Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến trang sách tương ứng trong TCF
TCF 526-536: S5S8
|
15-30 July 2007 |
15-30 tháng 7 năm 2007 |
|
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) |
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình giải xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện) |
|
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. |
Đề nghị rằng phần Bình Giải này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và chính cách trình bày cô đọng trong sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. |
|
We can now resume our consideration of the mystery of the mental unit, and note wherein it differs from the other permanent atoms; |
Giờ đây chúng ta có thể tiếp tục việc xem xét huyền nhiệm của đơn vị hạ trí, và lưu ý nó khác với các nguyên tử trường tồn khác ở điểm nào; |
|
1. We realize from reading the conclusion of Section 7 that we have been on quite an extensive digression. |
1. Từ việc đọc phần kết của Tiết 7, chúng ta nhận ra rằng chúng ta đã đi vào một sự lạc đề khá rộng. |
|
2. The mental unit is not a permanent atom in all respects. |
2. Đơn vị hạ trí không phải là một nguyên tử trường tồn về mọi phương diện. |
|
we might then briefly summarise a mass of esoteric information anent the permanent atoms, which will suffice for many years to come as the basis of investigation for occult students. The permanent atoms, and their internal economy, will remain a mystery for a long time, and only a few general indications can here be given. |
khi ấy chúng ta có thể ngắn gọn tóm lược một khối lượng thông tin huyền bí liên quan đến các nguyên tử trường tồn, đủ để làm nền tảng khảo cứu cho các đạo sinh huyền bí học trong nhiều năm tới. Các nguyên tử trường tồn, và cơ cấu nội tại của chúng, sẽ còn là một huyền nhiệm trong một thời gian dài, và ở đây chỉ có thể đưa ra một vài chỉ dẫn tổng quát. |
|
3. It is necessary that they so remain, as the secrets of the manipulation of matter are concealed in them, and for this knowledge humanity is not ready. |
3. Cần phải để chúng vẫn như vậy, vì các bí mật của việc vận dụng vật chất được che giấu trong chúng, và nhân loại chưa sẵn sàng cho tri thức này. |
|
4. Humanity is to place its emphasis upon the qualitative aspect—the second aspect, and not upon the material aspect. |
4. Nhân loại phải đặt trọng tâm vào phương diện phẩm tính —phương diện thứ hai, chứ không phải phương diện vật chất. |
|
The fundamental difference between the mental unit and the other two atoms consists in the fact that it contains only four spirillae instead of seven. This is brought about by the very facts of evolution itself, for the mental unit is the first aspect of the personality triad, or of man functioning, in the human kingdom on the three lower planes. |
Sự khác biệt căn bản giữa đơn vị hạ trí và hai nguyên tử kia nằm ở sự kiện rằng nó chỉ chứa bốn loa tuyến thay vì bảy. Điều này được tạo ra bởi chính các sự kiện của tiến hoá, vì đơn vị hạ trí là phương diện thứ nhất của tam phân phàm ngã, hay của con người đang hoạt động trong giới nhân loại trên ba cõi thấp. |
|
5. The fourfoldness of the permanent atom is related to the fourfoldness of the fourth or human kingdom. |
5. Tính tứ phân của nguyên tử trường tồn có liên hệ với tính tứ phân của giới thứ tư hay giới nhân loại. |
|
6. As the mental unit represents the first aspect of the personality triad it transmits also something of the will. |
6. Vì đơn vị hạ trí đại diện cho phương diện thứ nhất của tam phân phàm ngã, nó cũng truyền dẫn một phần nào ý chí. |
|
At his transference into the spiritual kingdom, |
Khi y chuyển dịch vào giới tinh thần, |
|
7. The transference begins at the first initiation and is completed by the fifth degree, or even the fourth. |
7. Sự chuyển dịch bắt đầu từ lần điểm đạo thứ nhất và hoàn tất vào cấp thứ năm, hoặc thậm chí cấp thứ tư. |
|
these three aspects—the mental body, the astral body, and the physical body—are synthesised into the higher by a dual process: |
ba phương diện này—thể trí, thể cảm dục, và thể xác—được tổng hợp vào cái cao hơn bằng một tiến trình kép: |
|
1. His polarisation shifts from out of the lower three atoms into the Triadal atoms. |
1. Sự phân cực của y chuyển từ ba nguyên tử thấp sang các nguyên tử Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
8. By polarisation, we mean focus and a sustained point of tension. |
8. Bởi sự phân cực, chúng ta muốn nói đến tiêu điểm và một điểm tập trung nhất tâm được duy trì. |
|
9. The lower vehicles fade from attention and the triadal vehicles serve now as the field of his consciousness. |
9. Các vận cụ thấp mờ dần khỏi sự chú ý và các vận cụ tam nguyên tinh thần giờ đây phục vụ như trường tâm thức của y. |
|
2. The force which these atoms generate and embody is merged and blended into the higher force points. [Page 527] |
2. Mãnh lực mà các nguyên tử này tạo ra và thể hiện được sáp nhập và hòa trộn vào các điểm mãnh lực cao hơn. [Page 527] |
|
10. Because of this process, nothing stored, remembered or transmuted by the lower permanent atoms and mental unit is lost. |
10. Vì tiến trình này, không điều gì được các nguyên tử trường tồn thấp và đơn vị hạ trí lưu giữ, ghi nhớ hay chuyển hoá bị mất đi. |
|
11. The greater can always subsume the lower; how this is done, of course, is to present day humanity a great mystery. |
11. Cái lớn hơn luôn có thể bao hàm cái thấp hơn; dĩ nhiên, cách điều này được thực hiện vẫn là một huyền nhiệm lớn đối với nhân loại ngày nay. |
|
12. We gather than in an understanding of the ‘sublimation of force’ the secret of the merging and blending will be revealed. |
12. Chúng ta hiểu rằng trong sự thấu hiểu về “sự thăng hoa của mãnh lực”, bí mật của sự sáp nhập và hòa trộn sẽ được mặc khải. |
|
A permanent atom is the positive nucleus or germ substance to the sheath wherein it is found. |
Một nguyên tử trường tồn là hạt nhân dương tính hay chất liệu mầm đối với lớp vỏ nơi nó được tìm thấy. |
|
13. “Germ substance” can either grow or cause growth. |
13. “Chất liệu mầm” hoặc có thể tăng trưởng hoặc có thể gây ra sự tăng trưởng. |
|
14. All things grow from something. The vehicles of man are created or gathered by the functions of the permanent atoms. |
14. Mọi sự đều tăng trưởng từ một cái gì đó. Các vận cụ của con người được tạo ra hoặc được tập hợp bởi các chức năng của những nguyên tử trường tồn. |
|
15. We remember that the permanent atom serves in relation to its sheath the function of the seventh principle. This means that it is likened to atma (usually considered the seventh principle in man) and, therefore, transmits the will. Essentially, it conveys a given monadic principle to its sheath. |
15. Chúng ta nhớ rằng nguyên tử trường tồn, trong liên hệ với lớp vỏ của nó, đảm nhiệm chức năng của nguyên khí thứ bảy. Điều này có nghĩa là nó được ví với atma (thường được xem là nguyên khí thứ bảy trong con người) và do đó truyền dẫn ý chí. Về bản chất, nó chuyển tải một nguyên khí chân thần nhất định đến lớp vỏ của nó. |
|
It is that which is the basis of form-building, and it is literally a vibrant point of force, emanating from the second aspect of the Monad, |
Nó là cái làm nền tảng cho việc kiến tạo hình tướng, và theo nghĩa đen nó là một điểm mãnh lực rung động, phátxạ từ phương diện thứ hai của chân thần, |
|
16. We remember that the permanent atom was created by the Monad at the Second Outpouring. |
16. Chúng ta nhớ rằng nguyên tử trường tồn được chân thần tạo ra trong lần Tuôn Đổ thứ Hai. |
|
17. Given that the Monad has for its three aspects Will, Wisdom and Activity, we can correlate the permanent atoms with the Wisdom aspect. |
17. Vì chân thần có ba phương diện là Ý Chí, Minh Triết và Hoạt Động, chúng ta có thể tương liên các nguyên tử trường tồn với phương diện Minh Triết. |
|
which aggregates to itself, and subsequently builds into form, the negative or third aspect. |
cái tự tập hợp quanh mình, rồi sau đó kiến tạo thành hình tướng, phương diện âm tính hay phương diện thứ ba. |
|
18. The permanent atom thus possesses the power of attraction (since it emanates from the second aspect of the Monad). |
18. Do đó nguyên tử trường tồn sở hữu quyền năng hấp dẫn (vì nó phát xạ từ phương diện thứ hai của chân thần). |
|
19. The second aspect is the form-building aspect. We see that the permanent atom is a form-builder (as well as form director and manipulator). It is as if the three major aspects of divinity pass through the permanent atom in relation to the sheath for which it stands at the apex of influence. |
19. Phương diện thứ hai là phương diện kiến tạo hình tướng. Chúng ta thấy rằng nguyên tử trường tồn là một đấng kiến tạo hình tướng (cũng như là kẻ chỉ đạo và vận dụng hình tướng). Dường như ba phương diện chính của thiên tính đi qua nguyên tử trường tồn trong liên hệ với lớp vỏ mà nó đứng ở đỉnh ảnh hưởng đối với lớp vỏ ấy. |
|
But it must here be remembered that this second aspect is itself dual, and that in considering the permanent atoms we are dealing with the feminine aspect of the second Person. |
Nhưng ở đây phải nhớ rằng chính phương diện thứ hai này tự nó là nhị phân, và rằng khi xem xét các nguyên tử trường tồn chúng ta đang đề cập đến phương diện nữ tính của Ngôi thứ hai. |
|
20. This is an important reminder. We can consider all the major three aspects as dual or even triple, but the duality of the second aspect is most frequently emphasized. For instance, we live in a dual second ray solar system, expressing the principles of both Love and Wisdom. |
20. Đây là một lời nhắc nhở quan trọng. Chúng ta có thể xem cả ba phương diện chính đều là nhị phân hay thậm chí tam phân, nhưng tính nhị nguyên của phương diện thứ hai được nhấn mạnh thường xuyên nhất. Chẳng hạn, chúng ta sống trong một hệ mặt trời cung hai kép, biểu lộ cả hai nguyên khí Bác ái và Minh Triết. |
|
21. The three aspects of the Monad are most frequently called Will, Wisdom and Activity, but why should they not be called Will, Love-Wisdom and Activity. |
21. Ba phương diện của chân thần thường được gọi là Ý Chí, Minh Triết và Hoạt Động, nhưng tại sao chúng không thể được gọi là Ý Chí, Bác Ái – Minh Triết và Hoạt Động. |
|
22. When comparing Love and Wisdom which holds place as representative of the second aspect? May we with justification say “Love”. We recall that when dividing the type of second ray souls, souls on the Wisdom line go to Shamballa, while the second type of second ray soul is associated with Love. |
22. Khi so sánh Bác ái và Minh Triết, cái nào giữ vị trí đại diện cho phương diện thứ hai? Chúng ta có thể có cơ sở để nói là “Bác ái”. Chúng ta nhớ rằng khi phân chia loại linh hồn cung hai, các linh hồn trên tuyến Minh Triết đi đến Shamballa, trong khi loại linh hồn cung hai thứ hai gắn liền với Bác ái. |
|
The spirillae therefore are but streams of force, or second aspect vitality which circulates geometrically within the circumscribing wall of substance, composed of third aspect force or substance. |
Do đó các loa tuyến chỉ là những dòng mãnh lực, hay sinh lực của phương diện thứ hai lưu chuyển theo hình học bên trong bức tường bao quanh của chất liệu, được cấu thành bởi mãnh lực hay chất liệu của phương diện thứ ba. |
|
23. Here is a clear, succinct definition of the spirillae and should be remembered. |
23. Đây là một định nghĩa rõ ràng, súc tích về các loa tuyến và cần được ghi nhớ. |
|
24. Vitality is that which causes animation of a kind directly related to the quality which the vitality represents. |
24. Sinh lực là cái gây ra một loại hoạt động trực tiếp liên hệ với phẩm tính mà sinh lực ấy đại diện. |
|
25. This type of vitality presumably forces the atom to cohere in a certain geometrical configuration. |
25. Loại sinh lực này hẳn là buộc nguyên tử phải kết dính trong một cấu hình hình học nhất định. |
|
26. We note that the streams of vitality circulate “within the circumscribing wall of substance”; they are bound or ‘self-bounding’. |
26. Chúng ta lưu ý rằng các dòng sinh lực lưu chuyển “bên trong bức tường bao quanh của chất liệu”; chúng bị ràng buộc hay ‘tự giới hạn’. |
|
27. We may draw the conclusion that this type of vitality (at least) is a force for coherence holding all constituents of any system in relationship. |
27. Chúng ta có thể rút ra kết luận rằng loại sinh lực này (ít nhất là vậy) là một mãnh lực kết dính, giữ mọi thành phần của bất kỳ hệ thống nào trong tương quan với nhau. |
|
What has been said of objectivity, or of the cosmic atom can be equally well predicated of the permanent atom of man the microcosm: |
Điều đã được nói về tính khách quan, hay về nguyên tử vũ trụ, cũng có thể được áp dụng tương tự cho nguyên tử trường tồn của con người, tiểu thiên địa: |
|
28. There is an analogy between the structure of all atoms and what is said of the spirillae in one type of atom has parallels in relation to other types of atoms. |
28. Có một sự tương đồng giữa cấu trúc của mọi nguyên tử, và điều được nói về các loa tuyến trong một loại nguyên tử có những song hành liên hệ với các loại nguyên tử khác. |
|
“The primordial ray is the vehicle of the divine Ray.”72 [S.D., I, 108] |
“Tia nguyên sơ là vận cụ của Tia thiêng liêng.”72 [S.D., I, 108] |
|
29. The “Primordial Ray”, we remember, is the third ray and the “Divine Ray” the second. |
29. Chúng ta nhớ rằng “Tia Nguyên Sơ” là cung ba và “Tia Thiêng Liêng” là cung hai. |
|
Negative force forms a receptacle for positive force. Atoms are but force centres, and the centres as we know of them are but aggregates of force points which have reached a specific point in evolution, and are responding to the first great aspect in some degree, or to electric fire. |
Mãnh lực âm tính tạo thành một vật chứa cho mãnh lực dương tính. Các nguyên tử chỉ là những trung tâm mãnh lực, và các trung tâm như chúng ta biết chỉ là những tập hợp các điểm mãnh lực đã đạt đến một điểm tiến hoá nhất định, và đang đáp ứng với phương diện lớn thứ nhất ở một mức độ nào đó, hay với Lửa Điện. |
|
30. Here we have an important definition. |
30. Ở đây chúng ta có một định nghĩa quan trọng. |
|
31. There is a distinction here between the “force centres” defined as atoms and the “centres” which are the chakras. The chakras are “aggregates of force points”. They are, of course, much larger than atoms. In a way, the force points within center are atoms. |
31. Ở đây có một sự phân biệt giữa “các trung tâm mãnh lực” được định nghĩa là các nguyên tử và “các trung tâm” là các luân xa. Các luân xa là những “tập hợp các điểm mãnh lực”. Dĩ nhiên, chúng lớn hơn các nguyên tử rất nhiều. Theo một nghĩa nào đó, các điểm mãnh lực bên trong trung tâm là các nguyên tử. |
|
32. There are also force points within atoms. In relation to the atoms of the cosmic physical plane, these force points have been called “bubbles in the koilon”. |
32. Cũng có những điểm mãnh lực bên trong các nguyên tử. Liên hệ với các nguyên tử của cõi hồng trần vũ trụ, các điểm mãnh lực này đã được gọi là “những bong bóng trong koilon”. |
|
33. The force points within the chakras, having reached a specific point of evolution (for atoms evolve) define the degree of evolution or unfoldment of the chakra. |
33. Các điểm mãnh lực bên trong các luân xa, sau khi đã đạt đến một điểm tiến hoá nhất định (vì các nguyên tử tiến hoá), xác định mức độ tiến hoá hay sự khai mở của luân xa. |
|
34. The evolution of the chakra depends upon the degree of evolution of its constituent force points and also upon type of geometrical relationship of those force points within the chakra. |
34. Sự tiến hoá của luân xa tùy thuộc vào mức độ tiến hoá của các điểm mãnh lực cấu thành nó và cũng tùy thuộc vào loại tương quan hình học của các điểm mãnh lực ấy bên trong luân xa. |
|
35. We recall that the chakras are really generated from the Monad and by monadic fire. It is no surprise to, then, to see that the atoms which comprise the force centres called chakras are responding in some measure to electric fire. |
35. Chúng ta nhớ rằng các luân xa thực sự được phát sinh từ chân thần và bởi lửa chân thần. Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi các nguyên tử cấu thành các trung tâm mãnh lực gọi là luân xa đáp ứng ở một mức độ nào đó với Lửa Điện. |
|
36. Earlier “second aspect vitality” was mentioned. Are we to suppose that each aspect of divinity expresses its own type of vitality? Can we consider vitality as the energy which carries out the purpose of any of the divine aspects? |
36. Trước đó đã nhắc đến “sinh lực của phương diện thứ hai”. Chúng ta có nên giả định rằng mỗi phương diện của thiên tính biểu lộ loại sinh lực riêng của nó không? Chúng ta có thể xem sinh lực là năng lượng thực hiện mục đích của bất kỳ phương diện thiêng liêng nào không? |
|
This sentence, is one to be seriously pondered, for it holds hid much information for the student, and when duly comprehended will result in the light of knowledge being shed upon the problems of manifestation. |
Câu này là một câu cần được suy ngẫm nghiêm túc, vì nó ẩn chứa nhiều thông tin cho đạo sinh, và khi được thấu hiểu đúng mức sẽ khiến ánh sáng tri thức được rọi chiếu lên các vấn đề của sự biểu hiện. |
|
37. The Tibetan has the rare ability to compress much information into a few words. |
37. Chân sư Tây Tạng có khả năng hiếm có là nén rất nhiều thông tin vào trong ít lời. |
|
38. In order for the manifestation of form to occur, the tiny force points called atoms must be brought into a specific relationship and forced to cohere in that relationship. |
38. Để sự biểu hiện của hình tướng có thể xảy ra, những điểm mãnh lực nhỏ bé gọi là nguyên tử phải được đưa vào một tương quan nhất định và bị buộc phải kết dính trong tương quan ấy. |
|
39. Can we say then that there is no manifestation without geometrization? |
39. Vậy chúng ta có thể nói rằng không có biểu hiện nào mà không có sự hình học hóa chăng? |
|
40. The tiniest unit in this ‘manifestational geometrization’ is the bubble in the koilon. |
40. Đơn vị nhỏ nhất trong “sự hình học hóa của biểu hiện” này là bong bóng trong koilon. |
|
It concerns the secret of the position of the different kingdoms of nature within the logoic body, and their place and part, for all depends upon the type of force which animates, upon the interplay of that force in substance, upon the dual, triple, or united aspect of force, and upon its septenary demonstration in form-building. |
Điều này liên quan đến bí mật về vị trí của các giới khác nhau trong thiên nhiên bên trong thể của Thượng đế hành tinh, và về chỗ đứng cùng vai trò của chúng, vì tất cả đều tùy thuộc vào loại mãnh lực làm sinh động, vào sự tương tác của mãnh lực ấy trong chất liệu, vào phương diện nhị phân, tam phân, hay hợp nhất của mãnh lực, và vào sự biểu lộ thất phân của nó trong việc kiến tạo hình tướng. |
|
41. We have here a remarkably synthetic sentence. |
41. Ở đây chúng ta có một câu mang tính tổng hợp đáng chú ý. |
|
42. We might say that the higher the kingdom, the greater the tendency of the aggregated force points in any chakra to respond to electric fire. |
42. Chúng ta có thể nói rằng giới càng cao thì xu hướng của các điểm mãnh lực được tập hợp trong bất kỳ luân xa nào đáp ứng với Lửa Điện càng lớn. |
|
43. For clarity, let us tabulate that which the sentence under discussion concerns: |
43. Để rõ ràng, chúng ta hãy lập bảng về điều mà câu đang được bàn đến liên quan tới: |
|
a. It concerns the secret of the position of the different kingdoms of nature within the logoic body |
a. Nó liên quan đến bí mật về vị trí của các giới khác nhau trong thiên nhiên bên trong thể của Thượng đế hành tinh |
|
b. It concerns the place and part of these kingdoms within the logoic body |
b. Nó liên quan đến chỗ đứng và vai trò của các giới này bên trong thể của Thượng đế hành tinh |
|
44. We are being told that position, place and part all depend upon: |
44. Chúng ta được cho biết rằng vị trí, chỗ đứng và vai trò đều tùy thuộc vào: |
|
a. The type of force which animates |
a. Loại mãnh lực làm sinh động |
|
b. The interplay of that force in substance |
b. Sự tương tác của mãnh lực ấy trong chất liệu |
|
c. The dual, triple or united aspect of force |
c. Phương diện nhị phân, tam phân hay hợp nhất của mãnh lực |
|
d. Upon the septenary demonstration of force in form building |
d. Sự biểu lộ thất phân của mãnh lực trong việc kiến tạo hình tướng |
|
45. Kingdoms are as chakras or complex force centers. Every form of life is as a wheel or sphere. Kingdoms, too, are as chakras. The differences between the kingdoms depend upon their internal organization and their internal organization depends upon the organization of the force points with constitute them. |
45. Các giới cũng như các luân xa hay các trung tâm mãnh lực phức hợp. Mọi hình thái sự sống đều như một bánh xe hay một khối cầu. Các giới cũng vậy, cũng như các luân xa. Những khác biệt giữa các giới tùy thuộc vào tổ chức nội tại của chúng, và tổ chức nội tại ấy tùy thuộc vào sự tổ chức của các điểm mãnh lực cấu thành chúng. |
|
46. In any kingdom (or in any chakra) three types of force animate, but they animate in different proportions depending upon the position, place, or part to be played by that kingdom. |
46. Trong bất kỳ giới nào (hay trong bất kỳ luân xa nào), ba loại mãnh lực làm sinh động, nhưng chúng làm sinh động theo những tỷ lệ khác nhau tùy thuộc vào vị trí, chỗ đứng hay vai trò mà giới ấy phải đảm nhiệm. |
|
47. We might say that in all of creation there is nothing but spheres of life variously organized. |
47. Chúng ta có thể nói rằng trong toàn thể sáng tạo không có gì ngoài những khối cầu sự sống được tổ chức theo nhiều cách khác nhau. |
|
48. We also note a focus on two types of forces: animating force and substantial force, for substance, too is force—substantial force. |
48. Chúng ta cũng lưu ý đến sự tập trung vào hai loại mãnh lực: mãnh lực làm sinh động và mãnh lực chất liệu, vì chất liệu cũng là mãnh lực—mãnh lực chất liệu. |
|
Every atom is a focal point of force, the force of substance itself, the life or vitality of the third aspect, the [Page 528] life of that cosmic Entity Who is to the Logos the negative aspect of electricity. |
Mỗi nguyên tử là một tiêu điểm của mãnh lực, mãnh lực của chính chất liệu, sự sống hay sinh lực của phương diện thứ ba, sự [Page 528] sống của Thực Thể vũ trụ mà đối với Thượng đế thì là phương diện âm tính của điện lực. |
|
39. We seem to be speaking again only of the tiny atoms of substance. |
39. Dường như ở đây chúng ta lại chỉ đang nói về những nguyên tử nhỏ bé của chất liệu. |
|
40. The important point to be gathered is that atoms are not so much ‘things’ as points of force. |
40. Điểm quan trọng cần nắm là các nguyên tử không phải là những ‘vật’ cho bằng là những điểm mãnh lực. |
|
41. We might define force as ‘the presence of a god’. Vitality is the power to effect change. “Force” and “vitality” are such commonly used words that we need to be clear about the definition of these terms; and, yet, this is not easy, for they stand for deep occult processes about which we really have very little idea. |
41. Chúng ta có thể định nghĩa mãnh lực là ‘sự hiện diện của một vị thần’. Sinh lực là quyền năng tạo ra sự thay đổi. “Mãnh lực” và “sinh lực” là những từ được dùng rất phổ biến đến mức chúng ta cần phải rõ về định nghĩa của các thuật ngữ này; tuy nhiên điều đó không dễ, vì chúng tượng trưng cho những tiến trình huyền bí sâu xa mà thực sự chúng ta biết rất ít. |
|
42. From the statements in this section of text it is confirmed that every aspect of divinity has its own form of vitality. |
42. Từ các phát biểu trong phần văn bản này, điều được xác nhận là mỗi phương diện của thiên tính đều có hình thức sinh lực riêng của nó. |
|
43. Substance is force—force of a certain kind. |
43. Chất liệu là mãnh lực—mãnh lực của một loại nhất định. |
|
44. Through every atom of substance the life of a great Entity is potently present. |
44. Qua mỗi nguyên tử của chất liệu, sự sống của một Thực Thể vĩ đại hiện diện một cách mạnh mẽ. |
|
45. In this case, that great Entity is Brahma, embodying (in relation to the Logos) the negative aspect of electricity. |
45. Trong trường hợp này, Thực Thể vĩ đại ấy là Brahma, hiện thân (trong liên hệ với Thượng đế) của phương diện âm tính của điện lực. |
|
46. That which is negative is attracted to that which is positive. That which is negative is more acted upon than acting. |
46. Cái âm tính bị hút về cái dương tính. Cái âm tính bị tác động nhiều hơn là tác động lên. |
|
Every form73 and aggregate of atoms, is simply a force centre produced by the action of positive force and its interaction with negative energy. |
Mọi hình tướng73 và mọi tập hợp nguyên tử, đơn giản chỉ là một trung tâm mãnh lực được tạo ra bởi tác động của mãnh lực dương tính và sự tươngtác của nó với năng lượng âm tính. |
|
49. It is important to grasp that every form is simply an aggregate of atoms and must be considered as a “force center” |
49. Điều quan trọng cần nắm là mọi hình tướng chỉ đơn giản là một tập hợp các nguyên tử và phải được xem như một “trung tâm mãnh lực” |
|
50. A form cannot exist unless positive force has interplayed with negative energy. No form can come into existence unless this interplay has occurred. |
50. Một hình tướng không thể tồn tại trừ khi mãnh lực dương tính đã tương tác với năng lượng âm tính. Không hình tướng nào có thể xuất hiện nếu sự tương tác này chưa xảy ra. |
|
51. Here DK reverse His usual method of utilizing terms. Usually “force” is considered negative in relation to “energy”. But the use of these terms is not entirely consistent, and here “force” is deemed positive and “energy” negative. |
51. Ở đây Chân sư DK đảo ngược phương pháp dùng thuật ngữ thông thường của Ngài. Thông thường “mãnh lực” được xem là âm tính so với “năng lượng”. Nhưng việc dùng các thuật ngữ này không hoàn toàn nhất quán, và ở đây “mãnh lực” được xem là dương tính còn “năng lượng” là âm tính. |
|
52. When attempting, in general, to distinguish between the uses of the terms “force” and “energy”, “energy” is usually ‘higher’ and “force” is the specific, focused application of “energy”. But as said, no entire consistency in the use of these terms is easy to discern. |
52. Khi cố gắng, nói chung, phân biệt cách dùng các thuật ngữ “mãnh lực” và “năng lượng”, “năng lượng” thường là cái ‘cao hơn’ còn “mãnh lực” là sự áp dụng chuyên biệt, tập trung của “năng lượng”. Nhưng như đã nói, không dễ nhận ra một sự nhất quán hoàn toàn trong việc dùng các thuật ngữ này. |
