Bình giảng về Lửa Vũ Trụ S5S4 (495-503)

📘 Sách: Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S5 – Tác giả: Michael D. Robbins

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến trang sách tương ứng trong TCF

TCF 495-503: S5S4

17 May – 1 June 2007

17 tháng 5 – 1 tháng 6 năm 2007

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ những trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình giải được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.

Xin đề nghị rằng phần Bình Giải này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.

1. We now continue with our discussion of transmutation of various kinds.

1. Giờ đây chúng ta tiếp tục cuộc thảo luận về những loại chuyển hoá khác nhau.

The following facts might also be pointed out:

Những sự kiện sau đây cũng có thể được nêu ra:

First. That every kingdom of nature has its note or tone, and the mantric sounds, which concern any transmutative process within that kingdom, will have that note as the key or base note.

Thứ nhất. Rằng mỗi giới trong thiên nhiên đều có âm điệu hay thanh điệu riêng của nó, và các âm thanh mantric liên quan đến bất kỳ tiếntrình chuyển hoá nào trong giới ấy sẽ lấy âm điệu đó làm chủ âm hay âm nền.

2. Let us register those points of focus which have their own notes, tones or mantric sounds:

2. Chúng ta hãy ghi nhận những điểm tập trung có các âm điệu, thanh điệu hay âm thanh mantric riêng của chúng:

a. Kingdoms of nature

a. Các giới trong thiên nhiên

b. Planes and Raja Deva Lords of the planes

b. Các cõi và các Chúa Tể Raja Deva của các cõi

c. Sub-planes and rulers of the sub-planes.

c. Các cõi phụ và các vị cai quản các cõi phụ.

d. Creative Hierarchies, probably.

d. Các Huyền Giai Sáng Tạo, có lẽ vậy.

3. Let us presume that, in fact, every entity has its own note, tone or mantric sound.

3. Chúng ta hãy giả định rằng, trên thực tế, mọi thực thể đều có âm điệu, thanh điệu hay âm thanh mantric riêng của mình.

4. A “base note” is, in musical terminology, a “fundamental”. In occultism, this note will be the tonic note of the key most related to that kingdom in nature.

4. “Âm nền”, trong thuật ngữ âm nhạc, là “âm cơ bản”. Trong huyền bí học, âm này sẽ là âm chủ của điệu thức liên hệ nhiều nhất với giới ấy trong thiên nhiên.

5. On one fundamental tone many chordal relationships can be built by combining in various ways the overtones of that fundamental tone. Further the overtones of any fundamental continue through higher and higher octaves, clustering together in the higher octaves.

5. Trên một âm cơ bản, nhiều tương quan hợp âm có thể được xây dựng bằng cách kết hợp theo nhiều cách khác nhau các bồi âm của âm cơ bản ấy. Hơn nữa, các bồi âm của bất kỳ âm cơ bản nào cũng tiếp tục qua những quãng tám ngày càng cao hơn, tụ lại với nhau trong các quãng tám cao hơn.

6. Transmutation requires movement, repatterning, change of relationship between the related factors to be transmuted. Mantric sounds provide the occult possibility for the necessary repatterning (the necessary change of relationship between constituents).

6. Chuyển hoá đòi hỏi sự vận động, sự tái lập mô hình, sự thay đổi tương quan giữa các yếu tố liên hệ cần được chuyển hoá. Các âm thanh mantric cung cấp khả năng huyền bí cho sự tái lập mô hình cần thiết ấy (sự thay đổi tương quan cần thiết giữa các thành phần).

7. The mantrams of transmutation will have the note of the kingdom undergoing transmutation as their keynote. The mantrams will be intoned in that key. The possible overtone combinations will arise from that fundamental keynote.

7. Các mantram của sự chuyển hoá sẽ lấy âm điệu của giới đang trải qua chuyển hoá làm chủ âm của chúng. Các mantram sẽ được xướng trong điệu thức ấy. Những tổ hợp bồi âm khả hữu sẽ phát sinh từ chủ âm cơ bản đó.

8. In the future it will be necessary understand the relationship between the elements of music and the process of transmutation.

8. Trong tương lai, sẽ cần phải hiểu mối liên hệ giữa các yếu tố của âm nhạc và tiến trình chuyển hoá.

Second. That the note of the mineral kingdom is the basic note of substance itself, and it is largely the sounding of the note combinations, based on this key, which produces the great world cataclysms, wrought through volcanic action.

Thứ hai. Rằng âm điệu của giới kim thạch là âm nền của chính chất liệu, và phần lớn chính là sự xướng lên các tổ hợp âm điệu, dựa trên chủ âm này, tạo ra những đại biến động thế giới, được gây nên qua hoạt động núi lửa.

9. This is a fascinating sentence relating musical changes to what we recognize as “great world cataclysms, wrought through volcanic action”.

9. Đây là một câu thật hấp dẫn, liên hệ những biến đổi âm nhạc với điều chúng ta nhận ra là “những đại biến động thế giới, được gây nên qua hoạt động núi lửa”.

10. DK is obviously choosing His words with care. There is a fundamental or base note for the mineral kingdom.

10. Chân sư DK rõ ràng đang chọn từ ngữ của Ngài một cách cẩn trọng. Có một âm cơ bản hay âm nền cho giới kim thạch.

11. Not only is the note in question the note of the mineral kingdom, but it is the basic note of the substance which all kingdoms must, perforce, use.

11. Âm điệu đang được nói đến không chỉ là âm điệu của giới kim thạch, mà còn là âm nền của chất liệu mà mọi giới đều buộc phải sử dụng.

12. What are “note combinations, based on this key”? Every key in music has a reference note we call the “tonic”. It is the fundamental note of the key—the note after which the key is named. If the note is, for instance, “C”, then the key derived from this note will be called the “Key of C”—either “C Minor” or “C Major”.

12. “Các tổ hợp âm điệu, dựa trên chủ âm này” là gì? Mỗi điệu thức trong âm nhạc đều có một âm tham chiếu mà chúng ta gọi là “âm chủ”. Đó là âm cơ bản của điệu thức—âm mà theo đó điệu thức được đặt tên. Chẳng hạn, nếu âm ấy là “C”, thì điệu thức phát sinh từ âm này sẽ được gọi là “Điệu C”—hoặc “C thứ” hoặc “C trưởng”.

13. By “note combinations”, the Tibetan probably means “chords”. A chord consists of at least three notes sounded simultaneously.

13. Bởi “các tổ hợp âm điệu”, Chân sư Tây Tạng có lẽ muốn nói đến “hợp âm”. Một hợp âm gồm ít nhất ba nốt được xướng đồng thời.

14. It is also possible that “note combinations” can be sounded in sequence with different effects produced depending upon the sequence.

14. Cũng có thể “các tổ hợp âm điệu” được xướng theo trình tự, với những hiệu quả khác nhau được tạo ra tùy theo trình tự ấy.

15. By “note combinations” DK could also mean “intervals”. An interval consists of two notes sounded simultaneously. Both chords and intervals are “combinations of notes”.

15. Bởi “các tổ hợp âm điệu”, Chân sư DK cũng có thể muốn nói đến “quãng”. Một quãng gồm hai nốt được xướng đồng thời. Cả hợp âm lẫn quãng đều là “những tổ hợp của các nốt”.

16. In any one key, there are found only certain chords which have a direct relation to that key. If other than these certain “note combinations” are sounded, they cannot be said to be based on the key in question.

16. Trong bất kỳ một điệu thức nào, chỉ có một số hợp âm nhất định có liên hệ trực tiếp với điệu thức ấy. Nếu những “tổ hợp âm điệu” khác ngoài các tổ hợp nhất định này được xướng lên, thì không thể nói rằng chúng dựa trên điệu thức đang xét.

17. The foregoing is true in relation to “tonal music”—music that is still based on a key structure and which sustains a principal reference tone.

17. Điều vừa nói là đúng trong liên hệ với “âm nhạc điệu tính”—loại âm nhạc vẫn còn dựa trên một cấu trúc điệu thức và duy trì một âm tham chiếu chính yếu.

18. In the music of the last century, the structure of tonality has disintegrated and it is now common to hear music written in no particular key at all. In such music there is no “tonic” or principal reference note.

18. Trong âm nhạc của thế kỷ trước, cấu trúc điệu tính đã tan rã, và hiện nay người ta thường nghe loại nhạc không được viết trong bất kỳ điệu thức riêng biệt nào cả. Trong loại nhạc ấy không có “âm chủ” hay âm tham chiếu chính yếu.

19. It would seem that music as it relates to kingdoms of nature, planes, sub-planes, etc., is tonal in nature and depends upon the preservation of “key notes” or fundamental reference tones.

19. Dường như âm nhạc, trong mối liên hệ với các giới trong thiên nhiên, các cõi, các cõi phụ, v.v., về bản chất là điệu tính và tùy thuộc vào việc bảo tồn các “chủ âm” hay các âm tham chiếu cơ bản.

20. If note combinations are sounded sequentially, melody is produced. Within melody, the different notes can have different durations. This alters the rhythm of the melody. All melodies imply a chordal structure.

20. Nếu các tổ hợp âm điệu được xướng theo trình tự, giai điệu sẽ được tạo ra. Trong giai điệu, các nốt khác nhau có thể có độ dài khác nhau. Điều này làm thay đổi nhịp điệu của giai điệu. Mọi giai điệu đều hàm ý một cấu trúc hợp âm.

21. A huge variety of melodies and chord sequences can be derived from any fundamental note taken as the keynote of an entity or state of vibration.

21. Một sự đa dạng to lớn của các giai điệu và chuỗi hợp âm có thể được rút ra từ bất kỳ âm cơ bản nào được lấy làm chủ âm của một thực thể hay một trạng thái rung động.

22. Even without the science of the ancients at our disposal we can notice the psychologically transmutative effects of certain pieces of music. We can only imagine what could be done were we to work in the correct key, using correct melodies and chord progressions sounded in correct rhythms. The value of music in the transmutation process will be considerable.

22. Ngay cả khi không có khoa học của người xưa trong tay, chúng ta vẫn có thể nhận thấy những tác động chuyển hoá về mặt tâm lý của một số tác phẩm âm nhạc. Chúng ta chỉ có thể hình dung điều gì có thể được thực hiện nếu chúng ta làm việc trong đúng điệu thức, sử dụng đúng các giai điệu và tiến trình hợp âm được xướng trong đúng nhịp điệu. Giá trị của âm nhạc trong tiến trình chuyển hoá sẽ rất lớn.

Every volcano is sounding forth this note, and, for those who can see, the sound and colour (occultly understood) of a volcano are a truly marvellous thing.

Mọi núi lửa đều xướng lên âm điệu này, và, đối với những ai có thể thấy, âm thanh và màu sắc (được hiểu theo huyền bí học) của một núi lửa quả thật là một điều kỳ diệu phi thường.

23. Another amazing statement! It is as if we should look for the musical value of any natural phenomenon. We are being told that a volcano is sounding forth the note of the mineral kingdom (i.e., “this note”), no doubt expressing some unique variation upon that fundamental tone.

23. Lại thêm một phát biểu đáng kinh ngạc! Dường như chúng ta nên tìm kiếm giá trị âm nhạc của bất kỳ hiện tượng tự nhiên nào. Chúng ta được cho biết rằng một núi lửa đang xướng lên âm điệu của giới kim thạch (tức “âm điệu này”), hẳn là đang biểu lộ một biến thể độc đáo nào đó của âm cơ bản ấy.

Every gradation of that note is to be found in the mineral kingdom which is itself divided into three main kingdoms:

Mọi cấp độ của âm điệu ấy đều có thể được tìm thấy trong giới kim thạch mà bản thân giới này được chia thành ba giới chính:

24. It is curious to see the three divisions of the mineral kingdom also called “kingdoms”.

24. Thật lạ khi thấy ba phân bộ của giới kim thạch cũng được gọi là “giới”.

25. In the phrase “gradation of that note” the terminology of color and music is utilized. Gradations can suggest different octaves in which the note can be sounded and also semi-tones and quarter tones based on or related to that note.

25. Trong cụm từ “cấp độ của âm điệu ấy”, thuật ngữ của màu sắc và âm nhạc được sử dụng. Các cấp độ có thể gợi ý những quãng tám khác nhau trong đó âm điệu có thể được xướng lên, và cả những bán âm cùng những phần tư cung dựa trên hay liên hệ với âm điệu ấy.

26. We do not know exactly what DK means by “gradation” or how many gradations (perhaps increases or decreases in frequency) can be applied to any one note.

26. Chúng ta không biết chính xác Chân sư DK muốn nói gì bởi “cấp độ”, hay có bao nhiêu cấp độ (có lẽ là sự tăng hay giảm về tần số) có thể được áp dụng cho bất kỳ một âm điệu nào.

27. One thing of vital importance which we need to know, but do not know, is where to find, for instance, a true “A” or a true “C”. The exact, occultly certain frequency of either of these notes or of any of the notes we use in music, in not determined.

27. Một điều có tầm quan trọng thiết yếu mà chúng ta cần biết nhưng lại không biết, là chẳng hạn phải tìm ở đâu một nốt “A” đích thực hay một nốt “C” đích thực. Tần số chính xác, chắc chắn theo huyền bí học, của một trong hai nốt này hay của bất kỳ nốt nào chúng ta dùng trong âm nhạc, đều chưa được xác định.

a. The baser metals, such as lead and iron, with all allied minerals.

a. Các kim loại hèn hơn, như chì và sắt, cùng mọi khoáng chất liên hệ với chúng.

28. Interestingly the two metals mentioned are ruled respectively by Saturn and Mars, considered in exoteric astrology to be “malefic” planets (even though, esoterically, one of them is a sacred planet).

28. Thật thú vị, hai kim loại được nhắc đến này lần lượt do Sao Thổ và Sao Hỏa cai quản, vốn trong chiêm tinh học ngoại môn được xem là các hành tinh “hung” (dù theo nội môn, một trong hai là hành tinh thiêng liêng).

29. Perhaps, by “allied minerals” DK means those compounds which involve the baser metals.

29. Có lẽ, bởi “các khoáng chất liên hệ”, Chân sư DK muốn nói đến những hợp chất có liên quan đến các kim loại hèn hơn.

30. If, as we learn in the next section, the standard metals are the “mineral manifestation of the second aspect”, then lead and iron must evolution the mineral manifestation of the third aspect.

30. Nếu, như chúng ta sẽ học trong phần kế tiếp, các kim loại tiêu chuẩn là “sự biểu hiện khoáng vật của phương diện thứ hai”, thì chì và sắt hẳn phải tiến hoá thành sự biểu hiện khoáng vật của phương diện thứ ba.

b. The standard metals, such as gold and silver, which play such a vital part in the life of the race, and are the mineral manifestation of the second aspect.

b. Các kim loại tiêu chuẩn, như vàng và bạc, đóng một vai trò thiết yếu như thế trong đời sống của nhân loại, và là sự biểu hiện khoáng vật của phương diện thứ hai.

31. The vital part these metals play in the life of the race seems, today, to have more to do with symbolic standards of value than with technical uses (even though many examples of technical applications can be found). Probably the future will reveal many more occultly based technical uses for gold and silver.

31. Vai trò thiết yếu mà các kim loại này đóng trong đời sống của nhân loại, ngày nay, dường như liên quan nhiều hơn đến những tiêu chuẩn giá trị mang tính biểu tượng hơn là những công dụng kỹ thuật (dù có thể tìm thấy nhiều ví dụ về ứng dụng kỹ thuật). Có lẽ tương lai sẽ tiết lộ nhiều công dụng kỹ thuật dựa trên huyền bí học hơn nữa cho vàng và bạc.

32. It is interesting that the soul is the “quality of life” and related to the second aspect. The metals used as standards of value, not surprisingly, are related to the second aspect. A value is that which we most desire and desire (like love) is an aspect of the Law of Attraction (the second cosmic law).

32. Thật thú vị khi linh hồn là “phẩm tính của sự sống” và liên hệ với phương diện thứ hai. Các kim loại được dùng làm tiêu chuẩn giá trị, không có gì ngạc nhiên, cũng liên hệ với phương diện thứ hai. Một giá trị là điều mà chúng ta mong muốn nhất, và ham muốn (giống như tình thương) là một phương diện của Định luật Hấp Dẫn (định luật vũ trụ thứ hai).

33. Symbolically, gold and silver represent the major dichotomy with which man is faced spiritually—the relationship between the Solar Angel (gold) and the Lunar Lords (silver). The soul is golden (the heart) and the personality silver (the solar plexus—at least an admixture of silvery color is found within that chakra—cf. EP I 420).

33. Về mặt biểu tượng, vàng và bạc tượng trưng cho nhị nguyên lớn mà con người phải đối diện về mặt tinh thần—mối liên hệ giữa Thái dương Thiên Thần (vàng) và các thái âm tổ phụ (bạc). Linh hồn là vàng ròng (tim) và phàm ngã là bạc (tùng thái dương—ít nhất có thể tìm thấy một sự pha trộn màu bạc trong luân xa ấy—x. EP I 420).

d. The crystals and precious stones, the first aspect as it works out in the mineral kingdom—the consummation of the work of the mineral devas, and the product of their untiring efforts.

d. Các tinh thể và đá quý, phương diện thứ nhất khi nó biểu hiện trong giới kim thạch—sự viênmãn của công việc của các thiên thần khoáng vật, và là sảnphẩm của những nỗ lực không mệt mỏi của họ.

34. Here the planet Vulcan is suggested, the planet of “untiring” endurance and also a planet of the first ray (in its soul aspect).

34. Ở đây hành tinh Vulcan được gợi ý đến, hành tinh của sức bền “không mệt mỏi” và cũng là một hành tinh của cung một (trong phương diện linh hồn của nó).

35. In relation to man, the word “consummation” suggests the fourth initiation, at which Vulcan is so prominent, and during which the first and fourth rays (rays of Vulcan) both come into strong expression.

35. Trong liên hệ với con người, từ “viên mãn” gợi ý lần điểm đạo thứ tư, tại đó Vulcan nổi bật đến thế, và trong đó cả cung một lẫn cung bốn (các cung của Vulcan) đều biểu lộ mạnh mẽ.

36. The state of “diamond soul” reaches its consummation just before the destruction of the causal body at the third initiation.

36. Trạng thái “linh hồn kim cương” đạt đến sự viên mãn của nó ngay trước khi thể nguyên nhân bị hủy diệt ở lần điểm đạo thứ ba.

37. We are told that the “Army of the Voice, the devas in their serried ranks work ceaselessly”. Constant, “untiring” activity, intelligently guided, has produced crystalline consummation.

37. Chúng ta được cho biết rằng “Đạo quân của Tiếng Nói, các thiên thần trong hàng ngũ chỉnh tề của họ làm việc không ngừng nghỉ”. Hoạt động liên tục, “không mệt mỏi”, được hướng dẫn một cách thông minh, đã tạo ra sự viên mãn kết tinh.

38. One of the important qualities of the best crystals and precious stones is not only their translucency but their transparency. This transparency is earned when, indeed, “the burning ground has done its work”.

38. Một trong những phẩm tính quan trọng của những tinh thể và đá quý tốt nhất không chỉ là tính bán trong suốt mà còn là tính trong suốt. Tính trong suốt này đạt được khi quả thật “vùng đất cháy đã hoàn tất công việc của nó”.

39. If there are three main divisions within the mineral kingdom, we can judge, by analogy, that there are three main divisions in all kingdoms.

39. Nếu có ba phân bộ chính trong giới kim thạch, chúng ta có thể phán đoán, theo định luật tương đồng, rằng có ba phân bộ chính trong mọi giới.

40. Depending upon the keynote of the mineral kingdom, the base metals can be arranged as the sub-dominant tone, and the standard metals (correlated with the second aspect) with the dominant tone. The tonic will always relate to the first aspect. The tonic, subdominant and dominant notes change with every key.

40. Tùy theo chủ âm của giới kim thạch, các kim loại hèn có thể được sắp xếp như âm dưới át, và các kim loại tiêu chuẩn (tương ứng với phương diện thứ hai) như âm át. Âm chủ sẽ luôn liên hệ với phương diện thứ nhất. Các nốt âm chủ, dưới át và át thay đổi theo từng điệu thức.

41. One can make a case for the fundamental tone of the mineral kingdom as “D.”, a first ray note associated with the radiant Sun (which on occasion “veils” Vulcan). Other justifications can be made for the red note “C”, also connected with the first ray and even with the note “F” which can be considered the note of the third aspect. One way of looking at the note “B” is as the note of the seventh ray—a ray which interestingly associated with the basic geometries displayed in the mineral kingdom.

41. Người ta có thể lập luận rằng âm cơ bản của giới kim thạch là “D”, một nốt cung một liên hệ với Mặt Trời rạng ngời (đôi khi “che giấu” Vulcan). Những biện minh khác cũng có thể được đưa ra cho nốt đỏ “C”, cũng liên hệ với cung một, và thậm chí với nốt “F”, có thể được xem là nốt của phương diện thứ ba. Một cách nhìn nốt “B” là xem nó như nốt của cung bảy—một cung thật thú vị khi liên hệ với những hình học cơ bản được biểu lộ trong giới kim thạch.

42. While cases can be made for various of the notes in relation to various of the kingdoms, thus far, no certainty exists.

42. Dù có thể lập luận cho nhiều nốt khác nhau trong liên hệ với nhiều giới khác nhau, cho đến nay vẫn chưa có gì chắc chắn.

When scientists fully appreciate what it is which causes the difference between the sapphire and the ruby, they will have found out what constitutes one of the stages [Page 496] of the transmutative process, and this they cannot do until the fourth ether is controlled, and its secret discovered.

Khi các nhà khoa học hiểu trọn vẹn điều gì gây ra sự khác biệt giữa sapphire và ruby, họ sẽ khám phá ra điều cấu thành một trong những giai đoạn [Page 496] của tiến trình chuyển hoá, và họ không thể làm được điều này cho đến khi dĩ thái thứ tư được kiểm soát và bí mật của nó được khám phá.

43. A prophecy is here given. The precious stones here mentioned do not seem to be chosen at random. The sapphire (principally blue) seems to correlate with the second ray (one thinks of the “Sapphire Throne” of Sanat Kumara), and the red of the ruby with the Martian sixth ray. One might think of the ruby in relation to the red of the first ray, but probably the diamond, the hardest of all stones, best represents the first ray.

43. Ở đây một lời tiên tri được đưa ra. Những viên đá quý được nhắc đến ở đây dường như không được chọn một cách ngẫu nhiên. Sapphire (chủ yếu màu xanh lam) dường như tương ứng với cung hai (người ta nghĩ đến “Ngai Sapphire” của Đức Sanat Kumara), còn màu đỏ của ruby thì tương ứng với cung sáu của Sao Hỏa. Người ta có thể nghĩ đến ruby trong liên hệ với màu đỏ của cung một, nhưng có lẽ kim cương, cứng nhất trong mọi loại đá, biểu trưng cho cung một thích hợp hơn.

