Bình giảng về Lửa Vũ Trụ S6S4 (601-612)

📘 Sách: Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S6 – Tác giả: Michael D. Robbins

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến trang sách tương ứng trong TCF

TCF 601 – 612: S6S4

10 November – 25 November 2007

10 tháng Mười Một – 25 tháng Mười Một 2007

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ các sách AAB khác và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.

Đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, vì mục đích liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn văn.

[Page 601]

[Page 601]

1. This starts a new section, II, an overview of devas and the Deva Lord Agni.

1. Điều này mở đầu một phần mới, II, một cái nhìn tổng quan về các hành khí và các thiên thần cùng Chúa Tể thiên thần Agni.

II. THOUGHT ELEMENTALS AND DEVAS.

II. HÀNH KHÍ TƯ TƯỞNG VÀ CÁC THIÊN THẦN.

1. THE RULER OF FIRE—AGNI.

1. ĐẤNG CAI QUẢN LỬA—AGNI.

a. Agni and the Solar Logos.

a. Agni và Thái dương Thượng đế.

Thus far in this treatise we have considered the first section of the book which has dealt somewhat with the internal fires of the system, both macrocosmic and microcosmic.

Cho đến nay trong bộ luận này, chúng ta đã xem xét phần thứ nhất của quyển sách, phần đã phần nào bàn đến các nội hỏa của hệ, cả đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa.

2. By the “internal fires” we man latent and active fires.

2. Bởi “nội hỏa” chúng ta muốn nói các lửa tiềm ẩn và hoạt động.

3. We have also dealt somewhat with the fires of mind—both mental elemental fire and solar fire.

3. Chúng ta cũng đã phần nào bàn đến các lửa của trí tuệ—cả lửa hành khí trí tuệ lẫn Lửa Thái dương.

In this the second section we are dealing with the fire of mind. This section, together with the nine introductory questions, constitutes the main part of the treatise.

Trong phần thứ hai này chúng ta đang bàn đến lửa của trí tuệ. Phần này, cùng với chín câu hỏi dẫn nhập, cấuthành phần chính của bộ luận.

4. And, since the average student of these matters is focussed more psychologically than scientifically, it will be the part of the treatise most read.

4. Và, vì đạo sinh trung bình của những vấn đề này tập trung về mặt tâm lý hơn là khoa học, đây sẽ là phần của bộ luận được đọc nhiều nhất.

In it we have dealt with the nature and function of mind and with the egoic ray.

Trong đó chúng ta đã bàn đến bản chất và chức năng của trí tuệ và cung chân ngã.

5. When we speak of “mind” we must always differentiate to determine whether we are dealing with what we might call ‘solar mind’ or ‘lunar mind’.

5. Khi chúng ta nói về “trí tuệ”, chúng ta phải luôn luôn phân biệt để xác định xem mình đang bàn đến điều có thể gọi là “trí tuệ thái dương” hay “trí tuệ thái âm”.

We have dealt also, somewhat, with the form side of thought, with its material manifestation and with its substance.

Chúng ta cũng đã phần nào bàn đến mặt hình tướng của tư tưởng, với biểu hiện vật chất của nó và với chất liệu của nó.

6. This form side of thought is what we can call ‘mental elemental mind’.

6. Mặt hình tướng này của tư tưởng là điều chúng ta có thể gọi là “trí tuệ hành khí trí tuệ”.

7. Thoughtforms, as usually conceived, are related to the “form side of thought”.

7. Các Hình tư tưởng, như thường được quan niệm, có liên hệ với “mặt hình tướng của tư tưởng”.

We proceed now to take up the consideration of the Ruler of Fire, AGNI, and are brought to the study of the vitality that energises and the Life that animates; to the contemplation of the Fire that drives, propels, and produces the activity and organisation of all forms.

Giờ đây chúng ta tiếp tục xem xét Đấng Cai Quản Lửa, AGNI, và được dẫn đến việc nghiên cứu sinh lực tiếp năng lượng và Sự sống hoạt hóa; đến sự chiêm ngưỡng Lửa thúc đẩy, đẩy tới, và tạo ra hoạt động cùng sự tổ chức của mọi hình tướng.

8. Let us tabulate that which we shall be considering when we concentrate upon the nature of Lord AGNI:

8. Chúng ta hãy lập bảng điều mà chúng ta sẽ xem xét khi tập trung vào bản chất của Chúa Tể AGNI:

a. The vitality that energises

a. Sinh lực tiếp năng lượng

b. The Life that animates

b. Sự sống hoạt hóa

c. The Fire that drives

c. Lửa thúc đẩy

d. The Fire that propels

d. Lửa đẩy tới

e. The Fire that produces the activity and organisation of all forms

e. Lửa tạo ra hoạt động và sự tổ chức của mọi hình tướng

The realisation of this will reveal the fact that what we are dealing with is the “Life and the lives,”86 as it is called87 [Page 602] in the Secret Doctrine;

Sự chứng nghiệm điều này sẽ tiết lộ sự kiện rằng điều chúng ta đang bàn đến là “Sự sống và các sự sống,”86 như nó được gọi87 [Page 602] trong Giáo Lý Bí Nhiệm;

9. Clearly, Agni is to be considered a great Cosmic Life, as Fohat is when Fohat is considered a Cosmic Being.

9. Rõ ràng, Agni phải được xem là một Sự sống Vũ trụ vĩ đại, cũng như Fohat khi Fohat được xem là một Hữu thể Vũ trụ.

with Agni, the Lord of Fire, the Creator, the Preserver, and the Destroyer; and with the forty-nine fires through which He manifests.

với Agni, Chúa Tể của Lửa, Đấng Sáng Tạo, Đấng Bảo Tồn, và Đấng Hủy Diệt; và với bốn mươi chín ngọn lửa mà qua đó Ngài biểu lộ.

10. If Agni is the Creator, the Preserver and the Destroyer, He somehow embraces Brahma, Vishnu and Shiva—if not within all worlds through which the Solar Logos manifests, at least within the sub-causal worlds of the great Logos.

10. Nếu Agni là Đấng Sáng Tạo, Đấng Bảo Tồn và Đấng Hủy Diệt, thì bằng cách nào đó Ngài bao hàm Brahma, Vishnu và Shiva—nếu không phải trong mọi thế giới mà qua đó Thái dương Thượng đế biểu lộ, thì ít nhất cũng trong các thế giới dưới cõi nguyên nhân của Đại Thượng đế.

11. When we think of the forty-nine fires through which Agni manifests we must think of:

11. Khi chúng ta nghĩ đến bốn mươi chín ngọn lửa mà qua đó Agni biểu lộ, chúng ta phải nghĩ đến:

a. Fohat

a. Fohat

b. The Seven Sons of Fohat

b. Bảy Người Con của Fohat

c. The ‘Sons’ of these Seven Sons

c. Các “Người Con” của Bảy Người Con này

FOOTNOTE 86:

CHÚ THÍCH 86:

The Life and the Lives. H. P. B. says in the Secret Doctrine.

Sự sống và các sự sống. H.P.B. nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm.

“Occultism does not accept anything inorganic in the Kosmos. The expression employed by Science ‘inorganic substance’ means simply that the latent life, slumbering in the molecules of so-called ‘inert matter’ is incognisable.  

“Huyền bí học không chấp nhận bất cứ điều gì là vô cơ trong Vũ trụ. Cách diễn đạt mà Khoa học dùng là ‘chất liệu vô cơ’ chỉ đơn giản có nghĩa rằng sự sống tiềm tàng, đang ngủ trong các phân tử của cái gọi là ‘vật chất trơ’, là điều không thể nhận biết được.  

12. Latent life is “incognizable” life, but it is Life all the same.

12. Sự sống tiềm tàng là sự sống “không thể nhận biết được”, nhưng dù sao nó vẫn là Sự sống.

13. We are dealing with the principle of “Hylozoism”, the ubiquity of Life in cosmos.

13. Chúng ta đang bàn đến nguyên khí “Hylozoism”, tức tính phổ hiện của Sự sống trong vũ trụ.

All is Life, and every atom of even mineral dust is a Life, though beyond our comprehension and perception….Life therefore is everywhere in the Universe…wherever there is an atom of matter, a particle or a molecule, even in its most gaseous condition, there is life in it however latent and unconscious.”—S. D., I, 269, 281, 2

Tất cả đều là Sự sống, và mỗi nguyên tử, ngay cả của bụi khoáng vật, cũng là một Sự sống, dù vượt ngoài sự thấu hiểu và tri giác của chúng ta….Vì vậy, Sự sống hiện diện khắp nơi trong Vũ trụ…ở bất cứ nơi nào có một nguyên tử vật chất, một hạt hay một phân tử, ngay cả trong trạng thái khí thể nhất của nó, thì trong đó đều có sự sống, dù tiềm tàng và vô thức đến đâu.”—S. D., I, 269, 281, 2

9. Not only is there life in it, but it is Life. All things arose out of the ONE LIFE. What else can anything be but THAT from which it arose?

9. Không những trong đó có sự sống, mà nó chính là Sự sống. Mọi sự vật đều phát sinh từ SỰ SỐNG DUY NHẤT. Có gì có thể là điều gì khác ngoài CHÍNH ĐIỀU mà từ đó nó đã phát sinh?

FOOTNOTE 87: The Life and the Lives.

CHÚ THÍCH 87: Sự sống và các sự sống.

1. Everything lives and is conscious, but all life and consciousness is not similar to the human.—S. D., I, 79.

1. Mọi thứ đều sống và đều có tâm thức, nhưng không phải mọi sự sống và tâm thức đều giống như nơi con người.—S. D., I, 79.

14. By “conscious” we mean responsive. To act when acted upon is to live. Even if we cannot detect many types of response, they are occurring.

14. Bởi “có tâm thức” chúng ta muốn nói là có đáp ứng. Hành động khi bị tác động là sống. Dù chúng ta không thể phát hiện nhiều loại đáp ứng, chúng vẫn đang xảy ra.

a. Life is the one form of existence manifesting in matter.

a. Sự sống là một hình thức tồn tại duy nhất đang biểu hiện trong vật chất.

15. And, further, Life is matter and matter is Life.

15. Và hơn nữa, Sự sống vật chất và vật chất là Sự sống.

16. If something is, it lives.

16. Nếu một điều gì đó là, thì nó sống.

17. To be is to live.

17. Hiện hữusống.

b. Matter is the vehicle for the manifesting of soul.

b. Vật chất là vận cụ cho sự biểu hiện của linh hồn.

18. In the ‘Philosophy of Infinitism’, matter is ‘created’ through an act of Self-Perception.

18. Trong ‘Triết học về Tính Vô Hạn’, vật chất được ‘sáng tạo’ thông qua một hành vi Tự-Tri-Giác.

c. Soul is the vehicle for the manifesting of Spirit.

c. Linh hồn là vận cụ cho sự biểu hiện của tinh thần.

19. Soul is the knowing by which That which is, knows Itself.

19. Linh hồn là sự biết nhờ đó Cái là, biết chính Nó.

Therefore: 1st Logos, 2nd Logos, 3rd Logos co-operate.

Vì vậy: Logos thứ nhất, Logos thứ hai, Logos thứ ba cùng hợp tác.

Illustration:

Minh họa:

Life of the 3rd Logos—animating atoms of matter.

Sự sống của Logos thứ ba—tiếp sinh lực cho các nguyên tử vật chất.

Life of the 2nd Logos—animating the forms, or aggregate of atoms.

Sự sống của Logos thứ hai—tiếp sinh lực cho các hình tướng, hay tập hợp các nguyên tử.

Life of the 1st Logos—animating the composite forms.

Sự sống của Logos thứ nhất—tiếp sinh lực cho các hình tướng tổng hợp.

20. By “animating” we mean ‘ensouling’—providing the movement and responsiveness of that which moves and responds, and providing also the Presence within that which moves and responds.

20. Bởi “tiếp sinh lực” chúng ta muốn nói là ‘phú linh’—ban cho sự chuyển động và khả năng đáp ứng của cái chuyển động và đáp ứng, đồng thời cũng ban cho Hiện Diện bên trong cái chuyển động và đáp ứng.

2. The one Life synthesises this triplicity.

2. Sự sống duy nhất tổng hợp bộ ba này.

21. The “One Life? is greater than and inclusive of any of the three Logoi.

21. “Sự Sống Duy Nhất” lớn hơn và bao gồm bất kỳ một trong ba Logos nào.

Let us work this out in the Macrocosm and Microcosm.

Chúng ta hãy triển khai điều này trong Đại thiên địa và Tiểu thiên địa.

Fohat, Prana, Electricity, Magnetic Fluid, are all terms used for this one vitalising life.

Fohat, Prana, Điện, Lưu chất từ tính, đều là những thuật ngữ được dùng cho sự sống tiếp sinh lực duy nhất này.

22. The presentation of equivalences is important in the teaching. If we know the synonyms for poorly understood terms, we can better clarify our conception of these terms.

22. Việc trình bày các tương đương là quan trọng trong giáo huấn. Nếu chúng ta biết các từ đồng nghĩa của những thuật ngữ ít được hiểu rõ, chúng ta có thể làm sáng tỏ quan niệm của mình về các thuật ngữ ấy tốt hơn.

23. If Fohat has a vast cosmic extension, then so do Prana, Electricity and Magnetic Fluid.

23. Nếu Fohat có một tầm mở rộng vũ trụ bao la, thì Prana, Điện và Lưu chất từ tính cũng vậy.

24. We shall be watching to see to what extent we can see Fohat and Agni as equivalent.

24. Chúng ta sẽ theo dõi để xem ở mức độ nào có thể thấy Fohat và Agni là tương đương.

The Microcosm is animated and vitalised by prana, and its actions controlled by the indwelling Thinker.

Tiểu thiên địa được prana tiếp sinh lực và làm cho sống động, còn các hoạt động của nó được kiểm soát bởi Đấng Tư Tưởng nội tại.

25. Here prana serves as ‘microcosmic Fohat’. We have to realize that the microcosm is not just the physical aspect of the microcosm, but that aspect of the Thinker which manifests on all the lower eighteen sub-planes.

25. Ở đây prana phục vụ như ‘Fohat vi mô’. Chúng ta phải chứng nghiệm rằng tiểu thiên địa không chỉ là phương diện hồng trần của tiểu thiên địa, mà là phương diện của Đấng Tư Tưởng biểu hiện trên toàn bộ mười tám cõi phụ thấp hơn.

The Macrocosm is animated and vitalised by Fohat; its actions are controlled by the informing Intelligence we call the Logos.

Đại thiên địa được Fohat làm cho sống động và tiếp sinh lực; các hoạt động của nó được kiểm soát bởi Trí Tuệ thấm nhuần mà chúng ta gọi là Logos.

10. If we make the analogy, that which is the Thinker for the human being is the Logos in relation to the Macrocosm. Generally, the term “Macrocosm” means (for us) the Solar Logos.