|
53. The point to grasp in all this is that the formation of all forms depends upon the interaction of positive and negative electricity. Form arises through the process of “birth” (generally considered) and all birth presupposed this positive/negative interplay. |
53. Điểm cần nắm trong tất cả điều này là sự hình thành của mọi hình tướng tùy thuộc vào sự tương tác của điện lực dương tính và âm tính. Hình tướng phát sinh qua tiến trình “sinh ra” (theo nghĩa thông thường), và mọi sự sinh ra đều giả định trước sự tương tác dương/âm này. |
|
It is the vitality of the second aspect working in conjunction with the third, |
Đó là sinh lực của phương diện thứ hai hoạt động kết hợp với phương diện thứ ba, |
|
54. A form exists when the vitality of the second aspect (the producer of coherence) works in conjunction with the third aspect (the force of negative electricity). |
54. Một hình tướng tồn tại khi sinh lực của phương diện thứ hai (cái tạo ra sự kết dính) hoạt động kết hợp với phương diện thứ ba (mãnh lực của điện lực âm tính). |
|
55. We might say that in order for the vitality of the second aspect to engage with the third aspect, impulsion from the first aspect is necessary. |
55. Chúng ta có thể nói rằng để sinh lực của phương diện thứ hai gắn kết với phương diện thứ ba, cần có sự thúc đẩy từ phương diện thứ nhất. |
|
56. Clearly, we are dealing (in the simplest terms) with the fundamental mysteries of creation and manifestation. |
56. Rõ ràng, chúng ta đang đề cập đến (theo những thuật ngữ đơn giản nhất) các huyền nhiệm căn bản của sáng tạo và biểu hiện. |
|
and producing—in time and space—that illusion or maya which temporarily blazes forth, |
và tạo ra—trong thời gian và không gian—ảo tưởng hay ảo lực ấy, cái tạm thời bùng cháy lên, |
|
57. An ‘appearance’ is a temporary blazing forth. |
57. Một ‘sắc tướng’ là một sự bùng cháy lên tạm thời. |
|
58. Forms are illusions or mayas. |
58. Các hình tướng là những ảo tưởng hay ảo lực. |
|
59. We remember that the deva aspect is particularly associated with form-building, and devic manifestation is particularly a combination of third and second aspect forces. |
59. Chúng ta nhớ rằng phương diện thiên thần đặc biệt gắn liền với việc kiến tạo hình tướng, và sự biểu hiện thiên thần đặc biệt là sự kết hợp của các mãnh lực phương diện thứ ba và thứ hai. |
|
and attracts attention, |
và thu hút sự chú ý, |
|
60. Consciousness notices this temporary blazing forth. |
60. Tâm thức nhận biết sự bùng cháy lên tạm thời này. |
|
creating the impression that matter is a concrete something. |
tạo ra ấn tượng rằng vật chất là một cái gì đó cụ thể. |
|
61. DK is trying to convey to us how the illusion of concrete form (very real to our usual type of consciousness) arises. |
61. Chân sư DK đang cố truyền đạt cho chúng ta cách mà ảo tưởng về hình tướng cụ thể (rất thực đối với loại tâm thức thông thường của chúng ta) phát sinh. |
|
62. The impression in consciousness of which we are speaking is an illusion. There is no “concrete something”, only a seeming that there is. |
62. Ấn tượng trong tâm thức mà chúng ta đang nói đến là một ảo tưởng. Không có “một cái gì đó cụ thể”, chỉ có vẻ như là có. |
|
63. DK is here dealing with important philosophical, metaphysical points. |
63. Ở đây Chân sư DK đang đề cập đến những điểm triết học, siêu hình học quan trọng. |
|
There is no such thing as concretion in reality; |
Trong thực tại không có cái gọi là sự kết đặc; |
|
64. This is a vital statement. We live constantly amidst impressions-in-consciousness that are ‘concretions’. These impressions are phenomena of consciousness, caused by the temporary aggregations of formative forces appearing to consciousness in a manner other than they really are (i.e., other than they would appear to a consciousness able clearly to detect the minute processes responsible for formation). |
64. Đây là một phát biểu thiết yếu. Chúng ta sống liên tục giữa những ấn tượng-trong-tâm thức vốn là những ‘sự kết đặc’. Những ấn tượng này là các hiện tượng của tâm thức, do những tập hợp tạm thời của các mãnh lực tạo hình gây ra, xuất hiện trước tâm thức theo một cách khác với điều chúng thực sự là (tức là khác với cách chúng sẽ xuất hiện trước một tâm thức có thể nhận ra rõ ràng các tiến trình vi tế chịu trách nhiệm cho sự tạo thành). |
|
[Page 529] there is only force of different kinds, and the effect produced on consciousness by their interplay. |
[Page 529] chỉ có mãnh lực thuộc những loại khác nhau, và hiệu quả được tạo ra trên tâmthức bởi sự tương tác của chúng. |
|
47. This is a profound statement concerning the nature of reality. What is there? What is there not? That which is conceived as real is not real. Reality is something other. |
47. Đây là một phát biểu sâu sắc liên quan đến bản chất của thực tại. Có cái gì là ở đó? Có cái gì không ở đó? Điều được quan niệm là thực thì không thực. Thực tại là một cái gì khác. |
|
48. Below we have a number of fundamental statements concerning Spirit, form and matter. In general they concern the process of creation or manifestation. |
48. Dưới đây chúng ta có một số phát biểu căn bản liên quan đến Tinh thần, hình tướng và vật chất. Nói chung, chúng liên quan đến tiến trình sáng tạo hay biểu hiện. |
|
FOOTNOTE 73 |
CHÚ THÍCH 73 |
|
Forms. |
Các hình tướng. |
|
1. Divine ideation passes from the abstract to the concrete or visible form. |
1. Ý niệm thiêng liêng đi từ trừu tượng đến hình tướng cụ thể hay khả kiến. |
|
49. Apparent concretions are ideas (or thoughts) in manifestation. What we call the various macrocosms in which we live and move and have our being are caused by divine ideation. |
49. Những sự kết đặc biểu kiến là các ý tưởng (hay tư tưởng) trong biểu hiện. Điều mà chúng ta gọi là các đại thiên địa khác nhau, trong đó chúng ta sống, vận động và hiện hữu, đều do ý niệm thiêng liêng gây ra. |
|
a. The objective is an emanation of the subjective.—S. D., I, 407. |
a. Cái khách quan là một phát xạ của cái chủ quan.—S. D., I, 407. |
|
50. We live in a world of effects. |
50. Chúng ta sống trong một thế giới của các hiệu quả. |
|
b. Impulse is spirit energy causing objectivity.—S. D., I, 349; S. D., I, 683. |
b. Xung lực là năng lượng tinh thần gây ra tính khách quan.—S. D., I, 349; S. D., I, 683. |
|
51. “Being descends to manifest.”(cf. the Six Formulas which are the “seed of all philosophies”, DINA II 284) |
51. “Bản thể giáng xuống để biểu hiện.” (xem Sáu Công Thức là “hạt giống của mọi triết học”, DINA II 284) |
|
c. The Logos renders objective a concealed thought.—S. D., II, 28. |
c. Thượng đế làm cho một tư tưởng ẩn kín trở nên khách quan.—S. D., II, 28. |
|
52. This is true of every type of self-cons creator including man. |
52. Điều này đúng với mọi loại đấng sáng tạo có ngã thức, kể cả con người. |
|
2. Three things required before any form of energy can become objective.—S. D., I, 89. |
2. Cần có ba điều trước khi bất kỳ hình thức năng lượng nào có thể trở nên khách quan.—S. D., I, 89. |
|
1. Privation Separation. Initial impulse. Energy. Will. |
1. Sự thiếu vắng Sự tách biệt. Xung lực ban đầu. Năng lượng. Ý chí. |
|
2. Form Quality or shape. Nature. Love. |
2. Hình tướng Phẩm tính hay hình dạng. Bản chất. Bác ái. |
|
3. Matter Objective sphere. Intelligent activity. |
3. Vật chất Lĩnh vực khách quan. Hoạt động thông tuệ. |
|
See S. D., III, 561. |
Xem S. D., III, 561. |
|
53. We note the important distinction between form and matter. Form pertains to the second aspect and matter to the third. |
53. Chúng ta lưu ý sự phân biệt quan trọng giữa hình tướng và vật chất. Hình tướng thuộc về phương diện thứ hai và vật chất thuộc về phương diện thứ ba. |
|
54. Idea is related to purpose and to the form which embodies it. |
54. Ý tưởng liên hệ với mục đích và với hình tướng thể hiện nó. |
|
55. The first aspect is represented by (apparently) formless impulse, yet the ‘idea of form’ must be inherent to the impulse. |
55. Phương diện thứ nhất được biểu hiện bằng xung lực vô tướng (dường như vậy), tuy nhiên “ý tưởng về hình tướng” hẳn phải vốn có trong xung lực ấy. |
|
3. Life precedes form.–S. D., I, 242. |
3. Sự sống có trước hình tướng.–S. D., I, 242. |
|
56. This is a fundamental statement in occultism. |
56. Đây là một phát biểu nền tảng trong huyền bí học. |
|
a. The Thinker ever remains.—S. D., II, 28. |
a. Đấng Tư Tưởng luôn luôn còn lại.—S. D., II, 28. |
|
57. This is, perhaps, a relative statement. For practical purposes the statement stands. |
57. Có lẽ đây là một phát biểu tương đối. Vì những mục đích thực tiễn, phát biểu này vẫn đứng vững. |
|
58. It is saying that the ‘conceiving life’ behind the form conceived existed before the form was created and will endure after the form is dissipated. The form-creator pre-exists and outlives the form created. |
58. Điều này nói rằng “sự sống thụ thai” đằng sau hình tướng được thụ thai đã hiện hữu trước khi hình tướng được tạo ra và sẽ tồn tại sau khi hình tướng bị làm tiêu tan. Đấng tạo hình có trước và sống lâu hơn hình tướng được tạo ra. |
|
b. Force of life is the transformation into energy of the thought of the Logos.—See S. D., III, 179. |
b. Mãnh lực của sự sống là sự chuyển đổi thành năng lượng của tư tưởng của Hành Tinh Thượng đế.—Xem S. D., III, 179. |
|
59. That which on our level we call “force” or “force of life” originated with “the thought of the Logos” or with “divine ideation”. |
59. Điều mà ở cấp độ của chúng ta chúng ta gọi là “mãnh lực” hay “mãnh lực của sự sống” bắt nguồn từ “tư tưởng của Hành Tinh Thượng đế” hay từ “ý niệm thiêng liêng”. |
|
60. We must ask the question, ‘How did divine ideation originate?’ |
60. Chúng ta phải đặt câu hỏi, “Ý niệm thiêng liêng đã phát sinh như thế nào?” |
|
61. In this statement, “force of life” and “energy” are not exactly the same. “Energy” pre-exists “force of life”. |
61. Trong phát biểu này, “mãnh lực của sự sống” và “năng lượng” không hoàn toàn giống nhau. “Năng lượng” có trước “mãnh lực của sự sống”. |
|
62. The hierarchy is somewhat as follows: |
62. Hệ cấp phần nào như sau: |
|
a. The thought of the Logos |
a. Tư tưởng của Hành Tinh Thượng đế |
|
b. Energy |
b. Năng lượng |
|
c. Force of Life |
c. Mãnh lực của Sự sống |
|
63. In another way “force of life” is being called an “energy”. |
63. Theo một cách khác, “mãnh lực của sự sống” đang được gọi là một “năng lượng”. |
|
4. Spirit evolves through form and out of form.–S. D., I, 680. |
4. Tinh thần tiến hoá qua hình tướng và ra khỏi hình tướng.–S. D., I, 680. |
|
a. Spirit has to acquire full self-consciousness.—S. D., I, 215. |
a. Tinh thần phải đạt được ngã thức trọn vẹn.—S. D., I, 215. |
|
64. We might call this the acquisition of partial consciousness or multiple forms of differentiated consciousness. Spirit already has consciousness of Wholeness (i.e., of itself as a whole). What is lacks is a specified reduction of itself. |
64. Chúng ta có thể gọi đây là sự đạt được tâm thức bộ phận hay nhiều hình thức tâm thức biến phân. Tinh thần đã có sẵn tâm thức về Toàn Thể (tức là, về chính nó như một toàn thể). Điều nó thiếu là một sự giảm thiểu được xác định của chính nó. |
|
b. Form imprisons spirit.—S. D., II, 775. |
b. Hình tướng giam hãm tinh thần.—S. D., II, 775. |
|
65. Yet it is the will of Spirit that this be so. Form could not exist without the purposeful impulsion of Spirit. |
65. Tuy nhiên, đó là ý chí của Tinh thần khiến điều này là như vậy. Hình tướng không thể tồn tại nếu không có xung lực có mục đích của Tinh thần. |
|
66. Form is Spirit. Spirit willingly imprisons itself in that which seems to be less than itself but, essentially, is not. |
66. Hình tướng là Tinh thần. Tinh thần tự nguyện giam hãm chính nó trong điều dường như thấp kém hơn chính nó nhưng, về bản chất, thì không phải vậy. |
|
c. The principle of limitation is form.—S. D., III, 561. |
c. Nguyên khí của sự giới hạn là hình tướng.—S. D., III, 561. |
|
67. In our solar system, form, therefore, must be directly related to the planet Saturn which is the planet of limitation. |
67. Vì vậy, trong hệ mặt trời của chúng ta, hình tướng hẳn phải liên hệ trực tiếp với hành tinh Sao Thổ, là hành tinh của sự giới hạn. |
|
68. Form is incomplete focus. It is divine consciousness beholding but a fragment of itself. Form cannot exist independently of an act of perception—really Self-perception. |
68. Hình tướng là sự tập trung không trọn vẹn. Nó là tâm thức thiêng liêng chỉ nhìn thấy một mảnh đoạn của chính nó. Hình tướng không thể tồn tại độc lập với một hành vi tri giác—thật ra là sự tri giác về Bản Ngã. |
|
69. Spirit is always more than that part of itself it perceives as form. |
69. Tinh thần luôn luôn lớn hơn phần của chính nó mà nó tri giác như hình tướng. |
|
d. Spirit informs all sheaths.—S. D., I, 669 note. |
d. Tinh thần thấm nhuần mọi thể.—S. D., I, 669 ghi chú. |
|
70. Spirit is never elsewhere but always present. It is the Presence. |
70. Tinh thần không bao giờ ở nơi khác mà luôn luôn hiện diện. Nó là Hiện Diện. |
|
e. Spirit passes through the cycle of Being.—S. D., I, 160. |
e. Tinh thần đi qua chu kỳ của Bản Thể.—S. D., I, 160. |
|
71. Should we cal this the “cycle of Existence”? Being and Existence should, perhaps, be differentiated. |
71. Chúng ta có nên gọi đây là “chu kỳ của Hiện Hữu” không? Có lẽ nên phân biệt giữa Bản Thể và Hiện Hữu. |
|
5. The devas are the origin of form.–S. D., I, 488. |
5. Các thiên thần là nguồn gốc của hình tướng.–S. D., I, 488. |
|
72. The devas are that aspect of divinity which provides objectivity. |
72. Các thiên thần là phương diện của thiên tính cung cấp tính khách quan. |
|
They exist in two great groups: |
Các vị tồn tại trong hai nhóm lớn: |
|
a. The Ahhi are the vehicle of divine thought.—S. D., I, 70. |
a. Các Ahhi là vận cụ của tư tưởng thiêng liêng.—S. D., I, 70. |
|
73. The Ahhi are of a higher order than the Army of the Voice. The Ahhi are those great energy streams which impress upon lesser substance the possibility that divine thought may be embodied in that lesser substance. |
73. Các Ahhi thuộc một trật tự cao hơn Đạo Quân của Tiếng Nói. Các Ahhi là những dòng năng lượng lớn lao áp đặt lên chất liệu thấp hơn khả năng để tư tưởng thiêng liêng có thể được thể hiện trong chất liệu thấp hơn ấy. |
|
b. The Army of the Voice.—S. D., I, 124. |
b. Đạo Quân của Tiếng Nói.—S. D., I, 124. |
|
74. Yet the Army of the Voice exists also in its higher expression and conveys the Divine Will. |
74. Tuy nhiên, Đạo Quân của Tiếng Nói cũng tồn tại trong biểu hiện cao hơn của nó và chuyển tải Ý Chí thiêng liêng. |
|
75. It may be that we should relate the Army of the Voice more to the third aspect of divinity (as it is influence by the first) and the Ahhi to the second aspect. |
75. Có thể là chúng ta nên liên hệ Đạo Quân của Tiếng Nói nhiều hơn với phương diện thứ ba của thiên tính (vì nó chịu ảnh hưởng của phương diện thứ nhất) và Ahhi với phương diện thứ hai. |
|
They are the sum-total of the substance of the four higher planes and of the three lower. |
Các vị là tổng thể của chất liệu của bốn cõi cao và của ba cõi thấp. |
|
76. The Tibetan’s description of the location and focus of the Army of the Voice differs somewhat from this statement, and positions certain members of the Army on the cosmic ethers. |
76. Mô tả của Chân sư Tây Tạng về vị trí và tiêu điểm của Đạo Quân của Tiếng Nói có phần khác với phát biểu này, và đặt một số thành viên của Đạo Quân trên các dĩ thái vũ trụ. |
|
77. The following is that statement of the Tibetan’s which seems to differ from that which is here stated from the Secret Doctrine: |
77. Sau đây là phát biểu của Chân sư Tây Tạng dường như khác với điều được nêu ở đây từ Giáo Lý Bí Nhiệm: |
|
These particular devas in “their serried ranks” are the directive agents of the divine energy which implements the purposes of Deity upon the physical plane. They work only on etheric levels—either upon our physical plane or on the cosmic etheric levels. They are therefore active in the realm of maya, which is the etheric plane as we usually understand it, or upon the planes of the Spiritual Triad. They are not active on the three gross physical levels or upon the astral or mental planes, nor are they active upon the highest or logoic plane. There they are implicit or latent but not active. They are the great “impulsive factors” in manifestation, organising substance, directing the multiplicity of lives and beings who constitute the forms through which God expresses divinity. In a peculiar sense, they are the embodiment of the divine purpose upon the planes of the Monad and of the Triad, just as the aggregate of energies in man’s etheric body is the result of his inner direction and the cause of his outer manifestation. To understand more fully the function of the deva forces, a man must arrive at some understanding of the forces in his etheric body which, in their turn, are the consequence of his point of attainment—an attainment demonstrated by his astral (emotional) and mental natures and activities. These indicate his point of development. (R&I 179) |
Những thiên thần đặc biệt này trong “hàng ngũ dày đặc” của các vị là các tác nhân chỉ đạo của năng lượng thiêng liêng, năng lượng thực hiện các mục đích của Thượng đế trên cõi hồng trần. Các vị chỉ hoạt động trên các cấp độ dĩ thái—hoặc trên cõi hồng trần của chúng ta hoặc trên các cấp độ dĩ thái vũ trụ. Vì vậy, các vị hoạt động trong lĩnh vực của ảo lực, tức là cõi dĩ thái như chúng ta thường hiểu, hoặc trên các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần. Các vị không hoạt động trên ba cấp độ hồng trần thô nặng, cũng không trên các cõi cảm dục hay trí tuệ, và cũng không hoạt động trên cõi cao nhất hay cõi logoic. Tại đó các vị hàm ẩn hay tiềm tàng nhưng không hoạt động. Các vị là những “nhân tố xung động” lớn lao trong biểu hiện, tổ chức chất liệu, chỉ đạo vô số sự sống và hữu thể cấu thành các hình tướng qua đó Thượng đế biểu lộ thiên tính. Theo một ý nghĩa đặc biệt, các vị là hiện thân của mục đích thiêng liêng trên các cõi của chân thần và của Tam nguyên tinh thần, cũng như tổng thể các năng lượng trong thể dĩ thái của con người là kết quả của sự chỉ đạo bên trong của y và là nguyên nhân của biểu hiện bên ngoài của y. Muốn hiểu đầy đủ hơn chức năng của các mãnh lực thiên thần, con người phải đạt đến một mức thấu hiểu nào đó về các mãnh lực trong thể dĩ thái của mình; đến lượt chúng, các mãnh lực ấy là hệ quả của điểm thành tựu của y—một thành tựu được chứng tỏ bởi bản chất và hoạt động cảm dục (cảm xúc) và trí tuệ của y. Những điều này cho thấy điểm phát triển của y. (R&I 179) |
|
78. The Secret Doctrine seems to suggest that the Army of the Voice are active as substance on all the seven planes. |
78. Giáo Lý Bí Nhiệm dường như gợi ý rằng Đạo Quân của Tiếng Nói hoạt động như chất liệu trên mọi cõi trong bảy cõi. |
|
79. Are the Ahhi not to be considered substantial but, rather, only vital—i.e., animating Carriers of life and purpose. |
79. Chẳng lẽ Ahhi không nên được xem là có tính chất liệu mà đúng hơn chỉ là sinh động—tức là, những Đấng Mang sự sống và mục đích có tính linh hoạt? |
|
80. Whether these two categories of devas are active on cosmic planes higher than the cosmic physical plane we are in no position to know (but we may infer by analogy that their higher correspondences are). |
80. Liệu hai loại thiên thần này có hoạt động trên các cõi vũ trụ cao hơn cõi hồng trần vũ trụ hay không thì chúng ta không ở vị thế để biết (nhưng theo định luật tương đồng, chúng ta có thể suy ra rằng các đối ứng cao hơn của chúng là có). |
|
6. There is a form which combines all forms.—S. D., I, 118. |
6. Có một hình tướng kết hợp mọi hình tướng.—S. D., I, 118. |
|
See S. D., I, 77. |
Xem S. D., I, 77. |
|
81. This is the great Form of God which was beheld by Arjuna under the inspiration of Krishna in the Bhagavad Gita. |
81. Đây là Đại Hình Tướng của Thượng đế mà Arjuna đã chiêm ngưỡng dưới cảm hứng của Krishna trong Bhagavad Gita. |
|
This Form is the sum-total of all that is manifested, or the entire solar sphere or system. |
Hình Tướng này là tổng thể của tất cả những gì được biểu hiện, hay toàn bộ khối cầu thái dương hoặc hệ thống thái dương. |
|
82. The solar system is for practical purposes the “form which combines all forms”, though this is naturally a limited idea. The one and only Universe (whatever it really is) is really that Form. |
82. Vì những mục đích thực tiễn, hệ mặt trời là “hình tướng kết hợp mọi hình tướng”, dù dĩ nhiên đây là một ý tưởng có giới hạn. Vũ trụ duy nhất và độc nhất (dù thực sự nó là gì) mới thật sự là Hình Tướng ấy. |
|
83. Below we are looking at all the many forms contained within the one greater Form. |
83. Dưới đây chúng ta đang xem xét tất cả nhiều hình tướng được chứa trong một Đại Hình Tướng. |
|
This contains: |
Điều này bao gồm: |
|
a. The ten planetary schemes and all that is therein. |
a. Mười hệ hành tinh và mọi sự trong đó. |
|
84. The enumeration here must be questioned. There are also (from a quite common perspective) twelve planetary schemes and, really, many more, but in terms of a fundamental perfection, all the many may be considered combined into ten. These ten would be comprised of the three synthesizing schemes and seven others. |
84. Sự liệt kê ở đây cần được đặt vấn đề. Cũng có (từ một quan điểm khá thông thường) mười hai hệ hành tinh và, thật ra, còn nhiều hơn nữa, nhưng xét theo một sự toàn hảo căn bản, tất cả số nhiều ấy có thể được xem là kết hợp thành mười. Mười hệ này sẽ gồm ba hệ tổng hợp và bảy hệ khác. |
|
85. We realize that enumerations relating to a given system are always changing, depending upon the point of view from which that system is regarded. |
85. Chúng ta nhận ra rằng các sự liệt kê liên quan đến một hệ thống nhất định luôn thay đổi, tùy thuộc vào quan điểm từ đó hệ thống ấy được nhìn nhận. |
|
b. All the lesser interplanetary bodies. |
b. Tất cả các thiên thể liên hành tinh nhỏ hơn. |
|
86. By the use of the word “interplanetary” there is the implication that such bodies occur ‘between’ the major planets. Asteroids are among these, but so may be planetoids and moons which revolve around the greater bodies. |
86. Việc dùng từ “liên hành tinh” hàm ý rằng các thiên thể như vậy xuất hiện ‘giữa’ các hành tinh lớn. Các tiểu hành tinh nằm trong số này, nhưng cũng có thể là các planetoid và các mặt trăng quay quanh các thiên thể lớn hơn. |
|
c. The deva and human evolutions. |
c. Các tiến hoá thiên thần và nhân loại. |
|
87. These are parallel evolutions found throughout the solar system. |
87. Đây là những tiến hoá song song được tìm thấy khắp hệ mặt trời. |
|
d. The kingdoms of nature everywhere. |
d. Các giới của bản chất ở khắp nơi. |
|
88. We remember that such kingdoms occur throughout the solar system and are not confined to our planet alone. Kingdoms are aspects of solar logoic expression. |
88. Chúng ta nhớ rằng các giới như vậy xuất hiện khắp hệ mặt trời và không chỉ giới hạn nơi hành tinh của chúng ta. Các giới là những phương diện của sự biểu lộ của Thái dương Thượng đế. |
|
e. The involutionary and evolutionary Gods. |
e. Các Thượng đế giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá. |
|
89. We remember that God and the gods are imminent in all forms of life, whether evolutionary or involutionary. An electron has been defined as a god entering manifestation. |
89. Chúng ta nhớ rằng Thượng đế và các thượng đế nội tại trong mọi hình thức sự sống, dù là thăng thượng tiến hoá hay giáng hạ tiến hoá. Một electron đã được định nghĩa là một vị thần đi vào biểu hiện. |
|
90. The many gods within the One God are at different involutionary and evolutionary stages in the Universal Process. |
90. Nhiều vị thần trong Một Thượng đế đang ở những giai đoạn giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá khác nhau trong Tiến Trình Vũ Trụ. |
|
f. Every atom of substance on every plane. |
f. Mọi nguyên tử của chất liệu trên mọi cõi. |
|
91. Presumably, this would also include the tiniest particles within such atoms. |
91. Có lẽ điều này cũng sẽ bao gồm cả những hạt nhỏ nhất bên trong các nguyên tử ấy. |
|
7. All forms are destroyed periodically. |
7. Mọi hình tướng đều bị hủy diệt theo chu kỳ. |
|
Read carefully S. D., I, 397-401. |
Hãy đọc cẩn thận S. D., I, 397-401. |
|
92. That which has been born must die. That which has arisen through aggregation must de-aggregate. |
92. Điều gì đã sinh ra thì phải chết. Điều gì đã phát sinh qua sự kết tụ thì phải tan rã khỏi sự kết tụ. |
|
Back of all forms and of all substances |
Đằng sau mọi hình tướng và mọi chất liệu |
|
93. Form is not substance and substance is not form. |
93. Hình tướng không phải là chất liệu và chất liệu không phải là hình tướng. |
|
(as yet but little contacted and realised) lies a third type of force, which utilises these two other factors to produce eventual harmony, and which is itself on its own plane the sumtotal of the second. |
(cho đến nay mới chỉ được tiếp xúc và chứng nghiệm rất ít) có một loại mãnh lực thứ ba, loại mãnh lực sử dụng hai yếu tố kia để tạo ra sự hài hòa tối hậu, và chính nó, trên cõi riêng của mình, là tổng thể của yếu tố thứ hai. |
|
94. We have spoken of form as the combination of second and third aspect vitality. In a way there is naught but vitality because vitality is life. |
94. Chúng ta đã nói về hình tướng như sự kết hợp của sinh lực phương diện thứ hai và thứ ba. Theo một nghĩa nào đó, không có gì ngoài sinh lực vì sinh lực là sự sống. |
|
95. Now, we speak of that aspect of divinity which lies behind or within the other two. |
95. Giờ đây, chúng ta nói đến phương diện của thiên tính nằm đằng sau hay bên trong hai phương diện kia. |
|
96. We notice that the objective of Spirit is the production of harmony. This, in itself, is interesting, as we would usually think of the second aspect of divinity related to the buddhic plane (the plane of harmony) as the producer of harmony. In the language of the rays, the first ray is related to the fourth. |
96. Chúng ta nhận thấy rằng mục tiêu của Tinh thần là tạo ra sự hài hòa. Điều này tự nó đã thú vị, vì thông thường chúng ta sẽ nghĩ phương diện thứ hai của thiên tính liên hệ với cõi Bồ đề (cõi của sự hài hòa) là tác nhân tạo ra sự hài hòa. Trong ngôn ngữ của các cung, cung một liên hệ với cung bốn. |
|