44. DK may be suggesting that one type of gem may be transmuted into another, just as the energy of the solar plexus may be lifted to the heart.

44. Chân sư DK có thể đang gợi ý rằng một loại ngọc có thể được chuyển hoá thành một loại khác, cũng như năng lượng của tùng thái dương có thể được nâng lên tim.

45. The fourth ether correlates in general with the buddhic plane, particularly the home of the second aspect of divinity which, we have learned, plays a fundamental role in all spiritual transmutative processes.

45. Dĩ thái thứ tư tương ứng nói chung với cõi Bồ đề, đặc biệt là nơi cư ngụ của phương diện thứ hai của thiên tính, mà chúng ta đã học rằng giữ một vai trò nền tảng trong mọi tiến trình chuyển hoá tinh thần.

46. The secret of the fourth ether may (using the buddhic analogy) have something to do with the merging and blending of one entity into another thus transcending the boundaries which usually define entification.

46. Bí mật của dĩ thái thứ tư có thể (dùng phép tương đồng Bồ đề) có liên hệ nào đó với sự hòa nhập và hòa trộn của một thực thể vào một thực thể khác, nhờ đó vượt qua những ranh giới vốn thường xác định tính thực thể hóa.

47. On the buddhic plane, the perception of oneness despite any differences in form, is achieve.

47. Trên cõi Bồ đề, sự tri nhận về nhất thể bất chấp mọi khác biệt về hình tướng được đạt tới.

As time progresses, the transmutation, for instance, of coal into diamonds, of lead into silver, or of certain metals into gold, will hold no appeal for man,

Khi thời gian tiến triển, sự chuyển hoá, chẳng hạn, than đá thành kim cương, chì thành bạc, hay một số kim loại thành vàng, sẽ không còn sức hấp dẫn nào đối với con người,

48. Again, the substances mentioned are not casually related.

48. Một lần nữa, các chất liệu được nhắc đến không liên hệ với nhau một cách ngẫu nhiên.

49. We know, of course, that coal, under pressure, becomes over many ages, the diamond. However, it would seem that there are more rapid methods of bringing about the change.

49. Dĩ nhiên, chúng ta biết rằng than đá, dưới áp lực, qua nhiều thời đại sẽ trở thành kim cương. Tuy nhiên, dường như có những phương pháp nhanh hơn để tạo ra sự thay đổi ấy.

50. In this transmutation there is a relationship between the number six (the shape of the atom of carbon) and the eight. What we usually call a “diamond” (in two dimensional drawings) can be expanded in three dimensions into an octahedron. This suggests a relationship between the cube (the six) and the octahedron—two of the platonic solids.

50. Trong sự chuyển hoá này có một mối liên hệ giữa số sáu (hình dạng của nguyên tử carbon) và số tám. Điều mà chúng ta thường gọi là một “viên kim cương” (trong các hình vẽ hai chiều) có thể được mở rộng trong ba chiều thành một khối bát diện. Điều này gợi ý một mối liên hệ giữa khối lập phương (số sáu) và khối bát diện—hai trong các khối đa diện Plato.

51. A planetary movement from Mars to Vulcan (with Vulcan representing the diamond) is also suggested. Even the glyph of Vulcan (with its “V”) suggests one half of the diamond.

51. Một sự chuyển động hành tinh từ Sao Hỏa đến Vulcan (với Vulcan tượng trưng cho kim cương) cũng được gợi ý. Ngay cả ký hiệu của Vulcan (với chữ “V” của nó) cũng gợi ra một nửa viên kim cương.

52. There is also suggested a transmutation from mortality to immortality. Carbon is often composed of the remnants of that which has been ‘alive’ organically; the diamond suggests that which is imperishable (ever the same)—pure being.

52. Ở đây cũng gợi ý một sự chuyển hoá từ tính phải chết sang tính bất tử. Carbon thường được cấu thành từ tàn dư của điều gì đó đã từng “sống” theo nghĩa hữu cơ; kim cương gợi ra điều bất hoại (luôn luôn như nhau)—bản thể thuần túy.

53. The symbolism of moving from that which is pitch black to that which is perfect in form and eventually transparent represents our entire evolutionary journey.

53. Biểu tượng của việc đi từ điều đen đặc như mực đến điều hoàn hảo về hình tướng và cuối cùng trong suốt tượng trưng cho toàn bộ hành trình tiến hoá của chúng ta.

54. Usually we think of transmuting lead into gold. Such a transmutation would be signified by the relationship between Saturn (lead) and the Sun (gold). The Sun was, classically, considered the center and Saturn the outermost boundary, the periphery.

54. Thông thường chúng ta nghĩ đến việc chuyển hoá chì thành vàng. Một sự chuyển hoá như vậy sẽ được biểu thị bởi mối liên hệ giữa Sao Thổ (chì) và Mặt Trời (vàng). Theo quan niệm cổ điển, Mặt Trời được xem là trung tâm còn Sao Thổ là ranh giới ngoài cùng, là ngoại vi.

55. There is also a fascinating link between lead and silver, for within the glyph of Saturn (representing lead), the glyph of the Moon (symbolically silver) can be found.

55. Cũng có một mối liên hệ thật hấp dẫn giữa chì và bạc, vì trong ký hiệu của Sao Thổ (tượng trưng cho chì), có thể tìm thấy ký hiệu của Mặt Trăng (tượng trưng cho bạc).

56. Saturn (in its lower aspect) and the Moon both symbolize that which is material and, in general, the personality.

56. Sao Thổ (trong phương diện thấp của nó) và Mặt Trăng đều tượng trưng cho điều thuộc vật chất và, nói chung, cho phàm ngã.

57. An unpurified personality is ‘leaden’; a purified personality is silvery.

57. Một phàm ngã chưa được thanh luyện thì “nặng như chì”; một phàm ngã đã được thanh luyện thì có màu bạc.

58. Perhaps we may find a progressive, developmental relationship between lead, silver and that allotrope of silver on which the initiatory formulas for disciples are said to be inscribed (cf. DINA II 249)

58. Có lẽ chúng ta có thể tìm thấy một mối liên hệ tiến triển, phát triển giữa chì, bạc và dạng thù hình của bạc mà trên đó các công thức điểm đạo dành cho các đệ tử được nói là đã được ghi khắc (x. DINA II 249)

59. The relationship between the base of the spine (Saturn) and the silvery solar plexus (Moon) may also be suggested.

59. Mối liên hệ giữa đáy cột sống (Sao Thổ) và tùng thái dương màu bạc (Mặt Trăng) cũng có thể được gợi ý.

60. What are the metals which would be transmuted into gold? Usually, as stated, the metal most often considered in that transmutation is lead. However, there must be other base metals (iron, copper etc.,). DK may be hinting at which metals can be most easily transmuted into gold.

60. Những kim loại nào sẽ được chuyển hoá thành vàng? Thông thường, như đã nói, kim loại thường được xét đến nhất trong sự chuyển hoá ấy là chì. Tuy nhiên, hẳn phải có những kim loại hèn khác (sắt, đồng, v.v.). Chân sư DK có thể đang gợi ý những kim loại nào có thể được chuyển hoá thành vàng dễ dàng nhất.

61. Each method of transmutation would be different as would be the method of transmutatively assisting the various personality types/rays to become infused by the soul. The ray of the personality is to become the sub-ray of the soul.

61. Mỗi phương pháp chuyển hoá sẽ khác nhau, cũng như phương pháp mang tính chuyển hoá để trợ giúp các loại/cung phàm ngã khác nhau trở nên được linh hồn thấm nhuần. Cung của phàm ngã phải trở thành cung phụ của linh hồn.

62. The important part of this section however suggests that such transmutations will hold no appeal for man—especially for advanced man disciples and initiates.

62. Tuy nhiên, phần quan trọng của mục này gợi ý rằng những sự chuyển hoá như thế sẽ không còn hấp dẫn đối với con người—đặc biệt là đối với những đệ tử và điểm đạo đồ tiến bộ.

63. As human values change, so do human attitudes to those material substances which symbolized value. The substances will be used for their own inherent value and not for their symbolic value. It may be, however, that their symbolic value was derived from that which was occultly known about their inherent value.

63. Khi các giá trị của con người thay đổi, thái độ của con người đối với những chất liệu vật chất từng tượng trưng cho giá trị cũng thay đổi theo. Những chất liệu ấy sẽ được sử dụng vì giá trị cố hữu của chính chúng chứ không phải vì giá trị biểu tượng của chúng. Tuy nhiên, cũng có thể là giá trị biểu tượng của chúng đã phát sinh từ điều được biết một cách huyền bí về giá trị cố hữu của chúng.

for it will be recognised that the outcome of such action would cause deterioration of the standard, and result in poverty instead of the acquirement of riches;

vì người ta sẽ nhận ra rằng kếtquả của hành động như thế sẽ gây ra sự suy giảm tiêu chuẩn, và dẫn đến nghèo đói thay vì đạt được giàu có;

64. Mankind, in the future, will be more mature and will think in larger terms. He will realize the artificiality of the standards of value he has instituted. The value of gold and diamonds, for instance, has not been based on utilitarian considerations (even though they exist) but rather on rarity and durability of these substances.

64. Trong tương lai, nhân loại sẽ trưởng thành hơn và sẽ suy nghĩ theo những phạm vi rộng lớn hơn. Y sẽ nhận ra tính giả tạo của những tiêu chuẩn giá trị mà y đã thiết lập. Chẳng hạn, giá trị của vàng và kim cương không dựa trên những cân nhắc công dụng (dù những công dụng ấy có tồn tại), mà đúng hơn dựa trên tính hiếm và độ bền của các chất liệu này.

65. Gold, silver and diamonds are not valuable in themselves (except for their aesthetic appeal and obvious utilitarian functions—some of which may be very occult in nature). When consensus regarding their symbolic value is dissipated (because of the ease with which such substances will soon be produced) their use as standards of value will be superseded.

65. Vàng, bạc và kim cương không có giá trị tự thân (ngoại trừ sức hấp dẫn thẩm mỹ và những chức năng công dụng hiển nhiên của chúng—một số trong đó có thể rất huyền bí về bản chất). Khi sự đồng thuận về giá trị biểu tượng của chúng bị làm tiêu tan (do sự dễ dàng mà những chất liệu như thế sẽ sớm được sản xuất), việc dùng chúng làm tiêu chuẩn giá trị sẽ bị thay thế.

66. Perhaps one day an abstract unit called a ‘merit’ will serve as a standard of value. If a ‘merit’ can command or demand a service (a serviceable expression of energy), then perhaps the fulfillment of such a service will itself lead to the accrual of ‘merit units’.

66. Có lẽ một ngày nào đó một đơn vị trừu tượng gọi là “công trạng” sẽ làm tiêu chuẩn giá trị. Nếu một “công trạng” có thể yêu cầu hay đòi hỏi một sự phụng sự (một biểu hiện năng lượng hữu dụng), thì có lẽ việc hoàn thành sự phụng sự ấy tự nó sẽ dẫn đến sự tích lũy các “đơn vị công trạng”.

67. Along this line we will arrive at a consideration of “treasures in Heaven” as opposed to “treasures on Earth”. The problem of how human beings will engage in “energy exchange” will be up for serious reformulation.

67. Theo hướng này, chúng ta sẽ đi đến việc xem xét “của báu trên Trời” đối lập với “của báu trên Đất”. Vấn đề con người sẽ tham gia vào “sự trao đổi năng lượng” như thế nào sẽ cần được tái công thức hóa một cách nghiêm túc.

68. The reformulation of humanity’s ‘media of exchange’ will relate to the solution of the problem of desire. It is an issue related to the astrological sign, Taurus.

68. Việc tái công thức hóa các “phương tiện trao đổi” của nhân loại sẽ liên hệ với việc giải quyết vấn đề ham muốn. Đây là một vấn đề liên hệ với dấu hiệu hoàng đạo Kim Ngưu.

69. The old methods of barter and trade are cumbersome and, if universal, would slow human progress. New methods will have to be found—methods that are no longer arbitrary and artificial.

69. Những phương pháp trao đổi và buôn bán cũ thì cồng kềnh và, nếu mang tính phổ quát, sẽ làm chậm sự tiến bộ của con người. Những phương pháp mới sẽ phải được tìm ra—những phương pháp không còn tùy tiện và giả tạo nữa.

70. Of course, if abundance replaces scarcity, then the energy of the third aspect will be plentifully available to one and all. The question of how or whether one can accomplish ones desires in the external world will not be a question of whether one has sufficient energy or force to do so.

70. Dĩ nhiên, nếu sự sung túc thay thế sự khan hiếm, thì năng lượng của phương diện thứ ba sẽ sẵn có dồi dào cho mọi người. Câu hỏi về việc một người có thể hay không thể hoàn thành những ham muốn của mình trong thế giới bên ngoài sẽ không còn là câu hỏi liệu người ấy có đủ năng lượng hay mãnh lực để làm điều đó hay không.

71. With abundant energy, one can understand the importance of the strict rule of law to regulate the ease with which man will be able to effectively create—both good and evil.

71. Với năng lượng dồi dào, người ta có thể hiểu tầm quan trọng của sự cai trị nghiêm minh của quy luật để điều tiết sự dễ dàng mà con người sẽ có thể sáng tạo một cách hữu hiệu—cả điều thiện lẫn điều ác.

man will eventually come to the realisation that in atomic energy, harnessed to his need, or in the inducing of increased radioactivity, lies for him the path to prosperity and riches.

con người rốt cuộc sẽ đi đến chỗ chứng nghiệm rằng chính trong năng lượng nguyên tử, được khai thác để đáp ứng nhu cầu của y, hay trong việc gây ra sự gia tăng phóng xạ, có đối với y con đường dẫn đến thịnh vượng và giàu có.

72. Another prophecy unfolds. Artificial methods of gaining wealth are set aside and the true source of future wealth is revealed. Wealth (conventionally considered) is, after all, determined by the quantity of energy at one’s disposal. From the harnessing of atomic energy (in ways which have not yet appeared) and in the inducing of increased radioactivity (probably within the mineral kingdom, but certainly within man himself) will come that liberation which will transform the present poverty (material and spiritual) of the human race into the “life more abundant”.

72. Một lời tiên tri khác được khai mở. Những phương pháp nhân tạo để đạt được của cải bị gạt sang một bên và nguồn gốc đích thực của sự giàu có trong tương lai được tiết lộ. Rốt cuộc, của cải (theo cách hiểu thông thường) được quyết định bởi lượng năng lượng mà một người có trong tay. Từ việc khai thác năng lượng nguyên tử (theo những cách thức chưa xuất hiện) và từ việc gây ra sự gia tăng phóng xạ (có lẽ trong giới kim thạch, nhưng chắc chắn trong chính con người) sẽ đến sự giải phóng ấy, sự giải phóng sẽ chuyển đổi tình trạng nghèo nàn hiện nay (vật chất và tinh thần) của nhân loại thành “sự sống dồi dào hơn”.

He will, therefore concentrate his attention on this higher form of life transference

Do đó, y sẽ tập trung sự chú ý của mình vào hình thức chuyển dịch sự sống cao hơn này

73. By this is meant a form of “life transference” higher than that which would allow man to transmute base metals into precious metals or coal into diamonds.

73. Bởi điều này muốn nói đến một hình thức “chuyển dịch sự sống” cao hơn hình thức có thể cho phép con người chuyển hoá các kim loại hèn thành kim loại quý hay than đá thành kim cương.

74. DK is referring to that type of “life transference” which will liberate the power inherent in the atom for the use of man.

74. Chân sư DK đang nói đến loại “chuyển dịch sự sống” sẽ giải phóng quyền năng vốn có trong nguyên tử để con người sử dụng.

75. This higher form of “life transference” requires the following types of knowledge and methods of procedure:

75. Hình thức “chuyển dịch sự sống” cao hơn này đòi hỏi các loại tri thức và phương pháp tiến hành sau đây:

and

a. Through knowledge of the devas,

a. Qua tri thức về các thiên thần,

b. Through external pressure and vibration,

b. Qua áp lực và rung động từ bên ngoài,

c. Through internal stimulation,

c. Qua sự kích thích từ bên trong,

d. Through colour applied in stimulation and vitalisation,

d. Qua màu sắc được áp dụng trong sự kích thích và tiếp sinh lực,

e. Through mantric sounds

e. Qua các âm thanh mantram

76. DK is reviewing the subjects upon which He has touched earlier in this section on alchemy.

76. Chân sư DK đang điểm lại các chủ đề mà Ngài đã đề cập trước đó trong phần này về thuật luyện kim.

he will find the secret of atomic energy, latent in the mineral kingdom, and will bend that inconceivable power and force to the solution of the problems of existence.

y sẽ tìm ra bí mật của năng lượng nguyên tử, tiềm ẩn trong giới kim thạch, và sẽ uốn nắn quyền năng và mãnh lực không thể nghĩ bàn ấy để giải quyết các vấn đề của sự tồn tại.

77. Although some of the power of the atom has already been harnessed by man, we can see that present methods are primitive when compared to the several methods suggested above.

77. Mặc dù một phần quyền năng của nguyên tử đã được con người khai thác, chúng ta có thể thấy rằng các phương pháp hiện nay còn thô sơ khi so với một số phương pháp được gợi ý ở trên.

78. The five methods offered are all part of the alchemical process which requires the participation (by means of lawful compulsion) of the lower devas, through the compelling agencies of color and mantric sounds. Work upon both the exterior and interior of the atom is also suggested. It can be assumed that methods will be revealed which will teach man to stimulate principally the nucleus of the atom and thus increase its measure of radioactivity leading to the release of its inherent power.

78. Năm phương pháp được nêu ra đều là những phần của tiến trình luyện kim, đòi hỏi sự tham gia (bằng phương tiện cưỡng bách hợp pháp) của các thiên thần thấp, thông qua các tác nhân cưỡng bách là màu sắc và các âm thanh mantram. Công việc tác động lên cả bên ngoài lẫn bên trong của nguyên tử cũng được gợi ý. Có thể giả định rằng những phương pháp sẽ được mặc khải, dạy con người kích thích chủ yếu hạt nhân của nguyên tử và nhờ đó làm tăng mức độ phóng xạ của nó, dẫn đến sự giải phóng quyền năng vốn có của nó.

Only when atomic energy is better understood and the nature of the fourth ether somewhat comprehended, shall we see that control of the air which lies inevitably ahead.

Chỉ khi năng lượng nguyên tử được hiểu rõ hơn và bản chất của dĩ thái thứ tư được phần nào thấu hiểu, chúng ta mới thấy được sự kiểm soát không khí đang tất yếu ở phía trước.

79. By the “control of the air” may well be meant the overcoming of gravity and of friction which will introduce humanity into a new era of both abundant power and quietude.

79. Bởi “sự kiểm soát không khí” rất có thể muốn nói đến việc vượt thắng trọng lực và ma sát, điều sẽ đưa nhân loại vào một kỷ nguyên mới của cả quyền năng dồi dào lẫn sự tĩnh lặng.

80. The buddhic plane is, occultly, the “plane of air” and the fourth ether is numerically and correspondentially correlated with it.

80. Cõi Bồ đề, theo huyền bí học, là “cõi của không khí”, và dĩ thái thứ tư có tương quan về số học và theo định luật tương ứng với cõi ấy.

81. Shall we see the overcoming of gravity through the agency of harmony?

81. Liệu chúng ta có thấy sự vượt thắng trọng lực thông qua tác nhân của sự hài hòa chăng?

82. By the control of the air, the control of Earth’s weather patterns may also be suggested. All may be brought under wise, seventh ray regulation.

82. Bởi sự kiểm soát không khí, việc kiểm soát các mô hình thời tiết của Trái Đất cũng có thể được hàm ý. Tất cả có thể được đặt dưới sự điều hành khôn ngoan của cung bảy.

Third. By the discovery of the note of the vegetable kingdom, by its conjunction with other of nature’s notes, and by its due sounding forth in different keys and combinations will come the possibility to produce marvellous results within that kingdom, and to stimulate the activities of those devas who work with flowers, fruits, trees and herbs.

Thứ ba. Bằng sự khám phá âm điệu của giới thực vật, bằng sự kết hợp của nó với những âm điệu khác của thiên nhiên,bằng việc xướng nó một cách thích đáng trong những cung bậc và tổ hợp khác nhau sẽ xuất hiện khả năng tạo ra những kết quả kỳ diệu trong giới ấy, và kích thích các hoạt động của những thiên thần làm việc với hoa, quả, cây cối và thảo mộc.

83. We have been given several requirements which fulfilled will bring about the appearance of “marvellous results” within the vegetable kingdom:

83. Chúng ta đã được cho biết một số điều kiện mà khi được hoàn thành sẽ mang lại sự xuất hiện của những “kết quả kỳ diệu” trong giới thực vật:

a. The discovery of the note of the vegetable kingdom. This note will differ from the note of the mineral kingdom and will probably be related to the note of Venus just as the note of the mineral kingdom will be understood as related to Vulcan. The note of the animal kingdom, we may judge, would be related to Mars and that of the human kingdom to Mercury. From this planetary perspective (and allowing for gross over-simplification) the note of the mineral kingdom would be “D”; that of the vegetable kingdom “A”; that of the animal kingdom “C”; and that of the human kingdom “E”. These notes are taken from HPB’s assignment of notes to the various planets.

a. Sự khám phá âm điệu của giới thực vật. Âm điệu này sẽ khác với âm điệu của giới kim thạch và có lẽ sẽ liên hệ với âm điệu của Sao Kim, cũng như âm điệu của giới kim thạch sẽ được hiểu là liên hệ với Vulcan. Âm điệu của giới động vật, chúng ta có thể phán đoán, sẽ liên hệ với Sao Hỏa và âm điệu của giới nhân loại với Sao Thủy. Từ viễn cảnh hành tinh này (và chấp nhận sự đơn giản hóa quá mức), âm điệu của giới kim thạch sẽ là “D”; của giới thực vật là “A”; của giới động vật là “C”; và của giới nhân loại là “E”. Những âm điệu này được lấy từ sự quy định các nốt nhạc cho các hành tinh khác nhau của HPB.

b. The conjunction of the note of the vegetable kingdom with other of nature’s notes. This would occur, presumably, to preserve harmony between the vegetable kingdom and other kingdoms.

b. Sự kết hợp âm điệu của giới thực vật với những âm điệu khác của thiên nhiên. Điều này, có lẽ, sẽ xảy ra để duy trì sự hài hòa giữa giới thực vật và các giới khác.

c. “The due sounding forth” of the note of the vegetable kingdom “in different keys and combinations”. We notice that with regard to the mineral kingdom we were told “it is largely the sounding of the note combinations, based on this key” which produces world cataclysms. The chords to be sounded in relation to the mineral kingdom were all based (as far as we have been told) upon the key of the mineral kingdom.

c. “Việc xướng một cách thích đáng” âm điệu của giới thực vật “trong những cung bậc và tổ hợp khác nhau”. Chúng ta lưu ý rằng liên quan đến giới kim thạch, chúng ta đã được bảo rằng “phần lớn chính là việc xướng các tổ hợp âm điệu, dựa trên cung bậc này” tạo ra các đại biến động thế giới. Các hợp âm được xướng liên hệ với giới kim thạch đều dựa trên (theo như điều đã được cho biết) cung bậc của giới kim thạch.

