Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến trang sách tương ứng trong TCF
TCF 504-515: S5S6
|
15 June – 1 July 2007 |
15 June – 1 July 2007 |
|
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) |
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ những trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện) |
|
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. |
Đề nghị rằng phần Bình Luận này được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, vì tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn văn. |
|
[Page 504] |
|
|
1. We now begin our third division of Section Two, Solar Fire, focusing on the Egoic Ray and that of the nature of the causal body. |
1. Giờ đây chúng ta bắt đầu phần thứ ba của Phần Hai, Lửa Thái dương, tập trung vào cung chân ngã và vào bản chất của thể nguyên nhân. |
|
2. This very long section will be one of the most important and practical sections we study. |
2. Phần rất dài này sẽ là một trong những phần quan trọng và thực tiễn nhất mà chúng ta nghiên cứu. |
|
3. The following table of contents will be addressed over the next months. |
3. Bảng mục lục sau đây sẽ được đề cập đến trong những tháng tới. |
|
4. There are statements below in the Table of Contents which epitomize certain essential facts and relationships. |
4. Có những phát biểu dưới đây trong Bảng Mục Lục tóm lược một số sự kiện và mối liên hệ cốt yếu. |
|
5. I will append a few remarks, however the real development of these subjects will be taken up when they are studied in detail. |
5. Tôi sẽ thêm vào một vài nhận xét, tuy nhiên sự triển khai thực sự của những chủ đề này sẽ được thực hiện khi chúng được nghiên cứu chi tiết. |
|
SECTION TWO |
PHẦN HAI |
|
DIVISION C |
PHÂN ĐOẠN C |
|
THE EGOIC RAY AND SOLAR FIRE [Page 504] |
CUNG CHÂN NGÃ VÀ LỬA THÁI DƯƠNG [Page 504] |
|
I. THE NATURE OF THE CAUSAL BODY |
I. BẢN CHẤT CỦA THỂ NGUYÊN NHÂN |
|
1. It is formed by the contact of the two fires of Spirit and matter. |
1. Nó được hình thành bởi sự tiếp xúc của hai ngọn lửa của tinh thần và vật chất. |
|
6. It is not only the Solar Angels who produce the causal body in higher mental matter. The influence of the Monad must also be present, as is clear from an examination of Chart VIII |
6. Không chỉ các Thái dương Thiên Thần tạo ra thể nguyên nhân trong chất liệu thượng trí. Ảnh hưởng của Chân Thần cũng phải hiện diện, như điều này rõ ràng qua việc khảo sát Biểu Đồ VIII |
|
2. It is produced at individualisation. |
2. Nó được tạo ra vào lúc biệt ngã hóa. |
|
7. This is the case whether the individualization is produced by the divine intervention of the Solar Angels or as a result of the much slower and more natural method pursued on the Moon-chain. |
7. Điều này đúng dù sự biệt ngã hóa được tạo ra bởi sự can thiệp thiêng liêng của các Thái dương Thiên Thần hay là kết quả của phương pháp chậm hơn nhiều và tự nhiên hơn được theo đuổi trên Dãy Mặt Trăng. |
|
II. THE NATURE OF THE PERMANENT ATOMS |
II. BẢN CHẤT CỦA CÁC NGUYÊN TỬ TRƯỜNG TỒN |
|
1. Their purpose. |
1. Mục đích của chúng. |
|
a. They are force distributors. |
a. Chúng là những bộ phân phối mãnh lực. |
|
8. The permanent atoms distribute the especially the potency of principles. Their connection to the principles of the human being must always be remembered. |
8. Các nguyên tử trường tồn phân phối đặc biệt là tiềm lực của các nguyên khí. Mối liên hệ của chúng với các nguyên khí của con người phải luôn được ghi nhớ. |
|
b. Conservers of faculty. |
b. Những kẻ bảo tồn năng lực. |
|
9. The permanent atoms are the great “memory chips” of nature. |
9. Các nguyên tử trường tồn là những “chip ký ức” lớn lao của bản chất. |
|
c. Assimilators and transmuters. |
c. Những kẻ đồng hoá và chuyển hoá. |
|
10. These functions of the permanent atoms must be remembered. We have been studying transmutation—the methods by which it is achieved. DK has been careful not to reveal too much. Thus, it is important (for further amplification of the subject) to link the functions of the permanent atoms to the transmutation process. |
10. Những chức năng này của các nguyên tử trường tồn phải được ghi nhớ. Chúng ta đã nghiên cứu sự chuyển hoá—những phương pháp nhờ đó nó được thực hiện. Chân sư DK đã cẩn trọng không tiết lộ quá nhiều. Vì vậy, điều quan trọng là (để khai triển thêm chủ đề này) phải liên kết các chức năng của các nguyên tử trường tồn với tiến trình chuyển hoá. |
|
11. Life experience in the three worlds must be transmuted into quality (stored in the causal body). In this process the permanent atoms are definitely involved. |
11. Kinh nghiệm sống trong ba cõi thấp phải được chuyển hoá thành phẩm tính (được lưu giữ trong thể nguyên nhân). Trong tiến trình này, các nguyên tử trường tồn chắc chắn có liên quan. |
|
d. Vehicles of memory. |
d. Những vận cụ của ký ức. |
|
12. All registrations of impacts within the three worlds are here stored. |
12. Mọi sự ghi nhận các tác động bên trong ba cõi thấp đều được lưu giữ ở đây. |
|
13. One presumes that much that the human being has not noticed in his waking consciousness is also stored. |
13. Người ta cho rằng nhiều điều mà con người đã không nhận thấy trong tâm thức thức tỉnh của y cũng được lưu giữ. |
|
2. Their place in the Egoic Body. |
2. Vị trí của chúng trong Thể Chân Ngã. |
|
14. It is always a mystery how the permanent atoms can be “in” the Egoic Body and yet not of the substance of the Egoic Body. |
14. Luôn là một điều bí ẩn làm sao các nguyên tử trường tồn có thể “ở trong” Thể Chân Ngã mà lại không thuộc về chất liệu của Thể Chân Ngã. |
|
15. From the same perspective, the mental, emotional and etheric-physical bodies are also in the Egoic Body. |
15. Từ cùng một góc nhìn, các thể trí, cảm xúc và dĩ thái-hồng trần cũng ở trong Thể Chân Ngã. |
|
a. The astral permanent atom. |
a. Nguyên tử trường tồn cảm dục. |
|
16. For some reason the astral permanent atom is singled out from the other members of the atomic triangle. It is, after all, the most potent and influential at this time—especially as regards the great majority of human beings. |
16. Vì một lý do nào đó, nguyên tử trường tồn cảm dục được tách riêng khỏi các thành viên khác của tam giác nguyên tử. Rốt cuộc, vào thời điểm này nó là yếu tố mạnh nhất và có ảnh hưởng nhất—đặc biệt đối với đại đa số nhân loại. |
|
b. The atomic triangle. |
b. Tam giác nguyên tử. |
|
17. This triangle is composed of the physical permanent atom, the astral permanent atom and the mental unit. |
17. Tam giác này gồm nguyên tử trường tồn hồng trần, nguyên tử trường tồn cảm dục và đơn vị hạ trí. |
|
3. The Spirillae and the Egoic Ray. |
3. Các loa tuyến và cung chân ngã. |
|
a. The composition of the permanent atoms. |
a. Cấu tạo của các nguyên tử trường tồn. |
|
18. Their structure is complex, composed of many “bubbles in the koilon”. The higher permanent atoms, however, have a structure which is less complex (or, rather, increasingly simple). |
18. Cấu trúc của chúng phức tạp, được tạo thành từ nhiều “bọt trong koilon”. Tuy nhiên, các nguyên tử trường tồn cao hơn có một cấu trúc ít phức tạp hơn (hay đúng hơn, ngày càng đơn giản hơn). |
|
b. The planes and fiery energy. |
b. Các cõi và năng lượng lửa. |
|
19. All planes are animated by fires. |
19. Mọi cõi đều được làm sinh động bởi các ngọn lửa. |
|
c. The three fires. |
c. Ba ngọn lửa. |
|
4. Summary. |
4. Tóm lược. |
|
III. THE EGOIC LOTUS |
III. HOA SEN CHÂN NGÃ |
|
1. Wheels or centres of energy. |
1. Các bánh xe hay trung tâm năng lượng. |
|
a. Centres of force. |
a. Các trung tâm mãnh lực. |
|
b. The causal body, the monadic heart centre. |
b. Thể nguyên nhân, trung tâm tim chân thần. |
|
20. Regardless of the ray which primarily characterizes the causal body, it is, nonetheless, the monadic heart center and is, thus, generically associated with the second ray. |
20. Bất kể cung nào chủ yếu đặc trưng cho thể nguyên nhân, dù sao nó vẫn là trung tâm tim chân thần và do đó, một cách tổng quát, liên hệ với cung hai. |
|
21. The Monad, itself, focusing on the second solar plane, is related to the energy of the second ray. This must always be remembered. The Monad is not purely a first ray center. |
21. Chính Chân Thần, tập trung trên cõi thái dương thứ hai, có liên hệ với năng lượng của cung thứ hai. Điều này phải luôn được ghi nhớ. Chân Thần không thuần túy là một trung tâm cung một. |
|
2. The twelve-petalled Lotus. |
2. Hoa sen mười hai cánh. |
|
a. The knowledge petals. |
a. Các cánh hoa tri thức. |
|
b. The love petals. |
b. Các cánh hoa bác ái. |
|
c. The sacrifice petals. |
c. Các cánh hoa hi sinh. |
|
22. Through this type of study an understanding of human evolution can be gathered as in no other way. |
22. Qua loại nghiên cứu này, sự thấu hiểu về tiến hoá nhân loại có thể đạt được theo cách mà không cách nào khác có thể làm được. |
|
3. Summary. |
3. Tóm lược. |
|
I. THE NATURE OF THE EGOIC OR CAUSAL BODY |
I. BẢN CHẤT CỦA THỂ CHÂN NGÃ HAY THỂ NGUYÊN NHÂN |
|
The subject of the egoic Ray and its relation to the second fire is one of vital import to three types of people: Those who are interested in the true psychology, or in the evolution of the psyche; those who are on or nearing the Path, and hence are coming more and more into touch with their own Ego; those who work with the souls of men, the servers of the race. |
Chủ đề về cung chân ngã và mối liên hệ của nó với ngọn lửa thứ hai có tầm quan trọng thiết yếu đối với ba loại người: Những người quan tâm đến tâm lý học chân chính, hay đến sự tiến hoá của psyche; những người đang ở trên hoặc đang tiến gần Con Đường, và do đó ngày càng tiếp xúc nhiều hơn với chính chân ngã của mình; những người làm việc với linh hồn của con người, những người phụng sự nhân loại. |
|
23. The practical nature of this work and its service potential are set forth. |
23. Tính chất thực tiễn của công trình này và tiềm năng phụng sự của nó được nêu rõ. |
|
24. Let us tabulate references to the three types of people for whom the subject of the egoic ray and its relation to the second fire are of vital importance. I am sure that many of us will find ourselves in all three categories: |
24. Chúng ta hãy lập bảng các tham chiếu đến ba loại người mà đối với họ chủ đề về cung chân ngã và mối liên hệ của nó với ngọn lửa thứ hai có tầm quan trọng thiết yếu. Tôi chắc rằng nhiều người trong chúng ta sẽ thấy mình thuộc cả ba loại: |
|
a. To those interested in the true psychology or in the evolution of the psyche. All members of the Spiritual Hierarchy are necessarily esoteric psychologists in some measure. There is no true understanding of the psyche without understanding the egoic ray and the nature of the causal body. |
a. Đối với những người quan tâm đến tâm lý học chân chính hay đến sự tiến hoá của psyche. Mọi thành viên của Huyền Giai Tinh Thần tất yếu đều là những nhà Tâm Lý Học Nội Môn ở một mức độ nào đó. Không có sự thấu hiểu chân chính nào về psyche nếu không hiểu cung chân ngã và bản chất của thể nguyên nhân. |
|
b. To those who are on or nearing the Path. We would not be studying DK’s material intensively if this were not true of us. |
b. Đối với những người đang ở trên hoặc đang tiến gần Con Đường. Chúng ta đã không nghiên cứu chuyên sâu tài liệu của Chân sư DK nếu điều này không đúng với chúng ta. |
|
c. To those who work with the souls of men. Every true server in the modern age is working with the human soul far more than with the matter aspect (though this, too, cannot be neglected). |
c. Đối với những người làm việc với linh hồn của con người. Mọi người phụng sự chân chính trong thời hiện đại đều đang làm việc với linh hồn con người nhiều hơn rất nhiều so với phương diện vật chất (dù điều này cũng không thể bị bỏ quên). |
|
25. It is clear that we have entered an area of the book in which the focus will be quite definitely upon the inner, subjective Self. |
25. Rõ ràng là chúng ta đã bước vào một phần của quyển sách trong đó trọng tâm sẽ khá dứt khoát đặt vào Bản Ngã bên trong, chủ quan. |
|
The reason for this is because in the due comprehension of this subject, that of the Ego functioning in the causal body, comes the ability to work scientifically with the problem of one’s own evolution, and to do good work in aiding the evolution of one’s brother. |
Lý do của điều này là vì trong sự thấu hiểu đúng đắn chủ đề này, tức chủ đề về Chân ngã hoạt động trong thể nguyên nhân, nảy sinh khả năng làm việc một cách khoa học với vấn đề tiến hoá của chính mình, và làm tốt công việc trợ giúp sự tiến hoá của huynh đệ mình. |
|
21. The matter is so entirely practical. Which one of us would not seek to be able to work scientifically with the problem of our evolution or to do good work in aiding our brothers? The implication, of course, is that presently we do not really work scientifically with the problem of our own evolution. |
21. Vấn đề hoàn toàn thực tiễn đến thế. Ai trong chúng ta lại không muốn có khả năng làm việc một cách khoa học với vấn đề tiến hoá của mình hay làm tốt công việc trợ giúp các huynh đệ của mình? Dĩ nhiên, hàm ý là hiện nay chúng ta chưa thực sự làm việc một cách khoa học với vấn đề tiến hoá của chính mình. |
|
22. We note that the Ego functions in the causal body. The Ego and the causal body are not the same. The Ego is a particular focus in consciousness, whereas the causal body is the vehicle of the Identity which sustains that focus. |
22. Chúng ta lưu ý rằng Chân ngã hoạt động trong thể nguyên nhân. Chân ngã và thể nguyên nhân không phải là một. Chân ngã là một điểm tập trung đặc thù trong tâm thức, trong khi thể nguyên nhân là vận cụ của Bản Sắc duy trì điểm tập trung ấy. |
|
23. We might consider the egoic lotus as the inner mechanism within the causal body and the causal body more as the radiation of the egoic lotus. |
23. Chúng ta có thể xem hoa sen chân ngã như bộ máy bên trong của thể nguyên nhân và thể nguyên nhân như bức xạ của hoa sen chân ngã nhiều hơn. |
|
1. Egoic manifestation is produced through the medium of two fires. |
1. Biểu hiện chân ngã được tạo ra thông qua trung gian của hai ngọn lửa. |
|
Let us therefore consider somewhat the subject of the egoic Ray and the causal body, viewing it from the standpoint of the microcosm, and leaving the student to work out for himself the analogies where the Logos is concerned, |
Vì vậy, chúng ta hãy xét phần nào chủ đề về cung chân ngã và thể nguyên nhân, nhìn nó từ quan điểm của tiểu thiên địa, và để cho đạo sinh tự mình tìm ra các tương đồng khi Logos được xét đến, |
|
24. By now we have become accustomed to doing this. Such exercises will be standard in the new esoteric schools. |
24. Đến nay chúng ta đã quen với việc làm điều này. Những bài tập như thế sẽ là tiêu chuẩn trong các trường huyền bí học mới. |
|
conjuring him to bear in mind that the analogy must ever be drawn with due emphasis upon the fact that all that the human unit can comprehend is the manifestation of the solar Logos in a physical body. |
conđồng thời khẩn khoản y ghi nhớ rằng sự tương đồng luôn phải được rút ra với sự nhấn mạnh thích đáng vào sự kiện rằng tất cả những gì đơn vị nhân loại có thể hiểu được là biểu hiện của Thái dương Thượng đế trong một thể xác. |
|
25. This means that our comprehension is limited to our solar system, for the cosmic physical plane is the physical-etheric body of the Solar Logos. |
25. Điều này có nghĩa là sự hiểu biết của chúng ta bị giới hạn trong hệ mặt trời của chúng ta, vì cõi hồng trần vũ trụ là thể hồng trần-dĩ thái của Thái dương Thượng đế. |
|
26. Even such comprehension is far beyond the ability of the human mind as presently cultivated. The logoic physical body includes the cosmic ethers whereon man’s true spiritual and even “divine” development takes place. |
26. Ngay cả sự hiểu biết như thế cũng vượt xa khả năng của trí tuệ con người như hiện đang được phát triển. Thể xác logoic bao gồm các dĩ thái vũ trụ, nơi sự phát triển tinh thần chân chính và thậm chí cả sự phát triển “thiêng liêng” của con người diễn ra. |
|
In all manifestation, as we well know, we have duality producing triplicity. Spirit meets and contacts matter; the result of that contact is the birth of the Son, or the Ego, the consciousness aspect. |
Trong mọi biểu hiện, như chúng ta đều biết rõ, chúng ta có nhị nguyên tính tạo ra bộ ba. Tinh thần gặp gỡ và tiếp xúc với vật chất; kết quả của sự tiếp xúc đó là sự ra đời của Con, hay Chân ngã, phương diện tâm thức. |
|
27. Consciousness exists on all levels and is a universal principle. Yet, in man the microcosm, the focus of consciousness upon the higher mental plane (and later upon the triadal levels) is called the Ego which is particularly related to the consciousness, per se (rather than to action and to will). |
27. Tâm thức tồn tại trên mọi cấp độ và là một nguyên khí phổ quát. Tuy nhiên, nơi con người, tiểu thiên địa, điểm tập trung của tâm thức trên cõi thượng trí (và về sau trên các cấp độ tam nguyên tinh thần) được gọi là Chân ngã, vốn đặc biệt liên hệ với chính tâm thức (hơn là với hoạt động và ý chí). |
|
The egoic manifestation is therefore the middle aspect, the place of at-one-ment, [Page 506] and (after due evolutionary cycles) the place of balance, or of equilibrium. |
Do đó, biểu hiện chân ngã là phương diện trung gian, nơi của sự hợp nhất, [Page 506] và (sau những chu kỳ tiến hoá thích đáng) là nơi của sự quân bình, hay cân bằng. |
|
28. The three factors mentioned are at-one-ment, balance and equilibrium. |
28. Ba yếu tố được nêu là sự hợp nhất, sự quân bình và sự cân bằng. |
|
29. The Libran nature of egoic manifestation must be evident. As well, it is connected with the fourth ray and the fourth systemic Law of Magnetic Control. |
29. Bản chất Thiên Bình của biểu hiện chân ngã hẳn phải rõ ràng. Đồng thời, nó cũng liên hệ với cung bốn và Định luật Xung Động Từ Tính hệ thống thứ tư. |
|
30. One who demonstrates as a soul has fused will, love-wisdom and activity. |
30. Người biểu lộ như một linh hồn đã dung hợp ý chí, Bác Ái – Minh Triết và hoạt động. |
|
It should be noted that the analogy between the Logos and man is not accurate, |
Cần lưu ý rằng sự tương đồng giữa Logos và con người không chính xác, |
|
31. At least not strictly so… |
31. Ít nhất không phải theo nghĩa nghiêm ngặt… |
|
for man has to undergo the whole process within the solar periphery, whilst the Logos (within that periphery) goes through the stage analogous to that which the man undergoes when his astral sheath clothes itself with etheric matter and he takes physical incarnation, which was touched upon when considering the subject of “Fire by friction.” |
vì con người phải trải qua toàn bộ tiếntrình bên trong chu vi thái dương, trong khi Logos (bên trong chu vi đó) trải qua giai đoạn tương tự với giai đoạn mà con người trải qua khi vỏ bọc cảm dục của y khoác lấy vật chất dĩ thái và y lâm phàm hồng trần, điều đã được đề cập khi xem xét chủ đề “Lửa ma sát.” |
|
32. The astral body of the Logos is found upon the cosmic astral plane. It seems that DK is speaking of the relationship between the cosmic astral body of the Solar Logos and His cosmic etheric body (found within the solar system—or “solar periphery”—whereas His astral body is not). |
32. Thể cảm dục của Logos được tìm thấy trên cõi cảm dục vũ trụ. Dường như Chân sư DK đang nói về mối liên hệ giữa thể cảm dục vũ trụ của Thái dương Thượng đế và thể dĩ thái vũ trụ của Ngài (được tìm thấy bên trong hệ mặt trời—hay “chu vi thái dương”—trong khi thể cảm dục của Ngài thì không). |
|
33. DK is simply stating that there is more to the Solar Logos than is found within His solar system, just as there is more to a human being than is found within his etheric-physical body. |
33. Chân sư DK chỉ đơn giản nói rằng nơi Thái dương Thượng đế có nhiều hơn những gì được tìm thấy bên trong hệ mặt trời của Ngài, cũng như nơi một con người có nhiều hơn những gì được tìm thấy trong thể dĩ thái-hồng trần của y. |
|
It will consequently be apparent that, in considering the manifestation of the Ego, we are dealing with the point of central emphasis in man’s threefold manifestation. |
Do đó, sẽ hiển nhiên rằng, khi xem xét biểu hiện của Chân ngã, chúng ta đang đề cập đến điểm nhấn mạnh trung tâm trong biểu hiện tam phân của con người. |
|
34. Entering into rapport with this point of “central emphasis” is the next objective before the human race, and humanity’s readiness for the first initiation signals also a readiness to achieve this objective. |
34. Việc đi vào tương giao với điểm “nhấn mạnh trung tâm” này là mục tiêu kế tiếp trước mắt nhân loại, và sự sẵn sàng của nhân loại cho lần điểm đạo thứ nhất cũng báo hiệu sự sẵn sàng để đạt được mục tiêu này. |
|
We are concerning ourselves with that division of his nature which concerns the process of making him the perfect six-pointed star during the preliminary stage (the threefold personality and the threefold Triad merged and blended and perfectly produced through the intermediate point the causal body) and which, when the physical body is eliminated, makes him the five-pointed star or perfected manasaputra. |
Chúng ta đang đề cập đến phân bộ ấy trong bản chất của y, phân bộ liên quan đến tiến trình làm cho y trở thành ngôi sao sáu cánh hoàn hảo trong giai đoạn sơ khởi (phàm ngã tam phân và Tam nguyên tinh thần tam phân được hợp nhất và dung hợp, và qua điểm trung gian là thể nguyên nhân mà được tạo thành một cách hoàn hảo) và phân bộ ấy, khi thể xác bị loại bỏ, làm cho y trở thành ngôi sao năm cánh hay manasaputra hoàn hảo. |
|
35. This is perhaps the clearest explanation of the meaning of the five-pointed and six-pointed stars and of the difference between them. |
35. Đây có lẽ là lời giải thích rõ ràng nhất về ý nghĩa của ngôi sao năm cánh và sáu cánh, cũng như về sự khác biệt giữa chúng. |
|
36. The six-pointed star or Seal of Solomon has many meanings, some of the foremost of them, astrological. That star can also be taken as a symbol for the Monad (‘located’ on the sixth sub-plane of the cosmic physical plane). |
36. Ngôi sao sáu cánh hay Ấn Triện Solomon có nhiều ý nghĩa, trong đó một số ý nghĩa nổi bật nhất là thuộc chiêm tinh học. Ngôi sao ấy cũng có thể được xem như một biểu tượng của chân thần (“tọa lạc” trên cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ). |
|
37. Which is the superior type of star? It all depends upon the perspective from which one considers the question. The six-pointed star is the star of the deva kingdom and the five-pointed star, the star of man. |
37. Loại ngôi sao nào là cao hơn? Điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào góc nhìn từ đó người ta xét câu hỏi này. Ngôi sao sáu cánh là ngôi sao của giới thiên thần, còn ngôi sao năm cánh là ngôi sao của con người. |
|
38. It is as if spiritual progress moves from the six-pointed star through the five-pointed start to yet another (and higher) six-pointed star. Even the concrete mind (as the sixth sense) can be conceived as a six-pointed star. |
38. Dường như sự tiến bộ tinh thần chuyển động từ ngôi sao sáu cánh qua ngôi sao năm cánh đến một ngôi sao sáu cánh khác nữa (và cao hơn). Ngay cả trí cụ thể (với tư cách là giác quan thứ sáu) cũng có thể được quan niệm như một ngôi sao sáu cánh. |
|
39. We notice one factor of great importance—the elimination of the physical body (in this case, it seems, including the etheric-physical body) renders man the “perfected manasaputra”. This elimination occurs at the fourth initiation (at which time the physical body is no longer necessary because physical incarnation is no longer necessary). The Solar Angel (considered as a manasaputra) has ‘flown’ back to the Sun and man has become, in its place, a “perfected manasaputra”. |
39. Chúng ta lưu ý một yếu tố hết sức quan trọng—việc loại bỏ thể xác (trong trường hợp này, dường như bao gồm cả thể dĩ thái-hồng trần) khiến con người trở thành “manasaputra hoàn hảo”. Sự loại bỏ này xảy ra ở lần điểm đạo thứ tư (vào lúc ấy thể xác không còn cần thiết nữa vì sự lâm phàm hồng trần không còn cần thiết nữa). Thái dương Thiên Thần (được xem như một manasaputra) đã “bay” trở về Mặt Trời và con người, thay vào chỗ đó, đã trở thành một “manasaputra hoàn hảo”. |
|
40. Sometimes the six-pointed star is pictured with a point at its center. As we see from the section above, that central point can indicate the causal body or the “Jewel in the Lotus”. |
40. Đôi khi ngôi sao sáu cánh được mô tả với một điểm ở trung tâm. Như chúng ta thấy từ phần trên, điểm trung tâm ấy có thể chỉ thể nguyên nhân hoặc “Viên Ngọc trong Hoa Sen”. |
|
41. If we suppose that the central point is elevated over all the other points of the star, then it can signify the Monad (who is truly the one within the six). |
41. Nếu chúng ta giả định rằng điểm trung tâm được nâng cao hơn tất cả các điểm khác của ngôi sao, thì nó có thể biểu thị chân thần (đấng thực sự là một ở bên trong sáu). |
|
42. From a planar perspective, the point in the center can represent the “Sea of Fire” which lies ‘within’ the six other planes—second third and fourth intersecting with the fifth, sixth and seventh. |
42. Từ góc độ các cõi, điểm ở trung tâm có thể tượng trưng cho “Biển Lửa” nằm “bên trong” sáu cõi kia—cõi thứ hai, thứ ba và thứ tư giao nhau với cõi thứ năm, thứ sáu và thứ bảy. |
|
43. There are may ways to count and to envision. Meaning depends upon the angle of vision. |
43. Có nhiều cách để đếm và để hình dung. Ý nghĩa tùy thuộc vào góc độ tầm nhìn. |
|
To state the whole in terms of fire: The causal body is produced by means of the positive life, or fire, |
Để phát biểu toàn bộ theo thuật ngữ của lửa: Thể nguyên nhân được tạothành nhờ sự sống dương, hay lửa, |
|
44. We note that “life” and “fire” can be considered equivalent. |
44. Chúng ta lưu ý rằng “sự sống” và “lửa” có thể được xem là tương đương. |
|
of the Spirit (electric fire) meeting the negative fire of matter, or “fire by friction”; this causes the blazing forth of solar fire. |
của Tinh thần (Lửa Điện) gặp lửa âm của vật chất, hay “Lửa ma sát”; điều này gây nên sự bùng cháy của Lửa Thái dương. |
|