10. Nếu chúng ta áp dụng phép tương đồng, thì điều là Đấng Tư Tưởng đối với con người chính là Logos trong liên hệ với Đại thiên địa. Nói chung, thuật ngữ “Đại thiên địa” có nghĩa là (đối với chúng ta) Thái dương Thượng đế.

11. When we think of this macrocosmic animation, we are not speaking of the entirety of the Solar Logos, but of those portions of His life-demonstration which work through the lower eighteen sub-planes cosmically considered.

11. Khi chúng ta nghĩ đến sự làm cho sống động ở cấp đại vũ trụ này, chúng ta không nói đến toàn thể Thái dương Thượng đế, mà nói đến những phần trong sự biểu lộ sự sống của Ngài hoạt động qua mười tám cõi phụ thấp hơn, xét theo vũ trụ.

We are dealing with solar fire per se, with the essence of thought, with the coherent life of all forms, with the consciousness in its evolving aspect, or with Agni, the sumtotal of the Gods.

Chúng ta đang bàn đến chính Lửa Thái dương, đến tinh chất của tư tưởng, đến sự sống cố kết của mọi hình tướng, đến tâm thức trong phương diện tiến hoá của nó, hay đến Agni, tổng thể của các Thượng đế.

12. This is, apparently, a very broad definition of Agni. Can Agni be considered solar fire in itself?

12. Đây dường như là một định nghĩa rất rộng về Agni. Có thể xem Agni là Lửa Thái dương tự thân không?

13. Here are the definitions of Agni here presented:

13. Sau đây là các định nghĩa về Agni được trình bày ở đây:

a. Solar fire per se

a. Chính Lửa Thái dương

b. The essence of thought

b. Tinh chất của tư tưởng

c. The coherent life of all forms

c. Sự sống cố kết của mọi hình tướng

d. The consciousness in its evolving aspect (thus evolutionary consciousness and not involutionary)

d. Tâm thức trong phương diện tiến hoá của nó (do đó là tâm thức thăng thượng tiến hoá chứ không phải giáng hạ tiến hoá)

e. The sumtotal of the Gods

e. Tổng thể của các Thượng đế

14. We will attempt to discover the boundaries of Agni, cosmically considered.

14. Chúng ta sẽ cố gắng khám phá các ranh giới của Agni, xét theo vũ trụ.

15. Is Agni also the coherent life of the forms to be found on the higher cosmic mental plane?

15. Agni có phải cũng là sự sống cố kết của các hình tướng được tìm thấy trên cõi trí vũ trụ cao hơn không?

16. We have read that solar fire actually originates on the cosmic higher mental plane. So will we think of Agni as cosmic mental solar fire, or will we find that we have to differentiate cosmic solar fire from cosmic fire by friction?

16. Chúng ta đã đọc rằng Lửa Thái dương thực sự phát nguyên trên cõi thượng trí vũ trụ. Vậy chúng ta sẽ nghĩ về Agni như Lửa Thái dương trí tuệ vũ trụ, hay sẽ thấy rằng phải phân biệt Lửa Thái dương vũ trụ với Lửa ma sát vũ trụ?

17. When we call Agni the “sumtotal of the Gods” we have to draw a ring-pass-not. There are “God” on the higher cosmic mental plane and above. Is Agni Their sumtotal or only the sumtotal of the Gods found below the higher cosmic mental plane?

17. Khi gọi Agni là “tổng thể của các Thượng đế”, chúng ta phải vạch ra một vòng-giới-hạn. Có những “Thượng đế” trên cõi thượng trí vũ trụ và cao hơn nữa. Agni có phải là tổng thể của Các Ngài hay chỉ là tổng thể của các Thượng đế được tìm thấy bên dưới cõi thượng trí vũ trụ?

18. We must also realize that a Super-Cosmic Agni must, in all probability, exist. This, for us, supreme type of Agni, expresses as super-cosmic prana or super-cosmic vitality throughout all the seven cosmic planes—considering them as one super-cosmic etheric-physical plane.

18. Chúng ta cũng phải chứng nghiệm rằng một Agni Siêu-Vũ-Trụ hẳn rất có thể tồn tại. Đối với chúng ta, loại Agni tối thượng này biểu lộ như prana siêu-vũ-trụ hay sinh lực siêu-vũ-trụ xuyên suốt cả bảy cõi vũ trụ—xem chúng như một cõi hồng trần-dĩ thái siêu-vũ-trụ duy nhất.

He is Vishnu and the Sun in His glory;

Ngài là Vishnu và là Mặt Trời trong vinh quang của Ngài;

19. Vishnu is definitely the God of the second aspect. We have been told that solar fire manifests on the second, third and fourth sub-planes of the cosmic physical plane.

19. Vishnu rõ ràng là Thượng đế của phương diện thứ hai. Chúng ta đã được cho biết rằng Lửa Thái dương biểu hiện trên các cõi phụ thứ hai, thứ ba và thứ tư của cõi hồng trần vũ trụ.

He [Lord Agni] shows forth as solar fire on the second, third and fourth, and as ‘fire by friction’ on the fifth, sixth and seventh. (TCF 522)

Ngài [Chúa Agni] biểu lộ như Lửa Thái dương trên cõi phụ thứ hai, thứ ba và thứ tư, và như ‘Lửa ma sát’ trên cõi phụ thứ năm, thứ sáu và thứ bảy. (TCF 522)

20. To what ‘point of elevation’ on the cosmic planes higher than the cosmic physical plane will be we able to trace the origin of Lord Agni?

20. Chúng ta sẽ có thể truy nguyên nguồn gốc của Chúa Agni đến ‘điểm nâng cao’ nào trên các cõi vũ trụ cao hơn cõi hồng trần vũ trụ?

21. Vishnu on the cosmic mental plane will express on the higher cosmic mental plane.

21. Vishnu trên cõi trí vũ trụ sẽ biểu lộ trên cõi trí vũ trụ cao hơn.

22. Perhaps, Vishnu, cosmically considered, will also express through planes higher than the cosmic mental. Analogically, it would make sense.

22. Có lẽ Vishnu, xét theo vũ trụ, cũng sẽ biểu lộ qua những cõi cao hơn cõi trí vũ trụ. Theo phép tương đồng, điều đó có lý.

23. If Agni is inclusive of Vishnu on the cosmic physical plane, is He also inclusive of Cosmic Vishnu Who expresses through the Heart of the Sun and through the Cosmic Spiritual Triad?

23. Nếu Agni bao gồm Vishnu trên cõi hồng trần vũ trụ, thì Ngài có bao gồm cả Vishnu Vũ Trụ, Đấng biểu lộ qua Trái Tim của Mặt Trời và qua Tam Nguyên Tinh Thần Vũ Trụ không?

He is the fire of matter and the fire of mind blended and fused;

Ngài là lửa của vật chất và lửa của trí tuệ được hòa trộn và dung hợp;

24. If we are speaking in a cosmic context, then we would be speaking of the blending of cosmic solar fire of the cosmic mental plane and the fires of the planes lower than the higher cosmic mental.

24. Nếu chúng ta đang nói trong một bối cảnh vũ trụ, thì chúng ta sẽ nói đến sự hòa trộn giữa Lửa Thái dương vũ trụ của cõi trí vũ trụ và các lửa của những cõi thấp hơn cõi thượng trí vũ trụ.

25. If we are speaking in a systemic context and dealing only with the cosmic physical plane, then we have to remember that in His expression as solar fire and fire by friction, Agni includes the six systemic planes lower than the systemic logoic plane.

25. Nếu chúng ta đang nói trong một bối cảnh hệ thống và chỉ bàn đến cõi hồng trần vũ trụ, thì chúng ta phải nhớ rằng trong biểu hiện của Ngài như Lửa Thái dương và Lửa ma sát, Agni bao gồm sáu cõi hệ thống thấp hơn cõi logoic hệ thống.

26. From another perspective, Agni can be considered the name of the Raja Deva Lord Who rules the systemic mental plane.

26. Từ một góc nhìn khác, Agni có thể được xem là danh xưng của Chúa Tể Raja Deva cai quản cõi trí hệ thống.

27. We see that, given the Tibetan’s multi-perspectived definitions of Agni, it is not yet easy to find the definitive way of describing Him.

27. Chúng ta thấy rằng, với những định nghĩa đa phối cảnh của Chân sư Tây Tạng về Agni, hiện vẫn chưa dễ tìm ra cách mô tả dứt khoát về Ngài.

He is the intelligence which throbs in every atom;

Ngài là trí tuệ rung động trong mỗi nguyên tử;

28. Are we to think that there are no cosmic astral atoms or cosmic mental atoms? If there are such atoms, can we say that Agni throbs in them as well? As we gather the evidence concerning His nature, it would be reasonable to say, “Yes”—provided that there really are such atoms.

28. Chúng ta có nên nghĩ rằng không có các nguyên tử cảm dục vũ trụ hay các nguyên tử trí tuệ vũ trụ không? Nếu có những nguyên tử như thế, chúng ta có thể nói rằng Agni cũng rung động trong chúng không? Khi tập hợp chứng cứ liên quan đến bản chất của Ngài, sẽ là hợp lý nếu nói “Có”—miễn là thực sự những nguyên tử như vậy.

29. Agni is strongly identified with the principle of mind; certainly, this great Intelligence is present is all atoms of the cosmic physical plane.

29. Agni được đồng hoá mạnh mẽ với nguyên khí trí tuệ; chắc chắn Trí Tuệ vĩ đại này hiện diện trong mọi nguyên tử của cõi hồng trần vũ trụ.

He is the Mind that actuates the system;

Ngài là Trí Tuệ làm cho hệ mặt trời hoạt động;

30. The “system” usually means the solar system, which, we have seen, usually pertains to the etheric and physical expressions of the Solar Logos on the cosmic physical plane.

30. “Hệ” thường có nghĩa là hệ mặt trời, mà như chúng ta đã thấy, thường liên quan đến các biểu hiện dĩ thái và hồng trần của Thái dương Thượng đế trên cõi hồng trần vũ trụ.

31. From this perspective, Agni then can be identified with a form of Manas—the Will-Mind behind manifestation.

31. Từ góc nhìn này, Agni có thể được đồng hoá với một hình thức của Manas—Ý Chí-Trí Tuệ đứng sau sự biểu hiện.

32. Because He is Mind, He is Cosmic Fohat, Cosmic Brahma and the Cosmic Holy-Spirit—depending on the perspective taken.

32. Bởi vì Ngài là Trí Tuệ, nên Ngài là Fohat Vũ Trụ, Brahma Vũ Trụ và Chúa Thánh Thần Vũ Trụ—tùy theo góc nhìn được chọn.

He is the fire of substance and the substance of the fire; He is the Flame and that which the Flame destroys.

Ngài là lửa của chất liệu và là chất liệu của lửa; Ngài là Ngọn Lửa và là điều mà Ngọn Lửa hủy diệt.

33. The descriptions of His nature become more enigmatical.

33. Những mô tả về bản chất của Ngài trở nên bí ẩn hơn.

34. He seems to be the Fire of all fires.

34. Ngài dường như là Lửa của mọi lửa.

35. He is at once identified with fire and with substance.

35. Ngài đồng thời được đồng hoá với lửa và với chất liệu.

36. There is definitely a destructive aspect to His nature.

36. Rõ ràng có một phương diện hủy diệt trong bản chất của Ngài.

37. When identified with such words as “Flame” (capitalized) we can understand Him as the Spirit aspect, for our Monads are “undetached sparks” suspended from the Flame.

37. Khi được đồng hoá với những từ như “Ngọn Lửa” (viết hoa), chúng ta có thể hiểu Ngài là phương diện tinh thần, vì các chân thần của chúng ta là những “tia lửa không tách rời” được treo từ Ngọn Lửa.

Students of the Secret Doctrine when they read carelessly are apt to consider Him only as the fire of matter and omit to note that He is Himself the sumtotal—and this is especially the case when they find that Agni is the Lord of the mental plane.88  

Các đạo sinh của Giáo Lý Bí Nhiệm khi đọc một cách cẩu thả thường có khuynh hướng chỉ xem Ngài là lửa của vật chất và không lưu ý rằng chính Ngài là tổng thể—và điều này đặc biệt đúng khi họ thấy rằng Agni là Chúa Tể của cõi trí.88

38. When DK tells us that careless students think of Agni as the “fire of matter”, are these students thinking systemically or cosmically? If systemically, then there would be an error.

38. Khi Chân sư DK nói với chúng ta rằng những đạo sinh cẩu thả nghĩ về Agni như “lửa của vật chất”, thì những đạo sinh này đang nghĩ theo hệ thống hay theo vũ trụ? Nếu theo hệ thống, thì sẽ có sai lầm.

39. If students think of matter cosmically, what vibratory levels shall be called matter? Shall it be only the lower three systemic planes? Or in some cosmic sense, shall it be considered the lower eighteen cosmic sub-planes?

39. Nếu các đạo sinh nghĩ về vật chất theo nghĩa vũ trụ, thì những cấp độ rung động nào sẽ được gọi là vật chất? Có phải chỉ là ba cõi hệ thống thấp hơn? Hay theo một nghĩa vũ trụ nào đó, nó sẽ được xem là mười tám cõi phụ vũ trụ thấp hơn?

40. The mental nature of Agni, however, must always be held in mind, though defined with care.

40. Tuy nhiên, bản chất trí tuệ của Agni luôn phải được ghi nhớ, dù được định nghĩa một cách cẩn trọng.

FOOTNOTE 88:

CHÚ THÍCH 88:

“…Agni, who is the source of all that gives light and heat. So that there are different species of Agni (fire);

“…Agni, Đấng là nguồn gốc của mọi điều ban ánh sáng và nhiệt. Vì vậy có những loài Agni (lửa) khác nhau;

41. This is an important point. Fire is divisible and the divisions are of great complexity. The Seven Sons of Fohat are here involved and their divisions (and the divisions of other Deva Lords) will relate to the many orders of angels and devas described in world literature on this subject.

41. Đây là một điểm quan trọng. Lửa có thể phân chia, và các phân chia ấy vô cùng phức tạp. Bảy Con của Fohat được bao hàm ở đây, và các phân chia của các Ngài (cũng như các phân chia của những Chúa Tể Deva khác) sẽ liên hệ đến nhiều cấp thiên thần và deva được mô tả trong văn liệu thế giới về chủ đề này.

but “whatever other fires there may be, they are but the ramifications of Agni, the immortal” (Rig Veda, L, 59 I).

nhưng “dù có những lửa nào khác đi nữa, chúng cũng chỉ là những phát xạ của Agni, Đấng bất tử” (Rig Veda, L, 59 I).

42. We are dealing with a Great Being, and it is our task to identify His nature and the systemic, cosmic, and even super-cosmic levels on which He expresses—to the extent possible.

42. Chúng ta đang bàn đến một Đại Hữu Thể, và nhiệm vụ của chúng ta là nhận diện bản chất của Ngài cùng các cấp độ hệ thống, vũ trụ, và thậm chí siêu-vũ-trụ mà trên đó Ngài biểu lộ—trong mức độ có thể.

