Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến trang sách tương ứng trong TCF
TCF 536-549: S5S9
|
30 July – 13 August 2007 |
30 July – 13 August 2007 |
|
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) |
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện) |
|
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. |
Xin đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với cuốn TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. |
|
1. We begin on a subject of the utmost psycho-spiritual importance. Perhaps we shall learn more about our development as human beings and disciples by studying the egoic lotus than in any other way. |
1. Chúng ta bắt đầu với một chủ đề có tầm quan trọng tâm lý-tinh thần tối cao. Có lẽ chúng ta sẽ học được nhiều hơn về sự phát triển của mình với tư cách con người và đệ tử bằng cách nghiên cứu Hoa Sen Chân Ngã hơn bất kỳ cách nào khác. |
|
III. THE EGOIC LOTUS 76 |
III. HOA SEN CHÂN NGÃ 76 |
|
FOOTNOTE 76: The Egoic Lotus “…the laws of karma are adjusted, the clue being found in the mastery of the sixteen rays of the Ego, for which sixteen rays sixteen mantras or words are given, the real pronunciation being however reserved for initiates only.”—Kali Upanishad. |
CƯỚC CHÚ 76: Hoa Sen Chân Ngã “…các định luật nghiệp quả được điều chỉnh, đầu mối được tìm thấy trong sự làm chủ mười sáu cung của Chân ngã, mà đối với mười sáu cung ấy có mười sáu mantram hay linh từ được ban ra, tuy nhiên cách phát âm thực sự chỉ dành riêng cho các điểm đạo đồ mà thôi.”—Kali Upanishad. |
|
2. We do not know how the sixteen rays of the Ego have been derived in the Upanishads, but in our own Teaching we can find ways to support this numbering. |
2. Chúng ta không biết mười sáu cung của Chân ngã đã được suy ra như thế nào trong các Upanishad, nhưng trong Giáo Huấn của chính chúng ta, chúng ta có thể tìm thấy những cách để hỗ trợ cách đánh số này. |
|
3. If we number the part of the egoic lotus as following we shall arrive at the number sixteen: |
3. Nếu chúng ta đánh số các phần của hoa sen chân ngã như sau, chúng ta sẽ đạt đến con số mười sáu: |
|
a. One “Jewel in the Lotus” |
a. Một “Bảo Châu trong Hoa Sen” |
|
b. Three synthesizing petals |
b. Ba cánh hoa tổng hợp |
|
c. Three sacrifice petals |
c. Ba cánh hoa hi sinh |
|
d. Three love petals |
d. Ba cánh hoa bác ái |
|
e. Three knowledge petals |
e. Ba cánh hoa tri thức |
|
f. Three constituents of the atomic triangle |
f. Ba thành phần của tam giác nguyên tử |
|
4. From the number sixteen it is clear that the egoic lotus is associated with the throat center in which there are sixteen petals. |
4. Từ con số mười sáu, rõ ràng là hoa sen chân ngã liên kết với trung tâm cổ họng, nơi có mười sáu cánh hoa. |
|
5. There are yogic mantra for the sixteen petals of the throat center and we can wonder whether there would be a relation to the sixteen rays of the Ego and their respective mantra. |
5. Có những mantra yoga dành cho mười sáu cánh hoa của trung tâm cổ họng, và chúng ta có thể tự hỏi liệu có mối liên hệ nào với mười sáu cung của Chân ngã và các mantra tương ứng của chúng hay không. |
|
6. The number sixteen sums to seven which tells of its importance in the act of manifestation. |
6. Con số mười sáu cộng lại thành bảy, điều này cho biết tầm quan trọng của nó trong hành vi biểu hiện. |
|
7. Words are produce through the throat center and the “Word” issues from the soul aspect of which the sixteenfold egoic lotus is for man the representative. |
7. Các linh từ được tạo ra qua trung tâm cổ họng, và “Linh từ” phát ra từ phương diện linh hồn mà hoa sen chân ngã thất phân là đại diện cho con người. |
|
8. In the egoic lotus all three aspects are represented—through the “Jewel in the Lotus” (first aspect), the petals of the egoic lotus (second aspect) and the atomic triangle (third aspect). |
8. Trong hoa sen chân ngã, cả ba phương diện đều được biểu hiện—qua “Bảo Châu trong Hoa Sen” (phương diện thứ nhất), các cánh hoa của hoa sen chân ngã (phương diện thứ hai), và tam giác nguyên tử (phương diện thứ ba). |
|
9. In general we have the second aspect represented in the egoic lotus because the lotus is the vehicle of the middle principle, the soul principle. The third aspect is represented by its connection to the throat center and by its connection with the mental plane and the fifth ray. |
9. Nói chung, chúng ta có phương diện thứ hai được biểu hiện trong hoa sen chân ngã vì hoa sen là vận cụ của nguyên khí trung gian, nguyên khí linh hồn. Phương diện thứ ba được biểu hiện bởi mối liên hệ của nó với trung tâm cổ họng và bởi mối liên hệ của nó với cõi trí và cung năm. |
|
10. The knowledge petals represent the third sub-aspect of the second aspect and the sacrifice petals the first sub-aspect of the second aspect. |
10. Các cánh hoa tri thức biểu hiện tiểu phương diện thứ ba của phương diện thứ hai, và các cánh hoa hi sinh biểu hiện tiểu phương diện thứ nhất của phương diện thứ hai. |
|
11. Five is a potent number of manas, and we shall find this number represented by the egoic lotus (revealing its manasic function) if we count as follows: |
11. Năm là một con số đầy mãnh lực của manas, và chúng ta sẽ thấy con số này được biểu hiện bởi hoa sen chân ngã (bộc lộ chức năng manas của nó) nếu chúng ta đếm như sau: |
|
a. The three constituents of the atomic triangle considered as one |
a. Ba thành phần của tam giác nguyên tử được xem là một |
|
b. The three knowledge petals considered as one |
b. Ba cánh hoa tri thức được xem là một |
|
c. The three love petals considered as one |
c. Ba cánh hoa bác ái được xem là một |
|
d. The three sacrifice petals considered as one |
d. Ba cánh hoa hi sinh được xem là một |
|
e. The central bud of three synthesizing petals and the “Jewel in the Lotus” considered as one. |
e. Nụ trung tâm gồm ba cánh hoa tổng hợp và “Bảo Châu trong Hoa Sen” được xem là một. |
|
12. If we wish to correlate the egoic lotus with the number six we shall simply consider the three synthesizing petals as one and the “Jewel in the Lotus” as yet another one. |
12. Nếu chúng ta muốn tương quan hoa sen chân ngã với con số sáu, chúng ta chỉ cần xem ba cánh hoa tổng hợp là một và “Bảo Châu trong Hoa Sen” là một đơn vị khác nữa. |
|
13. The number twenty-two also can emerge as representative of the egoic lotus as follows: |
13. Con số hai mươi hai cũng có thể xuất hiện như đại diện của hoa sen chân ngã như sau: |
|
a. The three members of the atomic triangle and their radiation |
a. Ba thành viên của tam giác nguyên tử và sự bức xạ của chúng |
|
b. The three knowledge petals and their radiation |
b. Ba cánh hoa tri thức và sự bức xạ của chúng |
|
c. The three love petals and their radiation |
c. Ba cánh hoa bác ái và sự bức xạ của chúng |
|
d. The three sacrifice petals and their radiation |
d. Ba cánh hoa hi sinh và sự bức xạ của chúng |
|
e. The three synthesizing petals and their radiation |
e. Ba cánh hoa tổng hợp và sự bức xạ của chúng |
|
f. The seven radiations of the “Jewel in the Lotus”. Sometimes there are considered to be seven and sometimes eight. |
f. Bảy bức xạ của “Bảo Châu trong Hoa Sen”. Đôi khi chúng được xem là bảy và đôi khi là tám. |
|
It should be remembered in this connection that there is a jewel at the heart of every atom. Every jewel has seven facets which are the seven doorways to the seven Paths. (TCF 1245) |
Cần nhớ trong mối liên hệ này rằng có một bảo châu ở trung tâm của mỗi nguyên tử. Mỗi bảo châu có bảy mặt, là bảy cửa ngõ dẫn đến bảy Con Đường. (TCF 1245) |
|
At the heart of the sphere is a central blaze of light, emitting these rays are given as seven in number, and play upon these points or circles (analogous to the electrons in the atoms of science) and at this stage produce most effect upon the astral permanent atom. (TCF 513-514) |
Tại trung tâm của khối cầu là một ngọn lửa sáng trung tâm, phát ra những tia này được cho là có số lượng bảy, và tác động lên những điểm hay vòng tròn này (tương tự như các electron trong các nguyên tử của khoa học) và ở giai đoạn này tạo ra ảnh hưởng lớn nhất lên nguyên tử trường tồn cảm dục. (TCF 513-514) |
|
The Jewel itself remains occultly static, and does not circulate. It is a point of peace; it pulsates rhythmically as does the heart of man, and from it ray forth eight streams of living fire which extend to the tips of the four love petals and the four sacrifice petals. This eight-fold energy is atma-buddhi. (TCF 1118-1119) |
Bản thân Bảo Châu vẫn bất động một cách huyền bí, và không tuần hoàn. Nó là một điểm bình an; nó đập theo nhịp điệu như trái tim con người, và từ đó phóng ra tám dòng lửa sống động kéo dài đến tận chóp của bốn cánh hoa bác ái và bốn cánh hoa hi sinh. Năng lượng bát phân này là atma-buddhi. (TCF 1118-1119) |
|
14. The first aspect motion is association with pulsation and the heart (although associated qualitatively with the second aspect) is the home of the first aspect. Thus the “Jewel in the Lotus” (representing the first aspect) pulsates. This reminds one of one of the names of the First Ray Lord—“The Power that touches and withdraws” (EP I 64) |
14. Chuyển động của phương diện thứ nhất gắn liền với sự đập nhịp, và trái tim (dù gắn với phương diện thứ hai về mặt phẩm tính) là nơi cư ngụ của phương diện thứ nhất. Do đó “Bảo Châu trong Hoa Sen” (đại diện cho phương diện thứ nhất) đập nhịp. Điều này gợi nhớ đến một trong những danh xưng của Đấng Chúa Tể Cung một—“Quyền Năng chạm đến rồi rút lui” (EP I 64) |
|
15. If we wish the “Jewel in the Lotus” to represent Shamballa, the number of which is twenty-four, we shall do it this way: |
15. Nếu chúng ta muốn “Bảo Châu trong Hoa Sen” đại diện cho Shamballa, con số của nó là hai mươi bốn, chúng ta sẽ làm theo cách này: |
|
a. The three members of the atomic triangle and their radiation |
a. Ba thành viên của tam giác nguyên tử và sự bức xạ của chúng |
|
b. The three knowledge petals and their radiation |
b. Ba cánh hoa tri thức và sự bức xạ của chúng |
|
c. The three love petals and their radiation |
c. Ba cánh hoa bác ái và sự bức xạ của chúng |
|
d. The three sacrifice petals and their radiation |
d. Ba cánh hoa hi sinh và sự bức xạ của chúng |
|
e. The three synthesizing petals and their radiation |
e. Ba cánh hoa tổng hợp và sự bức xạ của chúng |
|
f. The eight radiations of the “Jewel in the Lotus”. |
f. Tám bức xạ của “Bảo Châu trong Hoa Sen”. |
|
g. The radiation of the entirety of the egoic lotus and all its parts taken as a unit, making the twenty-fourth unit |
g. Sự bức xạ của toàn thể hoa sen chân ngã và mọi phần của nó được lấy như một đơn vị, tạo thành đơn vị thứ hai mươi bốn |
|
“The mystery of the sixteen rays of the Ego will be revealed when the force of the Sacred Tetraktys is merged with that of the Holy Twelve.”—The Old Commentary. |
“Bí nhiệm của mười sáu cung của Chân ngã sẽ được mặc khải khi mãnh lực của Tetraktys Thiêng Liêng được hòa nhập với mãnh lực của Mười Hai Thiêng Liêng.”—Cổ Luận. |
|
16. We have quite a difficult statement here. What are we talking about? |
16. Ở đây chúng ta có một phát biểu khá khó. Chúng ta đang nói về điều gì? |
|
a. The sixteen rays of the ego (summing to seven—and we have no trouble justifying the seven emanations of the sevenfold “Jewel in the Lotus”) may have their origin as specified in the sixteen parts of the lotus. |
a. Mười sáu cung của chân ngã (cộng lại thành bảy—và chúng ta không gặp khó khăn gì khi biện minh cho bảy phát xạ của “Bảo Châu trong Hoa Sen” thất phân) có thể có nguồn gốc như được xác định trong mười sáu phần của hoa sen. |
|
b. There are ten parts to the Sacred Tetraktys, but when we examine the number of “rows” we find only four. Thus the Tetraktys is a four as well as a ten. |
b. Có mười phần trong Tetraktys Thiêng Liêng, nhưng khi chúng ta khảo sát số “hàng”, chúng ta chỉ thấy có bốn. Do đó Tetraktys vừa là một bốn vừa là một mười. |
|
c. The “Holy Twelve” can be any of the many twelvefold structures. The zodiac is one of the principal such. |
c. “Mười Hai Thiêng Liêng” có thể là bất kỳ cấu trúc mười hai phân nào. Hoàng đạo là một trong những cấu trúc chính như thế. |
|
d. The “Holy Twelve” can also represent the heart center which is the chakra representative of the heart center. |
d. “Mười Hai Thiêng Liêng” cũng có thể đại diện cho trung tâm tim, là luân xa đại diện của trung tâm tim. |
|
e. Obviously the four and the twelve sum to sixteen, but which four and which twelve? |
e. Hiển nhiên bốn và mười hai cộng lại thành mười sáu, nhưng đó là bốn nào và mười hai nào? |
|
17. The Tetraktys, of course, can mean many things. In its structure, a tenfold constitution of man is indicated. It includes all the principles usually associated with man: |
17. Dĩ nhiên, Tetraktys có thể mang nhiều ý nghĩa. Trong cấu trúc của nó, một hiến pháp thập phân của con người được chỉ ra. Nó bao gồm tất cả các nguyên khí thường gắn với con người: |
|
a. The first dot: the Monad |
a. Điểm thứ nhất: chân thần |
|
b. The two dots in the second row: atma-buddhi |
b. Hai điểm ở hàng thứ hai: atma-buddhi |
|
c. The three dots in the third row of the wheel: three minds—abstract mind (manas), Son of Mind (within the causal body) and lower mind |
c. Ba điểm ở hàng thứ ba của bánh xe: ba trí—trí trừu tượng (manas), Con của Trí Tuệ (bên trong thể nguyên nhân) và hạ trí |
|
d. The four dots in the fourth row: kama-manas, kama, prana, the etheric body. |
d. Bốn điểm ở hàng thứ tư: trí-cảm, kama, prana, thể dĩ thái. |
|
18. We can also look at egoic structure as follows: |
18. Chúng ta cũng có thể nhìn cấu trúc chân ngã như sau: |
|
a. The first dot in the first row of the Tetraktys represents the “Jewel in the Lotus” and the first ray |
a. Điểm thứ nhất ở hàng thứ nhất của Tetraktys đại diện cho “Bảo Châu trong Hoa Sen” và cung một |
|
b. The two dots of the second row of the Tetraktys represent the three synthesis petals produced by buddhic energy (hence the number two) |
b. Hai điểm của hàng thứ hai của Tetraktys đại diện cho ba cánh hoa tổng hợp được tạo ra bởi năng lượng Bồ đề (do đó là số hai) |
|
c. The three dots of the third row of the Tetraktys represent the ninefold structure on the higher mental plane. Often the egoic lotus is referred to as wheel with nine spokes or a nine-petalled lotus. |
c. Ba điểm của hàng thứ ba của Tetraktys đại diện cho cấu trúc cửu phân trên Cõi thượng trí. Hoa sen chân ngã thường được gọi là bánh xe có chín nan hoa hay một hoa sen chín cánh. |
|
d. The four dots of the fourth row of the Tetraktys represent the three members of the atomic triangle which precipitate the fourfold personality. |
d. Bốn điểm của hàng thứ tư của Tetraktys đại diện cho ba thành viên của tam giác nguyên tử, những thành viên này ngưng tụ nên phàm ngã tứ phân. |
|
19. From another perspective we may be talking about merging the twelve of the heart center with the sixteen of the throat center. This is another way of saying the merging of soul (twelve and the heart) with personality (sixteen and the throat). |
19. Từ một góc nhìn khác, có thể chúng ta đang nói về việc hòa nhập mười hai của trung tâm tim với mười sáu của trung tâm cổ họng. Đây là một cách khác để nói về sự hòa nhập của linh hồn (mười hai và tim) với phàm ngã (mười sáu và cổ họng). |
|
20. There may even be a twelveness to be seen in relation to the Monad. The twelfth sign Pisces “I leave the Father’s Home and turning back I save”, is certainly connected with the Monad. There must necessarily be a connection between the Monad and the major twelve petals of the head center. |
20. Thậm chí có thể có một tính mười hai phân được thấy trong liên hệ với chân thần. Dấu hiệu hoàng đạo thứ mười hai Song Ngư “Tôi rời Nhà Cha và quay trở lại tôi cứu độ”, chắc chắn có liên hệ với chân thần. Tất yếu phải có một mối liên hệ giữa chân thần và mười hai cánh hoa chính của trung tâm đầu. |
|
21. Another perspective shows that the “Holy Twelve” when added to the Tetraktys (not considering it as a ten but as a four) yield sixteen—the number we have been looking for. |
21. Một góc nhìn khác cho thấy rằng “Mười Hai Thiêng Liêng” khi cộng với Tetraktys (không xét nó như một mười mà như một bốn) sẽ cho ra mười sáu—con số mà chúng ta đang tìm kiếm. |
|
22. There is much more to be said here and pondering will be required to determine which twelve and which four must be summed to yield the sixteen rays of the egoic lotus. |
22. Còn nhiều điều hơn nữa cần được nói ở đây, và sẽ cần suy gẫm để xác định mười hai nào và bốn nào phải được cộng lại để cho ra mười sáu cung của hoa sen chân ngã. |
|
The Primordial is the Ray and the direct emanation of the first Sacred Four.—S. D., I, 115, 116. |
Nguyên Sơ là cung và là phát xạ trực tiếp của Bốn Thiêng Liêng đầu tiên.—S. D., I, 115, 116. |
|
The Sacred Four are:— |
Bốn Thiêng Liêng là:— |
|
Father Spirit. Existence. Unity. |
Cha Tinh thần. Hiện hữu. Hợp nhất. |
|
The Son Soul. Love-Wisdom. Duality. |
Con Linh hồn. Bác Ái – Minh Triết. Nhị nguyên tính. |
|
Mother Matter. The trinity. |
Mẹ Vật chất. Tam Vị. |
|
and their united manifestation making |
và sự biểu hiện hợp nhất của các Ngài tạo thành |
|
The active evolving solar system, the logoic ring-pass-not. |
hệ mặt trời hoạt động đang tiến hoá, vòng-giới-hạn logoic. |
|
This is the Macrocosm. |
Đây là Đại thiên địa. |
|
23. In this tabulation the Holy Sprit is not differentiated from the “Mother”, “Matter” |
23. Trong bảng liệt kê này, Chúa Thánh Thần không được phân biệt với “Mẹ”, “Vật chất” |
|
24. “Mother” is so often the fourth term. |
24. “Mẹ” rất thường là thuật ngữ thứ tư. |
|
25. In this case, the fourth is created by summing the first three and considering their unity as another unit. |
25. Trong trường hợp này, cái thứ tư được tạo ra bằng cách cộng ba cái đầu và xem sự hợp nhất của chúng như một đơn vị khác. |
|
26. The term “Unity” can be associated with either the second ray and aspect or the first ray and aspect. |
26. Thuật ngữ “Hợp nhất” có thể được liên kết với hoặc cung hai và phương diện thứ hai, hoặc cung một và phương diện thứ nhất. |
|
27. Unity is oneness, hence its association with the first aspect. |
27. Hợp nhất là nhất thể, do đó có sự liên hệ của nó với phương diện thứ nhất. |
|
28. Unification is that towards which the second ray and second aspect strive through the Will-to-Unify (the second ray aspect of the will). |
28. Sự hợp nhất hóa là điều mà cung hai và phương diện thứ hai hướng đến qua Ý Chí-hợp nhất (phương diện cung hai của ý chí). |
|
29. We are reminded that, for our purposes, the Solar Logos is the Macrocosm. |
29. Chúng ta được nhắc nhở rằng, đối với mục đích của chúng ta, Thái dương Thượng đế là Đại thiên địa. |
|
30. The statement in the text is interesting. The Primordial Ray is, when considering our Solar Logos, the third ray expression of Brahma. One of the principal numbers of Brahma is five. |
30. Phát biểu trong văn bản thật thú vị. Cung Nguyên Sơ là, khi xét Thái dương Thượng đế của chúng ta, biểu hiện cung ba của Brahma. Một trong những con số chính của Brahma là năm. |
|
31. If we sum the Primordial Ray and the “direct emanation of the first Sacred Four” we shall have the requisite five of Brahma. |
31. Nếu chúng ta cộng Cung Nguyên Sơ và “phát xạ trực tiếp của Bốn Thiêng Liêng đầu tiên” thì chúng ta sẽ có con số năm cần thiết của Brahma. |
|
We must now deal with the subject of the causal body on its own plane from the point of view of FIRE. |
Giờ đây chúng ta phải bàn đến chủ đề thể nguyên nhân trên chính cõi của nó từ quan điểm của LỬA. |
|
32. This will mean that we are studying the causal body from the perspective of the first aspect. |
32. Điều này sẽ có nghĩa là chúng ta đang nghiên cứu thể nguyên nhân từ góc độ của phương diện thứ nhất. |
|
We have studied it briefly from the more ordinary angle, and in materialistic terms, considering it as a vehicle of rarefied substance, containing within itself the seventh principle of each of the two lower sheaths of the microcosm, and the mental unit. |
Chúng ta đã nghiên cứu nó một cách ngắn gọn từ góc độ thông thường hơn, và theo thuật ngữ duy vật, xem nó như một vận cụ bằng chất liệu được tinh luyện, chứa trong chính nó nguyên khí thứ bảy của mỗi một trong hai thể thấp của tiểu thiên địa, và đơn vị hạ trí. |
|
33. The astral and physical permanent atoms are considered the seventh principle respectively of the astral body and the physical body. |
33. Nguyên tử trường tồn cảm dục và hồng trần lần lượt được xem là nguyên khí thứ bảy của thể cảm dục và thể xác. |
|
34. It is clear that the mental unit cannot easily be considered the seventh principle of the mental body. This distinction would be reserved to the manasic permanent atom. |
34. Rõ ràng là đơn vị hạ trí không thể dễ dàng được xem là nguyên khí thứ bảy của thể trí. Sự phân biệt này sẽ được dành cho nguyên tử trường tồn manas. |
|
35. To study in terms of substance is to study in “materialistic terms”. To study in terms of fire is not. |
35. Nghiên cứu theo phương diện chất liệu là nghiên cứu theo “thuật ngữ duy vật”. Nghiên cứu theo phương diện lửa thì không phải vậy. |
|
This latter is that which embodies the first aspect in manifestation, and which is analogous to the first logoic aspect—one that in this solar system does not come to full demonstration. |
Phương diện sau này là điều thể hiện phương diện thứ nhất trong sự biểu hiện, và tương tự với phương diện logoic thứ nhất—một phương diện mà trong hệ mặt trời này không đi đến sự biểu lộ trọn vẹn. |
|
36. The mental unit is not a complete permanent atom and so signifies (in the realm of personality manifestation) the first aspect which in this second ray solar system will not come to full demonstration. |
36. Đơn vị hạ trí không phải là một nguyên tử trường tồn hoàn chỉnh và vì thế biểu thị (trong lĩnh vực biểu hiện của phàm ngã) phương diện thứ nhất mà trong hệ mặt trời cung hai này sẽ không đi đến sự biểu lộ trọn vẹn. |
|
37. The general principle to realize is that mind is a conduit for will. |
37. Nguyên lý tổng quát cần chứng nghiệm là trí tuệ là một ống dẫn cho ý chí. |
|
I would like to point out here that in studying the solar system as the physical manifestation of a solar Logos, we are investigating: |
Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng khi nghiên cứu hệ mặt trời như sự biểu hiện hồng trần của một Thái dương Thượng đế, chúng ta đang khảo cứu: |
|
a. The physical permanent atom of a solar Logos as contained within the logoic causal body on its own plane. |
a. Nguyên tử trường tồn hồng trần của một Thái dương Thượng đế như được chứa trong thể nguyên nhân logoic trên cõi riêng của Ngài. |
|
38. Although the physical permanent atom of the Solar Logos can be said to be “contained within the logoic causal body” on the higher mental plane, it is composed of substance of the logoic plane, the first cosmic ether. |
38. Mặc dù có thể nói rằng nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế được “chứa trong thể nguyên nhân logoic” trên Cõi thượng trí, nó lại được cấu thành bằng chất liệu của cõi logoic, tức dĩ thái vũ trụ thứ nhất. |
|
39. This is analogous to the idea that although the human physical permanent atom is contained within the human causal body on the systemic mental plane, that permanent atom is composed of etheric substance of the systemic atomic etheric plane. |
39. Điều này tương tự với ý niệm rằng mặc dù nguyên tử trường tồn hồng trần của con người được chứa trong thể nguyên nhân của con người trên cõi trí của hệ, nguyên tử trường tồn ấy lại được cấu thành bằng chất liệu dĩ thái của cõi dĩ thái nguyên tử hồng trần của hệ. |
|
40. It is the expanse of the two types of causal bodies which makes it correct to say at the members of the atomic triangle (if the Solar Logos has a mental unit!) are contained within the periphery of the causal body. Substantially the material composition of the physical permanent atoms in either case, is not of causal substance—i.e., substance of the higher mental plane—either the systemic higher mental plane or the cosmic higher mental plane. |
40. Chính phạm vi của hai loại thể nguyên nhân khiến cho việc nói rằng các thành viên của tam giác nguyên tử (nếu Thái dương Thượng đế có một đơn vị hạ trí!) được chứa trong chu vi của thể nguyên nhân là đúng đắn. Về mặt chất liệu, thành phần vật chất của các nguyên tử trường tồn hồng trần trong cả hai trường hợp không phải là chất liệu nguyên nhân— tức chất liệu của Cõi thượng trí—dù là Cõi thượng trí của hệ hay Cõi thượng trí vũ trụ. |
|
b. The seven types of force, or the seven logoic spirillae within that permanent atom. This, if realised, [Page 537] gives a new outlook upon the subject of plane vibration. |
b. Bảy loại mãnh lực, hay bảy loa tuyến logoic trong nguyên tử trường tồn ấy. Điều này, nếu được chứng nghiệm, [Page 537]sẽ đem lại một nhãn quan mới về chủ đề rung động của các cõi. |
|
41. We shall find that those states of vibration we call the seven systemic planes are the vibrations of the seven spirillae within the physical permanent atom of the Solar Logos. |
41. Chúng ta sẽ thấy rằng những trạng thái rung động mà chúng ta gọi là bảy cõi của hệ chính là những rung động của bảy loa tuyến trong nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế. |
|
42. The same could be said in relation to the astral permanent atom of the Solar Logos and the cosmic astral plane. |
42. Điều tương tự cũng có thể được nói liên hệ đến nguyên tử trường tồn cảm dục của Thái dương Thượng đế và cõi cảm dục vũ trụ. |
|
43. Since Saturn is a correspondence to the physical permanent atom of the Solar Logos, there must be a strong connection between Saturn and the “seven logoic spirillae”. |
43. Vì Sao Thổ là một tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế, ắt phải có một mối liên hệ mạnh mẽ giữa Sao Thổ và “bảy loa tuyến logoic”. |
|
Uranus and Neptune are reflections of the logoic astral and mental permanent atoms. Saturn is in fact the correspondence to the logoic physical permanent atom. This is an occult mystery and must not be separated from its allied truth in the cosmic scheme. (TCF 406) |
Thiên Vương Tinh và Hải Vương Tinh là những phản chiếu của các nguyên tử trường tồn cảm dục và trí tuệ logoic. Thực ra, Sao Thổ là tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần logoic. Đây là một huyền bí học nội môn và không được tách rời khỏi chân lý liên hệ của nó trong hệ vũ trụ. (TCF 406) |
|
c. The close correspondence between the planes and the seven spirillae in the permanent atom of a solar Logos. |
c. Sự tương ứng chặt chẽ giữa các cõi và bảy loa tuyến trong nguyên tử trường tồn của một Thái dương Thượng đế. |
|
44. Effort should be made to imagine this. |
44. Cần nỗ lực để hình dung điều này. |
|
45. We will have to establish whether the seven systemic planes are only correspondences to the seven spirillae in the physical permanent atom of the Solar Logos or whether the seven planes are the seven spirillae of the logoic physical permanent atom. |
45. Chúng ta sẽ phải xác định liệu bảy cõi của hệ chỉ là những tương ứng với bảy loa tuyến trong nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế hay liệu bảy cõi chính là bảy loa tuyến của nguyên tử trường tồn hồng trần logoic. |
|
through the medium of the planes which are the correspondences to the seven spirillae of the physical permanent atom of a human being. (TCF 1180) |
thông qua trung gian của các cõi là những tương ứng với bảy loa tuyến của nguyên tử trường tồn hồng trần của một con người. (TCF 1180) |
|
We have touched upon these spirillae and their function very briefly, and can now approach the question of the egoic Ray and the fire of mind from the subjective point of view, or in terms of fire. |
Chúng ta đã chạm đến các loa tuyến này và chức năng của chúng rất ngắn gọn, và giờ đây có thể tiếp cận vấn đề cung chân ngã và lửa của trí tuệ từ quan điểm chủ quan, hay theo phương diện lửa. |
|
46. Work in the realm of fire is always subjective work. |
46. Công việc trong lĩnh vực lửa luôn luôn là công việc chủ quan. |
|
47. Fire is God and God is subjectivity. |
47. Lửa là Thượng đế và Thượng đế là tính chủ quan. |
|
1. Centres or Wheels of Energy. |
1. Các trung tâm hay các bánh xe năng lượng. |
|
a. Centres of force. We shall again reach the clarity of vision desirable if we study the subject of monadic development from the angle of vision of the human unit. |
a. Các trung tâm mãnh lực. Chúng ta sẽ lại đạt đến sự sáng tỏ của tầm nhìn đáng mong muốn nếu nghiên cứu chủ đề phát triển chân thần từ góc nhìn của đơn vị nhân loại. |
|
48. We study the microcosm as a practical measure. From there we may be able to generalize meaningfully to larger contexts. |
48. Chúng ta nghiên cứu tiểu thiên địa như một biện pháp thực tiễn. Từ đó chúng ta có thể khái quát hóa một cách có ý nghĩa sang những bối cảnh lớn hơn. |
|
It has been taught in many occult text books that man has seven centres of force (or ten, according to some calculations); |
Trong nhiều sách giáo khoa huyền bí học đã dạy rằng con người có bảy trung tâm mãnh lực (hoặc mười, theo một số cách tính); |
|
49. The tenfold calculation must be considered carefully as it applies to the number of planetary schemes in a solar system, the number of chains in a planetary scheme and, perhaps, the number of globes in a planetary chain. |
49. Cách tính thập phân phải được xem xét cẩn thận vì nó áp dụng cho số lượng các hệ hành tinh trong một hệ mặt trời, số lượng các dãy trong một hệ hành tinh và, có lẽ, số lượng các bầu hành tinh trong một dãy hành tinh. |
|
50. We have also been taught how in a permanent atom, which has ten parts, three superior and seven inferior, the ten may be transformed into a seven by considering the lower three simply as reflections of the higher three. |
50. Chúng ta cũng đã được dạy rằng trong một nguyên tử trường tồn, vốn có mười phần, ba phần cao và bảy phần thấp, mười có thể được chuyển thành bảy bằng cách xem ba phần thấp chỉ đơn giản là những phản chiếu của ba phần cao. |
|
that three of these centres are paramount, and eventually synthesise the other four, or absorb their force or energy. |
rằng ba trong các trung tâm này là tối quan trọng, và cuối cùng tổng hợp bốn trung tâm kia, hay hấp thu mãnh lực hoặc năng lượng của chúng. |
|
51. The synthesizing centers have usually been considered the head, heart and throat. |
51. Các trung tâm tổng hợp thường được xem là đầu, tim và cổ họng. |
|
52. The three major centers in the head can also, from another perspective, be considered synthesizers. |
52. Ba trung tâm chính trong đầu cũng có thể, từ một góc nhìn khác, được xem là những trung tâm tổng hợp. |
|
This produces their eventual obscuration, or their passing out of manifestation; they occultly ‘die.’ |
Điều này tạo ra sự mờ khuất sau cùng của chúng, hay việc chúng rời khỏi sự biểu hiện; về mặt huyền bí học, chúng “chết”. |
|
53. We see that the process of synthesis precedes that of obscuration. This has sometimes been questioned. |
53. Chúng ta thấy rằng tiến trình tổng hợp đi trước tiến trình mờ khuất. Điều này đôi khi đã bị nghi vấn. |
|
54. The stage of absorption has also to be factored into this sequence. Shall absorption be considered a part of synthesis, or shall absorption (with its sense of finality) follow obscuration? |
54. Giai đoạn hấp thu cũng phải được tính đến trong chuỗi này. Liệu hấp thu nên được xem là một phần của tổng hợp, hay hấp thu (với ý nghĩa chung cuộc của nó) sẽ theo sau sự mờ khuất? |
|
55. The sequence we have been using is: synthesis → obscuration → absorption, but we may not be justified in making these terms utterly distinct. |
55. Chuỗi mà chúng ta đã sử dụng là: tổng hợp → mờ khuất → hấp thu, nhưng có lẽ chúng ta không có cơ sở để làm cho các thuật ngữ này hoàn toàn tách biệt. |
|
This is paralleled in the logoic centres, the planetary schemes, which also in due course of time pass into obscuration, and transmit their energy to the major three schemes. |
Điều này song hành trong các trung tâm logoic, tức các hệ hành tinh, vốn cũng theo thời gian đi vào sự mờ khuất, và truyền năng lượng của chúng cho ba hệ chính. |
|
56. It would seem that in this transmission following obscuration, we have what we might call absorption. |
56. Có vẻ như trong sự truyền đạt này sau khi mờ khuất, chúng ta có điều mà có thể gọi là hấp thu. |
|
57. The major three schemes, as we should well-know by now, are Saturn, Neptune and Uranus, with a double emphasis given to the Saturn-scheme (which can, from one perspective, simply be considered a normal planetary scheme or, in a larger sense, can be considered the entirety of all schemes to be absorbed into the third aspect). The Chart on TCF 373 can help clarify this. |
57. Ba hệ chính, như đến nay chúng ta hẳn đã biết rõ, là Sao Thổ, Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương, với một sự nhấn mạnh kép dành cho hệ Sao Thổ (từ một góc nhìn có thể đơn giản được xem là một hệ hành tinh bình thường hoặc, theo nghĩa rộng hơn, có thể được xem là toàn thể mọi hệ sẽ được hấp thu vào phương diện thứ ba). Biểu đồ ở TCF 373 có thể giúp làm sáng tỏ điều này. |
|
The three main centres in the Microcosm are the Head, the Heart and the Throat. |
Ba trung tâm chính trong Tiểu thiên địa là Đầu, Tim và Cổ họng. |
|
1. The Head centre The Monad Will Spirit. |
1. Trung tâm đầu Chân thần Ý chí Tinh thần. |
|
2. The Heart centre The Ego Love Consciousness. |
2. Trung tâm tim Chân ngã Bác ái Tâm thức. |
|
3. The Throat centre The Personality Activity Matter. |
3. Trung tâm cổ họng Phàm ngã Hoạt động Vật chất. |
|
58. We are well familiar with this tabulation. |
58. Chúng ta đã rất quen thuộc với bảng liệt kê này. |
|
59. In the disciplic microcosm, the throat is ruled by Saturn, the heart by Jupiter and the head by Vulcan. (cf. EA 517) |
59. Trong tiểu thiên địa của đệ tử, cổ họng do Sao Thổ cai quản, tim do Sao Mộc cai quản và đầu do Vulcan cai quản. (xem EA 517) |
|
60. Between the first and third initiation (which should include the stage of discipleship) the head center is ruled by Uranus, and can we say that Neptune (“repository of the ‘solar flames’ ”—TCF 1154) gains increasing influence over the heart center. Uranus is also prominent at the throat. |
60. Giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ ba (điều này nên bao gồm giai đoạn địa vị đệ tử), trung tâm đầu do Sao Thiên Vương cai quản, và liệu chúng ta có thể nói rằng Sao Hải Vương (“kho chứa của ‘các ngọn lửa thái dương’ ”—TCF 1154) ngày càng có ảnh hưởng lớn hơn trên trung tâm tim hay không. Sao Thiên Vương cũng nổi bật tại cổ họng. |
|
a. The throat centre is ruled by Saturn just as the two head centres are ruled respectively by Uranus (ruling the head centre) and Mercury (ruling the ajna centre). This is only where the disciple is concerned; the rulership changes after the third initiation or before the first. (EA 151) |
a. Trung tâm cổ họng do Sao Thổ cai quản cũng như hai trung tâm đầu lần lượt do Sao Thiên Vương (cai quản trung tâm đầu) và Sao Thủy (cai quản trung tâm ajna) cai quản. Điều này chỉ đúng khi liên hệ đến đệ tử; sự cai quản thay đổi sau lần điểm đạo thứ ba hoặc trước lần điểm đạo thứ nhất. (EA 151) |
|
It will, therefore, be apparent that just as in man these centres are related to the threefold spiritual man in his total development, so the three types of centres—microcosmic or macrocosmic—come gradually more and more under the vitalising power of one of the three aspects of the Logos. |
Do đó, sẽ rõ ràng rằng cũng như nơi con người các trung tâm này liên hệ với con người tinh thần tam phân trong toàn bộ sự phát triển của y, thì ba loại trung tâm—vi mô hay vĩ mô—dần dần ngày càng nằm dưới quyền năng tiếp sinh lực của một trong ba phương diện của Thượng đế. |
|
61. We have been told that by the time the first initiation is taken, one of the three major centers comes into greater prominence depending upon the monadic ray of the microcosm (as the monadic ray has much to do with chakra dynamics). |
61. Chúng ta đã được cho biết rằng vào lúc lần điểm đạo thứ nhất được tiếp nhận, một trong ba trung tâm chính trở nên nổi bật hơn tùy theo cung chân thần của tiểu thiên địa (vì cung chân thần có liên hệ nhiều đến động lực học luân xa). |
|
This is effected definitely at the first Initiation when the polarisation becomes fixed in one or other of the three higher centres,—which centre being dependent upon a man’s ray. (TCF 124) |
Điều này được thực hiện một cách xác định vào lần điểm đạo thứ nhất khi sự phân cực trở nên cố định trong một hay trung tâm cao hơn khác trong ba trung tâm,—trung tâm nào tùy thuộc vào cung của một người. (TCF 124) |
|
62. If the monadic ray is the third, the throat center will receive extra vitalization; it the second ray, then the heart center; if the first ray, then the head center. |
62. Nếu cung chân thần là cung ba, trung tâm cổ họng sẽ nhận được sự tiếp sinh lực bổ sung; nếu là cung hai, thì trung tâm tim; nếu là cung một, thì trung tâm đầu. |
|
These centres are recognised also as focal points of active force, manifesting to the vision [Page 538] of the clairvoyant as fiery wheels or the flaming petals of a lotus. |
Các trung tâm này cũng được nhận biết như những tiêu điểm của mãnh lực hoạt động, biểu hiện trước linh thị [Page 538] của nhà thông nhãn như những bánh xe lửa hay những cánh hoa rực lửa của một hoa sen. |
|
63. The wheel and the lotus are two ways which in which the Solar Angel appears to the candidate passing through the first four initiation ceremonies. An angelic appearance is also conferred, we are told. |
63. Bánh xe và hoa sen là hai cách mà Thái dương Thiên Thần xuất hiện trước ứng viên đang trải qua bốn nghi lễ điểm đạo đầu tiên. Chúng ta cũng được cho biết rằng một sắc tướng thiên thần cũng được ban cho. |
|
64. It is important to realize that the petals are as “flaming petals”. The chakras are manifestations of different fires. |
64. Điều quan trọng là phải chứng nghiệm rằng các cánh hoa là những cánh hoa “rực lửa”. Các luân xa là những biểu hiện của các loại lửa khác nhau. |
|
65. From a deeper perspective, substance is fire and not material. |
65. Từ một góc nhìn sâu hơn, chất liệu là lửa chứ không phải vật chất. |
|
b. The causal body… monadic heart centre. |
b. Thể nguyên nhân… trung tâm tim chân thần. |
|
66. Because the causal body is the monadic heart center, the number twelve must be prominently associated with it. All heart centers with which we are familiar are twelvefold. |
66. Bởi vì thể nguyên nhân là trung tâm tim của chân thần, con số mười hai phải được liên kết nổi bật với nó. Mọi trung tâm tim mà chúng ta quen thuộc đều là thập nhị phân. |
|
67. Viewing the causal body as twelvefold can be accomplished if the “Jewel in the Lotus” which represents the first aspect and the three units in the atomic triangle representing the third aspect are eliminated. |
67. Việc xem thể nguyên nhân là thập nhị phân có thể thực hiện được nếu “Ngọc trong Hoa Sen”, vốn biểu thị phương diện thứ nhất, và ba đơn vị trong tam giác nguyên tử biểu thị phương diện thứ ba, được loại bỏ. |
|
68. Twelve petals would remain and petals always emphasize the second aspect. |
68. Khi ấy sẽ còn lại mười hai cánh hoa, và các cánh hoa luôn nhấn mạnh phương diện thứ hai. |
|
In studying the egoic body it should be remembered that the causal body is the correspondence in the monadic manifestation to the heart centre. It is a flaming wheel of fire within the monadic auric egg, |
Khi nghiên cứu thể chân ngã, cần nhớ rằng thể nguyên nhân là sự tương ứng trong biểu hiện chân thần với trung tâm tim. Nó là một bánh xe lửa rực cháy trong noãn hào quang chân thần, |
|
69. Again, the causal body is within the periphery of the monadic auric egg, but is not co-substantial (of the same substance) as the monadic auric egg. |
69. Một lần nữa, thể nguyên nhân nằm trong chu vi của noãn hào quang chân thần, nhưng không đồng chất liệu (cùng một chất liệu) với noãn hào quang chân thần. |
|
70. In gaining some clear idea about the ‘anatomy’ of man’s inner vehicles, location of a factor within another factor may not depend upon the co-substantiality of the first factor with the second. The members of the atomic triangle are located ‘within’ the causal body but are not co-substantial with any part of it; the causal body is located ‘within’ the monadic auric egg but is not co-substantial with it. |
70. Khi đạt được một ý niệm rõ ràng nào đó về “giải phẫu học” của các vận cụ bên trong của con người, vị trí của một yếu tố bên trong một yếu tố khác có thể không tùy thuộc vào sự đồng chất liệu của yếu tố thứ nhất với yếu tố thứ hai. Các thành viên của tam giác nguyên tử nằm “trong” thể nguyên nhân nhưng không đồng chất liệu với bất kỳ phần nào của nó; thể nguyên nhân nằm “trong” noãn hào quang chân thần nhưng không đồng chất liệu với nó. |
|
which embraces the five planes of monadic manifestation; |
vốn bao trùm năm cõi của biểu hiện chân thần; |
|
71. The five planes of monadic manifestation are the atmic, buddhic, manasic, astral and etheric-physical. |
71. Năm cõi của biểu hiện chân thần là cõi atma, cõi Bồ đề, cõi manas, cõi cảm dục và cõi dĩ thái-hồng trần. |
|
72. The monadic auric egg includes within its periphery the sheaths to be found all the five brahmic planes, including the buddhic and atmic sheaths as they become organized or coordinated. |
72. Noãn hào quang chân thần bao gồm trong chu vi của nó các thể được tìm thấy trên cả năm cõi brahmic, kể cả các thể Bồ đề và atma khi chúng trở nên được tổ chức hay phối hợp. |
|
73. On the surface this text statement seems straightforward, but there could be problems associated with it. Much depends on how we read the previous two sections of text. |
73. Trên bề mặt, phát biểu này của bản văn có vẻ thẳng thắn, nhưng có thể có những vấn đề gắn liền với nó. Nhiều điều tùy thuộc vào cách chúng ta đọc hai phần văn bản trước đó. |
|
74. We can easily fathom that the monadic auric egg would embrace the five planes of monadic manifestation. |
74. Chúng ta có thể dễ dàng hiểu rằng noãn hào quang chân thần sẽ bao trùm năm cõi của biểu hiện chân thần. |
|
75. It would be much more difficult to justify that the causal body would embrace these five planes, which could be one interpretation (not the best, really) |
75. Sẽ khó biện minh hơn nhiều nếu cho rằng thể nguyên nhân bao trùm năm cõi này, điều có thể là một cách diễn giải (thực ra không phải cách tốt nhất) |
|
76. Atmic substance and buddhic substance are not co-substantial with the higher manasic matter out of which the causal body is composed. So in what matter could the causal body embrace the five planes of the monadic plane? |
76. Chất liệu atma và chất liệu Bồ đề không đồng chất liệu với vật chất manas cao mà từ đó thể nguyên nhân được cấu thành. Vậy thì trong loại vật chất nào thể nguyên nhân có thể bao trùm năm cõi của cõi chân thần? |
|
77. Perhaps we can say that the force of atma and buddhi makes its way into the causal body via the petals of the causal body. As we can see from Chart VIII, TCF 817, atma influences the three sacrifice petals and buddhi the three love petals. Probably each of them influences one of the synthesizing petals as well. |
77. Có lẽ chúng ta có thể nói rằng mãnh lực của atma và Bồ đề đi vào thể nguyên nhân qua các cánh hoa của thể nguyên nhân. Như chúng ta có thể thấy từ Biểu đồ VIII, TCF 817, atma ảnh hưởng đến ba cánh hoa hi sinh và Bồ đề ảnh hưởng đến ba cánh hoa bác ái. Có lẽ mỗi loại cũng ảnh hưởng đến một trong các cánh hoa tổng hợp. |
|
78. We have sometimes seen within the causal periphery a triangle representing atma, buddhi and manas. Certainly the energy of the spiritual triad is playing through or translated into the egoic lotus. |
78. Đôi khi chúng ta đã thấy trong chu vi nhân thể một tam giác biểu thị atma, Bồ đề và manas. Chắc chắn năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần đang vận hành xuyên qua hay được chuyển dịch vào Hoa Sen Chân Ngã. |
|
79. From this perspective, then, it would be possible to say that the causal body embraces or encompasses, (if not the five planes of monadic manifestation, then,) at least three of the brahmic planes (etheric physical, astral and mental planes) and two additional energies pertaining to the two highest planes of monadic manifestation. |
79. Từ góc nhìn này, khi ấy có thể nói rằng thể nguyên nhân bao trùm hay bao gồm, (nếu không phải năm cõi của biểu hiện chân thần, thì) ít nhất ba cõi brahmic (cõi dĩ thái hồng trần, cõi cảm dục và cõi trí) và hai năng lượng bổ sung thuộc về hai cõi cao nhất của biểu hiện chân thần. |
|
80. The preferred reading, however, is that it is the monadic auric egg embraces the five planes of monadic manifestation. |
80. Tuy nhiên, cách đọc được ưa chuộng hơn là chính noãn hào quang chân thần bao trùm năm cõi của biểu hiện chân thần. |
|
it is also seen as the twelve-petalled Lotus. |
nó cũng được thấy như Hoa sen mười hai cánh. |
|
81. This is the way it is most frequently depicted and preserves its heart-center association. |
81. Đây là cách nó được mô tả thường xuyên nhất và bảo tồn sự liên hệ của nó với trung tâm tim. |
|
Of these twelve petals, the innermost three are unrevealed, or are embryonic, and hence the causal body is frequently considered as a nine-petalled Lotus, or as a wheel of fire with only nine spokes or whorls. |
Trong mười hai cánh hoa này, ba cánh trong cùng chưa được hiển lộ, hay còn ở trạng thái phôi thai, và vì thế thể nguyên nhân thường được xem là một Hoa sen chín cánh, hay như một bánh xe lửa chỉ có chín nan hay chín vòng xoáy. |
|
82. This is a good explanation and suggests how the lotus can be considered both twelvefold and ninefold. |
82. Đây là một lời giải thích tốt và gợi ra cách mà hoa sen có thể được xem là vừa thập nhị phân vừa cửu phân. |
|
83. The innermost three petals are no longer embryonic for one who has begun to tread the Path of Planetary Initiation |
83. Ba cánh hoa trong cùng không còn ở trạng thái phôi thai đối với người đã bắt đầu bước trên Con Đường Điểm Đạo Hành Tinh |
|
This is essentially true as regards the evolutionary process, but when a man has succeeded in awakening or unfolding the nine petals, or in arousing the fire of the nine spokes or whorls (which is practically consummated at the three major Initiations) the inner three are revealed. |
Điều này về căn bản là đúng đối với tiến trình tiến hoá, nhưng khi một người đã thành công trong việc đánh thức hay khai mở chín cánh hoa, hay trong việc khơi dậy lửa của chín nan hay chín vòng xoáy (điều này thực tế được hoàn tất vào ba lần Điểm Đạo chính) thì ba cánh bên trong được hiển lộ. |
|
84. The majority of the evolutionary process involves nine petals, spokes or whorls. |
84. Phần lớn tiến trình tiến hoá liên quan đến chín cánh hoa, chín nan hay chín vòng xoáy. |
|
85. DK tells us that the unfoldment of the nine is “practically consummated at the three major initiations”. Does this mean that the unfoldment of all the nine is completely consummated by the time the third initiation is taken or almost so? It would seem that some small degree of unfoldment of the last tier of the nine remains to be accomplished between the third and fourth initiations. |
85. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng sự khai mở của chín cánh là “thực tế được hoàn tất vào ba lần điểm đạo chính”. Điều này có nghĩa là sự khai mở của cả chín cánh được hoàn tất hoàn toàn vào lúc lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận hay chỉ gần như vậy? Có vẻ như một mức độ khai mở nhỏ nào đó của tầng cuối cùng trong chín cánh vẫn còn phải được hoàn thành giữa lần điểm đạo thứ ba và lần điểm đạo thứ tư. |
|
86. The inner three petals are called synthesis petals and when they are in process of unfoldment, the consciousness of the initiate is in process of achieving a relatively complete synthesis (at least in terms of the human kingdom) in knowledge, love and power. The many items of knowledge he has experienced through his long evolutionary journey are being synthesized into what we might call ‘knowledge of wisdom’; the many loves are being synthesized into the love of the divine; the many skills, faculties or powers are being synthesized into a great adequacy when facing the normal conditions of human living and his ability to wield spiritual will is becoming ‘consummate’—at least with respect to his development within the fourth kingdom (which is rapidly leaving behind). |
86. Ba cánh hoa bên trong được gọi là các cánh hoa tổng hợp, và khi chúng đang trong tiến trình khai mở, tâm thức của điểm đạo đồ đang trong tiến trình đạt đến một sự tổng hợp tương đối hoàn chỉnh (ít nhất theo phương diện giới nhân loại) về tri thức, bác ái và quyền năng. Nhiều hạng mục tri thức mà y đã kinh nghiệm qua cuộc hành trình tiến hoá lâu dài của mình đang được tổng hợp thành điều mà chúng ta có thể gọi là ‘tri thức của minh triết’; nhiều tình thương đang được tổng hợp thành tình thương của thiêng liêng; nhiều kỹ năng, năng lực hay quyền năng đang được tổng hợp thành một sự đầy đủ lớn lao khi đối diện với những điều kiện bình thường của đời sống con người, và khả năng vận dụng ý chí tinh thần của y đang trở nên ‘viên mãn’—ít nhất là đối với sự phát triển của y trong giới thứ tư (mà y đang nhanh chóng bỏ lại phía sau). |
|
They respond to the monadic vibration, to the aspect of pure Spirit; |
Chúng đáp ứng với rung động chân thần, với phương diện của Tinh thần thuần túy; |
|
87. Since the greatest stimulation of these synthesizing petals occurs at and between the third and fourth initiations, it is reasonable to think of them as stimulated by and responsive to monadic vibration which becomes conscious and focal at and following the third initiation. |
87. Vì sự kích thích lớn nhất của các cánh hoa tổng hợp này xảy ra tại và giữa lần điểm đạo thứ ba và lần điểm đạo thứ tư, thật hợp lý khi nghĩ về chúng như được kích thích bởi và đáp ứng với rung động chân thần, vốn trở nên hữu thức và có tiêu điểm tại và sau lần điểm đạo thứ ba. |
|
88. Chart VIII (TCF 817) shows a line of monadic power descending to stimulate the “Jewel in the Lotus” and probably, as well, the three synthesizing petals which are drawn around the central jewel. |
88. Biểu đồ VIII (TCF 817) cho thấy một đường quyền năng chân thần giáng xuống để kích thích “Ngọc trong Hoa Sen” và có lẽ cả ba cánh hoa tổng hợp được vẽ quanh viên ngọc trung tâm. |
|
89. Each of the three synthesizing petals can be conceived as correlated to one of the aspects of the spiritual triad. |
89. Mỗi một trong ba cánh hoa tổng hợp có thể được quan niệm là tương quan với một trong các phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
90. The three inner petals as a whole arose as a result of buddhic stimulation. (cf. TCF 709) |
90. Ba cánh hoa bên trong như một toàn thể đã phát sinh như kết quả của sự kích thích Bồ đề. (xem TCF 709) |
|
91. The “Jewel in the Lotus” would seem to be directly responsive to the Monad and to atma as the principle of man closest in nature to the monadic nature. |
91. “Ngọc trong Hoa Sen” dường như đáp ứng trực tiếp với Chân thần và với atma như nguyên khí của con người gần nhất về bản chất với bản chất chân thần. |
|
it is the stimulation or revelation of these inner petals, by the One Initiator at the third and fourth Initiations which brings about the final conflagration and the blazing up of the causal body with the subsequent liberation of the central positive Life or Fire. |
chính là sự kích thích hay mặc khải của các cánh hoa bên trong này, bởi Đấng Điểm đạo Duy Nhất vào lần điểm đạo thứ ba và thứ tư, mang lại cuộc bùng cháy cuối cùng và sự bốc cháy rực rỡ của thể nguyên nhân cùng với sự giải thoát tiếp theo của Sự sống hay Lửa dương tính trung tâm. |
|
92. We are, we will recognize, speaking of the alchemical liberation of the “central positive Life or Fire”. |
92. Chúng ta, như sẽ nhận ra, đang nói về sự giải phóng theo thuật luyện kim của “Sự sống hay Lửa dương tính trung tâm”. |
|
93. Between the third and fourth initiation the Jewel is revealed, and it is the opening of the synthesizing petals that reveals the Jewel. As the Jewel is progressively revealed its power is unleashed in the act of destroying the causal body. |
93. Giữa lần điểm đạo thứ ba và lần điểm đạo thứ tư, Ngọc được hiển lộ, và chính sự mở ra của các cánh hoa tổng hợp làm hiển lộ Ngọc. Khi Ngọc dần dần được hiển lộ, quyền năng của nó được giải phóng trong hành động hủy diệt thể nguyên nhân. |
|
94. The causal body is destroyed in a number of ways and from different agencies. Among them are: |
94. Thể nguyên nhân bị hủy diệt theo nhiều cách và từ những tác nhân khác nhau. Trong số đó có: |
|
a. From the touch of the Rod of the Initiator |
a. Từ sự chạm của Thần Trượng Điểm đạo của Đấng Điểm đạo |
|
b. From triadal and monadic impulse |
b. Từ xung động tam nguyên tinh thần và chân thần |
|
c. From ‘below’ as a result of the intensely heated activity of the atomic triangle |
c. Từ “bên dưới” như kết quả của hoạt động nung nóng mãnh liệt của tam giác nguyên tử |
|
95. The stage of synthesis (achieved from the time of the third to the fourth initiation) signals impending destruction. |
95. Giai đoạn tổng hợp (đạt được từ lần điểm đạo thứ ba đến lần điểm đạo thứ tư) báo hiệu sự hủy diệt sắp đến. |
|
96. We realize that the Christ as Initiator is not so much involved with the stimulation of these central petals; this is the task of Sanat Kumara as the One Initiator. |
96. Chúng ta nhận ra rằng Đức Christ với tư cách Đấng Điểm đạo không can dự nhiều đến sự kích thích các cánh hoa trung tâm này; đây là nhiệm vụ của Đức Sanat Kumara với tư cách Đấng Điểm đạo Duy Nhất. |
|
2. The Twelve-Petalled Egoic Lotus |
2. Hoa Sen Chân Ngã Mười Hai Cánh |
|
Solar Fire is dual. It is the fire of matter or substance and the fire of mind blended. |
Lửa Thái dương là nhị nguyên. Nó là lửa của vật chất hay chất liệu và lửa của trí tuệ được hòa trộn. |
|
97. This is an interesting statement. Very often solar fire is simply called the fire of mind. |
97. Đây là một phát biểu thú vị. Rất thường khi lửa thái dương đơn giản được gọi là lửa của trí tuệ. |
|
98. When we speak here of “matter or substance”, we have to decide whether the lower substances are involved (i.e., the substance-fires of the personality) or only the matter/substance-fires of the higher mental plane. |
98. Khi ở đây chúng ta nói về “vật chất hay chất liệu”, chúng ta phải quyết định liệu các chất liệu thấp có được bao hàm hay không (tức các lửa chất liệu của phàm ngã) hay chỉ các lửa vật chất/chất liệu của Cõi thượng trí. |
|
99. It does not seem accurate to consider the matter/substance of the planes of personality when considering solar fire, so we discuss the fires of matter/substance primarily in relation to the higher mental plane. |
99. Có vẻ không chính xác khi xét đến vật chất/chất liệu của các cõi của phàm ngã khi xem xét lửa thái dương, vì vậy chúng ta bàn đến các lửa của vật chất/chất liệu chủ yếu trong liên hệ với Cõi thượng trí. |
|
100. Solar fire, however, is also, we have earlier established, active on the triadal levels and so the “substance” there found will also be involved in the expression of solar fire. |
100. Tuy nhiên, như trước đây chúng ta đã xác lập, lửa thái dương cũng hoạt động trên các cấp độ tam nguyên tinh thần, và vì vậy “chất liệu” được tìm thấy ở đó cũng sẽ được bao hàm trong sự biểu lộ của lửa thái dương. |
|
Man demonstrates as electric fire on the second plane, or the second cosmic ether; as solar fire on the third, fourth and the three higher subplanes of the fifth plane, and as fire by friction on the lower subplanes of the fifth, on the sixth, and seventh planes. (TCF 521-522) |
Con người biểu lộ như Lửa Điện trên cõi thứ hai, hay dĩ thái vũ trụ thứ hai; như Lửa Thái dương trên cõi thứ ba, thứ tư và ba cõi phụ cao hơn của cõi thứ năm, và như Lửa ma sát trên các cõi phụ thấp hơn của cõi thứ năm, trên cõi thứ sáu và thứ bảy. (TCF 521-522) |
|
101. We do not have to address this complication in this context. |
101. Chúng ta không cần đề cập đến sự phức tạp này trong bối cảnh hiện tại. |
|
This makes man the six-pointed Star of Light, for each of these fires is triple. |
Điều này làm cho con người trở thành Ngôi Sao Ánh Sáng sáu cánh, vì mỗi một trong các lửa này đều là tam phân. |
|
102. DK is telling us that the fire of mind is triple and that the fire of matter/substance is also triple. The two together make the dual solar fire. |
102. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng lửa của trí tuệ là tam phân và lửa của vật chất/chất liệu cũng là tam phân. Hai loại cùng nhau tạo thành lửa thái dương nhị nguyên. |
|
103. From one perspective, it is the three fires of matter/substance (fire by friction considered as a triple fire) and the three fires called “the fire of mind” which make the Star of Light. |
103. Từ một góc nhìn, chính ba lửa của vật chất/chất liệu (Lửa ma sát được xem như một lửa tam phân) và ba lửa được gọi là “lửa của trí tuệ” tạo nên Ngôi Sao Ánh Sáng. |
|
104. There are number of ways to render the fires of matter/substance into a triplicity. We will try to keep things simple by focusing on the higher mental plane and stating that the three fires of matter/substance here discussed are related to the three higher sub-planes of the mental plane. |
104. Có nhiều cách để diễn đạt các lửa của vật chất/chất liệu thành một bộ ba. Chúng ta sẽ cố giữ cho mọi việc đơn giản bằng cách tập trung vào Cõi thượng trí và nói rằng ba lửa của vật chất/chất liệu đang được bàn đến ở đây liên hệ với ba cõi phụ cao hơn của cõi trí. |
|
105. We will also affirm that the fires of matter/substance (even matter/substance of the higher mental plane) are not the same as the fires of mind. |
105. Chúng ta cũng sẽ khẳng định rằng các lửa của vật chất/chất liệu (ngay cả vật chất/chất liệu của Cõi thượng trí) không giống với các lửa của trí tuệ. |
|
106. The fires of matter/substance and of mind can also be seen as both dual and triple. |
106. Các lửa của vật chất/chất liệu và của trí tuệ cũng có thể được xem là vừa nhị phân vừa tam phân. |
|
107. In fact, we must say of both these kinds of fires—i.e., of matter/substance and of mind |
107. Thực ra, chúng ta phải nói về cả hai loại lửa này—tức của vật chất/chất liệu và của trí tuệ |
|
a. They are unitary |
a. Chúng là nhất nguyên |
|
b. They express through duality |
b. Chúng biểu lộ qua nhị nguyên tính |
|
c. They express through triplicity |
c. Chúng biểu lộ qua bộ ba |
|