97. DK is presenting the identity of the Spirit aspect in some ways which may be less familiar than the usual presentations. |
97. Chân sư DK đang trình bày bản sắc của phương diện Tinh thần theo một số cách có thể ít quen thuộc hơn những cách trình bày thông thường. |
|
98. What is the plane of that aspect here under discussion? Shall we say the logoic plane? |
98. Cõi của phương diện đang được bàn đến ở đây là gì? Chúng ta có nên nói là cõi logoic không? |
|
99. What is the “second” of which Spirit is the sumtotal? Is the “second” of the two aspects mentioned in this sentence of text the matter aspect, form being the first aspect mentioned? Is this enigmatical statement another way of saying that Spirit is Matter and Matter is Spirit? |
99. “Yếu tố thứ hai” mà Tinh thần là tổng thể của nó là gì? Phải chăng “yếu tố thứ hai” trong hai phương diện được nhắc đến trong câu này của bản văn là phương diện vật chất, còn hình tướng là phương diện thứ nhất được nhắc đến? Phải chăng phát biểu bí ẩn này là một cách khác để nói rằng Tinh thần là Vật chất và Vật chất là Tinh thần? |
|
100. Is the Force of Spirit the sumtotal of the Matter aspect? May we say that Spirit subsumes within itself all that we call Matter? |
100. Phải chăng Mãnh lực của Tinh thần là tổng thể của phương diện Vật chất? Chúng ta có thể nói rằng Tinh thần bao hàm trong chính nó tất cả những gì chúng ta gọi là Vật chất không? |
|
It can be called: |
Nó có thể được gọi là: |
|
a. The one synthesising Life. |
a. Sự sống tổng hợp duy nhất. |
|
b. Electric fire. |
b. Lửa Điện. |
|
c. The point of equilibrium. |
c. Điểm quân bình. |
|
d. Unity or harmony. |
d. Hợp nhất hay hài hòa. |
|
e. Pure Spirit. |
e. Tinh thần thuần túy. |
|
f. Dynamic Will. |
f. Ý Chí năng động. |
|
g. Existence. |
g. Hiện Hữu. |
|
101. Here are some quite amazing synonyms and we could wonder how to make them all equivalent. |
101. Đây là một số từ đồng nghĩa thật đáng kinh ngạc và chúng ta có thể tự hỏi làm sao khiến tất cả chúng tương đương nhau. |
|
102. “Unity or harmony” accords with “the point of equilibrium” and is related to “the one synthesizing Life”. |
102. “Hợp nhất hay hài hòa” phù hợp với “điểm quân bình” và liên hệ với “Sự sống tổng hợp duy nhất”. |
|
103. The term “Being” is not mentioned here, but “Existence” is. Although the distinction is subtle, it is reasonable to think of “Existence” as a category lower than “Being”. |
103. Thuật ngữ “Bản Thể” không được nhắc đến ở đây, nhưng “Hiện Hữu” thì có. Dù sự phân biệt này rất tinh tế, vẫn hợp lý khi nghĩ “Hiện Hữu” là một phạm trù thấp hơn “Bản Thể”. |
|
104. If we introduce the concept of “Peaceful Silent Will” it will be easier to find accord between all these seven. |
104. Nếu chúng ta đưa vào khái niệm “Ý Chí Tĩnh Lặng An Bình” thì sẽ dễ tìm được sự hòa hợp giữa cả bảy điều này hơn. |
|
105. We notice that there are seven terms. We may ask whether each of these terms should be related to Spirit considered in one of seven aspects. The first four terms seem to relate well to the first four aspects: |
105. Chúng ta nhận thấy có bảy thuật ngữ. Chúng ta có thể hỏi liệu mỗi thuật ngữ này có nên được liên hệ với Tinh thần được xét trong một trong bảy phương diện hay không. Bốn thuật ngữ đầu dường như liên hệ tốt với bốn phương diện đầu: |
|
a. First aspect: the One Synthesizing Life |
a. Phương diện thứ nhất: Sự sống Tổng hợp Duy nhất |
|
b. Second aspect: Electric Fire. We recall that there can be no electricity without duality |
b. Phương diện thứ hai: Lửa Điện. Chúng ta nhớ rằng không thể có điện nếu không có nhị nguyên tính |
|
c. Third aspect: the Point of Equilibrium. We remember the relation of Libra, the triangle and the third ray to the factor of equilibrium. |
c. Phương diện thứ ba: Điểm Quân Bình. Chúng ta nhớ mối liên hệ của Thiên Bình, tam giác và cung ba với yếu tố quân bình. |
|
d. Fourth aspect: Unity or Harmony |
d. Phương diện thứ tư: Hợp nhất hay Hài hòa |
|
106. A case can be made for the other three aspects (or rays) and their possible relation to the last three terms. |
106. Có thể lập luận cho ba phương diện (hay cung) còn lại và mối liên hệ khả dĩ của chúng với ba thuật ngữ cuối. |
|
It is a Force, working through a dual manifestation of differentiated force, |
Đó là một Mãnh lực, hoạt động qua một biểu hiện nhị phân của mãnh lực biến phân, |
|
107. We mean by this “dual manifestation” the combination of the second and third aspects representing the Divine Ray and the Primordial Ray. |
107. Bởi “biểu hiện nhị phân” này, chúng ta muốn nói đến sự kết hợp của phương diện thứ hai và thứ ba, tượng trưng cho Cung Thiêng Liêng và Cung Nguyên Sơ. |
|
108. Each of the major three aspects can be thought of as a “Force”. |
108. Mỗi một trong ba phương diện chính có thể được nghĩ đến như một “Mãnh lực”. |
|
through the energy of matter, the coherency of forms, through force centres, and force points. |
qua năng lượng của vật chất, sự cố kết của các hình tướng, qua các trung tâm lực, và các điểm lực. |
|
109. We can divide the four terms above into two categories: |
109. Chúng ta có thể chia bốn thuật ngữ trên thành hai loại: |
|
110. Under the second aspect we have “the coherency of forms” and “through force centers”. |
110. Dưới phương diện thứ hai, chúng ta có “sự cố kết của các hình tướng” và “qua các trung tâm lực”. |
|
111. Under the third aspect we have “the energy of matter” and “force points”. |
111. Dưới phương diện thứ ba, chúng ta có “năng lượng của vật chất” và “các điểm lực”. |
|
112. Through these four there works that which we call Spirit or: the One Synthesizing Life, Electric Fire, |
112. Qua bốn điều này hoạt động điều mà chúng ta gọi là Tinh thần hay: Sự sống Tổng hợp Duy nhất, Lửa Điện, |
|
It is FOHAT in triple demonstration, of which the final or third is as yet unknown and inconceivable. |
Đó là FOHAT trong sự biểu hiện tam phân, trong đó biểu hiện cuối cùng hay thứ ba cho đến nay vẫn chưa được biết và không thể quan niệm được. |
|
113. Is DK saying that we are dealing with a great inclusive force called FOHAT which demonstrates through what we normally call the Three Divine Aspects? |
113. Phải chăng Chân sư DK đang nói rằng chúng ta đang xử lý một mãnh lực bao gồm vĩ đại gọi là FOHAT, biểu hiện qua điều mà bình thường chúng ta gọi là Ba Phương Diện Thiêng Liêng? |
|
114. If He is so saying, we would understand that Fohat is inclusive of the above mentioned synthesis expressed as a “Force working through a dual manifestation of differentiated force, through the energy of matter, the coherency of forms, through force centres, and force points.” This synthetic statement includes all aspects of divinity—all the three Logoi as They manifest on the cosmic physical plane. |
114. Nếu Ngài đang nói như vậy, chúng ta sẽ hiểu rằng Fohat bao gồm sự tổng hợp được nhắc đến ở trên, được diễn tả như một “Mãnh lực hoạt động qua một biểu hiện nhị phân của mãnh lực biến phân, qua năng lượng của vật chất, sự cố kết của các hình tướng, qua các trung tâm lực, và các điểm lực.” Phát biểu tổng hợp này bao gồm mọi phương diện của thiên tính—cả ba Thượng đế khi Các Ngài biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ. |
|
115. Or is He relating FOHAT strictly to the first aspect? |
115. Hay là Ngài đang liên hệ FOHAT một cách nghiêm ngặt với phương diện thứ nhất? |
|
116. FOHAT or “Cosmic Electricity” seems related to Agni or to the threefold personality demonstration of the Solar Logos. |
116. FOHAT hay “Điện Vũ Trụ” dường như liên hệ với Agni hay với biểu hiện phàm ngã tam phân của Thái dương Thượng đế. |
|
117. It is illuminating to think of FOHAT as inclusive of the three aspects of divinity as they manifest (as aspects of Agni) on the lower eighteen cosmic sub-planes, and also as they manifest on the cosmic physical plane. |
117. Thật soi sáng khi nghĩ về FOHAT như bao gồm ba phương diện của thiên tính khi chúng biểu hiện (như các phương diện của Agni) trên mười tám cõi phụ vũ trụ thấp hơn, và cũng như chúng biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ. |
|
This brings me to the consideration of the fact earlier stated that the mental unit possesses but four of the streams of force. |
Điều này đưa tôi đến việc xem xét sự kiện đã được nêu trước đó rằng đơn vị hạ trí chỉ sở hữu bốn dòng mãnh lực. |
|
118. It would seem that we have been participating in a lengthy amplification. |
118. Có vẻ như chúng ta đã tham gia vào một sự khai triển dài dòng. |
|
Each of the streams of force in the permanent atoms vibrates to the note of a particular subplane, and serves as the medium for the vitalisation of the matter of the subplane, which is built into any particular body around a permanent atom. |
Mỗi dòng mãnh lực trong các nguyên tử trường tồn rung động theo âm điệu của một cõi phụ đặc biệt, và phục vụ như trung gian cho sự tiếp sinh lực của vật chất của cõi phụ ấy, vốn được xây dựng vào bất kỳ thể đặc biệt nào quanh một nguyên tử trường tồn. |
|
119. Again, we have a most important statement which should tell us much about the relation of spirillae to subplanes and to keynotes. |
119. Một lần nữa, chúng ta có một phát biểu hết sức quan trọng, phát biểu này hẳn sẽ cho chúng ta biết nhiều về mối liên hệ của các loa tuyến với các cõi phụ và với các chủ âm. |
|
120. Each sub-plane has a musical note, and each spirilla (or stream of second aspect vitality) vibrates to the note of one sub-plane and, thus, can be associated with the control and manipulation of the type of matter of that sub-plane. |
120. Mỗi cõi phụ có một âm điệu âm nhạc, và mỗi loa tuyến (hay dòng sinh lực phương diện thứ hai) rung động theo âm điệu của một cõi phụ, và do đó có thể được liên hệ với sự kiểm soát và vận dụng loại vật chất của cõi phụ ấy. |
|
121. We may be saying that the points of force which are organized by second aspect vitality vibrate to different frequencies depending upon the sub-plane with which they are associated. |
121. Có thể chúng ta đang nói rằng các điểm lực được tổ chức bởi sinh lực phương diện thứ hai rung động ở những tần số khác nhau tùy theo cõi phụ mà chúng liên hệ. |
|
122. The spirilla vitalizes the matter of a sub-plane. We might say that second aspect vitality vitalizes third aspect substance. Yet substance, too, is but vitality—third aspect vitality. All is Life in differentiated modes. |
122. Loa tuyến tiếp sinh lực cho vật chất của một cõi phụ. Chúng ta có thể nói rằng sinh lực phương diện thứ hai tiếp sinh lực cho chất liệu phương diện thứ ba. Tuy nhiên, chính chất liệu cũng chỉ là sinh lực—sinh lực phương diện thứ ba. Tất cả đều là Sự sống trong những phương thức biến phân. |
|
123. We can see that vitalization proceeds through musical sound—i.e., through “notes”. |
123. Chúng ta có thể thấy rằng sự tiếp sinh lực diễn ra qua âm thanh âm nhạc—tức là, qua các “âm điệu”. |
|
124. We see that the different sub-planes of the body built around any permanent atom are vitalized by the different spirillae within the permanent atom. |
124. Chúng ta thấy rằng các cõi phụ khác nhau của thể được xây dựng quanh bất kỳ nguyên tử trường tồn nào đều được tiếp sinh lực bởi các loa tuyến khác nhau bên trong nguyên tử trường tồn ấy. |
|
125. The whole matter is extremely complex and humanity’s science has not yet given us any way to conceive of such things with any accuracy. |
125. Toàn bộ vấn đề này cực kỳ phức tạp và khoa học của nhân loại vẫn chưa cho chúng ta bất kỳ cách nào để quan niệm những điều như thế với độ chính xác nào đó. |
|
126. Yet there is law and order in all these relations and the methods of subduing chaos are firmly in place. |
126. Tuy nhiên, có định luật và trật tự trong tất cả những mối liên hệ này, và các phương pháp chế ngự hỗn mang đã được thiết lập vững chắc. |
|
It is the force of the Heavenly Man as it animates the cells of His form, and holds them as a coherent unity. |
Nó là mãnh lực của Đấng Thiên Nhân khi mãnh lực ấy phú linh các tế bào của hình tướng của Ngài, và giữ chúng như một hợp nhất cố kết. |
|
127. Are we still speaking of the Force of the first aspect? Sometimes the use of the word “it” leaves us without knowledge of that to which “it” is meant to refer. |
127. Chúng ta vẫn đang nói về Mãnh lực của phương diện thứ nhất chăng? Đôi khi việc dùng từ “nó” khiến chúng ta không biết điều mà “nó” được dùng để chỉ là gì. |
|
128. If we are speaking of spirillae we are speaking of second aspect vitality. |
128. Nếu chúng ta đang nói về các loa tuyến thì chúng ta đang nói về sinh lực phương diện thứ hai. |
|
129. To interpret the section of text immediately above, we must know whether DK is referencing first or second aspect energy. Or is He referencing first aspect energy as is manifests through second aspect energy—since first aspect energy cannot manifest on its own (in this solar system, at least). |
129. Muốn giải thích đoạn văn ngay trên, chúng ta phải biết liệu Chân sư DK đang quy chiếu đến năng lượng phương diện thứ nhất hay thứ hai. Hay là Ngài đang quy chiếu đến năng lượng phương diện thứ nhất như nó biểu hiện qua năng lượng phương diện thứ hai—vì năng lượng phương diện thứ nhất không thể tự biểu hiện (ít nhất là trong hệ mặt trời này). |
|
130. It would seem that we are speaking of the “streams of force in the permanent atoms” and consider them to be an “it”—namely, as that which “animates the cells of His form”. |
130. Có vẻ như chúng ta đang nói về “các dòng mãnh lực trong các nguyên tử trường tồn” và xem chúng như một “nó”—tức là, như điều “phú linh các tế bào của hình tướng của Ngài”. |
|
131. The cells in the body of a Heavenly Man are like the points of third aspect force which were held in coherence by streams of second aspect vitality. |
131. Các tế bào trong thể của một Đấng Thiên Nhân giống như các điểm mãnh lực phương diện thứ ba được giữ trong sự cố kết bởi các dòng sinh lực phương diện thứ hai. |
|
Here it must be remembered that, from the point of view of the microcosm, the aspect of pure Spirit or of Electric Fire remains in this solar system as an abstraction. |
Ở đây cần nhớ rằng, từ quan điểm của tiểu thiên địa, phương diện của Tinh thần thuần túy hay của Lửa Điện vẫn còn là một sự trừu tượng trong hệ mặt trời này. |
|
132. The fire of “pure Spirit” or Electric Fire does not express autonomously, but only through the other two aspects. It is not possible to ‘concretize’ the first fire, per se (in this solar system). |
132. Lửa của “Tinh thần thuần túy” hay Lửa Điện không tự biểu lộ một cách độc lập, mà chỉ qua hai phương diện kia. Không thể “cụ thể hóa” ngọn lửa thứ nhất, chính nó, trong hệ mặt trời này. |
|
A man can attain group consciousness; he can vibrate to the note of the Heavenly Man in Whose body he is a cell; |
Con người có thể đạt được tâm thức nhóm; y có thể rung động theo âm điệu của Đấng Thiên Nhân mà trong thể của Ngài y là một tế bào; |
|
133. When group consciousness is attained, the man is vibrating to the note of the second aspect. |
133. Khi tâm thức nhóm được đạt đến, con người đang rung động theo âm điệu của phương diện thứ hai. |
|
he can demonstrate in relative perfection fire by friction and solar fire, but it remains for a later mahamanvantara to reveal [Page 530] the true nature of Spirit. |
y có thể biểu hiện một cách tương đối hoàn hảo lửa ma sát và Lửa Thái dương, nhưng phải đợi đến một Đại giai kỳ sinh hóa sau này mới mặc khải [Page 530] bản chất chân thực của Tinh thần. |
|
134. It is evident that the Spirit aspect of our Heavenly Man will not emerge in this solar system. |
134. Hiển nhiên là phương diện Tinh thần của Đấng Thiên Nhân của chúng ta sẽ không xuất hiện trong hệ mặt trời này. |
|
135. If this is the case, and if it likely that we must wait until a future mahamanvantara “to reveal the true nature of Spirit” on our planet, can it be possible that our Heavenly Man will take a third cosmic initiation in this solar system? |
135. Nếu đúng như vậy, và nếu có khả năng là chúng ta phải chờ đến một Đại giai kỳ sinh hóa tương lai mới “mặc khải bản chất chân thực của Tinh thần” trên hành tinh của chúng ta, thì liệu có thể nào Đấng Thiên Nhân của chúng ta sẽ nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ ba trong hệ mặt trời này không? |
|
136. At which cosmic initiation is the true nature of Spirit revealed through a Heavenly Man? |
136. Ở lần điểm đạo vũ trụ nào thì bản chất chân thực của Tinh thần được mặc khải qua một Đấng Thiên Nhân? |
|
137. Even at the fourth initiation the Spirit aspect is still revealed through solar fire (i.e., through the second aspect). |
137. Ngay cả ở lần điểm đạo thứ tư, phương diện Tinh thần vẫn được mặc khải qua Lửa Thái dương (tức là, qua phương diện thứ hai). |
|
138. And, yet, if our Solar Logos is to take the fifth cosmic initiation in this solar system (as some references indicate as likely), then the Earth (which is related to His base of the spine center) must be in the position to demonstrate first ray energy (and that energy, as far as the Earth is concerned, can come only from Earth’s first ray Monad). |
138. Tuy nhiên, nếu Thái dương Thượng đế của chúng ta sẽ nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ năm trong hệ mặt trời này (như một số dẫn chiếu cho thấy là có khả năng), thì Trái Đất (vốn liên hệ với trung tâm đáy cột sống của Ngài) phải ở vị thế biểu hiện năng lượng cung một (và năng lượng ấy, xét theo Trái Đất, chỉ có thể đến từ chân thần cung một của Trái Đất). |
|
139. When DK speaks of “a later mahamanvantara” does He mean the next solar system which, presumably, is the last solar system (for our Solar Logos and His Planetary Logoi) in a series of six? It would seem so. |
139. Khi Chân sư DK nói về một “Đại giai kỳ sinh hóa về sau”, liệu Ngài có muốn nói đến hệ mặt trời kế tiếp, mà có lẽ là hệ mặt trời cuối cùng (đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta và các Hành Tinh Thượng đế của Ngài) trong một chuỗi gồm sáu hệ hay không? Có vẻ là như vậy. |
|
140. If we are talking about the revelation of the “true nature of Spirit” on a solar systemic level, then, perhaps it makes sense that it will be necessary to wait until the next mahamanvantara, for only then will the Solar Logos be in a position to take His sixth cosmic initiation, at which point Spirit or Monad is revealed untrammeled by the lower five planes. In this case we are probably speaking of cosmic planes and not systemic planes. |
140. Nếu chúng ta đang nói về sự mặc khải “bản chất đích thực của tinh thần” ở cấp độ hệ mặt trời, thì có lẽ việc phải chờ đến Đại giai kỳ sinh hóa kế tiếp là điều hợp lý; vì chỉ khi đó Thái dương Thượng đế mới ở vào vị thế tiếp nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ sáu của Ngài, tại điểm ấy Tinh thần hay Chân thần được mặc khải mà không bị năm cõi thấp trói buộc. Trong trường hợp này, có lẽ chúng ta đang nói đến các cõi vũ trụ chứ không phải các cõi của hệ. |
|
141. There is an implication in all this reasoning—namely, that even an initiate of the fifth degree is not demonstrating the “true nature of Spirit”. This would hold for the human initiate, the planetary logoic Initiate and the solar logoic Initiate. |
141. Trong toàn bộ lối suy luận này có một hàm ý—đó là ngay cả một điểm đạo đồ bậc năm cũng chưa biểu lộ “bản chất đích thực của tinh thần”. Điều này đúng đối với điểm đạo đồ nhân loại, điểm đạo đồ hành tinh logoic và điểm đạo đồ thái dương logoic. |
|
Therefore in man, functioning in the human family, this fact is apparent and the correspondence to be seen. Until he passes out of the three worlds, and until he becomes a Master of the Wisdom, he has this truth concealed in these three aspects. |
Vì vậy, nơi con người, hoạt động trong gia đình nhân loại, sự kiện này là hiển nhiên và có thể thấy được sự tương ứng. Cho đến khi y vượt ra khỏi ba cõi giới, và cho đến khi y trở thành một Chân sư Minh triết, chân lý này vẫn bị che giấu đối với y trong ba phương diện này. |
|
142. When shall pure Spirit be revealed? There is no possibility for this revelation until a man becomes a Master of the Wisdom. Even then, He may have to wait for Chohanship before the complete revelation becomes possible. A Master is still, technically considered, a “man”. A Chohan is not. |
142. Khi nào tinh thần thuần túy sẽ được mặc khải? Không có khả năng nào cho sự mặc khải này cho đến khi một người trở thành một Chân sư Minh triết. Ngay cả khi ấy, Ngài có thể còn phải chờ đến Chohanship trước khi sự mặc khải trọn vẹn trở nên khả hữu. Về mặt kỹ thuật, một Chân sư vẫn còn được xem là một “con người”. Một Chohan thì không. |
|
The mental [unit] is not a septenary permanent atom, but only responds to four types of force, and not to the entire range of vibrations. |
Đơn vị hạ trí [unit] không phải là một nguyên tử trường tồn thất phân, mà chỉ đáp ứng với bốn loại mãnh lực, chứ không phải với toàn bộ phạm vi rung động. |
|
143. DK is speaking of the limitations of the mental unit. |
143. Chân sư DK đang nói về những giới hạn của đơn vị hạ trí. |
|
Herein lies a reason for tolerance. |
Chính trong đây có một lý do cho sự khoan dung. |
|
144. The limitations of man because he is a member of the fourth kingdom are evident. He cannot possibly respond rightly to the full range of vibrations impinging upon him. |
144. Những giới hạn của con người bởi vì y là một thành viên của giới thứ tư là điều hiển nhiên. Y không thể nào đáp ứng đúng đắn với toàn bộ phạm vi rung động tác động vào mình. |
|
Until a man is coming consciously under the control of the Ego and is beginning to sense the vibration of the manasic permanent atom, it is useless to expect him to respond to certain ideals, or to grasp certain aspects of truth. |
Cho đến khi một người bắt đầu một cách hữu thức ở dưới sự kiểm soát của Chân ngã và bắt đầu cảm nhận rung động của nguyên tử trường tồn manas, thì thật vô ích khi mong đợi y đáp ứng với một số lý tưởng nào đó, hoặc nắm bắt một số phương diện nào đó của chân lý. |
|
145. The manasic permanent atom, on the other hand, has a much greater responsive capacity than the mental unit. |
145. Mặt khác, nguyên tử trường tồn manas có năng lực đáp ứng lớn hơn nhiều so với đơn vị hạ trí. |
|
146. It may be gathered that when a man does begin to come until the control of the Ego in the causal body, he is also in a position to begin sensing the vibration of the manasic permanent atom. Presumably the antahkarana does not have to be fully built before this sensing (at least) becomes possible. |
146. Có thể suy ra rằng khi một người thực sự bắt đầu đi đến dưới sự kiểm soát của Chân ngã trong thể nguyên nhân, thì y cũng ở vào vị thế có thể bắt đầu cảm nhận rung động của nguyên tử trường tồn manas. Có lẽ antahkarana không nhất thiết phải được xây dựng hoàn toàn trước khi sự cảm nhận này (ít nhất là ở mức đó) trở nên khả hữu. |
|
147. We remember that the antahkarana is a triangle and not just a line. That line of energy which connects the center of the egoic lotus to the manasic permanent atom is also considered to be part of the antahkarana. |
147. Chúng ta nhớ rằng antahkarana là một tam giác chứ không chỉ là một đường thẳng. Đường năng lượng nối trung tâm của hoa sen chân ngã với nguyên tử trường tồn manas cũng được xem là một phần của antahkarana. |
|
148. The line of energy connecting the personality with the egoic lotus (probably, again, the center of the egoic lotus) is also an aspect of the antahkarana. |
148. Đường năng lượng nối phàm ngã với hoa sen chân ngã (có lẽ, một lần nữa, là trung tâm của hoa sen chân ngã) cũng là một phương diện của antahkarana. |
|
The mental unit suffices for his need, and no bridge exists between it and the manasic permanent atom. |
Đơn vị hạ trí là đủ cho nhu cầu của y, và không có cây cầu nào tồn tại giữa nó với nguyên tử trường tồn manas. |
|
149. DK is speaking of the strictly personality stage of human development. The preliminary bridge to higher possibilities does not yet exist. |
149. Chân sư DK đang nói về giai đoạn phát triển nhân loại thuần túy của phàm ngã. Cây cầu sơ khởi dẫn đến những khả năng cao hơn vẫn chưa tồn tại. |
|
150. Let us reemphasize that there are really two bridges and even three. |
150. Chúng ta hãy nhấn mạnh lại rằng thực sự có hai cây cầu và thậm chí là ba. |
|
a. One bridge exists between the mental unit and the Ego on the higher mental plane (and Ego usually located at the time of initial bridge-building on the second sub-plane of the higher mental plane). |
a. Một cây cầu tồn tại giữa đơn vị hạ trí và Chân ngã trên Cõi thượng trí (và Chân ngã thường tọa lạc vào thời điểm bắt đầu xây cầu trên cõi phụ thứ hai của Cõi thượng trí). |
|
b. Another bridge exists between the mental unit and the manasic permanent atom. |
b. Một cây cầu khác tồn tại giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas. |
|
c. Still another gap which must be bridged lies between the causal body on the second sub-plane of the mental plane and the manasic permanent atom which if found upon the first sub-plane. This is built through the growing capacity for abstract thought. |
c. Còn một khoảng cách khác phải được bắt cầu nằm giữa thể nguyên nhân trên cõi phụ thứ hai của cõi trí và nguyên tử trường tồn manas vốn được tìm thấy trên cõi phụ thứ nhất. Điều này được xây dựng thông qua năng lực ngày càng tăng đối với tư duy trừu tượng. |
|
Two and a half planes are concerned with the evolution of man, per se, in the fourth kingdom, |
Hai cõi rưỡi liên quan đến sự tiến hoá của chính con người trong giới thứ tư, |
|
151. This equates to eighteen sub-planes. From one perspective, eighteen is the number of the Moon. |
151. Điều này tương đương với mười tám cõi phụ. Từ một góc nhìn, mười tám là con số của Mặt Trăng. |
|
and he only begins to transcend them as he nears the Path and treads it. |
và y chỉ bắt đầu vượt lên trên chúng khi y tiến gần đến Con Đường và bước đi trên đó. |
|
152. The beginning of the process of treading the Path signals the possibility of transcending the eighteen sub-planes. |
152. Sự khởi đầu của tiến trình bước đi trên Con Đường báo hiệu khả năng vượt lên trên mười tám cõi phụ. |
|
153. “Let the group see that all the eighteen fires die down…” (Rule IV for Disciples and Initiates). |
153. “Hãy để nhóm thấy rằng tất cả mười tám ngọn lửa đều lắng xuống…” (Quy luật IV dành cho các đệ tử và điểm đạo đồ). |
|
154. The Path is essentially solar and the nineteenth sub-plane (and those sub-planes beyond) are related to solar expressions. |