The primary division of Agni is threefold. “Agni,” says the Vishnu Parana, “has three sons, Suchi, Pavamana, and Pavaka” (I, x). Suchi means the Saura, or Solar fire; Pavamana means Nirmathana, fire produced by friction, as the friction of two pieces of wood; and Pavaka means the vaidyuta or fire of the firmament, i.e. the fire of the lightning, or electric fire.

Sự phân chia chính yếu của Agni là tam phân. “Agni,” Vishnu Parana nói, “có ba người con, Suchi, Pavamana, và Pavaka” (I, x). Suchi có nghĩa là Saura, hay Lửa Thái dương; Pavamana có nghĩa là Nirmathana, lửa được tạo ra bởi ma sát, như ma sát của hai mảnh gỗ; và Pavaka có nghĩa là vaidyuta hay lửa của bầu trời, tức lửa của sấm chớp, hay Lửa Điện.

43. It is valuable to have the three fires with which we are familiar named from the perspective of the Vedic Tradition:

43. Thật có giá trị khi ba loại lửa mà chúng ta quen thuộc được gọi tên từ góc nhìn của Truyền thống Veda:

a. Pavaka/Vaidyuta—Electric Fire

a. Pavaka/Vaidyuta—Lửa Điện

b. Suchi/Saura—Solar Fire

b. Suchi/Saura—Lửa Thái dương

c. Pavamana/Nirmathana—Fire By Friction

c. Pavamana/Nirmathana—Lửa ma sát

44. We can see that the idea of the three fires is very ancient. The Tibetan is simply presenting these ideas to us in modern garb.

44. Chúng ta có thể thấy rằng ý niệm về ba loại lửa là rất cổ xưa. Chân sư Tây Tạng chỉ đơn giản trình bày những ý niệm này cho chúng ta trong hình thức hiện đại.

The sources of these three fires I may observe in passing, constitute the three principal deities spoken of in the Veda, namely, Surya, the sun, representing the solar fire; Indra (and sometimes, Vayu) the rain-producing deity, representing the fire of the firmament; and Agni, representing the terrestrial fire, the fire produced by friction (Nirukta, VII, 4);

Nhân tiện tôi có thể nhận xét rằng các nguồn của ba loại lửa này tạo thành ba thần tính chính yếu được nói đến trong Veda, đó là Surya, mặt trời, tượng trưng cho Lửa Thái dương; Indra (và đôi khi là Vayu), vị thần tạo mưa, tượng trưng cho lửa của bầu trời; và Agni, tượng trưng cho lửa địa cầu, lửa được tạo ra bởi ma sát (Nirukta, VII, 4);

45. Here we are speaking of the origins of the three types of fire:

45. Ở đây chúng ta đang nói về nguồn gốc của ba loại lửa:

a. Indra is a God associated with the buddhic plane, in this case, perhaps the cosmic buddhic plane. He is a ‘God of Thunder’ and here, apparently, of lightning. He represents the source of Electric Fire

a. Indra là một Thượng đế gắn liền với cõi Bồ đề, trong trường hợp này có lẽ là cõi Bồ đề vũ trụ. Ngài là một ‘Thần Sấm’ và ở đây, rõ ràng, là của sấm chớp. Ngài tượng trưng cho nguồn của Lửa Điện

b. Surya will be associated with the Heart of the Sun on the higher levels of the cosmic mental plane

b. Surya sẽ được liên kết với Trái Tim của Mặt Trời trên các cấp độ cao hơn của cõi trí vũ trụ

c. Agni (in this context) will represent “terrestrial fire” or fire by friction cosmically considered, and thus related to the eighteen cosmic sub-planes (equivalent in scope to eighteen systemic planes) found below the highest three planes of the cosmic mental plane.

c. Agni (trong bối cảnh này) sẽ tượng trưng cho “lửa địa cầu” hay Lửa ma sát, xét theo vũ trụ, và do đó liên hệ với mười tám cõi phụ vũ trụ (tương đương về phạm vi với mười tám cõi hệ thống) được tìm thấy bên dưới ba cõi cao nhất của cõi trí vũ trụ.

and all these three, be it remembered, are merely the ramifications of one Agni;

xin nhớ rằng cả ba vị này chỉ đơn thuần là những phát xạ của một Agni duy nhất;

46. When we hear the word “ramifications” we must think emanations.

46. Khi nghe từ “ramifications”, chúng ta phải nghĩ đến các phát xạ.

47. If we wish to consider Indra, Surya and Agni in relation to the cosmic physical plane, then the One Agni is obviously expressive on planes higher than the cosmic physical plane.

47. Nếu chúng ta muốn xem xét Indra, Surya và Agni trong liên hệ với cõi hồng trần vũ trụ, thì Một Agni hiển nhiên biểu lộ trên những cõi cao hơn cõi hồng trần vũ trụ.

48. The important thing to note is that there is an Agni which is roughly equivalent with Indra and Surya, but an even greater Agni which is inclusive of all of them.

48. Điều quan trọng cần lưu ý là có một Agni gần tương đương với Indra và Surya, nhưng còn có một Agni lớn lao hơn nữa bao gồm tất cả các vị ấy.

49. If we wish to consider Indra, Surya and Agni in a cosmic sense, then the One Agni is a great Cosmic God, indeed, and will find expression on planes even higher than the cosmic buddhic plane.

49. Nếu chúng ta muốn xem xét Indra, Surya và Agni theo nghĩa vũ trụ, thì Một Agni quả thực là một Đại Thượng đế Vũ Trụ, và sẽ tìm thấy sự biểu lộ trên những cõi còn cao hơn cả cõi Bồ đề vũ trụ.

which in its turn is an emanation from the Supreme One, as the reader will find from the allegorical description given of Agni as being the mouth-born son of Brahma, in the Vishnu purana.

đến lượt nó lại là một phát xạ từ Đấng Tối Cao, như độc giả sẽ thấy từ mô tả ngụ ngôn về Agni là người con sinh ra từ miệng của Brahma, trong Vishnu purana.

50. Cosmic Brahma will rule five cosmic planes, and Agni, it would seem, is born from his “mouth”.

50. Brahma Vũ Trụ sẽ cai quản năm cõi vũ trụ, và Agni, dường như, được sinh ra từ “miệng” của Ngài.

51. Solar systemic Brahma rules five systemic planes. In this case, Agni will rule the systemic mental plane, but an even greater Agni will be inclusive of systemic Brahma.

51. Brahma hệ mặt trời cai quản năm cõi hệ thống. Trong trường hợp này, Agni sẽ cai quản cõi trí hệ thống, nhưng một Agni còn lớn hơn nữa sẽ bao gồm Brahma hệ thống.

52. Yet, from another perspective, we must not forget that Agni, Fohat and Brahma can be considered equivalent. So, Who, then is the Supreme One?

52. Tuy nhiên, từ một góc nhìn khác, chúng ta không được quên rằng Agni, Fohat và Brahma có thể được xem là tương đương. Vậy thì Đấng Tối Cao là Ai?

Now, each of the triple forms of Agni has numerous subdivisions.

Giờ đây, mỗi hình thức tam phân của Agni đều có nhiều phânnhánh phụ.

53. We learn that, depending on the scale considered, there are a number of forms of Agni, and each of them is triple. Triplicity is just the beginning, and many subdivisions follow, leading us into one intricate branch of devic study or ‘angelology’.

53. Chúng ta học được rằng, tùy theo thang đo được xét, có một số hình thức của Agni, và mỗi hình thức đều là tam phân. Bộ ba chỉ mới là khởi đầu, và còn nhiều phân nhánh tiếp theo, dẫn chúng ta vào một ngành nghiên cứu deva hay ‘thiên thần học’ hết sức phức tạp.

The solar fire is distinguished by several divisions according to the nature of the rays emitted by the great luminary.”—The Theosophist,

Lửa Thái dương được phân biệt thành nhiều phân nhánh tùy theo bản chất của các tia phát ra từ thiên thể sáng lớn lao.”—The Theosophist,

54. It appears that the fire of Surya, Solar Fire, is also divisible, though perhaps differently divisible than Brahma. Perhaps divisions in the realm of Brahma/Agni occur in threes and nines, whereas in the realm of Surya, the division occurs in sevens.

54. Dường như lửa của Surya, Lửa Thái dương, cũng có thể phân chia, dù có lẽ được phân chia khác với Brahma. Có lẽ các phân chia trong lĩnh vực của Brahma/Agni diễn ra theo bộ ba và bộ chín, trong khi trong lĩnh vực của Surya, sự phân chia diễn ra theo bộ bảy.

He is the animating life of the solar system, and that life is the life of [Page 603] God, the energy of the Logos, and the manifestation of the radiance which veils the Central Sun.

Ngài là sự sống làm cho hệ mặt trời sống động, và sự sống ấy là sự sống của [Page 603] Thượng đế, năng lượng của Logos, và sự biểu hiện của bức xạ che phủ Mặt Trời Trung Tâm.

55. The definitions of Agni continue:

55. Các định nghĩa về Agni tiếp tục:

a. Agni is the animating life of the solar system

a. Agni là sự sống làm cho hệ mặt trời sống động

b. Agni is the life of God

b. Agni là sự sống của Thượng đế

c. Agni is the energy of the Logos

c. Agni là năng lượng của Logos

d. Agni is the manifestation of the radiance which veils the Central Sun. The radiance which veils the central Sun (hiding that “Sun” by a “disk of golden light”) pertains to Surya, the Vishnu aspect.

d. Agni là sự biểu hiện của bức xạ che phủ Mặt Trời Trung Tâm. Bức xạ che phủ Mặt Trời trung tâm (che giấu “Mặt Trời” ấy bằng một “đĩa ánh sáng vàng”) thuộc về Surya, phương diện Vishnu.

e. Agni, is the manifestation of that radiance. This is different from the radiance itself. It is as if Cosmic Surya sends forth Cosmic Agni.

e. Agni là sự biểu hiện của bức xạ ấy. Điều này khác với chính bức xạ. Như thể Surya Vũ Trụ phóng xuất Agni Vũ Trụ.

Only as He is recognised as Fohat, the energy of matter, as Wisdom, the nature of the Ego and its motivation, and as essential unity, can any due conception be arrived at as to His nature or being.

Chỉ khi Ngài được nhận biết là Fohat, năng lượng của vật chất, là minh triết, bản chất của chân ngã và động lực của nó, và là sự hợp nhất cốt yếu, thì mới có thể đạt được bất kỳ quan niệm thích đáng nào về bản chất hay hữu thể của Ngài.

56. Agni is protean. We have to be watchful for the level at which Agni is discussed. Here, He is the all-inclusive One.

56. Agni có tính đa dạng biến hóa. Chúng ta phải cảnh giác đối với cấp độ mà tại đó Agni được bàn đến. Ở đây, Ngài là Đấng bao hàm tất cả.

57. Agni is expressive on the cosmic physical plane, and on that plane we can find “essential unity”, the Ego and matter.

57. Agni biểu lộ trên cõi hồng trần vũ trụ, và trên cõi đó chúng ta có thể tìm thấy “sự hợp nhất cốt yếu”, chân ngã và vật chất.

58. Agni embraces all of these cosmic physical plane expressions

58. Agni bao trùm tất cả những biểu lộ này của cõi hồng trần vũ trụ

a. Agni is Fohat on the cosmic physical plane—or the energy of the matter of the cosmic physical plane. From the solar logoic perspective, the dense matter is represented by the lower twenty-one systemic sub-planes, and etheric matter by the higher twenty-eight sub-planes.

a. Agni là Fohat trên cõi hồng trần vũ trụ—hay là năng lượng của vật chất của cõi hồng trần vũ trụ. Từ quan điểm của Thái dương Thượng đế, vật chất đậm đặc được biểu hiện bởi hai mươi mốt cõi phụ hệ thống thấp, còn vật chất dĩ thái bởi hai mươi tám cõi phụ cao hơn.

b. Agni is the fire of Wisdom or Solar Fire which informs the Ego

b. Agni là lửa của minh triết hay Lửa Thái dương, vốn thấm nhuần chân ngã

c. Agni is the fire of the Monad in whom is “essential unity” or oneness, as that oneness can be experienced on the cosmic physical plane.

c. Agni là lửa của chân thần, trong đó có “sự hợp nhất cốt yếu” hay nhất thể, như sự nhất thể ấy có thể được kinh nghiệm trên cõi hồng trần vũ trụ.

d. As He expresses on the cosmic physical plane, Agni is identified with Spirit, soul and matter.

d. Khi biểu lộ trên cõi hồng trần vũ trụ, Agni được đồng nhất với tinh thần, linh hồn và vật chất.

59. In this case we are discussing the way that Cosmic Agni embraces and pervades the three aspects of divinity as they manifest on the cosmic physical plane.

59. Trong trường hợp này, chúng ta đang bàn đến cách mà Agni Vũ Trụ bao trùm và thấm khắp ba phương diện của thiên tính khi chúng biểu lộ trên cõi hồng trần vũ trụ.

60. Below and after many definitions which could be interpreted on more than one level and indicate differing scopes of activity, we have the definitive definition.

60. Bên dưới, sau nhiều định nghĩa có thể được diễn giải trên hơn một cấp độ và chỉ ra những phạm vi hoạt động khác nhau, chúng ta có định nghĩa chung quyết.

He is not the solar Logos on the cosmic mental plane, for the egoic consciousness of the Logos is more than His physical manifestation,

Ngài không phải là Thái dương Thượng đế trên cõi trí vũ trụ, vì tâm thức chân ngã của Thượng đế vượt hơn biểu hiện hồng trần của chính Ngài,

61. Agni has a definite connection with physicality. Cosmically, He is lower that Cosmic Surya, the Solar Logos manifesting in His egoic consciousness on the higher cosmic mental plane.

61. Agni có một liên hệ xác định với tính hồng trần. Về mặt vũ trụ, Ngài thấp hơn Surya Vũ Trụ, tức Thái dương Thượng đế đang biểu lộ trong tâm thức chân ngã của Ngài trên cõi trí vũ trụ cao.

62. So, Agni is not the egoic consciousness of the Solar Logos. Agni is not the consciousness within the Heart of the Sun on the higher cosmic mental plane.

62. Vì vậy, Agni không phải là tâm thức chân ngã của Thái dương Thượng đế. Agni không phải là tâm thức bên trong Tâm Mặt Trời trên cõi trí vũ trụ cao.

but Agni is the sumtotal of that portion of the logoic Ego which is reflected down into His physical vehicle;

nhưng Agni là tổng thể của phần chân ngã Thượng đế được phản chiếu xuống vận cụ hồng trần của Ngài;

63. That which is inherent in the Ego but is reflected down into the Ego’s physical vehicle is the personality.

63. Điều vốn cố hữu trong chân ngã nhưng được phản chiếu xuống vận cụ hồng trần của chân ngã chính là phàm ngã.