108. Generally, probably one of the best ways to view the fires of matter/substance as triple is as follows: |
108. Nói chung, có lẽ một trong những cách tốt nhất để nhìn các lửa của vật chất/chất liệu như là tam phân là như sau: |
|
The internal fires of the system, of the planet, and of man are threefold: |
Các lửa nội tại của hệ thống, của hành tinh, và của con người là tam phân: |
|
1. Interior fire at the centre of the sphere, those inner furnaces which produce warmth. This is latent fire. |
1. Lửa bên trong tại trung tâm của khối cầu, những lò lửa bên trong tạo ra hơi ấm. Đây là lửa tiềm tàng. |
|
2. Radiatory fire. This type of fire might be expressed in terms of physical plane electricity, of light rays, and of etheric energy. This is active fire. |
2. Lửa bức xạ. Loại lửa này có thể được diễn tả theo điện năng cõi hồng trần, các tia sáng, và năng lượng dĩ thái. Đây là lửa hoạt động. |
|
3. Essential fire, or the fire elementals who are themselves the essence of fire. They are mainly divided into two groups: |
3. Lửa bản chất, hay các hành khí của lửa vốn chính là tinh túy của lửa. Chúng chủ yếu được chia thành hai nhóm: |
|
a. Fire devas or evolutionary entities. |
a. Các thiên thần lửa hay các thực thể thăng thượng tiến hoá. |
|
b. Fire elementals or involutionary entities. (TCF 52) |
b. Các hành khí của lửa hay các thực thể giáng hạ tiến hoá. (TCF 52) |
|
109. This threefold division of fire is usually used in relation to the eighteen lower sub-planes—the planes of the personality. |
109. Sự phân chia tam phân này của lửa thường được dùng trong liên hệ với mười tám cõi phụ thấp—các cõi của phàm ngã. |
|
110. If we try to apply the triple division to the three levels of the higher mental plane, then interior fire would be analogically associated with the third sub-plane, radiatory fire with the second and essential fire with the first. |
110. Nếu chúng ta cố áp dụng sự phân chia tam phân vào ba cấp độ của Cõi thượng trí, thì theo phép tương đồng, lửa bên trong sẽ được liên kết với cõi phụ thứ ba, lửa bức xạ với cõi phụ thứ hai và lửa bản chất với cõi phụ thứ nhất. |
|
111. It sounds as if solar fire (described above as a dual fire) is formed by the triple fires of mind each blending with one of the three fires of higher mental substance. |
111. Có vẻ như Lửa Thái dương (được mô tả ở trên như một lửa kép) được hình thành bởi các lửa tam phân của trí tuệ, mỗi lửa hòa trộn với một trong ba lửa của chất liệu thượng trí. |
|
112. The six-pointed star is a very generic figure in occultism and can be formed in many ways; blending substance and mental fire is one. |
112. Ngôi sao sáu cánh là một hình tượng rất tổng quát trong huyền bí học và có thể được tạo thành theo nhiều cách; sự hòa trộn chất liệu và lửa trí tuệ là một trong số đó. |
|
113. When we read all this, we can only agree with the Tibetan when He states: |
113. Khi đọc tất cả điều này, chúng ta chỉ có thể đồng ý với Chân sư Tây Tạng khi Ngài phát biểu: |
|
It is, therefore, obvious that this matter of fire is as complex as that of the rays. (TCF 59) |
Vì vậy, hiển nhiên là vấn đề lửa này cũng phức tạp như vấn đề các cung. (TCF 59) |
|
The fire of mind is also in essence dual, bringing in another triplicity, thus making the nine. |
Lửa của trí tuệ cũng về bản chất là kép, đưa vào một bộ ba khác, do đó tạo thành chín. |
|
114. If the fire of mind is essentially dual, then each member of this duality can be divided into a triplicity. |
114. Nếu lửa của trí tuệ về bản chất là kép, thì mỗi thành phần của nhị nguyên tính này có thể được chia thành một bộ ba. |
|
115. Examining the fire demonstration on the higher mental plane we would have: |
115. Khi khảo sát sự biểu hiện của lửa trên Cõi thượng trí, chúng ta sẽ có: |
|
a. The threefold fire of substance/matter relating to the three sub-planes of the higher mental plane |
a. Lửa tam phân của chất liệu/vật chất liên hệ với ba cõi phụ của Cõi thượng trí |
|
b. The threefold fire of one division of the fire of mind |
b. Lửa tam phân của một phân bộ của lửa trí tuệ |
|
c. The threefold division of the other division of the fire of mind |
c. Sự phân chia tam phân của phân bộ kia của lửa trí tuệ |
|
116. How shall we understand the duality of the fire of mind? |
116. Chúng ta phải hiểu nhị nguyên tính của lửa trí tuệ như thế nào? |
|
117. One easy way is to think of the fire of concrete mind and the fire of higher mind. |
117. Một cách dễ dàng là nghĩ đến lửa của trí cụ thể và lửa của thượng trí. |
|
118. But when dealing with solar fire, we are thinking of fire upon the higher mental plane and not of the elemental fires of concrete mind, so our division of the fire of mind into a duality must occur in relation to the higher mental plane. |
118. Nhưng khi bàn đến Lửa Thái dương, chúng ta đang nghĩ đến lửa trên Cõi thượng trí chứ không phải các lửa hành khí của trí cụ thể, nên sự phân chia lửa trí tuệ thành một nhị nguyên tính phải xảy ra trong liên hệ với Cõi thượng trí. |
|
119. If we concentrate upon developments upon the higher mental plane and seek to divide the fire of mind there found into a duality, we can have: |
119. Nếu chúng ta tập trung vào các phát triển trên Cõi thượng trí và tìm cách chia lửa trí tuệ được tìm thấy ở đó thành một nhị nguyên tính, chúng ta có thể có: |
|
a. The fire which animates the normal nine petals of the egoic lotus |
a. Lửa làm sinh động chín cánh hoa bình thường của Hoa Sen Chân Ngã |
|
b. The fire which animates the “Jewel in the Lotus” and the three inner petals of the egoic lotus |
b. Lửa làm sinh động “Ngọc trong Hoa Sen” và ba cánh hoa bên trong của Hoa Sen Chân Ngã |
|
120. It would appear that each member of the triplicity of fires which animate the three tiers of petals of the egoic lotus is further divisible into a triplicity, because each tier of the egoic lotus has three petals. |
120. Có vẻ như mỗi thành phần trong bộ ba các lửa làm sinh động ba tầng cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã còn có thể chia tiếp thành một bộ ba, bởi vì mỗi tầng của Hoa Sen Chân Ngã có ba cánh hoa. |
|
121. We have to remember that even though the inner petals are buddhically derived and the “Jewel in the Lotus” is monadically (and probably atmically) derived—these energy structures are, nevertheless found upon the higher mental plane, and, thus, are necessarily related to the energy of the higher mental plane. In this case, it is probably the manasic permanent atom which is that particular energy of the higher mental plane which is related to the inner structure of the egoic lotus. |
121. Chúng ta phải nhớ rằng mặc dù các cánh hoa bên trong có nguồn gốc Bồ đề và “Ngọc trong Hoa Sen” có nguồn gốc chân thần (và có lẽ là atma)—những cấu trúc năng lượng này tuy nhiên vẫn được tìm thấy trên Cõi thượng trí, và do đó tất yếu có liên hệ với năng lượng của Cõi thượng trí. Trong trường hợp này, có lẽ chính nguyên tử trường tồn manas là năng lượng đặc thù ấy của Cõi thượng trí có liên hệ với cấu trúc bên trong của Hoa Sen Chân Ngã. |
|
122. We can begin to wonder about the ‘substantial positioning’ of the “Jewel in the Lotus” and the inner or synthesis petals. Are they ever located on the third and second sub-planes of the higher mental plane, or are they always to be found upon the first sub-plane even when the other aspects of the egoic lotus may be focussed on the third sub-plane or second sub-plane. |
122. Chúng ta có thể bắt đầu tự hỏi về “vị trí theo chất liệu” của “Ngọc trong Hoa Sen” và các cánh hoa bên trong hay cánh hoa tổng hợp. Liệu chúng có bao giờ nằm trên cõi phụ thứ ba và thứ hai của Cõi thượng trí hay không, hay chúng luôn luôn được tìm thấy trên cõi phụ thứ nhất ngay cả khi các phương diện khác của Hoa Sen Chân Ngã có thể được tập trung trên cõi phụ thứ ba hoặc cõi phụ thứ hai. |
|
123. We can see how much intricacy there is in these considerations and how little of a truly technical nature is known. |
123. Chúng ta có thể thấy có biết bao nhiêu sự phức tạp trong những xem xét này và biết ít đến mức nào về bản chất thực sự kỹ thuật của chúng. |
|
124. Confining ourselves to the higher mental plane in this discussion of the fires of the egoic lotus, we can suppose (whether correctly or incorrectly remains to be seen) that the essential dualism of the fire of mind mentioned in the section of text above refers to a fire focussed in relation to the third and second sub-planes of the higher mental plane and another fire focused in relation to the first sub-plane. |
124. Giới hạn mình trong Cõi thượng trí trong cuộc thảo luận này về các lửa của Hoa Sen Chân Ngã, chúng ta có thể giả định (đúng hay sai còn phải chờ xem) rằng tính nhị nguyên cốt yếu của lửa trí tuệ được nhắc đến trong đoạn văn trên ám chỉ một lửa được tập trung trong liên hệ với cõi phụ thứ ba và thứ hai của Cõi thượng trí, và một lửa khác được tập trung trong liên hệ với cõi phụ thứ nhất. |
|
125. The mental fire focussed in relation to the third and second sub-planes is |
125. Lửa trí tuệ được tập trung trong liên hệ với cõi phụ thứ ba và thứ hai là |
|
a. First triple, because it has to animate three tiers of petals of the egoic lotus |
a. Trước hết là tam phân, vì nó phải làm sinh động ba tầng cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã |
|
b. And then, ninefold, because each of the tiers is triple |
b. Và rồi là cửu phân, vì mỗi tầng là tam phân |
|
126. The higher of the divisions of that portion of the fire of mind confined to the higher mental plane, is the division we will associate with the manasic permanent atom and all that that point of force animates. This fire is, in a way, the representative of the threefold fire of the triad. Since the spiritual triad is expressing within the ‘World of Brahma’, its three fires are, in a way, mental or manasic. |
126. Phân bộ cao hơn của phần lửa trí tuệ bị giới hạn trong Cõi thượng trí là phân bộ mà chúng ta sẽ liên kết với nguyên tử trường tồn manas và tất cả những gì điểm mãnh lực ấy làm sinh động. Theo một cách nào đó, lửa này là đại diện của lửa tam phân của Tam Nguyên Tinh Thần. Vì Tam Nguyên Tinh Thần đang biểu lộ trong ‘Thế giới của Brahma’, nên ba lửa của nó, theo một nghĩa nào đó, là trí tuệ hay manas. |
|
127. This whole question of divisions and sub-divisions into dualities and triplicities is not easy to understand. It would be easy to gloss over the inherent difficulties in these first few sentences on “The Twelve-Petalled Egoic Lotus”, but we must not allow ourselves to do so. |
127. Toàn bộ vấn đề này về các phân chia và phân chia phụ thành các nhị nguyên tính và bộ ba không dễ hiểu. Sẽ rất dễ lướt qua những khó khăn cố hữu trong vài câu đầu tiên này về “Hoa Sen Chân Ngã Mười Hai Cánh”, nhưng chúng ta không được cho phép mình làm như vậy. |
|
128. Triplicities evolve out of dualities. One member of an original duality divides again, and thus a triplicity is formed. |
128. Các bộ ba tiến hoá ra từ các nhị nguyên tính. Một thành phần của một nhị nguyên tính nguyên thủy lại phân chia lần nữa, và như thế một bộ ba được hình thành. |
|
129. From a psychological point of view this method of division can be seen in relation to how from the second type of second ray soul, a third type is created through subdivision, yielding, in all, three major subtypes of second ray soul. (cf. DINA II 518) |
129. Từ quan điểm tâm lý học, phương pháp phân chia này có thể được thấy trong liên hệ với cách mà từ loại linh hồn cung hai thứ hai, một loại thứ ba được tạo ra qua sự phân chia phụ, tạo ra tổng cộng ba phân loại phụ chính của linh hồn cung hai. (x. DINA II 518) |
|
When a man has awakened the nine fires, and has unfolded the nine petals, |
Khi con người đã đánh thức chín lửa, và đã khai mở chín cánh hoa, |
|
130. If we tabulate the nine fires (at least according to the present hypothesis) we will have: |
130. Nếu chúng ta lập bảng chín lửa (ít nhất theo giả thuyết hiện tại), chúng ta sẽ có: |
|
a. Three fires of matter/substance relating to the matter/substance of the three highest sub-planes of the mental plane |
a. Ba lửa của vật chất/chất liệu liên hệ với vật chất/chất liệu của ba cõi phụ cao nhất của cõi trí |
|
b. A type of mental fire (in three and nine divisions) which animates the three tiers and nine petals of the egoic lotus |
b. Một loại lửa trí tuệ (trong ba và chín phân bộ) làm sinh động ba tầng và chín cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã |
|
c. A higher type of mental fire which is associated with the three synthesis petals (and, in some manner difficult to determine) with the “Jewel in the Lotus”. |
c. Một loại lửa trí tuệ cao hơn có liên hệ với ba cánh hoa tổng hợp (và, theo một cách nào đó khó xác định, với “Ngọc trong Hoa Sen”). |
|
131. If we remember that solar fire expresses through the spiritual triad as well as through the higher mental plane, we can relate the three higher mental fires connected with the manasic permanent atom to the spiritual triad. Atma, buddhi and manas are all manasic! They express in the ‘World of Brahma’ and Brahma is manas—from the perspective of the greater Logoi. |
131. Nếu chúng ta nhớ rằng Lửa Thái dương biểu lộ qua Tam Nguyên Tinh Thần cũng như qua Cõi thượng trí, chúng ta có thể liên hệ ba lửa thượng trí cao hơn gắn với nguyên tử trường tồn manas với Tam Nguyên Tinh Thần. Atma, Bồ đề và manas đều là manas! Chúng biểu lộ trong ‘Thế giới của Brahma’ và Brahma là manas—từ quan điểm của các Thượng đế lớn hơn. |
|
a. Atma expresses on the third systemic plane and is thus a blend of mind and will |
a. Atma biểu lộ trên cõi hệ thống thứ ba và do đó là một sự hòa trộn của trí tuệ và ý chí |
|
b. Buddhi is called “transcendental mind” |
b. Bồ đề được gọi là “trí tuệ siêu việt” |
|
c. The fire associated with the manasic permanent atom is obviously manasic |
c. Lửa gắn với nguyên tử trường tồn manas hiển nhiên là manas |
|
132. We should be cautious in realizing that the nine fires (which have been discussed) do not have a one-to-one correspondence with each of the nine petals, but that the interplay of these nine fires (three fires each divided into three) ensures that the nine petals will be opened. |
132. Chúng ta nên thận trọng khi chứng nghiệm rằng chín lửa (đã được bàn đến) không có sự tương ứng một-một với từng cánh hoa trong chín cánh hoa, mà chính sự tương tác của chín lửa này (ba lửa, mỗi lửa chia thành ba) bảo đảm rằng chín cánh hoa sẽ được mở ra. |
|
and when he has received the stimulus which is imparted at initiation, through being brought into conscious contact with the electric spark of his own particular Heavenly Man, they all blend and merge. |
và khi y đã nhận được sự kích thích được truyền đạt vào lúc điểm đạo, qua việc được đưa vào tiếp xúc hữu thức với tia lửa điện của chính Đấng Thiên Nhân riêng biệt của y, tất cả chúng đều hòa trộn và hợp nhất. |
|
133. The human Monad is an electric spark of a particular Heavenly Man. |
133. Chân thần con người là một tia lửa điện của một Đấng Thiên Nhân riêng biệt nào đó. |
|
134. In one way we are speaking of the Heavenly Man of the Earth-scheme, but in another, each Monad may be particularly related to one of the other Heavenly Men—a Heavenly Man Who expresses through a different planetary scheme. |
134. Theo một cách, chúng ta đang nói về Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh Địa Cầu, nhưng theo một cách khác, mỗi chân thần có thể đặc biệt có liên hệ với một trong các Đấng Thiên Nhân khác—một Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua một hệ hành tinh khác. |
|
135. Because the manasic permanent atom is the highest structure to be found upon the mental plane, it will be analogically related to the Monad (considering the Monad as the highest of the three aspects of man’s constitution). |
135. Bởi vì nguyên tử trường tồn manas là cấu trúc cao nhất được tìm thấy trên cõi trí, nên theo phép tương đồng nó sẽ có liên hệ với chân thần (xét chân thần như là phương diện cao nhất trong ba phương diện của cấu tạo con người). |
|
136. One analogy would be as follows: Monad, soul and personality correspond respectively to manasic permanent atom, the fires which animate the nine petals of the egoic lotus, and, then, the mental unit. |
136. Một sự tương đồng sẽ như sau: chân thần, linh hồn và phàm ngã lần lượt tương ứng với nguyên tử trường tồn manas, các lửa làm sinh động chín cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã, và rồi đơn vị hạ trí. |
|
137. We are being told that at the third initiation the initiate is brought into conscious contact with the electric spark of his own particular Heavenly Man. |
137. Chúng ta được cho biết rằng vào lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ được đưa vào tiếp xúc hữu thức với tia lửa điện của chính Đấng Thiên Nhân riêng biệt của y. |
|
138. The third initiation, therefore, is one in which electric fire is definitely involved. Some references tell us that the third initiation is taken on the ray of the Monad. |
138. Vì vậy, lần điểm đạo thứ ba là một lần điểm đạo trong đó Lửa Điện chắc chắn có liên quan. Một số trích dẫn cho chúng ta biết rằng lần điểm đạo thứ ba được thực hiện trên cung của chân thần. |
|
139. At the moment of climax (in this case the third degree) there is a blending and merging of nine fires, with the energy of the “electric spark” via the “Jewel in the Lotus”—though not the entirety of that energy, for still more is released at the fourth initiation. |
139. Vào thời điểm cao trào (trong trường hợp này là bậc thứ ba) có một sự hòa trộn và hợp nhất của chín lửa, với năng lượng của “tia lửa điện” qua “Ngọc trong Hoa Sen”—dù không phải toàn bộ năng lượng ấy, vì còn nhiều hơn nữa được giải phóng ở lần điểm đạo thứ tư. |
|
140. In this respect, the third initiation is characterized by the number ten. To the degree that the energy of the three synthesizing petals are involved in the fusion of the nine-fires of the egoic lotus at the third initiation, such energy is considered one with the energy of the “Jewel in the Lotus” through which the energy of the “electric spark of his own particular Heavenly Man” reaches the initiate. |
140. Về phương diện này, lần điểm đạo thứ ba được đặc trưng bởi con số mười. Trong chừng mực năng lượng của ba cánh hoa tổng hợp có liên quan đến sự dung hợp của chín lửa của Hoa Sen Chân Ngã ở lần điểm đạo thứ ba, năng lượng ấy được xem là một với năng lượng của “Ngọc trong Hoa Sen”, qua đó năng lượng của “tia lửa điện của chính Đấng Thiên Nhân riêng biệt của y” đến với điểm đạo đồ. |
|
141. The number ten is appropriate in the context of the third initiation, considering that the tenth sign, Capricorn, is the sign archetypally associated with the third initiation. |
141. Con số mười là thích hợp trong bối cảnh của lần điểm đạo thứ ba, xét rằng dấu hiệu hoàng đạo thứ mười, Ma Kết, là dấu hiệu được liên kết nguyên mẫu với lần điểm đạo thứ ba. |
|
142. Another enumeration of ten can be conceived in relation to the fourth initiation: |
142. Một cách liệt kê khác thành mười có thể được hình dung trong liên hệ với lần điểm đạo thứ tư: |
|
a. The destruction of the three members of the atomic triangle |
a. Sự hủy diệt của ba thành phần của tam giác nguyên tử |
|
b. The destruction of the three tiers of petals (each of them threefold) |
b. Sự hủy diệt của ba tầng cánh hoa (mỗi tầng đều tam phân) |
|
c. The destruction of the three inner or synthesis petals |
c. Sự hủy diệt của ba cánh hoa bên trong hay cánh hoa tổng hợp |
|
d. The destruction or translation of the one “Jewel in the Lotus” |
d. Sự hủy diệt hay chuyển dịch của một “Ngọc trong Hoa Sen” |
|
143. It would seem that the manasic aspect of the “electric spark” (of the Monad) reaches the third degree initiate (via the “Jewel in the Lotus”), and the aspect related to love-wisdom at the fourth degree. |
143. Có vẻ như phương diện manas của “tia lửa điện” (của chân thần) đến với điểm đạo đồ bậc ba (qua “Ngọc trong Hoa Sen”), và phương diện liên hệ với Bác Ái – Minh Triết đến ở bậc bốn. |
|
The [Page 539] inner three [petals] which complete the twelve, and which are concerned with the final, and essentially spiritual stages, of his evolution, are really related more intimately to the evolution of the Heavenly Man, |
Ba [Page 539] [petals] bên trong hoàn tất số mười hai, và có liên hệ với các giai đoạn cuối cùng, và về bản chất là tinh thần, trong tiến hoá của y, thực sự có liên hệ mật thiết hơn với sự tiến hoá của Đấng Thiên Nhân, |
|
144. That which is “spiritual” pertains to the spiritual triad. In the initiation process, the initiations which specifically pertain to the focal influence spiritual triad begin at the third. |
144. Điều được gọi là “tinh thần” thuộc về Tam Nguyên Tinh Thần. Trong tiến trình điểm đạo, các lần điểm đạo đặc biệt thuộc về ảnh hưởng tiêu điểm của Tam Nguyên Tinh Thần bắt đầu từ lần thứ ba. |
|
145. Once the third initiation is reached one has entered more consciously, more intimately, into the evolution of the Heavenly Man. |
145. Một khi lần điểm đạo thứ ba đạt được, người ta đã đi vào một cách hữu thức hơn, mật thiết hơn, trong sự tiến hoá của Đấng Thiên Nhân. |
|
and are connected with the stimulus which He receives Himself in contacting the logoic electric spark, or the pure Spirit aspect of the Logos. |
và được nối kết với sự kích thích mà chính Ngài nhận được khi tiếp xúc với tia lửa điện logoic, hay phương diện Tinh thần thuần túy của Logos. |
|
146. When the term “Logos” is used here, it suggests the Solar Logos. |
146. Khi thuật ngữ “Logos” được dùng ở đây, nó gợi ý Thái dương Thượng đế. |
|
147. We have a parallel process. The human being when reaching the third initiation contacts the “electric spark” of his own particular Heavenly Man, and when the synthesis petals of the man are stimulated it reflects the stimulation which the Heavenly Man receives from contacting the Spirit aspect or “electric spark” of the Solar Logos. |
147. Chúng ta có một tiến trình song hành. Con người khi đạt đến lần điểm đạo thứ ba tiếp xúc với “tia lửa điện” của chính Đấng Thiên Nhân riêng biệt của mình, và khi các cánh hoa tổng hợp của con người được kích thích thì điều đó phản ánh sự kích thích mà Đấng Thiên Nhân nhận được từ việc tiếp xúc với phương diện Tinh thần hay “tia lửa điện” của Thái dương Thượng đế. |
|
148. We could question to what degree different Heavenly Men contact the Spirit aspect of the Logos, as some of them are not even cosmic initiates of the second degree, but apparently it does happen. |
148. Chúng ta có thể đặt câu hỏi các Đấng Thiên Nhân khác nhau tiếp xúc với phương diện Tinh thần của Logos đến mức nào, vì một số trong Các Ngài thậm chí còn chưa là điểm đạo đồ vũ trụ bậc hai, nhưng hiển nhiên điều đó vẫn xảy ra. |
|
It should here be noted that this ninefold development is hinted at in the Secret Doctrine in the various places where H. P. B. deals with the Kumaras77 or the Heavenly Men, of Whom the microcosm is a reflection. |
Cần lưu ý rằng sự phát triển cửu phân này được gợi ý trong Giáo Lý Bí Nhiệm ở nhiều chỗ khác nhau nơi H. P. B. bàn đến các Kumara77 hay các Đấng Thiên Nhân, mà tiểu thiên địa là một phản ánh của Các Ngài. |
|
149. The term “Heavenly Men” can mean many things. Here the Kumaras are called “Heavenly Men”. If They are the systemic Kumaras, one can understand this, for the systemic Kumaras are Planetary Logoi. There are also intra-planetary Kumaras, and perhaps They are to be called Heavenly Men as well. |
149. Thuật ngữ “các Đấng Thiên Nhân” có thể mang nhiều nghĩa. Ở đây các Kumara được gọi là “các Đấng Thiên Nhân”. Nếu Các Ngài là các Kumara hệ thống, người ta có thể hiểu điều này, vì các Kumara hệ thống là các Hành Tinh Thượng đế. Cũng có các Kumara nội hành tinh, và có lẽ Các Ngài cũng phải được gọi là các Đấng Thiên Nhân. |
|
150. In any case, we can say that the microcosm, man, is a reflection of a Heavenly Man. Perhaps it is even more true to say that the microcosm is a reflection of the Solar Logos. |
150. Dù sao đi nữa, chúng ta có thể nói rằng tiểu thiên địa, con người, là một phản ánh của một Đấng Thiên Nhân. Có lẽ còn đúng hơn khi nói rằng tiểu thiên địa là một phản ánh của Thái dương Thượng đế. |
|
She calls Them the Lords of Knowledge, the Lords of Love and the Lords of Sacrifice. |
Bà gọi Các Ngài là các Đấng Chúa Tể của Tri Thức, các Đấng Chúa Tể của Bác Ái và các Đấng Chúa Tể của Hi Sinh. |
|
151. It appears that the Heavenly Men considered as Kumaras (according to HPB) come in three categories: Lords of Knowledge, Love and Sacrifice. |
151. Có vẻ như các Đấng Thiên Nhân được xét như các Kumara (theo HPB) thuộc ba loại: các Đấng Chúa Tể của Tri Thức, Bác Ái và Hi Sinh. |
|
152. The categorization may well depend upon not only on Their rays, but on the degree of unfoldment of the tiers of their egoic lotus. Some of these Lords are more “sacred” than others. Their degree of spiritual maturity and of unfoldment is unequal. |
152. Sự phân loại này rất có thể không chỉ tùy thuộc vào các cung của Các Ngài, mà còn vào mức độ khai mở của các tầng trong Hoa Sen Chân Ngã của Các Ngài. Một số các Đấng Chúa Tể này “thiêng liêng” hơn những vị khác. Mức độ trưởng thành tinh thần và khai mở của Các Ngài không đồng đều. |
|
Each of Them is a nine-petalled Lotus in the logoic body. |
Mỗi Vị trong Các Ngài là một Hoa sen chín cánh trong thể logoic. |
|
153. As in the case of man, perhaps they are nine-petalled from one perspective and twelve-petalled from a more advanced perspective. |
153. Cũng như trong trường hợp con người, có lẽ từ một góc nhìn chúng là chín cánh, và từ một góc nhìn tiến bộ hơn chúng là mười hai cánh. |
|
154. We have another issue which surfaces. In the human being each chakra has a different number of petals. The Planetary Logoi (as Kumaras) are chakras within the energy system of the Solar Logos. Here it would seem that they each can be represented as a nine-petalled lotus and perhaps a twelve-petalled lotus. Why do each of Them not have a distinctive number of petals? Or do They, when viewed from a different perspective? |
154. Chúng ta có một vấn đề khác nổi lên. Trong con người, mỗi luân xa có một số cánh hoa khác nhau. Các Hành Tinh Thượng đế (với tư cách các Kumara) là các luân xa trong hệ thống năng lượng của Thái dương Thượng đế. Ở đây có vẻ như mỗi Vị có thể được biểu hiện như một hoa sen chín cánh và có lẽ là một hoa sen mười hai cánh. Tại sao mỗi Vị lại không có một số cánh hoa đặc thù? Hay có, khi được nhìn từ một góc nhìn khác? |
|
155. Perhaps we can solve this question by thinking of Their causal nature as numerically uniform (consisting of nine, three and one), even though the numbers of petals in Their Chakras (found upon the cosmic ethers, as well as upon that part of the cosmic astral and cosmic mental planes which accord with the cosmic ethers) may vary. |
155. Có lẽ chúng ta có thể giải quyết câu hỏi này bằng cách nghĩ đến bản chất nguyên nhân của Các Ngài như đồng nhất về mặt số lượng (gồm chín, ba và một), mặc dù số cánh hoa trong các Luân xa của Các Ngài (được tìm thấy trên các dĩ thái vũ trụ, cũng như trên phần của cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ tương ứng với các dĩ thái vũ trụ) có thể thay đổi. |
|
156. In any case, we seem to be given a hint concerning the structure of the egoic lotuses of the Planetary Logoi. |
156. Dù sao đi nữa, dường như chúng ta được trao cho một gợi ý liên quan đến cấu trúc của các Hoa Sen Chân Ngã của các Hành Tinh Thượng đế. |
|
They are the flaming Wheels, |
Chúng là các Bánh Xe rực lửa, |
|
157. The “Wheel” is the other way of viewing chakras. So these great Kumaras are lotuses, wheels and (may it be said?) Angels—in fact “Archangels”. |
157. “Bánh Xe” là cách khác để nhìn các luân xa. Vì vậy các Kumara vĩ đại này là các hoa sen, các bánh xe và (có thể nói chăng?) các Thiên Thần—thực ra là “Tổng Thiên Thần”. |
|
158. It is important to realize that not only are Planetary Logoi called “Heavenly Men”, but, according to HPB, They are Angels (Archangels) as well. |
158. Điều quan trọng là phải chứng nghiệm rằng không chỉ các Hành Tinh Thượng đế được gọi là “các Đấng Thiên Nhân”, mà theo HPB, Các Ngài còn là các Thiên Thần (Tổng Thiên Thần) nữa. |
|
159. The causal body of man upon the higher mental plane can also be seen as a lotus, a wheel and an Angel (in this case the Solar Angel). (cf. IHS 115-116) |
159. Thể nguyên nhân của con người trên Cõi thượng trí cũng có thể được xem như một hoa sen, một bánh xe và một Thiên Thần (trong trường hợp này là Thái dương Thiên Thần). (x. IHS 115-116) |
|
160. It is as if the Solar Angel associated with a human being is a reflection of a Heavenly Man (Who is an Archangel). But, perhaps, it is in their soul nature that the Planetary Logoi are Archangels. |
160. Dường như Thái dương Thiên Thần gắn với một con người là một phản ánh của một Đấng Thiên Nhân (Đấng là một Tổng Thiên Thần). Nhưng có lẽ chính trong bản chất linh hồn của Các Ngài mà các Hành Tinh Thượng đế là các Tổng Thiên Thần. |
|
161. We can infer that just as there are great Solar Angels associated with the causal bodies of the Solar Logos, so this must be the case in relation to the causal bodies of the Planetary Logoi. |
161. Chúng ta có thể suy ra rằng cũng như có những Thái dương Thiên Thần vĩ đại gắn với các thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế, thì điều này hẳn cũng đúng trong liên hệ với các thể nguyên nhân của các Hành Tinh Thượng đế. |
|
162. Along this line of thought, we do know that Solar Angels (in groups) endeavor to become Heavenly Men. |
162. Theo đường lối tư tưởng này, chúng ta biết rằng các Thái dương Thiên Thần (theo nhóm) nỗ lực trở thành các Đấng Thiên Nhân. |
|
and in Their various names, as found in the Secret Doctrine, may be discovered the clue to the mystery. |
và trong các danh xưng khác nhau của Các Ngài, như được tìm thấy trong Giáo Lý Bí Nhiệm, có thể khám phá ra đầu mối cho huyền nhiệm. |
|
163. Of what “names” are we speaking? Here are a number of them which should reveal some “clue to the mystery”. |
163. Chúng ta đang nói đến những “danh xưng” nào? Dưới đây là một số danh xưng trong đó hẳn sẽ bộc lộ một vài “đầu mối cho huyền nhiệm”. |
|
1. The seven Rays, |
1. Bảy cung, |
|
2. The seven Spirits before the Throne, |
2. Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai, |
|
3. The seven planetary Logoi, |
3. Bảy Hành Tinh Thượng đế, |
|
4. The seven great Lords, |
4. Bảy Đấng Chúa Tể vĩ đại, |
|
5. The seven Aeons, |
5. Bảy Aeon, |
|
6. The seven Emanations, |
6. Bảy Xuất lộ, |
|
7. The seven Prajapatis, (LOS 268) |
7. Bảy Prajapati, (LOS 268) |
|
a. The seven planetary Logoi or Spirits. |
a. Bảy Hành Tinh Thượng đế hay các Thánh Linh. |
|
b. The Prajapatis. |
b. Các Prajapati. |
|
c. The seven Lords of the Rays. |
c. Bảy Đấng Chúa Tể của các cung. |
|
d. The Dhyan Chohans. |
d. Các Dhyan Chohan. |
|
e. The seven Spirits before the Throne. |
e. Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai. |
|
f. The seven Archangels. |
f. Bảy Tổng Thiên Thần. |
|
g. The seven Logoi. |
g. Bảy Thượng đế. |
|
h. The seven Builders. (TCF 233, note) |
h. Bảy đấng kiến tạo. (TCF 233, note) |
|
The Divine Manasaputras |
Các Manasaputra Thiêng liêng |
|
“The Manasaputras, the Prajapatis, the Kumaras, the Primordial Seven, the Rudras, the Heavenly Men, the Rishis, the Spirits before the Throne. (TCF 270) |
“Các Manasaputra, các Prajapati, các Kumara, Bảy Đấng Nguyên Sơ, các Rudra, các Đấng Thiên Nhân, các Rishi, các Thánh Linh trước Thánh Ngai. (TCF 270) |
|
164. Sometimes They are said to be seven, but sometimes ten. They are also called the Rishis. (cf. TCF 743) |
164. Đôi khi Các Ngài được nói là bảy, nhưng đôi khi là mười. Các Ngài cũng được gọi là các Rishi. (x. TCF 743) |
|
165. With so many names given to the Heavenly Men, a number of valuable hints regarding Their nature can be gathered. |
165. Với rất nhiều danh xưng được trao cho các Đấng Thiên Nhân, có thể thu thập được một số gợi ý quý giá liên quan đến bản chất của Các Ngài. |
|
Let us realise this clearly, nevertheless, as regards the microcosm, and later extend the idea to the Heavenly Men. |
Tuy nhiên, chúng ta hãy chứng nghiệm điều này một cách rõ ràng đối với tiểu thiên địa trước, rồi sau đó mở rộng ý tưởng ấy đến các Đấng Thiên Nhân. |
|
166. That which is now stated pertains to man, the microcosm. |
166. Điều hiện đang được phát biểu liên quan đến con người, tiểu thiên địa. |
|
Let us picture the nine-petalled egoic lotus, the heart centre in the monadic consciousness, |
Hãy hình dung Hoa Sen Chân Ngã chín cánh, trung tâm tim trong tâm thức chân thần, |
|
167. DK speaks of the egoic lotus as a nine-petalled lotus, even though it is a heart center in the monadic consciousness. Behind this thought, as previously stated, is that fact that it is also, more essentially, a twelve-petalled lotus. |
167. Chân sư DK nói về Hoa Sen Chân Ngã như một hoa sen chín cánh, mặc dù nó là một trung tâm tim trong tâm thức chân thần. Đằng sau tư tưởng này, như đã nói trước đây, là sự kiện rằng về bản chất hơn, nó cũng là một hoa sen mười hai cánh. |
|
unfolding each of its petals in groups of three upon the three subplanes of the higher mental. |
khai mở từng cánh hoa của nó thành các nhóm ba trên ba cõi phụ của cõi thượng trí. |
|
168. This statement is one to which we have carefully to attend. Usually, it is conceived that the causal body is located only on subplanes three and two of the higher mental plane. But here the unfoldment of the petals seems to occur on all three subplanes. |
168. Đây là một phát biểu mà chúng ta phải hết sức chú ý. Thông thường, người ta quan niệm rằng thể nguyên nhân chỉ nằm trên cõi phụ thứ ba và thứ hai của Cõi thượng trí. Nhưng ở đây sự khai mở của các cánh hoa dường như xảy ra trên cả ba cõi phụ. |
|
169. It is hard to imagine when this would occur, as there is reason to believe that so advanced an initiation as the fourth is taken with the causal body still upon the second sub-plane. |
169. Thật khó hình dung khi nào điều này sẽ xảy ra, vì có lý do để tin rằng một lần điểm đạo cao như lần thứ tư được thực hiện khi thể nguyên nhân vẫn còn ở trên cõi phụ thứ hai. |
|
170. The following makes this clear: |
170. Điều sau đây làm rõ điều này: |
|
The causal body of the average man is on the third subplane, and as a man becomes fit for the merging into the Triad, that causal body has to be discarded and done away with. Under the Law of Sacrifice and Death, the disintegration is begun on the third level and is consummated on the second, when the man merges with the Triad, preparatory to the final merging with the Monad. (TCF 581-582) |
Thể nguyên nhân của người trung bình ở cõi phụ thứ ba, và khi một người trở nên thích hợp để hòa nhập vào Tam nguyên tinh thần, thể nguyên nhân ấy phải bị loại bỏ và tiêu tan. Dưới Định luật Hi Sinh và Chết, sự tan rã bắt đầu trên cấp độ thứ ba và được hoàn tất trên cấp độ thứ hai, khi con người hòa nhập với Tam nguyên tinh thần, để chuẩn bị cho sự hòa nhập cuối cùng với chân thần. (TCF 581-582) |
|
171. We may recall a question posed a little earlier in this commentary: “Might the synthesis petals of the egoic lotus and the ‘Jewel in the Lotus’ be ‘located’ on the highest mental sub-plane regardless of where the rest of the causal body was focussed”? |
171. Chúng ta có thể nhớ lại một câu hỏi được nêu ra sớm hơn một chút trong phần bình giải này: “Liệu các cánh hoa tổng hợp của Hoa Sen Chân Ngã và ‘Ngọc trong Hoa Sen’ có thể được ‘định vị’ trên cõi phụ trí tuệ cao nhất bất kể phần còn lại của thể nguyên nhân được tập trung ở đâu chăng”? |
|
172. This may not be as strange as it seems when we think of the fact that the chakras in the human etheric system are located on different etheric sub-planes. Four chakras on the lowest ether, the throat center on the super-etheric, the heart chakra on the sub-atomic and the head chakra on the atomic etheric level. Yet they are all part of the same chakra system and they all work together simultaneously even though expressing through different etheric levels. |
172. Điều này có thể không lạ như có vẻ khi chúng ta nghĩ đến sự kiện rằng các luân xa trong hệ dĩ thái của con người được định vị trên các cõi phụ dĩ thái khác nhau. Bốn luân xa trên dĩ thái thấp nhất, trung tâm cổ họng trên siêu dĩ thái, luân xa tim trên cõi phụ nguyên tử và luân xa đầu trên cấp độ dĩ thái nguyên tử. Tuy vậy, tất cả chúng đều là một phần của cùng một hệ thống luân xa và tất cả cùng hoạt động đồng thời mặc dù biểu lộ qua các cấp độ dĩ thái khác nhau. |
|
173. Analogously, various parts of the egoic lotus could be focussed on different sub-planes of the higher mental plane and, nevertheless, still be part of the same egoic lotus system. |
173. Theo phép tương đồng, các phần khác nhau của Hoa Sen Chân Ngã có thể được tập trung trên các cõi phụ khác nhau của Cõi thượng trí và, tuy nhiên, vẫn là một phần của cùng một hệ thống Hoa Sen Chân Ngã. |
|
174. So we are asking, “are all parts of the causal body/egoic lotus always focussed together on the same sub-plane of the higher mental plane?”, or “are there parts of the causal body (the synthesis petals and “Jewel in the Lotus”, for instance) which may be focussed, for instance, on the highest of the sub-planes of the higher mental plane while other parts (the knowledge petals, for instance) may be focussed simultaneously on the lowest of the three sub-planes of the higher mental plane”? |
174. Vì vậy, chúng ta đang hỏi, “phải chăng mọi phần của thể nguyên nhân/Hoa Sen Chân Ngã luôn luôn được tập trung cùng nhau trên cùng một cõi phụ của Cõi thượng trí?”, hay “có những phần của thể nguyên nhân (chẳng hạn như các cánh hoa tổng hợp và ‘Ngọc trong Hoa Sen’) có thể được tập trung, chẳng hạn, trên cõi phụ cao nhất của Cõi thượng trí trong khi những phần khác (chẳng hạn như các cánh hoa tri thức) đồng thời có thể được tập trung trên cõi phụ thấp nhất trong ba cõi phụ của Cõi thượng trí hay không”? |
|
175. This brings us to a very fundamental question: “What does it really mean that a causal body is focussed on one sub-plane or another?” |
175. Điều này đưa chúng ta đến một câu hỏi rất căn bản: “Thực sự có nghĩa là gì khi nói một thể nguyên nhân được tập trung trên cõi phụ này hay cõi phụ khác?” |
|
Their unfoldment [i.e., the unfoldment of the petals] is worked out through the evolutionary process, undergone on the three planes in the three worlds, or within the three Halls of Ignorance, of Learning, and of Wisdom. |
Sự khai mở của chúng [tức là, sự khai mở của các cánh hoa] được thực hiện qua tiến trình tiến hoá, diễn ra trên ba cõi trong ba cõi thấp, hay trong ba Phòng Vô Minh, Phòng Hiểu Biết và Phòng Minh triết. |
|
176. We are speaking of a very gradual unfoldment. |
176. Chúng ta đang nói đến một sự khai mở hết sức tiệm tiến. |
|
177. We might say that the Hall of Ignorance is associated with the tier of knowledge petals; the Hall of Learning with the love petals; and the Hall of Wisdom with the sacrifice petals. |
177. Chúng ta có thể nói rằng Phòng Vô Minh gắn liền với tầng các cánh hoa tri thức; Phòng Hiểu Biết gắn liền với các cánh hoa bác ái; và Phòng Minh triết gắn liền với các cánh hoa hi sinh. |
|
178. Of course, there is some degree of overlap, nor is experience within the Hall of Wisdom consummated when all the nine petals are unfolded. We might say that a Master is still very much in the Hall of Wisdom and a Master has dropped (or ‘translated’) the energy of causal body and its petals. |
178. Dĩ nhiên, có một mức độ chồng lấn nào đó, và kinh nghiệm trong Phòng Minh triết cũng chưa viên mãn khi cả chín cánh hoa đều đã khai mở. Chúng ta có thể nói rằng một Chân sư vẫn còn rất nhiều ở trong Phòng Minh triết, và một Chân sư đã buông bỏ (hay ‘chuyển dịch’) năng lượng của thể nguyên nhân và các cánh hoa của nó. |
|
179. The following material will be linked with that found from TCF 820-823. Taken together we will have much information on the meaning of the petals in the egoic lotus and their process of unfoldment. |
179. Tài liệu sau đây sẽ được liên kết với phần tìm thấy trong Luận về Lửa Vũ Trụ 820-823. Gộp lại, chúng ta sẽ có nhiều thông tin về ý nghĩa của các cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã và tiến trình khai mở của chúng. |
|
180. For now quite a bit of rayological and astrological information will be given along with information touching on psychological processes. |
180. Hiện giờ, khá nhiều thông tin về cung học và chiêm tinh học sẽ được trình bày cùng với thông tin liên quan đến các tiến trình tâm lý học. |
|
a. First Group of Petals—Knowledge Petals: |
a. Nhóm Cánh Hoa Thứ Nhất—Các Cánh Hoa Tri Thức: |
|
1. The Petal of Knowledge for the physical plane. |
1. Cánh Hoa Tri Thức cho cõi hồng trần. |
|
181. This can be viewed as the first petal in the knowledge tier. |
181. Có thể xem đây là cánh hoa thứ nhất trong tầng tri thức. |
|
182. Since there are twelve petals the twelve signs of the zodiac are naturally related to them. |
182. Vì có mười hai cánh hoa nên mười hai dấu hiệu hoàng đạo tự nhiên có liên hệ với chúng. |
|
183. We can associate this petal with the astrological sign Aries or possibly with Pisces (if we choose to use the method of travelling clockwise through the zodiac. |
183. Chúng ta có thể liên kết cánh hoa này với dấu hiệu chiêm tinh Aries hoặc có thể với Pisces (nếu chúng ta chọn dùng phương pháp di chuyển theo chiều kim đồng hồ qua vòng hoàng đạo). |
|
184. Much can be learned by choosing Pisces (“Go forth into matter”) as the first petal, but it is preferable to choose Aries because the clockwise method of proceeding would not correlate optimally with those petals involved in the initiation process (presumably after the “reversal of the wheel”. The anti-clockwise method of progression is truly progressive and leading to the initiation process. |
184. Có thể học được nhiều điều khi chọn Pisces (“Hãy đi vào vật chất”) làm cánh hoa thứ nhất, nhưng tốt hơn nên chọn Aries vì phương pháp tiến hành theo chiều kim đồng hồ sẽ không tương ứng tối ưu với những cánh hoa liên quan đến tiến trình điểm đạo (có lẽ là sau “sự đảo ngược bánh xe”). Phương pháp tiến triển ngược chiều kim đồng hồ mới thực sự là tiến bộ và dẫn đến tiến trình điểm đạo. |
|
185. Laying the zodiac out on the petals can work for either assignment (beginning counter-clockwise with Aries or clock-wise with Pisces) as there are advanced and more primitive ways of interpreting all signs. The interpretation related to primitive response to the zodiacal energies can be used in relation to the earlier petals and the more advanced modes of interpreting the zodiacal energies to the later petals. |
185. Việc đặt vòng hoàng đạo lên các cánh hoa có thể hiệu quả với cả hai cách gán (bắt đầu ngược chiều kim đồng hồ với Aries hoặc theo chiều kim đồng hồ với Pisces), vì có những cách diễn giải cao hơn và nguyên sơ hơn đối với mọi dấu hiệu. Cách diễn giải liên hệ với sự đáp ứng nguyên sơ đối với các năng lượng hoàng đạo có thể được dùng cho các cánh hoa đầu, còn những phương thức diễn giải cao hơn về các năng lượng hoàng đạo thì dành cho các cánh hoa sau. |
|
186. It is also possible to start with Aries, and move counter-clockwise as DK seem to be in His Esoteric Astrology book. |
186. Cũng có thể bắt đầu với Aries, rồi di chuyển ngược chiều kim đồng hồ như Chân sư DK dường như đã làm trong sách Chiêm Tinh Học Nội Môn của Ngài. |
|
187. When different signs are assigned to various petals much is learned about the potential of the petals. |
187. Khi các dấu hiệu khác nhau được gán cho những cánh hoa khác nhau, người ta học được nhiều điều về tiềm năng của các cánh hoa. |
|
188. This first petal of the knowledge tier of petals represents the third subdivision or aspect of the third aspect. It is the most deeply material petal. |
188. Cánh hoa đầu tiên này của tầng cánh hoa tri thức tượng trưng cho phân bộ thứ ba hay phương diện thứ ba của phương diện thứ ba. Đây là cánh hoa vật chất sâu đậm nhất. |
|
Through the breaking of the Law and the ensuing suffering the price of ignorance is paid and knowledge is achieved. |
Qua việc phá vỡ Định luật và nỗi đau khổ tiếp theo, cái giá của vô minh được trả và tri thức đạt được. |
|
189. Zodiacally, the breaking of the Law comes under Aries (in which the planet of law, Saturn, falls) and the ensuing suffering under the sign Pisces. We can begin either way. |
189. Về mặt hoàng đạo, việc phá vỡ Định luật thuộc về Aries (trong đó hành tinh của định luật là Saturn bị suy yếu) và nỗi đau khổ tiếp theo thuộc về dấu hiệu Pisces. Chúng ta có thể bắt đầu theo cách nào cũng được. |
|
190. The earliest human experiences are lived under this petal. The mantrams “Go forth into matter”, and “Let form again be sought” are both apt. |
190. Những kinh nghiệm sớm nhất của con người được sống dưới cánh hoa này. Hai mantram “Hãy đi vào vật chất”, và “Hãy lại tìm kiếm hình tướng” đều thích hợp. |
|
191. It is also possible to assign the different elements to the three tiers of petals. Earth signs could be assigned to the knowledge tier; water signs to the love tier; fire signs to the sacrifice tier; and air signs to the synthesis tier (remembering that this inner tier was produced by buddhic energy and that the element of “air” is associated with the buddhic plane. |
191. Cũng có thể gán các nguyên tố khác nhau cho ba tầng cánh hoa. Các dấu hiệu hành thổ có thể được gán cho tầng tri thức; các dấu hiệu hành thủy cho tầng bác ái; các dấu hiệu hành hỏa cho tầng hi sinh; và các dấu hiệu hành khí cho tầng tổng hợp (ghi nhớ rằng tầng bên trong này được tạo ra bởi năng lượng Bồ đề và nguyên tố “khí” gắn với cõi Bồ đề). |
|
192. From this perspective, we would be dealing with the three earth signs of the knowledge tier—Capricorn, Taurus and Virgo, in that order (which is the natural order—Cardinal, Fixed and Mutable—the order in which occurs progress through the signs beginning with Aries). |
192. Từ góc nhìn này, chúng ta sẽ đề cập đến ba dấu hiệu hành thổ của tầng tri thức—Capricorn, Taurus và Virgo, theo thứ tự đó (đó là trật tự tự nhiên—Chủ Yếu, Cố Định và Biến đổi—trật tự trong đó sự tiến triển qua các dấu hiệu diễn ra khi bắt đầu với Aries). |
|
193. We will assign Capricorn (a strongly karmic sign) to the first petal. |
193. Chúng ta sẽ gán Capricorn (một dấu hiệu mang tính nghiệp quả mạnh) cho cánh hoa thứ nhất. |
|
194. Capricorn, we have been told, represents the best and worst in human nature. It represents sublime heights and supernal light as well as the depths of matter. We can see how the idea of the ‘depths of matter’ would correlate with the first petal. |
194. Như chúng ta đã được cho biết, Capricorn tượng trưng cho điều tốt đẹp nhất và tệ hại nhất trong bản chất con người. Nó tượng trưng cho những đỉnh cao siêu tuyệt và ánh sáng thiên thượng cũng như những vực sâu của vật chất. Chúng ta có thể thấy ý niệm về ‘những vực sâu của vật chất’ tương ứng như thế nào với cánh hoa thứ nhất. |
|
195. Capricorn also represents the Law which is broken during first petal processes. |
195. Capricorn cũng tượng trưng cho Định luật vốn bị phá vỡ trong các tiến trình của cánh hoa thứ nhất. |
|
196. Interestingly, the two planets most associated with the first petal (Mars and Saturn) are, respectively, exalted in Capricorn and the exoteric ruler of Capricorn. |
196. Điều thú vị là hai hành tinh gắn nhiều nhất với cánh hoa thứ nhất (Mars và Saturn) lần lượt được tôn vinh trong Capricorn và là chủ tinh ngoại môn của Capricorn. |
|
197. Capricorn is the hardest and most materialistic of the signs—again fitting with first petal processes. The hardness of ignorance must be broken. The depths of lightless gloom must be penetrated by some degree of knowledge. |
197. Capricorn là dấu hiệu cứng rắn nhất và duy vật nhất trong các dấu hiệu—một lần nữa phù hợp với các tiến trình của cánh hoa thứ nhất. Sự cứng rắn của vô minh phải bị phá vỡ. Những vực sâu tăm tối không ánh sáng phải được xuyên thấu bằng một mức độ tri thức nào đó. |
|
198. Capricorn represents the “earthbound soul”, a perfect description to the individual who is still limited by first petal possibilities. |
198. Capricorn tượng trưng cho “linh hồn bị trói buộc vào đất”, một mô tả hoàn hảo về cá nhân vẫn còn bị giới hạn bởi các khả năng của cánh hoa thứ nhất. |
|
199. One more sign should be considered—Libra, the sign of karma and the sign opposite to Aries. In as much as some knowledge of karma is gained during the development of the first petal and, to a small degree, consequences of actions are understood, Libra can be seen as related or involved. |
199. Cần xét thêm một dấu hiệu nữa—Libra, dấu hiệu của nghiệp quả và là dấu hiệu đối diện với Aries. Vì trong quá trình phát triển của cánh hoa thứ nhất có đạt được một ít hiểu biết về nghiệp quả và ở một mức nhỏ nào đó các hậu quả của hành động được hiểu ra, nên Libra có thể được xem là có liên hệ hay có tham dự. |
|
200. Saturn is also very strong in Libra and Saturn, as will be seen, is very prominent at the opening of this first petal. |
200. Saturn cũng rất mạnh trong Libra, và Saturn, như sẽ thấy, rất nổi bật vào lúc cánh hoa thứ nhất này mở ra. |
|
201. The sign opposite Capricorn is Cancer and it rules the very first incarnation of the human being and probably is extremely prominent. Man lived in a ‘darkened house’ which Cancer initially rules even as it rules the “lighted house” which appears when man begins to awaken. |
201. Dấu hiệu đối diện Capricorn là Cancer và nó cai quản lần lâm phàm đầu tiên của con người và có lẽ cực kỳ nổi bật. Con người sống trong một ‘ngôi nhà tối tăm’ mà Cancer ban đầu cai quản, cũng như nó cai quản “ngôi nhà được soi sáng” xuất hiện khi con người bắt đầu thức tỉnh. |
|
202. Cancer distributes the third and seventh rays, which are described below as important to first petal processes. |
202. Cancer phân phối cung ba và cung bảy, là những cung được mô tả dưới đây là quan trọng đối với các tiến trình của cánh hoa thứ nhất. |
|
203. Cancer, as well, is a deeply instinctual sign (the Moon, its ruler, represents instinct), and rules, from one perspective, the deepest immersion of the Spirit. It shares this rulership with Capricorn. |
203. Cancer cũng là một dấu hiệu mang tính bản năng sâu đậm (Mặt Trăng, chủ tinh của nó, tượng trưng cho bản năng), và từ một góc nhìn nào đó, cai quản sự chìm đắm sâu nhất của tinh thần. Nó chia sẻ quyền cai quản này với Capricorn. |
|
204. Cancer probably has much to do with the strictly physical elemental as this elemental is so closely associated with the Moon. The Moon, we are told in Esoteric Astrology, rules the dense physical body. |
204. Có lẽ Cancer liên hệ rất nhiều với tinh linh thể xác thuần túy vì tinh linh này gắn bó rất chặt với Mặt Trăng. Như chúng ta được cho biết trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, Mặt Trăng cai quản thể xác đậm đặc. |
|
205. The Law is broken because the primitive human being is blind. Cancer produces a groping kind of behavior impulsed by instinct but not by conscious intelligence. Of the primitive Cancer individual it is said: “The blind unit is lost.” The Leo influence will have to grow stronger before intelligence begins to show itself noticeably. |
205. Định luật bị phá vỡ vì con người nguyên thủy thì mù quáng. Cancer tạo ra một loại hành vi dò dẫm được thúc đẩy bởi bản năng chứ không phải bởi trí tuệ hữu thức. Về cá nhân Cancer nguyên thủy, người ta nói: “Đơn vị mù quáng bị lạc lối.” Ảnh hưởng của Leo sẽ phải mạnh lên trước khi trí tuệ bắt đầu biểu lộ rõ rệt. |
|
206. During the immense period of time during which the first petal is stimulated, organized, unfolded and fully opened, the man will be born over and over again in all the signs of the zodiac and under them all. Each of the twelve signs will have something of significance to contribute to the development of the human being at the first petal stage, and the same could be said for development undertaken as a number of the petals unfold (though perhaps not the final two petals of the nine). |
206. Trong khoảng thời gian mênh mông mà trong đó cánh hoa thứ nhất được kích thích, tổ chức, khai mở và mở hoàn toàn, con người sẽ tái sinh hết lần này đến lần khác trong mọi dấu hiệu hoàng đạo và dưới tất cả các dấu hiệu ấy. Mỗi một trong mười hai dấu hiệu sẽ có điều gì đó mang thâm nghĩa để đóng góp cho sự phát triển của con người ở giai đoạn cánh hoa thứ nhất, và điều tương tự cũng có thể nói về sự phát triển được đảm nhận khi một số cánh hoa khai mở (dù có lẽ không phải hai cánh hoa cuối trong chín cánh). |
|
207. There may arise an opportunity to develop the idea of how each sign of the zodiac contributes to the opening of each petal. The study of the earliest petals in this regard may prove interesting historically, while the study of petals four to nine may hold much interest for the student who is focussed on understanding the manner in which he presently expresses. |
207. Có thể sẽ xuất hiện cơ hội để phát triển ý tưởng về cách mỗi dấu hiệu hoàng đạo đóng góp vào việc mở ra mỗi cánh hoa. Việc nghiên cứu các cánh hoa sớm nhất theo phương diện này có thể tỏ ra thú vị về mặt lịch sử, trong khi việc nghiên cứu các cánh hoa từ bốn đến chín có thể rất đáng quan tâm đối với đạo sinh đang tập trung vào việc thấu hiểu cách y hiện đang biểu lộ. |
|
208. Mars (with Earth, for Earth is one of the ‘planet of rebellion’) is, in early days, a ‘lawbreaker’. Mars particularly rules the physical body to which this most material petal of the knowledge tier refers. |
208. Mars (cùng với Earth, vì Earth là một trong những ‘hành tinh của sự phản loạn’) trong thời kỳ đầu là một ‘kẻ phá luật’. Mars đặc biệt cai quản thể xác mà cánh hoa vật chất nhất này của tầng tri thức đề cập đến. |
|
209. The Law comes under Saturn (the ‘planet of Law and karma’) and paying the price of ignorance is definitely Saturnian. |
209. Định luật thuộc về Saturn (hành tinh của Định luật và nghiệp quả) và việc trả cái giá của vô minh chắc chắn mang tính Saturn. |
|
210. Some degree of knowledge of the consequences of action is learned under the regime of this first petal knowledge petal. |
210. Một mức độ hiểu biết nào đó về hậu quả của hành động được học dưới sự chi phối của cánh hoa tri thức thứ nhất này. |
|
211. Saturn is also a manasic plane associated very much with the third ray, and should be associated with the “knowledge achieved” as a result of paying the price of ignorance. |
211. Saturn cũng là một hành tinh manas gắn rất nhiều với cung ba, và nên được liên kết với “tri thức đạt được” như là kết quả của việc trả cái giá của vô minh. |
|
212. The fifth ray is new to the newly individualized man, and this petal is concerned with overcoming the densest ignorance. |
212. Cung năm là điều mới mẻ đối với con người vừa được biệt ngã hóa, và cánh hoa này liên quan đến việc vượt qua sự vô minh đậm đặc nhất. |
|
213. Mars is associated with the fifth ray because it rules the five senses as well as concrete science, and hence the crudest aspects of the concrete mind. |
213. Mars gắn với cung năm vì nó cai quản năm giác quan cũng như khoa học cụ thể, và do đó cai quản những phương diện thô sơ nhất của trí cụ thể. |
|
214. So we have both Mars and Saturn as planets of concrete manas. They are called the two “malefic” planets (though, really, they are not. They simply rule the “school of hard knocks” and, certainly, this first petal is involved in hard experience. We recall the ‘hardness’ of Capricorn with which we are hypothetically associating this petal. |
214. Vì vậy, chúng ta có cả Mars lẫn Saturn như những hành tinh của manas cụ thể. Chúng được gọi là hai hành tinh “hung” (dù thật ra không phải vậy. Chúng chỉ đơn giản cai quản “trường học của những va đập đau đớn”, và chắc chắn cánh hoa thứ nhất này có liên quan đến kinh nghiệm khắc nghiệt. Chúng ta nhớ đến sự ‘cứng rắn’ của Capricorn mà chúng ta đang giả định liên kết với cánh hoa này. |
|
215. Interestingly, both Saturn and Mars are closely associated with dense physical plane on which this petal focuses. |
215. Điều thú vị là cả Saturn lẫn Mars đều gắn chặt với cõi hồng trần đậm đặc mà cánh hoa này tập trung vào. |
|
216. From the chakric perspective, both the base of the spine and sacral center are involved. The sacral center is Martian, for Mars rules sex and the physical body. Mars also rules “kundalini latent” which is the basic heat at the based of spine involved in warming the physical frame. Mars, however, is closely related to the “fight or flight” response of the adrenal glands (which are the glands which are the external, physical expressions of the base of the spine). |
216. Từ góc nhìn luân xa, cả đáy cột sống lẫn trung tâm xương cùng đều có liên quan. Trung tâm xương cùng mang tính Martian, vì Mars cai quản tính dục và thể xác. Mars cũng cai quản “kundalini tiềm ẩn”, tức nhiệt cơ bản ở đáy cột sống liên quan đến việc làm ấm khung thể xác. Tuy nhiên, Mars cũng liên hệ chặt với phản ứng “chiến đấu hay bỏ chạy” của các tuyến thượng thận (là những tuyến vốn là biểu hiện hồng trần bên ngoài của đáy cột sống). |
|
217. As for Saturn, it is also a planet of physical survival and survival, and the intelligence needed for survival is one of the main issues concerning the process of three-world living which go to the opening of the first petal. |
217. Còn về Saturn, nó cũng là một hành tinh của sự sinh tồn hồng trần, và trí tuệ cần thiết cho sự sinh tồn là một trong những vấn đề chính liên quan đến tiến trình sống trong ba cõi giới, vốn góp phần vào việc mở cánh hoa thứ nhất. |
|
218. Saturn is also a very material planet involved in ‘grounding’ the primitive man. For this reason it is associated with the base of the spine and the first petal. |
218. Saturn cũng là một hành tinh rất vật chất, liên quan đến việc ‘neo’ con người nguyên thủy xuống đất. Vì lý do này, nó được liên kết với đáy cột sống và cánh hoa thứ nhất. |
|
219. In a strange way, it may also be associated with the sacral center, because it is the action of this center which produces the concrete (Saturn) physical (Saturn) form (Saturn). |
219. Theo một cách kỳ lạ, nó cũng có thể được liên kết với trung tâm xương cùng, vì chính hoạt động của trung tâm này tạo ra hình tướng hồng trần cụ thể (Saturn) (Saturn) (Saturn). |
|
220. We cannot forget the influence of the Earth itself. In all the first three petals, especially petals one and two, Earth will be prominent. |
220. Chúng ta không thể quên ảnh hưởng của chính Trái Đất. Trong cả ba cánh hoa đầu tiên, đặc biệt là cánh hoa một và hai, Earth sẽ nổi bật. |
|