The note of the vegetable kingdom is, however, sounded in a manner more complex. It is not only to be sounded in relation to its own key, but “in different keys and combinations”. Every note means something distinct in relation to a given key. For instance, the note “A” may be the tonic note in the key of “A”, but it will be the dominant in the key of “Disciple” and the sub-dominant in the key of “E”. The note of the vegetable kingdom seems to be one that is to blend harmoniously into the sounding of different keys related to different kingdoms and/or divisions of nature. The matter is, of course, profoundly mysterious to those at our level of intelligence, and only the slightest hints have been given.

Tuy nhiên, âm điệu của giới thực vật được xướng theo một cách phức tạp hơn. Nó không chỉ được xướng liên hệ với cung bậc riêng của nó, mà còn “trong những cung bậc và tổ hợp khác nhau”. Mỗi nốt nhạc mang một ý nghĩa riêng biệt trong liên hệ với một cung bậc nhất định. Chẳng hạn, nốt “A” có thể là chủ âm trong cung “A”, nhưng nó sẽ là âm át trong cung “Disciple” và là âm dưới át trong cung “E”. Âm điệu của giới thực vật dường như là một âm điệu phải hòa trộn một cách hài hòa vào việc xướng những cung bậc khác nhau liên hệ với những giới và/hoặc những phân bộ khác nhau của thiên nhiên. Dĩ nhiên, vấn đề này hết sức huyền nhiệm đối với những người ở cấp độ trí tuệ của chúng ta, và chỉ những gợi ý rất nhỏ đã được đưa ra.

Every root race has its own particular style of vegetation, or certain basic forms and designs which can be traced in all countries where the race locates.

Mỗi giống dân gốc đều có kiểu thực vật riêng của nó, hay những hình thức và mẫu thiết kế căn bản nhất định có thể được truy ra trong mọi quốc gia nơi giống dân ấy định cư.

84. We seem to be speaking of the great races—i.e., “root races” rather than sub-races.

84. Dường như chúng ta đang nói về các đại chủng tộc—tức là “giống dân gốc” hơn là các giống dân phụ.

85. It is as if the vegetation which appears is dependent in some mysterious manner upon the nature and quality of the root race then in expression. It is the word “has” that expresses this dependency.

85. Dường như thực vật xuất hiện phụ thuộc theo một cách huyền nhiệm nào đó vào bản chất và phẩm tính của giống dân gốc đang biểu hiện vào lúc ấy. Chính từ “đều có” diễn tả sự phụ thuộc này.

86. When we behold the vegetation still found uniquely in Australia, is there a possibility that it is vegetation uniquely related to the third or Lemurian root race? Is there Atlantean vegetation presently distinct from Aryan vegetation?

86. Khi chúng ta quan sát thảm thực vật vẫn còn thấy một cách độc đáo tại Úc, liệu có khả năng đó là thảm thực vật liên hệ độc nhất với giống dân gốc thứ ba hay Lemuria chăng? Hiện nay có thảm thực vật Atlantis khác biệt với thảm thực vật Arya chăng?

87. Perhaps if we examine the classification of plants in relation to their recent or ancient emergence we shall come closer to the answer.

87. Có lẽ nếu chúng ta khảo sát sự phân loại thực vật liên hệ với sự xuất hiện gần đây hay cổ xưa của chúng, chúng ta sẽ tiến gần hơn đến câu trả lời.

88. It is as if each root race carries its own form of geometry which is subtly imposed upon the geometry expressed through the vegetable kingdom.

88. Dường như mỗi giống dân gốc mang theo hình thức hình học riêng của nó, được áp đặt một cách tinh tế lên hình học biểu hiện qua giới thực vật.

89. When one cuts an apple one finds a five pointed star; does this fiveness correspond to the fifth root race? Would designs based upon the number four correspond to the Atlantean root race and those based upon the number three to the Lemurian root race?

89. Khi người ta cắt một quả táo, người ta thấy một ngôi sao năm cánh; tính năm này có tương ứng với giống dân gốc thứ năm chăng? Những mẫu thiết kế dựa trên số bốn có tương ứng với giống dân gốc Atlantis và những mẫu dựa trên số ba với giống dân gốc Lemuria chăng?

These [Page 497] results are brought about by the interaction between the basic note of the vegetable kingdom itself, and the note of the race of men who are evolving simultaneously.

Những [Page 497] kết quả này được tạo ra bởi sự tương tác giữa âm điệu căn bản của chính giới thực vật, và âm điệu của giống dân những người nam và nữ đang đồng thời tiến hoá.

90. We have already recognized that the note of the vegetable kingdom achieved conjunction with other of nature’s notes and is sounded in various keys. It should not be surprising that the notes of different kingdoms sounding simultaneously would influence each other—a greater note, it would seem, having a stronger influence upon a lesser note than the lesser upon a greater. We may presume that the note of the human kingdom is stronger or greater than the note of the vegetable kingdom, just as the note of the kingdom of souls can be presumed as stronger or greater than the note of the human race.

90. Chúng ta đã nhận ra rằng âm điệu của giới thực vật đạt được sự kết hợp với những âm điệu khác của thiên nhiên và được xướng trong nhiều cung bậc khác nhau. Không có gì đáng ngạc nhiên khi các âm điệu của những giới khác nhau được xướng đồng thời sẽ ảnh hưởng lẫn nhau—một âm điệu lớn hơn, dường như, có ảnh hưởng mạnh hơn lên một âm điệu nhỏ hơn là âm điệu nhỏ hơn ảnh hưởng lên âm điệu lớn hơn. Chúng ta có thể giả định rằng âm điệu của giới nhân loại mạnh hơn hay lớn hơn âm điệu của giới thực vật, cũng như âm điệu của giới linh hồn có thể được giả định là mạnh hơn hay lớn hơn âm điệu của nhân loại.

91. Evolution can be understood as a musical process and in musical processes the blending and tuning of simultaneously sounding notes is required. Further, not all notes sounding simultaneously (or in melodic unfoldment) are of equal importance.

91. Tiến hoá có thể được hiểu như một tiến trình âm nhạc, và trong các tiến trình âm nhạc, sự hòa trộn và chỉnh âm của các âm điệu được xướng đồng thời là điều cần thiết. Hơn nữa, không phải mọi âm điệu được xướng đồng thời (hay trong sự khai mở giai điệu) đều có tầm quan trọng ngang nhau.

The union of these two notes is that which produces distinctive vegetation, though it should be remembered that when the human note dominates too strongly it is apt to drive out the life of the forms of this second kingdom.

Sự hợp nhất của hai âm điệu này là điều tạo ra thảm thực vật đặc thù, tuy nhiên cần nhớ rằng khi âm điệu nhân loại chi phối quá mạnh, nó có khuynh hướng xua đuổi sự sống ra khỏi các hình tướng của giới thứ hai này.

92. Something of this kind may presently be happening on our planet. Those who think ecologically are attempting to have humanity show greater respect for the vegetable kingdom (upon which humanity and the animal kingdom decidedly depend for its nourishment).

92. Một điều gì đó thuộc loại này có thể hiện đang xảy ra trên hành tinh của chúng ta. Những người suy nghĩ theo sinh thái học đang cố gắng khiến nhân loại biểu lộ sự tôn trọng lớn hơn đối với giới thực vật (giới mà nhân loại và giới động vật rõ ràng phụ thuộc vào để được nuôi dưỡng).

93. In the ecological crisis through which the planet is presently passing, we might say that the strictly human note is sounding too strongly for the welfare of both the vegetable and animal kingdoms. Man must learn his place within the ecological whole, and that he is sharing this planet with other kingdoms equally necessary to his own.

93. Trong cuộc khủng hoảng sinh thái mà hành tinh hiện đang trải qua, chúng ta có thể nói rằng âm điệu thuần túy nhân loại đang được xướng quá mạnh đối với phúc lợi của cả giới thực vật lẫn giới động vật. Con người phải học vị trí của mình trong toàn thể sinh thái, và rằng y đang chia sẻ hành tinh này với những giới khác cũng cần thiết cho chính y như vậy.

The devas who work in this kingdom are a special group, and have a closer and more peculiar relation to it than have the builders or devas in any other kingdom.

Các thiên thần làm việc trong giới này là một nhóm đặc biệt, và có một mối liên hệ gần gũi hơn và đặc thù hơn với giới ấy so với các đấng kiến tạo hay các thiên thần trong bất kỳ giới nào khác.

94. The Teaching has reminded us of the relatively advanced status of the vegetable kingdom—more advanced in its own way than the mineral, animal and human kingdoms.

94. Giáo Huấn đã nhắc chúng ta về địa vị tương đối tiến bộ của giới thực vật—tiến bộ hơn theo cách riêng của nó so với các giới kim thạch, động vật và nhân loại.

95. From what is said, we may gather that the vegetable kingdom is peculiarly responsive to devic life. Minerals, animals and humans (we gather) are less responsive to devic life.

95. Từ những gì được nói ra, chúng ta có thể suy ra rằng giới thực vật đáp ứng một cách đặc biệt với sự sống thiên thần. Các khoáng vật, động vật và con người (theo như chúng ta suy ra) ít đáp ứng hơn với sự sống thiên thần.

96. Venus rules or is closely associated with the vegetable kingdom and Venus is, as well, closely associated with devic life in all its variety and beauty.

96. Sao Kim cai quản hay có liên hệ mật thiết với giới thực vật, và Sao Kim cũng có liên hệ mật thiết với sự sống thiên thần trong toàn bộ tính đa dạng và vẻ đẹp của nó.

97. Venus is the planet most advanced in its unfoldment. This may provide a reason for the relatively greater advancement of the vegetable kingdom and of the closer interplay between the vegetable kingdom and the devic lives who superintend it.

97. Sao Kim là hành tinh tiến bộ nhất trong sự khai mở của nó. Điều này có thể cung cấp một lý do cho sự tiến bộ tương đối lớn hơn của giới thực vật và cho sự tương tác gần gũi hơn giữa giới thực vật với các sự sống thiên thần giám quản nó.

The transmutative process is effected more easily in the vegetable kingdom than in any other owing to this very factor, and also to the incentive given to this second kingdom and its evolutionary process by the coming of the Lords of the Flame from the second or Venus globe—pre-eminently the globe with which this kingdom has a mysterious connection.

Tiến trình chuyển hoá được thực hiện dễ dàng hơn trong giới thực vật so với bất kỳ giới nào khác do chính yếu tố này, và cũng do sự thúc đẩy được ban cho giới thứ hai này và tiến trình tiến hoá của nó bởi sự giáng lâm của các Đấng Giải Thoát từ bầu hành tinh thứ hai hay bầu hành tinh Sao Kim—nổi trội nhất là bầu hành tinh mà giới này có một mối liên hệ huyền nhiệm.

98. This section confirms the importance of Venusian energy in relation to both the vegetable kingdom and the angelic kingdom (of which the Lords of the Flame are a part).

98. Phần này xác nhận tầm quan trọng của năng lượng Sao Kim liên hệ với cả giới thực vật lẫn giới thiên thần (mà các Đấng Giải Thoát là một phần của giới ấy).

99. If we wish to study transmutation at work, the vegetable kingdom should become our principal focus.

99. Nếu chúng ta muốn nghiên cứu sự chuyển hoá đang hoạt động, giới thực vật nên trở thành trọng tâm chính của chúng ta.

100. It is quite amazing to consider that the coming of the Lord of the Flame gave a particular incentive to the vegetable kingdom. We understand from the Teaching that certain advanced members of the animal kingdom were profoundly affected (i.e., individualized) but the effect upon the vegetable kingdom of that time is rarely discussed. May we gather that the coming of the Lords of the Flame saw a great change in the vegetation of the period?

100. Thật đáng kinh ngạc khi suy xét rằng sự giáng lâm của các Đấng Giải Thoát đã ban một sự thúc đẩy đặc biệt cho giới thực vật. Chúng ta hiểu từ Giáo Huấn rằng một số thành viên tiến bộ của giới động vật đã bị tác động sâu sắc (tức là được biệt ngã hóa), nhưng ảnh hưởng lên giới thực vật vào thời đó hiếm khi được bàn đến. Liệu chúng ta có thể suy ra rằng sự giáng lâm của các Đấng Giải Thoát đã chứng kiến một sự thay đổi lớn trong thảm thực vật của thời kỳ ấy chăng?

101. From another perspective, even man can be considered a ‘plant’—the sevenfold “Saptaparna”.

101. Từ một góc nhìn khác, ngay cả con người cũng có thể được xem là một “thực vật”—“Saptaparna” thất phân.

102. In this section the second or Venus-globe of the Earth-chain is discussed as mysteriously connected to the vegetable kingdom on the Earth-globe. The Venus-globe of the Earth-chain, however, is necessarily resonant to the planet Venus, itself.

102. Trong phần này, bầu hành tinh thứ hai hay bầu hành tinh Sao Kim của Dãy Địa Cầu được bàn đến như có liên hệ huyền nhiệm với giới thực vật trên bầu hành tinh Trái Đất. Tuy nhiên, bầu hành tinh Sao Kim của Dãy Địa Cầu tất yếu cộng hưởng với chính hành tinh Sao Kim.

103. Perhaps it would be helpful to realize that the coming of the Lords of the Flame (under Venusian influence) transformed man into a ‘flower’—a lotus called by us the “egoic lotus”. We see through this process, the vegetalization of animal man simultaneously with his individualization (i.e., his humanization).

103. Có lẽ sẽ hữu ích nếu nhận ra rằng sự giáng lâm của các Đấng Giải Thoát (dưới ảnh hưởng của Sao Kim) đã chuyển đổi con người thành một “đóa hoa”—một hoa sen mà chúng ta gọi là “Hoa Sen Chân Ngã”. Qua tiến trình này, chúng ta thấy sự thực vật hóa của người thú diễn ra đồng thời với sự biệt ngã hóa của y (tức là sự nhân loại hóa của y).

If I might express it in other words: the cosmic Entity, Who is the life of the second globe and its informing principle, has a close connection with the solar Entity Who is the informing life of the entire vegetable kingdom.

Nếu tôi có thể diễn đạt điều đó bằng những lời khác: Thực Thể vũ trụ, Đấng là sự sống của bầu hành tinh thứ hai và là nguyên khí thấm nhuần nó, có một mối liên hệ mật thiết với Thực Thể thái dương là sự sống thấm nhuần toàn bộ giới thực vật.

104. DK offers us the real occultism of relationship.

104. Chân sư DK trao cho chúng ta huyền bí học đích thực của các mối liên hệ.

105. It is important to note that the life which informs a globe is to be considered a “cosmic entity”. We might have thought of such a being as purely solar or systemic.

105. Điều quan trọng cần lưu ý là sự sống thấm nhuần một bầu hành tinh phải được xem là một “thực thể vũ trụ”. Chúng ta có thể đã nghĩ về một hữu thể như thế là thuần túy thái dương hay hệ thống.

106. Here we are dealing with solar systemic relations. The informing life of the vegetable kingdom is a “solar Entity”. The informing life of the second globe is a “cosmic Entity”.

106. Ở đây chúng ta đang bàn đến các mối liên hệ trong hệ mặt trời. Sự sống thấm nhuần giới thực vật là một “Thực Thể thái dương”. Sự sống thấm nhuần bầu hành tinh thứ hai là một “Thực Thể vũ trụ”.

107. Cosmic, solar and planetary entities have a definite interplay.

107. Các thực thể vũ trụ, thái dương và hành tinh có một sự tương tác xác định.

108. Is DK speaking of the vegetable kingdom as it exists throughout the solar system or only the vegetable kingdom on Earth? If there are “men” on other planets we may well assume that other kingdoms are also to be found on other planets—for instance, members of the vegetable or animal kingdoms. Mineral life, we know, is found throughout the solar system.

108. Chân sư DK có đang nói về giới thực vật như nó tồn tại khắp hệ mặt trời hay chỉ về giới thực vật trên Trái Đất? Nếu có “con người” trên các hành tinh khác, chúng ta hoàn toàn có thể giả định rằng các giới khác cũng được tìm thấy trên các hành tinh khác—chẳng hạn, các thành viên của giới thực vật hay giới động vật. Chúng ta biết rằng sự sống khoáng vật được tìm thấy khắp hệ mặt trời.

109. In a more general sense we can see that influence between entities proceeds on the basis of numerical affinity. The two Entities here discussed are united by means of their relation to the number two. We are speaking of the second globe and the second kingdom.

109. Theo một nghĩa tổng quát hơn, chúng ta có thể thấy rằng ảnh hưởng giữa các thực thể diễn ra trên cơ sở sự tương hợp số học. Hai Thực Thể được bàn đến ở đây được hợp nhất nhờ mối liên hệ của các Ngài với con số hai. Chúng ta đang nói về bầu hành tinh thứ hai và giới thứ hai.

110. The section of text also seems to be saying that the second globe has one “informing principle”. Perhaps we could say that one of its informing principles is primary to all the others. We have often discussed the apparent necessity for a number of principles to be present on or through all globes (especially the higher principles). Each globe is the expression of a monadic life (a cosmic Entity called a Globe-Lord). Any Monad needs a number of principles through which to express (though at different stages of its development it may do without some of the lower principles).

110. Phần văn bản này dường như cũng đang nói rằng bầu hành tinh thứ hai có một “nguyên khí thấm nhuần”. Có lẽ chúng ta có thể nói rằng một trong các nguyên khí thấm nhuần của nó là chính yếu so với tất cả những nguyên khí khác. Chúng ta thường bàn đến sự cần thiết hiển nhiên là phải có một số nguyên khí hiện diện trên hay xuyên qua mọi bầu hành tinh (đặc biệt là các nguyên khí cao). Mỗi bầu hành tinh là biểu hiện của một sự sống chân thần (một Thực Thể vũ trụ được gọi là Chúa Tể Bầu Hành Tinh). Bất kỳ Chân thần nào cũng cần một số nguyên khí để biểu hiện qua đó (dù ở những giai đoạn phát triển khác nhau, nó có thể không cần đến một số nguyên khí thấp hơn).

111. The matter is a difficult one but at stake is the definition of what a globe really is and of what substance or substances it is composed.

111. Đây là một vấn đề khó, nhưng điều đang được đặt ra là định nghĩa về việc một bầu hành tinh thực sự là gì và nó được cấu thành bởi chất liệu hay các chất liệu nào.

This analogy can be worked out in connection with the other kingdoms, globes and other forms and accounts somewhat for the fact that this fourth63, 64 S. D., I, 107. globe is above everything else the globe of human evolution in this scheme;

Sự tương đồng này có thể được triển khai liên hệ với các giới khác, các bầu hành tinh khác và các hình tướng khác, và phần nào giải thích sự kiện rằng bầu hành tinh thứ tư này63, 64, Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 107. trên hết mọi thứ là bầu hành tinh của sự tiến hoá nhân loại trong hệ hành tinh này;

112. The human kingdom is the fourth kingdom, and our globe is, of course, the fourth.

112. Giới nhân loại là giới thứ tư, và dĩ nhiên bầu hành tinh của chúng ta là bầu hành tinh thứ tư.

113. In the section immediately above DK is speaking of the intra-planetary relations brought about through numerical affinity.

113. Trong phần ngay phía trên, Chân sư DK đang nói về các mối liên hệ nội hành tinh được tạo ra thông qua sự tương hợp số học.

it gives also the clue to the mystery of the Presence of the great Kumara Himself upon earth.

điều đó cũng cho ta đầu mối để hiểu huyền nhiệm về sự Hiện Diện của chính Đại Kumara trên Trái Đất.

114. The “Great Kumara” is often called the “fourth Kumara”, and, thus, according to numerical affinity, He chose this fourth globe as the scene of His redemptive manifestation.

114. “Đại Kumara” thường được gọi là “Kumara thứ tư”, và như vậy, theo sự tương hợp số học, Ngài đã chọn bầu hành tinh thứ tư này làm sân khấu cho sự biểu hiện cứu chuộc của Ngài.

115. But He is also called the first Kumara”.

115. Nhưng Ngài cũng được gọi là “Kumara thứ nhất”.

Footnote 63: The Fourth Round. The present (our) Round being the middle Round (between the 1st, 2nd, and 3rd, and the 5th, 6th and 7th) is one of adjustment and final equipoise between Spirit and matter.

Chú thích 63: Cuộc tuần hoàn thứ tư. Cuộc tuần hoàn hiện tại (của chúng ta), là cuộc tuần hoàn ở giữa (giữa các cuộc tuần hoàn thứ 1, 2 và 3, và thứ 5, 6 và 7), là một cuộc tuần hoàn của sự điều chỉnh và quân bình tối hậu giữa tinh thần và vật chất.

116. From the point of view of balance, we could call our fourth round a Libran round and additionally, one in which the fourth Ray of Harmony Through Conflict is prominent.

116. Từ quan điểm của sự quân bình, chúng ta có thể gọi cuộc tuần hoàn thứ tư của mình là một cuộc tuần hoàn Thiên Bình, và thêm nữa, là một cuộc tuần hoàn trong đó cung thứ tư của Hài Hòa Qua Xung Đột nổi trội.

It is that point, in short, wherein the reign of true matter, its grossest state (which is as unknown to Science as its opposite pole—homogeneous matter or substance) stops and comes to an end.

Tóm lại, đó là điểm mà tại đó sự thống trị của vật chất đích thực, trong trạng thái thô nặng nhất của nó (trạng thái này khoa học cũng không biết gì như cực đối nghịch của nó—vật chất hay chất liệu đồng nhất), dừng lại và đi đến chấm dứt.

117. We are being told that we are not presently aware of the grossest state of matter. Perhaps this gross state is correlated with the number eight to which the number four is closely related. In this regard, we have to remember references to the “eighth sphere”.

117. Chúng ta đang được cho biết rằng hiện nay chúng ta chưa nhận biết trạng thái thô nặng nhất của vật chất. Có lẽ trạng thái thô nặng này tương quan với con số tám, con số mà số bốn có liên hệ mật thiết. Về phương diện này, chúng ta phải nhớ đến những ám chỉ về “khối cầu thứ tám”.

118. From the perspective of the cosmic physical plane, the plane of adi is that dimension within which homogeneous matter or substance can be found. Whether it is truly homogeneous is a deeper question and depends upon whether we consider the higher cosmic planes (such as the cosmic astral plane or cosmic mental) prakritic—i.e., composed of matter (at least of matter as we think we know it).