64. Agni, then, is to be considered a portion of the energy/consciousness of the Logoic Ego, but that part which is not focussed on the higher cosmic mental plane but on planes lower than the higher cosmic mental, and especially focussed on the cosmic physical plane.

64. Vậy thì, Agni phải được xem là một phần của năng lượng/tâm thức của Chân ngã Thượng đế, nhưng là phần không tập trung trên cõi trí vũ trụ cao mà trên các cõi thấp hơn cõi trí vũ trụ cao, và đặc biệt tập trung trên cõi hồng trần vũ trụ.

65. Note that we are not saying that Agni is only the energy which animates that which the Solar Logos considers His dense physical body—namely the lower twenty-one sub-planes of the cosmic physical plane.

65. Cần lưu ý rằng chúng ta không nói Agni chỉ là năng lượng làm sinh động điều mà Thái dương Thượng đế xem là thể xác đậm đặc của Ngài—tức hai mươi mốt cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ.

He is the life of the logoic Personality, with all that is included in that expression.

Ngài là sự sống của phàm ngã Thượng đế, với tất cả những gì được bao hàm trong cách diễn đạt ấy.

66. This is the definitive definition of Agni for which we have been searching.

66. Đây là định nghĩa chung quyết về Agni mà chúng ta đã tìm kiếm.

67. The life and consciousness of Agni, therefore, expresses through eighteen cosmic sub-planes—the lower four of the cosmic mental plane, the seven of the cosmic astral plane and the seven of the cosmic physical plane (through we may question the manner of expression through the lowest three systemic planes which are not a principled in relation to the Solar Logos). Yet Agni embraces fire by friction, and so must express through all levels of the cosmic physical plane.

67. Do đó, sự sống và tâm thức của Agni biểu lộ qua mười tám cõi phụ vũ trụ—bốn cõi thấp của cõi trí vũ trụ, bảy cõi của cõi cảm dục vũ trụ và bảy cõi của cõi hồng trần vũ trụ (dù chúng ta có thể đặt câu hỏi về cách biểu lộ qua ba cõi hệ thống thấp nhất, vốn không phải là một sự sống nguyên khí trong liên hệ với Thái dương Thượng đế). Tuy nhiên, Agni bao trùm Lửa ma sát, và vì thế phải biểu lộ qua mọi cấp độ của cõi hồng trần vũ trụ.

He is to the solar Logos on His own plane what the coherent personality of a human being is to his Ego in the causal body.

Ngài đối với Thái dương Thượng đế trên chính cõi của Ngài cũng như phàm ngã cố kết của một con người đối với chân ngã của y trong thể nguyên nhân.

68. Here there can be no question concerning the nature of Agni (as considered in the context of these pages). He is the personality of the Solar Logos.

68. Ở đây không thể có nghi vấn nào về bản chất của Agni (như được xét trong bối cảnh những trang này). Ngài là phàm ngã của Thái dương Thượng đế.

69. Since the personality ray of the Solar Logos is during this solar system (this incarnation) the second ray, then Agni is primarily (in this solar system) qualified by the second ray, even though He has a Brahmic/Fohatic function. At least He is subservient to the great second ray. Perhaps here we see by Fohat (or Agni) is so identified with “Eros”.

69. Vì cung phàm ngã của Thái dương Thượng đế trong hệ mặt trời này (lần lâm phàm này) là cung hai, nên Agni chủ yếu (trong hệ mặt trời này) được cung hai định tính, mặc dù Ngài có một chức năng Brahmic/Fohatic. Ít nhất Ngài cũng phụ thuộc vào cung hai vĩ đại. Có lẽ ở đây chúng ta thấy vì sao Fohat (hay Agni) lại được đồng nhất nhiều đến thế với “Eros”.

70. In the next system, the ray qualifying Him will probably be the first (as the second ray soul of the Solar Logos cannot change to the first) and as the monadic ray of any Entity remains the same throughout the greater aeon pertaining to that Entity.

70. Trong hệ thống kế tiếp, cung định tính cho Ngài có lẽ sẽ là cung một (vì cung linh hồn cung hai của Thái dương Thượng đế không thể đổi thành cung một) và vì cung chân thần của bất kỳ Thực Thể nào vẫn giữ nguyên trong suốt đại trường kỳ thuộc về Thực Thể ấy.

This is a very important point to be grasped, and if meditated upon will bring to the student much enlightenment.

Đây là một điểm rất quan trọng cần được nắm bắt, và nếu được tham thiền trên đó, nó sẽ mang lại cho đạo sinh nhiều giác ngộ.

71. There is no fast way here. Slow and careful pondering is required to fathom the mysteries of occultism.

71. Ở đây không có con đường nhanh chóng nào. Cần có sự suy ngẫm chậm rãi và cẩn trọng để thấu suốt các huyền nhiệm của huyền bí học.

72. We might think that Agni is in process of becoming Soul-infused by the Cosmic Ego of the Solar Logos. Since the Solar Logos is a cosmic initiate of the second degree, Agni is Soul-infused to the degree a human initiate of the second degree would be soul-infused—i.e., to quite a considerable extent—perhaps fifty percent soul-infused.

72. Chúng ta có thể nghĩ rằng Agni đang trong tiến trình trở thành được linh hồn thấm nhuần bởi Chân ngã Vũ Trụ của Thái dương Thượng đế. Vì Thái dương Thượng đế là một điểm đạo đồ vũ trụ cấp hai, nên Agni được linh hồn thấm nhuần đến mức mà một điểm đạo đồ nhân loại cấp hai sẽ được linh hồn thấm nhuần—nghĩa là ở một mức khá đáng kể—có lẽ năm mươi phần trăm được linh hồn thấm nhuần.

His is the life that fuses and blends the threefold nature of the Logos when in physical incarnation;

Ngài là sự sống dung hợp và hòa trộn bản chất tam phân của Thượng đế khi đang lâm phàm hồng trần;

73. This description is another way of describing personality.

73. Mô tả này là một cách khác để mô tả phàm ngã.

74. The threefold nature of the Logos manifests itself on all three of the lower cosmic planes—really, about two and a half cosmic planes.

74. Bản chất tam phân của Thượng đế biểu lộ trên cả ba cõi vũ trụ thấp hơn—thật ra là khoảng hai cõi rưỡi vũ trụ.

75. Just as the personality is particularly related to the physical aspect of man, so Agni is related to the threefold demonstration of the Solar Logos upon the cosmic physical plane.

75. Cũng như phàm ngã đặc biệt liên hệ với phương diện hồng trần của con người, thì Agni cũng liên hệ với sự biểu lộ tam phân của Thái dương Thượng đế trên cõi hồng trần vũ trụ.

His is the coherent force that makes a unity of the triple logoic Personality, but man can only arrive at His essential nature by the study of the logoic physical vehicle—hence the difficulty;

Ngài là mãnh lực cố kết tạo nên sự hợp nhất của phàm ngã Thượng đế tam phân, nhưng con người chỉ có thể đạt đến bản chất cốt yếu của Ngài bằng cách nghiên cứu vận cụ hồng trần Thượng đế—do đó mới có khó khăn;

76. We define the triple “logoic Personality” as demonstrating on two and a half cosmic planes—really, two and four sevenths.

76. Chúng ta định nghĩa “phàm ngã Thượng đế” tam phân là biểu lộ trên hai cõi rưỡi vũ trụ—thật ra là hai và bốn phần bảy.

77. Agni unifies the entire threefold logoic personality, but His expression upon the cosmic astral plane and the cosmic mental plane can only be inferred from studying His threefold expression upon the seven systemic planes of the cosmic physical plane.

77. Agni hợp nhất toàn bộ phàm ngã Thượng đế tam phân, nhưng sự biểu lộ của Ngài trên cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ chỉ có thể được suy ra từ việc nghiên cứu sự biểu lộ tam phân của Ngài trên bảy cõi hệ thống của cõi hồng trần vũ trụ.

he can only understand by a consideration of His psychic emanation as it can be sensed and viewed by passing the history of the races in retrospect.  

y chỉ có thể thấu hiểu bằng cách xem xét phát xạ thông linh của Ngài như nó có thể được cảm nhận và quan sát qua việc nhìn lại lịch sử các giống dân. 

78. The psychic emanation of Agni cannot at this time be directly understood by man, for he cannot fathom the nature of the cosmic astral plane. By study of that psychic emanation as it expresses in a much modified form on the cosmic physical plane, something of the original psychic emanation can be understood.

78. Phát xạ thông linh của Agni hiện nay không thể được con người trực tiếp thấu hiểu, vì y không thể dò thấu bản chất của cõi cảm dục vũ trụ. Bằng cách nghiên cứu phát xạ thông linh ấy khi nó biểu lộ dưới một hình thức đã được biến đổi rất nhiều trên cõi hồng trần vũ trụ, người ta có thể hiểu được phần nào phát xạ thông linh nguyên thủy.

79. Somehow the qualities of the various root races reveal something of the psychic quality of Agni. We cannot see Agni’s qualities directly (for, actually, they are stored in the causal body of the Solar Logos), but we can sense them working out in the forms of humanity which cyclically appear over time.

79. Bằng cách nào đó, các phẩm tính của những giống dân gốc khác nhau tiết lộ điều gì đó về phẩm tính thông linh của Agni. Chúng ta không thể trực tiếp thấy các phẩm tính của Agni (vì thật ra chúng được lưu giữ trong thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế), nhưng chúng ta có thể cảm nhận chúng đang triển khai trong những hình tướng của nhân loại xuất hiện theo chu kỳ qua thời gian.

Man’s personality reveals his nature as his life progresses; his psychic quality unfolds as the years slip away, and when he passes out of incarnation he is spoken of in terms of quality,

Phàm ngã của con người tiết lộ bản chất của y khi cuộc sống của y tiến triển; phẩm tính thông linh của y khai mở khi năm tháng trôi qua, và khi y ra khỏi lâm phàm, người ta nói về y theo phẩm tính,

80. Man, once departed, is spoken of more in terms of the overall qualitative effect of his life than in terms of the specific actions accomplished. The actions actually reveal the psychic quality. It is assumed that one endowed with certain qualities can produce a set of actions associated with those qualities.

80. Một khi đã qua đời, con người được nói đến nhiều hơn theo hiệu quả phẩm tính tổng thể của cuộc đời y hơn là theo những hành động cụ thể đã hoàn thành. Chính các hành động thực ra bộc lộ phẩm tính thông linh. Người ta giả định rằng một người được phú cho những phẩm tính nhất định có thể tạo ra một tập hợp hành động gắn liền với những phẩm tính ấy.

good or bad, selfish or unselfish; the effect of his “emanation” during life is that which remains in men’s minds.

tốt hay xấu, ích kỷ hay vị tha; hiệu quả của “phát xạ” của y trong đời sống là điều còn lại trong tâm trí con người.

81. There is ever the tendency towards generalization and summarization.

81. Luôn luôn có khuynh hướng hướng tới sự khái quát hóa và tóm lược hóa.

82. “Let there be no recollection and yet let memory rule.” This is a qualitative solar system and qualities resulting from actions turn out to be more important than the actions themselves.

82. “Đừng để có sự hồi tưởng, nhưng hãy để ký ức cai quản.” Đây là một hệ mặt trời phẩm tính, và những phẩm tính phát sinh từ hành động rốt cuộc trở nên quan trọng hơn chính các hành động ấy.

83. When searching to understand more fully one’s own qualities, one can speculate upon the qualities for which one will be known after one has passed over.

83. Khi tìm cách thấu hiểu đầy đủ hơn những phẩm tính của chính mình, người ta có thể suy đoán về những phẩm tính mà mình sẽ được biết đến sau khi đã qua đời.

Thus only can the logoic personality express itself, and our knowledge of His nature is consequently limited by our close perspective, and handicapped by the fact that we are participants in His life, and integral parts of His manifestation.

Chỉ như thế phàm ngã Thượng đế mới có thể biểu lộ, và kiến thức của chúng ta về bản chất của Ngài vì thế bị giới hạn bởi góc nhìn gần hẹp của chúng ta, và còn bị cản trở bởi sự kiện rằng chúng ta là những người tham dự vào sự sống của Ngài, và là những phần toàn vẹn trong biểu hiện của Ngài.

84. DK is telling us that we cannot possibly appreciate the full nature of Agni as that nature manifests on planes higher than the cosmic physical.

84. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng chúng ta tuyệt đối không thể đánh giá được bản chất đầy đủ của Agni khi bản chất ấy biểu lộ trên những cõi cao hơn cõi hồng trần vũ trụ.

85. We can infer something about His nature only by judging of effects of internal causes as those effects manifest on the cosmic physical plane.

85. Chúng ta chỉ có thể suy ra điều gì đó về bản chất của Ngài bằng cách phán đoán các hiệu quả của những nguyên nhân nội tại khi các hiệu quả ấy biểu lộ trên cõi hồng trần vũ trụ.

It is only as we begin to function upon the buddhic plane that we can in any way “live in the subjective” [Page 604] side of nature,

Chỉ khi chúng ta bắt đầu hoạt động trên cõi Bồ đề thì chúng ta mới có thể theo bất kỳ cách nào “sống trong phương diện chủ quan” [Page 604] của bản chất,

86. Even our so-called “soul nature” as it expresses on the higher mental plane of the cosmic physical plane is considered in relation to the Solar Logos, objective.

86. Ngay cả cái gọi là “bản chất linh hồn” của chúng ta khi nó biểu lộ trên cõi thượng trí của cõi hồng trần vũ trụ cũng được xem là khách quan trong liên hệ với Thái dương Thượng đế.

87. Subjective life begins in the etheric body of the Solar Logos. This is worth pondering. It reveals the externality of our life as presently lived.

87. Sự sống chủ quan bắt đầu trong thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế. Điều này đáng để suy ngẫm. Nó cho thấy tính bên ngoài của đời sống chúng ta như hiện đang được sống.

and it is only as our knowledge of the spiritual life increases, and as we pass definitely through the portal of initiation into the fifth kingdom that we can appreciate the distinction between the dense physical, and the vital body.

và chỉ khi kiến thức của chúng ta về đời sống tinh thần gia tăng, và khi chúng ta dứt khoát đi qua cánh cổng điểm đạo vào giới thứ năm, thì chúng ta mới có thể nhận thức được sự phân biệt giữa thể xác đậm đặc và thể sinh lực/thể dĩ thái.

88. We are speaking of the dense body of the Solar Logos and His etheric body. It is also true that only the initiate (as least of the first degree) can begin to appreciate the functional difference between his own microcosmic etheric body and its physically dense counterpart.

88. Chúng ta đang nói về thể đậm đặc của Thái dương Thượng đế và thể dĩ thái của Ngài. Cũng đúng là chỉ điểm đạo đồ (ít nhất là cấp một) mới có thể bắt đầu nhận thức được sự khác biệt chức năng giữa thể dĩ thái tiểu thiên địa của chính mình và đối phần hồng trần đậm đặc của nó.