154. Con Đường về bản chất là thái dương và cõi phụ thứ mười chín (cùng những cõi phụ vượt lên trên đó) có liên hệ với các biểu hiện thái dương. |
|
155. We recall the interesting fact that the eighteenth Tarot card is the “Moon” and the nineteenth is the “Sun”. |
155. Chúng ta nhớ lại sự kiện thú vị rằng lá bài Tarot thứ mười tám là “Mặt Trăng” và lá thứ mười chín là “Mặt Trời”. |
|
From the standpoint of average man in physical incarnation, the egoic consciousness, within the causal periphery, is as abstract as is the Logos viewed as the Dweller within the system. |
Từ quan điểm của con người trung bình đang lâm phàm trên cõi hồng trần, tâm thức chân ngã, bên trong chu vi nhân thể, trừu tượng cũng như Thượng đế được nhìn như Kẻ Chận Ngõ bên trong hệ vậy. |
|
156. This is a sobering thought and reminds us of the limitations under which most human beings labor. |
156. Đây là một ý nghĩ khiến người ta tỉnh táo và nhắc chúng ta về những giới hạn mà phần lớn con người phải lao nhọc dưới đó. |
|
157. There are different kinds of dwellers. The kind of “Dweller” here indicated is an inherent, substanding Life which ‘in-dwells’ and pervades lives, forms and substances within the solar system. It is not at all an obstructive Dweller such as the “Dweller on the Threshold”. |
157. Có những loại kẻ chận ngõ khác nhau. Loại “Kẻ Chận Ngõ” được chỉ ra ở đây là một Sự sống nội tại, nền tảng, substanding ‘nội trú’ và thấm khắp các sự sống, các hình tướng và các chất liệu bên trong hệ mặt trời. Nó hoàn toàn không phải là một Kẻ Chận Ngõ có tính cản trở như “Kẻ Chận Ngõ”. |
|
158. DK is telling us that the egoic consciousness is something that is just not registered by the average man. He seems to be saying that the average man has as much possibility of registering the Ego as he would of registering the presence of the Solar Logos within His solar system. |
158. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng tâm thức chân ngã là điều mà con người trung bình đơn giản không ghi nhận được. Dường như Ngài muốn nói rằng con người trung bình có khả năng ghi nhận Chân ngã cũng ít như khả năng y ghi nhận sự hiện diện của Thái dương Thượng đế bên trong hệ mặt trời của Ngài. |
|
159. Is DK suggesting that for the average man outside of physical incarnation the chance of registering egoic consciousness increases? Perhaps, because unobstructed by the physical brain and body? |
159. Liệu Chân sư DK có gợi ý rằng đối với con người trung bình bên ngoài sự lâm phàm trên cõi hồng trần, cơ hội ghi nhận tâm thức chân ngã tăng lên không? Có lẽ vậy, vì không bị bộ não và thể xác hồng trần ngăn trở chăng? |
|
These two and a half planes are of peculiar interest to the Logos, as they embody: |
Hai cõi rưỡi này đặc biệt đáng quan tâm đối với Thượng đế, vì chúng thể hiện: |
|
160. Of which Logos is DK speaking? He seemed to be speaking of the Solar Logos but when speaking of two and half planes, perhaps the emphasis is now shifting to the Planetary Logos. |
160. Chân sư DK đang nói về Thượng đế nào? Dường như Ngài đang nói về Thái dương Thượng đế nhưng khi nói về hai cõi rưỡi, có lẽ trọng tâm giờ đây đang chuyển sang Hành Tinh Thượng đế. |
|
That which, for Him, lies below the threshold of consciousness. |
Điều mà, đối với Ngài, nằm dưới ngưỡng tâm thức. |
|
161. These eighteen sub-planes function, for the Planetary Logos, unconsciously. He need not attend to them, just as man need not, under normal circumstances, attend to the automatic biological processes which keep his physical body functioning. |
161. Mười tám cõi phụ này vận hành, đối với Hành Tinh Thượng đế, một cách vô thức. Ngài không cần chú ý đến chúng, cũng như con người, trong những hoàn cảnh bình thường, không cần chú ý đến các tiến trình sinh học tự động giữ cho thể xác của mình hoạt động. |
|
162. For the Solar Logos, twenty-one sub-planes lie below the threshold of consciousness. |
162. Đối với Thái dương Thượng đế, hai mươi mốt cõi phụ nằm dưới ngưỡng tâm thức. |
|
Those centres from which logoic kundalini is turning. |
Những trung tâm mà từ đó kundalini logoic đang quay đi. |
|
163. Kundalini is poised to animate other and higher aspects of the planetary logoic nature. |
163. Kundalini đang sẵn sàng tiếp sinh lực cho những phương diện khác và cao hơn của bản chất hành tinh logoic. |
|
164. Solar logoic kundalini is also turning from certain centers. |
164. Kundalini thái dương logoic cũng đang quay khỏi một số trung tâm nhất định. |
|
That which is not considered a principle. |
Điều không được xem là một nguyên khí. |
|
165. These eighteen sub-planes relate to the previous solar system. They are not among the energy-patterns which the Planetary Logos is presently cultivating. |
165. Mười tám cõi phụ này liên hệ với hệ mặt trời trước. Chúng không nằm trong số những mô hình năng lượng mà Hành Tinh Thượng đế hiện đang vun bồi. |
|
166. For the Solar Logos, twenty-one sub-planes are not considered as embodying a principle. For Him they are strictly physical sub-planes—not etheric. |
166. Đối với Thái dương Thượng đế, hai mươi mốt cõi phụ không được xem là thể hiện một nguyên khí. Đối với Ngài, chúng hoàn toàn là các cõi phụ hồng trần—không phải dĩ thái. |
|
That which is gradually passing into obscuration. |
Điều đang dần dần đi vào sự che khuất. |
|
167. Etherealization is slowly in process. The attention of the Planetary Logos has turned from the eighteen lower sub-planes and with this turning, these sub-planes will gradually no longer remain in incarnation. |
167. Tiến trình dĩ thái hóa đang chậm rãi diễn ra. Sự chú ý của Hành Tinh Thượng đế đã quay khỏi mười tám cõi phụ thấp, và cùng với sự quay đi này, các cõi phụ ấy sẽ dần dần không còn tiếp tục lâm phàm nữa. |
|
It is impossible to enlarge further upon this mystery. |
Không thể khai triển thêm về huyền nhiệm này. |
|
168. If is has not been apparent (due to the abstruseness of the material) we are dealing with a “mystery”. |
168. Nếu điều đó chưa rõ ràng (do tính khó hiểu của tài liệu), thì chúng ta đang xử lý một “huyền nhiệm”. |
|
169. The mystery concerns the relationship between that which is principled and unprincipled in the life demonstration of any E/entity. |
169. Huyền nhiệm này liên quan đến mối liên hệ giữa điều có nguyên khí và điều không có nguyên khí trong sự biểu lộ sự sống của bất kỳ Thực thể/thực thể nào. |
|
4. Summary. |
4. Tóm tắt. |
|
Before proceeding further, however, it might be well to sum up some of the facts anent the spirillae and the atom, and then we can take up the subject of the causal body and man, the individual. [Page 531] |
Tuy nhiên, trước khi đi xa hơn, có lẽ nên tóm lược một số sự kiện liên quan đến các loa tuyến và nguyên tử, rồi sau đó chúng ta có thể bàn đến chủ đề thể nguyên nhân và con người, cá nhân biệt ngã. [Page 531] |
|
170. This will be a most important section to be used in stabilizing our understanding of the subject of the permanent atoms and the spirillae. |
170. Đây sẽ là một phần hết sức quan trọng để dùng vào việc ổn định sự thấu hiểu của chúng ta về chủ đề các nguyên tử trường tồn và các loa tuyến. |
|
1. The four lower spirillae are definitely under the influence of the personality Ray. |
1. Bốn loa tuyến thấp chắc chắn ở dưới ảnh hưởng của cung phàm ngã. |
|
171. This is predictable numerologically. The fourth spirilla is correlated specifically with the fourth, or human, kingdom. |
171. Điều này có thể dự đoán được về mặt số học huyền bí. Loa tuyến thứ tư được tương quan đặc biệt với giới thứ tư, hay giới nhân loại. |
|
172. Since the mental unit has only four spirillae, this entire center of force refers only to the personality or to what has been called the “lower quaternary”. |
172. Vì đơn vị hạ trí chỉ có bốn loa tuyến, nên toàn bộ trung tâm mãnh lực này chỉ quy chiếu đến phàm ngã hoặc đến điều đã được gọi là “bộ tứ thấp”. |
|
2. The fifth and sixth spirillae are more specifically under the egoic Ray, whatever that Ray may be. |
2. Loa tuyến thứ năm và thứ sáu đặc biệt hơn ở dưới cung chân ngã, bất kể cung ấy là cung nào. |
|
173. We might expect that only the fifth spirilla would be connected with the “egoic Ray”. The fifth kingdom is that in which the egoic ray principally demonstrates. We would then expect the sixth spirilla to be connected with the sixth kingdom of Planetary Lives. Yet, it must be as the Tibetan so definitively states, and for this there must be a reason. |
173. Chúng ta có thể mong đợi rằng chỉ loa tuyến thứ năm mới được nối kết với “cung chân ngã”. Giới thứ năm là giới trong đó cung chân ngã biểu lộ chủ yếu. Khi ấy chúng ta sẽ mong đợi loa tuyến thứ sáu được nối kết với giới thứ sáu của Các Sự Sống Hành tinh. Tuy nhiên, sự việc hẳn phải như Chân sư Tây Tạng đã khẳng định dứt khoát, và hẳn phải có một lý do cho điều đó. |
|
174. Perhaps the sixth spirilla is connected specifically with the functioning of the spiritual triad—the three of the triad and the six of the spirilla being arithmetically related. |
174. Có lẽ loa tuyến thứ sáu được nối kết đặc biệt với sự hoạt động của Tam Nguyên Tinh Thần—ba của tam nguyên và sáu của loa tuyến có liên hệ với nhau về mặt số học. |
|
175. Both the Ego within the causal body and the Ego liberated and demonstrating as the spiritual triad are associated with the egoic ray. The rays of the permanent atoms of the spiritual triad are the same as the rays of the Ego within the causal body. |
175. Cả Chân ngã trong thể nguyên nhân lẫn Chân ngã đã được giải thoát và biểu lộ như Tam Nguyên Tinh Thần đều gắn liền với cung chân ngã. Các cung của những nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần cũng giống như các cung của Chân ngã trong thể nguyên nhân. |
|
176. We note that no matter what the egoic ray may be, it influences both the fifth and sixth spirillae. |
176. Chúng ta lưu ý rằng bất kể cung chân ngã là cung nào, nó đều ảnh hưởng đến cả loa tuyến thứ năm lẫn thứ sáu. |
|
3. The fifth spirilla has a peculiar value inasmuch as it synthesises the lower four. |
3. Loa tuyến thứ năm có một giá trị đặc biệt vì nó synthesises bốn loa tuyến thấp. |
|
177. In this respect the fifth spirilla has a brahmic function—the fifth as the one synthesizing the lower four (just as the Brahma Aspect synthesizes the Rays of Attribute_. |
177. Về phương diện này, loa tuyến thứ năm có một chức năng brahmic—thứ năm là cái tổng hợp bốn cái thấp (cũng như Phương diện Brahma tổng hợp Các Cung Thuộc Tính_. |
|
178. We are now at the point of human evolution when the fifth spirilla is undergoing wide stimulation. Humanity is preparing to enter the fifth kingdom. |
178. Hiện nay chúng ta đang ở vào điểm của tiến hoá nhân loại khi loa tuyến thứ năm đang chịu một sự kích thích rộng khắp. Nhân loại đang chuẩn bị bước vào giới thứ năm. |
|
It is the third when counting the streams of spiral force from the standpoint of the atomic pole. It vibrates to five types of force. |
Nó là thứ ba khi đếm các dòng mãnh lực xoắn ốc từ quan điểm của cực nguyên tử. Nó rung động với năm loại mãnh lực. |
|
179. From what is said, it seems that every spirilla vibrates to a certain number of forces, the same number as the number of the spirilla. |
179. Từ điều được nói ra, có vẻ như mỗi loa tuyến rung động với một số lượng mãnh lực nhất định, con số ấy trùng với số của loa tuyến. |
|
180. This would mean that the fifth spirilla would vibrate to five types of force, the fourth to four, the third to three, etc. |
180. Điều này có nghĩa là loa tuyến thứ năm sẽ rung động với năm loại mãnh lực, loa tuyến thứ tư với bốn loại, loa tuyến thứ ba với ba loại, v.v. |
|
181. For seven spirillae we would have: 1 + 2 + 3 + 4 + 5 + 6 + 7 =28. We will recognize 28 as an important number—the number of the OM. |
181. Với bảy loa tuyến, chúng ta sẽ có: 1 + 2 + 3 + 4 + 5 + 6 + 7 = 28. Chúng ta sẽ nhận ra 28 là một con số quan trọng—con số của OM. |
|
4. The spirillae are literally ten in number, three major and seven minor. But from the unity point of view, they are the four and the major three, the remaining lesser three being counted as one with their major, inasmuch as they are direct reflections. |
4. Các loa tuyến theo nghĩa đen có số lượng là mười, ba lớn và bảy nhỏ. Nhưng từ quan điểm hợp nhất, chúng là bốn và ba lớn, ba nhỏ còn lại được tính là một với cái lớn của chúng, vì chúng là những phản chiếu trực tiếp. |
|
182. The literal perspective is important: 3 + 7. This is a perspective which correlates with the pattern of the Tree of Life and with the structure of the planetary schemes (three synthesizing schemes and seven others, including three non-sacred schemes). One wonders if the three non-sacred planets are, in some manner, reflections of the three synthesizing planets. |
182. Quan điểm theo nghĩa đen là quan trọng: 3 + 7. Đây là một quan điểm tương quan với mô hình của Cây Sự Sống và với cấu trúc của các hệ hành tinh (ba hệ tổng hợp và bảy hệ khác, kể cả ba hệ không thiêng liêng). Người ta tự hỏi liệu ba hành tinh không thiêng liêng có phải, theo một cách nào đó, là những phản chiếu của ba hành tinh tổng hợp hay không. |
|
183. We find the lower spirillae not even counted as they directly reflect the higher three. |
183. Chúng ta thấy các loa tuyến thấp thậm chí không được tính đến vì chúng phản chiếu trực tiếp ba loa tuyến cao hơn. |
|
184. Could there be a kind of absorption of the lower three into the higher three similarly to the way the lower ethers are absorbed into or subsumed by the higher? |
184. Liệu có thể có một loại hấp thụ ba loa tuyến thấp vào ba loa tuyến cao theo cách tương tự như các dĩ thái thấp được hấp thụ vào hay được bao hàm trong các dĩ thái cao hơn chăng? |
|
185. This way of treating the ten so they become a seven has applicability in other contexts. |
185. Cách xử lý mười để chúng trở thành bảy này có thể áp dụng trong những bối cảnh khác. |
|
5. The permanent atoms are not heart-shaped as portrayed in certain books. A certain number of atoms are of that type but they are not the permanent atoms which are more definitely spheroidal and are slightly flattened at the top, where the correspondence to the polar depression may be found, and equally flattened at the under surface. |
5. Các nguyên tử trường tồn không có hình trái tim như được mô tả trong một số sách. Một số nguyên tử nhất định thuộc loại đó nhưng chúng không phải là các nguyên tử trường tồn, vốn có hình cầu rõ rệt hơn và hơi dẹt ở phía trên, nơi có thể tìm thấy sự tương ứng với chỗ lõm cực, và cũng dẹt tương tự ở mặt dưới. |
|
186. DK has to correct certain misconceptions. |
186. Chân sư DK phải sửa lại một số ngộ nhận. |
|
187. The general picture of permanent atoms is as spheroidal and somewhat flattened at both poles. |
187. Hình ảnh tổng quát của các nguyên tử trường tồn là hình cầu và hơi dẹt ở cả hai cực. |
|
6. The arrangement of the spirillae within the permanent atoms varies on each plane and the ones most frequently described are those of the physical plane. |
6. Sự sắp xếp của các loa tuyến bên trong các nguyên tử trường tồn thay đổi trên mỗi cõi, và những loại được mô tả thường xuyên nhất là những loại của cõi hồng trần. |
|
188. The best known atom, occultly described, is “Babbitt’s Atom” which is clearly an etheric atom. Is it a permanent atom? This has not been specified. |
188. Nguyên tử được biết đến nhiều nhất, được mô tả theo huyền bí học, là “Nguyên tử của Babbitt”, rõ ràng là một nguyên tử dĩ thái. Liệu nó có phải là một nguyên tử trường tồn không? Điều này chưa được xác định. |
|
The arrangement of these tiny force vortices |
Sự sắp xếp của những xoáy mãnh lực nhỏ bé này |
|
189. Here we are speaking of spirillae… |
189. Ở đây chúng ta đang nói về các loa tuyến… |
|
and their internal economy |
và sự kinh tế nội tại của chúng |
|
190. By this, we mean the manner in which force is expressed through them and distributed by them… |
190. Bởi điều này, chúng ta muốn nói đến cách thức mà mãnh lực được biểu lộ qua chúng và được chúng phân phối… |
|
on each plane is one of the secrets of initiation and may not be revealed. |
trên mỗi cõi là một trong những bí mật của điểm đạo và không thể được tiết lộ. |
|
191. Probably for each type of atom there is a different arrangement. |
191. Có lẽ đối với mỗi loại nguyên tử lại có một sự sắp xếp khác nhau. |
|
One hint only may be given to guide the student: The astral permanent atom has its internal streams of force arranged so that the spirals do approach quite closely the conformation of a heart, though the pointed end is eliminated. |
Chỉ có thể đưa ra một gợi ý để hướng dẫn đạo sinh: Nguyên tử trường tồn cảm dục có các dòng mãnh lực nội tại được sắp xếp sao cho các đường xoắn tiến đến khá gần cấu dạng của một trái tim, dù đầu nhọn đã bị loại bỏ. |
|
192. We presume that the where one would expect a pointed end, there is a polar flattening. |
192. Chúng ta giả định rằng ở chỗ người ta mong đợi có một đầu nhọn, lại có một sự dẹt cực. |
|
193. The astral plane is ruled by the systemic Law of Love. As well, it is on the 2—4—6 line of force. The shape of a heart seems somehow appropriate. |
193. Cõi cảm dục được cai quản bởi Định luật Tình thương của hệ. Đồng thời, nó nằm trên tuyến mãnh lực 2—4—6. Hình dạng trái tim dường như bằng cách nào đó là thích hợp. |
|
The buddhic permanent atom has its spirillae arranged so as to form approximately a figure eight with a central stream bisecting the double spiral. |
Nguyên tử trường tồn Bồ đề có các loa tuyến được sắp xếp sao cho hình thành gần đúng một hình số tám với một dòng trung tâm chia đôi đường xoắn kép. |
|
194. The buddhic plane is related to Mercury Who is the “Guardian at the Eighth Gate”. The antahkarana, which is a Mercurial structure, is also said to be composed of lines of force arranged in figure eights. |
194. Cõi Bồ đề có liên hệ với Sao Thủy, Đấng là “Người Canh Giữ tại Cổng Thứ Tám”. Antahkarana, vốn là một cấu trúc thuộc Sao Thủy, cũng được nói là được cấu tạo bằng những đường mãnh lực sắp xếp theo hình số tám. |
|
195. We are alerted to the possibility that the permanent atoms of the various planes may be arranged in symbolic form. The heart is symbolically related to the love and desire of the astral level, and the figure eight to the buddhic plane. What other types of symbols could serve in relation to the mental plane, for instance, or to the atmic? We would expect a distinctive geometry. |
195. Chúng ta được cảnh báo về khả năng rằng các nguyên tử trường tồn của những cõi khác nhau có thể được sắp xếp theo hình thức biểu tượng. Trái tim có liên hệ biểu tượng với tình thương và dục vọng của cấp độ cảm dục, còn hình số tám với cõi Bồ đề. Chẳng hạn, những loại biểu tượng nào khác có thể dùng trong liên hệ với cõi trí, hoặc với cõi atma? Chúng ta sẽ mong đợi một hình học đặc thù. |
|
7. The closer the approach to reality the simpler will be found the arrangement of the spirilla. |
7. Càng tiến gần đến thực tại, sự sắp xếp của các loa tuyến càng được thấy là đơn giản hơn. |
|
196. Is it possible that as we approach the atmic plane, some threefold arrangement would emerge? Would monadic permanent atoms (as they must necessarily exist for certain higher beings—cf. TCF 533-534) have a twofold structure, and would logoic permanent atoms be unitary? |
196. Liệu có thể chăng rằng khi chúng ta tiến gần đến cõi atma, một sự sắp xếp tam phân nào đó sẽ xuất hiện? Liệu các nguyên tử trường tồn chân thần (vì chúng hẳn phải tất yếu tồn tại đối với một số hữu thể cao hơn—xem TCF 533-534) có một cấu trúc nhị phân, và liệu các nguyên tử trường tồn logoic có tính đơn nhất chăng? |
|
These streams of force show a septenary arrangement in the [Page 532] lower three permanent atoms of man, while the higher three contain but three spirillae—the major three. |
Các dòng mãnh lực này cho thấy một sự sắp xếp thất phân trong [Page 532] ba nguyên tử trường tồn thấp của con người, trong khi ba nguyên tử cao hơn chỉ chứa ba loa tuyến—ba loa tuyến lớn. |
|
197. We recall from TCF 177 the ninefold choice of rays for the “Ego” considered as the spiritual triad. The three permanent atoms times three spirillae would give the requisite nine. |
197. Chúng ta nhớ từ TCF 177 sự lựa chọn cung cửu phân dành cho “Chân ngã” được xét như Tam Nguyên Tinh Thần. Ba nguyên tử trường tồn nhân với ba loa tuyến sẽ cho ra con số chín cần thiết. |
|
198. If we look closely, however, we will find an apparent contraction in the section of text just reviewed. |
198. Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ, chúng ta sẽ thấy có một sự co rút biểu kiến trong phần văn bản vừa được khảo sát. |
|
199. The lower two permanent atoms may well have a septenary arrangement, but what of the mental unit? That has only four spirillae we are told. |
199. Hai nguyên tử trường tồn thấp thì có thể có một sự sắp xếp thất phân, nhưng còn đơn vị hạ trí thì sao? Chúng ta được bảo rằng nó chỉ có bốn loa tuyến. |
|
200. And is not the manasic permanent atom one of the higher three permanent atoms of man? From what has been said, we would expect the manasic permanent atom, the buddhic permanent atom and he atmic permanent atom each to have a threefold structure. |
200. Và chẳng phải nguyên tử trường tồn manas là một trong ba nguyên tử trường tồn cao hơn của con người sao? Từ những gì đã được nói, chúng ta sẽ mong đợi nguyên tử trường tồn manas, nguyên tử trường tồn Bồ đề và nguyên tử trường tồn atma mỗi cái đều có một cấu trúc tam phân. |
|
201. Which atoms, really, are the lower three and the higher three? |
201. Thực sự thì những nguyên tử nào là ba thấp và ba cao? |
|
202. Perhaps we could say of the mental unit that it would have a sevenfold structure if it were complete. |
202. Có lẽ chúng ta có thể nói về đơn vị hạ trí rằng nó sẽ có một cấu trúc thất phân nếu nó hoàn chỉnh. |
|
203. May we expect that there are actually ten spirillae in the physical and astral permanent atoms, but only three (the major three) in the permanent atoms of the spiritual triad? |
203. Liệu chúng ta có thể mong đợi rằng thực sự có mười loa tuyến trong nguyên tử trường tồn hồng trần và cảm dục, nhưng chỉ có ba (ba loa tuyến lớn) trong các nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần chăng? |
|
204. If the spirillae structure of the physical and astral permanent atoms is really tenfold, will the mental unit remain only fourfold? |
204. Nếu cấu trúc loa tuyến của nguyên tử trường tồn hồng trần và cảm dục thực sự là thập phân, liệu đơn vị hạ trí có vẫn chỉ là tứ phân không? |
|
205. For the moment we will have to leave the mental unit out of consideration as its case is indeterminate. |
205. Tạm thời chúng ta sẽ phải gác đơn vị hạ trí ra ngoài sự xem xét vì trường hợp của nó chưa xác định. |
|
8. It should be noted that there are but six permanent atoms connected with human evolution, while a Heavenly Man has but five, and even then only one in the solar system. |
8. Cần lưu ý rằng chỉ có sáu nguyên tử trường tồn liên hệ với sự tiến hoá của con người, trong khi một Đấng Thiên Nhân chỉ có năm, và ngay cả khi ấy cũng chỉ một cái trong hệ mặt trời. |
|
206. This point is of real importance. Among the six so-called permanent atoms of the human being, it would seem that the mental unit (which is not a full permanent atom) is counted. Yet if the two lower permanent atoms have seven spirillae (or ten) and the three higher have three, then the number of permanent atoms in the mental unit can be considered transitional between seven (or ten) and three. |
206. Điểm này thực sự quan trọng. Trong số sáu cái gọi là nguyên tử trường tồn của con người, có vẻ như đơn vị hạ trí (vốn không phải là một nguyên tử trường tồn trọn vẹn) được tính vào. Tuy nhiên, nếu hai nguyên tử trường tồn thấp có bảy loa tuyến (hoặc mười) và ba nguyên tử cao có ba loa tuyến, thì số lượng nguyên tử trường tồn trong đơn vị hạ trí có thể được xem là chuyển tiếp giữa bảy (hoặc mười) và ba. |
|
207. But what of the monadic auric egg? As a sheath (for it is a sheath) it is not ‘created’ by a permanent atom? Is not every vehicle created by a permanent atom (except the causal body which was created by the divine intervention of the Solar Angels)? |
207. Nhưng còn noãn hào quang chân thần thì sao? Với tư cách là một vỏ bọc (vì nó là một vỏ bọc) nó không được ‘tạo ra’ bởi một nguyên tử trường tồn sao? Chẳng phải mọi vận cụ đều được tạo ra bởi một nguyên tử trường tồn sao (ngoại trừ thể nguyên nhân vốn được tạo ra bởi sự can thiệp thiêng liêng của các Thái dương Thiên Thần)? |
|
208. It has long been questioned whether a Heavenly Man has a mental unit? Or whether our particular Heavenly Man has a mental unit? From what is here said it would seem that there is no room for a mental unit in the compliment of permanent atoms in the energy system of a Heavenly Man. |
208. Từ lâu người ta đã đặt câu hỏi liệu một Đấng Thiên Nhân có một đơn vị hạ trí hay không? Hoặc liệu Đấng Thiên Nhân riêng biệt của chúng ta có một đơn vị hạ trí hay không? Từ điều được nói ở đây, có vẻ như không có chỗ cho một đơn vị hạ trí trong tổng số các nguyên tử trường tồn trong hệ thống năng lượng của một Đấng Thiên Nhân. |
|
209. Again, the solar system exists only on the cosmic physical plane, and so we see that the Heavenly Man has only one permanent atom on the cosmic physical plane. |
209. Một lần nữa, hệ mặt trời chỉ tồn tại trên cõi hồng trần vũ trụ, và vì thế chúng ta thấy rằng Đấng Thiên Nhân chỉ có một nguyên tử trường tồn trên cõi hồng trần vũ trụ. |
|
(The mystery of a planet and its central life has not yet been revealed. It is connected with another manifestation of which as yet nought is known.) |
(Huyền nhiệm của một hành tinh và sự sống trung tâm của nó vẫn chưa được mặc khải. Nó có liên hệ với một biểu hiện khác mà hiện nay chưa biết gì cả.) |
|
210. We may question whether our Planetary Logos is like all others or whether some special case has existed upon which provides its Logos with a mental unit? |
210. Chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu Hành Tinh Thượng đế của chúng ta có giống tất cả các vị khác hay không, hay đã có một trường hợp đặc biệt nào đó khiến Thượng đế của Ngài có một đơn vị hạ trí? |
|
211. Perhaps even our Solar Logos has within it the correspondence to a mental unit? |
211. Có lẽ ngay cả Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng có trong chính Ngài sự tương ứng với một đơn vị hạ trí? |
|
212. The following quotation directs our thought to such a speculation: |
212. Đoạn trích dẫn sau đây hướng tư tưởng của chúng ta đến một sự suy đoán như thế: |
