the progressive planet Uranus is a predominant ruler of the sacral center.

309. Chúng ta phải nhớ rằng hành tinh tiến bộ Uranus là một chủ tinh nổi trội của trung tâm xương cùng.

310. The responsibility entailed in sexual intercourse will be seen and understand far more directly than is now possible.

310. Trách nhiệm hàm chứa trong giao hợp sẽ được thấy và thấu hiểu trực tiếp hơn rất nhiều so với hiện nay có thể.

311. The depth and beauty of the processes of sex and procreation will be rendered evident. The transition will be from Mars to Uranus.

311. Chiều sâu và vẻ đẹp của các tiến trình tính dục và sinh sản sẽ trở nên hiển nhiên. Sự chuyển tiếp sẽ là từ Mars sang Uranus.

This change will be based on the realisation of the true nature of matter, or of the mother aspect, and of the effect of the Sun upon substance.

Sự thay đổi này sẽ dựa trên sự chứng nghiệm về bản chất chân thực của vật chất, hay phương diện mẹ, và về tác động của Mặt Trời lên chất liệu.

312. DK amplifies the reason for this mysterious change.

312. Chân sư DK làm sáng tỏ thêm lý do của sự thay đổi huyền nhiệm này.

313. We shall come to an appreciation of the real nature of life and vitality. The vitalizing effect of prana will be seen. The devitalizing result of irresponsible sex will also be directly appreciated. The fate of matter (elemental life) and its development will be understood as dependent upon human understanding and practice.

313. Chúng ta sẽ đi đến chỗ trân trọng bản chất thực sự của sự sống và sinh lực. Tác động tiếp sinh lực của prana sẽ được thấy. Kết quả làm mất sinh lực của tính dục vô trách nhiệm cũng sẽ được nhận biết trực tiếp. Số phận của vật chất (sự sống hành khí) và sự phát triển của nó sẽ được hiểu là tùy thuộc vào sự thấu hiểu và thực hành của con người.

The unity of life will be a known and scientific fact, and life in matter will no longer be a theory but a fundamental of science. This cannot be enlarged upon here.

Sự nhất thể của sự sống sẽ là một sự kiện đã biết và có tính khoa học, và sự sống trong vật chất sẽ không còn là một lý thuyết mà là một nền tảng của khoa học. Điều này không thể được khai triển thêm ở đây.

314. The group implications of sex, marriage and procreation will be understood and responsibility to the ‘larger energy context’ will be appreciated.

314. Những hàm ý nhóm của tính dục, hôn nhân và sinh sản sẽ được thấu hiểu và trách nhiệm đối với ‘bối cảnh năng lượng lớn hơn’ sẽ được trân trọng.

315. At the present moment man sins in relation to matter largely through ignorance. Within the next few centuries any excuse for sinning in this way will be removed by direct etheric vision and an understanding of that which is newly seen.

315. Hiện nay con người phạm tội liên hệ với vật chất phần lớn do vô minh. Trong vài thế kỷ tới, mọi sự bào chữa cho việc phạm tội theo cách này sẽ bị loại bỏ bởi linh thị dĩ thái trực tiếp và sự thấu hiểu điều vừa được thấy.

Scroll to Top