Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến trang sách tương ứng trong TCF
TCF 515-526: S5S7
|
1 – 15 July 2007 |
1 – 15 July 2007 |
|
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) |
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi trình chiếu trong các lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện) |
|
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. |
Có gợi ý rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. |
|
3. The Spirillae and the Egoic Ray. |
3. Các loa tuyến và cung chân ngã. |
|
1. We are going to deal with a fascinating occult subject. |
1. Chúng ta sắp bàn đến một chủ đề huyền bí học hấp dẫn. |
|
2. We should be able to extend the subject to speculations concerning the Egoic Ray of the Solar Logos and the planes of the solar system. |
2. Chúng ta hẳn có thể mở rộng chủ đề này đến những suy đoán liên quan đến cung chân ngã của Thái dương Thượng đế và các cõi của hệ mặt trời. |
|
We will take up now the subject of the spirillae within the permanent atom, and see in what manner they are affected by the egoic ray, remembering always that we are considering them as: |
Giờ đây chúng ta sẽ bàn đến chủ đề các loa tuyến bên trong nguyên tử trường tồn, và xem chúng bị ảnh hưởng bởi cung chân ngã theo cách nào, luôn luôn nhớ rằng chúng ta đang xem xét chúng như là: |
|
3. Presumably they will also be affected by the personality ray, and perhaps by the rays of the other vehicles. |
3. Có lẽ chúng cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi cung phàm ngã, và có thể bởi các cung của những hiện thể khác. |
|
4. We remember to regard each permanent atom as a kind of seventh principle capable of affecting the vehicles of which it is the nucleus. |
4. Chúng ta nhớ xem mỗi nguyên tử trường tồn như một loại nguyên khí thứ bảy có khả năng tác động đến các hiện thể mà nó là hạt nhân. |
|
5. The ray of any vehicle works principally through the permanent atom which generates that vehicle, and that ray will have an effect upon the spirillae of the permanent atom and, also, the spirillae of all atoms gathered in the vehicle for which any permanent atom forms the nucleus. |
5. Cung của bất kỳ hiện thể nào hoạt động chủ yếu thông qua nguyên tử trường tồn tạo ra hiện thể ấy, và cung đó sẽ có ảnh hưởng lên các loa tuyến của nguyên tử trường tồn và cả các loa tuyến của mọi nguyên tử được tập hợp trong hiện thể mà bất kỳ nguyên tử trường tồn nào tạo thành hạt nhân. |
|
6. The following are ways we might consider permanent atoms. |
6. Sau đây là những cách chúng ta có thể xem xét các nguyên tử trường tồn. |
|
First. The interior economy of the life germ on the three planes which concern man in the three worlds; second, as the seventh principle in each of the three sheaths; and third, as the positive nucleus of force which holds together the matter of the three sheaths. |
Thứ nhất. Cơ cấu nội tại của mầm sống trên ba cõi liên quan đến con người trong ba cõi thấp; thứ hai, như nguyên khí thứ bảy trong mỗi một trong ba thể vỏ; và thứ ba, như hạt nhân dương của mãnh lực giữ cho vật chất của ba thể vỏ kết hợp với nhau. |
|
7. The third way to consider permanent atoms is perhaps easiest to understand. The permanent atoms have a cohesive force which holds together the vehicles they have magnetically gathered. This seems to be a second ray capacity. |
7. Cách thứ ba để xem xét các nguyên tử trường tồn có lẽ là dễ hiểu nhất. Các nguyên tử trường tồn có một mãnh lực kết dính giữ cho các hiện thể mà chúng đã tập hợp bằng từ tính được gắn kết với nhau. Điều này dường như là một năng lực cung hai. |
|
8. The permanent atoms are as the “seventh principle” in each of the sheaths. That principle can be associated with atma (from one perspective), and is thus a directing and directive principle. (This function of the permanent atoms suggests the quality of the first ray). |
8. Các nguyên tử trường tồn như là “nguyên khí thứ bảy” trong mỗi thể vỏ. Nguyên khí ấy có thể được liên kết với atma (từ một góc nhìn), và do đó là một nguyên khí chỉ đạo và mang tính chỉ đạo. (Chức năng này của các nguyên tử trường tồn gợi ra phẩm tính của cung một). |
|
9. They are also “the interior economy of the life germ on the three planes”. The word “economy” immediately suggests the third ray. The life germ is ‘Spirit-in-attenuation’ (at least, reduced in its capacity to impact environment, but Spirit nonetheless). The idea presented is one which designates the permanent atom as a kind of “administrative center” to carry out the purposes of the “life germ”. It does this with intelligence—albeit, unconscious intelligence. |
9. Chúng cũng là “cơ cấu nội tại của mầm sống trên ba cõi”. Từ “cơ cấu” lập tức gợi đến cung ba. Mầm sống là ‘Tinh thần-trong-sự-suy-giảm’ (ít nhất là bị giảm trong khả năng tác động lên môi trường, nhưng vẫn là Tinh thần). Ý tưởng được trình bày ở đây chỉ định nguyên tử trường tồn như một loại “trung tâm hành chính” để thực hiện các mục đích của “mầm sống”. Nó làm điều này bằng trí tuệ—dù là trí tuệ vô thức. |
|
Let us therefore study two things: |
Vì vậy chúng ta hãy nghiên cứu hai điều: |
|
The composition of the permanent atom. |
Thành phần cấu tạo của nguyên tử trường tồn. |
|
The difference between the mental unit and the astral and physical permanent atoms. |
Sự khác biệt giữa đơn vị hạ trí và các nguyên tử trường tồn cảm dục và hồng trần. |
|
10. We are entering the realm of the fifth ray and must be prepared for minute considerations. |
10. Chúng ta đang bước vào lĩnh vực của cung năm và phải chuẩn bị cho những xem xét tỉ mỉ. |
|
To do this with clarity, and so bring some kind of definite concept into being from the dark regions of abstraction, let us tabulate: |
Để làm điều này một cách rõ ràng, và như thế đưa một loại khái niệm xác định nào đó vào hiện hữu từ những vùng tối của sự trừu xuất, chúng ta hãy lập bảng: |
|
11. There is something about the process of tabulation which presents the mind with a linearity it finds reassuring and clarifying. |
11. Có điều gì đó trong tiến trình lập bảng đem lại cho trí tuệ một tính tuyến tính mà nó thấy yên tâm và sáng tỏ. |
|
a. The composition of the permanent atom: The permanent atom of the astral and physical planes is a sphere of physical or astral substance, composed of atomic matter, and characterised by the following qualities: |
a. Thành phần cấu tạo của nguyên tử trường tồn: Nguyên tử trường tồn của cõi cảm dục và cõi hồng trần là một khối cầu chất liệu hồng trần hay cảm dục, được cấu thành từ vật chất nguyên tử, và được đặc trưng bởi các phẩm tính sau: |
|
12. The first thing of importance is to notice the sphericity of the permanent atom. This statement is probably a generality or an approximation. Sometimes, different shapes are assigned to different types of permanent atoms—for instance, a heart shape to the astral permanent atom and a figure-eight shape to the buddhic permanent atom. |
12. Điều đầu tiên quan trọng là lưu ý tính hình cầu của nguyên tử trường tồn. Phát biểu này có lẽ là một khái quát hay một sự gần đúng. Đôi khi, những hình dạng khác nhau được gán cho những loại nguyên tử trường tồn khác nhau—chẳng hạn, hình trái tim cho nguyên tử trường tồn cảm dục và hình số tám cho nguyên tử trường tồn Bồ đề. |
|
13. We note that the Tibetan is not discussing the mental unit. We may question at this point whether it, too, has a spherical shape. |
13. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng không bàn đến đơn vị hạ trí. Tại điểm này chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu nó cũng có hình cầu hay không. |
|
Responsiveness. This is its inherent power to respond to the vibration of some one of the Heavenly Men, as it is transmitted via the deva, or Brahma aspect, of His threefold nature. |
Tính đáp ứng. Đây là quyền năng cố hữu của nó để đáp ứng với rung động của một trong các Đấng Thiên Nhân, khi rung động ấy được truyền qua phương diện thiên thần, hay Brahma, của bản chất tam phân của Ngài. |
|
14. It would seem that permanent atoms are selective in their response and respond to “some one of the Heavenly Men” more than others. |
14. Có vẻ như các nguyên tử trường tồn có tính chọn lọc trong sự đáp ứng của chúng và đáp ứng với “một trong các Đấng Thiên Nhân” nhiều hơn những vị khác. |
|
15. We infer that the permanent atom has aspects in its nature that correspond to the Vishnu and Shiva aspects, but that it is through the Brahma aspect that its primary response to the Heavenly Men occurs. |
15. Chúng ta suy ra rằng nguyên tử trường tồn có những phương diện trong bản chất của nó tương ứng với các phương diện Vishnu và Shiva, nhưng chính qua phương diện Brahma mà sự đáp ứng chủ yếu của nó đối với các Đấng Thiên Nhân xảy ra. |
|
16. If the ray which a permanent atom transmits changes from life to life, shall we gather that the type of Heavenly Man to which it may respond in any one incarnational cycle may change? |
16. Nếu cung mà một nguyên tử trường tồn truyền dẫn thay đổi từ kiếp này sang kiếp khác, liệu chúng ta có nên kết luận rằng loại Đấng Thiên Nhân mà nó có thể đáp ứng trong bất kỳ chu kỳ nhập thể nào cũng có thể thay đổi không? |
|
17. We note the important point that the influences of the Heavenly Men do not reach the permanent atoms directly but that such influence is mediated via the deva or Brahma aspect. |
17. Chúng ta lưu ý điểm quan trọng rằng các ảnh hưởng của các Đấng Thiên Nhân không đến các nguyên tử trường tồn một cách trực tiếp mà ảnh hưởng ấy được trung gian qua phương diện thiên thần hay Brahma. |
|
18. This is certainly so as regards the manner in which Heavenly Men affect human beings, as well. Only a Master may have direct contact with another Planetary Logos. For the rest of us that influence reaches us via a stream of devic energy attuned to the Heavenly Man and yet capable of impacting a human being directly. |
18. Điều này chắc chắn cũng đúng đối với cách các Đấng Thiên Nhân tác động đến con người. Chỉ một Chân sư mới có thể có tiếp xúc trực tiếp với một Hành Tinh Thượng đế khác. Đối với phần còn lại của chúng ta, ảnh hưởng ấy đến với chúng ta qua một dòng năng lượng thiên thần được điều chỉnh theo Đấng Thiên Nhân nhưng vẫn có khả năng tác động trực tiếp đến một con người. |
|
The permanent atom finds its place within the sphere of influence of one or other of the great devas who are the Raja-Lords of a plane. |
Nguyên tử trường tồn tìm thấy vị trí của nó trong phạm vi ảnh hưởng của một hay một vị khác trong các đại thiên thần là các Raja-Lord của một cõi. |
|
19. Each permanent atom is found on the atomic sub-plane of a particular systemic plane. Each systemic plane is the body of expression of one of the Raja Deva Lords. |
19. Mỗi nguyên tử trường tồn được tìm thấy trên cõi phụ nguyên tử của một cõi hệ thống nhất định. Mỗi cõi hệ thống là thể biểu hiện của một trong các Raja Deva Lord. |
|
20. The physical permanent atom, therefore, will be influenced by Raja Deva Lord Kshiti; the astral permanent atom by Varuna; and the mental unit and manasic permanent atom by Agni, etc. |
20. Vì vậy, nguyên tử trường tồn hồng trần sẽ chịu ảnh hưởng của Raja Deva Lord Kshiti; nguyên tử trường tồn cảm dục bởi Varuna; và đơn vị hạ trí cùng nguyên tử trường tồn manas bởi Agni, v.v. |
|
21. Below, we appear to speaking of matters microcosmic. |
21. Ở dưới đây, dường như chúng ta đang nói về những vấn đề vi mô. |
|
Form Building Power. These devas |
Quyền năng Xây dựng Hình tướng. Các thiên thần này |
|
22. We appear to be speaking of Raja Deva Lords when speaking of “these devas”. |
22. Dường như chúng ta đang nói về các Raja Deva Lord khi nói đến “các thiên thần này”. |
|
sound forth two syllables of the threefold microcosmic word and are each (on their own plane) the coherent agency which gathers [Page 516] substance into form, and attracts matter for purposes of objectivity. |
xướng lên hai âm tiết của linh từ vi mô tam phân và mỗi vị đều là (trên cõi riêng của mình) tác nhân kết hợp mà thu góp [Page 516] chất liệu vào hình tướng, và thu hút vật chất vì các mục đích khách quan hóa. |
|
23. Why two syllables? Is it because, thus far, we are dealing with only two permanent atoms, and not yet with the mental unit? The “threefold microcosmic word” would be a work referring to the three dimensions of the personality—etheric-physical, astral and lower mental. |
23. Tại sao lại là hai âm tiết? Có phải vì cho đến nay chúng ta mới chỉ đang bàn đến hai nguyên tử trường tồn, chứ chưa bàn đến đơn vị hạ trí? “Linh từ vi mô tam phân” hẳn là một cách nói quy chiếu đến ba chiều kích của phàm ngã—dĩ thái-hồng trần, cảm dục và hạ trí. |
|
24. We recall that the members of the deva kingdom are qualified by the third and second aspects, whereas man is qualified by the first and second. |
24. Chúng ta nhớ rằng các thành viên của giới thiên thần được định tính bởi phương diện thứ ba và thứ hai, trong khi con người được định tính bởi phương diện thứ nhất và thứ hai. |
|
25. In their role as “the coherent agency which gathers substance into form”, it is the second aspect of divinity which is being exercised, according to the second systemic law—the Law of Cohesion. |
25. Trong vai trò của chúng như “tác nhân kết hợp mà thu góp chất liệu vào hình tướng”, chính phương diện thứ hai của thiên tính đang được vận dụng, theo định luật hệ thống thứ hai—Định luật Cố kết. |
|
The astral sound produces the microcosmic ‘Son of Necessity,’ and when it reverberates on the physical plane produces physical incarnation, and the sudden appearance on etheric levels of the seven centres. |
Âm thanh cảm dục tạo ra ‘Con của Tất Yếu’ vi mô, và khi nó vang dội trên cõi hồng trần thì tạo ra sự nhập thể hồng trần, và sự xuất hiện đột ngột trên các cấp độ dĩ thái của bảy trung tâm. |
|
26. We note that the centers appeared on the etheric levels suddenly. We may presume, I think, that on the astral plane, the centers pre-existed their etheric appearance. |
26. Chúng ta lưu ý rằng các trung tâm xuất hiện trên các cấp độ dĩ thái một cách đột ngột. Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể giả định rằng trên cõi cảm dục, các trung tâm đã hiện hữu trước khi xuất hiện trên dĩ thái. |
|
27. The solar system is said to be a “Son of Necessity”. The solar system is the physical-etheric vehicle of the Solar Logos. By analogy, the physical-etheric nature of a human being would be a microcosmic ‘Son of Necessity’. |
27. Hệ mặt trời được nói là một “Con của Tất Yếu”. Hệ mặt trời là hiện thể hồng trần-dĩ thái của Thái dương Thượng đế. Theo sự tương đồng, bản chất hồng trần-dĩ thái của một con người sẽ là một ‘Con của Tất Yếu’ vi mô. |
|
28. We have often to question whether appearances occur suddenly (all at once) or sequentially, gradually in time. This type of question refers to revelation as well—is it sudden or more gradual? |
28. Chúng ta thường phải đặt câu hỏi liệu các sắc tướng xuất hiện đột ngột (tất cả cùng một lúc) hay tuần tự, dần dần theo thời gian. Loại câu hỏi này cũng liên quan đến sự mặc khải—nó là đột ngột hay dần dần hơn? |
|
29. There is often no easy way to solve the problem. One may speculate, but unless one observes or is told authoritatively, there is no way to be certain. |
29. Thường không có cách dễ dàng nào để giải quyết vấn đề này. Người ta có thể suy đoán, nhưng trừ phi tự mình quan sát hoặc được nói cho biết một cách có thẩm quyền, không có cách nào để chắc chắn. |
|
30. As all chakras are ‘mutually necessary’ (i.e., necessary to each other), there is a good argument for sudden appearance. |
30. Vì mọi luân xa đều ‘cần thiết lẫn nhau’ (tức là cần thiết cho nhau), nên có một lập luận vững chắc ủng hộ sự xuất hiện đột ngột. |
|
31. Perhaps the greatest problem related to simultaneous or gradual appearance concerns the Three Persons of the Universal Trinity (of Father, Mother and Son). |
31. Có lẽ vấn đề lớn nhất liên quan đến sự xuất hiện đồng thời hay dần dần là vấn đề Ba Ngôi của Tam Vị Vũ Trụ (Cha, Mẹ và Con). |
|
32. Perhaps there are certain methods which, while not simultaneous, are so close to each other in time as to be virtually simultaneous. |
32. Có lẽ có những phương pháp nhất định mà, tuy không đồng thời, nhưng lại gần nhau đến mức về thời gian đến nỗi hầu như đồng thời. |
|
33. We are assured by most cosmogonies that the state of Spirit-Matter preceded the appearance of the Trinity. |
33. Hầu hết các vũ trụ luận đều khẳng định với chúng ta rằng trạng thái Tinh thần-Vật chất đã có trước sự xuất hiện của Tam Vị. |
|
The building of the dense physical is the result of consequent automatic action in deva essence, for it must ever be borne in mind that man is essentially (as regards the physical plane) an etheric being, |
Sự kiến tạo thể xác đậm đặc là kết quả của hành động tự động tiếp theo trong tinh chất thiên thần, vì phải luôn ghi nhớ rằng con người về bản chất cốt yếu (xét theo cõi hồng trần) là một hữu thể dĩ thái, |
|
34. This is the constant occult assertion—that true physicality is etheric. |
34. Đây là khẳng định huyền bí học không đổi—rằng tính hồng trần chân thực là dĩ thái. |
|
35. The dense physical body, therefore, is an automaton, and its substance is gathered automatically. The lowest type of matter responds automatically to the attractive nature of etheric deva essence. |
35. Vì vậy, thể xác đậm đặc là một cỗ máy tự động, và chất liệu của nó được tập hợp một cách tự động. Loại vật chất thấp nhất đáp ứng một cách tự động với bản chất hấp dẫn của tinh chất thiên thần dĩ thái. |
|
and his dense physical body is esoterically regarded as ‘below the threshold’ and is not considered a principle. |
và thể xác đậm đặc của y được xem một cách huyền bí là ‘ở dưới ngưỡng’ và không được coi là một nguyên khí. |
|
36. The “threshold”, in this case, is (or should be) the threshold of consciousness for the developing human being. Physical consciousness, per se, is the most primitive kind of consciousness. Such consciousness is the involvement of consciousness with a level of vibration which is unprincipled and which pertains to an earlier system of development. |
36. “Ngưỡng”, trong trường hợp này, là (hay nên là) ngưỡng của tâm thức đối với con người đang phát triển. Tâm thức hồng trần, chính nó, là loại tâm thức nguyên sơ nhất. Tâm thức như vậy là sự dính líu của tâm thức với một cấp độ rung động không có nguyên khí và thuộc về một hệ thống phát triển sớm hơn. |
|
37. This fact tells us something about the relative degree of advancement of humanity today! |
37. Sự kiện này cho chúng ta biết điều gì đó về mức độ tiến bộ tương đối của nhân loại ngày nay! |
|
Relative Permanency. In the seventh principle of all manifesting entities is stored up and developed capacity, acquired ability, and the atomic memory, or in other words the heredity of the Thinker, viewing him from the physical standpoint or from the emotional. |
Tính trường tồn tương đối. Trong nguyên khí thứ bảy của mọi thực thể đang biểu hiện đều được tích trữ và phát triển năng lực, khả năng đã đạt được, và ký ức nguyên tử, hay nói cách khác là di truyền tính của Đấng Tư Tưởng, khi nhìn y từ quan điểm hồng trần hay từ quan điểm cảm xúc. |
|
38. Note that we are still not concerning ourselves with the mental unit. |
38. Lưu ý rằng chúng ta vẫn chưa bàn đến đơn vị hạ trí. |
|
39. Let us tabulate what is stored within the “seventh principle” of all manifesting entities: |
39. Chúng ta hãy lập bảng những gì được tích trữ trong “nguyên khí thứ bảy” của mọi thực thể đang biểu hiện: |
|
a. Developed capacity |
a. Năng lực đã phát triển |
|
b. Acquired ability |
b. Khả năng đã đạt được |
|
c. Atomic memory |
c. Ký ức nguyên tử |
|
d. The heredity of the Thinker |
d. Di truyền tính của Đấng Tư Tưởng |
|
40. The number seven is associated with the act of guarding. Dragons (which can be associated with the seventh ray and the kundalini power at the base of the spine center) are often “guardians” of treasure. |
40. Con số bảy được liên kết với hành động canh giữ. Rồng (có thể được liên kết với cung bảy và quyền năng kundalini tại trung tâm đáy cột sống) thường là những “người canh giữ” kho báu. |
|
41. Since the atmic permanent atom truly represents the seventh principle of man the microcosm, does it have the above faculties particularly pronounced as regards life on the lowest five planes of the cosmic physical plane? |
41. Vì nguyên tử trường tồn atma thực sự biểu hiện nguyên khí thứ bảy của con người là tiểu thiên địa, liệu nó có những năng lực nói trên đặc biệt nổi bật đối với sự sống trên năm cõi thấp nhất của cõi hồng trần vũ trụ hay không? |
|
42. Atma is a plane both of intelligence and of will. It is associated as much with the third ray as with the first. Of the five permanent atoms and mental unit, is the atmic permanent atom the greatest storehouse of incarnational memory? |
42. Atma là một cõi vừa của trí tuệ vừa của ý chí. Nó được liên kết với cung ba cũng nhiều như với cung một. Trong năm nguyên tử trường tồn và đơn vị hạ trí, liệu nguyên tử trường tồn atma có phải là kho chứa lớn nhất của ký ức nhập thể hay không? |
|
43. Discrimination is in order. We must remember that the seventh principle is “atma” and not the Atman—which is a kind of eighth principle (not a principle really, but essence or pure being). |
43. Phân biện là điều cần thiết. Chúng ta phải nhớ rằng nguyên khí thứ bảy là “atma” chứ không phải Atman—vốn là một loại nguyên khí thứ tám (thực ra không phải nguyên khí, mà là tinh chất hay hữu thể thuần túy). |
|
44. The planet Saturn, ruler of the physical permanent atom (whether systemic or cosmic) and also of the atmic plane, is directly related to both karma and heredity. In the functioning of the permanent atoms, in general, there is much that relates to Saturn, to karma and to the factor of control. |
44. Hành tinh Sao Thổ, chủ tinh của nguyên tử trường tồn hồng trần (dù là hệ thống hay vũ trụ) và cũng là chủ tinh của cõi atma, liên hệ trực tiếp với cả nghiệp quả lẫn di truyền tính. Trong hoạt động của các nguyên tử trường tồn nói chung, có rất nhiều điều liên quan đến Sao Thổ, đến nghiệp quả và đến yếu tố kiểm soát. |
|
45. Permanent atoms are storehouses of those achieved patterns of adaptive activity we call capacities and faculties. |
45. Các nguyên tử trường tồn là những kho chứa của các mô hình hoạt động thích nghi đã đạt được mà chúng ta gọi là các năng lực và khả năng. |
|
There is no permanence whatever in the sheaths; |
Không hề có tính trường tồn nào trong các thể vỏ; |
|
46. Held together only by the power of the permanent atoms, the substance-matter of the sheaths is easily dissipated. |
46. Chỉ được giữ lại với nhau bởi quyền năng của các nguyên tử trường tồn, chất liệu-vật chất của các thể vỏ dễ dàng bị làm tiêu tan. |
|
they are built into temporary forms, and dissolved when the Thinker has exhausted their possibilities, |
chúng được xây dựng thành những hình tướng tạm thời, và bị tan rã khi Đấng Tư Tưởng đã dùng cạn các khả năng của chúng, |
|
47. The dissipation of the sheaths correlates with the processes of death. |
47. Sự làm tiêu tan các thể vỏ tương ứng với các tiến trình của cái chết. |
|
48. Exhaustion comes to the sheaths but the permanent atoms seem to abide, possessing a kind of internal ‘fountain of youth’. It is probably their direct relation to the Monad (the representative of the life aspect) which gives them their permanence. |
48. Sự kiệt sức đến với các thể, nhưng các Nguyên tử trường tồn dường như vẫn tồn tại, sở hữu một loại “suối nguồn tuổi trẻ” nội tại. Có lẽ chính mối liên hệ trực tiếp của chúng với chân thần (đại diện của phương diện sự sống) đã ban cho chúng tính trường tồn. |
|
but the seventh principle of each sheath gathers to itself the achieved qualities and stores them up—under the Law of Karma—to work out again and to demonstrate as the plane impulse at each fresh cycle of manifestation. |
nhưng nguyên khí thứ bảy của mỗi thể tự thu góp về mình các phẩm tính đã đạt được và tích trữ chúng lại—dưới Định luật Nghiệp quả—để lại triển khai và biểu lộ như xung lực cõi trong mỗi chu kỳ biểu hiện mới. |
|
49. So the permanent atoms as the seventh principle of each sheath are impulsive factors at the onset of each incarnation, and synthesizing factors at its close. Impulsion and synthesis relate these functions of the permanent atoms to the first aspect of divinity. |
49. Vì vậy, các Nguyên tử trường tồn, với tư cách là nguyên khí thứ bảy của mỗi thể, là những yếu tố xung động vào lúc khởi đầu mỗi lần lâm phàm, và là những yếu tố tổng hợp vào lúc kết thúc. Xung động và tổng hợp liên hệ các chức năng này của các Nguyên tử trường tồn với phương diện thứ nhất của thiên tính. |
|
50. We see how closely related is Karma to memory—the Memory of Nature. The Third Ray Lord is the “Lord of Memory” and Saturn (the foremost of the planets of Karma in our solar system) is the planet most identified with the third ray. |
50. Chúng ta thấy nghiệp quả liên hệ mật thiết biết bao với ký ức—Ký Ức của Thiên Nhiên. Đấng Chúa Tể Cung ba là “Chúa Tể của Ký Ức”, và Sao Thổ (hành tinh hàng đầu của nghiệp quả trong hệ mặt trời chúng ta) là hành tinh được đồng nhất nhiều nhất với cung ba. |
|
51. It is “plane impulse” which builds vehicles through which the soul can manifest. The impulse of the permanent atoms works out in the substance of that plane related to any particular permanent atom. |
51. Chính “xung lực cõi” xây dựng các vận cụ mà qua đó linh hồn có thể biểu hiện. Xung lực của các Nguyên tử trường tồn được triển khai trong chất liệu của cõi liên hệ với bất kỳ Nguyên tử trường tồn đặc thù nào. |
|
This permanency is itself likewise only a relative one, and as the inner fire within the atom burns more brightly, as the external fires of the ego or solar fire beat upon it with ever increasing intensity, the atom in due time is consumed, and the inner blaze becomes so great that it destroys its encompassing wall. |
Tính trường tồn này tự nó cũng chỉ là tương đối, và khi ngọn lửa bên trong nguyên tử cháy sáng hơn, khi các ngọn lửa bên ngoài của chân ngã hay Lửa Thái dương tác động lên nó với cường độ ngày càng tăng, thì đến lúc thích hợp nguyên tử bị thiêu hủy, và ngọn lửa bên trong trở nên lớn đến mức phá hủy bức tường bao quanh nó. |
|
52. We are discussing the life and death of permanent atoms, especially, at first, the permanent atoms related to the personality. |
52. Chúng ta đang bàn đến sự sống và cái chết của các Nguyên tử trường tồn, đặc biệt trước hết là các Nguyên tử trường tồn liên hệ với phàm ngã. |
|
53. How are the permanent atoms stimulated? |
53. Các Nguyên tử trường tồn được kích thích như thế nào? |
|
a. By their own inner fire |
a. Bởi chính ngọn lửa nội tại của chúng |
|
b. By “the external fires of the ego or solar fire”. |
b. Bởi “các ngọn lửa bên ngoài của chân ngã hay Lửa Thái dương”. |
|
54. In cosmos all permanency is relative. Only THAT is permanent (and no one can understand THAT). |
54. Trong vũ trụ, mọi sự trường tồn đều là tương đối. Chỉ có CÁI ĐÓ là trường tồn (và không ai có thể hiểu được CÁI ĐÓ). |
|
55. During our study of alchemy we saw solar fire or “mental fire” referred to as “external fire(s)” and here we do as well. |
55. Trong khi nghiên cứu thuật luyện kim, chúng ta đã thấy Lửa Thái dương hay “lửa trí tuệ” được gọi là “(các) ngọn lửa bên ngoài”, và ở đây cũng vậy. |
|
56. What are the “external fires of the ego”? Are we to consider them the various rays of the Ego (emanating, perhaps, from various petals and tiers of petals) or, more particularly, the rays emanating from the “Jewel in the Lotus”? |
56. “Các ngọn lửa bên ngoài của chân ngã” là gì? Chúng ta có nên xem chúng là các cung khác nhau của Chân ngã (có lẽ phát ra từ các cánh hoa và các tầng cánh hoa khác nhau) hay, cụ thể hơn, là các tia phát ra từ “Ngọc trong Hoa Sen”? |
|
57. We do see with certainty that there is a definite relation between solar fire and fire by friction—solar fire emanating from the Ego and fire by friction represented by the permanent atoms. |
57. Chúng ta quả thực thấy chắc chắn rằng có một mối liên hệ xác định giữa Lửa Thái dương và Lửa ma sát—Lửa Thái dương phát ra từ Chân ngã và Lửa ma sát được biểu trưng bởi các Nguyên tử trường tồn. |
|
58. The atom, we see, is considered somewhat independently from its “encompassing wall”, which usually would be considered a part of it. |
58. Như chúng ta thấy, nguyên tử được xét phần nào độc lập với “bức tường bao quanh” của nó, vốn thông thường sẽ được xem là một phần của nó. |
|
59. By the “inner fire of the atom” we mean, primarily, the fire of its nucleus, linked to electric fire. |
59. Bởi “ngọn lửa bên trong của nguyên tử”, trước hết chúng ta muốn nói đến lửa của hạt nhân nó, được nối kết với Lửa Điện. |
|
60. Perhaps we can conceive why solar fire can be considered an ‘external fire’; it is not part of the atom’s inmost fire—Spirit-fire. |
60. Có lẽ chúng ta có thể quan niệm vì sao Lửa Thái dương có thể được xem là một ngọn lửa ‘bên ngoài’; nó không phải là một phần của ngọn lửa thâm sâu nhất của nguyên tử—ngọn lửa của Tinh thần. |
|
Heat. Herein lies the distinction between the permanent atoms on all planes, and the atomic matter of which they form a part. |
Nhiệt. Chính trong đây có sự phân biệt giữa các Nguyên tử trường tồn trên mọi cõi và vật chất nguyên tử mà chúng là một phần của nó. |
|