45. We are speaking in symbols for the sake of convenience. The actual technicalities must be far more difficult to comprehend than the most abstruse formulas of present-day theoretical physics. We are only in the beginning stages of lifting the veil on true occult dynamics. |
45. Chúng ta đang nói bằng biểu tượng cho tiện. Các chi tiết kỹ thuật thực sự hẳn khó hiểu hơn nhiều so với những công thức uyên áo nhất của vật lý lý thuyết hiện đại. Chúng ta mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu của việc vén màn động lực học huyền bí chân chính. |
|
46. What are the actual types of motions and relationships which both distinguish and characterize the three fires? One day the revelation will be made. |
46. Những loại chuyển động và tương quan thực sự nào vừa phân biệt vừa đặc trưng cho ba loại lửa? Một ngày kia sự mặc khải sẽ được ban ra. |
|
This central blaze inevitably in due course burns up the third fire, or absorbs its essence, and is itself eventually blended with the fire of Spirit and passes out of objective display. |
Ngọn lửa trung tâm này tất yếu đến đúng lúc sẽ thiêu hủy ngọn lửa thứ ba, hay hấp thụ tinh chất của nó, và bản thân nó cuối cùng cũng được dung hợp với lửa của Tinh thần và ra khỏi sự biểu lộ khách quan. |
|
47. When we read of one fire being burnt up by another, what does it mean? We are given at least a little explanation. That burning is really an absorption of essence. Nothing essential is really destroyed. |
47. Khi chúng ta đọc rằng một ngọn lửa bị một ngọn lửa khác thiêu hủy, điều đó có nghĩa là gì? Ít nhất chúng ta cũng được cho một chút giải thích. Sự thiêu hủy ấy thực ra là một sự hấp thụ tinh chất. Không có gì cốt yếu thực sự bị hủy diệt. |
|
48. The solar fire absorbs fire by friction and is eventually blended with the fire of Spirit. |
48. Lửa Thái dương hấp thụ Lửa ma sát và cuối cùng được dung hợp với lửa của Tinh thần. |
|
49. The human being (unaware of the technicalities of the process) notices significant changes in his consciousness and in his powers to act. He also notices that he is far less preoccupied with things material, though his ability to manage them will increase rather than decrease. |
49. Con người (không biết các chi tiết kỹ thuật của tiến trình) nhận thấy những thay đổi đáng kể trong tâm thức của y và trong các năng lực hành động của y. Y cũng nhận thấy rằng mình ít bận tâm hơn nhiều đến những sự vật vật chất, dù khả năng quản lý chúng của y sẽ tăng lên chứ không giảm đi. |
|
I seek here to deal with the subject of the causal body in two different ways—one along the old lines and the other strictly along the lines of occult electrical phenomena. |
Ở đây tôi tìm cách bàn đến chủ đề thể nguyên nhân theo hai cách khác nhau—một cách theo lối cũ và cách kia hoàn toàn theo đường lối của các hiện tượng điện huyền bí. |
|
50. Through a study of our text, it must be apparent to us that a true study of occultism is inseparable from a deep study of the science of electricity—occultly considered. Thus are the first and fifth rays blended, for the first ray is the ray of the occultist and the fifth ray, the ray of those who most deeply understands electricity. |
50. Qua việc nghiên cứu bản văn của chúng ta, hẳn phải rõ rằng một sự nghiên cứu chân chính về huyền bí học không thể tách rời khỏi một sự nghiên cứu sâu sắc về khoa học điện—được xét một cách huyền bí. Như vậy cung một và cung năm được dung hợp, vì cung một là cung của nhà huyền bí học và cung năm là cung của những người thấu hiểu điện một cách sâu sắc nhất. |
|
51. It seems that DK would have us learn to relate the new presentation to the one with which we are long familiar. In this way knowledge expands and yet the best of the old presentation is preserved. |
51. Dường như Chân sư DK muốn chúng ta học cách liên hệ cách trình bày mới với cách trình bày mà chúng ta đã quen thuộc từ lâu. Theo cách này, tri thức được mở rộng mà phần tốt nhất của cách trình bày cũ vẫn được bảo tồn. |
|
2. Egoic manifestation is produced at individualisation. |
2. Biểu hiện chân ngã được tạo ra vào lúc biệt ngã hóa. |
|
The causal body is that sheath of mental substance which is formed at the moment of individualisation by [Page 507] the contact of the two fires. |
Thể nguyên nhân là lớp vỏ bằng chất liệu trí tuệ được hình thành vào khoảnh khắc biệt ngã hóa bởi [Page 507] sự tiếp xúc của hai loại lửa. |
|
52. The causal body is initially formed in a moment of time (though its unfoldment is gradual over millions of years). |
52. Thể nguyên nhân lúc đầu được hình thành trong một khoảnh khắc thời gian (dù sự khai mở của nó diễn ra dần dần qua hàng triệu năm). |
|
53. The vehicle itself is formed of mental substance—namely the substance of the higher mental plane. |
53. Chính vận cụ này được tạo thành từ chất liệu trí tuệ—tức là chất liệu của Cõi thượng trí. |
|
The force or energy that pours through from the higher planes (the breath of the Monad, if you care so to term it) produces a vacuum, or something analogous to a bubble in koilon, and the sheath of the causal body—the ring-pass-not of the central Life is formed. |
Mãnh lực hay năng lượng tuôn xuống từ các cõi cao hơn ( hơi thở của chân thần, nếu bạn muốn gọi như vậy) tạo ra một khoảng chân không, hay một cái gì đó tương tự như một bong bóng trong koilon, và lớp vỏ của thể nguyên nhân—vòng-giới-hạn của Sự sống trung tâm—được hình thành. |
|
54. This is actually a most technical explanation. |
54. Đây thực sự là một lời giải thích hết sức kỹ thuật. |
|
55. From it, we see that the Monad is, indeed, involved in the formation of the causal body and not the Solar Angel alone. |
55. Từ đó, chúng ta thấy rằng chân thần quả thật có dự phần vào sự hình thành thể nguyên nhân chứ không chỉ riêng Thái dương Thiên Thần. |
|
56. There is an equivalence between force, energy and “breath”. |
56. Có một sự tương đương giữa mãnh lực, năng lượng và “hơi thở”. |
|
57. It would seem that this vacuum is formed within mental matter. |
57. Dường như khoảng chân không này được hình thành bên trong vật chất trí tuệ. |
|
58. A bubble in the koilon (we may remember) is the smallest unit of matter found upon the cosmic physical plane and is, actually, a vacuity in what we call “Mulaprakriti” (or “Root Matter”)—at least, Mulaprakriti of some kind, whether absolutely pure or not. |
58. Một bong bóng trong koilon (như chúng ta có thể nhớ) là đơn vị vật chất nhỏ nhất được tìm thấy trên cõi hồng trần vũ trụ và thực ra là một khoảng trống trong cái mà chúng ta gọi là “Mulaprakriti” (hay “Vật Chất Căn Bản”)—ít nhất là một loại Mulaprakriti nào đó, dù tuyệt đối thuần khiết hay không. |
|
59. The idea we are to hold in mind is that the sheath of the causal body arises from the monadically inspired formation of a vacuum. |
59. Ý tưởng mà chúng ta phải giữ trong trí là lớp vỏ của thể nguyên nhân phát sinh từ sự hình thành một khoảng chân không do chân thần truyền cảm hứng. |
|
60. It is also suggested that the “central life” at the heart of the causal body is, indeed, the Monad (or an attenuated presence of the Monad), which has entered the vacuum on the monadic breath. |
60. Cũng có gợi ý rằng “sự sống trung tâm” ở trung tâm thể nguyên nhân quả thật là chân thần (hoặc một sự hiện diện được làm mỏng đi của chân thần), đã đi vào khoảng chân không trên hơi thở chân thần. |
|
61. What is this vacuum? Is it a kind of ‘pressing back’ of the matter of the higher mental plane so that the presence of the Monad and of the triad can establish themselves upon and within a lower plane—in this case the higher mental plane? |
61. Khoảng chân không này là gì? Có phải đó là một kiểu “đẩy lùi” vật chất của Cõi thượng trí để sự hiện diện của chân thần và của tam nguyên tinh thần có thể thiết lập chính mình trên và trong một cõi thấp hơn—trong trường hợp này là Cõi thượng trí? |
|
62. We do know that if we wish a higher energy to enter the field of a lower energy, the process is facilitated through the presence of a vacuum. ‘Emptiness’ precedes ‘filling’. |
62. Chúng ta quả thật biết rằng nếu muốn một năng lượng cao hơn đi vào trường của một năng lượng thấp hơn, tiến trình ấy được tạo thuận lợi nhờ sự hiện diện của một khoảng chân không. “Sự trống không” đi trước “sự lấp đầy”. |
|
63. So two approaches are indicated: |
63. Vì vậy, có hai cách tiếp cận được nêu ra: |
|
a. Force from above produces the vacuum |
a. Mãnh lực từ trên tạo ra khoảng chân không |
|
b. And the creation of a vacuum induces the flow of forces from above. |
b. Và việc tạo ra một khoảng chân không gây ra dòng chảy của các mãnh lực từ trên xuống. |
|
64. One practical way of producing a vacuum is the psycho-spiritual expedient of ‘emptying’ one’s consciousness of all that is unnecessary. Essentialization in life produces ‘vacuum-like’ conditions. |
64. Một cách thực tiễn để tạo ra khoảng chân không là biện pháp tâm lý-tinh thần là “làm trống” tâm thức của mình khỏi mọi điều không cần thiết. Sự tinh yếu hóa trong đời sống tạo ra những điều kiện “giống như chân không”. |
|
Within this sheath are to be found three atoms, which have been termed the mental unit, the astral permanent atom and the physical permanent atom; |
Bên trong lớp vỏ này có thể tìm thấy ba nguyên tử, được gọi là đơn vị hạ trí, nguyên tử trường tồn cảm dục và nguyên tử trường tồn hồng trần; |
|
65. The sheath must, indeed, be ‘expansive’ if three points of focus (not resident to the higher mental plane) are to be found “within” it. That this can be so is dependent upon the interpenetration of the planes. |
65. Lớp vỏ này quả thật phải có tính “mở rộng” nếu ba điểm tập trung ấy (không cư trú trên Cõi thượng trí) lại có thể được tìm thấy “bên trong” nó. Điều này có thể xảy ra là nhờ sự xuyên thấu lẫn nhau của các cõi. |
|
66. We understand that the higher mental plane, although technically “arupa”, is still a plane of form and has its own methods of indicating position and location. |
66. Chúng ta hiểu rằng Cõi thượng trí, dù về mặt kỹ thuật là “arupa”, vẫn là một cõi của hình tướng và có những phương pháp riêng để chỉ vị trí và nơi chốn. |
|
they correspond individually to the seventh principle of each of the three persons of the microcosmic triad, |
chúng tương ứng riêng rẽ với nguyên khí thứ bảy của mỗi một trong ba ngôi vị của tam nguyên tinh thần tiểu thiên địa, |
|
67. The microcosmic triad consists of the physical-etheric, astral and lower mental natures. |
67. Tam nguyên tinh thần tiểu thiên địa gồm các bản chất hồng trần-dĩ thái, cảm dục và hạ trí. |
|
68. The seventh of seven principles is usually called “atma”. We are being told that the permanent atoms hold a high place in relation to the three lower vehicles and that, through them, the energy of will (the energy associated with the seventh principle) can be transmitted. |
68. Nguyên khí thứ bảy trong bảy nguyên khí thường được gọi là “atma”. Chúng ta đang được cho biết rằng các nguyên tử trường tồn giữ một vị trí cao trong tương quan với ba vận cụ thấp và rằng, qua chúng, năng lượng ý chí (năng lượng gắn với nguyên khí thứ bảy) có thể được truyền dẫn. |
|
a reflection (in the three worlds of the microcosm) of the three Persons of the logoic Trinity. |
một sự phản chiếu (trong ba cõi thấp của tiểu thiên địa) của Ba Ngôi của Tam Vị logoi. |
|
69. The value of our lower vehicles and their principles must never be utterly minimized. These vehicles reflect great divine factors. |
69. Giá trị của các vận cụ thấp của chúng ta và các nguyên khí của chúng không bao giờ được bị hạ thấp hoàn toàn. Những vận cụ này phản chiếu các yếu tố thiêng liêng vĩ đại. |
|
H. P. B. hints at this in connection with the Logos when she speaks of the visible sun being the seventh principle of the Brahma aspect, the physical permanent atom of the Logos.65, S. D., III, 143. 66: S. D., I, 574. |
H. P. B. gợi ý điều này liên quan đến Thượng đế khi bà nói về mặt trời hữu hình là nguyên khí thứ bảy của phương diện Brahma, nguyên tử trường tồn hồng trần của Logos.65, S. D., III, 143. 66: S. D., I, 574. |
|
70. This is another amazing thought. It leads one to think that the apparently physical sun is very etheric in nature. We realize that physical permanent atoms are found on etheric levels. |
70. Đây là một tư tưởng đáng kinh ngạc khác. Nó khiến người ta nghĩ rằng mặt trời có vẻ như hồng trần ấy thực ra có bản chất rất dĩ thái. Chúng ta nhận ra rằng các nguyên tử trường tồn hồng trần được tìm thấy trên các cấp độ dĩ thái. |
|
71. When we witness the blaze of the physical Sun, are we witnessing an essentially etheric blaze? |
71. Khi chúng ta chứng kiến ngọn lửa chói sáng của Mặt Trời hồng trần, có phải chúng ta đang chứng kiến một ngọn lửa về bản chất là dĩ thái không? |
|
72. From another perspective, we are told that Saturn corresponds to the physical permanent atom of the cosmic physical plane. (cf. TCF 406) |
72. Từ một góc nhìn khác, chúng ta được cho biết rằng Sao Thổ tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần của cõi hồng trần vũ trụ. (xem TCF 406) |
|
73. Of course, we must be careful of the manner in which we interpret the “Brahma aspect”. It may be etheric-physical or it may be far more. |
73. Dĩ nhiên, chúng ta phải cẩn trọng trong cách diễn giải “phương diện Brahma”. Nó có thể là dĩ thái-hồng trần hoặc có thể còn nhiều hơn thế. |
|
74. In any case, we realize that there are three aspects connected with the Solar Logos as with all other E/entities. The physical sun represents one of these aspects (the lowest); the Heart of the Sun represents the Vishnu aspect and the Central Spiritual Sun the Shivic aspect. |
74. Dù sao đi nữa, chúng ta nhận ra rằng có ba phương diện liên hệ với Thái dương Thượng đế cũng như với mọi Thực Thể khác. Mặt trời hồng trần tượng trưng cho một trong các phương diện ấy (phương diện thấp nhất); Trái Tim của Mặt Trời tượng trưng cho phương diện Vishnu và Mặt trời Tinh thần Trung Ương tượng trưng cho phương diện Shivic. |
|
II. THE NATURE OF THE PERMANENT ATOMS |
II. BẢN CHẤT CỦA CÁC NGUYÊN TỬ TRƯỜNG TỒN |
|
75. We now enter a subject in which students of esotericism and occultism have evidence a great deal of interest. At various points in the discussion, however, we shall find Master DK warning us about too avid an interest in these very material matters. |
75. Giờ đây chúng ta đi vào một chủ đề mà các đạo sinh của huyền bí học và huyền bí học đã tỏ ra rất quan tâm. Tuy nhiên, ở nhiều điểm trong cuộc thảo luận, chúng ta sẽ thấy Chân sư DK cảnh báo chúng ta về một sự quan tâm quá háo hức đối với những vấn đề rất vật chất này. |
|
1. The purpose of the permanent atoms. |
1. Mục đích của các nguyên tử trường tồn. |
|
The three permanent atoms are in themselves centres of force, or those aspects of the personality which hold hid the fires of substance, or of objectivity; |
Ba nguyên tử trường tồn tự thân là những trung tâm mãnh lực, hay là những phương diện của phàm ngã che giấu các ngọn lửa của chất liệu, hay của tính khách quan; |
|
76. We must be watchful here. Sometimes all members of the atomic triangle are called “permanent atoms”, even though one of them is incomplete as a permanent atom and is, rather, a “unit”—the mental unit. |
76. Ở đây chúng ta phải cảnh giác. Đôi khi mọi thành viên của tam giác nguyên tử đều được gọi là “các nguyên tử trường tồn”, dù một trong số đó không hoàn chỉnh như một nguyên tử trường tồn mà đúng hơn là một “đơn vị”—đơn vị hạ trí. |
|
77. Since permanent atoms are “centers of force” they can affect the entirety of the vehicle of which they are the root cause. |
77. Vì các nguyên tử trường tồn là “những trung tâm mãnh lực”, chúng có thể ảnh hưởng đến toàn bộ vận cụ mà chúng là nguyên nhân gốc rễ. |
|
78. We note that “fires” are to be found within the permanent atoms. Fires of substance are also found within the vehicles. The origin of these fires seems to be within the permanent atoms. |
78. Chúng ta lưu ý rằng các “ngọn lửa” được tìm thấy bên trong các nguyên tử trường tồn. Các ngọn lửa của chất liệu cũng được tìm thấy bên trong các vận cụ. Nguồn gốc của các ngọn lửa này dường như nằm trong các nguyên tử trường tồn. |
|
79. It would seem that fires higher than the fires of lower substance can impact the permanent atoms, for the permanent atoms of the atomic triangle are representatives of the higher principles which express in the “Fiery World” of the cosmic ethers. Yet, the permanent atoms are primarily expressions of the “fires of substance, or of objectivity”. |
79. Dường như những ngọn lửa cao hơn các ngọn lửa của chất liệu thấp có thể tác động lên các nguyên tử trường tồn, vì các nguyên tử trường tồn của tam giác nguyên tử là những đại diện của các nguyên khí cao hơn biểu lộ trong “Thế Giới Lửa” của các dĩ thái vũ trụ. Tuy nhiên, các nguyên tử trường tồn chủ yếu là những biểu hiện của “các ngọn lửa của chất liệu, hay của tính khách quan”. |
|
it cannot be too strongly pointed out at this juncture that, in considering the threefold man in the three worlds, we are dealing with substance which (in connection with logoic manifestation) is considered the dense physical. |
Ở thời điểm này, không thể nhấn mạnh quá mức rằng khi xét con người tam phân trong ba cõi thấp, chúng ta đang đề cập đến chất liệu mà (liên hệ với biểu hiện logoi) được xem là hồng trần đậm đặc. |
|
80. The point is easily forgotten. To the Solar Logos, the twenty-one lower sub-planes are His dense physical nature. His etheric nature expresses through the twenty-eight higher sub-planes of the cosmic physical plane. |
80. Điểm này rất dễ bị quên. Đối với Thái dương Thượng đế, hai mươi mốt cõi phụ thấp là bản chất hồng trần đậm đặc của Ngài. Bản chất dĩ thái của Ngài biểu lộ qua hai mươi tám cõi phụ cao của cõi hồng trần vũ trụ. |
|
81. We might say that until man becomes polarized completely within the spiritual triad, he is confined to the dense physical vehicle of the Solar Logos which, cosmically considered, is not a principle. |
81. Chúng ta có thể nói rằng cho đến khi con người phân cực hoàn toàn trong Tam Nguyên Tinh Thần, y vẫn bị giới hạn trong vận cụ hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế, vốn xét theo vũ trụ không phải là một nguyên khí. |
|
82. That confinement ends with the fourth initiation. |
82. Sự giới hạn ấy chấm dứt ở lần điểm đạo thứ tư. |
|
Surrounding these three atoms is the causal sheath, answering the following purposes: |
Bao quanh ba nguyên tử này là lớp vỏ nguyên nhân, đápứng các mục đích sau đây: |
|
83. This “surrounding” is achieved through extension. We have already noted that the substance of the causal body and the substance of the three points in the atomic triangle are not co-substantial (i.e., of the same substance). |
83. Sự “bao quanh” này đạt được nhờ sự mở rộng. Chúng ta đã lưu ý rằng chất liệu của thể nguyên nhân và chất liệu của ba điểm trong tam giác nguyên tử không đồng chất liệu (tức là không cùng một chất liệu). |
|
It separates one unit of egoic consciousness from another unit of consciousness, |
Nó tách biệt một đơn vị tâm thức chân ngã khỏi một đơn vị tâm thức khác, |
|
84. This separation is necessary for the growth of individualized consciousnesses. On progressively higher planes, the factor of separation is less and less distinct. |
84. Sự tách biệt này là cần thiết cho sự tăng trưởng của các tâm thức đã biệt ngã hóa. Trên các cõi ngày càng cao hơn, yếu tố tách biệt ngày càng ít rõ rệt hơn. |
|
85. For those with causal consciousness, although separation of causal units is perceived, an enveloping unity is also perceived. |
85. Đối với những ai có tâm thức nguyên nhân, dù sự tách biệt của các đơn vị nguyên nhân được nhận biết, một sự hợp nhất bao trùm cũng được nhận biết. |
|
yet is itself part of the gaseous body (the fifth cosmic physical subplane) in the physical body of the planetary Logos, Who is the central life of any particular group of Monads. |
nhưng bản thân nó lại là một phần của thể khí (cõi phụ hồng trần vũ trụ thứ năm) trong thể xác của Đức Hành Tinh Thượng Đế, Đấng là sự sống trung tâm của bất kỳ nhóm chân thần đặc thù nào. |
|
86. This is an important point. May we say that each Planetary Logos is the “central life” of a “particular group of Monads”? |
86. Đây là một điểm quan trọng. Chúng ta có thể nói rằng mỗi Đức Hành Tinh Thượng Đế là “sự sống trung tâm” của một “nhóm chân thần đặc thù” chăng? |
|
87. The relationship of a Planetary Logos to a group of Monads would occur on the basis of identical ray. |
87. Mối liên hệ của một Đức Hành Tinh Thượng Đế với một nhóm chân thần sẽ xảy ra trên cơ sở đồng nhất về cung. |
|
88. Yet, from another perspective, it could be said, for instance, that the Planetary Logos of the Earth-scheme is the “central life” of all Monads which express through the Earth-scheme. Each group of human Monads goes to the constitution of one or other of seven centers upon the monadic plane. The centers (as regards the human kingdom) are probably the throat, heart and head centers. This will depend (we hypothesize) not only upon the monadic ray but upon the point of evolution of the human unit. |
88. Tuy nhiên, từ một góc nhìn khác, chẳng hạn có thể nói rằng Đức Hành Tinh Thượng Đế của hệ hành tinh Địa Cầu là “sự sống trung tâm” của mọi chân thần biểu lộ qua hệ hành tinh Địa Cầu. Mỗi nhóm chân thần nhân loại góp phần cấu thành một trong bảy trung tâm trên cõi chân thần. Các trung tâm ấy (xét theo giới nhân loại) có lẽ là các trung tâm cổ họng, tim và đầu. Điều này sẽ tùy thuộc (theo giả thuyết của chúng ta) không chỉ vào cung chân thần mà còn vào điểm tiến hoá của đơn vị nhân loại. |
|
89. We note that the “gaseous body” is seen to be located in the “physical body of the planetary Logos”. This may be only partially the case, for DK may not here be emphasizing the exact particularities. Although the systemic mental plane is a gaseous sub-plane, we might say that its higher three sub-planes are not located in the strictly physical body of the Planetary Logos, although they are located in the strictly physical body of the Solar Logos. |
89. Chúng ta lưu ý rằng “thể khí” được xem là tọa lạc trong “thể xác của Đức Hành Tinh Thượng Đế”. Điều này có thể chỉ đúng một phần, vì ở đây DK có thể không nhấn mạnh các chi tiết chính xác. Dù cõi trí của hệ là một cõi phụ khí, chúng ta có thể nói rằng ba cõi phụ cao của nó không nằm trong thể hồng trần theo nghĩa chặt chẽ của Đức Hành Tinh Thượng Đế, dù chúng nằm trong thể hồng trần theo nghĩa chặt chẽ của Thái dương Thượng đế. |
|
This fact has been little appreciated, and merits careful consideration. [Page 508] It holds hid spiritual potentialities in its inherent ability to respond to the higher vibration; |
Sự kiện này ít được đánh giá đúng mức, và đáng được xem xét cẩn trọng. [Page 508] Nó che giấu những tiềm năng tinh thần trong khả năng cố hữu của nó để đáp ứng với rung động cao hơn; |
|
90. Why does the causal body hold hid spiritual potentialities? Because it is able to respond to higher vibration. From the various charts we have been given, we realize that the causal body can respond to each aspect of the spiritual triad and also to the Monad. |
90. Tại sao thể nguyên nhân che giấu những tiềm năng tinh thần? Bởi vì nó có thể đáp ứng với rung động cao hơn. Từ các biểu đồ khác nhau đã được trao cho chúng ta, chúng ta nhận ra rằng thể nguyên nhân có thể đáp ứng với mỗi phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần và cả với chân thần. |
|
91. When we, as human beings, respond to the higher vibration we are, potentially, able to respond to the energy of the Planetary Logos Who is the “central life” of that group of Monads within which our Monad is occultly located. |
91. Khi chúng ta, với tư cách những con người, đáp ứng với rung động cao hơn, về tiềm năng chúng ta có thể đáp ứng với năng lượng của Đức Hành Tinh Thượng Đế, Đấng là “sự sống trung tâm” của nhóm chân thần mà trong đó chân thần của chúng ta được đặt vào một cách huyền bí. |
|
92. The power of the Monad is definitely expressive through its heart center, the causal body. This is increasingly the case from the time of the first initiation. |
92. Quyền năng của chân thần chắc chắn biểu lộ qua trung tâm tim của nó, tức thể nguyên nhân. Điều này ngày càng đúng hơn kể từ lần điểm đạo thứ nhất. |
|
from the moment of individualisation till it is discarded at initiation, the life within steadily develops these potentialities, and produces certain definite results by the utilisation of the three permanent atoms. |
từ khoảnh khắc biệt ngã hóa cho đến khi nó bị loạibỏ lúc điểm đạo, sự sống bên trong đều đặn phát triển những tiềm năng này, và tạo ra những kết quả xác định nào đó nhờ việc sử dụng ba nguyên tử trường tồn. |
|
93. The central life within the causal body is the projected or emanated life of the Monad (expressing through the “Jewel in the Lotus”). |
93. Sự sống trung tâm bên trong thể nguyên nhân là sự sống được phóng chiếu hay được phát xạ của chân thần (biểu lộ qua “Viên Ngọc trong Hoa Sen”). |
|
94. How interesting that the causal body is “discarded at initiation”. Why is it not said that the causal body is discarded at the fourth initiation (which is standard knowledge in this matter)? May it be that the process of discarding actually begins at the third degree which, from the hierarchical perspective, is the beginning of the true initiation process? |
94. Thật thú vị khi thể nguyên nhân được “loại bỏ lúc điểm đạo”. Tại sao không nói rằng thể nguyên nhân bị loại bỏ ở lần điểm đạo thứ tư (điều vốn là kiến thức tiêu chuẩn trong vấn đề này)? Có thể nào tiến trình loại bỏ thực sự bắt đầu ở cấp độ thứ ba, vốn theo góc nhìn của Thánh đoàn là sự khởi đầu của tiến trình điểm đạo chân chính? |
|
It [“the life within”] gradually vivifies and awakens them until, on the three planes, the central life has an adequate point of contact which can originate the necessitated vibration in the matter of the plane. |
Nó [“sự sống bên trong”] dần dần tiếp sinh lực và đánh thức chúng cho đến khi, trên ba cõi, sự sống trung tâm có một điểm tiếp xúc thích đáng có thể khởi phát rung động cần thiết trong vật chất của cõi. |
|
