Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến trang sách tương ứng trong TCF
TCF 563-567: S5S12
|
12 September 2007—27 September 2007 |
12 tháng 9 năm 2007—27 tháng 9 năm 2007 |
|
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) |
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện) |
|
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. |
Đề nghị nên đọc phần Bình Luận này với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn văn. |
|
1. We continue from Commentary XI with the subject of “specific purpose”. |
1. Chúng ta tiếp tục từ Bình Luận XI với chủ đề “mục đích đặc thù”. |
|
2. In the previous Commentary we were considering three ideas or factors related to the “specific purpose” of any thoughtform: |
2. Trong phần Bình Luận trước, chúng ta đã xem xét ba ý tưởng hay yếu tố liên hệ với “mục đích đặc thù” của bất kỳ hình tư tưởng nào: |
|
a. The Factor of Identity |
a. Yếu Tố Bản Sắc |
|
b. The Factor of Time |
b. Yếu Tố Thời Gian |
|
c. The Factor of Karma |
c. Yếu Tố Nghiệp Quả |
|
d. Now we add the Factor of the Lesser Builders |
d. Giờ đây chúng ta thêm vào Yếu Tố của các vị tiểu kiến tạo |
|
The Factor of the Lesser Builders. Here a most interesting factor comes in upon which we shall enlarge later, when considering the elementals. The specific purpose of a thought-form is connected very closely with the type of deva essence of which it is constructed, and (in connection with man on the mental plane), with the type of elemental which he can control, and send forth as the occupier, or vitalising agency of the thoughtform. |
Yếu Tố của các vị tiểu kiến tạo.Ở đây xuất hiện một yếu tố hết sức thú vị mà chúng ta sẽ khai triển thêm về sau, khi xét đến các hành khí. Mục đích đặc thù của một hình tư tưởng liên hệ rất mật thiết với loại tinh chất thiên thần mà từ đó nó được cấu tạo nên, và (liên quan đến con người trên cõi trí), với loại hành khí mà y có thể kiểm soát và phóng ra như kẻ cư ngụ, hay tác nhân tiếp sinh lực của hình tư tưởng. |
|
3. We are dealing with the specific purpose of a thoughtform. |
3. Chúng ta đang bàn đến mục đích đặc thù của một hình tư tưởng. |
|
4. This purpose is dependent upon two factors: |
4. Mục đích này tùy thuộc vào hai yếu tố: |
|
a. The type of deva essence of which the thoughtform is constructed |
a. Loại tinh chất thiên thần mà từ đó hình tư tưởng được cấu tạo nên |
|
b. The type of elemental which the creator of the thoughtform can control and send forth as the occupier or vitalizing agency of the thoughtform. |
b. Loại hành khí mà kẻ sáng tạo hình tư tưởng có thể kiểm soát và phóng ra như kẻ cư ngụ hay tác nhân tiếp sinh lực của hình tư tưởng. |
|
5. It is important for man to recognize that when he creates a thoughtform, he is dealing with an elemental life which is the occupier and vitalizing agency of the thoughtform. If he is to be successful in the creative process, he must learn to control such an elemental. |
5. Điều quan trọng là con người phải nhận ra rằng khi y tạo ra một hình tư tưởng, y đang làm việc với một sự sống hành khí là kẻ cư ngụ và tác nhân tiếp sinh lực của hình tư tưởng. Nếu muốn thành công trong tiến trình sáng tạo, y phải học cách kiểm soát một hành khí như thế. |
|
Roughly speaking, a solar Logos works only through the greater Builders, the Manasaputras in Their [Page 564] various grades on the two higher planes of the solar system. |
Nói một cách khái quát, một Thái dương Thượng đế chỉ hoạt động qua các đấng đại kiến tạo, các Manasaputras trong [Page 564] các cấp bậc khác nhau của Các Ngài trên hai cõi cao hơn của hệ mặt trời. |
|
6. The term “Manasaputra” sometimes means Planetary Logoi. |
6. Thuật ngữ “Manasaputra” đôi khi có nghĩa là các Hành Tinh Thượng đế. |
|
7. Are the Planetary Logoi to be considered as Men or Devas or both? |
7. Có nên xem các Hành Tinh Thượng đế là Người hay thiên thần hay là cả hai chăng? |
|
8. The focus of the Planetary Logoi is primarily upon the second plane of the solar system. |
8. Tiêu điểm của các Hành Tinh Thượng đế chủ yếu ở trên cõi thứ hai của hệ mặt trời. |
|
9. There are also Three Logoi Who are focussed upon the logoic plane, but these are not necessarily the same as the Logoi of the synthesizing planets—i.e., They are probably not Planetary Logoi but inclusive of Planetary Logoi (cf. EP II 99) |
9. Cũng có Ba Thượng đế được tập trung trên cõi logoi, nhưng các Ngài này không nhất thiết là cùng một với các Thượng đế của những hành tinh tổng hợp—nghĩa là, các Ngài có lẽ không phải là các Hành Tinh Thượng đế mà bao gồm các Hành Tinh Thượng đế (x. EP II 99) |
|
10. For the moment, it seems best to conclude that the Manasaputras through Whom the Solar Logos works are not the Planetary Logoi (even though the term Divine Manasaputra has often meant “Planetary Logos”) |
10. Hiện thời, dường như tốt nhất là kết luận rằng các Manasaputras mà qua đó Thái dương Thượng đế hoạt động không phải là các Hành Tinh Thượng đế (dù rằng thuật ngữ Manasaputra Thiêng liêng thường có nghĩa là “Hành Tinh Thượng đế”)Manasaputra |
|
11. The “greater Builders” here referenced (and through which the Solar Logos works) are probably the two Creative Hierarchies associated with the first two systemic plane—namely the “Divine Flames” and the “Burning Sons of Desire”. |
11. Các “đấng đại kiến tạo” được nhắc đến ở đây (và là những vị mà qua đó Thái dương Thượng đế hoạt động) có lẽ là hai Huyền Giai Sáng Tạo gắn liền với hai cõi đầu của hệ thống—cụ thể là “Những Ngọn Lửa Thiêng” và “Những Người Con Rực Cháy của Dục Vọng”. |
|
He works through Them, and sends Them forth upon the mission of constructing, and vitalising the systemic thought-form, with a specific purpose in view. |
Ngài hoạt động qua Các Ngài, và phóng Các Ngài ra thi hành sứ mạng kiến tạo và tiếp sinh lực cho hình tư tưởng hệ thống, với một mục đích đặc thù được nhắm đến. |
|
12. The Manasaputras, then, (as understood in this context) are the Devas Who construct the systemic thoughtform—i.e., the solar system. |
12. Như vậy, các Manasaputras (được hiểu trong ngữ cảnh này) là các thiên thần kiến tạo hình tư tưởng hệ thống—nghĩa là, hệ mặt trời. |
|
13. Next, we discuss the Builders through which the Planetary Logoi work—showing that there is a distinction between the directing Logoi (Solar or Planetary) and the Builders through whom They work. |
13. Tiếp theo, chúng ta bàn đến các đấng kiến tạo mà qua đó các Hành Tinh Thượng đế hoạt động—cho thấy có một sự phân biệt giữa các Thượng đế chỉ đạo (Thái dương hay Hành tinh) và các đấng kiến tạo mà qua đó Các Ngài hoạt động. |
|
The planetary Logoi work primarily through the Builders of the next three planes (atma-buddhi-manas), who construct and control the work of the planetary schemes. |
Các Hành Tinh Thượng đế hoạt động chủ yếu qua các đấng kiến tạo của ba cõi kế tiếp (atma-buddhi-manas), là những vị kiến tạo và kiểm soát công việc của các hệ hành tinh. |
|
14. From this section of text, we can confirm that the Manasaputras through which the Solar Logos works are not the Planetary Logoi. |
14. Từ phần văn bản này, chúng ta có thể xác nhận rằng các Manasaputras mà qua đó Thái dương Thượng đế hoạt động không phải là các Hành Tinh Thượng đế. |
|
15. The Solar Logoi and Planetary Logoi are considered as “Men” working through D/devas. |
15. Các Thái dương Thượng đế và các Hành Tinh Thượng đế được xem là “Người” hoạt động qua các thiên thần. |
|
16. The “Builders” (are They also “Greater Builders”) of the atmic, buddhic and manasic systemic planes are utilized by the Planetary Logoi. When compares with the Builders of the first two systemic planes, the Builders of the atmic, buddhic and manasic planes are lesser Builders, but they are greater when compared to Builders of still lower planes. |
16. Các “đấng kiến tạo” (Các Ngài cũng là các “đại kiến tạo” chăng?) của các cõi hệ thống atma, Bồ đề và manas được các Hành Tinh Thượng đế sử dụng. Khi so với các đấng kiến tạo của hai cõi hệ thống đầu tiên, các đấng kiến tạo của các cõi atma, Bồ đề và manas là các vị tiểu kiến tạo, nhưng lại lớn hơn khi so với các đấng kiến tạo của những cõi còn thấp hơn nữa. |
|
17. We must keep constantly in mind that the terms “greater” and “lesser” are entirely relative. |
17. Chúng ta phải luôn ghi nhớ rằng các thuật ngữ “lớn hơn” và “nhỏ hơn” hoàn toàn có tính tương đối. |
|
18. These Builders work upon those aspects of the schemes which are found on the atmic, buddhic and manasic planes. Still lesser builders, it seems, work on those aspects of the planetary schemes which are found on the lower eighteen sub-planes. |
18. Các đấng kiến tạo này hoạt động trên những phương diện của các hệ hành tinh được tìm thấy trên các cõi atma, Bồ đề và manas. Dường như các vị kiến tạo còn nhỏ hơn nữa hoạt động trên những phương diện của các hệ hành tinh được tìm thấy trên mười tám cõi phụ thấp hơn. |
|
Men work through the builders of the lower mental planes, and the astral plane, for the human thought-forms are kama-manasic; |
Con người hoạt động qua các đấng kiến tạo của các cõi hạ trí và cõi cảm dục, vì các hình tư tưởng của con người là trí-cảm; |
|
19. Probably much depends upon the kind of human being that is doing the building. |
19. Có lẽ многое tùy thuộc vào loại người đang thực hiện việc kiến tạo. |
|
20. If the man is highly mentally polarized, the builders of the astral plane may play a smaller role in the construction of his thoughtforms. |
20. Nếu con người ấy phân cực trí tuệ cao, các đấng kiến tạo của cõi cảm dục có thể đóng vai trò nhỏ hơn trong việc cấu tạo các hình tư tưởng của y. |
|
21. We may gather that the majority of thoughtforms created by human beings require the participation of both the builders of the lower mental plane and of the astral plane. |
21. Chúng ta có thể suy ra rằng đa số các hình tư tưởng do con người tạo ra đều đòi hỏi sự tham dự của cả các đấng kiến tạo của cõi hạ trí lẫn của cõi cảm dục. |
|
the physical plane builders are swept automatically into action by the force of the currents, and energies set up in subtler matter, by the great Builders. |
các đấng kiến tạo cõi hồng trần tự động bị cuốn vào hoạt động bởi mãnh lực của các dòng chảy và năng lượng được thiết lập trong chất liệu vi tế hơn, bởi các đại kiến tạo. |
|