221. Earth also is found ruling the base of the spine center which is so important for the first petal. |
221. Earth cũng được thấy là cai quản trung tâm đáy cột sống vốn rất quan trọng đối với cánh hoa thứ nhất. |
|
222. Earth represents physical weight and earthiness and captivation by instinctual life. |
222. Earth tượng trưng cho sức nặng hồng trần, tính chất đất và sự bị cuốn hút bởi đời sống bản năng. |
|
223. Some degree of etheric response will begin to come through here. We are told that the first initiation for humanity involved the union of the etheric and physical body. It is not the case that initiates would be produced during first petal processes, but the struggle to unite etheric and physical nature would have its rudimentary beginnings. |
223. Một mức độ đáp ứng dĩ thái nào đó sẽ bắt đầu xuất hiện ở đây. Chúng ta được cho biết rằng lần điểm đạo thứ nhất đối với nhân loại liên quan đến sự hợp nhất của thể dĩ thái và thể xác. Không phải là các điểm đạo đồ sẽ được tạo ra trong các tiến trình của cánh hoa thứ nhất, nhưng cuộc đấu tranh để hợp nhất bản chất dĩ thái và hồng trần sẽ có những khởi đầu sơ khai của nó. |
|
224. The planet Vulcan, although a sacred planet, also has its place in first petal processes. Vulcan represents the ‘stubborn’ obduracy of matter and its ‘instinctual insistence’. It is, in a way, the ‘will of matter’ to be exactly what it is and do what it is instinctually inclined to do. |
224. Hành tinh Vulcan, dù là một hành tinh thiêng liêng, cũng có vị trí của nó trong các tiến trình của cánh hoa thứ nhất. Vulcan tượng trưng cho sự ngoan cố ‘cứng đầu’ của vật chất và ‘sự khăng khăng theo bản năng’ của nó. Theo một nghĩa nào đó, đó là ‘ý chí của vật chất’ muốn đúng là cái nó là và làm điều mà theo bản năng nó có khuynh hướng làm. |
|
225. Vulcan (with Capricorn) signal the ‘hardness’ of this lengthy period and the strictly earthbound physical processes which characterize it. |
225. Vulcan (cùng với Capricorn) báo hiệu sự ‘cứng rắn’ của giai đoạn dài lâu này và những tiến trình hồng trần thuần túy gắn chặt với đất vốn đặc trưng cho nó. |
|
226. The Moon which rules the physical body and which corresponds to the influence of Cancer must also be mentioned as inevitably prominent. The Moon was a great power in those early, primitive, physical days. The rhythms of the Moon correlate with a number of aspects of the instinctual nature which was so prominent at the time. |
226. Mặt Trăng, vốn cai quản thể xác và tương ứng với ảnh hưởng của Cancer, cũng phải được nhắc đến như một yếu tố tất yếu nổi bật. Mặt Trăng là một quyền lực lớn trong những ngày đầu nguyên thủy và hồng trần ấy. Các nhịp điệu của Mặt Trăng tương ứng với một số phương diện của bản chất bản năng vốn rất nổi bật vào thời đó. |
|
227. From the ray perspective, the first, third, fifth, and seventh rays would all be prominent. |
227. Từ góc nhìn cung, cung một, cung ba, cung năm và cung bảy đều sẽ nổi bật. |
|
228. The first and third rays can only be involved astrologically because at this stage of development, none of the Rays of Aspect can form a part of ‘ray chart’ (such as it might be) for the primitive man. |
228. Cung một và cung ba chỉ có thể tham dự về mặt chiêm tinh học vì ở giai đoạn phát triển này, không Cung Trạng Thái nào có thể tạo thành một phần của ‘biểu đồ cung’ (nếu có thể gọi như vậy) của con người nguyên thủy. |
|
229. Ray one has to with survival and the base of the spine. The instinct to prevail over adversaries will be highly developed, and there will be an inherent, instinctual selfishness which can only be associated with ray one. |
229. Cung một liên quan đến sự sinh tồn và đáy cột sống. Bản năng thắng vượt đối thủ sẽ rất phát triển, và sẽ có một tính ích kỷ cố hữu, mang tính bản năng, chỉ có thể gắn với cung một. |
|
230. The third ray will show itself as animal cunning and the ability to begin to learn about the environment, circumstance and consequence. This ray is associated with both Capricorn and Libra (both of which have a role to play in first petal processes). We must also remember the numerology—this first petal of the knowledge tier represents the third aspect of a tier representing the third aspect. The number three (though hardly related to abstract thought) is inescapable. |
230. Cung ba sẽ biểu lộ như sự xảo quyệt của loài vật và khả năng bắt đầu học hỏi về môi trường, hoàn cảnh và hậu quả. Cung này gắn với cả Capricorn lẫn Libra (cả hai đều có vai trò trong các tiến trình của cánh hoa thứ nhất). Chúng ta cũng phải nhớ đến số học—cánh hoa thứ nhất này của tầng tri thức tượng trưng cho phương diện thứ ba của một tầng tượng trưng cho phương diện thứ ba. Con số ba (dù hầu như không liên hệ với tư duy trừu tượng) là điều không thể tránh khỏi. |
|
231. The fifth ray is that of concrete mind, and we have during first petal processes the gradual unfoldment of intelligence, as instinct slowly gives way to dim mental realization—very dim. |
231. Cung năm là cung của trí cụ thể, và trong các tiến trình của cánh hoa thứ nhất, chúng ta có sự khai mở dần dần của trí tuệ, khi bản năng chậm chạp nhường chỗ cho sự chứng nghiệm trí tuệ mờ nhạt—rất mờ nhạt. |
|
232. This is the period of early Lemurian man. The third root race is connected with the third ray, obviously, but also with the fifth, as individualization has occurred under Leo, Venus (a fifth ray planet) and the fifth ray in general—and under the supervision of the Fifth Creative Hierarchy. So many fives necessarily make first petal processes very dependent upon the nascent development of the fifth ray which reveals, among other things, the true nature of cause and effect, and hence the consequences of actions. Libra (a karmic sign, which teaches consequences) has for its exoteric ruler Venus which transmits the fifth ray and sheds light upon the results of actions (initiated blindly in Aries and in relation to Mars). |
232. Đây là thời kỳ của con người Lemuria sơ khai. Giống dân gốc thứ ba hiển nhiên gắn với cung ba, nhưng cũng gắn với cung năm, vì sự biệt ngã hóa đã xảy ra dưới Leo, Venus (một hành tinh cung năm) và cung năm nói chung—và dưới sự giám sát của Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Năm. Quá nhiều số năm như thế tất yếu khiến các tiến trình của cánh hoa thứ nhất phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển mới chớm của cung năm, vốn mặc khải, trong những điều khác, bản chất thật của nhân và quả, và do đó là hậu quả của các hành động. Libra (một dấu hiệu nghiệp quả, dạy về hậu quả) có chủ tinh ngoại môn là Venus, hành tinh truyền dẫn cung năm và soi sáng kết quả của các hành động (được khởi phát một cách mù quáng trong Aries và liên hệ với Mars). |
|
233. As for the seventh ray, the primitive rituals of the bodily cycles control the man. Natural rhythms (the seventh ray rules rhythms) are expressed, and life is lived to fulfill the cravings of rhythmic appetites—the appetites for food and procreativity being paramount. |
233. Còn về cung bảy, các nghi thức nguyên thủy của những chu kỳ thể xác kiểm soát con người. Những nhịp điệu tự nhiên (cung bảy cai quản các nhịp điệu) được biểu lộ, và đời sống được sống để thỏa mãn những ham muốn có tính nhịp điệu—trong đó ham muốn ăn uống và sinh sản là tối quan trọng. |
|
234. Again, these petals of the first tier open up over such a long period of time that all the rays (either working out in the ray chart of the individual or, at this stage, almost exclusively through astrological influences, would have their part to play). |
234. Một lần nữa, những cánh hoa của tầng thứ nhất này mở ra trong một khoảng thời gian dài đến mức mọi cung (hoặc biểu hiện trong biểu đồ cung của cá nhân, hoặc ở giai đoạn này gần như hoàn toàn qua các ảnh hưởng chiêm tinh) đều có phần của mình để đóng góp). |
|
235. Rays two, four and six, however are related to subjective life and particularly to the development (at first) of the astral plane. There is not much astral development during the unfoldment of the first petal. Man is pretty much a physical being and such emotion as there might be is very much tied up with physical processes. So the emphasis is not on the soft line of development. |
235. Tuy nhiên, cung hai, cung bốn và cung sáu liên hệ với đời sống chủ quan và đặc biệt với sự phát triển (lúc đầu) của cõi cảm dục. Không có nhiều sự phát triển cảm dục trong thời gian khai mở cánh hoa thứ nhất. Con người phần lớn là một hữu thể hồng trần và cảm xúc nào có thể có thì cũng gắn chặt với các tiến trình hồng trần. Vì vậy, trọng tâm không nằm trên đường phát triển mềm mại. |
|
236. We will discuss the color references to these petals some three hundred pages further into the book. |
236. Chúng ta sẽ bàn đến các tham chiếu màu sắc của những cánh hoa này ở khoảng ba trăm trang sau trong sách. |
|
This unfoldment is brought about through physical plane experience. |
Sự khai mở này được mang lại qua kinh nghiệm cõi hồng trần. |
|
237. This sentence of text supports what has just been discussed. There is no petal more associated with physical plane experience and instinctive living. |
237. Câu này trong bản văn xác nhận điều vừa được bàn đến. Không có cánh hoa nào gắn với kinh nghiệm cõi hồng trần và đời sống bản năng nhiều hơn cánh hoa này. |
|
238. For the processes of this petal, the desires of Mars are tied to physical plane instincts and appetites. The life of desire does not have a life independent of the promptings of the physical body. We will have to wait until the Atlantean period for this independence to arise. |
238. Đối với các tiến trình của cánh hoa này, những ham muốn của Mars gắn với các bản năng và dục vọng của cõi hồng trần. Đời sống ham muốn không có một đời sống độc lập với những thúc đẩy của thể xác. Chúng ta sẽ phải chờ đến thời Atlantis thì sự độc lập này mới xuất hiện. |
|
239. Those egoic lotuses with one petal unfolded are said to be “Brahmic lotuses”, and those in whom “the second petal is showing signs of opening” are called “Lotuses of Brahman”. |
239. Những Hoa Sen Chân Ngã có một cánh hoa đã khai mở được gọi là “Hoa sen Brahmic”, và những hoa sen nơi đó “cánh hoa thứ hai đang cho thấy dấu hiệu mở ra” được gọi là “Hoa Sen của Brahman”. |
|
240. There is so much that could be said of each petal. A book is planned to include what can be said (given the scope of our present knowledge). What is said here will go to the content of the book and will give indications of how the subject can be developed. |
240. Có quá nhiều điều có thể nói về mỗi cánh hoa. Một cuốn sách đang được dự định để bao gồm những gì có thể nói ra (xét theo phạm vi tri thức hiện nay của chúng ta). Những gì được nói ở đây sẽ góp phần vào nội dung của cuốn sách ấy và sẽ đưa ra những chỉ dẫn về cách chủ đề này có thể được phát triển. |
|
2. The Petal of Love for the physical plane. |
2. Cánh Hoa Bác Ái cho cõi hồng trần. |
|
241. When the word “love” is used in this context, it, of course, means “desire”. There is no true love (which is ever, minimally, soul love) expressed through grossly physical man at this early point in human unfoldment. |
241. Khi từ “bác ái” được dùng trong ngữ cảnh này, dĩ nhiên nó có nghĩa là “ham muốn”. Không có bác ái đích thực nào (vốn luôn luôn, tối thiểu, là bác ái của linh hồn) được biểu lộ qua con người thô nặng về hồng trần ở điểm sớm này trong sự khai mở của con người. |
|
242. The “love” involved here is instinctual love, and is closely associated with sacral center processes. |
242. “Bác ái” liên quan ở đây là bác ái bản năng, và gắn rất chặt với các tiến trình của trung tâm xương cùng. |
|
243. Some degree of creativity may also show forth during this very lengthy stage. |
243. Một mức độ sáng tạo nào đó cũng có thể biểu lộ trong giai đoạn rất dài này. |
|
244. The opening of the first three petals takes, by far, the longest time—millions of years compared to the much more rapid opening of the later petals. This should be constantly held in mind and there should come a realization of the great diversity of experiences which the human unit will experience during the immense time taken to open the first, second or third petal. |
244. Việc mở ba cánh hoa đầu tiên chiếm thời gian lâu nhất—hàng triệu năm so với việc mở nhanh hơn nhiều của các cánh hoa sau. Điều này cần luôn luôn được ghi nhớ, và cần có sự chứng nghiệm về tính đa dạng to lớn của các kinh nghiệm mà đơn vị nhân loại sẽ trải qua trong khoảng thời gian mênh mông cần để mở cánh hoa thứ nhất, thứ hai hay thứ ba. |
|
Unfolds through physical relationships, |
Khai mở qua các quan hệ hồng trần, |
|
245. We are speaking of sacral center relationships which produce family and tribal relationship. We may also be speaking of relationships which form to ensure survival. |
245. Chúng ta đang nói đến các quan hệ của trung tâm xương cùng, vốn tạo ra quan hệ gia đình và bộ lạc. Chúng ta cũng có thể đang nói đến những quan hệ được hình thành để bảo đảm sự sinh tồn. |
|
246. When considering the customary or counter clockwise progression of the signs, the sign Taurus will be assigned to this petal. |
246. Khi xét sự tiến triển thông thường hay ngược chiều kim đồng hồ của các dấu hiệu, dấu hiệu Taurus sẽ được gán cho cánh hoa này. |
|
247. Taurus is a very earthy sign having much to do with the sacral center. |
247. Taurus là một dấu hiệu rất mang tính đất, liên hệ nhiều đến trung tâm xương cùng. |
|
248. It is a sign in which physical/animal magnetism takes on a large significance. |
248. Đây là một dấu hiệu trong đó từ điện hồng trần/thú vật mang một ý nghĩa lớn lao. |
|
249. On the clockwise wheel, the sign Aquarius would be prominent emphasizing its more primitive mantram, “Let desire in form be ruler.” This early Aquarian tendency (with primitive, sexual Taurus) would contribute to the sexual promiscuity to be expected at this stage of development. |
249. Trên bánh xe theo chiều kim đồng hồ, dấu hiệu Aquarius sẽ nổi bật, nhấn mạnh mantram nguyên sơ hơn của nó, “Hãy để ham muốn trong hình tướng cai quản.” Khuynh hướng Aquarius sơ khai này (cùng với Taurus tính dục nguyên thủy) sẽ góp phần vào sự phóng túng tình dục có thể được chờ đợi ở giai đoạn phát triển này. |
|
250. At this point we must refer to the idea (offered by the Tibetan) that early man does not respond to the signs Aquarius and Pisces—that these signs only enter his consciousness when he is more fully developed. It should be said that Pisces and Aquarius will be active unconsciously. There are twelve petals and twelve signs are necessarily involved, even though man cannot respond to the higher possibilities of these signs. |
250. Ở điểm này, chúng ta phải nhắc đến ý tưởng (do Chân sư Tây Tạng đưa ra) rằng con người sơ khai không đáp ứng với các dấu hiệu Aquarius và Pisces—rằng những dấu hiệu này chỉ đi vào tâm thức của y khi y phát triển đầy đủ hơn. Cần nói rằng Pisces và Aquarius sẽ hoạt động một cách vô thức. Có mười hai cánh hoa và tất yếu có mười hai dấu hiệu tham dự, dù con người không thể đáp ứng với những khả năng cao hơn của các dấu hiệu này. |
|
251. The mantram “Go forth into matter” (the more material mantram for Pisces) relates precisely to the experiences of the first petal, as “Let desire in form be ruler” does to second petal unfoldments. |
251. Mantram “Hãy đi vào vật chất” (mantram vật chất hơn của Pisces) liên hệ chính xác với các kinh nghiệm của cánh hoa thứ nhất, cũng như “Hãy để ham muốn trong hình tướng cai quản” liên hệ với các sự khai mở của cánh hoa thứ hai. |
|
252. If we begin the clockwise wheel with Aries, then Pisces becomes the sign in question, with its emphasis upon desire and attachment, and the initial cultivation of the emotional nature. Pisces is a water sign and hence its association with astrality, desire and emotion. |
252. Nếu chúng ta bắt đầu bánh xe theo chiều kim đồng hồ với Aries, thì Pisces trở thành dấu hiệu được xét đến, với sự nhấn mạnh của nó vào ham muốn và sự dính mắc, cùng sự vun bồi ban đầu của bản chất cảm xúc. Pisces là một dấu hiệu hành thủy và do đó có liên hệ với tính cảm dục, ham muốn và cảm xúc. |
|
253. From the earth-sign perspective (remembering that we assigned the three earth-signs to the three petals of the knowledge tier), again it is Taurus (a sign with much more animal magnetism in it than Capricorn, the proposed elemental-ruler of the first petal. |
253. Từ góc nhìn các dấu hiệu hành thổ (ghi nhớ rằng chúng ta đã gán ba dấu hiệu hành thổ cho ba cánh hoa của tầng tri thức), một lần nữa đó là Taurus (một dấu hiệu chứa nhiều từ điện thú vật hơn Capricorn, dấu hiệu nguyên tố-chủ quản được đề nghị cho cánh hoa thứ nhất). |
|
254. The ruler of Taurus, orthodoxly (as esoteric rulers do not count at this stage) is Venus. This time Venus would emphasize the lower, attractive and sexual impulses, drawing human beings together on the basis of physical desire. Some appreciation of what is seen as ‘beauty’ and creativity would also begin to be present. |
254. Chủ tinh của Taurus, theo ngoại môn (vì các chủ tinh nội môn không được tính ở giai đoạn này) là Venus. Lần này Venus sẽ nhấn mạnh các xung lực thấp, hấp dẫn và tính dục, kéo con người lại với nhau trên cơ sở ham muốn hồng trần. Một ít cảm nhận về điều được xem là ‘cái đẹp’ và về tính sáng tạo cũng sẽ bắt đầu hiện diện. |
|
255. We cannot forget the power of Aries and Libra, both of which initiate physical relationship. Regarding the early expression of the Libras energy, we are given the phrase: “unbalanced fiery passion”. The fiery aspect is a reflection of the polar opposite Aries and of the ruler of Aries, Mars. |
255. Chúng ta không thể quên quyền năng của Aries và Libra, cả hai đều khởi phát quan hệ hồng trần. Liên quan đến biểu hiện sớm của năng lượng Libra, chúng ta được cho cụm từ: “đam mê lửa mất quân bình”. Phương diện lửa là sự phản chiếu của cực đối diện Aries và của chủ tinh Aries là Mars. |
|
and the gradual growth of love from love of self to love of others. [Page 540] |
và sự tăng trưởng dần dần của bác ái từ tình yêu bản thân đến tình yêu người khác. [Page 540] |
|
256. This signifies that “love of self” characterized first petal processes completely, and probably most of second petal processes. But the animal magnetism of Taurus and the power of attraction characteristic of this sign can begin to reorient desire so that it is not so entirely bound to the instinctual nature. The ‘other’ can be experienced as having ‘value’ in itself. (We remember the relation of Taurus and Venus to the experience of value.) |
256. Điều này biểu thị rằng “tình yêu bản thân” đặc trưng hoàn toàn cho các tiến trình của cánh hoa thứ nhất, và có lẽ cho phần lớn các tiến trình của cánh hoa thứ hai. Nhưng từ điện thú vật của Taurus và quyền năng hấp dẫn đặc trưng của dấu hiệu này có thể bắt đầu tái định hướng ham muốn để nó không còn hoàn toàn bị trói buộc vào bản chất bản năng nữa. ‘Người khác’ có thể được trải nghiệm như có ‘giá trị’ tự thân. (Chúng ta nhớ mối liên hệ của Taurus và Venus với kinh nghiệm về giá trị.) |
|
257. As an interpolation, when we speak of “love of self” we cannot omit the early influence of Leo (the sign of ‘self-love’) and of the Sun, which, in early ‘ahamkaric’ days, tends to contribute to the glorification of the lower self. We recall that in the Atlantean period, the most materialistic of all signs, Leo, must have been intensely prominent, for the self-love of some powerful, intelligent and wicked individuals rose to unparalleled heights and brought on a great war between the forces of light and of darkness. |
257. Nhân tiện chen vào, khi chúng ta nói về “tình yêu bản thân”, chúng ta không thể bỏ qua ảnh hưởng sớm của Leo (dấu hiệu của ‘tự ái’) và của Mặt Trời, vốn trong những ngày ‘ahamkaric’ đầu tiên có khuynh hướng góp phần vào sự tôn vinh phàm ngã. Chúng ta nhớ rằng trong thời Atlantis, dấu hiệu duy vật nhất trong mọi dấu hiệu là Leo hẳn đã cực kỳ nổi bật, vì lòng tự ái của một số cá nhân quyền lực, thông minh và độc ác đã dâng lên đến những đỉnh cao chưa từng có và gây ra một cuộc đại chiến giữa các lực lượng ánh sáng và bóng tối. |
|
258. It is said that such individuals erected stupendous statues of themselves as part of the cult of self-adulation (Leo). Of course the individuals capable of doing such things were more highly advanced than the individual working through two petals. The Leo power they used could easily have related to the fifth petal in the second tier. |
258. Người ta nói rằng những cá nhân như thế đã dựng lên những pho tượng khổng lồ của chính họ như một phần của sự sùng bái tự tôn thờ (Leo). Dĩ nhiên, những cá nhân có khả năng làm những việc như vậy đã tiến hóa cao hơn cá nhân đang hoạt động qua hai cánh hoa. Quyền năng Leo mà họ sử dụng có thể dễ dàng liên hệ với cánh hoa thứ năm trong tầng thứ hai. |
|
259. The movement from love of self to love of others is a movement from Leo to Libra and from the Sun to Venus. |
259. Sự chuyển động từ tình yêu bản thân đến tình yêu người khác là một sự chuyển động từ Leo sang Libra và từ Mặt Trời sang Venus. |
|
260. Let us remember that all these zodiacal and planetary factors have energies which can be utilized at many strata of development. So one energy can express in a great variety of ways—some very low expressions and some on the very highest end of the spectrum. |
260. Chúng ta hãy nhớ rằng tất cả những yếu tố hoàng đạo và hành tinh này đều có những năng lượng có thể được sử dụng ở nhiều tầng mức phát triển. Vì vậy, một năng lượng có thể biểu lộ theo rất nhiều cách—một số biểu hiện rất thấp và một số ở đầu cao nhất của phổ. |
|
261. Since desire becomes an issue in this second petal, the water signs must have something significant to do with it. |
261. Vì ham muốn trở thành một vấn đề trong cánh hoa thứ hai này, nên các dấu hiệu hành thủy hẳn phải có điều gì đó quan trọng liên quan đến nó. |
|
262. We have already mentioned Pisces, but what of Cancer and Scorpio? |
262. Chúng ta đã nhắc đến Pisces, nhưng còn Cancer và Hổ Cáp thì sao? |
|
263. Cancer would give the instinctual tendency to cling to that which is desired, to that which is seen to be of value. |
263. Cancer sẽ đem lại khuynh hướng bản năng bám chặt vào điều được ham muốn, vào điều được thấy là có giá trị. |
|
264. Scorpio would feed the connection between desire and sexuality. |
264. Hổ Cáp sẽ nuôi mạnh mối liên hệ giữa ham muốn và tính dục. |
|
265. We remember than man did not respond to all the signs of the zodiac in those early days—at least his response could not have been a high or conscious response. |
265. Chúng ta nhớ rằng con người đã không đáp ứng với mọi dấu hiệu hoàng đạo trong những ngày đầu ấy—ít nhất sự đáp ứng của y không thể là một đáp ứng cao hay hữu thức. |
|
266. Zodiacs of eight signs, of ten signs or eleven signs are perhaps something of an enigma to us today. They are based, I believe, not on the appearance and disappearance of certain constellations (and their vehicles of expression, the signs), but on man’s power to respond to various influences. |
266. Những vòng hoàng đạo tám dấu hiệu, mười dấu hiệu hay mười một dấu hiệu có lẽ là điều gì đó bí ẩn đối với chúng ta ngày nay. Theo tôi, chúng không dựa trên sự xuất hiện và biến mất của một số chòm sao nào đó (và các vận cụ biểu lộ của chúng là các dấu hiệu), mà dựa trên năng lực đáp ứng của con người đối với các ảnh hưởng khác nhau. |
|
267. Returning to Taurus, we know Taurus is one of the paramount signs of desire and so this petal is surely a desire petal—physical desire. |
267. Trở lại với Taurus, chúng ta biết Taurus là một trong những dấu hiệu tối quan trọng của ham muốn, vì vậy cánh hoa này chắc chắn là một cánh hoa của ham muốn—ham muốn hồng trần. |
|
268. Venus, as the ruler of Taurus, emphasizes in terms of second petal processes not so much the fifth ray but the sixth and second (both expressed by Venus on one level or another). |
268. Venus, với tư cách chủ tinh của Taurus, trong các tiến trình của cánh hoa thứ hai nhấn mạnh không nhiều đến cung năm bằng cung sáu và cung hai (cả hai đều được Venus biểu lộ ở cấp độ này hay cấp độ khác). |
|
269. Mars, of course, is the planet of sexuality and a non-sacred planet much associated with deeply material processes. It is extensively involved in second petal processes, for the love of others is largely the desire for others (sexually especially)—though it is expected that the influence of Mars would gradually give way to some Venusian process as unfoldment continued. |
269. Dĩ nhiên, Mars là hành tinh của tính dục và là một hành tinh không thiêng liêng, gắn nhiều với các tiến trình vật chất sâu đậm. Nó tham dự rất nhiều vào các tiến trình của cánh hoa thứ hai, vì tình yêu người khác phần lớn là ham muốn đối với người khác (đặc biệt là về tính dục)—dù người ta kỳ vọng rằng ảnh hưởng của Mars sẽ dần dần nhường chỗ cho một số tiến trình mang tính Venus khi sự khai mở tiếp tục. |
|
270. We might say that magnetic Venus would make possible some of the first human groupings. They would come to be valued as fulfilling primitive community needs. People need other people (even if only to fulfill instinctual needs) and magnetic Venus would induce this gathering together in relative harmony. |
270. Chúng ta có thể nói rằng Venus từ tính làm cho một số sự tụ họp đầu tiên của con người trở nên khả hữu. Chúng sẽ được xem là có giá trị vì đáp ứng những nhu cầu cộng đồng nguyên thủy. Con người cần những con người khác (dù chỉ để thỏa mãn những nhu cầu bản năng) và Venus từ tính sẽ tạo ra sự tụ họp này trong sự hài hòa tương đối. |
|
271. Venus’ relation to Libra is related to the formation of primitive community, with emphasis upon the possibility of harmony and cooperation in community and not merely Martian aggressiveness and competition. |
271. Mối liên hệ của Venus với Libra gắn với sự hình thành cộng đồng nguyên thủy, nhấn mạnh khả năng hài hòa và hợp tác trong cộng đồng chứ không chỉ là tính hiếu chiến và cạnh tranh kiểu Martian. |
|
272. Earth as a planet closely associated with Taurus continues to be emphasized, for the desires of second petal individuals (especially during the early part of the unfoldment of this petal) is for that which is earthy, obvious, tangible (i.e., sensorily revealed) and close at hand. During later stages of unfoldment, it can be hypothesized that astrality became of importance and that desire shifted away (to a degree) from that which is revealed by the outer senses. |
272. Earth, như một hành tinh gắn chặt với Taurus, tiếp tục được nhấn mạnh, vì những ham muốn của các cá nhân cánh hoa thứ hai (đặc biệt trong phần đầu của sự khai mở cánh hoa này) là đối với điều gì đó mang tính đất, hiển nhiên, hữu hình (tức được các giác quan mặc khải) và ở gần trong tầm tay. Trong các giai đoạn khai mở sau, có thể giả thuyết rằng tính cảm dục trở nên quan trọng và ham muốn chuyển dịch ra xa (ở một mức độ nào đó) khỏi điều được mặc khải bởi các giác quan bên ngoài. |
|
273. It seems important to note that there are still many people on our planet who have not yet fully unfolded the second petal (the unfoldment of which covers what we loosely call the “Atlantean” period of human development). So we must not conceive of second petal processes as being entirely primitive. |
273. Dường như điều quan trọng cần lưu ý là vẫn còn nhiều người trên hành tinh chúng ta chưa khai mở hoàn toàn cánh hoa thứ hai (sự khai mở của nó bao trùm điều mà chúng ta gọi một cách khái quát là thời kỳ “Atlantis” trong sự phát triển của nhân loại). Vì vậy, chúng ta không được hình dung các tiến trình của cánh hoa thứ hai là hoàn toàn nguyên thủy. |
|
274. Desire does become more refined as the second petal continues to open and Venus shows her truer colors. |
274. Quả thật, dục vọng trở nên tinh luyện hơn khi cánh hoa thứ hai tiếp tục khai mở và Sao Kim biểu lộ những sắc thái chân thực hơn của nó. |
|
275. From this perspective, the sign Sagittarius enters, reorienting desire from a strictly physical preoccupation to higher and wider possibilities. |
275. Từ góc nhìn này, dấu hiệu hoàng đạo Nhân Mã xuất hiện, định hướng lại dục vọng từ một mối bận tâm thuần túy hồng trần sang những khả năng cao hơn và rộng lớn hơn. |
|
276. Sagittarius (indicating the Centaur), we remember, can be very much a sign of animal man, but by the time the true Atlantean period is reached, the human being is ‘lifting his sites’ and envisioning that which is more than the physical body can provide. |
276. Chúng ta nhớ rằng Nhân Mã (biểu thị Nhân Mã) có thể rất là một dấu hiệu hoàng đạo của người thú, nhưng đến khi thời kỳ Atlantis đích thực đạt tới, con người đang “nâng tầm ngắm của mình lên” và hình dung điều gì đó vượt quá những gì thể xác có thể cung cấp. |
|
277. Let us examine the rays which would have been prominent in times when physical relationships were so important and when the love of self (i.e., desire for the fulfillment of one’s own desires) was beginning to be transformed into the love of others. |
277. Chúng ta hãy khảo sát các cung hẳn đã nổi trội trong những thời kỳ mà các quan hệ hồng trần quan trọng đến thế và khi tình yêu bản thân (tức là dục vọng muốn thỏa mãn những ham muốn riêng của mình) đang bắt đầu được chuyển đổi thành tình yêu đối với người khác. |
|
278. Certainly, the sixth ray begins to come into prominence, for it is ray that rules the astral body, and during the huge expanse over which this petal is opened, the astral body becomes an important center of focus. |
278. Chắc chắn, cung sáu bắt đầu trở nên nổi bật, vì đó là cung cai quản thể cảm dục, và trong suốt khoảng thời gian vô cùng rộng lớn mà cánh hoa này được khai mở, thể cảm dục trở thành một trung tâm tập chú quan trọng. |
|
279. In relation to this petal, we cannot reasonably say that kama manas comes into very full expression because the manasic aspect of the man is relatively quiescent. |
279. Liên quan đến cánh hoa này, chúng ta không thể nói một cách hợp lý rằng trí-cảm đi vào biểu lộ thật đầy đủ, bởi vì phương diện manas của con người còn tương đối tĩnh lặng. |
|
280. We would, however, find the man beginning to desire something other than his own physical satisfaction and beginning to love something other than himself. |
280. Tuy nhiên, chúng ta sẽ thấy con người bắt đầu ham muốn điều gì đó ngoài sự thỏa mãn hồng trần của riêng mình và bắt đầu yêu điều gì đó ngoài chính mình. |
|
281. Taurus, we know brings in the fourth ray and so we would find the beginning of the struggle between opposing desires of which the fourth ray is the representative. |
281. Chúng ta biết rằng Kim Ngưu mang vào cung bốn, và vì thế chúng ta sẽ thấy sự khởi đầu của cuộc đấu tranh giữa những dục vọng đối nghịch mà cung bốn là đại diện. |
|
282. We are speaking of the second petal and so, to some small extent (because of numerical affinity) the second ray must be involved—at least in a general sense. We have already noted that it is not possible for an individual before the stage of spiritual aspirant to have a personality on the second ray, but then, at this period, there would be no personality in expression (though it is suggested that in a latent and interior sense, the personal ray would, at least, exist). |
282. Chúng ta đang nói về cánh hoa thứ hai, và vì vậy, ở một mức độ nhỏ nào đó (do sự tương hợp về số), cung hai hẳn phải có liên quan—ít nhất theo nghĩa tổng quát. Chúng ta đã lưu ý rằng một cá nhân trước giai đoạn người chí nguyện tinh thần thì không thể có phàm ngã thuộc cung hai, nhưng vào thời kỳ này sẽ không có phàm ngã nào đang biểu lộ (dù có gợi ý rằng theo nghĩa tiềm ẩn và nội tại, cung phàm ngã ít nhất vẫn tồn tại). |
|
283. Yet the Law of Attraction comes under the second ray, and it is at this point that the Law of Attraction begins to work through a more intense manner through the astral body. |
283. Tuy nhiên, Định luật Hấp Dẫn thuộc cung hai, và chính tại điểm này Định luật Hấp Dẫn bắt đầu hoạt động mãnh liệt hơn qua thể cảm dục. |
|
284. With regard to the chakras involved in second petal functioning, the emphasis upon the base of the spine continues, but there is extra emphasis upon the sacral center (physical desire between human beings) and also on the solar plexus center (the seat of the desire life). |
284. Về các luân xa liên quan đến hoạt động của cánh hoa thứ hai, sự nhấn mạnh vào đáy cột sống vẫn tiếp tục, nhưng có thêm sự nhấn mạnh vào trung tâm xương cùng (dục vọng hồng trần giữa con người) và cả trung tâm tùng thái dương (nơi ngự của đời sống dục vọng). |
|
285. We know to what extent Taurus (in its more primitive expressions) is associated with sexual expression and with the desire nature (both before this desire nature has developed into the aspirational nature and afterwards). |
285. Chúng ta biết Kim Ngưu, trong những biểu lộ nguyên thủy hơn của nó, gắn liền đến mức nào với sự biểu lộ tính dục và với bản chất dục vọng (cả trước khi bản chất dục vọng này phát triển thành bản chất chí nguyện lẫn sau đó). |
|
286. Those egoic lotuses with two petals open are said to be “Lotuses of Passion and Desire”. |
286. Những Hoa Sen Chân Ngã có hai cánh hoa mở được gọi là “Hoa Sen của Đam Mê và Dục Vọng”. |
|
287. |
287. |
|
3. The Petal of Sacrifice for the physical plane. |
3. Cánh Hoa Hi Sinh cho cõi hồng trần. |
|
288. This is the third petal of the third or knowledge tier. It relates to first ray just as the first petal relates to the third ray and the second to the second ray. All of these rays are to be considered as subrays of the third ray which rules the third tier as a whole. |
288. Đây là cánh hoa thứ ba của vòng ba hay vòng tri thức. Nó liên hệ với cung một cũng như cánh hoa thứ nhất liên hệ với cung ba và cánh hoa thứ hai với cung hai. Tất cả các cung này phải được xem là những cung phụ của cung ba, cung cai quản toàn bộ vòng ba. |
|
289. We should recall at this point that Mars, generically, rules all three knowledge petals, as Venus rules all three love petals and Mercury all three sacrifice petals. |
289. Tại điểm này, chúng ta nên nhớ rằng Sao Hỏa, theo nghĩa tổng quát, cai quản cả ba cánh hoa tri thức, cũng như Sao Kim cai quản cả ba cánh hoa bác ái và Sao Thủy cai quản cả ba cánh hoa hi sinh. |
|
290. From the perspective of the synthesizing planets, we could say that Saturn generically rules the tier of knowledge petals, Neptune the tier of love petals and Uranus the tier of sacrifice petals. When we speak of this kind of rulership, we are not speaking of the expression of the very highest characteristics of these synthesizing planets. |
290. Từ góc nhìn của các hành tinh tổng hợp, chúng ta có thể nói rằng Sao Thổ, theo nghĩa tổng quát, cai quản vòng cánh hoa tri thức, Sao Hải Vương cai quản vòng cánh hoa bác ái, và Sao Thiên Vương cai quản vòng cánh hoa hi sinh. Khi nói về loại quyền cai quản này, chúng ta không nói đến sự biểu lộ của những đặc tính cao nhất của các hành tinh tổng hợp này. |
|
291. There is no hard and fast rule here and always there are overlaps. All of the signs and planets are contributing their energy to every process in the development of man over his very long history. The emphasis changes, however, at different points in the developmental process. |
291. Ở đây không có quy luật cứng nhắc nào, và luôn luôn có sự chồng lấn. Mọi dấu hiệu hoàng đạo và hành tinh đều đang đóng góp năng lượng của chúng vào mọi tiến trình trong sự phát triển của con người suốt lịch sử rất dài của y. Tuy nhiên, sự nhấn mạnh thay đổi tại những điểm khác nhau trong tiến trình phát triển. |
|
This unfoldment is brought about through the driving force of circumstances, and not of free will. |
Sự khai mở này được mang lại nhờ mãnh lực thúc đẩy của hoàn cảnh, chứ không phải của ý chí tự do. |
|
292. What energies come to mind when one thinks of the “driving force of circumstance”? Saturn is certain, as Saturn with its strong third ray represents circumstance (that which ‘stands around’, i.e., is peripheral as the third ray suggests) and the “driving force” of the first ray (correlated with the sacrifice petals in general, since the first ray is always associated with the sacrificial aspect of divinity). |
292. Những năng lượng nào xuất hiện trong tâm trí khi người ta nghĩ đến “mãnh lực thúc đẩy của hoàn cảnh”? Chắc chắn là Sao Thổ, vì Sao Thổ với cung ba mạnh mẽ của nó tượng trưng cho hoàn cảnh (điều “đứng quanh”, tức là ở ngoại vi như cung ba gợi ý) và “mãnh lực thúc đẩy” của cung một (tương quan với các cánh hoa hi sinh nói chung, vì cung một luôn gắn với phương diện hi sinh của thiên tính). |
|
293. We are looking for the forces of compulsion (since free will is not involved) and our thought centers on both Saturn and Pluto (planets through which the first ray in its forcing or compelling aspect is expressed). |
293. Chúng ta đang tìm những mãnh lực cưỡng bách (vì ý chí tự do không can dự), và tư tưởng của chúng ta tập trung vào cả Sao Thổ lẫn Sao Diêm Vương (những hành tinh qua đó cung một được biểu lộ trong phương diện cưỡng ép hay cưỡng bách của nó). |
|
294. In a moment we will be more systematic about the energies involved in third petal processes, but for the moment we will simply list what comes to mind as related. |
294. Chỉ trong chốc lát nữa, chúng ta sẽ có hệ thống hơn về các năng lượng liên quan đến những tiến trình của cánh hoa thứ ba, nhưng hiện giờ chúng ta chỉ đơn giản liệt kê những gì xuất hiện trong tâm trí như có liên hệ. |
|
It is the offering up of the physical body upon the altar of desire—low desire to begin with, but aspiration towards the end, though still desire. |
Đó là sự dâng hiến thể xác lên bàn thờ của dục vọng—lúc đầu là dục vọng thấp, nhưng về cuối là khát vọng, dù vẫn còn là dục vọng. |
|
295. The development of the second petal takes place over millions of years, so the words “to begin with” and “towards the end” can be separated by a vast span of time. |
295. Sự phát triển của cánh hoa thứ hai diễn ra qua hàng triệu năm, vì vậy những từ “lúc đầu” và “về cuối” có thể cách nhau bởi một khoảng thời gian mênh mông. |
|
296. The physical body is represented principally by Mars and the Moon. Under the processes of Saturn, both tendencies (Martian and Lunar) and the physical body they represent are sacrificed to a larger process. |
296. Thể xác được biểu trưng chủ yếu bởi Sao Hỏa và Mặt Trăng. Dưới các tiến trình của Sao Thổ, cả hai khuynh hướng (Hỏa tinh và Nguyệt tinh) cùng thể xác mà chúng biểu trưng đều được hi sinh cho một tiến trình lớn lao hơn. |
|
297. The higher part of Mars is involved here as Mars can generate aspiration, especially after its objectives have been adjusted through exposure to the refining aspect of Venus, experienced in second petal processes. |
297. Phần cao hơn của Sao Hỏa có liên quan ở đây, vì Sao Hỏa có thể tạo ra khát vọng, đặc biệt sau khi các mục tiêu của nó đã được điều chỉnh nhờ tiếp xúc với phương diện tinh luyện của Sao Kim, được kinh nghiệm trong các tiến trình của cánh hoa thứ hai. |
|
298. We are being reminded that in third petal processes desire is not yet transcended; it has not yet become real love in any significant sense. |
298. Chúng ta được nhắc rằng trong các tiến trình của cánh hoa thứ ba, dục vọng vẫn chưa được siêu vượt; nó vẫn chưa trở thành tình yêu đích thực theo bất kỳ nghĩa đáng kể nào. |
|
299. There is a constellation called “The Altar”. This constellation is found in Sagittarius and is reasonably associated with its second decanate of that sign. In the “Picture Book of the Heavens”, an offering is being placed upon the Altar; it is the speared form of Lupus the Wolf. This offering suggests the physical body. |
299. Có một chòm sao gọi là “Bàn Thờ”. Chòm sao này nằm trong Nhân Mã và hợp lý mà nói có liên hệ với thập độ thứ hai của dấu hiệu hoàng đạo ấy. Trong “Picture Book of the Heavens”, một lễ vật đang được đặt lên Bàn Thờ; đó là hình thể bị đâm của Lupus, Con Sói. Lễ vật này gợi ý thể xác. |
|
300. DK is suggesting that although selfish love may have characterized life as very much focussed on the systemic physical plane, by the time the third petal is developing, some degree of aspiration is in process. The quality of desires is being elevated and there is aspiration towards mental development and acquisition. |
300. Chân sư DK đang gợi ý rằng mặc dù tình yêu ích kỷ có thể đã đặc trưng cho đời sống vốn rất tập trung vào cõi hồng trần của hệ mặt trời, nhưng đến khi cánh hoa thứ ba đang phát triển, một mức độ khát vọng nào đó đã bắt đầu. Phẩm tính của các dục vọng đang được nâng cao, và có khát vọng hướng tới sự phát triển và thủ đắc trí tuệ. |
|
301. We must not suppose that simply because the first petal accords with the physical-etheric body, the second with the astral body and the third with the mental body, that physical development stops when astral development begins or that astral development stops when mental development begins. The lower vehicle continues to be developed even as the process for developing the next higher vehicle is set in motion. The principal of overlap is operative in all evolutionary processes. |
301. Chúng ta không được giả định rằng chỉ vì cánh hoa thứ nhất tương ứng với thể xác-dĩ thái, cánh hoa thứ hai với thể cảm dục và cánh hoa thứ ba với thể trí, mà sự phát triển hồng trần dừng lại khi sự phát triển cảm dục bắt đầu, hay sự phát triển cảm dục dừng lại khi sự phát triển trí tuệ bắt đầu. Vận cụ thấp hơn vẫn tiếp tục được phát triển ngay cả khi tiến trình phát triển vận cụ cao hơn kế tiếp được khởi động. Nguyên lý chồng lấn hoạt động trong mọi tiến trình tiến hoá. |
|
As man in the early stages of his evolution is polarised on the physical, much of this is undergone unconsciously and without any realisation of what is being consummated, |
Vì con người trong những giai đoạn đầu của sự tiến hoá của y phân cực trên phương diện hồng trần, phần lớn điều này được trải qua một cách vô thức và không có bất kỳ sự chứng nghiệm nào về điều đang được hoàn tất, |
|
302. We are reminded that the polarization of consciousness during first tier stages of development is still largely physical. (It is the third tier numbering from the center to the periphery and the first tier if we number from the periphery to the center.) Some degree of astral polarization enters as well during second petal processes. But it is only very much later in the developmental process (even though third petal processes focuses to a degree on the mind) that we can say that polarisation has really become mental. In fact, true mental polarisation is said to occur only between the second and third initiations. This mean that many actively mental people are not considered (from the occult perspective) “mentally polarized”. |
302. Chúng ta được nhắc rằng sự phân cực của tâm thức trong những giai đoạn phát triển của vòng thứ nhất vẫn phần lớn là hồng trần. (Đó là vòng thứ ba nếu đếm từ trung tâm ra ngoại vi, và là vòng thứ nhất nếu đếm từ ngoại vi vào trung tâm.) Một mức độ phân cực cảm dục nào đó cũng đi vào trong các tiến trình của cánh hoa thứ hai. Nhưng chỉ rất lâu về sau trong tiến trình phát triển (dù các tiến trình của cánh hoa thứ ba có tập trung phần nào vào trí tuệ) chúng ta mới có thể nói rằng sự phân cực thực sự đã trở thành trí tuệ. Thật ra, sự phân cực trí tuệ đích thực được nói là chỉ xảy ra giữa lần điểm đạo thứ hai và lần điểm đạo thứ ba. Điều này có nghĩa là nhiều người hoạt động trí tuệ tích cực không được xem là “phân cực trí tuệ” theo quan điểm huyền bí học. |
|
but the result in the causal body is seen in a twofold increase of heat or of activity: |
nhưng kết quả trong thể nguyên nhân được thấy trong sự gia tăng nhiệt hay hoạt động theo nhị phân: |
|
303. While the personality is unfolding, so is the causal body—through its petals and through the members of the atomic triangle which are contained within the periphery of the causal body. |
303. Trong khi phàm ngã đang khai mở, thể nguyên nhân cũng vậy—qua các cánh hoa của nó và qua các thành phần của tam giác nguyên tử nằm trong chu vi nhân thể. |
|
304. DK must be speaking of a time of consummation when the twofold increase in heat can be noticed. |
304. Chân sư DK hẳn đang nói về một thời điểm hoàn tất khi sự gia tăng nhiệt nhị phân có thể được nhận thấy. |
|
The physical permanent atom becomes radioactive or a radiant point of fire. |
Nguyên tử trường tồn hồng trần trở nên phóng xạ hay thành một điểm lửa rực sáng. |
|
305. It is clear that the petals in the first tier are tied to or associated with principally the physical permanent atom. There may be further development of the physical permanent atom as the remainder of the petals unfold, but by the time the third petal of the knowledge tier has unfolded, the physical permanent atom is highly stimulated. |
305. Rõ ràng là các cánh hoa trong vòng thứ nhất gắn liền hay liên kết chủ yếu với nguyên tử trường tồn hồng trần. Có thể có sự phát triển thêm của nguyên tử trường tồn hồng trần khi các cánh hoa còn lại khai mở, nhưng đến khi cánh hoa thứ ba của vòng tri thức đã khai mở, nguyên tử trường tồn hồng trần được kích thích rất mạnh. |
|
The lower three petals become vibrant and begin to unfold until fully developed. |
Ba cánh hoa thấp trở nên rung động và bắt đầu khai mở cho đến khi phát triển đầy đủ. |
|
306. Unfoldment precedes full development: |
306. Sự khai mở đi trước sự phát triển đầy đủ: |
|
307. We may look at the process of the opening of the petals as followed: |
307. Chúng ta có thể nhìn tiến trình mở các cánh hoa như sau: |
|
a. Stimulation |
a. Kích thích |
|
b. Organization |
b. Tổ chức |
|
c. Unfoldment/opening |
c. Khai mở/mở ra |
|
d. Openness or full development |
d. Sự mở trọn hay phát triển đầy đủ |
|
308. Following the counter clockwise mode of assigning zodiacal signs to the petals, the sign to be studied is Gemini. Gemini always signifies duality and, so often, mentality. There is no mental process (in fact) unless there is a dualism in consciousness—in fact a triplicity: the thinker, the thought and that which is the means of thought. |
308. Theo cách gán các dấu hiệu hoàng đạo cho các cánh hoa theo chiều ngược kim đồng hồ, dấu hiệu hoàng đạo cần được nghiên cứu là Song Tử. Song Tử luôn luôn biểu thị nhị nguyên tính và rất thường là trí tuệ. Thực ra, không có tiến trình trí tuệ nào nếu không có một tính nhị nguyên trong tâm thức—thật ra là một bộ ba: người tư tưởng, tư tưởng và cái là phương tiện của tư tưởng. |
|
309. The third petal signifies the power to begin developing the concrete mind. When this petal opens we have the man who can think. He would have moved out of the category of “Lotuses of passion and desire”—those in which the second petal is in full flower and whose attention is turned to the third. |
309. Cánh hoa thứ ba biểu thị năng lực bắt đầu phát triển trí cụ thể. Khi cánh hoa này mở ra, chúng ta có con người có thể suy nghĩ. Y hẳn đã ra khỏi loại “Hoa Sen của đam mê và dục vọng”—những người mà cánh hoa thứ hai đang nở trọn và sự chú ý của họ hướng về cánh hoa thứ ba. |
|
310. During the unfoldment of the third petal, the individual may still be largely under the sway of kama-manas, but its power will be lessening at that petal becomes more fully open. Much, however, will depend upon the personality ray (and especially, the soul ray) of the individual. These rays guide processes unconsciously to the man possessing them. |
310. Trong thời gian khai mở cánh hoa thứ ba, cá nhân vẫn có thể phần lớn còn dưới sự chi phối của trí-cảm, nhưng quyền lực của nó sẽ giảm dần khi cánh hoa ấy mở đầy đủ hơn. Tuy nhiên, многое sẽ tùy thuộc vào cung phàm ngã (và đặc biệt là cung linh hồn) của cá nhân. Những cung này hướng dẫn các tiến trình một cách vô thức đối với con người sở hữu chúng. |
|
311. Since mentality and astrality are so minimal in first petal processes, individuals focussed in first petal unfoldment cannot be considered kama-manasic. Those passing through the experience of the first part of the second petal are largely kamic, but those passing through the experience of the later part of the second petal can be considered to express kama-manasically. Mind began to enter in the Atlantean period (and the second petal correlates with the Atlantean phase of consciousness). |
311. Vì trí tuệ và cảm dục quá ít ỏi trong các tiến trình của cánh hoa thứ nhất, những cá nhân tập trung trong sự khai mở cánh hoa thứ nhất không thể được xem là trí-cảm. Những người đang đi qua kinh nghiệm của phần đầu cánh hoa thứ hai phần lớn là cảm dục, nhưng những người đi qua kinh nghiệm của phần sau cánh hoa thứ hai có thể được xem là biểu lộ theo cách trí-cảm. Trí tuệ bắt đầu đi vào trong thời kỳ Atlantis (và cánh hoa thứ hai tương quan với pha tâm thức Atlantis). |
|
312. If we consider the zodiacally clockwise manner of understanding the petals, the sign Capricorn would be assigned to the third petal of the knowledge tier or, should we being with Aries, then Aquarius. |
312. Nếu chúng ta xét theo cách hiểu các cánh hoa theo chiều kim đồng hồ của hoàng đạo, thì dấu hiệu hoàng đạo Ma Kết sẽ được gán cho cánh hoa thứ ba của vòng tri thức, hoặc nếu chúng ta bắt đầu với Bạch Dương, thì là Bảo Bình. |
|
313. Capricorn with its ruler Saturn is much associated with the concrete mind and with the process of sacrifice—especially compulsory sacrifice under the Law. We all know of the forcing, regimenting qualities found in the Capricorn individual. We might say that a measure of Capricornian reality (which depends upon the power to think—at least to a degree—is entering the consciousness). |
313. Ma Kết với chủ tinh của nó là Sao Thổ gắn rất nhiều với trí cụ thể và với tiến trình hi sinh—đặc biệt là sự hi sinh bắt buộc dưới Định luật. Tất cả chúng ta đều biết những phẩm tính cưỡng ép, khuôn phép nơi cá nhân Ma Kết. Chúng ta có thể nói rằng một mức độ thực tại Ma Kết (phụ thuộc vào năng lực suy nghĩ—ít nhất ở một mức độ nào đó) đang đi vào tâm thức. |
|
314. Should Aquarius characterize this petal (as would be the case if we began with Aries), Aquarius is an air sign and is easily associated with mentality. The higher Aquarian qualities would not be in evidence, but the beginning of the ability to ‘put things together in the mind’ would demonstrate. |
314. Nếu Bảo Bình đặc trưng cho cánh hoa này (như sẽ là trường hợp nếu chúng ta bắt đầu với Bạch Dương), thì Bảo Bình là một dấu hiệu hành khí và dễ dàng được liên kết với trí tuệ. Những phẩm tính Bảo Bình cao hơn sẽ chưa biểu lộ, nhưng sự khởi đầu của khả năng “ghép nối mọi thứ lại trong trí” sẽ được chứng tỏ. |
|
315. The kind of sacrifice experienced is not self-originated but “at the mercy of circumstance”, and very much the result of group pressure. In this way, Aquarius could be seen as somewhat involved in the process. |
315. Loại hi sinh được kinh nghiệm không phải do tự thân khởi phát mà là “phó mặc cho hoàn cảnh”, và phần lớn là kết quả của áp lực nhóm. Theo cách này, Bảo Bình có thể được xem là phần nào có liên quan đến tiến trình ấy. |
|
316. We recall that the earth signs can be reasonably associated with the knowledge tier, since this tier concerns consciousness upon the physical plane (even if that consciousness is at times emotionally driven) and, also, the physical permanent atom. Even in relation to the process for the mental petal of the knowledge tier, there is an offering up of the physical body. |
316. Chúng ta nhớ rằng các dấu hiệu hành thổ có thể được liên kết hợp lý với vòng tri thức, vì vòng này liên quan đến tâm thức trên cõi hồng trần (dù tâm thức ấy đôi khi bị cảm xúc thúc đẩy) và cũng liên quan đến nguyên tử trường tồn hồng trần. Ngay cả trong liên hệ với tiến trình dành cho cánh hoa trí tuệ của vòng tri thức, vẫn có sự dâng hiến thể xác. |
|
317. Capricorn was associated with the first petal (the most physical), Taurus with the second petal (in which desire and emotion become significant developmental factors) and now Virgo will be assigned to the third petal. |
317. Ma Kết được liên kết với cánh hoa thứ nhất (mang tính hồng trần nhất), Kim Ngưu với cánh hoa thứ hai (trong đó dục vọng và cảm xúc trở thành những yếu tố phát triển quan trọng), và giờ đây Xử Nữ sẽ được gán cho cánh hoa thứ ba. |
|
318. Virgo (in the early stages of human development) is experienced as a very materialistic sign but also hold much promise for the development of mentality. The rays of Virgo in relation to the previous solar system are hypothesized as the third and the seventh. |
318. Xử Nữ (trong những giai đoạn đầu của sự phát triển nhân loại) được kinh nghiệm như một dấu hiệu hoàng đạo rất duy vật nhưng cũng chứa đựng nhiều hứa hẹn cho sự phát triển trí tuệ. Các cung của Xử Nữ trong liên hệ với hệ mặt trời trước được giả định là cung ba và cung bảy. |
|
319. The beginning of mental discrimination is therefore to be expected in the process of third petal development. We remember that Virgo is ruled by the very mental planet, Mercury. |
319. Vì vậy, sự khởi đầu của phân biện trí tuệ là điều có thể chờ đợi trong tiến trình phát triển cánh hoa thứ ba. Chúng ta nhớ rằng Xử Nữ được cai quản bởi hành tinh rất trí tuệ là Sao Thủy. |
|
320. With Virgo enters the possibility of the manipulation of the environment and the possibility of distancing oneself, somewhat, from the imperative urges of driving desire. |
320. Cùng với Xử Nữ đi vào khả năng thao tác môi trường và khả năng phần nào tách rời chính mình khỏi những thôi thúc mệnh lệnh của dục vọng thúc bách. |
|
321. From the planetary perspective, Mars and Saturn are constants throughout the unfoldment of the first tier of petals. |
321. Từ góc nhìn hành tinh, Sao Hỏa và Sao Thổ là những hằng số xuyên suốt sự khai mở của vòng cánh hoa thứ nhất. |
|
322. When we speak of the “driving force of circumstances”, Mars and Saturn feature strongly, for Mars drives, and circumstance (and the fate arising from its pressures) pertain to Saturn. |
322. Khi chúng ta nói về “mãnh lực thúc đẩy của hoàn cảnh”, Sao Hỏa và Sao Thổ nổi bật mạnh mẽ, vì Sao Hỏa thúc đẩy, còn hoàn cảnh (và số phận phát sinh từ các áp lực của nó) thuộc về Sao Thổ. |
|
323. If there is a sacrifice of the physical body, then the planet of death (Pluto) will be somewhat involved. |
323. Nếu có sự hi sinh của thể xác, thì hành tinh của cái chết (Sao Diêm Vương) sẽ phần nào có liên quan. |
|
324. Probably, in relation to all the sacrifice petals and the sacrifice tier altogether, Pisces, the sign of sacrifice should be considered as present. |
324. Có lẽ, liên quan đến tất cả các cánh hoa hi sinh và toàn bộ vòng hi sinh, Song Ngư, dấu hiệu hoàng đạo của sự hi sinh, nên được xem là hiện diện. |
|
325. Pluto, of course, is the esoteric and hierarchical ruler of Pisces. |
325. Dĩ nhiên, Sao Diêm Vương là chủ tinh nội môn và huyền giai của Song Ngư. |
|
326. We cannot forget Mercury as the exoteric ruler of both Gemini and Virgo (two signs reasonably associated with petal three of the knowledge tier). |
326. Chúng ta không thể quên Sao Thủy như chủ tinh ngoại môn của cả Song Tử lẫn Xử Nữ (hai dấu hiệu hoàng đạo được liên kết hợp lý với cánh hoa thứ ba của vòng tri thức). |
|
327. In this instance, Mercury is the planet of the concrete mind and gives new understanding and control over the environment (the quite material environment with which the individual of growing intelligence, finds himself surrounded). |
327. Trong trường hợp này, Sao Thủy là hành tinh của trí cụ thể và mang lại sự thấu hiểu mới cùng sự kiểm soát đối với môi trường (môi trường khá vật chất mà cá nhân có trí thông minh đang tăng trưởng thấy mình bị bao quanh). |
|
328. What of the role of Venus? We cannot dismiss it from the developmental processes of any of the petals of the first tier (even though its association with the second tier is definite). Venus was instrumental in the individualization process; first tier developments followed immediately upon individualization. Venus contributes to the heightening sense of values (promoted by the second petal) when physical self-centeredness became desire for other things. The magnetic attraction to “people, places and things” of greater or lesser values contributes to a growing sense of discrimination which will eventually become the mental discrimination of the third petal. In relation to the third petal, Venus is very must the bestower of the fifth ray with its relation to the concrete mind. The development of the concrete mentality is Venusian as well as Mercurian (and Saturnian and Martian). Through Venus the mind begins to be magnetized by and select objectives of a more refined nature. |
328. Còn vai trò của Sao Kim thì sao? Chúng ta không thể gạt nó ra khỏi các tiến trình phát triển của bất kỳ cánh hoa nào của vòng thứ nhất (dù sự liên kết của nó với vòng thứ hai là xác định). Sao Kim đã đóng vai trò công cụ trong tiến trình biệt ngã hóa; những phát triển của vòng thứ nhất theo ngay sau sự biệt ngã hóa. Sao Kim góp phần vào việc nâng cao ý thức về giá trị (được cánh hoa thứ hai thúc đẩy) khi sự tập trung vào bản thân về mặt hồng trần trở thành dục vọng đối với những điều khác. Sự hấp dẫn từ tính đối với “người, nơi chốn và sự vật” có giá trị lớn hay nhỏ góp phần vào một ý thức phân biện đang tăng trưởng, cuối cùng sẽ trở thành sự phân biện trí tuệ của cánh hoa thứ ba. Liên quan đến cánh hoa thứ ba, Sao Kim rất đúng là đấng ban phát cung năm với mối liên hệ của nó với trí cụ thể. Sự phát triển của trí tuệ cụ thể vừa mang tính Kim tinh vừa mang tính Thủy tinh (và cả Thổ tinh lẫn Hỏa tinh). Qua Sao Kim, trí bắt đầu bị từ hóa bởi và chọn lựa những mục tiêu có bản chất tinh luyện hơn. |
|
329. From the ray perspective we will always have the first ray where a sacrifice petal is found, but since it is the third petal and has to do with the development of mentality, the third ray must be included as must the fifth ray of concrete mind. Mercury in its lower aspect is closely associated with the third ray and in its higher aspects, with the fifth (as well as the third—in a very high sense). |
329. Từ góc nhìn cung, chúng ta sẽ luôn có cung một ở nơi nào có một cánh hoa hi sinh, nhưng vì đây là cánh hoa thứ ba và liên quan đến sự phát triển trí tuệ, cung ba phải được bao gồm, cũng như cung năm của trí cụ thể. Sao Thủy trong phương diện thấp của nó gắn chặt với cung ba, và trong các phương diện cao hơn, với cung năm (cũng như cung ba—theo một nghĩa rất cao). |
|
330. We also recall the following, which hints at a ray important for third petal processes. |
330. Chúng ta cũng nhớ điều sau đây, điều gợi ý về một cung quan trọng đối với các tiến trình của cánh hoa thứ ba. |
|