95. We are speaking of the manner in which the “central life” of the causal body awakens the permanent atoms until, though them, it can affect the matter of the plane (and sub-planes) with which any particular permanent atom is connected. |
95. Chúng ta đang nói về cách mà “sự sống trung tâm” của thể nguyên nhân đánh thức các nguyên tử trường tồn cho đến khi, qua chúng, nó có thể tác động đến vật chất của cõi (và các cõi phụ) mà bất kỳ nguyên tử trường tồn đặc thù nào có liên hệ. |
|
96. We must remember that it is the Monad which, from the start, appropriated certain atoms and made them “permanent”—i.e., permanently associated with itself, the Monad. The life which gradually vivifies and awakes the permanent atoms is really the life of the Monad, though mediate through the egoic lotus in the causal body. |
96. Chúng ta phải nhớ rằng chính chân thần, ngay từ đầu, đã chiếm dụng một số nguyên tử nhất định và làm cho chúng trở thành “trường tồn”—tức là gắn bó thường trực với chính nó, chân thần. Sự sống dần dần tiếp sinh lực và đánh thức các nguyên tử trường tồn thực ra là sự sống của chân thần, dù được trung gian qua hoa sen chân ngã trong thể nguyên nhân. |
|
The permanent atoms on each plane serve a fourfold purpose as regards the central or egoic life: |
Các nguyên tử trường tồn trên mỗi cõi phục vụ một mục đích tứ phân đối với sự sống trung tâm hay chân ngã: |
|
They are the distributors of a certain type of force. |
Chúng là những bộ phân phối một loại mãnh lực nhất định. |
|
97. This type of force will relate to a specific one of the seven principles which expresses through the vehicle for which the permanent atom is the central point of focus. The mental unit and manasic permanent atom, for instance, will express the principle of manas—whether lower manas or higher manas—a somewhat arbitrary distinction which at a certain point of mental development proves unnecessary. |
97. Loại mãnh lực này sẽ liên hệ với một nguyên khí đặc thù trong bảy nguyên khí, nguyên khí biểu lộ qua vận cụ mà nguyên tử trường tồn là điểm tập trung trung tâm của nó. Chẳng hạn, đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas sẽ biểu lộ nguyên khí manas—dù là hạ manas hay thượng manas—một sự phân biệt phần nào tùy tiện mà ở một điểm nào đó của sự phát triển trí tuệ sẽ chứng tỏ là không cần thiết. |
|
They are the conservers of faculty or ability to respond to a particular vibration. |
Chúng là những kẻ bảo tồn năng lực hay khả năng đáp ứng với một rung động đặc thù. |
|
98. When the ability to respond is learned, that ability is conserved with the permanent atom. We may judge, then, that the participation of the permanent atom is vital to the process of learning. Learning is so closely related to remembering and the permanent atoms are repositories of memory. |
98. Khi khả năng đáp ứng được học hỏi, khả năng ấy được bảo tồn cùng với nguyên tử trường tồn. Khi ấy, chúng ta có thể phán đoán rằng sự tham gia của nguyên tử trường tồn là thiết yếu đối với tiến trình học hỏi. Học hỏi liên hệ rất chặt chẽ với ghi nhớ, và các nguyên tử trường tồn là những kho chứa ký ức. |
|
They are the assimilators of experience and the transmuters of that experience into quality. This is the direct result of the work of the egoic Ray as it plays upon the atom. |
Chúng là những kẻ đồng hóa kinh nghiệm và là những kẻ chuyển hoá kinh nghiệm ấy thành phẩm tính. Đây là kết quả trực tiếp của công việc của cung chân ngã khi nó tác động lên nguyên tử. |
|
99. This is a most important capacity. All that has been experienced is absorbed by the permanent atom. But raw experience, per se, is not yet quality of the kind that can be stored in the causal body. An act of transmutation or of ‘essentialization’ must be performed upon the assimilated experience. |
99. Đây là một năng lực hết sức quan trọng. Tất cả những gì đã được kinh nghiệm đều được nguyên tử trường tồn hấp thụ. Nhưng kinh nghiệm thô, chính nó, chưa phải là phẩm tính thuộc loại có thể được lưu trữ trong thể nguyên nhân. Một hành vi chuyển hoá hay “tinh yếu hóa” phải được thực hiện trên kinh nghiệm đã được đồng hóa. |
|
100. We are learning that the permanent atom can transmute experience into quality only when the “egoic Ray” plays upon the atom. We do not know the manner in which this occurs. We simply know that it requires both the permanent atom and the “egoic Ray” for the task to be accomplished. The vital relationship between the “egoic Ray” and the permanent atoms is to be held in consciousness for clarification. |
100. Chúng ta đang học rằng nguyên tử trường tồn chỉ có thể chuyển hoá kinh nghiệm thành phẩm tính khi “cung chân ngã” tác động lên nguyên tử. Chúng ta không biết cách thức điều này xảy ra. Chúng ta chỉ biết rằng công việc ấy đòi hỏi cả nguyên tử trường tồn lẫn “cung chân ngã” thì mới có thể hoàn thành. Mối liên hệ thiết yếu giữa “cung chân ngã” và các nguyên tử trường tồn cần được giữ trong tâm thức để được làm sáng tỏ. |
|
101. DK is speaking largely in symbols. It becomes clear that the occult physics of these internal transmutative processes are far beyond our grasp. |
101. DK đang nói phần lớn bằng biểu tượng. Rõ ràng là môn vật lý huyền bí của các tiến trình chuyển hoá nội tại này vượt xa tầm nắm bắt của chúng ta. |
|
They hold hid the memory of the unit of consciousness. When fully vibrant they are the raison d’être for the continuity of the consciousness of the man functioning in the causal body. This distinction must be carefully made. |
Chúng che giấu ký ức của đơn vị tâm thức. Khi rung động trọn vẹn, chúng là lý do tồn tại cho tính liên tục của tâm thức của con người đang hoạt động trong thể nguyên nhân. Sự phân biệt này phải được thực hiện cẩn trọng. |
|
102. All that has transpired is capable of retrieval, capable of being remembered. |
102. Tất cả những gì đã xảy ra đều có thể được truy hồi, có thể được nhớ lại. |
|
103. It appears that members of the atomic triangle will only be fully vibrant at that point of development when a man can function in his causal body. When they are fully vibrant and a man can function in his causal body, continuity of consciousnesses is achieved. |
103. Dường như các thành viên của tam giác nguyên tử chỉ hoàn toàn rung động ở điểm phát triển mà tại đó một người có thể hoạt động trong thể nguyên nhân của mình. Khi chúng hoàn toàn rung động và một người có thể hoạt động trong thể nguyên nhân của mình, tính liên tục của tâm thức được đạt tới. |
|
104. We may gather that the ready retrieval of long past memory (for instance, the memory of other incarnations) may be achieved following the third initiation and before the fourth. After the fourth, the permanent atoms and mental unit in the atomic triangle have been destroyed (unless deliberately preserved by some occult process). |
104. Chúng ta có thể suy ra rằng việc truy hồi sẵn sàng ký ức từ quá khứ xa xưa (chẳng hạn ký ức về các lần nhập thể khác) có thể đạt được sau lần điểm đạo thứ ba và trước lần điểm đạo thứ tư. Sau lần điểm đạo thứ tư, các nguyên tử trường tồn và đơn vị hạ trí trong tam giác nguyên tử đã bị hủy diệt (trừ phi được cố ý bảo tồn bằng một tiến trình huyền bí nào đó). |
|
105. Continuity of consciousness can also mean that the man upon the physical plane is fully aware of all that is transpiring in all his subtle vehicles—etheric-physical, emotional and mental. |
105. Tính liên tục của tâm thức cũng có thể có nghĩa là con người trên cõi hồng trần hoàn toàn nhận biết mọi điều đang xảy ra trong tất cả các vận cụ vi tế của mình—dĩ thái-hồng trần, cảm xúc và trí tuệ. |
|
106. We can ask ourselves: “How much information can we handle simultaneously?” If all information related to the functioning of all vehicles of the personality were simultaneously available, would we become more enlightened or more confused? |
106. Chúng ta có thể tự hỏi: “Chúng ta có thể xử lý bao nhiêu thông tin cùng một lúc?” Nếu mọi thông tin liên hệ đến hoạt động của tất cả các vận cụ của phàm ngã đều đồng thời sẵn có, liệu chúng ta sẽ trở nên giác ngộ hơn hay bối rối hơn? |
|
We must always remember in studying these difficult matters that we are dealing with the logoic dense physical body and that: |
Khi nghiên cứu những vấn đề khó khăn này, chúng ta phải luôn nhớ rằng chúng ta đang đề cập đến thể hồng trần đậm đặc logoi và rằng: |
|
107. These matters are so difficult because the presence of the permanent atom is largely inaccessible to our present consciousness and its existence is incapable of being proven (except through occult methods). |
107. Những vấn đề này khó đến vậy vì sự hiện diện của nguyên tử trường tồn phần lớn không thể tiếp cận đối với tâm thức hiện tại của chúng ta và sự tồn tại của nó không thể được chứng minh (trừ bằng các phương pháp huyền bí). |
|
The mental unit is found in logoic gaseous matter. |
Đơn vị hạ trí được tìm thấy trong vật chất khí logoi. |
|
108. From the perspective of the Solar Logos, the entire mental plane is considered to be the gaseous plane. From the perspective of the Planetary Logos, the concrete mental plane is considered to be gaseous. It remains to be determined whether the higher mental plane is considered etheric from the planetary logoic perspective. |
108. Từ góc nhìn của Thái dương Thượng đế, toàn bộ cõi trí được xem là cõi khí. Từ góc nhìn của Đức Hành Tinh Thượng Đế, cõi trí cụ thể được xem là cõi khí. Vẫn còn phải xác định xem Cõi thượng trí có được xem là dĩ thái theo góc nhìn hành tinh logoi hay không. |
|
The astral permanent atom in logoic liquid matter. |
Nguyên tử trường tồn cảm dục trong vật chất lỏng logoi. |
|
109. The astral plane is logoically liquid |
109. Cõi cảm dục là lỏng theo nghĩa logoi. |
|
The physical permanent atom in dense physical substance. |
Nguyên tử trường tồn hồng trần trong chất liệu hồng trần đậm đặc. |
|
110. The physical-etheric plane is logoically dense. Note that from the perspective of the Logoi (whether planetary or solar), the etheric aspect of the systemic etheric-physical plane is also considered an example of “dense physical substance”. |
110. Cõi hồng trần-dĩ thái là đậm đặc theo nghĩa logoi. Lưu ý rằng từ góc nhìn của Các Thượng đế (dù hành tinh hay thái dương), phương diện dĩ thái của cõi dĩ thái-hồng trần của hệ cũng được xem là một ví dụ của “chất liệu hồng trần đậm đặc”. |
|
And they therefore have their place in matter of the three lowest subplanes of the physical body of the Logos. |
Và vì vậy chúng có vị trí của mình trong vật chất của ba cõi phụ thấp nhất của thể xác của Logos. |
|
111. The lower two permanent atoms and mental unit, thus, express through that part of either the Solar Logos or Planetary Logos which is not a principle. |
111. Do đó, hai nguyên tử trường tồn thấp hơn và đơn vị hạ trí biểu lộ qua phần ấy của Thái dương Thượng đế hoặc Đức Hành Tinh Thượng Đế vốn không phải là một nguyên khí. |
|
Consequently when in the process of evolution, and through initiation, man achieves the consciousness of the Spiritual Triad, and transfers his polarisation into the three triadal [Page 509] permanent atoms, he is simply able to function consciously in the etheric body of his particular planetary Logos. |
Do đó, khi trong tiến trình tiến hoá, và qua điểm đạo, con người đạt được tâm thức của Tam Nguyên Tinh Thần, và chuyển sự phân cực của mình vào ba nguyên tử trường tồn [Page 509] của tam nguyên, y đơn giản chỉ có thể hoạt động một cách hữu thức trong thể dĩ thái của Hành Tinh Thượng đế đặc thù của y. |
|
112. Initiation is the method through which the polarization of a man’s consciousness is transferred from the lower permanent atoms (and mental unit) into the higher permanent atoms. |
112. Điểm đạo là phương pháp nhờ đó sự phân cực của tâm thức con người được chuyển từ các nguyên tử trường tồn thấp (và đơn vị hạ trí) vào các nguyên tử trường tồn cao. |
|
113. This transference represents a change from dense physical functioning to etheric functioning. In short, the initiate is functioning within a principle of the Planetary Logos or Solar Logos and no longer in unprincipled substance. |
113. Sự chuyển dịch này biểu thị một sự thay đổi từ hoạt động hồng trần đậm đặc sang hoạt động dĩ thái. Tóm lại, điểm đạo đồ đang hoạt động bên trong một nguyên khí của Đức Hành Tinh Thượng Đế hoặc Thái dương Thượng đế và không còn trong chất liệu không nguyên khí nữa. |
|
114. We must note carefully that not all the permanent atoms of the spiritual triad are in solar logoic etheric matter, but only two—the buddhic and the atmic. May it be, however, that, from the perspective of the Planetary Logos, even the manasic permanent atom is in etheric (and not gaseous) matter? There seems to be an important hint here given which indicates the etheric nature of the higher mental plane—at least from the perspective of the Planetary Logos. |
114. Chúng ta phải lưu ý cẩn thận rằng không phải tất cả các nguyên tử trường tồn của tam nguyên tinh thần đều ở trong vật chất dĩ thái logoi thái dương, mà chỉ có hai—nguyên tử Bồ đề và nguyên tử atma. Tuy nhiên, có thể chăng, từ góc nhìn của Hành Tinh Thượng đế, ngay cả nguyên tử trường tồn manas cũng ở trong vật chất dĩ thái (chứ không phải khí)? Dường như ở đây có một gợi ý quan trọng cho thấy bản chất dĩ thái của Cõi thượng trí—ít nhất là từ góc nhìn của Hành Tinh Thượng đế. |
|
Work out the analogy in the microcosmic development and note how in order to function consciously in his individual etheric body a man has to burn through what has been called the etheric web, and study how the fires of initiation produce something analogous in the planetary etheric body, and eventually in the cosmic etheric. |
Hãy triển khai phép tương đồng trong sự phát triển của tiểu thiên địa và lưu ý cách mà để hoạt động một cách hữu thức trong thể dĩ thái cá nhân của mình, con người phải đốt xuyên qua cái đã được gọi là màng lưới dĩ thái, và hãy nghiên cứu cách các lửa của điểm đạo tạo ra một điều gì đó tương tự trong thể dĩ thái hành tinh, và cuối cùng trong dĩ thái vũ trụ. |
|
115. There is an etheric web separating the systemic gaseous plane from the cosmic etheric planes. |
115. Có một màng lưới dĩ thái ngăn cách cõi khí của hệ với các cõi dĩ thái vũ trụ. |
|
116. The initiation of a Planetary Logos produces a burning through the etheric web separating His dense-dense level from His dense-etheric level. |
116. Điểm đạo của một Hành Tinh Thượng đế tạo ra sự đốt xuyên qua màng lưới dĩ thái ngăn cách cấp độ đậm đặc-đậm đặc của Ngài với cấp độ đậm đặc-dĩ thái của Ngài. |
|
117. We may gather that there is a web, ‘curtain’ or energy barrier separating the lower mental plane from the higher mental plane and that one also exists separating the higher mental plane from the buddhic plane (which, when burned through, gives access to the cosmic ethers). |
117. Chúng ta có thể suy ra rằng có một màng lưới, “bức màn” hay rào chắn năng lượng ngăn cách cõi hạ trí với Cõi thượng trí và cũng có một màng lưới khác ngăn cách Cõi thượng trí với cõi Bồ đề (màng lưới này, khi bị đốt xuyên qua, sẽ cho phép tiếp cận các dĩ thái vũ trụ). |
|
118. Initiation is a process of burning and liberation leading to the ability to function in spheres of ever greater refinement. |
118. Điểm đạo là một tiến trình đốt cháy và giải thoát dẫn đến khả năng hoạt động trong những khối cầu ngày càng tinh luyện hơn. |
|
119. It is the first initiation which gives first access to the fourth ether; the second initiation to the third ether; the third initiation to the second ether; and the fourth initiation to the atomic ether. |
119. Chính lần điểm đạo thứ nhất đem lại sự tiếp cận đầu tiên với dĩ thái thứ tư; lần điểm đạo thứ hai với dĩ thái thứ ba; lần điểm đạo thứ ba với dĩ thái thứ hai; và lần điểm đạo thứ tư với dĩ thái nguyên tử. |
|
120. Microcosmically, the etheric web may be considered fivefold—with one found at the border of each of the sub-planes, and finally at the border between the atomic etheric plane and the systemic astral plane. |
120. Xét theo tiểu thiên địa, màng lưới dĩ thái có thể được xem là ngũ phân—một màng lưới ở ranh giới của mỗi cõi phụ, và cuối cùng ở ranh giới giữa cõi dĩ thái nguyên tử và cõi cảm dục của hệ. |
|
121. We may analogize and suppose that there are ‘astral-etheric’ webs found on the astral plane and that, when burned through, continuity of consciousness extends to the mental plane. |
121. Chúng ta có thể suy luận theo phép tương đồng và giả định rằng có những màng lưới “cảm dục-dĩ thái” hiện diện trên cõi cảm dục và rằng, khi bị đốt xuyên qua, sự liên tục của tâm thức sẽ mở rộng đến cõi trí. |
|
122. We may suspect that the necessary burning is not purely sequential but overlapping. |
122. Chúng ta có thể ngờ rằng sự đốt cháy cần thiết không hoàn toàn tuần tự mà có chồng lấn. |
|
As each unit of consciousness, through self-induced effort, achieves the goal and crosses the ‘burning-ground,’ |
Khi mỗi đơn vị tâm thức, bằng nỗ lực tự phát khởi, đạt được mục tiêu và vượt qua “vùng đất cháy”, |
|
123. Here is a literal description of the “burning ground”. It is not simply a metaphorical term but indicates an actual process of liberative burning in relation to ethers of some kind or another—whether ethers of the physical plane or of the astral, or even, of the mental, as the fourth sub-plane of the mental plane may be considered ‘etheric’ as it is one of the higher four mental sub-planes. |
123. Đây là một mô tả theo nghĩa đen về “vùng đất cháy”. Nó không chỉ đơn thuần là một thuật ngữ ẩn dụ mà chỉ ra một tiến trình đốt cháy giải thoát thực sự liên hệ với các dĩ thái thuộc loại này hay loại khác—dù là các dĩ thái của cõi hồng trần, hay của cõi cảm dục, hay thậm chí của cõi trí, vì cõi phụ thứ tư của cõi trí có thể được xem là “dĩ thái” vì nó là một trong bốn cõi phụ cao của cõi trí. |
|
124. We note that the burning through occurs always through self-induced effort. One does not rely upon external agencies and inner strength would not be augmented thereby. |
124. Chúng ta lưu ý rằng sự đốt xuyên qua luôn luôn xảy ra nhờ nỗ lực tự phát khởi. Người ta không dựa vào các tác nhân bên ngoài, và sức mạnh nội tại cũng sẽ không được tăng cường bằng cách ấy. |
|
125. Every burning ground, successfully crossed, is intended to admit the inflow of a higher energy. The webs, for instance, prevent such an inflow and when burnt through, no longer serve as impediments. |
125. Mỗi vùng đất cháy, khi được vượt qua thành công, đều nhằm cho phép một năng lượng cao hơn tuôn vào. Chẳng hạn, các màng lưới ngăn cản sự tuôn vào ấy, và khi bị đốt xuyên qua, chúng không còn là chướng ngại nữa. |
|
126. We might say that the processes of the burning ground produce the capacity (in that which is lower) for resonance with that which is higher. It has long been proposed as an hypothesis, that the inflow of a higher energy into the field of a lower energy is a matter of resonant response. |
126. Chúng ta có thể nói rằng các tiến trình của vùng đất cháy tạo ra năng lực (trong cái thấp hơn) để cộng hưởng với cái cao hơn. Từ lâu người ta đã đề xuất như một giả thuyết rằng sự tuôn vào của một năng lượng cao hơn trong trường của một năng lượng thấp hơn là vấn đề của sự đáp ứng cộng hưởng. |
|
a microscopic portion of the etheric web of the planetary etheric body is consumed by fire; this results in a definite gain for that great Entity, the planetary Logos, through the relatively unimportant liberation of the force of one cell in His body. |
một phần vi mô của màng lưới dĩ thái của thể dĩ thái hành tinh bị lửa thiêu hủy; điều này mang lại một sự thu hoạch xác định cho Thực Thể vĩ đại ấy, Hành Tinh Thượng đế, thông qua sự giải thoát tương đối không quan trọng của mãnh lực của một tế bào trong thể của Ngài. |
|
127. This process can be related to the injunction found in Rule X for Disciples and Initiates: “Let the group widen all the rents within… [the] veils [of maya] and thus let in the light.” |
127. Tiến trình này có thể được liên hệ với huấn thị tìm thấy trong Quy luật X dành cho các đệ tử và điểm đạo đồ: “Hãy để nhóm mở rộng mọi chỗ rách bên trong… các bức màn [của ảo lực] và như thế để ánh sáng đi vào.” |
|
128. Each initiation represents a burning through. The higher the initiation the higher the barrier burnt through. |
128. Mỗi lần điểm đạo biểu thị một sự đốt xuyên qua. Điểm đạo càng cao thì rào chắn bị đốt xuyên qua càng cao. |
|
129. We could wonder whether there are cells within our own body of manifestation which, in their own manner, are achieving an analogous liberation and thus contributing to our own. |
129. Chúng ta có thể tự hỏi liệu có những tế bào trong chính thể biểu hiện của chúng ta, theo cách riêng của chúng, đang đạt được một sự giải thoát tương tự và nhờ đó góp phần vào sự giải thoát của chính chúng ta hay không. |
|
When all the units or cells in His body have achieved, He too is set free from dense manifestation and physically dies. |
Khi tất cả các đơn vị hay tế bào trong thể của Ngài đã đạt được, chính Ngài cũng được giải thoát khỏi biểu hiện đậm đặc và chết về mặt thể xác. |
|
130. We see that the initiation of a Planetary Logos or Solar Logos depends upon the initiation of the cells within His vehicles of manifestation. |
130. Chúng ta thấy rằng điểm đạo của một Hành Tinh Thượng đế hay Thái dương Thượng đế tùy thuộc vào điểm đạo của các tế bào bên trong các vận cụ biểu hiện của Ngài. |
|
131. We seem to be speaking of the fourth initiation after which point the entity in question is no longer in need of a generated physical body—i.e., He “physically dies”. |
131. Dường như chúng ta đang nói đến lần điểm đạo thứ tư, sau đó thực thể được nói đến không còn cần một thể xác được tạo sinh nữa—nghĩa là, Ngài “chết về mặt thể xác”. |
|
132. If we think carefully, we will realize that through our own spiritual progress, we are contributing to the spiritual process of the Planetary Logos in Whom we live and move and have our being. |
132. Nếu suy nghĩ cẩn thận, chúng ta sẽ nhận ra rằng qua sự tiến bộ tinh thần của chính mình, chúng ta đang góp phần vào tiến trình tinh thần của Hành Tinh Thượng đế, trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu. |
|
133. As our Planetary Logos is undergoing a kind of fourth initiation on our chain and upon our globe, it may be expected (at some point) that from the physical perspective, He will die. Will this ‘death’ be part of the etherealization of the dense physical plane so prominent on this fourth globe of the fourth chain? |
133. Vì Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang trải qua một loại lần điểm đạo thứ tư trên dãy của chúng ta và trên bầu hành tinh của chúng ta, nên có thể chờ đợi (vào một thời điểm nào đó) rằng từ góc nhìn hồng trần, Ngài sẽ chết. Liệu “cái chết” này có phải là một phần của sự dĩ thái hóa cõi hồng trần đậm đặc vốn rất nổi bật trên bầu hành tinh thứ tư của dãy thứ tư này không? |
|
This stage is succeeded by the comparatively brief one of etheric existence (covering the period of planetary obscuration), and then He is liberated from incarnation altogether. |
Giai đoạn này được tiếp nối bởi một giai đoạn tương đối ngắn của sự tồn tại dĩ thái (bao trùm thời kỳ hành tinh bị che mờ), rồi sau đó Ngài được giải thoát hoàn toàn khỏi lâm phàm. |
|
134. The process of physical death takes longer to achieve that the succeeding etheric liberation. |
134. Tiến trình chết về mặt thể xác mất nhiều thời gian hơn để hoàn tất so với sự giải thoát dĩ thái tiếp theo sau đó. |
|
135. There are three culminating phases which end the incarnation of a planetary or solar Entity: synthesis, obscuration, absorption. It will be useful to remember that the period of obscuration is associated with a comparatively brief stage of “etheric existence”. From this perspective, obscuration is the etherealization of dense physical life. During obscuration, therefore, it will be unlikely to find life manifesting through the dense physical level. This may be a useful perspective when considering those planets in our solar system which are said to be passing through a phase of obscuration. |
135. Có ba giai đoạn cao điểm kết thúc sự lâm phàm của một Thực Thể hành tinh hay thái dương: tổng hợp, che mờ, hấp thu. Sẽ hữu ích nếu nhớ rằng thời kỳ che mờ gắn liền với một giai đoạn tương đối ngắn của sự tồn tại “dĩ thái”. Từ góc nhìn này, sự che mờ là sự dĩ thái hóa của sự sống hồng trần đậm đặc. Vì vậy, trong thời kỳ che mờ, khó có khả năng tìm thấy sự sống biểu hiện qua cấp độ hồng trần đậm đặc. Đây có thể là một góc nhìn hữu ích khi xem xét những hành tinh trong hệ mặt trời của chúng ta được nói là đang đi qua một giai đoạn che mờ. |
|
136. When DK tells us that certain planets (like Venus) will be, before long, passing into a state of obscuration, we will have to think of the etheric meaning of this stage. Strangely, however, it is said in the Secret Doctrine that “Mercury is just beginning to get out of a state of obscuration” (SD I 188,189). So it would seem that there are periodical obscurations and final obscurations. |
136. Khi Chân sư DK cho chúng ta biết rằng một số hành tinh nào đó (như Sao Kim) chẳng bao lâu nữa sẽ đi vào trạng thái che mờ, chúng ta sẽ phải nghĩ đến ý nghĩa dĩ thái của giai đoạn này. Tuy nhiên, thật lạ là trong Giáo Lý Bí Nhiệm có nói rằng “Sao Thủy chỉ mới bắt đầu thoát ra khỏi một trạng thái che mờ” (SD I 188,189). Vì vậy dường như có những sự che mờ định kỳ và những sự che mờ chung cuộc. |
|
137. The concepts of fire, refinement, buddhi and death go hand in hand. |
137. Các khái niệm về lửa, sự tinh luyện, Bồ đề và cái chết đi liền với nhau. |
|
138. Of course, it must be noted that obscuration may apply to a planetary globe, or chain or even to the entire scheme. Each will demonstrate differently. |
138. Dĩ nhiên, cần lưu ý rằng sự che mờ có thể áp dụng cho một bầu hành tinh, hay một dãy, hay thậm chí toàn bộ hệ hành tinh. Mỗi trường hợp sẽ biểu hiện khác nhau. |
|
Viewing this process from the standpoint of the Logos, the Brahma aspect passes out, or the life withdraws from the physical permanent atom, leaving later stages on cosmic levels, with which we need not concern ourselves. |