14. Is DK including the lower mental builders and the astral builders as “great Builders”? It would seem usual to do so. Usually, the term “Greater Builders” is reserved for triadal builders and, in one chart at least, the atmic builders are not included among the “Greater Builders”—only those who build upon the monadic plane. |
14. Chân sư DK có bao gồm các đấng kiến tạo hạ trí và các đấng kiến tạo cảm dục trong “các đại kiến tạo” không? Dường như thường là như vậy. Thông thường, thuật ngữ “Các Đại Kiến Tạo” được dành cho các đấng kiến tạo tam nguyên tinh thần và, ít nhất trong một biểu đồ, các đấng kiến tạo atma không được kể vào “Các Đại Kiến Tạo”—chỉ những vị kiến tạo trên cõi chân thần mới được kể. |
|
15. The descriptions of the B/builders seem rather relative and caution will be needed if we are to understand the category of B/builder of which we may be speaking. |
15. Những mô tả về các đấng kiến tạo dường như khá tương đối và sẽ cần thận trọng nếu chúng ta muốn hiểu loại đấng kiến tạo nào đang được nói đến. |
|
16. Let us tabulate what we have learned in the foregoing section of text: |
16. Chúng ta hãy lập bảng những gì đã học được trong phần văn bản trên: |
|
Type of Man |
Type of Builder through which the Man Works |
Creative Hierarchies which May Be Involved in the Process |
The Planes on which the Building Takes Place |
|
Solar Logos |
Manasaputras—called here “Greater Builders” |
Divine Flames and Burning Sons of Desire |
Logoic and Monadic Planes of the Solar System |
|
Planetary Logos |
Builders Who are called neither “greater” nor “lesser” in this context. The Triple Flowers of the atmic plane are sometimes called “Lesser Builders” (EA 35) |
The Triple Flowers, The Initiates (Lords of Sacrifice), and the Makara |
Atmic, Buddhic and Manasic Planes |
|
Solar Angels Who are Greater Builders when compared with the unconscious Lunar Builders |
Some self-conscious devas who are directed by the Solar Lords |
The Lunar Lords (Sacrificial Fires) |
The Higher Mental Plane, the Astral Plane, the Systemic Etheric Plane |
|
Man |
Lower Devic and Elemental Lives |
The Elemental Lives (The Baskets of Nourishment), and in general monadic and elemental essence |
The Eighteen Lower Sub-planes |
|
17. In the Tabulation above, the Solar Angels have been inserted as They, though devic, are definitely directing Builders of the human incarnational process. |
17. Trong Bảng trên, các Thái dương Thiên Thần đã được đưa vào vì Các Ngài, tuy thuộc thiên thần giới, rõ ràng là các đấng kiến tạo chỉ đạo của tiến trình nhập thể nhân loại. |
|
18. The proposed Tabulation is relatively simple. The Tabulation below is far deeper in its implications. |
18. Bảng đề nghị này tương đối đơn giản. Bảng dưới đây sâu sắc hơn nhiều trong các hàm ý của nó. |
|
The inserted tabulation opposite may make this clear. |
Bảng được chèn ở trang đối diện có thể làm điều này rõ ràng. |
|
[Page 565] |

|
19. Listed above are the “Building Entities” found within the entirety of the solar system—itself an expression of the Will, Love and Intelligence of the Solar Logos. |
19. Được liệt kê ở trên là các “Thực Thể Kiến Tạo” được tìm thấy trong toàn thể hệ mặt trời—bản thân nó là một biểu hiện của Ý Chí, Tình thương và Trí Tuệ của Thái dương Thượng đế. |
|
20. In this tabulation the Solar Logos and Planetary Logoi are listed as “Building Entities”, but so is Man. |
20. Trong bảng này, Thái dương Thượng đế và các Hành Tinh Thượng đế được liệt kê như những “Thực Thể Kiến Tạo”, nhưng Con Người cũng vậy. |
|
21. Interestingly, we see that the fifth and sixth kingdoms are listed in the same row. The fifth kingdom is the “Kingdom of Souls” and the sixth the “Kingdom of Planetary Lives”. Both of these kingdoms are expressions of the Planetary Logos. |
21. Thật thú vị, chúng ta thấy giới thứ năm và giới thứ sáu được liệt kê trên cùng một hàng. Giới thứ năm là “Giới các Linh Hồn” và giới thứ sáu là “Giới các Sự Sống Hành tinh”. Cả hai giới này đều là những biểu hiện của Hành Tinh Thượng đế. |
|
22. We note that there are two more types of “Building Entities” not listed. They are incorporated within the field of expression of the Planetary Logos, but so is “Man” (and Man is listed separately). These two Entities are Chain-Lords and Globe Lords. |
22. Chúng ta lưu ý rằng còn có thêm hai loại “Thực Thể Kiến Tạo” nữa không được liệt kê. Chúng được bao hàm trong trường biểu hiện của Hành Tinh Thượng đế, nhưng “Con Người” cũng vậy (và Con Người được liệt kê riêng). Hai Thực Thể này là các Chúa Tể Dãy và các Chúa Tể Bầu Hành Tinh. |
|
23. We notice that building occurs below the level of the logoic and monadic planes. Cosmically, the material aspect begins with the atmic plane which is the first planet of Brahma—the God of form aspect. |
23. Chúng ta nhận thấy rằng sự kiến tạo diễn ra bên dưới cấp độ của các cõi logoi và chân thần. Về mặt vũ trụ, phương diện vật chất bắt đầu với cõi atma, là cõi đầu tiên của Brahma—Thượng đế của phương diện hình tướng. |
|
24. Atma may be considered an aspect of the Universal Mind—the Mind of the Logos, and so it is fitting to find the Grand Heavenly Man building upon the atmic plane. |
24. Atma có thể được xem là một phương diện của Vũ Trụ Trí—Trí của Thượng đế, và vì thế thật thích hợp khi thấy Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại kiến tạo trên cõi atma. |
|
25. The Solar Logos always seems to work one sub-plane higher than the Planetary Logos. If atma is Universal Mind for the Solar Logos, then buddhic (transcendental mind) is for the Planetary Logos the correspondence to Universal Mind. |
25. Thái dương Thượng đế dường như luôn hoạt động cao hơn Hành Tinh Thượng đế một cõi phụ. Nếu atma là Vũ Trụ Trí đối với Thái dương Thượng đế, thì Bồ đề (trí tuệ siêu việt) là sự tương ứng với Vũ Trụ Trí đối với Hành Tinh Thượng đế. |
|
26. There are a number of correspondences in this Tabulation which are unusual or of interest or both. |
26. Có một số tương ứng trong Bảng này vừa khác thường vừa đáng quan tâm, hoặc cả hai. |
|
a. We see that the Heavenly Men are called the personality aspect of the Planetary Logos. Most often the term “Heavenly Man” means Planetary Logos. In this case, we may be dealing with group entities upon triadal levels through which the Planetary Logos expresses. There are, perhaps, a number of varieties of Heavenly Men which are not the Planetary Logos, per se. |
a. Chúng ta thấy rằng các Đấng Thiên Nhân được gọi là phương diện phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế. Thông thường nhất, thuật ngữ “Đấng Thiên Nhân” có nghĩa là Hành Tinh Thượng đế. Trong trường hợp này, có lẽ chúng ta đang bàn đến các thực thể nhóm trên các cấp độ tam nguyên tinh thần mà qua đó Hành Tinh Thượng đế biểu lộ. Có lẽ có một số loại Đấng Thiên Nhân không phải chính là Hành Tinh Thượng đế. |
|
b. From another perspective, the personality aspect of the Planetary Logos would be found upon the eighteen lower cosmic sub-planes (but to include the cosmic planes seems too great a stretch for this particular Tabulation). |
b. Từ một góc nhìn khác, phương diện phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế sẽ được tìm thấy trên mười tám cõi phụ vũ trụ thấp hơn (nhưng bao gồm các cõi vũ trụ dường như là một sự kéo giãn quá mức đối với riêng Bảng này). |
|
c. We also see that the Grand Heavenly Man is considered the personality aspect of the Solar Logos. Again, we could include the lower cosmic sub-planes as the personality of the Solar Logos and, hence, the proper sphere of expression of this characterization of the Grand Heavenly Man, but to do so might be to broaden the scope of this Tabulation in an unwarranted manner. |
c. Chúng ta cũng thấy rằng Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại được xem là phương diện phàm ngã của Thái dương Thượng đế. Một lần nữa, chúng ta có thể bao gồm các cõi phụ vũ trụ thấp hơn như phàm ngã của Thái dương Thượng đế và, do đó, là khối cầu biểu hiện thích hợp của đặc tính này nơi Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại, nhưng làm như vậy có thể là mở rộng phạm vi của Bảng này một cách không chính đáng. |
|
d. In what sort of B/being are the centers listed in this tabulation found? We may deduce that the Being is the Solar Logos. |
d. Các trung tâm được liệt kê trong bảng này được tìm thấy trong loại Thực Thể nào? Chúng ta có thể suy ra rằng Thực Thể ấy là Thái dương Thượng đế. |
|
e. In this Solar Logos, a Planetary Logos is as a “Head & Throat” center. The Planetary Logoi have mastered manas and are, therefore, “Divine Manasaputras”. The Planetary Logoi, generically, are also “Dragons of Wisdom”—great “Hearts of Love”. |
e. Trong Thái dương Thượng đế này, một Hành Tinh Thượng đế giống như một trung tâm “Đầu & Cổ họng”. Các Hành Tinh Thượng đế đã làm chủ manas và vì thế là những “Manasaputras Thiêng liêng”. Các Hành Tinh Thượng đế, nói chung, cũng là những “Rồng Minh Triết”—những “Trái Tim của Bác Ái” vĩ đại. |
|
f. Within a Solar Logos, the human kingdom is no longer a throat center as in a Planetary Logos, but occupies a lower center. In this case, it is the solar plexus center. |
f. Trong một Thái dương Thượng đế, giới nhân loại không còn là một trung tâm cổ họng như trong một Hành Tinh Thượng đế nữa, mà chiếm một trung tâm thấp hơn. Trong trường hợp này, đó là trung tâm tùng thái dương. |
|
g. Interestingly, man is also considered a base of the spine center, which likens the human kingdom to the mineral kingdom. We have to ask: “In comparison with what type of Being, is humanity as a base of the spine center?” |
g. Thật thú vị, con người cũng được xem là một trung tâm đáy cột sống, điều này làm cho giới nhân loại giống với giới kim thạch. Chúng ta phải hỏi: “So với loại Thực Thể nào mà nhân loại lại như một trung tâm đáy cột sống?” |
|
h. The Earth-globe is characterized by the number four as is the human kingdom. The Earth-globe may be, from one perspective, a kind of base of the spine center of the Lord of the Earth-chain. The Earth-chain, from one perspective, may be a kind of base of the spine center for the Lord of the Earth-scheme. Humanity is a throat center for the Planetary Logos and, apparently, a solar plexus center for the Solar Logos. We are speaking of humanity throughout the solar system. It will not do to search the realms of the Cosmic Logoi and Super-Cosmic Logoi. They are too big and humanity too small. What about the star Sirius towards which humanity travels on the Fourth Path on the “Way of Higher Evolution”. Could the base of the spine center with its number four be related to this Fourth Path? |