Only as we become polarised in the cosmic etheric body and are no longer held prisoner by a dense material sheath (for the three lower planes are but the dense body of the Logos) do we come to a fuller understanding of the psychic nature of the Logos, for we stand then in the body which bridges the gulf between the dense physical, and the astral body of the Logos.

Chỉ khi chúng ta trở nên phân cực trong thể dĩ thái vũ trụ và không còn bị giam giữ bởi một vỏ bọc vật chất đậm đặc nữa (vì ba cõi thấp chỉ là thể đậm đặc của Thượng đế) thì chúng ta mới đi đến một sự thấu hiểu đầy đủ hơn về bản chất thông linh của Thượng đế, vì khi ấy chúng ta đứng trong thể bắt cầu qua vực thẳm giữa thể xác đậm đặc và thể cảm dục của Thượng đế.

89. The etheric body is as a bridge between the astral (or ‘psychic’) body of the Solar Logos on the cosmic astral plane and His dense physical vehicle—our lower three systemic or solar planes.

89. Thể dĩ thái giống như một cây cầu giữa thể cảm dục (hay “thông linh”) của Thái dương Thượng đế trên cõi cảm dục vũ trụ và vận cụ xác thân đậm đặc của Ngài—ba cõi hệ thống hay cõi thái dương thấp của chúng ta.

90. A Being like the Christ is really coming to an understanding of the psychic, magnetic nature of the Solar Logos on the cosmic astral plane. The Members of the Spiritual Hierarchy of our planet are learning the nature of God’s Love as expressed upon the cosmic physical plane through the astral body of the Solar Logos on the cosmic astral plane—and this but slowly.

90. Một Đấng như Đức Christ thực sự đang đi đến chỗ thấu hiểu bản chất thông linh, từ tính của Thái dương Thượng đế trên cõi cảm dục vũ trụ. Các Thành Viên của Huyền Giai Tinh Thần của hành tinh chúng ta đang học biết bản chất của Tình thương của Thượng đế như được biểu lộ trên cõi hồng trần vũ trụ qua thể cảm dục của Thái dương Thượng đế trên cõi cảm dục vũ trụ—và điều này chỉ rất chậm chạp.

91. Again, we should pause to reflect how really dense is the process of our normal living. Only a true Member of the Hierarchy (and really only an initiate of the fourth degree) is actually beginning to focus in the etheric body of the Solar Logos.

91. Một lần nữa, chúng ta nên dừng lại để suy ngẫm xem tiến trình sống bình thường của chúng ta thực sự đậm đặc đến mức nào. Chỉ một Thành Viên đích thực của Thánh Đoàn (và thật ra chỉ một điểm đạo đồ cấp bốn) mới thực sự bắt đầu tập trung trong thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế.

Only when this is the case do we understand the function of the Lord Agni as the vital life of the cosmic etheric, as the vitality of the Heavenly Men and the activity of Their sheaths.

Chỉ khi điều này là như thế, chúng ta mới hiểu được chức năng của Chúa Tể Agni như sự sống thiết yếu của dĩ thái vũ trụ, như sinh lực của các Đấng Thiên Nhân và hoạt động của các thể của Các Ngài.

92. Here the Lord Agni has a specifically cosmic etheric definition. We recognize that the full nature of Lord Agni is not apprehensible (at least by us). His being extends to the cosmic mental plane and cosmic astral plane. But upon the etheric part of the cosmic physical plane His nature can be somewhat experienced by the evolving, spiritual man.

92. Ở đây Chúa Tể Agni có một định nghĩa đặc biệt thuộc dĩ thái vũ trụ. Chúng ta nhận ra rằng bản chất trọn vẹn của Chúa Tể Agni là điều không thể lĩnh hội được (ít nhất là đối với chúng ta). Hữu thể của Ngài vươn tới cõi trí vũ trụ và cõi cảm dục vũ trụ. Nhưng trên phần dĩ thái của cõi hồng trần vũ trụ, bản chất của Ngài có thể phần nào được con người tinh thần đang tiến hóa kinh nghiệm.

93. Perhaps it is not correct to say that Lord Agni’s Life is expressed through all the eighteen cosmic sub-planes lower than the cosmic higher mental plane. Perhaps the lower three unprincipled cosmic sub-planes should be omitted or treated as a special case. In this case Lord Agni would be expressing through only fifteen planes (an interesting number) and via four of those planes—the cosmic etheric planes, His life would be somewhat apprehensible to initiated humanity.

93. Có lẽ không đúng khi nói rằng Sự Sống của Chúa Tể Agni được biểu lộ qua tất cả mười tám cõi phụ vũ trụ thấp hơn cõi thượng trí vũ trụ. Có lẽ ba cõi phụ vũ trụ thấp nhất không nguyên khí nên được loại ra hoặc được xem như một trường hợp đặc biệt. Trong trường hợp ấy, Chúa Tể Agni sẽ chỉ biểu lộ qua mười lăm cõi (một con số thú vị) và qua bốn cõi trong số đó—các cõi dĩ thái vũ trụ, sự sống của Ngài sẽ phần nào có thể được nhân loại đã được điểm đạo lĩnh hội.

94. Yet below (TCF 605) we read the following which definitely associates Agni, as well, with the lowest expression of the Solar Logos, His dense physical vehicle:

94. Tuy nhiên, bên dưới (TCF 605) chúng ta đọc thấy điều sau đây, điều này cũng liên kết rõ ràng Agni với biểu hiện thấp nhất của Thái dương Thượng đế, tức vận cụ xác thân đậm đặc của Ngài:

Agni as the energising factor of the dense physical body of the Logos, or as the fire of His most concrete manifestation (TCF 605)

Agni như là nhân tố tiếp năng lượng cho thể xác đậm đặc của Thượng đế, hay như lửa của biểu hiện cụ thể nhất của Ngài (TCF 605)

95. When we speak of the Heavenly Men, we speak of the Planetary Logoi and of two types of lesser Logoi (Chain Lords and Globe Lords) within Their field of expression.

95. Khi chúng ta nói về các Đấng Thiên Nhân, chúng ta nói về các Hành Tinh Thượng đế và về hai loại Thượng đế nhỏ hơn (các Chúa Tể Dãy và các Chúa Tể Bầu) trong phạm vi biểu lộ của Các Ngài.

96. All vehicles of the Heavenly Men are vitalized, but Their specifically vital expression occurs upon the cosmic etheric planes.

96. Mọi vận cụ của các Đấng Thiên Nhân đều được tiếp sinh lực, nhưng sự biểu lộ đặc biệt sinh lực của Các Ngài xảy ra trên các cõi dĩ thái vũ trụ.

97. We have been considering Agni from the cosmic etheric perspective. Now we will consider this great Lord of Fire in relation to the mental plane (both the cosmic mental plane and the systemic mental plane).

97. Chúng ta đã xem xét Agni từ quan điểm dĩ thái vũ trụ. Giờ đây chúng ta sẽ xem xét vị Chúa Tể Lửa vĩ đại này trong liên hệ với cõi trí (cả cõi trí vũ trụ lẫn cõi trí hệ thống).

b. Agni and the Mental Plane.

b. Agni và Cõi Trí.

I seek to deal with a very important point here, emphasising the close connection between Agni, the sumtotal of the life force of the logoic threefold personality, as He is seen at work on the mental plane (which closely concerns man), and that manifesting driving force or intelligent will which emanates from the cosmic mental plane.

Tôi tìm cách bàn đến một điểm rất quan trọng ở đây, nhấn mạnh mối liên hệ mật thiết giữa Agni, tổng thể của sinh lực của phàm ngã Thượng đế tam phân, như Ngài được thấy đang hoạt động trên cõi trí (vốn liên hệ chặt chẽ với con người), và mãnh lực thúc đẩy hay ý chí trí tuệ đang biểu lộ ấy, phát ra từ cõi trí vũ trụ.

98. We have looked at Agni in relation to cosmic psychic quality and also in relation to cosmic vitality on the four highest sub-planes of the cosmic physical plane.

98. Chúng ta đã xem xét Agni trong liên hệ với phẩm tính thông linh vũ trụ và cũng trong liên hệ với sinh lực vũ trụ trên bốn cõi phụ cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ.

99. Now we focus on Agni’s mental expression—systemic mental and cosmic mental.

99. Giờ đây chúng ta tập trung vào sự biểu lộ trí tuệ của Agni—trí tuệ hệ thống và trí tuệ vũ trụ.

100. We are comparing Agni at work on the systemic mental plane and also His relation to the cosmic mental plane.

100. Chúng ta đang so sánh Agni hoạt động trên cõi trí hệ thống và cả mối liên hệ của Ngài với cõi trí vũ trụ.

101. It is to be pondered whether the number of the logoic Personality should be eighteen or fifteen, or perhaps sixteen. There is a case for saying that the two lowest systemic planes should definitely not be included. In that case the number would be sixteen—a significant number of form and related to the number of petals in the human throat center.

101. Cần suy ngẫm xem con số của phàm ngã Thượng đế nên là mười tám hay mười lăm, hoặc có lẽ là mười sáu. Có cơ sở để nói rằng hai cõi hệ thống thấp nhất chắc chắn không nên được bao gồm. Trong trường hợp ấy con số sẽ là mười sáu—một con số có ý nghĩa của hình tướng và liên hệ với số cánh hoa trong trung tâm cổ họng của con người.

102. If we decide that the mental plane itself should not be included in the numbering of the personality, then the number of planes through which the logoic Personality manifests is fifteen suggesting the number of the Kumaras, and summing to the number six—again, a number of form.

102. Nếu chúng ta quyết định rằng chính cõi trí không nên được tính vào số của phàm ngã, thì số cõi mà qua đó phàm ngã Thượng đế biểu lộ là mười lăm, gợi ý con số của các Kumara, và cộng lại thành số sáu—một lần nữa, lại là một con số của hình tướng.

103. When we think of our own personality, to what extent do we include the three lowest systemic sub-planes? Can it be said that our true personality really extends no ‘lower’ than the fourth systemic ether?

103. Khi nghĩ đến phàm ngã của chính mình, chúng ta bao gồm ba cõi phụ hệ thống thấp nhất đến mức nào? Có thể nói rằng phàm ngã đích thực của chúng ta thật ra không vươn “thấp” hơn dĩ thái hệ thống thứ tư chăng?

104. What is it that emanates from the cosmic mental plane? DK tells us it is a “driving force or intelligent will”. We discover repeatedly when dealing with manas that intelligence and will are always combined.

104. Điều gì phát ra từ cõi trí vũ trụ? Chân sư DK cho chúng ta biết đó là một “mãnh lực thúc đẩy hay ý chí trí tuệ”. Chúng ta liên tục khám phá khi bàn đến manas rằng trí tuệ và ý chí luôn luôn kết hợp với nhau.

105. We seem to be considering and contrasting the forces found on the cosmic and systemic higher mental planes, and those forces found on the lower mental sub-planes (cosmically and systemically considered).

105. Dường như chúng ta đang xem xét và đối chiếu các mãnh lực được tìm thấy trên các cõi thượng trí vũ trụ và hệ thống, với những mãnh lực được tìm thấy trên các cõi phụ hạ trí (xét theo nghĩa vũ trụ và hệ thống).

There is a very interesting series of correspondences to be worked out here and we might briefly indicate the lines to be followed in this connection by the ensuing tabulation:

Ở đây có một chuỗi tương ứng rất thú vị cần được triển khai, và chúng ta có thể ngắn gọn chỉ ra những đường hướng cần theo trong mối liên hệ này bằng bảng liệt kê sau đây:

106. Let us see what can be gathered from the following tabulation. The entire tabulation is obviously based on the number five.

106. Hãy xem có thể rút ra được điều gì từ bảng liệt kê sau đây. Toàn bộ bảng này hiển nhiên dựa trên con số năm.

The 5th cosmic plane… The cosmic mental.

Cõi vũ trụ thứ 5… Cõi trí vũ trụ.

107. Here we count from above downwards. 

107. Ở đây chúng ta đếm từ trên xuống dưới.

The 5th systemic planeThe mental plane.

Cõi hệ thống thứ 5… Cõi trí.

108. There is a direct correspondence between the cosmic and systemic mental planes. 

108. Có một sự tương ứng trực tiếp giữa cõi trí vũ trụ và cõi trí hệ thống.

The 5th subplane of the physicalThe gaseous.

Cõi phụ thứ 5 của cõi hồng trần… Thể khí.

109. Much can be learned by relating the principle of manas to the gaseous state of matter. The quality of the thoughts we think and the quality of the air we breathe are related. 

109. Có thể học được nhiều điều bằng cách liên hệ nguyên khí manas với trạng thái khí của vật chất. Phẩm tính của những tư tưởng chúng ta suy nghĩ và phẩm tính của không khí chúng ta hít thở có liên hệ với nhau.

The 5th principleManas.

Nguyên khí thứ 5… Manas.

110. There are a number of ways to count principles, but usually the fifth principle is correlated with manas. 

110. Có một số cách để đếm các nguyên khí, nhưng thông thường nguyên khí thứ năm được tương liên với manas.

The 5th LawFixation, the Law of Concretion.

Định luật thứ 5… Sự cố định, Định luật Cụ thể hóa.

111. Let us note the alternative name for the “Law of Fixation”. Let us think for a moment of the dispersive nature of gas and the work of fixation in countering this dispersive tendency. 

111. Hãy lưu ý tên gọi thay thế của “Định luật Cố định”. Hãy nghĩ trong chốc lát về bản chất phân tán của khí và công việc của sự cố định trong việc chống lại khuynh hướng phân tán này.

The 5th RayConcrete knowledge

Cung thứ 5… Tri thức cụ thể

The 5th roundThe round of manasic attainment.

Cuộc tuần hoàn thứ 5… Cuộc tuần hoàn của sự thành tựu manas.

112. As we are far from the fifth round (the fifth chain round and even farther form the fifth scheme round) any manasic attainment achieved in this fourth chain round will be but relative. It will certainly not be a climactic development in relation to the potential manasic development of our planetary scheme. 

112. Vì chúng ta còn cách xa cuộc tuần hoàn thứ năm (cuộc tuần hoàn dãy thứ năm và còn xa hơn nữa đối với cuộc tuần hoàn hệ hành tinh thứ năm), nên bất kỳ thành tựu manas nào đạt được trong cuộc tuần hoàn dãy thứ tư này cũng chỉ là tương đối. Chắc chắn đó sẽ không phải là một sự phát triển cao trào so với tiềm năng phát triển manas của hệ hành tinh chúng ta.

The 5th root-raceThe Aryan. Mental development.

Giống dân gốc thứ 5… Arya. Sự phát triển trí tuệ.

The 5th sub-raceThe Teutonic and Anglo-Saxon. Concrete mind.

Giống dân phụ thứ 5… Teutonic và Anglo-Saxon. trí cụ thể.