61. There are trillions of atoms which form the atomic matter over which the permanent atom has control. How shall we keep them distinct? |
61. Có hàng ngàn tỷ nguyên tử tạo thành vật chất nguyên tử mà Nguyên tử trường tồn kiểm soát. Chúng ta sẽ phân biệt chúng như thế nào? |
|
62. We judge here that “heat” has something significant to do with the distinction. |
62. Ở đây chúng ta nhận định rằng “nhiệt” có điều gì đó quan trọng liên quan đến sự phân biệt này. |
|
63. Can it be that the permanent atom (though its direct link to the Monad—and thus electric fire, and through a direct link, as well, with the Ego, and thus solar fire) has a greater measure of heat than the atoms of the sheath for which it is the seventh principle? |
63. Có thể chăng Nguyên tử trường tồn (dù có liên kết trực tiếp với chân thần—và do đó với Lửa Điện, và cũng qua một liên kết trực tiếp với Chân ngã, do đó với Lửa Thái dương) có mức độ nhiệt lớn hơn các nguyên tử của thể mà nó là nguyên khí thứ bảy? |
|
64. It is as if, through the rate of vibration of the permanent atom, the other atoms of any particular sheath (atoms less responsive, one would suppose, than the permanent atom) may be keyed-up to the vibratory measure of the permanent atom. |
64. Dường như qua tốc độ rung động của Nguyên tử trường tồn, các nguyên tử khác của bất kỳ thể đặc thù nào (các nguyên tử kém đáp ứng hơn, người ta có thể giả định, so với Nguyên tử trường tồn) có thể được nâng lên đến mức rung động của Nguyên tử trường tồn. |
|
It is not easy to make this distinction clear, nor is it desirable at this time; |
Không dễ làm cho sự phân biệt này trở nên rõ ràng, và vào lúc này điều đó cũng không đáng mong muốn; |
|
65. If we had wondered what makes a permanent atom a permanent atom, and had thought the matter obscure, here we see that light upon it is being deliberately withheld. |
65. Nếu chúng ta từng tự hỏi điều gì làm cho một Nguyên tử trường tồn là một Nguyên tử trường tồn, và từng nghĩ vấn đề này mơ hồ, thì ở đây chúng ta thấy ánh sáng soi vào đó đang bị cố ý giữ lại. |
|
the true facts of the case are one of the guarded secrets of initiation, but the distinction between the permanent atom, and atomic matter, may be somewhat comprehended if we state: [Page 517] |
các sự kiện chân thực của vấn đề là một trong những bí mật được canh giữ của điểm đạo, nhưng sự phân biệt giữa Nguyên tử trường tồn và vật chất nguyên tử có thể được phần nào thấu hiểu nếu chúng ta phát biểu: [Page 517] |
|
66. DK as usual will give us a few hints concerning this guarded and deliberately veiled subject. |
66. Chân sư DK như thường lệ sẽ cho chúng ta một vài gợi ý liên quan đến chủ đề được canh giữ và cố ý che phủ này. |
|
67. That |
67. Rằng |
|
The permanent atom is one that has been appropriated by one of the lives that form the centres in the body of a solar Lord, whilst atomic matter per se goes to the formation of other parts of His great body of light. |
Nguyên tử trường tồn là một nguyên tử đã được chiếm dụng bởi một trong các sự sống tạo thành các trung tâm trong thể của một nhật tinh quân, trong khi vật chất nguyên tử chính nó đi vào việc hình thành các phần khác trong đại thể ánh sáng của Ngài. |
|
68. From many theosophical books we have gathered that a permanent atom is one that has been selected, magnetized and life-infused by a Monad. A Monad is one of the “lives that form the centres in the body of a solar Lord”—in this case, a Planetary Logos. |
68. Từ nhiều sách Thông Thiên Học, chúng ta đã thu thập được rằng một Nguyên tử trường tồn là một nguyên tử đã được một chân thần chọn lựa, từ hóa và được sự sống thấm nhuần. Một chân thần là một trong “các sự sống tạo thành các trung tâm trong thể của một nhật tinh quân”—trong trường hợp này là một Đức Hành Tinh Thượng Đế. |
|
69. A Planetary Logos can, indeed, be considered a ‘Solar Lord’, and a Solar Logos is definitely so. Even a Chain-Lord and a Globe Lord are called ‘solar Being(s). |
69. Quả thực, một Hành Tinh Thượng đế có thể được xem là một ‘nhật tinh quân’, và một Thái dương Thượng đế thì chắc chắn là như vậy. Ngay cả một Chúa Tể Dãy và một Chúa Tể Bầu hành tinh cũng được gọi là những ‘Đấng thái dương’. |
|
70. The following quotation makes this clear: |
70. Trích dẫn sau đây làm rõ điều này: |
|
This is equally true whether we are considering the incarnation of a man, of a group, of an idea, or of all entities of lesser grade to the solar Being Who manifests through a globe, or the regent of the globe under the planetary Logos. (TCF 445) |
Điều này cũng đúng như nhau dù chúng ta đang xét sự lâm phàm của một con người, một nhóm, một ý tưởng, hay của mọi thực thể có cấp bậc thấp hơn Đấng thái dương biểu hiện qua một bầu hành tinh, hay vị nhiếp chính của bầu hành tinh dưới quyền Hành Tinh Thượng đế. (TCF 445) |
|
71. A human Monad is that which finds its home with the Sun and is a constituent of one of the centers of a Planetary Logos. So we may say, according to the section above, that a permanent atom is an atom of substance which has been appropriated by a Monad. |
71. Chân thần nhân loại là cái tìm thấy nơi cư ngụ của nó trong Mặt Trời và là một thành phần của một trong các trung tâm của một Hành Tinh Thượng đế. Vì vậy, theo đoạn trên, chúng ta có thể nói rằng một Nguyên tử trường tồn là một nguyên tử của chất liệu đã được một chân thần chiếm dụng. |
|
72. When thinking about any sheath, there is a hierarchy of constituents. Foremost within the sheath is the permanent atom, itself. Of great but secondary importance are the many chakras within the sheath (major, minor and minute), and finally we have the substance of the sheath itself. |
72. Khi suy nghĩ về bất kỳ thể nào, có một hệ cấp bậc của các thành phần cấu tạo. Nổi bật nhất trong thể là chính Nguyên tử trường tồn. Có tầm quan trọng lớn nhưng thứ yếu là nhiều luân xa trong thể (chính, phụ và vi tế), và cuối cùng là chính chất liệu của thể. |
|
73. So, in general, atomic matter is not part of the chakra system of a Planetary Logos. By “atomic matter” (in this context) we do not mean the matter specifically of the atomic sub-plane of any systemic plane, but, rather, the many atoms of matter (of all sub-planes) which go to the composition of any sheath. Within certain of the planetary logoic chakras are the Monads which, in order to manifest through the five dimensions lower than their own, appropriate permanent atoms. |
73. Vì vậy, nói chung, vật chất nguyên tử không phải là một phần của hệ thống luân xa của một Hành Tinh Thượng đế. Bởi “vật chất nguyên tử” (trong ngữ cảnh này) chúng ta không muốn nói đến vật chất riêng biệt của cõi phụ nguyên tử của bất kỳ cõi hệ thống nào, mà đúng hơn là nhiều nguyên tử vật chất (của mọi cõi phụ) góp phần vào cấu tạo của bất kỳ thể nào. Trong một số luân xa logoi hành tinh có các chân thần, và để biểu hiện qua năm chiều thấp hơn chiều của chính chúng, các chân thần chiếm dụng các Nguyên tử trường tồn. |
|
A permanent atom is one which has come under the attractive power of the second aspect, whilst atomic matter itself is vitalised by the life of the third aspect. |
Một Nguyên tử trường tồn là nguyên tử đã đi vào dưới quyền năng hấp dẫn của phương diện thứ hai, trong khi bản thân vật chất nguyên tử được tiếp sinh lực bởi sự sống của phương diện thứ ba. |
|
74. This statement is important for its implications. We recognize that a permanent atom comes under the influence of what has been called the “divine centre of consciousness” (the Monad). |
74. Phát biểu này quan trọng vì những hàm ý của nó. Chúng ta nhận ra rằng một Nguyên tử trường tồn đi vào dưới ảnh hưởng của cái đã được gọi là “trung tâm tâm thức thiêng liêng” (chân thần). |
|
75. Usually, the Monad is considered an expression of the first aspect of divinity, but it cannot be ignored that the Monad is found upon the second systemic plane of the cosmic physical plane (a plane ruled by the second ray planet Jupiter—which may have some first ray deeply recessed its nature). That second plane is also ruled by Virgo, which is the constellation/sign through which pours at this time the greatest measure of second ray energy. |
75. Thông thường, chân thần được xem là một biểu hiện của phương diện thứ nhất của thiên tính, nhưng không thể bỏ qua rằng chân thần được tìm thấy trên cõi hệ thống thứ hai của cõi hồng trần vũ trụ (một cõi do hành tinh cung hai Sao Mộc cai quản—hành tinh này có thể có một cung một nào đó ẩn sâu trong bản chất của nó). Cõi thứ hai ấy cũng do Xử Nữ cai quản, là chòm sao/dấu hiệu mà qua đó hiện nay tuôn đổ lượng năng lượng cung hai lớn nhất. |
|
76. It was during the second outpouring, we are told, that the permanent atoms were appropriated by the “divine centre of consciousness” (i.e., the Monad)(cf. EP I 168-169). |
76. Chúng ta được cho biết rằng chính trong lần tuôn đổ thứ hai, các Nguyên tử trường tồn đã được “trung tâm tâm thức thiêng liêng” (tức chân thần) chiếm dụng (x. EP I 168-169). |
|
77. Further, the Monad is that which finds its home within the Sun, which, in our solar system, is a great second ray source (egoically and personally). |
77. Hơn nữa, chân thần là cái tìm thấy nơi cư ngụ của nó trong Mặt Trời, mà trong hệ mặt trời chúng ta là một nguồn cung hai lớn (về mặt chân ngã và phàm ngã). |
|
78. It is through the power of attraction that the Monad attracted and held the permanent atoms. |
78. Chính nhờ quyền năng hấp dẫn mà chân thần đã hút lấy và giữ các Nguyên tử trường tồn. |
|
79. In our solar system the ray which must be particularly cultivated is the second. This is the goal of our Solar Logos with His second ray personality and second ray soul. |
79. Trong hệ mặt trời chúng ta, cung phải được đặc biệt vun bồi là cung hai. Đây là mục tiêu của Thái dương Thượng đế của chúng ta với phàm ngã cung hai và linh hồn cung hai của Ngài. |
|
80. The other atomic matter is not so distinguished and still comes under the influence primarily of the great third ray, the Primordial Ray, which governed the past solar system. |
80. Vật chất nguyên tử khác không được phân biệt như vậy và vẫn chủ yếu nằm dưới ảnh hưởng của cung ba vĩ đại, Cung Nguyên Sơ, vốn đã chi phối hệ mặt trời trước. |
|
81. When we think of monadic essence and elemental essence, we may have a parallel which reminds us of the distinction between permanent atoms and normal atoms of substance. |
81. Khi nghĩ đến tinh chất chân thần và tinh chất hành khí, chúng ta có thể có một sự song hành gợi nhắc đến sự phân biệt giữa các Nguyên tử trường tồn và các nguyên tử chất liệu thông thường. |
|
A permanent atom follows the line of the least resistance of force, and is passing out of the control of the Deva Lord and coming under the control of positive life. |
Một Nguyên tử trường tồn đi theo con đường ít trở ngại nhất của mãnh lực, và đang thoát ra khỏi sự kiểm soát của Chúa Tể thiên thần để đi vào dưới sự kiểm soát của sự sống dương tính. |
|
82. A permanent atom is releasing itself from the sway of the deva kingdom. |
82. Một Nguyên tử trường tồn đang tự giải thoát khỏi quyền chi phối của giới thiên thần. |
|
83. The permanent atoms respond, each one, primarily to one of the seven principles which, ultimately, emanate from the Monad. Thus the permanent atom is coming under the control of the Monad or “positive life”. |
83. Các Nguyên tử trường tồn, mỗi nguyên tử, trước hết đáp ứng với một trong bảy nguyên khí mà rốt cuộc phát ra từ chân thần. Vì vậy Nguyên tử trường tồn đang đi vào dưới sự kiểm soát của chân thần hay “sự sống dương tính”. |
|
84. Presumably, normal atoms of substance are still very much under the sway of “the Deva Lord”—i.e., the Raja Deva Lord. |
84. Có lẽ các nguyên tử chất liệu thông thường vẫn còn rất nhiều dưới quyền chi phối của “Chúa Tể thiên thần”—tức Raja Deva Lord. |
|
This concerns the evolution of consciousness in substance. |
Điều này liên quan đến sự tiến hoá của tâm thức trong chất liệu. |
|
85. Via the permanent atoms, consciousness is gaining its victory over matter/form. |
85. Thông qua các Nguyên tử trường tồn, tâm thức đang giành chiến thắng của nó đối với vật chất/hình tướng. |
|
86. We know there is a constant transmutation process by means of which subservience to the third aspect is ended and consciousness is being released into higher dimensions and is discovering its own nature through ‘subjectification’. The permanent atoms are involved in this process. |
86. Chúng ta biết có một tiến trình chuyển hoá liên tục, nhờ đó sự lệ thuộc vào phương diện thứ ba chấm dứt và tâm thức đang được giải phóng vào các chiều cao hơn, đồng thời khám phá bản chất riêng của nó qua ‘sự chủ thể hóa’. Các Nguyên tử trường tồn có liên quan trong tiến trình này. |
|
A permanent atom comes under the direct control of the lower of the three groups of Lipika Lords, and is the agency through which They work in the imposition of karma upon the particular entity who may be utilising it. They work directly with the permanent atoms of men, and produce results through the agency of form until they have exhausted the vibratory capacity of any particular atom; when this is the case the atom passes into the stage of obscuration, as does the seventh principle of any sheath. It comes under the influence of the first aspect, manifesting as the Destroyer. |
Một Nguyên tử trường tồn đi vào dưới sự kiểm soát trực tiếp của nhóm thấp hơn trong ba nhóm các Đấng Lipika, và là tác nhân mà qua đó Các Ngài hoạt động trong việc áp đặt nghiệp quả lên thực thể đặc thù nào có thể đang sử dụng nó. Các Ngài làm việc trực tiếp với các Nguyên tử trường tồn của con người, và tạo ra kết quả qua tác nhân của hình tướng cho đến khi các Ngài đã làm cạn kiệt năng lực rung động của bất kỳ nguyên tử đặc thù nào; khi điều này xảy ra, nguyên tử đi vào giai đoạn mờ khuất, cũng như nguyên khí thứ bảy của bất kỳ thể nào. Nó đi vào dưới ảnh hưởng của phương diện thứ nhất, biểu hiện như Đấng Hủy Diệt. |
|
87. There is a lower group of Lipika Lords. May this lower group be, in itself, threefold—one group associated with each of the three permanent atoms (or two permanent atoms and the mental unit)? |
87. Có một nhóm thấp hơn của các Đấng Lipika. Liệu nhóm thấp hơn này tự nó có thể là tam phân—mỗi nhóm liên kết với một trong ba Nguyên tử trường tồn (hay hai Nguyên tử trường tồn và đơn vị hạ trí) chăng? |
|
88. In relation to this matter of the kinds of Lipika Lords who operate upon the permanent atoms, we may think of the Solar Angels (who supervise the various aspects of the causal body, in which the lower permanent atoms are contained) to be as lesser Lipika Lords. |
88. Liên quan đến vấn đề các loại Đấng Lipika hoạt động trên các Nguyên tử trường tồn này, chúng ta có thể nghĩ các Thái dương Thiên Thần (những Đấng giám sát các phương diện khác nhau của thể nguyên nhân, trong đó các Nguyên tử trường tồn thấp được chứa đựng) như là các Đấng Lipika thấp hơn. |
|
89. In a larger sense, however, the three groups of greater Lipikas Lords are probably divided in Their focus—one of the groups focussing on each of the three aspects of divinity. |
89. Tuy nhiên, theo nghĩa rộng hơn, ba nhóm lớn hơn của các Đấng Lipika có lẽ được phân chia theo tiêu điểm của Các Ngài—mỗi nhóm tập trung vào một trong ba phương diện của thiên tính. |
|
90. When the vibratory capacity of any particular permanent atoms is exhausted, it would seem that we have reached the moment of balance—the Libran moment. Metaphorically, Libran peace supervenes. |
90. Khi năng lực rung động của bất kỳ Nguyên tử trường tồn đặc thù nào bị cạn kiệt, dường như chúng ta đã đạt đến khoảnh khắc quân bình—khoảnh khắc Thiên Bình. Theo nghĩa ẩn dụ, sự an hòa của Thiên Bình xuất hiện. |
|
91. Once all forces within it are balanced, any center of force is ready for the obscuration process. Balance (and beauty) is a prelude to death. |
91. Một khi mọi mãnh lực bên trong nó đã được quân bình, bất kỳ trung tâm mãnh lực nào cũng sẵn sàng cho tiến trình mờ khuất. Quân bình (và vẻ đẹp) là khúc dạo đầu của cái chết. |
|
92. If the lower group of Lipikas works with the members of the atomic triangle, are there any karmic agencies which work with the normal atoms of substance? Would such work with atomic substance be the province of the Four Maharajas and Their agents? Are the Four Maharajas (and their agents) to numbered among the Lipikas? Usually, they are presented as quite another group. |
92. Nếu nhóm thấp hơn của các Đấng Lipika làm việc với các thành viên của tam giác nguyên tử, thì có những tác nhân nghiệp quả nào làm việc với các nguyên tử chất liệu thông thường không? Công việc như vậy với chất liệu nguyên tử có phải thuộc phạm vi của Bốn Maharaja và các tác nhân của Các Ngài không? Bốn Maharaja (và các tác nhân của Các Ngài) có được kể vào hàng các Đấng Lipika không? Thông thường, các Ngài được trình bày như một nhóm hoàn toàn khác. |
|
93. We note that Lipika Lords impose karma; this relates Them to the first ray, at least in Their modus operandi. |
93. Chúng ta lưu ý rằng các Đấng Lipika áp đặt nghiệp quả; điều này liên hệ Các Ngài với cung một, ít nhất là trong phương thức hoạt động của Các Ngài. |
|
94. We are gathering, then, that sheath karma unfolds largely through the permanent atoms (through which certain Lipika Lords and Their agents and the Ego work). |
94. Như vậy, chúng ta đang thu thập được rằng nghiệp quả của thể phần lớn được triển khai qua các Nguyên tử trường tồn (qua đó một số Đấng Lipika và các tác nhân của Các Ngài cùng Chân ngã hoạt động). |
|
95. May we say that it is the seventh principle of any sheath that is the last to be withdrawn from manifestation (whatever manifestation may actually mean to any particular entity). Once the permanent atom is destroyed or abstracted there will be no more expression on the particular plane on which it was focussed. After the departure of the permanent atom from the atomic sub-plane where it was positioned, no further manifestation on that plane through a permanent atom is possible or necessary. |
95. Chúng ta có thể nói rằng chính nguyên khí thứ bảy của bất kỳ thể nào là cái cuối cùng được rút khỏi biểu hiện chăng (dù biểu hiện thực sự có thể có nghĩa gì đối với bất kỳ thực thể đặc thù nào)? Một khi Nguyên tử trường tồn bị hủy diệt hay bị rút ra, sẽ không còn biểu lộ nào nữa trên cõi đặc thù mà nó đã được tập trung vào. Sau khi Nguyên tử trường tồn rời khỏi cõi phụ nguyên tử nơi nó đã được đặt định, sẽ không còn biểu hiện nào thêm trên cõi đó qua một Nguyên tử trường tồn là có thể hay cần thiết. |
|
96. Planetary Logoi, too, reach a point of balance after which obscuration begins. |
96. Các Hành Tinh Thượng đế cũng đạt đến một điểm quân bình, sau đó tiến trình mờ khuất bắt đầu. |
|
97. Are there Planetary Logoi which are actually the permanent atoms of the Solar Logos, or are They simply correspondences to such permanent atoms? As stated elsewhere, the Planetary Logoi seem (as They manifest through planetary schemes) to be rather too large structures to serve in the role of permanent atoms. |
97. Có những Hành Tinh Thượng đế nào thực sự là các Nguyên tử trường tồn của Thái dương Thượng đế không, hay Các Ngài chỉ đơn giản là những tương ứng với các Nguyên tử trường tồn như thế? Như đã nói ở nơi khác, các Hành Tinh Thượng đế dường như (khi Các Ngài biểu hiện qua các hệ hành tinh) là những cấu trúc quá lớn để đảm nhiệm vai trò các Nguyên tử trường tồn. |
|
98. In conclusion, we note that permanent atoms, so long involved in the building and sustaining of sheaths, become, towards the conclusion of their cycle, destroyers—as they come under the influence of the first aspect. |
98. Kết luận lại, chúng ta lưu ý rằng các Nguyên tử trường tồn, vốn từ lâu tham gia vào việc xây dựng và duy trì các thể, về cuối chu kỳ của chúng trở thành những kẻ hủy diệt—khi chúng đi vào dưới ảnh hưởng của phương diện thứ nhất. |
|
99. Regarding the normal atoms of substance, are they simply receptors of karmic impulses rather than being distributors of such impulses? Perhaps. |
99. Đối với các nguyên tử chất liệu thông thường, liệu chúng chỉ đơn giản là những bộ phận tiếp nhận các xung lực nghiệp quả thay vì là những bộ phận phân phối các xung lực ấy chăng? Có lẽ vậy. |
|
Remember that in these affirmations we are concerning ourselves with the microcosm, and with the permanent atoms which are related to him; |
Hãy nhớ rằng trong những khẳng định này, chúng ta đang quan tâm đến tiểu thiên địa, và đến các Nguyên tử trường tồn liên hệ với y; |
|
100. Yes, this is true, but it is also possible to extrapolate analogically to larger systems and DK will often unexpectedly enlarge or reduce the context. |
100. Đúng vậy, điều này là đúng, nhưng cũng có thể ngoại suy theo định luật tương đồng sang các hệ thống lớn hơn, và Chân sư DK thường bất ngờ mở rộng hoặc thu hẹp ngữ cảnh. |
|
as regards the solar Logos manifesting in the system, we are concerned with but one permanent atom, and this is His physical permanent atom. |
còn đối với Thái dương Thượng đế biểu hiện trong hệ thống, chúng ta chỉ quan tâm đến một Nguyên tử trường tồn, và đó là Nguyên tử trường tồn hồng trần của Ngài. |
|
101. This is the permanent atom through which the Solar Logos manages His solar system. We have been told that Saturn is the correspondence to this permanent atom. |
101. Đây là Nguyên tử trường tồn mà qua đó Thái dương Thượng đế quản trị hệ mặt trời của Ngài. Chúng ta đã được cho biết rằng Sao Thổ là tương ứng với Nguyên tử trường tồn này. |
|
Uranus and Neptune are reflections of the logoic astral and mental permanent atoms. Saturn is in fact the correspondence to the logoic physical permanent atom. This is an occult mystery and must not be separated from its allied truth in the cosmic scheme. (TCF 406) |
Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương là những phản ánh của các Nguyên tử trường tồn cảm dục và trí tuệ logoi. Thực ra, Sao Thổ là tương ứng với Nguyên tử trường tồn hồng trần logoi. Đây là một huyền bí bí truyền và không được tách rời khỏi chân lý liên hệ của nó trong hệ thống vũ trụ. (TCF 406) |
|
102. As stated, Saturn may be the correspondence to the “logoic physical permanent atom”, but it has not been said that Saturn is the “logoic physical permanent atom”. |
102. Như đã nói, Sao Thổ có thể là tương ứng với “Nguyên tử trường tồn hồng trần logoi”, nhưng không hề nói rằng Sao Thổ là “Nguyên tử trường tồn hồng trần logoi”. |
|
103. Beyond the logoic physical permanent atom we cannot go, since this would involve the ability to relate meaningfully to the cosmic astral plane, and not even the Tibetan (when He wrote of these matters) could do that. |
103. Chúng ta không thể đi xa hơn Nguyên tử trường tồn hồng trần logoi, vì điều này sẽ bao hàm khả năng liên hệ một cách có ý nghĩa với cõi cảm dục vũ trụ, và ngay cả Chân sư Tây Tạng (khi Ngài viết về những vấn đề này) cũng không thể làm được điều đó. |
|
It is thus true that within the permanent physical atom of the solar Logos lies hid the ability to respond consciously to the vibration of all the planes, lies hid the secret of the karmic purpose of His incarnation, [Page 518] and lies concealed the mystery of His functional activity; |
Vì vậy, quả thật trong Nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế ẩn giấu khả năng đáp ứng một cách hữu thức với rung động của mọi cõi, ẩn giấu bí mật về mục đích nghiệp quả của sự lâm phàm của Ngài, [Page 518] và ẩn kín huyền nhiệm về hoạt động chức năng của Ngài; |
|
104. Let us tabulate that which lies hidden within the physical permanent atom of the Solar Logos: |
104. Chúng ta hãy lập bảng điều được ẩn giấu trong Nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế: |
|
a. The ability to respond consciously to the vibration of all planes. “All planes”, in this context, means all systemic planes |
a. Khả năng đáp ứng một cách hữu thức với rung động của mọi cõi. “Mọi cõi”, trong ngữ cảnh này, có nghĩa là mọi cõi hệ thống |
|
b. The karmic purpose of the Solar Logos’ incarnation. We remember that karma is closely related to the physical plane (at least that is the plane upon which karma works out). The physical permanent atom is, therefore, naturally associated with karma. Let us remember that the correspondence to the physical permanent atom of the cosmic physical plane is Saturn—of all Planetary Logoi, the greatest of the Lords of Karma. |
b. Mục đích nghiệp quả của sự lâm phàm của Thái dương Thượng đế. Chúng ta nhớ rằng nghiệp quả liên hệ mật thiết với cõi hồng trần (ít nhất đó là cõi mà trên đó nghiệp quả được triển khai). Vì vậy, Nguyên tử trường tồn hồng trần tự nhiên gắn liền với nghiệp quả. Hãy nhớ rằng tương ứng với Nguyên tử trường tồn hồng trần của cõi hồng trần vũ trụ là Sao Thổ—trong tất cả các Hành Tinh Thượng đế, là vị lớn nhất trong các Chúa Tể của Nghiệp quả. |
|
c. The mystery of the functional activity of the Solar Logos. We must presume that “functional activity” is related to the physical plane considered as the plane of activity. |
c. Huyền nhiệm về hoạt động chức năng của Thái dương Thượng đế. Chúng ta phải giả định rằng “hoạt động chức năng” liên hệ với cõi hồng trần được xem là cõi của hoạt động. |
|
Saturn is one of the most potent of the four Lords of Karma and forces man to face up to the past, and in the present to prepare for the future. Such is the intention and purpose of karmic opportunity. (EA 164) |
Sao Thổ là một trong bốn Chúa Tể của Nghiệp quả mạnh mẽ nhất và buộc con người phải đối diện với quá khứ, và trong hiện tại chuẩn bị cho tương lai. Đó là ý định và mục đích của cơ hội nghiệp quả. (EA 164) |
|
95. If one can say these things of the Solar Logos and His physical permanent atom, can one say them of the human being and his permanent atom? Certain analogies can be preserved. |
95. Nếu người ta có thể nói những điều này về Thái dương Thượng đế và Nguyên tử trường tồn hồng trần của Ngài, thì người ta có thể nói như vậy về con người và Nguyên tử trường tồn của y không? Một số tương đồng có thể được duy trì. |
|
96. Does, Saturn, then hold hid these three secrets? We are long way from understanding enough planetary lore to understand the true nature of the other Planetary Logos (yet alone our own). I think however that the “karmic purpose” of this particular incarnation of the Solar Logos can be reasonably understood as related to Saturn and that Saturn may be a kind of ‘Chief Administrator’ of that purpose. |
96. Vậy thì, Sao Thổ có ẩn giữ ba bí mật này chăng? Chúng ta còn cách rất xa việc hiểu đủ tri thức hành tinh để hiểu bản chất đích thực của các Hành Tinh Thượng đế khác (chưa nói đến vị của chính chúng ta). Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng “mục đích nghiệp quả” của lần lâm phàm đặc thù này của Thái dương Thượng đế có thể được hiểu một cách hợp lý là liên hệ với Sao Thổ, và Sao Thổ có thể là một loại ‘Tổng Quản Trị Viên’ của mục đích ấy. |
|
but we cannot penetrate the secret as yet of His three lower permanent atoms as they function as a unity within His causal vehicle. |
nhưng chúng ta chưa thể xuyên thấu bí mật của ba Nguyên tử trường tồn thấp của Ngài khi chúng hoạt động như một hợp nhất trong vận cụ nguyên nhân của Ngài. |
|
105. This causal vehicle will be on the higher mental plane cosmically considered. That, obviously, is a long way ‘up’. |
105. Vận cụ nguyên nhân này sẽ ở trên Cõi thượng trí nếu xét theo vũ trụ. Điều đó hiển nhiên là ở rất ‘cao’. |
|
106. When we seek to penetrate, for what shall we be looking? Shall we look for the meaning of planetary lore—i.e., look for planets (like Saturn) which are the correspondences to the Logos’ atomic triangle? Or shall we look for other structures in relation to which the planetary schemes are the correspondences? |
106. Khi tìm cách xuyên thấu, chúng ta sẽ tìm kiếm điều gì? Chúng ta có nên tìm ý nghĩa của tri thức hành tinh—tức là tìm những hành tinh (như Sao Thổ) là các tương ứng với tam giác nguyên tử của Thượng đế chăng? Hay chúng ta nên tìm những cấu trúc khác mà các hệ hành tinh là những tương ứng đối với chúng? |
|
107. Sometimes planets are considered as correspondences to permanent atoms and sometimes they are considered as chakras. Can they be both? For instance, can Saturn be a correspondence to the physical permanent atom of the Solar Logos and yet also correlated with, for instance, the throat center of that Logos? |
107. Đôi khi các hành tinh được xem là những tương ứng với các Nguyên tử trường tồn và đôi khi chúng được xem là các luân xa. Chúng có thể là cả hai chăng? Chẳng hạn, Sao Thổ có thể là một tương ứng với Nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế mà đồng thời cũng tương quan với, chẳng hạn, trung tâm cổ họng của Thượng đế ấy chăng? |
|
108. Suffice it to say that such penetrations are beyond our ken. We can barely penetrate to the levels of the spiritual triad in our own microcosmic system. |
108. Chỉ cần nói rằng những sự xuyên thấu như thế vượt ngoài tầm hiểu biết của chúng ta. Chúng ta hầu như không thể xuyên thấu đến các cấp độ của Tam Nguyên Tinh Thần trong hệ tiểu thiên địa của chính mình. |
|
Until we can do this it is useless for us to conjecture as to His fundamental Being. |
Cho đến khi có thể làm được điều này, việc phỏng đoán về Bản Thể căn bản của Ngài là vô ích đối với chúng ta. |
|