118. Từ góc nhìn của cõi hồng trần vũ trụ, cõi adi là chiều kích trong đó vật chất hay chất liệu đồng nhất có thể được tìm thấy. Liệu nó có thực sự đồng nhất hay không là một câu hỏi sâu xa hơn và tùy thuộc vào việc chúng ta có xem các cõi vũ trụ cao hơn (như cõi cảm dục vũ trụ hay cõi trí vũ trụ) là prakritic—tức là được cấu thành bằng vật chất (ít nhất là vật chất như chúng ta nghĩ mình biết).

From that point physical man begins to throw off “coat after coat,” of his material molecules for the benefit and subsequent formation or clothing of the animal kingdom,

Từ điểm đó, con người hồng trần bắt đầu trút bỏ “hết lớp áo này đến lớp áo khác” của các phân tử vật chất của mình vì lợi ích và cho sự hình thành hay khoác áo tiếp theo của giới động vật,

119. Under the Law of Economy, there is no divinely intended waste in cosmos. It seems that every kingdom ‘inherits’ that which the immediately superior kingdom can no longer use.

119. Dưới Định luật Tiết Kiệm, trong vũ trụ không có sự lãng phí nào được thiêng liêng chủ định. Dường như mỗi giới “thừa hưởng” điều mà giới cao hơn ngay phía trên không còn có thể sử dụng nữa.

which in its turn is passing it on to the vegetable, and the latter to the mineral kingdoms.

giới này đến lượt mình lại chuyển nó sang giới thực vật, và giới sau cùng này sang các giới kim thạch.

120. The interdependence is complete.

120. Sự tương thuộc là hoàn toàn.

Man having evoluted in the first Round from the animal via the two other kingdoms, it stands to reason that in the present Round he should appear before the animal world of this manvantaric period. But see the Secret Doctrine for particulars.—Lucifer, Vol. III, p. 253.

Con người, sau khi đã tiến hoá trong cuộc tuần hoàn thứ nhất từ giới động vật qua hai giới kia, thì theo lẽ phải trong cuộc tuần hoàn hiện tại y phải xuất hiện trước thế giới động vật của thời kỳ giai kỳ sinh hóa này. Nhưng hãy xem Giáo Lý Bí Nhiệm để biết chi tiết.—Lucifer, Tập III, tr. 253.

121. In this section we have one of the very interesting tenets of occultism, a tenet which runs counter to commonly accepted evolutionary theory—namely, that man (in this round) appeared before the animal world, and especially before the mammals.

121. Trong phần này, chúng ta có một trong những giáo điều rất thú vị của huyền bí học, một giáo điều đi ngược với lý thuyết tiến hoá thường được chấp nhận—cụ thể là con người (trong cuộc tuần hoàn này) đã xuất hiện trước thế giới động vật, và đặc biệt trước các loài có vú.

122. What was it, really, that “evoluted in the first Round from the animal via the two other kingdoms”? Can we say it was a giant man-like ape? Usually, the appearance of this type of creature is assigned to the third round.

122. Thực sự thì điều gì đã “tiến hoá trong cuộc tuần hoàn thứ nhất từ giới động vật qua hai giới kia”? Chúng ta có thể nói đó là một loài vượn khổng lồ giống người chăng? Thông thường, sự xuất hiện của loại sinh vật này được quy cho cuộc tuần hoàn thứ ba.

123. In any case, man stands as the macrocosm in relation to the animal and other lesser kingdoms. Though man is preeminent over the vegetable and animal kingdoms, it is not stated that he appeared before them in this manvantaric period—only before the members of the animal world (and depending on the source) especially before the animals most closely related to man, namely the mammals.

123. Dù sao đi nữa, con người đứng như đại thiên địa trong mối liên hệ với giới động vật và các giới thấp hơn khác. Dù con người nổi trội hơn giới thực vật và giới động vật, không có lời nào nói rằng y đã xuất hiện trước chúng trong thời kỳ giai kỳ sinh hóa này—chỉ là trước các thành viên của thế giới động vật (và tùy theo nguồn), đặc biệt là trước những động vật gần gũi nhất với con người, tức là các loài có vú.

124. We can see that some reconciliation of references is required in this question of the origin (in time and place) of man. The early Theosophical texts and the Bailey texts are (apparently, at least) not always in accord.

124. Chúng ta có thể thấy rằng cần có một sự hòa giải nào đó giữa các dẫn chiếu trong vấn đề nguồn gốc (về thời gian và nơi chốn) của con người này. Các văn bản Thông Thiên Học thời kỳ đầu và các văn bản của Bailey (ít nhất là bề ngoài) không phải lúc nào cũng phù hợp với nhau.

These thoughts merit close attention. [Page 498] The note of the human kingdom, sounded in quadruple intensity on this globe, has produced portentous happenings, and I would suggest to all occult investigators the close study and scrutiny of the following manifestations in time and space:

Những tư tưởng này đáng được chú ý kỹ lưỡng. [Page 498] Âm điệu của giới nhân loại, được xướng với cường độ tứ phân trên bầu hành tinh này, đã tạo ra những biến cố điềm báo, và tôi muốn gợi ý với tất cả các nhà nghiên cứu huyền bí học hãy nghiên cứu và khảo sát kỹ lưỡng các biểu hiện sau đây trong thời gian và không gian:

125. We are learning that not only does every kingdom have its own note, but that that note can be “sounded” with various degrees of intensity. The “quadruple intensity” with which the note of the human kingdom has been sounding on our present globe has naturally to do with the numbering of our globe—the fourth.

125. Chúng ta đang học rằng không chỉ mỗi giới có âm điệu riêng của nó, mà âm điệu ấy còn có thể được “xướng” với nhiều mức độ cường độ khác nhau. “Cường độ tứ phân” mà âm điệu của giới nhân loại đã vang lên trên bầu hành tinh hiện tại của chúng ta dĩ nhiên có liên hệ với số thứ tự của bầu hành tinh chúng ta—bầu hành tinh thứ tư.

126. The happenings produced on this globe have not been called “momentous” but rather “portentous”, which means that they presage important future developments on our globe (and probably on our chain and planetary scheme).

126. Những biến cố được tạo ra trên bầu hành tinh này không được gọi là “trọng đại” mà đúng hơn là “điềm báo”, nghĩa là chúng báo trước những phát triển quan trọng trong tương lai trên bầu hành tinh của chúng ta (và có lẽ trên dãy của chúng ta và hệ hành tinh của chúng ta).

127. Presumably that which now manifests as the human kingdom was present (in some form) on other globes—sounding on those globes in lesser degrees of intensity.

127. Có lẽ điều hiện nay biểu hiện thành giới nhân loại đã hiện diện (dưới một hình thức nào đó) trên các bầu hành tinh khác—vang lên trên những bầu hành tinh ấy với mức cường độ thấp hơn.

128. The term “quadruple” has an association with the planet Jupiter which is called the “College of Quadruple Force Units” (TCF 1178)

128. Thuật ngữ “tứ phân” có một liên hệ với hành tinh Sao Mộc, hành tinh được gọi là “Học Viện của Các Đơn Vị Mãnh Lực Tứ Phân” (TCF 1178)

1. The fourth Creative Hierarchy The human.

1. Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư Giới nhân loại.

129. Humanity is the fourth of the manifested Creative Hierarchies.

129. Nhân loại là Huyền Giai Sáng Tạo biểu hiện thứ tư.

2. The fourth scheme Our earth scheme.

2. Hệ hành tinh thứ tư Hệ hành tinh Trái Đất của chúng ta.

130. Our scheme can be numbered as the fourth if the Vulcan scheme is counted in the enumeration.

130. Hệ hành tinh của chúng ta có thể được đánh số là thứ tư nếu hệ hành tinh Vulcan được tính vào phép liệt kê.

3. The fourth chain The earth chain.

3. Dãy thứ tư Dãy Địa Cầu.

4. The fourth globe Our planet.

4. Bầu hành tinh thứ tư Hành tinh của chúng ta.

5. The fourth kingdom The human.

5. Giới thứ tư Giới nhân loại.

6. The fourth round The first strictly human round.

6. Cuộc tuần hoàn thứ tư Cuộc tuần hoàn đầu tiên hoàn toàn nhân loại.

131. By this is meant that man (an individualized being) appeared in the fourth round and became the dominant being within the lower three worlds.

131. Bởi điều này muốn nói rằng con người (một hữu thể đã được biệt ngã hóa) đã xuất hiện trong cuộc tuần hoàn thứ tư và trở thành hữu thể chi phối trong ba cõi thấp.

132. It also suggests that man as he may have appeared in earlier rounds was not “strictly human”.

132. Điều đó cũng gợi ý rằng con người như y có thể đã xuất hiện trong các cuộc tuần hoàn trước đó thì chưa phải là “hoàn toàn nhân loại”.

7. The four Kumaras Embodiers of humanity.

7. Bốn Kumara Những Đấng hiện thân của nhân loại.

133. It would seem that Sanat Kumara is included among these four. It would seem that these Kumaras pervade the human race with Their presence. From another perspective, the human race can be considered as a vehicle of the Kumaras. We have been taught that humanity serves, generally, as the throat center within the expression of Sanat Kumara.

133. Dường như Đức Sanat Kumara được bao gồm trong bốn vị này. Dường như các Kumara này thấm nhuần nhân loại bằng sự hiện diện của Các Ngài. Từ một góc nhìn khác, nhân loại có thể được xem như một vận cụ của các Kumara. Chúng ta đã được dạy rằng nhân loại, nói chung, phụng sự như trung tâm cổ họng trong biểu hiện của Đức Sanat Kumara.

134. Perhaps man represents some other chakra in the energy systems of other of the Kumaras.

134. Có lẽ con người đại diện cho một luân xa nào khác trong các hệ thống năng lượng của các Kumara khác.

8. The fourth plane The buddhic, the human goal.

8. Cõi thứ tư Cõi Bồ đề, mục tiêu của con người.

135. In the table of Creative Hierarchies found in Esoteric Astrology, 35, we note that the field of expression for the human Monads is the fourth or buddhic plane.

135. Trong bảng về các Huyền Giai Sáng Tạo được tìm thấy trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, 35, chúng ta lưu ý rằng trường biểu hiện của các chân thần nhân loại là cõi thứ tư hay cõi Bồ đề.

9. The fourth ether The physical correspondence

9. Dĩ thái thứ tư Sự tương ứng hồng trần

of the buddhic plane.

của cõi Bồ đề.

136. We note that the fourth ether is called “physical”. There is no hard and fast line of demarcation between systemic ethers and the denser aspects of the systemic physical plane.

136. Chúng ta lưu ý rằng dĩ thái thứ tư được gọi là “hồng trần”. Không có một ranh giới phân định cứng nhắc nào giữa các dĩ thái hệ thống và các phương diện đậm đặc hơn của cõi hồng trần hệ thống.

One fundamental sound is responded to by all these varied factors; it is the note that is the cause of their existence and the basis of their being.

Một âm thanh căn bản được tất cả các yếu tố đa dạng này đáp ứng; đó là âm điệu là nguyên nhân của sự tồn tại của chúng và là nền tảng của hữu thể tính của chúng.

137. There is a sound which relates all these centers, sources, agencies, dimensions. It must be a sound which resonates to the number four. It is obviously a superior sound which is effective solar systemically and, perhaps, even cosmically.

137. Có một âm thanh liên hệ tất cả các trung tâm, nguồn, tác nhân và chiều kích này. Đó hẳn phải là một âm thanh cộng hưởng với con số bốn. Hiển nhiên đó là một âm thanh cao hơn, có hiệu lực trong phạm vi hệ mặt trời và, có lẽ, thậm chí cả trong phạm vi vũ trụ.

138. In considering the identity of this note, the note “E” must be mentioned—at least as a preliminary consideration.

138. Khi xem xét bản sắc của âm điệu này, âm điệu “E” phải được nhắc đến—ít nhất như một xem xét sơ bộ.

This note, if sought for and found,

Âm điệu này, nếu được tìm kiếm và tìm ra,

139. Here, the Tibetan calls the “sound” a “note”. It should be understood that a sound is not always a note.

139. Ở đây, Chân sư Tây Tạng gọi “âm thanh” là một “âm điệu”. Cần hiểu rằng một âm thanh không luôn luôn là một âm điệu.

will bring into close alliance all of these factors till they are blended into a great occult unity; it will bring likewise into co-operation the band of devas who are the essences of the fourth human principle.

sẽ đưa tất cả các yếu tố này vào sự liên minh mật thiết cho đến khi chúng được hòa trộn thành một hợp nhất huyền bí vĩ đại; đồng thời cũng sẽ đưa vào sự hợp tác đoàn thiên thần là các tinh túy của nguyên khí nhân loại thứ tư.

140. DK is probably speaking of a hierarchy of devas comprising members of very different ranks, yet all responsive to the number four.

140. Có lẽ Chân sư DK đang nói về một huyền giai thiên thần gồm các thành viên thuộc những cấp bậc rất khác nhau, nhưng tất cả đều đáp ứng với con số bốn.

141. We are gathering that there are many notes sounding simultaneously—whether in unison, in harmony or discordantly.

141. Chúng ta đang nhận ra rằng có nhiều âm điệu đang vang lên đồng thời—dù là đồng thanh, hòa điệu hay bất hòa.

142. If we are to unify a wide range of related factors, we shall need the overarching power of a greater note—i.e., a systemic note or cosmic note.

142. Nếu chúng ta muốn hợp nhất một phạm vi rộng các yếu tố có liên hệ, chúng ta sẽ cần quyền năng bao trùm của một âm điệu cao hơn—tức là một âm điệu hệ thống hay âm điệu vũ trụ.

143. We are also given to understand that the alliances which can be produced between a wide range of factors have a musical basis—they are, occultly, musical alliances. This stands to reason given the great musical compositions at which every Logos labors. A kind of ‘solar sonata’ we are told.

143. Chúng ta cũng được cho hiểu rằng những liên minh có thể được tạo ra giữa một phạm vi rộng các yếu tố có một nền tảng âm nhạc—xét về mặt huyền bí, chúng là những liên minh âm nhạc. Điều này hợp lý nếu xét đến những tác phẩm âm nhạc vĩ đại mà mỗi Thượng đế đều lao động để sáng tạo. Chúng ta được bảo đó là một loại ‘sonata thái dương’.

The entire seven sections, then, complete the sonata of this solar system,—a part of the threefold masterpiece of the Logos or God, the Master-Musician. (LOM 4)

Bảy phần trọn vẹn, như vậy, hoàn tất bản sonata của hệ mặt trời này,—một phần của kiệt tác tam phân của Thượng đế hay Thượng đế, Nhạc Sư-Chân sư. (LOM 4)

Forget not that sound permeates all forms; the planet itself has its own note or sound; each minute atom also has its sound; each form can be evoked into music and each human being has his peculiar chord and all chords contribute to the great symphony which the Hierarchy and Humanity are playing, and playing now. Every spiritual group has its own tune (if I may employ so inappropriate a word) and the groups which are in process of collaborating with the Hierarchy make music ceaselessly. This rhythm of sound and this myriad of chords and notes blend with the music of the Hierarchy itself and this is a steadily enriching symphony; as the centuries slip away, all these sounds slowly unite and are resolved into each other until some day the planetary symphony which Sanat Kumara is composing will be completed and our Earth will then make a notable contribution to the great chords of the solar system—and this is a part, intrinsic and real, of the music of the spheres. Then, as the Bible says, the Sons of God, the planetary Logoi, will sing together. This, my brother, will be the result of right breathing, of controlled and organised rhythm, of true pure thought and of the correct relation between all parts of the chorus. (GWP 259-260)

Đừng quên rằng âm thanh thấm nhập mọi hình tướng; chính hành tinh này có âm điệu hay âm thanh riêng của nó; mỗi nguyên tử cực vi cũng có âm thanh của nó; mỗi hình tướng có thể được gợi lên thành âm nhạc và mỗi con người đều có hợp âm đặc thù của mình và mọi hợp âm đều góp phần vào bản giao hưởng vĩ đại mà Thánh Đoàn và nhân loại đang trình tấu, và đang trình tấu ngay lúc này. Mỗi nhóm tinh thần đều có giai điệu riêng của mình (nếu tôi có thể dùng một từ không thích hợp đến thế) và các nhóm đang trong tiến trình cộng tác với Thánh Đoàn tạo ra âm nhạc không ngừng. Nhịp điệu âm thanh này và vô số hợp âm cùng âm điệu này hòa trộn với âm nhạc của chính Thánh Đoàn và đây là một bản giao hưởng ngày càng phong phú hơn; khi các thế kỷ trôi qua, tất cả những âm thanh này chậm rãi hợp nhất và được giải hòa vào nhau cho đến một ngày kia bản giao hưởng hành tinh mà Đức Sanat Kumara đang sáng tác sẽ được hoàn tất và khi đó Trái Đất của chúng ta sẽ đóng góp đáng kể vào những hợp âm vĩ đại của hệ mặt trời—và đây là một phần nội tại và chân thực của âm nhạc của các thiên cầu. Rồi, như Kinh Thánh nói, các Con của Thượng đế, các Hành Tinh Thượng đế, sẽ cùng nhau ca hát. Điều này, Huynh đệ của Tôi, sẽ là kết quả của sự hô hấp đúng đắn, của nhịp điệu được kiểm soát và tổ chức, của tư tưởng chân chính thanh khiết và của mối liên hệ đúng đắn giữa mọi phần của hợp xướng. (GWP 259-260)

144. From another perspective, cooperation in cosmos has a musical basis.

144. Từ một góc nhìn khác, sự hợp tác trong vũ trụ có một nền tảng âm nhạc.

145. As we are approaching a time on this planet when the fourth ray will come into increasing prominence as will the energy of the fourth plane, the buddhic, we can grasp that a new and far deeper understanding of music will be necessitated.

145. Khi chúng ta đang tiến gần đến một thời kỳ trên hành tinh này mà cung bốn sẽ ngày càng nổi bật hơn, cũng như năng lượng của cõi thứ tư, cõi Bồ đề, chúng ta có thể nắm bắt rằng một sự thấu hiểu mới mẻ và sâu xa hơn nhiều về âm nhạc sẽ trở nên cần thiết.

b. Synthesis. We have seen that during the coming races and subraces certain very definite development may be looked for in connection with manasic unfoldment; and it is worth while to note particularly that as far as the evolution of manas in this round is concerned its highest efflorescence may be looked for during the next five hundred years.

b. Tổng hợp. Chúng ta đã thấy rằng trong các nhân loại và giống dân phụ sắp tới, có thể trông đợi một số phát triển rất xác định liên quan đến sự khai mở manas; và đặc biệt đáng lưu ý rằng xét theo sự tiến hoá của manas trong cuộc tuần hoàn này, sự nở rộ cao nhất của nó có thể được trông đợi trong năm trăm năm tới.

146. This is, in a way, a very provocative statement. The next five hundred years will have elapsed before the Mercury-decanate of Aquarius has come into power, and Mercury is, perhaps, the most manasic of our planets. May we expect that the buddhic influence of Mercury will emerge into increasing prominence during the Aquarian decanate ruled by Mercury?

146. Theo một nghĩa nào đó, đây là một phát biểu rất gợi suy nghĩ. Năm trăm năm tới sẽ trôi qua trước khi thập độ Sao Thủy của Bảo Bình đi vào quyền lực, và Sao Thủy có lẽ là hành tinh manas nhất trong các hành tinh của chúng ta. Liệu chúng ta có thể mong đợi rằng ảnh hưởng Bồ đề của Sao Thủy sẽ xuất hiện ngày càng nổi bật trong thập độ Bảo Bình do Sao Thủy cai quản chăng?

147. We might very reasonably expect manas to continue to develop beyond the next five hundred years, but may suppose that it will be accompanied by a considerable growth of the intuition. The “highest efflorescence of manas”, then, could be an efflorescence of manas pure and simple—of manas uncompounded by an admixture of buddhi.

147. Chúng ta có thể rất hợp lý mà mong đợi manas tiếp tục phát triển vượt quá năm trăm năm tới, nhưng có thể giả định rằng nó sẽ đi kèm với một sự tăng trưởng đáng kể của trực giác. Vậy thì “sự nở rộ cao nhất của manas” có thể là một sự nở rộ của manas thuần túy—của manas không pha trộn với một sự hòa lẫn của buddhi.

148. Certainly, the development of manas will be powerful much later, i.e., during the fifth round, simply because of numerical resonance. In our present round, the present root race, the fifth, is giving way to the sixth, and this fact, too, may correlate with the culmination of manasic influence for this round.

148. Chắc chắn, sự phát triển của manas sẽ mạnh mẽ hơn nhiều về sau, tức là trong cuộc tuần hoàn thứ năm, đơn giản vì sự cộng hưởng số học. Trong cuộc tuần hoàn hiện tại của chúng ta, giống dân gốc hiện nay, giống dân thứ năm, đang nhường chỗ cho giống dân thứ sáu, và sự kiện này cũng có thể tương quan với sự cực điểm của ảnh hưởng manas đối với cuộc tuần hoàn này.

149. Does the timing of this efflorescence correlate with the efflorescence of the fifth sub-ray of the fifth root race? If so, an explanation would be evident.

149. Thời điểm của sự nở rộ này có tương quan với sự nở rộ của cung phụ thứ năm của giống dân gốc thứ năm không? Nếu vậy, một lời giải thích sẽ trở nên hiển nhiên.

150. We may recall that the influence of the fifth ray has been recently somewhat withdrawn due to unbalanced progress along the manasic line. We may wonder how this adjustment will affect the anticipated efflorescence in the next five hundred years.

150. Chúng ta có thể nhớ lại rằng ảnh hưởng của cung năm gần đây đã phần nào được rút bớt do sự tiến bộ mất quân bình theo đường manas. Chúng ta có thể tự hỏi sự điều chỉnh này sẽ ảnh hưởng thế nào đến sự nở rộ được dự kiến trong năm trăm năm tới.

The coming in of the two final root races marks the point of synthesis, and the gradual utilisation of that which has been manasically achieved;

Sự xuất hiện của hai giống dân gốc cuối cùng đánh dấu điểm tổng hợp, và sự dần dần sử dụng điều đã được thành tựu về mặt manas;

151. From this section of text we may infer that the relatively imminent culmination of manasic power during this round is directly related to the coming in of the sixth root race.

151. Từ phần văn bản này, chúng ta có thể suy ra rằng sự cực điểm tương đối cận kề của quyền năng manas trong cuộc tuần hoàn này có liên hệ trực tiếp với sự xuất hiện của giống dân gốc thứ sáu.

152. The wise use of that which has been produced by manas depends very much on spiritual intuition and spiritual will (buddhi and atma).