It is the offering up of the physical body upon the altar of desire—low desire to begin with, but aspiration towards the end, though still desire. |
Đó là sự dâng hiến thể xác lên bàn thờ của dục vọng—lúc đầu là dục vọng thấp, nhưng về cuối là khát vọng, dù vẫn còn là dục vọng. |
|
331. The sixth ray is associated directly with desire and is the ray of Mars (at least exoterically). Ara the Altar is in the second decanate of Sagittarius (as we have noted)—a decanate, interestingly, ruled by Mars. There is a sacrificial aspect of Mars related to high courage. At this stage of development, the sacrifice may be relatively unconscious, but it represents a preparation for the type of sacrifice which will be both conscious and willing. |
331. Cung sáu gắn trực tiếp với dục vọng và là cung của Sao Hỏa (ít nhất theo ngoại môn). Ara, Bàn Thờ, nằm trong thập độ thứ hai của Nhân Mã (như chúng ta đã lưu ý)—một thập độ, điều thú vị là, do Sao Hỏa cai quản. Có một phương diện hi sinh của Sao Hỏa liên hệ với lòng can đảm cao cả. Ở giai đoạn phát triển này, sự hi sinh có thể tương đối vô thức, nhưng nó tượng trưng cho một sự chuẩn bị cho loại hi sinh sẽ vừa có ý thức vừa tự nguyện. |
|
332. From the chakric perspective we have the sacral center as the seat of the mental elemental (EP I 304). The sacral center is, in once sense (since it provides for the birth (i.e., manifestation) of the physical body) a peculiarly earthy chakra, and will naturally be associated with all the petals of the knowledge tier (which, we recall, we have associated with earth signs.) |
332. Từ góc nhìn luân xa, chúng ta có trung tâm xương cùng là nơi ngự của hành khí trí tuệ (EP I 304). Trung tâm xương cùng, theo một nghĩa nào đó (vì nó cung cấp cho sự sinh ra, tức là sự biểu hiện, của thể xác), là một luân xa mang tính thổ đặc biệt, và tự nhiên sẽ được liên kết với mọi cánh hoa của vòng tri thức (mà chúng ta nhớ là đã liên kết với các dấu hiệu hành thổ.) |
|
333. The sacral center is related to developing mentality; mentality increases in its development as sacral energies are elevated to the throat center. |
333. Trung tâm xương cùng liên hệ với trí tuệ đang phát triển; trí tuệ gia tăng trong sự phát triển của nó khi các năng lượng xương cùng được nâng lên trung tâm cổ họng. |
|
334. We must naturally include the solar plexus center in relation to the third petal since desire (and even aspiration) is prominent in the third petal of the knowledge tier. The physical body is offered up on the altar of desire. This means that the man begins to care more for what he desires (or for that towards which he aspires) than for the fate of the physical body per se. |
334. Dĩ nhiên, chúng ta phải bao gồm trung tâm tùng thái dương trong liên hệ với cánh hoa thứ ba, vì dục vọng (và ngay cả khát vọng) nổi bật trong cánh hoa thứ ba của vòng tri thức. Thể xác được dâng lên bàn thờ của dục vọng. Điều này có nghĩa là con người bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến điều y ham muốn (hay điều mà y khát vọng hướng tới) hơn là số phận của chính thể xác ấy. |
|
335. We can see that some of the sacrifices entailed in the process of war relate to this third petal. |
335. Chúng ta có thể thấy rằng một số sự hi sinh bao hàm trong tiến trình chiến tranh có liên hệ với cánh hoa thứ ba này. |
|
336. One more center has some initial development here and that is the throat center which can be closely related to both Mercury and Saturn (and to the Earth as well). |
336. Còn một trung tâm nữa có sự phát triển ban đầu ở đây, đó là trung tâm cổ họng, có thể được liên hệ chặt chẽ với cả Sao Thủy lẫn Sao Thổ (và cả Trái Đất nữa). |
|
337. “Primary Lotuses” (cf. TCF 841) are those largely from another planet, who have come to Earth for development of the second petal. They already have the third petal developed (and they are intelligent). A number or the intelligent but emotionally unresponsive scientists are found in their ranks. This substantiates that considerable development can accompany the unfoldment of the third petal. |
337. “Những Hoa Sen Sơ Cấp” (x. TCF 841) là những người phần lớn đến từ một hành tinh khác, đã đến Trái Đất để phát triển cánh hoa thứ hai. Họ đã có cánh hoa thứ ba phát triển (và họ thông minh). Một số nhà khoa học thông minh nhưng không đáp ứng về mặt cảm xúc được tìm thấy trong hàng ngũ của họ. Điều này xác nhận rằng sự phát triển đáng kể có thể đi kèm với sự khai mở của cánh hoa thứ ba. |
|
338. If there is growing and even considerable intelligence, then the throat center must also be unfolded. Mercury (prominent through Gemini and Virgo) and Saturn (prominent through Capricorn—with its initial emphasis upon concrete mentality) are both planets related to the throat center. Earth is, for average man, the throat center ruler(cf. EA 517). Earth is somehow connected with all the Earth signs, for all of them emphasize materiality (as does the Earth). |
338. Nếu có trí thông minh đang tăng trưởng và thậm chí đáng kể, thì trung tâm cổ họng cũng hẳn phải được khai mở. Sao Thủy (nổi bật qua Song Tử và Xử Nữ) và Sao Thổ (nổi bật qua Ma Kết—với sự nhấn mạnh ban đầu vào trí tuệ cụ thể) đều là những hành tinh liên hệ với trung tâm cổ họng. Đối với con người trung bình, Trái Đất là chủ tinh của trung tâm cổ họng (x. EA 517). Trái Đất bằng cách nào đó có liên hệ với mọi dấu hiệu hành thổ, vì tất cả chúng đều nhấn mạnh tính vật chất (như Trái Đất vậy). |
|
339. The mind provides a degree of detachment and vision. It is possible to abstract to a degree from the kama-manasic mind as the third petal continues to unfold and, on the basis of this abstraction, sacrifice becomes possible (even if the larger spiritual reasons for the sacrifice are not known by the human unit who is more sacrificed than sacrificing). |
339. Trí mang lại một mức độ tách rời và tầm nhìn. Có thể trừu xuất ở một mức độ nào đó khỏi trí-cảm khi cánh hoa thứ ba tiếp tục khai mở, và trên cơ sở sự trừu xuất này, sự hi sinh trở nên khả hữu (dù những lý do tinh thần lớn lao hơn cho sự hi sinh không được đơn vị nhân loại biết đến, kẻ bị hi sinh nhiều hơn là đang hi sinh). |
|
340. We can see that many human units are caught up in this type of sacrifice. Circumstance forces the sacrifice, and the units who are sacrificed do not fully understand the reason. “Ours is not to reason why, ours is but to do or die.” |
340. Chúng ta có thể thấy rằng nhiều đơn vị nhân loại bị cuốn vào loại hi sinh này. Hoàn cảnh cưỡng bách sự hi sinh, và những đơn vị bị hi sinh không hoàn toàn hiểu lý do. “Việc của chúng ta không phải là lý giải tại sao, việc của chúng ta chỉ là hành động hoặc chết.” |
|
341. In any case, when one a superior principle or aspect of the human constitution (for instance kama or desire) is expressed with sufficient intensity, it always results in the sacrifice of a lesser principle or aspect of the human constitution (for instance the physical-etheric body and prana). |
341. Dù sao đi nữa, khi một nguyên khí hay phương diện cao hơn của cấu tạo con người (chẳng hạn kama hay dục vọng) được biểu lộ với cường độ đủ mạnh, điều đó luôn dẫn đến sự hi sinh của một nguyên khí hay phương diện thấp hơn của cấu tạo con người (chẳng hạn thể xác-dĩ thái và prana). |
|
342. Later the mind, when intensely exercised, will lead to the sacrifice of emotionality and later still, the intuition when exercised will see the mentality sacrificed. |
342. Về sau, trí, khi được vận dụng mãnh liệt, sẽ dẫn đến sự hi sinh của tính cảm xúc, và về sau nữa, trực giác khi được vận dụng sẽ khiến trí tuệ bị hi sinh. |
|
343. When pondering these thoughts we should remember that “sacrifice” means to “make sacred”, so the sacrifice of the lower principle is not necessarily its elimination, but rather its elevation through sacredization. Of course, some habitual patterns associated with the principle to be sacrificed will be eliminated. |
343. Khi suy ngẫm những tư tưởng này, chúng ta nên nhớ rằng “hi sinh” có nghĩa là “làm cho thiêng liêng”, vì vậy sự hi sinh nguyên khí thấp hơn không nhất thiết là sự loại bỏ nó, mà đúng hơn là sự nâng cao nó qua sự thiêng liêng hóa. Dĩ nhiên, một số mô hình thói quen gắn với nguyên khí cần được hi sinh sẽ bị loại bỏ. |
|
344. All aspects of man find their true position through this process of sacrifice of the lesser to the greater. From another perspective the opposite process is also true and there comes a time with the greater is sacrificed for the elevation of the lesser. As the Church would have it (somewhat distorting the truth), “Christ died for our sins.” |
344. Mọi phương diện của con người đều tìm được vị trí chân chính của chúng qua tiến trình hi sinh cái nhỏ hơn cho cái lớn hơn này. Từ một góc nhìn khác, tiến trình ngược lại cũng đúng, và sẽ đến lúc cái lớn hơn được hi sinh để nâng cao cái nhỏ hơn. Theo cách Giáo hội trình bày (có phần bóp méo chân lý), “Đức Christ đã chết vì tội lỗi của chúng ta.” |
|
345. We now leave the knowledge tier of petals temporarily, to consider a more advanced tier—the tier love petals. |
345. Giờ đây, chúng ta tạm rời vòng cánh hoa tri thức để xét đến một vòng tiến bộ hơn—vòng cánh hoa bác ái. |
|
b. Second Group of Petals—Love Petals: |
b. Nhóm Cánh Hoa Thứ Hai—Các Cánh Hoa Bác Ái: |
|
346. We remarked earlier that although these petals are called love petals, they have much more to do with desire than love. |
346. Trước đây, chúng ta đã nhận xét rằng mặc dù các cánh hoa này được gọi là cánh hoa bác ái, chúng liên quan đến dục vọng nhiều hơn là bác ái. |
|
347. Whereas the knowledge petals open under the symbolic influence of the number 700, the love petals open under the influence of 70. |
347. Trong khi các cánh hoa tri thức khai mở dưới ảnh hưởng tượng trưng của số 700, thì các cánh hoa bác ái khai mở dưới ảnh hưởng của số 70. |
|
348. Can we say then that the love petals open ten times faster than the knowledge petals? |
348. Vậy chúng ta có thể nói rằng các cánh hoa bác ái khai mở nhanh hơn các cánh hoa tri thức mười lần chăng? |
|
349. And can the sacrifice petals, symbolically associated with the number 7, be said to open ten times faster than the love petals and, thus, one hundred times faster than the knowledge petals. |
349. Và liệu các cánh hoa hi sinh, được liên kết tượng trưng với số 7, có thể được nói là khai mở nhanh hơn các cánh hoa bác ái mười lần, và như vậy nhanh hơn các cánh hoa tri thức một trăm lần chăng. |
|
350. It would be convenient if one could make this case, but the proportion will be, I think, found too small. At least this will be the case for the sacrifice petals which could open, perhaps, 3000 times faster than the knowledge petals. This figure is highly speculative and extremely approximative, and based on the idea that perhaps thirty lives can be found between the first and third initiations (less are possible) and perhaps 6000 years (a high figure) is required to make this progress. We remember that (symbolically at least) thirty years separated the birth of the Initiate Jesus from the time the Christ demonstrated (through Him) the meaning of the second initiation. The second, third and fourth initiations were taken within three years. Each year can be considered, symbolically, as a life time. There is much that can be learned from these particular figures, but the learning must be indicative and symbolic rather than be taken literally. |
350. Sẽ thật thuận tiện nếu có thể lập luận như vậy, nhưng theo tôi, tỉ lệ ấy sẽ được thấy là quá nhỏ. Ít nhất điều này sẽ đúng đối với các cánh hoa hi sinh, vốn có thể khai mở nhanh hơn các cánh hoa tri thức khoảng 3000 lần. Con số này mang tính suy đoán rất cao và cực kỳ gần đúng, dựa trên ý tưởng rằng có lẽ có thể tìm thấy khoảng ba mươi kiếp sống giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ ba (ít hơn cũng có thể), và có lẽ cần khoảng 6000 năm (một con số cao) để đạt được sự tiến bộ này. Chúng ta nhớ rằng (ít nhất theo nghĩa tượng trưng) ba mươi năm đã cách biệt sự ra đời của điểm đạo đồ Jesus với thời điểm Đức Christ chứng minh (qua Ông) ý nghĩa của lần điểm đạo thứ hai. Lần điểm đạo thứ hai, thứ ba và thứ tư đã được tiếp nhận trong vòng ba năm. Mỗi năm có thể được xem, theo nghĩa tượng trưng, như một đời người. Có nhiều điều có thể học được từ những con số đặc thù này, nhưng sự học hỏi ấy phải mang tính chỉ dẫn và tượng trưng hơn là được hiểu theo nghĩa đen. |
|
351. If the six thousand year figure is taken, then the individual living some thirty lives between the first and second initiation (and some ‘three’ lives between the second and fourth) would incarnate, on the average every two hundred years. |
351. Nếu lấy con số sáu nghìn năm, thì cá nhân sống khoảng ba mươi kiếp giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai (và khoảng “ba” kiếp giữa lần điểm đạo thứ hai và lần điểm đạo thứ tư) sẽ lâm phàm trung bình mỗi hai trăm năm một lần. |
|
352. A rough division of 18,000,000 yrs/6000 yrs = 3000. Does it make any sense to say that the sacrifice tier opens some three thousand times faster than the knowledge tier? |
352. Một phép chia gần đúng 18.000.000 năm/6000 năm = 3000. Có hợp lý không khi nói rằng vòng hi sinh khai mở nhanh hơn vòng tri thức khoảng ba nghìn lần? |
|
353. How long does it take for the first tier to open? Eighteen million years have passed since the individualization of man on the Earth-chain and still there are many who have not opened it. Others have moved faster. So, in dividing eighteen million by six thousand (a very speculative period required for the opening of sacrifice tier) a comparison is begin set up which can reveal (however crudely) the degree to which the time required for the knowledge tier to open is greater than the time required for the sacrifice tier to open. |
353. Vòng thứ nhất mất bao lâu để khai mở? Mười tám triệu năm đã trôi qua kể từ sự biệt ngã hóa của con người trên Dãy Địa Cầu mà vẫn còn nhiều người chưa khai mở nó. Những người khác đã tiến nhanh hơn. Vì vậy, khi chia mười tám triệu cho sáu nghìn (một giai đoạn rất suy đoán cần cho sự khai mở của vòng hi sinh), một sự so sánh đang được thiết lập, có thể cho thấy (dù rất thô sơ) mức độ mà thời gian cần để vòng tri thức khai mở lớn hơn thời gian cần để vòng hi sinh khai mở. |
|
354. Even if these figures prove to be erroneous (and they almost certainly are—intended only to be indicative of a very general proportion), I think it will be found that the sacrifice petals open much, very much, faster than the knowledge petals and considerably faster than the love petals. |
354. Ngay cả nếu những con số này hóa ra sai lầm (và gần như chắc chắn là vậy—chỉ nhằm chỉ ra một tỉ lệ rất tổng quát), tôi nghĩ người ta sẽ thấy rằng các cánh hoa hi sinh khai mở nhanh hơn các cánh hoa tri thức rất, rất nhiều, và nhanh hơn đáng kể so với các cánh hoa bác ái. |
|
1. The Petal of Knowledge, for the astral plane; |
1. Cánh Hoa Tri Thức, dành cho cõi cảm dục; |
|
355. This sentence (mentioning the astral plane) confirms that the love petals are petals in which the principle of desire plays a very significant role. |
355. Câu này (nhắc đến cõi cảm dục) xác nhận rằng các cánh hoa bác ái là những cánh hoa trong đó nguyên khí dục vọng giữ một vai trò rất đáng kể. |
|
356. We are dealing here with the fourth petal over all. |
356. Ở đây, chúng ta đang xét cánh hoa thứ tư tính chung. |
|
357. We will deal first with energies which the words of description bring to mind and later will attempt to be more systematic. |
357. Trước hết, chúng ta sẽ bàn đến những năng lượng mà các từ mô tả gợi lên trong tâm trí, rồi sau đó sẽ cố gắng có hệ thống hơn. |
|
unfoldment is brought about by the conscious balancing of the pairs of opposites, |
sự khai mở được mang lại nhờ sự có ý thức quân bình các cặp đối cực, |
|
358. Dualism is suggested and the work of the constellation Libra in relation to the astral plane. |
358. Ở đây gợi ra tính nhị nguyên và công việc của chòm sao Thiên Bình trong liên hệ với cõi cảm dục. |
|
359. The power of the conscious mind is also suggested because the balancing is not just a feeling process (which of course is one way to achieve balance), but seems to suggest the application of mentality. |
359. Quyền năng của trí có ý thức cũng được gợi ra, bởi vì sự quân bình không chỉ là một tiến trình cảm nhận (dĩ nhiên đó là một cách để đạt quân bình), mà dường như gợi ý việc áp dụng trí tuệ. |
|
360. We remember that a significant degree of mentality has been built with the opening of the third petal, even if the unfoldment of the fourth petal begins before the third petal is completely opened. |
360. Chúng ta nhớ rằng một mức độ trí tuệ đáng kể đã được xây dựng cùng với sự mở ra của cánh hoa thứ ba, dù sự khai mở của cánh hoa thứ tư bắt đầu trước khi cánh hoa thứ ba hoàn toàn mở ra. |
|
and the gradual utilisation of the Law of Attraction and Repulsion. |
và sự vận dụng dần dần Định luật Hấp Dẫn và Định luật Đẩy Lùi. |
|
361. Here we have the second aspect of divinity in demonstration as it is related to the second cosmic law: The Law of Attraction and Repulsion. |
361. Ở đây, chúng ta có phương diện thứ hai của thiên tính đang được biểu lộ khi nó liên hệ với định luật vũ trụ thứ hai: Định luật Hấp Dẫn và Định luật Đẩy Lùi. |
|
362. Since this petal is the fourth we would expect to find much conflict between the dualities. |
362. Vì cánh hoa này là cánh thứ tư nên chúng ta sẽ chờ đợi thấy nhiều xung đột giữa các nhị nguyên tính. |
|
363. Numerologically the numbers two and four are resonant. |
363. Về mặt số học, các số hai và bốn cộng hưởng với nhau. |
|
The man passes out of the Hall of Ignorance where, from the egoic point of view, he works blindly |
Con người đi ra khỏi Phòng Vô Minh, nơi mà, từ quan điểm chân ngã, y hoạt động một cách mù quáng |
|
364. The implication is that throughout his experience within the three knowledge petals, the evolving man has been passing through the Hall of Ignorance. |
364. Hàm ý ở đây là trong suốt kinh nghiệm của y bên trong ba cánh hoa tri thức, con người đang tiến hoá đã đi xuyên qua Phòng Vô Minh. |
|
and begins to appreciate the effects of his physical plane life; by a realisation of his essential duality he begins to comprehend causes. |
và bắt đầu trân trọng các hiệu quả của đời sống cõi hồng trần của y; nhờ chứng nghiệm về nhị nguyên tính cốt yếu của mình, y bắt đầu thấu hiểu các nguyên nhân. |
|
365. What is the essential duality of the man? Will it not be his personality and soul? It would seem that at this point in his development, he begins to realize (probably faintly and towards the end of fourth petal development) that he has an inner, higher or soul nature. |
365. Nhị nguyên tính cốt yếu của con người là gì? Chẳng phải đó sẽ là phàm ngã và linh hồn của y sao? Có vẻ như ở điểm này trong sự phát triển của mình, y bắt đầu nhận ra (có lẽ còn mơ hồ và về cuối giai đoạn phát triển cánh hoa thứ tư) rằng y có một bản chất nội tại, cao hơn hay bản chất linh hồn. |
|
366. From another perspective, the mentality seems accentuated in this petal. The causes which the man begins to appreciate are not simply those which are at work between things in the world of effects, but which originate from a world beyond the world of effects. |
366. Từ một góc nhìn khác, trí tuệ dường như được nhấn mạnh trong cánh hoa này. Những nguyên nhân mà con người bắt đầu trân trọng không chỉ đơn giản là những nguyên nhân đang vận hành giữa các sự vật trong thế giới của các hiệu quả, mà còn là những nguyên nhân phát sinh từ một thế giới vượt ngoài thế giới của các hiệu quả. |
|
367. Immediately, the fourth ray, Mercury, the fifth ray, Venus and Libra come to mind, and we will elaborate below their significance in relation to the fourth petal. |
367. Ngay lập tức, cung bốn, Sao Thủy, cung năm, Sao Kim và Thiên Bình hiện lên trong tâm trí, và dưới đây chúng ta sẽ khai triển ý nghĩa của chúng liên hệ với cánh hoa thứ tư. |
|
368. Using the counter clockwise method of assigning zodiacal signs to the petals, the fourth sign Cancer appears in relation to the fourth petal. |
368. Dùng phương pháp gán các dấu hiệu hoàng đạo cho các cánh hoa theo chiều ngược kim đồng hồ, dấu hiệu thứ tư là Cự Giải xuất hiện trong liên hệ với cánh hoa thứ tư. |
|
369. Cancer, like all water signs, may be considered one of the rulers of the astral plane, the plane on which dual forces are found in conflict under the influence of the Law of Attraction and Repulsion. |
369. Cự Giải, như mọi dấu hiệu hành thủy, có thể được xem là một trong những chủ tinh của cõi cảm dục, cõi mà trên đó các mãnh lực nhị nguyên được thấy đang xung đột dưới ảnh hưởng của Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. |
|
370. Cancer is also much associated with incarnation upon the physical plane (for it is the fourth sign and the dense physical plane is the fourth or lowest vibratory level among the four vibratory strata of the personality). |
370. Cự Giải cũng gắn bó nhiều với việc lâm phàm trên cõi hồng trần (vì đó là dấu hiệu thứ tư và cõi hồng trần đậm đặc là cấp độ rung động thứ tư hay thấp nhất trong bốn tầng rung động của phàm ngã). |
|
371. Cancer is ruled by the Moon which is directly correlated with the dense physical body (which is not a principle). |
371. Cự Giải được cai quản bởi Mặt Trăng, vốn tương quan trực tiếp với thể xác đậm đặc (vốn không phải là một nguyên khí). |
|
372. In any case, it is suggested that the man begins to appreciate the nature of incarnated life, with all its limitations and its distinction from something higher and more subtle. |
372. Dù sao đi nữa, điều được gợi ý là con người bắt đầu trân trọng bản chất của đời sống lâm phàm, với tất cả những giới hạn của nó và sự khác biệt của nó với một điều gì đó cao hơn và tinh tế hơn. |
|
373. The number four is also a number particular associated with man, and the human kingdom, the fourth kingdom. Man as personality (something more than man as merely mind) begins to emerge here through fourth petal processes. The process of blending and fusing his many aspects is set in motion. The fourth petal does not represent the full integration-in-power of the fifth petal, but it is the beginning of making of man an integrated being. |
373. Số bốn cũng là một con số đặc biệt gắn với con người, và với giới nhân loại, giới thứ tư. Con người như phàm ngã (một điều gì đó hơn là con người chỉ như trí tuệ đơn thuần) bắt đầu xuất hiện ở đây qua các tiến trình của cánh hoa thứ tư. Tiến trình pha trộn và dung hợp nhiều phương diện của y được khởi động. Cánh hoa thứ tư không biểu thị sự tích hợp trọn vẹn—trong quyền năng của cánh hoa thứ năm, nhưng nó là sự khởi đầu của việc làm cho con người trở thành một hữu thể tích hợp. |
|
374. We remember that it takes intelligence to engage in the integration process. Fourth petal processes are based on intelligence and utilize intelligence. |
374. Chúng ta nhớ rằng cần có trí thông minh để tham gia vào tiến trình tích hợp. Các tiến trình của cánh hoa thứ tư dựa trên trí thông minh và sử dụng trí thông minh. |
|
375. One of the rays coming through Cancer is the third Ray of Active Intelligence. |
375. Một trong các cung đi qua Cự Giải là cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động. |
|
376. If we begin with Pisces on the clockwise wheel we shall have Sagittarius representing the fourth petal. Sagittarius is also a sign of integration, making of many the one, especially through the process of alignment. The “straight arrow” of Sagittarius symbolizes the ‘straight alignment’ which must be achieved. |
376. Nếu chúng ta bắt đầu với Song Ngư trên bánh xe theo chiều kim đồng hồ, chúng ta sẽ có Nhân Mã biểu thị cánh hoa thứ tư. Nhân Mã cũng là một dấu hiệu của sự tích hợp, làm cho cái nhiều thành cái một, đặc biệt qua tiến trình chỉnh hợp. “Mũi tên thẳng” của Nhân Mã tượng trưng cho “sự chỉnh hợp thẳng” phải được đạt tới. |
|
377. In this sign we find the reorientation of desire, in this case towards something more subtle than material effects. |
377. Trong dấu hiệu này, chúng ta thấy sự tái định hướng của dục vọng, trong trường hợp này hướng về một điều gì đó tinh tế hơn các hiệu quả vật chất. |
|
378. The two signs Cancer and Sagittarius are intimately associated with the Creative Hierarchy of Lunar Lords. The personality, itself, is a fourfold elemental lord, and this particular petal has much to do with the emergence of these four elementals as forces to be reckoned with. |
378. Hai dấu hiệu Cự Giải và Nhân Mã gắn bó mật thiết với Huyền Giai Sáng Tạo của các nguyệt tinh quân. Bản thân phàm ngã là một tinh quân hành khí tứ phân, và cánh hoa đặc biệt này liên hệ rất nhiều đến sự xuất hiện của bốn hành khí này như những mãnh lực cần được tính đến. |
|
379. The number four, we remember, can be a very material number. Four represents the square, of the foundational, material basis of life. |
379. Chúng ta nhớ rằng số bốn, có thể là một con số rất vật chất. Bốn biểu thị hình vuông, của nền tảng vật chất căn bản của đời sống. |
|
380. If we begin the clockwise wheel with Aries, we shall arrive at Capricorn, the polar opposite of Cancer, and also a sign of structural integration. Under the sway of logical, realistic Capricorn, the effects of life upon the physical plane can increasingly be appreciated. |
380. Nếu chúng ta bắt đầu bánh xe theo chiều kim đồng hồ với Bạch Dương, chúng ta sẽ đến Ma Kết, cực đối nghịch của Cự Giải, và cũng là một dấu hiệu của sự tích hợp cấu trúc. Dưới ảnh hưởng của Ma Kết logic và thực tế, các hiệu quả của đời sống trên cõi hồng trần có thể ngày càng được trân trọng. |
|
381. Water is definitely associated with emotionality and fire can also be thus associated—to a degree. It is harder to associate an earth sign like Capricorn with the love petals, but water imagery can definitely be associated with Capricorn the “Sea Goat”—the goat with the tail of a fish. |
381. Nước chắc chắn gắn với tính cảm xúc và lửa cũng có thể được gắn như vậy—ở một mức độ nào đó. Khó hơn để gắn một dấu hiệu hành thổ như Ma Kết với các cánh hoa bác ái, nhưng hình tượng nước chắc chắn có thể gắn với Ma Kết, “Dê Biển”—con dê có đuôi cá. |
|
382. Capricorn is also the “one who crosses the water”, and is thus moving into greater mentality—a process required as the personality becomes integrated. |
382. Ma Kết cũng là “kẻ vượt qua nước”, và do đó đang tiến vào trí tuệ lớn hơn—một tiến trình cần thiết khi phàm ngã trở nên tích hợp. |
|
383. From the Capricornian perspective, the man passing through fourth petal processes is no longer the “earth-bound soul” (cf. EA 333), but has begun to climb toward the pinnacle or summit of personality integration (a partially Capricornian task). |
383. Từ góc nhìn Ma Kết, con người đi qua các tiến trình của cánh hoa thứ tư không còn là “linh hồn bị trói buộc vào đất” (x. EA 333), mà đã bắt đầu leo lên hướng tới đỉnh cao hay chóp đỉnh của sự tích hợp phàm ngã (một nhiệm vụ phần nào mang tính Ma Kết). |
|
384. Continuing our zodiacal associations with the fourth petal, we have already mentioned Libra—the sign through which the “pairs of opposites” are balanced. We might say that the forces of the mental plane are balanced against those of the astral plane. The mental life will tend towards the apprehension of a factor deeper within the human being while the astral life is still full of desire (though also of aspiration for elevation). And yet it may be assumed that the power of Neptune associated with Cancer will begin to refine the astral life so that it becomes more integrated within the personality and more serviceable to the personality objective. |
384. Tiếp tục các liên hệ hoàng đạo của chúng ta với cánh hoa thứ tư, chúng ta đã nhắc đến Thiên Bình—dấu hiệu mà qua đó “các cặp đối nghịch” được quân bình. Chúng ta có thể nói rằng các mãnh lực của cõi trí được quân bình với các mãnh lực của cõi cảm dục. Đời sống trí tuệ sẽ có xu hướng hướng tới sự nắm bắt một yếu tố sâu hơn bên trong con người trong khi đời sống cảm dục vẫn còn đầy dục vọng (dù cũng có khát vọng vươn lên). Tuy nhiên, có thể giả định rằng quyền năng của Sao Hải Vương gắn với Cự Giải sẽ bắt đầu tinh luyện đời sống cảm dục để nó trở nên tích hợp hơn bên trong phàm ngã và hữu dụng hơn cho mục tiêu của phàm ngã. |
|
385. In order to be balanced, the pairs of opposites have to be recognized. This is the function of the sign Gemini which can reasonably be thought to have influence here. |
385. Để được quân bình, các cặp đối nghịch phải được nhận biết. Đây là chức năng của dấu hiệu Song Tử, dấu hiệu có thể được xem là có ảnh hưởng ở đây một cách hợp lý. |
|
386. According to our theory, the three water signs are to be associated with the three love petals just as the three earth signs were associated with the three knowledge petals. Again, Cancer seems that one of the water signs which has the best fit with fourth petal processes. We recall that in earlier times (earlier than fourth petal developmental processes) it was said of the undeveloped Cancerian human being, “the blind unit is lost”. At this point of development, however, some of the blindness is lifted. The man has entered the Hall of Learning. We remember the strong mental focus of the previous petal, the third. |
386. Theo lý thuyết của chúng ta, ba dấu hiệu hành thủy được gắn với ba cánh hoa bác ái cũng như ba dấu hiệu hành thổ đã được gắn với ba cánh hoa tri thức. Một lần nữa, Cự Giải dường như là dấu hiệu hành thủy phù hợp nhất với các tiến trình của cánh hoa thứ tư. Chúng ta nhớ rằng vào những thời kỳ trước đây (sớm hơn các tiến trình phát triển của cánh hoa thứ tư), người ta đã nói về con người Cự Giải chưa phát triển rằng, “đơn vị mù lòa bị lạc mất”. Tuy nhiên, ở điểm phát triển này, một phần sự mù lòa được cất bỏ. Con người đã bước vào Phòng Hiểu Biết. Chúng ta nhớ sự tập trung trí tuệ mạnh mẽ của cánh hoa trước đó, cánh thứ ba. |
|
387. It is not that mentality is dropped when entering fourth petal processes. If anything, it is enhanced. We may remember that mental Mercury is not only to be associated with the third ray but very much with the fourth. The fourth petal, the fourth ray and Mercury are all allied, and contribute to the recognition of and balancing of the pairs of opposites. |
387. Không phải là trí tuệ bị bỏ lại khi bước vào các tiến trình của cánh hoa thứ tư. Nếu có gì, nó còn được tăng cường. Chúng ta có thể nhớ rằng Sao Thủy trí tuệ không chỉ được gắn với cung ba mà còn rất nhiều với cung bốn. Cánh hoa thứ tư, cung bốn và Sao Thủy đều liên minh với nhau, và góp phần vào việc nhận biết và quân bình các cặp đối nghịch. |
|
388. Mercury (a fourth ray planet from the soul perspective) is a planet of discrimination. Interestingly, the faculty of discrimination is associated with the fourth level of the mental plane; four is definitely a mental number. |
388. Sao Thủy (một hành tinh cung bốn từ góc nhìn của linh hồn) là một hành tinh của sự phân biện. Điều thú vị là năng lực phân biện được gắn với cấp độ thứ tư của cõi trí; bốn chắc chắn là một con số trí tuệ. |
|
389. We would expect a degree of harmonization to occur in relation to this petal, as a number of factors are to be “brought under one roof” (Cancer) and reconciled (fourth ray, through Mercury). Fourth ray forces work through the Moon (ruler of Cancer) to reconcile the various forces gathered by Cancer. |
389. Chúng ta sẽ chờ đợi một mức độ hài hoà hoá xảy ra liên hệ với cánh hoa này, vì một số yếu tố phải được “đưa về dưới một mái nhà” (Cự Giải) và được hoà giải (cung bốn, qua Sao Thủy). Các mãnh lực cung bốn hoạt động qua Mặt Trăng (chủ tinh của Cự Giải) để hoà giải các mãnh lực khác nhau được Cự Giải tập hợp lại. |
|
390. From the planetary perspective, Mercury is very important. Mercury is a significant planet of integration bringing the factors to be integrated (gathered by Cancer) into relationship and contributing to their harmonization. |
390. Từ góc nhìn hành tinh, Sao Thủy rất quan trọng. Sao Thủy là một hành tinh tích hợp có ý nghĩa, đưa các yếu tố cần được tích hợp (được Cự Giải tập hợp) vào tương quan và góp phần vào sự hài hoà hoá của chúng. |
|
391. The appreciation of the effects of physical plane life is facilitated, as well, by Mercury. Venus is the paramount planet of “appreciation” and contributes to the ability to evaluate and assess. |
391. Việc trân trọng các hiệu quả của đời sống cõi hồng trần cũng được Sao Thủy tạo điều kiện. Sao Kim là hành tinh tối quan trọng của “sự trân trọng” và góp phần vào khả năng đánh giá và thẩm định. |
|
392. The fourth ray Moon as ruler of Cancer and symbol of the fourfold personality is to be contrasted with fourth ray Mercury. Mercury represents is the intelligent fourfold personality and the Moon represents the instinctual tendencies within the personality which are recognized at this point as pulling in a direction different from that of mentality and greater “light”. The gradually integrating personality (subject in its higher aspects to the sense of a growing inner light) is working against the strictly lunar tendencies. |
392. Mặt Trăng cung bốn với tư cách chủ tinh của Cự Giải và biểu tượng của phàm ngã tứ phân cần được đối chiếu với Sao Thủy cung bốn. Sao Thủy biểu thị phàm ngã tứ phân thông minh còn Mặt Trăng biểu thị các khuynh hướng bản năng bên trong phàm ngã, những khuynh hướng ở điểm này được nhận ra là đang kéo theo một hướng khác với hướng của trí tuệ và của “ánh sáng” lớn hơn. Phàm ngã đang dần tích hợp (trong các phương diện cao hơn của nó, chịu sự chi phối của cảm nhận về một nội quang đang tăng trưởng) đang hoạt động chống lại các khuynh hướng thuần nguyệt. |
|
393. We might say that the fourth petal is the last of the petals to be associated more with the Moon than with the Sun. Interestingly (in the ninefold structure of petals) we have a division between four below (petal one to four) and five above (petal five to nine). Four in this respect is a lunar number, and five a solar number (associated with the fifth kingdom—a significantly ‘solar’ kingdom, associated with the ‘Sun-bearing’ Solar Angels). |
393. Chúng ta có thể nói rằng cánh hoa thứ tư là cánh cuối cùng trong các cánh hoa còn được gắn nhiều hơn với Mặt Trăng hơn là với Mặt Trời. Điều thú vị là (trong cấu trúc chín cánh hoa) chúng ta có một sự phân chia giữa bốn ở dưới (cánh một đến bốn) và năm ở trên (cánh năm đến chín). Xét theo phương diện này, bốn là một con số nguyệt, và năm là một con số thái dương (gắn với giới thứ năm—một giới có ý nghĩa “thái dương”, gắn với các Thái dương Thiên Thần “mang Mặt Trời”). |
|
394. Whenever the process of balancing is found, the planet Saturn (foremost ruler of Libra) is also implicated. We recall that there is a way to associate Capricorn with the fourth petal and so Saturn is doubly emphasized. |
394. Bất cứ khi nào tiến trình quân bình được tìm thấy, hành tinh Sao Thổ (chủ tinh hàng đầu của Thiên Bình) cũng có liên can. Chúng ta nhớ rằng có một cách để gắn Ma Kết với cánh hoa thứ tư và vì vậy Sao Thổ được nhấn mạnh gấp đôi. |
|
395. From a certain perspective, third ray Saturn facilitates the integration of the four personality elementals. Just as Cancer draws a kind of ring-pass-not around the forces of the personality so does ringed Saturn—the planet of the ring-pass-not. |
395. Từ một góc nhìn nào đó, Sao Thổ cung ba tạo điều kiện cho sự tích hợp của bốn hành khí phàm ngã. Cũng như Cự Giải vạch ra một loại vòng-giới-hạn quanh các mãnh lực của phàm ngã, Sao Thổ có vành đai cũng làm như vậy—hành tinh của vòng-giới-hạn. |
|
396. From the glyph of Saturn we see that the glyph of the Moon is part of its construction. Saturn can represent the limited, materialistic personality but also the increasingly intelligent, purposeful and constructive personality. |
396. Từ phù hiệu của Sao Thổ, chúng ta thấy phù hiệu của Mặt Trăng là một phần trong cấu tạo của nó. Sao Thổ có thể biểu thị phàm ngã giới hạn, duy vật, nhưng cũng biểu thị phàm ngã ngày càng thông minh, có mục đích và có tính kiến tạo. |
|
397. If, in third petal processes, a relatively high degree of intelligence could be reached, how much more so under the influence of the fourth petal. But the intelligence associated with the fourth petal is not yet solar as is the intelligence of the fifth. |
397. Nếu trong các tiến trình của cánh hoa thứ ba, một mức độ trí thông minh tương đối cao có thể đạt được, thì dưới ảnh hưởng của cánh hoa thứ tư điều đó còn hơn thế nữa. Nhưng trí thông minh gắn với cánh hoa thứ tư vẫn chưa thái dương như trí thông minh của cánh thứ năm. |
|
398. The third ray is the “Builder of the Foundation” and there is no question that in this fourth petal phase, the personality (the square—based on the number four) is built. Because the fourth petal individual can appreciate “the effects of his physical plane life” that building can occur intelligently. |
398. Cung ba là “Đấng Kiến Tạo của Nền Móng” và không còn nghi ngờ gì rằng trong giai đoạn cánh hoa thứ tư này, phàm ngã (hình vuông—dựa trên số bốn) được xây dựng. Bởi vì cá nhân ở cánh hoa thứ tư có thể trân trọng “các hiệu quả của đời sống cõi hồng trần của y”, việc xây dựng đó có thể diễn ra một cách thông minh. |
|
399. The building process connected with the fourth petal and Cancer is further strengthened by the seven ray of Organization and Magic which also expresses through Cancer. |
399. Tiến trình xây dựng gắn với cánh hoa thứ tư và Cự Giải còn được tăng cường thêm bởi cung bảy của Tổ Chức và huyền thuật, vốn cũng biểu lộ qua Cự Giải. |
|
400. Just as Mars is one of the general rulers of the first tier of petals (and Saturn as well) so Venus is one of the general rulers of the love petals (and Neptune is part of the process). |
400. Cũng như Sao Hỏa là một trong các chủ tinh tổng quát của tầng cánh hoa thứ nhất (và cả Sao Thổ nữa), thì Sao Kim là một trong các chủ tinh tổng quát của các cánh hoa bác ái (và Sao Hải Vương là một phần của tiến trình). |
|
401. Perhaps Neptune is closely related to the fourth petal (as one of the rulers of Cancer). Probably, during this fourth petal phase new levels of astral sensitivity are reached. Neptune is quintessentially the planet of fusion; the fusion of the various constituents of personality as part of the integration process occurs during fourth petal processes. |
401. Có lẽ Sao Hải Vương liên hệ chặt chẽ với cánh hoa thứ tư (như một trong các chủ tinh của Cự Giải). Có lẽ trong giai đoạn cánh hoa thứ tư này, những cấp độ nhạy cảm cảm dục mới được đạt tới. Sao Hải Vương là hành tinh điển hình của sự dung hợp; sự dung hợp các thành phần khác nhau của phàm ngã như một phần của tiến trình tích hợp xảy ra trong các tiến trình của cánh hoa thứ tư. |
|
402. The light continues to grow as man opens one petal after another. As we enter the second tier we are dealing with those petals through the processes of which man will become definitely oriented towards the soul—that spiritual ‘something’ in his nature which promises escape from lunar, material, sense-bound living. In this respect, the influence of Venus makes itself felt. If the fifth ray (analyzing cause and effect) is significant in fourth petal processes, then Venus is as well. |
402. Ánh sáng tiếp tục tăng trưởng khi con người mở hết cánh hoa này đến cánh hoa khác. Khi chúng ta bước vào tầng thứ hai, chúng ta đang đề cập đến những cánh hoa mà qua các tiến trình của chúng con người sẽ trở nên được định hướng rõ rệt về phía linh hồn—“một cái gì đó” tinh thần trong bản chất của y hứa hẹn sự thoát khỏi đời sống nguyệt, vật chất, bị trói buộc vào giác quan. Về phương diện này, ảnh hưởng của Sao Kim tự làm cho mình được cảm nhận. Nếu cung năm (phân tích nguyên nhân và hiệu quả) có ý nghĩa trong các tiến trình của cánh hoa thứ tư, thì Sao Kim cũng vậy. |
|
403. From the ray perspective, the fourth ray has been mentioned—focusing upon the conflict between the constituents of the personality and contributing to the necessity of their harmonization. We recall that the fourth ray is expressed through both Mercury and the Moon. |
403. Từ góc nhìn cung, cung bốn đã được nhắc đến—tập trung vào xung đột giữa các thành phần của phàm ngã và góp phần vào sự cần thiết phải hài hoà hoá chúng. Chúng ta nhớ rằng cung bốn được biểu lộ qua cả Sao Thủy lẫn Mặt Trăng. |
|
404. The fourth ray will surely contribute to the fourth petal process called “realization of [one’s] essential duality”. One way of looking at this essential duality is the contrast between solar and lunar life. |
404. Cung bốn chắc chắn sẽ góp phần vào tiến trình cánh hoa thứ tư được gọi là “chứng nghiệm về nhị nguyên tính cốt yếu [của mình]”. Một cách nhìn nhị nguyên tính cốt yếu này là sự tương phản giữa đời sống thái dương và đời sống nguyệt. |
|
405. Interestingly, in the Labor of Hercules related to the sign Cancer, the Sun (expressing partially through Diana, though more fully through Apollo) and the Moon (expressing through Artemis) are at war. |
405. Điều thú vị là trong Công Trình của Hercules liên hệ với dấu hiệu Cự Giải, Mặt Trời (biểu lộ phần nào qua Diana, dù đầy đủ hơn qua Apollo) và Mặt Trăng (biểu lộ qua Artemis) đang giao chiến. |
|
406. We might presume that the fifth ray continues to develop through the appreciation of the effects of physical plane life. |
406. Chúng ta có thể giả định rằng cung năm tiếp tục phát triển qua sự trân trọng các hiệu quả của đời sống cõi hồng trần. |
|
407. Because Cancer is a strong influence in relation to this petal, the sixth ray of Neptune will be prominent alongside the fourth ray. |
407. Bởi vì Cự Giải là một ảnh hưởng mạnh liên hệ với cánh hoa này, cung sáu của Sao Hải Vương sẽ nổi bật bên cạnh cung bốn. |
|
408. Another aspect of Cancer related to the Law of Attraction and Repulsion is what we might call the ‘Law of Affiliation’. The fourth petal (so closely related to family and the human family as a whole) has to preside over the processes of ‘human grouping’. Group formation is accomplished very much through attraction and repulsion—functioning at this point on a quite personal level. Advances in social living can be presumed at this point of development. |
408. Một phương diện khác của Cự Giải liên hệ với Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi là điều chúng ta có thể gọi là “Định luật Liên Thuộc”. Cánh hoa thứ tư (gắn bó chặt chẽ với gia đình và với toàn thể gia đình nhân loại) phải chủ trì các tiến trình của “sự tụ nhóm nhân loại”. Sự hình thành nhóm được hoàn thành rất nhiều qua hấp dẫn và đẩy lùi—đang hoạt động ở điểm này trên một cấp độ khá cá nhân. Có thể giả định những tiến bộ trong đời sống xã hội ở điểm phát triển này. |
|
409. We are still, however, somewhat in the realm of “mass consciousness” associated with Cancer. Those with this unfoldment proceeding are not yet true individuals—the self-determining individual who really thinks for himself instead of being standardized (Cancer expressing the regimenting seventh ray) emerges through fifth petal processes. |
409. Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn phần nào ở trong lĩnh vực của “tâm thức quần chúng” gắn với Cự Giải. Những người có sự khai mở này đang tiến hành vẫn chưa phải là những cá nhân—cá nhân tự quyết thực sự tự suy nghĩ cho mình thay vì bị tiêu chuẩn hoá (Cự Giải biểu lộ cung bảy có tính kỷ luật hoá) xuất hiện qua các tiến trình của cánh hoa thứ năm. |
|
410. Because the fourth petal is the knowledge petal of the love tier, the rays associated with knowledge must be significant. We have already pointed to the fifth ray, and also to the third which must be important (since it is so closely associated with the sign Cancer as well). The third ray will contribute to the gathering and blending of forces and to the intelligent fusion of the persona. |
410. Bởi vì cánh hoa thứ tư là cánh hoa tri thức của tầng bác ái, các cung gắn với tri thức hẳn phải có ý nghĩa. Chúng ta đã chỉ ra cung năm, và cả cung ba nữa, vốn hẳn phải quan trọng (vì nó cũng gắn rất chặt với dấu hiệu Cự Giải). Cung ba sẽ góp phần vào việc tập hợp và pha trộn các mãnh lực và vào sự dung hợp thông minh của phàm ngã. |
|
411. We have been told that the third ray cannot really express (as a factor independent from its astrological expression) until the human being has reached the stage of real intelligence. In relation to the fourth petal, this is happening. |
411. Chúng ta đã được cho biết rằng cung ba không thể thực sự biểu lộ (như một yếu tố độc lập với biểu lộ chiêm tinh của nó) cho đến khi con người đã đạt tới giai đoạn trí thông minh thực sự. Liên hệ với cánh hoa thứ tư, điều này đang xảy ra. |
|
412. The number four is related to ‘grounding’ upon the fourth plane of personality, the dense physical plane. It is related to all things that stand foursquare. The number seven, as well, is related to establishment upon the physical plane as is the fourth sign Cancer through which the seventh ray is expressed. Seven is a number of integration and the fourth petal is a petal of integration (even if that which is integrated is only the lunar aspect of the personality). There is a solar aspect to the personality; it is ruled by the Sun and confers a strong sense of “I-ness” or ahamkara. This aspect will emerge with the activation of the fifth petal. |
412. Số bốn liên hệ với việc “đặt nền” trên cõi thứ tư của phàm ngã, cõi hồng trần đậm đặc. Nó liên hệ với mọi thứ đứng vững bốn góc. Số bảy cũng vậy, liên hệ với sự thiết lập trên cõi hồng trần, cũng như dấu hiệu thứ tư là Cự Giải, qua đó cung bảy được biểu lộ. Bảy là một con số của sự tích hợp và cánh hoa thứ tư là một cánh hoa của sự tích hợp (dù điều được tích hợp chỉ là phương diện nguyệt của phàm ngã). Có một phương diện thái dương đối với phàm ngã; nó được cai quản bởi Mặt Trời và ban cho một cảm thức mạnh mẽ về “tính Tôi” hay ahamkara. Phương diện này sẽ xuất hiện với sự hoạt hoá của cánh hoa thứ năm. |
|
413. From the chakric perspective the solar plexus center will continue to be important through all love petals, especially if, as proposed, these petals are related to water signs. The astral plane is the plane of water and access to this plane is controlled by the solar plexus center. |
413. Từ góc nhìn luân xa, trung tâm tùng thái dương sẽ tiếp tục quan trọng xuyên suốt mọi cánh hoa bác ái, đặc biệt nếu, như đã đề nghị, các cánh hoa này liên hệ với các dấu hiệu hành thủy. Cõi cảm dục là cõi của nước và sự tiếp cận cõi này được kiểm soát bởi trung tâm tùng thái dương. |
|
414. Within fourth petal processes there is some transcendence of the sacral and base of the spine centers (in relation to their lower functions). The predominantly third ray throat center (which promotes integration of the personality) is becoming influential. The strength of Mercury would signal this, as would the strength of third ray Earth and third ray Saturn. |
414. Trong các tiến trình của cánh hoa thứ tư có một phần siêu vượt trung tâm xương cùng và trung tâm đáy cột sống (liên hệ với các chức năng thấp của chúng). Trung tâm cổ họng chủ yếu thuộc cung ba (thúc đẩy sự tích hợp của phàm ngã) đang trở nên có ảnh hưởng. Sức mạnh của Sao Thủy sẽ báo hiệu điều này, cũng như sức mạnh của Trái Đất cung ba và Sao Thổ cung ba. |
|
415. The throat center (of the three major centers) is particularly associated with personality, and through fourth petal processes the elementals of the personality are brought into an increasingly harmonized, integrated and fused state. Intelligent processes are at work, and let us not forget that Libra, so important in the balancing of the pairs of opposites, distributes (almost exclusively) the third ray—a ray which is also associated with Gemini by numerical affinity. |
415. Trung tâm cổ họng (trong ba trung tâm chính) đặc biệt gắn với phàm ngã, và qua các tiến trình của cánh hoa thứ tư, các hành khí của phàm ngã được đưa vào một trạng thái ngày càng hài hoà, tích hợp và dung hợp. Các tiến trình thông minh đang hoạt động, và chúng ta đừng quên rằng Thiên Bình, rất quan trọng trong việc quân bình các cặp đối nghịch, phân phối (gần như độc quyền) cung ba—một cung cũng gắn với Song Tử bởi sự tương hợp số học. |
|
416. We cannot really say that the heart center has become active in fourth petal processes. The attention is on the growth of personality even if that personality has not yet become dominant and masterful as it well may through fifth petal processes. |
416. Chúng ta không thể thực sự nói rằng trung tâm tim đã trở nên hoạt động trong các tiến trình của cánh hoa thứ tư. Sự chú ý đặt vào sự tăng trưởng của phàm ngã dù phàm ngã ấy vẫn chưa trở nên trội vượt và đầy quyền năng như nó rất có thể sẽ trở nên qua các tiến trình của cánh hoa thứ năm. |
|
417. Heart is solar and in relation to the fourth petal, we are still very much in a world dominated by lunar considerations. But at least the sense of essential duality is increasing. Man is beginning to sense something that lies beyond lunar living even if he is not especially oriented in that direction. |
417. Tim là thái dương và liên hệ với cánh hoa thứ tư, chúng ta vẫn còn rất nhiều trong một thế giới bị chi phối bởi các cân nhắc nguyệt. Nhưng ít nhất cảm thức về nhị nguyên tính cốt yếu đang gia tăng. Con người đang bắt đầu cảm nhận một điều gì đó nằm vượt ngoài đời sống nguyệt dù y chưa đặc biệt được định hướng theo hướng ấy. |
|
2. The Petal of Love for the astral plane; |
2. Cánh Hoa Bác Ái cho cõi cảm dục; |
|
418. Here we have a double emphasis upon the soft line rays. This is one of the most important petals of the nine and may be considered the first of the solar petals. |
418. Ở đây chúng ta có một sự nhấn mạnh kép vào các cung thuộc đường mềm. Đây là một trong những cánh hoa quan trọng nhất trong chín cánh và có thể được xem là cánh hoa thái dương đầu tiên. |
|
419. We will think first of general impressions. |
419. Trước hết chúng ta sẽ nghĩ đến những ấn tượng tổng quát. |
|
unfoldment is brought about through the process of gradually transmuting the love of the subjective nature or of the Self within. |
sự khai mở được mang lại qua tiến trình dần dần chuyển hoá tình thương đối với bản chất chủ quan hay đối với Bản Ngã bên trong. |
|
420. This is perhaps a strange sentence. In occultism, the subjective nature is the soul nature and it is definitely mentioned. It is too early to be speaking of Spirit; the “Self within” must indicate the soul. |
420. Đây có lẽ là một câu lạ. Trong huyền bí học, bản chất chủ quan là bản chất linh hồn và nó chắc chắn được nhắc đến. Còn quá sớm để nói về tinh thần; “Bản Ngã bên trong” hẳn phải chỉ linh hồn. |
|
421. With fourth petal processes the man began to understand that he was an essential duality. Through fifth petal processes he actually begins to know himself as an inner Self, as soul. |
421. Với các tiến trình của cánh hoa thứ tư, con người bắt đầu hiểu rằng y là một nhị nguyên tính cốt yếu. Qua các tiến trình của cánh hoa thứ năm, y thực sự bắt đầu biết mình như một Bản Ngã nội tại, như linh hồn. |
|
422. The sentence of text is worded in an unusual manner. Of what sort of transmutation are we speaking? Usually it is the lower nature that needs transmuting not the higher, and yet here the man is to transmute “the love of the subjective nature or of the Self within”. Is he (as it were) to ‘transmute downwardly’. Is his task similar to that in Rule IV for Applicants—“Let the disciple tend the evocation of the fire and thus keep the wheel revolving”? Is this act of transmutation really a kind of evocation which brings the fire of the inner Self into contact with the gradually integrating personality? This is certainly a possibility and it is hard to imagine what else might be indicated. |
422. Câu trong bản văn được diễn đạt theo một cách khác thường. Chúng ta đang nói đến loại chuyển hoá nào? Thông thường, chính bản chất thấp cần được chuyển hoá chứ không phải bản chất cao, thế mà ở đây con người lại phải chuyển hoá “tình thương đối với bản chất chủ quan hay đối với Bản Ngã bên trong”. Có phải y (nói như vậy) phải “chuyển hoá theo hướng đi xuống” chăng? Nhiệm vụ của y có tương tự như trong quy luật IV cho những người thỉnh cầu—“Hãy để đệ tử chăm lo việc gợi lên lửa và như thế giữ cho bánh xe quay” không? Hành động chuyển hoá này có thực sự là một loại gợi lên, đưa lửa của Bản Ngã bên trong tiếp xúc với phàm ngã đang dần tích hợp không? Đây chắc chắn là một khả năng và khó hình dung còn điều gì khác có thể được hàm ý. |
|
423. Or, if we look for an ‘upward’ transmutation, can the love of the “subjective nature” be the love of the subtle nature? Can we be speaking of the transmutation of the human psyche and its customary ‘loves’ into something higher? This, of course, must be done, but it is not certain that the wording warrants this type of interpretation. |
423. Hoặc, nếu chúng ta tìm một sự chuyển hoá “đi lên”, thì tình thương đối với “bản chất chủ quan” có thể là tình thương đối với bản chất vi tế chăng? Có phải chúng ta đang nói đến sự chuyển hoá tâm lý con người và những “tình yêu” quen thuộc của nó thành một điều gì đó cao hơn chăng? Dĩ nhiên, điều này phải được thực hiện, nhưng không chắc rằng cách diễn đạt ấy cho phép kiểu giải thích này. |
|
424. If we are simply speaking of the orientation of the inner self (whether towards the personality or the soul) the fifth petal process can easily be understood. |
424. Nếu chúng ta chỉ đang nói về sự định hướng của bản ngã bên trong (dù hướng về phàm ngã hay linh hồn) thì tiến trình của cánh hoa thứ năm có thể dễ dàng được hiểu. |
|
This has a dual effect and works through on to the physical plane in many lives of turmoil, |
Điều này có một hiệu quả kép và tác động xuyên xuống cõi hồng trần trong nhiều kiếp sống đầy xáo trộn, |
|
425. When the influence of the Higher Self is brought into contact with the personality, many lives of turmoil are possible. Symbolically, the Sun and the Moon are passing through their first intensive clash. |
425. Khi ảnh hưởng của Bản Ngã Cao Siêu được đưa vào tiếp xúc với phàm nhân, nhiều kiếp sống đầy xáo trộn là điều có thể xảy ra. Về mặt biểu tượng, Mặt Trời và Mặt Trăng đang đi qua cuộc va chạm mãnh liệt đầu tiên của chúng. |
|
426. From another perspective, when the inner, subtle self begins to approach the soul or Higher Self in earnest, turmoil results. |
426. Từ một góc nhìn khác, khi bản ngã nội tại, vi tế bắt đầu tiến gần linh hồn hay Bản Ngã Cao Siêu một cách nghiêm túc, xáo trộn sẽ phát sinh. |
|
of endeavour and of failure as a man strives to turn his attention to the love of the Real. |
của nỗ lực và của thất bại khi con người cố gắng hướng sự chú ý của mình đến tình thương đối với Cái Thực. |
|
427. From the wording of the section of text immediately above, it would seem that the orientation of the inner man who “strives to turn his attention to the love of the Real” is a definite consideration in fifth petal processes. This means that in relation to fifth petal processes is not only a question of how the Higher Self intervenes in the life of the lower man, but how the lower man orients himself towards the soul. |
427. Từ cách diễn đạt của đoạn văn ngay trên, có vẻ như sự định hướng của con người nội tại, kẻ “cố gắng hướng sự chú ý của mình đến tình thương đối với Cái Thực”, là một điều được cân nhắc rõ rệt trong các tiến trình của cánh hoa thứ năm. Điều này có nghĩa là liên hệ với các tiến trình của cánh hoa thứ năm, không chỉ là vấn đề Bản Ngã Cao Siêu can thiệp vào đời sống của phàm nhân như thế nào, mà còn là phàm nhân tự định hướng mình về phía linh hồn như thế nào. |
|
428. Through fifth petal processes man is attempting to “turn his attention to the love of the Real”. He is not only recognizing the Real (which he may have begun to do during the later part of fourth petal processes, but he is attempting to love the Real). |
428. Qua các tiến trình của cánh hoa thứ năm, con người đang cố gắng “hướng sự chú ý của mình đến tình thương đối với Cái Thực”. Y không chỉ nhận biết Cái Thực (điều mà y có thể đã bắt đầu làm trong phần sau của các tiến trình cánh hoa thứ tư), mà y còn đang cố gắng yêu mến Cái Thực). |
|
429. So during fifth petal processes, the Real has become a significant factor in his inner life. A major reorientation has taken place and a process of redemption has begun. |
429. Vì vậy, trong các tiến trình của cánh hoa thứ năm, Cái Thực đã trở thành một yếu tố có ý nghĩa trong đời sống nội tâm của y. Một sự tái định hướng lớn đã diễn ra và một tiến trình cứu chuộc đã bắt đầu. |
|
430. From one point of view this is a kind of “reversal of the wheel”, even though there is a later kind (a final kind) which pertains to the processes which occur between the second and third initiation. |
430. Từ một quan điểm, đây là một loại “đảo ngược bánh xe”, dù vẫn còn một loại về sau (một loại chung cuộc) liên hệ đến các tiến trình xảy ra giữa lần điểm đạo thứ hai và lần điểm đạo thứ ba. |
|
431. The energies and forces symbolized by the Sun and Moon struggle, and the Sun begins to prevail. |
431. Các năng lượng và mãnh lực được biểu tượng hoá bởi Mặt Trời và Mặt Trăng đấu tranh, và Mặt Trời bắt đầu thắng thế. |
|
432. It is during the opening of this fifth petal that the Solar Angel gives its first really conscious attention to the struggling personality. From this point, spiritual evolution can be consciously hastened if the man (the personality) acts correctly and orients himself properly to the “downward gazing soul”. (cf. DINA I 714) |
432. Chính trong lúc cánh hoa thứ năm này mở ra mà Thái dương Thiên Thần lần đầu tiên dành sự chú ý thực sự có ý thức của mình cho phàm ngã đang đấu tranh. Từ điểm này, tiến hoá tinh thần có thể được đẩy nhanh một cách có ý thức nếu con người (phàm ngã) hành động đúng đắn và tự định hướng mình đúng cách đối với “linh hồn đang nhìn xuống”. (x. DINA I 714) |
|
433. We are also told that a man can express as a “genius” once the two petals of the love tier are open. |
433. Chúng ta cũng được cho biết rằng một người có thể biểu lộ như một “thiên tài” một khi hai cánh hoa của tầng bác ái đã mở. |
|
Creative work can be carried forward when two of the “knowledge petals” of the egoic lotus are unfolded. The man can produce, through knowledge and creative energy, something upon the physical plane which will be expressive of the soul’s creative power. When two of the “love petals” are also unfolded, then a genius makes his appearance. This is a technical piece of information for those students who are studying the science of the Ageless Wisdom, but it is of no value to those who do not recognise symbology, or the fact of the higher ego or soul. (ENA 18) |