Nhìn tiến trình này từ quan điểm của Thượng đế, phương diện Brahma đi ra ngoài, hay sự sống rút khỏi nguyên tử trường tồn hồng trần, để lại các giai đoạn sau đó trên các cấp độ vũ trụ, những điều mà chúng ta không cần bận tâm tới. |
|
139. When this happens the solar system will disappear, but the manifestation of the Logos in question will not be completely abstracted. The abstracting Logos will still be demonstrating on the cosmic astral plane through the His astral permanent atom and on the cosmic mental plane through His correspondence to man’s mental unit (if such exists) or through the manasic permanent atom on the cosmic mental plane. |
139. Khi điều này xảy ra, hệ mặt trời sẽ biến mất, nhưng biểu hiện của Thượng đế được nói đến sẽ không bị trừu xuất hoàn toàn. Thượng đế đang trừu xuất ấy vẫn sẽ còn biểu hiện trên cõi cảm dục vũ trụ qua nguyên tử trường tồn cảm dục của Ngài và trên cõi trí vũ trụ qua đối ứng của Ngài với đơn vị hạ trí của con người (nếu điều đó tồn tại) hoặc qua nguyên tử trường tồn manas trên cõi trí vũ trụ. |
|
140. The life passes out and the life withdraws from the physical permanent atom when the short etheric phase is concluded. |
140. Sự sống đi ra ngoài và rút khỏi nguyên tử trường tồn hồng trần khi giai đoạn dĩ thái ngắn ngủi kết thúc. |
|
These cover the withdrawal of the logoic life from out of the other two aspects. |
Những điều này bao trùm sự rút lui của sự sống logoi ra khỏi hai phương diện kia. |
|
141. There is a close parallel to here to the processes of microcosmic death. |
141. Ở đây có một sự song hành chặt chẽ với các tiến trình chết của tiểu thiên địa. |
|
In a solar system, which is a physical incarnation of the Logos, the Brahma aspect is apparently the most important, it being the medium of expression, |
Trong một hệ mặt trời, vốn là một sự lâm phàm hồng trần của Thượng đế, phương diện Brahma hiển nhiên là quan trọng nhất, vì nó là môi trường biểu hiện, |
|
142. Since we, as human beings, live and move and have our being within the physical-etheric nature of the Solar Logos, it is naturally His physical-etheric nature which would seem, to us, most important. In fact, we are not yet in a position to contact any other aspect of His nature directly. |
142. Vì chúng ta, với tư cách con người, sống, chuyển động và hiện hữu bên trong bản chất hồng trần-dĩ thái của Thái dương Thượng đế, nên dĩ nhiên chính bản chất hồng trần-dĩ thái của Ngài dường như là quan trọng nhất đối với chúng ta. Thật ra, chúng ta chưa ở vào vị thế có thể tiếp xúc trực tiếp với bất kỳ phương diện nào khác trong bản chất của Ngài. |
|
yet it is the subjective aspect, or the life-desire of the Logos which is fundamentally of moment; |
nhưng chính phương diện chủ quan, hay sự sống-khát vọng của Thượng đế mới là điều căn bản quan trọng; |
|
143. Both our Planetary Logos and our Solar Logos are (at this time) astrally polarized, and so it is their cosmic astral vehicle which is “fundamentally of moment”. To be “of moment” means to be important now. |
143. Cả Hành Tinh Thượng đế của chúng ta lẫn Thái dương Thượng đế của chúng ta đều đang (vào lúc này) phân cực cảm dục, và vì vậy vận cụ cảm dục vũ trụ của Các Ngài mới là điều “căn bản quan trọng”. “Quan trọng” ở đây có nghĩa là quan trọng ngay bây giờ. |
|
144. When the term “life” is added to that of “desire”, planes even higher than the cosmic astral plane are suggested. |
144. Khi thuật ngữ “sự sống” được thêm vào thuật ngữ “khát vọng”, những cõi còn cao hơn cả cõi cảm dục vũ trụ được gợi ra. |
|
this concerns His endeavour on high levels, and on cosmic planes beyond the ken of the highest Chohan. |
điều này liên quan đến nỗ lực của Ngài trên các cấp độ cao và trên những cõi vũ trụ vượt ngoài tầm hiểu biết của vị Chohan cao nhất. |
|
145. How far does the ken of the highest Chohan reach? Do we mean the highest Chohan found within the Fourth Creative Hierarchy? If so, even the cosmic astral plane would be beyond apprehension. The Christ, however, as a Chohan of the seventh degree, is, we may suppose, becoming responsive to energies from the cosmic astral plane as, like the Buddha who touched the cosmic mental plane, He is a “cosmic avatar”. (cf. EP II 278) |
145. Tầm hiểu biết của vị Chohan cao nhất vươn xa đến đâu? Có phải chúng ta muốn nói đến vị Chohan cao nhất được tìm thấy trong Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư không? Nếu vậy, ngay cả cõi cảm dục vũ trụ cũng sẽ vượt ngoài sự lĩnh hội. Tuy nhiên, Đức Christ, với tư cách một Chohan cấp bảy, theo chúng ta có thể giả định, đang trở nên đáp ứng với các năng lượng từ cõi cảm dục vũ trụ, cũng như Đức Phật, Đấng đã chạm đến cõi trí vũ trụ, Ngài là một “Đấng Hoá Thân vũ trụ”. (xem EP II 278) |
|
It might be of value here if I pointed out that the Egoic Ray of the human unit67 with which we are concerning [Page 510] ourselves, manifests as regards each ray just as does the logoic manifestation. |
Ở đây sẽ có giá trị nếu tôi chỉ ra rằng Cung Chân Ngã của đơn vị nhân loại67 mà chúng ta đang bàn đến [Page 510] biểu hiện nơi mỗi cung cũng giống như biểu hiện logoi. |
|
146. The parallel between human and logoic manifestation is often quite exact, especially when the human being is being compared with the Solar Logos. |
146. Sự song hành giữa biểu hiện nhân loại và biểu hiện logoi thường khá chính xác, đặc biệt khi con người được so sánh với Thái dương Thượng đế. |
|
FOOTNOTE 67: The human Ray. “Each human centre is a crystallised ray of the Absolute One that has worked through processes of evolution into what is known as a human being.”—Some Thoughts on the Gita. |
CHÚ THÍCH 67: Cung nhân loại. “Mỗi trung tâm nhân loại là một cung kết tinh của Đấng Tuyệt Đối Duy Nhất đã vận hành qua các tiến trình tiến hoá để trở thành điều được biết là một con người.”—Some Thoughts on the Gita. |
|
147. It is arresting to read that the “divine center of consciousness” in a human being is a “crystallised ray of the Absolute One”. By the term “crystallized” a process of precipitation and densification must be indicated. |
147. Thật đáng chú ý khi đọc rằng “trung tâm tâm thức thiêng liêng” trong một con người là một cung “kết tinh của Đấng Tuyệt Đối Duy Nhất”. Bởi thuật ngữ “kết tinh”, hẳn phải chỉ ra một tiến trình ngưng tụ và làm đậm đặc. |
|
148. We are being told that we are crystalline precipitations of the “Absolute One”. |
148. Chúng ta đang được cho biết rằng chúng ta là những sự ngưng tụ kết tinh của “Đấng Tuyệt Đối Duy Nhất”. |
|
149. From another perspective, all lives are crystallised rays. |
149. Từ một góc nhìn khác, mọi sự sống đều là những cung kết tinh. |
|
Each of the seven Rays, viewed in connection with the causal bodies of men, demonstrates as a unity on the first subplane, as a triplicity on the second and as seven on the third, forming there the forty-nine groups which most concern evolving man. |
Mỗi một trong bảy cung, khi được xem xét trong liên hệ với các thể nguyên nhân của con người, biểu hiện như một hợp nhất trên cõi phụ thứ nhất, như một bộ ba trên cõi phụ thứ hai và như bảy trên cõi phụ thứ ba, tại đó hình thành bốn mươi chín nhóm liên hệ nhiều nhất đến con người đang tiến hoá. |
|
150. The sequence 1—3—7 is constantly found and is closely related to the appearance and disappearance of planetary chains in a planetary scheme. |
150. Chuỗi 1—3—7 liên tục được tìm thấy và có liên hệ chặt chẽ với sự xuất hiện và biến mất của các dãy hành tinh trong một hệ hành tinh. |
|
151. Although the causal body of men are usually found upon the third and second sub-planes of the mental plane, the text reference above suggests that their association with the first sub-plane cannot be dismissed. |
151. Mặc dù các thể nguyên nhân của con người thường được tìm thấy trên cõi phụ thứ ba và thứ hai của cõi trí, đoạn văn trên cho thấy rằng không thể bác bỏ mối liên hệ của chúng với cõi phụ thứ nhất. |
|
152. It has long been a vexed question whether the causal bodies of men ever focus entirely on the atomic sub-plane of the mental plane, or whether, up until the destruction of the causal body, the focus remains upon the second sub-plane. |
152. Từ lâu đã có một câu hỏi gây tranh luận là liệu các thể nguyên nhân của con người có bao giờ tập trung hoàn toàn trên cõi phụ nguyên tử của cõi trí hay không, hay là cho đến khi thể nguyên nhân bị hủy diệt, tiêu điểm vẫn còn ở cõi phụ thứ hai. |
|
153. The numbering (1—3—7) presents a most important piece of occult information and is to be correlated with the following from LOM: |
153. Cách đánh số (1—3—7) trình bày một mẩu thông tin huyền bí cực kỳ quan trọng và cần được đối chiếu với đoạn sau đây trong LOM: |
|
On the third subplane of the mental plane egos are separated into groups—individual separation exists not, but group separation can be felt, incidental to ray and point in evolution. |
Trên cõi phụ thứ ba của cõi trí, các chân ngã được phân chia thành các nhóm—không có sự tách biệt cá nhân, nhưng có thể cảm nhận được sự tách biệt nhóm, tùy thuộc vào cung và điểm tiến hoá. |
|
154. This touches on the manner in which unity is experienced on the higher mental plane. Group separation, at least, is perceived, if not individual separation. |
154. Điều này chạm đến cách mà sự hợp nhất được trải nghiệm trên Cõi thượng trí. Ít nhất, sự tách biệt nhóm được nhận biết, dù không phải sự tách biệt cá nhân. |
|
On the second subplane the groups become merged and blend, and from their forty-nine groups are formed (by merging) forty-two. The process of synthesis might be tabulated as follows: |
Trên cõi phụ thứ hai, các nhóm trở nên hòa nhập và dung hợp, và từ bốn mươi chín nhóm của chúng hình thành (qua sự hòa nhập) bốn mươi hai. Tiến trình tổng hợp có thể được lập bảng như sau: |
|
(1st subplane 35 groups, 7 x 5 |
(cõi phụ 1 35 nhóm, 7 x 5 |
|
Mental plane (2nd subplane 42 groups, 7 x 6 |
Cõi trí (cõi phụ 2 42 nhóm, 7 x 6 |
|
(3rd subplane 49 groups, 7 x 7 (LOM 38) |
(cõi phụ 3 49 nhóm, 7 x 7 (LOM 38) |
|
155. The unity correlates with the 35 groups; the triplicity with the 42 groups and the septenate with the 49 groups. |
155. Sự hợp nhất tương ứng với 35 nhóm; bộ ba tương ứng với 42 nhóm và bộ bảy tương ứng với 49 nhóm. |
|
156. In this same reference there are groupings to be found on the buddhic, atmic and monadic planes (sevenfoldness finally being achieved on the monadic plane). Such groupings may be considered as groupings of “Egos” (at least on triadal levels) but not of causal bodies. |
156. Trong cùng tài liệu tham chiếu này, có những nhóm được tìm thấy trên các cõi Bồ đề, atma và chân thần (tính thất phân cuối cùng đạt được trên cõi chân thần). Những nhóm như vậy có thể được xem là các nhóm của “các Chân ngã” (ít nhất trên các cấp độ tam nguyên) nhưng không phải của các thể nguyên nhân. |
|
157. It is easy to see how the septenate on the third sub-plane multiplied by seven produces the requisite 49 groups. |
157. Thật dễ thấy cách bộ bảy trên cõi phụ thứ ba nhân với bảy tạo ra 49 nhóm cần thiết. |
|
158. On the second sub-plane, the triad must be multiplied by 14 to produce the requisite 42. |
158. Trên cõi phụ thứ hai, tam nguyên phải được nhân với 14 để tạo ra 42 cần thiết. |
|
159. It is not easy to relate the ray-unity on the first subplane to the requisite 35 groups. |
159. Không dễ liên hệ sự hợp nhất-cung trên cõi phụ thứ nhất với 35 nhóm cần thiết. |
|
160. The different kinds of human beings manifesting on the physical plane have their essential differentiation in these carefully numbered groupings. |
160. Những loại người khác nhau biểu hiện trên cõi hồng trần có sự biến phân cốt yếu trong các nhóm được đánh số cẩn thận này. |
|
According to the angle of vision, this numbering of groups may be increased or lessened, but for purposes of studying the aspects of mind, the above enumeration suffices. |
Tùy theo góc độ tầm nhìn, cách đánh số các nhóm này có thể tăng lên hoặc giảm xuống, nhưng vì mục đích nghiên cứu các phương diện của trí tuệ, sự liệt kê trên là đủ. |
|
161. Such potential increases we have seen in studying LOM. |
161. Những khả năng gia tăng như thế chúng ta đã thấy khi nghiên cứu LOM. |
|
162. DK calls the numbering “this numbering of groups” obviously meaning groups of causal bodies. |
162. Chân sư DK gọi cách đánh số ấy là “cách đánh số các nhóm này”, hiển nhiên muốn nói đến các nhóm thể nguyên nhân. |
|
163. There are probably different ways of deriving numberings to be found on various sub-planes. |
163. Có lẽ có những cách khác nhau để suy ra các cách đánh số được tìm thấy trên các cõi phụ khác nhau. |
|
164. One of the most important realizations, however, is that causal bodies (so it appears) are to be found upon the first sub-plane of the systemic mental plane. This is surprising as the causal bodies of initiates are found upon second sub-plane and even the fourth initiation (so it seems from certain references) occurs on the second sub-plane. |
164. Tuy nhiên, một trong những chứng nghiệm quan trọng nhất là các thể nguyên nhân (dường như vậy) được tìm thấy trên cõi phụ thứ nhất của cõi trí của hệ. Điều này thật đáng ngạc nhiên vì các thể nguyên nhân của các điểm đạo đồ được tìm thấy trên cõi phụ thứ hai và ngay cả lần điểm đạo thứ tư (dường như theo một số tài liệu tham chiếu) cũng xảy ra trên cõi phụ thứ hai. |
|
165. Yet, it is impossible to refuse the inference here given that each of the seven rays demonstrates (in relation to causal bodies) as a unity on the highest sub-plane. |
165. Tuy vậy, không thể từ chối suy luận được đưa ra ở đây rằng mỗi một trong bảy cung biểu hiện (trong liên hệ với các thể nguyên nhân) như một hợp nhất trên cõi phụ cao nhất. |
|
166. We will have to defer judgment concerning the meaning of this apparent discrepancy until further information or insight is gathered. |
166. Chúng ta sẽ phải hoãn phán đoán về ý nghĩa của sự bất nhất biểu kiến này cho đến khi có thêm thông tin hay linh thị. |
|
In the course of his many septenary lives, and as the cyclic sevens pass over him, man passes under the influence of the seven sub-rays of his own Ray. Then he begins to synthesise and merge the seven into the major three sub-rays, returning thus to unity on his own egoic Ray. |
Trong tiến trình của nhiều kiếp sống thất phân của mình, và khi các chu kỳ bảy đi qua y, con người đi vào dưới ảnh hưởng của bảy cung phụ của chính cung của mình. Rồi y bắt đầu tổng hợp và dung hợp bảy cung ấy vào ba cung phụ chính, nhờ đó trở về hợp nhất trên cung chân ngã của chính mình. |
|
167. What is meant by “his many septenary lives”? Does the phrase refer to personality cycles or to soul cycles? |
167. “Nhiều kiếp sống thất phân của mình” có nghĩa là gì? Cụm từ này có chỉ đến các chu kỳ phàm ngã hay các chu kỳ linh hồn không? |
|
168. When we read of the “cyclic sevens” which “pass over him”, do we mean egoic cycles of seven or personality cycles of seven? Either could be the case. |
168. Khi chúng ta đọc về “các chu kỳ bảy” “đi qua y”, có phải chúng ta muốn nói đến các chu kỳ chân ngã gồm bảy hay các chu kỳ phàm ngã gồm bảy không? Cả hai đều có thể đúng. |
|
169. Could we also mean (when referring to “many septenary lives”) that each incarnation is sevenfold (as in considering the “seven ages of man)? |
169. Liệu chúng ta cũng có thể hiểu (khi nói đến “nhiều kiếp sống thất phân”) rằng mỗi kiếp lâm phàm đều là thất phân (như khi xét đến “bảy thời kỳ của con người”) không? |
|
170. When we read the phrase “his own Ray” we could think that this indicated the monadic ray, and yet in the next sentence it becomes clear that the “egoic Ray” is meant. |
170. Khi đọc cụm từ “chính cung của mình”, chúng ta có thể nghĩ rằng điều này chỉ cung chân thần, nhưng ở câu kế tiếp lại trở nên rõ ràng rằng “cung chân ngã” mới là điều được nói đến. |
|
171. In any case, if a man passes “under the influence of the seven sub-rays of his own Ray”, it would seem that he passes upon all the seven types of personality rays (perhaps even the same personality ray as the ray upon which his Ego is found). |
171. Dù sao đi nữa, nếu một người đi “dưới ảnh hưởng của bảy cung phụ của chính cung của mình”, dường như y đi qua cả bảy loại cung phàm ngã (có lẽ ngay cả cùng một cung phàm ngã với cung mà Chân ngã của y hiện diện trên đó). |
|
172. As he advances, he tends to take a personality upon the major three sub-rays of his “egoic Ray” (probably not the same personality ray as his soul ray). |
172. Khi tiến bộ, y có khuynh hướng nhận lấy một phàm ngã trên ba cung phụ chính của “cung chân ngã” của mình (có lẽ không phải cùng một cung phàm ngã với cung linh hồn của y). |
|
173. From other references, it is less likely that he will choose a personality upon the same ray as his “egoic Ray”. It is possible that this can be done, but a high degree of balance must be achieved before the Ego (when choosing the personality ray) will deem it wise to choose the ray upon which it finds itself. |
173. Từ những tài liệu tham chiếu khác, có vẻ ít khả năng hơn rằng y sẽ chọn một phàm ngã trên cùng một cung với “cung chân ngã” của mình. Điều đó có thể thực hiện được, nhưng phải đạt đến một mức quân bình cao trước khi Chân ngã (khi chọn cung phàm ngã) cho là khôn ngoan để chọn cung mà chính nó đang hiện diện trên đó. |
|
174. What will it mean to “return to unity on his own “egoic Ray”? Perhaps in this return to unity the personality ray chosen will be the same as the “egoic Ray”. |
174. “Trở về hợp nhất trên ‘cung chân ngã’ của mình” sẽ có nghĩa là gì? Có lẽ trong sự trở về hợp nhất này, cung phàm ngã được chọn sẽ là cùng một cung với “cung chân ngã”. |
|
175. We could also be dealing with sub-rays of the Ego upon the plane of soul (for thus the Ashrams are divided). It may be that not only a personality ray is chosen which is the same as the egoic ray, but that the same sub-ray as the “egoic Ray” is eventually chosen on soul levels. |
175. Chúng ta cũng có thể đang bàn đến các cung phụ của Chân ngã trên cõi linh hồn (vì các ashram được phân chia như thế). Có thể không chỉ một cung phàm ngã được chọn trùng với cung chân ngã, mà cuối cùng cùng một cung phụ như “cung chân ngã” cũng được chọn trên các cấp độ linh hồn. |
|
176. If the soul is on rays four, five, six or seven, then the return to unity (if it signifies choosing the same sub-ray (i.e., personality ray) as the soul ray, will signify a choice of one of the Rays of Attribute and not one of the three major sub-rays. |
176. Nếu linh hồn ở trên cung bốn, năm, sáu hay bảy, thì sự trở về hợp nhất (nếu điều đó có nghĩa là chọn cùng một cung phụ (tức cung phàm ngã) như cung linh hồn) sẽ biểu thị sự chọn một trong Các Cung Thuộc Tính chứ không phải một trong ba cung phụ chính. |
|
177. When we speak of “returning thus to unity on his own egoic ray” we must recall the teaching given on TCF 177. The true Ego is the spiritual triad. One focus in the triad (whether atmic, buddhic, or manasic) is strictly monadic, but another, secondary, focus also exists. Secondarily, every triad is either atmic, buddhic or manasic and the “return…to unity” may be a reference to a return to one of these three secondary triadal aspects. |
177. Khi nói về việc “nhờ đó trở về hợp nhất trên cung chân ngã của chính mình”, chúng ta phải nhớ lại giáo huấn được đưa ra trong TCF 177. Chân ngã đích thực là Tam Nguyên Tinh Thần. Một tiêu điểm trong tam nguyên (dù là atma, Bồ đề hay manas) thì hoàn toàn là chân thần, nhưng một tiêu điểm khác, thứ yếu, cũng tồn tại. Theo nghĩa thứ yếu, mỗi tam nguyên hoặc là atma, hoặc là Bồ đề, hoặc là manas, và “sự trở về… với hợp nhất” có thể là một quy chiếu đến sự trở về với một trong ba phương diện tam nguyên thứ yếu này. |
|
178. May it be, ultimately, that the return to unity on a man’s egoic Ray is a return to monadic unity, and that the “egoic Ray” is used as the means of this return? This requires amplification. |
178. Cuối cùng, có thể chăng sự trở về hợp nhất trên cung chân ngã của một người là sự trở về với sự hợp nhất chân thần, và “cung chân ngã” được dùng như phương tiện của sự trở về này? Điều này cần được khai triển thêm. |
|
179. When speaking of the merging of the seven into one of the major three—there may be a tendency for highly developed people to work through personalities which are on one of the three rays of aspect, but this is certainly not invariably the case. |
179. Khi nói về việc dung hợp bảy vào một trong ba cung chính—có thể có một khuynh hướng nơi những người phát triển cao hoạt động qua các phàm ngã thuộc một trong ba cung trạng thái, nhưng điều này chắc chắn không phải luôn luôn như vậy. |
|
180. There is definitely an implication that through the use of one of the major three subrays, a man may return to unity on his own egoic ray. We remember that the major three rays (as personality rays) can only exist when a man is, firstly, intelligent (ray three) and later, approaching the first initiation (rays two and one). |
180. Chắc chắn có một hàm ý rằng qua việc sử dụng một trong ba cung phụ chính, con người có thể trở về hợp nhất trên cung chân ngã của chính mình. Chúng ta nhớ rằng ba cung chính (với tư cách các cung phàm ngã) chỉ có thể tồn tại khi con người trước hết là thông minh (cung ba) và về sau đang tiến gần lần điểm đạo thứ nhất (cung hai và cung một). |
|
181. Please review the ninefold choice of rays for the Ego—i.e., for the man as spiritual triad. |
181. Xin hãy xem lại sự lựa chọn chín phân của các cung cho Chân ngã—tức cho con người như tam nguyên tinh thần. |
|
182. We can see how little is actually known of the process and how much occult research will be required in the future. |
182. Chúng ta có thể thấy rằng thực sự người ta biết rất ít về tiến trình này và trong tương lai sẽ cần rất nhiều nghiên cứu huyền bí học. |
|
183. The movement in this process is from seven to three to one, and from the third sub-plane to the second and thence (so it would seem, eventually) to the first. We will reserve judgment on this last possibility. |
183. Sự chuyển động trong tiến trình này là từ bảy đến ba đến một, và từ cõi phụ thứ ba đến cõi phụ thứ hai rồi từ đó (dường như cuối cùng) đến cõi phụ thứ nhất. Chúng ta sẽ tạm giữ phán đoán về khả năng cuối cùng này. |
|
184. We can see that the trend is ever towards simplification and synthesis. |
184. Chúng ta có thể thấy rằng xu hướng luôn luôn hướng đến sự đơn giản hóa và tổng hợp. |
|
First. The septenary status governs the time from individualisation till he enters upon the Path. |
Thứ nhất. Trạng thái thất phân chi phối khoảng thời gian từ biệt ngã hóa cho đến khi y bước vào Con Đường. |
|
185. Man enters the Path at the first degree. |
185. Con người bước vào Con Đường ở cấp độ thứ nhất. |
|
186. DK is suggesting that the rotation on seven sub-rays is the case until the man enters upon the Path. |
186. Chân sư DK đang gợi ý rằng sự luân chuyển trên bảy cung phụ là trường hợp xảy ra cho đến khi con người bước vào Con Đường. |
|
187. Yet, it must be remembered that newly individualized man can only individualize on the fourth, fifth, sixth or seventh rays and, similarly, only have personalities upon those rays. |
187. Tuy nhiên, phải nhớ rằng con người mới được biệt ngã hóa chỉ có thể biệt ngã hóa trên các cung bốn, năm, sáu hay bảy và tương tự, chỉ có thể có các phàm ngã trên những cung ấy. |
|
188. It is not until one is approaching the stage of intelligent humanity that one can have a personality upon the third ray, and not until one is approaching the first initiation that one can have a personality upon the first or second ray. |
188. Chỉ khi một người đang tiến gần giai đoạn nhân loại thông minh thì mới có thể có một phàm ngã trên cung ba, và chỉ khi một người đang tiến gần lần điểm đạo thứ nhất thì mới có thể có một phàm ngã trên cung một hay cung hai. |
|
189. So these factors have to be considered when thinking about a “septenary status that governs from the time of individualization” until entry upon the Path. |
189. Vì vậy những yếu tố này phải được xét đến khi suy nghĩ về một “trạng thái thất phân chi phối từ thời điểm biệt ngã hóa” cho đến khi bước vào Con Đường. |
|
190. From another perspective, the septenary status suggests the cycles of the personality rays (cycles of fours and sevens). During this time (the time preceding entry upon the Path at the first initiation) the causal body is focussed on the third level of the mental plane where the number seven prevails. The number three prevails upon the second plane and the number one upon the first. |
190. Từ một góc nhìn khác, trạng thái thất phân gợi ý các chu kỳ của các cung phàm ngã (các chu kỳ của bốn và bảy). Trong thời gian này (thời gian trước khi bước vào Con Đường ở lần điểm đạo thứ nhất), thể nguyên nhân được tập trung trên cấp độ thứ ba của cõi trí, nơi con số bảy chiếm ưu thế. Con số ba chiếm ưu thế trên cõi phụ thứ hai và con số một trên cõi phụ thứ nhất. |
|
Second. The threefold status governs the time up till the third Initiation. |
Thứ hai. Trạng thái tam phân chi phối khoảng thời gian cho đến lần điểm đạo thứ ba. |
|
191. Again, if we are speaking of the sub-rays as personality rays, this statement will present a problem when compared with other aspects of the Teaching. |
191. Một lần nữa, nếu chúng ta đang nói về các cung phụ như các cung phàm ngã, phát biểu này sẽ gây ra một vấn đề khi so sánh với các phương diện khác của Giáo Huấn. |
|
192. It is clear that between the first and third initiation there are many disciples who have personality rays which are not on the three major sub-rays, if by “three major sub-rays” we mean rays one, two and three. |
192. Rõ ràng là giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ ba có nhiều đệ tử có các cung phàm ngã không nằm trên ba cung phụ chính, nếu bởi “ba cung phụ chính” chúng ta muốn nói đến cung một, hai và ba. |
|
193. There may, however, be a tendency for the greater number of personalities during the period between the first and third initiations to be upon the major three sub-rays. |
193. Tuy nhiên, có thể có một khuynh hướng là phần lớn các phàm ngã trong giai đoạn giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ ba sẽ nằm trên ba cung phụ chính. |