h. Địa cầu bầu hành tinh được đặc trưng bởi con số bốn cũng như giới nhân loại. Từ một góc nhìn, Địa cầu bầu hành tinh có thể là một loại trung tâm đáy cột sống của Chúa Tể của Dãy Địa Cầu. Từ một góc nhìn, Dãy Địa Cầu có thể là một loại trung tâm đáy cột sống đối với Chúa Tể của hệ hành tinh Địa Cầu. Nhân loại là một trung tâm cổ họng đối với Hành Tinh Thượng đế và, dường như, là một trung tâm tùng thái dương đối với Thái dương Thượng đế. Chúng ta đang nói về nhân loại trong toàn thể hệ mặt trời. Sẽ không thích hợp nếu tìm kiếm trong các cõi của các Thượng đế Vũ Trụ và các Thượng đế Siêu Vũ Trụ. Các Ngài quá lớn còn nhân loại thì quá nhỏ. Còn ngôi sao Sirius mà nhân loại tiến về đó trên Con đường thứ Tư của “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu” thì sao? Liệu trung tâm đáy cột sống với con số bốn có thể liên hệ với Con đường thứ Tư này chăng? |
|
i. We have to pause to reflect a problem: while kingdoms may serve as centers or chakras within a Solar Logos, planetary schemes are also centers or chakras within a Solar Logos. We always have to view the scope of the centers or chakras we are discussing. Just as there are major centers or chakras, there are also minor and minute centers. When thinking of man’s relationship to a Solar Logos, it is hard to see him as a major center or chakra. What we need to determine is the following: |
i. Chúng ta phải dừng lại để suy nghĩ về một vấn đề: trong khi các giới có thể đóng vai trò như các trung tâm hay luân xa trong một Thái dương Thượng đế, thì các hệ hành tinh cũng là các trung tâm hay luân xa trong một Thái dương Thượng đế. Chúng ta luôn phải xét phạm vi của các trung tâm hay luân xa đang được bàn đến. Cũng như có các trung tâm hay luân xa chính, cũng có các trung tâm nhỏ và cực nhỏ. Khi nghĩ đến mối liên hệ của con người với một Thái dương Thượng đế, thật khó xem y như một trung tâm hay luân xa chính. Điều chúng ta cần xác định là điều sau đây: |
|
i. What kind of centers or chakras in a Solar Logos do planetary schemes represent? |
i. Các hệ hành tinh biểu hiện loại trung tâm hay luân xa nào trong một Thái dương Thượng đế? |
|
ii. What kind of centers of chakras in a Solar Logos do the Kingdoms of Nature represent? |
ii. Các Giới của Tự Nhiên biểu hiện loại trung tâm hay luân xa nào trong một Thái dương Thượng đế? |
|
iii. What kind of centers or chakras in a Solar Logos do planetary chains represent? |
iii. Các dãy hành tinh biểu hiện loại trung tâm hay luân xa nào trong một Thái dương Thượng đế? |
|
iv. And so for planetary globes? |
iv. Và các bầu hành tinh thì sao? |
|
v. As rays and planes are also spheres what kind of spheres of activity do they represent within a Solar Logos? |
v. Vì các cung và các cõi cũng là những khối cầu, nên chúng biểu hiện loại khối cầu hoạt động nào trong một Thái dương Thượng đế? |
|
j. It is not surprising to see the animals (a Martian kingdom) related to the generative organs and the vegetable kingdom linked to the vitality processing spleen. |
j. Không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy giới động vật (một giới của Sao Hỏa) liên hệ với các cơ quan sinh sản và giới thực vật gắn với lá lách, cơ quan xử lý sinh lực. |
|
k. Man is the only kingdom characterized by “triplicity”. The fifth and sixth kingdoms (Souls and Planetary Lives) related to the Heavenly Men are characterized by “duality” as is the animal kingdom. Both of these kingdoms have a close relation to the third and sixth rays. |
k. Con người là giới duy nhất được đặc trưng bởi “bộ ba”. Giới thứ năm và thứ sáu (các Linh Hồn và các Sự Sống Hành tinh) liên hệ với các Đấng Thiên Nhân được đặc trưng bởi “nhị nguyên tính”, cũng như giới động vật. Cả hai giới này đều có liên hệ mật thiết với cung ba và cung sáu. |
|
l. Is the triplicity of Man related to the “three minds” which must unite upon the mental plane? Mentally, man is triple—lower mind, Son of Mind and abstract mind. |
l. Bộ ba của Con Người có liên hệ với “ba trí hợp nhất” vốn phải hợp nhất trên cõi trí chăng? Về mặt trí tuệ, con người là tam phân—hạ trí, Con của Trí Tuệ và trí trừu tượng. |
|
m. The mineral kingdom and the seventh kingdom (related to the Solar Logos) are characterized by “unity”. Always in the developmental process, there is a primitive unity at the beginning, and a fully synthesized unity at the end. |
m. Giới kim thạch và giới thứ bảy (liên hệ với Thái dương Thượng đế) được đặc trưng bởi “hợp nhất”. Trong tiến trình phát triển luôn có một sự hợp nhất nguyên sơ ở lúc khởi đầu, và một sự hợp nhất được tổng hợp trọn vẹn ở lúc kết thúc. |
|
27. We do not know the entire revelatory power of this chart. There are some unusual correspondences and one can only suspect that much is hinted and much, necessarily, overlooked. |
27. Chúng ta không biết toàn bộ quyền năng mặc khải của biểu đồ này. Có một số tương ứng khác thường, và người ta chỉ có thể ngờ rằng nhiều điều được gợi ý và nhiều điều, tất yếu, bị bỏ qua. |
|
If the table is carefully studied, it will be seen that the fivefold earlier enumeration concerns the most important kingdoms in nature, |
Nếu bảng này được nghiên cứu cẩn thận, sẽ thấy rằng sự liệt kê ngũ phân trước đó liên quan đến những giới quan trọng nhất trong tự nhiên, |
|
28. These would be— |
28. Đó sẽ là— |
|
a. The Kingdom of Solar Lives |
a. Giới các Sự sống Thái Dương |
|
b. The Kingdom of Planetary Lives |
b. Giới các Sự Sống Hành tinh |
|
c. The Kingdom of Souls |
c. Giới các Linh Hồn |
|
d. The Human Kingdom |
d. Giới Nhân Loại |
|
e. The Animal Kingdom. |
e. Giới Động Vật. |
|
whilst the final two are peculiarly interesting in that the mineral kingdom can in no sense be considered a principle, but simply the densest point of concretion of the abstract, |
trong khi hai giới cuối cùng đặc biệt thú vị ở chỗ giới kim thạch tuyệt nhiên không thể được xem là một nguyên khí, mà chỉ đơn giản là điểm cô đặc đậm đặc nhất của cái trừu tượng, |
|
29. The “abstract” (in this context) is the Kingdom of Solar Lives, the seventh kingdom |
29. “Cái trừu tượng” (trong ngữ cảnh này) là Giới các Sự sống Thái Dương, giới thứ bảy |
|
and that the vegetable kingdom has a peculiar place in the economy of the system as the transmitter of the vital pranic fluid; |
và rằng giới thực vật có một vị trí đặc biệt trong sự tiết kiệm của hệ thống như là kẻ truyền dẫn lưu chất prana sinh lực; |
|
30. The principle of vitality is closely associated with vegetable life. This assignment, then, is not surprising. |
30. Nguyên khí sinh lực gắn bó chặt chẽ với sự sống thực vật. Vì vậy, sự quy định này không có gì đáng ngạc nhiên. |
|
31. As the etheric body is often excluded from association with the lunar elementals of man, can we associate the Venusian/Solar vegetable kingdom with the etheric body through which, primarily, vital pranic fluid is transmitted from the Sun? From the Tabulation, is seems we can. |
31. Vì thể dĩ thái thường bị loại khỏi sự liên hệ với các hành khí thái âm của con người, liệu chúng ta có thể liên kết giới thực vật Kim tinh/Thái dương với thể dĩ thái, qua đó lưu chất prana sinh lực chủ yếu được truyền từ Mặt Trời chăng? Từ Bảng này, dường như là có thể. |
|
32. The mental, astral and physical levels have their elementals; the corresponding kingdoms are the human, the animal and the mineral. The etheric body is excluded and the vegetable kingdom is excluded. Both have a more solar meaning. |
32. Các cấp độ trí tuệ, cảm dục và hồng trần đều có các hành khí của chúng; các giới tương ứng là giới nhân loại, giới động vật và giới kim thạch. Thể dĩ thái bị loại ra và giới thực vật cũng bị loại ra. Cả hai đều có một ý nghĩa thái dương hơn. |
|
the vegetable kingdom is definitely a bridge between the conscious and the unconscious. |
giới thực vật rõ ràng là một cây cầu giữa cái có ý thức và cái vô ý thức. |
|
33. This is interesting and is, perhaps, why (in the Tabulation) the vegetable kingdom is said to be “Transitional”. The transition is being made from “Unity” to “Duality”. The Unity in the case of the mineral kingdom is an unconscious Unity. Duality suggests consciousness, thus, the vegetable kingdom which is characterized by neither unity nor duality represents the transition from unconsciousness to consciousness. |
33. Điều này thật thú vị và có lẽ đó là lý do vì sao (trong Bảng) giới thực vật được nói là “Chuyển tiếp”. Sự chuyển tiếp đang được thực hiện từ “Hợp nhất” sang “Nhị nguyên tính”. Sự Hợp nhất trong trường hợp giới kim thạch là một sự Hợp nhất vô ý thức. Nhị nguyên tính gợi ý tâm thức, vì vậy giới thực vật, vốn không được đặc trưng bởi hợp nhất cũng không bởi nhị nguyên tính, biểu hiện sự chuyển tiếp từ vô ý thức sang tâm thức. |
|
Here I am using these words in their broadest and most general sense. Though it is known that the mineral kingdom has a consciousness of its own, yet sensation is more distinctly recognisable in the second kingdom, and the distinction between the consciousness of the mineral and that of the animal is so vast that their respective consciousnesses are basically unlike. |
Ở đây tôi đang dùng những từ này theo nghĩa rộng nhất và tổng quát nhất của chúng. Dù известно rằng giới kim thạch có một tâm thức riêng của nó, tuy nhiên cảm giác lại được nhậnbiết rõ rệt hơn trong giới thứ hai, và sự khác biệt giữa tâm thức của giới kim thạch và của giới động vật lớn đến mức các tâm thức tương ứng của chúng về cơ bản là không giống nhau. |
|
34. DK is telling us that “sensation” is related to that which we usually think of as consciousness. |
34. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng “cảm giác” liên hệ với điều mà chúng ta thường nghĩ là tâm thức. |
|
35. We know little of these lower forms of consciousness. The mineral has nothing that we would call “sensation” as the vegetable kingdom has. |
35. Chúng ta biết rất ít về những hình thức tâm thức thấp này. Giới kim thạch không có điều gì mà chúng ta gọi là “cảm giác” như giới thực vật có. |
|
36. Since animal and mineral consciousness are so vastly separated, the vegetable kingdom serves as a “bridge” or transitional kingdom between them. |
36. Vì tâm thức động vật và tâm thức kim thạch cách biệt nhau quá lớn, giới thực vật đóng vai trò như một “cây cầu” hay giới chuyển tiếp giữa chúng. |
|