|
The coming of the Lords of Flame to the Earth was all under law and not just an accidental and fortunate happening; it was a planetary matter which finds its correspondence in the connection between the mental unit and the manasic permanent atom. [Notice, it is not said, in relation to what type of B/being.] Again, as the antaskarana is built by individual man between these two points, so—again in a planetary sense—is a channel being built by collective man on this planet to its primary, Venus. (TCF 297) |
Sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Lửa đến Trái Đất hoàn toàn ở dưới định luật chứ không chỉ là một biến cố ngẫu nhiên và may mắn; đó là một vấn đề hành tinh, tìm thấy sự tương ứng của nó trong mối liên hệ giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas. [Lưu ý, không nói rằng, trong liên hệ với loại Hữu thể/hữu thể nào.] Một lần nữa, cũng như antaskarana được con người cá nhân xây dựng giữa hai điểm này, thì—một lần nữa theo ý nghĩa hành tinh—một kênh dẫn đang được con người tập thể trên hành tinh này xây dựng đến nguyên mẫu chính của nó là Sao Kim. (TCF 297) |
|
213. As for the “central life” of a planet, we may assume it to be its monadic nature. Of such things we know very little if anything. |
213. Còn về “sự sống trung tâm” của một hành tinh, chúng ta có thể giả định đó là bản chất chân thần của nó. Về những điều như thế, chúng ta biết rất ít, nếu không muốn nói là không biết gì. |
|
214. We only know that Heavenly Men are Monads, that these Monads have a ray, and that the Monads of some Heavenly Men are occultly ineffective because the Heavenly Men are not yet “sacred”. |
214. Chúng ta chỉ biết rằng các Đấng Thiên Nhân là các Chân thần, rằng các Chân thần này có một cung, và rằng các Chân thần của một số Đấng Thiên Nhân thì không hữu hiệu về mặt huyền bí vì các Đấng Thiên Nhân ấy chưa “thiêng liêng”. |
|
215. We can perhaps relate the section of text above to the idea that the Solar Logos has a mental unit. Earth would stand for this mental unit and Venus (at this time) for the manasic permanent atom of the Solar Logos. |
215. Có lẽ chúng ta có thể liên hệ phần văn bản trên với ý tưởng rằng Thái dương Thượng đế có một đơn vị hạ trí. Trái Đất sẽ tượng trưng cho đơn vị hạ trí này và Sao Kim (vào thời điểm này) tượng trưng cho nguyên tử trường tồn manas của Thái dương Thượng đế. |
|
216. There is much occultism to be learned from the relation between the six and the five. Usually we are told that the six must be transformed into the five. We can understand this in relation to the permanent atoms of man, for his six permanent atoms (including the mental unit) must become five. The mental unit does not last, yet neither do the physical permanent atom and the astral permanent atom. However, when a mayavirupa is made, the points of force around which physical substance can be gathered in the lower three worlds are provided by some extension of the higher three permanent atoms. A point of force equivalent to the mental unit is not generated. The mental body in a mayavirupa is an wholeness and is not subdivided as in the case of unliberated man. |
216. Có nhiều huyền bí học cần được học từ mối liên hệ giữa sáu và năm. Thông thường chúng ta được bảo rằng sáu phải được chuyển hoá thành năm. Chúng ta có thể hiểu điều này trong liên hệ với các nguyên tử trường tồn của con người, vì sáu nguyên tử trường tồn của y (kể cả đơn vị hạ trí) phải trở thành năm. Đơn vị hạ trí không tồn tại lâu dài, nhưng nguyên tử trường tồn hồng trần và nguyên tử trường tồn cảm dục cũng vậy. Tuy nhiên, khi một mayavirupa được tạo ra, những điểm mãnh lực mà quanh đó chất liệu hồng trần có thể được tập hợp trong ba cõi thấp được cung cấp bởi một sự mở rộng nào đó của ba nguyên tử trường tồn cao hơn. Một điểm mãnh lực tương đương với đơn vị hạ trí không được tạo ra. Thể trí trong một mayavirupa là một toàn thể và không bị phân chia nhỏ như trong trường hợp con người chưa được giải thoát. |
|
9. It should be remembered that we are dealing with a physical incarnation of these great Entities and that Their permanent atoms, with the exception of the physical, are extra-systemic. |
9. Cần nhớ rằng chúng ta đang xử lý một sự lâm phàm hồng trần của các Thực Thể vĩ đại này và rằng các nguyên tử trường tồn của Các Ngài, ngoại trừ nguyên tử hồng trần, đều ở ngoài hệ. |
|
217. By “extra-systemic”, in this context, we mean ‘above the cosmic physical plane’. The permanent atoms of the various Planetary Logoi will be found upon the highest levels of the cosmic astral plane, the cosmic mental plane, and on cosmic planes still higher. |
217. Bởi “ngoài hệ”, trong bối cảnh này, chúng ta muốn nói là ‘ở trên cõi hồng trần vũ trụ’. Các nguyên tử trường tồn của những Hành Tinh Thượng đế khác nhau sẽ được tìm thấy trên những cấp độ cao nhất của cõi cảm dục vũ trụ, cõi trí vũ trụ, và trên những cõi vũ trụ còn cao hơn nữa. |
|
10. The causal body of the Heavenly Men is upon the third subplane of the cosmic mental plane, while that of the solar Logos and those of the three Persons of the logoic Trinity are upon the first subplane. |
10. Thể nguyên nhân của các Đấng Thiên Nhân ở trên cõi phụ thứ ba của cõi trí vũ trụ, trong khi thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế và của ba Ngôi Vị của Tam Vị logoic thì ở trên cõi phụ thứ nhất. |
|
218. We are told the causal bodies of the Heavenly Men are to be found on the third sub-plane of the cosmic mental plane, but one wonders if this statement refers to all Planetary Logoi or, principally, the non-sacred Planetary Logoi. |
218. Chúng ta được bảo rằng các thể nguyên nhân của các Đấng Thiên Nhân được tìm thấy trên cõi phụ thứ ba của cõi trí vũ trụ, nhưng người ta tự hỏi liệu phát biểu này có quy chiếu đến tất cả các Hành Tinh Thượng đế hay chủ yếu là các Hành Tinh Thượng đế không thiêng liêng. |
|
219. There appears to be a gap. Is there no great Entity Whose causal body is to be found on the second sub-plane of the cosmic mental plane, for instance, just as human beings who are advanced or initiate have causal bodies upon the second sub-plane of the systemic mental plane? |
219. Dường như có một khoảng trống. Chẳng lẽ không có một Thực Thể vĩ đại nào mà thể nguyên nhân của Ngài được tìm thấy trên cõi phụ thứ hai của cõi trí vũ trụ, chẳng hạn, cũng như những con người đã tiến bộ hay các điểm đạo đồ có các thể nguyên nhân trên cõi phụ thứ hai của cõi trí hệ thống hay sao? |
|
220. A proposal may be offered (later to be verified or refuted) that the causal bodies of the Logoi of sacred planets will be found on the second sub-plane of the cosmic mental plane while those of the non-sacred Planetary Logoi will remain on the third. |
220. Có thể đưa ra một giả thuyết (để sau này được kiểm chứng hoặc bác bỏ) rằng các thể nguyên nhân của các Thượng đế của những hành tinh thiêng liêng sẽ được tìm thấy trên cõi phụ thứ hai của cõi trí vũ trụ, trong khi các thể nguyên nhân của các Đức Hành Tinh Thượng Đế không thiêng liêng sẽ vẫn ở trên cõi phụ thứ ba. |
|
221. As well, there are Entities Who form a part of the Heavenly Men. They are called Chain Lords and Globe Lords and may, under certain circumstances, be called “Heavenly Men.” May it be that Their causal bodies are also found on the third sub-plane of the cosmic mental plane? |
221. Ngoài ra, còn có những Thực Thể tạo thành một phần của các Đấng Thiên Nhân. Các Ngài được gọi là các Chúa Tể của Dãy và các Chúa Tể của bầu hành tinh, và trong một số hoàn cảnh nhất định, có thể được gọi là “Đấng Thiên Nhân”. Có thể chăng các thể nguyên nhân của Các Ngài cũng được tìm thấy trên cõi phụ thứ ba của cõi trí vũ trụ? |
|
222. Nature does not tolerate such discontinuities and we must find the way to bridge them. Wherever (when studying the Teaching) a discontinuity appears, we may suppose ourselves to be in the presence of an “occult blind” or that certain information has been deliberately excluded. |
222. Bản chất không dung thứ những sự gián đoạn như thế, và chúng ta phải tìm ra cách bắt cầu chúng. Bất cứ nơi nào (khi nghiên cứu Giáo Huấn) một sự gián đoạn xuất hiện, chúng ta có thể giả định rằng mình đang đứng trước một “bức màn huyền bí”, hoặc rằng một số thông tin nào đó đã bị cố ý loại bỏ. |
|
11. The permanent atoms of men are upon the atomic subplane of each plane, with the one exception of the mental unit. |
11. Các nguyên tử trường tồn của con người nằm trên cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi, ngoại trừ duy nhất đơn vị hạ trí. |
|
223. The implication here is that the mental unit is considered as a kind of permanent atom. |
223. Hàm ý ở đây là đơn vị hạ trí được xem như một loại nguyên tử trường tồn. |
|
Those of the animal groups are upon the second subplane; those of the vegetable groups are upon the third subplane; those of the mineral groups are upon the fourth subplane. |
Các nguyên tử trường tồn của các nhóm động vật nằm trên cõi phụ thứ hai; của các nhóm thực vật nằm trên cõi phụ thứ ba; của các nhóm khoáng vật nằm trên cõi phụ thứ tư. |
|
224. These correspondences are important and should be held in mind when seeking to link the lower kingdoms to the human. |
224. Những tương ứng này rất quan trọng và cần được ghi nhớ khi tìm cách liên kết các giới thấp với giới nhân loại. |
|
225. It is also important to realize that the lives in the lower kingdoms all have permanent atoms. |
225. Cũng quan trọng không kém là phải chứng nghiệm rằng các sự sống trong các giới thấp đều có các nguyên tử trường tồn. |
|
226. Through this distribution the following emerges: |
226. Qua sự phân bố này, điều sau đây xuất hiện: |
|
a. The fourth kingdom is linked to the number one |
a. giới thứ tư được liên kết với số một |
|
b. The third kingdom is linked to the number two |
b. giới thứ ba được liên kết với số hai |
|
c. The second kingdom is linked to the number three |
c. giới thứ hai được liên kết với số ba |
|
d. The first kingdom is linked to the number four |
d. giới thứ nhất được liên kết với số bốn |
|
227. It becomes clear that the mental unit of the human being has some link with the mineral kingdom since both it and the permanent atom in the mineral group are found upon a fourth sub-plane. |
227. Rõ ràng là đơn vị hạ trí của con người có một mối liên hệ nào đó với giới kim thạch, vì cả nó lẫn nguyên tử trường tồn trong nhóm khoáng vật đều được tìm thấy trên một cõi phụ thứ tư. |
|
There is, therefore, a close analogy between these focal points of force of the group—human or otherwise—and a chain, a globe, and a round, and in their due application comes enlightenment. |
Do đó, có một sự tương đồng chặt chẽ giữa những tiêu điểm mãnh lực này của nhóm—nhân loại hay nhóm khác—với một dãy, một bầu hành tinh và một cuộc tuần hoàn, và trong sự áp dụng đúng đắn của chúng có sự giác ngộ. |
|
228. We are being given some potential analogies to expand. |
228. Chúng ta đang được trao cho một số tương đồng tiềm năng để mở rộng. |
|
229. The permanent atoms are names “focal points of force”. |
229. Các nguyên tử trường tồn được gọi là những “tiêu điểm mãnh lực”. |
|
230. The chains, globes and rounds are numbered and the permanent atoms are numbered. DK seems to be suggesting the correlating of these numbers. |
230. Các dãy, các bầu hành tinh và các cuộc tuần hoàn được đánh số, và các nguyên tử trường tồn cũng được đánh số. Chân sư DK dường như đang gợi ý việc đối chiếu các con số này. |
|
231. The first kingdom can be, for instance correlated with the first chain, globe or round; the second kingdom with the second chain, globe or round; etc. |
231. Chẳng hạn, giới thứ nhất có thể được tương liên với dãy, bầu hành tinh hay cuộc tuần hoàn thứ nhất; giới thứ hai với dãy, bầu hành tinh hay cuộc tuần hoàn thứ hai; v.v. |
|
232. For the mineral in relation to the first chain, globe or round, the fourth sub-plane will be focal through the mineral permanent atom. For the vegetable in relation to the second chain, globe or round the third sub-plane will be focal through the vegetable permanent atom. And so, correspondingly, for the animal, and later man. |
232. Đối với giới kim thạch trong liên hệ với dãy, bầu hành tinh hay cuộc tuần hoàn thứ nhất, cõi phụ thứ tư sẽ là tiêu điểm thông qua nguyên tử trường tồn khoáng vật. Đối với giới thực vật trong liên hệ với dãy, bầu hành tinh hay cuộc tuần hoàn thứ hai, cõi phụ thứ ba sẽ là tiêu điểm thông qua nguyên tử trường tồn thực vật. Và tương ứng như vậy đối với động vật, và sau đó là con người. |
|
233. As the chains, globes or rounds increase in number, the sub-planes on which the permanent atoms are found decrease in number. |
233. Khi số lượng các dãy, các bầu hành tinh hay các cuộc tuần hoàn tăng lên, thì số thứ tự của các cõi phụ nơi các nguyên tử trường tồn được tìm thấy lại giảm xuống. |
|
234. What of permanent atoms for the members of the fifth, sixth and seventh kingdoms. We can go no higher than the atomic sub-plane. |
234. Còn các nguyên tử trường tồn của các thành viên thuộc giới thứ năm, thứ sáu và thứ bảy thì sao? Chúng ta không thể đi cao hơn cõi phụ nguyên tử. |
|
235. Since, however, this is the fourth round, we have been told that the present human physical form is adequate for the expression of the higher kingdoms. In other words, one can be expressing through the fifth, sixth or even seventh kingdoms of nature and still be utilizing a human form—generated by permanent atoms on the atomic levels of the various systemic planes involved. |
235. Tuy nhiên, vì đây là cuộc tuần hoàn thứ tư, chúng ta đã được cho biết rằng hình thể hồng trần hiện nay của con người là thích hợp cho sự biểu lộ của các giới cao hơn. Nói cách khác, người ta có thể đang biểu lộ qua giới thứ năm, thứ sáu hay thậm chí thứ bảy của bản chất mà vẫn sử dụng một hình thể người—được tạo ra bởi các nguyên tử trường tồn trên các mức nguyên tử của những cõi hệ thống liên quan. |
|
236. It would be an intricate study, but I think we see how it could be pursued and DK promises enlightenment after “due application”. |
236. Đây sẽ là một nghiên cứu phức tạp, nhưng tôi nghĩ chúng ta thấy được cách nó có thể được theo đuổi, và Chân sư DK hứa hẹn sự giác ngộ sau “sự áp dụng đúng đắn”. |
|
The sumtotal of the permanent atoms of any particular kingdom form the streams of force or spirillae in the greater atoms of solar entities or of lunar entities, |
Tổng số các nguyên tử trường tồn của bất kỳ giới đặc thù nào tạo thành các dòng mãnh lực hay các loa tuyến trong các nguyên tử lớn hơn của các thực thể thái dương hoặc của các thực thể thái âm, |
|
237. Many permanent atoms (within any of the three lower kingdoms) form spirillae or streams of force in the greater atoms of solar and lunar entities. |
237. Nhiều nguyên tử trường tồn (trong bất kỳ giới nào thuộc ba giới thấp) tạo thành các loa tuyến hay các dòng mãnh lực trong các nguyên tử lớn hơn của các thực thể thái dương và thái âm. |
|
238. Lesser entities are as forces in the energy-economy of greater Entities. |
238. Các thực thể nhỏ hơn là những mãnh lực trong nền kinh tế năng lượng của các Thực Thể lớn hơn. |
|
239. It is possible that the fourth kingdom as a strictly human kingdom may be included in this enumeration (as in the next text reference, the “spiritual kingdom” is mentioned). |
239. Có thể giới thứ tư với tư cách là một giới thuần nhân loại được bao gồm trong sự liệt kê này (vì trong đoạn tham chiếu kế tiếp, “giới tinh thần” được nhắc đến). |
|
240. The Lords of the Kingdoms of Nature are solar entities. We do not know of what “lunar entities” DK could be speaking, but it might be well to remind ourselves that Jehovah (a god related to the Moon-chain) was/is a lunar Entity. |
240. Các Chúa Tể của các Giới trong Thiên Nhiên là các thực thể thái dương. Chúng ta không biết Chân sư DK có thể đang nói đến những “thực thể thái âm” nào, nhưng có lẽ nên tự nhắc mình rằng Jehovah (một vị thần liên hệ với Dãy Mặt Trăng) đã/đang là một Thực Thể thái âm. |
|
241. Permanent atoms are focal points of force so it is not difficult to see how the combination of many of them could form “streams of force” or spirillae. |
241. Các nguyên tử trường tồn là những tiêu điểm mãnh lực, vì thế không khó để thấy rằng sự kết hợp của nhiều nguyên tử như vậy có thể tạo thành các “dòng mãnh lực” hay các loa tuyến. |
|
242. There is analogy: just as the bubbles in the koilon or utterly simple points of force (simple from the perspective of the cosmic physical plane) are gathered together to form spirillae in the tiny atoms of substance, so the permanent atoms themselves can be gathered together to form spirillae or streams of force in much greater atoms—the “greater atoms of solar entities or of lunar entities”. |
242. Có một sự tương đồng: cũng như các bọt trong koilon hay những điểm mãnh lực hoàn toàn đơn giản (đơn giản theo quan điểm của cõi hồng trần vũ trụ) được tập hợp lại để tạo thành các loa tuyến trong những nguyên tử cực nhỏ của chất liệu, thì chính các nguyên tử trường tồn cũng có thể được tập hợp lại để tạo thành các loa tuyến hay các dòng mãnh lực trong những nguyên tử lớn hơn rất nhiều—“các nguyên tử lớn hơn của các thực thể thái dương hoặc của các thực thể thái âm”. |
|
while the sumtotal of the permanent atoms of man in the spiritual kingdom (the three triadal atoms, atma-buddhi-manas) form the spiral streams of force within certain centres. |
trong khi tổng số các nguyên tử trường tồn của con người trong giới tinh thần (ba nguyên tử tam nguyên tinh thần, atma-buddhi-manas) tạo thành các dòng xoắn ốc của mãnh lực bên trong một số trung tâm nhất định. |
|
243. Again—a most occult and veiled reference. We are not told which centers they are, but they are likely to be in Entities/Centers higher than those formed by the permanent atoms of the lower kingdoms. |
243. Một lần nữa—đây là một tham chiếu hết sức huyền bí và che giấu. Chúng ta không được cho biết đó là những trung tâm nào, nhưng có lẽ chúng nằm trong các Thực Thể/Trung tâm cao hơn những trung tâm được hình thành bởi các nguyên tử trường tồn của các giới thấp. |
|
244. If we check TCF 844 we shall see that the type of Life listed as immediately superior to the Lives which inform the kingdoms of nature are “the informing [lives] of a planetary globe”. Is it possible that that the permanent atoms of “man in the spiritual kingdom” (thus the higher permanent atoms to be found in the triad) form the spirillae of the Globe Lords considered as planetary centers? |
244. Nếu chúng ta kiểm tra TCF 844, chúng ta sẽ thấy rằng loại Sự sống được liệt kê là cao hơn trực tiếp các Sự sống phú linh cho các giới trong thiên nhiên là “các [sự sống] phú linh của một bầu hành tinh”. Có thể chăng các nguyên tử trường tồn của “con người trong giới tinh thần” (do đó là các nguyên tử trường tồn cao hơn được tìm thấy trong tam nguyên tinh thần) tạo thành các loa tuyến của các Chúa Tể bầu hành tinh được xem như các trung tâm hành tinh? |
|
245. We do note another of those discontinuities in the tabulation on TCF 844, for the ‘Informing Lives of a Planetary Chain” are not discussed |
245. Chúng ta lại lưu ý một sự gián đoạn khác trong bảng liệt kê ở TCF 844, vì “Các Sự sống Phú linh của một Dãy Hành Tinh” không được bàn đến |
|
246. The permanent atoms of man-as-man should be contrasted, I think, with the permanent atoms of “man in the spiritual kingdom”. The two sets of permanent atoms will be different. |
246. Theo tôi nghĩ, các nguyên tử trường tồn của con người-với-tư-cách-con-người nên được đối chiếu với các nguyên tử trường tồn của “con người trong giới tinh thần”. Hai bộ nguyên tử trường tồn này sẽ khác nhau. |
|
12. As the permanent atoms become radioactive in due course of evolution, the result within the centre is a marked increase of vibration. |
12. Khi các nguyên tử trường tồn trở nên phóng xạ theo tiến trình tiến hoá thích đáng, kết quả bên trong trung tâm là một sự gia tăng rung động rõ rệt. |
|
247. Centers are chakras are E/entities and they evolve. The time for the initiation of a particular center, chakra or E/entity coincides with the growing radioactivity of the permanent atoms found within that center, chakra or E/entity. |
247. Các trung tâm là các luân xa, là các thực thể, và chúng tiến hoá. Thời điểm điểm đạo của một trung tâm, luân xa hay thực thể đặc thù trùng hợp với tính phóng xạ ngày càng tăng của các nguyên tử trường tồn được tìm thấy bên trong trung tâm, luân xa hay thực thể ấy. |
|
248. Each chakra or center is multilayered and has a number of vehicles comprising it. Each one of these vehicles has its own permanent atom. |
248. Mỗi luân xa hay trung tâm đều có nhiều lớp và gồm một số vận cụ cấu thành nó. Mỗi vận cụ trong số này đều có nguyên tử trường tồn riêng của nó. |
|
249. As man becomes radioactive (and this indicates that his permanent atoms are becoming radioactive), the greater centers of which he and his permanent atoms are a part show a “marked increase of vibration”. |
249. Khi con người trở nên phóng xạ (và điều này cho thấy rằng các nguyên tử trường tồn của y đang trở nên phóng xạ), thì các trung tâm lớn hơn mà y và các nguyên tử trường tồn của y là một phần trong đó biểu lộ một “sự gia tăng rung động rõ rệt”. |
|
250. The radioactivity of the permanent atoms begins to occur when a certain number of spirillae have been activated. |
250. Tính phóng xạ của các nguyên tử trường tồn bắt đầu xuất hiện khi một số lượng nhất định các loa tuyến đã được hoạt hóa. |
|
251. The lower permanent atoms of man cannot become radioactive when only four spirillae are activated, but when the fifth spirilla is activated, a state of radioactivity is in process. This is even more the case when the higher, major or permanent spirillae are activated. |
251. Các nguyên tử trường tồn thấp của con người không thể trở nên phóng xạ khi chỉ có bốn loa tuyến được hoạt hóa, nhưng khi loa tuyến thứ năm được hoạt hóa, một trạng thái phóng xạ đang diễn ra. Điều này càng đúng hơn nữa khi các loa tuyến cao hơn, chính yếu hay trường tồn được hoạt hóa. |
|
13. The permanent atoms concern solar entities when they are found on or above the higher mental. They [Page 533] concern lunar entities on the lower mental, the astral and the physical planes. |
13. Các nguyên tử trường tồn liên quan đến các thực thể thái dương khi chúng được tìm thấy trên hoặc cao hơn cõi thượng trí. Chúng [Page 533] liên quan đến các thực thể thái âm trên cõi hạ trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần. |
|
252. This is a really important statement. |
252. Đây thực sự là một phát biểu rất quan trọng. |
|
253. We have just read: |
253. Chúng ta vừa đọc: |
|
The sumtotal of the permanent atoms of any particular kingdom form the streams of force or spirillae in the greater atoms of solar entities or of lunar entities. |
Tổng số các nguyên tử trường tồn của bất kỳ giới đặc thù nào tạo thành các dòng mãnh lực hay các loa tuyến trong các nguyên tử lớn hơn của các thực thể thái dương hoặc của các thực thể thái âm. |
|
254. Now we discover the occult ‘location’ of those permanent atoms which concern solar entities and those which concern lunar entities. |
254. Giờ đây chúng ta khám phá ra “vị trí” huyền bí của những nguyên tử trường tồn liên quan đến các thực thể thái dương và những nguyên tử liên quan đến các thực thể thái âm. |
|
255. It is also suggested that solar entities work through the higher permanent atoms and lunar entities through the lower. |
255. Điều này cũng gợi ý rằng các thực thể thái dương hoạt động thông qua các nguyên tử trường tồn cao hơn và các thực thể thái âm thông qua các nguyên tử thấp hơn. |
|
256. It becomes clear that through various aspects of our constitution we participate in the lives of various kinds of Entities greater than ourselves (some solar and some lunar). |
256. Rõ ràng là thông qua nhiều phương diện khác nhau của cấu tạo chúng ta, chúng ta tham dự vào sự sống của nhiều loại Thực Thể lớn hơn chính mình (một số là thái dương và một số là thái âm). |
|
257. As man evolves, the lower permanent atoms (so it may be conjectured) become increasingly responsive to solar entities. This would occur as the substance of the sheaths controlled by the permanent atoms becomes increasingly atomic. |
257. Khi con người tiến hoá, các nguyên tử trường tồn thấp hơn (có thể phỏng đoán như vậy) ngày càng đáp ứng với các thực thể thái dương. Điều này sẽ xảy ra khi chất liệu của các thể do các nguyên tử trường tồn kiểm soát ngày càng trở nên nguyên tử. |
|
258. Man (and his permanent atoms), then, would participate less and less in the life of Entities that are lunar—for there are great lunar Entities as well as great solar Entities. Eventually, man will participate not at all in the life of lunar Entities. |
258. Khi ấy, con người (và các nguyên tử trường tồn của y) sẽ ngày càng ít tham dự vào sự sống của những Thực Thể là thái âm—vì có những Thực Thể thái âm vĩ đại cũng như những Thực Thể thái dương vĩ đại. Cuối cùng, con người sẽ hoàn toàn không còn tham dự vào sự sống của các Thực Thể thái âm nữa. |
|
14. It should be noted that in this solar system the following entities manifest through: |
14. Cần lưu ý rằng trong hệ mặt trời này, các thực thể sau đây biểu lộ thông qua: |
|
I. One permanent atom… the physical. |
I. Một nguyên tử trường tồn… nguyên tử hồng trần. |
|
1. A solar Logos. |
1. Một Thái dương Thượng đế. |
|
2. The three major Rays, or Lords of Aspect. |
2. Ba Cung chính yếu, hay các Chúa Tể của Các Cung Trạng Thái. |
|
259. These Beings can be called the Three Persons of the Logoic Trinity. |
259. Những Đấng này có thể được gọi là Ba Ngôi của Tam Vị Thượng đế. |
|
3. The seven Heavenly Men. |
3. Bảy Đấng Thiên Nhân. |
|
260. Presumably, all the Heavenly Men would be in this category as even Chain Lords have but one permanent atom on the cosmic physical plane. |
260. Có lẽ tất cả các Đấng Thiên Nhân đều thuộc loại này, vì ngay cả các Chúa Tể của Dãy cũng chỉ có một nguyên tử trường tồn trên cõi hồng trần vũ trụ. |
|
4. The forty-nine Regents of the planetary chains. |
4. Bốn mươi chín Đấng Nhiếp Chính của các dãy hành tinh. |
|
261. There is a great difference between the scope of these Beings. |
261. Có một sự khác biệt lớn giữa phạm vi của những Đấng này. |
|
262. They all share a similarity—having but one permanent atom on the cosmic physical plane. |
262. Tất cả các Ngài đều có chung một điểm tương đồng—chỉ có một nguyên tử trường tồn trên cõi hồng trần vũ trụ. |