Công việc sáng tạo có thể được tiếp tục khi hai “cánh hoa tri thức” của hoa sen chân ngã đã khai mở. Con người có thể tạo ra, qua tri thức và năng lượng sáng tạo, một điều gì đó trên cõi hồng trần sẽ biểu lộ quyền năng sáng tạo của linh hồn. Khi hai “cánh hoa bác ái” cũng đã khai mở, thì một thiên tài xuất hiện. Đây là một mẩu thông tin kỹ thuật dành cho những đạo sinh đang nghiên cứu khoa học của Minh Triết Ngàn Đời, nhưng nó không có giá trị gì đối với những ai không nhận ra tính biểu tượng, hay sự kiện về chân ngã cao hơn hay linh hồn. (ENA 18) |
|
434. It is clear that “genius” involves the expression of the “higher ego or soul” and where that expression is missing or insufficient there can be nothing of that which the world recognizes as genius. |
434. Rõ ràng là “thiên tài” bao hàm sự biểu lộ của “chân ngã cao hơn hay linh hồn”, và ở đâu sự biểu lộ ấy vắng mặt hoặc không đủ thì không thể có điều mà thế gian công nhận là thiên tài. |
|
435. We might call the fifth petal the ‘pivotal petal’ in human development. It is the fifth petal and signifies (at a certain point in the many lives of turmoil) a genuine reorientation towards the fifth kingdom of nature, the Kingdom of Souls. |
435. Chúng ta có thể gọi cánh hoa thứ năm là “cánh hoa bản lề” trong sự phát triển của con người. Nó là cánh hoa thứ năm và biểu thị (ở một điểm nào đó trong nhiều kiếp sống đầy xáo trộn) một sự tái định hướng chân thực về phía giới thứ năm của bản chất, Thiên Giới của các linh hồn. |
|
436. From an astrological perspective, zodiacally considered, and in relation to the counter clockwise wheel (the wheel of consciousness), the fifth petal is a Leo petal. This fits remarkably well considering— |
436. Từ góc nhìn chiêm tinh, xét theo hoàng đạo, và liên hệ với bánh xe ngược chiều kim đồng hồ (bánh xe của tâm thức), cánh hoa thứ năm là một cánh hoa Sư Tử. Điều này phù hợp một cách đáng chú ý nếu xét rằng— |
|
a. That at the particular point in evolution under discussion the fifth kingdom of nature is coming into view. The Light of the Soul” is the particular kind of light which comes to the human kingdom through the sign Leo. |
a. Ở điểm tiến hoá đặc biệt đang được bàn đến, giới thứ năm của bản chất đang hiện ra trong tầm nhìn. “Ánh Sáng của Linh Hồn” là loại ánh sáng đặc biệt đến với giới nhân loại qua dấu hiệu Sư Tử. |
|
b. That the Solar Angel becomes “interested” in personality development. Leo is closely related to these Solar Angels and the individualization process which occurred under the impulsion of the Solar Angels occurred in Leo (along with Sagittarius and Gemini). |
b. Thái dương Thiên Thần trở nên “quan tâm” đến sự phát triển của phàm ngã. Sư Tử gắn rất chặt với các Thái dương Thiên Thần này và tiến trình biệt ngã hóa xảy ra dưới xung lực của các Thái dương Thiên Thần đã diễn ra trong Sư Tử (cùng với Nhân Mã và Song Tử). |
|
c. That the stage of dominant personality is reached under the influence of Leo. The fact that a powerful, dominant personality is forming during fifth petal processes is the reason for the many lives of turmoil. There is a struggle between a powerful personality and an increasingly insistent soul. |
c. Giai đoạn phàm ngã trội vượt được đạt tới dưới ảnh hưởng của Sư Tử. Sự kiện một phàm ngã mạnh mẽ, trội vượt đang hình thành trong các tiến trình của cánh hoa thứ năm là lý do của nhiều kiếp sống đầy xáo trộn. Có một cuộc đấu tranh giữa một phàm ngã mạnh mẽ và một linh hồn ngày càng khẩn thiết. |
|
d. Leo is said to be the “most human sign of all” (EA 161). It is during the fifth petal processes that the human personality steps forth in all its glory, and yet with the potential for resisting the lighted, solar, spiritual impulses which are also closely associated with Leo. |
d. Sư Tử được nói là “dấu hiệu nhân loại nhất trong tất cả” (EA 161). Chính trong các tiến trình của cánh hoa thứ năm mà phàm ngã con người bước ra trong toàn bộ vinh quang của nó, nhưng đồng thời cũng với tiềm năng chống lại các xung lực tinh thần thái dương, được soi sáng, vốn cũng gắn rất chặt với Sư Tử. |
|
437. From the clockwise perspective, we may consider the fifth petal either a Scorpio petal or a Libra petal depending upon whether we begin with Aries or Pisces. |
437. Từ góc nhìn theo chiều kim đồng hồ, chúng ta có thể xem cánh hoa thứ năm hoặc là một cánh hoa Hổ Cáp hoặc là một cánh hoa Thiên Bình tùy theo việc chúng ta bắt đầu với Bạch Dương hay Song Ngư. |
|
438. Interestingly, both these signs are related to Uranus (which rules Libra esoterically and which is exalted in Scorpio) and Uranus is directly implicated in the “reversal of the wheel”. |
438. Điều thú vị là cả hai dấu hiệu này đều liên hệ với Sao Thiên Vương (vốn cai quản Thiên Bình một cách huyền bí và được tôn vinh trong Hổ Cáp), và Sao Thiên Vương có liên can trực tiếp trong “sự đảo ngược bánh xe”. |
|
439. In the same way the fifth petal represents the transition from lunar to more solar living, so it represents the transition from limited Saturnian living (in the lower sense of Saturn) to a greater capacity for Uranian living. |
439. Cũng như cánh hoa thứ năm biểu thị sự chuyển tiếp từ đời sống nguyệt sang đời sống thái dương hơn, nó cũng biểu thị sự chuyển tiếp từ đời sống giới hạn kiểu Sao Thổ (theo nghĩa thấp của Sao Thổ) sang một năng lực lớn hơn cho đời sống kiểu Sao Thiên Vương. |
|
440. Libra is the balance between solar and lunar life. The idea is that, during fifth petal processes, the balance will be tipped in favor of the soul. |
440. Thiên Bình là sự quân bình giữa đời sống thái dương và đời sống nguyệt. Ý tưởng là trong các tiến trình của cánh hoa thứ năm, sự quân bình sẽ nghiêng về phía linh hồn. |
|
441. Scorpio clearly represents struggle and the will to dominate the Hydra. The will to dominate is also strongly associated with Leo. |
441. Hổ Cáp rõ ràng biểu thị sự đấu tranh và ý chí thống trị Hydra. Ý chí thống trị cũng gắn rất mạnh với Sư Tử. |
|
442. The struggles of Hercules are intense during fifth petal processes, and interestingly the two “labours” for which Hercules was best known were the slaying of the Nemean Lion in Leo and the conquest of the Lernean Hydra in Scorpio. |
442. Những cuộc đấu tranh của Hercules rất mãnh liệt trong các tiến trình của cánh hoa thứ năm, và điều thú vị là hai “công trình” mà Hercules nổi tiếng nhất là việc giết Sư Tử Nemea trong Sư Tử và chinh phục Hydra Lernaean trong Hổ Cáp. |
|
443. From another perspective, when comparing Leo and Scorpio, it is said that “Scorpio stages the release of Leo”. To some extent (and later at the second initiation which involves the eighth petal) we can see this process working out at the fifth petal unfolds. By orienting rightly towards the Leonian Higher Self the consciousness is being released from the lower expression of Leo which emphasizes the personal ego. |
443. Từ một góc nhìn khác, khi so sánh Sư Tử và Hổ Cáp, người ta nói rằng “Hổ Cáp dàn dựng sự giải thoát của Sư Tử”. Ở một mức độ nào đó (và về sau ở lần điểm đạo thứ hai vốn liên hệ đến cánh hoa thứ tám), chúng ta có thể thấy tiến trình này diễn ra khi cánh hoa thứ năm khai mở. Bằng cách định hướng đúng đắn về phía Bản Ngã Cao Siêu kiểu Sư Tử, tâm thức đang được giải thoát khỏi biểu lộ thấp của Sư Tử vốn nhấn mạnh phàm ngã cá nhân. |
|
444. Scorpio is one of the transmutative signs and so is Virgo (the glyphs of both signs suggesting the “M” of Matter). Under the influence of the soul the quality of matter in the vehicles of the substance is gradually improved and the consciousness beings to be released from preoccupation with the form. This is even more the case in relation to the sixth petal which is a Virgo petal if one begins counter-clockwise numbering with Aries, and a Scorpio petal if one numbers clockwise beginning also with Aries. |
444. Hổ Cáp là một trong những dấu hiệu chuyển hoá và Xử Nữ cũng vậy (phù hiệu của cả hai dấu hiệu đều gợi chữ “M” của Vật chất). Dưới ảnh hưởng của linh hồn, phẩm tính của vật chất trong các vận cụ của chất liệu dần dần được cải thiện và tâm thức bắt đầu được giải thoát khỏi sự bận tâm với hình tướng. Điều này còn đúng hơn nữa liên hệ với cánh hoa thứ sáu, vốn là một cánh hoa Xử Nữ nếu bắt đầu đánh số ngược chiều kim đồng hồ từ Bạch Dương, và là một cánh hoa Hổ Cáp nếu đánh số theo chiều kim đồng hồ cũng bắt đầu từ Bạch Dương. |
|
445. We remember that the water signs in general (according to our hypothesis) are related to the love tier. We related Cancer to the fourth petal and will relate Scorpio to the fifth. This gives Scorpio a kind of double emphasis at the fifth petal. |
445. Chúng ta nhớ rằng các dấu hiệu hành thủy nói chung (theo giả thuyết của chúng ta) liên hệ với tầng bác ái. Chúng ta đã gắn Cự Giải với cánh hoa thứ tư và sẽ gắn Hổ Cáp với cánh hoa thứ năm. Điều này tạo cho Hổ Cáp một loại nhấn mạnh kép ở cánh hoa thứ năm. |
|
446. For the first two tiers our progression through the triplicities has been: cardinal, fixed, mutable: Capricorn—Taurus—Virgo; Cancer—Scorpio—Pisces. It remains to be seen whether this sequence beginning with a cardinal sign can be applied with the same confidence to the sacrifice petals and the synthesis petals. |
446. Đối với hai tầng đầu tiên, sự tiến triển của chúng ta qua các bộ ba là: chủ yếu, cố định, biến đổi: Ma Kết—Kim Ngưu—Xử Nữ; Cự Giải—Hổ Cáp—Song Ngư. Còn phải xem liệu chuỗi này bắt đầu bằng một dấu hiệu chủ yếu có thể được áp dụng với cùng mức độ tin cậy cho các cánh hoa hi sinh và các cánh hoa tổng hợp hay không. |
|
447. Because the fifth petal marks a point of reorientation, we could say that Aries (opposite Libra) is also involved. There is a kind of “fresh start” in the human developmental process as the man turns towards his soul nature and becomes increasingly aware of the Solar Angel (although he may not know it is the Solar Angel, but may simply call it a “Higher Power”. |
447. Bởi vì cánh hoa thứ năm đánh dấu một điểm tái định hướng, chúng ta có thể nói rằng Bạch Dương (đối diện với Thiên Bình) cũng có liên quan. Có một loại “khởi đầu mới” trong tiến trình phát triển của con người khi con người quay về phía bản chất linh hồn của mình và ngày càng ý thức hơn về Thái dương Thiên Thần (dù y có thể không biết đó là Thái dương Thiên Thần, mà chỉ đơn giản gọi đó là một “Quyền Năng Cao Hơn”. |
|
448. When we count clockwise beginning with Aries, Sagittarius is assigned to the fifth petal. The ‘arrow of the consciousness’, the direction in which it is turned, must be oriented towards the soul. |
448. Khi chúng ta đếm theo chiều kim đồng hồ bắt đầu từ Bạch Dương, Nhân Mã được gán cho cánh hoa thứ năm. “Mũi tên của tâm thức”, phương hướng mà nó quay về, phải được định hướng về phía linh hồn. |
|
449. From a planetary perspective, this is obviously a very solar petal. The Sun rules Leo. The Sun stands of the dominant personality. The Sun stands also for the Higher Self, now emerging into greater prominence. The Sun is a distributor of the second ray which obviously becomes important when the Solar Angel is exerting its influence. |
449. Từ góc độ hành tinh, đây hiển nhiên là một cánh hoa rất thái dương. Mặt Trời cai quản Sư Tử. Mặt Trời tượng trưng cho phàm ngã trội vượt. Mặt Trời cũng tượng trưng cho Bản Ngã Cao Siêu, nay đang nổi bật hơn. Mặt Trời là một đấng phân phối cung hai, điều hiển nhiên trở nên quan trọng khi Thái dương Thiên Thần đang phát huy ảnh hưởng của nó. |
|
450. The planet Venus should also be associated with the fifth petal because Venus represents the Solar Angel which becomes an increasingly magnetically influential factor during fifth petal processes. Venus expresses the fifth ray and we are dealing with the unfoldment of the fifth petal. |
450. Hành tinh Kim Tinh cũng nên được liên kết với cánh hoa thứ năm vì Kim Tinh tượng trưng cho Thái dương Thiên Thần, vốn đang trở thành một yếu tố ngày càng có ảnh hưởng từ tính trong các tiến trình của cánh hoa thứ năm. Kim Tinh biểu lộ cung năm và chúng ta đang bàn đến sự khai mở của cánh hoa thứ năm. |
|
451. Mercury, the planet of the fourth ray (at least in the soul nature of this planet) represents the conflict and turmoil experienced by the individual passing through fifth petal processes. Mercury also has much to do with the fifth ray and this is the fifth petal. |
451. Sao Thủy, hành tinh của cung bốn (ít nhất là trong bản chất linh hồn của hành tinh này) tượng trưng cho xung đột và hỗn loạn mà cá nhân trải qua khi đi qua các tiến trình của cánh hoa thứ năm. Sao Thủy cũng liên hệ rất nhiều với cung năm và đây là cánh hoa thứ năm. |
|
452. Mercury is also the hierarchical ruler of Scorpio which features strongly in relation to the fifth petal. Mercury assists here is overcoming some of the earlier stages of illusion. Since there is an attempt during fifth petal processes to love the “Real”, discriminative Mercury is necessarily involved as the man makes the effort to discriminate between the Real and the unreal. |
452. Sao Thủy cũng là chủ tinh huyền môn của Hổ Cáp, dấu hiệu nổi bật mạnh mẽ liên hệ với cánh hoa thứ năm. Sao Thủy trợ giúp ở đây trong việc vượt qua một số giai đoạn ảo tưởng trước đó. Vì trong các tiến trình của cánh hoa thứ năm có một nỗ lực yêu mến “Cái Thực”, nên Sao Thủy có tính phân biện tất yếu phải tham dự khi con người nỗ lực phân biện giữa Cái Thực và cái không thực. |
|
453. Two ancient mantrams begin to become meaningful during fifth petal processes: “Lead us from darkness to Light”. “Lead us from the unreal to the Real”. |
453. Hai mantram cổ xưa bắt đầu trở nên có ý nghĩa trong các tiến trình của cánh hoa thứ năm: “Dẫn dắt chúng con từ bóng tối đến Ánh sáng”. “Dẫn dắt chúng con từ cái không thực đến Cái Thực”. |
|
454. Some theorists have suggested the value of Jupiter in relation to this petal. The regime of ‘limited, materialistic Saturn’ is in process of concluding and second ray Jupiter, representing the soul is growing in strength. Also, Jupiter is the ruler of Sagittarius, which can be associated with this petal if we begin counting clockwise with Pisces. |
454. Một số nhà lý thuyết đã gợi ý giá trị của Sao Mộc liên hệ với cánh hoa này. Chế độ của ‘Thổ Tinh giới hạn, duy vật’ đang trong tiến trình kết thúc và Sao Mộc cung hai, tượng trưng cho linh hồn, đang tăng trưởng sức mạnh. Ngoài ra, Sao Mộc là chủ tinh của Nhân Mã, có thể được liên kết với cánh hoa này nếu chúng ta bắt đầu đếm theo chiều kim đồng hồ từ Song Ngư. |
|
455. The power of Uranus (involved in the “reversal of the wheel”) is definitely implicated. Let us remember that the fifth petal is a petal of transmutation and seventh ray Uranus is the great Alchemist. |
455. Quyền năng của Sao Thiên Vương (liên hệ với “sự đảo ngược bánh xe”) chắc chắn có dính líu. Chúng ta hãy nhớ rằng cánh hoa thứ năm là một cánh hoa chuyển hoá và Sao Thiên Vương cung bảy là Nhà Luyện Kim vĩ đại. |
|
456. Both Jupiter and Uranus seem to take over from Saturn (when Saturn represents form, limitation and materialism). We remember that Jupiter with Uranus suggest “beneficent organization” (cf. EA 71), the emergence of a new and better order—the ‘order of the soul’. |
456. Cả Sao Mộc lẫn Sao Thiên Vương dường như tiếp quản từ Thổ Tinh (khi Thổ Tinh tượng trưng cho hình tướng, giới hạn và chủ nghĩa duy vật). Chúng ta nhớ rằng Sao Mộc cùng với Sao Thiên Vương gợi ý “sự tổ chức từ thiện” (x. EA 71), sự xuất hiện của một trật tự mới và tốt đẹp hơn—‘trật tự của linh hồn’. |
|
457. On the solar side of the equation we have the Sun, Venus, Jupiter and Uranus and during fifth petal processes, they struggle against Mars (ruler of Scorpio) and Saturn (in its materialistic expression) representing all that holds the soul a prisoner of form. |
457. Ở phía thái dương của phương trình, chúng ta có Mặt Trời, Kim Tinh, Sao Mộc và Sao Thiên Vương, và trong các tiến trình của cánh hoa thứ năm, chúng đấu tranh chống lại Sao Hỏa (chủ tinh của Hổ Cáp) và Thổ Tinh (trong biểu hiện duy vật của nó), tượng trưng cho tất cả những gì giam cầm linh hồn làm tù nhân của hình tướng. |
|
458. Neptune also has some influence at this petal as the man attempts to move into an increasingly subjective world, sensitively (for Leo is the sign of “sensitivity”) reaching from the dominant personality under Leo to the Higher Self, also under Leo (and representative of the Heart of the Sun and of the “Real”). |
458. Sao Hải Vương cũng có một số ảnh hưởng tại cánh hoa này khi con người cố gắng tiến vào một thế giới ngày càng chủ quan hơn, một cách nhạy cảm (vì Sư Tử là dấu hiệu của “tính nhạy cảm”), vươn từ phàm ngã trội vượt dưới Sư Tử đến Bản Ngã Cao Siêu, cũng dưới Sư Tử (và tượng trưng cho Trái Tim của Mặt Trời và cho “Cái Thực”). |
|
459. There is definitely a heart emphasis at this petal. The heart is the middle chakra and the fifth petal is the middle of nine petals. Neptune, as “repository of the solar flames” is involved in awakening the heart’s expression of solar fire—the fire of the soul, really experienced for the first time during fifth petal processes. |
459. Chắc chắn có một sự nhấn mạnh vào tim tại cánh hoa này. Tim là luân xa ở giữa và cánh hoa thứ năm là trung tâm của chín cánh hoa. Sao Hải Vương, như “kho chứa các ngọn lửa thái dương”, có liên quan đến việc đánh thức sự biểu lộ của tim đối với lửa thái dương—lửa của linh hồn, thực sự được kinh nghiệm lần đầu tiên trong các tiến trình của cánh hoa thứ năm. |
|
460. As Scorpio is so important at this petal, Pluto will also be found playing its part, contributing to a general catharsis arising from the conflict between the Sun and the Moon and which sometimes manifests as a dramatic, Leonian expressivity. It is Pluto which applies the powers of death to bring the regime of strictly lunar living to an end as the capacity for solar living increases in strength. |
460. Vì Hổ Cáp rất quan trọng tại cánh hoa này, Sao Diêm Vương cũng sẽ được thấy đang đóng vai trò của nó, góp phần vào một sự thanh lọc tổng quát phát sinh từ xung đột giữa Mặt Trời và Mặt Trăng, và đôi khi biểu lộ như một tính biểu cảm đầy kịch tính kiểu Sư Tử. Chính Sao Diêm Vương vận dụng các quyền năng của cái chết để chấm dứt chế độ sống thuần túy nguyệt tính khi năng lực sống thái dương ngày càng mạnh hơn. |
|
461. From a ray perspective, this is a petal of struggle and so the fourth ray will be prominent. The fourth ray is the ray expressing most powerfully through Scorpio—a sign doubly prominent at the fifth petal. |
461. Từ góc độ cung, đây là một cánh hoa của sự đấu tranh và vì thế cung bốn sẽ nổi bật. Cung bốn là cung biểu lộ mạnh mẽ nhất qua Hổ Cáp—một dấu hiệu nổi bật gấp đôi tại cánh hoa thứ năm. |
|
462. Because the soul aspect (representing the Real) is coming into increased prominence, the second ray so distinctly correlated with the Higher Ego and with the Solar Angel will be of importance here. The “love of the Real” is a distinctly second ray tendency. |
462. Bởi vì phương diện linh hồn (tượng trưng cho Cái Thực) đang ngày càng nổi bật, cung hai vốn tương quan rất rõ với Chân ngã Cao Siêu và với Thái dương Thiên Thần sẽ có tầm quan trọng ở đây. “Tình yêu đối với Cái Thực” là một khuynh hướng rõ rệt của cung hai. |
|
463. Because this petal will see the emergence of many dominant personalities, we cannot ignore the potent influence of the first ray. The constellation Leo is expressive of the first ray. The first ray also expresses powerfully through Scorpio, not only through one of its rulers, Pluto, but implicitly through the constellation itself. |
463. Bởi vì cánh hoa này sẽ chứng kiến sự xuất hiện của nhiều phàm ngã trội vượt, chúng ta không thể bỏ qua ảnh hưởng mạnh mẽ của cung một. Chòm sao Sư Tử biểu lộ cung một. Cung một cũng biểu lộ mạnh mẽ qua Hổ Cáp, không chỉ qua một trong các chủ tinh của nó là Sao Diêm Vương, mà còn hàm ẩn qua chính chòm sao ấy. |
|
464. Some sixth ray may be present in the Neptunian yearning to move from focus upon the personal self to engagement with the Higher Self, the “Real”. |
464. Một ít cung sáu có thể hiện diện trong khát vọng kiểu Hải Vương muốn chuyển từ sự tập trung vào phàm ngã sang sự gắn kết với Bản Ngã Cao Siêu, “Cái Thực”. |
|
465. The fifth petal is not expressive of the third ray (except that the personality in general is expressive of the third ray and this is the petal of the integrated, dominant personality—integrated in its own nature but not yet integrated with the soul). |
465. Cánh hoa thứ năm không biểu lộ cung ba (ngoại trừ việc phàm ngã nói chung biểu lộ cung ba và đây là cánh hoa của phàm ngã tích hợp, trội vượt—được tích hợp trong bản chất riêng của nó nhưng chưa được tích hợp với linh hồn). |
|
466. If anything, the third ray (associated as it is with all things lunar) is in process of being overcome—at least by those who utilize the spiritual opportunity the fifth petal presents. |
466. Nếu có gì, thì cung ba (vốn liên hệ với mọi sự nguyệt tính) đang trong tiến trình bị vượt thắng—ít nhất là bởi những ai tận dụng cơ hội tinh thần mà cánh hoa thứ năm mang lại. |
|
467. The fifth ray is of importance in fifth petal processes because it introduces the presence of the fifth kingdom of souls. The luminous mind is important at the fifth petal stage, but even more important is the emerging presence of the Venusian Higher Self. |
467. Cung năm có tầm quan trọng trong các tiến trình của cánh hoa thứ năm vì nó đưa vào sự hiện diện của giới thứ năm là giới các linh hồn. Trí tuệ sáng rực là điều quan trọng ở giai đoạn cánh hoa thứ năm, nhưng còn quan trọng hơn là sự hiện diện đang nổi lên của Bản Ngã Cao Siêu kiểu Kim Tinh. |
|
468. It seems that we have listed almost all the rays and probably, even the seventh ray could be justified as important. Over the many lives required for the unfoldment of the five petals we have thus far discussed, all the rays have a particular significance. Probably there is a way of listing the rays (or any astrological factor) in some relative order of importance for the processes of each petal. This would be a difficult achievement and somewhat arbitrary, but would, at least, give some idea of the most important energies in any petal process. |
468. Có vẻ như chúng ta đã liệt kê gần như tất cả các cung và có lẽ ngay cả cung bảy cũng có thể được biện minh là quan trọng. Trong nhiều kiếp sống cần thiết cho sự khai mở của năm cánh hoa mà cho đến nay chúng ta đã bàn đến, tất cả các cung đều có một ý nghĩa đặc biệt. Có lẽ có một cách liệt kê các cung (hay bất kỳ yếu tố chiêm tinh nào) theo một trật tự tương đối về tầm quan trọng đối với các tiến trình của mỗi cánh hoa. Đây sẽ là một thành tựu khó khăn và phần nào tùy tiện, nhưng ít nhất cũng cho một ý niệm về những năng lượng quan trọng nhất trong bất kỳ tiến trình cánh hoa nào. |
|
469. The lists could be made in the two following general categories: |
469. Các danh sách có thể được lập theo hai phạm trù tổng quát sau đây: |
|
a. These energies particularly |
a. Những năng lượng này đặc biệt |
|
b. These energies in addition. |
b. Những năng lượng này bổ sung thêm. |
|
470. From the chakric perspective, the fifth petal is certainly a heart petal. The Ego is the heart of the monadic system. Contact with the soul (considered as the Real) requires the heart. |
470. Từ góc độ luân xa, cánh hoa thứ năm chắc chắn là một cánh hoa tim. Chân ngã là tim của hệ chân thần. Tiếp xúc với linh hồn (được xem là Cái Thực) đòi hỏi tim. |
|
471. The heart is related to the numbers two, four and one—the numbers of the rays which we have considered prominent in fifth petal processes. |
471. Tim liên hệ với các số hai, bốn và một—các con số của những cung mà chúng ta đã xem là nổi bật trong các tiến trình của cánh hoa thứ năm. |
|
472. The battle at the fifth petal is between the heart representing the Sun and the solar energies and the solar plexus center (a sub-diaphragmatic center which is the synthesis of all the sub-diaphragmatic centers) representing the Moon and the lunar forces. Along this line, the fifth petal represents a kind of “dividing line” between an emphasis which focuses below the diaphragm and one that focuses above. As we reach the fifth petal the emphasis is super-diaphragmatic, which does not mean that the centers below the diaphragm have yet been completely regulated and subdued. |
472. Cuộc chiến tại cánh hoa thứ năm là giữa tim tượng trưng cho Mặt Trời và các năng lượng thái dương, với trung tâm tùng thái dương (một trung tâm dưới cơ hoành, là tổng hợp của mọi trung tâm dưới cơ hoành) tượng trưng cho Mặt Trăng và các lực nguyệt tính. Theo đường hướng này, cánh hoa thứ năm tượng trưng cho một loại “ranh giới phân chia” giữa một sự nhấn mạnh tập trung dưới cơ hoành và một sự nhấn mạnh tập trung phía trên. Khi chúng ta đạt đến cánh hoa thứ năm, sự nhấn mạnh là trên-cơ hoành, điều này không có nghĩa là các trung tâm dưới cơ hoành đã được điều hòa và chế ngự hoàn toàn. |
|
473. One other center would be of considerable importance here—the ajna center, correlated with Venus and Mercury and with the fifth and fourth rays. |
473. Một trung tâm khác cũng có tầm quan trọng đáng kể ở đây—trung tâm ajna, tương quan với Kim Tinh và Sao Thủy, và với cung năm cùng cung bốn. |
|
474. The dominant personality found at this petal requires a strong expression of the directing ajna center. Admittedly, this is not its highest expression but the ajna is definitely involved in personality integration and personality assertion. |
474. Phàm ngã trội vượt được tìm thấy tại cánh hoa này đòi hỏi một sự biểu lộ mạnh mẽ của trung tâm ajna chỉ đạo. Phải thừa nhận rằng đây không phải là biểu lộ cao nhất của nó, nhưng ajna chắc chắn có liên quan đến sự tích hợp phàm ngã và sự khẳng định phàm ngã. |
|
475. The individual who is achieving unfoldment of the fifth petal has the power to integrate the personality and direct himself forward—whether more deeply into the world of form or towards the world of the Real. |
475. Cá nhân đang đạt đến sự khai mở của cánh hoa thứ năm có năng lực tích hợp phàm ngã và tự hướng mình tiến lên—hoặc sâu hơn vào thế giới hình tướng, hoặc hướng về thế giới của Cái Thực. |
|
476. The number four is associated with the ajna (given the four colours which express through it). The integrated personality is fourfold. |
476. Con số bốn được liên kết với ajna (xét theo bốn màu sắc biểu lộ qua nó). Phàm ngã tích hợp là tứ phân. |
|
477. There are a number of chakric triangles associated with the expression of human life at various stages of unfoldment. The processes involved with each petal implicate a particular triangle or triangles. |
477. Có một số tam giác luân xa liên hệ với sự biểu lộ của đời sống con người ở các giai đoạn khai mở khác nhau. Các tiến trình liên hệ với mỗi cánh hoa đều hàm ý một tam giác hay nhiều tam giác đặc thù. |
|
478. The fifth petal for instance can reasonably be associated with the ajna/heart/solar plexus or the ajna/heart/throat. |
478. Chẳng hạn, cánh hoa thứ năm có thể được liên kết một cách hợp lý với ajna/tim/tùng thái dương hoặc ajna/tim/trung tâm cổ họng. |
|
479. In the fifth petal we have the energetic focus during which the white magic of the soul begins to emerge, consciously, in human living. |
479. Trong cánh hoa thứ năm, chúng ta có tiêu điểm năng lượng trong đó Chánh Thuật của linh hồn bắt đầu xuất hiện một cách có ý thức trong đời sống con người. |
|
3. The Petal of Sacrifice for the astral plane; |
3. Cánh hoa Hi sinh cho cõi cảm dục; |
|
480. We remind ourselves that every knowledge petal relates to the third ray, every love petal to the second, and every petal of sacrifice to the first. |
480. Chúng ta tự nhắc mình rằng mỗi cánh hoa tri thức liên hệ với cung ba, mỗi cánh hoa bác ái với cung hai, và mỗi cánh hoa hi sinh với cung một. |
|
481. The petal under discussion can be considered the sixth petal, overall. By numerical affinity, it would be associated with the sixth ray, the first ray, and with the second ray because all love petals are associated generically with the second ray. |
481. Cánh hoa đang được bàn đến có thể được xem là cánh hoa thứ sáu, xét tổng thể. Theo sự tương hợp số học, nó sẽ được liên kết với cung sáu, cung một, và với cung hai vì mọi cánh hoa bác ái đều được liên kết một cách tổng quát với cung hai. |
|
482. We will first consider general impressions. |
482. Trước hết chúng ta sẽ xem xét những ấn tượng tổng quát. |
|
unfoldment is brought about by the attitude of man as he [Page 541] consciously endeavours to give up his own desires for the sake of his group. |
sự khai mở được mang lại bởi thái độ của con người khi y [Page 541] một cách có ý thức nỗ lực từ bỏ những ham muốn riêng của mình vì lợi ích của nhóm mình. |
|
483. We see that those passing through sixth petal processes have a definitely spiritual orientation, even if they are unconscious of the actual spiritual realities. |
483. Chúng ta thấy rằng những ai đang đi qua các tiến trình của cánh hoa thứ sáu có một định hướng rõ rệt về tinh thần, dù họ chưa ý thức về các thực tại tinh thần thực sự. |
|
484. The early stages of group consciousness are appearing. It may not be a spiritual group consciousness of the kind we study in the Ageless Wisdom Teaching, but it promotes the relinquishment of selfishness and the attempt to advance the welfare of others. |
484. Những giai đoạn đầu của tâm thức nhóm đang xuất hiện. Có thể đó chưa phải là một tâm thức nhóm tinh thần theo loại mà chúng ta nghiên cứu trong giáo huấn Minh Triết Ngàn Đời, nhưng nó thúc đẩy sự từ bỏ tính ích kỷ và nỗ lực thăng tiến phúc lợi của người khác. |
|
485. In the ongoing battle between heart and solar plexus, the heart is gaining the upper hand. |
485. Trong cuộc chiến đang tiếp diễn giữa tim và tùng thái dương, tim đang chiếm ưu thế. |
|
His motive is still somewhat a blind one, and still coloured by the desire for a return of that which he gives and for love from those he seeks to serve, |
Động cơ của y vẫn còn phần nào mù quáng, và vẫn nhuốm màu bởi ham muốn được đền đáp cho điều mình cho đi và được yêu thương từ những người mà y tìm cách phụng sự, |
|
486. This means that the man (although oriented towards something higher and more spiritual) is still subject to personality energy. This will mean that in relation to this sixth petal the center through which the sixth ray pours, the solar plexus center (expressive of personality) will still be very active. The “desire for a return of that which he gives” and “for love from those he seeks to serve” is a solar plexus desire. |
486. Điều này có nghĩa là con người (dù được định hướng về một điều gì cao hơn và tinh thần hơn) vẫn còn chịu ảnh hưởng của năng lượng phàm ngã. Điều này sẽ có nghĩa rằng liên hệ với cánh hoa thứ sáu này, trung tâm mà cung sáu tuôn đổ qua, tức trung tâm tùng thái dương (biểu lộ phàm ngã), vẫn sẽ rất hoạt động. “Ham muốn được đền đáp cho điều mình cho đi” và “được yêu thương từ những người mà y tìm cách phụng sự” là một ham muốn của tùng thái dương. |
|
487. We notice that (because we are dealing with a sacrifice petal) the man is relinquishing something, giving up something of lesser value for something of greater value, even though pain may be involved in the process. |
487. Chúng ta lưu ý rằng (vì chúng ta đang bàn đến một cánh hoa hi sinh) con người đang từ bỏ một điều gì đó, buông bỏ một điều có giá trị thấp hơn để đổi lấy một điều có giá trị cao hơn, dù đau đớn có thể liên quan đến tiến trình này. |
|
but it is of a much higher order than the blind sacrifice to which a man is driven by circumstances as is the case in the earlier unfoldment. |
nhưng đó là một loại ở cấp độ cao hơn nhiều so với sự hi sinh mù quáng mà một người bị hoàn cảnh thúc ép phải thực hiện như trường hợp trong sự khaimở sớm hơn. |
|
488. We are contrasting the approach to sacrifice as expressed through two petals—the sacrifice petal of the knowledge tier and the sacrifice petal of the love tier. The sixth petal process is much more conscious. |
488. Chúng ta đang đối chiếu cách tiếp cận đối với sự hi sinh như được biểu lộ qua hai cánh hoa—cánh hoa hi sinh của tầng tri thức và cánh hoa hi sinh của tầng bác ái. Tiến trình của cánh hoa thứ sáu có tính ý thức hơn nhiều. |
|
489. To be driven by circumstance to sacrifice is of a lower order than to consciously choose sacrifice for the sake of others. Saturn as a planet of choice is active at the sixth petal and as a planet of compulsion and fate, at the third petal. |
489. Bị hoàn cảnh thúc ép phải hi sinh là ở một cấp thấp hơn so với việc một cách có ý thức chọn lựa hi sinh vì lợi ích của người khác. Thổ Tinh như một hành tinh của sự chọn lựa hoạt động tại cánh hoa thứ sáu, và như một hành tinh của sự cưỡng bách và số mệnh, tại cánh hoa thứ ba. |
|
As this threefold enlightenment or unfoldment proceeds, again a dual result is seen: |
Khi sự giác ngộ hay khai mở tam phân này tiến triển, một lần nữa một kết quả nhị phân được thấy: |
|
490. The unfolding of the three love petals is called a “threefold enlightenment”. |
490. Sự khai mở của ba cánh hoa bác ái được gọi là một “sự giác ngộ tam phân”. |
|
491. Whenever we have passed through the unfoldment of three petals in the same tier, the Tibetan offers us a summary of the process. |
491. Bất cứ khi nào chúng ta đã đi qua sự khai mở của ba cánh hoa trong cùng một tầng, Chân sư Tây Tạng đều đưa ra cho chúng ta một bản tóm lược của tiến trình. |
|
The astral permanent atom comes into full activity and radiance, as regards five of its spirillae, and the two atoms of the physical and the astral planes are equally vibrant. |
Nguyên tử trường tồn cảm dục đi vào hoạt động và bức xạ trọn vẹn, xét theo năm loa tuyến của nó, và hai nguyên tử của cõi hồng trần và cõi cảm dục rung động ngang nhau. |
|
492. Here we have an important hint. We recall that the activation of the fifth and sixth spirilla related to egoic development. We are clearly in the process of egoic unfoldment but we have not reached that point in the process which occurs once the initiatory process has begun. |
492. Ở đây chúng ta có một gợi ý quan trọng. Chúng ta nhớ rằng sự hoạt hóa loa tuyến thứ năm và thứ sáu liên hệ với sự phát triển chân ngã. Chúng ta rõ ràng đang ở trong tiến trình khai mở chân ngã nhưng chưa đạt đến điểm trong tiến trình xảy ra một khi tiến trình điểm đạo đã bắt đầu. |
|
The fifth and sixth spirillae are more specifically under the egoic Ray, whatever that Ray may be. (TCF 531) |
Các loa tuyến thứ năm và thứ sáu đặc biệt nằm dưới cung chân ngã, bất kể cung ấy là cung nào. (TCF 531) |
|
493. This means that the fifth spirilla is activated during the process which sees the unfolding of the love petals and that the sixth spirilla is activated during the initiatory process when the Planetary Logos is stimulating spiritual group consciousness. |
493. Điều này có nghĩa là loa tuyến thứ năm được hoạt hóa trong tiến trình chứng kiến sự khai mở của các cánh hoa bác ái và loa tuyến thứ sáu được hoạt hóa trong tiến trình điểm đạo khi Đức Hành Tinh Thượng Đế đang kích thích tâm thức nhóm tinh thần. |
|
494. We are learning that egoic unfoldment is definitely a part of the unfoldment of the love petals (probably the unfoldment of the latter part of the fifth and all of the sixth), but that such unfoldment is not sufficient to indicate that the stage of initiation, per se, has begun (a stage which commences, so it seems, with the development or unfoldment of seventh petal). |
494. Chúng ta đang học rằng sự khai mở chân ngã chắc chắn là một phần của sự khai mở các cánh hoa bác ái (có lẽ là sự khai mở của phần sau của cánh hoa thứ năm và toàn bộ cánh hoa thứ sáu), nhưng sự khai mở như thế chưa đủ để chỉ ra rằng giai đoạn điểm đạo, chính nó, đã bắt đầu (một giai đoạn mà dường như khởi sự với sự phát triển hay khai mở của cánh hoa thứ bảy). |
|
The three petals of the central ring of the egoic lotus come also into full unfoldment, and the heart centre of the Monad is seen as a wheel of fire with six of its spokes in full display of energy and rapidly rotating. |
Ba cánh hoa của vòng trung tâm của Hoa Sen Chân Ngã cũng đi vào sự khai mở trọn vẹn, và trung tâm tim của chân thần được thấy như một bánh xe lửa với sáu nan hoa của nó phô bày trọn vẹn năng lượng và quay rất nhanh. |
|
495. When two tiers and six petals are fully unfolded, the human being stands on the periphery of the process of initiation, per se. |
495. Khi hai tầng và sáu cánh hoa được khai mở hoàn toàn, con người đứng trên chu vi của tiến trình điểm đạo, chính nó. |
|
496. The view of the egoic lotus as a “wheel” is here put forward. This wheel is in increasingly rapid rotation as the evolutionary process advances. |
496. Ở đây quan niệm về Hoa Sen Chân Ngã như một “bánh xe” được đưa ra. Bánh xe này quay ngày càng nhanh khi tiến trình tiến hoá tiến triển. |
|
497. We are reminded of an important consideration: the egoic lotus is the “heart centre of the Monad”. |
497. Chúng ta được nhắc về một điểm cân nhắc quan trọng: Hoa Sen Chân Ngã là “trung tâm tim của chân thần”. |
|
498. From the counter clockwise perspective of the zodiacal signs, beginning with Aries, the sixth petal is ruled by the sixth sign, Virgo. We know that in Virgo, the Christ Consciousness is deliberately cultivated and that man begins to learn consciously to serve a will higher than his own. Virgo (like Pisces) is a sacrificial sign. In Virgo one learns (often because one has little choice in the matter) to put others first. Significant lessons in humility are brought home. |
498. Từ góc nhìn ngược chiều kim đồng hồ của các dấu hiệu hoàng đạo, bắt đầu với Bạch Dương, cánh hoa thứ sáu được cai quản bởi dấu hiệu thứ sáu, Xử Nữ. Chúng ta biết rằng trong Xử Nữ, Tâm thức Christ được nuôi dưỡng một cách có chủ ý và con người bắt đầu học một cách có ý thức để phụng sự một ý chí cao hơn ý chí của riêng mình. Xử Nữ (giống như Song Ngư) là một dấu hiệu hi sinh. Trong Xử Nữ người ta học (thường vì người ta ít có lựa chọn trong vấn đề này) cách đặt người khác lên trước. Những bài học quan trọng về đức khiêm nhường được khắc sâu. |
|
499. From the clockwise perspective we have Scorpio if we begin with Aries and Libra is we begin with Pisces. |
499. Từ góc nhìn theo chiều kim đồng hồ, chúng ta có Hổ Cáp nếu bắt đầu với Bạch Dương và có Thiên Bình nếu bắt đầu với Song Ngư. |
|
500. Scorpio (a sign of sacrifice and relinquishment) fits well with this particular sacrifice petal in which the man finds himself slowly and painstakingly winning the battle with selfishness. |
500. Hổ Cáp (một dấu hiệu của hi sinh và từ bỏ) rất phù hợp với cánh hoa hi sinh đặc thù này, trong đó con người thấy mình đang chậm rãi và nhọc nhằn chiến thắng cuộc chiến với tính ích kỷ. |
|
501. Libra accords well with processes which place the group and its needs before the individual and his desires. |
501. Thiên Bình rất phù hợp với những tiến trình đặt nhóm và các nhu cầu của nhóm lên trước cá nhân và các ham muốn của y. |
|
502. We might also say that the unfoldment processes of this sixth petal see the beginning of Aquarian attitudes. The words “for the sake of the group” are important here. Libra also brings forth altruism which is required for the development of true group consciousness. |
502. Chúng ta cũng có thể nói rằng các tiến trình khai mở của cánh hoa thứ sáu này chứng kiến sự khởi đầu của các thái độ Bảo Bình. Những lời “vì lợi ích của nhóm” là quan trọng ở đây. Thiên Bình cũng làm phát sinh lòng vị tha vốn cần thiết cho sự phát triển của tâm thức nhóm chân chính. |
|
503. Remembering that the water signs have been hypothesized as related to the love tier, we will assign Pisces (a sign of service, relinquishment and sacrifice, and opposite to Virgo) to this sixth petal. Pisces is a sign most useful in overcoming selfishness and introducing the dynamic of “self-effacement” (later to be developed in great measure). |
503. Ghi nhớ rằng các dấu hiệu hành thủy đã được giả thuyết là có liên hệ với tầng bác ái, chúng ta sẽ gán Song Ngư (một dấu hiệu của phụng sự, từ bỏ và hi sinh, và đối diện với Xử Nữ) cho cánh hoa thứ sáu này. Song Ngư là một dấu hiệu rất hữu ích trong việc vượt thắng tính ích kỷ và đưa vào động lực của “sự xóa mình” (về sau sẽ được phát triển ở mức độ lớn). |
|
504. Pisces is also a sign critical in the aspirant’s movement from the Mutable Cross to the Fixed Cross, and we may hypothesize that the sixth petal is the area of activity in which this transition is made. Life upon the Fixed Cross begins with the first initiation, which is the province of the seventh petal. |
504. Song Ngư cũng là một dấu hiệu then chốt trong sự chuyển động của người chí nguyện từ Thập Giá Biến đổi sang Thập Giá Cố Định, và chúng ta có thể giả thuyết rằng cánh hoa thứ sáu là lĩnh vực hoạt động trong đó sự chuyển tiếp này được thực hiện. Đời sống trên Thập Giá Cố Định bắt đầu với lần điểm đạo thứ nhất, vốn thuộc phạm vi của cánh hoa thứ bảy. |
|
Then the second series of petals are opened, during a period of time covering his participation intelligently in world affairs until he enters the spiritual kingdom at the first Initiation; and a final and briefer period wherein the three higher or inner ring of petals are developed and opened. (TCF 543) |
Khi đó loạt cánh hoa thứ hai được mở ra, trong một khoảng thời gian bao trùm sự tham gia một cách thông minh của y vào các công việc thế gian cho đến khi y bước vào giới tinh thần trong lần điểm đạo thứ nhất; và một giai đoạn cuối cùng ngắn hơn trong đó ba cánh hoa cao hơn hay vòng trong được phát triển và mở ra. (TCF 543) |
|
505. We should be reminded that both Virgo and Pisces are associated with the process of service—and it is in relation to this sixth petal that the human being is learning conscious service—not the enforced servitude which prepares the way for later service. Further, Pisces, is the sign associated particularly with the Law of Service—the third Law of the Soul. |
505. Chúng ta nên được nhắc rằng cả Xử Nữ lẫn Song Ngư đều liên hệ với tiến trình phụng sự—và chính liên hệ với cánh hoa thứ sáu này mà con người đang học sự phụng sự có ý thức—không phải sự phục dịch bị cưỡng bách vốn chuẩn bị con đường cho sự phụng sự về sau. Hơn nữa, Song Ngư là dấu hiệu đặc biệt liên hệ với Định luật Phụng sự—Định luật thứ ba của linh hồn. |
|
506. From a planetary perspective, that which the Moon (esoteric ruler of Virgo) represents (i.e., the lunar vehicles) is continually purified, and the personal tendencies induces by Mars (the planet of selfishness) are overcome. |
506. Từ góc độ hành tinh, điều mà Mặt Trăng (chủ tinh huyền môn của Xử Nữ) tượng trưng cho (tức các vận cụ nguyệt tính) liên tục được thanh lọc, và các khuynh hướng cá nhân do Sao Hỏa gây ra (hành tinh của tính ích kỷ) được vượt thắng. |
|
507. Neptune is a sacrificial planet and is one of the rulers of Virgo (veiled by the Moon). The giving up of one’s own desires is Neptunian. Neptune, in this respect, ‘opposes’ Mars—both of them planets of the sixth ray and related to the astral body, but related to different dynamics in the astral body (selfish dynamics and selfless dynamics). |
507. Sao Hải Vương là một hành tinh hi sinh và là một trong các chủ tinh của Xử Nữ (được Mặt Trăng che giấu). Việc từ bỏ những ham muốn riêng của mình là tính Hải Vương. Về phương diện này, Sao Hải Vương ‘đối lập’ với Sao Hỏa—cả hai đều là những hành tinh của cung sáu và liên hệ với thể cảm dục, nhưng liên hệ với những động lực khác nhau trong thể cảm dục (động lực ích kỷ và động lực vô ngã). |
|
508. In the ongoing drama between the solar plexus center and the heart center, the heart is beginning to win. This will signify the emergence of the power of Jupiter (ruler of the heart center for advanced human beings, aspirants and disciples, and also the hierarchical ruler of Virgo). Somewhere during sixth petal processes, the individual is definitely becoming an aspirant. He aspires to that unfoldment which will be consummated at the first initiation—the “Birth of the Christ in the Cave of the Heart”. Sixth petal processes, therefore, as spiritually ‘pre-natal’. |
508. Trong vở kịch đang tiếp diễn giữa trung tâm tùng thái dương và trung tâm tim, tim đang bắt đầu chiến thắng. Điều này sẽ biểu thị sự xuất hiện của quyền năng Sao Mộc (chủ tinh của trung tâm tim đối với những con người tiến hóa cao, những người chí nguyện và các đệ tử, và cũng là chủ tinh huyền giai của Xử Nữ). Ở một điểm nào đó trong các tiến trình của cánh hoa thứ sáu, cá nhân chắc chắn đang trở thành một người chí nguyện. Y khát vọng đến sự khai mở sẽ được hoàn tất trong lần điểm đạo thứ nhất—“Sự Giáng Sinh của Đức Christ trong Hang Động của Tim”. Vì vậy, các tiến trình của cánh hoa thứ sáu mang tính ‘tiền sinh’ về mặt tinh thần. |
|
509. The influence of the Solar Angel continues to grow. That Angel has ‘looked down’ with attentiveness from the time the fifth petal has been the individual’s focus and is now gaining a greater grip upon the personality. This will signify the continued importance of the planet Venus, which works against the selfishness of the personality (ruled by Mars). |
509. Ảnh hưởng của Thái dương Thiên Thần tiếp tục tăng trưởng. Thiên Thần ấy đã ‘nhìn xuống’ với sự chú tâm từ khi cánh hoa thứ năm là tiêu điểm của cá nhân và nay đang nắm giữ phàm ngã mạnh hơn. Điều này sẽ biểu thị tầm quan trọng tiếp tục của hành tinh Kim Tinh, vốn hoạt động chống lại tính ích kỷ của phàm ngã (do Sao Hỏa cai quản). |
|
510. The soul’s grip upon the personality is represented by Vulcan (also a ruler of Virgo—veiled by the Moon). |
510. Sự nắm giữ của linh hồn đối với phàm ngã được tượng trưng bởi Vulcan (cũng là một chủ tinh của Xử Nữ—được Mặt Trăng che giấu). |
|
511. Pluto, the esoteric ruler of Pisces and a ruler of Scorpio (both of them signs associated with this petal) cuts the ties between the Mutable Cross and the Fixed Cross. The man is preparing to leave behind (Pluto) the life of the personality. Pluto, needless to say, is also a planet of sacrifice. |
511. Sao Diêm Vương, chủ tinh huyền môn của Song Ngư và là một chủ tinh của Hổ Cáp (cả hai đều là những dấu hiệu liên hệ với cánh hoa này) cắt đứt các mối ràng buộc giữa Thập Giá Biến đổi và Thập Giá Cố Định. Con người đang chuẩn bị bỏ lại phía sau (Sao Diêm Vương) đời sống của phàm ngã. Không cần phải nói, Sao Diêm Vương cũng là một hành tinh của hi sinh. |
|
512. The influence of Saturn must also be discussed. Saturn (in its higher expression as duty and responsibility) is the opponent of the selfishness of Mars. Where the man consciously disciplines himself to give up that which stands in the way of the welfare of the group, Saturn is involved. Saturn is also one of the rulers of Aquarius the energy of which begins to have some importance because the group begins to be is considered of more importance than the individual. Saturn is doubly potent in Libra, the sign of altruism. The needs of the aspirants “brother” are not yet of “greater moment than his own”, but those two forms of need are being balanced and the trend is in the direction of altruism. In this case, Saturn compels the altruistic response. |
512. Ảnh hưởng của Thổ Tinh cũng phải được bàn đến. Thổ Tinh (trong biểu lộ cao hơn của nó như bổn phận và trách nhiệm) là đối thủ của tính ích kỷ của Sao Hỏa. Ở đâu con người một cách có ý thức tự kỷ luật mình để từ bỏ điều gì cản trở phúc lợi của nhóm, ở đó Thổ Tinh có liên quan. Thổ Tinh cũng là một trong các chủ tinh của Bảo Bình, năng lượng của dấu hiệu này bắt đầu có một số tầm quan trọng vì nhóm bắt đầu được xem là quan trọng hơn cá nhân. Thổ Tinh có uy lực gấp đôi trong Thiên Bình, dấu hiệu của lòng vị tha. Nhu cầu của “huynh đệ” của người chí nguyện chưa phải là “quan trọng hơn nhu cầu của chính y”, nhưng hai hình thức nhu cầu ấy đang được quân bình và xu hướng đang theo hướng vị tha. Trong trường hợp này, Thổ Tinh cưỡng bách sự đáp ứng vị tha. |
|
513. The sixth petal is definitely a petal of preparation—preparation for initiation and the disciplic treading of the Path. There is a growing intelligence indicated by Mercury regarding those adaptations which are demanded in the personality nature if it is to fit itself to respond as required to the Higher Self. Intelligence is needed for purification and Mercury provides that intelligence. We note that Mercury is the orthodox ruler of Virgo (the sign most prominently associated with this sixth petal). |
513. Cánh hoa thứ sáu chắc chắn là một cánh hoa chuẩn bị—chuẩn bị cho điểm đạo và cho việc bước đi trên Con Đường Đệ Tử. Có một trí tuệ ngày càng tăng được Sao Thủy biểu thị liên quan đến những sự thích nghi được đòi hỏi trong bản chất phàm ngã nếu nó muốn tự làm cho mình thích hợp để đáp ứng như được yêu cầu đối với Bản Ngã Cao Siêu. Trí tuệ là cần thiết cho sự thanh lọc và Sao Thủy cung cấp trí tuệ ấy. Chúng ta lưu ý rằng Sao Thủy là chủ tinh ngoại môn của Xử Nữ (dấu hiệu liên hệ nổi bật nhất với cánh hoa thứ sáu này). |
|
514. From the ray perspective, we have a growing second ray as the soul looms as a factor increasingly real. The second ray is associated with Virgo, Pisces and even Libra (esoterically)—all signs we have associated with sixth petal processes. |
514. Từ góc độ cung, chúng ta có một cung hai đang tăng trưởng khi linh hồn hiện ra như một yếu tố ngày càng thực. Cung hai liên hệ với Xử Nữ, Song Ngư và ngay cả Thiên Bình (một cách huyền bí)—tất cả đều là những dấu hiệu mà chúng ta đã liên kết với các tiến trình của cánh hoa thứ sáu. |
|
515. Because the sixth petal is a petal of sacrifice and purification, the sixth ray is necessarily involved, along with the aspirational aspect of Mars (not its selfish aspect). Each of the sacrifice petals is a kind of “burning ground” which anticipates entry into the next higher tier. The sixth ray (related to fiery Mars) is always part of burning ground processes (at least the earlier ones, as later Uranus is involved with the “final burning ground”). |
515. Bởi vì cánh hoa thứ sáu là một cánh hoa hi sinh và thanh lọc, cung sáu tất yếu có liên quan, cùng với phương diện khát vọng của Sao Hỏa (không phải phương diện ích kỷ của nó). Mỗi cánh hoa hi sinh là một loại “vùng đất cháy” báo trước việc bước vào tầng cao hơn kế tiếp. Cung sáu (liên hệ với Sao Hỏa rực lửa) luôn là một phần của các tiến trình vùng đất cháy (ít nhất là những tiến trình sớm hơn, vì về sau Sao Thiên Vương có liên quan đến “vùng đất cháy cuối cùng”). |
|
516. All sacrifice petals involve the first ray in some manner of expression. The first ray is involved with destroying the past and entering the future. Sacrifice is the process in which the past is relinquished and the future penetrated. In this respect the sacrifice petals of the knowledge and love tier are both transitional and involve such relinquishment and penetration. The entire sacrifice tier is transitional and prepares for entry into the buddhic plane. |
516. Mọi cánh hoa hi sinh đều liên quan đến cung một theo một cách biểu lộ nào đó. Cung một liên quan đến việc hủy diệt quá khứ và bước vào tương lai. Hi sinh là tiến trình trong đó quá khứ được từ bỏ và tương lai được xuyên nhập. Về phương diện này, các cánh hoa hi sinh của tầng tri thức và tầng bác ái đều có tính chuyển tiếp và liên quan đến sự từ bỏ cùng sự xuyên nhập như thế. Toàn bộ tầng hi sinh có tính chuyển tiếp và chuẩn bị cho việc bước vào cõi Bồ đề. |
|
517. In general, the third ray must be mentioned. This sixth petal is the third petal of the second tier, and the numbers six and three are closely related. We recall that much preparation for the first initiation occurs on the third ray, and petal six sees such processes of preparation instituted. |
517. Nói chung, cung ba phải được nhắc đến. Cánh hoa thứ sáu này là cánh hoa thứ ba của tầng thứ hai, và các số sáu và ba có liên hệ chặt chẽ. Chúng ta nhớ rằng nhiều sự chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất diễn ra trên cung ba, và cánh hoa thứ sáu chứng kiến những tiến trình chuẩn bị như thế được khởi sự. |
|
518. From the chakric perspective, we have a growing emphasis upon the heart and upon the solar plexus center in its aspirational aspect. We might say that the higher solar plexus related to Neptune is stimulated in its reach towards the heart center. |
518. Từ góc độ luân xa, chúng ta có một sự nhấn mạnh ngày càng tăng vào tim và vào trung tâm tùng thái dương trong phương diện khát vọng của nó. Chúng ta có thể nói rằng tùng thái dương cao hơn liên hệ với Sao Hải Vương được kích thích trong sự vươn tới trung tâm tim. |
|
519. The main interplay is between solar plexus and heart—negating the lower solar plexus and stimulating the higher. The two signs Virgo and Pisces both emphasize the heart and solar plexus through the second and sixth rays which express through them. |
519. Sự tương tác chính là giữa tùng thái dương và tim—phủ định tùng thái dương thấp hơn và kích thích tùng thái dương cao hơn. Hai dấu hiệu Xử Nữ và Song Ngư đều nhấn mạnh tim và tùng thái dương qua cung hai và cung sáu biểu lộ qua chúng. |
|
520. Naturally there will be a growing intelligence as the third aspect (with the assistance of the throat center) is integrated and prepared for submission to the soul and a growing sense of spiritual direction through the ajna center as the personality continues its reach towards the Higher Self. |
520. Một cách tự nhiên sẽ có một trí tuệ ngày càng tăng khi phương diện ba (với sự trợ giúp của trung tâm cổ họng) được tích hợp và chuẩn bị để quy phục linh hồn, cùng một cảm nhận ngày càng tăng về định hướng tinh thần qua trung tâm ajna khi phàm ngã tiếp tục vươn tới Bản Ngã Cao Siêu. |
|
521. It is important to realize that all chakras are active to a specific degree at all times. Ours is the task of discerning the chakric emphases and relationships at any particular time. |
521. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng mọi luân xa đều hoạt động ở một mức độ nhất định vào mọi lúc. Nhiệm vụ của chúng ta là phân biện những sự nhấn mạnh và những mối liên hệ luân xa vào bất kỳ thời điểm đặc thù nào. |
|
c. Third Group of Petals—Sacrifice Petals: |
c. Nhóm Cánh hoa Thứ ba—Các Cánh hoa Hi sinh: |
|
522. It must be increasingly obvious that the entire evolutionary unfoldment of the human being is greatly illuminated by a close study of the egoic lotus—its energy/force associations and unfoldments. |
522. Hẳn phải ngày càng hiển nhiên rằng toàn bộ sự khai mở tiến hoá của con người được soi sáng rất nhiều nhờ một nghiên cứu chặt chẽ về Hoa Sen Chân Ngã—các liên kết năng lượng/mãnh lực và các sự khai mở của nó. |
|
523. The unfolding ‘subjective flower’ reveals to the astute eye (the eye of the initiate) the exact condition of the evolving human individual. If we can understand with a degree of detachment exactly where we stand on the “ladder of evolution” we can do something constructive about improving our position. |
523. “Đóa hoa chủ quan” đang khai mở tiết lộ cho con mắt tinh tường (con mắt của điểm đạo đồ) tình trạng chính xác của cá nhân nhân loại đang tiến hoá. Nếu chúng ta có thể thấu hiểu với một mức độ tách rời chính xác mình đang đứng ở đâu trên “nấc thang tiến hoá” thì chúng ta có thể làm điều gì đó có tính xây dựng để cải thiện vị trí của mình. |
|
524. We are now entering a study of those petals which have specifically to do with the process of initiation—the first through third initiations. |
524. Giờ đây chúng ta đang bước vào một nghiên cứu về những cánh hoa có liên hệ đặc biệt với tiến trình điểm đạo—từ lần điểm đạo thứ nhất đến lần điểm đạo thứ ba. |
|
525. If the knowledge tier can be considered the Lemurian Petals and the love tier the Atlantean, then the sacrifice petals are to be correlated with the Aryan stage of development. Naturally, this cannot be a hard and fast division, but is reasonably indicative. |
525. Nếu tầng tri thức có thể được xem là các Cánh hoa Lemuria và tầng bác ái là các Cánh hoa Atlantis, thì các cánh hoa hi sinh phải được tương quan với giai đoạn phát triển Arya. Dĩ nhiên, đây không thể là một sự phân chia cứng nhắc và tuyệt đối, nhưng khá có tính chỉ dẫn. |
|
526. The knowledge tier is associated with the physical-etheric plane; the love tier with the astral plane; the sacrifice tier with the mental plane. |
526. Tầng tri thức liên hệ với cõi hồng trần-dĩ thái; tầng bác ái với cõi cảm dục; tầng hi sinh với cõi trí. |
|
527. The great initiations which we commonly study are the manasic initiations—the initiations of manas or of man. |
527. Những điểm đạo lớn mà chúng ta thường nghiên cứu là các điểm đạo manas—các điểm đạo của manas hay của con người. |
|
528. We will first offer general impressions before becoming specific in terms of astrological, rayological and chakric factors. |
528. Trước hết chúng ta sẽ đưa ra những ấn tượng tổng quát trước khi đi vào chi tiết theo các yếu tố chiêm tinh, cung học và luân xa. |
|
1. The Petal of Knowledge for the mental plane; |
1. Cánh hoa Tri thức cho cõi trí; |
|
529. It will be obvious that the third and fifth rays will be important here. |
529. Hiển nhiên là cung ba và cung năm sẽ quan trọng ở đây. |
|
530. From another perspective, there is a numerical ray progression which should be observed as we move from petal to petal. Since this is the seventh petal, we shall have to explore the meaning of the seventh ray in relation to it. This applies to all the foregoing petals, beginning even with the first, in relation to which the first ray (however primitive its expression) must be important. |
530. Từ một góc nhìn khác, có một sự tiến triển số học của các cung cần được lưu ý khi chúng ta chuyển từ cánh hoa này sang cánh hoa khác. Vì đây là cánh hoa thứ bảy, chúng ta sẽ phải khảo sát ý nghĩa của cung bảy liên hệ với nó. Điều này áp dụng cho tất cả các cánh hoa đã bàn trước đây, bắt đầu ngay cả với cánh hoa thứ nhất, liên hệ với cánh hoa ấy cung một (dù biểu lộ của nó còn nguyên sơ đến đâu) cũng phải quan trọng. |
|
its unfoldment marks the period wherein the man consciously utilizes all that he has gained or is gaining under the law for the definite benefit of humanity. |
sự khai mở của nó đánh dấu giai đoạn trong đó con người một cách có ý thức sử dụng tất cả những gì y đã đạt được hay đang đạt được dưới định luật vì lợi ích xác định của nhân loại. |
|
531. The factor of utilization (with the implication of practicality) suggests both the third and seventh rays. The third ray expresses what has been called “the process of the utilisation of the many for the use of the one”. |
531. Yếu tố sử dụng hữu hiệu (với hàm ý tính thực tiễn) gợi ra cả cung ba lẫn cung bảy. Cung ba biểu lộ điều đã được gọi là “tiến trình sử dụng cái nhiều cho công dụng của cái một”. |