37. There is no place in cosmos where consciousness is not. DK is certainly aware of this, as He states. But the consciousness of the mineral kingdom is so different (and so primitive) compared the consciousness of the other kingdoms that it might as well be called unconsciousness. |
37. Không có nơi nào trong vũ trụ mà không có tâm thức. Chân sư DK chắc chắn biết điều này, như Ngài đã nói. Nhưng tâm thức của giới kim thạch khác biệt đến thế (và nguyên sơ đến thế) so với tâm thức của các giới khác đến nỗi nó hầu như có thể được gọi là vô ý thức. |
|
Between these stands the vegetable kingdom, approximating more generally the animal consciousness than the mineral, and having a most esoteric relationship to the deva evolution. |
Giữa hai giới ấy là giới thực vật, gần đúng hơn với tâm thức động vật nói chung so với tâm thức kim thạch, và có một mối liên hệ hết sức huyền bí với tiến hoá thiên thần. |
|
38. Here again, we have some very important information: |
38. Ở đây một lần nữa, chúng ta có một số thông tin rất quan trọng: |
|
a. The vegetable consciousness is closer to the animal consciousness than to the mineral. |
a. Tâm thức thực vật gần với tâm thức động vật hơn là với tâm thức kim thạch. |
|
b. In terms of the initiations, we could say that the second initiation is much closer in quality to the third than it is to the first (from which it is separated by many lives). |
b. Xét theo các lần điểm đạo, chúng ta có thể nói rằng lần điểm đạo thứ hai gần với lần điểm đạo thứ ba về phẩm tính hơn nhiều so với lần điểm đạo thứ nhất (mà nó bị tách xa bởi nhiều kiếp sống). |
|
c. The first initiation can be called the ‘mineral initiation’; the second initiation, the ‘vegetable initiation’; the third initiation, the ‘animal initiation’. After the third initiation (through the defeat of Mars and the Moon) man is no longer to be considered an “animal” but has become truly human. |
c. Lần điểm đạo thứ nhất có thể được gọi là ‘điểm đạo kim thạch’; lần điểm đạo thứ hai, ‘điểm đạo thực vật’; lần điểm đạo thứ ba, ‘điểm đạo động vật’. Sau lần điểm đạo thứ ba (qua sự đánh bại Sao Hỏa và Mặt Trăng), con người không còn được xem là một “động vật” nữa mà đã trở nên thực sự nhân loại. |
|
[Page 566] |
|
|
All these kingdoms of nature are “forms of thought”; |
Tất cả các giới này trong tự nhiên đều là “những hình tư tưởng”; |
|
39. We should pause to consider kingdoms of nature as thoughtforms. They are sheaths for the expression of the Logos. |
39. Chúng ta nên dừng lại để xem xét các giới trong tự nhiên như những hình tư tưởng. Chúng là những vỏ bọc cho sự biểu lộ của Thượng đế. |
|
40. Every discernible structure in the solar system (and more widely, in cosmos) is really a thoughtform. |
40. Mọi cấu trúc có thể nhận biết được trong hệ mặt trời (và rộng hơn, trong vũ trụ) thực sự đều là một hình tư tưởng. |
|
all have body, vitality, quality and purpose, and all are sent out by a greater life than their own upon a specific mission; they are sent forth by those who are self-conscious and are a blend of mind, spirit and objective form. |
tất cả đều có thể, sinh lực, phẩm tính và mục đích, và tất cả đều được một sự sống lớn hơn chính chúng phóng ra trong một sứ mạng đặc thù; chúng được phóng ra bởi những kẻ có ngã thức và là một sự pha trộn của trí tuệ, tinh thần và hình tướng khách quan. |
|
41. DK is summarizing what He has said of thoughtforms and showing that the kingdoms of nature qualify to be considered as such for they possess the characteristic which typify every thoughtform. |
41. Chân sư DK đang tóm lược điều Ngài đã nói về các hình tư tưởng và cho thấy rằng các giới trong tự nhiên đủ điều kiện để được xem như thế vì chúng sở hữu những đặc tính tiêu biểu cho mọi hình tư tưởng. |
|
42. What characterizes thoughtforms—we repeat: |
42. Điều gì đặc trưng cho các hình tư tưởng—chúng ta nhắc lại: |
|
a. All have body |
a. Tất cả đều có thể |
|
b. All have vitality |
b. Tất cả đều có sinh lực |
|
c. All have quality |
c. Tất cả đều có phẩm tính |
|
d. All have purpose |
d. Tất cả đều có mục đích |
|
e. All have a mission determined by the greater life which sent them forth |
e. Tất cả đều có một sứ mạng do sự sống lớn hơn đã phóng chúng ra quyết định |
|
43. Who sends forth thoughtforms? |
43. Ai phóng ra các hình tư tưởng? |
|
a. Those who are self-conscious |
a. Những kẻ có ngã thức |
|
b. Those who are a blend of mind, spirit and objective form. In this enumeration, “mind” stands for the second aspect. |
b. Những kẻ là sự pha trộn của trí tuệ, tinh thần và hình tướng khách quan. Trong sự liệt kê này, “trí tuệ” tượng trưng cho phương diện thứ hai. |
|
44. Even if the members of some kingdoms are not self-conscious, the informing Life of a kingdom is so. |
44. Dù các thành viên của một số giới có thể không có ngã thức, Sự Sống thấm nhuần một giới thì có. |
|
Only the self-conscious can create, and only they are capable of purpose, of co-ordination, of direction and control. |
Chỉ những kẻ có ngã thức mới có thể sáng tạo, và chỉ họ mới có khả năng có mục đích, phối hợp, chỉ đạo và kiểm soát. |
|
45. The self-conscious are ‘behind’ and ‘within’ every kingdom and a self-conscious Life expresses through every kingdom. |
45. Những kẻ có ngã thức ở ‘đằng sau’ và ‘bên trong’ mọi giới, và một Sự Sống có ngã thức biểu lộ qua mọi giới. |
|
46. Creativity involves selection and combination. Only the self-conscious can remember and reflect so that material for a creation can be gathered, coordinated, directed and controlled for the sake of executing a particular purpose or plan. |
46. Tính sáng tạo bao hàm sự chọn lựa và kết hợp. Chỉ những kẻ có ngã thức mới có thể ghi nhớ và phản tỉnh để chất liệu cho một sáng tạo có thể được thu thập, phối hợp, chỉ đạo và kiểm soát nhằm thực hiện một mục đích hay Thiên Cơ nhất định. |
|
Even though it may seem that much has been left unsaid, yet in due consideration of the above four points in connection with “purpose” in a thought-form, much can be worked out by the student himself. |
Dù có vẻ như nhiều điều đã bị bỏ ngỏ, tuy nhiên nếu suy xét đúng mức bốn điểm trên liên quan đến “mục đích” trong một hình tư tưởng, đạo sinh có thể tự mình tìm ra được nhiều điều. |
|
47. We have considered “four points” in relation to the “specific purpose” of any thoughtform. |
47. Chúng ta đã xem xét “bốn điểm” liên quan đến “mục đích đặc thù” của bất kỳ hình tư tưởng nào. |
|
48. Let us repeat them for the sake of fixing them in mind: |
48. Chúng ta hãy nhắc lại chúng để khắc ghi trong trí: |
|
a. The Factor of Identity, entailing |
a. Yếu Tố của Bản Sắc, bao hàm |
|
i. Source |
i. Nguồn gốc |
|
ii. Mission |
ii. Sứ mạng |
|
iii. Method |
iii. Phương pháp |
|
iv. Objective |
iv. Mục tiêu |
|
b. The Factor of Time, entailing principally |
b. Yếu Tố của Thời Gian, chủ yếu bao hàm |
|
i. The period of construction |
i. Giai đoạn kiến tạo |
|
ii. The period of utilization |
ii. Giai đoạn sử dụng |
|
iii. The period of dissolution |
iii. Giai đoạn tan rã |
|
c. The Factor of Karma |
c. Yếu Tố của Nghiệp Quả |
|
d. The Factor of the Lesser Builders |
d. Yếu Tố của các vị tiểu kiến tạo |
|
49. Many hints have been given and much of further value can be revealed if students care to go more deeply into the matter. |
49. Nhiều gợi ý đã được đưa ra và còn có thể tiết lộ thêm nhiều điều có giá trị hơn nữa nếu các đạo sinh muốn đi sâu hơn vào vấn đề này. |
|
In extending these ideas to a solar Logos, many questions of interest arise which are profitable only in so far as they expand the concept, and widen the horizon of the Thinker. |
Khi mở rộng những ý tưởng này đến một Thái dương Thượng đế, nhiều câu hỏi lý thú nảy sinh; chúng chỉ hữu ích trong chừng mực chúng mở rộng khái niệm và nới rộng chân trời của thức giả. |
|
50. These two factors—the expansion of the concept and the widening of the horizon—have their place and value. The matters addressed by such questions as might arise are not really practical but they are potentially illuminative. |
50. Hai yếu tố này—sự mở rộng khái niệm và sự nới rộng chân trời—đều có chỗ đứng và giá trị của chúng. Những vấn đề được nêu ra bởi các câu hỏi như thế thực ra không mang tính thực tiễn, nhưng chúng có khả năng soi sáng. |
|
51. For instance, when considering the Solar Logos as a thoughtform: |
51. Chẳng hạn, khi xem xét Thái dương Thượng đế như một Hình tư tưởng: |
|
a. Who, really, is our Solar Logos? What is His source, mission, method and objective? |
a. Thực sự, ai là Thái dương Thượng đế của chúng ta? Nguồn gốc, sứ mệnh, phương pháp và mục tiêu của Ngài là gì? |
|
b. How do the three principal time periods in the life of any ‘Thoughtform-E/entity’ play out in the thoughtform through which the Solar Logos expresses? What was the period of construction of the thoughtform through which He expresses? What was and is the period during which the thoughtform through which He expresses is utilized? What will be the period of obscuration of the thoughtform through which He expresses? |
b. Ba thời kỳ chính trong đời sống của bất kỳ “Hình tư tưởng/Thực thể” nào diễn ra như thế nào trong hình tư tưởng mà qua đó Thái dương Thượng đế biểu lộ? Thời kỳ kiến tạo hình tư tưởng mà qua đó Ngài biểu lộ là gì? Thời kỳ mà trong đó hình tư tưởng mà qua đó Ngài biểu lộ đã và đang được sử dụng là gì? Thời kỳ che khuất của hình tư tưởng mà qua đó Ngài biểu lộ sẽ là gì? |
|
c. What is the karma of our Solar Logos and with respect to which E/entities is this karma being worked out? |
c. Nghiệp quả của Thái dương Thượng đế của chúng ta là gì và nghiệp quả này đang được giải quyết đối với những Thực thể nào? |
|
d. Who are the “Lesser Builders” who have participated in the construction of the thoughtform through which He expresses? |
d. Ai là những “vị tiểu kiến tạo” đã tham gia vào việc kiến tạo hình tư tưởng mà qua đó Ngài biểu lộ? |
|
52. The questions above apply to the thoughtform through which the Solar Logos expresses—i.e., His solar system and also His entire Personality which transcends the solar system). |
52. Những câu hỏi trên áp dụng cho hình tư tưởng mà qua đó Thái dương Thượng đế biểu lộ—tức là hệ mặt trời của Ngài và cả toàn bộ phàm ngã của Ngài, vốn vượt ngoài hệ mặt trời). |
|
53. One could apply the same kinds of questions to the great variety of thoughtforms which the Solar Logos creates. |
53. Người ta có thể áp dụng cùng loại câu hỏi ấy cho vô số hình tư tưởng mà Thái dương Thượng đế tạo ra. |
|