|
263. Permanent atoms are, in the case of man, found on the highest or atomic level of the plane to which they belong. Do we have any assurance that, though these Beings have a permanent atom probably on the logoic plane, that it in all cases it is found on the same sub-plane of the logoic plane? |
263. Trong trường hợp con người, các nguyên tử trường tồn được tìm thấy trên mức cao nhất hay mức nguyên tử của cõi mà chúng thuộc về. Liệu chúng ta có bất kỳ bảo đảm nào rằng, dù những Đấng này có một nguyên tử trường tồn có lẽ trên cõi logoic, thì trong mọi trường hợp nó đều được tìm thấy trên cùng một cõi phụ của cõi logoic hay không? |
|
264. Just as we were told that man has his permanent atoms on the atomic level, animals on the sub-atomic level, plants on the super-etheric level and minerals on the etheric level, could it be so with respect to these four types of Beings (Who are listed in descending order of potency and consciousness—Solar Logoi, the Lord of the Three Major Rays, the seven Heavenly Men and the Forty-Nine Regents of the Planetary Chains)? |
264. Cũng như chúng ta đã được cho biết rằng con người có các nguyên tử trường tồn của mình trên mức nguyên tử, động vật trên mức dưới nguyên tử, thực vật trên mức siêu dĩ thái và khoáng vật trên mức dĩ thái, liệu điều đó có thể cũng đúng đối với bốn loại Đấng này chăng (những Đấng được liệt kê theo thứ tự giảm dần về quyền năng và tâm thức—các Thái dương Thượng đế, Chúa Tể của Ba Cung Chính Yếu, bảy Đấng Thiên Nhân và Bốn Mươi Chín Đấng Nhiếp Chính của các Dãy Hành Tinh)? |
|
265. Such questions would point towards details which are probably secrets of initiation which cannot be conferred upon us. |
265. Những câu hỏi như thế sẽ hướng đến những chi tiết có lẽ là các bí mật của điểm đạo, những điều không thể được truyền cho chúng ta. |
|
II. Two permanent atoms… the physical and the astral. |
II. Hai nguyên tử trường tồn… hồng trần và cảm dục. |
|
266. When there are two permanent atoms on the cosmic physical plane, it can be assumed that the physical permanent atom for the Entity concerned is located on a plane lower than the astral permanent atom. |
266. Khi có hai nguyên tử trường tồn trên cõi hồng trần vũ trụ, có thể giả định rằng nguyên tử trường tồn hồng trần của Thực Thể liên hệ nằm trên một cõi thấp hơn nguyên tử trường tồn cảm dục. |
|
267. We cannot reasonably descend, however, to that which man calls the physical plane or the astral plane to locate the physical and astral permanent atom of the four beings listed below. |
267. Tuy nhiên, chúng ta không thể hợp lý mà hạ xuống đến điều mà con người gọi là cõi hồng trần hay cõi cảm dục để xác định vị trí nguyên tử trường tồn hồng trần và cảm dục của bốn đấng được liệt kê dưới đây. |
|
268. We shall perhaps find that physical permanent atom on the systemic monadic plane and the astral permanent atom on the systemic logoic plane. While this is, perhaps, a reasonable hypothesis, we cannot know for certain the point on the cosmic physical plane at which such permanent atoms are positioned. We have a number of sub-planes to choose from. |
268. Có lẽ chúng ta sẽ tìm thấy nguyên tử trường tồn hồng trần ấy trên cõi chân thần hệ thống và nguyên tử trường tồn cảm dục trên cõi logoic hệ thống. Tuy đây có lẽ là một giả thuyết hợp lý, chúng ta không thể biết chắc điểm nào trên cõi hồng trần vũ trụ mà các nguyên tử trường tồn như thế được đặt vào. Chúng ta có một số cõi phụ để lựa chọn. |
|
269. If this is true (that, for a given E/entity, when two or more permanent atoms exist on the cosmic physical plane, they will be found numbered from the logoic plane), it opens up some far-reading speculations. It means that what a plane is (in relation to the constitution of any E/entity) depends not so much on what a plane is inherently, but on what a plane means in relation to the E/entity demonstrating through it. |
269. Nếu điều này là đúng (rằng, đối với một thực thể nhất định, khi có hai hay nhiều nguyên tử trường tồn tồn tại trên cõi hồng trần vũ trụ, chúng sẽ được tìm thấy được đánh số từ cõi logoic), thì điều đó mở ra một số suy đoán sâu rộng. Điều đó có nghĩa là một cõi là gì (trong liên hệ với cấu tạo của bất kỳ thực thể nào) không phụ thuộc nhiều vào việc một cõi là gì một cách cố hữu, mà phụ thuộc vào điều một cõi hàm ý trong liên hệ với thực thể đang biểu lộ qua nó. |
|
270. An example of this is the contrast between the meanings of the systemic buddhic plane to a man and to a Solar Logos. To a Solar Logos the buddhic plane is almost material—His densest etheric level. To a man, it represents his spiritual goal and is far from what he considers materiality. |
270. Một ví dụ về điều này là sự tương phản giữa ý nghĩa của cõi Bồ đề hệ thống đối với con người và đối với một Thái dương Thượng đế. Đối với một Thái dương Thượng đế, cõi Bồ đề gần như là vật chất—mức dĩ thái đậm đặc nhất của Ngài. Đối với con người, nó tượng trưng cho mục tiêu tinh thần của y và rất xa với điều y xem là tính vật chất. |
|
1. The seven Lords of the globes in every chain. |
1. Bảy Chúa Tể của các bầu hành tinh trong mỗi dãy. |
|
271. It is important to realize that the Chain-Lords were grouped with the Solar Logoi and Planetary Logoi, but that the Globe-Lords are not. |
271. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng các Chúa Tể của Dãy đã được xếp cùng nhóm với các Thái dương Thượng đế và các Đức Hành Tinh Thượng Đế, nhưng các Chúa Tể bầu hành tinh thì không. |
|
272. We remember that there may be more than seven globes in a chain depending upon the mode of counting and the time of counting. The same of course is true of planetary chains. |
272. Chúng ta nhớ rằng có thể có hơn bảy bầu hành tinh trong một dãy tùy theo cách đếm và thời điểm đếm. Dĩ nhiên điều tương tự cũng đúng đối với các dãy hành tinh. |
|
2. The forty-nine Root Manus. |
2. Bốn mươi chín Đức Manu Gốc. |
|
273. Considering Manus as they are usually considered (as Initiates one stage beyond a Master), then presumably such Manus must be at least Chohans. There would be one Manu for each root race found on each of the seven globes. |
273. Xét các Đức Manu theo cách chúng ta thường xét (như các Điểm đạo đồ ở một giai đoạn vượt quá một Chân sư), thì có lẽ các Đức Manu như thế ít nhất phải là các Chohan. Sẽ có một Đức Manu cho mỗi giống dân gốc được tìm thấy trên mỗi một trong bảy bầu hành tinh. |
|
274. But perhaps we are speaking of still greater Manus—one Manu for each of forty-nine globes in a planetary scheme. This could make more sense. |
274. Nhưng có lẽ chúng ta đang nói đến những Đức Manu còn vĩ đại hơn—một Đức Manu cho mỗi một trong bốn mươi chín bầu hành tinh trong một hệ hành tinh. Điều này có thể hợp lý hơn. |
|
275. Such a Manu would be (in rank) just below a Globe Lord (and hence, such a Being would fit well in this tabulation). |
275. Một Đức Manu như thế sẽ ở ngay dưới một Chúa Tể bầu hành tinh về cấp bậc (và do đó, một Đấng như thế sẽ phù hợp với bảng liệt kê này). |
|
276. If, however, the Root Manu were more like a human-like Chohan and related to root races rather than to an entire globe, then at the sixth initiation it would seem that that Chohan would have to drop His lesser permanent atoms—from the atmic permanent atom to those below. Will He, however, adopt other permanent atoms before this occurs? And if so, how so? In order to fit into the category under discussion, He would have to have two permanent atoms on the cosmic physical plane, presumably on the monadic and logoic systemic planes. Is it reasonable to assume that the status of His permanent atoms would change so dramatically as He becomes a Chohan capable of being a Manu? |
276. Tuy nhiên, nếu Đức Manu Gốc giống một Chohan mang tính nhân loại hơn và liên hệ với các giống dân gốc hơn là với toàn bộ một bầu hành tinh, thì ở lần điểm đạo thứ sáu, dường như Chohan ấy sẽ phải từ bỏ các nguyên tử trường tồn thấp hơn của Ngài—từ nguyên tử trường tồn atma trở xuống. Tuy nhiên, liệu Ngài có tiếp nhận các nguyên tử trường tồn khác trước khi điều này xảy ra không? Và nếu có, bằng cách nào? Để phù hợp với loại đang được bàn đến, Ngài sẽ phải có hai nguyên tử trường tồn trên cõi hồng trần vũ trụ, có lẽ là trên các cõi chân thần và logoic hệ thống. Có hợp lý không khi giả định rằng trạng thái các nguyên tử trường tồn của Ngài sẽ thay đổi mạnh mẽ đến thế khi Ngài trở thành một Chohan có khả năng là một Đức Manu? |
|
277. It begins to look more and more as if we are speaking of Manus of globes and not of root races. |
277. Càng lúc càng có vẻ như chúng ta đang nói về các Đức Manu của các bầu hành tinh chứ không phải của các giống dân gốc. |
|
3. The seventy-seven Embodiers of form—a group of solar Lords Who are concerned with form building, working primarily on the first ray. |
3. Bảy mươi bảy Đấng Hiện Thân của hình tướng—một nhóm các Chúa Tể thái dương quan tâm đến việc xây dựng hình tướng, hoạt động chủ yếu trên cung một. |
|
278. This category of Beings is important simply as a notification to us that They exist! |
278. Loại Đấng này quan trọng đơn giản vì như một thông báo cho chúng ta rằng Các Ngài hiện hữu! |
|
279. Why seventy-seven? The number reminds us of 777. The first and more material cycle of 700 would be dropped and only seventy-seven remain. |
279. Tại sao lại là bảy mươi bảy? Con số này gợi cho chúng ta nhớ đến 777. Chu kỳ đầu tiên và vật chất hơn là 700 sẽ bị loại bỏ và chỉ còn lại bảy mươi bảy. |
|
280. We might arrive at seventy-seven by considering a sevenfold activity on every one of ten globes, with an overarching seven for synthesis. |
280. Chúng ta có thể đi đến con số bảy mươi bảy bằng cách xét một hoạt động thất phân trên mỗi một trong mười bầu hành tinh, với một số bảy bao trùm để tổng hợp. |
|
281. We note that these Beings are still called “solar Lords”. |
281. Chúng ta lưu ý rằng những Đấng này vẫn được gọi là các Chúa Tể “thái dương”. |
|
282. We note also that, although on the Ray of the Destroyer, these Lords are working constructively at “form building”. We remember that the Manu’s department works no only with the destruction of forms but with their construction. |
282. Chúng ta cũng lưu ý rằng, mặc dù ở trên Cung của Đấng Hủy Diệt, các Chúa Tể này đang hoạt động một cách xây dựng trong việc “xây dựng hình tướng”. Chúng ta nhớ rằng ban của Đức Manu không chỉ hoạt động với sự hủy diệt các hình tướng mà còn với việc kiến tạo chúng. |
|
283. The first ray (under Vulcan) does have a constructive side to its nature and is a planet closely connected with the Manu’s Department (He Who superintends the building, preservation and destruction of human racial forms). |
283. Cung một (dưới Vulcan) quả thực có một phương diện xây dựng trong bản chất của nó và là một hành tinh gắn bó chặt chẽ với Ban của Đức Manu (Đấng giám sát việc xây dựng, bảo tồn và hủy diệt các hình tướng chủng tộc nhân loại). |
|
4. Certain of the Avatars, Who are selected by the Logos to carry a certain type of force at stated intervals and thus further the evolution of the psyche. |
4. Một số Đấng Hoá Thân nhất định, được Thượng đế tuyển chọn để mang một loại mãnh lực nào đó vào những chu kỳ đã định và nhờ đó thúc đẩy sự tiến hoá của tâm thần. |
|
284. These are Beings Who are greater than “Racial Avatars” |
284. Đây là những Đấng vĩ đại hơn các “Đấng Hoá Thân Chủng Tộc” |
|
285. As well, They seem to work in connection with the consciousness aspect. |
285. Ngoài ra, Các Ngài dường như hoạt động trong liên hệ với phương diện tâm thức. |
|
286. The interplanetary Avatars (of Whom the Avatar of Synthesis is one) would seem to be greater than the Avatars here mentioned. |
286. Các Đấng Hoá Thân liên hành tinh (mà Đấng Hoá Thân Tổng Hợp là một trong số đó) dường như vĩ đại hơn các Đấng Hoá Thân được nhắc đến ở đây. |
|
287. Those Beings referenced as having only one permanent atom on the cosmic physical plane may be hypothesized as upholding a generically first ray function on the cosmic physical plane, and those with two permanent atoms on the cosmic physical plane, a second ray function. |
287. Có thể giả định rằng những Đấng được nói đến như chỉ có một nguyên tử trường tồn trên cõi hồng trần vũ trụ đang duy trì một chức năng cung một có tính tổng quát trên cõi hồng trần vũ trụ, còn những Đấng có hai nguyên tử trường tồn trên cõi hồng trần vũ trụ thì duy trì một chức năng cung hai. |
|
III. Three permanent atoms… physical, astral, and mental. |
III. Ba nguyên tử trường tồn… hồng trần, cảm dục và trí tuệ. |
|
288. We could continue our method of distributing the atoms, with the highest atom hypothesized as being on the logoic plane and the other permanent atoms ‘below’ it, descending in position systematically through the planes. |
288. Chúng ta có thể tiếp tục phương pháp phân bố các nguyên tử của mình, với nguyên tử cao nhất được giả định là ở trên cõi logoic và các nguyên tử trường tồn khác ở “bên dưới” nó, hạ dần vị trí một cách có hệ thống qua các cõi. |
|
289. In this case the manasic permanent atom would be upon the logoic plane, the astral permanent atom upon the monadic and the physical permanent atom upon the atmic. |
289. Trong trường hợp này, nguyên tử trường tồn manas sẽ ở trên cõi logoic, nguyên tử trường tồn cảm dục ở trên cõi chân thần và nguyên tử trường tồn hồng trần ở trên cõi atma. |
|
290. We can have no definite idea whether this is actually the case. We could start the manasic permanent atom at the monadic plane or the atmic with the others position still farther ‘below’, but this would present a problem, because the Beings we are talking about definitely live on planes greater than the cosmic physical plane, and usually, in the apportioning of permanent atoms, such atoms are found continuously, progressing up or down from plane to plane. |
290. Chúng ta không thể có một ý niệm xác định nào về việc liệu điều này thực sự có đúng hay không. Chúng ta có thể bắt đầu nguyên tử trường tồn manas ở cõi chân thần hoặc cõi atma, với các nguyên tử khác vẫn ở những vị trí “thấp hơn” nữa, nhưng điều này sẽ tạo ra một vấn đề, bởi vì những Đấng mà chúng ta đang nói đến chắc chắn sống trên những cõi cao hơn cõi hồng trần vũ trụ, và thông thường, trong việc phân bố các nguyên tử trường tồn, những nguyên tử như thế được tìm thấy một cách liên tục, tiến lên hay đi xuống từ cõi này sang cõi khác. |
|
291. Think of the case of man. In the positioning of his permanent atoms, no plane on which man functions is skipped. |
291. Hãy nghĩ đến trường hợp của con người. Trong việc định vị các nguyên tử trường tồn của y, không có cõi nào mà con người hoạt động trên đó bị bỏ qua. |
|
292. I think we cannot understand the exact permanent atom ‘map’ for any of these Beings. What we can do is try to understand who and/or what They are, and how They might function relative to the cosmic physical plane. |
292. Tôi nghĩ chúng ta không thể hiểu được chính xác “bản đồ” nguyên tử trường tồn của bất kỳ Đấng nào trong số này. Điều chúng ta có thể làm là cố gắng hiểu Các Ngài là ai và/hoặc là gì, và Các Ngài có thể hoạt động như thế nào trong tương quan với cõi hồng trần vũ trụ. |
|
1. The Lords of the third Kingdom, the animal. They are seven Entities whose bodies are made up of animal souls just as the Heavenly Men embody for man the Buddhic principle, so these lords embody for the animal kingdom the manasic principle, which is the goal of the evolutionary process for them. |
1. Các Chúa Tể của giới thứ ba, giới động vật. Các Ngài là bảy Thực Thể mà các thể của Các Ngài được cấu thành bởi các hồn động vật; cũng như các Đấng Thiên Nhân hiện thân nguyên khí Bồ đề cho con người, thì các chúa tể này hiện thân nguyên khí manas cho giới động vật, vốn là mục tiêu của tiến trình tiến hoá đối với chúng. |
|
293. The number three fits well with the animal or third kingdom. |
293. Con số ba rất phù hợp với giới động vật hay giới thứ ba. |
|
294. It would seem that the Heavenly Men supply human beings with the presence of buddhic energy. Similarly, these “seven Entities” related to the animal kingdom could supply animals with what manas they can access and will develop. Although self-consciousness is absent from the members of the animal kingdom, manas is not. |
294. Dường như các Đấng Thiên Nhân cung cấp cho con người sự hiện diện của năng lượng Bồ đề. Tương tự như vậy, bảy “Thực Thể” này liên hệ với giới động vật có thể cung cấp cho động vật phần manas mà chúng có thể tiếp cận và sẽ phát triển. Dù ngã thức vắng mặt nơi các thành viên của giới động vật, manas thì không. |
|
295. These Beings are apparently not that Being Who informs the entire animal kingdom. He would be called the “Lord” (singular) of the animal kingdom. Could we say that They inform seven great divisions of the animal kingdom? |
295. Những Đấng này rõ ràng không phải là Đấng phú linh cho toàn bộ giới động vật. Ngài sẽ được gọi là “Chúa Tể” (số ít) của giới động vật. Chúng ta có thể nói rằng Các Ngài phú linh cho bảy phân bộ lớn của giới động vật chăng? |
|
296. When there is a goal, the energy for the achievement of that goal must be ‘held’. As the Heavenly Men hold or embody buddhi for the human beings who strive after it, so do these “seven Entities” hold or embody manas for the animals who, albeit unconsciously, strive after it. |
296. Khi có một mục tiêu, năng lượng để đạt được mục tiêu ấy phải được “giữ”. Cũng như các Đấng Thiên Nhân giữ hay hiện thân buddhi cho những con người đang phấn đấu hướng đến nó, thì bảy “Thực Thể” này cũng giữ hay hiện thân manas cho các loài động vật, dù vô thức, vẫn đang phấn đấu hướng đến nó. |
|
2. Certain great entities who embody a whole range of existences upon five of the planets, of which the earth is not one, but who in due course of time will come to be recognised as having a powerful effect upon man on the earth, via the three Buddhas of Activity. |
2. Một số thực thể vĩ đại nhất định hiện thân cho cả một phạm vi hiện hữu trên năm hành tinh, trong đó Trái Đất không phải là một, nhưng theo thời gian sẽ được nhận biết là có một ảnh hưởng mạnh mẽ lên con người trên Trái Đất, thông qua ba Đức Phật Hoạt Động. |
|
297. The number five is brought forth and it is a brahmic number. |
297. Con số năm được nêu ra, và đó là một con số brahmic. |
|
298. If Earth is not one of these planets, one may surmise that they are sacred planets. |
298. Nếu Trái Đất không phải là một trong những hành tinh này, người ta có thể suy đoán rằng chúng là những hành tinh thiêng liêng. |
|
299. The implication to be gathered is that, eventually, Earth will host these type of existences—probably when it becomes a sacred planet. |
299. Hàm ý cần rút ra là, cuối cùng, Trái Đất sẽ là nơi tiếp nhận loại hiện hữu này—có lẽ khi nó trở thành một hành tinh thiêng liêng. |
|
300. In line with this section of text, we must remember that according to our present hypothesis, the atmic plane would hold the physical permanent atom of such Beings. |
300. Phù hợp với phần văn bản này, chúng ta phải nhớ rằng theo giả thuyết hiện tại của chúng ta, cõi atma sẽ giữ nguyên tử trường tồn hồng trần của những Đấng như thế. |
|
301. These must be rather great Entities if they work through or via the Three Buddhas of Activity. We may remember that the Buddhas of Activity usually referenced are active with respect to our Earth-globe and not in relation to the entire chain or the entire scheme. This would be a significant consideration when comparing the descending scale of these E/entities listed according the number of permanent atoms through which they express on the cosmic physical plane. |
301. Đây hẳn phải là những Thực Thể khá vĩ đại nếu Các Ngài hoạt động qua hay thông qua Ba Đức Phật Hoạt Động. Chúng ta có thể nhớ rằng các Đức Phật Hoạt Động thường được nhắc đến là hoạt động đối với bầu Địa Cầu của chúng ta chứ không phải trong liên hệ với toàn bộ dãy hay toàn bộ hệ hành tinh. Đây sẽ là một cân nhắc quan trọng khi so sánh thang bậc đi xuống của các thực thể này được liệt kê theo số lượng nguyên tử trường tồn mà qua đó chúng biểu lộ trên cõi hồng trần vũ trụ. |
|
A hint as to this esoteric influence comes to man in the close connection existing between the Earth and Mercury. As yet it is not possible to enlarge further. |
Một gợi ý về ảnh hưởng huyền bí này đến với con người trong mối liên hệ chặt chẽ hiện hữu giữa Trái Đất và Sao Thủy. Hiện nay chưa thể nói rộng thêm. |
|
302. The number three is strongly involved. There are three Buddhas of Activity and the third ray may well be the major monadic ray of Mercury (with the fifth as the sub-monadic ray). The third ray is, we know, important for the Earth as its personality ray. |
302. Con số ba được liên hệ rất mạnh. Có ba Đức Phật Hoạt Động, và cung ba rất có thể là cung chân thần chính yếu của Sao Thủy (với cung năm là cung dưới chân thần). Như chúng ta biết, cung ba rất quan trọng đối với Trái Đất với tư cách là cung phàm ngã của nó. |
|
303. Mercury (whose number, monadically, is also thought to be five) must be very involved in sponsoring this type of Entity and with transferring the influence of such Entities to the Earth. |
303. Sao Thủy (mà con số của nó, xét theo chân thần, cũng được cho là năm) hẳn phải rất liên quan trong việc bảo trợ loại Thực Thể này và trong việc chuyển giao ảnh hưởng của các Thực Thể như thế đến Trái Đất. |
|
3. The entities who are the sumtotal of those group souls who contain definite permanent triads. Nine triads constitute the body of one of these entities. |
3. Những thực thể là tổng thể của những hồn nhóm ấy, những hồn nhóm chứa đựng những tam nguyên trường tồn xác định. Chín tam nguyên cấu thành thể của một trong các thực thể này. |
|
304. Are “permanent triads” different from “higher triads”? |
304. “Tam nguyên trường tồn” có khác với “Tam Nguyên Tinh Thần” không? |
|
305. Perhaps the following reference will throw light on this question: |
305. Có lẽ đoạn tham chiếu sau đây sẽ soi sáng cho câu hỏi này: |
|
“A Group-soul is a collection of permanent Triads in a triple envelope of monadic essence. The permanent Triads are a reflection upon the lower planes of the spiritual Triads on the higher. This description is true of all group-souls functioning on the physical plane, but gives no idea of the extreme complexity of the subject.”—From A Study in Consciousness, by Annie Besant. (TCF 335) |
“Một Hồn nhóm là một tập hợp các Tam nguyên trường tồn trong một lớp bao bọc tam phân bằng tinh chất chân thần. Các Tam nguyên trường tồn là một sự phản chiếu trên các cõi thấp của các Tam Nguyên Tinh Thần ở các cõi cao. Mô tả này đúng với mọi hồn nhóm hoạt động trên cõi hồng trần, nhưng không cho thấy được tính cực kỳ phức tạp của đề tài này.” — Trích A Study in Consciousness, của Annie Besant. (TCF 335) |
|
306. We may judge that a permanent triad consists of three factors—the physical permanent atom, the astral permanent atom and the mental unit. Even a mineral would have such a triad, though the astral permanent atom or mental unit would latent and not active. A vegetable would have a physical permanent atom and some astral permanent atom activation, but no activation of the mental unit. There is a question of when and how the mental unit appears from within the animal kingdom. It may be a factor in the more intelligent animals but much less so (though perhaps present) in animals of lesser intelligence. |
306. Chúng ta có thể phán đoán rằng một tam nguyên trường tồn gồm ba yếu tố—nguyên tử trường tồn hồng trần, nguyên tử trường tồn cảm dục và đơn vị hạ trí. Ngay cả một khoáng vật cũng sẽ có một tam nguyên như thế, dù nguyên tử trường tồn cảm dục hay đơn vị hạ trí sẽ tiềm ẩn chứ không hoạt động. Một thực vật sẽ có nguyên tử trường tồn hồng trần và một mức hoạt hóa nào đó của nguyên tử trường tồn cảm dục, nhưng không có sự hoạt hóa của đơn vị hạ trí. Có một câu hỏi về việc khi nào và bằng cách nào đơn vị hạ trí xuất hiện từ bên trong giới động vật. Nó có thể là một yếu tố nơi những động vật thông minh hơn nhưng ít hơn nhiều (dù có lẽ vẫn hiện diện) nơi những động vật kém thông minh hơn. |
|
307. Are we speaking of animal group souls or also of the group soul phenomenon as it affects the two still lower kingdoms? Entities connected with the vegetable kingdom are listed below in the fourth point under Category V. |
307. Chúng ta đang nói về các hồn nhóm động vật hay cũng nói về hiện tượng hồn nhóm khi nó ảnh hưởng đến hai giới còn thấp hơn? Các thực thể liên hệ với giới thực vật được liệt kê bên dưới ở điểm thứ tư trong Loại V. |
|
308. If there is connection specifically to the animal kingdom, we find an amazing example of how members of the animal kingdom work in groups of nine. Occult groups of human beings are also to work in nines. We might also take this ninefoldness down into the vegetable and mineral kingdoms, but it would be very difficult to imagine such life forms expressing in groups of nine. |
308. Nếu có sự liên hệ đặc biệt với giới động vật, chúng ta thấy một ví dụ đáng kinh ngạc về cách các thành viên của giới động vật hoạt động theo những nhóm chín. Các nhóm huyền bí của con người cũng phải hoạt động theo những nhóm chín. Chúng ta cũng có thể đưa tính cửu phân này xuống giới thực vật và giới kim thạch, nhưng sẽ rất khó hình dung những hình thái sự sống như thế biểu lộ trong các nhóm chín. |
|
309. We remember that nine is the number of the third ray, and we are speaking of the third kingdom. |
309. Chúng ta nhớ rằng chín là con số của cung ba, và chúng ta đang nói về giới thứ ba. |
|
310. We may often have asked ourselves, ‘How big is an animal group soul?’ This section of text seems to set a limit upon the size of such a group-soul organism. Many, many of these Beings (each containing nine triads) would be required to service the entire animal kingdom (and even more to service the vegetable and mineral kingdoms). |
310. Chúng ta có lẽ thường tự hỏi, ‘Một hồn nhóm động vật lớn đến mức nào?’ Đoạn văn này dường như đặt ra một giới hạn cho quy mô của một cơ thể hồn nhóm như thế. Rất nhiều, rất nhiều Hữu thể này (mỗi hữu thể chứa chín tam nguyên) sẽ cần thiết để phục vụ toàn bộ giới động vật (và còn nhiều hơn nữa để phục vụ giới thực vật và giới kim thạch). |
|
311. It is nevertheless important to assure ourselves that in speaking of “definite permanent triads” we are not speaking of spiritual triads. |
311. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải tự bảo đảm rằng khi nói đến “những tam nguyên trường tồn xác định”, chúng ta không nói đến các tam nguyên tinh thần. |