97. DK is advising us that the “fundamental Being” (i.e., the monadic nature of the Solar Logos) is totally beyond our ken. This must necessarily be so as even our own “fundamental Being” is inaccessible to any but initiates of the third degree (and, even to them, only minimally—at first). |
97. Chân sư DK đang khuyên chúng ta rằng “Bản Thể căn bản” (tức bản chất chân thần của Thái dương Thượng đế) hoàn toàn vượt ngoài tầm hiểu biết của chúng ta. Điều này tất yếu phải như vậy vì ngay cả “Bản Thể căn bản” của chính chúng ta cũng không thể tiếp cận đối với bất kỳ ai ngoài các điểm đạo đồ bậc ba (và ngay cả với họ, lúc đầu cũng chỉ rất ít). |
|
The difference between them: The mental unit is in a unique and peculiar position as regards man, the Thinker in the causal body. |
Sự khác biệt giữa chúng: Đơn vị hạ trí ở trong một vị trí độc nhất và đặc thù liên quan đến con người, Đấng Tư Tưởng trong thể nguyên nhân. |
|
109. This we might judge to be the case as the apparently truncated structure of the mental unit is so very different from that of the other permanent atoms. |
109. Chúng ta có thể phán đoán là như vậy vì cấu trúc dường như bị cắt cụt của đơn vị hạ trí rất khác với cấu trúc của các Nguyên tử trường tồn khác. |
|
This point will be discussed shortly, suffice it to say here that its mystery lies hid in the nature of the Heavenly Men Themselves. |
Điểm này sẽ được bàn đến ngay sau đây; ở đây chỉ cần nói rằng huyền nhiệm của nó ẩn giấu trong bản chất của chính các Đấng Thiên Nhân. |
|
110. We have been speaking of the microcosmic permanent atoms, though occasionally, we have included speculations anent far greater permanent atoms, such as those of a Planetary Logos. |
110. Chúng ta đã nói về các Nguyên tử trường tồn vi mô của tiểu thiên địa, dù đôi khi chúng ta cũng bao gồm những suy đoán liên quan đến các Nguyên tử trường tồn lớn lao hơn rất nhiều, chẳng hạn như của một Hành Tinh Thượng đế. |
|
111. In relation to the microcosm, we have been told the following of the mental unit: |
111. Liên quan đến tiểu thiên địa, chúng ta đã được cho biết điều sau đây về đơn vị hạ trí: |
|
There appears a triangle on the mental plane, produced by manasic activity, and this triangle of fire begins slowly to circulate between the manasic permanent atom, and a point at the centre of the egoic lotus, and thence to the mental unit, which has appeared upon the fourth subplane through innate instinct approximating mentality. (TCF 709) |
Một tam giác xuất hiện trên cõi trí, được tạo ra bởi hoạt động manas, và tam giác lửa này bắt đầu tuần hoàn chậm chạp giữa nguyên tử trường tồn manas, và một điểm ở trung tâm của hoa sen chân ngã, rồi từ đó đến đơn vị hạ trí, vốn đã xuất hiện trên cõi phụ thứ tư nhờ bản năng bẩm sinh tiệm cận trí tuệ. (TCF 709) |
|
112. Though the foregoing gives us some idea about how the mental unit appeared, it does not dispel the statement that the mystery of the mental unit lies hid in the nature of the Heavenly Men Themselves. |
112. Dù đoạn trên cho chúng ta một số ý niệm về cách đơn vị hạ trí xuất hiện, nó không làm tan biến phát biểu rằng huyền nhiệm của đơn vị hạ trí ẩn giấu trong bản chất của chính các Đấng Thiên Nhân. |
|
113. Do microcosmic mental units appear because of the concrete mind activity of the Planetary Logoi? What is occurring within the Planetary Logos which stimulates the movement in man from instinct to intellect? |
113. Các đơn vị hạ trí vi mô có xuất hiện do hoạt động của trí cụ thể của các Hành Tinh Thượng đế không? Điều gì đang xảy ra bên trong Hành Tinh Thượng đế mà kích thích sự chuyển động nơi con người từ bản năng sang trí năng? |
|
114. We are not even sure whether all Heavenly Men have mental units as does man. The mental unit may have appeared because of arrested development in the evolutionary process of the Logos of the Earth-scheme. If so, how frequent are cases of arrested development amongst the Planetary Logoi? |
114. Chúng ta thậm chí còn không chắc liệu mọi Đấng Thiên Nhân đều có đơn vị hạ trí như con người hay không. Đơn vị hạ trí có thể đã xuất hiện do sự phát triển bị đình trệ trong tiến trình tiến hoá của Thượng đế của hệ Địa Cầu. Nếu vậy, những trường hợp phát triển bị đình trệ nơi các Hành Tinh Thượng đế xảy ra thường xuyên đến mức nào? |
|
115. On the other hand, on the planetary level, mental units may always appear at that certain stage of planetary logoic development which calls for the emergence of man. This matter remains obscure. On all planes other than the mental there are not two units; only on the mental plane are a manasic permanent atom and a mental unit to be found. |
115. Mặt khác, ở cấp độ hành tinh, các đơn vị hạ trí có thể luôn luôn xuất hiện ở giai đoạn phát triển logoi hành tinh nhất định đòi hỏi sự xuất hiện của con người. Vấn đề này vẫn còn mơ hồ. Trên mọi cõi ngoài cõi trí, không có hai đơn vị; chỉ trên cõi trí mới tìm thấy một nguyên tử trường tồn manas và một đơn vị hạ trí. |
|
The following correspondence holds the key to this mystery, but it can only be indicated, leaving it to the student to work out the truth for himself. On the three planes of logoic manifestation—the highest three—we have the three aspects manifesting; |
Sự tương ứng sau đây nắm giữ chìa khóa của huyền nhiệm này, nhưng chỉ có thể được chỉ ra, để lại cho đạo sinh tự tự mình tìm ra chân lý. Trên ba cõi của biểu hiện logoi—ba cõi cao nhất—chúng ta có ba phương diện đang biểu hiện; |
|
116. We are speaking of manifestation as it applies to the Solar Logos and we are speaking in terms of the solar or systemic planes |
116. Chúng ta đang nói về biểu hiện như nó áp dụng cho Thái dương Thượng đế và đang nói theo các cõi thái dương hay cõi hệ thống |
|
117. The first aspect manifests naturally through the logoic plane, the second through the monadic plane and the third through the atmic plane. |
117. Phương diện thứ nhất biểu hiện một cách tự nhiên qua cõi logoi, phương diện thứ hai qua cõi chân thần và phương diện thứ ba qua cõi atma. |
|
on the buddhic plane, the fourth cosmic ether, we have the logoic etheric centres demonstrating, |
trên cõi Bồ đề, dĩ thái vũ trụ thứ tư, chúng ta có các trung tâm dĩ thái logoi đang biểu lộ, |
|
118. We do not necessarily have all the logoic etheric centers demonstrating on the buddhic plane. If the analogy to the microcosm holds good, some logoic etheric centers demonstrate on the higher three planes as well. |
118. Chúng ta không nhất thiết có mọi trung tâm dĩ thái logoi đều biểu lộ trên cõi Bồ đề. Nếu sự tương đồng với tiểu thiên địa là đúng, thì một số trung tâm dĩ thái logoi cũng biểu lộ trên ba cõi cao hơn nữa. |
|
or those force vortices which animate the three lower planes of the dense physical manifestation. |
hay những xoáy lực tiếp sinh lực cho ba cõi thấp của biểu hiện hồng trần đậm đặc. |
|
119. A close study of Chart VIII, TCF 817, is required to examine the analogy between the microcosm and macrocosm in relation to this question. |
119. Cần có một nghiên cứu kỹ Biểu đồ VIII, TCF 817, để khảo sát sự tương đồng giữa tiểu thiên địa và đại thiên địa liên quan đến câu hỏi này. |
|
120. Such a study (in relation to man) will reveal that the throat chakra is to be found on the third ether, the heart chakra on the second and the head chakra on the first. |
120. Một nghiên cứu như vậy (liên quan đến con người) sẽ cho thấy rằng luân xa cổ họng được tìm thấy trên dĩ thái thứ ba, luân xa tim trên dĩ thái thứ hai và luân xa đầu trên dĩ thái thứ nhất. |
|
In connection with the Heavenly Men we have a secondary manifestation, and on the buddhic plane we have Their third aspect found, leaving for Their paramount manifestation of force, the cosmic gaseous plane, or the manasic plane; They are essentially the divine Thinkers, the Manasaputras. |
Liên quan đến các Đấng Thiên Nhân, chúng ta có một biểu hiện thứ yếu, và trên cõi Bồ đề chúng ta thấy phương diện thứ ba của Các Ngài, để dành cho biểu hiện mãnh lực tối cao của Các Ngài là cõi khí vũ trụ, hay cõi manas; về bản chất, Các Ngài là các Đấng Tư Tưởng thiêng liêng, các Manasaputras. |
|
98. The Planetary Logoi are not as advanced as Solar Logoi. Their scheme of manifestation begins one systemic plane lower than that of the Solar Logoi. |
98. Các Hành Tinh Thượng đế không tiến hóa cao bằng các Thái dương Thượng đế. Hệ biểu hiện của Các Ngài bắt đầu thấp hơn một cõi hệ thống so với hệ biểu hiện của các Thái dương Thượng đế. |
|
99. For the Solar Logos, His third aspect is found on the atmic plane. For a Planetary Logos, His third aspect is found on the buddhic plane. |
99. Đối với Thái dương Thượng đế, phương diện thứ ba của Ngài được tìm thấy trên cõi atma. Đối với một Hành Tinh Thượng đế, phương diện thứ ba của Ngài được tìm thấy trên cõi Bồ đề. |
|
100. Reference to TCF 331 and following should make this clear. Note that the plane of vibration for a Solar Logos is the logoic plane; the plane of vibration for a Planetary Logos is the monadic plane. |
100. Việc tham chiếu đến TCF 331 và các trang tiếp theo hẳn sẽ làm điều này rõ ràng. Lưu ý rằng cõi rung động của một Thái dương Thượng đế là cõi logoic; cõi rung động của một Hành Tinh Thượng đế là cõi chân thần. |
|
101. The phrase “paramount manifestation of force” is used. In connection with a Planetary Logos, the “paramount manifestation of force” is found in the higher mental plane; for a Solar Logos it is found on the buddhic plane. |
101. Cụm từ “biểu hiện tối thượng của mãnh lực” được dùng. Liên hệ với một Hành Tinh Thượng đế, “biểu hiện tối thượng của mãnh lực” được tìm thấy trong Cõi thượng trí; đối với một Thái dương Thượng đế, nó được tìm thấy trên cõi Bồ đề. |
|
102. Thus, for a Solar Logos, the buddhic plane is a plane of manifestation corresponding to the fourth ether. For a Planetary Logos, the buddhic plane corresponds, we may think, to the third ether and the higher mental plane to the fourth. |
102. Do đó, đối với một Thái dương Thượng đế, cõi Bồ đề là một cõi biểu hiện tương ứng với dĩ thái thứ tư. Đối với một Hành Tinh Thượng đế, chúng ta có thể nghĩ rằng cõi Bồ đề tương ứng với dĩ thái thứ ba và Cõi thượng trí tương ứng với dĩ thái thứ tư. |
|
In connection, therefore, with the Microcosm, viewing him as part of a centre in the body of a Heavenly Man, |
Vì vậy, liên hệ với Tiểu thiên địa, khi nhìn y như một phần của một trung tâm trong thể của một Đấng Thiên Nhân, |
|
103. i.e., from the monadic perspective. |
103. tức là, từ viễn tượng chân thần. |
|
we have a lesser descent within the gaseous or fire manifestation of a solar Lord. |
chúng ta có một sự giáng hạ nhỏ hơn bên trong biểu hiện khí thể hay lửa của một nhật tinh quân. |
|
104. We are looking in the microcosm for a parallel to the two ‘descents’ just described—one of the Solar Logos and the other for the Planetary Logos. |
104. Trong tiểu thiên địa, chúng ta đang tìm một sự tương đồng với hai “sự giáng hạ” vừa được mô tả—một của Thái dương Thượng đế và một của Hành Tinh Thượng đế. |
|
105. The mental plane is the “gaseous or fire manifestation of a solar Lord”. The “solar Lord” in this case is the Solar Logos. |
105. Cõi trí là “biểu hiện khí thể hay lửa của một nhật tinh quân”. Trong trường hợp này, “nhật tinh quân” là Thái dương Thượng đế. |
|
This concerns the three higher subplanes of what might be considered as the manifestation of Man’s three higher aspects in mental matter, whilst on the fourth subplane we have the mental centres of man within the periphery of his mental body, of which the mental unit is the unifying factor. |
Điều này liên quan đến ba cõi phụ cao hơn của điều có thể được xem là biểu hiện của ba phương diện cao hơn của Con Người trong chất liệu trí tuệ, trong khi trên cõi phụ thứ tư chúng ta có các trung tâm trí tuệ của con người bên trong chu vi thể trí của y, mà đơn vị hạ trí là nhân tố hợp nhất. |
|
106. When considering man, the microcosm and his centers, the analogy is closest to the positioning of the centers (and their descent) for the Solar Logos. |
106. Khi xét con người, tiểu thiên địa và các trung tâm của y, sự tương đồng gần nhất là với vị trí của các trung tâm (và sự giáng hạ của chúng) nơi Thái dương Thượng đế. |
|
107. The mental unit is, apparently, of greater power than any of the centers on the lower mental plane. The mental unit unifies the four mental plane chakras (solar plexus center, splenic center, sacral center and base of the spine center) which are found on the fourth level of the mental plane—the fourth sub-plane. |
107. Đơn vị hạ trí, dường như, có quyền năng lớn hơn bất kỳ trung tâm nào trên cõi hạ trí. Đơn vị hạ trí hợp nhất bốn luân xa của cõi trí (trung tâm tùng thái dương, trung tâm lá lách, trung tâm xương cùng và trung tâm đáy cột sống) được tìm thấy trên cấp độ thứ tư của cõi trí—cõi phụ thứ tư. |
|
108. Thus far we are looking at three systems of centers and their distribution on various planes and sub-planes of the cosmic physical plane. |
108. Cho đến nay chúng ta đang xem xét ba hệ thống trung tâm và sự phân bố của chúng trên các cõi và cõi phụ khác nhau của cõi hồng trần vũ trụ. |
|
109. If we wish to compare the “paramount manifestations of force” for the Solar Logos, the Planetary Logos and Man, we shall find them on the buddhic plane, the higher mental plane and the lower mental plane respectively. |
109. Nếu chúng ta muốn so sánh các “biểu hiện tối thượng của mãnh lực” đối với Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế và Con Người, chúng ta sẽ thấy chúng lần lượt trên cõi Bồ đề, Cõi thượng trí và cõi hạ trí. |
|
This is—as has been earlier said—a deep mystery, and one that can be no further amplified. |
Đây là—như đã được nói trước đây—một huyền nhiệm sâu xa, và không thể khai triển thêm nữa. |
|
110. So then, has DK completed His giving of hints in relation to this abstruse subject? If so, are we any the wiser? |
110. Vậy thì, Chân sư DK đã hoàn tất việc ban ra các gợi ý của Ngài liên quan đến chủ đề thâm áo này chưa? Nếu vậy, chúng ta có sáng suốt hơn được bao nhiêu chăng? |
|
111. If the mental unit is a synthesizing center for four mental plane chakras, is there a parallel synthesizing center to be found on the higher mental plane for the lower chakras of a Planetary Logos, or on the buddhic plane for the lower chakras of a Solar Logos? We should probably hunt for such a center of force. |
111. Nếu đơn vị hạ trí là một trung tâm tổng hợp cho bốn luân xa của cõi trí, thì có chăng một trung tâm tổng hợp tương ứng được tìm thấy trên Cõi thượng trí cho các luân xa thấp của một Hành Tinh Thượng đế, hoặc trên cõi Bồ đề cho các luân xa thấp của một Thái dương Thượng đế? Có lẽ chúng ta nên tìm kiếm một trung tâm mãnh lực như thế. |
|
112. Could such unifying factors be the manasic permanent atom for the Planetary Logos and the buddhic permanent atom for the Solar Logos? The mental unit and the four mental chakras are on the same sub-plane of the lower mental plane, but this would not be the case in the other two instances: the manasic permanent atom is not on the same sub-plane as the causal bodies of men (usually the third sub-plane or the second whereas the manasic permanent atom is on the first sub-plane). The buddhic permanent atom is not on the same sub-plane as the majority of Ashrams, for the buddhic permanent atom is on the first sub-plane of the buddhic plane. |
112. Liệu các nhân tố hợp nhất như vậy có thể là nguyên tử trường tồn manas đối với Hành Tinh Thượng đế và nguyên tử trường tồn Bồ đề đối với Thái dương Thượng đế chăng? Đơn vị hạ trí và bốn luân xa trí tuệ nằm trên cùng một cõi phụ của cõi hạ trí, nhưng điều này sẽ không đúng trong hai trường hợp kia: nguyên tử trường tồn manas không nằm trên cùng cõi phụ với các thể nguyên nhân của con người (thường là cõi phụ thứ ba hoặc thứ hai trong khi nguyên tử trường tồn manas ở trên cõi phụ thứ nhất). Nguyên tử trường tồn Bồ đề không nằm trên cùng cõi phụ với đa số các ashram, vì nguyên tử trường tồn Bồ đề ở trên cõi phụ thứ nhất của cõi Bồ đề. |
|
113. For a Planetary Logos, the centers on the higher mental plane can be considered groups of causal bodies. For a Solar Logos, the centers on the buddhic plane can be considered ashrams or groupings of ashrams. |
113. Đối với một Hành Tinh Thượng đế, các trung tâm trên Cõi thượng trí có thể được xem là các nhóm thể nguyên nhân. Đối với một Thái dương Thượng đế, các trung tâm trên cõi Bồ đề có thể được xem là các ashram hoặc các nhóm ashram. |
|
114. If we consider the Ashrams on the buddhic plane to be analogous to the chakras of man on the fourth systemic ether, perhaps we have a hint concerning the positioning of the various Ashrams on the buddhic plane. In other words, the Ashrams, now for the most part on the buddhic plane, would not be positioned any lower than the fourth buddhic sub-plane. |
114. Nếu chúng ta xem các Ashram trên cõi Bồ đề là tương tự với các luân xa của con người trên dĩ thái hệ thống thứ tư, có lẽ chúng ta có một gợi ý liên quan đến vị trí của các Ashram khác nhau trên cõi Bồ đề. Nói cách khác, các Ashram, hiện nay phần lớn ở trên cõi Bồ đề, sẽ không được định vị thấp hơn cõi phụ Bồ đề thứ tư. |
|
115. If Hierarchy is the heart center of the Planetary Logos, and the heart chakra of the Planetary Logos is found on the atmic (not buddhic) plane, is Hierarchy as a whole found on the atmic plane (the plane whereon Masters are made)? |
115. Nếu Thánh Đoàn là trung tâm tim của Hành Tinh Thượng đế, và luân xa tim của Hành Tinh Thượng đế được tìm thấy trên cõi atma (không phải cõi Bồ đề), thì phải chăng Thánh Đoàn như một toàn thể được tìm thấy trên cõi atma (cõi nơi các Chân sư được tạo thành)? |
|
116. If we were considering what Hierarchy is in relation to the Solar Logos, we might have to think of it in terms of the monadic plane, for Hierarchy is a kind of ‘heart center’ and, in the etheric structure of the Solar Logos, the etheric heart center would have to be on the second plane. |
116. Nếu chúng ta đang xét Thánh Đoàn là gì trong liên hệ với Thái dương Thượng đế, có lẽ chúng ta phải nghĩ về nó theo cõi chân thần, vì Thánh Đoàn là một loại “trung tâm tim” và, trong cấu trúc dĩ thái của Thái dương Thượng đế, trung tâm tim dĩ thái hẳn phải ở trên cõi thứ hai. |
|
117. These thoughts are inferred from studying the chart on TCF, 817. Can one see why? |
117. Những suy tưởng này được suy ra từ việc nghiên cứu biểu đồ ở TCF, 817. Có thể thấy vì sao chăng? |
|
118. When considering that structure called a “mental unit”, we simply must determine whether all type of “men” (on all planets) have them, or only those groups of “men” whose development has been in some way retarded. For instance, humanity’s development has been retarded. The development of our Planetary Logos has also been retarded. Has the development of our Solar Logos been retarded? |
118. Khi xét cấu trúc được gọi là “đơn vị hạ trí”, chúng ta đơn giản phải xác định liệu mọi loại “người” (trên mọi hành tinh) đều có nó, hay chỉ những nhóm “người” mà sự phát triển của họ đã bị trì hoãn theo một cách nào đó. Chẳng hạn, sự phát triển của nhân loại đã bị trì hoãn. Sự phát triển của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta cũng đã bị trì hoãn. Sự phát triển của Thái dương Thượng đế của chúng ta có bị trì hoãn chăng? |
|
119. DK’s description of the origin of the mental unit, in fact, does make it seem inherent in the mental developmental process. Do we think that a mental unit is necessary in order to develop a causal body by the means used in the first solar system and on the Moon-chain? Or (in relation to these earlier methods of causal body development) could the causal body have arisen without the presence of a mental unit? |
119. Thật ra, mô tả của Chân sư DK về nguồn gốc của đơn vị hạ trí khiến nó có vẻ cố hữu trong tiến trình phát triển trí tuệ. Chúng ta có nghĩ rằng đơn vị hạ trí là cần thiết để phát triển một thể nguyên nhân bằng những phương tiện được dùng trong hệ mặt trời thứ nhất và trên Dãy Mặt Trăng không? Hay (liên hệ với các phương pháp phát triển thể nguyên nhân trước kia này) thể nguyên nhân có thể đã phát sinh mà không có sự hiện diện của đơn vị hạ trí chăng? |
|
120. What we are asking concerns the split on the mental plane between lower mind and higher mind. Was this split the result of planetary and even solar failure, or is it inherent in all processes of mental development even in those instances when there was no failure? |
120. Điều chúng ta đang hỏi liên quan đến sự phân chia trên cõi trí giữa hạ trí và thượng trí. Sự phân chia này là kết quả của thất bại hành tinh và thậm chí thất bại thái dương, hay nó vốn cố hữu trong mọi tiến trình phát triển trí tuệ ngay cả trong những trường hợp không có thất bại? |
|
121. We have been considering the “composition of the permanent atoms”. Let us tabulate the headings which were found in this section. |
121. Chúng ta đã xem xét “thành phần của các nguyên tử trường tồn”. Hãy lập bảng các đề mục đã được tìm thấy trong phần này. |
|
a. Responsiveness |
a. Tính đáp ứng |
|
b. Form Building Power |
b. Quyền năng tạo hình |
|
c. Relative Permanency |
c. Tính trường tồn tương đối |
|
d. Heat |
d. Nhiệt |
|
e. The Difference Between Them |
e. Sự khác biệt giữa chúng |
|
122. We will now deal with “The Planes and Fiery Energy” |
122. Giờ đây chúng ta sẽ bàn đến “Các Cõi và Năng Lượng Lửa” |
|
b. The Planes and Fiery Energy. It seems desirable [Page 519] that we should here discuss the analogies on each plane,69 with the seven sub-planes, reminding the student that we are speaking of the planes as the field of evolution of a solar Logos, and not only as a field for the development of man. |
b. Các Cõi và Năng Lượng Lửa. Có vẻ thích đáng [Page 519] là ở đây chúng ta nên thảo luận các sự tương đồng trên mỗi cõi,69 với bảy cõi phụ, nhắc cho đạo sinh rằng chúng ta đang nói về các cõi như là trường tiến hoá của một Thái dương Thượng đế, chứ không chỉ như một trường cho sự phát triển của con người. |
|
123. There is the implication that the Solar Logos develops on systemic planes—especially the higher systemic planes, just as man develops on the lower systemic planes. |
123. Ở đây hàm ý rằng Thái dương Thượng đế phát triển trên các cõi hệ thống—đặc biệt là các cõi hệ thống cao hơn, cũng như con người phát triển trên các cõi hệ thống thấp hơn. |
|
124. DK is trying to disabuse us from our anthropocentric point of view. |
124. Chân sư DK đang cố gắng giải trừ nơi chúng ta quan điểm lấy con người làm trung tâm. |
|
125. The conclusion to be drawn is that we share the higher systemic planes with Beings far greater than we. |
125. Kết luận cần rút ra là chúng ta cùng chia sẻ các cõi hệ thống cao hơn với những Đấng vĩ đại hơn chúng ta rất nhiều. |
|
FOOTNOTE 69 |
CHÚ THÍCH 69 |
|
1. The seven systemic planes are: |
1. Bảy cõi hệ thống là: |
|
1. Divine plane Logos 1st cosmic ether. |
1. Cõi thiêng liêng Thượng đế dĩ thái vũ trụ thứ nhất. |
|
126. This is a good alternative name for the first plane. It is usually called the logoic plane or the plane of adi. Yet, we have been told that the term “divine” refers to Spirit, and there is no sub-plane among the sub-planes of the cosmic physical plane on which the Spirit is more free. |
126. Đây là một tên thay thế tốt cho cõi thứ nhất. Nó thường được gọi là cõi logoic hay cõi adi. Tuy nhiên, chúng ta đã được bảo rằng thuật ngữ “thiêng liêng” chỉ Tinh thần, và không có cõi phụ nào trong các cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ mà trên đó Tinh thần được tự do hơn. |
|
2. Monadic plane Monad 2nd cosmic ether. |
2. Cõi chân thần Chân thần dĩ thái vũ trụ thứ hai. |
|
127. If we consider the numbering, we can understand the relation of the Monad to the heart. |
127. Nếu chúng ta xét cách đánh số, chúng ta có thể hiểu mối liên hệ của chân thần với tim. |
|
3. Spiritual plane 3rd cosmic ether. |
3. Cõi tinh thần dĩ thái vũ trụ thứ ba. |
|
128. The term “spiritual” has such variable use. When thinking of the atmic plane as the “spiritual triad”, we must think about what makes the spiritual triad “spiritual”. |
128. Thuật ngữ “tinh thần” có cách dùng rất biến thiên. Khi nghĩ về cõi atma như là “Tam nguyên tinh thần”, chúng ta phải nghĩ xem điều gì làm cho Tam nguyên tinh thần là “tinh thần”. |
|
4. Intuitional plane 4th cosmic ether. |
4. Cõi trực giác dĩ thái vũ trụ thứ tư. |
|
129. Whereas cogitation is needed for work upon the mental plane, a requisite point of tension and heightened receptivity are needed to access that which the intuition may bestow. |
129. Trong khi sự suy tư là cần thiết cho công việc trên cõi trí, thì một điểm tập trung nhất tâm cần thiết và tính tiếp nhận được nâng cao là điều cần có để tiếp cận điều mà trực giác có thể ban cho. |
|
5. Mental plane Ego gaseous plane. |
5. Cõi trí Chân ngã cõi khí thể. |
|
130. The juxtaposition of the terms “Ego” and “gaseous plane” is thought provoking. Gas is so dispersive. What holds the Ego together? |
130. Sự đặt cạnh nhau của các thuật ngữ “Chân ngã” và “cõi khí thể” thật gợi nhiều suy nghĩ. Khí thì rất phân tán. Điều gì giữ Chân ngã lại thành một toàn thể? |
|
131. We are given to understand that the mental unit and the “Jewel in the Lotus” are the two cohesive factors, one for the lower mental body and the other for the egoic lotus. |
131. Chúng ta được cho hiểu rằng đơn vị hạ trí và “Ngọc trong Hoa Sen” là hai nhân tố kết dính, một cho thể trí thấp và một cho hoa sen chân ngã. |
|
6. Astral plane liquid plane. |
6. Cõi cảm dục cõi lỏng. |
|
7. Physical gross. |
7. Hồng trần thô đặc. |
|
132. This listing is fairly familiar and seems to have been repeated in various ways throughout TCF. |
132. Bảng liệt kê này khá quen thuộc và dường như đã được lặp lại theo nhiều cách khác nhau xuyên suốt TCF. |
|
2. The seven differentiations in terms of fiery energy are: |
2. Bảy sự biến phân theo phương diện năng lượng lửa là: |
|
a. Plane of divine life Father Sea of fire. |
a. Cõi của sự sống thiêng liêng Cha Biển lửa. |
|
b. Plane of monadic life Son Akasha. |
b. Cõi của sự sống chân thần Con Akasha. |
|
133. We are given seven terms: “Sea of fire”,” Akasha”, “Aether”, two elements—“Air” and “Fire”, and also “Astral Light”, and “Ether”. In this context, we are to understand them all as expressions of fiery energy. |
133. Chúng ta được cho bảy thuật ngữ: “Biển lửa”, “Akasha”, “Aether”, hai nguyên tố—“Khí” và “Lửa”, và cả “Ánh sáng Cảm dục”, cùng “Dĩ thái”. Trong ngữ cảnh này, chúng ta phải hiểu tất cả chúng như những biểu hiện của năng lượng lửa. |
|
134. To think of the monadic plane as the plane of the “Son” is also arresting. Usually, when praying to “Our Father, Who art in heaven”, the Monad is meant (at least if this prayer is interpreted occultly). |
134. Việc nghĩ về cõi chân thần như cõi của “Con” cũng thật đáng chú ý. Thông thường, khi cầu nguyện “Lạy Cha chúng con ở trên trời”, điều được ngụ ý là chân thần (ít nhất nếu lời cầu nguyện này được diễn giải theo huyền bí học). |
|
135. The Monad does, as we have seen, have its second aspect associations, and here is another. |
135. Như chúng ta đã thấy, chân thần quả thực có những liên hệ với phương diện thứ hai của nó, và đây là một liên hệ khác. |
|
c. Plane of atma Holy Ghost Aether. |
c. Cõi atma Chúa Thánh Thần Aether. |
|
136. Brahma and the Holy Ghost are, from one perspective, interchangeable. We may wish to include one of the expressions of Fohat here as well. |
136. Brahma và Chúa Thánh Thần, từ một viễn tượng, có thể thay thế cho nhau. Chúng ta cũng có thể muốn đưa vào đây một trong những biểu hiện của Fohat. |
|
d. Plane of buddhi, intuition. Central Air. |
d. Cõi Bồ đề, trực giác. Trung tâm Khí. |
|
137. To consider the buddhic plane as “central” is important. From this perspective, since man’s primary expression is to be upon the buddhic plane, man, too, is “central”. |
137. Việc xem cõi Bồ đề là “trung tâm” là điều quan trọng. Từ viễn tượng này, vì biểu hiện chủ yếu của con người là ở trên cõi Bồ đề, nên con người cũng là “trung tâm”. |
|
e. Plane of mind Fire. |
e. Cõi trí Lửa. |
|
f. Plane of desire Astral Light. |
f. Cõi dục vọng Ánh sáng Cảm dục. |
|
138. “Water” and “Astral Light” are necessarily closely related. |
138. “Nước” và “Ánh sáng Cảm dục” tất yếu có liên hệ rất mật thiết. |
|
139. The question arises: “Is that which is reflected in the “Astral Light” (as it would be reflected in “Water”) accurate? |
139. Câu hỏi được đặt ra: “Điều được phản chiếu trong “Ánh sáng Cảm dục” (như nó sẽ được phản chiếu trong “Nước”) có chính xác không? |
|
g. Plane of physical Ether |
g. Cõi hồng trần Dĩ thái |
|
140. “Ether” and “Earth” are necessarily closely related. The lowest chakra (for which the symbol is the same as that for the Earth) is related to ether rather than dense physicality. |
140. “Dĩ thái” và “Đất” tất yếu có liên hệ rất mật thiết. Luân xa thấp nhất (mà biểu tượng của nó giống với biểu tượng của Trái Đất) liên hệ với dĩ thái hơn là với tính hồng trần đậm đặc. |
|
Thought … … Thoughtforms … … Materialisation. |
Tư tưởng … … Hình tư tưởng … … Hiện hình. |
|
141. Here we have a three step process with thought as the least material energy of the three. Thought becomes thoughtforms and thoughtforms tend to materialize. |
141. Ở đây chúng ta có một tiến trình ba bước, với tư tưởng là năng lượng ít vật chất nhất trong ba thứ. Tư tưởng trở thành hình tư tưởng và hình tư tưởng có khuynh hướng hiện hình. |