54. The same line of analysis pursued in relation to the Solar Logos can be applied to a Planetary Logos or to any other self-conscious creator. In all such analyses, the Law of Analogy will be found indispensable. |
54. Cùng đường lối phân tích được theo đuổi liên hệ với Thái dương Thượng đế cũng có thể được áp dụng cho một Hành Tinh Thượng đế hay cho bất kỳ đấng sáng tạo tự ngã thức nào khác. Trong mọi phân tích như thế, định luật tương đồng sẽ được thấy là không thể thiếu. |
|
The logoic purpose is not yet comprehensible to man; it does not profit him to meditate thereon, |
Thiên Ý của đấng logoi vẫn chưa thể được con người thấu hiểu; việc tham thiền về điều đó không đem lại ích lợi cho y, |
|
55. Something about the second ray nature of the Logos has been given and His function as a heart center within a Cosmic Logos. From this information, some vague, but, hopefully, not misdirected, thought about His Purpose may be inferred though certainly not known. |
55. Một vài điều về bản chất cung hai của Logos và chức năng của Ngài như một trung tâm tim bên trong một Cosmic Logos đã được trình bày. Từ thông tin này, có thể suy ra một vài tư tưởng mơ hồ nhưng hy vọng không sai hướng về Thiên Ý của Ngài, dù chắc chắn không thể biết |
|
yet in the formulation of ideas, and their apprehension by thinkers may come the gradual dawning of a day of recognition, and a subsequent co-operation with that divine purpose. |
được. Tuy nhiên, trong việc hình thành các ý tưởng và sự nắm bắt chúng bởi các thức giả, có thể xuất hiện dần dần bình minh của một ngày nhận biết, và tiếp theo là sự hợp tác với thiên ý thiêng liêng ấy. |
|
56. DK holds out to the enquiring individual or group the possibility of learning something (eventually) that will make it possible to cooperate with the Purpose of the Solar Logos. |
56. Chân sư DK mở ra cho cá nhân hay nhóm truy cầu khả năng học biết một điều gì đó (rốt cuộc) sẽ khiến cho việc hợp tác với Thiên Ý của Thái dương Thượng đế trở nên khả hữu. |
|
57. Right now, we have enough on our hands to intuit the purpose of the Ashram which we may be approaching and of the Master at its center. The purpose of the Chohans is dark to us as are the purposes of the Great Leaders of Hierarchy. The “The unknown, unseen and unheard purpose of Sanat Kumara” (R&I 241) is darker still and His purpose is not the entirety of the Purpose of our Planetary Logos. |
57. Ngay lúc này, chúng ta đã có đủ việc trong tay để trực giác được mục đích của ashram mà chúng ta có thể đang tiến gần đến và của Chân sư ở trung tâm của nó. Mục đích của các Chohan còn tối tăm đối với chúng ta, cũng như các mục đích của những Vị Lãnh Đạo Vĩ Đại của Thánh đoàn. “Mục đích vô tri, vô kiến và vô thanh của Đức Sanat Kumara” (R&I 241) còn tối tăm hơn nữa, và mục đích của Ngài không phải là toàn bộ Thiên Ý của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. |
|
58. So it is obvious that we have far to go before the Purpose of the Solar Logos can mean anything real to us. |
58. Vì vậy, hiển nhiên là chúng ta còn phải đi rất xa trước khi Thiên Ý của Thái dương Thượng đế có thể mang ý nghĩa thực sự nào đó đối với chúng ta. |
|
59. Yet, if we cultivate Love-Wisdom we will, at least, be aligned with that Unknown Purpose. |
59. Tuy nhiên, nếu chúng ta vun bồi Bác Ái – Minh Triết, thì ít nhất chúng ta cũng sẽ được chỉnh hợp với Thiên Ý chưa biết ấy. |
|
Let us, therefore, formulate some of these questions, leaving the future to reveal the answer: |
Vậy, chúng ta hãy hình thành một số câu hỏi này, để tương lai tiết lộ câu trả lời: |
|
1. What may be the purpose of the present incarnation of the solar Logos? |
1. Mục đích của lần lâm phàm hiện nay của Thái dương Thượng đế có thể là gì? |
|
60. We will not be able to answer these questions but can, perhaps, offer some hints concerning the direction in which the answer should be sought. |
60. Chúng ta sẽ không thể trả lời những câu hỏi này, nhưng có lẽ có thể đưa ra một vài gợi ý về phương hướng cần tìm kiếm câu trả lời. |
|
61. The present incarnation of the Solar Logos is His fifth. This is the fifth mahamanvantara from one angle of vision. At this time the Solar Logos functions as a heart center in a Cosmic Logos. He is not yet mentally polarized from the cosmic perspective. He is a Logos of the fourth order and is considered to be astral-buddhic in nature. His goal is the third cosmic initiation and the fourth and perhaps the fifth cosmic initiations are to be completed in this present mahamanvantara. |
61. Lần lâm phàm hiện nay của Thái dương Thượng đế là lần thứ năm của Ngài. Đây là đại giai kỳ sinh hóa thứ năm xét từ một góc độ tầm nhìn. Hiện nay, Thái dương Thượng đế hoạt động như một trung tâm tim trong một Cosmic Logos. Từ viễn cảnh vũ trụ, Ngài vẫn chưa phân cực trí tuệ. Ngài là một Logos thuộc bậc thứ tư và được xem là có bản chất cảm dục-Bồ đề. Mục tiêu của Ngài là lần điểm đạo vũ trụ thứ ba, và lần điểm đạo vũ trụ thứ tư và mahamanvantaracó lẽ lần điểm đạo vũ trụ thứ năm sẽ được hoàn tất trong đại giai kỳ sinh hóa hiện tại này. |
|
62. Our Solar Logos is not yet a “sacred” Logos. By this we understand that He is still in the quaternary of the Cosmic Logos of which He forms a part. As is the case for Planetary Logoi, perhaps a “sacred” Solar Logos is one Who has taken a fifth cosmic initiation. |
62. Thái dương Thượng đế của chúng ta vẫn chưa là một Logos “thiêng liêng”. Qua đó chúng ta hiểu rằng Ngài vẫn còn ở trong bộ tứ của Cosmic Logos mà Ngài là một phần. Cũng như trường hợp của các Hành Tinh Thượng đế, có lẽ một Thái dương Thượng đế “thiêng liêng” là Đấng đã trải qua lần điểm đạo vũ trụ thứ năm. |
|
63. He is a “God of Love” and a “consuming Fire”. |
63. Ngài là một “Thượng đế của Tình thương” và một “Lửa thiêu đốt”. |
|
64. Just as both man and the Planetary Logos of the Earth have serious redemptive tasks which they are undertaking, so does our Solar Logos. We could say that one of His major tasks is ‘redemption through the energy of Love’. |
64. Cũng như con người và Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất đều có những nhiệm vụ cứu chuộc nghiêm trọng mà họ đang đảm nhận, Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng vậy. Chúng ta có thể nói rằng một trong những nhiệm vụ lớn của Ngài là “cứu chuộc thông qua năng lượng của Tình thương”. |
|
65. While in the process of achieving this goal, He is attempting to become increasingly (in relative achievement, if not in quality) like the Logos of Sirius, just as the Planetary Logos of our Earth-scheme is attempting to become increasingly (in relative achievement, if not in quality) like the Logos of the Venus-scheme. |
65. Trong khi đang trên tiến trình đạt được mục tiêu này, Ngài đang cố gắng ngày càng trở nên giống Logos của Sirius hơn (xét về thành tựu tương đối, nếu không phải về phẩm tính), cũng như Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh Địa Cầu của chúng ta đang cố gắng ngày càng trở nên giống Logos của hệ hành tinh Kim Tinh hơn (xét về thành tựu tương đối, nếu không phải về phẩm tính). |
|
66. For our Solar Logos this is the solar system in which soul-infusion is to be achieved and in which the full nature of His second ray soul is to be released. |
66. Đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta, đây là hệ mặt trời trong đó sự được linh hồn thấm nhuần phải được đạt tới và trong đó bản chất trọn vẹn của linh hồn cung hai của Ngài phải được giải phóng. |
|
67. From a cosmic perspective, presumably, this will improve the up-ward tending energy of the cosmic logoic solar plexus center of which He is, hypothetically, an aspect. |
67. Từ viễn cảnh vũ trụ, có lẽ điều này sẽ cải thiện năng lượng hướng thượng của trung tâm tùng thái dương logoi vũ trụ mà giả thuyết cho rằng Ngài là một phương diện của nó. |
|
2. What is the purpose which may perhaps be working out in our own planetary scheme and what is the basic plan of our planetary Logos? |
2. Mục đích nào có thể đang được triển khai trong hệ hành tinh của chính chúng ta và kế hoạch căn bản của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta là gì? |
|
68. Again, we cannot answer this, but we can gather some thoughts which will point in the direction of a solution. |
68. Một lần nữa, chúng ta không thể trả lời điều này, nhưng có thể tập hợp một số tư tưởng sẽ chỉ ra hướng đi đến lời giải. |
|
69. Our Planetary Logos is passing through a redemptive fourth initiation on the chain level. On the scheme level (cosmically) He is not yet an initiate of the second degree, and so must achieve dispassion and detachment (cosmically considered). |
69. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang trải qua lần điểm đạo thứ tư có tính cứu chuộc ở cấp độ Dãy. Ở cấp độ hệ hành tinh (xét theo vũ trụ), Ngài vẫn chưa là một điểm đạo đồ bậc hai, và vì thế phải đạt được sự vô cảm và tách rời (xét theo vũ trụ). |
|
70. He is retarded in His development because of the Moon-chain debacle and is also a Logos in whose scheme certain unresolved issues from the previous solar system are being worked out. |
70. Ngài bị chậm trễ trong sự phát triển của mình vì thảm họa của Dãy Mặt Trăng, và cũng là một Logos mà trong hệ hành tinh của Ngài, một số vấn đề chưa được giải quyết từ hệ mặt trời trước đang được xử lý. |
|
71. He is to become a great station of light in the solar system. This accords well with His second ray soul which may be more along the line of light than of love—i.e., it may be more on the wisdom aspect of the second ray than on the love aspect (but this cannot be ascertained by the human mind).. |
71. Ngài sẽ trở thành một trạm ánh sáng vĩ đại trong hệ mặt trời. Điều này rất phù hợp với linh hồn cung hai của Ngài, vốn có thể nghiêng nhiều hơn về đường lối của ánh sáng hơn là của tình thương—tức là, có thể nghiêng nhiều hơn về phương diện minh triết của cung hai hơn là phương diện bác ái (nhưng điều này không thể được trí tuệ con người xác định).. |
|
72. He appears to be a Logos through Whom great solar systemic experiments are under way. Within the Earth-scheme new forms are being prepared—forms which will allow for the redemption of Moon-chain and first solar system patterns, and the evolution of these forms into patterns which accord with the purposes of the second solar system. |
72. Ngài dường như là một Logos mà qua đó những thí nghiệm lớn của hệ mặt trời đang được tiến hành. Trong hệ hành tinh Địa Cầu, những hình tướng mới đang được chuẩn bị—những hình tướng sẽ cho phép sự cứu chuộc các mô hình của Dãy Mặt Trăng và của hệ mặt trời thứ nhất, và sự tiến hoá của những hình tướng này thành các mô hình phù hợp với các mục đích của hệ mặt trời thứ hai. |