152. Việc sử dụng minh triết điều đã được manas tạo ra phụ thuộc rất nhiều vào trực giác tinh thần và ý chí tinh thần (buddhi và atma).

this will be brought about by a development of abstract thought, and of intuitive recognition.

điều này sẽ được mang lại nhờ sự pháttriển của tư tưởng trừu tượng, và của sự nhận biết trực giác.

153. When DK speaks of manas in this context (i.e., the impending efflorescence), He may well be referring to concrete manas. It would be hard to conceive that the highest efflorescence of abstract manas (during this round) would be achieved in the next five hundred years, especially since this development is due to occur in the sixth sub-ray of the fifth root race.

153. Khi Chân sư DK nói về manas trong ngữ cảnh này (tức là sự nở rộ sắp đến), rất có thể Ngài đang nói đến manas cụ thể. Thật khó hình dung rằng sự nở rộ cao nhất của manas trừu tượng (trong cuộc tuần hoàn này) lại sẽ đạt được trong năm trăm năm tới, nhất là khi sự phát triển này sẽ xảy ra trong cung phụ thứ sáu của giống dân gốc thứ năm.

154. We note that that which arises from intuition is not, in this context, called “thought” but rather, “recognition”. The intuition reveals that which is, and the intuitive individual re-cognizes (in his lower consciousness) that which he has always known in his higher.

154. Chúng ta lưu ý rằng điều phát sinh từ trực giác, trong ngữ cảnh này, không được gọi là “tư tưởng” mà đúng hơn là “nhận biết”. Trực giác mặc khải điều , và cá nhân trực giác tái-nhận biết (trong tâm thức thấp của y) điều mà y luôn luôn đã biết trong phần cao hơn của mình.

In other words, manas has (during the past three root races) been principally applied to the understanding of objective existence,

Nói cách khác, manas đã (trong ba giống dân gốc vừa qua) được áp dụng chủ yếu vào việc thấu hiểu sự tồn tại khách quan,

155. We are speaking of concrete manas.

155. Chúng ta đang nói về manas cụ thể.

to the adaptation of the Dweller in the form to his [Page 499] environment on the physical plane.

vào sự thích nghi của Kẻ Chận Ngõ trong hình tướng với môi trường của nó trên [Page 499] cõi hồng trần.

156. The “Dweller in the form” is essentially the Spirit-soul, but can for practical purposes be conceived as the personality consciousness.

156. “Kẻ Chận Ngõ trong hình tướng” về bản chất là Tinh thần-linh hồn, nhưng vì mục đích thực tiễn có thể được quan niệm như tâm thức phàm ngã.

157. The word “adaptation” suggests the third aspect of divinity and the third ray—the ray of adaptability.

157. Từ “thích nghi” gợi ý phương diện thứ ba của thiên tính và cung ba—cung của tính thích ứng.

From now on the trend of activity will be towards the understanding of the subjective side of manifestation, and towards the comprehension of the psyche of the individual life, divine, planetary, or human.

Từ nay trở đi, xu hướng hoạt động sẽ hướng về sự thấu hiểu mặt chủ quan của biểu hiện, và hướng về sự lĩnh hội tâm linh của sự sống cá nhân, thiêng liêng, hành tinh hay nhân loại.

158. The movement is from the third aspect to the second. The subjective side of manifestation is correlated to the second aspect. The fifth aspect of manas alone will not be sufficient.

158. Sự chuyển động là từ phương diện thứ ba sang phương diện thứ hai. Mặt chủ quan của biểu hiện tương quan với phương diện thứ hai. Chỉ riêng phương diện thứ năm của manas sẽ không đủ.

159. The word “understanding” suggests the second aspect of divinity expressed through the second ray—the ray of loving-understanding.

159. Từ “thấu hiểu” gợi ý phương diện thứ hai của thiên tính được biểu lộ qua cung hai—cung của sự thấu hiểu đầy bác ái.

In the next round, all the previous stages will be recapitulated, and manas will demonstrate in ways inconceivable as yet to the half awakened consciousness of man.

Trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, tất cả các giai đoạn trước đó sẽ được lặp lại, và manas sẽ biểu lộ theo những cách hiện còn không thể nghĩ bàn đối với tâm thức nửa thức tỉnh của con người.

160. This is clearly stated; presently, we stand in a state of “half-awakened consciousness”.

160. Điều này được nói rất rõ; hiện nay, chúng ta đang đứng trong một trạng thái “tâm thức nửa thức tỉnh”.

161. I think it is clear to all that A Treatise on Cosmic Fire helps us all take a long-range perspective on human, planetary, and systemic development.

161. Tôi nghĩ mọi người đều thấy rõ rằng Luận về Lửa Vũ Trụ giúp tất cả chúng ta có được một viễn quan dài hạn về sự phát triển của con người, hành tinh và hệ thống.

162. Manas, of course, is a cosmic principle. We have no way of knowing the extent of cosmic manasic development. One hint has been given regarding our Solar Logos—He is in process of achieving cosmic mental polarisation.

162. Dĩ nhiên, manas là một nguyên khí vũ trụ. Chúng ta không có cách nào biết được mức độ phát triển manas vũ trụ. Một gợi ý đã được đưa ra liên quan đến Thái dương Thượng đế của chúng ta—Ngài đang trong tiến trình đạt đến sự phân cực trí tuệ vũ trụ.

163. We may gather, then, that it is a definitely limited form of manas which is achieving its highest efflorescence in the next five hundred years.

163. Vậy thì chúng ta có thể nhận ra rằng đó là một hình thức manas nhất định có giới hạn đang đạt đến sự nở rộ cao nhất của nó trong năm trăm năm tới.

In that round three-fifths of the human family will be fully aware, functioning with uninterrupted continuity of recollection on the physical, astral, and lower mental planes.

Trong cuộc tuần hoàn đó ba phần năm gia đình nhân loại sẽ hoàn toàn tỉnh thức, hoạt động với sự liên tục không gián đoạn của hồi ức trên các cõi hồng trần, cảm dục và hạ trí.

164. This is a statement different to the one which stated that by the time of the “Judgment Day”, three fifths of humanity would be on the Spiritual Path.

164. Đây là một phát biểu khác với phát biểu cho rằng vào thời điểm “Ngày Phán Xét”, ba phần năm nhân loại sẽ ở trên Con Đường Tinh Thần.

165. Such “uninterrupted continuity of recollection” suggests the achievement of the third initiation.

165. Sự “liên tục không gián đoạn của hồi ức” như thế gợi ý sự thành tựu lần điểm đạo thứ ba.

166. The phrase “in that round” suggests that the developments promised will occur by the end of the round and not necessarily in the middle of the fifth round at the “Judgment Day”.

166. Cụm từ “trong cuộc tuần hoàn đó” gợi ý rằng những phát triển được hứa hẹn sẽ xảy ra vào cuối cuộc tuần hoàn chứ không nhất thiết vào giữa cuộc tuần hoàn thứ năm trong “Ngày Phán Xét”.

167. We may remember that during the sixth root race of the fourth round there will be a great Transfiguration occurring within the human family. This will certainly pave the way for still fuller unfoldments in the fifth round (unfoldments of the kind we are here discussing).

167. Chúng ta có thể nhớ rằng trong giống dân gốc thứ sáu của cuộc tuần hoàn thứ tư sẽ có một cuộc Biến hình lớn xảy ra trong gia đình nhân loại. Điều này chắc chắn sẽ mở đường cho những sự khai mở còn đầy đủ hơn trong cuộc tuần hoàn thứ năm (khai mở thuộc loại mà chúng ta đang bàn đến ở đây).

4. An entirely new group of human beings will sweep into incarnation in our Earth scheme. Three fifths of the present humanity, being on the Probationary Path, or the Path of Initiation, at that time, will have their centre of consciousness definitely on the mental plane whilst two fifths will remain focussed on the astral. These two fifths will pass into temporary pralaya, preparatory to their transference to another scheme, as the Earth scheme will no longer provide for them an adequate place of nurture. (TCF 390-391)

4. Một nhóm người hoàn toàn mới sẽ ào vào lâm phàm trong hệ hành tinh Trái Đất của chúng ta. Ba phần năm nhân loại hiện nay, đang ở trên Con Đường Dự Bị, hay Con Đường Điểm Đạo, vào thời điểm đó, sẽ có trung tâm tâm thức của họ dứt khoát ở trên cõi trí trong khi hai phần năm sẽ vẫn tập trung trên cõi cảm dục. Hai phần năm này sẽ đi vào giai kỳ qui nguyên tạm thời, để chuẩn bị cho sự chuyển dịch của họ sang một hệ hành tinh khác, vì hệ hành tinh Trái Đất sẽ không còn cung cấp cho họ một nơi nuôi dưỡng thích đáng nữa. (TCF 390-391)

All this again is due to the influence of fifth ray energy. This will begin to transform human living and human desires and also human affairs and attitudes, and will lead eventually (in the middle of the sixth root race) to the great Transfiguration Initiation in which the reality that lies behind all human phenomena will stand revealed. (R&I 597)

Tất cả điều này một lần nữa là do ảnh hưởng của năng lượng cung năm. Điều này sẽ bắt đầu chuyển đổi đời sống con người và các ham muốn của con người, cũng như các công việc và thái độ của con người, và cuối cùng sẽ dẫn đến (vào giữa giống dân gốc thứ sáu) Cuộc Điểm Đạo Biến hình vĩ đại, trong đó thực tại nằm sau mọi hiện tượng nhân loại sẽ được mặc khải. (R&I 597)

The emphasis of manasic evolution will be laid upon the achievement of causal consciousness, and upon the scientific construction of the bridge which should unite the causal vehicle and the permanent manasic atom on the abstract levels.

Trọng tâm của sự tiến hoá manas sẽ được đặt vào việc đạt tới tâm thức nguyên nhân, và vào sự kiến tạo một cách khoa học cây cầu vốn phải hợp nhất hiện thể nguyên nhân với nguyên tử manas trường tồn trên các cấp độ trừu tượng.

168. We are speaking of developments to be expected during the fifth round (presumably of our chain).

168. Chúng ta đang nói về những phát triển được trông đợi trong cuộc tuần hoàn thứ năm (có lẽ là của dãy chúng ta).

169. Presently, it is the development of the concrete mind which is receiving the greatest attention within racial development. This is as it should be as the majority of highly developed humans are focussing in the fifth sub-race of the fifth root race.

169. Hiện nay, chính sự phát triển của trí cụ thể đang nhận được sự chú ý lớn nhất trong sự phát triển của nhân loại. Điều này là đúng như phải vậy vì đa số những con người phát triển cao đang tập trung trong giống dân phụ thứ năm của giống dân gốc thứ năm.

170. It is evident that disciples and initiates are now engaged in spiritually developmental processes which will be far more common in the fifth round than they are now.

170. Hiển nhiên là các đệ tử và các điểm đạo đồ hiện nay đang dấn thân vào những tiến trình phát triển tinh thần mà trong cuộc tuần hoàn thứ năm sẽ phổ biến hơn nhiều so với hiện nay.

During the sixth and seventh rounds we shall again have the synthesising process at work in a manner analogous to that which lies ahead in the sixth and seventh root races of this round.

Trong các cuộc tuần hoàn thứ sáu và thứ bảy, chúng ta sẽ lại có tiến trình tổng hợp hóa hoạt động theo một cách tương tự với điều đang ở phía trước trong các giống dân gốc thứ sáu và thứ bảy của cuộc tuần hoàn này.

171. Always, the Law of Analogy holds good. The synthesis occurring within the context of rounds will naturally be far greater than those occurring within the context of root race development.

171. Luôn luôn, định luật tương đồng vẫn đúng. Sự tổng hợp xảy ra trong bối cảnh các cuộc tuần hoàn dĩ nhiên sẽ lớn lao hơn nhiều so với những sự tổng hợp xảy ra trong bối cảnh sự phát triển của các giống dân gốc.

172. During the sixth and seventh root races all that has been developed manasically on our globe will be utilized and directed by buddhi and atma.

172. Trong các giống dân gốc thứ sáu và thứ bảy, tất cả những gì đã được phát triển về mặt manas trên bầu hành tinh của chúng ta sẽ được buddhi và atma sử dụng và định hướng.

173. During the sixth and seventh rounds, all that has been developed manasically within our chain will be utilized and directed by a chain-level expression of buddhi and atma.

173. Trong các cuộc tuần hoàn thứ sáu và thứ bảy, tất cả những gì đã được phát triển về mặt manas trong dãy của chúng ta sẽ được một biểu hiện ở cấp dãy của buddhi và atma sử dụng và định hướng.

174. Eventually, during the sixth and seventh scheme rounds, all that has been developed manasically within our scheme will be utilized and directed by a scheme-level expression of buddhi and atma.

174. Cuối cùng, trong các cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh thứ sáu và thứ bảy, tất cả những gì đã được phát triển về mặt manas trong hệ hành tinh của chúng ta sẽ được một biểu hiện ở cấp hệ hành tinh của buddhi và atma sử dụng và định hướng.

175. The correlation of all this information is important for those who would grasp a more complete picture of planetary and solar systemic processes. It will take some time to make the necessary correlations and to assimilate them. It may be supposed that in the esoteric schools of the future significant progress towards this end will be achieved.

175. Việc tương liên tất cả thông tin này là quan trọng đối với những ai muốn nắm bắt một bức tranh đầy đủ hơn về các tiến trình hành tinh và hệ mặt trời. Sẽ cần một thời gian để tạo ra những tương liên cần thiết và đồng hóa chúng. Có thể giả định rằng trong các trường nội môn của tương lai, sự tiến bộ đáng kể hướng đến mục tiêu này sẽ đạt được.

To express the whole matter in larger terms: The Heavenly Man will be achieving the consciousness of his causal body on cosmic levels, with a consequent reaction, repolarisation and alignment of His body of manifestation. Under the law this will work out as demonstrated quality, and ordered intelligent purpose in every kingdom of nature, and will produce unifying results within those kingdoms of a kind inexplicable to man at his present stage of manasic development.

Để diễn đạt toàn bộ vấn đề theo những thuật ngữ rộng lớn hơn: Đấng Thiên Nhân sẽ đạt được tâm thức của thể nguyên nhân của Ngài trên các cấp độ vũ trụ, với một sự đáp ứng, tái phân cực và chỉnh hợp của thể biểu hiện của Ngài theo sau. Theo định luật, điều này sẽ được thể hiện thành phẩm tính được biểu lộ, và mục đích trí tuệ có trật tự trong mọi giới của bản chất, và sẽ tạo ra những kết quả hợp nhất trong các giới ấy thuộc một loại mà con người ở giai đoạn phát triển manas hiện nay không thể giải thích được.

176. We are speaking of manasic and post-manasic development and looking for the cause of it all within our planetary ring-pass-not.

176. Chúng ta đang nói về sự phát triển manas và hậu-manas, và tìm nguyên nhân của toàn bộ điều này trong vòng-giới-hạn hành tinh của chúng ta.

177. When DK speaks of “the Heavenly Man” we may presume that He is speaking of the Heavenly Man of the Earth-scheme.

177. Khi Chân sư DK nói về “Đấng Thiên Nhân”, chúng ta có thể giả định rằng Ngài đang nói về Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh Trái Đất.

178. At the moment our Heavenly Man has not yet taken His second cosmic initiation. Analogizing from the human situation, no human being who has not yet taken the second initiation is achieving the consciousness of his causal body (or, at least, a causally polarized consciousness). When a human being approaches the third initiation, causal consciousness begins to become factual. May we then assume that we are discussing processes which, in the fifth round, will see the Heavenly Man of our planetary scheme taking a kind of third initiation? A cosmic third initiation? For the moment, His goal is the cosmic second.

178. Hiện tại Đấng Thiên Nhân của chúng ta vẫn chưa nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ hai của Ngài. Suy theo tình huống của con người, không một con người nào chưa nhận lần điểm đạo thứ hai lại đang đạt tới tâm thức của thể nguyên nhân của mình (hay ít nhất là một tâm thức phân cực nguyên nhân). Khi một con người tiến gần lần điểm đạo thứ ba, tâm thức nguyên nhân bắt đầu trở thành một thực tại. Vậy thì liệu chúng ta có thể giả định rằng chúng ta đang bàn đến những tiến trình mà trong cuộc tuần hoàn thứ năm, sẽ chứng kiến Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh chúng ta nhận một loại lần điểm đạo thứ ba chăng? Một lần điểm đạo thứ ba vũ trụ? Hiện tại, mục tiêu của Ngài là lần điểm đạo thứ hai vũ trụ.

179. The section above seems to describe states of alignment and coordination which are typical of a third degree initiate.

179. Phần trên dường như mô tả những trạng thái chỉnh hợp và phối hợp vốn điển hình cho một điểm đạo đồ cấp ba.

180. In response to the growing causal consciousness of our Planetary Logos there will be, ‘below’, a reaction within and a repolarization and alignment of His lower vehicles.

180. Để đáp ứng với tâm thức nguyên nhân ngày càng tăng của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, ở ‘bên dưới’ sẽ có một phản ứng bên trong cùng một sự tái phân cực và chỉnh hợp các hiện thể thấp của Ngài.

181. The results within these vehicles will be:

181. Những kết quả trong các hiện thể này sẽ là:

a. Demonstrated quality

a. Phẩm tính được biểu lộ

b. Ordered intelligent purpose

b. Mục đích trí tuệ có trật tự

c. Unification

c. Sự hợp nhất

182. The third initiation represents a great unification and it is precisely this which is described above.

182. Lần điểm đạo thứ ba biểu thị một sự hợp nhất lớn lao và chính xác đó là điều được mô tả ở trên.

We need not, therefore, give further time to the consideration of them, for the mental concept of man could not measure up to the magnitude of the theme.

Vì vậy, chúng ta không cần dành thêm thời gian cho việc xem xét chúng, vì khái niệm trí tuệ của con người không thể đo lường được tầm vóc của chủ đề này.

183. The necessary hints are given. Those who seek a more complete picture can follow them. There are many pieces of knowledge to ‘piece together’—too many for our capacity!

183. Những gợi ý cần thiết đã được đưa ra. Những ai tìm kiếm một bức tranh đầy đủ hơn có thể lần theo chúng. Có rất nhiều mảnh tri thức cần được ‘ghép lại với nhau’—quá nhiều đối với năng lực của chúng ta!

In summing up what I have written anent this matter of the discriminative faculty, the intelligent activity, the adaptability nature, and the transmutative power of manas, I would like to point out that so far-reaching are these developments that every department of nature, macrocosmic [Page 500] and microcosmic, will show forth these aspects, and show them forth in a ninefold manner before the consummation is achieved, and man has found his course.

Khi tổng kết điều tôi đã viết liên quan đến vấn đề này về năng lực phân biện, hoạt động trí tuệ, bản chất thích ứng, và quyền năng chuyển hoá của manas, tôi muốn chỉ ra rằng những phát triển này sâu rộng đến mức mọi bộ phận của bản chất, đại thiên địa [Page 500] và tiểu thiên địa, sẽ biểu lộ các phương diện này, và biểu lộ chúng theo một cách cửu phân trước khi sự viên mãn được đạt tới, và con người đã tìm ra lộ trình của mình.

184. Let us review. The Tibetan has been writing about the following:

184. Chúng ta hãy điểm lại. Chân sư Tây Tạng đã viết về những điều sau đây:

a. Manas as discriminative activity

a. Manas như hoạt động phân biện

b. Manas as intelligent activity

b. Manas như hoạt động trí tuệ

c. Manas as adaptability

c. Manas như tính thích ứng

d. Manas as a transmutative power

d. Manas như một quyền năng chuyển hoá

185. DK predicts far-reaching results beyond our ken.

185. Chân sư DK tiên đoán những kết quả sâu rộng vượt ngoài tầm hiểu biết của chúng ta.

186. What can be meant by the “course” of man? Will it be His destiny to tread the Path to Sirius (the Fourth Cosmic Path)? Will man’s “course” lead the majority of human beings eventually onto the cosmic astral plane?

186. “Lộ trình” của con người có thể hàm ý điều gì? Có phải định mệnh của Ngài là bước trên Con Đường đến Sirius (Con Đường Vũ Trụ thứ Tư) chăng? “Lộ trình” của con người có dẫn đa số nhân loại cuối cùng lên cõi cảm dục vũ trụ không?

187. Four is generally considered a number of consummation indicating, among other things, the fourth initiation, the consummating initiation of the strictly fourth or human kingdom. After that initiation, incarnation in the human kingdom is no longer necessary.

187. Bốn thường được xem là một con số của sự viên mãn, biểu thị, trong số những điều khác, lần điểm đạo thứ tư, lần điểm đạo viên mãn của giới thứ tư hay giới nhân loại theo nghĩa nghiêm ngặt. Sau lần điểm đạo đó, việc lâm phàm trong giới nhân loại không còn cần thiết nữa.

188. The human Creative Hierarchy (the fourth) is characterized by the numbers four and nine—numbers well represented in the section of text immediately above.

188. Huyền Giai Sáng Tạo nhân loại (thứ tư) được đặc trưng bởi các con số bốnchín—những con số được biểu hiện rõ trong phần văn bản ngay phía trên.

189. Transmutation, we have learned, is directly related to the liberation or release of the volatile ‘Spirit-essence’, and it may be conceived that this does not fully occur (at least with respect to the cosmic physical plane) until the ninth initiation—hence, perhaps, the “ninefold manner” mentioned in the section above.

189. Chúng ta đã học rằng chuyển hoá liên hệ trực tiếp với sự giải phóng hay phóng thích ‘Tinh chất-Tinh thần’ dễ bay hơi, và có thể quan niệm rằng điều này không xảy ra trọn vẹn (ít nhất là xét đối với cõi hồng trần vũ trụ) cho đến lần điểm đạo thứ chín—do đó, có lẽ, mới có “cách cửu phân” được nhắc đến trong phần trên.

190. The effects of transmutation are, we are told, to be expected both microcosmically and macrocosmically. The entire planet is in the midst of a transmutative process. For that matter, so is the solar system.

190. Chúng ta được bảo rằng các hiệu quả của chuyển hoá có thể được trông đợi cả ở tiểu thiên địa lẫn đại thiên địa. Toàn bộ hành tinh đang ở giữa một tiến trình chuyển hoá. Và hệ mặt trời cũng vậy.

191. We have learned how important is solar fire in the process of transmutation! But this fire is also called “mental fire”, and it is the mind we are discussing as it relates to the achievement of transmutation.

191. Chúng ta đã học được Lửa Thái dương quan trọng biết bao trong tiến trình chuyển hoá! Nhưng ngọn lửa này cũng được gọi là “lửa trí tuệ”, và chính trí tuệ là điều chúng ta đang bàn đến trong mối liên hệ với việc đạt tới sự chuyển hoá.