|
When the egoic ray is the third or Activity-adaptability Ray, the method is somewhat different. Not so much the driving forward, not so much the gradual expansion as the systematic adaptation of all knowledge and of all means to the end in view. It is in fact the process of the utilisation of the many for the use of the one; (LOM 16) |
Khi cung chân ngã là cung ba hay Cung Hoạt Động-Thích Nghi, phương pháp có phần khác biệt. Không phải là sự thúc đẩy tiến lên nhiều đến thế, cũng không phải là sự mở rộng dần dần nhiều đến thế, mà là sự thích nghi có hệ thống của mọi tri thức và mọi phương tiện với mục đích được nhắm đến. Thực ra, đó là tiến trình sử dụng số nhiều cho công dụng của số một; (LOM 16) |
|
532. The thought of “gain” or “acquisition” is again to be related to the third ray. Those egoically upon the third ray destroy the causal body through systematic acquisition leading to an excessive fulness. |
532. Tư tưởng về “thu đạt” hay “thâu đắc” lại phải được liên hệ với cung ba. Những ai về mặt chân ngã thuộc cung ba phá hủy thể nguyên nhân qua sự thâu đắc có hệ thống dẫn đến một sự viên mãn quá mức. |
|
533. The orientation is definitely towards service and much intelligence is involved in expressing that service. We remember that the Law of Service is the third law of the Seven Soul Laws. |
533. Sự định hướng rõ rệt là hướng về phụng sự và có rất nhiều trí tuệ được bao hàm trong việc biểu lộ sự phụng sự ấy. Chúng ta nhớ rằng Định luật Phụng sự là định luật thứ ba trong Bảy Định luật Linh hồn. |
|
Each of the groups of petals is distinguished by a predominant colouring; Knowledge, on the physical plane, with the colouring of the other two subsidiary; Love, on the astral plane, with the light of sacrifice weaker in tone than the other two, which practically show forth in equal brilliancy. |
Mỗi nhóm cánh hoa được phân biệt bởi một sắc thái nổi trội; Tri thức, trên cõi hồng trần, với sắc thái của hai cánh phụ kia; Bác ái, trên cõi cảm dục, với ánh sáng của hi sinh yếu sắc hơn hai cánh kia, vốn hầu như biểu lộ với độ rực sáng ngang nhau. |
|
534. During the unfoldment of the love tier, DK is telling us that knowledge and love show forth with equal brilliancy. Only sacrifice is weaker. |
534. Trong khi tầng bác ái khai mở, Chân sư DK cho chúng ta biết rằng tri thức và bác ái biểu lộ với độ rực sáng ngang nhau. Chỉ có hi sinh là yếu hơn. |
|
535. During the unfoldment of the knowledge petals, knowledge is strongest. Love and sacrifice are present but to a subsidiary extent. |
535. Trong khi các cánh hoa tri thức khai mở, tri thức là mạnh nhất. Bác ái và hi sinh hiện diện nhưng ở mức phụ thuộc. |
|
536. May we infer that when the sacrifice tier unfolds, knowledge, love and sacrifice will demonstrate more or less equally? |
536. Chúng ta có thể suy ra rằng khi tầng hi sinh khai mở, tri thức, bác ái và hi sinh sẽ biểu lộ ít nhiều ngang nhau chăng? |
|
537. Knowledge and love are called “colouring(s)”. They are the divine qualities which qualify the first and second tiers. |
537. Tri thức và bác ái được gọi là những “sắc thái”. Chúng là những phẩm tính thiêng liêng làm định tính cho tầng thứ nhất và thứ hai. |
|
On the mental plane, the light of sacrifice comes to its full display, and all that is seen is coloured by that light. |
Trên cõi trí, ánh sáng của hi sinh đạt đến sự biểu lộ trọn vẹn, và mọi điều được thấy đều được nhuốm màu bởi ánh sáng ấy. |
|
538. It is interesting to consider the “light of sacrifice” (just as we can consider the “light of knowledge” and the “light of love”). |
538. Thật thú vị khi suy xét về “ánh sáng của hi sinh” (cũng như chúng ta có thể suy xét về “ánh sáng của tri thức” và “ánh sáng của bác ái”). |
|
539. When thinking of the “light” of sacrifice, the mind turns to Mercury, expressing the fourth ray—the ray ruling the first Law of the Soul—the Law of Sacrifice. |
539. Khi nghĩ về “ánh sáng” của hi sinh, trí tuệ hướng đến Sao Thủy, biểu lộ cung bốn—cung cai quản Định luật đầu tiên của linh hồn—Định luật Hi Sinh. |
|
540. Light always reveals. Light brings forth the emergence into consciousness of that which had been concealed. It is obvious that the light of knowledge brings forth still more knowledge. Love however is also a great revealer and there are many important things that can only be seen by those who love. |
540. Ánh sáng luôn luôn mặc khải. Ánh sáng đem ra sự xuất hiện vào tâm thức của điều vốn đã bị che giấu. Hiển nhiên là ánh sáng của tri thức đem lại thêm nhiều tri thức hơn nữa. Tuy nhiên, bác ái cũng là một đấng mặc khải vĩ đại và có nhiều điều quan trọng chỉ có thể được thấy bởi những ai yêu thương. |
|
541. Carrying the idea further, sacrifice is the same. Sacrifice has its own revealing light and there are many important revelations which will only come to those who sacrifice. We might say, ‘sacrifice and you will understand’ just as we have said, ‘love and you will understand’. We have been told that “those who do the will of God (i.e., those who sacrifice) shall know”. |
541. Tiếp tục ý tưởng ấy, hi sinh cũng vậy. Hi sinh có ánh sáng mặc khải riêng của nó và có nhiều mặc khải quan trọng chỉ đến với những ai hi sinh. Chúng ta có thể nói, ‘hãy hi sinh và bạn sẽ thấu hiểu’ cũng như chúng ta đã nói, ‘hãy yêu thương và bạn sẽ thấu hiểu’. Chúng ta đã được bảo rằng “những ai làm theo Ý Chí của Thượng Đế (tức là, những ai hi sinh) sẽ biết”. |
|
542. The light of sacrifice is, from one perspective, yellow, and associated with both Mercury (yellow) and with the fourth ray (yellow). The fourth ray, as stated above, rules the Law of Sacrifice. |
542. Từ một góc nhìn, ánh sáng của hi sinh là màu vàng, và gắn liền với cả Sao Thủy (vàng) lẫn cung bốn (vàng). Cung bốn, như đã nói ở trên, cai quản Định luật Hi Sinh. |
|
543. The knowledge petal in the sacrifice tier is the seventh petal, overall. |
543. Cánh hoa tri thức trong tầng hi sinh là cánh hoa thứ bảy, xét toàn bộ. |
|
544. Following our usual method of assigning a petal to a sign of the zodiac, we will have Libra, the seventh sign, associated with this seventh petal (considering a counter clockwise zodiacal progression beginning with Aries). |
544. Theo phương pháp thường dùng của chúng ta khi gán một cánh hoa cho một dấu hiệu hoàng đạo, chúng ta sẽ có Thiên Bình, dấu hiệu thứ bảy, được liên kết với cánh hoa thứ bảy này (xét một tiến trình hoàng đạo ngược chiều kim đồng hồ bắt đầu từ Bạch Dương). |
|
545. Libra is the “Hub of the Wheel” and signifies a synthetic process in which the gains of the first six signs are gathered together. |
545. Thiên Bình là “Trục của Bánh Xe” và biểu thị một tiến trình tổng hợp trong đó các thu hoạch của sáu dấu hiệu đầu tiên được gom lại. |
|
546. We noted the strong third ray emphasis in relation to this seventh petal. We realize that Libra (at this time) is said to transmit only the Third Ray of Active Intelligence, so the correspondence applies. We might consider Libra a sign promoting skillful manipulation. It also has its altruistic tendencies, so the manipulation is accomplished on behalf of those who are served—in the case of the seventh petal, a growing number of beings. |
546. Chúng ta đã lưu ý sự nhấn mạnh mạnh mẽ của cung ba liên hệ với cánh hoa thứ bảy này. Chúng ta nhận ra rằng Thiên Bình (vào lúc này) được nói là chỉ truyền dẫn cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động, nên sự tương ứng này được áp dụng. Chúng ta có thể xem Thiên Bình là một dấu hiệu thúc đẩy sự vận dụng khéo léo. Nó cũng có những khuynh hướng vị tha, nên sự vận dụng ấy được thực hiện thay mặt cho những người được phụng sự—trong trường hợp của cánh hoa thứ bảy, là một số lượng hữu thể ngày càng tăng. |
|
547. From the counter-clockwise perspective, beginning with Aries, we have Libra again, contributing to a double Libran emphasis. |
547. Từ góc nhìn ngược chiều kim đồng hồ, bắt đầu với Bạch Dương, chúng ta lại có Thiên Bình, góp phần tạo nên một sự nhấn mạnh kép của Thiên Bình. |
|
548. When we begin with Pisces (working clockwise), the sign is Virgo, signifying the purificatory processes related to the first initiation, and the self-denying disciplines of discipleship. |
548. Khi chúng ta bắt đầu với Song Ngư (theo chiều kim đồng hồ), dấu hiệu là Xử Nữ, biểu thị các tiến trình thanh luyện liên hệ với lần điểm đạo thứ nhất, và các kỷ luật tự khước từ của địa vị đệ tử. |
|
549. With regard to the three petals of the sacrifice tier, we can apportion the seventh petal to the first initiation, the eighth to the second initiation and the ninth to the third. There is much hidden complexity in this assignment, but in general it will serve to indicate a necessary truth. |
549. Đối với ba cánh hoa của tầng hi sinh, chúng ta có thể phân cánh hoa thứ bảy cho lần điểm đạo thứ nhất, cánh thứ tám cho lần điểm đạo thứ hai và cánh thứ chín cho lần điểm đạo thứ ba. Có nhiều phức tạp ẩn kín trong sự phân định này, nhưng nhìn chung nó sẽ giúp chỉ ra một chân lý cần thiết. |
|
550. Just as we assigned earth signs to the three petals of the knowledge tier and water signs to the petals of the love tier, so it is reasonable to assign fire signs to the mental or sacrificial tier. In some astrological systems, air is associated with mentality and there is justification for this assignment, but in occultism, the realm of air is more specifically associated with the faculty of intuition. The association of fire with mind is also explicit. |
550. Cũng như chúng ta đã gán các dấu hiệu hành thổ cho ba cánh hoa của tầng tri thức và các dấu hiệu hành thủy cho các cánh hoa của tầng bác ái, thì cũng hợp lý khi gán các dấu hiệu hành hỏa cho tầng trí tuệ hay tầng hi sinh. Trong một số hệ thống chiêm tinh, khí được liên hệ với trí tuệ và có cơ sở cho sự gán định này, nhưng trong huyền bí học, cõi của khí được liên hệ chuyên biệt hơn với năng lực trực giác. Sự liên hệ của lửa với trí tuệ cũng được nêu rõ. |
|
551. Shall we continue, however, with listing the cardinal sign first and the mutable sign last as we have in relation to the two earlier tiers? There are qualities of Aries which seem to fit seventh petal processes but the fit is not exact. Aries is mental and synthetic, but also extremely wilful. |
551. Tuy nhiên, chúng ta có nên tiếp tục liệt kê dấu hiệu chủ yếu trước và dấu hiệu biến đổi sau cùng như đã làm đối với hai tầng trước không? Có những phẩm tính của Bạch Dương dường như phù hợp với các tiến trình của cánh hoa thứ bảy nhưng sự phù hợp không hoàn toàn chính xác. Bạch Dương có tính trí tuệ và tổng hợp, nhưng cũng cực kỳ ý chí. |
|
552. Sagittarius might be a better fit as with Sagittarius there is a definite association with the higher mind and with a broad expanse of application. |
552. Nhân Mã có thể phù hợp hơn vì với Nhân Mã có một liên hệ rõ rệt với thượng trí và với một phạm vi ứng dụng rộng lớn. |
|
553. While Aries can be associated with the first initiation (because one is, as it were, ‘breaking into’ the Kingdom of God), Sagittarius is associated with the aspiration necessary for first and second degree processes. |
553. Trong khi Bạch Dương có thể được liên hệ với lần điểm đạo thứ nhất (vì người ta, có thể nói như vậy, đang ‘đột nhập vào’ Thiên Giới), thì Nhân Mã được liên hệ với khát vọng cần thiết cho các tiến trình bậc một và bậc hai. |
|
“Intuition governing aspiration—Sagittarius. Soul consciousness in the early stages. Initiation 1 and 2. I vision”. (EA 178) |
“Trực giác chi phối khát vọng—Nhân Mã. Tâm thức linh hồn trong các giai đoạn đầu. Điểm đạo 1 và 2. Tôi linh thị”. (EA 178) |
|
554. It might be better to use the progression—Mutable, Fixed, Cardinal (Sagittarius—Leo—Aries) than the sequence we have been using when looking at the tiers from the perspective of the four elements. |
554. Có lẽ tốt hơn là dùng tiến trình—Biến đổi, Cố định, Chủ yếu (Nhân Mã—Sư Tử—Bạch Dương) thay vì chuỗi mà chúng ta đã dùng khi xem các tầng từ góc nhìn của bốn nguyên tố. |
|
555. The utilization of Aries in relation to the ninth petal and the third initiation seems correspondentially accurate as the third initiation involves a realization of pure being, to which realization Aries is related. |
555. Việc dùng Bạch Dương liên hệ với cánh hoa thứ chín và lần điểm đạo thứ ba dường như xét theo tương ứng là chính xác, vì lần điểm đạo thứ ba bao hàm một sự chứng nghiệm về bản thể thuần túy, mà Bạch Dương có liên hệ với sự chứng nghiệm ấy. |
|
1. The secret of Aries is the secret of beginnings, of cycles and of emerging opportunity. At the third initiation, the initiate begins to understand the life of the spirit or the highest aspect; until that time, he has expressed first the life of the form and then the life of the soul within that form. This experience is of so high a nature that only those who have passed through it could in any way comprehend anything I might say. (EA 387-388) |
1. Bí mật của Bạch Dương là bí mật của những khởi đầu, của các chu kỳ và của cơ hội đang xuất hiện. Ở lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ bắt đầu thấu hiểu sự sống của tinh thần hay phương diện cao nhất; cho đến lúc đó, y trước hết đã biểu lộ sự sống của hình tướng rồi sau đó là sự sống của linh hồn bên trong hình tướng ấy. Kinh nghiệm này có bản chất cao siêu đến mức chỉ những ai đã đi qua nó mới có thể phần nào hiểu được bất cứ điều gì tôi có thể nói. (EA 387-388) |
|
556. The assignment of Leo to the central petal seems secure. |
556. Việc gán Sư Tử cho cánh hoa trung tâm dường như vững chắc. |
|
557. It cannot be denied that the energies of Gemini and Aquarius can also be reasonably associated with the seventh petal. |
557. Không thể phủ nhận rằng các năng lượng của Song Tử và Bảo Bình cũng có thể được liên hệ một cách hợp lý với cánh hoa thứ bảy. |
|
558. For one thing, Gemini is directly related to the Secret of the First Initiation to which seventh petal processes admit. |
558. Trước hết, Song Tử liên hệ trực tiếp với Bí Mật của lần điểm đạo thứ nhất mà các tiến trình của cánh hoa thứ bảy dẫn vào. |
|
3. The secret of Gemini has to be grasped at the first initiation because it is the mystery of the relation of Father, Mother and Child. The birth of the Christ-child upon the physical plane is the consummating glory of the Gemini force. (EA 388) |
3. Bí mật của Song Tử phải được nắm bắt ở lần điểm đạo thứ nhất vì đó là huyền nhiệm của mối liên hệ giữa Cha, Mẹ và Con. Sự ra đời của Hài Nhi Christ trên cõi hồng trần là vinh quang viên mãn của lực Song Tử. (EA 388) |
|
559. Since, in general, we are dealing with the process of initiation, the sign of initiation, Capricorn must be included—not only in relation to this first petal in the sacrifice tier but in relation to all three, and beyond. |
559. Vì nhìn chung chúng ta đang bàn đến tiến trình điểm đạo, nên Ma Kết, dấu hiệu của điểm đạo, phải được bao gồm—không chỉ liên hệ với cánh hoa đầu tiên này trong tầng hi sinh mà còn liên hệ với cả ba cánh, và hơn thế nữa. |
|
560. From the planetary perspective, the entire sacrifice tier is ruled by Mercury or by Uranus (depending on whether we are considering rulership of the tiers in relation to the triangle Mars—Venus—Mercury, or to the synthesizing triad Saturn—Neptune—Uranus). |
560. Từ góc nhìn hành tinh, toàn bộ tầng hi sinh được cai quản bởi Sao Thủy hoặc bởi Sao Thiên Vương (tùy theo chúng ta đang xét quyền cai quản của các tầng liên hệ với tam giác Sao Hỏa—Sao Kim—Sao Thủy, hay với tam nguyên tổng hợp Sao Thổ—Sao Hải Vương—Sao Thiên Vương). |
|
561. Because the process of initiation is ruled, in general, by Venus (representing the Solar Angels), Venus will naturally be important in relation to this seventh petal which indicates the first initiation. |
561. Bởi vì tiến trình điểm đạo nhìn chung được cai quản bởi Sao Kim (đại diện cho các Thái dương Thiên Thần), nên Sao Kim tự nhiên sẽ quan trọng liên hệ với cánh hoa thứ bảy này, vốn chỉ ra lần điểm đạo thứ nhất. |
|
562. Jupiter rules the expansion of consciousness equated with entry into causal consciousness (which initiation signifies). Jupiter, a second ray planet will contribute to that considerable expansion of conscious which the first initiation represents—the sight (and Jupiter is a planet associated with sight) within the “chamber of initiation” of the Solar Angel. |
562. Sao Mộc cai quản sự mở rộng của tâm thức tương đương với việc đi vào tâm thức nguyên nhân (điều mà điểm đạo biểu thị). Sao Mộc, một hành tinh cung hai, sẽ góp phần vào sự mở rộng đáng kể của tâm thức mà lần điểm đạo thứ nhất tượng trưng—sự thấy (và Sao Mộc là một hành tinh liên hệ với thị giác) bên trong “phòng điểm đạo” của Thái dương Thiên Thần. |
|
563. If we associate the three synthesizing planets with the three sacrifice petals, Saturn (the major ruler of Libra) will be connected with the seventh petal. Saturn is also a third ray planet representing the use of gathered resources on behalf of the Divine Plan. Saturn is at once a planet of “gain” or “accumulation” and definitely a planet of utilization—utilitarianism. |
563. Nếu chúng ta liên hệ ba hành tinh tổng hợp với ba cánh hoa hi sinh, thì Sao Thổ (chủ tinh chính của Thiên Bình) sẽ được nối với cánh hoa thứ bảy. Sao Thổ cũng là một hành tinh cung ba, đại diện cho việc sử dụng các tài nguyên đã thu góp để phụng sự Thiên Cơ. Sao Thổ đồng thời là một hành tinh của “thu đạt” hay “tích lũy” và chắc chắn là một hành tinh của sự sử dụng—tính công dụng. |
|
564. Since the first petal (the knowledge petal) in the sacrifice tier is a mental petal the third ray will naturally be important. |
564. Vì cánh hoa đầu tiên (cánh hoa tri thức) trong tầng hi sinh là một cánh hoa trí tuệ nên cung ba tự nhiên sẽ quan trọng. |
|
565. Saturn is also a planet through which the first ray expresses (as in the triangle Leo/Saturn/Shamballa. We are dealing with the first initiation and the first ray of commencement is naturally important. |
565. Sao Thổ cũng là một hành tinh qua đó cung một biểu lộ (như trong tam giác Sư Tử/Sao Thổ/Shamballa). Chúng ta đang bàn đến lần điểm đạo thứ nhất và cung một của sự khởi đầu tự nhiên là quan trọng. |
|
566. A significant transformation begins with initiation. For all of the initiations Uranus is important, but especially for the first and third initiations more than for the second. Uranus is expressive of the seventh ray (prominent at the first degree because the etheric body must at that time demonstrate considerable control over the physical elemental) and is the ruler of the sacral center (which must be transformed at the first initiation). (cf. EA 517) |
566. Một sự chuyển đổi quan trọng bắt đầu với điểm đạo. Đối với mọi lần điểm đạo, Sao Thiên Vương đều quan trọng, nhưng đặc biệt đối với lần điểm đạo thứ nhất và thứ ba hơn là lần thứ hai. Sao Thiên Vương biểu lộ cung bảy (nổi bật ở bậc thứ nhất vì thể dĩ thái lúc ấy phải chứng tỏ sự kiểm soát đáng kể đối với tinh linh thể xác) và là chủ tinh của trung tâm xương cùng (trung tâm này phải được chuyển hoá ở lần điểm đạo thứ nhất). (x. EA 517) |
|
567. Mercury in relation to the first sacrifice petal suggests the knowledge accumulated and to be shared. |
567. Sao Thủy liên hệ với cánh hoa hi sinh thứ nhất gợi ra tri thức đã được tích lũy và sẽ được chia sẻ. |
|
568. Vulcan represents the increasing control of the personality by the soul. This begins in earnest at the first degree and, hence, during seventh petal processes. |
568. Vulcan tượng trưng cho sự kiểm soát ngày càng tăng của linh hồn đối với phàm ngã. Điều này bắt đầu một cách nghiêm túc ở bậc thứ nhất và do đó trong các tiến trình của cánh hoa thứ bảy. |
|
569. From the ray perspective, we have already spoken of the third and seventh rays. |
569. Từ góc nhìn cung, chúng ta đã nói đến cung ba và cung bảy. |
|
570. The process of initiation signifies that the second ray (generically the ray of the soul) is beginning to dominate the ray of the personality (generically the third). So the second ray through Jupiter and Venus will be prominent at this petal and increasingly so as the causal body gains in scope and brilliance. |
570. Tiến trình điểm đạo biểu thị rằng cung hai (nói chung là cung của linh hồn) đang bắt đầu chi phối cung của phàm ngã (nói chung là cung ba). Vì vậy cung hai qua Sao Mộc và Sao Kim sẽ nổi bật ở cánh hoa này và ngày càng như thế khi thể nguyên nhân tăng trưởng về phạm vi và độ rực sáng. |
|
571. Because the first initiation is the first, the first ray will be important in relation to it (at least in terms of preparation). Thus Vulcan and Pluto (both first ray planets) are prominent in the preparation period preceding the first degree. As stated, Saturn has its first ray component and Uranus is a deeply first ray planet. |
571. Bởi vì lần điểm đạo thứ nhất là lần thứ nhất, nên cung một sẽ quan trọng liên hệ với nó (ít nhất là về phương diện chuẩn bị). Do đó Vulcan và Sao Diêm Vương (đều là các hành tinh cung một) nổi bật trong thời kỳ chuẩn bị trước bậc thứ nhất. Như đã nói, Sao Thổ có thành phần cung một của nó và Sao Thiên Vương là một hành tinh mang tính cung một sâu sắc. |
|
572. Sixth ray aspiration naturally continues, building towards the second degree. |
572. Khát vọng cung sáu tự nhiên vẫn tiếp tục, xây dựng hướng đến bậc thứ hai. |
|
573. Initiation is taken through the power of the fifth ray and Venus, so the light of the fifth ray (coming through Venus, ruler of Libra) has much to do with the growth of the first petal. |
573. Điểm đạo được tiếp nhận qua quyền năng của cung năm và Sao Kim, nên ánh sáng của cung năm (đến qua Sao Kim, chủ tinh của Thiên Bình) có liên hệ rất nhiều với sự tăng trưởng của cánh hoa thứ nhất. |
|
574. The seventh petal is not so much one in which the fourth ray will be prominent except for the general processes of conflict and the attempt to harmonize that conflict which is the lot of all disciples. |
574. Cánh hoa thứ bảy không hẳn là cánh mà cung bốn sẽ nổi bật, ngoại trừ các tiến trình chung của xung đột và nỗ lực hài hòa xung đột ấy, vốn là số phận của mọi đệ tử. |
|
575. From the chakric perspective, both the sacral and throat centers are strongly involved. The goal of the first initiation is the transfer of sacral energy to the throat. Both of these centers have correlation with both the seventh and third rays (both prominent in seventh petal processes). |
575. Từ góc nhìn luân xa, cả trung tâm xương cùng lẫn trung tâm cổ họng đều can dự mạnh mẽ. Mục tiêu của lần điểm đạo thứ nhất là sự chuyển dịch năng lượng xương cùng lên cổ họng. Cả hai trung tâm này đều có tương quan với cả cung bảy lẫn cung ba (đều nổi bật trong các tiến trình của cánh hoa thứ bảy). |
|
576. The heart center, also, is especially stimulated during the unfoldment of the seventh petal. |
576. Trung tâm tim cũng đặc biệt được kích thích trong khi cánh hoa thứ bảy khai mở. |
|
577. A major question arises here: must the seventh petal be completely unfolded before the first initiation occurs, or does the unfolding of that petal suggest the period between the first and second initiation? |
577. Ở đây nảy sinh một câu hỏi lớn: cánh hoa thứ bảy có phải được khai mở hoàn toàn trước khi lần điểm đạo thứ nhất xảy ra không, hay sự khai mở của cánh hoa ấy gợi ra giai đoạn giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai? |
|
578. If we work backwards, we will realize that the completely unfolded ninth petal represents the completion of the third initiation. Thus, the completely unfolded eighth petal would represent the completion of the second initiation. |
578. Nếu chúng ta suy ngược lại, chúng ta sẽ nhận ra rằng cánh hoa thứ chín được khai mở hoàn toàn tượng trưng cho sự hoàn tất của lần điểm đạo thứ ba. Như vậy, cánh hoa thứ tám được khai mở hoàn toàn sẽ tượng trưng cho sự hoàn tất của lần điểm đạo thứ hai. |
|
579. If we work analogically, then the completely unfolded seventh petal would represent the completion of the first initiation. This is possible, but is not ascertained. |
579. Nếu chúng ta làm việc theo định luật tương đồng, thì cánh hoa thứ bảy được khai mở hoàn toàn sẽ tượng trưng cho sự hoàn tất của lần điểm đạo thứ nhất. Điều này có thể, nhưng chưa được xác định. |
|
580. Using inference then, we would understand the unfolding seventh petal to indicate a process of preparation for the first initiation. |
580. Khi đó, dùng phép suy luận, chúng ta sẽ hiểu cánh hoa thứ bảy đang khai mở là chỉ ra một tiến trình chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất. |
|
581. We are told of the seventh petal that “its unfoldment marks the period wherein the man consciously utilizes all that he has gained or is gaining under the law for the definite benefit of humanity.” This does not mean that its stimulation represents this conscious utilization, nor does its organization, but only its unfoldment. It seems to be the case that the first initiation takes place sometime during the “unfoldment” of the seventh petal and not during the earlier phases of stimulation/vivification or organization. |
581. Chúng ta được nói về cánh hoa thứ bảy rằng “sự khai mở của nó đánh dấu giai đoạn trong đó con người hữu thức sử dụng tất cả những gì y đã thu đạt hay đang thu đạt dưới định luật vì lợi ích xác định của nhân loại.” Điều này không có nghĩa rằng sự kích thích của nó tượng trưng cho sự sử dụng hữu thức này, cũng không phải sự tổ chức của nó, mà chỉ là sự khai mở của nó. Dường như trường hợp là lần điểm đạo thứ nhất diễn ra vào một lúc nào đó trong khi cánh hoa thứ bảy đang “khai mở” chứ không phải trong các giai đoạn sớm hơn của kích thích/tiếp sinh lực hay tổ chức. |
|
582. If the second petal of the sacrifice tier achieves complete unfoldment only once the second initiation is taken, then the stimulation, organization and unfoldment of the second petal must take much longer than the same process in relation to the third petal. The third petal can complete its unfoldment in one life as the second and third initiations are commonly taken in the same life. But the first and second initiations are not taken in the same life—usually quite a number of lives separate them. |
582. Nếu cánh hoa thứ hai của tầng hi sinh chỉ đạt đến sự khai mở hoàn toàn một khi lần điểm đạo thứ hai được tiếp nhận, thì sự kích thích, tổ chức và khai mở của cánh hoa thứ hai hẳn phải kéo dài lâu hơn nhiều so với cùng tiến trình liên hệ với cánh hoa thứ ba. Cánh hoa thứ ba có thể hoàn tất sự khai mở của nó trong một kiếp sống vì lần điểm đạo thứ hai và thứ ba thường được tiếp nhận trong cùng một kiếp sống. Nhưng lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai không được tiếp nhận trong cùng một kiếp sống—thường có khá nhiều kiếp sống ngăn cách chúng. |
|
583. It is clear (considering the principal of overlapping development) that when the first petal achieves complete unfoldment and is completely open, the second petal is already stimulated, organized and perhaps in process of unfoldment. When the second petal achieves complete unfoldment and is completely open, then the third petal of the sacrifice tier is already simulated, organized and probably in process of unfoldment. |
583. Rõ ràng (xét nguyên lý phát triển chồng lấn) rằng khi cánh hoa thứ nhất đạt đến sự khai mở hoàn toàn và hoàn toàn mở ra, cánh hoa thứ hai đã được kích thích, được tổ chức và có lẽ đang trong tiến trình khai mở. Khi cánh hoa thứ hai đạt đến sự khai mở hoàn toàn và hoàn toàn mở ra, thì cánh hoa thứ ba của tầng hi sinh đã được kích thích, được tổ chức và có lẽ đang trong tiến trình khai mở. |
|
584. It is hard to match exactly the degree of unfoldment to the moment of initiation; working backwards, however it seem that the third degree marks the point of full unfoldment of the sacrifice tier, and thus we would not expect that the first initiation would be taken when the seventh petal is only beginning to be opened. And yet… |
584. Thật khó ghép chính xác mức độ khai mở với khoảnh khắc điểm đạo; tuy nhiên, khi suy ngược lại, dường như bậc thứ ba đánh dấu điểm khai mở trọn vẹn của tầng hi sinh, và do đó chúng ta sẽ không mong đợi rằng lần điểm đạo thứ nhất được tiếp nhận khi cánh hoa thứ bảy chỉ mới bắt đầu mở ra. Tuy vậy… |
|
585. Yet the picture is not clear. The main problem is this one: |
585. Tuy vậy, bức tranh không rõ ràng. Vấn đề chính là điều này: |
|
a. Does initiation occur following the organization of the petal and before the process of unfoldment is fully matured?– |
a. Điểm đạo có xảy ra sau khi cánh hoa được tổ chức và trước khi tiến trình khai mở trưởng thành trọn vẹn không?– |
|
b. OR, does initiation occur only once the petal which corresponds to that initiation is completely unfolded? |
b. HAY, điểm đạo chỉ xảy ra một khi cánh hoa tương ứng với lần điểm đạo ấy đã được khai mở hoàn toàn? |
|
586. From the following statement, one could think that initiation occurs when the petal is organized and about to unfold: |
586. Từ phát biểu sau đây, người ta có thể nghĩ rằng điểm đạo xảy ra khi cánh hoa đã được tổ chức và sắp khai mở: |
|
In this fashion the work of the disciple is carried forward, and his testing and training carried out until the two circles of petals are unfolded, and the third is organised. Thus he is brought, through right direction of energy and wise manipulation of force currents, to the Portal of Initiation, and graduates out of the Hall of Learning76 into the great Hall of Wisdom—that Hall wherein he gradually becomes “aware” of forces, and powers, latent in his own Ego and egoic group. (TCF 867) |
Theo cách này, công việc của đệ tử được tiếp tục, và sự thử thách cùng huấn luyện của y được thực hiện cho đến khi hai vòng cánh hoa được khai mở, và vòng thứ ba được tổ chức. Như thế y được đưa, qua sự định hướng đúng đắn của năng lượng và sự vận dụng khôn ngoan các dòng mãnh lực, đến Cổng Điểm Đạo, và tốt nghiệp ra khỏi Phòng Hiểu Biết76 để bước vào Phòng Minh triết vĩ đại—Phòng mà trong đó y dần dần trở nên “nhận biết” các mãnh lực và quyền năng tiềm ẩn trong chính Chân ngã của y và trong nhóm chân ngã của y. (TCF 867) |
|
587. If this is the case the Rod of Initiation would stimulate the unfoldment and would not be the seal of certification that the petals had been unfolded. |
587. Nếu đúng như vậy thì Thần Trượng Điểm đạo sẽ kích thích sự khai mở và sẽ không phải là dấu ấn chứng nhận rằng các cánh hoa đã được khai mở. |
|
588. When the third tier is organized, in general, we might ask “to what extent is the seventh petal in the process of opening?” |
588. Khi tầng thứ ba được tổ chức, nhìn chung, chúng ta có thể hỏi “cánh hoa thứ bảy đang trong tiến trình mở ra đến mức nào?” |
|
589. The unfoldment of the third petal of the sacrifice tier is probably a very rapid affair, possibly occurring in part of one life-cycle. Is the Rod of Initiation applied by the Lord of the World as the ninth petal is about to unfold, while it is unfolding or only after it has unfolded completely? Whichever is the correct answer we have such references as the following to guide us: |
589. Sự khai mở của cánh hoa thứ ba trong tầng hi sinh có lẽ là một việc diễn ra rất nhanh, có thể xảy ra trong một phần của một chu kỳ đời sống. Thần Trượng Điểm đạo có được Đức Chúa Tể Thế Giới sử dụng khi cánh hoa thứ chín sắp khai mở, đang khai mở hay chỉ sau khi nó đã khai mở hoàn toàn? Dù câu trả lời đúng là gì, chúng ta vẫn có những đoạn như sau để hướng dẫn: |
|
By the time the third Initiation is reached, a wondrous transformation has transpired. The outer sphere is palpitating with every colour in the rainbow, and is of wide radius; the streams of electrical energy circulating in it are so powerful that they are escaping beyond the periphery of the circle, resembling the rays of the sun. The nine petals are fully unfolded, forming a gracious setting for the central jewel,…(TCF 763) |
Vào lúc lần Điểm Đạo thứ ba đạt đến, một sự chuyển đổi kỳ diệu đã xảy ra. Khối cầu bên ngoài rung động với mọi màu sắc trong cầu vồng, và có bán kính rộng; các dòng năng lượng điện lưu chuyển trong đó mạnh đến mức chúng đang thoát ra ngoài chu vi của vòng tròn, giống như các tia mặt trời. Chín cánh hoa đã hoàn toàn khai mở, tạo thành một khung cảnh duyên dáng cho viên ngọc trung tâm,…(TCF 763) |
|
By the time the third Initiation is taken, the inner circle of petals is opened and the full-blown lotus in all its beauty can be seen. At the fourth Initiation the inner bud bursts [fully] open through the effect of the electrical force of the Rod, which brings in the power of the synthetic ray of the solar system itself; the inner jewel is thus revealed. (TCF 830) |
Vào lúc lần Điểm Đạo thứ ba được tiếp nhận, vòng cánh hoa bên trong được mở ra và hoa sen nở trọn trong toàn bộ vẻ đẹp của nó có thể được thấy. Ở lần Điểm Đạo thứ tư, nụ bên trong bừng [hoàn toàn] mở ra do tác động của lực điện từ Thần Trượng, vốn đem vào quyền năng của cung tổng hợp của chính hệ mặt trời; nhờ đó viên ngọc bên trong được mặc khải. (TCF 830) |
|
590. It is suggested that the “inner circles of petals” is opened are we speaking of the sacrifice tier (it seems so) and are these petals fully opened? From the reference on TCF 763, it seems so again. |
590. Có điều được gợi ý rằng “các vòng cánh hoa bên trong” được mở ra—phải chăng chúng ta đang nói về tầng hi sinh (dường như là vậy) và các cánh hoa này có được hoàn toàn mở ra không? Từ đoạn dẫn ở TCF 763, dường như lại là như vậy. |
|
591. One can wonder whether the Rod of the Bodhisattva starts the unfoldment going for both the first and second initiation, and whether the Rod of the One Initiator confirms the resultant opening of the ninth petal and the third tier rather than inaugurating this opening. |
591. Người ta có thể tự hỏi liệu Thần Trượng của Đức Bồ Tát có khởi sự tiến trình khai mở cho cả lần điểm đạo thứ nhất lẫn thứ hai hay không, và liệu Thần Trượng của Đấng Điểm đạo có xác nhận sự mở ra kết quả của cánh hoa thứ chín và tầng thứ ba hơn là khai mở sự mở ra này hay không. |
|
592. Were this the case, the Bodhisattva would stimulate the opening of the first petal of the sacrifice tier (which would take a very long time), and would stimulate the opening of the second petal of sacrifice tier which, comparatively, might not take long at all. The third petal of the sacrifice tier would already be vitalized, organized and partially unfolded. Then, perhaps, the Rod of the One Initiator would be applied towards the end of the ninth petal’s unfoldment. It is only with reference to the third initiation that we have text confirming the complete unfoldment of the petal associated with it. |
592. Nếu đúng như vậy, Đức Bồ Tát sẽ kích thích sự mở ra của cánh hoa thứ nhất trong tầng hi sinh (điều này sẽ mất rất lâu), và sẽ kích thích sự mở ra của cánh hoa thứ hai trong tầng hi sinh, điều mà xét tương đối có thể sẽ không mất lâu lắm. Cánh hoa thứ ba của tầng hi sinh đã được tiếp sinh lực, được tổ chức và khai mở một phần. Khi đó, có lẽ Thần Trượng của Đấng Điểm đạo sẽ được sử dụng vào gần cuối tiến trình khai mở của cánh hoa thứ chín. Chỉ liên hệ với lần điểm đạo thứ ba mà chúng ta mới có văn bản xác nhận sự khai mở hoàn toàn của cánh hoa gắn với nó. |
|
593. Importantly, we might also consider that the Rod of Initiation is applied when a given petal is open to a sufficient degree to prove some mastery of the requirements associated with that petal, and that the application of the Rod promotes further and rapid unfoldment until the petal is completely open. Let us keep this in mind as we examine some contrasting possibilities. |
593. Điều quan trọng là, chúng ta cũng có thể xét rằng Thần Trượng Điểm đạo được sử dụng khi một cánh hoa nhất định mở ra đến mức đủ để chứng tỏ một mức làm chủ nào đó đối với các đòi hỏi gắn với cánh hoa ấy, và rằng việc sử dụng Thần Trượng thúc đẩy sự khai mở thêm nữa và nhanh chóng cho đến khi cánh hoa hoàn toàn mở ra. Chúng ta hãy ghi nhớ điều này khi khảo sát một số khả năng tương phản. |
|
594. We have somewhat contradictory references under consideration and perhaps they can be reconciled by considering that there are— |
594. Chúng ta đang xem xét những đoạn dẫn có phần mâu thuẫn và có lẽ chúng có thể được dung hòa bằng cách xét rằng có— |
|
a. Two orders of initiation here—one supervised by the Bodhisattva and the other by the One Initiator |
a. Hai trật tự điểm đạo ở đây—một do Đức Bồ Tát giám sát và trật tự kia do Đấng Điểm đạo giám sát |
|
b. The intervals between the second and third, the third and fourth and the fourth and fifth are much shorter than that between the first and second. Perhaps the third, fourth and fifth initiations (administered by Sanat Kumara) function according to other ‘rules’. |
b. Các khoảng cách giữa lần thứ hai và thứ ba, thứ ba và thứ tư, và thứ tư và thứ năm ngắn hơn nhiều so với khoảng cách giữa lần thứ nhất và thứ hai. Có lẽ các lần điểm đạo thứ ba, thứ tư và thứ năm (do Đức Sanat Kumara ban truyền) vận hành theo những ‘quy luật’ khác. |
|
595. Yet, we cannot forget that, essentially, the initiate is initiate before he is initiated, and that, therefore, ‘initiation is confirmation’. |
595. Tuy vậy, chúng ta không thể quên rằng, về bản chất, điểm đạo đồ là điểm đạo đồ trước khi y được điểm đạo, và do đó, ‘điểm đạo là sự xác nhận’. |
|
596. Yet, as a balancing thought, initiation is also ‘commencement’. |
596. Tuy vậy, như một ý tưởng cân bằng, điểm đạo cũng là ‘sự khởi đầu’. |
|
597. Or as we have suggested, maybe there is a “middle road” in this consideration, with the Rod of Power being applied well after unfoldment has commenced but somewhat before it is complete. In this case initiation would not only be confirmation but a gift, a bestowal and addition, rapidly stimulating unfoldment until unfoldment is complete. |
597. Hoặc như chúng ta đã gợi ý, có thể có một “con đường trung đạo” trong sự xem xét này, với Quyền năng Trượng được sử dụng khá lâu sau khi sự khai mở đã bắt đầu nhưng sớm hơn đôi chút trước khi nó hoàn tất. Trong trường hợp này, điểm đạo sẽ không chỉ là sự xác nhận mà còn là một ân tặng, một sự ban cho và bổ sung, nhanh chóng kích thích sự khai mở cho đến khi sự khai mở hoàn tất. |
|
598. We are probably dealing with the fact that the exact moment the Rod of Initiation can be applied is a highly technical and secret matter. The degree of petal unfoldment may not be exactly the same for each candidate, as other factors of timing (astrological, for instance) have to be considered. |
598. Có lẽ chúng ta đang đối diện với sự kiện rằng khoảnh khắc chính xác khi Thần Trượng Điểm đạo có thể được sử dụng là một vấn đề có tính kỹ thuật cao và bí mật. Mức độ khai mở của cánh hoa có thể không hoàn toàn giống nhau đối với mỗi ứng viên, vì các yếu tố thời điểm khác (chẳng hạn chiêm tinh) phải được xét đến. |
|
599. However, let us summarize the pertinent questions in the line of speculation we have been following. Could it make sense that the Bodhisattva gives (through the first and second initiations) the impulse towards unfoldment whereas the Lord of the World (in relation to the third, fourth and fifth initiations) sets the seal of confirmation? |
599. Tuy nhiên, chúng ta hãy tóm lược những câu hỏi thích đáng trong đường suy đoán mà chúng ta đã theo đuổi. Có hợp lý chăng khi Đức Bồ Tát ban (qua lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai) xung lực hướng đến sự khai mở, trong khi Đức Chúa Tể Thế Giới (liên hệ với lần điểm đạo thứ ba, thứ tư và thứ năm) đặt dấu ấn xác nhận? |
|
600. The matter is not easy to solve. If the first initiation comes only when the unfoldment of the seventh petal is complete; if the second initiation comes only when the unfoldment of the eighth petal is complete—then the unfoldment of the eight petal will take a very long time, for there is a long interval between the first and second initiations. |
600. Vấn đề này không dễ giải quyết. Nếu lần điểm đạo thứ nhất chỉ đến khi sự khai mở của cánh hoa thứ bảy hoàn tất; nếu lần điểm đạo thứ hai chỉ đến khi sự khai mở của cánh hoa thứ tám hoàn tất—thì sự khai mở của cánh hoa thứ tám sẽ mất một thời gian rất dài, vì có một khoảng cách dài giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai. |
|
601. If the first and second initiations are given before the first and second petals are completely unfolded (and perhaps when they are organized and about to unfold or somewhat unfolded), then it will be the unfoldment of the seventh petal which takes a very long time when compared to the unfoldment of the eighth and ninth petals, but not in relation to the unfoldment of petals earlier than the seventh. |
601. Nếu lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai được ban trước khi cánh hoa thứ nhất và thứ hai được khai mở hoàn toàn (và có lẽ khi chúng đã được tổ chức và sắp khai mở hoặc đã khai mở phần nào), thì chính sự khai mở của cánh hoa thứ bảy sẽ mất một thời gian rất dài khi so với sự khai mở của cánh hoa thứ tám và thứ chín, nhưng không phải khi so với sự khai mở của các cánh trước cánh thứ bảy. |
|
602. This latter solution seems the most appealing to the intuition even though some references might seem to contraindicate the possibility. |
602. Giải pháp sau này dường như hấp dẫn trực giác nhất mặc dù một số đoạn dẫn có vẻ như chống lại khả năng ấy. |
|
603. Probably each initiation has a number of steps in it, and these steps correspond with the various stages of the unfoldment of a given petal. |
603. Có lẽ mỗi lần điểm đạo có một số bước trong đó, và các bước này tương ứng với những giai đoạn khác nhau của sự khai mở của một cánh hoa nhất định. |
|
604. We are presented only the most symbolic picture. First hand, reliable, clairvoyant observation will be required to correlate the degree of petal unfoldment with steps in the initiation process. |
604. Chúng ta chỉ được trình bày bức tranh mang tính biểu tượng nhất. Sự quan sát trực tiếp, đáng tin cậy, bằng thông nhãn sẽ cần thiết để đối chiếu mức độ khai mở của cánh hoa với các bước trong tiến trình điểm đạo. |
|
605. We can summarize very generally by saying that the seventh, eighth and ninth petals (i.e., the three petals of the sacrifice tier) are associated with the first, second and third initiations, respectively. At some time in the unfoldment of these petals (either earlier or later or upon almost complete or complete unfoldment) the Rod of Initiation is applied. |
605. Chúng ta có thể tóm lược rất khái quát bằng cách nói rằng cánh hoa thứ bảy, thứ tám và thứ chín (tức ba cánh hoa của tầng hi sinh) lần lượt được liên hệ với lần điểm đạo thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Vào một thời điểm nào đó trong sự khai mở của các cánh hoa này (hoặc sớm hơn hoặc muộn hơn hoặc khi gần hoàn toàn hay hoàn toàn khai mở), Thần Trượng Điểm đạo được sử dụng. |
|
606. I would suggest that we continue to ponder the matter and see if the intuition can confirm the moment in the process of petal unfoldment when the Rod of Power is applied. |
606. Tôi xin gợi ý rằng chúng ta tiếp tục suy ngẫm về vấn đề này và xem liệu trực giác có thể xác nhận khoảnh khắc trong tiến trình khai mở cánh hoa khi Quyền năng Trượng được sử dụng hay không. |
|
607. Continuing with chakric unfoldment, we would imagine the ajna center to continue developing from the first to third degree. At the third degree it will be fully functioning for that degree is ruled by the fifth ray which expresses through the ajna center and the ajna center is the chakra directly associated with the third degree. |
607. Tiếp tục với sự khai mở luân xa, chúng ta sẽ hình dung trung tâm ajna tiếp tục phát triển từ bậc thứ nhất đến bậc thứ ba. Ở bậc thứ ba nó sẽ hoạt động trọn vẹn vì bậc ấy được cai quản bởi cung năm, cung biểu lộ qua trung tâm ajna, và trung tâm ajna là luân xa trực tiếp liên hệ với bậc thứ ba. |
|
608. If there are five of the seven head centers functioning at the time of the first initiation (cf. TCF 170), then these four will be correlated with seventh petal processes. The unfoldment of all seven head centers will be complete (or relatively complete—because the fourth initiation (ruled by Vulcan, just as the seven head centers are) looms ahead—by the time the third degree is taken. |
608. Nếu có năm trong bảy trung tâm đầu hoạt động vào lúc lần điểm đạo thứ nhất (x. TCF 170), thì bốn trung tâm này sẽ tương quan với các tiến trình của cánh hoa thứ bảy. Sự khai mở của cả bảy trung tâm đầu sẽ hoàn tất (hoặc tương đối hoàn tất—vì lần điểm đạo thứ tư, do Vulcan cai quản, cũng như bảy trung tâm đầu, đang ở phía trước) vào lúc bậc thứ ba được tiếp nhận. |
|
609. In all occult processes the highest head center is to a degree active. We can expect the growth of crown center stimulation as the initiatory process moves from the first through the third initiations and beyond. |
609. Trong mọi tiến trình huyền bí, trung tâm đầu cao nhất đều hoạt động ở một mức độ nào đó. Chúng ta có thể mong đợi sự tăng trưởng của kích thích trung tâm đỉnh đầu khi tiến trình điểm đạo chuyển từ lần điểm đạo thứ nhất qua lần thứ ba và xa hơn nữa. |
|
610. We will not expect crown center stimulation to any significant extent before the first degree, and we must expect it to a considerable extent at the third degree. |
610. Chúng ta sẽ không mong đợi kích thích trung tâm đỉnh đầu ở mức đáng kể nào trước bậc thứ nhất, và chúng ta phải mong đợi nó ở mức đáng kể ở bậc thứ ba. |
|
611. This is fitting as the crown is the seventh chakra and the first initiation is associated with the seventh petal. |
611. Điều này là thích hợp vì đỉnh đầu là luân xa thứ bảy và lần điểm đạo thứ nhất được liên hệ với cánh hoa thứ bảy. |
|
612. We now continue with the unfoldment of the second petal of love, the eighth petal, overall. |
612. Giờ đây chúng ta tiếp tục với sự khai mở của cánh hoa bác ái thứ hai, tức cánh hoa thứ tám xét toàn bộ. |
|
2. The Petal of Love on the mental plane is unfolded [Page 542] through the conscious steady application of all the powers of the soul to the service of humanity with no thought of return nor any desire for reward for the immense sacrifice involved. |
2. Cánh Hoa Bác Ái trên cõi trí được khai mở [Page 542] qua sự áp dụng hữu thức và kiên định mọi quyền năng của linh hồn vào việc phụng sự nhân loại mà không nghĩ đến sự đền đáp hay bất kỳ ham muốn phần thưởng nào cho sự hi sinh to lớn được bao hàm. |
|
613. This is the eighth petal, the second petal in the sacrifice tier. |
613. Đây là cánh hoa thứ tám, cánh hoa thứ hai trong tầng hi sinh. |
|
614. The level of sacrifice is intensified compared to that which exists in seventh petal processes. |
614. Mức độ hi sinh được tăng cường so với mức tồn tại trong các tiến trình của cánh hoa thứ bảy. |
|
615. We note the steadiness required. The zodiacal energy of Scorpio is suggested by the “steadiness” of the application of the powers of the soul. This steadiness also suggests the influence of the planetary potencies of Vulcan and Saturn. |
615. Chúng ta lưu ý sự kiên định được đòi hỏi. Năng lượng hoàng đạo của Hổ Cáp được gợi ra bởi sự “kiên định” trong việc áp dụng các quyền năng của linh hồn. Sự kiên định này cũng gợi ra ảnh hưởng của các tiềm lực hành tinh của Vulcan và Sao Thổ. |
|
616. If would seem that by the time this second petal is unfolded, a considerable degree of selflessness is achieved, and the demands of the lower ego have been greatly reduced in significance, for there is “no thought of return nor any desire for reward for the immense sacrifice involved”. We certainly notice the contrast with the expectation of reward as it exists in sixth petal processes. |
616. Dường như đến khi cánh hoa thứ hai này khai mở, một mức độ vô ngã đáng kể đã đạt được, và những đòi hỏi của phàm ngã đã giảm đi rất nhiều về thâm nghĩa, vì “không có ý nghĩ quay về cũng không có ham muốn phần thưởng nào cho sự hi sinh to lớn liên hệ”. Chúng ta chắc chắn nhận thấy sự tương phản với sự mong đợi phần thưởng như tồn tại trong các tiến trình của cánh hoa thứ sáu. |
|
617. From the zodiacal perspective on the counter clockwise we have the fitting application of Scorpio to this eighth petal. Scorpio is a power sign and in eighth petal processes we have “the conscious steady application of all the powers of the soul to the service of humanity”. This sounds very much like the attitude of one who is achieving or has achieved the second degree. |
617. Từ góc độ hoàng đạo theo chiều ngược kim đồng hồ, chúng ta có sự áp dụng thích hợp của Hổ Cáp cho cánh hoa thứ tám này. Hổ Cáp là một dấu hiệu đầy quyền năng, và trong các tiến trình của cánh hoa thứ tám, chúng ta có “sự vận dụng hữu thức và vững bền mọi quyền năng của linh hồn vào việc phụng sự nhân loại”. Điều này nghe rất giống thái độ của một người đang đạt tới hoặc đã đạt tới lần điểm đạo thứ hai. |
|
618. It is obvious that the powers of the will have been sufficiently developed to hold the application of powers steady. Scorpio is a sign of the will, with much expression of the first ray implied (constellationally). |
618. Hiển nhiên là các quyền năng của ý chí đã được phát triển đầy đủ để giữ cho việc vận dụng các quyền năng được vững bền. Hổ Cáp là một dấu hiệu của ý chí, với nhiều biểu hiện của cung một được hàm ý (về mặt chòm sao). |
|
619. Scorpio, ruled by Pluto, is also a sign of death and sacrifice. This fits with the requirements of eighth petal expression. |
619. Hổ Cáp, do Sao Diêm Vương cai quản, cũng là một dấu hiệu của cái chết và sự hi sinh. Điều này phù hợp với các đòi hỏi của sự biểu lộ nơi cánh hoa thứ tám. |
|
620. This seems the place to mention Leo, the second of the fire signs (since we are applying the fire signs to the sacrifice tier). Leo represents the lower ego which is negated by the powers of Scorpio (staging the release of Leo—cf. EA 333). Leo also represents the powers of the Heart of the Sun which promote love and selflessness in the astral body. |
620. Đây dường như là chỗ để nhắc đến Sư Tử, dấu hiệu thứ hai trong các dấu hiệu hành hỏa (vì chúng ta đang áp dụng các dấu hiệu hành hỏa cho tầng hi sinh). Sư Tử tượng trưng cho phàm ngã, vốn bị phủ định bởi các quyền năng của Hổ Cáp (dàn dựng sự giải thoát của Sư Tử—x. EA 333). Sư Tử cũng tượng trưng cho các quyền năng của Trái Tim Mặt Trời, vốn thúc đẩy tình thương và tính vô ngã trong thể cảm dục. |
|
621. The “death of desire” is achieved in relation to the eighth petal. Scorpio supervises this death, and the Leonian Higher Self inspires a more heart-filled astral response. |
621. “Cái chết của ham muốn” được đạt tới trong liên hệ với cánh hoa thứ tám. Hổ Cáp giám sát cái chết này, và Bản Ngã Cao Siêu kiểu Sư Tử truyền cảm hứng cho một đáp ứng cảm dục chan chứa trái tim hơn. |
|
622. Using the clockwise wheel and beginning with Aries, the eighth petal will be assigned to Virgo, contributing to the development of selflessness and the emergence of the energy of love and wisdom. |
622. Dùng bánh xe theo chiều kim đồng hồ và bắt đầu với Bạch Dương, cánh hoa thứ tám sẽ được gán cho Xử Nữ, góp phần vào sự phát triển của tính vô ngã và sự xuất hiện của năng lượng bác ái và minh triết. |
|
623. Using the clockwise wheel and beginning with Pisces, again we have the Leo emphasis, emphasizing the sense of ahamkara (working through the astral nature) which must be negated. The ‘feeling’ of being a lower self must give way to the ‘feeling’ of being a Higher Self. |
623. Dùng bánh xe theo chiều kim đồng hồ và bắt đầu với Song Ngư, một lần nữa chúng ta có sự nhấn mạnh của Sư Tử, nhấn mạnh cảm thức ahamkara (hoạt động qua bản chất cảm dục) vốn phải bị phủ định. ‘Cảm giác’ là một phàm ngã phải nhường chỗ cho ‘cảm giác’ là một Bản Ngã Cao Siêu. |
|
624. Again the power of Capricorn (ruler of the five major initiations) must be applied to the eighth petal generically just as it was to petal seven and will be to petal nine. |
624. Một lần nữa, quyền năng của Ma Kết (chủ tinh của năm cuộc điểm đạo lớn) phải được áp dụng vào cánh hoa thứ tám một cách tổng quát cũng như đã được áp dụng vào cánh hoa thứ bảy và sẽ được áp dụng vào cánh hoa thứ chín. |
|
625. All initiates are distributors of that which they have received, and so the generic application of Aquarius is also required, pouring forth in selflessness. |
625. Mọi điểm đạo đồ đều là những người phân phối điều mình đã nhận được, và vì thế sự áp dụng tổng quát của Bảo Bình cũng được đòi hỏi, tuôn đổ ra trong tính vô ngã. |
|
626. The following is important in relation to both Leo and Aquarius in relation to the eighth petal: |
626. Điều sau đây là quan trọng liên hệ đến cả Sư Tử lẫn Bảo Bình trong liên hệ với cánh hoa thứ tám: |
|
“5. Aquarius-Leo.—Personality interests as an expression of the individual are submerged in the good of the whole. Selfish individual man becomes the world server. Heights of noted service are then reached in both signs.” (EA 339) |
“5. Bảo Bình-Sư Tử.—Những lợi ích của phàm ngã như một biểu hiện của cá nhân bị nhấn chìm trong thiện ích của toàn thể. Con người cá nhân ích kỷ trở thành Người Phụng Sự Thế Gian. Khi ấy những đỉnh cao phụng sự đáng kể được đạt tới trong cả hai dấu hiệu.” (EA 339) |
|
627. Pisces is a sign of great sacrifice, and given the descriptions attached to the eighth and ninth petals, the application of the Pisces energy seems fitting. |
627. Song Ngư là một dấu hiệu của sự hi sinh lớn lao, và xét theo các mô tả gắn với cánh hoa thứ tám và thứ chín, việc áp dụng năng lượng Song Ngư dường như là thích hợp. |
|
628. It can be assumed that a second degree initiate is a confirmed server. Having passed through a great purification, there is little in the way to stop the outflow of serving energy. Aquarius and Leo represent this great outpouring from the Heart of the Sun (and both of these signs can reasonably be associated with the second initiation). The astral body has been transformed and is now a vehicle for the outflow of the energy of love to a needy world. |
628. Có thể giả định rằng một điểm đạo đồ cấp hai là một người phụng sự đã được xác lập. Sau khi đã trải qua một sự thanh luyện lớn lao, hầu như không còn gì trên đường để ngăn chặn dòng tuôn đổ của năng lượng phụng sự. Bảo Bình và Sư Tử tượng trưng cho lần tuôn đổ lớn lao này từ Trái Tim Mặt Trời (và cả hai dấu hiệu này đều có thể được liên kết một cách hợp lý với lần điểm đạo thứ hai). Thể cảm dục đã được chuyển đổi và nay là một vận cụ cho sự tuôn đổ của năng lượng bác ái đến một thế giới đang cần giúp đỡ. |
|
629. From the planetary perspective, Neptune, associated with self-abnegation, the astral plane and the sixth ray will play an important role. This is the petal implicated in the processes of the second initiation for which Neptune is a planet of considerable importance. Neptune, at this stage, is a sixth ray planet, and the second initiation is ruled generically by the sixth ray. The sacrificial nature of the eighth petal processes calls forth the sacrificial nature of Neptune. |
629. Từ góc độ hành tinh, Sao Hải Vương, gắn liền với sự tự xả bỏ, cõi cảm dục và cung sáu, sẽ đóng một vai trò quan trọng. Đây là cánh hoa được hàm ý trong các tiến trình của lần điểm đạo thứ hai, mà đối với nó Sao Hải Vương là một hành tinh có tầm quan trọng đáng kể. Ở giai đoạn này, Sao Hải Vương là một hành tinh cung sáu, và lần điểm đạo thứ hai được cai quản một cách tổng quát bởi cung sáu. Bản chất hi sinh của các tiến trình nơi cánh hoa thứ tám gọi ra bản chất hi sinh của Sao Hải Vương. |
|
630. Jupiter, also active at the second degree, reflects the heart and the Heart of the Sun. A lovingly expansive expression of emotion is to be expected. |
630. Sao Mộc, cũng hoạt động ở cấp hai, phản ánh trái tim và Trái Tim Mặt Trời. Có thể chờ đợi một biểu hiện cảm xúc mở rộng đầy yêu thương. |
|
631. Venus, too, figures prominently at the second degree. Mental illumination and spiritual intelligence are two requirements for the second degree. We can see their correlation with the nature of Venus. As well, the astral body must be submitted to the light and love of the soul, represented by Venus. Venus also has its correlation with the “Heart of the Sun”. |
631. Sao Kim cũng nổi bật ở cấp hai. Soi sáng trí tuệ và trí tuệ tinh thần là hai đòi hỏi cho cấp hai. Chúng ta có thể thấy sự tương quan của chúng với bản chất của Sao Kim. Ngoài ra, thể cảm dục phải được đặt dưới ánh sáng và tình thương của linh hồn, được tượng trưng bởi Sao Kim. Sao Kim cũng có sự tương quan với “Trái Tim Mặt Trời”. |
|
632. If glamor is finally to be overcome (and it must be to a considerable extent at the second degree) the power of Venus will contribute significantly to this overcoming. |
632. Nếu ảo cảm rốt cuộc phải được vượt qua (và ở cấp hai điều đó phải được thực hiện ở một mức độ đáng kể) thì quyền năng của Sao Kim sẽ góp phần đáng kể vào sự vượt thắng này. |
|
633. The power of Pluto is active here as the death of desire is required. We will find a considerable cutting from attachment to lesser things in preparation for the powerful and sustained outpouring in service. |
633. Quyền năng của Sao Diêm Vương hoạt động ở đây vì cái chết của ham muốn là điều được đòi hỏi. Chúng ta sẽ thấy có một sự cắt đứt đáng kể khỏi sự quyến luyến với những điều nhỏ bé để chuẩn bị cho sự tuôn đổ mạnh mẽ và bền vững trong phụng sự. |
|
634. As previously stated, the willful steadiness in the application of all the powers of the soul suggests the presence of Vulcan. |
634. Như đã nói trước đây, sự vững bền đầy ý chí trong việc vận dụng mọi quyền năng của linh hồn gợi ý sự hiện diện của Vulcan. |
|
635. Mercury acts powerfully in relation to Scorpio to achieve mental polarization and the control of the astral nature. Intuitive response also opens rendering the astral vehicle responsive to the power of buddhi. |
635. Sao Thủy hoạt động mạnh mẽ trong liên hệ với Hổ Cáp để đạt tới sự phân cực trí tuệ và sự kiểm soát bản chất cảm dục. Đáp ứng trực giác cũng mở ra, khiến vận cụ cảm dục đáp ứng với quyền năng của Bồ đề. |
|
636. This is also a petal in which the soul is “by-passed” (cf. R&I 216). Symbolically, the Sun (ruler of Leo) is by-passed by Mercury (which, hierarchically, is so closely related to Scorpio). |
636. Đây cũng là một cánh hoa trong đó linh hồn bị “vượt qua” (x. R&I 216). Về mặt biểu tượng, Mặt Trời (chủ tinh của Sư Tử) bị Sao Thủy vượt qua (hành tinh mà, về mặt huyền giai, có liên hệ rất mật thiết với Hổ Cáp). |
|
637. We are told that the antahkarana can be successfully commenced at or preceding the period of the second initiation. The full building of the bridge, however, takes longer. |