|
Microcosm … … … Macrocosm. |
Tiểu thiên địa … … … Đại thiên địa. |
|
3. Planes of logoic evolution the seven planes. |
3. Các cõi của sự tiến hoá logoic bảy cõi. |
|
142. The Solar Logos is etherically ‘positioned’ on the logoic plane. His evolution includes seven planes. |
142. Thái dương Thượng đế được ‘định vị’ về mặt dĩ thái trên cõi logoic. Sự tiến hoá của Ngài bao gồm bảy cõi. |
|
143. It is significant that Sanat Kumara is focussed on the logoic plane and is a Representative and Disciple of the Solar Logos. |
143. Điều có ý nghĩa là Đức Sanat Kumara tập trung trên cõi logoic và là một Đấng Đại Diện và Đệ tử của Thái dương Thượng đế. |
|
Planes of Son’s evolution the six planes. |
Các cõi của sự tiến hoá của Con sáu cõi. |
|
144. From this perspective, the “Son” includes all Monads and evolves on six planes. Monads, then, are aspects of the “Son”—at least from the logoic perspective. From the perspective of the Planetary Logos, Monads are representatives of the “Father” for the “Father” aspect of the Planetary Logos is found on the monadic plane. |
144. Từ viễn tượng này, “Con” bao gồm tất cả các chân thần và tiến hoá trên sáu cõi. Vậy thì, các chân thần là các phương diện của “Con”—ít nhất từ viễn tượng logoic. Từ viễn tượng của Hành Tinh Thượng đế, các chân thần là các đại diện của “Cha” vì phương diện “Cha” của Hành Tinh Thượng đế được tìm thấy trên cõi chân thần. |
|
145. It is also possible to consider the “Son” as the “Prodigal Son” who goes forth from the monadic plane. |
145. Cũng có thể xem “Con” như “Đứa Con Hoang Đàng” đi ra từ cõi chân thần. |
|
146. From another perspective, if Aries is the “Father”, then Leo is the “Son”. Can the “Son” (since it is ruled by Leo) be ‘positioned’ on the logoic sub-plane of the cosmic physical plane, since on that sub-plane a Creative Hierarchy ruled by Leo is found expressing? |
146. Từ một viễn tượng khác, nếu Bạch Dương là “Cha”, thì Sư Tử là “Con”. Phải chăng “Con” (vì được Sư Tử cai quản) có thể được ‘định vị’ trên cõi phụ logoic của cõi hồng trần vũ trụ, vì trên cõi phụ ấy có một Huyền Giai Sáng Tạo do Sư Tử cai quản đang biểu hiện? |
|
Planes of monadic evolution the five planes. |
Các cõi của sự tiến hoá chân thần năm cõi. |
|
147. The Monad stands ‘above’ the five planes of Brahma and evolves through those planets. |
147. Chân thần đứng ‘trên’ năm cõi của Brahma và tiến hoá xuyên qua những hành tinh ấy. |
|
148. If this is the case, should the “Son” stand ‘above’ the six planes through which it evolves? In the set up being presented, the “Son” is positioned on the sixth plane and His field of evolution includes six planes. |
148. Nếu đúng như vậy, thì “Con” có nên đứng ‘trên’ sáu cõi mà qua đó nó tiến hoá không? Trong cách trình bày đang được đưa ra, “Con” được định vị trên cõi thứ sáu và trường tiến hoá của Ngài bao gồm sáu cõi. |
|
149. The Solar Logos considered as the “Divine Son” and manifesting through His causal body on cosmic mental planes will have a close connection to the Monad—through the factor of “Sonship”. The human Monad (as a ray two/ray one center of force) may be considered as related to the Heart of the Sun but its relation to the Central Spiritual Sun cannot be denied. |
149. Thái dương Thượng đế được xem như “Thiêng Tử” và biểu hiện qua thể nguyên nhân của Ngài trên các cõi trí tuệ vũ trụ sẽ có một liên hệ mật thiết với chân thần—qua yếu tố “tính Con”. Chân thần nhân loại (như một trung tâm mãnh lực cung hai/cung một) có thể được xem là liên hệ với Trái Tim của Mặt Trời nhưng mối liên hệ của nó với Mặt trời Tinh thần Trung Ương không thể bị phủ nhận. |
|
Planes of human evolution the three worlds. |
Các cõi của sự tiến hoá nhân loại ba cõi thấp. |
|
150. The temporary ‘home’ of the human being is ‘above’ the three lower worlds. The causal body is usually located on subplane nineteen or twenty (counting from below). Whether the microcosmic causal body can ever be ‘located’ on sub-plane twenty-one remains to be seen. |
150. ‘Ngôi nhà’ tạm thời của con người ở ‘trên’ ba cõi thấp. Thể nguyên nhân thường nằm trên cõi phụ mười chín hoặc hai mươi (đếm từ dưới lên). Liệu thể nguyên nhân vi mô có bao giờ có thể được ‘định vị’ trên cõi phụ hai mươi mốt hay không vẫn còn phải chờ xem. |
|
151. The evolution of the “Son” is distinct from the other two evolutions, for the “Son” lives on the monadic plane and counts the monadic plane as one of the six planes through which it expresses. |
151. Sự tiến hoá của “Con” khác biệt với hai sự tiến hoá kia, vì “Con” sống trên cõi chân thần và tính cõi chân thần là một trong sáu cõi mà qua đó Ngài biểu hiện. |
|
152. We can see that both the logoic and monadic sub-planes, can be considered fields of expression for both the “Father” and the “Son”, depending on whether we are considering solar logoic expression or planetary logoic expression. |
152. Chúng ta có thể thấy rằng cả cõi phụ logoic lẫn cõi phụ chân thần đều có thể được xem là các trường biểu hiện cho cả “Cha” lẫn “Con”, tùy theo việc chúng ta đang xét biểu hiện logoic thái dương hay biểu hiện logoic hành tinh. |
|
153. Perhaps the statement, “I and my Father are One” should be brought forward to assist with interpretation. |
153. Có lẽ nên đưa ra câu nói, “Ta và Cha ta là Một” để hỗ trợ cho việc diễn giải. |
|
Seven is the number of the totality of manifestation. |
Bảy là con số của toàn thể biểu hiện. |
|
154. We have to consider the relation of the seven to the ten. The totality of manifestation, it seems, should include a supernal three. Perhaps these three are considered existent but unmanifest. |
154. Chúng ta phải xét mối liên hệ của bảy với mười. Toàn thể biểu hiện, dường như, phải bao gồm một bộ ba thiên thượng. Có lẽ ba điều này được xem là hiện hữu nhưng không biểu hiện. |
|
Three is the number of consciousness. |
Ba là con số của tâm thức. |
|
155. If three can be expanded to become nine, then we will have agreement with other references in the Teaching. |
155. Nếu ba có thể được mở rộng để trở thành chín, thì chúng ta sẽ có sự phù hợp với những tham chiếu khác trong Giáo Huấn. |
|
156. However, to have consciousness, we must have the Perceiver, the Perceived and the Perceiving (the Thinker, the Thought and That which is the Means of Thought). This is a three. |
156. Tuy nhiên, để có tâm thức, chúng ta phải có Đấng Tri Giác, điều được tri giác và sự tri giác (Người Tư Tưởng, Tư Tưởng và Cái là Phương Tiện của Tư Tưởng). Đây là một bộ ba. |
|
One is the number of Life or Spirit. |
Một là con số của Sự sống hay Tinh thần. |
|
157. This is, perhaps, the greatest of all truisms. Yet it is of little value to repeat it. It must be experienced. |
157. Đây có lẽ là chân lý hiển nhiên lớn nhất trong mọi chân lý hiển nhiên. Tuy nhiên, việc lặp lại nó ít có giá trị. Nó phải được chứng nghiệm. |
|
4. Electric fire Solar fire Fire by friction. |
4. Lửa Điện Lửa Thái dương Lửa ma sát. |
|
Father Son Holy Ghost. |
Cha Con Chúa Thánh Thần. |
|
Spirit Consciousness Matter. |
Tinh thần Tâm thức Vật chất. |
|
158. We note that the Holy Ghost is to correspond with Matter. However, from another perspective, the Holy Ghost hovers ‘above’ Matter or Mother. Some systems of cosmogony simply divide the Holy Ghost from the Mother Who is considered to be Matter. |
158. Chúng ta lưu ý rằng Chúa Thánh Thần tương ứng với Vật chất. Tuy nhiên, từ một viễn tượng khác, Chúa Thánh Thần lơ lửng ‘trên’ Vật chất hay Mẹ. Một số hệ thống vũ trụ luận đơn giản tách Chúa Thánh Thần khỏi Mẹ, Đấng được xem là Vật chất. |
|
159. Otherwise, the divisions are familiar to us all. |
159. Ngoài ra, các phân chia này đều quen thuộc với tất cả chúng ta. |
|
160. We realize, however, that we will have to consider the logoic plane as the home of electric fire, and the monadic plane as the home of solar fire, not to mention the association of the atmic plane with fire by friction. |
160. Tuy nhiên, chúng ta nhận ra rằng sẽ phải xem cõi logoic là nơi cư ngụ của Lửa Điện, cõi chân thần là nơi cư ngụ của Lửa Thái dương, chưa kể sự liên hệ của cõi atma với Lửa ma sát. |
|
161. Ordinarily, from the perspective of the Monad, we consider the monadic plane in relation to electric fire, the higher mental plane in relation to solar fire and the lower eighteen system sub-planes in relation to fire by friction. |
161. Thông thường, từ viễn tượng của chân thần, chúng ta xem cõi chân thần trong liên hệ với Lửa Điện, Cõi thượng trí trong liên hệ với Lửa Thái dương, và mười tám cõi phụ hệ thống thấp hơn trong liên hệ với Lửa ma sát. |
|
162. From a higher perspective, the planes of the spiritual triad can all be considered in relation to solar fire. |
162. Từ một viễn tượng cao hơn, các cõi của Tam nguyên tinh thần đều có thể được xem trong liên hệ với Lửa Thái dương. |
|
In the solar system we have: |
Trong hệ mặt trời chúng ta có: |
|
First, the three higher planes, which have been rightly called the planes of the three aspects; |
Thứ nhất, ba cõi cao hơn, vốn đã được gọi đúng là các cõi của ba phương diện; |
|
163. The Rays of Aspect are directly connected with these higher three planes. |
163. Các Cung Trạng Thái liên hệ trực tiếp với ba cõi cao hơn này. |
|
second, the seventh logoic principle is on the first plane, and we can consider it as the impulse in physical matter which produced His body of objectivity. |
thứ hai, nguyên khí logoic thứ bảy ở trên cõi thứ nhất, và chúng ta có thể xem nó như xung lực trong vật chất hồng trần đã tạo ra thể khách quan của Ngài. |
|
164. From our study of the correspondence of the permanent atom with the seventh principle of any sheath, we will want to consider the relationship between the permanent atom of the cosmic physical plane and the “seventh logoic principle”. |
164. Từ việc nghiên cứu sự tương ứng của nguyên tử trường tồn với nguyên khí thứ bảy của bất kỳ vỏ bọc nào, chúng ta sẽ muốn xem xét mối liên hệ giữa nguyên tử trường tồn của cõi hồng trần vũ trụ và “nguyên khí logoic thứ bảy”. |
|
165. For man, the seventh principle is found upon the atmic plane. For the Solar Logos, the seventh principle (of His etheric/physical body only) is found upon the logoic plane. Are we to search for the Planetary Logos’ seventh principle (i.e., His etheric/physical seventh principle) upon the monadic plane? |
165. Đối với con người, nguyên khí thứ bảy được tìm thấy trên cõi atma. Đối với Thái dương Thượng đế, nguyên khí thứ bảy (chỉ của thể dĩ thái/hồng trần của Ngài) được tìm thấy trên cõi logoic. Chúng ta có phải tìm kiếm nguyên khí thứ bảy của Hành Tinh Thượng đế (tức nguyên khí thứ bảy của thể dĩ thái/hồng trần của Ngài) trên cõi chân thần chăng? |
|
166. We are not searching for the seventh logoic principle which involves the higher cosmic planes. We would do this if we began to analogize with exactitude from the human or microcosmic pattern in which case the seventh principle of the Solar Logos might have its home upon the cosmic atmic plane (just as man’s seventh principle is on the systemic atmic plane), and the seventh principle of the Planetary Logos upon which plane?—the cosmic buddhic? |
166. Chúng ta không tìm kiếm nguyên khí logoic thứ bảy vốn liên quan đến các cõi vũ trụ cao hơn. Chúng ta sẽ làm như vậy nếu bắt đầu suy luận theo phép tương đồng một cách chính xác từ mô hình nhân loại hay vi mô, trong trường hợp đó nguyên khí thứ bảy của Thái dương Thượng đế có thể có nơi cư ngụ trên cõi atma vũ trụ (cũng như nguyên khí thứ bảy của con người ở trên cõi atma hệ thống), còn nguyên khí thứ bảy của Hành Tinh Thượng đế thì trên cõi nào?—cõi Bồ đề vũ trụ chăng? |
|
167. Instead we seem to be analogizing from the permanent atom which has its ‘home’ on the highest sub-plane of the plane to which it belongs. For man, the permanent atom considered as the seventh principle of his etheric/physical body is found upon the systemic atomic ether. For the Solar Logos, the physical permanent atom considered as the seventh principle of His etheric/physical body is found upon the cosmic atomic ether. |
167. Thay vào đó, dường như chúng ta đang suy luận theo phép tương đồng từ nguyên tử trường tồn vốn có ‘nơi cư ngụ’ trên cõi phụ cao nhất của cõi mà nó thuộc về. Đối với con người, nguyên tử trường tồn được xem như nguyên khí thứ bảy của thể dĩ thái/hồng trần của y được tìm thấy trên dĩ thái nguyên tử hệ thống. Đối với Thái dương Thượng đế, nguyên tử trường tồn hồng trần được xem như nguyên khí thứ bảy của thể dĩ thái/hồng trần của Ngài được tìm thấy trên dĩ thái nguyên tử vũ trụ. |
|
On the second plane are found the seven Heavenly Men, Who are His principal centres of force. |
Trên cõi thứ hai được tìm thấy bảy Đấng Thiên Nhân, là các trung tâm mãnh lực chính yếu của Ngài. |
|
168. What does it mean that the “seven Heavenly Men” are “found” on the second or monadic plane? |
168. Điều đó có nghĩa gì khi “bảy Đấng Thiên Nhân” được “tìm thấy” trên cõi thứ hai hay cõi chân thần? |
|
169. Where are the physical permanent atoms of the Planetary Logoi to be found? Are such physical permanent atoms what are meant by the “principal centres of force” of the Solar Logos? The matter is intricate. |
169. Các nguyên tử trường tồn hồng trần của các Hành Tinh Thượng đế được tìm thấy ở đâu? Phải chăng những nguyên tử trường tồn hồng trần như vậy là điều được ngụ ý bởi “các trung tâm mãnh lực chính yếu” của Thái dương Thượng đế? Vấn đề này thật phức tạp. |
|
170. Perhaps we could say that the highest etheric expression of the Heavenly Men is found on the second plane. If They express on the logoic plane, we might be hard pressed to call such an expression etheric. We recall what might be called ‘the relativity of etheric expression’ when contrasting the etheric expression of a Solar Logos and the etheric expression of a Planetary Logos. |
170. Có lẽ chúng ta có thể nói rằng biểu hiện dĩ thái cao nhất của các Đấng Thiên Nhân được tìm thấy trên cõi thứ hai. Nếu Các Ngài biểu hiện trên cõi logoic, chúng ta có thể khó mà gọi một biểu hiện như vậy là dĩ thái. Chúng ta nhớ lại điều có thể được gọi là ‘tính tương đối của biểu hiện dĩ thái’ khi đối chiếu biểu hiện dĩ thái của một Thái dương Thượng đế và biểu hiện dĩ thái của một Hành Tinh Thượng đế. |
|
171. Yet if these Planetary Logoi are to serve as etheric expressions of the Solar Logos, at least some of Them must also be found expressing etherically on the buddhic plane or fourth cosmic ether. If the analogy between man and the Solar Logos holds good, at least some of the chakras (the lower ones) are found on the fourth ether—the fourth systemic ether for man and the fourth cosmic ether for the Solar Logos. |
171. Tuy nhiên, nếu các Hành Tinh Thượng đế này phải phụng sự như những biểu hiện dĩ thái của Thái dương Thượng đế, thì ít nhất một số trong Các Ngài cũng phải được tìm thấy đang biểu hiện một cách dĩ thái trên cõi Bồ đề hay dĩ thái vũ trụ thứ tư. Nếu phép tương đồng giữa con người và Thái dương Thượng đế là đúng, thì ít nhất một số luân xa (các luân xa thấp) được tìm thấy trên dĩ thái thứ tư—dĩ thái hệ thống thứ tư đối với con người và dĩ thái vũ trụ thứ tư đối với Thái dương Thượng đế. |
|
172. The Planetary Logos has centers of force on the higher mental plane, the buddhic plane and probably on the atmic as well—ashramic centers, among other types of centers. We do not know if the centers in such beings as Globe-Lords or Chain-Lords are found on the atmic and buddhic planes, or higher mental plane, but we may infer so. |
172. Hành Tinh Thượng đế có các trung tâm mãnh lực trên Cõi thượng trí, cõi Bồ đề và có lẽ cả trên cõi atma nữa—các trung tâm ashram, trong số những loại trung tâm khác. Chúng ta không biết liệu các trung tâm trong những hữu thể như các Chúa Tể của Bầu Hành Tinh hay các Chúa Tể của Dãy có được tìm thấy trên các cõi atma và Bồ đề, hay trên Cõi thượng trí hay không, nhưng chúng ta có thể suy ra như vậy. |
|
173. From a larger perspective we may think that the Solar Logos also has centers on the buddhic and atmic planes (though none on the higher mental plane); the aggregations of ashramic groups forming etheric centers in the etheric body of the Solar Logos would simply have to be larger than the aggregations of ashramic groups forming etheric centers in the cosmic etheric body of a Planetary Logos. The Solar Logos would also have (on the logoic plane) some kind of etheric centers, and the Planetary Logoi would have none. The focus of the Three Logoi (cf. Chart Vehicle, TCF 344) on the logoic plane seem to have something to do with the potentially highest solar logoic centers, just as the “principal centres” of a Solar Logos have to do with the Planetary Logoi. |
173. Từ một viễn cảnh rộng lớn hơn, chúng ta có thể nghĩ rằng Thái dương Thượng đế cũng có các trung tâm trên cõi Bồ đề và cõi atma (dù không có trung tâm nào trên Cõi thượng trí); các tập hợp những nhóm ashram tạo thành các trung tâm dĩ thái trong thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế hẳn đơn giản phải lớn hơn các tập hợp những nhóm ashram tạo thành các trung tâm dĩ thái trong thể dĩ thái vũ trụ của một Đức Hành Tinh Thượng Đế. Thái dương Thượng đế cũng sẽ có (trên cõi logoic) một loại trung tâm dĩ thái nào đó, còn các Hành Tinh Thượng đế thì không có. Tiêu điểm của Ba Thượng đế (xem Biểu đồ Vehicle, TCF 344) trên cõi logoic dường như có liên hệ nào đó với các trung tâm logoic thái dương cao nhất tiềm tàng, cũng như các “trung tâm chính yếu” của một Thái dương Thượng đế có liên hệ với các Hành Tinh Thượng đế. |
|
174. However, the “principal centres” of the Solar Logos are on the monadic plane. The highest etheric expression of the Heavenly Men are those centers and to a lesser extent, monadic groupings within the centers of these Heavenly Men would also be centers within a Solar Logos—though more minor centers. |
174. Tuy nhiên, các “trung tâm chính yếu” của Thái dương Thượng đế nằm trên cõi chân thần. Biểu hiện dĩ thái cao nhất của các Đấng Thiên Nhân là những trung tâm ấy, và ở mức độ thấp hơn, các nhóm chân thần bên trong các trung tâm của những Đấng Thiên Nhân này cũng sẽ là các trung tâm bên trong một Thái dương Thượng đế—dù là những trung tâm thứ yếu hơn. |
|
175. Human Monads, as we usually consider them, are cosmic etheric expressions. May we consider them as expressions upon the highest cosmic ether of the Planetary Logoi (though not the highest cosmic ether of the Solar Logos)? |
175. Các Chân thần nhân loại, như chúng ta thường xét đến, là những biểu hiện dĩ thái vũ trụ. Chúng ta có thể xem chúng là những biểu hiện trên dĩ thái vũ trụ cao nhất của các Hành Tinh Thượng đế chăng (dù không phải dĩ thái vũ trụ cao nhất của Thái dương Thượng đế)? |
|
There are others, but we are not here concerned with Them. |
Còn có những vị khác nữa, nhưng ở đây chúng ta không quan tâm đến Các Ngài. |
|
176. Perhaps we are speaking of other kinds of Planetary Logoi of lesser scope than the seven major ones. They would also be centers of force in a Solar Logos. |
176. Có lẽ chúng ta đang nói đến những loại Hành Tinh Thượng đế khác có phạm vi nhỏ hơn bảy vị chính yếu. Các Ngài cũng sẽ là những trung tâm mãnh lực trong một Thái dương Thượng đế. |
|
177. Chain Lords or Globe Lords might also be considered centers of force in a Solar Logos, but definitely lesser centers of force. |
177. Các Chúa Tể Dãy hay các Chúa Tể Bầu hành tinh cũng có thể được xem là những trung tâm mãnh lực trong một Thái dương Thượng đế, nhưng chắc chắn là những trung tâm mãnh lực thấp hơn. |
|
These latter have achieved a certain specific goal, and are the [Page 520] embodiment of centres which are now quiescent or out of manifestation, the logoic kundalini having turned its attention elsewhere. |
Những vị sau này đã đạt được một mục tiêu chuyên biệt nào đó, và là [Page 520] hiện thân của những trung tâm hiện đang tĩnh lặng hoặc ra ngoài biểu hiện, vì kundalini logoic đã chuyển sự chú ý của nó sang nơi khác. |
|
178. These centers might or might not be non-sacred Planetary Logoi. It is possible that they are ‘old’ centers which, yes, are not sacred, but are unlike other non-sacred planets, because (unlike the non-sacred planets of which we are presently aware) they not presently going through a developmental cycle. |
178. Những trung tâm này có thể là hoặc không là các Hành Tinh Thượng đế không thiêng liêng. Có thể chúng là những trung tâm ‘cổ xưa’ mà đúng vậy, không thiêng liêng, nhưng khác với các hành tinh không thiêng liêng khác, bởi vì (không giống các hành tinh không thiêng liêng mà hiện nay chúng ta biết đến) hiện tại chúng không trải qua một chu kỳ phát triển. |
|
179. We can understand “logoic kundalini” as a kind of ‘developmental finger of God’. What it touches is stimulated and develops. |
179. Chúng ta có thể hiểu “kundalini logoic” như một loại ‘ngón tay phát triển của Thượng đế’. Điều gì nó chạm đến thì được kích thích và phát triển. |
|
180. Logoic kundalini observes the time-space schedule of the Solar Logos. It moves according to the Divine Plan for this solar system. |
180. Kundalini logoic tuân theo thời biểu không-thời gian của Thái dương Thượng đế. Nó vận động theo Thiên Cơ dành cho hệ mặt trời này. |
|
Under another enumeration they make the ten of the esoteric life, and can also be enumerated as twelve, thus forming the twelve-petalled Lotus, or the heart centre in the Body of the ONE ABOUT WHOM NOUGHT MAY BE SAID. |
Theo một cách liệt kê khác, chúng tạo thành số mười của sự sống huyền bí, và cũng có thể được liệt kê thành mười hai, do đó hình thành Hoa sen mười hai cánh, hay trung tâm tim trong Thể của Đấng Bất Khả Tư Nghị. |
|
181. We have somewhat covered this idea a little earlier in earlier comments. |
181. Chúng ta đã phần nào đề cập đến ý tưởng này sớm hơn một chút trong các bình luận trước. |
|
182. We are learning that planetary centers on the second or monadic plane can be numbered in various ways. One mode of numbering produces an esoteric ten, and another a twelve (which would correspond to the twelve petals in the heart center of a Cosmic Logos). |
182. Chúng ta đang học rằng các trung tâm hành tinh trên cõi thứ hai hay cõi chân thần có thể được đếm theo nhiều cách khác nhau. Một cách đếm tạo ra số mười huyền bí, và một cách khác tạo ra số mười hai (tương ứng với mười hai cánh trong trung tâm tim của một Thượng đế Vũ Trụ). |
|
183. If numbers can change in this way, it means that (perhaps in several instances) two or more of the twelve Planetary Logoi have to be counted as one unit, and (in other instances) no longer thus counted (depending on the perspective taken). We have to reckon with the perspectives which ‘see’ the Planetary Logoi as seven, as ten and as twelve. |
183. Nếu các con số có thể thay đổi theo cách này, điều đó có nghĩa là (có lẽ trong một số trường hợp) hai hay nhiều hơn trong mười hai Hành Tinh Thượng đế phải được tính là một đơn vị, và (trong những trường hợp khác) không còn được tính như vậy nữa (tùy theo viễn cảnh được chọn). Chúng ta phải lưu ý đến những viễn cảnh ‘thấy’ các Hành Tinh Thượng đế là bảy, là mười và là mười hai. |
|
184. It is obvious that to produce a ten or twelve upon the monadic plane, Planetary Logoi which are other than the present sacred planets will have to be included. |
184. Rõ ràng là để tạo ra số mười hay mười hai trên cõi chân thần, các Hành Tinh Thượng đế khác với các hành tinh thiêng liêng hiện tại sẽ phải được bao gồm. |
|
185. The particular One About Whom Naught May Be Said referenced in this context is definitely a Cosmic Logos and not a Super-Cosmic Logos. |
185. Đấng Bất Khả Tư Nghị đặc thù được nhắc đến trong ngữ cảnh này chắc chắn là một Thượng đế Vũ Trụ chứ không phải một Thượng đế Siêu Vũ Trụ. |
|
186. To learn the mysteries of ‘occult counting’, we must learn the manner in which the Masters group different kinds of entities—sometimes considering them with others and sometimes alone. |
186. Để học các huyền nhiệm của ‘sự đếm huyền bí’, chúng ta phải học cách các Chân sư nhóm các loại thực thể khác nhau—đôi khi xét chúng cùng với những thực thể khác và đôi khi xét riêng lẻ. |
|
187. It will be noted (as we continue to read below) that we have skipped the atmic plane. It would seem that it is not legitimate to do so and that, in some manner, we are being deliberately blinded. |
187. Cần lưu ý rằng (khi chúng ta tiếp tục đọc bên dưới) chúng ta đã bỏ qua cõi atma. Dường như làm như vậy là không chính đáng và rằng, theo một cách nào đó, chúng ta đang bị cố ý làm cho mù lòa. |
|
188. If one checks Chart V, TCF 344, we shall see that the cosmic atmic plane is also skipped. There is purpose to this. It is not that there is a breach in continuity. |
188. Nếu kiểm tra Biểu đồ V, TCF 344, chúng ta sẽ thấy rằng cõi atma vũ trụ cũng bị bỏ qua. Có chủ đích trong điều này. Không phải là có một sự đứt đoạn trong tính liên tục. |
|
On the fourth cosmic ether the buddhic plane, are found the etheric centres of the Logos. |
Trên dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề, có các trung tâm dĩ thái của Thượng đế. |
|
189. These are distinct from what, ‘above’, are called His “principal centres of force”. There should be a correspondence to a solar logoic etheric heart center found on the monadic plane along with what are called the Solar Logos’ “principal centers of force”. |
189. Những trung tâm này khác với điều mà, ở ‘phía trên’, được gọi là các “trung tâm mãnh lực chính yếu” của Ngài. Phải có một sự tương ứng với một trung tâm tim dĩ thái logoic thái dương được tìm thấy trên cõi chân thần cùng với điều được gọi là các “trung tâm mãnh lực chính yếu” của Thái dương Thượng đế. |
|
190. There seems to be some way in which the Planetary Logoi (twelve of them, it would seem) participate (together) in the heart center of a Cosmic Logos and other, lower, ways in which they simply represent etheric centers of the Solar Logos. |
190. Dường như có một cách nào đó mà các Hành Tinh Thượng đế (có vẻ là mười hai vị) cùng tham dự vào trung tâm tim của một Thượng đế Vũ Trụ và những cách khác, thấp hơn, theo đó các Ngài đơn giản biểu hiện các trung tâm dĩ thái của Thái dương Thượng đế Thái dương. |
|
191. We have, however, breached the analogy implied on TCF 817. The Solar Logos should have centers of force on the atmic plane (a correspondence to the throat center), monadic plane (a correspondence to the heart center), and logoic plane (a correspondence to the head center). |
191. Tuy nhiên, chúng ta đã phá vỡ phép tương đồng được hàm ý trong TCF 817. Thái dương Thượng đế phải có các trung tâm mãnh lực trên cõi atma (một tương ứng với trung tâm cổ họng), cõi chân thần (một tương ứng với trung tâm tim), và cõi logoic (một tương ứng với trung tâm đầu). |
|
192. Could it be that the solar logoic centers on the higher two cosmic etheric sub-planes could be considered as etheric head centers. If so, there would be three head centers (the Three Logoi) on the systemic logoic plane, and seven head centers (the seven Planetary Logoi—when grouped as seven) on the systemic monadic plane. |
192. Có thể chăng các trung tâm logoic thái dương trên hai cõi phụ dĩ thái vũ trụ cao hơn có thể được xem là các trung tâm đầu dĩ thái. Nếu vậy, sẽ có ba trung tâm đầu (Ba Thượng đế) trên cõi logoic của hệ, và bảy trung tâm đầu (bảy Hành Tinh Thượng đế—khi được nhóm thành bảy) trên cõi chân thần của hệ. |
|
193. The great head center of man has many parts. Are all of them on the first systemic ether, or are some of them on the second systemic ether. Perhaps the quality and rays of Vulcan will one day disclose the mystery, for Vulcan, though a planet of will (governing, we infer, the seven head centers of man) is also a planet associated with the Heart of the Sun, and thus with the number two and, perhaps, the second systemic ether. |
193. Trung tâm đầu lớn của con người có nhiều phần. Tất cả chúng đều ở trên dĩ thái thứ nhất của hệ, hay một số ở trên dĩ thái thứ hai của hệ? Có lẽ phẩm tính và các cung của Vulcan một ngày nào đó sẽ tiết lộ huyền nhiệm này, vì Vulcan, dù là một hành tinh của ý chí (mà chúng ta suy ra là cai quản bảy trung tâm đầu của con người), cũng là một hành tinh liên kết với Trái Tim của Mặt Trời, và do đó với số hai và, có lẽ, dĩ thái thứ hai của hệ. |
|
There are to be found the esoteric planets and the Sun, viewed as the centre of the buddhic principles, and from thence the Logos animates His dense physical manifestation. |
Ở đó có thể tìm thấy các hành tinh huyền bí và Mặt Trời, được xem như trung tâm của các nguyên khí Bồ đề, và từ đó Thượng đế tiếp sinh lực cho biểu hiện hồng trần đậm đặc của Ngài. |
|
194. Here we have another most occult statement. What are “the esoteric planets”? We are told that there are many etheric planets in our solar system. Is this what is meant by “esoteric planets”? Can they be named “esoteric” because they cannot presently be seen? |
194. Ở đây chúng ta có một phát biểu huyền bí khác hết sức thâm sâu. “Các hành tinh huyền bí” là gì? Chúng ta được cho biết rằng có nhiều hành tinh dĩ thái trong hệ mặt trời của chúng ta. Đây có phải là điều được hàm ý bởi “các hành tinh huyền bí” không? Chúng có thể được gọi là “huyền bí” vì hiện nay chưa thể được nhìn thấy chăng? |
|
195. We must watch closely: we are not speaking of the “buddhic principle” but of the “buddhic principles”—plural. Are the potencies of the buddhic sub-planes meant? Do different “esoteric planets” express different buddhic principles or buddhic-plane potencies? |