|
312. Here (in this third heading of our tabulation) we do not have four types of entities but rather, three. |
312. Ở đây (trong tiêu đề thứ ba này của bảng liệt kê của chúng ta), chúng ta không có bốn loại thực thể mà đúng hơn là ba. |
|
IV. Through four permanent atoms… physical, astral, mental and buddhic. |
IV. Qua bốn nguyên tử trường tồn… hồng trần, cảm dục, trí tuệ và Bồ đề. |
|
313. Following the pattern we have been using, we can propose the buddhic permanent atom of these Entities would be found on logoic levels, the manasic permanent atom on monadic levels, the astral permanent atom on atmic levels and the physical permanent atom on buddhic levels. |
313. Theo mô hình chúng ta đã sử dụng, chúng ta có thể đề nghị rằng nguyên tử trường tồn Bồ đề của các Thực thể này sẽ được tìm thấy trên các cấp độ logoic, nguyên tử trường tồn manas trên các cấp độ chân thần, nguyên tử trường tồn cảm dục trên các cấp độ atma và nguyên tử trường tồn hồng trần trên các cấp độ Bồ đề. |
|
314. Of course other possibilities exist, but we have no way of entering into them. |
314. Dĩ nhiên còn có những khả thể khác, nhưng chúng ta không có cách nào đi vào chúng. |
|
315. This peculiar method of distributing permanent atoms on planes which are not usually correlated with the type of permanent atom demonstrating, stems from the idea that the one permanent atom of, for instance, the Solar Logos, will not be found on the systemic physical level. Nor will the physical permanent atom of one of the Three Persons, nor of a Planetary Logos, nor of a Chain Lord. |
315. Phương pháp đặc biệt này trong việc phân bố các nguyên tử trường tồn trên những cõi vốn thường không tương ứng với loại nguyên tử trường tồn đang biểu lộ, bắt nguồn từ ý tưởng rằng nguyên tử trường tồn duy nhất của, chẳng hạn, Thái dương Thượng đế sẽ không được tìm thấy trên cấp độ hệ thống hồng trần. Nguyên tử trường tồn hồng trần của một trong Ba Ngôi, hay của một Đức Hành Tinh Thượng Đế, hay của một Chúa Tể Dãy cũng sẽ không như vậy. |
|
316. This can probably be said of the next lower category of Entity in this tabulation—which though lesser than the first four is still very great when compared to man. |
316. Điều này có lẽ cũng có thể được nói về loại Thực thể thấp hơn kế tiếp trong bảng liệt kê này—loại tuy thấp hơn bốn loại đầu nhưng vẫn rất vĩ đại khi so với con người. |
|
317. Then, at what point would the permanent atoms begin to accord with the plane usually associated with them. In other words, as what point does the apportionment of the permanent atoms to planes become systemic rather than cosmic? |
317. Vậy thì, ở điểm nào các nguyên tử trường tồn sẽ bắt đầu phù hợp với cõi thường gắn liền với chúng? Nói cách khác, ở điểm nào sự phân bổ các nguyên tử trường tồn cho các cõi trở thành hệ thống thay vì vũ trụ? |
|
318. There is no easy way to know this. Perhaps it happens when the Monads of such Entities begin to belong to the cosmic physical plane rather than to higher planes. In other words, when the Monads of an Entity are on the cosmic physical plane, we will assign the permanent atoms to the plane for which these permanent atoms are named, but not otherwise. |
318. Không có cách dễ dàng nào để biết điều này. Có lẽ điều đó xảy ra khi các chân thần của những Thực thể như thế bắt đầu thuộc về cõi hồng trần vũ trụ thay vì các cõi cao hơn. Nói cách khác, khi các chân thần của một Thực thể ở trên cõi hồng trần vũ trụ, chúng ta sẽ gán các nguyên tử trường tồn cho cõi mà các nguyên tử trường tồn ấy được gọi tên, còn nếu không thì không. |
|
319. We know that by the time we reach man, the atmic permanent atom is found on the atmic plane, the buddhic permanent atom on the buddhic, and so forth. The apportionment has definitely become systemic rather than cosmic. |
319. Chúng ta biết rằng vào lúc đạt đến con người, nguyên tử trường tồn atma được tìm thấy trên cõi atma, nguyên tử trường tồn Bồ đề trên cõi Bồ đề, v.v. Sự phân bổ ấy rõ ràng đã trở thành hệ thống chứ không phải vũ trụ. |
|
320. This problem of assigning permanent atoms to their proper planar level (whether systemic or cosmic) is involved in what we might call the ‘relativity of the planes’. Buddhic means buddhic for man, but for greater Beings buddhic might mean something different and indicate some other plane. |
320. Vấn đề gán các nguyên tử trường tồn cho cấp độ cõi thích hợp của chúng (dù là hệ thống hay vũ trụ) có liên quan đến điều mà chúng ta có thể gọi là “tính tương đối của các cõi”. Bồ đề có nghĩa là Bồ đề đối với con người, nhưng đối với các Hữu thể lớn hơn, Bồ đề có thể mang một ý nghĩa khác và chỉ một cõi khác. |
|
321. So, then, do these Beings who have four permanent atoms demonstrating on the cosmic physical plane have a systemic apportionment or one that is more cosmic? |
321. Vậy thì, những Hữu thể có bốn nguyên tử trường tồn biểu lộ trên cõi hồng trần vũ trụ này có một sự phân bổ hệ thống hay một sự phân bổ mang tính vũ trụ hơn? |
|
1. Eight groups of solar Entities Who form the subjective life of the seven centres in the body of Brahma, viewing Him as a separate cosmic Entity, [Page 534] dissociated from His two brothers. They are the seven Sons of Fohat, with the eighth Son included, and They are the final differentiation of the forty-nine fires, prior to Their union with the fire of Eros. Thus is it expressed by H. P. B.74 |
1. Tám nhóm Thực thể thái dương tạo thành sự sống chủ quan của bảy trung tâm trong thể của Brahma, khi xem Ngài như một Thực thể vũ trụ riêng biệt, [Page 534] tách rời khỏi hai Huynh đệ của Ngài. Họ là bảy Con của Fohat, kể cả người Con thứ tám, và Họ là sự biến phân cuối cùng của bốn mươi chín ngọn lửa, trước khi Họ hợp nhất với lửa của Eros. H. P. B. đã diễn đạt như thế.74 |
|
S. D., I, 139, 144. |
S. D., I, 139, 144. |
|
322. The occultism gets deeper and deeper. |
322. Huyền bí học ngày càng sâu hơn. |
|
323. These Beings are sounding as if they have rather cosmic connections. So, then, are the four permanent atoms (buddhic, mental, astral and physical) to be apportioned systemically or cosmically? |
323. Những Hữu thể này nghe như thể có những liên hệ khá vũ trụ. Vậy thì, bốn nguyên tử trường tồn (Bồ đề, trí tuệ, cảm dục và hồng trần) phải được phân bổ theo cách hệ thống hay vũ trụ? |
|
324. If cosmically, then the buddhic permanent atom will begin on the logoic plane and the physical permanent atom will find its place on the buddhic. |
324. Nếu theo cách vũ trụ, thì nguyên tử trường tồn Bồ đề sẽ bắt đầu trên cõi logoic và nguyên tử trường tồn hồng trần sẽ tìm thấy vị trí của nó trên cõi Bồ đề. |
|
325. If systemically, the permanent atoms will accord with the planes for which they are named. |
325. Nếu theo cách hệ thống, các nguyên tử trường tồn sẽ phù hợp với các cõi mà chúng được gọi tên. |
|
326. The Beings here discussed are the ones Who will absorb (in groups of seven) the forty-nine fires of Brahma. |
326. Những Hữu thể được bàn đến ở đây là những Đấng sẽ hấp thu (theo các nhóm bảy) bốn mươi chín ngọn lửa của Brahma. |
|
327. The Seven Sons correlate with the Seven Rays. The Seven Sons are substantial force and the Seven Rays are seven modes of consciousness. |
327. Bảy Người Con tương ứng với Bảy Cung. Bảy Người Con là mãnh lực có chất liệu còn Bảy Cung là bảy phương thức của tâm thức. |
|
328. We may hypothesize that the eighth Son synthesizes the seven into one. |
328. Chúng ta có thể giả thuyết rằng người Con thứ tám tổng hợp bảy thành một. |
|
329. Now, if these Entities are solar Entities, then they are more related to the levels of the spiritual triad than to the lower three sub-planes of the cosmic physical plane. This fact (mentioned earlier when describing which permanent atoms formed the spirillae of solar Entities and which of lunar Entities) makes it seem that the apportionment of permanent atoms should be cosmic and should not include the systemic physical, astral and lower mental planes. |
329. Giờ đây, nếu các Thực thể này là các Thực thể thái dương, thì chúng liên hệ với các cấp độ của Tam Nguyên Tinh Thần nhiều hơn là với ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ. Sự kiện này (đã được nhắc đến trước đó khi mô tả những nguyên tử trường tồn nào tạo thành các loa tuyến của các Thực thể thái dương và những nguyên tử nào của các thực thể thái âm) khiến có vẻ như sự phân bổ các nguyên tử trường tồn nên mang tính vũ trụ và không nên bao gồm các cõi hồng trần, cảm dục và hạ trí của hệ thống. |
|
2. That Entity Who works through the FORM of a planetary occult Hierarchy, using it as His body of manifestation, and regarding it as the centre through which His force can flow. It should be remembered that all such groups on every planet form a vehicle for the life of a great Individual Who gives to that Hierarchy its distinctive colouring and its unique keynote. |
2. Thực thể ấy hoạt động qua HÌNH TƯỚNG của một Thánh Đoàn huyền bí hành tinh, dùng nó như thể biểu lộ của Ngài, và xem nó như trung tâm qua đó mãnh lực của Ngài có thể tuôn chảy. Cần nhớ rằng mọi nhóm như thế trên mỗi hành tinh đều tạo thành một vận cụ cho sự sống của một Cá thể vĩ đại, Đấng ban cho Thánh Đoàn ấy sắc thái đặc thù và chủ âm độc nhất của nó. |
|
330. What is considered the form aspect of our Spiritual Hierarchy, for instance? Are the triadal levels of the gathered Masters considered an aspect of form? Perhaps. |
330. Chẳng hạn, điều gì được xem là phương diện hình tướng của Huyền Giai Tinh Thần của chúng ta? Các cấp độ tam nguyên của các Chân sư đã tập hợp có được xem là một phương diện của hình tướng không? Có lẽ vậy. |
|
331. This must still be a very great Entity. And if this Entity is listed under the “Eight groups of solar Entities”, then the Entities in those “eight groups” must be even greater—thus less likely to have permanent atoms on the lowest systemic planes. |
331. Đây hẳn vẫn phải là một Thực thể rất vĩ đại. Và nếu Thực thể này được liệt kê dưới “Tám nhóm Thực thể thái dương”, thì các Thực thể trong “tám nhóm” ấy hẳn còn lớn hơn nữa—do đó càng ít có khả năng có các nguyên tử trường tồn trên những cõi thấp nhất của hệ thống. |
|
332. We are told that the Spiritual Hierarchy is the Ashram of Sanat Kumara, yet Sanat Kumara seems too great a Being to work through four permanent atoms on the cosmic physical plane, for sometimes Sanat Kumara is considered the Planetary Logos, Himself—a Being with only one permanent atom on the cosmic physical plane. |
332. Chúng ta được bảo rằng Huyền Giai Tinh Thần là Ashram của Đức Sanat Kumara, tuy nhiên Đức Sanat Kumara dường như là một Hữu thể quá vĩ đại để hoạt động qua bốn nguyên tử trường tồn trên cõi hồng trần vũ trụ, vì đôi khi Đức Sanat Kumara được xem là chính Đức Hành Tinh Thượng Đế—một Hữu thể chỉ có một nguyên tử trường tồn trên cõi hồng trần vũ trụ. |
|
333. This Being, too, seems like a Solar Lord as the Hierarchy is such a solar organism. |
333. Hữu thể này cũng dường như là một Chúa Tể Thái dương vì Thánh Đoàn là một cơ thể thái dương như thế. |
|
334. The fact that the Entities in group three (below) are still solar Beings suggests that these Entities in group two are certainly so. |
334. Sự kiện rằng các Thực thể trong nhóm ba (bên dưới) vẫn là các Hữu thể thái dương cho thấy rằng các Thực thể trong nhóm hai này chắc chắn cũng như vậy. |
|
335. The Members of the Hierarchy would not need the usual physical, astral, or mental permanent atoms as, after the fourth initiation, They would have dispensed with them. |
335. Các Thành viên của Thánh Đoàn sẽ không cần các nguyên tử trường tồn hồng trần, cảm dục hay trí tuệ thông thường, vì sau lần điểm đạo thứ tư, Các Ngài đã loại bỏ chúng. |
|
336. So the apportionment of permanent atoms is probably more cosmic, with the apportionment of permanent atoms fitting to planes other than the ones for which they are usually named. |
336. Vì vậy sự phân bổ các nguyên tử trường tồn có lẽ mang tính vũ trụ hơn, với sự phân bổ các nguyên tử trường tồn phù hợp với những cõi khác hơn là những cõi mà chúng thường được gọi tên. |
|
337. Still, we cannot tell definitively whether the highest of the permanent atoms on the cosmic physical plane should begin with the logoic level—except for the tendency in nature towards continuity. |
337. Tuy nhiên, chúng ta vẫn không thể xác định dứt khoát liệu nguyên tử trường tồn cao nhất trên cõi hồng trần vũ trụ có nên bắt đầu với cấp độ logoic hay không—ngoại trừ khuynh hướng trong bản chất hướng đến tính liên tục. |
|
3. A number of solar Deities Who are the radiators of solar magnetism, and the life of form. |
3. Một số Thượng đế thái dương là những đấng phát xạ từ điện thái dương và là sự sống của hình tướng. |
|
338. These Beings are called “Deities”. They seem to belong to the deva kingdom. |
338. Những Hữu thể này được gọi là “Thượng đế”. Chúng dường như thuộc về giới thiên thần. |
|
339. We remember a discussion of white and gold devic entities who were particularly association with the mediation of prana to certain areas of the Earth. |
339. Chúng ta nhớ một cuộc thảo luận về những thực thể thiên thần màu trắng và vàng đặc biệt liên hệ với việc trung gian prana đến một số khu vực nhất định của Trái Đất. |
|
340. Would such “Deities”, if they work in the ethers, need a systemic physical permanent atom? If so, the apportionment would begin with the buddhic plane for the buddhic permanent atom, and end with the physical permanent atom on the etheric plane. Much depends on what is meant by “solar magnetism” and the plane to which it pertains. |
340. Những “Thượng đế” như thế, nếu hoạt động trong các cõi dĩ thái, có cần một nguyên tử trường tồn hồng trần của hệ thống không? Nếu có, sự phân bổ sẽ bắt đầu với nguyên tử trường tồn Bồ đề trên cõi Bồ đề, và kết thúc với nguyên tử trường tồn hồng trần trên cõi dĩ thái. Nhiều điều tùy thuộc vào ý nghĩa của “từ điện thái dương” và cõi mà nó liên hệ. |
|
4. A peculiar group of Beings connected with a certain constellation and the lesser Dragon, |
4. Một nhóm Hữu thể đặc biệt liên hệ với một chòm sao nào đó và Con Rồng nhỏ, |
|
341. The “Greater Dragon” is Draco. Sometimes our Earth has been referred to in terms of a “Dragon”. |
341. “Con Rồng Lớn” là Draco. Đôi khi Trái Đất của chúng ta đã được nhắc đến theo nghĩa một “Con Rồng”. |
|
who have their habitat on Neptune and work with the sixth principle in the solar system. |
có nơi cư ngụ trên Sao Hải Vương và hoạt động với nguyên khí thứ sáu trong hệ mặt trời. |
|
342. If these beings work with the sixth principle in the solar system, they will need something that stands for an astral permanent atom. |
342. Nếu những hữu thể này hoạt động với nguyên khí thứ sáu trong hệ mặt trời, chúng sẽ cần một cái gì đó đại diện cho một nguyên tử trường tồn cảm dục. |
|
343. Could they work from buddhic levels and affect the astral? It is possible. If their buddhic permanent atom began on the monadic plane, then their astral permanent atom would be on the buddhic and their physical permanent atom on the mental. His, however, would disrupt the necessary continuity, for the logoic permanent atoms would have no permanent atom, otherwise such an Entity would work through five permanent atoms on the cosmic physical plane instead of four, as given. |
343. Liệu chúng có thể hoạt động từ các cấp độ Bồ đề và ảnh hưởng đến cõi cảm dục không? Điều đó có thể. Nếu nguyên tử trường tồn Bồ đề của chúng bắt đầu trên cõi chân thần, thì nguyên tử trường tồn cảm dục của chúng sẽ ở trên cõi Bồ đề và nguyên tử trường tồn hồng trần của chúng trên cõi trí. Tuy nhiên, điều này sẽ phá vỡ tính liên tục cần thiết, vì các nguyên tử trường tồn logoic sẽ không có nguyên tử trường tồn nào; nếu không, một Thực thể như thế sẽ hoạt động qua năm nguyên tử trường tồn trên cõi hồng trần vũ trụ thay vì bốn như đã nêu. |
|
344. Naturally, these thoughts must be regarded as speculative. How can we at our stage of evolution (having just heart for the first time that such Entities exist) very much (if anything at all) about them. |
344. Đương nhiên, những suy nghĩ này phải được xem là có tính suy đoán. Làm sao ở giai đoạn tiến hoá của chúng ta (vừa mới lần đầu nghe rằng những Thực thể như thế tồn tại) chúng ta có thể biết nhiều điều về các Ngài, nếu quả có biết gì đi nữa. |
|
345. DK has expanded our consciousness considerably, introducing us to thoughts which surely would not have risen above the horizon of our consciousness without His assistance. |
345. Chân sư DK đã mở rộng tâm thức của chúng ta đáng kể, giới thiệu cho chúng ta những tư tưởng chắc chắn đã không thể vượt lên đường chân trời tâm thức của chúng ta nếu không có sự trợ giúp của Ngài. |
|
346. The wisest course of action seems to be to carefully note that which is newly presented, and await greater knowledge of the whole in order to understand the nature and place of the newly presented E/entities more fully. |
346. Đường lối hành động khôn ngoan nhất dường như là cẩn thận ghi nhận điều mới được trình bày, và chờ đợi tri thức lớn hơn về toàn thể để thấu hiểu đầy đủ hơn bản chất và vị trí của những thực thể E/entities mới được trình bày. |
|
They take physical form, animated by purified desire, controlled by mind, and are the dispensers of love-wisdom by means of certain of the “Halls of Wisdom” on the various planets. |
Các hữu thể này mang lấy hình tướng hồng trần, được sinh động bởi dục vọng đã được thanh luyện, được trí tuệ kiểm soát, và là những đấng phân phối Bác Ái – Minh Triết thông qua một số “Phòng Minh triết” trên các hành tinh khác nhau. |
|
347. If, however, they “take physical form” they will need a physical permanent atom expressive on the etheric-physical plane. From this point of view, it would be likely that the four permanent atoms would begin on the buddhic plane and work their way down to the physical. |
347. Tuy nhiên, nếu các hữu thể này “mang lấy hình tướng hồng trần” thì chúng sẽ cần một nguyên tử trường tồn hồng trần biểu lộ trên cõi dĩ thái-hồng trần. Từ quan điểm này, có khả năng là bốn nguyên tử trường tồn sẽ bắt đầu trên cõi Bồ đề và đi xuống đến cõi hồng trần. |
|
348. However, what do we mean by “physical form”. To man, physical form is one thing and to greater Beings another. So still, it will be necessary to reserve judgment. |
348. Tuy nhiên, chúng ta muốn nói gì bởi “hình tướng hồng trần”? Đối với con người, hình tướng hồng trần là một điều, còn đối với các Hữu thể lớn hơn lại là điều khác. Vì vậy, vẫn cần phải bảo lưu phán đoán. |
|
The words “Halls of Wisdom” in their esoteric significance describe a stage of consciousness not a location. |
Những từ “Phòng Minh triết” trong ý nghĩa huyền bí của chúng mô tả một giai đoạn tâm thức chứ không phải một địa điểm. |
|
349. As Neptune is equivalent to Vishnu and the Christ, these Beings will have a strongly buddhic energy associated with Them. |
349. Vì Sao Hải Vương tương đương với Vishnu và Đức Christ, những Hữu thể này sẽ có một năng lượng Bồ đề mạnh mẽ gắn liền với Các Ngài. |
|
350. We are going to remain alert to that moment when we transfer the apportionment from the a more cosmic frame of reference to one that is systemic. |
350. Chúng ta sẽ tiếp tục tỉnh táo trước thời điểm khi chúng ta chuyển sự phân bổ từ một khung quy chiếu mang tính vũ trụ hơn sang một khung mang tính hệ thống. |
|
351. One thing we know. We cannot give the first group in this tabulation (which has only one permanent atom on the cosmic physical plane) a systemic apportionment, nor can we give man (whose permanent atoms are exactly correlated with the planes for which they are named) a cosmic apportionment (his permanent atoms being definitely on the cosmic physical plane). Between these two we must, perhaps, work with some degree of flexibility when trying to discover on which sub-planes of the cosmic physical plane the permanent atoms are to be found. |
351. Có một điều chúng ta biết. Chúng ta không thể gán cho nhóm đầu tiên trong bảng liệt kê này (nhóm chỉ có một nguyên tử trường tồn trên cõi hồng trần vũ trụ) một sự phân bổ hệ thống, cũng không thể gán cho con người (mà các nguyên tử trường tồn của y tương ứng chính xác với các cõi mà chúng được gọi tên) một sự phân bổ vũ trụ (các nguyên tử trường tồn của y rõ ràng ở trên cõi hồng trần vũ trụ). Giữa hai cực này, có lẽ chúng ta phải làm việc với một mức độ linh hoạt nào đó khi cố khám phá xem các nguyên tử trường tồn được tìm thấy trên những cõi phụ nào của cõi hồng trần vũ trụ. |
|
V. Through five permanent atoms… physical, astral, mental, buddhic and atmic. |
V. Qua năm nguyên tử trường tồn… hồng trần, cảm dục, trí tuệ, Bồ đề và atma. |
|
1. The Lords of certain subplanes who work under the Raja-Lord of a plane and who are themselves vibration and activity. |
1. Các Đấng Chúa Tể của một số cõi phụ nhất định hoạt động dưới quyền Raja-Lord của một cõi và chính Các Ngài là rung động và hoạt động. |
|
352. Only certain sub-planes are mentioned. Are all systemic planes involved and then only certain sub-planes of those systemic planes? |
352. Chỉ có một số cõi phụ được nhắc đến. Có phải mọi cõi của hệ thống đều được bao gồm và rồi chỉ một số cõi phụ của những cõi hệ thống ấy thôi không? |
|
353. If all systemic planes are involved, then a systemic physical permanent atom will be needed, and the apportionment of the five permanent atoms will begin with the systemic atmic plane. |
353. Nếu mọi cõi của hệ thống đều được bao gồm, thì sẽ cần một nguyên tử trường tồn hồng trần của hệ thống, và sự phân bổ của năm nguyên tử trường tồn sẽ bắt đầu với cõi atma của hệ thống. |
|
354. With this type of Being, we seem to be very much in the World of Brahma (a fivefold world beginning with the atmic plane and working down to the physical). Therefore, a one-to-one assignment of the permanent atoms with the corresponding planes which correlate with the names of the permanent atoms is certainly possible. |
354. Với loại Hữu thể này, dường như chúng ta đang ở rất nhiều trong Thế giới của Brahma (một thế giới ngũ phân bắt đầu với cõi atma và đi xuống đến cõi hồng trần). Do đó, một sự gán một-một các nguyên tử trường tồn với những cõi tương ứng với tên gọi của các nguyên tử trường tồn ấy chắc chắn là điều có thể. |
|
2. The lesser Heavenly Men on the buddhic level, Who reflect Their higher prototypes on the second plane of the system. |
2. Những Đấng Thiên Nhân nhỏ hơn trên cấp độ Bồ đề, Các Ngài phản chiếu những nguyên mẫu cao hơn của mình trên cõi thứ hai của hệ thống. |
|
355. We might pause to realize that we are having a number of the apparently ‘empty rungs’ on the “Ladder of Evolution” filled in for us. |
355. Chúng ta có thể dừng lại để nhận ra rằng một số “nấc thang” có vẻ trống trên “Thang Tiến Hoá” đang được lấp đầy cho chúng ta. |
|
356. These Beings are higher than man, but lower than certain Beings Who express on the monadic plane. |
356. Những Hữu thể này cao hơn con người, nhưng thấp hơn một số Hữu thể biểu lộ trên cõi chân thần. |
|
357. If there are Beings Who express through the form of a Spiritual Hierarchy, are there Beings Who express through the form of Ashrams and lesser Ashrams. If so, this may be the type of Being under discussion. |
357. Nếu có những Hữu thể biểu lộ qua hình tướng của một Huyền Giai Tinh Thần, thì có những Hữu thể biểu lộ qua hình tướng của các Ashram và các ashram nhỏ hơn không? Nếu có, đây có thể là loại Hữu thể đang được bàn đến. |
|
358. We may call such “lesser Heavenly Men” by the name, ‘Embodiers of Buddhic Groupings. |
358. Chúng ta có thể gọi những “Đấng Thiên Nhân nhỏ hơn” như thế bằng tên, ‘những Hiện thân của các Tập hợp Bồ đề’. |
|
359. Our task will be to understand what sorts of buddhic groupings there are which might be embodied. |
359. Nhiệm vụ của chúng ta sẽ là hiểu xem có những loại tập hợp Bồ đề nào có thể được hiện thân. |
|
360. If the members of the Fourth Creative Hierarchy are meant to express on the buddhic level (as the Table of Creative Hierarchy, EA 35, seems to show), then perhaps grouping of members of the Fourth Creative Hierarchy are considered as “lesser Heavenly Men”. |
360. Nếu các thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư được dự định biểu lộ trên cấp độ Bồ đề (như Bảng Huyền Giai Sáng Tạo, EA 35, dường như cho thấy), thì có lẽ các nhóm thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư được xem là những “Đấng Thiên Nhân nhỏ hơn”. |
|
361. The Entities we have just considered focus on the buddhic plane. The ones immediately below focus on the higher mental. |
361. Những Thực thể chúng ta vừa xem xét tập trung trên cõi Bồ đề. Những thực thể ngay bên dưới tập trung trên cõi thượng trí. |
|
3. The entities who are the sum-total of group consciousness on egoic levels, remembering that these groups are differentiated and are formed of aggregates of seven, until there are formed forty-nine groups of seven egoic vehicles forming one group which is the body of this lesser solar Deity. |
3. Những thực thể là tổng thể của tâm thức nhóm trên các cấp độ chân ngã, nhớ rằng các nhóm này được biến phân và được tạo thành từ những tập hợp bảy, cho đến khi có bốn mươi chín nhóm bảy vận cụ chân ngã được hình thành tạo thành một nhóm là thể của vị Thượng đế thái dương nhỏ hơn này. |
|
362. It seems that on the egoic levels there are groupings of seven which combine into forty-nine such groups. |
362. Dường như trên các cấp độ chân ngã có những nhóm bảy kết hợp thành bốn mươi chín nhóm như thế. |
|
363. Forty-nine times seven equals 343. Such a lesser “solar Deity” apparently has 343 causal bodies or egoic lotuses to compose it. There would have to be a great number of such “solar Deities” to account for the large number of human beings—all of whom have causal bodies on the higher mental plane. |
363. Bốn mươi chín nhân bảy bằng 343. Một “Thượng đế thái dương” nhỏ hơn như thế rõ ràng có 343 thể nguyên nhân hay Hoa Sen Chân Ngã để cấu thành nó. Sẽ phải có một số lượng rất lớn những “Thượng đế thái dương” như thế để giải thích cho số lượng lớn con người—tất cả đều có thể nguyên nhân trên cõi thượng trí. |
|
364. These lesser solar Deities are, of course, greater beings than man, because They contain within them many men (expressing through the causal bodies of men). |
364. Dĩ nhiên, những Thượng đế thái dương nhỏ hơn này là những hữu thể lớn hơn con người, vì Các Ngài chứa trong mình nhiều con người (biểu lộ qua các thể nguyên nhân của con người). |