637. Chúng ta được cho biết rằng antahkarana có thể được khởi sự thành công vào hoặc trước giai đoạn của lần điểm đạo thứ hai. Tuy nhiên, việc xây dựng trọn vẹn cây cầu đòi hỏi thời gian lâu hơn. |
|
638. The power of Mars has been harnessed here and is subdued at the second initiation; selfishness is dealt a mortal blow. |
638. Quyền năng của Sao Hỏa đã được chế ngự ở đây và được làm dịu đi trong lần điểm đạo thứ hai; tính ích kỷ bị giáng một đòn chí tử. |
|
639. When speaking of “immense sacrifice” (and at this point the promise of sacrifice even more immense than can be experienced through eighth petal processes) the power of Saturn must be invoked. Saturn and sacrifice are inseparable. |
639. Khi nói về “sự hi sinh to lớn” (và ở điểm này là lời hứa về một sự hi sinh còn to lớn hơn nhiều so với điều có thể được kinh nghiệm qua các tiến trình của cánh hoa thứ tám), quyền năng của Sao Thổ phải được khẩn cầu. Sao Thổ và sự hi sinh là không thể tách rời. |
|
640. Interestingly, the power of the Lord of the World is invoked following the second initiation. The Lord of the World is, symbolically, Uranus—the Hierophant. |
640. Điều thú vị là quyền năng của Đức Chúa Tể Thế Giới được khẩn cầu sau lần điểm đạo thứ hai. Đức Chúa Tể Thế Giới, về mặt biểu tượng, là Sao Thiên Vương—Đấng Điểm đạo. |
|
Eventually (after the second Initiation) the Lord of the World comes in as a factor,—the Lord of world power, fully expressing itself in love. (TCF 870-871) |
Rốt cuộc (sau lần điểm đạo thứ hai) Đức Chúa Tể Thế Giới xuất hiện như một yếu tố,—Đức Chúa Tể của quyền năng thế gian, tự biểu lộ trọn vẹn trong tình thương. (TCF 870-871) |
|
641. As stated earlier, we can find a way to involve all the planets in all initiatory processes, but as we ascend towards more synthetic states involving the later and higher petals, it is much easier to see the place for all planets. |
641. Như đã nói trước đây, chúng ta có thể tìm ra một cách để bao gồm mọi hành tinh trong mọi tiến trình điểm đạo, nhưng khi chúng ta thăng lên những trạng thái tổng hợp hơn liên hệ đến các cánh hoa về sau và cao hơn, thì việc thấy chỗ đứng của mọi hành tinh trở nên dễ dàng hơn nhiều. |
|
642. From the ray perspective, the first ray is entering through powerful and steady application of all powers of the soul in service. The first ray also contributes to the necessary self-abnegation—to willingly relinquish so much yet ask for nothing in return. |
642. Từ góc độ cung, cung một đang đi vào qua sự vận dụng mạnh mẽ và vững bền mọi quyền năng của linh hồn trong phụng sự. Cung một cũng góp phần vào sự tự xả bỏ cần thiết—để tự nguyện từ bỏ quá nhiều mà vẫn không đòi hỏi gì đáp lại. |
|
643. We can see how this eighth petal approach is in contrast to the description of the approach for the sixth petal, in which process something in return was still expected. |
643. Chúng ta có thể thấy cách tiếp cận của cánh hoa thứ tám này tương phản với mô tả về cách tiếp cận của cánh hoa thứ sáu, trong đó tiến trình vẫn còn mong đợi một điều gì đó đáp lại. |
|
644. The second ray continues to grow as the Ego (embodying the second principle, generically) becomes ever more powerful in the personality life. |
644. Cung hai tiếp tục tăng trưởng khi Chân ngã (hiện thân của nguyên khí thứ hai, một cách tổng quát) ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn trong đời sống phàm ngã. |
|
645. The third and fifth rays are involved in the establishment of mental illumination and spiritual intelligence. |
645. Cung ba và cung năm được bao hàm trong việc thiết lập sự soi sáng trí tuệ và trí tuệ tinh thần. |
|
646. The fourth ray represents the disciple’s contest with himself, as an increasingly sacrificial attitude is required. |
646. Cung bốn tượng trưng cho cuộc tranh đấu của đệ tử với chính mình, vì một thái độ ngày càng hi sinh hơn là điều được đòi hỏi. |
|
647. The sixth ray (its simulation and then its harnessing or overcoming) is definitely involved in second initiation processes. The sixth ray is expressed through Mars (orthodox and esoteric ruler of Scorpio) and thus would be strongly represented in a petal conditioned by Scorpio. |
647. Cung sáu (sự mô phỏng của nó rồi đến sự chế ngự hoặc vượt thắng nó) chắc chắn được bao hàm trong các tiến trình của lần điểm đạo thứ hai. Cung sáu được biểu lộ qua Sao Hỏa (chủ tinh ngoại môn và nội môn của Hổ Cáp) và do đó sẽ được thể hiện mạnh mẽ trong một cánh hoa được Hổ Cáp tác động. |
|
648. From the chakric perspective, the integrating and force-directing power of the ajna center will continue to grow. |
648. Từ góc độ luân xa, quyền năng tích hợp và định hướng mãnh lực của trung tâm ajna sẽ tiếp tục tăng trưởng. |
|
649. The power of the heart is what will give strength to undertake the necessary sacrifices. |
649. Chính quyền năng của tim sẽ ban sức mạnh để đảm nhận những sự hi sinh cần thiết. |
|
650. The solar plexus is definitely rendered subservient to the heart center. |
650. Tùng thái dương chắc chắn được đặt vào vị thế phụ thuộc đối với trung tâm tim. |
|
651. More than five of the seven head centers are awakening. Perhaps the emphasis is on the sixth head center just as during ninth petal processes the emphasis would be on the seventh and at the first initiation (when the fifth kingdom of nature is entered) upon the fifth. |
651. Hơn năm trong bảy trung tâm đầu đang thức tỉnh. Có lẽ sự nhấn mạnh đặt trên trung tâm đầu thứ sáu, cũng như trong các tiến trình của cánh hoa thứ chín sự nhấn mạnh sẽ đặt trên trung tâm thứ bảy, và ở lần điểm đạo thứ nhất (khi giới thứ năm của bản chất được đi vào) thì đặt trên trung tâm thứ năm. |
|
652. The subtleties of the Hindu chakra system must be consulted. Certain head centers not specifically named by the Tibetan are there names and their nature specified. It is these chakras which are receiving stimulation as the sacrifice petals are being opened. |
652. Những tinh tế của hệ thống luân xa Ấn giáo phải được tham khảo. Một số trung tâm đầu không được Chân sư Tây Tạng nêu tên một cách chuyên biệt thì ở đó tên gọi và bản chất của chúng được xác định. Chính các luân xa này đang nhận sự kích thích khi các cánh hoa hi sinh đang được khai mở. |
|
653. The crown center receiving occult power is definitely activated. |
653. Trung tâm đỉnh đầu tiếp nhận quyền năng huyền bí chắc chắn được hoạt hóa. |
|
654. As the integration of soul and personality continues there will be an increasing interplay between crown and ajna. The alta major center will be fully involved by the time the next initiation is taken. |
654. Khi sự tích hợp của linh hồn và phàm ngã tiếp tục, sẽ có một sự tương tác ngày càng tăng giữa đỉnh đầu và ajna. Trung tâm alta major sẽ được bao hàm trọn vẹn vào lúc lần điểm đạo kế tiếp được tiếp nhận. |
|
655. The next petal is the final petal in the sacrifice tier—the ninth petal. |
655. Cánh hoa kế tiếp là cánh hoa cuối cùng trong tầng hi sinh—cánh hoa thứ chín. |
|
656. Its full (or penultimately full) unfoldment will take us to the point of the third initiation. Perhaps it continues to unfold into some final or ultimate state in the period between the third and fourth degrees. This thought regarding the continuing unfoldment of a chakra after initiation is taken should be pondered. |
656. Sự khai mở trọn vẹn của nó (hoặc gần như trọn vẹn) sẽ đưa chúng ta đến điểm của lần điểm đạo thứ ba. Có lẽ nó tiếp tục khai mở đến một trạng thái cuối cùng hay tối hậu nào đó trong giai đoạn giữa cấp ba và cấp bốn. Ý nghĩ này liên quan đến sự khai mở tiếp tục của một luân xa sau khi điểm đạo đã được tiếp nhận cần được suy ngẫm. |
|
657. Does the third initiation happen “all at once” or are there different phases in the process? This may be the case. Saul of Tarsus was blinded during one phase of the third degree process, but for years afterwards he seemed to continue within that third process of unfoldment, reaching out towards the light when he was writing the Letters to the Hebrews. |
657. Lần điểm đạo thứ ba có xảy ra “tức khắc” hay có những giai đoạn khác nhau trong tiến trình không? Điều này có thể đúng. Saul xứ Tarsus đã bị làm mù trong một giai đoạn của tiến trình cấp ba, nhưng nhiều năm sau đó ông dường như vẫn tiếp tục ở trong tiến trình khai mở thứ ba ấy, vươn tới ánh sáng khi ông viết Thư gửi người Do Thái. |
|
658. We are told of Paul: |
658. Chúng ta được cho biết về Paul: |
|
“…he was brought to the feet of the Initiator through the effect of love,…(R&I 193-194) |
“…ông đã được đưa đến dưới chân Đấng Điểm đạo nhờ hiệu quả của tình thương,…(R&I 193-194) |
|
659. But when he was blinded on the Road to Damascus, he was not pushing forward on the basis of love! So his being brought to the feet of the Initiator must have occurred after the blinding. |
659. Nhưng khi ông bị làm mù trên Con Đường đến Damascus, ông không tiến lên trên cơ sở của tình thương! Vì thế việc ông được đưa đến dưới chân Đấng Điểm đạo hẳn phải xảy ra sau sự làm mù đó. |
|
660. These considerations are of relevance when we consider whether one meets the One Initiator before the ninth petal is completely unfolded or only afterwards. |
660. Những xem xét này có liên quan khi chúng ta cân nhắc liệu một người có gặp Đấng Điểm đạo Duy Nhất trước khi cánh hoa thứ chín hoàn toàn khai mở hay chỉ sau đó. |
|
3. The Petal of Sacrifice for the mental plane: demonstrates as the predominant bias of the soul as seen in a series of many lives spent by the initiate prior to his final emancipation. He becomes in his sphere the “Great Sacrifice.” |
3. Cánh hoa Hi sinh dành cho cõi trí: biểulộ như thiên hướng nổi trội của linh hồn như được thấy trong một chuỗi nhiều kiếp sống do điểm đạo đồ trải qua trước khi y được giải thoát sau cùng. Y trở thành trong phạm vi của mình “Sự Hi sinh Vĩ Đại”. |
|
661. Throughout his development during the unfoldment especially of the sacrifice petals, the bias of the evolving man has been increasingly towards service and sacrifice. |
661. Suốt quá trình phát triển của y trong thời kỳ khai mở, đặc biệt là các cánh hoa hi sinh, thiên hướng của con người đang tiến hoá ngày càng hướng về phụng sự và hi sinh. |
|
662. The implication in this section of text is that this “predominant bias of the soul” is demonstrated in the expression of the ninth petal. |
662. Hàm ý trong đoạn văn này là “thiên hướng nổi trội của linh hồn” này được biểu lộ trong sự biểu hiện của cánh hoa thứ chín. |
|
663. He becomes in his sphere the “Great Sacrifice”. He stands as a reflection of Sanat Kumara. |
663. Y trở thành trong phạm vi của mình “Sự Hi sinh Vĩ Đại”. Y đứng như một phản ánh của Đức Sanat Kumara. |
|
664. From another perspective, he is Aries, the “Sacrificial Lamb”. Aries, we shall see, is a sign fittingly associated with the ninth petal. |
664. Từ một góc độ khác, y là Bạch Dương, “Con Cừu Hi sinh”. Như chúng ta sẽ thấy, Bạch Dương là một dấu hiệu được liên kết thích hợp với cánh hoa thứ chín. |
|
665. We may wish to ask whether his demonstration as the “Great Sacrifice” is really complete at the third initiation, or only established to a degree. It would seem that in the processes following the third initiation, the sacrificial process would gain momentum and would culminate in the “Great Renunciation”—for the sake of service. |
665. Chúng ta có thể muốn hỏi liệu sự biểu lộ của y như “Sự Hi sinh Vĩ Đại” có thật sự hoàn tất ở lần điểm đạo thứ ba hay chỉ mới được thiết lập đến một mức độ nào đó. Dường như trong các tiến trình tiếp theo lần điểm đạo thứ ba, tiến trình hi sinh sẽ tăng đà và sẽ lên đến cực điểm trong “Sự Từ Bỏ Vĩ Đại”—vì mục đích phụng sự. |
|
This stage can be seen objectively to the eye of the clairvoyant as dual in effect: |
Giai đoạn này có thể được thấy một cách khách quan đối với mắt của nhà thông nhãn như có hiệu quả nhị phân: |
|
a. The mental unit becomes a radiant point of light; its four spirillae transmit force with intense rapidity. |
a. Đơn vị hạ trí trở thành một điểm sáng rực rỡ; bốn loa tuyến của nó truyền dẫn mãnh lực với tốc độ mãnh liệt. |
|
666. We remember that following the completion of the knowledge tier process, the physical permanent atom became a radiant point of light. Following the completion of the love tier process, it was the astral permanent atom that became radiant. In both instances, five of their spirillae were strongly stimulated. |
666. Chúng ta nhớ rằng sau khi hoàn tất tiến trình của tầng tri thức, nguyên tử trường tồn hồng trần đã trở thành một điểm sáng rực rỡ. Sau khi hoàn tất tiến trình của tầng bác ái, chính nguyên tử trường tồn cảm dục đã trở nên rực sáng. Trong cả hai trường hợp, năm loa tuyến của chúng đã được kích thích mạnh mẽ. |
|
667. Now, following the completion of the sacrifice tier process, it is the mental unit (with its four spirillae) that becomes a radiant point of light. |
667. Giờ đây, sau khi hoàn tất tiến trình của tầng hi sinh, chính đơn vị hạ trí (với bốn loa tuyến của nó) trở thành một điểm sáng rực rỡ. |
|
668. When the spirillae are stimulated (whether the spirillae of the physical permanent atom, the astral permanent atom, or the mental unit) these spirillae “transmit force with intense rapidity”. |
668. Khi các loa tuyến được kích thích (dù là các loa tuyến của nguyên tử trường tồn hồng trần, nguyên tử trường tồn cảm dục, hay của đơn vị hạ trí) thì các loa tuyến này “truyền dẫn mãnh lực với tốc độ mãnh liệt”. |
|
b. The three higher petals unfold, and the nine-petalled lotus is seen perfected. |
b. Ba cánh hoa cao hơn khai mở, và hoa sen chín cánh được thấy là hoàn hảo. |
|
669. We have the perfecting of the nine-petalled lotus but not yet of the twelve, though the innermost petals are said to be visible (either unfolding) or revealed in bud-form surrounding the central Jewel. |
669. Chúng ta có sự hoàn thiện của hoa sen chín cánh nhưng chưa phải của hoa sen mười hai cánh, dù các cánh hoa trong cùng được nói là có thể nhìn thấy (đang khai mở) hoặc được mặc khải trong dạng nụ bao quanh Viên Ngọc trung tâm. |
|
670. Before continuing with a description of this relative consummation we will consider the energy and chakra relationships which may concern the ninth petal. |
670. Trước khi tiếp tục với mô tả về sự viên mãn tương đối này, chúng ta sẽ xem xét các mối liên hệ năng lượng và luân xa có thể liên quan đến cánh hoa thứ chín. |
|
671. From the zodiacal perspective considered counter clockwise, the ninth petal will be ruled by the ninth sign, Sagittarius. |
671. Từ góc độ hoàng đạo xét theo chiều ngược kim đồng hồ, cánh hoa thứ chín sẽ được cai quản bởi dấu hiệu thứ chín, Nhân Mã. |
|
672. Sagittarius here will indicate the completely one-pointed, soul-infused personality. Sagittarius points its arrow towards the still higher consummation at the fourth degree. |
672. Ở đây Nhân Mã sẽ chỉ ra phàm ngã được linh hồn thấm nhuần hoàn toàn nhất tâm. Nhân Mã hướng mũi tên của mình về phía sự viên mãn còn cao hơn ở cấp bốn. |
|
673. We must also remember the relation of Sagittarius to the mentally-completed antahkarana and, thus, to the abstract mind. The bypassing of the egoic lotus is complete. The Sagittarian ‘great adventure’ involving the antahkarana has made this possible. |
673. Chúng ta cũng phải nhớ mối liên hệ của Nhân Mã với antahkarana đã hoàn tất về mặt trí tuệ và, do đó, với trí trừu tượng. Sự vượt qua hoa sen chân ngã đã hoàn tất. “Cuộc phiêu lưu lớn” kiểu Nhân Mã liên quan đến antahkarana đã làm cho điều này trở nên khả hữu. |
|
674. From the clockwise perspective beginning with Aries, we have Leo. The Sun-god shines for in resplendent glory at the Transfiguration initiation. |
674. Từ góc độ theo chiều kim đồng hồ bắt đầu với Bạch Dương, chúng ta có Sư Tử. Vị thần Mặt Trời chiếu sáng trong vinh quang rực rỡ tại cuộc điểm đạo Biến hình. |
|
675. From the clockwise perspective beginning with Pisces, we have Cancer. The “Whole is seen as One”. One great unit of evolutionary development is complete. A fusion occurs. |
675. Từ góc độ theo chiều kim đồng hồ bắt đầu với Song Ngư, chúng ta có Cự Giải. “Toàn Thể được thấy là Một”. Một đơn vị lớn của sự phát triển tiến hoá đã hoàn tất. Một sự dung hợp xảy ra. |
|
676. Capricorn, as the ruler of all initiations, has a particular association with this ninth petal, for Capricorn rules especially the third initiation with which the ninth petal is closely associated. |
676. Ma Kết, với tư cách là chủ tinh của mọi cuộc điểm đạo, có một liên hệ đặc biệt với cánh hoa thứ chín này, vì Ma Kết cai quản đặc biệt lần điểm đạo thứ ba mà cánh hoa thứ chín có liên hệ mật thiết. |
|
677. Aquarius also is frequently associated with the third initiation. The third degree initiates pours forth all he has for the helping of the world, revealing the Unity he has seen in the realization of Oneness achieved. This Universality, this Oneness, is understood by the highly developed Aquarian. |
677. Bảo Bình cũng thường được liên kết với lần điểm đạo thứ ba. Điểm đạo đồ cấp ba tuôn đổ mọi điều y có để giúp đỡ thế giới, bộc lộ Hợp Nhất mà y đã thấy trong sự chứng nghiệm Nhất Thể đã đạt được. Tính phổ quát này, Nhất Thể này, được người Bảo Bình phát triển cao thấu hiểu. |
|
678. The predominant bias towards sacrifice is represented by Pisces, which sign continues to power as the fourth initiation is reached. Pisces is a sign of consummation, and certainly one type of consummation is reached at the third degree; another is reached at the fourth. |
678. Thiên hướng nổi trội hướng về hi sinh được tượng trưng bởi Song Ngư, dấu hiệu tiếp tục tăng quyền năng khi lần điểm đạo thứ tư được đạt tới. Song Ngư là một dấu hiệu của sự viên mãn, và chắc chắn một loại viên mãn được đạt tới ở cấp ba; một loại khác được đạt tới ở cấp bốn. |
|
679. If fire signs can be associated with the mental or sacrifice petals, then Aries will be placed in relation to the ninth petal. |
679. Nếu các dấu hiệu hành hỏa có thể được liên kết với các cánh hoa trí tuệ hay hi sinh, thì Bạch Dương sẽ được đặt trong liên hệ với cánh hoa thứ chín. |
|
680. We have already reviewed the association of Aries with pure being, with the first ray and hence with the Monad. Aries and Pisces are like one sign (the Alpha and Omega), and thus they are found at this point of relative consummation. |
680. Chúng ta đã xem xét mối liên hệ của Bạch Dương với bản thể thuần túy, với cung một và do đó với chân thần. Bạch Dương và Song Ngư giống như một dấu hiệu (Alpha và Omega), và vì thế chúng được tìm thấy tại điểm viên mãn tương đối này. |
|
681. The third initiation introduces the man to the World of Spirit with which Aries has a special affinity. |
681. Lần điểm đạo thứ ba đưa con người vào Thế Giới của tinh thần mà Bạch Dương có một sự tương hợp đặc biệt. |
|
682. We cannot forget the relation of Scorpio to the first three initiations (even if it is most related to the second initiation). |
682. Chúng ta không thể quên mối liên hệ của Hổ Cáp với ba lần điểm đạo đầu tiên (dù nó liên hệ nhiều nhất với lần điểm đạo thứ hai). |
|
683. From the planetary perspective, it is hard to conceive how any of the planets could be eliminated from this point of synthetic development. |
683. Từ góc độ hành tinh, thật khó hình dung làm sao bất kỳ hành tinh nào có thể bị loại bỏ khỏi điểm phát triển tổng hợp này. |
|
684. Vulcan offers the blinding light of the Transfiguration. Vulcan represents the impact of the Monad which is to be expected at this degree. This impact comes via the “Jewel in the Lotus”, the crown center with its jewel and also via the seven head centers which Vulcan is hypothesized to rule. |
684. Vulcan cống hiến ánh sáng chói lòa của cuộc Biến hình. Vulcan tượng trưng cho tác động của chân thần, điều được chờ đợi ở cấp này. Tác động này đến qua “Viên Ngọc trong Hoa Sen”, trung tâm đỉnh đầu với viên ngọc của nó và cũng qua bảy trung tâm đầu mà Vulcan được giả thuyết là cai quản. |
|
685. At the third degree, there is a new capacity to work with the spiritual will. Vulcan is one of the planets representing this will. |
685. Ở cấp ba, có một năng lực mới để làm việc với ý chí tinh thần. Vulcan là một trong những hành tinh tượng trưng cho ý chí này. |
|
686. Mercury offers an extremely high point of mental illumination which is translated into intuitive perception and pure reason. The abstract mind becomes the buddhic “transcendental mind”. |
686. Sao Thủy cống hiến một đỉnh cao cực kỳ lớn của sự soi sáng trí tuệ, được chuyển dịch thành tri giác trực giác và lý trí thuần túy. Trí trừu tượng trở thành “trí tuệ siêu việt” Bồ đề. |
|
687. Venus reaches one of her highest points of expression as the hierarchical ruler of Capricorn, the sign most associated with the third initiation. The soul now dominates the personality through the power of love-wisdom. |
687. Sao Kim đạt tới một trong những đỉnh cao biểu hiện của mình với tư cách là chủ tinh huyền giai của Ma Kết, dấu hiệu gắn liền nhất với lần điểm đạo thứ ba. Linh hồn nay thống trị phàm ngã qua quyền năng của Bác Ái – Minh Triết. |
|
688. The Earth (symbolizing the candidate for initiation) is uplifted and transfigured. |
688. Trái Đất (tượng trưng cho ứng viên điểm đạo) được nâng lên và biến hình. |
|
689. Mars achieves its exaltation in Capricorn; now His energies are thoroughly committed to the expression of the Divine Plan and of the oneness achieved. |
689. Sao Hỏa đạt sự tôn vinh của mình trong Ma Kết; giờ đây các năng lượng của Ngài hoàn toàn được hiến dâng cho sự biểu lộ của Thiên Cơ và của nhất thể đã đạt được. |
|
690. From the mountain top (Olympus) Jupiter has conferred expansive revelation. The Vision of Sagittarius has become the realization of Reality in Capricorn. |
690. Từ đỉnh núi (Olympus), Sao Mộc đã ban cho sự mặc khải mở rộng. Linh ảnh của Nhân Mã đã trở thành sự chứng nghiệm Thực Tại trong Ma Kết. |
|
691. Saturn represents the fact that the mountain of personal karma is under foot, and that the initiate, through the abstract mind and spiritual will, is equipped to work with the Divine Plan (to which Saturn is closely related). There is a strong atmic component to the third initiation and the atmic plane is ruled by Saturn. Nine is also the number of the third ray, and so the unfoldment of nine petals indicates a kind of third aspect consummation. |
691. Sao Thổ tượng trưng cho sự kiện rằng ngọn núi nghiệp quả cá nhân đã ở dưới chân, và rằng điểm đạo đồ, qua trí trừu tượng và ý chí tinh thần, được trang bị để làm việc với Thiên Cơ (mà Sao Thổ có liên hệ mật thiết). Có một thành phần atma mạnh mẽ trong lần điểm đạo thứ ba và cõi atma được Sao Thổ cai quản. Chín cũng là con số của cung ba, và vì thế sự khai mở của chín cánh hoa chỉ ra một loại viên mãn phương diện thứ ba. |
|
692. From another perspective, Time and Space (both ruled by Saturn) have been negated in a consciousness for which the most frequently presented aspects of the Great Illusion have been overcome. |
692. Từ một góc độ khác, Thời Gian và Không Gian (cả hai đều do Sao Thổ cai quản) đã bị phủ định trong một tâm thức mà đối với nó những phương diện thường được trình bày nhất của Đại Ảo Tưởng đã được vượt qua. |
|
693. Uranus is the Hierophant Who one meets at the third initiation. |
693. Sao Thiên Vương là Đấng Điểm đạo mà người ta gặp ở lần điểm đạo thứ ba. |
|
694. Uranus is also the energy which conquers the illusions over which Saturn (in its lower expression) presides. Uranus is the planet by means of which Time and Space (considered as illusions) are overcome. |
694. Sao Thiên Vương cũng là năng lượng chinh phục những ảo tưởng mà Sao Thổ (trong biểu hiện thấp của nó) chủ trì. Sao Thiên Vương là hành tinh nhờ đó Thời Gian và Không Gian (được xem như những ảo tưởng) được vượt qua. |
|
695. As for Neptune, the third initiation signifies the ability to enter the buddhic plane and to prepare for buddhic polarization to be achieved at the fourth initiation. |
695. Còn về Sao Hải Vương, lần điểm đạo thứ ba biểu thị khả năng đi vào cõi Bồ đề và chuẩn bị cho sự phân cực Bồ đề sẽ đạt được ở lần điểm đạo thứ tư. |
|
696. Pluto is an non-sacred yet “esoteric planet” signifying the cutting free from illusion and the leaving behind of the ‘world of form and figure’ |
696. Sao Diêm Vương là một hành tinh không thiêng liêng nhưng lại là một “hành tinh nội môn”, biểu thị sự cắt đứt khỏi ảo tưởng và sự bỏ lại phía sau ‘thế giới của hình tướng và hình thể’ |
|
697. From the ray perspective, the fifth ray rules the third initiation. The power of Venus in relation to Capricorn correlates with the power of the fifth ray at this initiation. |
697. Từ góc độ cung, cung năm cai quản lần điểm đạo thứ ba. Quyền năng của Sao Kim trong liên hệ với Ma Kết tương quan với quyền năng của cung năm tại lần điểm đạo này. |
|
698. The second ray is powerful in relation to the ninth petal as the third initiation represents a significant triumph for the second or soul aspect. |
698. Cung hai rất mạnh trong liên hệ với cánh hoa thứ chín vì lần điểm đạo thứ ba tượng trưng cho một chiến thắng đáng kể của phương diện thứ hai hay phương diện linh hồn. |
|
699. The first ray plays is role as representative of the Monad (no matter what the Monad’s ray) at the time of its first conscious apprehension by the soul-infused personality. |
699. Cung một đóng vai trò của nó như đại diện của chân thần (bất kể chân thần thuộc cung nào) vào lúc nó lần đầu tiên được phàm ngã được linh hồn thấm nhuần lĩnh hội một cách hữu thức. |
|
700. The third ray will naturally correlate with the third initiation. Usually the third ray is prone to illusion, but the intuitive light conferred at this degree, makes the third ray not the victim but increasingly the master of the formerly perceived illusions of time and space. The third ray confers at this point of configuration “the acute energy of divine mental perception”. |
700. Cung ba tự nhiên sẽ tương quan với lần điểm đạo thứ ba. Thông thường cung ba dễ nghiêng về ảo tưởng, nhưng ánh sáng trực giác được ban ở cấp này khiến cung ba không còn là nạn nhân mà ngày càng là chủ nhân của những ảo tưởng về thời gian và không gian trước đây từng được tri giác. Ở điểm cấu hình này, cung ba ban cho “năng lượng sắc bén của tri giác trí tuệ thiêng liêng”. |
|
701. The fourth ray suggests the growing influence of the buddhic plane now that three minds have united. |
701. Cung bốn gợi ý ảnh hưởng ngày càng tăng của cõi Bồ đề giờ đây khi ba trí đã hợp nhất. |
|
702. While the sixth ray is not so potent at this degree, the seventh ray can well represent the synthesis of the Spirit, soul and physical aspects of the human being. The brain is definitely impacted by Spirit-soul. The “Highest and the Lowest” have met significantly. |
702. Dù cung sáu không quá mạnh ở cấp này, cung bảy có thể tượng trưng rất tốt cho sự tổng hợp của các phương diện tinh thần, linh hồn và hồng trần của con người. Bộ não chắc chắn chịu tác động của Tinh thần-linh hồn. “Cao Nhất và Thấp Nhất” đã gặp nhau một cách đáng kể. |
|
703. From the chakric perspective, the highest head center is stimulated in a manner more potent than ever before. |
703. Từ góc độ luân xa, trung tâm đầu cao nhất được kích thích theo một cách mạnh mẽ hơn bao giờ hết. |
|
704. The seven head centers are also highly stimulated and are all of them operative though not necessarily completely unfolded. The fourth degree ruled by Vulcan (which rules these seven head centers) looms ahead. |
704. Bảy trung tâm đầu cũng được kích thích mạnh mẽ và tất cả đều hoạt động, dù chưa nhất thiết hoàn toàn khai mở. Cấp bốn do Vulcan cai quản (hành tinh cai quản bảy trung tâm đầu này) đang hiện ra phía trước. |
|
705. The ajna center (expressing the fifth ray under Venus and fourth ray under Mercury) is the representative center of this initiation. |
705. Trung tâm ajna (biểu lộ cung năm dưới Sao Kim và cung bốn dưới Sao Thủy) là trung tâm đại diện của lần điểm đạo này. |
|
706. The throat center (as intelligence) reaches a climaxing point and begins to give way to the intuition. The knowledge tier of petals ruled by the third ray generically, begin the process of disintegration. |
706. Trung tâm cổ họng (như trí tuệ) đạt đến một điểm cực đỉnh và bắt đầu nhường chỗ cho trực giác. Tầng tri thức của các cánh hoa, được cai quản một cách tổng quát bởi cung ba, bắt đầu tiến trình tan rã. |
|
707. The heart center is open to the reception of buddhi and perceives or realizes the Unity that Is. |
707. Trung tâm tim mở ra để tiếp nhận Bồ đề và tri giác hay chứng nghiệm Hợp Nhất vốn Hiện Hữu. |
|
708. The lower centers are held in their place and their energies are used to feed the higher chakras. |
708. Các trung tâm thấp được giữ đúng chỗ của chúng và các năng lượng của chúng được dùng để nuôi dưỡng các luân xa cao hơn. |
|
709. The base of the spine center begins a new relationship to the crown center as the curriculum of the will is undertaken in earnest. |
709. Trung tâm đáy cột sống bắt đầu một mối liên hệ mới với trung tâm đỉnh đầu khi giáo trình của ý chí được đảm nhận một cách nghiêm túc. |
|
710. Many energy-relationships have been discussed as we have assessed the petals and their interrelationships, and this is just the beginning. There is much more in TCF which needs to be correlated with what is here found in order that a more complete picture to emerge. |
710. Nhiều mối liên hệ năng lượng đã được bàn đến khi chúng ta đánh giá các cánh hoa và những tương liên của chúng, và đây mới chỉ là khởi đầu. Còn nhiều điều hơn nữa trong Luận về Lửa Vũ Trụ cần được tương quan với những gì được tìm thấy ở đây để một bức tranh đầy đủ hơn xuất hiện. |
|
711. The whole question of colour has yet to be considered in relation to the nine or twelve petals, as do the various kinds of egoic lotuses, the various crises of the soul, the various stage of adaptation to soul life, the stages of human unfoldment as described in other tabulations—these among other pieces of information which must be correlated with petal unfoldment. |
711. Toàn bộ vấn đề về màu sắc vẫn còn phải được xem xét trong liên hệ với chín hay mười hai cánh hoa, cũng như các loại hoa sen chân ngã khác nhau, các cuộc khủng hoảng khác nhau của linh hồn, các giai đoạn khác nhau của sự thích nghi với đời sống linh hồn, các giai đoạn khai mở của con người như được mô tả trong những bảng biểu khác—đó là những mảnh thông tin khác nhau cần được tương quan với sự khai mở của các cánh hoa. |
|
712. We will now continue in our analysis of text. The proportion of commentary to text will be less expanded. |
712. Giờ đây chúng ta sẽ tiếp tục trong việc phân tích văn bản. Tỷ lệ phần bình giải so với văn bản sẽ bớt mở rộng hơn. |
|
The causal body is then (expressed in terms of fire) a blazing centre of heat, radiating to its group warmth and vitality. |
Khi ấy thể nguyên nhân (được diễn tả theo lửa) là một trung tâm nhiệt cháy rực, bức xạ đến nhóm của nó sự ấm áp và sinh lực. |
|
713. We are speaking here of the interchange between causal bodies. We remember that causal bodies occur in groups seven and in seven groups of seven informed by the life of certain solar beings who express through these groups. |
713. Ở đây chúng ta đang nói về sự trao đổi giữa các thể nguyên nhân. Chúng ta nhớ rằng các thể nguyên nhân xuất hiện trong các nhóm bảy và trong bảy nhóm của bảy, được thấm nhuần bởi sự sống của một số hữu thể thái dương biểu lộ qua các nhóm này. |
|
714. When the nine petals have been fully opened, the causal body becomes “a blazing centre of heat”. |
714. Khi chín cánh hoa đã hoàn toàn khai mở, thể nguyên nhân trở thành “một trung tâm nhiệt cháy rực”. |
|
715. The warmth and vitality represent the solar fire which is now fully infusing the causal body. |
715. Sự ấm áp và sinh lực tượng trưng cho Lửa Thái dương hiện đang thấm nhuần trọn vẹn thể nguyên nhân. |
|
Within the periphery of the egoic wheel can be seen the nine spokes rotating with intense rapidity |
Trong chu vi của bánh xe chân ngã có thể thấy chín nan hoa quay với tốc độ mãnh liệt |
|
716. The causal body is a wheel in rapid rotation. We can see that the powers of the petals are being blended and fused by this rotation. |
716. Thể nguyên nhân là một bánh xe quay nhanh. Chúng ta có thể thấy rằng các quyền năng của các cánh hoa đang được hòa trộn và dung hợp bởi sự quay này. |
|
and — after the third Initiation — becoming fourth dimensional, or the wheels “turn upon” themselves.78 |
và — sau lần điểm đạo thứ ba — trở thành bốn chiều, hay các bánh xe “tự quay trên” chính chúng.78 |
|
717. We have previously discussed the fourth dimensionality of the chakras of different vehicles preceding certain initiations. Now we speak of the fourth dimensionality of the wheel(s) found within the egoic lotus. |
717. Trước đây chúng ta đã bàn về tính bốn chiều của các luân xa thuộc những vận cụ khác nhau trước một số cuộc điểm đạo nhất định. Giờ đây chúng ta nói đến tính bốn chiều của (các) bánh xe được tìm thấy bên trong hoa sen chân ngã. |
|
718. Such fourth dimensional rotation is always a prelude to a state of ascension. |
718. Sự quay bốn chiều như thế luôn luôn là khúc dạo đầu cho một trạng thái thăng lên. |
|
In the midst forming a certain geometrical triangle (differing according to the ray of the Monad) can be seen three points of fire, |
Ở giữa, tạo thành một tam giác hình học nhất định (khác nhau tùy theo cung của chân thần) có thể thấy ba điểm lửa, |
|
719. Here we have an example of the extraordinary symbolizing power of Nature. |
719. Ở đây chúng ta có một ví dụ về quyền năng biểu tượng phi thường của Bản chất. |
|
720. It has been suggested that the triangle for the first ray Monad will be equilateral; that for the second ray Monad isosceles; that for the third ray Monad, the 3—4—5 triangle of Pythagoras. |
720. Có ý kiến cho rằng tam giác của chân thần cung một sẽ là tam giác đều; của chân thần cung hai là tam giác cân; của chân thần cung ba là tam giác 3—4—5 của Pythagoras. |
|
721. It is the members of the atomic triangle which form the three types of triangles. |
721. Chính các thành viên của tam giác nguyên tử tạo thành ba loại tam giác ấy. |
|
or the permanent atoms and the mental unit, in all their glory; |
hay các nguyên tử trường tồn và đơn vị hạ trí, trong toàn bộ vinh quang của chúng; |
|
722. We are speaking of a time which follows the third initiation. Judging from the glorious display, we are approaching the fourth degree. |
722. Chúng ta đang nói về một thời điểm tiếp sau lần điểm đạo thứ ba. Xét theo sự hiển lộ huy hoàng này, chúng ta đang tiến gần cấp bốn. |
|
at the centre can be seen a central blaze of glory growing in intensity as the three inner petals respond to the stimulation. |
ở trung tâm có thể thấy một ngọn lửa vinh quang trung tâm gia tăng cường độ khi ba cánh hoa bên trong đáp ứng với sự kích thích. |
|
723. The three inner petals are likened to a “central blaze of glory”. The response of the three synthesizing petals to such stimulation occurs after the third initiation. |
723. Ba cánh hoa bên trong được ví như “một ngọn lửa vinh quang trung tâm”. Sự đáp ứng của ba cánh hoa tổng hợp đối với sự kích thích như thế xảy ra sau lần điểm đạo thứ ba. |
|
724. The term “glory” suggests a great display of light, heat and magnetism. |
724. Thuật ngữ “vinh quang” gợi ý một sự hiển lộ lớn lao của ánh sáng, nhiệt và từ điện. |
|
When the fire of matter, of “fire by friction,” becomes sufficiently intense; when the fire of mind of solar fire (which vitalises the nine petals) becomes equally fierce, and when the electric spark at the innermost centre blazes out and can be seen, the [Page 543] entire causal body becomes radioactive. |
Khi lửa của vật chất, của “Lửa ma sát,” trở nên đủ mãnh liệt; khi lửa của trí tuệ của lửa thái dương (vốn tiếp sinh lực cho chín cánh hoa) trở nên dữ dội tương đương, và khi tia lửa điện ở trung tâm sâu kín nhất bùng cháy và có thể được nhìn thấy, thì [Page 543] toàn bộ thể nguyên nhân trở nên có tính phóng xạ. |
|
725. We have here a brilliant description of the radioactivation of the causal body preceding its destruction. |
725. Ở đây chúng ta có một mô tả rực rỡ về sự phóng xạ của thể nguyên nhân trước khi nó bị hủy diệt. |
|
726. There are three requirements which we will tabulate for emphasis: |
726. Có ba điều kiện mà chúng ta sẽ liệt kê thành bảng để nhấn mạnh: |
|
c. The fire of matter—fire by friction—must become sufficiently intense. This refers to the burning of the atomic triangle |
c. Lửa của vật chất—Lửa ma sát—phải trở nên đủ mãnh liệt. Điều này nói đến sự thiêu đốt của tam giác nguyên tử |
|
d. The fire of mind or solar fire must become “equally fierce”. We note that it is solar fire that vitalizes the nine petals. |
d. Lửa của trí tuệ hay Lửa Thái dương phải trở nên “mãnh liệt ngang nhau”. Chúng ta lưu ý rằng chính Lửa Thái dương tiếp sinh lực cho chín cánh hoa. |
|
e. The electric spark at the innermost center (i.e., the Monad’s influence through the “Jewel in the Lotus”) must blaze out visibly. |
e. Tia lửa điện ở trung tâm nội tại nhất (tức ảnh hưởng của chân thần qua “Jewel in the Lotus”) phải bùng cháy ra một cách hữu hình. |
|
727. We can assume that the radioactivity of the causal body precedes its destruction. |
727. Chúng ta có thể giả định rằng tính phóng xạ của thể nguyên nhân đi trước sự hủy diệt của nó. |
|
Then the fires of substance (the vitality of the permanent atoms) escape from the atomic spheres, and add their quota to the great sphere in which they are contained; |
Khi đó các ngọn lửa của chất liệu (sinh lực của các nguyên tử trường tồn) thoát ra khỏi các khối cầu nguyên tử, và góp phần của chúng vào khối cầu lớn trong đó chúng được chứađựng; |
|
728. We are speaking here of an occult process by which the energy of the lesser permanent atoms and mental unit is absorbed by triadal permanent atoms. This will happen eventually. |
728. Ở đây chúng ta đang nói về một tiến trình huyền bí nhờ đó năng lượng của các nguyên tử trường tồn thấp hơn và đơn vị hạ trí được hấp thu bởi các nguyên tử trường tồn của Tam nguyên tinh thần. Điều này rốt cuộc sẽ xảy ra. |
|
729. Our task is to understand whether “The great sphere in which they are contained” is the egoic body or the three triadal bodies. |
729. Nhiệm vụ của chúng ta là hiểu xem “Khối cầu lớn trong đó chúng được chứa đựng” là thể chân ngã hay ba thể của Tam nguyên tinh thần. |
|
730. Given the nature of the liberation and the fact that fire at the center of the “Jewel in the Lotus” must be transferred into the triad, one would be led to suspect that the “great sphere” is (eventually, at least) the triadal sphere. There may be a mediated transfer of the fire/vitality of the permanent atoms—first, in general, to the sphere of the causal body and then, as that causal body is destroyed to the permanent atoms of the spiritual triad. |
730. Xét theo bản chất của sự giải thoát và sự kiện rằng ngọn lửa ở trung tâm của “Jewel in the Lotus” phải được chuyển dịch vào Tam nguyên tinh thần, người ta sẽ có khuynh hướng nghi ngờ rằng “khối cầu lớn” ấy là (ít nhất là rốt cuộc) khối cầu tam nguyên tinh thần. Có thể có một sự chuyển giao trung gian của lửa/sinh lực của các nguyên tử trường tồn—trước hết, nói chung, vào khối cầu của thể nguyên nhân rồi sau đó, khi thể nguyên nhân ấy bị hủy diệt, vào các nguyên tử trường tồn của Tam nguyên tinh thần. |
|
the fire of mind blends with its emanating source, and the central life escapes. |
lửa của trí tuệ hòa nhập với nguồn phát xạ của nó, và Sự sống trung tâm thoát ra. |
|
731. If the “fire of mind” is considered solar fire, then the Solar Angel is the emanating source of that fire. The Solar Angel, too, must return to its emanating Source. |
731. Nếu “lửa của trí tuệ” được xem là Lửa Thái dương, thì Thái dương Thiên Thần là nguồn phát xạ của ngọn lửa ấy. Thái dương Thiên Thần cũng phải trở về Nguồn phát xạ của chính nó. |
|
732. The “central life” which “escapes” is the fire at the center of the “Jewel in the Lotus”. It is the fire of the Monad which may not immediately return to the Monad, but which may be first absorbed by the spiritual triad. |
732. “Sự sống trung tâm” vốn “thoát ra” là ngọn lửa ở trung tâm của “Jewel in the Lotus”. Đó là lửa của chân thần, có thể không lập tức trở về với chân thần, mà trước hết có thể được hấp thu bởi Tam nguyên tinh thần. |
|
733. It would seem that the initiate now living focussed within the spiritual triad (and not yet focussed within the Monad) has need of the experience gathered in the incarnational process, and so the central life which has been confined within the causal body would (in a mediated manner) be temporarily confined within the spheres of the spiritual triad. |
733. Có vẻ như điểm đạo đồ hiện đang sống với tiêu điểm đặt trong Tam nguyên tinh thần (và chưa đặt trong chân thần) vẫn cần đến kinh nghiệm được thu thập trong tiến trình nhập thể, và vì vậy sự sống trung tâm vốn bị giam giữ trong thể nguyên nhân sẽ (theo một cách trung gian) tạm thời bị giam giữ trong các khối cầu của Tam nguyên tinh thần. |
|
734. The escape of the “central life” (we remember) is an alchemical, transmutative process. |
734. Sự thoát ra của “Sự sống trung tâm” (chúng ta nhớ điều này) là một tiến trình luyện kim, chuyển hoá. |
|
This is the great liberation. |
Đây là sự giải thoát lớn lao. |
|
735. This is liberation as it is achieved at the fourth degree. |
735. Đây là sự giải thoát như được đạt tới ở lần điểm đạo thứ tư. |
|
The man, in terms of human endeavour, has achieved his goal. |
Con người, xét theo nỗ lực của nhân loại, đã đạt được mục tiêu của y. |
|
736. The temporary goal of the fourth kingdom (the human) is the fourth initiation. |
736. Mục tiêu tạm thời của giới thứ tư (giới nhân loại) là lần điểm đạo thứ tư. |
|
He has passed through the three Halls and in each has transferred that which he gained therein to the content of his consciousness; |
Y đã đi qua ba Phòng và trong mỗi Phòng đã chuyển điều mà y đạt được ở đó vào nội dung tâm thức của mình; |
|
737. The three Halls are correlated with the three tiers of petals: the Hall of Ignorance with the knowledge tier; the Hall of Learning with the love tier; the Hall of Wisdom with the sacrifice tier. We might say that the Hall of Wisdom continues even to the fifth initiation, for a Master is a Master of the Wisdom. |
737. Ba Phòng tương ứng với ba tầng cánh hoa: Phòng Vô Minh với tầng tri thức; Hall of Learning với tầng bác ái; Phòng Minh triết với tầng hi sinh. Chúng ta có thể nói rằng Phòng Minh triết còn tiếp tục cho đến lần điểm đạo thứ năm, vì một Chân sư là bậc Chân sư của Minh triết. |
|
he has in ordered sequence developed and opened the petals of the lotus—first opening the lower three, which involves a process covering a vast period of time. |
y đã theo một trình tự có trật tự mà phát triển và khai mở các cánh hoa của hoa sen—trước hết khai mở ba cánh hoa thấp, điều này bao hàm một tiến trình kéo dài trong một thời kỳ vô cùng rộng lớn. |
|
738. The sequence is “ordered” but there are necessarily overlaps and sometimes anomalies and irregularities. |
738. Trình tự ấy là “có trật tự” nhưng tất yếu có những chồng lấn và đôi khi có những dị thường và bất quy tắc. |
|
739. The opening of the first three petals can take, perhaps, ninety percent of the time allotted to human evolution. It is a process covering many millions of years. |
739. Việc khai mở ba cánh hoa đầu tiên có thể chiếm đến chín mươi phần trăm thời gian được dành cho tiến hoá nhân loại. Đó là một tiến trình kéo dài nhiều triệu năm. |
|
Then the second series of petals are opened, during a period of time covering his participation intelligently in world affairs until he enters the spiritual kingdom at the first Initiation; |
Sau đó loạt cánh hoa thứ hai được khai mở, trong một thời kỳ bao trùm sự tham dự một cách thông minh của y vào các công việc thế gian cho đến khi y bước vào giới tinh thần ở lần Điểm đạo thứ nhất; |
|
740. The processes connected with the opening of the second series of petals are intelligent. This opening also assumes of man that he is the participant in world affairs. |
740. Các tiến trình liên hệ với việc khai mở loạt cánh hoa thứ hai là thông minh. Sự khai mở này cũng giả định nơi con người rằng y là người tham dự vào các công việc thế gian. |
|
741. The entry of the “spiritual kingdom”, the Kingdom of Souls occurs at the first initiation. This is the mounting of the Fixed Cross and the beginning of true discipleship. |
741. Sự bước vào “giới tinh thần”, Thiên Giới của các linh hồn, xảy ra ở lần điểm đạo thứ nhất. Đây là việc bước lên Thập Giá Cố Định và là sự khởi đầu của địa vị đệ tử chân chính. |
|
742. The opening of the first six petals take us to the point at which the first initiation can be taken. Before the first initiation is taken, it is necessary that the seventh petal be at least vitalized and organized. To what degree it must be unfolded, we do not know. |
742. Sự khai mở sáu cánh hoa đầu tiên đưa chúng ta đến điểm mà tại đó lần điểm đạo thứ nhất có thể được tiếp nhận. Trước khi lần điểm đạo thứ nhất được tiếp nhận, điều cần thiết là cánh hoa thứ bảy ít nhất phải được tiếp sinh lực và tổ chức. Chúng ta không biết nó phải được khai mở đến mức độ nào. |
|
743. Once there is entry into the spiritual kingdom a period of abstraction has slowly begun. |
743. Một khi đã có sự bước vào giới tinh thần thì một thời kỳ trừu xuất đã chậm rãi bắt đầu. |
|
and a final and briefer period wherein the three higher or inner ring of petals are developed and opened. |
và một thời kỳ cuối cùng ngắn hơn trong đó ba cánh hoa cao hơn hay vòng trong được phát triển và khai mở. |
|
744. In this case the “inner ring of petals” is the sacrifice tier and not the innermost tier—the synthesizing tier. |
744. Trong trường hợp này “vòng trong của các cánh hoa” là tầng hi sinh chứ không phải tầng nội tại nhất—tầng tổng hợp. |
|
745. This “final and briefer period” is really, much briefer, even than the period during which the central three petals in the love tier opened. |
745. “Thời kỳ cuối cùng và ngắn hơn” này thực sự ngắn hơn rất nhiều, ngay cả so với thời kỳ trong đó ba cánh hoa trung tâm của tầng bác ái được khai mở. |
|
746. We tried to suggest that its opening could occur a few thousand times faster than the opening of the knowledge tier. |
746. Chúng ta đã cố gợi ý rằng sự khai mở của nó có thể xảy ra nhanh hơn vài nghìn lần so với sự khai mở của tầng tri thức. |
|
In closing what may be said on this subject of the egoic Ray and fire of mind, I would request the student to bear the following points in mind: |
Để kết thúc những gì có thể được nói về chủ đề cung chân ngã và lửa của trí tuệ này, tôi muốn yêu cầu đạo sinh ghi nhớ những điểm sau: |
|
747. We remind ourselves (amidst all the detail) that we have been talking about the “egoic Ray and the fire of mind”. |
747. Chúng ta tự nhắc mình (giữa mọi chi tiết) rằng chúng ta đã nói về “cung chân ngã và lửa của trí tuệ”. |
|
First. That the order of the development of the petals and the stimulation of the fires depends upon the Ray of the Monad, and the subray upon which the causal body finds itself. |
Thứ nhất. Rằng trật tự phát triển của các cánh hoa và sự kích thích các ngọn lửa tùy thuộc vào cung của chân thần, và cung phụ mà trên đó thể nguyên nhân tự thấy mình ở đó. |
|
748. The ray of the Monad is the chief factor and, secondarily, the egoic ray—i.e., “the subray upon which the causal body finds itself”. Both rays, we are told, contribute to the order of development of the petals. |
748. Cung của chân thần là yếu tố chính và, thứ yếu, là cung chân ngã—tức “cung phụ mà trên đó thể nguyên nhân tự thấy mình ở đó”. Chúng ta được cho biết rằng cả hai cung đều góp phần vào trật tự phát triển của các cánh hoa. |
|
749. We can remind ourselves that this subray is the same as the ray (or, really, subray) upon which the spiritual triad finds itself (i.e., the ray which qualifies the permanent atoms of the spiritual triad). |
749. Chúng ta có thể tự nhắc rằng cung phụ này cũng chính là cung (hay đúng hơn là cung phụ) mà trên đó Tam nguyên tinh thần tự thấy mình ở đó (tức cung tạo phẩm tính cho các nguyên tử trường tồn của Tam nguyên tinh thần). |
|
This thought would bear expansion, and would prove a fruitful source of study to the occult investigator. |
Tư tưởng này đáng được khai triển thêm, và sẽ chứng tỏ là một nguồn nghiên cứu phong phú cho nhà huyền bí học khảo cứu. |
|
750. During the course of these commentaries we have speculated upon the order of activation of the different points in chakric triangles according to the ray of the Monad. The ray of the Ego will modify this order of activation. |
750. Trong tiến trình của các phần bình luận này, chúng ta đã suy đoán về trật tự hoạt hóa các điểm khác nhau trong các tam giác luân xa theo cung của chân thần. Cung của Chân ngã sẽ làm biến đổi trật tự hoạt hóa này. |
|
751. For instance if a first ray Monad would tend to stimulate only as a last resort the triangular point in a triangle representing love, then a first ray Monad with a second ray Ego would hasten the stimulation of that love-related point of the triangle. |
751. Chẳng hạn, nếu một chân thần cung một có khuynh hướng chỉ kích thích như một biện pháp cuối cùng điểm tam giác trong một tam giác biểu thị bác ái, thì một chân thần cung một với một Chân ngã cung hai sẽ thúc đẩy nhanh sự kích thích điểm của tam giác liên hệ đến bác ái ấy. |
|
Second. That this unfoldment proceeds slowly in the early stages, and only proceeds with rapidity as the man himself works at it with conscious effort. |
Thứ hai. Rằng sự khai mở này tiến hành chậm chạp trong các giai đoạn đầu, và chỉ tiến hành nhanh chóng khi chính con người làm việc với nó bằng nỗ lực hữu thức. |
|
752. Conscious application adds to the speed of unfoldment. One can rely solely upon the natural process, but intelligent attentiveness to process hastens the process. |
752. Sự vận dụng hữu thức làm tăng tốc độ khai mở. Người ta có thể chỉ dựa vào tiến trình tự nhiên, nhưng sự chú tâm thông minh vào tiến trình sẽ đẩy nhanh tiến trình. |
|
The Ego takes no active interest in the development until the second petal in the second series is beginning to open. |
Chân ngã không có sự quan tâm tích cực nào đến sự phát triển cho đến khi cánh hoa thứ hai trong loạt thứ hai bắt đầu khai mở. |
|
753. While the Ego is responsible for the overall progress of the process, its individual interest is not piqued until its personality has made sufficient progress. |
753. Dù Chân ngã chịu trách nhiệm về sự tiến bộ tổng quát của tiến trình, sự quan tâm cá biệt của nó không bị khơi dậy cho đến khi phàm ngã của nó đã đạt đủ tiến bộ. |
|
754. This fact tells us much about the solar fifth petal and its relationship to the great second aspect. |
754. Sự kiện này cho chúng ta biết nhiều điều về cánh hoa thứ năm thái dương và mối liên hệ của nó với phương diện thứ hai vĩ đại. |
|
755. We note that the Ego’s interest occurs at the beginning of the opening of the fifth (or second) petal in the second series. |
755. Chúng ta lưu ý rằng sự quan tâm của Chân ngã xảy ra vào lúc bắt đầu của sự khai mở cánh hoa thứ năm (hay thứ hai) trong loạt thứ hai. |
|
756. We can assume that for most individuals this interest occurred well within the last million years (and perhaps much closer to our present time). Given the long expanse of human development over many millions of years, the Ego, we may presume, has been ‘standing by’ awaiting its proper moment for engagement. |
756. Chúng ta có thể giả định rằng đối với phần lớn cá nhân, sự quan tâm này đã xảy ra khá sâu trong một triệu năm gần đây nhất (và có lẽ còn gần thời đại hiện nay của chúng ta hơn nữa). Xét theo khoảng thời gian dài của sự phát triển nhân loại qua nhiều triệu năm, chúng ta có thể cho rằng Chân ngã đã “đứng chờ” đợi đúng thời điểm để tham gia. |
|
757. We note that as the term “Ego” is used here, it appears to be equivalent to the “Solar Angel”. One must closely examine the meaning of the term “Ego” as it can mean different things in different contexts. Sometimes it refers directly to the Solar Angel and at other times it carries a meaning more related to the inner spiritual life of the human being, per se. |
757. Chúng ta lưu ý rằng khi thuật ngữ “Chân ngã” được dùng ở đây, nó dường như tương đương với “Thái dương Thiên Thần”. Người ta phải khảo sát kỹ ý nghĩa của thuật ngữ “Chân ngã” vì nó có thể mang những nghĩa khác nhau trong những ngữ cảnh khác nhau. Đôi khi nó chỉ trực tiếp Thái dương Thiên Thần và những lúc khác nó mang một ý nghĩa liên hệ nhiều hơn đến đời sống tinh thần bên trong của con người, chính nó. |
|
Before that time, the work proceeds under the [Page 544] law of its being and through the inherent life of the second Logos which is the life of the petals of the lotus. |
Trước thời điểm đó, công việc tiến hành dưới [Page 544] định luật của bản thể nó và thông qua sự sống cố hữu của Thượng đế thứ hai, vốn là sự sống của các cánh hoa của hoa sen. |
|
758. Not only does the Ego take no active interest in the development of its personality until a certain point of development has been reached, but, as well, no interest in the unfoldment of the petals of the egoic lotus! |
758. Điều đáng chú ý là không những Chân ngã không có sự quan tâm tích cực đến sự phát triển của phàm ngã của nó cho đến khi đạt tới một điểm phát triển nhất định, mà còn không quan tâm đến sự khai mở của các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã nữa! |
|
759. It is of interest to note that it is the life of the “second Logos” which is responsible for the sustainment of the causal body. |
759. Điều đáng lưu ý là chính sự sống của “Thượng đế thứ hai” chịu trách nhiệm duy trì thể nguyên nhân. |
|
760. We must compare the thought that the second Logos “is the life of the petals of the lotus” to the idea that manasadevas are involved with each petal. This comparison will be important. |
760. Chúng ta phải so sánh tư tưởng rằng Thượng đế thứ hai “là sự sống của các cánh hoa của hoa sen” với ý tưởng rằng manasadevas có liên hệ với mỗi cánh hoa. Sự so sánh này sẽ quan trọng. |
|
It is of interest to note here that, as the petal substance is deva substance and as the energy of the petals is the energy of certain manasadevas (one of the three higher orders of Agnishvattas) the initiate is overshadowed (the word is not entirely satisfactory in explaining the type of deva service here necessitated, but it must suffice) by a great deva who represents the equilibrium of substantial vibration which is brought about by the efforts of the initiate, aided by the adepts who present him, and who each represent one of the two polarities of force. This is temporarily stabilised by the Initiator. (TCF 884) |
Điều đáng lưu ý ở đây là, vì chất liệu của cánh hoa là chất liệu thiên thần và vì năng lượng của các cánh hoa là năng lượng của một số manasadevas (một trong ba cấp cao hơn của các Agnishvatta), điểm đạo đồ được phủ bóng (từ này không hoàn toàn thỏa đáng để giải thích loại phụng sự thiên thần cần thiết ở đây, nhưng phải tạm dùng vậy) bởi một thiên thần vĩ đại, vị này biểu hiện sự quân bình của rung động chất liệu được tạo ra bởi những nỗ lực của điểm đạo đồ, được trợ giúp bởi các chân sư giới thiệu y, và mỗi vị trong các Ngài biểu hiện một trong hai cực tính của mãnh lực. Điều này được Đấng Điểm đạo tạm thời ổn định. (TCF 884) |
|
The life of the first Logos, working through the SELF (who dwells in a form built by the life or energy of the second Logos out of force-substance animated by the life of the third Logos) only responds to opportunity when the above mentioned stage is reached. |
Sự sống của Thượng đế thứ nhất, hoạt động qua BẢN NGÃ (Đấng ngự trong một hình tướng được xây dựng bởi sự sống hay năng lượng của Thượng đế thứ hai từ chất liệu-mãnh lực được sự sống của Thượng đế thứ ba làm cho sinh động) chỉ đáp ứng với cơ hội khi giai đoạn được nhắc đến ở trên đã đạt tới. |
|
761. The work of the second and third Logoi must precede the work of the first. |
761. Công việc của Thượng đế thứ hai và thứ ba phải đi trước công việc của Thượng đế thứ nhất. |
|
762. Since the causal body was build at a time relatively recent in planetary history, we could say that the work of the Second Logos was not completed at the Second Outpouring, but continued and continues until the present time. |
762. Vì thể nguyên nhân được xây dựng vào một thời kỳ tương đối gần trong lịch sử hành tinh, chúng ta có thể nói rằng công việc của Thượng đế thứ hai đã không hoàn tất ở Lần tuôn đổ thứ hai, mà đã tiếp tục và vẫn tiếp tục cho đến hiện nay. |
|
763. The Second Logos is the form builder while the Third Logos is the substance ‘animator’. |
763. Thượng đế thứ hai là đấng kiến tạo hình tướng còn Thượng đế thứ ba là đấng “làm sinh động” chất liệu. |
|
Finally: The ceremony of initiation is only undergone when the causal body is in a condition to respond to the Will aspect of the Heavenly Man (the first aspect) and to do this through the glad co-operation of the fully conscious self. |
Sau cùng: Nghi lễ điểm đạo chỉ được trải qua khi thể nguyên nhân ở trong một tình trạng có thể đáp ứng với phương diện Ý Chí của Đấng Thiên Nhân (phương diện thứ nhất) và làm điều này qua sự hợp tác hoan hỉ của bản ngã hoàn toàn hữu thức. |
|
764. We may presume that the “fully conscious self” here referenced is the soul-infused human being. |
764. Chúng ta có thể giả định rằng “bản ngã hoàn toàn hữu thức” được nhắc đến ở đây là con người được linh hồn thấm nhuần. |
|
765. Our work in building the antahkarana is allowing us to access the will aspect of the Heavenly Man more rapidly. |
765. Công việc của chúng ta trong việc xây dựng antahkarana đang cho phép chúng ta tiếp cận phương diện ý chí của Đấng Thiên Nhân nhanh hơn. |
|
766. We are not told which initiation is here under discussion, but it may well be initiations one through four. Even at the first initiation, the Monad influences the causal body. |
766. Chúng ta không được cho biết ở đây đang bàn đến lần điểm đạo nào, nhưng rất có thể là các lần điểm đạo từ một đến bốn. Ngay cả ở lần điểm đạo thứ nhất, chân thần cũng ảnh hưởng đến thể nguyên nhân. |
|
767. When the man mounts the Fixed Cross, we can say that the causal body has arrived at a condition sufficient to respond to the Will aspect of the Heavenly Man. |
767. Khi con người bước lên Thập Giá Cố Định, chúng ta có thể nói rằng thể nguyên nhân đã đạt tới một tình trạng đủ để đáp ứng với phương diện Ý Chí của Đấng Thiên Nhân. |
|