|
73. Because our Planetary Logos represents a solar systemic base of the spine center (or one day will, in completeness) a great power is growing throughout His vehicle of expression. In His future expression He will become not only a great station of light but of power as well. This will occur, probably, in the next solar system, when the power of His monadic ray (the first ray) will be released. |
73. Bởi vì Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đại diện cho một trung tâm đáy cột sống của hệ mặt trời (hoặc một ngày nào đó sẽ đại diện, trong sự hoàn tất), một quyền năng lớn đang tăng trưởng khắp vận cụ biểu lộ của Ngài. Trong sự biểu lộ tương lai, Ngài sẽ trở thành không chỉ một trạm ánh sáng vĩ đại mà còn là một trạm quyền năng nữa. Điều này có lẽ sẽ xảy ra trong hệ mặt trời kế tiếp, khi quyền năng của cung chân thần của Ngài (cung một) được giải phóng. |
|
74. If He is to represent the base of the spine center of the Solar Logos, He will become a strong transmitter of solar logoic kundalini and will be a sustaining and purifying source for other Planetary Logoi in the solar systems of our Solar Logos (this solar system and the one ahead). |
74. Nếu Ngài phải đại diện cho trung tâm đáy cột sống của Thái dương Thượng đế, Ngài sẽ trở thành một bộ truyền dẫn mạnh mẽ của kundalini logoi thái dương và sẽ là một nguồn duy trì và thanh luyện cho các Hành Tinh Thượng đế khác trong các hệ mặt trời của Thái dương Thượng đế của chúng ta (hệ mặt trời này và hệ tiếp theo). |
|
75. The main work being done throughout the planetary scheme of the Earth is redemption. One aspect of His purpose is to assist the Solar Logos to recover from the effects of the previous solar system. The material tendencies there established are, apparently, not entirely redeemed. |
75. Công việc chính đang được thực hiện khắp hệ hành tinh của Trái Đất là sự cứu chuộc. Một phương diện trong mục đích của Ngài là trợ giúp Thái dương Thượng đế hồi phục khỏi các ảnh hưởng của hệ mặt trời trước. Những khuynh hướng vật chất được thiết lập ở đó dường như vẫn chưa được cứu chuộc hoàn toàn. |
|
3. Wherein does it differ from other planetary schemes? |
3. Nó khác với các hệ hành tinh khác ở điểm nào? |
|
76. We have been told that there is more suffering and agony experienced in our Earth-scheme than in any other planetary scheme in our solar system. Conditions on Mars and Saturn have some similarities but such conditions are not as severe as those in the Earth-scheme. |
76. Chúng ta đã được cho biết rằng trong hệ hành tinh Địa Cầu của chúng ta có nhiều đau khổ và thống khổ hơn bất kỳ hệ hành tinh nào khác trong hệ mặt trời của chúng ta. Các điều kiện trên Sao Hỏa và Sao Thổ có vài điểm tương tự, nhưng những điều kiện ấy không nghiêm trọng bằng các điều kiện trong hệ hành tinh Địa Cầu. |
|
77. Our planet also seems to have closer ties to the ‘failures’ (if we can call them that) of the previous solar system. They were human beings who individualized in that previous solar system, but who did not complete their spiritual development within that system. Saturn is strongly linked to that system but is not so much the ‘victim’ of its processes as is the Planetary Logos of the Earth. |
77. Hành tinh của chúng ta dường như cũng có những liên hệ gần gũi hơn với các “thất bại” (nếu có thể gọi như vậy) của hệ mặt trời trước. Họ là những con người đã biệt ngã hóa trong hệ mặt trời trước đó, nhưng đã không hoàn tất sự phát triển tinh thần của mình trong hệ ấy. Sao Thổ liên kết mạnh với hệ ấy nhưng không phải là “nạn nhân” của các tiến trình của nó nhiều như Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất. |
|
4. What is the purpose lying back of the relation existing between our Earth and Venus? |
4. Mục đích nằm sau mối liên hệ hiện hữu giữa Trái Đất của chúng ta và Sao Kim là gì? |
|
78. This purpose, again, appears to be redemptive. These two, like ‘twin sisters’, participate in dualistic systemic processes. |
78. Mục đích này, một lần nữa, dường như mang tính cứu chuộc. Hai hành tinh này, như “hai chị em sinh đôi”, tham gia vào các tiến trình nhị nguyên tính của hệ thống. |
|
79. One is reminded of the manner in which the energy of the lower point in the human solar plexus center is raised to the higher point in that center. Earth would represent the lower point and Venus the higher point. |
79. Điều này gợi nhớ đến cách năng lượng của điểm thấp trong trung tâm tùng thái dương của con người được nâng lên điểm cao hơn trong trung tâm ấy. Trái Đất sẽ đại diện cho điểm thấp và Sao Kim cho điểm cao. |
|
80. One is also reminded of the relationship between the mental unit in the human energy system and the manasic permanent atom. If the Solar Logos has a mental unit (and we cannot be sure of this), then Earth would represent this unit and Venus the manasic permanent atom. |
80. Điều này cũng gợi nhớ đến mối liên hệ giữa đơn vị hạ trí trong hệ thống năng lượng con người và nguyên tử trường tồn manas. Nếu Thái dương Thượng đế có một đơn vị hạ trí (và chúng ta không thể chắc chắn về điều này), thì Trái Đất sẽ đại diện cho đơn vị này và Sao Kim cho nguyên tử trường tồn manas. |
|
81. We could say that as Earth is to the personality and to the previous solar system, so Venus is to the soul and to the present solar system. |
81. Chúng ta có thể nói rằng Trái Đất đối với phàm ngã và đối với hệ mặt trời trước như thế nào, thì Sao Kim đối với linh hồn và đối với hệ mặt trời hiện tại cũng như thế ấy. |
|
82. Through the agency of Venus, the redemptive processes being carried forth on Earth (and in relation to the Moon-chain and the previous solar system) are greatly facilitated. |
82. Thông qua tác nhân của Sao Kim, các tiến trình cứu chuộc đang được tiến hành trên Trái Đất (và liên hệ với Dãy Mặt Trăng cùng hệ mặt trời trước) được tạo điều kiện thuận lợi rất nhiều. |
|
83. The two of them together are helping, it would seem, the Solar Logos achieve victory on the cosmic astral plane. A very difficult ‘cosmic-emotional’ situation is being worked out through their interplay. The constellation Gemini (for which both Venus and Earth are rulers at different levels) participates in this attempt to achieve victory. |
83. Cả hai cùng nhau dường như đang giúp Thái dương Thượng đế đạt được chiến thắng trên cõi cảm dục vũ trụ. Một tình huống “cảm xúc-vũ trụ” rất khó khăn đang được giải quyết thông qua sự tương tác của chúng. Chòm sao Song Tử (mà cả Sao Kim lẫn Trái Đất đều là chủ tinh ở những cấp độ khác nhau) tham gia vào nỗ lực đạt được chiến thắng này. |
|
84. When thinking of purpose, there are shorter term purposes and those which are longer term. Anything we might say cannot relate to the longer term purposes which would describe the role of our Solar Logos and His Planetary Logoi in the life and destiny of the Cosmic Logos to which our Solar Logos belongs, and of the still greater One About Whom Naught May Be Said. |
84. Khi suy nghĩ về mục đích, có những mục đích ngắn hạn và những mục đích dài hạn hơn. Bất cứ điều gì chúng ta có thể nói đều không thể liên hệ đến các mục đích dài hạn hơn, vốn sẽ mô tả vai trò của Thái dương Thượng đế của chúng ta và các Hành Tinh Thượng đế của Ngài trong sự sống và định mệnh của Cosmic Logos mà Thái dương Thượng đế của chúng ta thuộc về, và của Đấng còn vĩ đại hơn nữa là Đấng Bất Khả Tư Nghị. |
|
5. Is the purpose of the animal kingdom, as a whole, in any way to be ascertained? |
5. Mục đích của giới động vật, xét như một toàn thể, có thể được xác định theo cách nào đó hay không? |
|
85. The tabulation on TCF, 565, shows the animal kingdom in relation to the generative organs of the Solar Logos. |
85. Bảng liệt kê trong TCF, 565, cho thấy giới động vật liên hệ với các cơ quan sinh sản của Thái dương Thượng đế. |
|
86. This question applies to the animal kingdom as it may be found throughout the solar system. It is characterized by the principle of locomotion leading through increasing intelligence to self-conscious intelligence. |
86. Câu hỏi này áp dụng cho giới động vật như nó có thể được tìm thấy khắp hệ mặt trời. Nó được đặc trưng bởi nguyên khí vận động, dẫn qua trí tuệ ngày càng tăng đến trí tuệ tự ngã thức. |
|
87. Wherever there is locomotion there is interplay (under Mercury). There is something here about the creation of suitable forms for the expression of second solar system purposes. The animal kingdom (under Mars) is, on the whole, aggressive and competitive. These approaches may contribute to the building of forms most suitable for the expression of higher purposes. When we speak of the “survival of the fittest” we have to ask what larger purpose it serves. |
87. Ở đâu có vận động, ở đó có tương tác (dưới Sao Thủy). Ở đây có điều gì đó liên quan đến việc tạo ra những hình tướng thích hợp cho sự biểu lộ các mục đích của hệ mặt trời thứ hai. Giới động vật (dưới Sao Hỏa), nhìn chung, có tính hung hăng và cạnh tranh. Những cách tiếp cận này có thể góp phần vào việc xây dựng những hình tướng thích hợp nhất cho sự biểu lộ các mục đích cao hơn. Khi chúng ta nói về “sự sống còn của kẻ thích nghi nhất”, chúng ta phải hỏi nó phục vụ mục đích lớn hơn nào. |
|
88. Even in the animal kingdom, however, social development (under Venus) can be witnessed and also contributes greatly to the survival of species. |
88. Tuy nhiên, ngay cả trong giới động vật, sự phát triển xã hội (dưới Sao Kim) cũng có thể được chứng kiến và cũng góp phần rất lớn vào sự sống còn của các loài. |
|
89. The animal kingdom represents the acme of creative labor of the Lunar Lords and forms the basis or foundation for the development of solar consciousness—the first instance of which is the human (as distinct from the animal consciousness). |
89. Giới động vật đại diện cho đỉnh cao của lao động sáng tạo của các nguyệt tinh quân và tạo thành nền tảng hay cơ sở cho sự phát triển của tâm thức thái dương—mà trường hợp đầu tiên của nó là tâm thức con người (phân biệt với tâm thức động vật). |
|
6. What is the purpose back of the present root-race evolution? Can we realise it? |
6. Mục đích nằm sau sự tiến hoá của giống dân gốc hiện nay là gì? Chúng ta có thể chứng nghiệm nó không? |
|
90. In this case we are not speaking of a specific root race, but of root race evolution in general. |