192. We must conclude that the implications of the transmutative process are immense, and that far more than the tiny unit man is involved. Alchemy is a cosmic process and its consideration should expand far beyond its quite material application attempted in Medieval times.

192. Chúng ta phải kết luận rằng những hàm ý của tiến trình chuyển hoá là vô cùng to lớn, và rằng nhiều hơn rất nhiều so với đơn vị nhỏ bé là con người có liên quan ở đây. Thuật luyện kim là một tiến trình vũ trụ và việc xem xét nó phải mở rộng vượt xa ứng dụng khá vật chất đã được thử nghiệm trong thời Trung Cổ.

Let us, therefore, look for a brief moment at the microcosmic manifestation, leaving the student as far as he is able to work out analogous ideas in relation to the Heavenly Man and the solar Logos:

Vì vậy, chúng ta hãy nhìn trong chốc lát vào biểu hiện tiểu thiên địa, để lại cho đạo sinh, trong chừng mực y có thể, tự triển khai những ý tưởng tương đồng liên hệ với Đấng Thiên Nhân và Thái dương Thượng đế:

193. It becomes clear that though much is given, much also remains to be worked out.

193. Rõ ràng là tuy nhiều điều đã được ban cho, nhiều điều cũng vẫn còn phải được tự mình triển khai.

194. We are now about to enter a grand summary which should specify the characteristics of manas as they can be found in relation to each of six planes ending with the monadic.

194. Giờ đây chúng ta sắp đi vào một phần tổng kết lớn, phần này sẽ xác định các đặc tính của manas như chúng có thể được tìm thấy trong mối liên hệ với mỗi một trong sáu cõi, kết thúc bằng cõi chân thần.

195. This is a very important and practical summary as we wish to know exactly how manas will manifest on each of the systemic planes which concern our development.

195. Đây là một phần tổng kết rất quan trọng và thực tiễn vì chúng ta muốn biết chính xác manas sẽ biểu lộ như thế nào trên mỗi cõi hệ thống có liên quan đến sự phát triển của chúng ta.

Manasic characteristics and the planes

Các đặc tính manas và các cõi

I. On the Physical Plane: Here this quality demonstrates as:

I. Trên Cõi Hồng Trần: Ở đây phẩm tính này biểu lộ như sau:

196. We are speaking of the expression of manasic characteristics on the systemic physical plane.

196. Chúng ta đang nói về sự biểu lộ của các đặc tính manas trên cõi hồng trần hệ thống.

197. We note the progression with which we have previously been acquainted when studying manas:

197. Chúng ta lưu ý sự tiến triển mà trước đây chúng ta đã quen thuộc khi nghiên cứu manas:

a. Discrimination/Selection

a. Phân biện/Lựa chọn

b. Adaptability

b. Tính thích ứng

c. Ordered purpose

c. Mục đích có trật tự

d. Transmutation

d. Chuyển hoá

198. These four are constantly referenced in relation to each of the planes.

198. Bốn điều này liên tục được nhắc đến trong mối liên hệ với mỗi cõi.

a. The selective power of the atoms of the body.

a. Quyền năng chọn lọc của các nguyên tử trong thể.

158. It is an unconscious selectivity though, of course, intelligent.

158. Tuy nhiên, đó là một tính chọn lọc vô thức, dù dĩ nhiên là thông minh.

b. The adaptability of the physical form to its environment and to its circumstances.

b. Tính thích ứng của hình tướng hồng trần với môi trường và hoàn cảnh của nó.

159. This quality of manas demonstrates in relation to the process of form-evolution on the dense levels of the systemic etheric-physical plane.

159. Phẩm tính này của manas biểu lộ trong mối liên hệ với tiến trình tiến hoá hình tướng trên các cấp độ đậm đặc của cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống.

160. Through this adaptability evolution proceeds.

160. Chính nhờ tính thích ứng này mà tiến hoá tiếp diễn.

c. The ordered purpose of the informing Life, as it affects the physical form and atoms.

c. Mục đích có trật tự của Sự sống đang thấm nhuần, khi nó tác động đến hình tướng và các nguyên tử hồng trần.

161. We recall the constant association of manas with ordered purpose (the seventh and first rays combined).

161. Chúng ta nhớ lại sự liên kết thường xuyên của manas với mục đích có trật tự (cung bảy và cung một kết hợp).

162. The will of the “informing Life” is to work out through specific forms on the physical plane.

162. Ý chí của “Sự sống đang thấm nhuần” là triển khai qua những hình tướng đặc thù trên cõi hồng trần.

d. The transmutative power, inherent in man though as yet unrecognised by him, which has brought him to his present stage of physical existence from that of animal man. It concerns also the transference of the life on to manasic levels.

d. Quyền năng chuyển hoá, vốn tiềm ẩn trong con người nhưng cho đến nay vẫn chưa được y nhận biết, đã đưa y đến giai đoạn tồn tại hồng trần hiện nay từ trạng thái người thú. Nó cũng liên quan đến sự chuyển dịch của sự sống lên các cấp độ manas.

163. Much of man’s early evolutionary process is simply physical-etheric. There is much to be refined and transmuted on the strictly physical-etheric level.

163. Phần lớn tiến trình tiến hoá ban đầu của con người đơn giản là hồng trần-dĩ thái. Có nhiều điều cần được tinh luyện và chuyển hoá trên cấp độ thuần hồng trần-dĩ thái.

164. There is a factor inherent in man which is constantly ‘lifting’ him and preparing him for the eventual day of release from the three worlds. We might call this something by the name of “transmutative power”. We are reminded that the soul, itself, has anchored a strand of its energy within the physical brain of the evolving human being. That physical presence of the soul/Solar Angel is transmutative in effect.

164. Có một yếu tố cố hữu trong con người, luôn luôn “nâng” y lên và chuẩn bị y cho ngày giải thoát rốt ráo khỏi ba cõi giới. Chúng ta có thể gọi điều này bằng tên “quyền năng chuyển hoá”. Chúng ta được nhắc rằng chính linh hồn đã neo giữ một sợi năng lượng của nó trong bộ não thể xác của con người đang tiến hoá. Sự hiện diện hồng trần ấy của linh hồn/Thái dương Thiên Thần có tác dụng chuyển hoá.

165. That which is learned through the processes of living on the physical plane adds to the intelligence of the human being.

165. Điều được học qua các tiến trình sống trên cõi hồng trần làm gia tăng trí tuệ của con người.

166. The second aspect of man is focussed on “manasic levels”. The inherent “transmutative power” of man will raise him, one day, to a point of tension sufficient to live consciously as a soul on the higher mental plane.

166. Phương diện thứ hai của con người được tập trung trên các “cấp độ manas”. “Quyền năng chuyển hoá” cố hữu của con người một ngày kia sẽ nâng y lên đến một điểm tập trung nhất tâm đủ để sống một cách hữu thức như một linh hồn trên Cõi thượng trí.

II. On the Astral Plane:

II. Trên Cõi Cảm Dục:

167. We are speaking of the expression of manasic characteristics on the astral plane.

167. Chúng ta đang nói về sự biểu lộ các đặc tính manas trên cõi cảm dục.

a. The discriminative power of man to choose between the pairs of opposites.

a. Quyền năng phân biện của con người để chọn lựa giữa các cặp đối đãi.

168. Now we are speaking of man and not of the discriminative capacity of the atoms of the body or of the astral atoms. The discrimination here discussed is, of course, conscious discrimination rather than unconscious selectivity.

168. Hiện nay chúng ta đang nói về con người chứ không nói về năng lực phân biện của các nguyên tử trong thể hay của các nguyên tử cảm dục. Sự phân biện được bàn đến ở đây, dĩ nhiên, là sự phân biện hữu thức hơn là tính chọn lọc vô thức.

169. Through the power of discrimination here referenced, man develops his sense of values, discriminating between the desirable and undesirable and learning, essentially, the nature of good and evil.

169. Qua quyền năng phân biện được nói đến ở đây, con người phát triển ý thức về giá trị của mình, phân biện giữa điều đáng mong muốn và điều không đáng mong muốn, và về căn bản học được bản chất của thiện và ác.

b. His adaptability to emotional conditions, and his power to attain eventual equilibrium.

b. Khả năng thích nghi của y với các điều kiện cảm xúc, và quyền năng đạt đến sự quân bình rốt ráo.

170. This type of adaptability prepares man for the second initiation at which time emotional equilibrium is attained.

170. Loại khả năng thích nghi này chuẩn bị con người cho lần điểm đạo thứ hai, vào lúc đó sự quân bình cảm xúc được đạt đến.

171. The point to notice is that the attainment of emotional equilibrium cannot be effected from the emotional plane but requires the application of manas. The strongly manasic sign Libra (also the sign of equilibrium) is also involved in the process.

171. Điểm cần lưu ý là việc đạt được sự quân bình cảm xúc không thể được thực hiện từ cõi cảm dục, mà đòi hỏi sự vận dụng manas. Dấu hiệu manas mạnh mẽ là Libra (cũng là dấu hiệu của sự quân bình) cũng dự phần vào tiến trình này.

c. The power of man, through conscious purpose, to clear his astral body of foreign matter, and to ensure its translucence.

c. Quyền năng của con người, thông qua mục đích hữu thức, để thanh lọc thể cảm dục của mình khỏi vật chất ngoại lai, và bảo đảm tính trong suốt của nó.

172. Again, this is part of the preparation for the second initiation—this clearing. It is a process of deglamorization.

172. Một lần nữa, đây là một phần của sự chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai—sự thanh lọc này. Đó là một tiến trình làm tiêu tan ảo cảm.

173. This clearing is part of the “ordered purpose” of the “indwelling Life”. A clear and ordered mind reflecting higher purpose is instrumental in this clearing process.

173. Sự thanh lọc này là một phần của “mục đích có trật tự” của “Sự sống nội tại”. Một trí tuệ sáng suốt và có trật tự, phản chiếu mục đích cao hơn, là công cụ trong tiến trình thanh lọc này.

174. When we speak of translucence the influence of the planet Venus is suggested—a planet powerful in the reconditioning of the astral body and especially involved (astrally) at the second initiation.

174. Khi chúng ta nói đến tính trong suốt, ảnh hưởng của hành tinh Venus được gợi ra—một hành tinh đầy quyền năng trong việc tái điều kiện hoá thể cảm dục và đặc biệt dự phần (về mặt cảm dục) trong lần điểm đạo thứ hai.

175. Much of present psychotherapy focuses on the process indicated by point “c”.

175. Phần lớn tâm lý trị liệu hiện nay tập trung vào tiến trình được chỉ ra bởi điểm “c”.

d. The transmutative inherent power which transmutes, or transfers the life into buddhic forms eventually.

d. Quyền năng chuyển hoá cố hữu, rốt cuộc chuyển hoá, hay chuyển dịch, sự sống vào các hình tướng Bồ đề.

176. Through transmutative elevations, physical-etheric life becomes mental; astral life becomes buddhic; mental life becomes atmic. Lower octaves reflect higher octaves. This is the elevation (though it is also a ‘descent’ of the higher to condition the lower) through which advancing man passes on the Path of Initiation.

176. Qua những sự nâng cao có tính chuyển hoá, sự sống hồng trần-dĩ thái trở thành trí tuệ; sự sống cảm dục trở thành Bồ đề; sự sống trí tuệ trở thành atma. Những quãng tám thấp phản chiếu những quãng tám cao. Đây là sự nâng cao (dù đó cũng là một “sự giáng xuống” của cái cao hơn để tác động lên cái thấp hơn) mà con người đang tiến bộ đi qua trên Con Đường Điểm Đạo.

177. We note that there are “buddhic forms” and yet the buddhic plane is an aspect of the arupa or formless worlds.

177. Chúng ta lưu ý rằng có những “hình tướng Bồ đề”, vậy mà cõi Bồ đề lại là một phương diện của các thế giới arupa hay vô tướng.

178. Whenever a lower plane comes under the influence of its higher correspondence, it is the transmutative process which makes this possible.

178. Bất cứ khi nào một cõi thấp chịu ảnh hưởng của tương ứng cao hơn của nó, chính tiến trình chuyển hoá làm cho điều này trở nên khả hữu.

179. The full transmutation here referenced will not occur until the fourth initiation but is indicated at the second.

179. Sự chuyển hoá trọn vẹn được nói đến ở đây sẽ không xảy ra cho đến lần điểm đạo thứ tư, nhưng đã được báo hiệu ở lần điểm đạo thứ hai.

180. Can we think of the majority of Ashrams as expressing through “buddhic forms”?

180. Chúng ta có thể nghĩ rằng đa số các ashram biểu lộ qua “các hình tướng Bồ đề” chăng?

181. The buddhic vehicle has a form. There are ‘forms’ on the formless planes but such forms are unlike forms we encounter in the more concrete worlds.

181. Vận cụ Bồ đề có một hình tướng. Có những “hình tướng” trên các cõi vô tướng, nhưng những hình tướng như thế không giống các hình tướng mà chúng ta gặp trong các thế giới cụ thể hơn.

III. On the Mental Plane:

III. Trên Cõi Trí:

182. We are speaking of the expression of manasic characteristics on the mental plane.

182. Chúng ta đang nói về sự biểu lộ các đặc tính manas trên cõi trí.

a. In the selective power of man to choose the form through which to manifest. [Page 501]

a. Trong quyền năng chọn lọc của con người để chọn hình tướng qua đó biểu lộ. [Page 501]

183. We are speaking here of the creative power of the mind, building thoughtforms which are to materialize and prove vehicles of expression.

183. Ở đây chúng ta đang nói về quyền năng sáng tạo của trí tuệ, xây dựng các Hình tư tưởng sẽ hiện hình và chứng tỏ là những vận cụ biểu lộ.

184. It is clear that thoughtforms tend to become the forms found on planes lower than the mental.

184. Rõ ràng là các Hình tư tưởng có khuynh hướng trở thành những hình tướng được tìm thấy trên các cõi thấp hơn cõi trí.

185. Much discrimination is required to ensure that the chosen forms are suitable to intent.

185. Cần rất nhiều sự phân biện để bảo đảm rằng các hình tướng được chọn là thích hợp với ý định.

b. His adaptability to mental currents and vibration, and his utilisation of them to control the lower forms.

b. Khả năng thích nghi của y với các dòng và rung động trí tuệ, và sự sử dụng chúng để kiểm soát các hình tướng thấp hơn.

186. Energy follows thought and thought power directs forms on the astral and physical-etheric planes.

186. Năng lượng đi theo tư tưởng và quyền năng tư tưởng điều khiển các hình tướng trên các cõi cảm dục và hồng trần-dĩ thái.

187. The mental plane is definitely a plane of control and is, in a way, an extension of the faculty of will.

187. Cõi trí rõ ràng là một cõi của sự kiểm soát và, theo một nghĩa nào đó, là sự mở rộng của năng lực ý chí.

c. The working out of purpose through the medium of the two lower vehicles. Impulse emanates from the mental plane.

c. Sự triển khai mục đích qua trung gian của hai hiện thể thấp. Xung lực phát ra từ cõi trí.

188. The third point of the four points always relates to that aspect of manas related to “ordered purpose”.

188. Điểm thứ ba trong bốn điểm luôn luôn liên hệ đến phương diện của manas gắn với “mục đích có trật tự”.

189. Mind is a representative of plan and purpose. The disciple (a server who is mentally polarized) is focussed on the mental plane and from there directs all processes occurring in his lower two (‘irrational’) vehicles.

189. Trí tuệ là đại diện của kế hoạch và mục đích. Đệ tử (một người phụng sự phân cực trí tuệ) được tập trung trên cõi trí và từ đó điều khiển mọi tiến trình xảy ra trong hai hiện thể thấp hơn (“phi lý trí”) của mình.

190. In order for purpose to work out, various arrangements must be made within the lower vehicles. It is the mind which organizes these arrangements, promoting and negating various emotional and physical-etheric patterns and processes.

190. Để mục đích được triển khai, nhiều sự sắp xếp phải được thực hiện trong các hiện thể thấp. Chính trí tuệ tổ chức các sự sắp xếp này, thúc đẩy và phủ định nhiều mô hình và tiến trình cảm xúc và hồng trần-dĩ thái khác nhau.

e. The transmutative power which transforms the entire lower threefold man into a new form, the causal body. This process of transmutation is carried on through the entire series of incarnations.

e. Quyền năng chuyển hoá biến đổi toàn bộ con người tam phân thấp thành một hình tướng mới, thể nguyên nhân. Tiến trình chuyển hoá này được tiếp tục xuyên suốt toàn bộ chuỗi lâm phàm.

191. We come to understand that the constant building of the causal body is, essentially, a transmutative process.

191. Chúng ta đi đến chỗ hiểu rằng sự xây dựng liên tục của thể nguyên nhân, về bản chất, là một tiến trình chuyển hoá.

192. If we follow the words carefully, we shall note that “transmutative power” “transforms”. In the threefold series—transmutation, transformation, transfiguration—transmutation is considered the preliminary process, preceding transformation.

192. Nếu theo dõi kỹ các từ ngữ, chúng ta sẽ lưu ý rằng “quyền năng chuyển hoá” “biến đổi”. Trong chuỗi tam phân—chuyển hoá, chuyển đổi, Biến hình—chuyển hoá được xem là tiến trình sơ khởi, đi trước chuyển đổi.

193. The key to transformation (in this context) is the creation of a “new form” which lies beyond (i.e., “trans”) the old.

193. Chìa khoá của sự chuyển đổi (trong ngữ cảnh này) là việc tạo ra một “hình tướng mới” nằm vượt ra ngoài (tức là “trans”) hình tướng cũ.

194. Through this transmutative process a new ring-pass-not is being prepared for the future functioning of consciousness.

194. Qua tiến trình chuyển hoá này, một vòng-giới-hạn mới đang được chuẩn bị cho hoạt động tương lai của tâm thức.

195. The preparation of quality and its extraction into the causal body is a transmutative process carried on under the auspices of a powerful transmutative planet, Venus, one of the rulers of the causal body and the symbol of all that has value and high quality (i.e., of all that has been transmuted from baseness into something of great refinement).

195. Sự chuẩn bị phẩm tính và việc rút xuất nó vào thể nguyên nhân là một tiến trình chuyển hoá được tiến hành dưới sự bảo trợ của một hành tinh chuyển hoá đầy quyền năng, Venus, một trong những chủ tinh của thể nguyên nhân và là biểu tượng của mọi điều có giá trị và phẩm chất cao (tức là của mọi điều đã được chuyển hoá từ sự thấp kém thành một cái gì đó hết sức tinh luyện).

196. It is the power of discriminating choice (within the lower three worlds) which governs the development of those values and qualities which can be alchemically elevated into the causal body. Without manasic discrimination the development of value and quality in the three worlds of human experience would be retarded and, consequently, the enrichment of the causal body would be delayed.

196. Chính quyền năng chọn lựa có phân biện (trong ba cõi thấp) chi phối sự phát triển của những giá trị và phẩm tính có thể được nâng lên bằng thuật luyện kim vào thể nguyên nhân. Nếu không có sự phân biện manas, sự phát triển giá trị và phẩm tính trong ba cõi của kinh nghiệm nhân loại sẽ bị trì hoãn, và do đó sự làm phong phú thể nguyên nhân cũng sẽ bị chậm lại.

IV. On the Abstract Levels of the Mental Plane.

IV. Trên Các Cấp Độ Trừu Tượng của Cõi Trí.

197. We are speaking of the expression of the four types of manasic characteristics on the higher mental plane.

197. Chúng ta đang nói về sự biểu lộ của bốn loại đặc tính manas trên Cõi thượng trí.

a. The ability of the Ego to discriminate as to time and space in the three worlds.

a. Khả năng của chân ngã phân biện về thời gian và không gian trong ba cõi giới.

198. The manasic energy here wielded stems from the level of the Ego (i.e., at least from the level of consciousness within the causal body located as it is on the abstract levels of the mental plane).

198. Năng lượng manas được vận dụng ở đây phát sinh từ cấp độ của chân ngã (tức là ít nhất từ cấp độ tâm thức bên trong thể nguyên nhân, vốn tọa lạc trên các cấp độ trừu tượng của cõi trí).

199. In order to fulfill its purposes the Ego needs to wisely handle its ‘playthings’—time and space. The discrimination here referenced is necessitated in the planning of any incarnation.

199. Để hoàn thành các mục đích của mình, chân ngã cần xử lý một cách minh triết những “đồ chơi” của nó—thời gian và không gian. Sự phân biện được nói đến ở đây là điều cần thiết trong việc hoạch định bất kỳ lần lâm phàm nào.

200. Part of this discrimination may well be the choosing of an appropriate horoscope and ray structure fit for the fulfillment of egoic purpose through a personality.

200. Một phần của sự phân biện này rất có thể là việc chọn một lá số chiêm tinh và cấu trúc cung thích hợp cho việc hoàn thành mục đích chân ngã qua một phàm ngã.

b. Egoic adaptation of matter and circumstance of time and environment to the specific need under the Law of Karma.

b. Sự thích nghi chân ngã của vật chất và hoàn cảnh về thời gian và môi trường đối với nhu cầu đặc thù dưới Định luật Nghiệp quả.

201. We are dealing with egoic supervision of any given incarnation. The Ego (human consciousness free from personality limitations and aided by the wisdom of the Solar Angel) foresees the purpose of any incarnation and the ‘materials’ and circumstances to be used in the fulfillment of that purpose.

201. Chúng ta đang đề cập đến sự giám sát của chân ngã đối với bất kỳ lần lâm phàm nào. Chân ngã (tâm thức con người thoát khỏi những giới hạn của phàm ngã và được minh triết của Thái dương Thiên Thần trợ giúp) thấy trước mục đích của bất kỳ lần lâm phàm nào và những “vật liệu” cùng hoàn cảnh sẽ được dùng để hoàn thành mục đích ấy.

202. The Solar Angel Who participates in the expression of Ego, is a minor lord of karma and wields the Law of Karma with respect to the human personality.

202. Thái dương Thiên Thần, Đấng tham dự vào sự biểu lộ của chân ngã, là một vị tiểu chúa tể nghiệp quả và vận dụng Định luật Nghiệp quả đối với phàm ngã con người.

203. With prescient forethought the Ego ‘arranges the coming scene’, both from the material aspect (choosing the character of the vehicles through which it will manifest,) and from the circumstantial aspect (arranging necessary intersections and encounters to be magnetically drawn to its projection into the three worlds—its personality).

203. Với sự tiên liệu sáng suốt, chân ngã “sắp đặt cảnh sắp đến”, cả từ phương diện vật chất (chọn tính chất của các hiện thể qua đó nó sẽ biểu lộ) lẫn từ phương diện hoàn cảnh (sắp xếp những giao điểm và cuộc gặp gỡ cần thiết để được hút về mặt từ tính đến sự phóng chiếu của nó vào ba cõi giới—phàm ngã của nó).