More on this is not now possible, but enough has here been indicated to open up various lines of study. These, if followed, will lead the student to much of practical value and application. |
Hiện giờ không thể nói thêm về điều này, nhưng ở đây đã chỉ ra đủ để mở ra nhiều đường nghiên cứu khác nhau. Nếu được theo đuổi, những đường ấy sẽ dẫn đạo sinh đến nhiều điều có giá trị và ứng dụng thực tiễn. |
|
768. The Tibetan has given us much—so much more than we know for ourselves. How will we avail ourselves of the treasure bestowed? |
768. Chân sư Tây Tạng đã ban cho chúng ta rất nhiều—nhiều hơn rất nhiều so với điều chính chúng ta biết cho bản thân mình. Chúng ta sẽ tận dụng kho tàng được ban tặng ấy như thế nào? |
|
3. Summary. |
3. Tóm lược. |
|
Our next subject concerns itself with the elementals of the mental plane, with the thought forms they animate, and with the consideration of them as force centres, capable of producing results—constructive, if rightly directed; destructive, if left blindly to follow their own course. |
Chủ đề kế tiếp của chúng ta bàn đến các hành khí của cõi trí, các hình tư tưởng mà chúng làm sinh động, và việc xem xét chúng như những trung tâm mãnh lực, có khả năng tạo ra những kết quả—xây dựng, nếu được định hướng đúng; hủy diệt, nếu bị bỏ mặc mù quáng đi theo tiến trình riêng của chúng. |
|
769. In speaking of these begins we are not speaking of Agnishvattas who express solar fire. We are speaking of the fires of lower mind. |
769. Khi nói về những hành khí này, chúng ta không nói về các Agnishvatta vốn biểu lộ Lửa Thái dương. Chúng ta đang nói về các ngọn lửa của hạ trí. |
|
770. Either constructive or destructive results may eventuate from such elementals depending upon how they are directed. |
770. Những kết quả hoặc xây dựng hoặc hủy diệt có thể phát sinh từ các hành khí như thế tùy theo cách chúng được định hướng. |
|
771. A large question remains: are these mental elementals related to the Creative Hierarchy called Makara or are only Agnishvattas related to the Makara? |
771. Một câu hỏi lớn vẫn còn đó: các hành khí trí tuệ này có liên hệ với Huyền Giai Sáng Tạo được gọi là Makara hay chỉ các Agnishvatta mới liên hệ với Makara? |
|
Before taking up this matter, however, I want to gather together some threads of thought in connection with the matter just dealt with. |
Tuy nhiên, trước khi bàn đến vấn đề này, tôi muốn gom lại một số mạch tư tưởng liên quan đến vấn đề vừa được bàn đến. |
|
772. In this gathering together we deal with Mercury and the third ray. The attempt at cohesion pertains to the second ray. |
772. Trong việc gom lại này, chúng ta bàn đến Sao Thủy và cung ba. Nỗ lực kết dính thuộc về cung hai. |
|
773. The Tibetan is attempting to leave as few ‘loose ends’ as possible. |
773. Chân sư Tây Tạng đang cố gắng để lại càng ít “đầu mối lỏng lẻo” càng tốt. |
|
If we have carefully followed the data given about the egoic manifestation on its own plane, and the fires of the causal body, we shall have noted the close resemblance between that egoic body, viewed as a force centre, and certain aspects of logoic manifestation. |
Nếu chúng ta đã cẩn thận theo dõi dữ liệu được đưa ra về sự biểu hiện chân ngã trên cõi riêng của nó, và các ngọn lửa của thể nguyên nhân, chúng ta hẳn đã lưu ý đến sự tương đồng chặt chẽ giữa thể chân ngã ấy, khi được xem như một trung tâm mãnh lực, và một số phương diện của sự biểu hiện logoi. |
|
774. The idea here is that if we study the egoic vehicle we shall learn much about the life of the Planetary Logos and/or Solar Logos. |
774. Ý ở đây là nếu chúng ta nghiên cứu vận cụ chân ngã, chúng ta sẽ học được nhiều điều về sự sống của Đức Hành Tinh Thượng Đế và/hoặc Thái dương Thượng đế. |
|
775. Both the Heavenly Man and the Solar Logos are in possession of a causal body which can be presumed to function in a relatively similar manner to the egoic lotus of the human being. |
775. Cả Đấng Thiên Nhân lẫn Thái dương Thượng đế đều sở hữu một thể nguyên nhân mà có thể giả định là hoạt động theo cách tương đối tương tự với Hoa Sen Chân Ngã của con người. |
|
The causal body has been seen as a wheel of fire, containing within its periphery three focal points of energy, the permanent atoms. |
Thể nguyên nhân đã được thấy như một bánh xe lửa, chứa trong chu vi của nó ba tiêu điểm năng lượng, là các nguyên tử trường tồn. |
|
776. Literally, the atomic triangle with the two lower permanent atoms plus the mental unit… |
776. Theo nghĩa đen, đó là tam giác nguyên tử với hai nguyên tử trường tồn thấp hơn cộng với đơn vị hạ trí… |
|
They are analogous, as earlier pointed out, to the seventh principle of each of the three aspects—will or power, love-wisdom, and active intelligence. |
Như đã được chỉ ra trước đây, chúng tương đồng với nguyên khí thứ bảy của mỗi một trong ba phương diện—ý chí hay quyền năng, bác ái-minh triết, và trí tuệ linh hoạt. |
|
777. As these aspects express within the personal sphere… |
777. Khi các phương diện này biểu lộ trong phạm vi cá nhân… |
|
778. The permanent atoms are not inconsequential. They have a high rank among the forces of substance. They are conduits for the highest of the seven principles in relation to the substantial sheaths. |
778. Các nguyên tử trường tồn không phải là những yếu tố không đáng kể. Chúng giữ một địa vị cao trong các mãnh lực của chất liệu. Chúng là những ống dẫn cho nguyên khí cao nhất trong bảy nguyên khí liên hệ với các thể bọc bằng chất liệu. |
|
779. Holding their place upon the atomic sub-plane of each of the five planes on which they manifest, this high (and directive) position would be expected. |
779. Giữ vị trí của mình trên cõi phụ nguyên tử của mỗi một trong năm cõi mà chúng biểu hiện, địa vị cao này (và có tính chỉ đạo) là điều có thể chờ đợi. |
|
[Page 545] Each of these focal points has its own internal economy, as seen in the spirillae, which are essentially streams of force, responding to stimulation and vibration, aroused within and without their limiting ring-pass-not. |
[Page 545] Mỗi tiêu điểm này có sự kinh tế nội tại riêng của nó, như được thấy trong các loa tuyến, vốn về bản chất là những dòng mãnh lực, đáp ứng với kích thích và rung động, được khơi dậy từ bên trong và bên ngoài vòng-giới-hạn của chúng. |
|
780. Spirillae are not so much structures as they are “streams of force”—responsive streams, responding to inner and outer stimulations. |
780. Các loa tuyến không hẳn là những cấu trúc cho bằng là những “dòng mãnh lực”—những dòng đáp ứng, đáp ứng với các kích thích bên trong và bên ngoài. |
|
The internal life of the permanent atom, and that which animates and produces its activity, is the life of the third aspect; the force playing upon it and through it is the life of the second aspect. |
Sự sống nội tại của nguyên tử trường tồn, và điều làm sinh động nó và tạo ra hoạt động của nó, là sự sống của phương diện thứ ba; mãnh lực tác động lên nó và xuyên qua nó là sự sống của phương diện thứ hai. |
|
781. We recall that the deva kingdom is largely a combination of third and second aspect forces. |
781. Chúng ta nhớ rằng giới thiên thần phần lớn là sự kết hợp của các mãnh lực phương diện thứ ba và thứ hai. |
|
782. This is true also for the permanent atoms. |
782. Điều này cũng đúng đối với các nguyên tử trường tồn. |
|
783. The internal life of the permanent atom derives from the third aspect; the external force playing upon it derives, we are told, from the second aspect. |
783. Sự sống nội tại của nguyên tử trường tồn phát sinh từ phương diện thứ ba; còn mãnh lực bên ngoài tác động lên nó, như chúng ta được cho biết, phát sinh từ phương diện thứ hai. |
|
As evolution proceeds the intensity of the life forces from within and those which affect it from without, |
Khi tiến hoá tiếp diễn, cường độ của các lực sự sống từ bên trong và những lực tác động lên nó từ bên ngoài, |
|
784. We are speaking of the third and second aspects respectively. |
784. Chúng ta đang nói lần lượt về phương diện thứ ba và thứ hai. |
|
grows gradually stronger and stronger, and the light of the permanent atoms increases, the petals of the lotus unfold, and the spokes of the radiatory fire come into action. |
dần dần trở nên mạnh hơn và mạnh hơn, và ánh sáng của các nguyên tử trường tồn gia tăng, các cánh hoa của hoa sen khai mở, và các nan hoa của lửa phóng xạ đi vào hoạt động. |
|
785. Parallel processes are under discussion. One process concerns the permanent atoms and their increasing light. The unfoldment of the petals of the egoic lotus parallels the increasing light of the permanent atoms. |
785. Ở đây đang bàn đến những tiến trình song song. Một tiến trình liên quan đến các nguyên tử trường tồn và ánh sáng ngày càng tăng của chúng. Sự khai mở các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã song hành với ánh sáng ngày càng tăng của các nguyên tử trường tồn. |
|
786. As the petals are stimulated, their dynamic aspect as “spokes of radiatory fire” makes its appearance. |
786. Khi các cánh hoa được kích thích, phương diện năng động của chúng như “các nan hoa của lửa phóng xạ” xuất hiện. |
|
Bear in mind here, that the permanent atoms are concerned with the substance aspect of Existence or Becoming, while the petals of the lotus, or the fiery spokes of the wheel, deal specifically with the psychical aspect, or the development of consciousness; the central nucleus, or the three inner petals, embodies the aspect of pure Spirit. |
Hãy ghi nhớ ở đây rằng các nguyên tử trường tồn liên hệ với phương diện chất liệu của Hiện Hữu hay Trở Thành, trong khi các cánh hoa của hoa sen, hay các nan hoa rực lửa của bánh xe, đặc biệt liên hệ với phương diện thông linh, hay sự phát triển của tâm thức; còn hạt nhân trung tâm, hay ba cánh hoa bên trong, thể hiện phương diện tinh thần thuần túy. |
|
787. Here is one of those important synthetic statements. DK wants us to keep the three aspects clearly in mind: |
787. Đây là một trong những phát biểu tổng hợp quan trọng ấy. Chân sư DK muốn chúng ta ghi nhớ rõ ba phương diện: |
|
a. Permanent atoms are not concerned with psyche or Spirit. |
a. Các nguyên tử trường tồn không liên hệ với tâm linh hay tinh thần. |
|
b. The petals of the lotus or the fiery spokes of the wheel are not concerned with substance or Spirit |
b. Các cánh hoa của hoa sen hay các nan hoa rực lửa của bánh xe không liên hệ với chất liệu hay tinh thần |
|
c. The central nucleus (the three inner petals, plus, presumably, the Jewel) is not concerned with substance of psyche. |
c. Hạt nhân trung tâm (ba cánh hoa bên trong, cộng thêm, có lẽ, Viên Ngọc) không liên hệ với chất liệu hay tâm linh. |
|
All three lines of evolution are proceeding simultaneously, and have a reflex action the one upon the other; |
Cả ba đường tiến hoá đều đang tiến hành đồng thời, và có tác động phản chiếu lẫn nhau; |
|
788. The focus of each is clear but they do affect one another by reflex action. |
788. Tiêu điểm của mỗi đường đều rõ ràng nhưng chúng quả thực ảnh hưởng lẫn nhau bằng tác động phản chiếu. |
|
789. When a triangle representing the three aspects goes into rapid rotation, the interplay of the three aspects is indicated. |
789. Khi một tam giác biểu thị ba phương diện đi vào sự quay nhanh, sự tương tác của ba phương diện được biểu thị. |
|
it is this which produces the consequent perfection of unfoldment. |
chính điều này tạo ra sự hoàn thiện tiếp theo của sự khai mở. |
|
790. If there is to be perfection or unfoldment the three aspects must enter into dynamic interplay. |
790. Nếu muốn có sự hoàn thiện hay sự khai mở thì ba phương diện phải đi vào sự tương tác năng động. |
|
It is neither possible nor desirable to follow each line of this threefold evolution separately, nor to consider them as dissociated from each other. |
Không thể cũng không nên theo dõi riêng rẽ từng đường của sự tiến hoá tam phân này, cũng không nên xem chúng như tách rời nhau. |
|
791. Their constant interplay (obvious and otherwise) is too great. |
791. Sự tương tác liên tục của chúng (hiển nhiên và không hiển nhiên) là quá lớn. |
|
The interplay is too accurate, and the mutual stimulation too important to be neglected by the student of egoic evolution. |
Sự tương tác ấy quá chính xác, và sự kích thích hỗ tương quá quan trọng để bị đạo sinh của sự tiến hoá chân ngã bỏ qua. |
|
792. We see that the interplay is not casual or ‘happenstantial’. |
792. Chúng ta thấy rằng sự tương tác này không phải là ngẫu nhiên hay “tình cờ”. |
|
793. We have to learn to think relationally—not just as regards one level of divine expression, but in terms, especially, of the three principle levels—Spirit, soul and matter. |
793. Chúng ta phải học cách tư duy theo tương quan—không chỉ đối với một cấp độ biểu hiện thiêng liêng, mà đặc biệt theo ba cấp độ nguyên khí—tinh thần, linh hồn và vật chất. |
|
It is, as stated elsewhere, through the permanent atoms that the Ego comes en rapport with his objective world; |
Như đã nói ở nơi khác, chính qua các nguyên tử trường tồn mà Chân ngã tiếp xúc với thế giới khách quan của y; |
|
794. The permanent atoms are the instruments of the Ego. They are its method of influencing the objective world and of transmuting the experience gathered in the three worlds into something useful to the Ego. |
794. Các nguyên tử trường tồn là những công cụ của Chân ngã. Chúng là phương pháp của nó để ảnh hưởng đến thế giới khách quan và để chuyển hoá kinh nghiệm thu thập trong ba cõi thấp thành điều gì đó hữu ích cho Chân ngã. |
|
he works upon and through his environment successfully or blindly just in so far as he can energise his permanent atoms, and bring the spirillae out of latency into potency. |
y tác động lên và xuyên qua môi trường của mình một cách thành công hay mù quáng đúng theo mức độ y có thể tiếp năng lượng cho các nguyên tử trường tồn của mình, và đưa các loa tuyến từ trạng thái tiềm ẩn vào trạng thái hữu hiệu. |
|
795. We must be aware of the importance of what is being said. The permanent atoms are the bridge between the Ego and the objective worlds. |
795. Chúng ta phải ý thức tầm quan trọng của điều đang được nói. Các nguyên tử trường tồn là cây cầu giữa Chân ngã và các thế giới khách quan. |
|
796. Of course the Ego’s relationship with the permanent atoms is, in a way, ‘its own business’. With this process we cannot interfere nor should we. |
796. Dĩ nhiên mối liên hệ của Chân ngã với các nguyên tử trường tồn, theo một nghĩa nào đó, là “việc riêng của nó”. Chúng ta không thể can thiệp vào tiến trình này, và cũng không nên. |
|
797. We should pause: does the term “Ego” as here used, still mean what it meant a little earlier in the text—i.e., the “Solar Angel”? |
797. Chúng ta nên dừng lại: thuật ngữ “Chân ngã” được dùng ở đây có còn mang nghĩa như nó đã mang sớm hơn một chút trong bản văn—tức “Thái dương Thiên Thần”—hay không? |
|
This only becomes possible as he unfolds the petals of the lotus. |
Điều này chỉ trở nên có thể khi y khai mở các cánh hoa của hoa sen. |
|
798. The Ego’s increasingly effective relationship with its permanent atoms is indicated and assisted by the unfoldment of the petals of the egoic lotus. |
798. Mối liên hệ ngày càng hữu hiệu của Chân ngã với các nguyên tử trường tồn của nó được biểu thị và được hỗ trợ bởi sự khai mở các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã. |
|
799. Apparently such unfoldment makes it possible for the Ego to energize the permanent atoms and bring the spirillae from latency to potency. |
799. Rõ ràng sự khai mở như thế làm cho Chân ngã có thể tiếp năng lượng cho các nguyên tử trường tồn và đưa các loa tuyến từ trạng thái tiềm ẩn sang trạng thái hữu hiệu. |
|
It must be remembered that the three lower petals when fully unfolded affect, through [Page 546] their vitality, the three major spirillae in the physical permanent atom. As the second ring of petals gradually opens, the astral permanent atom undergoes a similar process, leading up to the full arousing of the spirillae within the mental unit. |
Cần nhớ rằng ba cánh hoa thấp khi được khai mở hoàn toàn sẽ ảnh hưởng, qua sinh lực của chúng, đến [Page 546] ba loa tuyến chính trong nguyên tử trường tồn hồng trần. Khi vòng cánh hoa thứ hai dần dần khai mở, nguyên tử trường tồn cảm dục trải qua một tiến trình tương tự, dẫn đến sự khơi dậy trọn vẹn các loa tuyến trong đơn vị hạ trí. |
|
800. The correspondence is what we might expect. |
800. Sự tương ứng này đúng như điều chúng ta có thể chờ đợi. |
|
801. Have we noticed, however, that the three knowledge petals influence the three major spirillae in the physical permanent atom (and not, principally, all the others). This seems to be the case for the love petals—that they would affect the three major spirillae in the astral permanent atom. |
801. Tuy nhiên, chúng ta có nhận thấy rằng ba cánh hoa tri thức ảnh hưởng đến ba loa tuyến chính trong nguyên tử trường tồn hồng trần (chứ không chủ yếu đến tất cả các loa tuyến khác) hay không. Điều này dường như cũng đúng đối với các cánh hoa bác ái—rằng chúng sẽ ảnh hưởng đến ba loa tuyến chính trong nguyên tử trường tồn cảm dục. |
|
802. There are no “three major spirillae” in the mental unit. If we follow the analogy, however, we would expect the three sacrifice petals to be connected in some way with the manasic permanent atom and perhaps with its three major spirillae (the only ones it has). |
802. Không có “ba loa tuyến chính” trong đơn vị hạ trí. Tuy nhiên, nếu chúng ta theo phép loại suy, chúng ta sẽ chờ đợi ba cánh hoa hi sinh có liên hệ theo cách nào đó với nguyên tử trường tồn manas và có lẽ với ba loa tuyến chính của nó (là những loa tuyến duy nhất mà nó có). |
|
7. The closer the approach to reality the simpler will be found the arrangement of the spirilla. These streams of force show a septenary arrangement in the lower three permanent atoms of man, while the higher three contain but three spirillae—the major three. (TCF 531-532) |
7. Càng đến gần thực tại hơn, sự sắp xếp của các loa tuyến sẽ được thấy là càng đơn giản hơn. Những dòng mãnh lực này biểu lộ một sự sắp xếp thất phân trong ba nguyên tử trường tồn thấp của con người, trong khi ba nguyên tử cao hơn chỉ chứa ba loa tuyến—ba loa tuyến chính. (TCF 531-532) |
|
803. The manasic permanent atom, however, may be on a plane higher than that on which the three sacrifice petals are found. The sub-plane ‘placement’ of the various factors in the causal body has to be further studied. |
803. Tuy nhiên, nguyên tử trường tồn manas có thể ở trên một cõi cao hơn cõi mà trên đó ba cánh hoa hi sinh được tìm thấy. Vị trí cõi phụ của các yếu tố khác nhau trong thể nguyên nhân cần được nghiên cứu thêm. |
|
Here I would point out that there is a slight difference in the case of the mental unit, for the four spirillae of the mental unit are aroused to full activity when the knowledge petal of the final three opens. |
Ở đây tôi muốn chỉ ra rằng có một khác biệt nhỏ trong trường hợp của đơn vị hạ trí, vì bốn loa tuyến của đơn vị hạ trí được khơi dậy đến hoạt động trọn vẹn khi cánh hoa tri thức của bộ ba cuối cùng khai mở. |
|
804. Here is the explanation. The power of the knowledge petal of the sacrifice tier is sufficient to arouse the four spirillae of the mental unit to full activity. |
804. Đây là lời giải thích. Quyền năng của cánh hoa tri thức thuộc tầng hi sinh đủ để khơi dậy bốn loa tuyến của đơn vị hạ trí đến hoạt động trọn vẹn. |
|
805. To what degree does this opening correspond to the achievement of mental polarization? Or would true mental polarization appear later—only as the ninth petal was opening? |
805. Sự khai mở này tương ứng đến mức nào với việc đạt được sự phân cực trí tuệ? Hay sự phân cực trí tuệ chân chính sẽ xuất hiện muộn hơn—chỉ khi cánh hoa thứ chín đang khai mở? |
|
806. We can see a definite connection here between the first initiation (related to the opening of the knowledge petal of the sacrifice tier) and the arousal to full activity of the four spirillae of the mental unit. |
806. Ở đây chúng ta có thể thấy một mối liên hệ rõ rệt giữa lần điểm đạo thứ nhất (liên hệ với sự khai mở cánh hoa tri thức của tầng hi sinh) và sự đánh thức đến hoạt động trọn vẹn của bốn loa tuyến của đơn vị hạ trí. |
|
The opening of the remaining two reveal the glowing threefold flower which lies at the centre of egoic manifestation. |
Sự khai mở của hai cánh còn lại làm lộ ra đóa hoa tam phân rực sáng nằm ở trung tâm của sự biểu hiện chân ngã. |
|
807. Here we have an amazing piece of occult information. |
807. Ở đây chúng ta có một mẩu thông tin huyền bí đáng kinh ngạc. |
|
808. It has been suggested that at the third initiation the bud surrounding the “Jewel in the Lotus” is revealed, but a more gradual form of revelation of the three innermost petals is also suggested in the section of text immediately above. |
808. Người ta đã gợi ý rằng vào lần điểm đạo thứ ba, nụ bao quanh “Bảo Châu trong Hoa Sen” được hé lộ, nhưng một hình thức mặc khải dần dần hơn về ba cánh hoa nội tâm nhất cũng được gợi ý trong đoạn văn ngay bên trên. |
|
809. In the reference below it is suggested that at each of the first three initiations, one of the petals of the inner three is opened as follows: |
809. Trong đoạn trích dẫn dưới đây, người ta gợi ý rằng ở mỗi một trong ba lần điểm đạo đầu tiên, một trong ba cánh hoa nội tâm được khai mở như sau: |
|
At the first, the second, and the third Initiations, one of the three petals opens up, permitting an ever freer display of the central electric point. At the fourth Initiation, the jewel (being completely revealed) through its blazing light, its intense radiatory heat, and its terrific outflow of force, produces the disintegration of the surrounding form, the shattering of the causal body, the destruction of the Temple of Solomon, and the dissolution of the lotus flower. (TCF 883) |
Ở lần điểm đạo thứ nhất, thứ hai và thứ ba, một trong ba cánh hoa mở ra, cho phép điểm điện trung tâm biểu lộ ngày càng tự do hơn. Ở lần điểm đạo thứ tư, bảo châu (được hiển lộ hoàn toàn), nhờ ánh sáng rực cháy của nó, nhiệt bức xạ mãnh liệt của nó, và dòng mãnh lực tuôn ra khủng khiếp của nó, tạo ra sự tan rã của hình tướng bao quanh, sự vỡ nát của thể nguyên nhân, sự phá hủy Đền thờ Solomon, và sự tan biến của hoa sen. (TCF 883) |
|
810. These two thoughts seem slightly contradictory. In one, the first synthesis petal opens with the first initiation and is somewhat displayed, and in the other, the opening of the eighth and ninth petal reveal “the glowing threefold flower”. Then there is the thought that only at the third initiation is the central tier of petals revealed. |
810. Hai ý tưởng này dường như hơi mâu thuẫn nhau. Trong một ý, cánh hoa tổng hợp thứ nhất mở ra cùng với lần điểm đạo thứ nhất và phần nào được biểu lộ, còn trong ý kia, sự khai mở của cánh hoa thứ tám và thứ chín làm lộ ra “đóa hoa tam phân rực sáng”. Rồi lại có ý tưởng rằng chỉ đến lần điểm đạo thứ ba thì tầng cánh hoa trung tâm mới được hé lộ. |
|
811. There can be no doubt that “ever freer display” suggests that from the time of the first initiation the innermost petals are progressively revealed. |
811. Không thể nghi ngờ rằng cụm từ “biểu lộ ngày càng tự do hơn” gợi ý rằng từ thời điểm lần điểm đạo thứ nhất, các cánh hoa nội tâm nhất được hé lộ dần dần. |
|
812. Perhaps the seventh petal was somewhat opened at the first initiation but not sufficiently open to reveal very much of the “glowing threefold flower”. |
812. Có lẽ cánh hoa thứ bảy đã phần nào được khai mở ở lần điểm đạo thứ nhất nhưng chưa đủ mở để làm lộ ra nhiều về “đóa hoa tam phân rực sáng”. |
|
813. The indications are ambiguous. |
813. Các dấu hiệu thì mơ hồ. |
|
It would be wise to sound a note of warning here in connection with this question of egoic unfoldment. What has been said here has been but the formulation of the general plan of egoic unfoldment as interpreted in terms of consciousness or of fire. |
Sẽ là khôn ngoan nếu xướng lên một âm điệu cảnh báo ở đây liênquan đến vấn đề khai mở chân ngã này. Điều đã được nói ở đây chỉ là sự phát biểu của kế hoạch tổng quát về sự khai mở chân ngã như được diễn giải theo thuật ngữ của tâm thức hay của lửa. |
|
814. That which is a “general plan” may admit of many modifications in specific instances. |
814. Điều vốn là một “kế hoạch tổng quát” có thể chấp nhận nhiều biến đổi trong những trường hợp cụ thể. |
|
In studying the subject with due personal application, the student should bear in mind the following facts: |
Khi nghiên cứu chủ đề này với sự áp dụng cá nhân thích đáng, đạo sinh nên ghi nhớ các sự kiện sau đây: |
|
First, that according to the Ray of the Monad, so will the petals unfold. |
Thứ nhất, rằng tùy theo cung của chân thần, các cánh hoa sẽ khai mở như vậy. |
|
815. But we do recall in previous text that the subray of the Monad (i.e., the egoic ray) also had some influence on when the petals would open. |
815. Nhưng chúng ta nhớ lại trong đoạn văn trước rằng cung phụ của chân thần (tức cung chân ngã) cũng có một vài ảnh hưởng đối với thời điểm các cánh hoa sẽ khai mở. |
|
For instance, if the Ray of the Monad is the second Ray, the knowledge petal will be the first to open, but the second petal of love will almost parallel its development, being for that particular type of Ego the line of easiest unfoldment; the knowledge petal will be for it the most difficult to open. |
Chẳng hạn, nếu cung của chân thần là cung hai, cánh hoa tri thức sẽ là cánh đầu tiên mở ra, nhưng cánh hoa bác ái thứ hai sẽ gần như song hành với sự phát triển của nó, vì đối với loại Chân ngã đặc biệt ấy, đó là đường khai mở dễ dàng nhất; cánh hoa tri thức sẽ là cánh khó mở nhất đối với nó. |
|
816. We have discussed this process in previous Commentaries. |
816. Chúng ta đã bàn về tiến trình này trong các Bản Bình Luận trước. |
|
817. One wonders why the Tibetan switches from plural to singular—first discussing the opening of the petals and then of the petal only. |
817. Người ta tự hỏi vì sao Chân sư Tây Tạng chuyển từ số nhiều sang số ít—trước hết bàn về sự khai mở của các cánh hoa rồi sau đó chỉ của một cánh hoa mà thôi. |
|
818. In this commentary we have speculated on the relationship between the moment of the application of the Rod and the degree of unfoldment of the seventh, eighth or ninth petal when the Rod is applied. Now we see there is a complication. The Ray of the Monad will also influence the rapidity (or lack thereof) of petal unfoldment and thus will influence the moment when the Rod is to be applied. |
818. Trong bản bình luận này, chúng ta đã suy đoán về mối liên hệ giữa thời điểm áp dụng Thần Trượng Điểm đạo và mức độ khai mở của cánh hoa thứ bảy, thứ tám hay thứ chín khi Thần Trượng được áp dụng. Giờ đây chúng ta thấy có một sự phức tạp. Cung của chân thần cũng sẽ ảnh hưởng đến tốc độ (hay sự thiếu tốc độ) của sự khai mở cánh hoa và do đó sẽ ảnh hưởng đến thời điểm khi Thần Trượng được áp dụng. |
|
819. For the first ray type, the love petal is hardest to open and the will type the easiest, even if (due to normal procedure) the knowledge petal will be the first to open. DK tells us how difficult it is for the first ray Monad to be loving. |
819. Đối với người cung một, cánh hoa bác ái là khó mở nhất và cánh hoa ý chí là dễ nhất, mặc dù (do thủ tục thông thường) cánh hoa tri thức sẽ là cánh đầu tiên mở ra. Chân sư DK cho chúng ta biết chân thần cung một khó trở nên đầy bác ái đến mức nào. |
|
The Monads of power have a much greater struggle, and hence the fact so often apparent that people on what we term the power Ray, have so often a hard time, and are so frequently unlovable. They have to build in on all the six planes the love aspect, which is not prominent in their development. (TCF 578-579) |
Các chân thần của quyền năng có một cuộc đấu tranh lớn hơn nhiều, và do đó có sự kiện thường thấy là những người thuộc điều chúng ta gọi là cung quyền năng thường gặp rất nhiều khó khăn, và rất thường là khó mến. Họ phải xây dựng phương diện bác ái trên cả sáu cõi, phương diện vốn không nổi trội trong sự phát triển của họ. (TCF 578-579) |
|
820. For the second ray type, the knowledge petal is the hardest to open (even though it will be the first to open) and the love petal the easiest. |
820. Đối với người cung hai, cánh hoa tri thức là khó mở nhất (dù nó sẽ là cánh đầu tiên mở ra) và cánh hoa bác ái là dễ nhất. |
|
821. For the third ray type, the will petal will be the hardest to open and the knowledge petal the easiest. This is an inference. |
821. Đối với người cung ba, cánh hoa ý chí sẽ là khó mở nhất và cánh hoa tri thức là dễ nhất. Đây là một suy luận. |
|
Second, that the effects of one circle of petals opening will be felt within the next circle at an early stage and will cause a vibratory response, hence the greater rapidity of the later stages of unfoldment as compared with the first. |
Thứ hai, rằng các hiệu quả của việc một vòng cánh hoa khai mở sẽ được cảm nhận trong vòng kế tiếp ở một giai đoạn sớm và sẽ gây ra một đáp ứng rung động, do đó các giai đoạn khai mở về sau diễn ra nhanh hơn so với giai đoạn đầu. |
|
822. An opening tier will stimulate the next tier and hasten the opening of that stimulated tier. |
822. Một tầng đang mở sẽ kích thích tầng kế tiếp và thúc đẩy sự khai mở của tầng được kích thích ấy. |
|
823. We see that the opening of the tiers has an exponential quality. |
823. Chúng ta thấy rằng sự khai mở của các tầng có một phẩm tính theo cấp số nhân. |
|
824. Each tier of petals opens faster than the previous tier. The rate of opening of a succeeding tier is actually very much faster. |
824. Mỗi tầng cánh hoa mở nhanh hơn tầng trước đó. Tốc độ khai mở của một tầng tiếp theo thực sự nhanh hơn rất nhiều. |
|
Third, that there exist many cases of uneven or unequal unfoldment. |
Thứ ba, rằng có nhiều trường hợp khai mở không đồng đều hoặc không cân xứng. |
|
825. Hence the danger of generalization when it comes to specific cases. |
825. Do đó có nguy cơ khái quát hóa khi xét đến các trường hợp cụ thể. |
|
Quite frequently people are found with perhaps two petals unfolded in the first circle and one still in latency, while a petal within the central or second ring may be in full development. |
Khá thường xuyên người ta thấy có những người có lẽ đã khai mở hai cánh hoa trong vòng thứ nhất và một cánh vẫn còn tiềm ẩn, trong khi một cánh hoa trong vòng trung tâm hay vòng thứ hai có thể đang phát triển đầy đủ. |
|
826. What comes to mind is the unfoldment of the first and second petal with the fifth petal unfolded. This type might be found upon the soft-line rays and might tend to avoid mental development. |
826. Điều xuất hiện trong tâm trí là sự khai mở của cánh hoa thứ nhất và thứ hai cùng với cánh hoa thứ năm đã khai mở. Loại này có thể được tìm thấy trên các cung mềm và có thể có khuynh hướng tránh sự phát triển trí tuệ. |
|
This is the explanation frequently of the power in service along [Page 547] certain lines displayed by some, coupled with a comparatively low stage of development or of consciousness (egoically speaking). |
Đây thường là lời giải thích cho quyền năng trong phụng sự theo [Page 547] một số đường lối nhất định được một số người biểu lộ, đi kèm với một giai đoạn phát triển hay tâm thức tương đối thấp (xét theo chân ngã). |
|
827. High powers can be accessed by people who are not very well rounded out. They are highly developed along one specific line of expression and have arrested development along more normal lines. |
827. Những quyền năng cao có thể được tiếp cận bởi những người không thật sự phát triển cân đối. Họ phát triển cao theo một đường biểu lộ chuyên biệt và bị đình trệ phát triển theo những đường bình thường hơn. |
|
828. Some time for rounding out will probably have to be provided. To perpetuate a lopsided development is ultimately dangerous to the integrity of the individual. |
828. Có lẽ sẽ phải dành ra một thời gian để phát triển cho cân đối. Duy trì một sự phát triển lệch lạc rốt cuộc là nguy hiểm đối với tính toàn vẹn của cá nhân. |
|
This is due to varying causes, such as the karma of the Monad itself on its high plane and the strength of the monadic grip upon the ego; |
Điều này là do nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn như nghiệp quả của chính chân thần trên cõi cao của nó và sức mạnh của sự nắm giữ của chân thần đối với chân ngã; |
|
829. DK proposes some rather occult causes for such developments. |
829. Chân sư DK nêu ra một số nguyên nhân khá huyền bí cho những sự phát triển như vậy. |
|
830. It is important to note that Monads do, indeed, have karma. Some people think that when they reach the high consciousness of the Monad they will be “beyond karma”. |
830. Điều quan trọng là phải lưu ý rằng các chân thần quả thực có nghiệp quả. Một số người nghĩ rằng khi họ đạt đến tâm thức cao của chân thần thì họ sẽ “vượt ngoài nghiệp quả”. |
|
831. These factors are beyond our understanding, but interesting nevertheless. |
831. Những yếu tố này vượt ngoài sự thấu hiểu của chúng ta, nhưng dù sao vẫn rất thú vị. |
|
many lives given to a particular line of action, resulting in the setting up of a strong vibration—one so strong that it renders the development of response to subsidiary vibrations difficult of attainment; |
nhiều kiếp sống được dành cho một đường hành động đặc biệt, dẫn đến việc thiết lập một rung động mạnh—mạnh đến mức khiến cho sự phát triển khả năng đáp ứng đối với các rung động phụ trở nên khó đạt được; |
|
832. Excessive focus in a particular direction makes a more rounded out development difficult. We all prefer to use a well established function than go through the pain of cultivating an underused function. |
832. Sự tập trung quá mức theo một hướng đặc biệt khiến cho sự phát triển cân đối hơn trở nên khó khăn. Tất cả chúng ta đều thích sử dụng một chức năng đã được thiết lập vững chắc hơn là trải qua nỗi đau của việc vun bồi một chức năng ít được dùng đến. |
|
833. It strikes one that the dark brothers have exactly this difficulty. They do not want to go through the pain of developing the vastly underused vibration of love. |
833. Người ta cảm thấy rằng các huynh đệ bóng tối có đúng chính khó khăn này. Họ không muốn trải qua nỗi đau của việc phát triển rung động bác ái vốn bị sử dụng quá ít. |
|
certain peculiar conditions hidden in the evolution of any particular Lord of a Ray, and the effect of that condition upon a particular group of cells; |
những điều kiện đặc thù nào đó ẩn giấu trong sự tiến hoá của bất kỳ một Đấng Chúa Tể Cung nào, và ảnh hưởng của điều kiện ấy lên một nhóm tế bào đặc biệt; |
|
834. The cause may lie with the “Lord of a Ray” Himself. One might not expect the problem to exist in relation to the more abstract rays which are more inclusive. |
834. Nguyên nhân có thể nằm nơi chính “Đấng Chúa Tể của một Cung”. Người ta có thể không mong đợi vấn đề này tồn tại trong liên hệ với các cung trừu tượng hơn, vốn bao gồm hơn. |
|
the group karma of a collection or congery of causal bodies, and their mutual interplay. Every egoic unit or monadic force centre has a definite effect upon the group or community of Egos in which it may have a place, and as the interaction proceeds results are sometimes produced of a temporarily unexpected nature. |
nghiệp quả nhóm của một tập hợp hay đám tụ các thể nguyên nhân, và sự tương tác lẫn nhau của chúng. Mỗi đơn vị chân ngã hay trung tâm mãnh lực chân thần đều có một ảnh hưởng xác định lên nhóm hay cộng đồng các Chân ngã mà nó có thể có một vị trí trong đó, và khi sự tương tác tiến hành, đôi khi tạo ra những kết quả có tính chất tạm thời bất ngờ. |
|
835. For the sake of clarity let us tabulate the reasons given for uneven development of the petals in the egoic lotus: |
835. Để cho rõ ràng, chúng ta hãy lập bảng các lý do được nêu ra cho sự phát triển không đồng đều của các cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã: |
|
a. The karma of the Monad on its own high plane |
a. Nghiệp quả của chân thần trên cõi cao riêng của nó |
|
b. The grip of the Monad upon its Ego |
b. Sự nắm giữ của chân thần đối với Chân ngã của nó |
|
c. Many lives given along a particular line of action |
c. Nhiều kiếp sống được dành cho một đường hành động đặc biệt |
|
d. Peculiar conditions in the evolution of a particular Ray Lord |
d. Những điều kiện đặc thù trong sự tiến hoá của một Đấng Chúa Tể Cung đặc biệt |
|
e. The group karma of a collection or congery of causal bodies. |
e. Nghiệp quả nhóm của một tập hợp hay đám tụ các thể nguyên nhân. |
|
f. Unexpected results cause by egoic interplay within a community of Egos. |
f. Những kết quả bất ngờ do sự tương tác chân ngã trong một cộng đồng các Chân ngã gây ra. |
|
836. It is probably best to reserve judgment on many matters concerning the apparently even or uneven development of those we encounter. We know too little. |
836. Có lẽ tốt nhất là nên dè dặt phán đoán về nhiều vấn đề liên quan đến sự phát triển có vẻ đồng đều hay không đồng đều của những người chúng ta gặp. Chúng ta biết quá ít. |
|
These points should be carefully borne in mind by the student of egoic evolution. |
Những điểm này nên được đạo sinh nghiên cứu sự tiến hoá chân ngã ghi nhớ cẩn thận. |
|
837. Are we that? Students of “egoic evolution”? One can see what an incredibly fascinating subject it is! |
837. Chúng ta có phải là như thế không? Những đạo sinh của “sự tiến hoá chân ngã”? Người ta có thể thấy đây là một chủ đề hấp dẫn đến khó tin như thế nào! |
|
This whole subject is of interest in that it is the next step ahead for the students of occult psychology. |
Toàn bộ chủ đề này đáng quan tâm vì đó là bước kế tiếp phía trước dành cho các đạo sinh của tâm lý học huyền bí. |
|
838. We are reminded that A Treatise on Cosmic Fire is essentially a psychology text. I think we can see how much a clear knowledge of the developmental phases of the egoic lotus would add to our understanding of many human beings who might be seeking our assistance. |
838. Chúng ta được nhắc rằng Luận về Lửa Vũ Trụ về bản chất là một văn bản tâm lý học. Tôi nghĩ chúng ta có thể thấy tri thức rõ ràng về các giai đoạn phát triển của Hoa Sen Chân Ngã sẽ bổ sung biết bao cho sự thấu hiểu của chúng ta về nhiều con người có thể đang tìm kiếm sự trợ giúp của chúng ta. |
|
Much will be eventually ascertained which will throw new light upon the possibility of work upon the physical plane for man. |
Rốt cuộc sẽ xác định được nhiều điều, và những điều ấy sẽ soi rọi ánh sáng mới lên khả năng làm việc trên cõi hồng trần cho con người. |
|
839. We seem to be dealing with an occult form of vocational guidance—finding the right mode of expression for the human being considered as a soul. |
839. Dường như chúng ta đang đề cập đến một hình thức hướng nghiệp huyền bí—tìm ra phương thức biểu lộ đúng đắn cho con người được xét như một linh hồn. |
|
The whole secret of success in any endeavour or enterprise is primarily based on two things: |
Toàn bộ bí mật của thành công trong bất kỳ nỗ lực hay công việc nào trước hết dựa trên hai điều: |
|
First, the ability of the Ego to work through the personality, using it simply as the medium of expression. |
Thứ nhất, khả năng của Chân ngã làm việc thông qua phàm ngã, chỉ sử dụng nó như phương tiện biểu lộ. |
|
840. We recall the recently mentioned importance of the permanent atoms as the instruments through which the Ego can reach and influence the objective planes. |
840. Chúng ta nhớ lại tầm quan trọng vừa được nhắc đến của các nguyên tử trường tồn như những công cụ qua đó Chân ngã có thể vươn tới và ảnh hưởng các cõi khách quan. |
|
Second, the karma of the egoic group as it becomes more apparent on the physical plane. Hitherto, much has been said and taught about individual karma. Group karma in the future will slowly assume its rightful place in the thought of students, and this will lead to more intelligent co-operation, to a more sympathetic understanding of group responsibilities, and to a more adequate solution of group problems. [Page 548] |
Thứ hai, nghiệp quả của nhóm chân ngã khi nó trở nên hiển nhiên hơn trên cõi hồng trần. Cho đến nay, nhiều điều đã được nói và dạy về nghiệp quả cá nhân. Trong tương lai, nghiệp quả nhóm sẽ từ từ đảm nhận vị trí đúng đắn của nó trong tư tưởng của các đạo sinh, và điều này sẽ dẫn đến sự hợp tác thông minh hơn, đến sự thấu hiểu đầy cảm thông hơn về các trách nhiệm nhóm, và đến một giải pháp thích đáng hơn cho các vấn đề nhóm. [Page 548] |
|
841. Perhaps we do not think as often as we should about the karma of the egoic group to which we belong. |
841. Có lẽ chúng ta không nghĩ thường xuyên như đáng lẽ phải nghĩ về nghiệp quả của nhóm chân ngã mà chúng ta thuộc về. |
|
842. Our own individual success is of far less importance than the success of our egoic group. |
842. Thành công cá nhân riêng của chúng ta kém quan trọng hơn rất nhiều so với thành công của nhóm chân ngã của chúng ta. |
|
843. Groups, too, can succeed or fail. The dynamics leading to group success or group failure often evade understanding. But this will change as we move into the group Age—the Age of Aquarius. |
843. Các nhóm cũng có thể thành công hoặc thất bại. Những động lực dẫn đến thành công hay thất bại của nhóm thường vượt khỏi sự thấu hiểu. Nhưng điều này sẽ thay đổi khi chúng ta tiến vào Kỷ nguyên nhóm—Kỷ nguyên Bảo Bình. |
|
844. Let us tabulate the results of a deeper understanding of group karma: |
844. Chúng ta hãy lập bảng các kết quả của sự thấu hiểu sâu hơn về nghiệp quả nhóm: |
|
a. a more intelligent co-operation, |
a. sự hợp tác thông minh hơn, |
|
b. a more sympathetic understanding of group responsibilities, |
b. sự thấu hiểu đầy cảm thông hơn về các trách nhiệm nhóm, |
|
c. a more adequate solution of group problems |
c. một giải pháp thích đáng hơn cho các vấn đề nhóm |
|
The study of occult psychology involves a true conception of the nature of the Ego, or the arousing of the Ego to full activity in manifestation; |
Việc nghiên cứu tâm lý học huyền bí bao hàm một quan niệm chân thực về bản chất của Chân ngã, hay sự đánh thức Chân ngã đến hoạt động trọn vẹn trong biểu hiện; |
|
845. How shall the Ego be studied? How shall the Ego be aroused to full activity in manifestation? |
845. Chân ngã sẽ được nghiên cứu như thế nào? Chân ngã sẽ được đánh thức đến hoạt động trọn vẹn trong biểu hiện như thế nào? |
|
846. We are speaking of the rightful expression of the Ego upon the physical plane. |
846. Chúng ta đang nói về sự biểu lộ đúng đắn của Chân ngã trên cõi hồng trần. |
|
847. The Tibetan has offered us much concerning esoteric psychology in His two books entitled by that name. The energetic underpinnings of the study, however, are given in A Treatise on Cosmic Fire. |
847. Chân sư Tây Tạng đã cống hiến cho chúng ta rất nhiều điều về Tâm Lý Học Nội Môn trong hai quyển sách của Ngài mang tên ấy. Tuy nhiên, các nền tảng năng lượng của sự nghiên cứu này lại được trình bày trong Luận về Lửa Vũ Trụ. |
|
848. Following are a number of avenues necessary to the study and understanding of true occult psychology. |
848. Sau đây là một số con đường cần thiết cho việc nghiên cứu và thấu hiểu tâm lý học huyền bí chân chính. |
|
it will necessitate the sound formulation of the laws of egoic unfoldment, of the methods whereby, petal by petal, the lotus may be brought to perfection, and of the triple nature of its evolution; |
nó sẽ đòi hỏi sự phát biểu vững chắc các định luật của sự khai mở chân ngã, của những phương pháp nhờ đó, từng cánh hoa một, hoa sen có thể được đưa đến hoàn thiện, và của bản chất tam phân trong sự tiến hoá của nó; |
|
849. Some of the laws of egoic unfoldment have been presented to us in the Seven Laws of the Soul. Also, the Rules for Inducing Soul Control, also found in Esoteric Psychology Vol. II, will be of value. |
849. Một số định luật của sự khai mở chân ngã đã được trình bày cho chúng ta trong Bảy Định luật của Linh hồn. Ngoài ra, các Quy luật để Gây ra Sự Kiểm Soát của Linh hồn, cũng được tìm thấy trong Tâm Lý Học Nội Môn Tập II, sẽ có giá trị. |
|
850. We note that specificity of the proposed methods—“petal by petal”. |
850. Chúng ta lưu ý đến tính đặc thù của các phương pháp được đề nghị—“từng cánh hoa một”. |
|
851. Each petal will have its own curriculum and close attention will be paid to the necessary process. |
851. Mỗi cánh hoa sẽ có chương trình huấn luyện riêng của nó và sự chú ý sát sao sẽ được dành cho tiến trình cần thiết. |
|
852. We are only in the earliest stages of setting up such a program of achievement. |
852. Chúng ta mới chỉ ở trong những giai đoạn sớm nhất của việc thiết lập một chương trình thành tựu như vậy. |
|
it will bring about an eventual apprehension of the true meaning of force, and of energy in its dual aspect—internal vibration and external radiation; |
nó sẽ dẫn đến sự nắm bắt rốt cuộc về ý nghĩa chân thực của mãnh lực, và của năng lượng trong phương diện kép của nó—rung động nội tại và bức xạ bên ngoài; |
|
853. Already, in the study of the more subtle forms of psychology, this distinction is meaningful. “Is what I am experiencing coming from within me, or from without?” The question seems easy but discernment is often lacking. |
853. Ngay từ bây giờ, trong việc nghiên cứu những hình thức tâm lý học tinh tế hơn, sự phân biệt này đã có ý nghĩa. “Điều tôi đang trải nghiệm đến từ bên trong tôi, hay từ bên ngoài?” Câu hỏi có vẻ dễ nhưng sự phân biện thường lại thiếu vắng. |
|
it will produce the centering of the attention of all advanced students upon the centres—in this case not the physical centres on etheric levels but upon the psychical centres, such as the Ego in the causal body and egoic groups. |
nó sẽ tạo ra sự tập trung chú ý của tất cả các đạo sinh tiến bộ vào các trung tâm—trong trường hợp này không phải các trung tâm hồng trần trên các cấp dĩ thái mà là các trung tâm thông linh, chẳng hạn như Chân ngã trong thể nguyên nhân và các nhóm chân ngã. |
|
854. The instructions are clear: we are to center our attention not so much within the etheric centers as within centers which are etheric for our Planetary Logos or Solar Logos. |
854. Chỉ dẫn thì rõ ràng: chúng ta phải tập trung chú ý không nhiều vào các trung tâm dĩ thái cho bằng vào các trung tâm vốn là dĩ thái đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế hay Thái dương Thượng đế của chúng ta. |
|
855. If we achieve ashramic focus, the correct activation of our etheric, astral and mental centers will occur correctly. |
855. Nếu chúng ta đạt được sự tập trung ashram, sự hoạt hóa đúng đắn các trung tâm dĩ thái, cảm dục và trí tuệ của chúng ta sẽ diễn ra đúng đắn. |
|
This will produce later a better comprehension of the effect of one consciousness upon another consciousness on the physical plane, and this knowledge will be scientifically utilised to produce specific results in group evolution, and thus some of the world problems will find solution. |
Điều này về sau sẽ tạo ra một sự thấu hiểu tốt hơn về ảnh hưởng của một tâm thức lên một tâm thức khác trên cõi hồng trần, và tri thức này sẽ được sử dụng một cách khoa học để tạo ra những kết quả chuyên biệt trong sự tiến hoá nhóm, và nhờ đó một số vấn đề của thế giới sẽ tìm được lời giải. |
|
856. How does one consciousness affect another? What type of consciousness could best be brought into relation with another type to produce the best results? |
856. Một tâm thức ảnh hưởng đến một tâm thức khác như thế nào? Loại tâm thức nào có thể được đưa vào liên hệ với một loại khác một cách tốt nhất để tạo ra những kết quả tốt nhất? |
|
857. We are dealing here with a form of ‘psychic chemistry’ which presently is little understood in any factual way, though people may have ‘feelings’ about how to handle such influences. |
857. Ở đây chúng ta đang đề cập đến một hình thức “hóa học thông linh” mà hiện nay hầu như chưa được hiểu theo bất kỳ cách thức thực chứng nào, dù người ta có thể có những “cảm giác” về cách xử lý các ảnh hưởng như thế. |
|
Finally, the laws of fire will be studied, the nature of heat, of radiation and of flame will be occultly investigated, and the action of one fire upon another fire, the result of radiation from one conscious sphere to another will be realised; the method of arousing consciousness on the different planes by action upon the fires of the causal body and their stimulation will be gradually revealed. |
Sau cùng, các định luật của lửa sẽ được nghiên cứu, bản chất của nhiệt, của bức xạ và của ngọn lửa sẽ được khảo sát một cách huyền bí, và tác động của một lửa lên một lửa khác, kết quả của bức xạ từ một khối cầu có tâm thức này sang một khối cầu có tâm thức khác sẽ được chứng nghiệm; phương pháp đánh thức tâm thức trên các cõi khác nhau bằng tác động lên các lửa của thể nguyên nhân và sự kích thích chúng sẽ dần dần được mặc khải. |
|
858. This is a most occult promise. Let us tabulate: |
858. Đây là một lời hứa hết sức huyền bí. Chúng ta hãy lập bảng: |
|
a. The laws of fire will be studied |
a. Các định luật của lửa sẽ được nghiên cứu |
|
b. The nature of heat will be studied |
b. Bản chất của nhiệt sẽ được nghiên cứu |
|
c. The nature of radiation will be occultly investigated |
c. Bản chất của bức xạ sẽ được khảo sát một cách huyền bí |
|
d. The nature of flame will be occultly investigated |
d. Bản chất của ngọn lửa sẽ được khảo sát một cách huyền bí |
|
e. The action of one fire upon another fire will be realized |
e. Tác động của một lửa lên một lửa khác sẽ được chứng nghiệm |
|
f. The result of radiation from one conscious sphere to another will be realized |
f. Kết quả của bức xạ từ một khối cầu có tâm thức này sang một khối cầu có tâm thức khác sẽ được chứng nghiệm |
|
g. The methods of arousing consciousness on the different planes by action upon the fires of the causal body and their stimulation will be revealed. |
g. Các phương pháp đánh thức tâm thức trên các cõi khác nhau bằng tác động lên các lửa của thể nguyên nhân và sự kích thích chúng sẽ được mặc khải. |
|
859. All these are the technical developments of the future and they hold for humanity presently incredible possibilities. |
859. Tất cả những điều này là các phát triển kỹ thuật của tương lai và hiện nay chúng chứa đựng đối với nhân loại những khả năng khó tin. |
|
The whole question is slowly, very slowly, coming to the fore in human thought (even though this is little realised) through the study of vocational education, business efficiency, and the place of the human unit in any trade or enterprise. Men are being spoken of and considered in terms of potential force factors, and this is a step in the right direction. |
Toàn bộ vấn đề này đang từ từ, rất từ từ, nổi lên trong tư tưởng nhân loại (dù điều này ít được chứng nghiệm) thông qua việc nghiên cứu giáo dục hướng nghiệp, hiệu quả kinh doanh, và vị trí của đơn vị con người trong bất kỳ nghề nghiệp hay công việc nào. Con người đang được nói đến và được xem xét theo thuật ngữ của các yếu tố mãnh lực tiềm năng, và đây là một bước đi đúng hướng. |
|
860. Even today occult psychology is making its appearance in rather mundane settings. |
860. Ngay cả ngày nay tâm lý học huyền bí cũng đang xuất hiện trong những bối cảnh khá thế tục. |
|
861. People are being understood in terms of energy and force and this is the correct approach. |
861. Con người đang được thấu hiểu theo thuật ngữ của năng lượng và mãnh lực, và đó là cách tiếp cận đúng đắn. |
|
862. We can feel the hand of the Manu in all this, seeking that individual human units (and group units) will find themselves doing the right thing (for which they are ideally suited) in the right place and at the right time. |
862. Chúng ta có thể cảm nhận bàn tay của Đức Manu trong tất cả điều này, tìm cách để các đơn vị con người cá nhân (và các đơn vị nhóm) thấy mình đang làm đúng việc (điều mà họ đặc biệt thích hợp) ở đúng chỗ và đúng lúc. |
|
Approaching the same question from the personality standpoint and not the egoic, the time is fast approaching when the emphasis will be laid in education upon [Page 549] how best the young can be taught to contact their own ego or higher energy; how best they can be led to appropriate the knowledge and ability of their higher self for use on the physical plane; how best they can ascertain their group formation, and thus work along with their group, and in unison with the total energy of that group; how best their threefold lower self—physical, astral, and mental—can be brought into direct alignment with their higher centre of force, and thus draw down a continuous supply of energy for the strengthening of their three vehicles, and their wise manipulation; how best the various spirillae can be awakened and the energy within their own cells released for action. |
Tiếp cận cùng một vấn đề từ quan điểm của phàm ngã chứ không phải của chân ngã, thời điểm đang nhanh chóng đến khi trọng tâm trong giáo dục sẽ được đặt vào [Page 549] cách tốt nhất để người trẻ được dạy tiếp xúc với chân ngã hay năng lượng cao hơn của chính họ; cách tốt nhất để họ có thể được dẫn dắt chiếm hữu tri thức và khả năng của bản ngã cao siêu của họ để sử dụng trên cõi hồng trần; cách tốt nhất để họ có thể xác định sự hình thành nhóm của mình, và nhờ đó làm việc cùng với nhóm của mình, và đồng nhất với tổng năng lượng của nhóm ấy; cách tốt nhất để phàm ngã tam phân của họ—hồng trần, cảm dục và trí tuệ—có thể được đưa vào chỉnh hợp trực tiếp với trung tâm mãnh lực cao hơn của họ, và nhờ đó kéo xuống một nguồn cung năng lượng liên tục để tăng cường ba vận cụ của họ, và sự vận dụng khôn ngoan chúng; cách tốt nhất để các loa tuyến khác nhau có thể được đánh thức và năng lượng trong chính các tế bào của họ được giải phóng cho hành động. |
|
863. Here are promising possibilities. Some of them have already been developed. |
863. Ở đây có những khả năng đầy hứa hẹn. Một số trong đó đã được phát triển rồi. |
|
864. Some of these unfolding possibilities are quite technical, but others have been the very substance of the modern human-potential movement. |
864. Một số khả năng đang khai mở này khá kỹ thuật, nhưng những khả năng khác lại chính là thực chất của phong trào hiện đại về tiềm năng con người. |
|
865. Let us tabulate. The education of the future will emphasize: |
865. Chúng ta hãy lập bảng. Nền giáo dục của tương lai sẽ nhấn mạnh: |
|
a. Contact with one’s own Ego or higher energy |
a. Sự tiếp xúc với Chân ngã hay năng lượng cao hơn của chính mình |
|
b. Appropriation of the knowledge of the Higher Self for use upon the physical plane |
b. Sự chiếm hữu tri thức của Bản Ngã Cao Siêu để sử dụng trên cõi hồng trần |
|
c. The ascertainment of one’s group formation |
c. Sự xác định sự hình thành nhóm của mình |
|
d. How best to work along with one’s group |
d. Cách tốt nhất để làm việc cùng với nhóm của mình |
|
e. How best to work with the total energy of one’s group |
e. Cách tốt nhất để làm việc với tổng năng lượng của nhóm mình |
|
f. How best to create alignment of the threefold lower self with the higher center of force |
f. Cách tốt nhất để tạo ra sự chỉnh hợp của phàm ngã tam phân với trung tâm mãnh lực cao hơn |
|
g. How best to draw down a continuous supply of egoic force for the strengthening of the three lower vehicles and their wise manipulation |
g. Cách tốt nhất để kéo xuống một nguồn cung mãnh lực chân ngã liên tục nhằm tăng cường ba vận cụ thấp và sự vận dụng khôn ngoan chúng |
|
h. How best the various spirillae can be awakened and their energy best released |
h. Cách tốt nhất để các loa tuyến khác nhau có thể được đánh thức và năng lượng của chúng được giải phóng một cách tốt nhất |
|
866. There is an all-powerful source of energy within every one of us; it is the true source of our nourishment, strength and confidence. It is imperative that we learn how it may be contacted and utilized. |
866. Có một nguồn năng lượng toàn năng trong mỗi chúng ta; đó là nguồn đích thực của sự nuôi dưỡng, sức mạnh và sự tự tin của chúng ta. Điều tối quan trọng là chúng ta phải học cách tiếp xúc và sử dụng nó. |
|
867. In occult psychology lies one of the great hopes for humanity. |
867. Trong tâm lý học huyền bí có một trong những niềm hy vọng lớn lao của nhân loại. |
|
All this will be a thing of gradual evolution, but I have here outlined the trend of the future study, as in the formulation of possibility lies its eventual realisation. Such a process must necessarily be slow. The powers of the ego are stupendous and if released now through the agency of an unready personality would lead to dire disaster. |
Tất cả điều này sẽ là một việc của sự tiến hoá dần dần, nhưng ở đây tôi đã phác họa xu hướng của sự nghiên cứu tương lai, vì chính trong sự phát biểu khả năng có sự chứng nghiệm rốt cuộc của nó. Một tiến trình như thế tất yếu phải chậm. Các quyền năng của chân ngã là vô cùng to lớn và nếu được giải phóng ngay bây giờ qua trung gian của một phàm ngã chưa sẵn sàng thì sẽ dẫn đến thảm họa nghiêm trọng. |
|
868. By this we may mean the powers of man himself (upon the higher mental plane) and stimulated by the power of the Solar Angel. |
868. Qua điều này, chúng ta có thể muốn nói đến các quyền năng của chính con người (trên Cõi thượng trí) và được kích thích bởi quyền năng của Thái dương Thiên Thần. |
|
869. Or we may mean, the powers of the Solar Angel considered as the Ego. |
869. Hoặc chúng ta có thể muốn nói đến các quyền năng của Thái dương Thiên Thần được xét như Chân ngã. |
|
870. We can see the need for personality preparation. Humanity must enter a great period of purification leading to the building of bodies which can withstand the “powers of the ego”. |
870. Chúng ta có thể thấy nhu cầu chuẩn bị phàm ngã. Nhân loại phải bước vào một thời kỳ thanh luyện lớn lao dẫn đến việc xây dựng những thể có thể chịu đựng được “các quyền năng của chân ngã”. |
|
But the time will come, and in the meantime a due apprehension of inherent capacity will profit all who have the intuition to recognise the goal. |
Nhưng thời điểm ấy sẽ đến, và trong lúc này, một sự nắm bắt thích đáng về năng lực cố hữu sẽ mang lại lợi ích cho tất cả những ai có trực giác để nhận ra mục tiêu. |
|
871. There is tremendous optimism in the thought that within our very natures we have that which will strengthen, sustain and lead to undreamt achievements. |
871. Có một sự lạc quan to lớn trong ý nghĩ rằng ngay trong chính bản chất của chúng ta, chúng ta có điều sẽ tăng cường, nâng đỡ và dẫn đến những thành tựu chưa từng mơ tưởng. |
|
872. In dark times we need constantly to remind ourselves of our inherent possibilities. |
872. Trong những thời kỳ đen tối, chúng ta cần liên tục nhắc nhở mình về những khả năng cố hữu của mình. |