|
194. Only statistical research done at a time when one can be sure of rays and sub-rays will confirm or deny the possibility. |
194. Chỉ có nghiên cứu thống kê được thực hiện vào lúc người ta có thể chắc chắn về các cung và cung phụ mới xác nhận hay phủ nhận khả năng này. |
|
195. In any case, from the first to the third initiations, the causal body is focussed on the second sub-plane of the mental, which sub-plane is correlated with the number three, as given above. |
195. Dù sao đi nữa, từ lần điểm đạo thứ nhất đến lần điểm đạo thứ ba, thể nguyên nhân được tập trung trên cõi phụ thứ hai của cõi trí, cõi phụ này tương ứng với con số ba, như đã nêu ở trên. |
|
Third. He achieves the unity of his Ray by the fifth Initiation, and is then consciously a part of the body of the Heavenly Man. |
Thứ ba. Y đạt được sự hợp nhất của cung mình vào lần điểm đạo thứ năm, và khi đó một cách hữu thức là một phần của thể của Đấng Thiên Nhân. |
|
196. This is a most interesting statement and could cause us to re-evaluate the meaning of “his Ray”, as we would suspect that by the time the fifth initiation is taken, the monadic ray would be very important and prominent. |
196. Đây là một phát biểu rất thú vị và có thể khiến chúng ta đánh giá lại ý nghĩa của “cung của y”, vì chúng ta sẽ nghi ngờ rằng vào lúc lần điểm đạo thứ năm được tiếp nhận, cung chân thần hẳn sẽ rất quan trọng và nổi bật. |
|
197. Yet it cannot be denied that the fourth and fifth degree initiates are focussed within the spiritual triad and that the spiritual triad is the true Ego and thus continues to express the “egoic Ray”—perhaps until the fifth initiation. |
197. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng các điểm đạo đồ cấp bốn và cấp năm được tập trung trong Tam Nguyên Tinh Thần và Tam Nguyên Tinh Thần là Chân ngã đích thực, do đó tiếp tục biểu lộ “cung chân ngã”—có lẽ cho đến lần điểm đạo thứ năm. |
|
198. By the time the fifth initiation is taken, the Master is capable of producing a mayavirupa, and the achievement of unity on His Ray could simply mean that the mayavirupa is colored by the same ray as the Ego (i.e., the spiritual triad). We have never considered the ‘ray’ of the mayavirupa but there is no reason to think that it should not have one or be expressive mainly of one. |
198. Vào lúc lần điểm đạo thứ năm được tiếp nhận, Chân sư có khả năng tạo ra một mayavirupa, và việc đạt được sự hợp nhất trên Cung của Ngài có thể đơn giản chỉ có nghĩa là mayavirupa được nhuốm màu bởi cùng một cung như Chân ngã (tức Tam Nguyên Tinh Thần). Chúng ta chưa bao giờ xem xét “cung” của mayavirupa, nhưng không có lý do gì để nghĩ rằng nó không nên có một cung hay không biểu lộ chủ yếu một cung nào đó. |
|
199. On the way to unity, it would be likely that the ray choice would change from threefold to twofold. |
199. Trên đường đi đến hợp nhất, có khả năng là sự lựa chọn cung sẽ thay đổi từ tam phân sang nhị phân. |
|
200. We gather the inference that before the fifth initiation the initiate is not consciously a part of the body of the Heavenly Man. And yet, to be consciously a part of such a body, the monadic ray is indispensable, for a man is cell within a center of His Heavenly Man according to His monadic ray. |
200. Chúng ta rút ra suy luận rằng trước lần điểm đạo thứ năm, điểm đạo đồ không hữu thức là một phần của thể của Đấng Thiên Nhân. Tuy nhiên, để hữu thức là một phần của một thể như thế, cung chân thần là điều không thể thiếu, vì con người là một tế bào bên trong một trung tâm của Đấng Thiên Nhân của Ngài tùy theo cung chân thần của mình. |
|
201. It becomes clear also that there is ‘something’ on the first subplane of the higher mental plane when the fifth initiation is taken. Can this something (that we must hesitate to call a causal body) be a higher mental vehicle built around the manasic permanent atom? Can it be, then, that each ray has one group of such higher mental bodies manifesting on the atomic sub-plane of the higher mental plane? It seems to be the only way to get round the necessity that there be no integrated causal body after the fourth initiation is taken. |
201. Cũng trở nên rõ ràng rằng có một “điều gì đó” trên cõi phụ thứ nhất của Cõi thượng trí khi lần điểm đạo thứ năm được tiếp nhận. Điều gì đó này (mà chúng ta phải ngần ngại mới gọi là thể nguyên nhân) có thể là một vận cụ thượng trí được xây dựng quanh nguyên tử trường tồn manas chăng? Vậy thì, có thể chăng mỗi cung có một nhóm những thể thượng trí như thế biểu hiện trên cõi phụ nguyên tử của Cõi thượng trí? Dường như đó là cách duy nhất để vượt qua sự cần thiết rằng không thể có một thể nguyên nhân tích hợp sau khi lần điểm đạo thứ tư được tiếp nhận. |
|
202. The return “to unity on his own egoic Ray” may also indicate that the “egoic Ray” is fully and expressively a subray of his monadic ray. |
202. Sự trở về “với hợp nhất trên cung chân ngã của chính y” cũng có thể chỉ ra rằng “cung chân ngã” hoàn toàn và một cách biểu đạt là một cung phụ của cung chân thần của y. |
|
203. Let us recall the manner in which the idea of the seven, three, one was presented above: |
203. Hãy nhớ lại cách mà ý tưởng về bảy, ba, một đã được trình bày ở trên: |
|
Each of the seven Rays, viewed in connection with the causal bodies of men, demonstrates as a unity on the first subplane, as a triplicity on the second and as seven on the third, forming there the forty-nine groups which most concern evolving man. (TCF 510) |
Mỗi một trong bảy cung, khi được xem xét trong liên hệ với các thể nguyên nhân của con người, biểu lộ như một hợp nhất trên cõi phụ thứ nhất, như một bộ ba trên cõi phụ thứ hai và như bảy trên cõi phụ thứ ba, tại đó hình thành bốn mươi chín nhóm liên quan nhiều nhất đến con người đang tiến hoá. (TCF 510) |
|
204. When we speak of achieving unity upon a ray, we will find that it is possible to— |
204. Khi chúng ta nói về việc đạt được hợp nhất trên một cung, chúng ta sẽ thấy rằng có thể— |
|
a. Achieve unity upon one’s egoic ray |
a. Đạt được hợp nhất trên cung chân ngã của mình |
|
b. Achieve unity upon one’s monadic ray |
b. Đạt được hợp nhất trên cung chân thần của mình |
|
205. We must remember that soul cycles occur in sevens and threes. These two numbers correlate with the manner in which “each of the seven Rays” demonstrates—as seven on the third sub-plane of the mental plane and as a triplicity upon the second. |
205. Chúng ta phải nhớ rằng các chu kỳ linh hồn diễn ra theo bảy và ba. Hai con số này tương quan với cách mà “mỗi một trong bảy cung” biểu lộ—như bảy trên cõi phụ thứ ba của cõi trí và như một bộ ba trên cõi phụ thứ hai. |
|
206. It would be well to remember that the causal body is build upon the manasic permanent atom and its ray. The demonstration of a Ray “as a unity on the first subplane” may relate to this fact. |
206. Nên nhớ rằng thể nguyên nhân được xây dựng trên nguyên tử trường tồn manas và cung của nó. Sự biểu lộ của một cung “như một hợp nhất trên cõi phụ thứ nhất” có thể liên hệ với sự kiện này. |
|
207. By the time of the fifth initiation, the ray of the Ego (which is the same as the ray of the causal body) is fully the expressively a subray of the Monad. |
207. Vào thời điểm lần điểm đạo thứ năm, cung của Chân ngã (cũng là cung của thể nguyên nhân) hoàn toàn, một cách biểu đạt, là một cung phụ của Chân thần. |
|
The same idea can be worked out in connection with the awakening of the life forces within the permanent atoms, viewing each atom as the seventh principle in each of the three aspects of the personality. |
Cùng một ý tưởng có thể được triển khai liên hệ với sự thức tỉnh của các mãnh lực sự sống bên trong các nguyên tử trường tồn, xem mỗi nguyên tử như nguyên khí thứ bảy trong mỗi một của ba phương diện của phàm ngã. |
|
208. When we speak of the “life forces” and their “awakening” we are speaking of the spirillae in the atoms. |
208. Khi chúng ta nói về các “mãnh lực sự sống” và “sự thức tỉnh” của chúng, chúng ta đang nói về các loa tuyến trong các nguyên tử. |
|
209. We may, in fact, be dealing with seven lesser spirillae which are active in earlier days of atomic expression and three higher spirillae which become active as the atom advances in development. Perhaps, at the end of the developmental process, the central life of the atom is represented only by one spirilla which has absorbed all the others. |
209. Thật ra, chúng ta có thể đang đề cập đến bảy loa tuyến thấp hơn hoạt động trong những ngày đầu của sự biểu lộ nguyên tử và ba loa tuyến cao hơn trở nên hoạt động khi nguyên tử tiến triển trong sự phát triển. Có lẽ, vào cuối tiến trình phát triển, sự sống trung tâm của nguyên tử chỉ được biểu hiện bởi một loa tuyến đã hấp thụ tất cả các loa tuyến khác. |
|
210. If the process within the permanent atoms proceeds in this manner (especially within the full permanent atoms and not the quite partial mental unit), then there will be a time when the first three of the greater spirillae are active, and then only two and finally only one—the absorption process having occurred. The process of absorption will proceed from seven, through three, to one. |
210. Nếu tiến trình bên trong các nguyên tử trường tồn diễn ra theo cách này (đặc biệt là bên trong các nguyên tử trường tồn đầy đủ chứ không phải đơn vị hạ trí chỉ khá là bộ phận), thì sẽ có một thời kỳ khi ba loa tuyến đầu tiên trong các loa tuyến lớn hơn hoạt động, rồi sau đó chỉ còn hai và cuối cùng chỉ còn một—tiến trình hấp thụ đã xảy ra. Tiến trình hấp thụ sẽ diễn ra từ bảy, qua ba, đến một. |
|
211. We could ask about groupings of permanent atoms. On the highest vibratory level, unity is achieved and there will be seven groupings of permanent atoms according with the seven rays. On the next lowest vibratory level the permanent atoms vibrating to each ray will be divided into three groupings and on the third vibratory level into seven groupings. |
211. Chúng ta có thể đặt câu hỏi về các nhóm nguyên tử trường tồn. Ở cấp độ rung động cao nhất, hợp nhất được đạt tới và sẽ có bảy nhóm nguyên tử trường tồn tương ứng với bảy cung. Ở cấp độ rung động thấp hơn kế tiếp, các nguyên tử trường tồn rung động theo mỗi cung sẽ được chia thành ba nhóm và ở cấp độ rung động thứ ba thành bảy nhóm. |
|
212. It should be remembered that each permanent atom will vibrate principally to one type of ray (i.e., if the correspondence between permanent atoms and causal bodies is to be upheld). |
212. Cần nhớ rằng mỗi nguyên tử trường tồn sẽ rung động chủ yếu theo một loại cung (tức là, nếu sự tương ứng giữa các nguyên tử trường tồn và các thể nguyên nhân được duy trì). |
|
213. Of course, the principal vibration of a permanent atom could change from life to life, depending upon the influence of the Ego. This introduces a complication. |
213. Dĩ nhiên, rung động chính của một nguyên tử trường tồn có thể thay đổi từ kiếp này sang kiếp khác, tùy thuộc vào ảnh hưởng của Chân ngã. Điều này đưa vào một sự phức tạp. |
|
214. Our problem was simply to find some analogy between the relation of the rays, sub-planes and causal bodies (on the one hand) and the rays, permanent atoms and their groupings according to numbers of spirillae active. The matter is complex and we are simply engaged in analogical speculation. |
214. Vấn đề của chúng ta chỉ đơn giản là tìm một sự tương đồng nào đó giữa mối liên hệ của các cung, các cõi phụ và các thể nguyên nhân (một bên) với các cung, các nguyên tử trường tồn và các nhóm của chúng theo số lượng loa tuyến hoạt động. Vấn đề này phức tạp và chúng ta chỉ đang tham gia vào sự suy đoán theo tương đồng. |
|
215. We always will be faced with the issue of the 10—7—3—1 and the manner in which they ‘nest’ or do not. |
215. Chúng ta sẽ luôn phải đối diện với vấn đề của 10—7—3—1 và cách chúng ‘lồng vào nhau’ hay không. |
|
2. Their Place In the Egoic Body. |
2. Vị Trí của Chúng Trong Thể Chân Ngã. |
|
a. The importance of the astral permanent atom. There is one fact to be grasped in connection with the place of the permanent atom within the causal periphery and its evolution, that needs to be emphasised with care, and that is that the astral permanent atom in this solar system is the recipient of a great flow of force or energy, and receives more stimulation and energising than any of the others, and this for the following reasons: [Page 511] |
a. Tầm quan trọng của nguyên tử trường tồn cảm dục. Có một sự kiện cần được nắm bắt liên hệ với vị trí của nguyên tử trường tồn bên trong chu vi nhân thể và sự tiến hoá của nó, cần phải được nhấn mạnh một cách cẩn trọng, và đó là nguyên tử trường tồn cảm dục trong hệ mặt trời này là nơi tiếp nhận một dòng mãnh lực hay năng lượng lớn, và nhận được nhiều kích thích và tiếp sinh lực hơn bất kỳ nguyên tử nào khác, và điều này là vì các lý do sau đây: [Page 511] |
|
216. We are exploring the reasons why, in this solar system, the astral permanent atom receives more stimulation and energizing than any other permanent atom. |
216. Chúng ta đang khảo sát các lý do vì sao, trong hệ mặt trời này, nguyên tử trường tồn cảm dục nhận được nhiều kích thích và tiếp sinh lực hơn bất kỳ nguyên tử trường tồn nào khác. |
|
217. We live in an astral-buddhic solar system and the polarization of our Solar Logos is still definitely astral (though there is movement towards mental polarization). |
217. Chúng ta sống trong một hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề và sự phân cực của Thái dương Thượng đế của chúng ta vẫn rõ rệt là cảm dục (dù đang có sự chuyển động hướng tới sự phân cực trí tuệ). |
|
218. The astral permanent atom in humanity also (at this time) receives more stimulation than any other. The astral body is the most powerful vehicle because it is undivided (whereas the mental plane and the physical plane are both divided). |
218. Nguyên tử trường tồn cảm dục trong nhân loại cũng vậy (vào lúc này) nhận được nhiều kích thích hơn bất kỳ nguyên tử nào khác. Thể cảm dục là vận cụ mạnh nhất vì nó không bị phân chia (trong khi cõi trí và cõi hồng trần đều bị phân chia). |
|
219. The following four reasons are given to explain why the astral permanent atom (in relation to our Solar Logos an His solar system, but especially in relation to humanity) receives more stimulation than the other two members of the solar logoic atomic triangle. |
219. Bốn lý do sau đây được nêu ra để giải thích vì sao nguyên tử trường tồn cảm dục (liên hệ với Thái dương Thượng đế của chúng ta và hệ mặt trời của Ngài, nhưng đặc biệt liên hệ với nhân loại) nhận được nhiều kích thích hơn hai thành viên kia của tam giác nguyên tử thái dương thượng đế. |
|
220. Presumably this stimulation (as regards the solar logoic personality) comes from the egoic nature of the Solar Logos, just as in man, the microcosm, his permanent atoms are stimulated by his egoic nature. |
220. Có lẽ sự kích thích này (xét theo phàm ngã thái dương thượng đế) đến từ bản chất chân ngã của Thái dương Thượng đế, cũng như nơi con người, tiểu thiên địa, các nguyên tử trường tồn của y được kích thích bởi bản chất chân ngã của y. |
|
First. The centre of polarisation for the fourth, or human kingdom, is in the astral consciousness viewing this kingdom as a unity in expression. |
Thứ nhất. Trung tâm phân cực của giới thứ tư, hay giới nhân loại, nằm trong tâm thức cảm dục xem giới này như một hợp nhất trong biểu lộ. |
|
221. The human kingdom is not (yet fully) a “unity in expression” as there are many different kinds of human beings working at different stages of development. |
221. Giới nhân loại chưa (hoàn toàn) là một “hợp nhất trong biểu lộ”, vì có nhiều loại người khác nhau đang hoạt động ở những giai đoạn phát triển khác nhau. |
|
222. But the majority of humanity upon our globe is Earth-chain humanity and closely related to the number four (the number of our chain). Four is a number which correlates not only with the buddhic plane but with the astral plane (the reflections of the buddhic). As an example of the correlation of the number four with the astral plane, the very astral Atlantean root race was the fourth root race. |
222. Nhưng đa số nhân loại trên bầu hành tinh của chúng ta là nhân loại Dãy Địa Cầu và có liên hệ chặt chẽ với con số bốn (con số của dãy chúng ta). Bốn là một con số tương quan không chỉ với cõi Bồ đề mà còn với cõi cảm dục (sự phản chiếu của cõi Bồ đề). Như một ví dụ về sự tương quan của số bốn với cõi cảm dục, giống dân gốc Atlantis rất cảm dục chính là giống dân gốc thứ tư. |
|
223. Humanity, as a whole and on all the planets, must be important within this particular solar system and its condition may be supposed to contribute to the degree of influence upon the cosmic physical plane of the astral permanent atom of the Solar Logos |
223. Nhân loại, xét như một toàn thể và trên mọi hành tinh, hẳn phải quan trọng trong hệ mặt trời đặc thù này và có thể giả định rằng tình trạng của nó góp phần vào mức độ ảnh hưởng trên cõi hồng trần vũ trụ của nguyên tử trường tồn cảm dục của Thái dương Thượng đế |
|
From the astral, and through the desire nature, the majority of men inevitably direct and control the physical vehicle. |
Từ cõi cảm dục, và thông qua bản chất dục vọng, đa số người nam và nữ tất yếu định hướng và kiểm soát vận cụ hồng trần. |
|
224. This means that for the majority of men desire controls the physical vehicle. This means that the majority of men do that which they want to do rather than that which they think they should do or will to do. |
224. Điều này có nghĩa là đối với đa số người nam và nữ, dục vọng kiểm soát vận cụ hồng trần. Điều này có nghĩa là đa số người nam và nữ thực sự làm điều mà họ muốn làm hơn là điều mà họ nghĩ mình nên làm hay quyết chí làm. |
|
The astral body is in the direct line of force via the buddhic from monadic levels, 2-4-6. |
Thể cảm dục nằm trên đường truyền mãnh lực trực tiếp, qua cõi Bồ đề, từ các cấp độ chân thần, 2-4-6. |
|
225. The 2-4-6 line is the abstract line or the life line. It is not the line of form. |
225. Đường 2-4-6 là đường trừu tượng hay đường của sự sống. Đó không phải là đường của hình tướng. |
|
226. The colors involved are, sequentially, indigo, yellow and blue/rose. |
226. Các màu sắc liên hệ, theo thứ tự, là chàm, vàng và lam/hồng. |
|
Second. The goal set before humanity is that of becoming Masters of the Wisdom, or conscious units in the Body of the Dragon of Wisdom or of Love. |
Thứ hai. Mục tiêu đặt ra trước nhân loại là trở thành các Chân sư của minh triết, hay những đơn vị hữu thức trong Thể của Rồng Minh Triết hay của Bác ái. |
|
227. In occultism, dragons are (for the most part) beings of love. |
227. Trong huyền bí học, rồng (phần lớn) là những hữu thể của bác ái. |
|
228. A great number of human beings will also become Lords of Compassion Who are Masters in Whom the love aspect is even more strongly accentuated than in the Masters of Wisdom, per se. |
228. Một số lượng lớn nhân loại cũng sẽ trở thành các Đấng Chúa Tể của Lòng Từ Bi, là những Chân sư nơi Các Ngài phương diện bác ái còn được nhấn mạnh mạnh mẽ hơn cả nơi chính các Chân sư của minh triết. |
|
229. The term “Masters of the Wisdom” is generic, but can be differentiated from the term “Lords of Compassion”. In these terms two different times of Masters are discussed. |
229. Thuật ngữ “các Chân sư của minh triết” là thuật ngữ tổng quát, nhưng có thể được phân biệt với thuật ngữ “các Đấng Chúa Tể của Lòng Từ Bi”. Trong các thuật ngữ này, hai loại Chân sư khác nhau đang được bàn đến. |
|
This a man achieves when he can function consciously in the buddhic vehicle, or when the astral permanent atom is superseded by the buddhic permanent atom. |
Con người đạt được điều này khi y có thể hoạt động một cách hữu thức trong vận cụ Bồ đề, hay khi nguyên tử trường tồn cảm dục được thay thế bởi nguyên tử trường tồn Bồ đề. |
|
230. This functioning in the buddhic vehicle begins at the fourth initiation but is firmly established by the fifth. |
230. Sự hoạt động này trong vận cụ Bồ đề bắt đầu từ lần điểm đạo thứ tư nhưng được thiết lập vững chắc vào lần điểm đạo thứ năm. |
|
231. The Master of the fifth degree is also focussed quite strongly on the fifth or atmic plane (the fifth counting from below). |
231. Chân sư ở cấp độ thứ năm cũng được tập trung khá mạnh trên cõi thứ năm hay cõi atma (cõi thứ năm tính từ dưới lên). |
|
232. We could say that we do not have to wait for the fifth initiation to see the astral permanent atom superseded by the buddhic permanent atom. This does happen at the fourth degree. In fact by the time of the fifth initiation, the astral permanent atom has been destroyed and its energy sublimated into buddhi. |
232. Chúng ta có thể nói rằng không cần phải chờ đến lần điểm đạo thứ năm mới thấy nguyên tử trường tồn cảm dục được thay thế bởi nguyên tử trường tồn Bồ đề. Điều này xảy ra ở cấp độ thứ tư. Thật ra, vào thời điểm lần điểm đạo thứ năm, nguyên tử trường tồn cảm dục đã bị hủy diệt và năng lượng của nó được thăng hoa vào Bồ đề. |
|
233. A careful reading of the following, however, will reveal that the fourth and fifth initiations have a close connection with the buddhic plane and that the atmic plane becomes the focal point for initiation only during the sixth and seventh initiations. |
233. Tuy nhiên, việc đọc cẩn thận đoạn sau sẽ cho thấy rằng lần điểm đạo thứ tư và thứ năm có liên hệ chặt chẽ với cõi Bồ đề và rằng cõi atma chỉ trở thành tiêu điểm cho điểm đạo trong lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy. |
|
The five-pointed star at the initiations on the mental plane flashes out above the head of the initiate. This concerns the first three initiations which are undergone in the causal vehicle. It has been said that the first two initiations take place upon the astral plane and this is correct, but has given rise to a misunderstanding. They are felt profoundly in connection with the astral and physical bodies and with the lower mental, and effect their control. The chief effect being felt in those bodies, the initiate may interpret them as having taken place on the planes concerned, for the vividness of the effect, and the stimulation works out largely in the astral body. But it must ever be remembered that the major initiations are taken in the causal body or—dissociated from that body—on the buddhic plane. At the final two initiations, which set a man free from the three worlds and enable him to function in the logoic body of vitality and to wield the force which animates that logoic vehicle, the initiate becomes the five-pointed star, and it descends upon him, merges in him, and he is seen at its very centre. This descent is brought about through the action of the Initiator, wielding the Rod of Power, and puts a man in touch with the centre in the Body of the planetary Logos of which he is a part; this is consciously effected. The two initiations, called the sixth and seventh, take place on the atmic plane; the five-pointed star “blazes forth from within itself” as the esoteric phrase has it, and becomes the seven-pointed star; it descends upon the man and he enters into the Flame. (TCF 696-697) |
Ngôi sao năm cánh tại các lần điểm đạo trên cõi trí lóe sáng phía trên đầu điểm đạo đồ. Điều này liên quan đến ba lần điểm đạo đầu tiên được trải qua trong vận cụ nguyên nhân. Đã có nói rằng hai lần điểm đạo đầu tiên diễn ra trên cõi cảm dục và điều này là đúng, nhưng đã làm nảy sinh một sự hiểu lầm. Chúng được cảm nhận sâu sắc trong liên hệ với thể cảm dục và thể xác cùng với hạ trí, và tạo ra sự kiểm soát đối với chúng. Vì tác động chính được cảm nhận trong những thể ấy, điểm đạo đồ có thể diễn giải rằng chúng đã diễn ra trên các cõi liên hệ, do tính sống động của tác động, và sự kích thích phần lớn biểu lộ trong thể cảm dục. Nhưng phải luôn nhớ rằng các lần điểm đạo chính yếu được tiếp nhận trong thể nguyên nhân hoặc—khi tách rời khỏi thể ấy—trên cõi Bồ đề. Trong hai lần điểm đạo cuối cùng, giải thoát con người khỏi ba cõi thấp và giúp y hoạt động trong thể sinh lực của Thượng đế và vận dụng mãnh lực làm sinh động vận cụ thượng đế ấy, điểm đạo đồ trở thành ngôi sao năm cánh, và nó giáng xuống trên y, hòa nhập vào y, và y được thấy ở chính trung tâm của nó. Sự giáng xuống này được tạo ra nhờ hành động của Đấng Điểm đạo, vận dụng Thần Trượng Điểm đạo, và đặt con người vào tiếp xúc với trung tâm trong Thể của Đức Hành Tinh Thượng Đế mà y là một phần của nó; điều này được thực hiện một cách hữu thức. Hai lần điểm đạo, được gọi là lần thứ sáu và thứ bảy, diễn ra trên cõi atma; ngôi sao năm cánh “bừng cháy từ bên trong chính nó” như cụm từ thần bí đã nói, và trở thành ngôi sao bảy cánh; nó giáng xuống trên con người và y đi vào Ngọn Lửa. (TCF 696-697) |
|
Third. The next reason is that the second aspect of the Logos (that of love or the manifestation of the love nature of the Logos through the medium of the Son) is the one demonstrated in this system. |
Thứ ba. Lý do kế tiếp là phương diện thứ hai của Thượng đế (đó là bác ái hay sự biểu lộ bản chất bác ái của Thượng đế qua trung gian của Con) là phương diện được biểu lộ trong hệ này. |
|
234. Again, this is correlated with the fact that we live in an astral-buddhic solar system. |
234. Một lần nữa, điều này tương quan với sự kiện rằng chúng ta sống trong một hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề. |
|
This system is: |
Hệ này là: |
|
a. A Son of Necessity, or of desire |
a. Một Con của Tất Yếu, hay của dục vọng |
|
235. Necessity is a Saturnian term and is most related to the will and to the first aspect. Yet desire and will are (at times) virtually interchangeable terms. |
235. Tất yếu là một thuật ngữ thuộc Sao Thổ và liên hệ nhiều nhất với ý chí và phương diện thứ nhất. Tuy nhiên, dục vọng và ý chí (đôi khi) hầu như là những thuật ngữ có thể thay thế cho nhau. |
|
236. Great Desire has brought our particular solar system into being. The solar system is a product of the irresistible desire of our Solar Logos for expression and for the redemption of lesser lives. |