90. Trong trường hợp này, chúng ta không nói về một giống dân gốc cụ thể, mà về sự tiến hoá của giống dân gốc nói chung. |
|
91. Let us apply this question to man as he is found on the Earth-globe and Earth-chain. |
91. Chúng ta hãy áp dụng câu hỏi này cho con người như y hiện diện trên bầu hành tinh Địa Cầu và Dãy Địa Cầu. |
|
92. There is an archetype (held in the mind of the Planetary Logos) of what humanity should become. As all in nature proceeds gradually, man cannot become that which he is intended to be except “in the fulness of time”. |
92. Có một nguyên mẫu (được giữ trong trí của Hành Tinh Thượng đế) về điều mà nhân loại phải trở thành. Vì mọi sự trong bản chất đều tiến triển dần dần, con người không thể trở thành điều mà y được định là phải trở thành ngoại trừ “khi thời gian viên mãn”. |
|
93. Through the root races, the human family grows through the gradual incorporation and expression of progressive divine qualities—all of which form an integral part in the ‘final planetary product’—Ideal Man. |
93. Thông qua các giống dân gốc, gia đình nhân loại tăng trưởng qua sự kết hợp dần dần và biểu lộ những phẩm tính thiêng liêng tiến bộ—tất cả đều tạo thành một phần toàn vẹn trong “sản phẩm hành tinh cuối cùng”—Con Người Lý Tưởng. |
|
94. The principal divine quality being developed in the fifth root race is that of manas. Through Aryan root race processes, Man is being developed as an intelligent cooperator in the Plans of the Planetary Logos. |
94. Phẩm tính thiêng liêng chủ yếu đang được phát triển trong giống dân gốc thứ năm là manas. Thông qua các tiến trình của giống dân gốc Arya, Con Người đang được phát triển thành một người cộng tác thông minh trong các Thiên Cơ của Hành Tinh Thượng đế. |
|
95. In short, the appearance and expression and, then, disappearance of the root races, lead to the actualization of the divine archetype for the fourth kingdom. |
95. Tóm lại, sự xuất hiện, biểu lộ, rồi biến mất của các giống dân gốc dẫn đến sự hiện thực hóa nguyên mẫu thiêng liêng cho giới thứ tư. |
|
96. Naturally, an ideal humanity will contribute to both planetary and solar systemic development. |
96. Dĩ nhiên, một nhân loại lý tưởng sẽ góp phần vào cả sự phát triển hành tinh lẫn sự phát triển của hệ mặt trời. |
|
97. For instance, the development of a more intelligent, loving humanity can be seen as part of the process of helping our Planetary Logos achieve a necessary cosmic dispassion and eventual cosmic mental polarisation followed by a full expression of His second ray soul. |
97. Chẳng hạn, sự phát triển của một nhân loại thông minh hơn, bác ái hơn có thể được xem là một phần của tiến trình giúp Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đạt được sự vô cảm vũ trụ cần thiết và cuối cùng là sự phân cực trí tuệ vũ trụ, tiếp theo là sự biểu lộ trọn vẹn của linh hồn cung hai của Ngài. |
|
7. What is the purpose behind the differing national forms? |
7. Mục đích nằm sau các hình thức quốc gia khác nhau là gì? |
|
98. Presumably, through nations ruled by differing rays and astrological qualities, the ray qualities and astrological qualities which must be absorbed and expressed by large groups of human beings will be facilitated. |
98. Có lẽ, thông qua các quốc gia được cai quản bởi những cung và những phẩm tính chiêm tinh khác nhau, các phẩm tính cung và phẩm tính chiêm tinh mà những nhóm lớn con người phải hấp thụ và biểu lộ sẽ được tạo điều kiện thuận lợi. |
|
99. Nations are as great ‘schools’ which assist their constituent human beings to be trained in certain modes of consciousness and forms of behavior. Via an ideal national process, this training will proceed far more rapidly than if human beings were trained only individually. |
99. Các quốc gia giống như những “trường học” lớn giúp các con người cấu thành của chúng được huấn luyện trong những phương thức tâm thức và những hình thức hành vi nhất định. Qua một tiến trình quốc gia lý tưởng, sự huấn luyện này sẽ tiến hành nhanh hơn nhiều so với khi con người chỉ được huấn luyện riêng lẻ. |
|
100. The national forms also contribute the development of planetary qualities needed in the expression of the Planetary Logos, the pertinent Chain-Lord or pertinent Globe-Lord at any particular phase of development. |
100. Các hình thức quốc gia cũng góp phần vào sự phát triển những phẩm tính hành tinh cần thiết trong sự biểu lộ của Hành Tinh Thượng đế, của Chúa Tể Dãy liên hệ hay của Chúa Tể bầu hành tinh liên hệ trong bất kỳ giai đoạn phát triển cụ thể nào. |
|
101. The Planetary Logos, too, is working on different qualities during different phases of development and the national forms are evidence (on a much larger scale than the individual) of qualities which must emerge in the planetary life. |
101. Hành Tinh Thượng đế cũng đang làm việc trên những phẩm tính khác nhau trong những giai đoạn phát triển khác nhau, và các hình thức quốc gia là bằng chứng (trên quy mô lớn hơn nhiều so với cá nhân) của những phẩm tính phải xuất hiện trong sự sống hành tinh. |
|
102. As well, every precessional Age is intended to offer new avenues of development for the entire planet. The Aquarian energy, for instance, will now be widely available on the planet and will be expressed through all planetary kingdoms. This greater energy must be expressed through all the rays and astrological factors which otherwise qualify humanity. The national forms (marshaling large groups of human beings under a few specific qualities) facilitate the manner in which the precessional energy can merge with the ray and astrological qualities which usually condition the human race. |
102. Ngoài ra, mỗi Kỷ nguyên tuế sai đều nhằm cống hiến những con đường phát triển mới cho toàn bộ hành tinh. Chẳng hạn, năng lượng Bảo Bình giờ đây sẽ được phổ biến rộng rãi trên hành tinh và sẽ được biểu lộ qua mọi giới hành tinh. Năng lượng lớn hơn này phải được biểu lộ qua mọi cung và các yếu tố chiêm tinh vốn bằng cách khác vẫn tác động lên nhân loại. Các hình thức quốc gia (tập hợp những nhóm lớn con người dưới một vài phẩm tính cụ thể) tạo điều kiện cho cách thức mà năng lượng tuế sai có thể hòa nhập với các phẩm tính cung và chiêm tinh vốn thường tác động lên nhân loại. |
|
103. In other words, nations and national forms are training grounds for the expeditious absorption and expression of certain qualities which the human race must absorb and express. |
103. Nói cách khác, các quốc gia và các hình thức quốc gia là những bãi huấn luyện cho sự hấp thụ và biểu lộ mau lẹ những phẩm tính nhất định mà nhân loại phải hấp thụ và biểu lộ. |
|
[Page 567] |
|
|
Let us next bring the whole idea down to a more practical basis, and formulate questions along the following lines: |
Tiếp theo, chúng ta hãy đưa toàn bộ ý tưởng này xuống một nền tảng thực tiễn hơn, và hình thành các câu hỏi theo những đường hướng sau: |
|
104. These questions will have to be answered, individually, by each student. Some of the questions require a rather technical understanding of occultism, so pondering will be necessary. |
104. Những câu hỏi này sẽ phải được mỗi đạo sinh tự mình trả lời. Một số câu hỏi đòi hỏi sự thấu hiểu khá chuyên môn về huyền bí học, vì thế việc suy ngẫm sẽ là cần thiết. |
|
1. In what type of matter do I usually formulate thoughts? |
1. Tôi thường hình thành tư tưởng trong loại vật chất nào? |
|
105. Here the three major areas of the human mind must be considered—the concrete mind, the “Son of Mind” (i.e., the causal body located on the third and second sub-planes of the mental plane), and the abstract mind (focussing through the manasic permanent atom). |
105. Ở đây phải xét đến ba khu vực chính của trí tuệ con người—trí cụ thể, “Con của Trí Tuệ” (tức thể nguyên nhân nằm trên cõi phụ thứ ba và thứ hai của cõi trí), và trí trừu tượng (tập trung qua nguyên tử trường tồn manas). |
|
106. The question concerns the sub-planes of the mental plane, each with its own particular keynote, color and rate of vibration. |
106. Câu hỏi này liên quan đến các cõi phụ của cõi trí, mỗi cõi có chủ âm, màu sắc và tốc độ rung động riêng. |
|
107. For this reason (given our present knowledge) the question can only be answered in a general sense. |
107. Vì lý do này (xét theo tri thức hiện nay của chúng ta), câu hỏi chỉ có thể được trả lời theo nghĩa tổng quát. |
|
2. What is the psychic quality of my thought-forms? |
2. Phẩm tính thông linh của các hình tư tưởng của tôi là gì? |
|
108. This is a question concerning, on the one hand, kama-manas. Are my thoughts free from the adhesion of astral energies or are they very much a mixture of kama and manas? |
108. Đây là một câu hỏi liên quan, một mặt, đến trí-cảm. Các tư tưởng của tôi có thoát khỏi sự bám dính của các năng lượng cảm dục hay không, hay chúng là một hỗn hợp rất lớn của kama và manas? |
|
109. From another perspective, we are asking whether the formulated thoughts carry the quality of the true psyche or soul. Along this line, we are asking to what extent the ray energy of the psyche or soul characterizes the quality of formulated thought. |
109. Từ một góc nhìn khác, chúng ta đang hỏi liệu các tư tưởng đã được hình thành có mang phẩm tính của psyche hay linh hồn đích thực hay không. Theo đường hướng này, chúng ta đang hỏi năng lượng cung của psyche hay linh hồn đặc trưng cho phẩm tính của tư tưởng đã được hình thành đến mức nào. |
|
3. With what specific purpose do I use mental matter? |
3. Tôi sử dụng vật chất trí tuệ với mục đích cụ thể nào? |
|
110. Here we are speaking of motive, vision and ultimately of purpose. The strength and quality of our spiritual alignment will be up for consideration. |
110. Ở đây chúng ta đang nói về động cơ, tầm nhìn và rốt cuộc là mục đích. Sức mạnh và phẩm tính của sự chỉnh hợp tinh thần của chúng ta sẽ được đem ra xem xét. |
|
111. If we study our speech patterns we will learn something of our use of mental matter. |
111. Nếu chúng ta nghiên cứu các khuôn mẫu lời nói của mình, chúng ta sẽ học được điều gì đó về việc sử dụng vật chất trí tuệ của mình. |
|
112. Do our thoughtform-making tendencies have a specific goal or are they casual and desultory? Why do I think as I do? What am I building or destroying through my typical use of thought? |
112. Các khuynh hướng tạo hình tư tưởng của chúng ta có một mục tiêu cụ thể hay không, hay chúng chỉ ngẫu nhiên và rời rạc? Tại sao tôi lại suy nghĩ như tôi vẫn suy nghĩ? Tôi đang xây dựng hay phá hủy điều gì thông qua cách sử dụng tư tưởng điển hình của mình? |