195. Chúng ta phải quan sát kỹ: chúng ta không nói về “nguyên khí Bồ đề” mà về “các nguyên khí Bồ đề”—số nhiều. Có phải các tiềm lực của các cõi phụ Bồ đề được hàm ý không? Các “hành tinh huyền bí” khác nhau có biểu hiện các nguyên khí Bồ đề khác nhau hay các tiềm lực của cõi Bồ đề khác nhau chăng? |
|
196. The Sun is greater than all the Planetary Logoi. How is it, then, that the Sun is “found” upon the buddhic plane? Do we mean that on the buddhic plane there is a cosmic physical ‘reflection’ of the Heart of the Sun? This would be reasonable. |
196. Mặt Trời lớn hơn tất cả các Hành Tinh Thượng đế. Vậy thì làm sao Mặt Trời lại được “tìm thấy” trên cõi Bồ đề? Có phải chúng ta muốn nói rằng trên cõi Bồ đề có một ‘phản chiếu’ hồng trần vũ trụ của Trái Tim của Mặt Trời? Điều này có vẻ hợp lý. |
|
197. The Heart of the Sun, solar fire and the buddhic principles are all allied. |
197. Trái Tim của Mặt Trời, Lửa Thái dương và các nguyên khí Bồ đề đều liên hệ mật thiết với nhau. |
|
198. The “Sun” or Solar Logos is a very buddhic Entity and can be considered as the central factor within and behind all buddhic demonstration. |
198. “Mặt Trời” hay Thái dương Thượng đế là một Thực Thể rất Bồ đề và có thể được xem là nhân tố trung tâm ở bên trong và phía sau mọi biểu hiện Bồ đề. |
|
199. Thus it would be the “Sun” as the sustainer of all buddhic demonstration that would be “found” upon the buddhic plane. |
199. Vì vậy, chính “Mặt Trời” như đấng duy trì mọi biểu hiện Bồ đề sẽ được “tìm thấy” trên cõi Bồ đề. |
|
200. The term “esoteric” for “esoteric planets” probably does not indicate the advancement of the Planetary Logoi involved but only their occulted nature. |
200. Thuật ngữ “huyền bí” trong “các hành tinh huyền bí” có lẽ không chỉ sự tiến bộ của các Hành Tinh Thượng đế liên hệ mà chỉ bản chất bị che khuất của chúng. |
|
201. Or, DK may be considering the esoteric, subjective or buddhically responsive aspect of the usual planets. |
201. Hoặc, Chân sư DK có thể đang xét phương diện huyền bí, chủ quan hay buddhi đáp ứng của các hành tinh thông thường. |
|
202. The meaning of the term “esoteric” in relation to the term “planets” cannot presently be resolved with certainty. |
202. Ý nghĩa của thuật ngữ “huyền bí” liên hệ với thuật ngữ “các hành tinh” hiện nay chưa thể được giải quyết một cách chắc chắn. |
|
203. Finally, it is always clear that from the buddhic plane animation of the lower planes arises. Analogously, from the fourth systemic ether (the correspondence on the physical plane to the buddhic plane) animation of the lower three sub-planes of the physical plane arises. |
203. Sau hết, luôn luôn rõ ràng rằng từ cõi Bồ đề, sự tiếp sinh lực cho các cõi thấp phát sinh. Theo phép tương đồng, từ dĩ thái thứ tư của hệ (tương ứng trên cõi hồng trần với cõi Bồ đề), sự tiếp sinh lực cho ba cõi phụ thấp hơn của cõi hồng trần phát sinh. |
|
Finally, on the three lower planes we have His gaseous, liquid, and dense bodies or sheaths, forming in themselves a unity in one peculiar sense; |
Sau hết, trên ba cõi thấp, chúng ta có các thể hay các vỏ khí, lỏng và đậm đặc của Ngài, tự chúng tạo thành một hợp nhất theo một ý nghĩa đặc thù; |
|
204. We remember that we are still, principally, speaking of the Solar Logos. |
204. Chúng ta nhớ rằng về cơ bản, chúng ta vẫn đang nói về Thái dương Thượng đế. |
|
205. These three form a unity of unprincipled substance—unprincipled in relation to the Solar Logos. |
205. Ba cõi này tạo thành một hợp nhất của chất liệu không nguyên khí—không nguyên khí trong tương quan với Thái dương Thượng đế. |
|
they are as much a coherent whole as the three higher planes form a unified triple expression of the three persons of the Trinity. |
chúng là một toàn thể cố kết cũng nhiều như ba cõi cao hơn tạo thành một biểu hiện tam phân hợp nhất của ba ngôi của Tam Vị. |
|
206. Where shall we look for the three persons of the Logoic Trinity? On the three highest sub-planes of the cosmic physical plane. |
206. Chúng ta sẽ tìm ba ngôi của Tam Vị Logoic ở đâu? Trên ba cõi phụ cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ. |
|
207. The threefold solar logoic “Dweller” (from one limited point of view) can be found on the twenty-one lower sub-planes of the systemic planes. |
207. “Kẻ Chận Ngõ” tam phân của Thái dương Thượng đế (xét từ một quan điểm hạn hẹp) có thể được tìm thấy trên hai mươi mốt cõi phụ thấp hơn của các cõi trong hệ. |
|
208. From the planetary logoic standpoint, the human personality is a “Dweller”. From the solar logoic standpoint, the human personality and egoic lotus, together, form a “Dweller”. |
208. Từ quan điểm hành tinh logoic, phàm ngã con người là một “Kẻ Chận Ngõ”. Từ quan điểm thái dương logoic, phàm ngã con người và Hoa Sen Chân Ngã, cùng nhau, tạo thành một “Kẻ Chận Ngõ”. |
|
We have a similar analogy in the subplanes of each plane in the system, and this will become ever more apparent as man achieves a greater clarity of vision, and can consciously ascertain for himself the truth about the subjective life. |
Chúng ta có một phép tương đồng tương tự trong các cõi phụ của mỗi cõi trong hệ, và điều này sẽ ngày càng trở nên hiển nhiên hơn khi con người đạt được sự sáng tỏ lớn hơn về tầm nhìn, và có thể một cách hữu thức tự mình xác định chân lý về sự sống chủ quan. |
|
209. Whatever we can say about the systemic planes we can say about the systemic sub-planes. |
209. Bất cứ điều gì chúng ta có thể nói về các cõi trong hệ, chúng ta cũng có thể nói về các cõi phụ trong hệ. |
|
210. One good way of clarifying one’s conceptions concerning planes and sub-planes is constantly to compare the dynamics occurring on each. |
210. Một cách tốt để làm sáng tỏ các quan niệm của mình về các cõi và các cõi phụ là không ngừng so sánh các động lực diễn ra trên mỗi cõi. |
|
211. The three higher sub-planes of any systemic plane are always the planes of a lesser trinity, involving the analogies to the Father, Son and Holy Ghost. They are the correspondences to the logoic, monadic and atmic planes. From the perspective of the entire cosmic physical plane, the “Father” is found upon the systemic logoic plane, the “Son” upon the systemic monadic plane and the “Holy Ghost” upon the systemic atmic plane |
211. Ba cõi phụ cao hơn của bất kỳ cõi nào trong hệ luôn luôn là các cõi của một tam vị nhỏ hơn, bao hàm các phép tương đồng với Cha, Con và Chúa Thánh Thần. Chúng là các tương ứng với cõi logoic, cõi chân thần và cõi atma. Từ viễn cảnh của toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ, “Cha” được tìm thấy trên cõi logoic của hệ, “Con” trên cõi chân thần của hệ và “Chúa Thánh Thần” trên cõi atma của hệ |
|
212. Because the heart center is always found on the monadic plane correspondence (sub-plane two), it is impossible to separate monadic expression from heart expression. |
212. Bởi vì trung tâm tim luôn luôn được tìm thấy trên tương ứng của cõi chân thần (cõi phụ thứ hai), nên không thể tách rời biểu hiện chân thần khỏi biểu hiện tim. |
|
213. We remember in this regard that the “life aspect” is centered in the heart. |
213. Về phương diện này, chúng ta nhớ rằng “phương diện sự sống” được tập trung trong tim. |
|
214. Perhaps we can associate the Monad with the heart in the head center, and some other structure on the logoic plane with the very center of the head center—the central jewel. |
214. Có lẽ chúng ta có thể liên kết chân thần với tim trong trung tâm đầu, và một cấu trúc nào khác trên cõi logoic với chính trung tâm của trung tâm đầu—viên ngọc trung tâm. |
|
215. Further, it would seem likely that the seventh principle in the form of a permanent atom would have a direct connection with the first aspect of every chakra—its central jewel. |
215. Hơn nữa, có vẻ như nguyên khí thứ bảy dưới hình thức một Nguyên tử trường tồn sẽ có một liên hệ trực tiếp với phương diện thứ nhất của mọi luân xa—viên ngọc trung tâm của nó. |
|
Let us briefly take these planes and study the life or force manifestation on each, laying the emphasis upon the lower four, and not so much upon the planes which do not concern man so closely. |
Chúng ta hãy ngắn gọn xét các cõi này và nghiên cứu biểu hiện của sự sống hay mãnh lực trên mỗi cõi, nhấn mạnh vào bốn cõi thấp, và không quá nhiều vào những cõi không liên hệ mật thiết với con người. |
|
216. DK is saying that the atmic, monadic and logoic systemic planes do not concern man as closely as the planes below. He is including the buddhic plane as a plane which concerns man closely. This is reasonable as full expression upon the buddhic plane is the objective of the members of the Fourth Creative Hierarchy. |
216. Chân sư DK đang nói rằng các cõi atma, chân thần và logoic của hệ không liên hệ mật thiết với con người bằng các cõi bên dưới. Ngài bao gồm cõi Bồ đề như một cõi liên hệ mật thiết với con người. Điều này hợp lý vì biểu hiện trọn vẹn trên cõi Bồ đề là mục tiêu của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. |
|
The Logoic Plane. The first, the second, and the third subplanes of the first cosmic ether respond specifically to the vibration of one of the three aspects, or to those cosmic Entities Whose influence reaches the matter of the planes from without the system altogether. |
Cõi Logoic. Ba cõi phụ thứ nhất, thứ hai và thứ ba của dĩ thái vũ trụ thứ nhất đáp ứng một cách chuyên biệt với rung động của một trong ba phương diện, hoặc với những Thực Thể vũ trụ mà ảnh hưởng của Các Ngài vươn tới vật chất của các cõi từ hoàn toàn bên ngoài hệ. |
|
217. DK is speaking of cosmic influences to which the highest three sub-planes of the logoic plane respond. |
217. Chân sư DK đang nói về những ảnh hưởng vũ trụ mà ba cõi phụ cao nhất của cõi logoic đáp ứng. |
|
218. Even the Brahma, Vishnu and Shiva of our solar system are intra-systemic Beings, although They, like the Solar Logos are sometimes called “cosmic”. |
218. Ngay cả Brahma, Vishnu và Shiva của hệ mặt trời chúng ta cũng là những Đấng nội-hệ, dù Các Ngài, cũng như Thái dương Thượng đế, đôi khi được gọi là “vũ trụ”. |
|
219. If, however, we are considering the solar system to be only the etheric-physical nature of the Solar Logos, then streams of influence from the cosmic astral plane or cosmic mental plane would be considered to originate “from without the system altogether”. |
219. Tuy nhiên, nếu chúng ta xem hệ mặt trời chỉ là bản chất dĩ thái-hồng trần của Thái dương Thượng đế, thì các luồng ảnh hưởng từ cõi cảm dục vũ trụ hay cõi trí vũ trụ sẽ được xem là phát sinh “từ hoàn toàn bên ngoài hệ”. |
|
220. So it is possible that, rather than look for these Sources as Cosmic Logoi, they could be the Brahma, Vishnu and Shiva of our solar system (cf. TCF 1238) |
220. Vì vậy có thể là, thay vì tìm các Nguồn này như những Thượng đế Vũ Trụ, chúng có thể là Brahma, Vishnu và Shiva của hệ mặt trời chúng ta (xem TCF 1238) |
|
221. Our Solar Logos is a cosmic Being and so are His Three Logoi. Is it of Them that we speak? |
221. Thái dương Thượng đế của chúng ta là một Đấng vũ trụ và Ba Thượng đế của Ngài cũng vậy. Có phải chúng ta đang nói về Các Ngài chăng? |
|
222. On the other hand, we could be speaking of some Entities Who are not at all part of the Solar Logos—such as, for instance, that Solar Logos Who expresses the first ray within the Seven Solar Systems of Which Ours is One, and of two other Solar Logoi Who express the second and third rays within that constellation of which our Solar Logos and His Sun are a part. |
222. Mặt khác, chúng ta có thể đang nói về một số Thực Thể hoàn toàn không thuộc về Thái dương Thượng đế—chẳng hạn như Thái dương Thượng đế biểu hiện cung một trong Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là một, và hai Thái dương Thượng đế khác biểu hiện cung hai và cung ba trong chòm sao mà Thái dương Thượng đế của chúng ta và Mặt Trời của Ngài là một phần của nó. |
|
223. Or, perhaps, the influence of the Great Bear (as a whole) could affect the first logoic sub-plane; the Little Bear might affect the second, and the “Seven Sisters” of the Pleiades, the third sub-plane. |
223. Hoặc, có lẽ ảnh hưởng của Đại Hùng Tinh (như một toàn thể) có thể tác động đến cõi phụ logoic thứ nhất; Tiểu Hùng Tinh có thể tác động đến cõi phụ thứ hai, và “Bảy Chị Em” của chòm Pleiades tác động đến cõi phụ thứ ba. |
|
On the fourth subplane comes a primary blending of the three fiery Lives, |
Trên cõi phụ thứ tư xuất hiện một sự dung hợp sơ khởi của ba Sự Sống rực lửa, |
|
224. We are still speaking of the sub-planes of the systemic logoic plane. |
224. Chúng ta vẫn đang nói về các cõi phụ của cõi logoic của hệ. |
|
producing archetypally that force manifestation of electricity which eventually causes the blazing forth of the Sons of Light on the next plane. |
tạo ra theo nguyên mẫu biểu hiện mãnh lực điện ấy, vốn cuối cùng gây nên sự bừng cháy của các Con của Ánh Sáng trên cõi kế tiếp. |
|
225. The “Sons of Light” are Heavenly Men, so it would seem. |
225. “Các Con của Ánh Sáng” dường như là các Đấng Thiên Nhân. |
|
226. If the Three Logoi (considered as “three fiery Lives”) had Their forces blended on the fourth sub-plane of the logoic plane, it is They (greater than any Planetary Logos) Who could facilitate the blazing forth of the Sons of Light on the monadic plane. |
226. Nếu Ba Thượng đế (được xem như “ba Sự Sống rực lửa”) có các mãnh lực của Các Ngài được dung hợp trên cõi phụ thứ tư của cõi logoic, thì chính Các Ngài (vĩ đại hơn bất kỳ Hành Tinh Thượng đế nào) có thể tạo điều kiện cho sự bừng cháy của các Con của Ánh Sáng trên cõi chân thần. |
|
227. It must be obvious that the information now being imparted is extremely occult and deep. |
227. Hiển nhiên là thông tin hiện đang được truyền đạt cực kỳ huyền bí và sâu xa. |
|
228. It is also clear that the fourth sub-plane of the systemic logoic plane is a kind of higher correspondence to the systemic buddhic plane as a whole. |
228. Cũng rõ ràng rằng cõi phụ thứ tư của cõi logoic của hệ là một loại tương ứng cao hơn với toàn bộ cõi Bồ đề của hệ. |
|
In this electrical connotation we have the three higher planes ever embodying the threefold Spirit aspect, the lower [Page 521] three embodying the threefold substance aspect, and then a plane of at-one-ment whereon an approximation is made which, on the path of return, marks the moment of achievement, and the point of triumph. |
Trong hàm ý điện này, chúng ta có ba cõi cao hơn luôn luôn hiện thân cho phương diện Tinh thần tam phân, ba cõi thấp hơn [Page 521] hiện thân cho phương diện chất liệu tam phân, và rồi một cõi của sự hợp nhất, nơi diễn ra một sự tiếp cận mà, trên Con Đường Trở Về, đánh dấu khoảnh khắc thành tựu, và điểm chiến thắng. |
|
229. We are being presented with an archetypal arrangement which holds through for all manner of planes and sub-planes. In the section of text above we are no longer speaking strictly of the systemic logoic plane. |
229. Chúng ta đang được trình bày một sự sắp xếp nguyên mẫu có giá trị xuyên suốt đối với mọi loại cõi và cõi phụ. Trong đoạn văn trên, chúng ta không còn nói một cách nghiêm ngặt chỉ về cõi logoic của hệ nữa. |
|
230. The term “approximation” as here used means the alignment or interplay of the energy of the highest three with the energy of the lowest three. |
230. Thuật ngữ “sự tiếp cận” như được dùng ở đây có nghĩa là sự chỉnh hợp hay tương tác của năng lượng của ba cõi cao nhất với năng lượng của ba cõi thấp nhất. |
|
231. It is interesting that the “fourth great cycle of attainment”, at which point the focus of consciousness is found upon the buddhic plane, is considered a “point of triumph”. |
231. Thật thú vị khi “chu kỳ thành tựu lớn thứ tư”, tại đó tiêu điểm của tâm thức được tìm thấy trên cõi Bồ đề, lại được xem là một “điểm chiến thắng”. |
|
232. We think of Scorpio and the fourth ray: “Warrior I am and from the battle I emerge triumphant”. The triumph of humanity is related to the fourth ray, the fourth initiation and to the buddhic plane—all naturally involving the potency of Scorpio. The triumph of Scorpio actually occurs because of an infusion of buddhic consciousness. |
232. Chúng ta nghĩ đến Hổ Cáp và cung bốn: “Ta là chiến binh và từ trận chiến ta bước ra chiến thắng”. Chiến thắng của nhân loại liên hệ với cung bốn, lần điểm đạo thứ tư và cõi Bồ đề—tất cả tự nhiên đều bao hàm tiềm lực của Hổ Cáp. Chiến thắng của Hổ Cáp thực sự xảy ra do một sự truyền nhập của tâm thức Bồ đề. |
|
233. There are a number of ways to divide the seven planes: here we are speaking of 3—1—3. |
233. Có một số cách để phân chia bảy cõi: ở đây chúng ta đang nói đến 3—1—3. |
|
234. The Spirit is threefold. In this system of division, the first three planes are home to the three aspects of Spirit. From another perspective, the three aspects of the Monad on the monadic plane represent the three aspects of Spirit. |
234. Tinh thần là tam phân. Trong hệ thống phân chia này, ba cõi đầu là nơi cư ngụ của ba phương diện của Tinh thần. Từ một viễn cảnh khác, ba phương diện của chân thần trên cõi chân thần biểu hiện ba phương diện của Tinh thần. |
|
235. Is it possible that each aspect of Spirit is threefold, making a ninefold division on the first three planes of any sevenfold system? |
235. Có thể chăng mỗi phương diện của Tinh thần đều là tam phân, tạo thành một phân chia cửu phân trên ba cõi đầu của bất kỳ hệ thống thất phân nào? |
|
This is succeeded by obscuration. |
Tiếp theo đó là sự che mờ. |
|
236. Approximation and at-one-ment on the central plane of the seven is succeeded by obscuration. Can we then regard the buddhic plane as the plane of synthesis in the threefold sequence: synthesis, obscuration, absorption? |
236. Sau sự tiếp cận và hợp nhất trên cõi trung tâm của bảy cõi là sự che mờ. Vậy chúng ta có thể xem cõi Bồ đề là cõi của tổng hợp trong chuỗi tam phân: tổng hợp, che mờ, hấp thu chăng? |
|
237. The activity which occurs on the buddhic plane is succeeded by obscuration which may involve the atmic plane. |
237. Hoạt động diễn ra trên cõi Bồ đề được tiếp nối bởi sự che mờ, điều này có thể bao hàm cõi atma. |
|
Hence on every plane in the solar system we have a fourth plane whereon the struggle for perfect illumination, and subsequent liberation takes place, the battle ground, the Kurukshetra. |
Do đó trên mọi cõi trong hệ mặt trời, chúng ta có một cõi thứ tư nơi diễn ra cuộc đấu tranh để đạt sự soi sáng hoàn hảo, và tiếp theo là giải thoát, bãi chiến trường, Kurukshetra. |
|
238. The number four is always related to battle and, thus, to Kurukshetra. |
238. Con số bốn luôn luôn liên hệ với chiến đấu và do đó với Kurukshetra. |
|
239. We remember that in the fivefold sequence of meditation, Scorpio (the premier fourth ray constellation) is related to the meditative phase called “Illumination”. |
239. Chúng ta nhớ rằng trong chuỗi tham thiền ngũ phân, Hổ Cáp (chòm sao cung bốn hàng đầu) liên hệ với giai đoạn tham thiền được gọi là “Soi sáng”. |
|
240. Both Taurus and Scorpio (each related to illumination in a different way) are signs through which the fourth ray predominantly expresses. |
240. Cả Kim Ngưu lẫn Hổ Cáp (mỗi dấu hiệu liên hệ với sự soi sáng theo một cách khác nhau) đều là những dấu hiệu mà qua đó cung bốn biểu hiện một cách nổi trội. |
|
241. Who was the Krishna Who appeared to Arjuna during that ancient battle some four million years ago? It seems too long ago to have been the One we now call the Christ, and yet, perhaps at that time, He was focussed on the fourth ray in His soul nature. |
241. Krishna đã hiện ra với Arjuna trong trận chiến cổ xưa ấy khoảng bốn triệu năm trước là ai? Dường như quá xa xưa để là Đấng mà hiện nay chúng ta gọi là Đức Christ, nhưng có lẽ vào thời đó, Ngài tập trung trên cung bốn trong bản chất linh hồn của Ngài. |
|
242. Illumination is usually considered a mental unfoldment. Here we learn that on the buddhic plane we may “struggle for perfect illumination”. The rulership of the buddhic plane by Mercury makes this seem reasonable. Mercury has been called the “Star of Conflict”. Since Mercury restores sight to the blind, it is clearly a planet to be associated with illumination. |
242. Sự soi sáng thường được xem là một sự khai mở trí tuệ. Ở đây chúng ta học rằng trên cõi Bồ đề, chúng ta có thể “đấu tranh để đạt sự soi sáng hoàn hảo”. Việc Sao Thủy cai quản cõi Bồ đề khiến điều này có vẻ hợp lý. Sao Thủy đã được gọi là “Ngôi Sao của Xung Đột”. Vì Sao Thủy phục hồi thị giác cho người mù, rõ ràng đó là một hành tinh cần được liên kết với sự soi sáng. |
|
243. Can we think that the struggle to be found upon the buddhic plane prepares the initiate for that illumination which comes with Mastership at the Initiation of “Revelation”? |
243. Chúng ta có thể nghĩ rằng cuộc đấu tranh được tìm thấy trên cõi Bồ đề chuẩn bị cho điểm đạo đồ đạt đến sự soi sáng đến cùng với Chân sư quả ở cuộc Điểm Đạo “Mặc Khải” chăng? |
|
244. DK said that we have this struggle “on every plane in the solar system”. He did not say, ‘on every sub-plane of this solar system”, and yet planes from one perspective are but sub-planes from another. |
244. Chân sư DK nói rằng chúng ta có cuộc đấu tranh này “trên mọi cõi trong hệ mặt trời”. Ngài không nói, ‘trên mọi cõi phụ của hệ mặt trời này”, tuy nhiên các cõi từ một viễn cảnh chỉ là các cõi phụ từ một viễn cảnh khác. |
|
245. Is it reasonable to conceive of the fourth sub-plane of every systemic plane to be a sub-plane of struggle? Can we penetrate any deeper? What of struggle within the sub-planes themselves? Our Teaching does not go into sub-plane dynamics so minutely. |
245. Có hợp lý không khi quan niệm cõi phụ thứ tư của mọi cõi trong hệ là một cõi phụ của đấu tranh? Chúng ta có thể thâm nhập sâu hơn nữa không? Còn đấu tranh bên trong chính các cõi phụ thì sao? Giáo Huấn của chúng ta không đi vào động lực của cõi phụ một cách chi li đến thế. |
|
246. In all this discussion of the relation of the fourth ray to illumination, we should not forget the following: |
246. Trong toàn bộ cuộc thảo luận này về mối liên hệ của cung bốn với sự soi sáng, chúng ta không nên quên điều sau đây: |
|
This has been called the “ray of struggle” for on this ray the qualities of rajas (activity) and tamas (inertia) are so strangely equal in proportion that the nature of the fourth ray man is torn with their combat, and the outcome, when satisfactory, is spoken of as the “Birth of Horus,” of the Christ, born from the throes of constant pain and suffering. (EP I 206) |
Điều này đã được gọi là “cung của đấu tranh” vì trên cung này các phẩm tính của rajas (hoạt động) và tamas (Quán tính) lại kỳ lạ cân bằng về tỉ lệ đến mức bản chất của người cung bốn bị xé rách bởi cuộc chiến của chúng, và kết quả, khi thỏa đáng, được nói đến như là “Sự Giáng Sinh của Horus,” của Đức Christ, được sinh ra từ những cơn quặn thắt của đau đớn và khổ đau liên tục. (EP I 206) |
|
247. Horus is the symbol both of the “Son” and of the “Sun God”. |
247. Horus là biểu tượng vừa của “Con” vừa của “Thần Mặt Trời”. |
|
Though for man the fourth plane, the buddhic, is the place of triumph, and the goal of his endeavour, for the Heavenly Man it is the battle-ground, while for the solar Logos it is the burning-ground. |
Dù đối với con người, cõi thứ tư, cõi Bồ đề, là nơi chiến thắng, và là mục tiêu của nỗ lực của y, nhưng đối với Đấng Thiên Nhân, đó là bãi chiến trường, còn đối với Thái dương Thượng đế, đó là vùng đất cháy. |
|
248. Man reaches the buddhic plane in triumph. He has become a higher demonstration of the fourth ray planet Mercury. He is illumined by buddhi, the intuition. |
248. Con người đạt đến cõi Bồ đề trong chiến thắng. Y đã trở thành một biểu hiện cao hơn của hành tinh cung bốn là Sao Thủy. Y được soi sáng bởi buddhi, trực giác. |
|
249. When DK speaks of the fourth plane, does He speak only of the fourth sub-plane of the cosmic physical plane? This is asked because we are told that the Planetary Logos has been struggling upon the fourth sub-plane of the cosmic astral plane. He is doing this to achieve systemic dispassion, for, compared with some of the other Planetary Logoi, He is ‘passionate’. |
249. Khi Chân sư DK nói về cõi thứ tư, Ngài có nói chỉ về cõi phụ thứ tư của cõi hồng trần vũ trụ không? Điều này được hỏi vì chúng ta được cho biết rằng Đức Hành Tinh Thượng Đế đã đấu tranh trên cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục vũ trụ. Ngài làm điều này để đạt đến sự vô dục của hệ, vì so với một số Hành Tinh Thượng đế khác, Ngài là ‘đầy cảm tính’. |
|
250. Is the fourth systemic ether a battle ground for some men and a burning ground for others? We might say so, and thereby be able to save the analogy. |
250. Dĩ thái thứ tư của hệ có phải là bãi chiến trường đối với một số người và là vùng đất cháy đối với những người khác không? Chúng ta có thể nói như vậy, và nhờ đó có thể giữ được phép tương đồng. |
|
251. If the fourth ether is a “battle-ground” for some types of men, there is occurring a conflict between the etheric body and physical body of man. Man is attempting to focus etherically and to control the physical elemental, but the physical elemental keeps pulling him back. |
251. Nếu dĩ thái thứ tư là một “bãi chiến trường” đối với một số loại người, thì đang diễn ra một xung đột giữa thể dĩ thái và thể xác của con người. Con người đang cố gắng tập trung một cách dĩ thái và kiểm soát tinh linh thể xác, nhưng tinh linh thể xác cứ kéo y trở lại. |
|
252. If the fourth ether is a “burning-ground”, then the man in question is reaching a kind of liberation and is prepared for some degree of continuity of consciousness. He is becoming an initiate of some kind. |
252. Nếu dĩ thái thứ tư là một “vùng đất cháy”, thì người được nói đến đang đạt đến một loại giải thoát nào đó và được chuẩn bị cho một mức độ liên tục tâm thức nào đó. Y đang trở thành một điểm đạo đồ thuộc loại nào đó. |
|
253. So let us look at the systemic buddhic plane. For a Planetary Logos (according to the statements above) there is raging a battle, between unprincipled substance and principled substance. He is in danger of being pulled back if He does not win the battle. |
253. Vậy hãy nhìn vào cõi Bồ đề của hệ. Đối với một Đức Hành Tinh Thượng Đế (theo các phát biểu trên), đang có một trận chiến dữ dội giữa chất liệu không nguyên khí và chất liệu nguyên khí. Ngài có nguy cơ bị kéo lùi lại nếu Ngài không thắng trận chiến ấy. |
|
254. But what, for a Planetary Logos, is the fourth ether? From one perspective, it is actually the higher mental plane. Yet it does not seem to be the higher mental plane which is here referenced. Rather it is the fourth plane which for a Planetary Logos is the focus of the third aspect. |
254. Nhưng đối với một Đức Hành Tinh Thượng Đế, dĩ thái thứ tư là gì? Từ một viễn cảnh, đó thực ra là Cõi thượng trí. Tuy nhiên, dường như không phải Cõi thượng trí được nhắc đến ở đây. Đúng hơn, đó là cõi thứ tư, vốn đối với một Đức Hành Tinh Thượng Đế là tiêu điểm của phương diện thứ ba. |
|
255. Are the Ashrams within the ring-pass-not of the Planetary Logos engaged in battle? So it would seem. |
255. Các ashram bên trong vòng-giới-hạn của Đức Hành Tinh Thượng Đế có đang tham dự vào trận chiến không? Có vẻ là như vậy. |
|
256. For the Solar Logos, the buddhic plane is a burning ground, we are told. What type of liberation or initiation is the Solar Logos achieving through the assembled groups to be found upon the buddhic plane? What will be the consequences if the Solar Logos is freed entirely from the backward pull of the three lower sub-planes of the cosmic physical plane—the systemic physical-etheric plane, the systemic astral plane and the entire systemic mental plane? Freed from the backward pull of the energy of the first solar system? |
256. Đối với Thái dương Thượng đế, cõi Bồ đề là một vùng đất cháy, như chúng ta được cho biết. Thái dương Thượng đế đang đạt được loại giải thoát hay điểm đạo nào qua các nhóm tập hợp được tìm thấy trên cõi Bồ đề? Hậu quả sẽ là gì nếu Thái dương Thượng đế được giải thoát hoàn toàn khỏi lực kéo lùi của ba cõi phụ thấp hơn của cõi hồng trần vũ trụ—cõi hồng trần-dĩ thái của hệ, cõi cảm dục của hệ và toàn bộ cõi trí của hệ? Được giải thoát khỏi lực kéo lùi của năng lượng của hệ mặt trời thứ nhất? |
|
257. What is happening to the Ashrams on the buddhic plane as a result of the buddhic burning-ground which the Solar Logos is experiencing? Are they being liberated through a process of group initiation? It would seem so. |
257. Điều gì đang xảy ra với các ashram trên cõi Bồ đề do vùng đất cháy Bồ đề mà Thái dương Thượng đế đang trải qua? Có phải chúng đang được giải thoát qua một tiến trình điểm đạo nhóm không? Dường như là như vậy. |
|
258. Following the Law of Analogy in these instances is difficult but revelatory. |
258. Theo sát định luật tương đồng trong những trường hợp này là điều khó khăn nhưng đầy mặc khải. |
|
259. If we keep a strict analogy between man and the Solar Logos, then the cosmic buddhic plane is the plane of triumph for the Solar Logos. |
259. Nếu chúng ta giữ một phép tương đồng nghiêm ngặt giữa con người và Thái dương Thượng đế, thì cõi Bồ đề vũ trụ là cõi của chiến thắng đối với Thái dương Thượng đế. |
|