236. Đại Dục Vọng đã đưa hệ mặt trời đặc thù của chúng ta vào hiện hữu. Hệ mặt trời là sản phẩm của dục vọng không thể cưỡng lại của Thái dương Thượng đế của chúng ta đối với sự biểu lộ và đối với sự cứu chuộc các sự sống nhỏ hơn. |
|
b. Vibrant to the key of the cosmic Ray of Love |
b. Rung động theo chủ âm của Cung Bác Ái vũ trụ |
|
237. This key is the key of “G”. |
237. Chủ âm này là chủ âm “G”. |
|
238. Note in this case the Ray of our solar system has not been called the Ray of Love-Wisdom, but the Ray of Love. |
238. Lưu ý rằng trong trường hợp này cung của hệ mặt trời chúng ta không được gọi là Cung của Bác Ái – Minh Triết, mà là Cung của Bác Ái. |
|
c. The form through which this ray of cosmic Love (shown in the inter-relation between the Self and the Not-Self, or through duality) is expressing itself |
c. Hình tướng mà qua đó cung Bác Ái vũ trụ này (được biểu lộ trong mối tương quan giữa Ngã và Phi-Ngã, hay qua nhị nguyên tính) đang tự biểu lộ |
|
239. Our solar system is a vehicle for the Ray of Cosmic Love. Love is especially the energy which relates the Self and the not-Self. |
239. Hệ mặt trời của chúng ta là một vận cụ cho Cung Bác Ái Vũ Trụ. Bác ái đặc biệt là năng lượng liên kết Ngã và phi-Ngã. |
|
d. Governed by the cosmic Law of Attraction. The monads of love are the dominating quality. (I choose this word ‘quality’ specifically.) |
d. Được cai quản bởi Định luật Hấp Dẫn vũ trụ. Các chân thần bác ái là phẩm tính chi phối. (Tôi chọn từ “phẩm tính” này một cách đặc biệt.) |
|
240. In our solar system there are said to be 35 billion Monads of Love, 20 billion Monads of Intelligence and 5 billion Monads of Power. |
240. Trong hệ mặt trời của chúng ta được nói là có 35 tỷ Chân thần Bác ái, 20 tỷ Chân thần Trí tuệ và 5 tỷ Chân thần Quyền năng. |
|
241. This would be a small number of Monads for the entire solar system, and so it must be asked whether this figure of 60 billion applies only to those Monads which are in incarnation at any one time. Remembering that only one seventh of all units are actually in incarnation and six sevenths are not we could hypothesize a figure of approximately 420 billion Monads in totality (not just in incarnation)—an interesting figure, and yet we cannot be at all assured that this is a worthy hypothesis, for other reasons. |
241. Đây sẽ là một số lượng Chân thần nhỏ đối với toàn bộ hệ mặt trời, và vì vậy phải đặt câu hỏi liệu con số 60 tỷ này chỉ áp dụng cho những Chân thần đang lâm phàm tại bất kỳ một thời điểm nào hay không. Nhớ rằng chỉ một phần bảy của mọi đơn vị thực sự đang lâm phàm và sáu phần bảy thì không, chúng ta có thể giả thuyết một con số xấp xỉ 420 tỷ Chân thần trong toàn thể (không chỉ đang lâm phàm)—một con số thú vị, tuy nhiên chúng ta hoàn toàn không thể chắc chắn rằng đây là một giả thuyết xứng đáng, vì những lý do khác. |
|
242. The hypothesis would be contradicted by the following. We have been told that the first solar system had 100 billion Monads of a dominant type; in the second solar system 200 billion human and deva Monads; and the third solar system will have 300 billion Monads—Monad, perhaps, which are not differentiated as either human or devic. No mentioned is made of whether these Monads are or are not in incarnation, and the numbers seem to indicate totalities. |
242. Giả thuyết này sẽ bị mâu thuẫn bởi điều sau đây. Chúng ta đã được cho biết rằng hệ mặt trời thứ nhất có 100 tỷ Chân thần thuộc một loại chi phối; trong hệ mặt trời thứ hai có 200 tỷ Chân thần người và thiên thần; và hệ mặt trời thứ ba sẽ có 300 tỷ Chân thần—có lẽ là Chân thần không được phân biệt là người hay thiên thần. Không có đề cập nào về việc những Chân thần này có hay không đang lâm phàm, và các con số dường như chỉ các toàn thể. |
|
1. In the first solar system there was one dominant evolution, and it consisted of one hundred thousand million monads. |
1. Trong hệ mặt trời thứ nhất có một tiến hoá chi phối, và nó gồm một trăm ngàn triệu chân thần. |
|
2. In the present system, the second, there are two dominant evolutions, the human and the deva; there are—as earlier stated—sixty thousand million human monads. Add to this the feminine evolution of the devas, consisting of 140 thousand million, and you have the necessary two hundred thousand million. This elucidates my statement anent this being a feminine system. |
2. Trong hệ hiện tại, hệ thứ hai, có hai tiến hoá chi phối, nhân loại và thiên thần; có—như đã nói trước đó—sáu mươi ngàn triệu chân thần người. Cộng thêm vào đó tiến hoá nữ tính của các thiên thần, gồm 140 ngàn triệu, và bạn có con số hai trăm ngàn triệu cần thiết. Điều này làm sáng tỏ phát biểu của tôi liên quan đến việc đây là một hệ nữ tính. |
|
3. In the third solar system, the total number in evolution will be the needed three hundred thousand million that perfection requires of the threefold Logos. (EH 109-110) |
3. Trong hệ mặt trời thứ ba, tổng số đang tiến hoá sẽ là ba trăm ngàn triệu cần thiết mà sự toàn thiện đòi hỏi nơi Thượng đế tam phân. (EH 109-110) |
|
243. The figure 420 billion (which would arise if the 60 billion human units are considered only those who are in incarnation) does not correlate with the figure of 200 billion human and deva Monads. 140 billion are said to be deva Monads. |
243. Con số 420 tỷ (sẽ phát sinh nếu 60 tỷ đơn vị người được xem chỉ là những đơn vị đang lâm phàm) không tương quan với con số 200 tỷ Chân thần người và thiên thần. 140 tỷ được nói là các Chân thần thiên thần. |
|
244. What does it mean that the Monads of Love are the “dominating quality”? The term “quality” is always related to the second aspect, the soul aspect, for the “soul is the quality of life”. |
244. Điều đó có nghĩa gì khi các Chân thần Bác ái là “phẩm tính chi phối”? Thuật ngữ “phẩm tính” luôn liên hệ với phương diện thứ hai, phương diện linh hồn, vì “linh hồn là phẩm tính của sự sống”. |
|
245. In addition, when Monads of a particular ray predominate, then the quality of those Monads is the predominating quality. Monads are here considered in relation to the quality of energy which they bring to solar systemic expression. |
245. Ngoài ra, khi các Chân thần của một cung đặc thù chiếm ưu thế, thì phẩm tính của những Chân thần ấy là phẩm tính chiếm ưu thế. Ở đây các Chân thần được xét trong liên hệ với phẩm tính năng lượng mà chúng mang đến cho sự biểu lộ của hệ mặt trời. |
|
246. The majority of these Monads was emanated in this solar system and may not have participated in the previous solar system. This is an abstruse matter, however, about which there can be no certainty for us. |
246. Đa số những Chân thần này đã được phát xạ trong hệ mặt trời này và có thể đã không tham dự vào hệ mặt trời trước. Tuy nhiên, đây là một vấn đề thâm áo mà về đó chúng ta không thể có sự chắc chắn nào. |
|
Fourth. The centre in the cosmic body of the ONE ABOUT WHOM NOUGHT MAY BE SAID of which our solar Logos is the embodied force is the heart centre. |
Thứ tư. Trung tâm trong thể vũ trụ của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ mà Thái dương Thượng đế của chúng ta là mãnh lực nhập thể của trung tâm ấy chính là trung tâm tim. |
|
247. There is a great blind surrounding the words “One About Whom Naught May Be Said”. It is a title which can be used to denote a number of entities. In this case, it is hypothesized that the words refer to a Cosmic Logos (a Logos in Whom Solar Logoi are as chakras). |
247. Có một bức màn che lớn bao quanh những lời “Đấng Bất Khả Tư Nghị”. Đây là một tước hiệu có thể được dùng để chỉ một số thực thể. Trong trường hợp này, giả thuyết là những lời ấy chỉ một Thượng đế Vũ Trụ (một Thượng đế trong Ngài các Thái dương Thượng đế là những luân xa). |
|
248. The title can also refer to a Super-Cosmic Logos, in Whom sevenfold solar systems are as chakras. In fact, this is usually they way in which this title is used. |
248. Tước hiệu này cũng có thể chỉ một Thượng đế Siêu Vũ Trụ, trong Ngài các hệ mặt trời thất phân là những luân xa. Thật ra, đây thường là cách mà tước hiệu này được dùng. |
|
249. The heart center is, of course the fourth chakra and has a particular resonance with the astral plane. |
249. Trung tâm tim, dĩ nhiên, là luân xa thứ tư và có một sự cộng hưởng đặc biệt với cõi cảm dục. |
|
Here we have one of the clues to the mystery of electricity. |
Ở đây chúng ta có một trong những đầu mối của huyền nhiệm điện lực. |
|
250. We may gather that the One About Whom Naught May Be Said and the position of our solar system within that Super-Cosmic Logos are related to the “mystery of electricity”. |
250. Chúng ta có thể suy ra rằng Đấng Bất Khả Tư Nghị và vị trí của hệ mặt trời chúng ta bên trong Thượng đế Siêu Vũ Trụ ấy có liên hệ với “huyền nhiệm điện lực”. |
|
251. The phenomenon of electricity is fundamentally based upon bi-polarity, of which our solar system is a great example. |
251. Hiện tượng điện lực về căn bản dựa trên lưỡng cực tính, mà hệ mặt trời của chúng ta là một ví dụ lớn. |
|
252. There are ways in which it can be hypothesized is inevitably related to the second ray and to the Law of Attraction. Without a division into positive and negative polarities, that which we call electricity could not exist. |
252. Có những cách để giả thuyết rằng nó tất yếu liên hệ với cung hai và với Định luật Hấp Dẫn. Nếu không có sự phân chia thành cực dương và cực âm, điều mà chúng ta gọi là điện lực không thể tồn tại. |
|
The sacred planets, with certain allied etheric spheres within the ring-pass-not, |
Các hành tinh thiêng liêng, cùng với một số khối cầu dĩ thái liên kết bên trong vòng-giới-hạn, |
|
253. The ring-pass-not must be our solar system… |
253. Vòng-giới-hạn hẳn phải là hệ mặt trời của chúng ta… |
|
254. We have been told elsewhere that there are a number of etheric planets within the ring-pass-not of our solar system. (cf. TCF 793-794) |
254. Ở nơi khác chúng ta đã được cho biết rằng có một số hành tinh dĩ thái bên trong vòng-giới-hạn của hệ mặt trời chúng ta. (x. TCF 793-794) |
|
255. Could the number of allied spheres be five which, with the seven sacred planets, would sum to the twelve of the twelve-petalled heart center? |
255. Liệu số lượng các khối cầu liên kết có thể là năm, mà cùng với bảy hành tinh thiêng liêng sẽ thành mười hai của trung tâm tim mười hai cánh chăng? |
|
256. Usually the synthesizing planets are included among the sacred planets and probably are so in this instance. Yet, we must reserve judgment on the question of whether they are to be included. |
256. Thông thường các hành tinh tổng hợp được kể vào trong các hành tinh thiêng liêng và có lẽ cũng vậy trong trường hợp này. Tuy nhiên, chúng ta phải tạm giữ phán đoán về câu hỏi liệu chúng có được tính vào hay không. |
|
257. It would seem that the non-sacred planets of our solar system are not being included as ‘petals in the Lotus’ discussed immediately below. |
257. Dường như các hành tinh không thiêng liêng của hệ mặt trời chúng ta không được tính như những ‘cánh hoa trong Hoa sen’ được bàn đến ngay bên dưới. |
|
are parts of that heart centre, and are ‘petals in the Lotus,’ or in the heart centre of that great unknown Existence Who stands to the solar Logos as He in His turn stands to the Heavenly [Page 512] Men Who are His centres, and specially as He stands to the particular Heavenly Man Who is the embodied force of the logoic Heart centre. |
là những phần của trung tâm tim ấy, và là ‘những cánh hoa trong Hoa sen’, hay trong trung tâm tim của Đấng Hiện Hữu vĩ đại vô danh ấy, Đấng đứng đối với Thái dương Thượng đế cũng như đến lượt Ngài đứng đối với các Đấng Thiên Nhân [Page 512] là những trung tâm của Ngài, và đặc biệt như Ngài đứng đối với Đấng Thiên Nhân đặc thù là mãnh lực nhập thể của trung tâm Tim thượng đế. |
|
258. Who is this “great unknown Existence”? It simply has to be a Cosmic Logos rather than a Super-Cosmic Logos for this Existence stands to the Solar Logos as the Solar Logos stands to the Heavenly Men. The Heavenly Man are chakras in the Solar Logos so the “Existence”, in this case, has to be one in which the Solar Logoi can be considered as chakras. Only a Cosmic Logos is suitable. |
258. “Đấng Hiện Hữu vĩ đại vô danh” này là ai? Đơn giản là phải là một Thượng đế Vũ Trụ chứ không phải một Thượng đế Siêu Vũ Trụ vì Đấng Hiện Hữu này đứng đối với Thái dương Thượng đế như Thái dương Thượng đế đứng đối với các Đấng Thiên Nhân. Các Đấng Thiên Nhân là các luân xa trong Thái dương Thượng đế, vì vậy “Đấng Hiện Hữu” trong trường hợp này phải là một Đấng trong đó các Thái dương Thượng đế có thể được xem như các luân xa. Chỉ một Thượng đế Vũ Trụ mới thích hợp. |
|
259. It may be suggested that just as there are seven sacred planets plus a number of etheric planets (perhaps five) which are parts of the heart center of the “great unknown Existence”, so there may be seven sacred Solar Logoi plus a certain number of additional etheric Solar Logoi (summing together to ten?) which may be part of the solar plexus center of a still greater Existence—a Super-Cosmic Logos. It is hypothesized that our Cosmic Logos is a solar plexus center in the One usually denotes as the One About Whom Naught May Be Said—a Super-Cosmic Logos. We are also analogizing, and thus hypothesizing that ten is the number of petals for the solar plexus center—not only for the human being, but for greater Entities. We may not be justified in doing this, but the number twelve does seem to hold in relation to heart centers of greater and lesser E/entities. |
259. Có thể gợi ý rằng cũng như có bảy hành tinh thiêng liêng cộng với một số hành tinh dĩ thái (có lẽ là năm) là những phần của trung tâm tim của “Đấng Hiện Hữu vĩ đại vô danh”, thì cũng có thể có bảy Thái dương Thượng đế thiêng liêng cộng với một số Thái dương Thượng đế dĩ thái bổ sung (cộng lại thành mười?) có thể là một phần của trung tâm tùng thái dương của một Đấng Hiện Hữu còn lớn lao hơn nữa—một Thượng đế Siêu Vũ Trụ. Giả thuyết là Thượng đế Vũ Trụ của chúng ta là một trung tâm tùng thái dương trong Đấng thường được gọi là Đấng Bất Khả Tư Nghị—một Thượng đế Siêu Vũ Trụ. Chúng ta cũng đang suy luận theo tương đồng, và do đó giả thuyết rằng mười là số cánh hoa của trung tâm tùng thái dương—không chỉ đối với con người, mà còn đối với các Thực Thể lớn hơn. Chúng ta có thể không có cơ sở để làm điều này, nhưng con số mười hai dường như vẫn đúng trong liên hệ với các trung tâm tim của các thực thể lớn hơn và nhỏ hơn. |
|
260. We note that there is a Heavenly Man “Who is the embodied force of the logoic Heart centre”, but that this Heavenly Man is not the logoic “Heart center”, itself. This is interesting and an important fact to remember. |
260. Chúng ta lưu ý rằng có một Đấng Thiên Nhân “là mãnh lực nhập thể của trung tâm Tim thượng đế”, nhưng Đấng Thiên Nhân này không phải chính là “trung tâm Tim” thượng đế. Điều này thú vị và là một sự kiện quan trọng cần nhớ. |
|
261. From what is said in certain sections of the text, Venus would seem to be the particular Heavenly Man Who is embodying the force of the logoic “Heart center”, and yet, we should not dismiss Jupiter which, microcosmically, stands for the heart center in the lives of disciples. |
261. Từ những gì được nói trong một số phần của bản văn, Sao Kim dường như là Đấng Thiên Nhân đặc thù đang nhập thể mãnh lực của “trung tâm Tim” thượng đế, tuy nhiên chúng ta không nên loại bỏ Sao Mộc, hành tinh ở cấp độ tiểu thiên địa tượng trưng cho trung tâm tim trong đời sống của các đệ tử. |
|
262. What is evident is that our Solar Logos has a special relationship with one of our Planetary Logoi and it is a ‘heart-to-heart’ relationship. |
262. Điều hiển nhiên là Thái dương Thượng đế của chúng ta có một mối liên hệ đặc biệt với một trong các Hành Tinh Thượng đế của chúng ta và đó là một mối liên hệ ‘tim với tim’. |
|
263. The equation could be as following: One About Whom Naught May Be Said/Solar Logos = Solar Logos/Jupiter or Venus. |
263. Phương trình có thể như sau: Đấng Bất Khả Tư Nghị/Thái dương Thượng đế = Thái dương Thượng đế/Sao Mộc hay Sao Kim. |
|
264. The section of text immediately above is actually obscure. We are dealing with a Cosmic Logos in whom our Solar Logos is the embodied force of the heart center. Yet every center has petals, and the seven sacred Planetary Logoi of our solar system plus five other etheric planets (not named) serve the function of the twelve petals in the that cosmic logoic heart center (of which our Solar Logos is the totality). One must think carefully here, in order not to become confused. |
264. Đoạn bản văn ngay bên trên thực sự tối nghĩa. Chúng ta đang đề cập đến một Thượng đế Vũ Trụ trong Ngài Thái dương Thượng đế của chúng ta là mãnh lực nhập thể của trung tâm tim. Tuy nhiên, mỗi trung tâm đều có các cánh hoa, và bảy Hành Tinh Thượng đế thiêng liêng của hệ mặt trời chúng ta cộng với năm hành tinh dĩ thái khác (không được nêu tên) đảm nhiệm chức năng của mười hai cánh hoa trong trung tâm tim của Thượng đế Vũ Trụ ấy (mà Thái dương Thượng đế của chúng ta là toàn thể của nó). Ở đây người ta phải suy nghĩ cẩn thận để không trở nên lẫn lộn. |
|
Therefore, it will be apparent to the careful student that the entire force and energy of the system and its life quality will be that which we call (having perforce to use handicapping, misleading words) LOVE. |
Do đó, điều sẽ hiển nhiên đối với đạo sinh cẩn trọng là toàn bộ mãnh lực và năng lượng của hệ cùng phẩm tính sự sống của nó sẽ là điều mà chúng ta gọi là (vì buộc phải dùng những từ ngữ hạn hẹp, gây hiểu lầm) BÁC ÁI. |
|
265. We have had this conclusion substantiated for us in many ways. |
265. Kết luận này đã được xác chứng cho chúng ta bằng nhiều cách. |
|
266. The word love is represented as “LOVE”, signifying, perhaps, its cosmic quality. Our Solar Logos is, indeed, a cosmic Being. |
266. Từ bác ái được trình bày là “BÁC ÁI”, có lẽ biểu thị phẩm tính vũ trụ của nó. Quả thật, Thái dương Thượng đế của chúng ta là một Hữu thể vũ trụ. |
|
267. We note that the Tibetan senses that the word “LOVE” is inadequate to describe the Energy for which it stands. |
267. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng cảm thấy từ “BÁC ÁI” là không đầy đủ để mô tả Năng Lượng mà nó biểu thị. |
|
268. Knowing so much of the true quality of the various planetary, systemic and cosmic energies, the Tibetan feels handicapped by the unexpressive human words He is compelled to use if He would communicate with us. |
268. Biết quá nhiều về phẩm tính chân thực của các năng lượng hành tinh, hệ thống và vũ trụ khác nhau, Chân sư Tây Tạng cảm thấy bị hạn chế bởi những từ ngữ nhân loại thiếu sức biểu đạt mà Ngài buộc phải dùng nếu Ngài muốn truyền đạt với chúng ta. |
|
This will account for the fact that the force that plays through that cosmic heart centre will be the paramount force found in the manifestation of a solar Logos, |
Điều này sẽ giải thích sự kiện rằng mãnh lực vận hành xuyên qua trung tâm tim vũ trụ ấy sẽ là mãnh lực tối thượng được tìm thấy trong sự biểu lộ của một Thái dương Thượng đế, |
|
269. Our Solar Logos is a cosmic heart center. |
269. Thái dương Thượng đế của chúng ta là một trung tâm tim vũ trụ. |
|
270. Because He is a heart center, the force which plays through Him predominantly is the force or energy of Love. |
270. Bởi vì Ngài là một trung tâm tim, nên mãnh lực vận hành xuyên qua Ngài một cách nổi trội là mãnh lực hay năng lượng của Bác ái. |
|
271. Our Solar Logos has a “Heart of the Sun” as well as a planet which is the embodied force of His heart expression—whether that planet be Venus or Jupiter. The distinction between the “Heart of the Sun” and the planet which most expresses the energy of the “Heart of the Sun” should be kept distinct. |
271. Thái dương Thượng đế của chúng ta có một “Trái Tim của Mặt Trời” cũng như một hành tinh là mãnh lực nhập thể của biểu hiện tim của Ngài—dù hành tinh đó là Sao Kim hay Sao Mộc. Cần giữ sự phân biệt rõ ràng giữa “Trái Tim của Mặt Trời” và hành tinh biểu lộ mạnh mẽ nhất năng lượng của “Trái Tim của Mặt Trời”. |
|
and of a Heavenly Man; |
và của một Đấng Thiên Nhân; |
|
272. The Heavenly Men are part of the expression of the Solar Logos and so, if for the Solar Logos, the heart center is the primary center, that heart influence will work through the Heavenly Men regardless of their particular ray. |
272. Các Đấng Thiên Nhân là một phần trong biểu hiện của Thái dương Thượng đế, và vì vậy, nếu đối với Thái dương Thượng đế, trung tâm tim là trung tâm chính yếu, thì ảnh hưởng tim đó sẽ vận hành xuyên qua các Đấng Thiên Nhân bất kể cung riêng biệt của Các Ngài là gì. |
|
it will likewise produce its microcosmic analogy, and reflective reactions; |
điều đó cũng sẽ tạo ra sự tương đồng tiểu thiên địa của nó, và các phản ứng phản chiếu; |
|
273. Even the human being will have the heart emphasized, because the human being, too, is a tiny aspect of the Solar Logos (Who is a great heart center). |
273. Ngay cả con người cũng sẽ có tim được nhấn mạnh, bởi vì con người cũng là một phương diện nhỏ bé của Thái dương Thượng đế (Đấng là một trung tâm tim vĩ đại). |
|
274. The heart center is (or will be) the most important chakra in this particular solar system. |
274. Trung tâm tim là (hoặc sẽ là) luân xa quan trọng nhất trong hệ mặt trời đặc thù này. |
|
hence the relative importance of the astral permanent atom within the causal periphery. |
do đó có tầm quan trọng tương đối của nguyên tử trường tồn cảm dục bên trong chu vi nhân thể. |
|
275. The astral permanent atom is on the “heart line”. That line contains the second, fourth and sixth energies, and any of them could stimulate this type of atom (though for different reasons). |
275. Nguyên tử trường tồn cảm dục nằm trên “đường tim”. Đường đó chứa các năng lượng thứ hai, thứ tư và thứ sáu, và bất kỳ năng lượng nào trong số đó cũng có thể kích thích loại nguyên tử này (dù vì những lý do khác nhau). |
|
276. We note that DK has offered us some impressive explanations concerning why the astral permanent atom is of such importance in our particular solar system. |
276. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK đã cống hiến cho chúng ta một số giải thích đầy ấn tượng về lý do tại sao nguyên tử trường tồn cảm dục lại có tầm quan trọng lớn lao như thế trong hệ mặt trời đặc thù của chúng ta. |
|
It [the astral permanent atom] is in the direct line of active force emanating from the cosmic existence, and passing to it in ever lessening degree, via the solar Logos in His system of love, and the planetary Logos within a scheme, the Dragon of Wisdom-Love. |
Nó [nguyên tử trường tồn cảm dục] nằm trên đường trực tiếp của mãnh lực hoạt động phát xạ từ sự tồn tại vũ trụ, và truyền đến nó với mức độ ngày càng giảm dần, qua Thái dương Thượng đế trong hệ bác ái của Ngài, và Hành Tinh Thượng đế bên trong một hệ hành tinh, Con Rồng của Minh Triết-Bác Ái. |
|
277. There is a profound hint buried in this section—namely, that the “cosmic existence” (greater than the Solar Logos) is also on a line of force resonant with the astral permanent atom. Thus, the line of force on which the “cosmic existence” finds itself will be a “soft line”. This tells us something very important about the quality of the Cosmic Logos (i.e., the “cosmic existence”. |
277. Có một gợi ý sâu xa được chôn giấu trong phần này—cụ thể là, “sự tồn tại vũ trụ” (lớn hơn Thái dương Thượng đế) cũng nằm trên một đường mãnh lực cộng hưởng với nguyên tử trường tồn cảm dục. Vì vậy, đường mãnh lực mà “sự tồn tại vũ trụ” tự thấy mình ở trên đó sẽ là một “đường mềm”. Điều này cho chúng ta biết một điều rất quan trọng về phẩm tính của Vũ Trụ Thượng đế (tức là “sự tồn tại vũ trụ”. |
|
278. The line of passage is as follows: Cosmic Logos→Solar Logos→Planetary Logos→(other steps)→astral permanent atom. |
278. Đường truyền dẫn như sau: Vũ Trụ Thượng đế→Thái dương Thượng đế→Hành Tinh Thượng đế→(các bước khác)→nguyên tử trường tồn cảm dục. |
|
279. Among thinkers pondering the Cosmic System in which our Solar Logos is a chakric part, it has been speculated that our Cosmic Logos is a solar plexus center in a still greater Super-Cosmic Logos. If this were the case, its line of energy would easily stimulate the astral permanent atom of the Solar Logos, the Planetary Logos or of a man. |
279. Trong số các nhà tư tưởng suy ngẫm về Hệ Vũ Trụ mà trong đó Thái dương Thượng đế của chúng ta là một phần luân xa, đã có suy đoán rằng Vũ Trụ Thượng đế của chúng ta là một trung tâm tùng thái dương trong một Siêu-Vũ Trụ Thượng đế còn vĩ đại hơn nữa. Nếu đúng như vậy, đường năng lượng của Ngài sẽ dễ dàng kích thích nguyên tử trường tồn cảm dục của Thái dương Thượng đế, của Hành Tinh Thượng đế hay của con người. |
|
280. The section above makes it much less likely that the Cosmic Logos is on a hard-line ray or represents a ‘hard-line’ chakra. |
280. Phần trên khiến khả năng Vũ Trụ Thượng đế ở trên một cung đường cứng hay đại diện cho một luân xa ‘đường cứng’ trở nên ít có khả năng hơn nhiều. |
|
This force when rightly directed and properly controlled is the great transmuting agency, which eventually will make of the human unit a Master of the Wisdom, a Lord of Love, a Dragon of Wisdom in lesser degree. |
Mãnh lực này khi được định hướng đúng đắn và kiểm soát thích đáng là tác nhân chuyển hoá vĩ đại, rốt cuộc sẽ làm cho đơn vị nhân loại trở thành một Chân sư Minh triết, một Chúa Tể của Bác ái, một Con Rồng của Minh Triết ở mức độ thấp hơn. |
|
281. When we studied alchemy during the last two sections of Semester Five, we learned that solar fire or love is the key agent of transmutation. That thought is here reemphasized. |
281. Khi chúng ta nghiên cứu thuật luyện kim trong hai phần cuối của Học kỳ Năm, chúng ta đã học rằng lửa thái dương hay bác ái là tác nhân chủ chốt của sự chuyển hoá. Tư tưởng ấy ở đây lại được nhấn mạnh thêm. |
|
282. We should combine this thought with the thought that Venus is an important transmuting agency. Venus, we realize, correlates with higher mental fire (solar fire) and with the second ray (on some very deep level of its existence). |