|
4. Do I work in mental matter consciously or unconsciously? |
4. Tôi làm việc trong vật chất trí tuệ một cách hữu thức hay vô thức? |
|
113. This will require close observation. One perceptive esoteric wag has wisely said that there is a great difference between thinking and ‘thoughting’. To what extent are we involved in an unconscious ‘thoughting’ process? To what extent are past patterns of thinking replaying themselves in our consciousness without any attention from the Indweller? To what extent is my thinking process under my intelligent, vigilant supervision? |
113. Điều này sẽ đòi hỏi sự quan sát chặt chẽ. Một nhà huyền bí học hóm hỉnh và sắc sảo đã khôn ngoan nói rằng có một khác biệt lớn giữa suy nghĩ và “thoughting”. Chúng ta tham dự vào một tiến trình “thoughting” vô thức đến mức nào? Những khuôn mẫu suy nghĩ trong quá khứ đang phát lại trong tâm thức của chúng ta đến mức nào mà không có bất kỳ sự chú ý nào từ Đấng Nội Tại? Tiến trình suy nghĩ của tôi nằm dưới sự giám sát thông minh và tỉnh táo của tôi đến mức nào? |
|
5. Do I vitalise my thought-forms with a high or a low order of entity? |
5. Tôi có tiếp sinh lực cho các hình tư tưởng của mình bằng một thực thể thuộc bậc cao hay bậc thấp không? |
|
114. Much will depend upon the purity of my thought and this will much depend upon the motive for which I engage in thinking. |
114. Nhiều điều sẽ tùy thuộc vào sự thanh khiết của tư tưởng tôi, và điều này lại phụ thuộc rất nhiều vào động cơ khiến tôi dấn thân vào việc suy nghĩ. |
|
115. Also, if I exert greater care in the building or selection of my thoughts, the quality of the entity by whom they are vitalized will be higher. |
115. Ngoài ra, nếu tôi cẩn trọng hơn trong việc xây dựng hay chọn lựa các tư tưởng của mình, thì phẩm tính của thực thể tiếp sinh lực cho chúng sẽ cao hơn. |
|
116. To this end, we must attempt to formulate thoughts and words so that they express exactly what we want to say. We must choose our words with care and not only our words, but our thoughts. This careful, measured approach will help us avoid the involvement of entities of a low order in our thought and speech processes. |
116. Vì mục đích này, chúng ta phải cố gắng hình thành tư tưởng và ngôn từ sao cho chúng diễn đạt chính xác điều chúng ta muốn nói. Chúng ta phải chọn lời cẩn thận, và không chỉ lời mà cả tư tưởng nữa. Cách tiếp cận cẩn trọng, chừng mực này sẽ giúp chúng ta tránh sự can dự của những thực thể bậc thấp vào các tiến trình tư tưởng và lời nói của mình. |
|
6. Do I study the laws of construction? |
6. Tôi có nghiên cứu các quy luật của sự kiến tạo không? |
|
117. These laws entail the study of white magic. |
117. Những quy luật này bao hàm việc nghiên cứu chánh thuật. |
|
118. Also the study of syntax will emerge as important. Do I attempt to create beauty in the formulation of my thoughts and words? Do I observe due proportion? Do I select ‘thought materials’ which fit together well, which harmonize, or do I create thought structures full of unintentional incongruities. |
118. Ngoài ra, việc nghiên cứu cú pháp cũng sẽ nổi lên như điều quan trọng. Tôi có cố gắng tạo ra vẻ đẹp trong việc hình thành các tư tưởng và ngôn từ của mình không? Tôi có tuân thủ tỉ lệ thích đáng không? Tôi có chọn những “chất liệu tư tưởng” ăn khớp với nhau, hài hòa với nhau không, hay tôi tạo ra những cấu trúc tư tưởng đầy những điều bất tương xứng ngoài ý muốn. |
|
119. We are dealing here with the selection of ‘thought materials’ and the manner in which they are combined and stabilized. |
119. Ở đây chúng ta đang đề cập đến việc chọn lựa những “chất liệu tư tưởng” và cách thức chúng được kết hợp và ổn định. |
|
120. Concentration, meditation and contemplation play their parts in the recognition and following of these laws. |
120. Tập trung, tham thiền và chiêm ngưỡng đều giữ phần việc của chúng trong việc nhận biết và tuân theo các quy luật này. |
|
7. Do I realise the power of the will to vitalise? |
7. Tôi có chứng nghiệm quyền năng của ý chí để tiếp sinh lực không? |
|
121. Here a study of Roberto Assagioli’s Act of Will will be of considerable value. |
121. Ở đây, việc nghiên cứu Act of Will của Roberto Assagioli sẽ có giá trị đáng kể. |
|
122. Once thought is rightly constructed, the phase of ‘thought empowerment’ must be addressed. The act of affirming the constructed thought brings in the thought-vitalising will. |
122. Một khi tư tưởng đã được kiến tạo đúng đắn, giai đoạn “trao quyền cho tư tưởng” phải được đề cập đến. Hành động khẳng định tư tưởng đã được kiến tạo sẽ đưa vào ý chí tiếp sinh lực cho tư tưởng. |
|
123. A given thought is affirmed and then introduced into various mental and imagined contexts so that its value and potential applications may be more fully understood. We can see that the imagination will be useful in the act of vitalizing thoughts through the power of the will. |
123. Một tư tưởng nhất định được khẳng định rồi được đưa vào nhiều bối cảnh trí tuệ và được hình dung khác nhau để giá trị và những ứng dụng tiềm năng của nó có thể được thấu hiểu đầy đủ hơn. Chúng ta có thể thấy rằng sự tưởng tượng sẽ hữu ích trong hành động tiếp sinh lực cho các tư tưởng thông qua quyền năng của ý chí. |
|
124. Each must experiment on his own to determine the best manner of vitalizing a thought through the power of will. It will be discovered, I think, that repetition is a great power. Each repetition is like the hammer-blow of Vulcan, a planet of vitalizing will and power. |
124. Mỗi người phải tự mình thử nghiệm để xác định cách tốt nhất nhằm tiếp sinh lực cho một tư tưởng thông qua quyền năng của ý chí. Tôi nghĩ người ta sẽ khám phá ra rằng sự lặp lại là một quyền năng lớn. Mỗi lần lặp lại giống như một nhát búa của Vulcan, một hành tinh của ý chí tiếp sinh lực và quyền năng. |
|
8. Do I destroy thought-forms when they have accomplished their purpose by a conscious act of the will? |
8. Tôi có hủy diệt các hình tư tưởng khi chúng đã hoàn thành mục đích của mình bằng một hành động hữu thức của ý chí không? |
|
125. There may be technical occult means of bringing about this destruction, but one of the best is simply the ‘withdrawal of attention’. If energy follows thought, then the removal of thought or attention cuts the flow of energy and brings devitalization and death. |
125. Có thể có những phương tiện huyền bí kỹ thuật để đem lại sự hủy diệt này, nhưng một trong những cách tốt nhất đơn giản là “rút sự chú ý lại”. Nếu năng lượng đi theo tư tưởng, thì việc loại bỏ tư tưởng hay sự chú ý sẽ cắt đứt dòng năng lượng và đem đến sự mất sinh lực cùng cái chết. |
|
126. The ‘feeding power of the attention’ must be wisely controlled. Sometimes the attempt to counter an undesirable thought gives it new energy and new life. |
126. “Quyền năng nuôi dưỡng của sự chú ý” phải được kiểm soát một cách khôn ngoan. Đôi khi nỗ lực chống lại một tư tưởng không mong muốn lại cho nó năng lượng mới và sự sống mới. |
|
127. As for the occult means of de-aggregating or un-bonding the constituents of a thought which has served its purpose—such means will have to be learned (or re-learned) under the instruction of an advanced magician or Master. |
127. Còn về các phương tiện huyền bí để tháo rời hay cởi liên kết các thành phần của một tư tưởng đã phục vụ xong mục đích của nó—những phương tiện như thế sẽ phải được học (hay học lại) dưới sự chỉ dạy của một nhà huyền thuật cao cấp hay một Chân sư. |
|
9. Do I make forms which bring karmic effects, or do I build those which go to the good of the group? |
9. Tôi có tạo ra những hình tướng đem lại các hậu quả nghiệp quả, hay tôi xây dựng những hình tướng mang lại lợi ích cho nhóm? |
|
128. Even ‘good thoughts’ can have a karmic effect. Usually when the word “karma” is used in contexts such as these, “evil karma” is meant. |
128. Ngay cả “những tư tưởng tốt” cũng có thể có một hậu quả nghiệp quả. Thông thường khi từ “nghiệp quả” được dùng trong những ngữ cảnh như thế này, người ta muốn nói đến “ác nghiệp”. |
|
129. In order to accomplish the building of thoughts which go to the good of the group, an energized heart center will have to be wedded to the throat center. Love and mind must unite before the process of thought-creation is entered. |
129. Để hoàn thành việc xây dựng những tư tưởng mang lại lợi ích cho nhóm, một trung tâm tim được năng lượng hóa sẽ phải được kết hợp với trung tâm cổ họng. Tình thương và trí tuệ phải hợp nhất trước khi tiến trình sáng tạo tư tưởng được bắt đầu. |
|
130. DK has pointed out that individuals often respect the welfare of other individuals, but do they respect the welfare of other groups or of the groups of which they may be a part? This is a harder task and, for many, not part of their awareness. |
130. Chân sư DK đã chỉ ra rằng các cá nhân thường tôn trọng phúc lợi của các cá nhân khác, nhưng họ có tôn trọng phúc lợi của các nhóm khác hay của những nhóm mà họ có thể là một phần trong đó không? Đây là một nhiệm vụ khó hơn và, đối với nhiều người, không thuộc phạm vi nhận biết của họ. |
|
131. We have to watch our thought and speech closely. We are creating all the time (consciously or unconsciously), and we are responsible for our creations. |
131. Chúng ta phải theo dõi chặt chẽ tư tưởng và lời nói của mình. Chúng ta đang sáng tạo mọi lúc (một cách hữu thức hay vô thức), và chúng ta chịu trách nhiệm về những sáng tạo của mình. |
|
Many such thoughts will arise, and in the study of thought man learns the laws of being. |
Nhiều tư tưởng như thế sẽ nảy sinh, và trong việc nghiên cứu tư tưởng, con người học được các định luật của bản thể. |
|
132. It is suggested that we can move from the study of the third aspect to the realization of the first aspect. |
132. Có lời gợi ý rằng chúng ta có thể đi từ việc nghiên cứu phương diện thứ ba đến sự chứng ngộ phương diện thứ nhất. |
|
133. It is said that “Being descends to manifest.” This is precisely the process under discussion. Ultimately, we have to assure ourselves that the thoughts we create and the words we speak embody the energy of love and reveal the unity of being. |
133. Có câu nói rằng “Bản Thể giáng xuống để biểu hiện.” Đây chính là tiến trình đang được bàn đến. Rốt cuộc, chúng ta phải tự bảo đảm rằng những tư tưởng chúng ta tạo ra và những lời chúng ta nói ra đều thể hiện năng lượng của bác ái và bộc lộ sự hợp nhất của bản thể. |