113. There are some references which equate the beginning of the fifth or Aryan root race with the onset of the Teutonic subrace. Obviously an occult blind is in effect.

113. Có một số tài liệu quy đồng sự khởi đầu của giống dân gốc thứ năm hay Arya với sự khởi phát của giống dân phụ Teutonic. Hiển nhiên ở đây có một màn che huyền bí đang được áp dụng.

The Manu presides over group one. He is called Vaivasvata Manu, and is the Manu of the fifth root-race. He is the ideal man or thinker, and sets the type for our Aryan race, having presided over its destinies since its inception nearly one hundred thousand years ago. (HIS 41-42)…  

Đức Manu chủ trì nhóm một. Ngài được gọi là Đức Manu Vaivasvata, và là Đức Manu của giống dân gốc thứ năm. Ngài là con người lý tưởng hay nhà tư tưởng, và đặt ra kiểu mẫu cho nhân loại Arya của chúng ta, đã chủ trì vận mệnh của nó kể từ khi khởi đầu gần một trăm ngàn năm trước. (HIS 41-42)…

The 5th group of DevasFire Devas of the mental plane.

Nhóm thiên thần thứ 5… Các thiên thần Lửa của cõi trí.

114. We seem here to be speaking of the Agnishvattas or Solar Angels. They are “Fire Devas” and the type of fire they express is especially the fire of love and the fire of knowledge combined.

114. Ở đây dường như chúng ta đang nói về các Agnishvatta hay các Thái dương Thiên Thần. Các Ngài là “các thiên thần Lửa” và loại lửa mà Các Ngài biểu lộ đặc biệt là lửa bác ái và lửa tri thức kết hợp lại.

It is also possible that we may be speaking of those devas who work in relation to the lower mental plane, but this seems less likely. 

Cũng có thể chúng ta đang nói về những thiên thần hoạt động trong liên hệ với cõi hạ trí, nhưng điều này dường như ít có khả năng hơn.

The 5th ManvantaraThree-fifths of the manasaputras achieve.

Giai kỳ sinh hóa thứ 5… Ba phần năm các manasaputra đạt thành tựu.

115. This has to be examined carefully, as the term “manvantara” is elastic. If man is considered a “manasaputra” then three fifths of the human beings on Earth will achieved in the fifth round, and the term “manvantara”, in this case, means round.

115. Điều này phải được khảo sát cẩn trọng, vì thuật ngữ “giai kỳ sinh hóa” có tính co giãn. Nếu con người được xem là một “manasaputra” thì ba phần năm nhân loại trên Trái Đất sẽ đạt thành tựu trong cuộc tuần hoàn thứ năm, và trong trường hợp này thuật ngữ “giai kỳ sinh hóa” có nghĩa là cuộc tuần hoàn.

Of course, we are speaking of the men or manasaputras on the Earth-chain, and the moment of achievement is the “Judgment Day”. We are not speaking of the great number of manasaputras found within the solar system.

Dĩ nhiên, chúng ta đang nói về những con người hay manasaputra trên Dãy Địa Cầu, và thời điểm đạt thành tựu là “Ngày Phán Xét”. Chúng ta không nói về số lượng lớn manasaputra được tìm thấy trong hệ mặt trời.

It is also possible that the fifth manvantara can be a systemic manvantara, and during it, perhaps a certain number of manasaputras within the entire solar system will achieve. 

Cũng có thể giai kỳ sinh hóa thứ năm là một giai kỳ sinh hóa hệ thống, và trong đó, có lẽ một số manasaputra nhất định trong toàn bộ hệ mặt trời sẽ đạt thành tựu.

The 5th schemeThe Lord of concrete science

Hệ hành tinh thứ 5… Chúa Tể của khoa học cụ thể

116. Much is hidden in this apparently simple statement. What is the fifth scheme? In the diagrams with which we are presented, Mercury is always associated with the number five. The fifth scheme is the Mercury-scheme; the fifth chain is the Mercury-chain; the fifth globe of both the Earth-chain and the Mercury-chain is the Mercury-globe.

116. Có nhiều điều được ẩn giấu trong phát biểu tưởng như đơn giản này. Dãy thứ năm là gì? Trong các sơ đồ được trình bày cho chúng ta, Sao Thủy luôn luôn được gắn với con số năm. Dãy thứ năm là dãy Sao Thủy; chuỗi thứ năm là chuỗi Sao Thủy; bầu hành tinh thứ năm của cả Dãy Địa Cầu lẫn dãy Sao Thủy là bầu hành tinh Sao Thủy.

Now, what is important is that the fifth scheme (which is obviously the Mercury-scheme) should be associated with the “Lord of concrete science”.

Điều quan trọng ở đây là dãy thứ năm (rõ ràng là dãy Sao Thủy) phải được liên kết với “Chúa Tể của khoa học cụ thể”.

If Mercury has a fifth ray Monad, is this sufficient to consider Him a Lord of Concrete Science? Perhaps. And this would be a different way of understanding Mercury.

Nếu Sao Thủy có một chân thần cung năm, điều đó có đủ để xem Ngài là một Chúa Tể của Khoa Học Cụ Thể không? Có lẽ vậy. Và đây sẽ là một cách khác để hiểu về Sao Thủy.

We must also remember the hypothesis that the major monadic ray of Mercury is the third ray. 

Chúng ta cũng phải nhớ giả thuyết rằng cung chân thần chính yếu của Sao Thủy là cung ba.

The 5th Mahamanvantara (or solar system)The solar Logos achieves His fifth major Initiation.

Đại giai kỳ sinh hóa thứ 5 (hay hệ mặt trời)… Thái dương Thượng đế đạt đến lần điểm đạo lớn thứ năm của Ngài.

117. This is one of those treasured references which expands our understanding of solar systemic manifestation far beyond the ordinary. We are in the midst not of the second Mahamanvantara but of the fifth which is the major second.

117. Đây là một trong những tham chiếu quý giá giúp mở rộng sự thấu hiểu của chúng ta về biểu hiện hệ mặt trời vượt xa mức thông thường. Chúng ta đang ở giữa không phải Đại giai kỳ sinh hóa thứ hai mà là Đại giai kỳ sinh hóa thứ năm, vốn là Đại giai kỳ sinh hóa thứ hai chính yếu.

It is easy to endlessly repeat that we are in the second solar system without realizing that it is really the second major solar system, and that a number of minor solar systems preceded the previous solar system which is usually considered to be the first solar system.

Thật dễ cứ lặp đi lặp lại mãi rằng chúng ta đang ở trong hệ mặt trời thứ hai mà không nhận ra rằng đó thực sự là hệ mặt trời thứ hai chính yếu, và rằng đã có một số hệ mặt trời phụ đi trước hệ mặt trời trước đó, vốn thường được xem là hệ mặt trời thứ nhất.

Somehow, Mercury as the fifth scheme will be important to the Solar Logos as He achieves His fifth major initiation (if He does! in this Mahamanvantara) for Mercury represents “kundalini active” and the base of the spine center is intimately involved with the achievement of the fifth initiation.

Bằng cách nào đó, Sao Thủy với tư cách là dãy thứ năm sẽ quan trọng đối với Thái dương Thượng đế khi Ngài đạt đến lần điểm đạo lớn thứ năm của Ngài (nếu Ngài thực sự đạt được điều đó! trong Đại giai kỳ sinh hóa này) vì Sao Thủy tượng trưng cho “kundalini hoạt động” và trung tâm đáy cột sống có liên hệ mật thiết với việc đạt đến lần điểm đạo thứ năm.

If we followed this line of thought we would enter the difficult speculation concerning which of several possible planets should most be associated with the solar logoic base of the spine center. 

Nếu chúng ta theo đuổi dòng tư tưởng này, chúng ta sẽ bước vào sự suy đoán khó khăn liên quan đến việc trong số vài hành tinh khả dĩ, hành tinh nào nên được liên kết nhiều nhất với trung tâm đáy cột sống thái dương logoic.

The 5th chainPrincipal evolution—fire devas.

Chuỗi thứ 5… Tiến hoá chính yếu—các thiên thần lửa.

118. In this case, we are probably speaking of the fifth chain of the Earth-scheme. If so, the concentration of our Planetary Logos is not yet upon this fifth chain.

118. Trong trường hợp này, có lẽ chúng ta đang nói đến chuỗi thứ năm của hệ hành tinh Địa Cầu. Nếu vậy, sự tập trung của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta vẫn chưa đặt vào chuỗi thứ năm này.

Are we being told something of the major habitat or origin of the “fire devas” and, in this case, are the “fire devas” the Solar Angels?

Có phải chúng ta đang được cho biết điều gì đó về nơi cư ngụ hay nguồn gốc chính yếu của “các thiên thần lửa”, và trong trường hợp này, “các thiên thần lửa” có phải là các Thái dương Thiên Thần không?

It is also possible that we are speaking of the fifth chain of all the planetary schemes, and that fire devas are to be found in relation to all fifth chains. 

Cũng có thể là chúng ta đang nói đến chuỗi thứ năm của mọi hệ hành tinh, và rằng các thiên thần lửa được tìm thấy trong liên hệ với mọi chuỗi thứ năm.

The 5th HierarchyThe greater Builders

Huyền Giai thứ 5… các đấng đại kiến tạo

119. What is the difference between the “fifth group of devas” listed above as the “Fire Devas of the mental plane” and the “5th Hierarchy”, “The Greater Builders”

119. Sự khác biệt giữa “nhóm thiên thần thứ năm” được liệt kê ở trên như là “Các thiên thần Lửa của cõi trí” và “Huyền Giai thứ 5”, “các đấng đại kiến tạo” là gì?th

It would seem that, farther above, we are dealing with the Agnishvattas and that in this instance we are counting from ‘below’ and are dealing with that group of Lives known as the “Triads”.

Dường như ở phần trên hơn, chúng ta đang bàn đến các Agnishvatta, còn trong trường hợp này chúng ta đang đếm từ ‘bên dưới’ và đang bàn đến nhóm các Sự Sống được biết đến như “các Tam nguyên tinh thần”.

Compared to the Human Creative Hierarchy, Creative Hierarchy number three, the Triads are certainly greater Builders. But in the tabulation in EA 35, they are not listed as such, but, instead, as “Lesser Builders”. The “Burning Sons of Desire” one step ‘above’ them are listed as the “Greater Builders”.

So với Huyền Giai Sáng Tạo Nhân Loại, Huyền Giai Sáng Tạo số ba, các Tam nguyên tinh thần chắc chắn là những đấng kiến tạo vĩ đại hơn. Nhưng trong bảng liệt kê ở EA 35, các vị ấy không được liệt kê như vậy mà thay vào đó là “các vị tiểu kiến tạo”. “Các Con Rực Cháy của Dục Vọng” ở phía ‘trên’ các vị ấy một bậc lại được liệt kê là “các đấng đại kiến tạo”.

The Solar Angels of men are certainly builders because, for twenty-one million years or more in most instances, they build the personality of man. On occasion They are called “greater Builders” but not usually in tabulations in which still greater Hierarchies are mentioned.

Các Thái dương Thiên Thần của nhân loại chắc chắn là những đấng kiến tạo bởi vì, trong phần lớn trường hợp, suốt hai mươi mốt triệu năm hoặc hơn, các Ngài xây dựng phàm ngã của con người. Đôi khi Các Ngài được gọi là “các đấng đại kiến tạo” nhưng thường không phải trong những bảng liệt kê có nhắc đến các Huyền Giai còn vĩ đại hơn.

The greater Builders are the solar Pitris, whilst the lesser Builders are the lunar ancestors. (TCF 613)

Các đấng đại kiến tạo là các thái dương tổ phụ, trong khi các vị tiểu kiến tạo là các tổ tiên thái âm. (TCF 613)

The Triads are even greater Builders than the Agnishvattas because they build the monadic personality (i.e., the spiritual triad) and not the lower personality of man.

Các Tam nguyên tinh thần còn là những đấng kiến tạo vĩ đại hơn các Agnishvatta bởi vì các vị ấy xây dựng phàm ngã chân thần (tức Tam Nguyên Tinh Thần) chứ không phải phàm ngã thấp của con người.

We shall have to discriminate between the “Fire devas of the mental plane” and “the 5th Hierarchy” of “greater Builders”. Both are listed in this tabulation and both could easily be seen as equivalent if we did not look more deeply into the subject. When similar names are used for different B/beings, we are either into terminological confusion or the revelation of subtle distinctions. 

Chúng ta sẽ phải phân biện giữa “các thiên thần Lửa của cõi trí” và “Huyền Giai thứ 5” của “các đấng đại kiến tạo”. Cả hai đều được liệt kê trong bảng này và cả hai đều có thể dễ dàng bị xem th là tương đương nếu chúng ta không khảo sát đề tài này sâu hơn. Khi những tên gọi tương tự được dùng cho các hữu thể khác nhau, hoặc là chúng ta đang rơi vào sự lẫn lộn thuật ngữ, hoặc là đang đứng trước sự mặc khải về những phân biệt tinh tế. as equivalent if we did not look more deeply into the subject. When similar names are used for different B/beings, we are either into terminological confusion or the revelation of subtle distinctions.

Vibrations of fifth orderManasic.

Các rung động của cấp thứ năm… Manas.

120. These vibrations could be either systemic (more likely) or cosmic mental (less so). The suggestion exists that there are seven orders of vibrations. 

120. Những rung động này có thể là rung động của hệ thống (nhiều khả năng hơn) hoặc rung động trí tuệ vũ trụ (ít khả năng hơn). Có một gợi ý rằng có bảy cấp rung động.

[Page 605]

[Page 605]

121. These factors could be taken two at a time to see what sparks of illumination may arise. All of these tabulated factors are related and certainly each two of them is related as well.

121. Những yếu tố này có thể được xét từng cặp một để xem những tia soi sáng nào có thể phát sinh. Tất cả những yếu tố được lập bảng này đều có liên hệ với nhau, và chắc chắn mỗi cặp trong số đó cũng có liên hệ với nhau.

122. Can we begin to sense how much Master DK ‘hides’ in such an apparently simple table? A superficial reading will not reveal the hidden implications.

122. Liệu chúng ta có thể bắt đầu cảm nhận được Chân sư DK ‘ẩn giấu’ bao nhiêu điều trong một bảng tưởng như đơn giản như thế này không? Một cách đọc hời hợt sẽ không làm lộ ra những hàm ý ẩn kín.

It will, therefore, be apparent that when the system is viewed in reverse order and the physical plane is counted as the first (as it often is when considering it as the field of strictly human evolution),

Do đó, sẽ rõ ràng rằng khi hệ thống được nhìn theo trật tự ngược lại và cõi hồng trần được tính là thứ nhất (như thường xảy ra khi xem nó là trường tiến hoá thuần túy của con người),

123. Here is a most important point; it is possible to number from above to below or vise versa.

123. Đây là một điểm hết sức quan trọng; có thể đánh số từ trên xuống dưới hoặc ngược lại.