260. But what is the place of triumph for the Planetary Logos? Is it the cosmic buddhic plane, or holding strictly to the concept of ‘plane relativity’ is it the higher sub-planes of the cosmic mental plane? |
260. Nhưng đâu là nơi chiến thắng đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế? Có phải là cõi Bồ đề vũ trụ không, hay nếu giữ nghiêm ngặt khái niệm ‘tính tương đối của cõi’ thì đó là các cõi phụ cao hơn của cõi trí vũ trụ? |
|
261. More practically, we can ask ourselves whether we (as human beings) are passing through battle-grounds or burning-grounds and what the difference may be. |
261. Thực tế hơn, chúng ta có thể tự hỏi liệu chúng ta (với tư cách con người) đang đi qua các bãi chiến trường hay các vùng đất cháy, và sự khác biệt có thể là gì. |
|
262. When the burning really beings, the battle is almost won. |
262. Khi sự thiêu đốt thực sự bắt đầu, trận chiến hầu như đã thắng. |
|
This differentiation of the subplanes of the systemic planes into a higher three, a lower three, and a central plane of harmony is only so from the standpoint of electrical phenomena, and not from the standpoint of either pure Spirit, or pure substance, viewed apart from each other. It concerns the mystery of electricity, and the production of light. |
Sự biến phân này của các cõi phụ thuộc các cõi của hệ thống thành ba cõi trên, ba cõi dưới, và một cõi trung tâm của sự hài hòa chỉ là như thế từ quan điểm của các hiện tượng điện, chứ không phải từ quan điểm của tinh thần thuần túy hay chất liệu thuần túy, khi được xét tách rời nhau. Điều này liên quan đến huyền nhiệm của điện và sự tạo ra ánh sáng. |
|
263. This section is placed in italics so it must be of considerable importance. |
263. Phần này được in nghiêng nên hẳn phải có tầm quan trọng đáng kể. |
|
264. Electrical phenomena depend upon the interplay between dualities. In fact, electricity may be defined as the ‘interplay between dualities’. |
264. Các hiện tượng điện tùy thuộc vào sự tương tác giữa các nhị nguyên. Thật vậy, điện có thể được định nghĩa là “sự tương tác giữa các nhị nguyên”. |
|
265. One can wonder whether pure Spirit and pure substance can ever be viewed apart from each other. |
265. Người ta có thể tự hỏi liệu tinh thần thuần túy và chất liệu thuần túy có bao giờ có thể được xem xét tách rời nhau hay không. |
|
266. The differentiation of a systemic plane into the divisions 3—1—3 suggest that an interplay between Spirit and matter is in process and that, under the terms of this type of division, they are not to be considered separately. |
266. Sự biến phân của một cõi hệ thống thành các phân khu 3—1—3 gợi ý rằng một sự tương tác giữa tinh thần và vật chất đang diễn ra và rằng, theo các điều kiện của loại phân chia này, chúng không được xem là tách biệt. |
|
267. It is clear that, symbolically, the Sun belongs to the buddhic plane because on that plane the light born of the interaction between Spirit and matter appears. |
267. Rõ ràng là, về mặt biểu tượng, Mặt Trời thuộc về cõi Bồ đề vì trên cõi ấy xuất hiện ánh sáng sinh ra từ sự tương tác giữa tinh thần và vật chất. |
|
The three higher planes concern the central Forces or Lives, the three lower concern the lesser Forces or Lives. |
Ba cõi trên liên quan đến các Mãnh Lực hay các Sự Sống trung tâm, ba cõi dưới liên quan đến các Mãnh Lực hay các Sự Sống nhỏ hơn. |
|
268. We notice that there is very little difference between the terms “higher” and “central”. In occultism, “deep” is “high”. |
268. Chúng ta nhận thấy rằng có rất ít khác biệt giữa các thuật ngữ “cao hơn” và “trung tâm”. Trong huyền bí học, “sâu” là “cao”. |
|
We must bear this carefully in mind, remembering that to the occultist there is no such thing as substance, but only Force in varying degrees, only Energy of differentiated quality, only Lives emanating from different sources, each distinctive and apart, and only Consciousness producing intelligent effect through the medium of space. |
Chúng ta phải ghi nhớ điều này một cách cẩn trọng, nhớ rằng đối với nhà huyền bí học không hề có cái gọi là chất liệu, mà chỉ có Mãnh lực ở những cấp độ khác nhau, chỉ có Năng lượng với phẩm tính được biến phân, chỉ có các Sự Sống phát xạ từ những nguồn khác nhau, mỗi sự sống đều đặc thù và riêng biệt, và chỉ có Tâm thức tạo ra hiệu quả thông minh qua môi trường của không gian. |
|
269. Let us tabulate that which the occultist understands: |
269. Chúng ta hãy lập bảng điều mà nhà huyền bí học hiểu: |
|
a. There is no such thing as substance |
a. Không hề có cái gọi là chất liệu |
|
b. There is only Force in varying degrees |
b. Chỉ có Mãnh lực ở những cấp độ khác nhau |
|
c. There is only Energy of differentiated quality |
c. Chỉ có Năng lượng với phẩm tính được biến phân |
|
d. There are only Lives emanating from different sources |
d. Chỉ có các Sự Sống phát xạ từ những nguồn khác nhau |
|
e. There is only Consciousness producing intelligent effect through the medium of space |
e. Chỉ có Tâm thức tạo ra hiệu quả thông minh qua môi trường của không gian |
|
270. The occultist is not deceived by the glamor of materiality. He recognizes “substance” as “force”, “energy” and “life”. |
270. Nhà huyền bí học không bị đánh lừa bởi ảo cảm của tính vật chất. Y nhận ra “chất liệu” là “mãnh lực”, “năng lượng” và “sự sống”. |
|
271. If the occultist uses the term “substance”, he does not think of it as ‘stuff’. |
271. Nếu nhà huyền bí học dùng thuật ngữ “chất liệu”, y không nghĩ về nó như một thứ “vật chất thô”. |
|
272. Force has “varying degrees” of application. |
272. Mãnh lực có những “cấp độ khác nhau” của sự ứng dụng. |
|
273. Energies have differentiated qualities but are not necessarily applied forces. |
273. Các năng lượng có những phẩm tính được biến phân nhưng không nhất thiết là những mãnh lực được áp dụng. |
|
274. All that we usually call “substance” is defined in a manner most occult: “only Consciousness producing intelligent effect through the medium of space”. If He had said “through the medium of substance” the mind would think the interpretation easier, but “space” is the “medium”. |
274. Tất cả những gì chúng ta thường gọi là “chất liệu” được định nghĩa theo một cách hết sức huyền bí: “chỉ có Tâm thức tạo ra hiệu quả thông minh qua môi trường của không gian”. Nếu Ngài đã nói “qua môi trường của chất liệu” thì trí tuệ sẽ nghĩ rằng cách giải thích dễ hơn, nhưng “không gian” mới là “môi trường”. |
|
275. If by “space” we mean the “field of consciousness” or the “field of perception” perhaps we can grasp something of the meaning. |
275. Nếu bởi “không gian” chúng ta muốn nói đến “trường tâm thức” hay “trường tri giác” thì có lẽ chúng ta có thể nắm bắt được phần nào ý nghĩa. |
|
276. “Space” and “Consciousness” are inseparable. Without consciousness there would be no space (at least intra-cosmic space). Space is the ‘sphere of consciousness’. Within this sphere there are only forces, energies (i.e., lives) at work. |
276. “Không gian” và “Tâm thức” là bất khả phân ly. Không có tâm thức thì sẽ không có không gian (ít nhất là không gian nội vũ trụ). Không gian là “khối cầu của tâm thức”. Trong khối cầu này chỉ có các mãnh lực, các năng lượng (tức là các sự sống) đang hoạt động. |
|
277. There is consciousness; there is the sphere of consciousness; there is the intelligent effect produced within the sphere of consciousness. |
277. Có tâm thức; có khối cầu của tâm thức; có hiệu quả thông minh được tạo ra trong khối cầu của tâm thức. |
|
278. Matter is that which is created through an act of Self-perception. Matter/substance isn’t even ‘there’ before there is perception. Matter/substance is the registration of lives that live within ‘One’s-Self’. To fathom this will require deep pondering. |
278. Vật chất là cái được tạo ra qua một hành vi tự tri giác. Vật chất/chất liệu thậm chí còn không “ở đó” trước khi có tri giác. Vật chất/chất liệu là sự ghi nhận các sự sống đang sống bên trong “Chính Mình”. Muốn thấu suốt điều này sẽ cần sự suy tư sâu xa. |
|
I would point out that the Lord Agni shows forth His fiery life on the atomic subplane of each plane; |
Tôi xin chỉ ra rằng Chúa Agni biểu lộ sự sống rực lửa của Ngài trên cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi; |
|
279. This links Lord Agni with the first ray. |
279. Điều này liên kết Chúa Agni với cung một. |
|
280. Who is Lord Agni? The following will be of value: |
280. Chúa Agni là ai? Điều sau đây sẽ có giá trị: |
|
He is not the solar Logos on the cosmic mental plane, for the egoic consciousness of the Logos is more than His physical manifestation, but Agni is the sumtotal of that portion of the logoic Ego which is reflected down into His physical vehicle; He is the life of the logoic Personality, with all that is included in that expression. He is to the solar Logos on His own plane what the coherent personality of a human being is to his Ego in the causal body. (TCF 603) |
Ngài không phải là Thái dương Thượng đế trên cõi trí vũ trụ, vì tâm thức chân ngã của Thượng đế còn hơn cả sự biểu hiện hồng trần của Ngài, nhưng Agni là tổng thể của phần Chân ngã logoic được phản chiếu xuống hiện thể hồng trần của Ngài; Ngài là sự sống của Phàm ngã logoic, cùng với tất cả những gì bao hàm trong cách diễn đạt ấy. Đối với Thái dương Thượng đế trên cõi riêng của Ngài, Ngài cũng như phàm ngã kết hợp chặt chẽ của một con người đối với chân ngã của y trong thể nguyên nhân. (TCF 603) |
|
281. We find that Lord Agni is a comprehensive Deity, including as His sphere of manifestation eighteen cosmic sub-planes. He demonstrates on all those planes, but in different ways. Fire electric, solar fire and fire by friction are included within Him. |
281. Chúng ta thấy rằng Chúa Agni là một Thượng đế bao quát, gồm trong khối cầu biểu hiện của Ngài mười tám cõi phụ vũ trụ. Ngài biểu lộ trên tất cả các cõi ấy, nhưng theo những cách khác nhau. Lửa Điện, Lửa Thái dương và Lửa ma sát đều được bao hàm trong Ngài. |
|
He shows forth as solar fire on the second, third and fourth, and as ‘fire by friction’ on the fifth, sixth and seventh. |
Ngài biểu lộ như Lửa Thái dương trên cõi thứ hai, thứ ba và thứ tư, và như “Lửa ma sát” trên cõi thứ năm, thứ sáu và thứ bảy. |
|
282. It has sometimes been enquired—“Where shall solar fire be found?” “Shall it be found in the realm of the triad as well as within the realm of the Ego when that Ego is considered as manifesting on the higher mental plane”? |
282. Đôi khi người ta đã hỏi—“Lửa Thái dương sẽ được tìm thấy ở đâu?” “Nó có được tìm thấy trong lĩnh vực của tam nguyên tinh thần cũng như trong lĩnh vực của chân ngã khi chân ngã ấy được xét như đang biểu hiện trên Cõi thượng trí hay không”? |
|
283. Here we have an answer. Solar fire is to be found on the monadic, atmic and buddhic planes. This triplicity represents a triad which is greater than the usual scope of the spiritual triad, for the spiritual triad includes the higher mental plane and the triad given here does not. |
283. Ở đây chúng ta có một câu trả lời. Lửa Thái dương được tìm thấy trên các cõi chân thần, atma và Bồ đề. Bộ ba này biểu thị một tam nguyên lớn hơn phạm vi thông thường của Tam Nguyên Tinh Thần, vì Tam Nguyên Tinh Thần bao gồm Cõi thượng trí còn tam nguyên được nêu ở đây thì không. |
|
284. In any case, the egoic ray manifesting through solar fire will certainly be found active on the buddhic and atmic planes as well as on the three sub-planes of higher mind. Further, are we to find the egoic ray also active on the level of the Monad, the second plane? This must be questioned. |
284. Dù sao đi nữa, cung chân ngã biểu hiện qua Lửa Thái dương chắc chắn sẽ được thấy hoạt động trên các cõi Bồ đề và atma cũng như trên ba cõi phụ của thượng trí. Hơn nữa, liệu chúng ta có thấy cung chân ngã cũng hoạt động ở cấp độ của chân thần, cõi thứ hai hay không? Điều này cần được đặt thành câu hỏi. |
|
285. When considering solar fire in relation to the Monad, it must be a solar fire that embraces the monadic ray. Is the monadic ray an expression only of electric fire? Probably not, as in our solar system and on the cosmic physical plane, electric fire is to be considered a sub-category of a larger type of solar fire—the solar fire which is more purely an expression of our particular Solar Logos. |
285. Khi xét Lửa Thái dương trong liên hệ với chân thần, đó phải là một Lửa Thái dương bao gồm cung chân thần. Cung chân thần có phải chỉ là một biểu hiện của Lửa Điện hay không? Có lẽ không, vì trong hệ mặt trời của chúng ta và trên cõi hồng trần vũ trụ, Lửa Điện phải được xem là một phân loại phụ của một loại Lửa Thái dương lớn hơn—Lửa Thái dương vốn thuần túy hơn như một biểu hiện của Thái dương Thượng đế đặc thù của chúng ta. |
|
286. What we begin to see is that with solar fire manifesting on such high levels, the ray which represents solar fire must not simply disappear when the causal body disappears. |
286. Điều chúng ta bắt đầu thấy là khi Lửa Thái dương biểu hiện trên những cấp độ cao như thế, cung biểu thị Lửa Thái dương không thể đơn giản biến mất khi thể nguyên nhân biến mất. |
|
287. If the spiritual triad remains, then solar fire remains. |
287. Nếu Tam Nguyên Tinh Thần còn tồn tại, thì Lửa Thái dương còn tồn tại. |
|
288. If the Monad remains expressive on the monadic plane (for it could be expressive in a less encumbered form on the logoic plane) then a higher form of solar fire remains. |
288. Nếu chân thần vẫn còn biểu hiện trên cõi chân thần (vì nó có thể biểu hiện dưới một hình thức ít bị cản trở hơn trên cõi logoic) thì một hình thức cao hơn của Lửa Thái dương vẫn còn tồn tại. |
|
289. Really, the solar fire of our second ray Solar Logos pervades His expression on the twenty-one lower cosmic sub-planes. |
289. Thật ra, Lửa Thái dương của Thái dương Thượng đế cung hai của chúng ta thấm khắp biểu hiện của Ngài trên hai mươi mốt cõi phụ vũ trụ thấp hơn. |
|
290. We must think in terms of greater and lesser intensities of solar fire. |
290. Chúng ta phải suy nghĩ theo những mức độ cường độ lớn hơn và nhỏ hơn của Lửa Thái dương. |
|
From the point of view of the microcosm, the Spark in the Flame, |
Từ quan điểm của tiểu thiên địa, Tia Lửa trong Ngọn Lửa, |
|
291. The Monad is the “Spark in the Flame” and the human Monad is (in this context) the microcosm. |
291. Chân thần là “Tia Lửa trong Ngọn Lửa” và chân thần nhân loại là (trong bối cảnh này) tiểu thiên địa. |
|
man demonstrates as electric fire on the second plane, or the second cosmic ether; |
con người biểu lộ như Lửa Điện trên cõi thứ hai, hay dĩ thái vũ trụ thứ hai; |
|
292. The Monad is, for practical purposes, a demonstration of electric fire, but the showing forth of Agni as solar fire on the second, third and fourth systemic planes brings the solar fire effect to the human Monad as suggested above. |
292. Chân thần, trên thực tế, là một biểu hiện của Lửa Điện, nhưng sự biểu lộ của Agni như Lửa Thái dương trên các cõi hệ thống thứ hai, thứ ba và thứ tư mang hiệu quả của Lửa Thái dương đến cho chân thần nhân loại như đã gợi ý ở trên. |
|
as solar fire on the third, fourth and the three higher subplanes of the fifth [Page 522] plane, and as fire by friction on the lower subplanes of the fifth, on the sixth, and seventh planes. |
như Lửa Thái dương trên cõi thứ ba, thứ tư và ba cõi phụ cao hơn của cõi thứ năm [Page 522], và như Lửa ma sát trên các cõi phụ thấp hơn của cõi thứ năm, trên cõi thứ sáu và thứ bảy. |
|
293. Here is the confirmation that upon all planes of the spiritual triad, an expression of solar fire is to be found. The importance of this is that the true (unsheathed, unshrouded) soul is the Ego or spiritual triad on the atmic, buddhic and higher manasic levels and that the soul ray expresses through the true Ego or spiritual triad. |
293. Đây là sự xác nhận rằng trên mọi cõi của Tam Nguyên Tinh Thần đều có thể tìm thấy một biểu hiện của Lửa Thái dương. Tầm quan trọng của điều này là linh hồn đích thực (không vỏ bọc, không màn che) là chân ngã hay Tam Nguyên Tinh Thần trên các cấp độ atma, Bồ đề và manas cao, và cung linh hồn biểu hiện qua chân ngã đích thực hay Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
294. Between Agni (as the personality of the Solar Logos) and the human Monad, we would find the Planetary Logos. How does He demonstrate? There seems no ‘room’ to interpolate this great Entity in this discussion of the demonstration of the fires on various planes and sub-planes. |
294. Giữa Agni (như phàm ngã của Thái dương Thượng đế) và chân thần nhân loại, chúng ta sẽ thấy Đức Hành Tinh Thượng Đế. Ngài biểu lộ như thế nào? Dường như không có “chỗ” nào để xen Thực Thể vĩ đại này vào trong cuộc bàn luận về sự biểu lộ của các ngọn lửa trên những cõi và cõi phụ khác nhau. |
|
c. The Planes and the Three Fires. On every plane we have, relatively speaking: |
c. Các Cõi và Ba Ngọn Lửa. Trên mỗi cõi, nói một cách tương đối, chúng ta có: |
|
295. We note the term “relatively speaking”, as there are many ways to divide planes: 1—6; 1—1—5; 2—5; 4—3; 3—4; 3—1—3; 5—2; 6—1; etc. |
295. Chúng ta lưu ý cụm từ “nói một cách tương đối”, vì có nhiều cách để phân chia các cõi: 1—6; 1—1—5; 2—5; 4—3; 3—4; 3—1—3; 5—2; 6—1; v.v. |
|
a. Electric fire demonstrating as the prime condition on the higher three. |
a. Lửa Điện biểu lộ như điều kiện chủ yếu trên ba cõi trên. |
|
b. Fire by friction as the most significant factor on the lower three. |
b. Lửa ma sát như yếu tố có ý nghĩa nhất trên ba cõi dưới. |
|
c. Solar fire, showing forth as the blaze produced by union on the central plane. |
c. Lửa Thái dương, biểu lộ như ngọn lửa rực sinh ra bởi sự hợp nhất trên cõi trung tâm. |
|
296. Solar fire always shows forth as a central blaze, so much depends upon what is considered to be “central”. |
296. Lửa Thái dương luôn biểu lộ như một ngọn lửa rực trung tâm, nên rất nhiều điều tùy thuộc vào cái gì được xem là “trung tâm”. |
|
In the solar system this is to be seen in connection with a Heavenly Man on the buddhic plane, where They blaze forth through Their etheric centres. |
Trong hệ mặt trời, điều này được thấy liên hệ với một Đấng Thiên Nhân trên cõi Bồ đề, nơi Các Ngài bừng cháy qua các trung tâm dĩ thái của Các Ngài. |
|
297. For a Heavenly Man the central plane is considered to be the buddhic. Yet for a Solar Logos, the central plane would also be considered the buddhic. |
297. Đối với một Đấng Thiên Nhân, cõi trung tâm được xem là cõi Bồ đề. Tuy nhiên đối với một Thái dương Thượng đế, cõi trung tâm cũng sẽ được xem là cõi Bồ đề. |
|
298. From another perspective, the higher mental plane could be considered, for a Heavenly Man, the central plane. Before the majority of Ashrams refocused on the buddhic plane, the higher mental plane was of greater or more “central” importance to the Planetary Logos. |
298. Từ một góc nhìn khác, Cõi thượng trí có thể được xem là, đối với một Đấng Thiên Nhân, cõi trung tâm. Trước khi đa số các ashram tái tập trung trên cõi Bồ đề, Cõi thượng trí có tầm quan trọng lớn hơn hay “trung tâm” hơn đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế. |
|
299. We remember above that the “esoteric planets” were found on the buddhic plane along with the “Sun”. Here we read that the Heavenly Men, in general, blaze forth on the buddhic plane. |
299. Chúng ta nhớ ở trên rằng các “hành tinh huyền bí” được tìm thấy trên cõi Bồ đề cùng với “Mặt Trời”. Ở đây chúng ta đọc thấy rằng các Đấng Thiên Nhân, nói chung, bừng cháy trên cõi Bồ đề. |
|
300. Perhaps the term “esoteric planets” suggests a certain subjective way of considering the normal planets. |
300. Có lẽ thuật ngữ “các hành tinh huyền bí” gợi ý một cách xem xét chủ quan nào đó đối với các hành tinh thông thường. |
|
In connection with man on the mental plane, we have a similar condition: the three higher subplanes concern the Spirit aspect in the causal body, |
Liên hệ với con người trên cõi trí, chúng ta có một điều kiện tương tự: ba cõi phụ cao hơn liên quan đến phương diện tinh thần trong thể nguyên nhân, |
|
301. This “Spirit aspect” is represented by the “Jewel in the Lotus”. |
301. “Phương diện tinh thần” này được biểu thị bởi “Ngọc trong Hoa Sen”. |
|
302. Again, we have the implication that the causal body can be found on the highest of the sub-planes of the mental plane, whereas other references point to its destruction on the second sub-plane of the higher mental plane. |
302. Một lần nữa, chúng ta có hàm ý rằng thể nguyên nhân có thể được tìm thấy trên cõi phụ cao nhất của cõi trí, trong khi những dẫn chiếu khác lại chỉ đến sự hủy diệt của nó trên cõi phụ thứ hai của Cõi thượng trí. |
|
the three lower subplanes concern primarily the mental sheath, or fire by friction; |
ba cõi phụ thấp hơn chủ yếu liên quan đến thể trí, hay Lửa ma sát; |
|
303. This is reasonable. |
303. Điều này là hợp lý. |
|
the fourth subplane is that on which the force centres of the mental body are to be found. |
cõi phụ thứ tư là cõi trên đó các trung tâm mãnh lực của thể trí được tìm thấy. |
|
304. There are four force centers portrayed in the diagram on TCF 815. The higher centers (head, heart and throat—such as are found on the higher three astral and etheric sub-planes) are expressed probably as ‘tier structures’ in the causal body. |
304. Có bốn trung tâm mãnh lực được mô tả trong biểu đồ ở TCF 815. Các trung tâm cao hơn (đầu, tim và cổ họng—như được thấy trên ba cõi phụ cao hơn của cõi cảm dục và cõi dĩ thái) có lẽ được biểu hiện như những “cấu trúc tầng bậc” trong thể nguyên nhân. |
|
305. As a Master has thirty-five force vortices, one wonder whether after the fourth initiation is taken, three chakric vortices establish themselves on the higher mental plane. |
305. Vì một Chân sư có ba mươi lăm xoáy mãnh lực, người ta tự hỏi liệu sau khi lần điểm đạo thứ tư được tiếp nhận, ba xoáy luân xa có tự thiết lập trên Cõi thượng trí hay không. |
|
306. There is a very big question about what happens to the manasic vehicle (presumably built around the manasic permanent atom) after the fourth initiation. |
306. Có một câu hỏi rất lớn về điều gì xảy ra với vận cụ manas (có lẽ được xây dựng quanh nguyên tử trường tồn manas) sau lần điểm đạo thứ tư. |
|
So it is on the physical plane for man—his etheric centres being located in matter of the fourth ether. |
Cũng vậy trên cõi hồng trần đối với con người—các trung tâm dĩ thái của y được định vị trong vật chất của dĩ thái thứ tư. |
|
307. It seems only partially true that the etheric centers of man are located in the fourth ether. Some of them are, but the charts seem to contradict this (cf. Chart VIII, TCF, 817). In this chart the throat, heart and head centers are located on the third, second and first ethers respectively. |
307. Điều này dường như chỉ đúng một phần rằng các trung tâm dĩ thái của con người được định vị trong dĩ thái thứ tư. Một số trong đó là như vậy, nhưng các biểu đồ dường như mâu thuẫn với điều này (xem Biểu đồ VIII, TCF, 817). Trong biểu đồ này, các trung tâm cổ họng, tim và đầu lần lượt được định vị trên dĩ thái thứ ba, thứ hai và thứ nhất. |
|
Each of the three Persons of the Trinity manifests equally as does a man, as Spirit, Soul or Ego, and Substance. |
Mỗi một trong Ba Ngôi/Tam Vị đều biểu hiện bình đẳng như con người, như tinh thần, linh hồn hay chân ngã, và chất liệu. |
|
308. All E/entities seem to have this threefold mode of manifestation. The question is: “Upon which plane or planes does this manifestation occur?” |
308. Mọi Thực thể dường như đều có phương thức biểu hiện tam phân này. Câu hỏi là: “Sự biểu hiện này xảy ra trên cõi hay các cõi nào?” |
|
309. Do the Three Persons of the Logoic Trinity manifest on the same cosmic physical sub-planes as does the Solar Logos (considered as a whole)? Perhaps the answer is, “yes”, as the causal bodies of these Three Persons are, like the causal body of the Solar Logos, found upon the highest sub-plane of the cosmic mental plane. |
309. Ba Ngôi/Tam Vị của Tam Vị Logoic có biểu hiện trên cùng các cõi phụ hồng trần vũ trụ như Thái dương Thượng đế (được xét như một toàn thể) hay không? Có lẽ câu trả lời là “có”, vì các thể nguyên nhân của Ba Ngôi này, cũng như thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế, đều được tìm thấy trên cõi phụ cao nhất của cõi trí vũ trụ. |
|
In connection with Brahma, we have the Spirit aspect animating the three higher subplanes of every plane, or the first fire aspect. His soul aspect is found on the fourth subplane of each plane whereon are situated the etheric centres of all manifested entities. |
Liên hệ với Brahma, chúng ta có phương diện tinh thần làm sinh động ba cõi phụ cao hơn của mỗi cõi, hay phương diện lửa thứ nhất. Phương diện linh hồn của Ngài được tìm thấy trên cõi phụ thứ tư của mỗi cõi, nơi tọa lạc các trung tâm dĩ thái của mọi thực thể biểu hiện. |
|
310. We may consider Brahma as the third aspect of the Solar Logos, but to interpret accurately the section above, we must know with certainty what the Tibetan means by “Brahma”. |
310. Chúng ta có thể xem Brahma như phương diện thứ ba của Thái dương Thượng đế, nhưng để giải thích chính xác đoạn trên, chúng ta phải biết chắc Chân sư Tây Tạng muốn nói gì bởi “Brahma”. |
|
311. It is difficult to know why DK continues to repeat the thought that the fourth sub-plane is that on which “are situated the etheric centres of all manifested entities”. From other things that He has said, this assertion can only be partially correct. |
311. Thật khó hiểu vì sao Chân sư DK tiếp tục lặp lại ý tưởng rằng cõi phụ thứ tư là cõi trên đó “tọa lạc các trung tâm dĩ thái của mọi thực thể biểu hiện”. Từ những điều khác Ngài đã nói, khẳng định này chỉ có thể đúng một phần. |
|
312. If that Person (called Brahma) of the Logoic Trinity is thus situated, what of Vishnu and Shiva (the other Persons of that Trinity)? |
312. Nếu Ngôi Vị ấy (được gọi là Brahma) của Tam Vị Logoic được định vị như vậy, thì Vishnu và Shiva (hai Ngôi Vị kia của Tam Vị ấy) ra sao? |
|
313. Or are we referring to Brahma (and not Vishnu or Shiva) because we are speaking primarily of expression upon the cosmic physical plane? |
313. Hay chúng ta đang nói đến Brahma (chứ không phải Vishnu hay Shiva) vì chúng ta đang nói chủ yếu về sự biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ? |
|
His substance aspect is primarily contacted on the three lower subplanes. |
Phương diện chất liệu của Ngài chủ yếu được tiếp xúc trên ba cõi phụ thấp hơn. |
|
314. Yet, according to His positioning, He still works through the middle and higher sub-planes of the cosmic physical plane. |
314. Tuy vậy, theo vị trí của Ngài, Ngài vẫn hoạt động qua các cõi phụ trung gian và cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ. |
|
315. Still, it does make sense that the substance aspect of Brahma would primarily be contacted on the three lower sub-planes. |
315. Tuy nhiên, quả thật hợp lý khi phương diện chất liệu của Brahma chủ yếu được tiếp xúc trên ba cõi phụ thấp hơn. |
|
316. Since, Brahma, is a great God, He naturally has a soul and Spirit aspect—even though He is primarily associated with materiality and intelligence. |
316. Vì Brahma là một Thượng đế vĩ đại, nên dĩ nhiên Ngài có phương diện linh hồn và tinh thần—dù Ngài chủ yếu được liên kết với tính vật chất và trí tuệ. |
|
Hence we have the forty-nine fires of matter, |
Do đó chúng ta có bốn mươi chín ngọn lửa của vật chất, |
|
317. Presumably, we would have one fire for each of the forty-nine sub-planes. |
317. Có lẽ chúng ta sẽ có một ngọn lửa cho mỗi một trong bốn mươi chín cõi phụ. |
|
318. There are “Seven Sons of Fohat”. Each of these “Seven Sons” can be divided into seven. Fohat is, from one point of view, Brahma. |
318. Có “Bảy Con của Fohat”. Mỗi một trong “Bảy Con” này có thể được chia thành bảy. Fohat, từ một quan điểm, là Brahma. |
|
or the seven fires of each plane, |
hay bảy ngọn lửa của mỗi cõi, |
|
319. Again—one on each sub-plane… |
319. Một lần nữa—một ngọn trên mỗi cõi phụ… |
|
the union of the higher three and the lower three producing that blaze which we call the wheels of fire or the centres on the fourth subplane of each plane. |
sự hợp nhất của ba cõi trên và ba cõi dưới tạo ra ngọn lửa rực mà chúng ta gọi là các bánh xe lửa hay các trung tâm trên cõi phụ thứ tư của mỗi cõi. |
|
320. Here we have the fires of Brahma implicated in producing the chakric blaze found on the fourth sub-plane of each plane. |
320. Ở đây chúng ta có các ngọn lửa của Brahma được hàm ý là tham gia vào việc tạo ra ngọn lửa luân xa được tìm thấy trên cõi phụ thứ tư của mỗi cõi. |
|
321. This is particularly true in relation to the cosmic physical plane. Would Vishnu be implicated in the production of ‘etheric’ chakras on the cosmic astral plane, and Shiva in producing the set of chakras which must, by analogical necessity, be found upon the fourth level of the cosmic mental plane? |
321. Điều này đặc biệt đúng trong liên hệ với cõi hồng trần vũ trụ. Liệu Vishnu có tham gia vào việc tạo ra các luân xa “dĩ thái” trên cõi cảm dục vũ trụ, và Shiva trong việc tạo ra tập hợp luân xa mà, theo sự tất yếu của định luật tương đồng, phải được tìm thấy trên cấp độ thứ tư của cõi trí vũ trụ hay không? |
|
322. Presumably this blaze is to be found on every fourth sub-plane of each of the seven planes. The inference is that chakras of some kind are to be found on each of the seven systemic planes. |