282. Chúng ta nên kết hợp tư tưởng này với tư tưởng rằng Sao Kim là một tác nhân chuyển hoá quan trọng. Chúng ta nhận ra rằng Sao Kim tương quan với lửa thượng trí (lửa thái dương) và với cung hai (ở một cấp độ rất sâu trong sự tồn tại của nó). |
|
283. The great learning here is that if we wish to succeed in the transmutative process, the energy of love must be utilized. |
283. Bài học lớn ở đây là nếu chúng ta muốn thành công trong tiến trình chuyển hoá, thì năng lượng của bác ái phải được sử dụng. |
|
284. It is love that elevates and refines matter and arranges for the liberation of Spirit from matter. |
284. Chính bác ái nâng vật chất lên, tinh luyện vật chất, và sắp đặt cho sự giải thoát của tinh thần khỏi vật chất. |
|
285. We should note that the Masters are Dragons of Wisdom “in lesser degree”. A close reading of the material concerning the Path of Earth Service will reveal much about the ‘Dragon status’ of such Initiates. |
285. Chúng ta nên lưu ý rằng các Chân sư là những Con Rồng của Minh Triết “ở mức độ thấp hơn”. Việc đọc kỹ tài liệu liên quan đến Con Đường Phụng Sự Địa Cầu sẽ tiết lộ nhiều điều về ‘địa vị Rồng’ của các Điểm đạo đồ như thế. |
|
Finally: this solar system, the objective physical manifestation of the Logos, is interpenetrated by His astral body, as is the case with the human manifestation. |
Sau cùng: hệ mặt trời này, sự biểu hiện hồng trần khách quan của Thượng đế, được thể cảm dục của Ngài thâm nhập xuyên suốt, cũng như trường hợp của biểu hiện nhân loại. |
|
286. The astral body of any entity is of greater extent or expanse than its physical body. |
286. Thể cảm dục của bất kỳ thực thể nào cũng có phạm vi hay độ rộng lớn hơn thể xác của nó. |
|
287. Where is the cosmic astral plane? Certainly not ‘above’ the cosmic physical plane as is portrayed in highly stratified yet necessarily artificial diagrams. |
287. Cõi cảm dục vũ trụ ở đâu? Chắc chắn không phải ở ‘phía trên’ cõi hồng trần vũ trụ như được mô tả trong những sơ đồ phân tầng cao độ nhưng tất yếu mang tính nhân tạo. |
|
288. In fact the cosmic astral plane is right ‘here’, thoroughly interpenetrating all aspects of the solar system (gross and more subtle). |
288. Thật ra, cõi cảm dục vũ trụ ở ngay ‘đây’, thâm nhập hoàn toàn mọi phương diện của hệ mặt trời (thô trọng và tinh tế hơn). |
|
289. All the other planes and the vehicles made of their particular substances are also right ‘here’. In this respect, there is no ‘elsewhere’ in relation to any of the vehicles of the Solar Logos. |
289. Tất cả các cõi khác và các vận cụ được tạo nên từ chất liệu riêng của chúng cũng đều ở ngay ‘đây’. Về phương diện này, không có ‘nơi nào khác’ liên hệ đến bất kỳ vận cụ nào của Thái dương Thượng đế. |
|
290. This idea could be extended with some amazing implications. |
290. Ý tưởng này có thể được mở rộng với một số hàm ý đáng kinh ngạc. |
|
As the Logos is polarised in His cosmic astral sheath and has not yet attained cosmic mental polarisation His force or desire nature is the main incentive for the subjective Life and lives that underlie the form. |
Vì Thượng đế được phân cực trong thể cảm dục vũ trụ của Ngài và chưa đạt đến sự phân cực trí tuệ vũ trụ nên mãnh lực hay bản chất dục vọng của Ngài là động lực chính cho Sự sống và các sự sống chủ quan nằm bên dưới hình tướng. |
|
291. We learn something important concerning the present polarization of the Solar Logos. It must be compared however with the following which indicates the future trend: |
291. Chúng ta học được điều gì đó quan trọng liên quan đến sự phân cực hiện tại của Thái dương Thượng đế. Tuy nhiên, điều này phải được so sánh với đoạn sau đây, vốn chỉ ra xu hướng tương lai: |
|
Not till the seventh cycle of the greater cycle, not till the calling of the system into obscuration and out of manifestation will the cosmic mental atom in the body of the Logos achieve polarisation. (LOM 25) |
Chỉ đến chu kỳ thứ bảy của đại chu kỳ, chỉ đến khi hệ được gọi vào sự che khuất và ra khỏi biểu hiện thì nguyên tử trí tuệ vũ trụ trong thể của Thượng đế mới đạt được sự phân cực. (LOM 25) |
|
292. From certain references it would appear that the achievement of mental polarisation is still a long way off for the Solar Logos, yet from other references, we realize that He is called a “Lion of Cosmic Will” and, further, that He will achieve either the fourth or fifth cosmic initiation during this solar system. These discrepant indications must be held for resolution by the intuition. |
292. Từ một số dẫn chiếu nhất định, dường như việc đạt được sự phân cực trí tuệ vẫn còn rất xa đối với Thái dương Thượng đế; tuy nhiên, từ những dẫn chiếu khác, chúng ta nhận ra rằng Ngài được gọi là một “Sư Tử của Ý Chí Vũ Trụ” và hơn nữa, Ngài sẽ đạt hoặc lần điểm đạo vũ trụ thứ tư hoặc thứ năm trong hệ mặt trời này. Những chỉ dấu bất nhất này phải được giữ lại để trực giác giải quyết. |
|
If the student will ponder with care these five facts, he will get a clue to the problems of existence as realised around us, to the causes of the heat of the solar system, |
Nếu đạo sinh suy ngẫm cẩn trọng về năm sự kiện này, y sẽ có được một đầu mối cho các vấn đề của sự tồn tại như được chứng nghiệm quanh chúng ta, cho các nguyên nhân của sức nóng của hệ mặt trời, |
|
293. “Heat” is an astral factor. Since the Solar Logos’ astral permanent atom is so powerfully stimulated, the “heat” factor in our solar system must be considerable. |
293. “Sức nóng” là một yếu tố cảm dục. Vì nguyên tử trường tồn cảm dục của Thái dương Thượng đế được kích thích mạnh mẽ đến thế, nên yếu tố “sức nóng” trong hệ mặt trời của chúng ta hẳn phải rất đáng kể. |
|
294. Mars is the planet of heat. It would seem that Mars (with its strong astral polarization) must be a planet highly stimulated in our particular solar system. |
294. Sao Hỏa là hành tinh của sức nóng. Dường như Sao Hỏa (với sự phân cực cảm dục mạnh mẽ của nó) hẳn là một hành tinh được kích thích cao độ trong hệ mặt trời đặc thù của chúng ta. |
|
295. Extending the idea, that particular ‘Brother’ of our Solar Logos Who represents the solar plexus center in our Cosmic Logos, must be very influential in relation to our Solar Logos and His system. |
295. Mở rộng ý tưởng này, ‘Huynh Đệ’ đặc thù của Thái dương Thượng đế của chúng ta, Đấng đại diện cho trung tâm tùng thái dương trong Vũ Trụ Thượng đế của chúng ta, hẳn phải có ảnh hưởng rất lớn liên hệ đến Thái dương Thượng đế và hệ của Ngài. |
|
296. It has been speculated that this particular Solar Logos in the Seven Solar Systems of Which Ours is One might be Fomalhaut, but there is no way to confirm this speculation. |
296. Đã có suy đoán rằng Thái dương Thượng đế đặc thù này trong Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của chúng ta là một có thể là Fomalhaut, nhưng không có cách nào xác nhận suy đoán này. |
|
297. It must also be clear that our Solar Logos is passing through a rajasic phase of existence rather than a sattvic phase. Rajas is associated with heat and with desire. |
297. Cũng phải rõ ràng rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta đang trải qua một giai đoạn tồn tại rajas hơn là một giai đoạn sattva. Rajas gắn liền với sức nóng và với dục vọng. |
|
to the method of the cosmic Law of Attraction and Repulsion, which governs all atomic forms, |
đối với phương pháp của Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi vũ trụ, vốn cai quản mọi hình tướng nguyên tử, |
|
298. This cosmic Law is the foremost Law in our solar system. |
298. Định luật vũ trụ này là Định luật hàng đầu trong hệ mặt trời của chúng ta. |
|
and to the question of SEX which is apparent in every kingdom of nature. |
và đối với vấn đề TÍNH DỤC vốn hiển nhiên trong mọi giới của bản chất. |
|
299. The issue of sex is related directly to the Law of Attraction and Repulsion. For our Solar Logos (astrally polarized as He is), it must be a major issue up for cosmic resolution. Perhaps, processes working through our planet will contribute to a successful resolution if successfully handled by our Planetary Logos. |
299. Vấn đề tính dục liên hệ trực tiếp với Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. Đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta (được phân cực cảm dục như Ngài đang là), đó hẳn phải là một vấn đề lớn đang chờ được giải quyết ở cấp độ vũ trụ. Có lẽ các tiến trình vận hành xuyên qua hành tinh của chúng ta sẽ góp phần vào một sự giải quyết thành công nếu được Hành Tinh Thượng đế của chúng ta xử lý thành công. |
|
300. We remember that the kingdoms in nature are not simply planetary in scope but appear throughout the solar system. |
300. Chúng ta nhớ rằng các giới trong bản chất không chỉ có phạm vi hành tinh mà còn xuất hiện khắp hệ mặt trời. |
|
They give the clue also to the constitution of the Divine Hermaphrodite. [Page 513] |
Chúng cũng cho đầu mối về cấu tạo của Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng. [Page 513] |
|
301. Here the Solar Logos is called the “Divine Hermaphrodite”. The term is also applied to the Planetary Logos. Any being who succeeds in uniting the positive and receptive poles at a high level of spiritual expression can be called a “Divine Hermaphrodite”. |
301. Ở đây Thái dương Thượng đế được gọi là “Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng”. Thuật ngữ này cũng được áp dụng cho Hành Tinh Thượng đế. Bất kỳ hữu thể nào thành công trong việc hợp nhất cực dương và cực tiếp nhận ở một cấp độ biểu hiện tinh thần cao đều có thể được gọi là một “Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng”. |
|
302. In the constitution of our particular Solar Logos there would be appear to be much of “Aphrodite” and the need that more of “Hermes” be cultivated. |
302. Trong cấu tạo của Thái dương Thượng đế đặc thù của chúng ta dường như có nhiều “Aphrodite” và cần phải vun bồi thêm nhiều “Hermes” hơn. |
|
Therefore, it is necessary to bear in mind the relative importance of the permanent atom of the second aspect of the personality within the causal periphery, and to remember that the force which flows through that atom and which is the animating force of the astral body is following the lines of least resistance and really might be considered as bearing upon his physical manifestation in a manner twice as strong as that reaching him through the other two. |
Vì vậy, cần ghi nhớ tầm quan trọng tương đối của nguyên tử trường tồn của phương diện thứ hai của phàm ngã bên trong chu vi nhân thể, và nhớ rằng mãnh lực chảy xuyên qua nguyên tử đó và là mãnh lực tiếp sinh lực cho thể cảm dục đang đi theo các con đường ít trở ngại nhất và thực sự có thể được xem là tác động lên biểu hiện hồng trần của y theo một cách mạnh gấp đôi so với mãnh lực đến với y qua hai nguyên tử kia. |
|
303. Here we are given a significant proportion. The force coming through the astral permanent atom of the Solar Logos is twice as strong as the force emanating from either the physical permanent atom or the mental unit. |
303. Ở đây chúng ta được cho một tỉ lệ có ý nghĩa. Mãnh lực đi qua nguyên tử trường tồn cảm dục của Thái dương Thượng đế mạnh gấp đôi mãnh lực phát ra từ nguyên tử trường tồn hồng trần hoặc đơn vị hạ trí. |
|
304. Is this proportion found also in those beings who are related to or reflective of the Solar Logos?—such as the Planetary Logos, Chain-Lords, Globe-Lords or human man? Certainly, in the case of man, we know him for a profoundly emotional being (at least at this period of his development). We also know, in the case of our own Planetary Logos, that He is full of “passion”. |
304. Tỉ lệ này có được tìm thấy nơi những hữu thể cũng liên hệ với hay phản chiếu Thái dương Thượng đế không?—chẳng hạn như Hành Tinh Thượng đế, các Chúa Tể Dãy, các Chúa Tể Bầu hành tinh hay con người? Chắc chắn, trong trường hợp con người, chúng ta biết y là một hữu thể cảm xúc sâu sắc (ít nhất trong giai đoạn phát triển này của y). Chúng ta cũng biết, trong trường hợp Hành Tinh Thượng đế của chính chúng ta, rằng Ngài đầy “đam mê”. |
|
305. We can see why it is so important to understand the astral body, to subdue it and to transform it. The condition within our solar system regarding the astral body suggests why the second initiation (the initiation, really, of the astral body) is so difficult for most human beings to take—especially if they are on one of the soft-line rays, or even on the rays of will—one and seven. For fifth and third ray types the second initiation is said to be a somewhat easier proposition. |
305. Chúng ta có thể thấy vì sao việc thấu hiểu thể cảm dục, chế ngự nó và chuyển đổi nó lại quan trọng đến vậy. Tình trạng bên trong hệ mặt trời của chúng ta liên quan đến thể cảm dục gợi ý vì sao lần điểm đạo thứ hai (thật ra là điểm đạo của thể cảm dục) lại khó khăn đến thế đối với phần lớn con người—đặc biệt nếu họ ở trên một trong các cung đường mềm, hoặc thậm chí trên các cung ý chí—một và bảy. Đối với những người cung năm và cung ba, lần điểm đạo thứ hai được nói là phần nào dễ hơn. |
|
The Logos expresses Himself now through the Divine Ray, His second aspect, and this Ray is the sumtotal of the radiation of the Lords of Wisdom, the Heavenly Men, the Dragons Who are Unity and Who are Love. |
Thượng đế biểu lộ chính Ngài hiện nay qua Cung Thiêng Liêng, phương diện thứ hai của Ngài, và Cung này là tổng thể của sự bức xạ của các Đấng Chúa Tể Minh Triết, các Đấng Thiên Nhân, các Con Rồng là Hợp Nhất và là Bác ái. |
|
306. This is an important and profoundly synthetic statement. The Divine Ray is the great Second Ray. The Primordial Ray is the Third Ray of Intelligent Activity. |
306. Đây là một phát biểu quan trọng và có tính tổng hợp sâu sắc. Cung Thiêng Liêng là Cung hai vĩ đại. Cung Nguyên Sơ là Cung ba của Hoạt Động Thông Tuệ. |
|
307. Heavenly Men are here called “Lords of Wisdom”. This is worth remembering. This appellation correlates with another of Their names: “Dragons of Wisdom”. |
307. Các Đấng Thiên Nhân ở đây được gọi là “các Đấng Chúa Tể Minh Triết”. Điều này đáng ghi nhớ. Danh xưng này tương quan với một tên gọi khác của Các Ngài: “các Con Rồng của Minh Triết”. |
|
308. We recall that the “Will to Unify” is the second ray mode of expressing will. The Heavenly Men, it would seem, are profoundly representative of the quality of unity. Together, it would seem, they engineer the unification or integration of many lives within the solar system. |
308. Chúng ta nhớ rằng “Ý Chí Hướng đến Hợp Nhất” là phương thức biểu lộ ý chí của cung hai. Dường như các Đấng Thiên Nhân đại diện sâu sắc cho phẩm tính hợp nhất. Cùng nhau, dường như Các Ngài điều phối sự hợp nhất hay sự tích hợp của nhiều sự sống trong hệ mặt trời. |
|
309. When thinking of the integration process of the human being, we can understand how each Heavenly Man plays His part—even the non-sacred Heavenly Men. |
309. Khi suy nghĩ về tiến trình tích hợp của con người, chúng ta có thể hiểu cách mỗi Đấng Thiên Nhân đóng vai trò của Ngài—ngay cả các Đấng Thiên Nhân không thiêng liêng. |
|
310. We see that the Divine Ray is complex; it is not an entirely homogenous factor, but consists of the radiation of all the Heavenly Men or Lords of Wisdom. They are as sub-tones or sub-colors to the divine energy of Love. |
310. Chúng ta thấy rằng Cung Thiêng Liêng là phức hợp; nó không phải là một yếu tố hoàn toàn đồng nhất, mà bao gồm sự bức xạ của tất cả các Đấng Thiên Nhân hay các Đấng Chúa Tể Minh Triết. Các Ngài như những âm phụ hay màu phụ đối với năng lượng bác ái thiêng liêng. |
|
311. We see that the Solar Logos expresses Himself “now” through the Divine Ray. The suggestion is that later He will express Himself through yet another ray—even though His soul ray will remain the second. |
311. Chúng ta thấy rằng Thái dương Thượng đế biểu lộ chính Ngài “hiện nay” qua Cung Thiêng Liêng. Hàm ý là về sau Ngài sẽ biểu lộ chính Ngài qua một cung khác nữa—dù cung linh hồn của Ngài vẫn sẽ là cung hai. |
|
Through Them [i.e., the Planetary Logoi] this force flows, and They in turn clothe Themselves with form, or as H. P. B. expresses it ‘The primordial Ray becomes the vahan for the Divine Ray.’68 |
Qua Các Ngài [tức là, các Hành Tinh Thượng đế] mãnh lực này tuôn chảy, và đến lượt mình Các Ngài khoác lấy hình tướng, hay như H. P. B. diễn đạt: ‘Cung nguyên sơ trở thành vahan cho Cung Thiêng Liêng.’68 |
|
312. The Ray of Love flows through all the Planetary Logoi, regardless of Their Ray. |
312. Cung Bác ái chảy xuyên qua mọi Hành Tinh Thượng đế, bất kể Cung của Các Ngài là gì. |
|
313. Because these Logoi express through planets They are closer to the third aspect than is the Solar Logos. In forming planets They do provide the “vahan” or vehicle “for the Divine Ray”. |
313. Bởi vì các Thượng đế này biểu lộ qua các hành tinh nên Các Ngài gần với phương diện thứ ba hơn Thái dương Thượng đế. Khi hình thành các hành tinh, Các Ngài thực sự cung cấp “vahan” hay vận cụ “cho Cung Thiêng Liêng”. |
|
314. In another more abstract sense the third ray (systemically) becomes the vehicle of the second. The rays are really matter of the utmost tenuity. |
314. Theo một nghĩa trừu tượng hơn khác, cung ba (trong hệ thống) trở thành vận cụ của cung hai. Các cung thực sự là vật chất ở mức cực kỳ tinh vi. |
|
Each ray of light, no matter of what colour, is likewise a sphere of matter of the utmost tenuity, rotating in a direction opposite to that of the planes. (TCF 152) |
Mỗi tia sáng, bất kể màu gì, cũng là một khối cầu vật chất ở mức cực kỳ tinh vi, quay theo hướng ngược với hướng của các cõi. (TCF 152) |
|
Their life [i.e., the life of the Planetary Logoi] animates every atom of substance when built into form, and Their life is the sumtotal of Logoic magnetism, or the great desire nature of the Logos going out after the Not-Self, producing the cosmic Marriage; |
Sự sống của Các Ngài [tức là, sự sống của các Hành Tinh Thượng đế] tiếp sinh lực cho mọi nguyên tử của chất liệu khi được xây dựng thành hình tướng, và Sự sống của Các Ngài là tổng thể của từ điện logoic, hay bản chất dục vọng vĩ đại của Thượng đế hướng ra ngoài tìm kiếm Phi-Ngã, tạo ra Cuộc Hôn Phối vũ trụ; |
|
315. Here the Planetary Logoi are associated with the “great desire nature of the Logos”. Desire is as closely related to the second aspect of divinity as it is (through the relation of will to desire) to the first. |
315. Ở đây các Hành Tinh Thượng đế được liên kết với “bản chất dục vọng vĩ đại của Thượng đế”. Dục vọng liên hệ mật thiết với phương diện thứ hai của thiên tính cũng như nó liên hệ (qua mối quan hệ của ý chí với dục vọng) với phương diện thứ nhất. |
|
316. The Dragons of Wisdom are (through Divine Desire) the unifiers of the solar system, and set up, eventually, the conditions under which the “cosmic Marriage” of the Solar Logos can be consummated. That day of consummation occurs as the result of a number of lesser consummations in which the Heavenly Men are directly involved. |
316. Các Con Rồng của Minh Triết là (qua Dục Vọng Thiêng Liêng) những đấng hợp nhất của hệ mặt trời, và rốt cuộc thiết lập các điều kiện mà dưới đó “Cuộc Hôn Phối vũ trụ” của Thái dương Thượng đế có thể được hoàn tất. Ngày hoàn tất đó xảy ra như kết quả của một số sự hoàn tất nhỏ hơn mà trong đó các Đấng Thiên Nhân trực tiếp tham dự. |
|
317. The Heavenly Men have to find Their Partners and merge with Them before the marriage of the Solar Logos can be consummated. |
317. Các Đấng Thiên Nhân phải tìm ra Bạn Đồng Hành của Các Ngài và dung hợp với Các Đấng ấy trước khi cuộc hôn phối của Thái dương Thượng đế có thể được hoàn tất. |
|
it is the logoic demonstration of the sex appeal, His search for His polar opposite, and their mystic union. |
đó là sự biểu lộ logoic của sức hấp dẫn giới tính, cuộc tìm kiếm của Ngài đối với cực đối nghịch của Ngài, và sự hợp nhất thần bí của họ. |
|
318. We see then, that the Heavenly Men are directly involved in the search of the Solar Logos “for His polar opposite and their mystic union”. |
318. Như vậy, chúng ta thấy rằng các Đấng Thiên Nhân trực tiếp tham dự vào cuộc tìm kiếm của Thái dương Thượng đế “đối với cực đối nghịch của Ngài và sự hợp nhất thần bí của họ”. |
|
319. The analogy can be carried down to lesser lives and lesser processes. We human beings (through our own amalgamations) will probably find ourselves to be involved in the amalgamation of greater Lives in which we live and move. Our rightful amalgamations on the human level will contribute to theirs. |
319. Sự tương đồng có thể được hạ xuống các sự sống nhỏ hơn và các tiến trình nhỏ hơn. Chúng ta, những con người, (qua những sự kết hợp của chính mình) có lẽ sẽ thấy mình tham dự vào sự kết hợp của những Sự sống lớn hơn mà trong đó chúng ta sống và vận động. Những sự kết hợp đúng đắn của chúng ta ở cấp độ nhân loại sẽ góp phần vào những sự kết hợp của các Đấng ấy. |
|
FOOTNOTE 68: |
CHÚ THÍCH 68: |
|
The Divine Ray contains within itself seven other rays. |
Cung Thiêng Liêng chứa trong chính nó bảy cung khác. |
|
320. The great Indigo Ray contains all the seven colors as sub-tones. Tone and color are synonymous. |
320. Cung Chàm vĩ đại chứa tất cả bảy màu như những âm phụ. Âm điệu và màu sắc là đồng nghĩa. |
|
321. A close study of Letters on Occult Meditation will reveal the relationship of the synthetic, Divine Ray to the other rays and their colors. (cf. LOM 213) |
321. Việc nghiên cứu kỹ Thư về Tham Thiền Huyền Bí sẽ tiết lộ mối liên hệ của Cung Thiêng Liêng tổng hợp với các cung khác và màu sắc của chúng. (xem LOM 213) |
|
It is the swan with the seven young ones. |
Đó là thiên nga với bảy con non. |
|
322. There must be a relation between the great Second Ray and that constellation called Cygnus, the Swan (found in relation to the constellation Aquarius). |
322. Hẳn phải có một mối liên hệ giữa Cung hai vĩ đại và chòm sao gọi là Cygnus, Thiên Nga (được tìm thấy trong mối liên hệ với chòm Aquarius). |
|
It is the Logos of love-wisdom with the seven planetary Logoi. |
Đó là Thượng đế của bác ái-minh triết với bảy Hành Tinh Thượng đế. |
|
323. These are the seven sacred Planetary Logoi. |
323. Đây là bảy Hành Tinh Thượng đế thiêng liêng. |
|
It is the Grand Man of the Heavens, with the seven Heavenly Men. |
Đó là Đại Nhân của Thiên Giới, với bảy Đấng Thiên Nhân. |
|
It is the One Boundless Principle, with the seven principles. This is subjectively. |
Đó là Một Nguyên Khí Vô Biên, với bảy nguyên khí. Điều này là về mặt chủ quan. |
|
324. Usually when we speak of the Boundless Immutable Principle, we mean that which is absolutely universal. We are assuming here that the “One Boundless Principle” is the equivalent of the “Boundless Immutable Principle”, but perhaps it is not intended to be. |
324. Thông thường khi nói về Nguyên Khí Bất Biến Vô Biên, chúng ta muốn nói đến cái tuyệt đối phổ quát. Ở đây chúng ta giả định rằng “Một Nguyên Khí Vô Biên” tương đương với “Nguyên Khí Bất Biến Vô Biên”, nhưng có lẽ không phải chủ ý là như vậy. |
|
325. In any case, it seems strange to call anything associated with the very bounded Solar Logos by the word “boundless”. |
325. Dù sao đi nữa, có vẻ lạ khi gọi bất cứ điều gì gắn với Thái dương Thượng đế vốn rất hữu hạn bằng từ “vô biên”. |
|
326. If we think analogically, we may gather that the Grand Man of the Heavens is as the Spirit aspect to His sevenfold solar system. |
326. Nếu suy nghĩ theo định luật tương đồng, chúng ta có thể suy ra rằng Đại Nhân của Thiên Giới giống như phương diện tinh thần đối với hệ mặt trời thất phân của Ngài. |
|
327. From a certain perspective, the atman (not atma) is pure being and can be considered a “Boundless Principle” (for who or what can bound the Spirit). Associated with Spirit are seven emanative principles, beginning with the atma. Such a meaning for this statement about the “One Boundless Principle” would be, at least, reasonable. |
327. Từ một góc nhìn nào đó, atman (không phải atma) là bản thể thuần túy và có thể được xem là một “Nguyên Khí Vô Biên” (vì ai hay cái gì có thể giới hạn Tinh thần?). Gắn với Tinh thần là bảy nguyên khí xuất lộ, bắt đầu bằng atma. Ít nhất, một ý nghĩa như thế cho phát biểu này về “Một Nguyên Khí Vô Biên” là hợp lý. |
|
It is the seven planets with their informing entities. |
Đó là bảy hành tinh với các thực thể thấm nhuần chúng. |
|
328. The Divine Ray is presented as the composite of the seven planetary rays. And yet, I think we would have to agree, it is more. |
328. Cung Thiêng Liêng được trình bày như hợp thể của bảy cung hành tinh. Tuy nhiên, tôi nghĩ chúng ta sẽ phải đồng ý rằng, nó còn là nhiều hơn thế. |
|
It is the seven planes with their animating principles. |
Đó là bảy cõi với các nguyên khí tiếp sinh lực cho chúng. |
|
329. Again, the Divine Ray lies at the root of the life or animating principles of the seven planes, and yet, it is more. |
329. Một lần nữa, Cung Thiêng Liêng nằm ở gốc rễ của sự sống hay các nguyên khí tiếp sinh lực của bảy cõi, nhưng nó còn là nhiều hơn thế. |
|
Love-Wisdom is the manifestation of the astral (or desire) nature of the Solar Logos.—S. D., I, 103. |
Bác Ái – Minh Triết là biểu hiện của bản chất cảm dục (hay dục vọng) của Thái dương Thượng đế.—S. D., I, 103. |
|
330. Love-Wisdom is not specifically the astral or desire nature of the Solar Logos, but the astral or desire nature of the Solar Logos is a manifestation of Love-Wisdom, just as the sixth ray is a manifestation of the second. |
330. Bác Ái – Minh Triết không đặc biệt là bản chất cảm dục hay dục vọng của Thái dương Thượng đế, nhưng bản chất cảm dục hay dục vọng của Thái dương Thượng đế là một biểu hiện của Bác Ái – Minh Triết, cũng như cung sáu là một biểu hiện của cung hai. |
|
This process is repeated by the microcosm following the line of his being, and this brings him likewise into incarnation, or into mystic union with form. |
Tiến trình này được tiểu thiên địa lặp lại theo đường lối hiện hữu của y, và điều này cũng đưa y vào lâm phàm, hay vào sự hợp nhất thần bí với hình tướng. |
|
331. The Love-Wisdom energy is always linking, binding, producing unity. In this case it is conceived as the bridging energy uniting Spirit with form or matter. |