124. When dealing with strictly human living, the physical plane (the strictly physical part of it) is given an importance it does not deserve from the solar logoic perspective and even from the planetary logoic perspective.

124. Khi bàn đến đời sống thuần túy của con người, cõi hồng trần (phần hoàn toàn hồng trần của nó) được trao cho một tầm quan trọng mà nó không xứng đáng có được theo quan điểm của Thái dương Thượng đế, và ngay cả theo quan điểm của Hành Tinh Thượng đế.

that the third plane—the mental plane—comes under the same group of correspondences and Agni, as the energising factor of the dense physical body of the Logos, or as the fire of His most concrete manifestation, vitalising, warming and holding all together, has to be considered.

rằng cõi thứ ba—cõi trí—thuộc cùng một nhóm tương ứng và Agni, với tư cách là yếu tố tiếp năng lượng cho thể xác đậm đặc của Thượng đế, hay như lửa của biểu hiện cụ thể nhất của Ngài, tiếp sinh lực, sưởi ấm và giữ cho mọi sự gắn kết với nhau, phải được xem xét.

125. Here Agni is given more than a cosmic etheric meaning, but is made to relate to the very lowest of the cosmic sub-planes—the most concrete manifestation of the Solar Logos, our systemic mental, astral and physical-etheric planes.

125. Ở đây Agni được trao một ý nghĩa nhiều hơn ý nghĩa dĩ thái vũ trụ, mà còn được làm cho liên hệ với chính những cõi phụ thấp nhất của các cõi vũ trụ—biểu hiện cụ thể nhất của Thái dương Thượng đế, tức các cõi trí, cảm dục và hồng trần-dĩ thái của hệ chúng ta.

126. What does Agni do in relation to these lowest sub-planes:

126. Agni làm gì trong liên hệ với những cõi phụ thấp nhất này:

a. It vitalizes them

a. Ngài tiếp sinh lực cho chúng

b. It warms them

b. Ngài sưởi ấm chúng

c. Within them, it holds al together

c. Bên trong chúng, Ngài giữ mọi sự gắn kết với nhau

127. The only way we can bring Agni in relation to the systemic mental plane is to consider it as the energizing factor of the dense physical body of the Logos, for the systemic mental plane is within the dense physical body of the Logos.

127. Cách duy nhất để chúng ta liên hệ Agni với cõi trí của hệ là xem Ngài như yếu tố tiếp năng lượng cho thể xác đậm đặc của Thượng đế, vì cõi trí của hệ nằm bên trong thể xác đậm đặc của Thượng đế.

Three hierarchies are, in this mahamanvantara, of profound significance, the fourth or human Creative Hierarchy, and the two deva hierarchies, the fifth and sixth.

Ba Huyền Giai, trong đại giai kỳ sinh hóa này, có thâm nghĩa sâu xa, đó là Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư hay nhân loại, và hai Huyền Giai thiên thần, thứ năm và thứ sáu.

128. These Creative Hierarchy are, for man, the ‘closest to home’.

128. Đối với con người, các Huyền Giai Sáng Tạo này là những Huyền Giai ‘gần gũi nhất’.

129. This second Mahamanvantara is the Mahamanvantara in which the logoic soul nature is learning to dominate and redeem the lunar life.

129. Đại giai kỳ sinh hóa thứ hai này là Đại giai kỳ sinh hóa trong đó bản chất linh hồn logoic đang học cách thống trị và cứu chuộc sự sống thái âm.

a. The Fourth Creative Hierarchy is the Hierarchy of human Monads

a. Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư là Huyền Giai của các chân thần nhân loại

b. The Fifth Creative Hierarchy is the Creative Hierarchy of Solar Angels or Agnishvattas. It is a dual Creative Hierarchy and the mystery of its duality is not easy to solve. A few interesting speculations have been put forward.

b. Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm là Huyền Giai Sáng Tạo của các Thái dương Thiên Thần hay các Agnishvatta. Đây là một Huyền Giai Sáng Tạo kép và huyền nhiệm về tính nhị nguyên tính của nó không dễ giải đáp. Một vài suy đoán thú vị đã được nêu ra.

c. The Sixth Creative Hierarchy is the Hierarchy of “Lunar Lords”, which must be redeemed and redirected onto their evolutionary path by coming under the control of the Solar Lords—the Solar Angels.

c. Huyền Giai Sáng Tạo thứ Sáu là Huyền Giai của “các nguyệt tinh quân”, những vị phải được cứu chuộc và chuyển hướng vào con đường thăng thượng tiến hoá của mình bằng cách đặt dưới sự kiểm soát của các nhật tinh quân—các Thái dương Thiên Thần.

The fourth Hierarchy in the larger scheme is literally the ninth, for five hierarchies have earlier passed on and are considered as pure abstractions.

Huyền Giai thứ tư trong hệ thống lớn hơn thực sự là thứ chín, vì năm Huyền Giai đã đi qua trước đó và được xem là những trừu tượng thuần túy.

130. Lives upon the cosmic physical plane are considered cosmically as concretions. Lives upon the cosmic astral plane and above are considered “pure abstractions”. They exist, of course, but humanity can know nothing about them, except the few things shared by the Tibetan in some of this texts and tables.

130. Các Sự Sống trên cõi hồng trần vũ trụ được xem, theo nghĩa vũ trụ, là những sự kết tụ cụ thể. Các Sự Sống trên cõi cảm dục vũ trụ và cao hơn được xem là “những trừu tượng thuần túy”. Dĩ nhiên các vị ấy hiện hữu, nhưng nhân loại không thể biết gì về các vị ấy, ngoại trừ một vài điều được Chân sư Tây Tạng chia sẻ trong một số bản văn và bảng biểu này.

131. The numbers of the Creative Hierarchies reveal their nature. The relation of the Fourth Creative Hierarchy to the developments in the next solar system (under the number nine) is important to consider.

131. Các con số của các Huyền Giai Sáng Tạo tiết lộ bản chất của chúng. Mối liên hệ của Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư với những phát triển trong hệ mặt trời kế tiếp (dưới con số chín) là điều quan trọng cần xem xét.

132. The role of man in completing the program begun in the previous solar system is also significant.

132. Vai trò của con người trong việc hoàn tất chương trình đã khởi đầu trong hệ mặt trời trước cũng rất có ý nghĩa.

In this system concretion concerns us, and the blending of form and of energy into one coherent whole.

Trong hệ này, sự kết tụ cụ thể là điều liên quan đến chúng ta, và là sự hòa trộn hình tướng với năng lượng thành một toàn thể cố kết.

133. By “concretion” we mean the lives of the seven manifested Creative Hierarchies.

133. Bởi “sự kết tụ cụ thể”, chúng ta muốn nói đến các sự sống của bảy Huyền Giai Sáng Tạo biểu hiện.

134. Energy, in this case, is probably to be considered as spiritual energy. Form already exists but must, in this solar system, be blended with spiritual energy.

134. Trong trường hợp này, năng lượng có lẽ phải được xem là năng lượng tinh thần. Hình tướng đã hiện hữu nhưng trong hệ mặt trời này phải được hòa trộn với năng lượng tinh thần.

135. The task is to blend the forms which are the legacy of the previous solar system with the energy patterns of the present solar system.

135. Nhiệm vụ là hòa trộn những hình tướng là di sản của hệ mặt trời trước với các mô hình năng lượng của hệ mặt trời hiện tại.

In the ninth, tenth and eleventh Hierarchies lie the clue to the nature of Agni, the Lord of fire, the sumtotal of systemic vitality.

Trong các Huyền Giai thứ chín, thứ mười và thứ mười một có manh mối về bản chất của Agni, Chúa Tể của lửa, tổngthể của sinh lực hệ thống.

136. Here DK is numbering the Hierarchies in such as way as to include those Creative Hierarchy which are “pure abstractions”.

136. Ở đây Chân sư DK đang đánh số các Huyền Giai theo cách bao gồm cả những Huyền Giai Sáng Tạo là “những trừu tượng thuần túy”.

137. The numbering found in this enumeration appears to begin with the highest of the liberated Creative Hierarchies and work its way down.

137. Cách đánh số trong phép liệt kê này dường như bắt đầu từ Huyền Giai Sáng Tạo được giải thoát cao nhất rồi đi dần xuống dưới.

138. The ninth, tenth and eleventh Creative Hierarchy’s are really the Hierarchies of Human Monads (the ninth), of Agnishvattas (the tenth) and of the Lunar Lords (the eleventh).

138. Các Huyền Giai Sáng Tạo thứ chín, thứ mười và thứ mười một thực ra là các Huyền Giai của các chân thần nhân loại (thứ chín), của các Agnishvatta (thứ mười) và của các nguyệt tinh quân (thứ mười một).

139. (Parenthetically, we are led to consider whether the tenth Creative Hierarchy can really contain the I nature of the Solar Angels or whether but a part of themselves is invested in it).

139. (Nói ngoài lề, chúng ta được dẫn đến chỗ xem xét liệu Huyền Giai Sáng Tạo thứ mười có thực sự có thể chứa đựng bản chất Tôi của các Thái dương Thiên Thần hay chỉ có một phần của chính các Ngài được đầu tư vào đó).

140. Again we are told that Agni is related to “systemic vitality”—i.e., the solar logoic vitality as expressed on the cosmic etheric planes.

140. Một lần nữa chúng ta được cho biết rằng Agni có liên hệ với “sinh lực hệ thống”—tức sinh lực thái dương logoic như được biểu lộ trên các cõi dĩ thái vũ trụ.

141. Agni is certainly an extra-systemic Being, but is reflected on and through the cosmic physical plane in three ways:

141. Agni chắc chắn là một Hữu thể ngoài hệ thống, nhưng được phản chiếu trên và xuyên qua cõi hồng trần vũ trụ theo ba cách:

a. As electric fire through the Ninth Creative Hierarchy (though we must not forget Agni’s presence as electric fire on the systemic logoic plane)

a. Như Lửa Điện qua Huyền Giai Sáng Tạo thứ Chín (dù chúng ta không được quên sự hiện diện của Agni như Lửa Điện trên cõi logoic của hệ)

b. As solar fire through the Tenth Creative Hierarchy (though we must not forget Agni’s presence as solar fire on the systemic monadic, atmic and buddhic planes)

b. Như Lửa Thái dương qua Huyền Giai Sáng Tạo thứ Mười (dù chúng ta không được quên sự hiện diện của Agni như Lửa Thái dương trên các cõi chân thần, atma và Bồ đề của hệ)

c. As fire by friction through the Eleventh Creative Hierarchy. (Does Agni’s presence as fire by friction begin, from the logoic perspective, as high as the systemic higher mental plane?) This has to be carefully examined:

c. Như Lửa ma sát qua Huyền Giai Sáng Tạo thứ Mười Một. (Phải chăng sự hiện diện của Agni như Lửa ma sát, theo quan điểm logoic, bắt đầu cao đến mức cõi thượng trí của hệ?) Điều này phải được khảo sát cẩn thận:

I would point out that the Lord Agni shows forth His fiery life on the atomic subplane of each plane; He shows forth as solar fire on the second, third and fourth, and as ‘fire by friction’ on the fifth, sixth and seventh. From the point of view of the microcosm, the Spark in the Flame, man demonstrates as electric fire on the second plane, or the second cosmic ether; as solar fire on the third, fourth and the three higher subplanes of the fifth plane, and as fire by friction on the lower subplanes of the fifth, on the sixth, and seventh planes. (TCF 521-522)

Tôi muốn chỉ ra rằng Chúa Tể Agni biểu lộ sự sống rực lửa của Ngài trên cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi; Ngài biểu lộ như lửa thái dương trên cõi phụ thứ hai, thứ ba và thứ tư, và như ‘Lửa ma sát’ trên cõi phụ thứ năm, thứ sáu và thứ bảy. Theo quan điểm của tiểu thiên địa, Tia Lửa trong Ngọn Lửa, con người biểu lộ như Lửa Điện trên cõi thứ hai, hay dĩ thái vũ trụ thứ hai; như Lửa Thái dương trên cõi thứ ba, thứ tư và ba cõi phụ cao hơn của cõi thứ năm; và như Lửa ma sát trên các cõi phụ thấp của cõi thứ năm, trên cõi thứ sáu và thứ bảy. (TCF 521-522)

142. What can be said of systemic sub-planes can also be said of the cosmic physical plane as a whole, and Agni will show forth as systemic electric fire on the logoic systemic plane; as systemic solar fire on the second, third and fourth systemic planes; and as fire by friction on the fifth, sixth and seventh systemic planes.

142. Điều có thể được nói về các cõi phụ của hệ cũng có thể được nói về toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ, và Agni sẽ biểu lộ như Lửa Điện của hệ trên cõi logoic của hệ; như Lửa Thái dương của hệ trên các cõi thứ hai, thứ ba và thứ tư của hệ; và như Lửa ma sát trên các cõi thứ năm, thứ sáu và thứ bảy của hệ.

143. The systemic higher mental plane is an ambiguous area. As Agni represents the Solar Logos and as the Solar Logos expresses in a principled manner no lower than the buddhic plane, we will probably have to include the systemic higher mental plane within the field of Agni’s fire by friction expression.

143. Cõi thượng trí của hệ là một khu vực mơ hồ. Vì Agni tượng trưng cho Thái dương Thượng đế và vì Thái dương Thượng đế biểu lộ một cách nguyên khí không thấp hơn cõi Bồ đề, nên có lẽ chúng ta sẽ phải bao gồm cõi thượng trí của hệ trong phạm vi biểu hiện Lửa ma sát của Agni.nguyên khí  

144. Returning to the numbering, if we add the numbers nine, ten and eleven together we get thirty—the number of years which existed between the Birth and Baptism in the life of Jesus.

144. Trở lại với cách đánh số, nếu chúng ta cộng các số chín, mười và mười một lại, chúng ta được ba mươi—số năm đã tồn tại giữa Sự Giáng Sinh và Phép Rửa Tội trong cuộc đời của Đức Jesus.

145. Lord Agni is triple, and represents the three aspects of divinity. The three Creative Hierarchies listed represent these three aspects—but of course, they are not the only representatives.

145. Chúa Tể Agni là tam phân, và tượng trưng cho ba phương diện của thiên tính. Ba Huyền Giai Sáng Tạo được liệt kê tượng trưng cho ba phương diện này—nhưng dĩ nhiên, chúng không phải là những đại diện duy nhất.

146. All the Creative Hierarchies are Monads, but the three here listed represent, for man, the expression of his Monad, soul and personality.

146. Tất cả các Huyền Giai Sáng Tạo đều là các chân thần, nhưng ba Huyền Giai được liệt kê ở đây tượng trưng, đối với con người, cho biểu hiện của chân thần, linh hồn và phàm ngã của y.

He who understands the significance of these figures, and their relation to each other as the triple division of a Unity in time and space will have discovered [Page 606] one of the keys which will unlock a door hitherto fast closed.