204. The Ego has a potent intelligence aspect and is, in a way, a ‘Divine Manipulator’ of the incarnation to come.

204. Chân ngã có một phương diện trí tuệ mạnh mẽ và, theo một nghĩa nào đó, là một “Đấng Điều Phối Thiêng Liêng” của lần lâm phàm sắp tới.

205. Speaking in theatrical terms, the plot is determined and the stage is set, yet the actor (the personality) will improvise his part; he does not follow a prepared script.

205. Nói theo ngôn ngữ sân khấu, cốt truyện được xác định và sân khấu được dàn dựng, nhưng diễn viên (phàm ngã) sẽ ứng biến vai của mình; y không theo một kịch bản đã chuẩn bị sẵn.

c. The ‘Intelligent Purpose’ which lies back of all physical objectivity, and which is seen working out in every life.

c. “Mục Đích Thông Tuệ” nằm phía sau mọi tính khách quan hồng trần, và được thấy đang triển khai trong mọi sự sống.

206. We can think of this as ‘egoic purpose’. The egoic choice of rays and horoscope determine patterns which are likely to lead towards the fulfillment of that purpose.

206. Chúng ta có thể nghĩ về điều này như là “mục đích chân ngã”. Sự chọn lựa cung và lá số chiêm tinh của chân ngã xác định những mô hình có khả năng dẫn đến việc hoàn thành mục đích ấy.

207. From the manasic angle, every incarnation is well planned and backed by “Intelligent Purpose”.

207. Từ góc độ manas, mọi lần lâm phàm đều được hoạch định kỹ lưỡng và được hậu thuẫn bởi “Mục Đích Thông Tuệ”.

208. Every incarnation represents an opportunity to expand consciousness and to build the causal body. Every incarnation sees one aspect of the “Intelligent Purpose” enacted through an intelligent plan. All this is conceived and directed from the higher mental plane whereon the Ego is focussed.

208. Mỗi lần lâm phàm tượng trưng cho một cơ hội để mở rộng tâm thức và xây dựng thể nguyên nhân. Mỗi lần lâm phàm chứng kiến một phương diện của “Mục Đích Thông Tuệ” được diễn ra qua một kế hoạch thông tuệ. Tất cả điều này được quan niệm và điều khiển từ Cõi thượng trí, nơi chân ngã được tập trung.

d. The transmutation or transference into the Triad of the life of the Ego as it functions in the causal body. This results in dissociation from manifestation in the three worlds.

d. Sự chuyển hoá hay chuyển dịch sự sống của chân ngã, khi nó hoạt động trong thể nguyên nhân, vào Tam nguyên tinh thần. Điều này dẫn đến sự tách rời khỏi biểu lộ trong ba cõi giới.

209. As we read point “d.”, we must realize that the Ego can also function upon the planes of the spiritual triad (especially the two higher planes—buddhic and atmic), which it does once liberated from the causal body.

209. Khi đọc điểm “d.”, chúng ta phải nhận ra rằng chân ngã cũng có thể hoạt động trên các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần (đặc biệt là hai cõi cao hơn—Bồ đề và atma), điều mà nó thực hiện một khi được giải thoát khỏi thể nguyên nhân.

210. This fourth stage is precisely the process which is covered in Rule XI in The Rays and the Initiations:

210. Giai đoạn thứ tư này chính xác là tiến trình được trình bày trong Quy luật XI trong Các Cung và Các Điểm Đạo:

Let the group together move the fire within the Jewel in the Lotus into the Triad and let them find the Word which will carry out that task. Let them destroy by their dynamic Will that which has been created at the midway point. When the point of tension is reached by the brothers at the fourth great cycle of attainment, then will this work be done. (R&I 22-23)

Hãy để nhóm cùng nhau chuyển ngọn lửa bên trong Viên Ngọc trong Hoa Sen vào Tam nguyên tinh thần và hãy để họ tìm ra Linh từ sẽ thực hiện nhiệm vụ đó. Hãy để họ dùng Ý chí năng động của mình phá huỷ điều đã được tạo ra tại nơi ở giữa. Khi điểm tập trung nhất tâm được các huynh đệ đạt đến trong chu kỳ lớn thứ tư của sự thành tựu, khi ấy công việc này sẽ được hoàn tất. (R&I 22-23)

211. Three ideas are to be correlated:

211. Ba ý tưởng cần được liên hệ với nhau:

a. Transmutation

a. Chuyển hoá

b. Transference

b. Chuyển dịch

c. The alchemical transmuting, transferring effect of Uranus.

c. Tác dụng chuyển hoá, chuyển dịch theo thuật luyện kim của Uranus.

212. Transmutation (from the perspective we are considering it) always involves transference—of the volatile essence from one ring-pass-not to another and, hopefully, greater ring-pass-not.

212. Chuyển hoá (từ góc nhìn mà chúng ta đang xét) luôn luôn bao hàm sự chuyển dịch—của tinh chất dễ bay hơi từ vòng-giới-hạn này sang vòng-giới-hạn khác và, hy vọng, lớn hơn.

213. From this perspective, transmutation is spiritual opportunity and always involves an elevation (except in those instances when the black forces arrange for the capture of the weakened volatile essence).

213. Từ góc nhìn này, chuyển hoá là cơ hội tinh thần và luôn luôn bao hàm một sự nâng cao (ngoại trừ những trường hợp các lực lượng hắc ám sắp đặt để bắt giữ tinh chất dễ bay hơi đã bị suy yếu).

To effect this transmutation (which is a point at times overlooked) the Thinker in the causal vehicle has to do three things:

Để thực hiện sự chuyển hoá này (một điểm đôi khi bị bỏ qua), Thức giả trong vận cụ nguyên nhân phải làm ba điều:

214. This is a most important addition to the material to be found in R&I about the group transfer of the fire within the “Jewel in the Lotus” into the spiritual triad.

214. Đây là một bổ sung hết sức quan trọng cho tài liệu có thể tìm thấy trong R&I về sự chuyển dịch theo nhóm của ngọn lửa bên trong “Viên Ngọc trong Hoa Sen” vào Tam nguyên tinh thần.

215. When we think of the identity of the “Thinker” in the causal body, we can think of him as the “Ego”—man as the Higher Self, aided and sustained by the Solar Angel.

215. Khi nghĩ đến căn tính của “Thức giả” trong thể nguyên nhân, chúng ta có thể nghĩ đến y như là “chân ngã”—con người như Bản Ngã Cao Siêu, được Thái dương Thiên Thần trợ giúp và duy trì.

216. Here are the three things which the Thinker in the causal body must do to effect the transmutation and transference of Egoic life into the spiritual triad:

216. Đây là ba điều mà Thức giả trong thể nguyên nhân phải làm để thực hiện sự chuyển hoá và chuyển dịch sự sống chân ngã vào Tam nguyên tinh thần:

1. Build and equip the causal body.

1. Xây dựng và trang bị thể nguyên nhân.

217. There can be no transfer until the causal body is mature. There can be no premature release. Only a well equipped causal body has sufficient substance to fuel the necessary elevation into the higher dimensions of the triad.

217. Không thể có sự chuyển dịch cho đến khi thể nguyên nhân trưởng thành. Không thể có sự giải thoát non sớm. Chỉ một thể nguyên nhân được trang bị đầy đủ mới có đủ chất liệu để tiếp nhiên liệu cho sự nâng cao cần thiết vào các chiều kích cao hơn của Tam nguyên tinh thần.

2. Bring about conscious connection or control of the threefold lower nature through the agency of the permanent atoms.

2. Tạo ra sự nối kết hữu thức hay sự kiểm soát bản chất tam phân thấp thông qua các nguyên tử trường tồn.

218. The threefold lower man is controlled from a consciousness focussed within the causal body.

218. Con người tam phân thấp được kiểm soát từ một tâm thức tập trung bên trong thể nguyên nhân.

219. If control of the lower threefold nature is to be achieved through the permanent atoms, the disciple’s consciousness must be merged with egoic consciousness.

219. Nếu sự kiểm soát bản chất tam phân thấp phải được đạt đến qua các nguyên tử trường tồn, tâm thức của đệ tử phải được dung hợp với tâm thức chân ngã.

220. The transmutative refinement of the substance of the lower vehicles is additionally necessary to bring about this conscious connection and control.

220. Sự tinh luyện có tính chuyển hoá của chất liệu trong các hiện thể thấp cũng cần thiết thêm để tạo ra sự nối kết và kiểm soát hữu thức này.

3. Bridge the interlude between the causal body on its own level, and the manasic permanent atom.

3. Bắt cầu khoảng gián cách giữa thể nguyên nhân trên cấp độ riêng của nó và nguyên tử trường tồn manas.

221. This is a different aspect of the antahkarana than the one upon which we usually focus. Our usual focus involves building the bridge between the mental unit and the manasic permanent atom. The bridging of the interlude here referenced involves uniting the causal body itself to the manasic permanent atom.

221. Đây là một phương diện khác của antahkarana so với phương diện mà chúng ta thường tập trung vào. Trọng tâm thông thường của chúng ta là xây dựng cây cầu giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas. Việc bắt cầu khoảng gián cách được nói đến ở đây bao hàm việc hợp nhất chính thể nguyên nhân với nguyên tử trường tồn manas.

222. Study of the diagram (Chart IX) on p. 823 of TCF will reveal the threefold antahkarana and will include the segment of the bridge here discussed.

222. Việc nghiên cứu sơ đồ (Biểu đồ IX) ở tr. 823 của TCF sẽ cho thấy antahkarana tam phân và sẽ bao gồm đoạn cầu được bàn đến ở đây.

223. Is there a hint in the use of the word “interlude”? Normally, we would speak of the ‘interval’ between the causal body and the manasic permanent atom. May it be that in the higher interlude (of the meditative process—a contemplative interlude) the indicated bridging process can occur?

223. Có phải có một gợi ý trong việc dùng từ “interlude” không? Thông thường, chúng ta sẽ nói về “khoảng cách” giữa thể nguyên nhân và nguyên tử trường tồn manas. Có thể chăng trong khoảng tạm ngưng cao hơn (của tiến trình tham thiền—một khoảng tạm ngưng chiêm ngưỡng) tiến trình bắt cầu được chỉ ra có thể xảy ra?

224. This interlude can be bridged by extending unitive thought until it becomes abstract thought. From the point of view of the siddhis, it is moving from “Response to Group Vibration” to “Spiritual Telepathy”. This aspect of the bridge is essentially a link between Venus (representing the causal body on the second sub-plane of the higher mental plane) and Mercury (representing the manasic permanent atom on the highest sub-plane of the higher mental plane).

224. Khoảng tạm ngưng này có thể được bắt cầu bằng cách mở rộng tư tưởng hợp nhất cho đến khi nó trở thành tư tưởng trừu tượng. Xét từ quan điểm các siddhi, đó là sự chuyển động từ “Đáp Ứng với Rung Động Nhóm” sang “Giao tiếp viễn cảm Tinh thần”. Phương diện này của cây cầu về bản chất là một liên kết giữa Venus (đại diện cho thể nguyên nhân trên cõi phụ thứ hai của Cõi thượng trí) và Mercury (đại diện cho nguyên tử trường tồn manas trên cõi phụ cao nhất của Cõi thượng trí).

V. On Buddhic Levels: [Page 502]

V. Trên Các Cấp Độ Bồ đề: [Page 502]

225. We are, apparently, still dealing with manas but at the buddhic level it will be a kind of transcendental manas—an intuitive mental apprehension which rests upon the development of a powerful abstract mind.

225. Hiển nhiên, chúng ta vẫn đang đề cập đến manas, nhưng ở cấp độ Bồ đề đó sẽ là một loại manas siêu việt—một sự nắm bắt trí tuệ trực giác đặt nền trên sự phát triển của một trí trừu tượng mạnh mẽ.

a. Discriminative power here demonstrates as ability to distinguish between the abstract and the concrete, and to arrive at conclusions apart from the ordinary apparatus—the mental body and the physical brain.

a. Ở đây quyền năng phân biện biểu lộ như khả năng phân biệt giữa trừu tượng và cụ thể, và đi đến kết luận tách khỏi bộ máy thông thường—thể trí và bộ não thể xác.

226. There is a direct ‘heart’ connection which delivers the truth as an immediate recognition of reality.

226. Có một sự nối kết trực tiếp của “tim” chuyển trao chân lý như một sự nhận biết tức thời về thực tại.

227. Discriminative power (an aspect of manas) is still required, but the discrimination is applied to the task of differentiating between the rupa and arupa worlds.

227. Quyền năng phân biện (một phương diện của manas) vẫn còn cần thiết, nhưng sự phân biện được áp dụng vào nhiệm vụ phân biệt giữa các thế giới rupa và arupa.

228. Such discrimination will not be the usual exercise of reason. It is not reason (as a mental activity) which reveals the difference between the abstract and the concrete, but another faculty. Perhaps this faculty is an aspect of “pure reason”.

228. Sự phân biện như thế sẽ không phải là sự vận dụng lý trí thông thường. Không phải lý trí (như một hoạt động trí tuệ) mặc khải sự khác biệt giữa trừu tượng và cụ thể, mà là một năng lực khác. Có lẽ năng lực này là một phương diện của “lý trí thuần khiết”.

229. From the perspective of buddhi, the world so-called “arupa” world of the higher mind is concrete.

229. Từ góc nhìn của Bồ đề, thế giới được gọi là thế giới “arupa” của thượng trí lại là cụ thể.

b. Adaptability to Hierarchical enterprise shown by the Initiate or Master, and His receptivity to life impulses and spiritual currents emanating from the planetary Logos of His Ray—a thing at this stage impossible of conscious realisation.

b. Khả năng thích nghi với công cuộc của Thánh đoàn được điểm đạo đồ hay Chân sư biểu lộ, và sự tiếp nhận của Ngài đối với các xung lực sự sống và các dòng tinh thần phát ra từ Hành Tinh Thượng đế của cung của Ngài—một điều ở giai đoạn này không thể được chứng nghiệm một cách hữu thức.

230. Even though the Initiate or Master may be working within the Earth-scheme, He is nonetheless responsive to the Logos of His Ray (which may be any one of the seven Planetary Logoi of the seven sacred planets).

230. Dù điểm đạo đồ hay Chân sư có thể đang hoạt động trong hệ hành tinh Địa Cầu, Ngài vẫn đáp ứng với Thượng đế của cung của Ngài (có thể là bất kỳ một trong bảy Hành Tinh Thượng đế của bảy hành tinh thiêng liêng).

231. This type of adaptability need not be reasoned; it is simply known and understood. The type of knowledge utilized has been called by Master M. “straight knowledge”. Straight knowledge guides the adaptive activity of the Initiate or Master.

231. Loại khả năng thích nghi này không cần phải được lý luận; nó đơn giản là được biết và được thấu hiểu. Loại tri thức được sử dụng đã được Chân sư M. gọi là “tri thức trực tiếp”. Tri thức trực tiếp hướng dẫn hoạt động thích nghi của điểm đạo đồ hay Chân sư.

232. If we wonder how manasic characteristics can express themselves on planes higher than the systemic manasic plane, we have but to remember that once the initiate has entered into the cosmic ethers he has entered a vibratory domain which is to some degree responsive to cosmic mind.

232. Nếu chúng ta tự hỏi làm thế nào các đặc tính manas có thể biểu lộ trên những cõi cao hơn cõi manas của hệ thống, chúng ta chỉ cần nhớ rằng một khi điểm đạo đồ đã đi vào các dĩ thái vũ trụ, y đã đi vào một lĩnh vực rung động ở một mức độ nào đó đáp ứng với trí tuệ vũ trụ.

233. The manas characteristic of cosmic mind must express itself in ways very different and far more advanced than manas as humanity understands that term.

233. Đặc tính manas của trí tuệ vũ trụ hẳn phải biểu lộ theo những cách rất khác biệt và tiến bộ hơn nhiều so với manas như nhân loại hiểu thuật ngữ ấy.

c. In the ordered purpose which guides the choice by a Master of one of the seven Paths of endeavour. Thus choice is based on KNOWLEDGE and not on desire.

c. Trong mục đích có trật tự hướng dẫn sự chọn lựa của một Chân sư đối với một trong bảy Con Đường nỗ lực. Vì vậy sự chọn lựa dựa trên TRI THỨC chứ không dựa trên dục vọng.

234. This is an important distinction—between knowledge and desire. The Master is controlled by the number five. He is not only a Master of the Wisdom in the three lower worlds; He is a Master of knowledge as it can be found within the three worlds.

234. Đây là một sự phân biệt quan trọng—giữa tri thức và dục vọng. Chân sư được kiểm soát bởi con số năm. Ngài không chỉ là một Chân sư của Minh triết trong ba cõi thấp; Ngài còn là một Chân sư của tri thức như nó có thể được tìm thấy trong ba cõi giới.

235. The choice of one of the Seven Paths (or, now, nine—cf. R&I, 412) is determined by ordered purpose and knowledge. May we say that the initiate is to a degree guided by the “Mind of God” to the degree than He can apprehend it? The Master is focused to a large extent on the atmic plane which can be conceived as reflective of the Universal Mind.

235. Sự chọn lựa một trong Bảy Con Đường (hay hiện nay là chín—xem R&I, 412) được quyết định bởi mục đích có trật tự và tri thức. Chúng ta có thể nói rằng điểm đạo đồ ở một mức độ nào đó được “Trí của Thượng đế” hướng dẫn theo mức độ mà Ngài có thể nắm bắt được chăng? Chân sư được tập trung phần lớn trên cõi atma, cõi có thể được quan niệm như phản chiếu của Vũ Trụ Trí.

236. In any case the choosing Master is aware of many relationships, and chooses with the aid of pure reason the Path He will tread.

236. Dù sao đi nữa, Chân sư đang chọn lựa ý thức được nhiều mối liên hệ, và chọn với sự trợ giúp của lý trí thuần khiết Con Đường mà Ngài sẽ bước đi.

237. The choosing Master seeks to preserve the divinely intended Order and Purpose of the Greater Lives in which He lives and moves and has His being. He has reached such a point of tension that He is removed from any personal or individual desire to tread this or that Path. He realizes that, in terms of the Greater Plan, there is only One Path which is correct for Him, and this Path He freely chooses—unless, of course (for other reasons, among them excessive compassion), He makes a mistake as some great souls have.

237. Chân sư đang chọn lựa tìm cách bảo tồn Trật Tự và Mục Đích do thiêng liêng dự định của các Sự sống Vĩ Đại mà trong đó Ngài sống, vận động và hiện hữu. Ngài đã đạt đến một điểm tập trung nhất tâm đến mức được tách khỏi bất kỳ dục vọng cá nhân hay biệt lập nào muốn bước trên Con Đường này hay Con Đường kia. Ngài nhận ra rằng, xét theo Thiên Cơ Vĩ Đại, chỉ có Một Con Đường là đúng cho Ngài, và Con Đường này Ngài tự do chọn lựa—trừ phi, dĩ nhiên (vì những lý do khác, trong đó có lòng từ bi quá mức), Ngài phạm sai lầm như một số linh hồn vĩ đại đã từng.

238. The term “KNOWLEDGE”, so emphatically capitalized, is, again, straight, direct knowledge—pure reason. The KNOWLEDGE which guides a Master is the choice of His correct Cosmic Path is not a knowledge derived from reasoning.

238. Thuật ngữ “TRI THỨC”, được viết hoa đầy nhấn mạnh như vậy, một lần nữa là tri thức trực tiếp, thẳng tắp—lý trí thuần khiết. TRI THỨC hướng dẫn một Chân sư trong việc chọn Con Đường Vũ Trụ đúng đắn của Ngài không phải là tri thức phát sinh từ sự lý luận.

d. In the conscious transmutation He undertakes in the work of evolution, and in the gradual transference of His own life, and the life of His group, into the monadic aspect which is reflected in the buddhic.

d. Trong sự chuyển hoá hữu thức mà Ngài đảm nhận trong công việc tiến hoá, và trong sự chuyển dịch dần dần sự sống của chính Ngài, và sự sống của nhóm Ngài, vào phương diện chân thần được phản chiếu trong Bồ đề.

239. This phase of the transmutation process makes it possible for the Initiate (now a conscious agent of transmutation) to lend His forces to the elevation of the group onto levels of pure being (monadic levels of which the buddhic levels are a reflection).

239. Giai đoạn này của tiến trình chuyển hoá làm cho điểm đạo đồ (nay là một tác nhân hữu thức của sự chuyển hoá) có thể đem các mãnh lực của Ngài hỗ trợ cho sự nâng cao của nhóm lên các cấp độ của bản thể thuần tuý (các cấp độ chân thần mà các cấp độ Bồ đề là một sự phản chiếu).

240. Whenever we have come to the section on transmutation (following discrimination/selection, adaptation and ordered purpose) there has always been presented the necessity for elevation.

240. Chúng ta đã lưu ý rằng bất cứ khi nào đến phần nói về chuyển hoá (sau phân biện/chọn lọc, thích nghi và mục đích có trật tự), luôn luôn xuất hiện sự cần thiết của việc nâng cao.

241. We have noted intended transferences/transmutations from the physical plane to the mental plane; from the astral to the buddhic plane; from the world of personality to the world of the causal body; from the world of the causal body into the world of the triad; and now from the buddhic plane into the world of the Monad.

241. Chúng ta đã ghi nhận những sự chuyển dịch/chuyển hoá được dự định từ cõi hồng trần lên cõi trí; từ cõi cảm dục lên cõi Bồ đề; từ thế giới của phàm ngã sang thế giới của thể nguyên nhân; từ thế giới của thể nguyên nhân vào thế giới của Tam nguyên tinh thần; và giờ đây từ cõi Bồ đề vào thế giới của chân thần.

242. Each transmutation or transference represents an expansion of scope for the expression of the elevated or liberated volatile essence—the unit of electric fire at the heart of the alchemized atom.

242. Mỗi sự chuyển hoá hay chuyển dịch tượng trưng cho một sự mở rộng phạm vi biểu lộ của tinh chất dễ bay hơi đã được nâng cao hay giải thoát—đơn vị lửa điện ở trung tâm của nguyên tử đã được luyện kim.

243. We note that the higher Initiate moves not only alone but with His group. The degree to which He has mastered transmutation as a manasic characteristic allows Him to facilitate the elevation of His entire group.

243. Chúng ta lưu ý rằng điểm đạo đồ cao cấp không chỉ tiến bước một mình mà còn cùng với nhóm của Ngài. Mức độ mà Ngài đã làm chủ sự chuyển hoá như một đặc tính manas cho phép Ngài tạo điều kiện cho sự nâng cao của toàn bộ nhóm Ngài.

244. We note that when dealing with the Fourteen Rules for Disciples and Initiates, the Rules so often begin with “Let the group…” The sense of any separative individualism has long been overcome.