322. Có lẽ ngọn lửa rực này được tìm thấy trên mọi cõi phụ thứ tư của mỗi một trong bảy cõi. Suy luận là các luân xa thuộc một loại nào đó được tìm thấy trên mỗi một trong bảy cõi hệ thống. |
|
In connection with the second aspect there is a similar [Page 523] condition. |
Liên hệ với phương diện thứ hai cũng có một [Page 523] điều kiện tương tự. |
|
323. Is the distribution similar—3—1—3? |
323. Sự phân bố có tương tự—3—1—3 hay không? |
|
324. Below there seem to be some modifications. |
324. Ở dưới dường như có một vài sửa đổi. |
|
325. It would seem that we are now dealing with the Vishnu aspect just as in the previous example, it was the Brahma aspect. |
325. Dường như giờ đây chúng ta đang bàn đến phương diện Vishnu cũng như trong ví dụ trước đó là phương diện Brahma. |
|
Solar fire blazes forth in its electrical aspect on the second plane, and demonstrates thus also on the third and fourth planes, |
Lửa Thái dương bừng cháy trong phương diện điện của nó trên cõi thứ hai, và do đó cũng biểu lộ trên cõi thứ ba và thứ tư, |
|
326. The same idea has been stated above: |
326. Cùng một ý tưởng này đã được nêu ở trên: |
|
I would point out that the Lord Agni shows forth His fiery life on the atomic subplane of each plane; He shows forth as solar fire on the second, third and fourth,… |
Tôi xin chỉ ra rằng Chúa Agni biểu lộ sự sống rực lửa của Ngài trên cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi; Ngài biểu lộ như Lửa Thái dương trên cõi thứ hai, thứ ba và thứ tư,… |
|
327. We should note that the second plane is a combination of the expression of the first and second rays. The second ray is primary and the first ray secondary. |
327. Chúng ta nên lưu ý rằng cõi thứ hai là một sự kết hợp của biểu hiện cung một và cung hai. Cung hai là chính yếu và cung một là thứ yếu. |
|
328. In what is stated below, it should be remembered that Lord Brahma is ‘older’ (in terms of manifestation) than Lord Vishnu. |
328. Trong điều được nêu dưới đây, cần nhớ rằng Chúa Brahma “cổ xưa” hơn (xét theo biểu hiện) Chúa Vishnu. |
|
329. For Brahma, electric fire blazed forth on the first three systemic sub-planes. |
329. Đối với Brahma, Lửa Điện bừng cháy trên ba cõi phụ hệ thống đầu tiên. |
|
330. For the second aspect or Vishnu aspect, the electrical aspect of solar fire blazed forth principally on the second plane but also on the third and fourth. |
330. Đối với phương diện thứ hai hay phương diện Vishnu, phương diện điện của Lửa Thái dương bừng cháy chủ yếu trên cõi thứ hai nhưng cũng trên cõi thứ ba và thứ tư. |
|
but finds its central demonstration on manasic levels, |
nhưng tìm thấy sự biểu lộ trung tâm của nó trên các cấp độ manas, |
|
331. Whereas the central demonstration for Brahma was on the buddhic plane, the central demonstration for the second aspect (let us call it the “Vishnu aspect”) demonstrates on the higher mental plane. |
331. Trong khi sự biểu lộ trung tâm của Brahma là trên cõi Bồ đề, thì sự biểu lộ trung tâm của phương diện thứ hai (chúng ta hãy gọi là “phương diện Vishnu”) biểu lộ trên Cõi thượng trí. |
|
332. This is reasonable as the demonstration of the Vishnu aspect began one plane lower than that of the Brahma aspect. |
332. Điều này là hợp lý vì sự biểu lộ của phương diện Vishnu bắt đầu thấp hơn một cõi so với phương diện Brahma. |
|
333. Why should the Brahma aspect be more elevated than the second or Vishnu aspect? Perhaps because Vishnu began the process later than Brahma, and because the Primordial Ray is ‘older’ than the Divine Ray. |
333. Tại sao phương diện Brahma lại cao hơn phương diện thứ hai hay phương diện Vishnu? Có lẽ vì Vishnu bắt đầu tiến trình muộn hơn Brahma, và vì Cung Nguyên Sơ “cổ xưa” hơn Cung Thiêng Liêng. |
|
shining through the causal vehicles of the egoic groups. |
chiếu sáng qua các vận cụ nguyên nhân của các nhóm chân ngã. |
|
334. The relation of the second aspect to the causal groups is given. The Vishnu aspect shines through the causal vehicles of the egoic groups. |
334. Mối liên hệ của phương diện thứ hai với các nhóm nguyên nhân đã được nêu ra. Phương diện Vishnu chiếu sáng qua các vận cụ nguyên nhân của các nhóm chân ngã. |
|
335. We could wonder whether the Solar Angels can be considered aspects of the Vishnu aspect. |
335. Chúng ta có thể tự hỏi liệu các Thái dương Thiên Thần có thể được xem là các phương diện của phương diện Vishnu hay không. |
|
336. We must bear in mind that all Three Persons of the Logoic Trinity have three aspects. There is a tendency to think of them mono-dimensionally instead of ‘tri-dimensionally’. |
336. Chúng ta phải ghi nhớ rằng cả Ba Ngôi/Tam Vị của Tam Vị Logoic đều có ba phương diện. Có một khuynh hướng nghĩ về Các Ngài theo một chiều thay vì theo “ba chiều”. |
|
Only two and a half planes then remain through which the fire by friction aspect may manifest, |
Khi ấy chỉ còn lại hai cõi rưỡi mà qua đó phương diện Lửa ma sát có thể biểu lộ, |
|
337. The fire by friction aspect of the Vishnu aspect is meant. Each of the major divine aspect has its electric fire, solar fire and fire by friction aspects. |
337. Ở đây muốn nói đến phương diện Lửa ma sát của phương diện Vishnu. Mỗi phương diện thiêng liêng lớn đều có các phương diện Lửa Điện, Lửa Thái dương và Lửa ma sát của riêng nó. |
|
eighteen subplanes in all which concern the third aspect of the second Person of the logoic Trinity. |
tổng cộng là mười tám cõi phụ liên quan đến phương diện thứ ba của Ngôi Vị thứ hai của Tam Vị logoic. |
|
338. We are definitely speaking of the “second Person of the logoic Trinity”. |
338. Chúng ta rõ ràng đang nói về “Ngôi Vị thứ hai của Tam Vị logoic”. |
|
339. Eighteen systemic sub-planes represent the “second Person of the logoic Trinity” whereas twenty-one sub-planes represent the “third Person of the logoic Trinity”, Brahma—the oldest in terms of manifestation. |
339. Mười tám cõi phụ hệ thống biểu thị “Ngôi Vị thứ hai của Tam Vị logoic”, trong khi hai mươi mốt cõi phụ biểu thị “Ngôi Vị thứ ba của Tam Vị logoic”, Brahma—Đấng cổ xưa nhất xét theo biểu hiện. |
|
340. Given the different ways of expression for Brahma and Vishnu, it is easy to associate Brahma closely with the Solar Logos (as a whole) and Vishnu with the Planetary Logoi Who are Dragons of Wisdom—‘Dragons of Love’. |
340. Với những cách biểu hiện khác nhau của Brahma và Vishnu, thật dễ liên kết Brahma chặt chẽ với Thái dương Thượng đế (như một toàn thể) và Vishnu với các Hành Tinh Thượng đế là những Rồng Minh Triết—“Rồng Bác Ái”. |
|
341. Yet, of course, from another perspective, the Solar Logos, as a whole, is Vishnu in a larger context—so identified is He with the principle of Love. |
341. Tuy nhiên, dĩ nhiên, từ một góc nhìn khác, Thái dương Thượng đế, như một toàn thể, là Vishnu trong một bối cảnh lớn hơn—Ngài đồng hoá với nguyên khí Bác ái đến mức như thế. |
|
For man, the microcosm, a similar differentiation is possible; |
Đối với con người, tiểu thiên địa, một sự biến phân tương tự cũng có thể có; |
|
342. DK has apparently skipped the planar manifestation of the Shiva aspect. |
342. Chân sư DK dường như đã bỏ qua sự biểu hiện theo cõi của phương diện Shiva. |
|
343. We can question whether that Person of the Logoic Trinity is even manifesting, as yet, in any way noticeable. |
343. Chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu Ngôi Vị ấy của Tam Vị Logoic có đang biểu hiện, cho đến nay, theo bất kỳ cách nào đáng chú ý hay không. |
|
344. It He were, His central point of manifestation might be even ‘lower’ than that of Vishnu. Would it be upon the systemic astral plane, as Shiva carries the Trident (Neptune) and Neptune is the premier planet of the astral plane—Neptune, “God of the Waters”. |
344. Nếu Ngài có, điểm trung tâm biểu hiện của Ngài có thể còn “thấp” hơn cả của Vishnu. Liệu nó có ở trên cõi cảm dục hệ thống hay không, vì Shiva mang Cây Đinh Ba (Sao Hải Vương) và Sao Hải Vương là hành tinh hàng đầu của cõi cảm dục—Sao Hải Vương, “Thượng đế của Nước”. |
|
His Monad can be studied in its threefold essence on its own plane, |
Chân thần của y có thể được nghiên cứu trong tinh túy tam phân của nó trên cõi riêng của nó, |
|
345. We are speaking of Will, Wisdom and Activity represented conventionally by an equilateral triangle on some charts. |
345. Chúng ta đang nói đến Ý Chí, Minh triết và Hoạt động, được biểu thị theo quy ước bằng một tam giác đều trên một số biểu đồ. |
|
his egoic aspect likewise, |
phương diện chân ngã của y cũng vậy, |
|
346. Here we speak of two triplicities: |
346. Ở đây chúng ta nói đến hai bộ ba: |
|
a. If the “egoic aspect” is considered the spiritual triad, we have atma, buddhi and manas |
a. Nếu “phương diện chân ngã” được xem là Tam Nguyên Tinh Thần, chúng ta có atma, Bồ đề và manas |
|
b. If the “egoic aspect” is more confined and considered to occupy only the sub-planes of the higher mental plane, we shall have the sacrifice petals, the love petals and the knowledge petals |
b. Nếu “phương diện chân ngã” bị giới hạn hơn và được xem là chỉ chiếm các cõi phụ của Cõi thượng trí, chúng ta sẽ có các cánh hoa hi sinh, các cánh hoa bác ái và các cánh hoa tri thức |
|
and the Brahma aspect of the Ego is found within the permanent atoms. |
và phương diện Brahma của chân ngã được tìm thấy trong các nguyên tử trường tồn. |
|
347. We are speaking of the lower permanent atoms or the two lowest permanent atom and the mental unit. |
347. Chúng ta đang nói đến các nguyên tử trường tồn thấp hơn hay hai nguyên tử trường tồn thấp nhất và đơn vị hạ trí. |
|
348. We always seem to witness a sevenfold or ninefold demonstration of any E/entity. |
348. Chúng ta dường như luôn chứng kiến một sự biểu lộ thất phân hay cửu phân của bất kỳ Thực thể nào. |
|
349. We should be aware that a wonderful exposition of the planar expression of the Grand Heavenly Man, the Heavenly Man and man has been offered in the foregoing sections of text. |
349. Chúng ta nên nhận thức rằng một sự trình bày tuyệt vời về biểu hiện theo cõi của Đại Đấng Thiên Nhân, Đấng Thiên Nhân và con người đã được cống hiến trong các phần văn bản vừa qua. |
|
Students should therefore study with care: |
Vì vậy, các đạo sinh nên nghiên cứu cẩn trọng: |
|
1. The Planes. The manifestation of Brahma, the third or substance aspect, and should apply to this Entity the same triple constitution as is apparent in the other two. |
1. Các Cõi. Sự biểu hiện của Brahma, phương diện thứ ba hay phương diện chất liệu, và nên áp dụng cho Thực thể này cùng một cấu tạo tam phân như điều hiển nhiên nơi hai Ngôi Vị kia. |
|
350. The importance of the nine when considering the Three Persons of the Logoic Trinity is suggested. |
350. Tầm quan trọng của con số chín khi xét Ba Ngôi/Tam Vị của Tam Vị Logoic được gợi ra. |
|
The planes of electric fire, the planes of his lower nature, and the point of blazing forth or conflagration for him (the etheric centres) must be carefully studied. Brahma is the positive life of matter; He is the revelation of substance and the blaze that can be seen. |
Các cõi của Lửa Điện, các cõi của bản chất thấp của ngài, và điểm bừng cháy hay bốc lửa của ngài (các trung tâm dĩ thái) phải được nghiên cứu cẩn trọng. Brahma là sự sống dương của vật chất; Ngài là sự mặc khải của chất liệu và ngọn lửa rực có thể được nhìn thấy. |
|
351. Brahma has a “triple constitution” as do the other two Persons of the Logoic Trinity. |
351. Brahma có một “cấu tạo tam phân” như hai Ngôi Vị kia của Tam Vị Logoic. |
|
352. His three planes of electric fire are the logoic, monadic and atmic sub-planes. |
352. Ba cõi Lửa Điện của Ngài là các cõi phụ logoic, chân thần và atma. |
|
353. The lower three planes are the planes of His lower nature |
353. Ba cõi thấp hơn là các cõi của bản chất thấp của Ngài |
|
354. The buddhic plane is the plane of His blazing forth as a conflagration. |
354. Cõi Bồ đề là cõi của sự bùng phát rực cháy của Ngài như một đám đại hỏa hoạn. |
|
355. Here are excellent and unusual definitions of Brahma: |
355. Ở đây có những định nghĩa tuyệt hảo và khác thường về Brahma: |
|
a. Brahma is the positive life of matter |
a. Brahma là sự sống dương của vật chất |
|
b. Brahma is the revelation of substance |
b. Brahma là sự mặc khải của chất liệu |
|
c. Brahma is the blaze that can be seen |
c. Brahma là ngọn lửa rực có thể được nhìn thấy |
|
356. Light is associated not only with the second aspect of divinity but with the third. In this case, Brahma is the blaze of light. |
356. Ánh sáng không chỉ liên kết với phương diện thứ hai của thiên tính mà còn với phương diện thứ ba. Trong trường hợp này, Brahma là ngọn lửa rực của ánh sáng. |
|
357. We note that Brahma is not matter per se, but is the positive “life of matter”. The Holy Spirit is the “positive life of matter”. |
357. Chúng ta lưu ý rằng Brahma không phải là vật chất per se, mà là “sự sống dương của vật chất”. Chúa Thánh Thần là “sự sống dương của vật chất”. |
|
358. Brahma’s life may be particularly connected with the seven or forty-nine planes but Vishnu (or the second Person) also manifests through the planes—through beginning with a lower plane. |
358. Sự sống của Brahma có thể đặc biệt liên hệ với bảy hay bốn mươi chín cõi, nhưng Vishnu (hay Ngôi thứ hai) cũng biểu hiện qua các cõi—khởi đầu qua một cõi thấp hơn. |
|
2. Vibration. The manifestation of the second aspect. |
2. Rung động. Sự biểu hiện của phương diện thứ hai. |
|
359. How interesting that the second aspect or Person of the Logoic Trinity should be associated with vibration! In every vibration there is an oscillation and hence, a duality corresponding to the number two of the second aspect. |
359. Thật thú vị biết bao khi phương diện hay Ngôi thứ hai của Tam Vị Logoic lại được liên kết với rung động! Trong mọi rung động đều có một sự dao động và do đó, có một nhị nguyên tính tương ứng với số hai của phương diện thứ hai. |
|
360. That Fundamental of the Secret Doctrine called the Law of Periodicity is, if we think about it, akin to the Law of Vibration. |
360. Điều Căn Bản trong Giáo Lý Bí Nhiệm được gọi là Định luật Chu Kỳ, nếu chúng ta suy nghĩ về nó, thì tương cận với Định luật Rung Động. |
|
361. Vulcan is connected with the Law of Vibration. Vulcan is not only a first ray planet, but still more deeply may be connected with the second ray and with the “Heart of the Sun”. |
361. Vulcan có liên hệ với Định luật Rung Động. Vulcan không chỉ là một hành tinh cung một, mà sâu xa hơn nữa còn có thể liên hệ với cung hai và với “Trái Tim của Mặt Trời”. |
|
These vibrations of consciousness are the major three words which are the sumtotal of egoic life, the minor three which govern the third aspect of the Ego, and the chord of at-one-ment which is that which is sounding forth now. |
Những rung động của tâm thức này là ba linh từ chính yếu, là tổng thể của sự sống chân ngã, ba linh từ phụ chi phối phương diện thứ ba của Chân ngã, và hợp âm của sự hợp nhất, tức điều hiện đang được xướng lên. |
|
362. That which is given above is again of a very occult nature. |
362. Điều được nêu ở trên lại mang bản chất rất huyền bí. |
|
363. Always the second aspect is associated with the Word or with words in general (although the speaking of words is associated with the third aspect). We have been told of six words (three which are major and three minor). They all seem to be confined within the Ego—even the final “chord of at-one-ment”. |
363. Phương diện thứ hai luôn luôn được liên kết với Linh từ hay với các từ nói chung (mặc dù việc nói ra các từ lại liên hệ với phương diện thứ ba). Chúng ta đã được cho biết về sáu từ (ba từ chính yếu và ba từ phụ). Tất cả dường như đều bị giới hạn trong Chân ngã—ngay cả “hợp âm của sự hợp nhất” sau cùng. |
|
364. The “chord of at-one-ment” sounding forth in the Ego is a reflection of the buddhic energy, for the buddhic plane is the “plane of harmony”, and buddhi is the at-one-ing energy. |
364. “Hợp âm của sự hợp nhất” đang vang lên trong Chân ngã là một phản ánh của năng lượng Bồ đề, vì cõi Bồ đề là “cõi của hòa điệu”, và buddhi là năng lượng hợp nhất. |
|
365. What really, are “vibrations of consciousness”? Does consciousness vibrate? Or do vibrations within the substance aspect of divinity provide for the reception of different kinds of consciousness? |
365. Thực sự thì “rung động của tâm thức” là gì? Tâm thức có rung động chăng? Hay các rung động bên trong phương diện chất liệu của thiên tính tạo điều kiện cho việc tiếp nhận những loại tâm thức khác nhau? |
|
366. Words, of course, are formed of differing kinds of vibrations and have a profound effect within substance. Different words open portals for the reception of various qualities and into spheres of consciousness. |
366. Dĩ nhiên, các từ được cấu thành từ những loại rung động khác nhau và có một tác động sâu xa bên trong chất liệu. Những từ khác nhau mở ra các cánh cổng để tiếp nhận những phẩm tính khác nhau và đi vào các khối cầu tâm thức. |
|
367. The soul has sixteen potencies. Sixteen reduces to seven and so these sixteen may be expressed as seven words. The number sixteen relates to the throat center (of sixteen petals) through which words are sounded—with magical effect (hence the seven). |
367. Linh hồn có mười sáu tiềm năng. Mười sáu quy về bảy, và vì thế mười sáu tiềm năng này có thể được biểu đạt thành bảy từ. Số mười sáu liên hệ với trung tâm cổ họng (gồm mười sáu cánh hoa), qua đó các từ được xướng lên—với hiệu quả huyền thuật (do đó là số bảy). |
|
The three aspects of Spirit as they are seen can only be expressed in terms of the other two in this solar system, and of their nature extra-systemically nought can profitably be said at this stage of cognition. |
Ba phương diện của tinh thần như chúng được thấy chỉ có thể được diễn tả bằng các thuật ngữ của hai phương diện kia trong hệ mặt trời này, và về bản chất của chúng ngoài hệ thì ở giai đoạn nhận thức này không thể nói gì một cách hữu ích. |
|
368. We might have wondered about the planar expression of the “first Person of the Logoic Trinity”, but DK tells us that we cannot locate that expression, since the first aspect expresses, at this time, through the other two. |
368. Chúng ta có thể đã tự hỏi về sự biểu đạt theo cõi của “Ngôi thứ nhất của Tam Vị Logoic”, nhưng Chân sư DK cho chúng ta biết rằng chúng ta không thể định vị sự biểu đạt đó, vì phương diện thứ nhất hiện nay biểu hiện qua hai phương diện kia. |
|
369. If we look for the extra-systemic source of the highest aspect we shall also not detect it. Perhaps one of the great constellations in the One About Whom Naught May Be Said would be the source. It is not important to have these answers at this point in our development. |
369. Nếu chúng ta tìm kiếm nguồn gốc ngoài hệ của phương diện cao nhất, chúng ta cũng sẽ không phát hiện được nó. Có lẽ một trong những chòm sao lớn trong Đấng Bất Khả Tư Nghị sẽ là nguồn gốc. Ở điểm này trong sự phát triển của chúng ta, có được những câu trả lời ấy không phải là điều quan trọng. |
|
370. However, two possible Sources of this Spirit or Shiva energy are that particular Solar Logos in the Seven Solar Systems of Which Ours is One, Who expresses the first ray, and that constellation in the One About Whom Naught May Be Said through which the first ray expresses—probably the Great Bear, considered in its entirety. |
370. Tuy nhiên, hai Nguồn có thể có của năng lượng Tinh thần hay Shiva này là Thái dương Thượng đế đặc biệt ấy trong Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là một, Đấng biểu hiện cung một, và chòm sao trong Đấng Bất Khả Tư Nghị qua đó cung một biểu hiện—có lẽ là Đại Hùng Tinh, được xét trong toàn thể của nó. |
|
The above thoughts upon the planes, and the ninefold nature of all that is, take one into regions as yet almost beyond the grasp of man; |
Những tư tưởng trên về các cõi, và về bản chất cửu phân của mọi sự hiện hữu, đưa con người vào những miền mà hiện còn gần như vượt ngoài tầm nắm bắt của con người; |
|
371. With this we can agree! |
371. Về điều này chúng ta có thể đồng ý! |
|
372. We have taken note, have we not, of the Tibetan’s attempt to clarify the “ninefold nature of all that it”? Every triplicity is subdivisible into three sections of threes. The matter is complicated (especially as we begin to sense the relativity of planes and sub-planes through which the nine divisions may express), but there is no use evading acknowledgment of the complexity. |
372. Chúng ta đã lưu ý, phải không, đến nỗ lực của Chân sư Tây Tạng nhằm làm sáng tỏ “bản chất cửu phân của mọi sự hiện hữu”? Mỗi bộ ba đều có thể được phân chia thành ba phần của ba. Vấn đề này phức tạp (đặc biệt khi chúng ta bắt đầu cảm nhận tính tương đối của các cõi và cõi phụ qua đó chín phân bộ có thể biểu hiện), nhưng không ích gì khi né tránh việc thừa nhận sự phức tạp ấy. |
|
373. The Three Persons of the Logoic Trinity are ever active and it would be well for us to understand the fields or dimensions through which they express, affecting as they do the microcosm. |
373. Ba Ngôi của Tam Vị Logoic luôn luôn hoạt động, và sẽ là điều tốt cho chúng ta nếu thấu hiểu các trường hay các chiều kích qua đó các Ngài biểu hiện, vì các Ngài tác động đến tiểu thiên địa. |
|
yet only when the substance [Page 524] aspect is studied by the scientist in its triple nature will truth be approximated, and the true nature of electrical phenomena be comprehended; |
nhưng chỉ khi phương diện [Page 524] chất liệu được nhà khoa học nghiên cứu trong bản chất tam phân của nó thì chân lý mới được tiếp cận, và bản chất đích thực của các hiện tượng điện mới được thấu hiểu; |
|
374. We recall that in order to understand electrical phenomena, the seven planes must be subdivided into three parts according to the model, 3—1—3. |
374. Chúng ta nhớ rằng để hiểu các hiện tượng điện, bảy cõi phải được phân chia thành ba phần theo mô hình 3—1—3. |
|
375. Electrical phenomena arise from an essential cosmic division which is in process of attempting to reunite. This attempted reunion is the cause of all electrical interplay. |
375. Các hiện tượng điện phát sinh từ một sự phân chia vũ trụ cốt yếu đang trong tiến trình cố gắng tái hợp nhất. Chính nỗ lực tái hợp này là nguyên nhân của mọi tương tác điện. |
|
376. It is quite astonishing to realize how closely electrical phenomena are related to the second ray—the ray which under the Law of Attraction reunites the apparently separated poles. |
376. Thật hết sức đáng kinh ngạc khi nhận ra các hiện tượng điện liên hệ chặt chẽ đến mức nào với cung hai—cung mà dưới Định luật Hấp Dẫn tái hợp nhất các cực dường như bị tách rời. |
|
then and only then will electricity be harnessed and utilised by man as a unity, and not just in one of its aspects as at present; |
khi đó và chỉ khi đó điện mới được con người chế ngự và sử dụng như một nhất thể, chứ không chỉ trong một phương diện của nó như hiện nay; |
|
377. The aspect presently utilized is the third aspect related to fire by friction. |
377. Phương diện hiện đang được sử dụng là phương diện thứ ba liên hệ với lửa ma sát. |
|
the negative electricity of the planet is all that is as yet contacted for commercial purposes. |
điện âm của hành tinh là tất cả những gì cho đến nay được tiếp xúc vì các mục đích thương mại. |
|
378. We see how far we have to go. However, developments concerning radioactive substances have begun to make the result of positive electricity available for commercial use. The many atomic power plants which generate electricity have expanded man’s use of electricity. |
378. Chúng ta thấy mình còn phải đi xa đến đâu. Tuy nhiên, những phát triển liên quan đến các chất phóng xạ đã bắt đầu làm cho kết quả của điện dương trở nên khả dụng cho việc sử dụng thương mại. Nhiều nhà máy điện nguyên tử phát điện đã mở rộng việc sử dụng điện của con người. |
|
379. As the Tibetan has stated however, that aspect of electricity which relates to solar fire or “mental fire” is still not understood or utilized, nor will it be for a long time. |
379. Tuy nhiên, như Chân sư Tây Tạng đã nói, phương diện điện liên hệ với Lửa Thái dương hay “lửa của trí tuệ” vẫn chưa được hiểu hay sử dụng, và còn lâu nữa mới được như vậy. |
|
It must be remembered that this term is used in the sense of negative in relation to solar electricity. |
Cần nhớ rằng thuật ngữ này được dùng theo nghĩa âm tính trong tương quan với điện mặt trời. |
|
380. There is, apparently a type of electricity based on solar fire about which DK has said just a little. With the emergence of the soul of humanity some fuller idea of this type of electricity will probably also emerge. |
380. Hiển nhiên có một loại điện dựa trên Lửa Thái dương mà Chân sư DK chỉ nói rất ít. Cùng với sự xuất hiện của linh hồn của nhân loại, có lẽ một ý niệm đầy đủ hơn về loại điện này cũng sẽ xuất hiện. |
|
When man has found out how to contact and utilise positive solar electricity in combination with negative planetary electricity, we shall have a very dangerous condition brought about, and one of the factors which will eventually manifest in the destruction of the fifth root race by fire. |
Khi con người đã khám phá ra cách tiếp xúc và sử dụng điện mặt trời dương kết hợp với điện hành tinh âm, chúng ta sẽ có một tình trạng hết sức nguy hiểm được tạo ra, và đó sẽ là một trong những yếu tố cuối cùng biểu hiện trong sự hủy diệt giống dân gốc thứ năm bằng lửa. |
|
381. At one point we are told that there will be an “attempt” to destroy the fifth root race by fire: |
381. Ở một chỗ chúng ta được cho biết rằng sẽ có một “nỗ lực” nhằm hủy diệt giống dân gốc thứ năm bằng lửa: |
|
Those who seek to evoke the Shamballa force are approaching close to the energy of fire. Fire is the symbol and the quality of the mental plane. Fire is an aspect of the divine nature. Fire was an outstanding aspect [Page 587] of the war. Fire is produced by physical means and the aid of the mineral kingdom and this was the great menacing and chosen means of destruction in this war. This is a fulfilment of the ancient prophecy that the attempt to destroy the Aryan race will be by means of fire, just as ancient Atlantis was destroyed by water. But, fiery goodwill and the conscious focussed use of the Shamballa force can counter fire by fire and this must be done. (TCF 586-587) |
Những ai tìm cách gợi lên lực Shamballa đang tiến rất gần đến năng lượng của lửa. Lửa là biểu tượng và phẩm tính của cõi trí. Lửa là một phương diện của bản chất thiêng liêng. Lửa là một phương diện nổi bật [Page 587] của chiến tranh. Lửa được tạo ra bằng các phương tiện hồng trần và với sự trợ giúp của giới kim thạch, và đây là phương tiện hủy diệt lớn lao, đe dọa và được chọn trong cuộc chiến này. Đây là sự ứng nghiệm của lời tiên tri cổ xưa rằng nỗ lực hủy diệt nhân loại Arya sẽ được thực hiện bằng lửa, cũng như Atlantis xưa đã bị hủy diệt bởi nước. Nhưng, thiện chí rực lửa và việc sử dụng có ý thức, tập trung lực Shamballa có thể lấy lửa chống lửa, và điều này phải được thực hiện. (TCF 586-587) |
|
382. We must determine whether this “attempt” has already occurred in relation to the combined first and second world wars or whether a further “attempt” is yet to come. We must realize that as TCF was published in 1925, the reference, “in this war” must have signified the First World War. |
382. Chúng ta phải xác định xem “nỗ lực” này đã xảy ra rồi liên hệ đến sự kết hợp của Thế chiến thứ nhất và thứ hai hay chưa, hay một “nỗ lực” khác vẫn còn ở phía trước. Chúng ta phải nhận ra rằng vì TCF được xuất bản năm 1925, nên lời dẫn chiếu “trong cuộc chiến này” hẳn phải có nghĩa là Thế chiến thứ nhất. |
|
383. It would obviously be better for humanity if the “attempt” had already passed—unsuccessfully. |
383. Hiển nhiên sẽ tốt hơn cho nhân loại nếu “nỗ lực” ấy đã qua đi—mà không thành công. |
|
384. Will the fifth root race be destroyed by fire? From the statements above it certainly seems so. Will this occur any time soon? It is probable that the sixth root race must be well into its development before any such destruction will occur. |
384. Giống dân gốc thứ năm có bị hủy diệt bởi lửa không? Từ những phát biểu trên, điều đó chắc chắn dường như là vậy. Điều này có xảy ra sớm không? Có lẽ giống dân gốc thứ sáu phải tiến khá xa trong sự phát triển của nó trước khi bất kỳ sự hủy diệt nào như thế xảy ra. |
|
385. In relation to this destruction we cannot be talking about the “Judgment Day” because that is to occur in the middle of the next round which will possess an entirely new root race structure. |
385. Liên hệ đến sự hủy diệt này, chúng ta không thể đang nói về “Ngày Phán Xét”, vì điều đó sẽ xảy ra vào giữa cuộc tuần hoàn kế tiếp, cuộc tuần hoàn sẽ có một cấu trúc giống dân gốc hoàn toàn mới. |
|
386. What is the nature of “positive solar electricity”? It does not seem that DK means solar fire. Could He mean a type of solar fire by friction which relates to the prana and the etheric planes? Would we tend to call this “positive solar electricity” by the name “electric fire”? Clearly there is some obscurity around the matter and we are in no position to lift the veil. |
386. Bản chất của “điện mặt trời dương” là gì? Dường như Chân sư DK không có ý nói Lửa Thái dương. Liệu Ngài có thể muốn nói đến một loại lửa ma sát mặt trời liên hệ với prana và các cõi dĩ thái chăng? Chúng ta có xu hướng gọi “điện mặt trời dương” này bằng tên “Lửa Điện” chăng? Rõ ràng có một sự mơ hồ nào đó quanh vấn đề này và chúng ta không ở vị thế để vén màn. |