|
365. Do they express any ‘lower’ than the higher mental plane? Well, it seems that groups of greater Entities listed before them expressed ‘lower’ and so, perhaps, do they. |
365. Các Ngài có biểu lộ “thấp” hơn cõi thượng trí không? Có vẻ như những nhóm Thực thể lớn hơn được liệt kê trước các Ngài đã biểu lộ “thấp” hơn và vì vậy, có lẽ, các Ngài cũng thế. |
|
366. If they expressed no lower than the higher mental plane, the permanent atoms of these Entities would begin on the logoic plane and end on the manasic (where the physical permanent atom would be found). |
366. Nếu các Ngài không biểu lộ thấp hơn cõi thượng trí, thì các nguyên tử trường tồn của những Thực thể này sẽ bắt đầu trên cõi logoic và kết thúc trên cõi manas (nơi nguyên tử trường tồn hồng trần sẽ được tìm thấy). |
|
There is a multiplicity of these groups of forty-nine. |
Có rất nhiều những nhóm bốn mươi chín này. |
|
367. Forty-nine sevens let us remember. We have a multiplicity times 343. |
367. Xin nhớ là bốn mươi chín nhóm bảy. Chúng ta có một số lượng nhiều lần 343. |
|
This has been somewhat stated before when it has been [Page 535] announced that a Master with His particular band of disciples and initiates form a group or force centre. |
Điều này đã phần nào được nêu trước đây khi đã [Page 535] công bố rằng một Chân sư cùng với nhóm đệ tử và điểm đạo đồ đặc thù của Ngài tạo thành một nhóm hay trung tâm lực. |
|
368. How many groups of causal bodies can be found in an Ashram or in a Master’s particular “band of disciples”? Perhaps the numbers in a “band of disciples” is actually greater than the numbers in an Ashram, per se. |
368. Có thể tìm thấy bao nhiêu nhóm thể nguyên nhân trong một ashram hay trong “nhóm đệ tử” đặc thù của một Chân sư? Có lẽ số lượng trong một “nhóm đệ tử” thực ra lớn hơn số lượng trong chính một ashram. |
|
369. There is a reference (not yet relocated) which states that sixty-three is the maximum number to be found in an ashram. This would give us nine groups of sevens. This multiplied by seven would give us the grouping of forty-nine sevens. |
369. Có một tham chiếu (chưa được định vị lại) nói rằng sáu mươi ba là con số tối đa được tìm thấy trong một ashram. Điều này sẽ cho chúng ta chín nhóm bảy. Nhân với bảy, điều này sẽ cho chúng ta tập hợp bốn mươi chín nhóm bảy. |
|
These groups have their permanent atoms as do all lives seeking objective expression. |
Những nhóm này có các nguyên tử trường tồn của chúng như mọi sự sống đang tìm kiếm sự biểu lộ khách quan đều có. |
|
370. So much depends on what we mean by “objective expression”. Entities expressing on the cosmic astral plane and cosmic mental plane are also in “objective expression” from the cosmic point of view. |
370. Rất nhiều điều tùy thuộc vào điều chúng ta muốn nói bởi “sự biểu lộ khách quan”. Các Thực thể biểu lộ trên cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ cũng ở trong “sự biểu lộ khách quan” từ quan điểm vũ trụ. |
|
371. The permanent atoms of these groups must control the combined sheaths of the members. The formation of these permanent atoms would be a matter of great interest. They probably have not been created as have the permanent atoms of an individual human being at the Second Outpouring when the Monad reached forth to magnetize an atom on the atomic sub-plane of each plane on which it would, in the future, manifest. |
371. Các nguyên tử trường tồn của những nhóm này phải kiểm soát các thể kết hợp của các thành viên. Sự hình thành các nguyên tử trường tồn này sẽ là một vấn đề rất đáng quan tâm. Có lẽ chúng đã không được tạo ra như các nguyên tử trường tồn của một cá nhân con người vào Lần Tuôn Đổ Thứ Hai khi chân thần vươn ra để từ hóa một nguyên tử trên cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi mà trong tương lai nó sẽ biểu lộ. |
|
4. The entities who are the sumtotal of the vegetable kingdom in its diversity of manifestation in different globes, chains and schemes. |
4. Những thực thể là tổng thể của giới thực vật trong tính đa dạng biểu lộ của nó trên các bầu hành tinh, các Dãy và các hệ hành tinh khác nhau. |
|
372. We have already encountered (apparently) the Entities which have been composed souls (i.e., triads) in the animal kingdom. Now the same is presented for the vegetable kingdom. |
372. Chúng ta đã gặp (rõ ràng là vậy) những Thực thể được cấu thành từ các linh hồn hợp thành (tức là các tam nguyên) trong giới động vật. Giờ đây điều tương tự được trình bày đối với giới thực vật. |
|
373. As the vegetable kingdom has such a pronounced manifestation on the physical plane, we would expect that a physical permanent atom would be required on this plane, which would place the atmic permanent atom on the atmic plane. This would be, therefore, a systemic allotment of permanent atoms. |
373. Vì giới thực vật có một sự biểu lộ rất rõ nét trên cõi hồng trần, chúng ta sẽ mong đợi rằng một nguyên tử trường tồn hồng trần sẽ được đòi hỏi trên cõi này, điều này sẽ đặt nguyên tử trường tồn atma trên cõi atma. Do đó, đây sẽ là một sự phân bổ các nguyên tử trường tồn mang tính hệ thống. |
|
374. But we could question why the Entities related to the animal kingdom have only three permanent atoms. We could ask, if for the Entities Who ensoul the animal kingdom (in groups) the allotment should, in fact, be systemic, because the animals, too, just like plants, definitely require a physical plane apparatus, and thus a physical permanent atom on the etheric-physical plane. |
374. Nhưng chúng ta có thể đặt câu hỏi vì sao các Thực thể liên hệ với giới động vật chỉ có ba nguyên tử trường tồn. Chúng ta có thể hỏi liệu đối với các Thực thể phú linh giới động vật (theo nhóm), sự phân bổ ấy trên thực tế có nên là hệ thống hay không, bởi vì động vật cũng vậy, giống như thực vật, rõ ràng cần một bộ máy cõi hồng trần, và do đó cần một nguyên tử trường tồn hồng trần trên cõi dĩ thái-hồng trần. |
|
375. Maybe, in speaking of those Entities with only three permanent atoms (Entities related to the animal kingdom—Category III, Section 1., 533) we were speaking of Entities Who expressed through the higher aspects of that which, ‘below’, manifests as an animal. |
375. Có lẽ, khi nói về những Thực thể chỉ có ba nguyên tử trường tồn ấy (những Thực thể liên hệ với giới động vật—Loại III, Mục 1., 533), chúng ta đang nói về những Thực thể biểu lộ qua các phương diện cao hơn của cái mà, “bên dưới”, biểu lộ như một con vật. |
|
VI. Through six permanent atoms… physical, astral, two mental, buddhic and atmic. |
VI. Qua sáu nguyên tử trường tồn… hồng trần, cảm dục, hai trí tuệ, Bồ đề và atma. |
|
MAN. |
CON NGƯỜI. |
|
376. Now we have arrived at the point where the type of permanent atom definitely accords with the plane for which it is named. |
376. Giờ đây chúng ta đã đến điểm mà loại nguyên tử trường tồn rõ ràng phù hợp với cõi mà nó được gọi tên. |
|
377. We may assume that all the Entities listed before this point, are entities greater than man. |
377. Chúng ta có thể giả định rằng mọi Thực thể được liệt kê trước điểm này đều là những thực thể lớn hơn con người. |
|
378. The fewer the permanent atoms on the cosmic physical plane, the greater the Entity. |
378. Càng có ít nguyên tử trường tồn trên cõi hồng trần vũ trụ, Thực thể càng vĩ đại. |
|
379. This has been an amazing section. Probably, many of us have received word of E/entities the existence of which we did not suspect. On the Ladder of Evolution there are many E/entities unknown to man. Until they are named and understood, there will necessarily be gaps in our understanding of Entity-relationship within the ring-pass-not of the Solar Logos (and beyond). |
379. Đây là một phần thật đáng kinh ngạc. Có lẽ nhiều người trong chúng ta đã được biết đến những thực thể mà sự hiện hữu của chúng ta chưa từng ngờ tới. Trên Thang Tiến Hoá có nhiều thực thể mà con người chưa biết. Cho đến khi chúng được gọi tên và được thấu hiểu, tất yếu sẽ có những khoảng trống trong sự hiểu biết của chúng ta về mối liên hệ giữa các thực thể bên trong vòng-giới-hạn của Thái dương Thượng đế (và vượt ra ngoài). |
|
380. The Tibetan is not explicit in describing the nature and work of these E/entities, but He does give us enough so that we may, hopefully, form a few intelligent conjectures. |
380. Chân sư Tây Tạng không nói rõ khi mô tả bản chất và công việc của những thực thể này, nhưng Ngài có cho chúng ta đủ để chúng ta có thể, hy vọng như vậy, hình thành một vài giả thuyết thông minh. |
|
381. There are two main problems in such a tabulation as has just been presented: |
381. Có hai vấn đề chính trong một bảng liệt kê như bảng vừa được trình bày: |
|
a. What is the true nature and function of each E/entity involved? |
a. Bản chất và chức năng đích thực của mỗi thực thể liên hệ là gì? |
|
b. Which E/entities are superior and inferior to which? |
b. Những thực thể nào cao hơn và thấp hơn những thực thể nào? |
|
c. On what sub-planes point of focus the cosmic physical plane (since in this tabulation we are dealing only with the cosmic physical plane) do the permanent atoms of the E/entities manifest? Does the allotment of permanent atoms follow the more cosmic model or the more systemic model? |
c. Trên những cõi phụ nào là điểm tập trung của cõi hồng trần vũ trụ (vì trong bảng liệt kê này chúng ta chỉ đang bàn đến cõi hồng trần vũ trụ) mà các nguyên tử trường tồn của các thực thể biểu lộ? Sự phân bổ các nguyên tử trường tồn có theo mô hình vũ trụ hơn hay mô hình hệ thống hơn? |
|
d. In each grouping of E/entities (i.e., those with the same number of permanent atoms on the cosmic physical plane) are there some that follow the cosmic model and others that follow the systemic model, or do all E/entities in such groupings follow the same model. This is a tricky question and not easy to resolve. |
d. Trong mỗi nhóm thực thể (tức là những thực thể có cùng số nguyên tử trường tồn trên cõi hồng trần vũ trụ), có phải một số theo mô hình vũ trụ còn những thực thể khác theo mô hình hệ thống, hay mọi thực thể trong những nhóm như thế đều theo cùng một mô hình. Đây là một câu hỏi khó và không dễ giải quyết. |
|
382. Just for the sake of clarity: |
382. Chỉ để cho rõ ràng: |
|
a. The more cosmic model allots permanent atoms to planes which do not have the same name as the permanent atoms. For instance, for a Solar Logos, the logoic systemic plane may (from the cosmic angle) be considered the highest of the cosmic etheric sub-planes, and the physical permanent atom of the Solar Logos will be found upon this sub-plane. His astral permanent atom will be found upon the cosmic astral plane and his manasic permanent atom on the cosmic mental, and so forth. |
a. Mô hình có tính vũ trụ hơn phân bổ các nguyên tử trường tồn cho những cõi không mang cùng tên với các nguyên tử trường tồn. Chẳng hạn, đối với một Thái dương Thượng đế, cõi logoic hệ thống có thể (xét từ góc độ vũ trụ) được xem là cõi phụ dĩ thái vũ trụ cao nhất, và nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế sẽ được tìm thấy trên cõi phụ này. Nguyên tử trường tồn cảm dục của Ngài sẽ được tìm thấy trên cõi cảm dục vũ trụ và nguyên tử trường tồn manas của Ngài trên cõi trí vũ trụ, v.v. |
|
b. In the more systemic model, a permanent atom will be found on the systemic plane for which the permanent atom is named. For instance, the astral permanent atom will be found on the systemic astral plane and the physical permanent atom will be found on the etheric part of the systemic etheric-physical plane. |
b. Trong mô hình có tính hệ thống hơn, một nguyên tử trường tồn sẽ được tìm thấy trên cõi hệ thống mà nguyên tử trường tồn ấy được gọi tên theo đó. Chẳng hạn, nguyên tử trường tồn cảm dục sẽ được tìm thấy trên cõi cảm dục hệ thống và nguyên tử trường tồn hồng trần sẽ được tìm thấy trên phần dĩ thái của cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống. |
|
c. There may be some allotments which are partially cosmic and partially systemic. The seven cosmic planes are paralleled exactly by the seven systemic planes, but there are some E/entities Whose permanent atoms will not be placed either purely cosmically or purely systemically. For instance, they may have some permanent atoms on systemic planes and some on a cosmic plane or planes higher than the cosmic physical plane. |
c. Có thể có một số sự phân bổ vừa mang tính vũ trụ vừa mang tính hệ thống. Bảy cõi vũ trụ song hành chính xác với bảy cõi hệ thống, nhưng có một số Thực thể mà các nguyên tử trường tồn của Các Ngài sẽ không được đặt theo cách thuần túy vũ trụ hay thuần túy hệ thống. Chẳng hạn, Các Ngài có thể có một số nguyên tử trường tồn trên các cõi hệ thống và một số trên một hay nhiều cõi vũ trụ cao hơn cõi hồng trần vũ trụ. |
|
d. For instance, we would not expect that the permanent atoms of a Globe Lord would be all placed upon the cosmic physical plane. Some of them very probably are on the cosmic astral plane or even cosmic mental, but we would not expect that the span of allotment of permanent atoms for at Globe Lord would reach quite as ‘high’ on the cosmic planes as the span of allotment for a Solar Logos, or a Person of the logoic Trinity, or a Planetary Logos. Is the principle clear? |
d. Chẳng hạn, chúng ta sẽ không mong đợi rằng các nguyên tử trường tồn của một Chúa Tể của một Bầu Hành Tinh đều được đặt trên cõi hồng trần vũ trụ. Một số trong đó rất có thể ở trên cõi cảm dục vũ trụ hay thậm chí cõi trí vũ trụ, nhưng chúng ta sẽ không mong đợi rằng tầm mức phân bổ các nguyên tử trường tồn của một Chúa Tể của một Bầu Hành Tinh lại vươn cao trên các cõi vũ trụ đến mức như tầm mức phân bổ của một Thái dương Thượng đế, hay một Ngôi Vị của Tam Vị logoic, hay một Hành Tinh Thượng đế. Nguyên lý ấy có rõ không? |
|
All that is here stated is an enlargement of the data given about the “Army of the Voice,”75 [S. D., I, 121] and an endeavour to show that many diverse lives (all embodying lesser lives, or embodied in greater ones themselves) are to be found within the various schemes. |
Tất cả những gì được trình bày ở đây là sự mở rộng của dữ kiện đã được đưa ra về “Đạo Quân của Tiếng Nói,”75 [S. D., I, 121] và là một nỗ lực nhằm cho thấy rằng nhiều sự sống đa dạng (tất cả đều hiện thân các sự sống nhỏ hơn, hoặc chính chúng được hiện thân trong những sự sống lớn hơn) được tìm thấy trong các hệ hành tinh khác nhau. |
|
383. DK speaks of “many diverse lives”. It seems evident that He has listed only a few of the many. |
383. Chân sư DK nói về “nhiều sự sống đa dạng”. Hiển nhiên là Ngài chỉ liệt kê một ít trong số rất nhiều sự sống ấy. |
|
384. We have a picture of lives within lives. Man is a composite being but so are many other types of beings. |
384. Chúng ta có một bức tranh về những sự sống bên trong những sự sống. Con người là một hữu thể tổng hợp, nhưng nhiều loại hữu thể khác cũng vậy. |
|
385. The picture of the Army of the Voice here presented seems far greater than that usually considered. |
385. Bức tranh về Đạo Quân của Tiếng Nói được trình bày ở đây dường như rộng lớn hơn nhiều so với điều thường được xét đến. |
|
386. It all depends which “Voice” we are discussing. If the “Army of the Voice” can be found on systemic sub-planes and on a number of systemic planes (i.e., sub-planes of the cosmic physical plane), why should it not be found on cosmic planes as well? |
386. Tất cả tùy thuộc vào việc chúng ta đang bàn đến “Tiếng Nói” nào. Nếu “Đạo Quân của Tiếng Nói” có thể được tìm thấy trên các cõi phụ hệ thống và trên một số cõi hệ thống (tức là các cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ), thì tại sao nó lại không thể được tìm thấy trên các cõi vũ trụ nữa? |
|
We have dealt only with those likewise which are superhuman or human, with those who have been or are MEN. We have not dealt with the subhuman, or with the lunar lords or lesser pitris, for their day is not yet, and they progress as the tide of evolution progresses, unconsciously and not self-consciously. |
Chúng ta chỉ bàn đến những vị cũng là siêu nhân loại hoặc nhân loại, những vị đã từng là hoặc đang là NGƯỜI. Chúng ta chưa bàn đến hạ nhân loại, hay các nguyệt tinh quân hoặc các thái âm tổ phụ nhỏ hơn, vì ngày của họ chưa đến, và họ tiến bộ khi làn sóng tiến hoá tiến lên, một cách vô thức chứ không phải bằng ngã thức. |
|
387. These lesser lives also have permanent atoms, but they do not form the focus of our present discussion. |
387. Những sự sống nhỏ hơn này cũng có các nguyên tử trường tồn, nhưng chúng không tạo thành trọng tâm của cuộc bàn luận hiện tại của chúng ta. |
|
388. We gather that all superhuman entities have been or are “MEN” of some kind. |
388. Chúng ta hiểu rằng mọi thực thể siêu nhân loại đều đã từng là hoặc đang là “NGƯỜI” theo một nghĩa nào đó. |
|
389. There are certain methods of deva individualization which do not seem to entail passage through the human kingdom. Can devic lives brought to self-consciousness in this way (through intensity of feeling) ever become “superhuman” in the sense here discussed? Perhaps this possibility should not be ruled out. |
389. Có những phương pháp biệt ngã hóa nhất định của thiên thần dường như không đòi hỏi phải đi qua giới nhân loại. Liệu những sự sống thiên thần được đưa đến ngã thức theo cách này (qua cường độ cảm xúc) có bao giờ có thể trở thành “siêu nhân loại” theo nghĩa đang được bàn ở đây không? Có lẽ không nên loại trừ khả năng này. |
|
We have dealt with these entities and their permanent atoms in connection with their manifestation in a solar system, and have not carried it beyond the solar ring-pass-not. |
Chúng ta đã bàn đến các thực thể này và các nguyên tử trường tồn của họ trong liên hệ với sự biểu hiện của họ trong một hệ mặt trời, và chưa đưa việc ấy vượt ra ngoài vòng-giới-hạn mặt trời. |
|
390. Surely, some of these E/entities have permanent atoms beyond the “solar ring-pass-not”. |
390. Chắc chắn, một số Thực thể này có các nguyên tử trường tồn vượt ra ngoài “vòng-giới-hạn mặt trời”. |
|
All the permanent atoms concern physical matter and manifestation. |
Tất cả các nguyên tử trường tồn đều liên quan đến vật chất hồng trần và sự biểu hiện. |
|
391. Yes—for all the permanent atoms mentioned, but many do not. |
391. Đúng—đối với tất cả các nguyên tử trường tồn đã được nhắc đến, nhưng còn nhiều nguyên tử khác thì không phải vậy. |
|
392. As all Beings in cosmos have seven major principles, permanent atoms to serve as conduits for those principles must exist. Thus, when Beings are mentioned with only one, two or three permanent atoms to be found on the cosmic physical plane, we must ask where the other permanent atoms will be located or allocated? The only answer for us will be, “on one or more of the higher cosmic planes”. |
392. Vì mọi Hữu Thể trong vũ trụ đều có bảy nguyên khí chính, nên các nguyên tử trường tồn để làm các ống dẫn cho những nguyên khí ấy phải tồn tại. Do đó, khi các Hữu Thể được nhắc đến mà chỉ có một, hai hoặc ba nguyên tử trường tồn được tìm thấy trên cõi hồng trần vũ trụ, chúng ta phải hỏi rằng các nguyên tử trường tồn khác sẽ được đặt hay phân bổ ở đâu? Câu trả lời duy nhất đối với chúng ta sẽ là, “trên một hay nhiều cõi vũ trụ cao hơn”. |
|
The highest permanent atom of man, the atmic, is, after all, an atom of the third cosmic ether, and this should be pondered upon and studied. |
Nguyên tử trường tồn cao nhất của con người, nguyên tử atma, rốt cuộc vẫn là một nguyên tử của dĩ thái vũ trụ thứ ba, và điều này cần được suy gẫm và nghiên cứu. |
|
393. The third systemic ether is not considered “esoteric” and so we may infer the same of the third cosmic ether. |
393. Dĩ thái hệ thống thứ ba không được xem là “huyền bí”, và vì thế chúng ta có thể suy ra điều tương tự đối với dĩ thái vũ trụ thứ ba. |
|
394. On the third systemic ether, the throat center of the human being is located. We know that humanity is largely the throat center to be found within the chakra system of Sanat Kumara. The atmic plane (on which is found the atmic permanent atom) is ruled by Saturn (a third ray Monad) which is the ruler of the throat center of advanced humanity and disciples. |
394. Trên dĩ thái hệ thống thứ ba, trung tâm cổ họng của con người tọa lạc. Chúng ta biết rằng nhân loại phần lớn là trung tâm cổ họng được tìm thấy trong hệ thống luân xa của Đức Sanat Kumara. Cõi atma (nơi nguyên tử trường tồn atma được tìm thấy) do Sao Thổ cai quản (một chân thần cung ba), và Sao Thổ là chủ tinh của trung tâm cổ họng của nhân loại tiến hóa cao và các đệ tử. |
|
395. It would seem there is much about the highest permanent atom of the members of the human family to suggest the throat center function of humanity and also the fact that humanity is not yet sacred but still functioning very much within the brahmic aspect of the Solar Logos. |
395. Dường như có nhiều điều nơi nguyên tử trường tồn cao nhất của các thành viên trong gia đình nhân loại gợi ra chức năng trung tâm cổ họng của nhân loại, và cũng gợi ra sự kiện rằng nhân loại chưa thiêng liêng mà vẫn còn hoạt động rất nhiều trong phương diện brahmic của Thái dương Thượng đế. |
|
We have considered these various personalities (and the word ‘personality’ is chosen deliberately, for what are They but personalities, or Beings, in physical incarnation?) from the standpoint of Their lowest force point first. |
Chúng ta đã xét các phàm ngã khác nhau này (và từ ‘phàm ngã’ được chọn một cách có chủ ý, vì Các Ngài là gì nếu không phải là các phàm ngã, hay các Hữu Thể, đang lâm phàm hồng trần?) trước hết từ quan điểm của điểm mãnh lực thấp nhất của Các Ngài. |
|
396. It is the lowest “force point” or permanent atom that allows beings to incarnate on the systemic physical plane. |
396. Chính “điểm mãnh lực” thấp nhất hay nguyên tử trường tồn cho phép các hữu thể nhập thể trên cõi hồng trần hệ thống. |
|
397. DK is telling us that “personalities” are to be considered “Beings, in physical incarnation”. |
397. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng “các phàm ngã” phải được xem là “các Hữu Thể, đang lâm phàm hồng trần”. |
|
398. There is, as we have been told, a close connection between the personality and its ray, and the physical body (just as the Ego and its ray are connected with the astral body and the Monad and its ray with the mental body). |
398. Như chúng ta đã được cho biết, có một mối liên hệ chặt chẽ giữa phàm ngã và cung của nó, với thể xác (cũng như chân ngã và cung của nó liên hệ với thể cảm dục, và chân thần cùng cung của nó liên hệ với thể trí). |
|
399. In all this list of E/entities in relation to some of their permanent atoms, we have been talking largely about how the E/entities manifest on the cosmic physical plane. From the cosmic perspective, all of them are in physical incarnation, and some of them are in systemic-physical incarnation (such as man, the animals, the vegetables and the minerals). |
399. Trong toàn bộ danh sách các Thực thể này liên hệ với một số nguyên tử trường tồn của các Ngài, phần lớn chúng ta đã nói về cách các Thực thể ấy biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ. Từ quan điểm vũ trụ, tất cả các Ngài đều đang lâm phàm hồng trần, và một số trong các Ngài đang lâm phàm hồng trần-hệ thống (như con người, động vật, thực vật và khoáng vật). |
|
We have discussed the permanent atom as a point of contact with the force of a plane, of a planet, of a chain, of a scheme, or of a system. This should ever be borne in mind. |
Chúng ta đã bàn về nguyên tử trường tồn như một điểm tiếp xúc với mãnh lực của một cõi, một hành tinh, một dãy, một hệ hành tinh, hay một hệ thống. Điều này cần luôn được ghi nhớ. |
|
400. This particular definition of a permanent atom as a “point of contact” should be impressed upon us. The ‘Principles of Spirit’ (of which there are usually numbered seven) work through these “points of contact”, thus bringing the influence of the Monad into the substance of the sheaths through which it (the Monad) expresses. |
400. Định nghĩa đặc biệt này về nguyên tử trường tồn như một “điểm tiếp xúc” cần được khắc sâu nơi chúng ta. Các ‘Nguyên Khí của Tinh thần’ (thường được đếm là bảy) hoạt động qua những “điểm tiếp xúc” này, nhờ đó mang ảnh hưởng của chân thần vào chất liệu của các thể mà qua đó nó (chân thần) biểu lộ. |
|
401. It is also evident that the Monad (initially via the egoic lotus) expresses in a differentiated way in every sheath through the seven major chakras of that sheath. |
401. Cũng hiển nhiên rằng chân thần (ban đầu qua hoa sen chân ngã) biểu lộ một cách biến phân trong mỗi thể qua bảy luân xa chính của thể ấy. |
|
It is to be recognised that much that is written above [Page 536] may seem incomprehensible, but when scientists come to understand and regulate force, that which is written here will become plainer; |
Cần nhận ra rằng nhiều điều được viết ở trên [Page 536] có thể dường như không thể hiểu nổi, nhưng khi các nhà khoa học đi đến chỗ thấu hiểu và điều chỉnh mãnh lực, điều được viết ở đây sẽ trở nên sáng tỏ hơn; |
|
402. We are a long way from this regulation, but TCF is book for centuries to come (at least if its hints are recognized and wisely followed) |
402. Chúng ta còn cách rất xa sự điều chỉnh này, nhưng TCF là cuốn sách cho nhiều thế kỷ sắp tới (ít nhất nếu các gợi ý của nó được nhận ra và được noi theo một cách minh triết) |
|
it will be seen that we have dealt with the positive force in all negative forms above, and including the human kingdom. |
người ta sẽ thấy rằng chúng ta đã bàn đến mãnh lực dương trong mọi hình tướng âm ở trên và bao gồm cả giới nhân loại. |
|
403. The permanent atoms are the “positive force in all negative forms”—the seventh principle—one significant way of mediating the life principle to the sheaths. The seven chakras in each vehicle are another such way. |
403. Các nguyên tử trường tồn là “mãnh lực dương trong mọi hình tướng âm”—nguyên khí thứ bảy—một phương cách quan trọng để trung gian nguyên khí sự sống đến các thể. Bảy luân xa trong mỗi vận cụ là một phương cách khác như vậy. |
|
404. In this way the permanent atoms stand within the line of will, as will be evident from the fact that (within the economy of the sheaths) they stand for the seventh principle—corresponding to spiritual will or atma. |
404. Theo cách này, các nguyên tử trường tồn đứng trong đường lối của ý chí, như sẽ hiển nhiên từ sự kiện rằng (trong kinh tế của các thể) chúng tượng trưng cho nguyên khí thứ bảy—tương ứng với ý chí tinh thần hay atma. |