331. Năng lượng Bác Ái – Minh Triết luôn luôn liên kết, ràng buộc, tạo ra hợp nhất. Trong trường hợp này, nó được quan niệm như năng lượng bắt cầu hợp nhất tinh thần với hình tướng hay vật chất. |
|
332. This is why the Buddha realized that to break man’s attachment to the “Wheel of Rebirth”, He would have to find a way to break the power of desire (a reflection of the Love-Wisdom energy). |
332. Đây là lý do vì sao Đức Phật nhận ra rằng để phá vỡ sự gắn chấp của con người vào “Bánh Xe Tái Sinh”, Ngài sẽ phải tìm ra một cách để phá vỡ quyền lực của dục vọng (một phản ánh của năng lượng Bác Ái – Minh Triết). |
|
b. The atomic triangle. The causal sheath is to the clairvoyant therefore a sphere of vibrant living substance; within it can be seen three fiery points. |
b. Tam giác nguyên tử. Vì vậy, đối với nhà thông nhãn, vỏ nguyên nhân là một khối cầu chất liệu sống rung động; bên trong nó có thể thấy ba điểm lửa. |
|
333. The fiery points here referenced are the members of the atomic triangle. |
333. Những điểm lửa được nhắc đến ở đây là các thành viên của tam giác nguyên tử. |
|
At the heart of the sphere is a central blaze of light, emitting [Page 514] rays; |
Ở trung tâm của khối cầu là một ngọn lửa sáng trung tâm, phát ra [Page 514] các tia; |
|
334. This is the “Jewel in the Lotus”. |
334. Đây là “Ngọc trong Hoa Sen”. |
|
these rays are given as seven in number, and play upon these points or circles (analogous to the electrons in the atoms of science) and at this stage produce most effect upon the astral permanent atom. |
các tia này được cho là có số lượng bảy, và tác động lên các điểm hay vòng tròn này (tương tự như các electron trong các nguyên tử của khoa học) và ở giai đoạn này tạo ra hiệu quả lớn nhất trên nguyên tử trường tồn cảm dục. |
|
335. The “Jewel in the Lotus” emits seven rays, and these rays play upon the permanent atoms (here called “points or circles”). Probably the particular vehicle which a given permanent atom or mental unit generates has something to do with the manner in which the rays of the “Jewel in the Lotus” play upon it. |
335. “Ngọc trong Hoa Sen” phát ra bảy tia, và các tia này tác động lên các nguyên tử trường tồn (ở đây được gọi là “các điểm hay vòng tròn”). Có lẽ vận cụ đặc thù mà một nguyên tử trường tồn hay đơn vị hạ trí nhất định tạo ra có liên quan đến cách các tia của “Ngọc trong Hoa Sen” tác động lên nó. |
|
336. In other places the radiation of the “Jewel in the Lotus” is seen to be eightfold. |
336. Ở những nơi khác, sự bức xạ của “Ngọc trong Hoa Sen” được thấy là bát phân. |
|
The Jewel itself remains occultly static, and does not circulate. It is a point of peace; it pulsates rhythmically as does the heart of man, and from it ray forth eight streams of living fire which extend to the tips of the four love petals and the four sacrifice petals. This eight-fold energy is atma-buddhi. It is this final raying forth which produces the eventual disintegration of the body of the Ego. (TCF 1118-1119) |
Bản thân Ngọc vẫn bất động một cách huyền bí, và không tuần hoàn. Nó là một điểm bình an; nó đập theo nhịp điệu như tim con người, và từ đó phát ra tám dòng lửa sống vươn đến các chóp của bốn cánh hoa bác ái và bốn cánh hoa hi sinh. Năng lượng bát phân này là atma-buddhi. Chính sự phát tia cuối cùng này tạo ra sự tan rã sau cùng của thể của Chân ngã. (TCF 1118-1119) |
|
337. Can it be that the eighth radiation is that of pure being itself? Atma would be threefold, buddhi fourfold and the Spirit unitary. |
337. Có thể nào sự bức xạ thứ tám là bức xạ của chính bản thể thuần túy? Atma sẽ là tam phân, buddhi tứ phân, và Tinh thần là nhất nguyên. |
|
338. We definitely seem to have a contradiction here. Either the radiation from the Jewel is sevenfold or it is eightfold. |
338. Rõ ràng dường như ở đây chúng ta có một mâu thuẫn. Hoặc sự bức xạ từ Ngọc là thất phân, hoặc là bát phân. |
|
339. We note however that in the case of the eightfold radiation, it extends to the tips of sacrifice and love petals. In the case of the sevenfold radiation, it extends to the members of the atomic triangle. |
339. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý rằng trong trường hợp bức xạ bát phân, nó vươn đến các chóp của các cánh hoa hi sinh và bác ái. Trong trường hợp bức xạ thất phân, nó vươn đến các thành viên của tam giác nguyên tử. |
|
340. Are we then dealing with fifteen different rays, or with two sets of seven and one fundamental ray of being? The matter is obscure and must be held up for intuitive resolution after all requisite reasoning is accomplished. |
340. Vậy thì chúng ta đang xử lý mười lăm tia khác nhau, hay hai bộ bảy và một tia căn bản của bản thể? Vấn đề này mơ hồ và phải được giữ lại để trực giác giải quyết sau khi mọi suy luận cần thiết đã hoàn tất. |
|
The physical permanent atom has a position relatively close to the positive centre, and the force plays through it, and passes on to the astral permanent atom in the form of five rays of parti-coloured light which blend with the intensely vivid hue of the astral permanent atom, |
Nguyên tử trường tồn hồng trần có một vị trí tương đối gần trung tâm dương, và mãnh lực vận hành xuyên qua nó, rồi truyền sang nguyên tử trường tồn cảm dục dưới hình thức năm tia ánh sáng nhiều màu hòa trộn với sắc thái cực kỳ rực rỡ của nguyên tử trường tồn cảm dục, |
|
341. How interesting that the physical permanent atom is the closest to the “positive centre”, the Jewel. Yet, in a sense, the Jewel is a ‘spiritual mineral’ and (in a way) Vulcan holds sway over both the Jewel and the physical permanent atom. |
341. Thật thú vị khi nguyên tử trường tồn hồng trần lại gần “trung tâm dương”, tức Ngọc, nhất. Tuy nhiên, theo một nghĩa nào đó, Ngọc là một ‘khoáng vật tinh thần’ và (theo một cách nào đó) Vulcan chi phối cả Ngọc lẫn nguyên tử trường tồn hồng trần. |
|
342. The five rays emanating from the physical permanent atom make sense, since five is the number of the brahmic aspect and the physical permanent atom is, of all the members of the atomic triangle, most associated with the brahmic aspect. |
342. Năm tia phát ra từ nguyên tử trường tồn hồng trần là điều hợp lý, vì năm là con số của phương diện brahmic và nguyên tử trường tồn hồng trần, trong tất cả các thành viên của tam giác nguyên tử, gắn với phương diện brahmic nhiều nhất. |
|
343. We notice how intensely vivid is the astral permanent atom. Will its hue be identical in all cases or will it depend upon the ray of the astral vehicle? |
343. Chúng ta lưu ý sắc thái của nguyên tử trường tồn cảm dục rực rỡ mãnh liệt đến mức nào. Liệu sắc thái của nó có giống hệt trong mọi trường hợp hay sẽ tùy thuộc vào cung của vận cụ cảm dục? |
|
and increase its intensity until the blaze is so excessive that it appears to the onlooker as if the two points blended, or the two electrons merged, and (in merging) produce such an intensity of light that they are seen as dissolving. |
và làm tăng cường độ của nó cho đến khi ánh chói trở nên quá mức đến nỗi đối với người quan sát, dường như hai điểm hòa lẫn, hay hai electron hợp nhất, và (trong sự hợp nhất) tạo ra một cường độ ánh sáng mạnh đến mức chúng được thấy như đang tan biến. |
|
344. We have a five plus a one. At a certain point in the process of development, the physical permanent atom and the astral permanent atom merge and blend. These two permanent atoms are considered as “electrons” and in their merging a great intensity of light is released. |
344. Chúng ta có một năm cộng một. Ở một điểm nào đó trong tiến trình phát triển, nguyên tử trường tồn hồng trần và nguyên tử trường tồn cảm dục hợp nhất và hòa trộn. Hai nguyên tử trường tồn này được xem như các “electron” và trong sự hợp nhất của chúng, một cường độ ánh sáng lớn được giải phóng. |
|
345. Will this merging occur at the time of the second initiation? It could be reasonably argued. |
345. Liệu sự hợp nhất này có xảy ra vào thời điểm lần điểm đạo thứ hai không? Có thể lập luận hợp lý như vậy. |
|
346. Or will the merging occur as the two tiers of petals (knowledge and love petals) have sprung open and being rotating together? |
346. Hay sự hợp nhất sẽ xảy ra khi hai tầng cánh hoa (các cánh hoa tri thức và các cánh hoa bác ái) đã bung nở và đang cùng quay? |
|
The mental unit, having a position within the causal body analogous to the planet furthermost from the sun, becomes vibrant likewise, |
Đơn vị hạ trí, có một vị trí bên trong thể nguyên nhân tương tự như hành tinh xa mặt trời nhất, cũng trở nên rung động, |
|
347. Since Pluto is (or has been) the well-known planet positioned farthest from the Sun, it is reasonable to associate the manasic permanent atom with Pluto. |
347. Vì Pluto là (hoặc đã từng là) hành tinh nổi tiếng nằm xa Mặt Trời nhất, nên việc liên kết nguyên tử trường tồn manas với Pluto là hợp lý. |
|
348. It makes sense, in this context, to associate the astral permanent atom with Mars and the physical permanent atom with the Earth. |
348. Trong ngữ cảnh này, việc liên kết nguyên tử trường tồn cảm dục với Sao Hỏa và nguyên tử trường tồn hồng trần với Trái Đất là điều hợp lý. |
|
349. From another perspective, the mental unit can be associated with the Earth—their symbols are even the same. |
349. Từ một góc nhìn khác, đơn vị hạ trí có thể được liên kết với Trái Đất—ngay cả các biểu tượng của chúng cũng giống nhau. |
|
350. Of Pluto, we know that it has a strongly mental content; its monadic ray is probably one of the rays of intelligence (maybe the third). |
350. Về Pluto, chúng ta biết rằng nó có một nội dung trí tuệ mạnh; cung chân thần của nó có lẽ là một trong các cung của trí tuệ (có thể là cung ba). |
|
and the two other points (considered now as one) begin to interact with the mental unit, and a similar process is set up and is pursued until these two points—circulating around their positive centre—also approach each other, blend, merge, and dissolve. |
và hai điểm kia (nay được xem như một) bắt đầu tương tác với đơn vị hạ trí, và một tiến trình tương tự được thiết lập và tiếp diễn cho đến khi hai điểm này—tuần hoàn quanh trung tâm dương của chúng—cũng tiến lại gần nhau, dung hợp, hợp nhất và tan biến. |
|
351. One blending has already occurred. Now the mental unit is to blend with the unit consisting of two blended units (physical and astral). |
351. Một sự dung hợp đã xảy ra. Giờ đây đơn vị hạ trí phải dung hợp với đơn vị gồm hai đơn vị đã được dung hợp (hồng trần và cảm dục). |
|
352. All this merging and blending must parallel the process of personality and personality/soul integration. |
352. Tất cả sự hợp nhất và dung hợp này phải song hành với tiến trình tích hợp phàm ngã và phàm ngã/linh hồn. |
|
353. The achievement of one initiation after another must also coincide with the merging and blending. |
353. Việc đạt được hết lần điểm đạo này đến lần điểm đạo khác cũng phải đồng thời với sự hợp nhất và dung hợp. |
|
354. We are witnessing a process of synthesis, obscuration and absorption (analogous on a tiny scale to that undergone by the planets towards the closer of the solar system). |
354. Chúng ta đang chứng kiến một tiến trình tổng hợp, che khuất và hấp thụ (tương tự ở một quy mô cực nhỏ với tiến trình mà các hành tinh trải qua đối với phần gần hơn của hệ mặt trời). |
|
355. The merging blending process is characterized by the numbers 5 + 1 + 1. The two ones represent the energies of abstraction in relation to the fundamental five. |
355. Tiến trình hợp nhất dung hợp được đặc trưng bởi các con số 5 + 1 + 1. Hai số một biểu thị các năng lượng trừu xuất trong tương quan với năm căn bản. |
|
356. When comparing this set up to that of the planes, the five lower systemic planes correspond to the physical permanent atom, the monadic plane to the astral and the logoic plane to the mental unit. |
356. Khi so sánh cấu trúc này với cấu trúc của các cõi, năm cõi hệ thống thấp tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần, cõi chân thần tương ứng với cảm dục và cõi logoic tương ứng với đơn vị hạ trí. |
|
357. VSK would call our attention to the relationship between this merging, blending and fiery dissolving and the First Stanza of Dzyan in which the “fire burneth up the whole”. |
357. VSK hẳn sẽ lưu ý chúng ta đến mối liên hệ giữa sự hợp nhất, dung hợp và tan rã trong lửa này với Bài Kệ thứ Nhất của Dzyan, trong đó “lửa thiêu rụi toàn thể”. |
|
358. We do know that the blended, merged and fiery members of the atomic triangle are instrumental in contributing to the destruction of the causal body. To their destructive role we must add the destructive role of the “raying forth” of the “Jewel in the Lotus”. |
358. Chúng ta biết rằng các thành phần đã được dung hợp, hợp nhất và bốc lửa của tam giác nguyên tử là những tác nhân góp phần vào sự hủy diệt thể nguyên nhân. Vào vai trò hủy diệt của chúng, chúng ta còn phải thêm vai trò hủy diệt của sự “phóng chiếu ra” của “Jewel in the Lotus”. |
|
359. We should note that two of the points circulate around the positive center. This may tell us something about ‘revolution’ as it occurs within the causal body. Yet, elsewhere we are told that he atomic triangle is found in the lower part of the causal body. |
359. Chúng ta nên lưu ý rằng hai điểm tuần hoàn quanh trung tâm dương. Điều này có thể cho chúng ta biết điều gì đó về ‘sự quay vòng’ như nó xảy ra bên trong thể nguyên nhân. Tuy vậy, ở nơi khác chúng ta được cho biết rằng tam giác nguyên tử nằm ở phần thấp của thể nguyên nhân. |
|
360. We are given the image of something resembling the Sun (Jewel in the Lotus) and the planets (the circulating members of the atomic triangle). |
360. Chúng ta được trao cho hình ảnh của một cái gì đó giống như Mặt Trời (Jewel in the Lotus) và các hành tinh (các thành phần tuần hoàn của tam giác nguyên tử). |
|
The centre of positive life gathers or synthesises the three points, |
trung tâm của sự sống dương thu góp hay tổng hợp ba điểm, |
|
361. Note that they are called “points” which is a good way of getting around the fact that two of them are permanent atoms and one of them, a mental unit. |
361. Lưu ý rằng chúng được gọi là “các điểm”, đây là một cách hay để tránh sự kiện rằng hai trong số đó là các nguyên tử trường tồn và một là đơn vị hạ trí. |
|
362. The “centre of positive life” is that projection of the Monad which we call the “Jewel in the Lotus”. |
362. “Trung tâm của sự sống dương” là sự phóng chiếu của Chân thần mà chúng ta gọi là “Jewel in the Lotus”. |
|
363. If we have wondered about the process of disintegration and sublimation undergone by the three members of the atomic triangle, we have the explanation here. The “Jewel in the Lotus” “gathers or synthesizes” the three points. |
363. Nếu chúng ta từng tự hỏi về tiến trình tan rã và thăng hoa mà ba thành phần của tam giác nguyên tử trải qua, thì ở đây chúng ta có lời giải thích. “Jewel in the Lotus” “thu góp hay tổng hợp” ba điểm. |
|
364. Yet, so it would seem, it will be necessary for the “Jewel in the Lotus” to transfer that that which has been gathered to the higher permanent atoms, as other references suggest that the energy or quality of the lower permanent atoms and mental unit are transferred to their higher correspondences in the spiritual triad. |
364. Tuy nhiên, dường như sẽ cần thiết để “Jewel in the Lotus” chuyển dịch điều đã được thu góp ấy sang các nguyên tử trường tồn cao hơn, vì những chỗ tham chiếu khác cho thấy rằng năng lượng hay phẩm tính của các nguyên tử trường tồn thấp hơn và của đơn vị hạ trí được chuyển dịch sang các đối phần cao hơn của chúng trong Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
and thus the three fires of the personality repeat on their tiny scale the microcosmic procedure as seen in the synthesis of electric fire, solar fire, and fire by friction, and only a blazing unit is left. |
và như thế ba ngọn lửa của phàm ngã lặp lại trên quy mô cực nhỏ của chúng tiến trình vi mô như được thấy trong sự tổng hợp của Lửa Điện, Lửa Thái dương và Lửa ma sát, và chỉ còn lại một đơn vị rực cháy. |
|
365. That “blazing unit” corresponds to the Sun. |
365. “Đơn vị rực cháy” ấy tương ứng với Mặt Trời. |
|
366. Within the atomic triangle the physical permanent atom represents fire by friction; the astral permanent atom represents solar fire; and the mental unit represents electric fire. |
366. Trong tam giác nguyên tử, nguyên tử trường tồn hồng trần biểu hiện Lửa ma sát; nguyên tử trường tồn cảm dục biểu hiện Lửa Thái dương; và đơn vị hạ trí biểu hiện Lửa Điện. |
|
367. The “Jewel in the Lotus” has become as a synthesizing planets, or even as the Sun, having absorbed the three points which have previously undergone their own process of merging and synthesizing. |
367. “Jewel in the Lotus” đã trở nên như một hành tinh tổng hợp, hay thậm chí như Mặt Trời, sau khi đã hấp thụ ba điểm vốn trước đó đã trải qua tiến trình riêng của chúng về hợp nhất và tổng hợp. |
|
This blazing unit, through the combined heat of its being, burns up the causal body, and escapes back on to the planes of abstraction. |
Đơn vị rực cháy này, nhờ nhiệt lực kết hợp của bản thể nó, thiêu hủy thể nguyên nhân, và thoát trở lại lên các cõi trừu xuất. |
|
368. Here we have discussed the ‘fate’ of the “Jewel in the Lotus” at the fourth initiation. |
368. Ở đây chúng ta đã bàn đến ‘số phận’ của “Jewel in the Lotus” ở lần điểm đạo thứ tư. |
|
369. How is the causal body destroyed? It has been suggested that the members of the now blazing atomic triangle contributed greatly to its destruction. This is partially true. It seems that the “Jewel in the Lotus”, having absorbed the blazing atomic triangle, is the factor which contributes most directly to the necessary destruction. We remember that the “Jewel in the Lotus” is an expression of monadic power. |
369. Thể nguyên nhân bị hủy diệt như thế nào? Người ta đã gợi ý rằng các thành phần của tam giác nguyên tử nay đang rực cháy đã góp phần lớn vào sự hủy diệt của nó. Điều này đúng một phần. Có vẻ như “Jewel in the Lotus”, sau khi đã hấp thụ tam giác nguyên tử rực cháy, là yếu tố góp phần trực tiếp nhất vào sự hủy diệt cần thiết. Chúng ta nhớ rằng “Jewel in the Lotus” là một biểu hiện của quyền năng chân thần. |
|
370. It would appear that the “Jewel in the Lotus” does not go directly to the monadic plane (as some diagrams might suggest) because we are told that after it “burns up the causal body”, it escapes back onto the “planes of abstraction”. |
370. Có vẻ như “Jewel in the Lotus” không đi trực tiếp đến cõi chân thần (như một số sơ đồ có thể gợi ý) bởi vì chúng ta được cho biết rằng sau khi nó “thiêu hủy thể nguyên nhân”, nó thoát trở lại lên các “cõi trừu xuất”. |
|
371. Note the plural—“planes”. If the escape were simply to one plane, the monadic plane, we might have been told so. But, in general, the “planes of abstractions” are the planes of the spiritual triad—each one of which is higher than the sub-plane on which the “Jewel in the Lotus” was positioned before its destruction. |
371. Lưu ý số nhiều—“các cõi”. Nếu sự thoát ra chỉ đơn giản là đến một cõi, tức cõi chân thần, hẳn chúng ta đã được nói như vậy. Nhưng nói chung, “các cõi trừu xuất” là các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần—mỗi cõi đều cao hơn cõi phụ mà trên đó “Jewel in the Lotus” đã được đặt trước khi bị hủy diệt. |
|
372. So we have the picture of the “Jewel in the Lotus” escaping onto the triadal planes which sets up the possibility that the content of the atomic triangle which it has absorbed can be distributed to the permanent atoms of the spiritual triad. |
372. Vì vậy chúng ta có hình ảnh “Jewel in the Lotus” thoát lên các cõi tam nguyên, điều này tạo ra khả năng rằng nội dung của tam giác nguyên tử mà nó đã hấp thụ có thể được phân phối đến các nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
373. These are important points and reveal to us how little we understand, technically, of the process of release and liberation. |
373. Đây là những điểm quan trọng và cho chúng ta thấy rằng, về mặt kỹ thuật, chúng ta hiểu biết ít ỏi biết bao về tiến trình giải thoát và giải phóng. |
|
Thus man is the Path itself, and also the pilgrim upon the Path; thus does he burn, but is also the burning-ground. |
Như thế con người chính là Con Đường, và cũng là người hành hương trên Con Đường; như thế y cháy lên, nhưng cũng chính là vùng đất cháy. |
|
374. Here is a beautiful summary statement. |
374. Đây là một phát biểu tổng kết đẹp đẽ. |
|
375. Man is to be understood synthetically. |
375. Con người phải được hiểu theo cách tổng hợp. |
|
376. Man is the point consciousness but also the ‘elongation’ of that point which we call the “Path”. |
376. Con người là tâm thức điểm nhưng cũng là sự ‘kéo dài’ của điểm ấy mà chúng ta gọi là “Con Đường”. |
|
377. The “Path” is both the Path of Consciousness and the Path of Life, sutratma. |
377. “Con Đường” vừa là Con Đường của Tâm thức vừa là Con Đường của Sự sống, sutratma. |
|
378. Man is not only that which burns but He is the burning itself. Man is the monadic fire which is essentially responsible for the burning. |
378. Con người không chỉ là cái đang cháy mà Ngài còn là chính sự cháy. Con người là lửa chân thần vốn chịu trách nhiệm cốt yếu cho sự cháy ấy. |
|
379. Man, therefore, is both entity and process (as that process affects the entity). |
379. Vì vậy, con người vừa là thực thể vừa là tiến trình (xét như tiến trình ấy tác động lên thực thể). |
|
380. We may think that man is both particle and wave. The particle can be associated with the first ray (and the third) and the wave with the second. |
380. Chúng ta có thể nghĩ rằng con người vừa là hạt vừa là sóng. Hạt có thể được liên kết với cung một (và cung ba), còn sóng thì với cung hai. |
|
381. Man is all points and the relation between all points. |
381. Con người là mọi điểm và là mối liên hệ giữa mọi điểm. |
|
The analogy holds true in the case of the microcosm viewed from monadic levels in his manifestation as Monad, Ego and Personality, and thus the process is carried on as it concerns a Heavenly Man, and likewise a solar Logos. |
Sự tương đồng này vẫn đúng trong trường hợp tiểu thiên địa khi được nhìn từ các cấp độ chân thần trong biểu hiện của y như Chân thần, Chân ngã và phàm ngã, và như thế tiến trình này cũng được tiếp tục khi liên quan đến một Đấng Thiên Nhân, và tương tự như vậy đối với một Thái dương Thượng đế. |
|
382. Man is the three points mentioned and the relation between the three points. The picture of the Caduceus is apt. Man is all the crossing points, but he is also that which does the crossing. |
382. Con người là ba điểm vừa được nhắc đến và là mối liên hệ giữa ba điểm ấy. Hình ảnh cây Caduceus là thích hợp. Con người là mọi điểm giao nhau, nhưng y cũng là cái thực hiện sự giao cắt ấy. |
|
383. Man is a “point of sacrificial fire focussed within the fiery will of God”. But man is also a “strand of loving energy within the stream of love divine”. Again, the point and the continuous extension of the point. Again, man is all things that can be related and, yet, the relation between those things. |
383. Con người là một “điểm của lửa hi sinh được hội tụ trong ý chí rực lửa của Thượng đế”. Nhưng con người cũng là một “sợi năng lượng bác ái trong dòng chảy của tình thương thiêng liêng”. Một lần nữa, điểm và sự kéo dài liên tục của điểm. Một lần nữa, con người là mọi sự vật có thể được liên hệ, và đồng thời là mối liên hệ giữa những sự vật ấy. |
|
Should the brain suffice to hold the concept, |
Nếu bộ não đủ sức nắm giữ khái niệm này, |
|
384. Which is not a foregone conclusion… |
384. Điều đó không phải là điều đương nhiên… |
|
thus [Page 515] is the process also on cosmic levels for such high existences as the seven Rishis of the Great Bear, and that still greater Being, the ONE ABOUT WHOM NOUGHT MAY BE SAID. |
như thế [Page 515] cũng là tiến trình trên các cấp độ vũ trụ đối với những Hiện Hữu cao cả như bảy vị Rishi của Đại Hùng Tinh, và Đấng còn vĩ đại hơn nữa, ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ. |
|
385. In TCF the process of analogy always holds good, as long as the analogy is not pushed too far. |
385. Trong Luận về Lửa Vũ Trụ, tiến trình tương đồng luôn luôn đúng, miễn là sự tương đồng không bị đẩy đi quá xa. |
|
386. In this case the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID is a Super-Cosmic Logos, a being greater than the One Who ensouls the Seven Rishis of the Great Bear. |
386. Trong trường hợp này, ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ là một Thượng đế Siêu Vũ Trụ, một hữu thể vĩ đại hơn Đấng phú linh cho Bảy vị Rishi của Đại Hùng Tinh. |
|
387. The entire Universe was born of emanation. Man (and by this is meant all strata of ‘Men’—planetary, systemic, cosmic and supercosmic) is the point that emanates on the stream of emanative energy. He is also the point from which the emanation began. From point to point on the stream—man is all points and all streams. |
387. Toàn thể Vũ Trụ được sinh ra từ sự phát xạ. Con người (và bởi điều này muốn nói đến mọi tầng lớp ‘Con Người’—hành tinh, hệ thống, vũ trụ và siêu vũ trụ) là điểm phát xạ trên dòng năng lượng phát xạ. Ngài cũng là điểm mà từ đó sự phát xạ bắt đầu. Từ điểm đến điểm trên dòng chảy—con người là mọi điểm và mọi dòng. |
|
388. From another perspective, ‘Men’ are points and Devas are ‘streams’ or ‘strands’. |
388. Từ một góc nhìn khác, ‘Con Người’ là các điểm còn Chư thiên là các ‘dòng’ hay ‘sợi’. |
|
389. In pondering on the relationship between ‘points’ and ‘streams’ much may be learned about the relationship, cosmically, between ‘Men’ and ‘Devas’. ‘Men’ are as points of crystallization and ‘Devas’ are as relations between the points. Obviously, this matter needs much penetration and expansion. |
389. Khi suy ngẫm về mối liên hệ giữa ‘các điểm’ và ‘các dòng’, người ta có thể học được nhiều điều về mối liên hệ, trên bình diện vũ trụ, giữa ‘Con Người’ và ‘Chư thiên’. ‘Con Người’ như những điểm kết tinh còn ‘Chư thiên’ như những mối liên hệ giữa các điểm. Hiển nhiên, vấn đề này cần rất nhiều sự thâm nhập và mở rộng. |