244. Chúng ta lưu ý rằng khi đề cập đến Mười Bốn Quy luật cho Đệ tử và Điểm đạo đồ, các quy luật thường bắt đầu bằng “Hãy để nhóm…” Ý thức về bất kỳ chủ nghĩa cá nhân phân ly nào từ lâu đã được vượt qua.

VI. On Atmic Levels:

VI. Trên Các Cấp Độ Atma:

245. We are still dealing with the characteristics of manas, though it is a type of manas which is triadal, being found on atmic levels. We recognize that, as the third of the systemic planes, the atmic plane is a manasic plane.

245. Chúng ta vẫn đang đề cập đến các đặc tính của manas, dù đó là một loại manas thuộc tam nguyên tinh thần, được tìm thấy trên các cấp độ atma. Chúng ta nhận ra rằng, với tư cách là cõi thứ ba của hệ thống, cõi atma là một cõi manas.

a. In the selective work of the adept as it relates to planetary manifestation, and the discriminative power which guides all action relating to His own planet, and the two others associated with the Earth, as a systemic triangle.

a. Trong công việc chọn lọc của chân sư khi nó liên hệ đến biểu lộ hành tinh, và quyền năng phân biện hướng dẫn mọi hành động liên quan đến hành tinh riêng của Ngài, cùng hai hành tinh khác kết hợp với Trái Đất như một tam giác hệ thống.

246. We are speaking of selectivity and discriminative power—as we have at the outset of each consideration of the characteristics of manas in relation to the ascending planes.

246. Chúng ta đang nói về tính chọn lọc và quyền năng phân biện—như đã nói ở phần mở đầu của mỗi lần xem xét các đặc tính của manas trong liên hệ với các cõi thăng dần.

247. The adept (for that is the nature of the Individual here under consideration) now selects and discriminates in such a manner as to promote the expression of the Divine Plan within His planetary scheme and also within the two planetary schemes most closely associated with the Earth—probably Venus and Mars.

247. Chân sư (vì đó là bản chất của Cá Thể đang được xem xét ở đây) giờ đây chọn lọc và phân biện theo cách thúc đẩy sự biểu lộ của Thiên Cơ trong hệ hành tinh của Ngài và cả trong hai hệ hành tinh gắn bó mật thiết nhất với Trái Đất—có lẽ là Venus và Mars.

248. Two advanced atmic siddhis come to mind when thinking of this type of ability: Active Service (related to the sixth sub-plane of the atmic plane) and All Knowledge (related to the third sub-plane).

248. Hai siddhi atma cao cấp xuất hiện trong tâm trí khi nghĩ về loại năng lực này: Phụng Sự Tích Cực (liên hệ với cõi phụ thứ sáu của cõi atma) và Toàn Tri (liên hệ với cõi phụ thứ ba).

249. Always choice must be made; one possible line of action has to be selected in preference to another. Knowing something of the Divine Plan and Purpose for His Planetary Logos, the Master is now in a position to select and discriminate wisely. He is guided to the extent possible by the seven Purposes of Sanat Kumara as they have been presented for us in Rule XIII—though He cannot know the “unknown, unseen and unheard purpose of Sanat Kumara” (R&I 241)

249. Luôn luôn phải có sự chọn lựa; một đường lối hành động khả hữu phải được chọn thay vì một đường lối khác. Biết được phần nào về Thiên Cơ và Mục Đích thiêng liêng dành cho Đức Hành Tinh Thượng Đế của Ngài, Chân sư giờ đây ở vào vị thế có thể chọn lọc và phân biện một cách minh triết. Ngài được hướng dẫn trong mức độ có thể bởi bảy Mục Đích của Đức Sanat Kumara như chúng đã được trình bày cho chúng ta trong Quy luật XIII—dù Ngài không thể biết “mục đích vô tri, vô kiến và vô văn của Sanat Kumara” (R&I 241)

b. The adaptation of groups (deva and human) to certain types of influence, and vibration, which emanate extra-systemically, and which from high cosmic levels play upon groups, fostering certain attributes for which we have, as yet, no terminology.

b. Sự thích nghi của các nhóm (thiên thần và nhân loại) với một số loại ảnh hưởng và rung động nhất định, phát ra từ ngoài hệ thống, và từ các cấp độ vũ trụ cao tác động lên các nhóm, nuôi dưỡng một số thuộc tính mà hiện nay chúng ta vẫn chưa có thuật ngữ để gọi tên.

250. These are adaptations of which only Masters are capable. The Master promotes the adaptation not only of individuals but of groups (not only groups of human beings but groups of devas). The scope of His effectiveness is greatly expanded over that possible to a disciple.

250. Đây là những sự thích nghi mà chỉ các Chân sư mới có khả năng thực hiện. Chân sư thúc đẩy sự thích nghi không chỉ của các cá nhân mà còn của các nhóm (không chỉ các nhóm người mà cả các nhóm thiên thần). Phạm vi hiệu quả của Ngài được mở rộng rất lớn so với điều có thể có nơi một đệ tử.

251. May it be that we are speaking of constellational and zodiacal influences to which a Master can respond—for instance, Aquarian energy?

251. Có thể chăng ở đây chúng ta đang nói đến những ảnh hưởng từ các chòm sao và hoàng đạo mà một Chân sư có thể đáp ứng—thí dụ, năng lượng Bảo Bình?

252. If this is the case, we are attributing to a Master a high degree of sensitivity to very subtle influences, as well as a knowledge of how these influence can be rendered useful to those who cannot yet understand them or receive them directly.

252. Nếu đúng như vậy, thì chúng ta đang quy cho một Chân sư một mức độ nhạy cảm cao đối với những ảnh hưởng rất vi tế, cũng như một tri thức về cách những ảnh hưởng này có thể được làm cho hữu ích đối với những người chưa thể hiểu chúng hoặc tiếp nhận chúng một cách trực tiếp.

253. We must recall the implications of the word “Adept”; an Adept is an expert at adaptation. It is illuminating to focus on these high sorts of adaptations for which an Adept is responsible.

253. Chúng ta phải nhớ lại những hàm ý của từ “chân sư”; một chân sư là một bậc thiện xảo trong sự thích ứng. Thật soi sáng khi tập trung vào những loại thích ứng cao cả này mà một chân sư chịu trách nhiệm.

c.  The synthesising work of the Brahma aspect as it works out in the blending of the four minor rays into the third major. [Page 503]

c.  Công việc tổng hợp của phương diện Brahma khi nó được thể hiện trong sự hòa trộn bốn cung phụ vào cung chính thứ ba. [Page 503]

254. This is the section of the tabulation which usually comes under the heading “ordered purpose”.

254. Đây là phần của bảng biểu thường nằm dưới tiêu đề “mục đích có trật tự”.

255. The Brahma aspect is particularly associated with the atmic plane on which the Master finds a large measure of His focus.

255. Phương diện Brahma đặc biệt liên hệ với cõi atma, trên đó Chân sư tìm thấy một phần lớn điểm tập trung của Ngài.

256. Since a Master is ruled by the number five He is invariably a synthesizer of the four into the one, thus making the five.

256. Vì một Chân sư được chi phối bởi số năm nên Ngài luôn luôn là một đấng tổng hợp của bốn vào một, nhờ đó tạo thành năm.

257. We can think of the Master as Brahma; the sixth degree Chohan as Vishnu, and the seventh degree Chohan as Shiva.

257. Chúng ta có thể nghĩ về Chân sư như Brahma; Chohan cấp sáu như Vishnu, và Chohan cấp bảy như Shiva.

258. We are also given the hint that synthesis is inseparable from ordered purpose.

258. Chúng ta cũng được cho một gợi ý rằng sự tổng hợp là bất khả phân với mục đích có trật tự.

259. It may be that the Master is able to receive some aspect from the Third Person of the Logoic Trinity—the Logos, Brahma.

259. Có thể Chân sư có khả năng tiếp nhận một phương diện nào đó từ Ngôi Thứ Ba của Tam Vị Logoic—Logos, Brahma.

d. The transmutation which results in planetary obscuration in connection with five of the Heavenly Men and which—as in the previous work of synthesis—concerns microcosmic evolution and is participated in by man. I would call attention to an interesting point: as more and more of the Monads are resolved back into their source it produces a gradual obscuration of the particular Heavenly Man in Whose body they are the cells.

d. Sự chuyển hoá dẫn đến sự che khuất hành tinh liên quan đến năm Đấng Thiên Nhân và—cũng như trong công việc tổng hợp trước đó—liên quan đến tiến hoá vi mô và có sự tham gia của con người. Tôi muốn lưu ý đến một điểm thú vị: khi ngày càng nhiều Chân Thần được phân giải trở lại vào nguồn cội của chúng thì điều đó tạo ra sự che khuất dần dần của Đấng Thiên Nhân đặc thù mà trong thể của Ngài chúng là các tế bào.

260. We note that man participates in the “previous work of synthesis”. It can be questioned whether he participates in the subsequent work of obscuration.

260. Chúng ta lưu ý rằng con người tham gia vào “công việc tổng hợp trước đó”. Có thể đặt câu hỏi liệu y có tham gia vào công việc che khuất tiếp theo hay không.

261. We see that the transmutations suggested become increasingly abstruse. The transmutation impulsed from the buddhic plane reached the monadic. To what plane does this type of transmutation reach? The logoic?

261. Chúng ta thấy rằng những sự chuyển hoá được gợi ý trở nên ngày càng thâm áo. Sự chuyển hoá được thúc đẩy từ cõi Bồ đề đã vươn tới cõi chân thần. Loại chuyển hoá này vươn tới cõi nào? Cõi logoic chăng?

262. It seems to be a transmutation in which the entire Brahma aspect is prepared for absorption into the Vishnu and Shiva aspects.

262. Dường như đây là một sự chuyển hoá trong đó toàn bộ phương diện Brahma được chuẩn bị để được hấp thụ vào các phương diện Vishnu và Shiva.

263. In terms the planetary schemes, the schemes included in the Brahma aspect are prepared for absorption into the two principal synthesizing planets—Neptune and Uranus (though which of these is the last synthesizer cannot easily be determined).

263. Xét theo các hệ hành tinh, những hệ được bao gồm trong phương diện Brahma được chuẩn bị để được hấp thụ vào hai hành tinh tổng hợp chính—Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương (dù hành tinh nào trong hai hành tinh này là đấng tổng hợp sau cùng thì không dễ xác định).

264. What is the source of the Monad and on which plane is this source to be found? Is it the monadic plane or the plane still higher, the adic?

264. Nguồn cội của Chân Thần là gì và nguồn này được tìm thấy trên cõi nào? Có phải là cõi chân thần hay là cõi còn cao hơn nữa, cõi adic?

265. The sequence of processes may be understood as follows (though some might rearrange the words): synthesis, obscuration, (final) absorption. We note that in the section above the process of synthesis precedes obscuration.

265. Chuỗi tiến trình có thể được hiểu như sau (dù một số người có thể sắp xếp lại các từ): tổng hợp, che khuất, hấp thụ (sau cùng). Chúng ta lưu ý rằng trong phần trên, tiến trình tổng hợp đi trước sự che khuất.

266. We gather that in this type of obscuration, the Master is participating in the termination of the Brahmic aspect (in the solar system which encompasses the Master as a unit of life) and its absorption into the two higher aspects.

266. Chúng ta suy ra rằng trong loại che khuất này, Chân sư đang tham gia vào sự chấm dứt của phương diện Brahma (trong hệ mặt trời bao gồm Chân sư như một đơn vị sự sống) và sự hấp thụ của nó vào hai phương diện cao hơn.

267. Perhaps, it is ‘man-as-Monad’ who participates in the obscuration of his own Heavenly Man.

267. Có lẽ chính ‘con người-với-tư-cách-Chân Thần’ tham gia vào sự che khuất của chính Đấng Thiên Nhân của mình.

268. We see that the ultimate phases of human development are related to planetary obscuration.

268. Chúng ta thấy rằng các giai đoạn tối hậu của sự phát triển nhân loại có liên hệ với sự che khuất hành tinh.

Though this may look to human vision as extending over a profoundly long period, from the point of view of universal or group consciousness it is occurring NOW.

Dù điều này có thể trông như kéo dài qua một thời kỳ vô cùng lâu đối với tầm nhìn của con người, song từ quan điểm của tâm thức vũ trụ hay tâm thức nhóm, điều đó đang diễn ra NGAY BÂY GIỜ.

269. It is difficult for us to grasp huge perspectives. All may seem to be proceeding slowly, and yet culminating processes have even now begun (though few there are who can detect them).

269. Chúng ta khó nắm bắt được những viễn tượng bao la. Mọi sự có thể dường như đang tiến hành chậm chạp, nhưng các tiến trình kết thúc thậm chí ngay bây giờ đã bắt đầu (dù rất ít người có thể nhận ra chúng).

270. We may gather that processes of synthesis, obscuration and final absorption take a great deal of time to complete. Even while our attention may be focussed on less abstractive phases of the planetary process, the great abstractive phases are underway.

270. Chúng ta có thể suy ra rằng các tiến trình tổng hợp, che khuất và hấp thụ sau cùng cần rất nhiều thời gian để hoàn tất. Ngay cả khi sự chú ý của chúng ta có thể tập trung vào những giai đoạn ít trừu tượng hơn của tiến trình hành tinh, thì những giai đoạn trừu tượng lớn lao vẫn đang diễn ra.

For instance, such an event as the obscuration of the manifestation of the Logos of our Earth scheme is already in process and began in Lemurian days.

Chẳng hạn, một biến cố như sự che khuất của biểu hiện của Logos của hệ Địa Cầu chúng ta đã ở trong tiến trình và đã bắt đầu từ thời Lemuria.

271. This is an amazing statement. We are not just speaking of the obscuration of a Globe Lord or Chain-Lord, but of a Scheme-Lord (the Logos of our Earth-scheme)

271. Đây là một phát biểu đáng kinh ngạc. Chúng ta không chỉ nói về sự che khuất của một Chúa Tể Bầu hành tinh hay Chúa Tể Dãy, mà là của một Chúa Tể Hệ (Logos của hệ Địa Cầu chúng ta)

272. We may say that once the turn has been made, the process of obscuration is definitely (though practically imperceptibly) underway.

272. Chúng ta có thể nói rằng một khi bước ngoặt đã được thực hiện, tiến trình che khuất chắc chắn (dù hầu như không thể nhận thấy) đang diễn ra.

273. The coming of the Lords of the Flame in Lemurian days must have been an important part of the process for they signaled a new development in the planetary heart center. When there is a definite movement from the third aspect of divinity into the second we may say that obscuration has begun?

273. Sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa vào thời Lemuria hẳn phải là một phần quan trọng của tiến trình này vì Các Ngài báo hiệu một sự phát triển mới trong trung tâm tim hành tinh. Khi có một chuyển động rõ rệt từ phương diện thứ ba của thiên tính sang phương diện thứ hai, chúng ta có thể nói rằng sự che khuất đã bắt đầu chăng?

274. The inference from the text sections above is that ever since Lemurian Days and the coming of the Lords of the Flame, human Monads have begun to be resolved back into their source—certain of the chakras in the Planetary Logos.

274. Suy luận từ các phần văn bản trên là kể từ thời Lemuria và sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa, các Chân Thần nhân loại đã bắt đầu được phân giải trở lại vào nguồn cội của chúng—những luân xa nào đó trong Đức Hành Tinh Thượng Đế.

VII. As regards monadic discrimination, adaptability, purpose and transmutative power it is needless to enlarge.

VII. Về phương diện phân biện chân thần, khả năng thích ứng, mục đích và quyền năng chuyển hoá thì không cần phải nói thêm.

275. Here we would have the final type of (super) manasic activity—through discrimination/separation, adaptation, ordered purpose and transmutative power.

275. Ở đây chúng ta có loại hoạt động manas (siêu) sau cùng—thông qua phân biện/tách biệt, thích ứng, mục đích có trật tự và quyền năng chuyển hoá.

All these ideas and concepts are of value only in so far as they produce within the Thinker a more intelligent appreciation of the grandeur of the divine plan, an appropriation of the energy and force which is his by right of participation in the processes of manifestation, and a wise co-operation in the furtherance of the evolutionary plan as it affects him individually and his groups.

Tất cả những ý tưởng và khái niệm này chỉ có giá trị trong chừng mực chúng tạo ra bên trong Nhà Tư Tưởng một sự đánh giá thông minh hơn về sự vĩ đại của Thiên Cơ thiêng liêng, sự chiếm hữu năng lượng và mãnh lực vốn thuộc về y do quyền tham dự vào các tiến trình biểu hiện, và sự hợp tác minh triết trong việc thúc đẩy Thiên Cơ tiến hoá khi nó tác động đến y một cách cá nhân và đến các nhóm của y.

276. Let us tabulate what have been the objectives of the Tibetan:

276. Chúng ta hãy lập bảng những gì đã là các mục tiêu của Chân sư Tây Tạng:

a. To produce in the Thinker a more intelligent appreciation of the grandeur of the Divine Plan. This type of appreciation inspires and strengthens and produces a more stalwart server.

a. Tạo ra nơi Nhà Tư Tưởng một sự đánh giá thông minh hơn về sự vĩ đại của Thiên Cơ thiêng liêng. Loại đánh giá này truyền cảm hứng, tăng cường sức mạnh và tạo ra một người phụng sự kiên cường hơn.

b. To produce an appropriation of energy and force which belongs to the Thinker by right of participation in the processes of manifestation. Through conformity to these studies have we accessed divine energies which, normally, we would be unable to access? To the extent that we are consciously and effectively participating in the Reappearance of the Christ, we will, in increasingly measure, be able to appropriate such energies and forces.

b. Tạo ra sự chiếm hữu năng lượng và mãnh lực thuộc về Nhà Tư Tưởng do quyền tham dự vào các tiến trình biểu hiện. Thông qua sự tuân theo các nghiên cứu này, liệu chúng ta có tiếp cận được những năng lượng thiêng liêng mà thông thường chúng ta không thể tiếp cận không? Trong chừng mực chúng ta đang tham gia một cách hữu thức và hữu hiệu vào Sự Tái Lâm của Đức Christ, chúng ta sẽ ngày càng có khả năng chiếm hữu những năng lượng và mãnh lực như thế.

c. To produce a wise co-operation in the furtherance of the evolutionary plan as it affects the Thinker individually and his groups. Through these studies we should learn the wider objective of the Will behind our will, the Love behind our love and the Intelligence behind our intelligence. Our ability to cooperate should be enhanced. Our work with Hierarchy should become useful rather than impedimentary.

c. Tạo ra một sự hợp tác minh triết trong việc thúc đẩy Thiên Cơ tiến hoá khi nó tác động đến Nhà Tư Tưởng một cách cá nhân và đến các nhóm của y. Qua những nghiên cứu này, chúng ta nên học được mục tiêu rộng lớn hơn của Ý Chí đằng sau ý chí của chúng ta, Tình thương đằng sau tình thương của chúng ta và Trí tuệ đằng sau trí tuệ của chúng ta. Khả năng hợp tác của chúng ta nên được tăng cường. Công việc của chúng ta với Thánh Đoàn nên trở nên hữu ích thay vì cản trở.

277. One might speculate as to the nature of monadic discrimination, adaptability, ordered purpose and transmutation. We can imagine it would relate to the final plans and purposes of the Solar Logos and could conceivably entertain purposes still more cosmic. The Monad, we realize, finds its home within the Sun.

277. Người ta có thể suy đoán về bản chất của sự phân biện chân thần, khả năng thích ứng, mục đích có trật tự và sự chuyển hoá. Chúng ta có thể hình dung rằng nó sẽ liên hệ đến những kế hoạch và mục đích sau cùng của Thái dương Thượng đế và có thể còn bao hàm những mục đích mang tính vũ trụ hơn nữa. Chúng ta nhận ra rằng Chân Thần tìm thấy ngôi nhà của mình bên trong Mặt Trời.

278. The discriminative work, instead of focussing on three related planets within the solar system, might focus on the relations of all planetary spheres within the Solar Logoic ring-pass-not.

278. Công việc phân biện, thay vì tập trung vào ba hành tinh có liên hệ trong hệ mặt trời, có thể tập trung vào các mối quan hệ của mọi khối cầu hành tinh bên trong vòng-giới-hạn của Thái dương Thượng đế.

279. The adaptation might well provide a conduit for cosmic energies to reach systemic groups.

279. Sự thích ứng rất có thể cung cấp một ống dẫn để các năng lượng vũ trụ đến được các nhóm hệ thống.

280. The absorption through ordered purpose would be into the Solar Logos Himself and not simply into the higher order synthesizing planets as was the case with transmutation originating on the atmic plane.

280. Sự hấp thụ thông qua mục đích có trật tự sẽ là vào chính Thái dương Thượng đế chứ không chỉ đơn giản vào các hành tinh tổng hợp thuộc trật tự cao hơn như trường hợp của sự chuyển hoá phát sinh trên cõi atma.

281. As for the transmutation to be experienced, it would probably involve release onto the cosmic astral plane and, thus, escape from what we usually call our solar system.

281. Còn về sự chuyển hoá sẽ được kinh nghiệm, có lẽ nó sẽ bao hàm sự giải thoát lên cõi cảm dục vũ trụ và như vậy là thoát khỏi điều mà chúng ta thường gọi là hệ mặt trời của mình.

282. VSK has something to say here. It may require a bit of interpretation, but I think you’ll get the message: “This means … that if you haven’t been self-nuked by now, or benevolently nuked by divine hierarchical imperative, the reader should understand evolution and where he stands in a group of either 4.5 or 5.5 consciousnesses. If 4.5, he won’t understand what I mean; if 4.6, he’ll think he’s transcended into the (insert exponent of choice) dimension and all is sweet, and ‘why can’t we all get along’, one wonders? ) Or if 5.1,2,3, or 4, he’ll be trying to convince others about it in political forums.”

282. VSK có điều gì đó để nói ở đây. Có thể cần một chút diễn giải, nhưng tôi nghĩ bạn sẽ nắm được thông điệp: “Điều này có nghĩa là … rằng nếu đến giờ bạn vẫn chưa bị tự-hạt-nhân-hoá, hoặc được hạt-nhân-hoá một cách từ bi bởi mệnh lệnh thiêng liêng của Thánh đoàn, thì người đọc nên hiểu tiến hoá và vị trí của y trong một nhóm gồm hoặc 4.5 hoặc 5.5 tâm thức. Nếu là 4.5, y sẽ không hiểu tôi muốn nói gì; nếu là 4.6, y sẽ nghĩ rằng y đã siêu vượt vào chiều kích (điền số mũ tùy chọn) và mọi sự đều ngọt ngào, và ‘tại sao tất cả chúng ta không thể hòa thuận với nhau’, người ta tự hỏi? ) Hoặc nếu là 5.1,2,3, hay 4, y sẽ cố thuyết phục người khác về điều đó trong các diễn đàn chính trị.”

Scroll to Top