|
387. Is the danger DK is referring to related to the harnessing of ever greater power from the Sun? |
387. Mối nguy mà Chân sư DK đang nói đến có liên hệ với việc khai thác ngày càng nhiều quyền năng từ Mặt Trời chăng? |
|
388. We might think of the role of “fiery goodwill” in relation to the dangerous union of “positive solar fire” and “negative planetary electricity”. |
388. Chúng ta có thể nghĩ đến vai trò của “thiện chí rực lửa” liên hệ với sự kết hợp nguy hiểm giữa “lửa mặt trời dương” và “điện hành tinh âm”. |
|
At that great cataclysm—as the Bible says “the Heavens will melt with fervent heat.”70 [Bible. II Peter, 3:10.] |
Vào đại biến động ấy—như Kinh Thánh nói “các tầng trời sẽ tan chảy vì sức nóng dữ dội.”70 [Bible. II Peter, 3:10.] |
|
389. We learn from what follows that this melting will occur at the end of the fifth root race of the present round. |
389. Từ điều tiếp theo, chúng ta biết rằng sự tan chảy này sẽ xảy ra vào cuối giống dân gốc thứ năm của cuộc tuần hoàn hiện tại. |
|
This will be seen in a still greater degree in the next round, and will cause that destruction by fire of the forms of the men who have failed, which will liberate the lives on a stupendous scale, and thus temporarily ‘purify’ the Earth from elements which would tend to hinder the evolutionary process. |
Điều này sẽ còn được thấy ở một mức độ lớn hơn nữa trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, và sẽ gây ra sự hủy diệt bằng lửa đối với các hình tướng của những người đã thất bại, điều sẽ giải thoát các sự sống trên một quy mô khổng lồ, và như thế tạm thời “thanh lọc” Trái Đất khỏi những yếu tố có xu hướng cản trở tiến trình tiến hoá. |
|
390. We have been told that two-fifths of humanity will go into a temporary pralaya at that time and later be transferred to another planet. |
390. Chúng ta đã được cho biết rằng hai phần năm nhân loại sẽ đi vào một giai kỳ qui nguyên tạm thời vào lúc đó và sau này được chuyển sang một hành tinh khác. |
|
391. Here we hear that the destruction of their forms will facilitate that entry into pralaya. |
391. Ở đây chúng ta nghe rằng sự hủy diệt các hình tướng của họ sẽ tạo điều kiện cho việc đi vào giai kỳ qui nguyên ấy. |
|
392. The lesser destruction at the end of the fifth root race of this fourth round will be the anticipatory prelude to a far greater destruction of forms at the “Judgment Day”. |
392. Sự hủy diệt nhỏ hơn vào cuối giống dân gốc thứ năm của cuộc tuần hoàn thứ tư này sẽ là khúc dạo đầu báo trước cho một sự hủy diệt hình tướng lớn lao hơn nhiều vào “Ngày Phán Xét”. |
|
393. Those who are not “on the Path” at the time of the “Judgment Day” in the next round will have failed. |
393. Những ai không “ở trên Con Đường” vào thời điểm “Ngày Phán Xét” trong cuộc tuần hoàn kế tiếp sẽ là những kẻ đã thất bại. |
|
As the cycles pass away, the balancing of these fiery currents will be gradually brought about, and will result in a planetary condition of harmony, and of esoteric equality, which will provide ideal environment for harmonious man. |
Khi các chu kỳ trôi qua, sự quân bình của các dòng lửa này sẽ dần dần được thực hiện, và sẽ dẫn đến một tình trạng hành tinh của hòa điệu, và của sự bình đẳng huyền bí, điều sẽ cung cấp môi trường lý tưởng cho con người hài hòa. |
|
394. We have been told of the great development in humanity which will occur following the “Judgment Day”. It would seem that the buddhic quality will emerge in strength bringing with it the quality of harmony. |
394. Chúng ta đã được cho biết về sự phát triển lớn lao trong nhân loại sẽ xảy ra sau “Ngày Phán Xét”. Dường như phẩm tính Bồ đề sẽ xuất hiện mạnh mẽ, mang theo phẩm tính hòa điệu. |
|
395. It is important to realize the connection of the number five with fire. Usually it is the first ray which is associated with fire, but the fifth ray is a primary conduit into the first ray. |
395. Điều quan trọng là nhận ra mối liên hệ của số năm với lửa. Thông thường cung một được liên kết với lửa, nhưng cung năm là một kênh dẫn chính yếu đi vào cung một. |
|
396. The production of “harmonious man” would seem to relate to the emergence in power of the buddhic principle (the sixth principle) after the “Judgment Day” in the fifth round. |
396. Việc tạo ra “con người hài hòa” dường như liên hệ với sự xuất hiện đầy quyền năng của nguyên khí Bồ đề (nguyên khí thứ sáu) sau “Ngày Phán Xét” trong cuộc tuần hoàn thứ năm. |
|
397. Yet, even in our fourth round (and before so very long, due to the coming in the fourth ray in its monadic aspect) a period of planetary “peace” is predicted. This will be a anticipatory ‘reflection’ of the greater peace to follow the “Judgment Day” in the fifth round. |
397. Tuy nhiên, ngay cả trong cuộc tuần hoàn thứ tư của chúng ta (và không còn quá lâu nữa, do sự xuất hiện của cung bốn trong phương diện chân thần của nó), một thời kỳ “hòa bình” hành tinh đã được tiên đoán. Đây sẽ là một “phản ánh” báo trước của nền hòa bình lớn hơn sẽ theo sau “Ngày Phán Xét” trong cuộc tuần hoàn thứ năm. |
|
Only when the soul aspect is studied by the psychologist in its threefold essential nature will the mystery of consciousness become apparent, and the nature of the three magnetic groups, in their various subdivisions with their consequent effectual radiation become a factor in the public life. |
Chỉ khi phương diện linh hồn được nhà tâm lý học nghiên cứu trong bản chất cốt yếu tam phân của nó thì huyền nhiệm của tâm thức mới trở nên hiển nhiên, và bản chất của ba nhóm từ tính, trong các phân bộ khác nhau của chúng cùng với sự bức xạ hữu hiệu kéo theo, mới trở thành một yếu tố trong đời sống công cộng. |
|
398. We have turned our focus to man’s psyche. DK seems to be speaking of the study of three main groups of human beings characterized by the three Rays of Aspect. These, it would seem, are the three magnetic groups. |
398. Chúng ta đã chuyển trọng tâm sang tâm lý con người. Chân sư DK dường như đang nói về việc nghiên cứu ba nhóm người chính được đặc trưng bởi Ba Cung Trạng Thái. Dường như đây là ba nhóm từ tính. |
|
399. This section deals with the necessity for the balancing of forces and for the union of three types of electricity: positive, negative and neutral. |
399. Phần này bàn đến sự cần thiết của việc quân bình các mãnh lực và sự hợp nhất của ba loại điện: dương, âm và trung hòa. |
|
400. Obviously, when considering electricity in terms of microcosmic development, an understanding of the three major types of human being and the magnetic conditions which characterize them will be of great value. |
400. Hiển nhiên, khi xem xét điện theo phương diện phát triển tiểu thiên địa, sự thấu hiểu ba loại người chính và các điều kiện từ tính đặc trưng cho họ sẽ có giá trị lớn. |
|
This concerns itself with the definite development of the psyche under law, with the scientific expansion of the consciousness, and will eventually bring about conditions wherein the work, preliminary to the first initiation, will be purely exoteric, and no longer[Page 525] part of an esoteric process. |
Điều này liên quan đến sự phát triển xác định của tâm lý dưới định luật, đến sự mở rộng tâm thức một cách khoa học, và cuối cùng sẽ mang lại những điều kiện trong đó công việc chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất sẽ hoàn toàn là ngoại môn, và không còn[Page 525] là một phần của tiến trình nội môn nữa. |
|
401. We are moving into just such a period—one in which the work preliminary to the first initiation is on the verge of becoming exoterically revealed. |
401. Chúng ta đang tiến vào đúng một thời kỳ như thế—một thời kỳ trong đó công việc chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất đang ở ngưỡng được tiết lộ một cách ngoại môn. |
|
402. This possibility will represent a considerable deepening in humanity’s understanding of the human psyche, especially in relation to its potential spiritual dimensions. |
402. Khả năng này sẽ biểu thị một sự đào sâu đáng kể trong sự hiểu biết của nhân loại về tâm lý con người, đặc biệt liên hệ đến các chiều kích tinh thần tiềm tàng của nó. |
|
403. Yet, we could question here, whether by the term “first initiation” DK really means the third, for the work preceding the third initiation is really an “esoteric process” and that preceding the planetary first initiation may not be considered truly esoteric. |
403. Tuy nhiên, ở đây chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu với thuật ngữ “lần điểm đạo thứ nhất”, Chân sư DK có thực sự muốn nói đến lần điểm đạo thứ ba hay không, vì công việc đi trước lần điểm đạo thứ ba thực sự là một “tiến trình nội môn”, còn công việc đi trước lần điểm đạo thứ nhất của hành tinh có thể không được xem là thực sự nội môn. |
|
404. Of course there is all manner of subjective work preceding even the first planetary initiation, and it may be to such work that DK is referring. |
404. Dĩ nhiên có đủ mọi loại công việc chủ quan đi trước ngay cả lần điểm đạo thứ nhất của hành tinh, và có thể Chân sư DK đang nói đến chính loại công việc ấy. |
|
In due course of time, it will be found that the self-induced efforts whereby a man consciously prepares his centres for the application of the Rod of Initiation at the first Initiation, will be the subject of books, and of lectures, and form part of the ordinary thought of the masses. |
Đến đúng thời điểm, người ta sẽ phát hiện rằng những nỗ lực do chính mình khởi phát, nhờ đó một người chuẩn bị các trung tâm của mình một cách có ý thức cho việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo vào lần điểm đạo thứ nhất, sẽ là đề tài của sách vở, của các bài giảng, và sẽ trở thành một phần của tư tưởng thông thường của quần chúng. |
|
405. Here, the inference is that the “first initiation” under discussion is, indeed, the planetary first initiation. |
405. Ở đây, hàm ý là “lần điểm đạo thứ nhất” đang được bàn đến quả thực là lần điểm đạo thứ nhất của hành tinh. |
|
406. May we expect that this will occur during the Aquarian Age? The possibility seems definite, as the intensifying Aquarian and seventh ray energies may well put the Christ (Who is the Initiator for the first two initiations) in a position to administer these initiations exoterically. |
406. Chúng ta có thể mong đợi điều này xảy ra trong Kỷ Nguyên Bảo Bình chăng? Khả năng ấy dường như rõ rệt, vì các năng lượng Bảo Bình và cung bảy đang tăng cường rất có thể đặt Đức Christ (Đấng là Đấng Điểm đạo cho hai lần điểm đạo đầu) vào vị thế có thể ban các lần điểm đạo này một cách ngoại môn. |
|
407. We note again that the necessary preparations are to be “self-induced”. This puts the whole matter of preparation in the hands of the potential candidate and reduces the attitude of spiritual dependency. |
407. Chúng ta lại lưu ý rằng những chuẩn bị cần thiết phải là “do chính mình khởi phát”. Điều này đặt toàn bộ vấn đề chuẩn bị vào tay ứng viên tiềm năng và làm giảm thái độ lệ thuộc tinh thần. |
|
This again will eventuate in a cleavage between the two groups in the middle of the fifth round. |
Điều này một lần nữa sẽ dẫn đến một sự phân rẽ giữa hai nhóm vào giữa cuộc tuần hoàn thứ năm. |
|
408. Now, we have jumped very far head—as if millions of years in the space between two sentences. |
408. Giờ đây, chúng ta đã nhảy vọt rất xa về phía trước—như thể hàng triệu năm nằm trong khoảng giữa hai câu. |
|
409. We do know that a major line of demarcation in the fifth round will concern the attitude of the members of these two groups to the Path. |
409. Chúng ta quả thật biết rằng một ranh giới phân định lớn trong cuộc tuần hoàn thứ năm sẽ liên quan đến thái độ của các thành viên thuộc hai nhóm này đối với Con Đường. |
|
It must be remembered that this cleavage will be part of a natural process, and not a drastic ruling, imposed upon an unwilling people. |
Cần nhớ rằng sự phân rẽ này sẽ là một phần của một tiến trình tự nhiên, chứ không phải một phán quyết khắc nghiệt áp đặt lên một dân chúng không tự nguyện. |
|
410. Such a ruling would never work. Only that which grows out of man in a natural manner has any chance of enduring. Arbitrary rulings, even if they are well intended, are often overthrown. |
410. Một phán quyết như thế sẽ không bao giờ có hiệu quả. Chỉ điều gì phát triển ra từ con người một cách tự nhiên mới có cơ may bền vững. Những phán quyết độc đoán, dù có thiện ý, thường vẫn bị lật đổ. |
|
411. The Masters cannot impose salvation upon man. |
411. Các Chân sư không thể áp đặt sự cứu rỗi lên con người. |
|
The KNOWERS and the students of the Knowledge—actuated by group consciousness, and working consciously—will separate themselves in group formation from those who know not, and from those who care not. |
Các THỨC GIẢ và các đạo sinh của Minh triết—được thúc đẩy bởi tâm thức nhóm và làm việc một cách có ý thức—sẽ tự tách mình ra trong sự hình thành nhóm khỏi những người không biết, và khỏi những người không quan tâm. |
|
412. In the fifth round group consciousness will be a factual demonstration—not just a theory as so often it is today. |
412. Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, tâm thức nhóm sẽ là một sự chứng minh thực tế—chứ không chỉ là một lý thuyết như ngày nay thường vẫn vậy. |
|
413. Here, more is said than elsewhere about the consciousness and psychological attitude of those who will go into pralaya in the middle of the fifth round |
413. Ở đây, nhiều điều được nói hơn ở nơi khác về tâm thức và thái độ tâm lý của những người sẽ đi vào giai kỳ qui nguyên vào giữa cuộc tuần hoàn thứ năm |
|
This cleavage will be self-induced, and a natural outgrowth of the group life; |
Sự phân rẽ này sẽ do chính họ tạo ra, và là một sự tăng trưởng tự nhiên của đời sống nhóm; |
|
414. We are speaking of an emerging discriminative cleavage. We must remember that the fifth ray rules the Law of Cleavages. |
414. Chúng ta đang nói về một sự phân rẽ phân biện đang nổi lên. Chúng ta phải nhớ rằng cung năm cai quản Định luật của các Sự Phân Rẽ. |
|
415. During the fifth round the fifth ray will naturally be extremely potent. |
415. Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, cung năm đương nhiên sẽ cực kỳ mạnh. |
|
416. May we judge that the “middle of the fifth round” (at which time the “Judgment Day” is to occur) will refer to some kind of fifth root race extant on our globe at that time? |
416. Chúng ta có thể phán đoán rằng “giữa cuộc tuần hoàn thứ năm” (thời điểm “Ngày Phán Xét” sẽ xảy ra) sẽ chỉ đến một loại giống dân gốc thứ năm nào đó đang hiện hữu trên bầu hành tinh của chúng ta vào lúc ấy chăng? |
|
it will in itself be of a temporary nature for the fundamental aim in view will be the bringing about of an eventual closer merging; |
bản thân nó sẽ chỉ có tính chất tạm thời vì mục tiêu căn bản được nhắm đến sẽ là việc cuối cùng đưa đến một sự hòa nhập gần gũi hơn; |
|
417. Those who through developed group process will promote this cleavage will have no selfishness in them. They would be glad for the opportunity to bridge the cleavage that will be caused (to the extent that it would be possible). Yet, we know from the prophecies, that it will not be fully possible. |
417. Những ai, thông qua tiến trình nhóm đã phát triển, sẽ thúc đẩy sự phân rẽ này sẽ không có chút ích kỷ nào trong họ. Họ sẽ vui mừng vì có cơ hội bắt cầu qua sự phân rẽ sẽ được gây ra (trong chừng mực điều đó có thể). Tuy nhiên, chúng ta biết từ các lời tiên tri rằng điều đó sẽ không thể hoàn toàn thực hiện được. |
|
418. Those units who cannot respond to the soul impulse and who are not even incipiently group conscious will not have the opportunity to endure on Earth in perpetuity. The destruction of their forms (so we are told) will come about and they will be transferred—into pralaya and eventually to another planet for continued development. |
418. Những đơn vị không thể đáp ứng với xung lực linh hồn và thậm chí chưa có tâm thức nhóm ở giai đoạn sơ khởi sẽ không có cơ hội tồn tại trên Trái Đất vĩnh viễn. Sự hủy diệt các hình tướng của họ (như chúng ta được cho biết) sẽ xảy ra và họ sẽ được chuyển đi—vào giai kỳ qui nguyên và cuối cùng đến một hành tinh khác để tiếp tục phát triển. |
|
it will mark primarily the line of demarcation between the lower four Rays of consciousness, and the higher three. |
trước hết nó sẽ đánh dấu ranh giới phân định giữa bốn Cung tâm thức thấp hơn và ba Cung cao hơn. |
|
419. This is a very interesting statement. We understand that the higher three rays are closer to the soul state and the lower four rays closer to the states of form. |
419. Đây là một phát biểu rất thú vị. Chúng ta hiểu rằng ba cung cao hơn gần với trạng thái linh hồn hơn và bốn cung thấp hơn gần với các trạng thái của hình tướng hơn. |
|
420. Those who will be retained upon the Earth will be merging into the state of soul, characteristic of those upon the Path. Some of the others (some of the remaining two fifths) may be intelligent, but they will not be spiritual. |
420. Những ai sẽ được giữ lại trên Trái Đất sẽ đang hòa nhập vào trạng thái linh hồn, đặc trưng cho những người ở trên Con Đường. Một số người khác (một số trong hai phần năm còn lại) có thể thông minh, nhưng họ sẽ không tinh thần. |
|
421. DK has told us elsewhere that the cleavage and the destruction will be considered at that time a great disaster by those who do not know better. |
421. Chân sư DK đã nói với chúng ta ở nơi khác rằng sự phân rẽ và sự hủy diệt ấy vào lúc đó sẽ bị những người không hiểu biết xem là một đại thảm họa. |
|
It is also a mystery hid in the relationship between the four exoteric Kumaras,71 [S. D., I, 116, 493; II, 112, 149] and the esoteric three, and from the point of view of man separates those who are developing the consciousness of the Triad from those who as yet are living the life of the Quaternary. |
Đó cũng là một huyền nhiệm ẩn giấu trong mối liên hệ giữa bốn Kumaras ngoại môn,71 [S. D., I, 116, 493; II, 112, 149] và ba Kumaras nội môn, và từ quan điểm của con người, phân tách những ai đang phát triển tâm thức của Tam nguyên tinh thần khỏi những ai cho đến nay vẫn đang sống đời sống của Bộ Tứ. |
|
422. Right now only the four exoteric Kumaras are active in relation to the world process (at least in any ways we can hope to understand). All this may change by the time the middle of the fifth round arrives. |
422. Hiện nay chỉ có bốn Kumaras ngoại môn là đang hoạt động liên hệ đến tiến trình thế giới (ít nhất theo bất kỳ cách nào mà chúng ta có thể hy vọng hiểu được). Tất cả điều này có thể thay đổi vào lúc giữa cuộc tuần hoàn thứ năm đến nơi. |
|
423. We have yet to establish whether the three esoteric Kumaras are really ‘higher’ than the four exoteric Kumaras, or whether the positions of the exoteric and esoteric kumaras constantly rotate depending upon which rays are to be drawn forth into expression in our planetary scheme or parts of it. |
423. Chúng ta vẫn còn phải xác lập xem ba Kumaras nội môn có thực sự “cao hơn” bốn Kumaras ngoại môn hay không, hay các vị trí của các Kumaras ngoại môn và nội môn liên tục xoay vòng tùy theo những cung nào sẽ được rút ra để biểu hiện trong hệ hành tinh của chúng ta hay trong các phần của nó. |
|
424. Here we do seem to be speaking of planetary Kumaras rather than systemic Kumaras manifesting as Planetary Logoi. |
424. Ở đây quả thực dường như chúng ta đang nói về các Kumaras hành tinh hơn là các Kumaras hệ thống biểu hiện như các Hành Tinh Thượng đế. |
|
425. Above we are given the basis on which the great cleavage shall occur. Those who are developing responsiveness to the life of the spiritual triad will be cloven from those who are still thoroughly invested in the quaternary. |
425. Ở trên, chúng ta được cho cơ sở trên đó sự phân rẽ lớn sẽ xảy ra. Những ai đang phát triển khả năng đáp ứng với đời sống của Tam Nguyên Tinh Thần sẽ được tách ra khỏi những ai vẫn còn hoàn toàn gắn chặt vào bộ tứ. |
|
426. The three Rays of Aspect naturally correlate with triadal responsiveness and the four Rays of Attribute with the “life of the Quaternary”. |
426. Ba Cung Trạng Thái tự nhiên tương quan với khả năng đáp ứng tam nguyên, còn bốn Cung Thuộc Tính thì tương quan với “đời sống của Bộ Tứ”. |
|
It concerns those who respond to the solar Lords, distinguishing them from those who recognise as yet only the control of the lunar Lords. |
Điều này liên quan đến những ai đáp ứng với các nhật tinh quân, phân biệt họ với những ai chỉ mới nhận biết sự kiểm soát của các nguyệt tinh quân. |
|
427. The distinction is clear. “Let the applicant see to it that the solar angel dims the light of the lunar angels remaining the sole luminary in the microcosmic sky.” (Rule V for Applicants—IHS) |
427. Sự phân biệt này rất rõ. “Hãy để người thỉnh cầu bảo đảm rằng thái dương Thiên Thần làm mờ ánh sáng của các thiên thần thái âm, và vẫn là nguồn sáng duy nhất trên bầu trời tiểu thiên địa.” (Quy luật V cho Người Thỉnh Cầu—IHS) |
|
In terms of Fire: those who warm themselves by means of fire by friction and respond not to the heat of solar fire remain within the cavern, thus living in the dark; whilst those whose being is irradiated by the Sun of Wisdom, and who bask in the rays of solar heat dwell in the light, and enjoy an ever increasing freedom, and vital existence. |
Xét theo Lửa: những ai tự sưởi ấmbằng lửa ma sát và không đáp ứng với nhiệt của Lửa Thái dương thì vẫn ở trong hang động, do đó sống trong bóng tối; còn những ai mà bản thể được Mặt Trời Minh Triết chiếu rọi, và tắm mình trong các tia của nhiệt mặt trời thì sống trong ánh sáng, và hưởng một tự do cùng sự sống thiết yếu ngày càng tăng. |
|
428. These words have the ring of the Old Commentary. When thinking of “positive solar electricity” perhaps we do have to think in terms of solar fire! |
428. Những lời này mang âm hưởng của Cổ Luận. Khi nghĩ về “điện mặt trời dương”, có lẽ chúng ta quả thật phải nghĩ theo thuật ngữ của Lửa Thái dương! |
|
429. We must determine whether “solar electricity” and “solar fire” are the same. |
429. Chúng ta phải xác định xem “điện mặt trời” và “Lửa Thái dương” có phải là một hay không. |
|
430. The great and coming battle (first in the fourth round—and probably, imminently—and later in the fifth) concerns the ongoing conflict between the Sun and the Moon. This will discriminate the developing white magicians from the ‘black’ (even if the ‘black magicians’ are unconsciously black). |
430. Trận chiến lớn lao và sắp đến (trước hết trong cuộc tuần hoàn thứ tư—và có lẽ là sắp xảy ra—và sau đó trong cuộc tuần hoàn thứ năm) liên quan đến cuộc xung đột đang tiếp diễn giữa Mặt Trời và Mặt Trăng. Điều này sẽ phân biệt các nhà huyền thuật chánh đạo đang phát triển với những kẻ ‘đen’ (ngay cả nếu các “nhà hắc thuật” ấy là đen một cách vô thức). |
|
431. It would seem that by the time the middle of the fifth round is reached, the Black Lodge will suffer a considerable defeat upon our planet—with three fifths of humanity upon the Path, and only those three fifths remaining for development on our planet. |
431. Dường như đến lúc giữa cuộc tuần hoàn thứ năm, Hắc đoàn sẽ chịu một thất bại đáng kể trên hành tinh chúng ta—với ba phần năm nhân loại ở trên Con Đường, và chỉ ba phần năm ấy còn lại để phát triển trên hành tinh chúng ta. |
|
The true significance of the three aspects of Spirit is only becoming apparent to the initiate of high degree, |
Ý nghĩa đích thực của ba phương diện của tinh thần chỉ mới trở nên hiển nhiên đối với điểm đạo đồ cấp cao, |
|
432. By the “three aspects of Spirit” do we mean, Will, Wisdom and Activity? |
432. Bởi “ba phương diện của tinh thần”, chúng ta có ý nói Ý Chí, Minh Triết và Hoạt Động chăng? |
|
[Page 526] and cannot be expressed in words, nor comprehended by man before he has passed out of the human kingdom into the spiritual. |
[Page 526] và không thể được diễn tả bằng lời, cũng không thể được con người thấu hiểu trước khi y đã vượt ra khỏi giới nhân loại để đi vào giới tinh thần. |
|
433. This would signify passage into the fifth kingdom of nature. Probably we are speaking of the state of those who are well-established within the fifth kingdom. A third degree initiate would be well established. |
433. Điều này sẽ có nghĩa là đi vào giới thứ năm của thiên nhiên. Có lẽ chúng ta đang nói đến trạng thái của những ai đã được thiết lập vững chắc trong giới thứ năm. Một điểm đạo đồ cấp ba sẽ được thiết lập vững chắc. |
|
Therefore, it is needless for us to pause here to consider it at greater length. |
Vì vậy, chúng ta không cần dừng lại ở đây để xem xét điều đó dài hơn nữa. |
|
We might sum up the matter in terms of the Old Commentary from which source H. P. B. quoted so often: |
Chúng ta có thể tóm lược vấn đề theo thuật ngữ của Cổ Luận, nguồn mà H. P. B. đã trích dẫn rất thường xuyên: |
|
“The Blessed Ones hide Their threefold nature, but reveal Their triple essence by means of the three great groups of atoms. Three are the atoms, and threefold the radiation. The inner core of fire hides itself and is known only through radiation and that which radiates. Only after the blaze dies out and the heat is no longer felt can the fire be known.” |
“Các Đấng Chân Phúc che giấu bản chất tam phân của Các Ngài, nhưng mặc khải tinh túy bộ ba của Các Ngài bằng ba nhóm nguyên tử lớn. Ba là các nguyên tử, và sự bức xạ cũng tam phân. Lõi lửa bên trong tự ẩn mình và chỉ được biết qua sự bức xạ và điều đang bức xạ. Chỉ sau khi ngọn lửa rực tắt đi và sức nóng không còn được cảm nhận nữa thì lửa mới có thể được biết.” |
|
434. Who are the “Blessed Ones”? When we studied Esoteric Psychology, Volume II, we determined that a “Blessed One” was a Monad. |
434. “Các Đấng Chân Phúc” là ai? Khi chúng ta nghiên cứu Tâm Lý Học Nội Môn, Tập II, chúng ta đã xác định rằng một “Đấng Chân Phúc” là một chân thần. |
|
435. We are speaking about a search for an “inner core of fire”. This is the fire of the “central positive life” which is only revealed after the consummatory conflagration which, in man, signifies the fourth initiation. |
435. Chúng ta đang nói về một cuộc tìm kiếm “lõi lửa bên trong”. Đây là lửa của “sự sống dương trung tâm”, chỉ được mặc khải sau cuộc đại hỏa hoạn hoàn tất, mà nơi con người, điều này biểu thị lần điểm đạo thứ tư. |
|
436. We could be speaking of the Three Persons of the Logoic Trinity as Blessed Ones. |
436. Chúng ta có thể đang nói về Ba Ngôi của Tam Vị Logoic như những Đấng Chân Phúc. |
|
437. It may also be wise to include the Three Buddha of Activity in our consideration. Certainly They are three “Blessed Ones”. |
437. Cũng có thể là khôn ngoan khi đưa Ba Đức Phật Hoạt Động vào sự xem xét của chúng ta. Chắc chắn Các Ngài là ba “Đấng Chân Phúc”. |
|
438. We could also be speaking of the three aspects of the Monad which express through three different types of human beings considered as “atoms”. |
438. Chúng ta cũng có thể đang nói về ba phương diện của chân thần, vốn biểu lộ qua ba loại người khác nhau được xem như những “nguyên tử”. |
|
439. In Rule XIII for Applicants we are to learn the “laws of that which radiates”. In the context of that Rule, “that which radiates” is reasonably the Monad. The “Jewel in the Lotus”, as the representative of the Monad (and the Monad, itself, is sometimes considered a “Jewel”) can also be considered as a “that which radiates”. |
439. Trong Quy luật XIII dành cho những người chí nguyện, chúng ta phải học “các định luật của cái phát xạ”. Trong ngữ cảnh của quy luật ấy, “cái phát xạ” có lý là chân thần. “Viên Ngọc trong Hoa Sen”, với tư cách là đại diện của chân thần (và bản thân chân thần đôi khi cũng được xem là một “Viên Ngọc”), cũng có thể được xem là một “cái phát xạ”. |
|
440. We might also be differentiating the three types of atoms (the members of the atomic triangle, for instance) that are found within any greater atom and how they all interplay during the process of release. Eventually, after the conflagration, the “inner core of fire” reveals itself. |
440. Chúng ta cũng có thể đang phân biệt ba loại nguyên tử (chẳng hạn các thành viên của tam giác nguyên tử) được tìm thấy trong bất kỳ nguyên tử lớn hơn nào và cách chúng cùng tương tác trong tiến trình giải thoát. Cuối cùng, sau cuộc đại hỏa hoạn, “lõi lửa bên trong” tự bộc lộ. |
|
441. The “inner core of fire” may be considered the “Jewel in the Lotus” in whatever type of atom is passing through the process of destruction. |
441. “Lõi lửa bên trong” có thể được xem là “Viên Ngọc trong Hoa Sen” trong bất kỳ loại nguyên tử nào đang đi qua tiến trình hủy diệt. |
|
442. The foregoing sections have not been easy of apprehension. It has seemed that DK has skipped about and has changed His perspective often—from macrocosmic to microcosmic and back again. This must mean that He has had something to convey which cannot be explicitly stated and which must rely upon the intuition for revelation. |
442. Những phần trên đây không dễ lĩnh hội. Có vẻ như Chân sư DK đã nhảy từ điểm này sang điểm khác và thường xuyên thay đổi phối cảnh của Ngài—từ đại thiên địa sang tiểu thiên địa rồi trở lại. Điều này hẳn có nghĩa là Ngài có điều gì đó cần truyền đạt mà không thể phát biểu minh nhiên và phải dựa vào trực giác để được mặc khải. |
|
443. Let us ponder. |
443. Chúng ta hãy suy ngẫm. |