Y nào thấu hiểu thâm nghĩa của những con số này, và mối liên hệ của chúng với nhau như là sự phân chia tam phân của một Hợp Nhất trong thời gian và không gian sẽ khám phá ra [Page 606] một trong những chiếc chìa khóa sẽ mở một cánh cửa từ trước đến nay vẫn đóng chặt.

147. Master DK is hinting at one of the secrets of initiation.

147. Chân sư DK đang gợi ý về một trong những bí mật của điểm đạo.

148. These figures contain the mystery of the relationship of the three periodical vehicles.

148. Những con số này chứa đựng huyền nhiệm về mối liên hệ của ba vận cụ chu kỳ.

149. The three periodical vehicles are really a ‘three-in-one’. They appear to be three but, really, they are all the Monad and its expressions.

149. Ba vận cụ chu kỳ thực ra là một ‘ba-trong-một’. Chúng dường như là ba, nhưng thực ra tất cả đều là chân thần và các biểu hiện của chân thần.

150. The Mystery of the Trinity is contained therein, for the 30 is a 3.

150. Huyền Nhiệm của Ba Ngôi được chứa đựng trong đó, vì 30 là một 3.

151. The illusion of time and space creates the illusion of division.

151. Ảo tưởng về thời gian và không gian tạo ra ảo tưởng về sự phân chia.

152. The method of bridging between the cosmic etheric planes of the Solar Logos (or the Realm of Agni’s present cosmic physical plane focus as vitality) and the dense levels of the cosmic physical plane is expressed in this triple relationship.

152. Phương pháp bắt cầu giữa các cõi dĩ thái vũ trụ của Thái dương Thượng đế (hay Cõi của tiêu điểm hiện tại trên cõi hồng trần vũ trụ của Agni như là sinh lực) và các cấp độ đậm đặc của cõi hồng trần vũ trụ được biểu lộ trong mối liên hệ tam phân này.

They are the numbers of achievement, of potentiality brought into full activity and of innate capacity demonstrating in perfect fruition.

Chúng là những con số của thành tựu, của tiềm năng được đưa vào hoạt động trọn vẹn, và của năng lực bẩm sinh biểu lộ trong sự viên mãn hoàn hảo.

153. Spirit (under the number nine) must manifest fully on the outer levels. Spirit is potentiality. The potential is expressed in “full activity” through the third aspect represented by the Lunar Lords (the number eleven). The “perfect fruition” suggests the gift of fulness nurtured by the Fifth Creative Hierarchy under the number ten.

153. Tinh thần (dưới con số chín) phải biểu hiện trọn vẹn trên các cấp độ bên ngoài. Tinh thần là tiềm năng. Tiềm năng ấy được biểu lộ trong “hoạt động trọn vẹn” qua phương diện thứ ba được tượng trưng bởi các nguyệt tinh quân (con số mười một). “Sự viên mãn hoàn hảo” gợi ý món quà của sự sung mãn được nuôi dưỡng bởi Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm dưới con số mười.

154. Within our second solar system, the correct interrelation between these Creative Hierarchies taken together, represent a significant achievement for our Solar Logos. It is upon this achievement that the Solar Logos (in relation to our planet, particularly, and at this time) seems to be focussed.

154. Trong hệ mặt trời thứ hai của chúng ta, sự tương liên đúng đắn giữa các Huyền Giai Sáng Tạo này khi được xét cùng nhau tượng trưng cho một thành tựu quan trọng đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta. Chính vào thành tựu này mà Thái dương Thượng đế (đặc biệt trong liên hệ với hành tinh của chúng ta, và vào lúc này) dường như đang tập trung.

All potentiality lies in the vitalising, energising power of Agni, and in His ability to stimulate.

Mọi tiềm năng đều nằm trong quyền năng tiếp sinh lực, tiếp năng lượng của Agni, và trong khả năng kích thích của Ngài.

155. What can Agni do?

155. Agni có thể làm gì?

a. He can vitalize

a. Ngài có thể tiếp sinh lực

b. He can stimulate

b. Ngài có thể kích thích

c. He can energize

c. Ngài có thể tiếp năng lượng

156. These do sound like etheric functions.

156. Quả thật những điều này nghe như các chức năng dĩ thái.

157. Although Agni is much more than solar logoic etheric energy, it would seem that His nature is particularly visible through that medium—the medium of the cosmic etheric plane.

157. Dù Agni còn hơn nhiều so với năng lượng dĩ thái thái dương logoic, dường như bản chất của Ngài đặc biệt hữu hình qua môi trường đó—môi trường của cõi dĩ thái vũ trụ.

158. When thinking of the vitalizing power of Agni, we should also consider how the Holy Spirit vitalizes those it touches.

158. Khi suy nghĩ về quyền năng tiếp sinh lực của Agni, chúng ta cũng nên xem xét cách Chúa Thánh Thần tiếp sinh lực cho những ai được Ngài chạm đến.

He is life itself, and the driving force of evolution, of psychic development and of consciousness.

Ngài chính là sự sống, và là động lực của tiến hoá, của sự phát triển thông linh và của tâm thức.

159. Let us tabulate for complete clarity:

159. Hãy lập bảng cho thật rõ ràng đầy đủ:

a. Agni is life itself

a. Agni chính là sự sống

b. Agni is the driving force of evolution

b. Agni là động lực của tiến hoá

c. Agni is the driving force of psychic development

c. Agni là động lực của sự phát triển thông linh

d. Agni is the driving force of consciousness

d. Agni là động lực của tâm thức

160. We can sense the Tibetan trying in many ways to convey to our minds a well-rounded view of Agni. We can also sense that it is not easy, given our present state of ignorance.

160. Chúng ta có thể cảm nhận Chân sư Tây Tạng đang cố gắng bằng nhiều cách để truyền đạt vào trí tuệ chúng ta một cái nhìn toàn diện về Agni. Chúng ta cũng có thể cảm nhận rằng điều đó không dễ, xét đến tình trạng vô minh hiện nay của chúng ta.

161. DK is speaking here somewhat of the development of man and, in general, of development upon the cosmic physical plane. Upon the cosmic physical plane Agni is “life itself” and upon the cosmic physical plane, Agni represents the “driving force of evolution of psychic development and of consciousness.”

161. Ở đây Chân sư DK phần nào đang nói về sự phát triển của con người và, nói chung, về sự phát triển trên cõi hồng trần vũ trụ. Trên cõi hồng trần vũ trụ Agni là “chính sự sống” và trên cõi hồng trần vũ trụ, Agni tượng trưng cho “động lực của tiến hoá, của sự phát triển thông linh và của tâm thức.”

162. All of these impelling factors come from the etheric levels of the cosmic physical plane; on the cosmic physical plane, Agni expresses especially through its etheric planes—cosmic etheric planes.

162. Tất cả những yếu tố thúc đẩy này đều đến từ các cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần vũ trụ; trên cõi hồng trần vũ trụ, Agni biểu lộ đặc biệt qua các cõi dĩ thái của nó—các cõi dĩ thái vũ trụ.

This fact is hidden in these figures, and not the evolution of substance, which is but a result, emanating from psychic causes.

Sự kiện này được ẩn giấu trong những con số này, chứ không phải sự tiến hoá của chất liệu, vốn chỉ là một kết quả, phát xuất từ những nguyên nhân thông linh.

163. The true human soul is the liberated Ego on triadal level and, hence, within the four cosmic ethers. This suggests that man’s true psyche is to be found on cosmic etheric levels.

163. Linh hồn nhân loại đích thực là chân ngã được giải thoát ở cấp Tam nguyên tinh thần và do đó ở trong bốn dĩ thái vũ trụ. Điều này gợi ý rằng tâm linh đích thực của con người phải được tìm thấy trên các cấp độ dĩ thái vũ trụ.

164. The occultism here is profound and we will not penetrate it at this time.

164. Huyền bí học ở đây thật sâu xa và hiện nay chúng ta sẽ không thâm nhập vào đó.

165. Some factors which should be considered as we attempt to penetrate it are:

165. Một số yếu tố cần được xem xét khi chúng ta cố gắng thâm nhập vào đó là:

a. Nine as the number of initiation. Nine is also the preeminently cyclic number indicating completion and the imminence of commencement.

a. Chín là con số của điểm đạo. Chín cũng là con số chu kỳ nổi bật nhất, chỉ sự hoàn tất và tính cận kề của một khởi đầu.

b. Ten as the number of perfection and as always indicating a superior three and a subordinate seven. It is peculiarly a number related to “man”—whether cosmic, systemic planetary or human. Cyclically, ten indicates both the beginning and the end. We can see this if we view the relationship of the number ten to, for instance, the number of chains in a scheme at different times of scheme development.

b. Mười là con số của sự toàn hảo và luôn luôn chỉ ra một bộ ba cao hơn và một bộ bảy thấp hơn. Đây là một con số đặc biệt liên hệ với “con người”—dù là vũ trụ, hệ thống, hành tinh hay nhân loại. Theo chu kỳ, mười chỉ cả sự bắt đầu lẫn sự kết thúc. Chúng ta có thể thấy điều này nếu xem mối liên hệ của số mười với, chẳng hạn, số lượng các chuỗi trong một hệ hành tinh ở những thời kỳ khác nhau của sự phát triển hệ hành tinh.

c. Eleven is the number of the initiate. It suggests as well, duality, which must be overcome in the ten. It is a number indicating lunar fluctuation (for Kabbalistically, two is the number of the Moon). It also suggests how the separate members of a duality can become the unified, interplaying dualities of which Gemini is the symbol.

c. Mười một là con số của điểm đạo đồ. Nó cũng gợi ý nhị nguyên tính, điều phải được vượt qua trong số mười. Đây là con số chỉ sự dao động thái âm (vì theo Kabbalah, hai là con số của Mặt Trăng). Nó cũng gợi ý cách các thành phần riêng biệt của một nhị nguyên tính có thể trở thành những nhị nguyên thống nhất, tương tác lẫn nhau mà Song Tử là biểu tượng.

166. Essentially we are dealing with the resolution of duality (eleven) into unity (ten/one) through the process of initiation (nine).

166. Về bản chất, chúng ta đang bàn đến sự phân giải nhị nguyên tính (mười một) thành hợp nhất (mười/một) thông qua tiến trình điểm đạo (chín).

These three numbers are the basis of the cyclic calculations which concern the egoic cycles, and the cycles of Vishnu, as distinguished from the cycles dealing with the third aspect.

Ba con số này là nền tảng của các tính toán chu kỳ liên quan đến các chu kỳ chân ngã, và các chu kỳ của Vishnu, được phân biệt với các chu kỳ liên quan đến phương diện thứ ba.

167. A science available only to initiates is hinted..

167. Một khoa học chỉ dành cho các điểm đạo đồ mới được ám chỉ đến..

168. Human Monads have their cycles of ones and threes. Souls have their cycles of sevens and threes. And personalities have their cycles of fours and sevens.

168. Các Chân thần nhân loại có các chu kỳ của số một và số ba. Các linh hồn có các chu kỳ của số bảy và số ba. Và các phàm ngã có các chu kỳ của số bốn và số bảy.

169. It would seem that “egoic cycles” are related to the second ray and occur within the “cycles of Vishnu”—the expression of the second ray.

169. Dường như “các chu kỳ chân ngã” có liên hệ với cung hai và diễn ra bên trong “các chu kỳ của Vishnu”—biểu hiện của cung hai.

170. We are speaking of cycles which are involved in the development of consciousness and not so much the development of form, per se (the third aspect). It is the Vishnu aspect which sees to the development of consciousness and when it builds form, does so for the advancement of consciousness.

170. Chúng ta đang nói về các chu kỳ có liên quan đến sự phát triển của tâm thức chứ không quá nhiều đến sự phát triển của chính hình tướng (phương diện thứ ba). Chính phương diện Vishnu đảm trách sự phát triển của tâm thức, và khi nó kiến tạo hình tướng, nó làm như vậy vì sự thăng tiến của tâm thức.

171. The sum of thirty suggest the juncture at which the Christ Spirit took over the direction of the life of the initiate Jesus bringing about a total transformation in accordance with the Great Second Ray.

171. Tổng số ba mươi gợi ra điểm giao tiếp tại đó Tinh thần Christ tiếp quản việc chỉ đạo đời sống của điểm đạo đồ Jesus, đem lại một sự chuyển đổi toàn diện phù hợp với Đại Cung Hai.

Occult students have not sufficiently grasped the fact that objectivity is an inevitable result of an inner conscious subjective life.  When this is better apprehended, bodies on the physical plane, for instance, will be purified, developed and beautified through a scientific attention paid to the development of the psyche, to the unfoldment of the Ego, and to the stimulation of the egoic vibration.

Các đạo sinh huyền bí học chưa nắm bắt đầy đủ sự kiện rằng tính khách quan là kết quả tất yếu của một đời sống chủquan nội tại có ý thức.  Khi điều này được lĩnh hội tốt hơn, chẳng hạn các thể trên cõi hồng trần sẽ được thanh luyện, phát triển và làm cho đẹp đẽ thông qua sự chú ý có tính khoa học dành cho sự pháttriển của tâm thể, cho sự khai mở của Chân ngã, và cho sự kích thích rung động chân ngã.

172. We are asked to have a greater appreciation of subjectivity.

172. Chúng ta được yêu cầu có sự trân trọng lớn hơn đối với tính chủ quan.

173. We remember that true subjectivity begins with the buddhic plane. Access to the buddhic plane brings about purification through solar fire, and beautification of the vehicles.

173. Chúng ta nhớ rằng tính chủ quan đích thực bắt đầu từ cõi Bồ đề. Việc tiếp cận cõi Bồ đề mang lại sự thanh luyện thông qua Lửa Thái dương, và sự làm đẹp các vận cụ.

174. We are to attend scientifically to the following:

174. Chúng ta phải chú ý một cách khoa học đến những điều sau đây:

a. The development of the psyche

a. Sự phát triển của tâm thể

b. The unfoldment of the Ego

b. Sự khai mở của Chân ngã

c. The stimulation of egoic vibration

c. Sự kích thích rung động chân ngã

175. According to our studies, these developments occur largely under the influence of the “Law of Magnetic Control” directed from the buddhic plane.

175. Theo các nghiên cứu của chúng ta, những sự phát triển này phần lớn xảy ra dưới ảnh hưởng của “Định luật Kiểm Soát Từ Tính” được hướng dẫn từ cõi Bồ đề.

176. From a practical perspective, the improvement of our quality will lead to an improvement of the forms and matter through which our quality expresses.

176. Từ góc độ thực tiễn, sự cải thiện phẩm tính của chúng ta sẽ dẫn đến sự cải thiện các hình tướng và vật chất mà qua đó phẩm tính của chúng ta biểu lộ.

The cause will be dealt with and not the effect, and hence the growing appreciation by the human family of the study of psychology,

Nguyên nhân sẽ được xử lý chứ không phải kết quả, và do đó có sự trân trọng ngày càng tăng của gia đình nhân loại đối với việc nghiên cứu tâm lý học,

177. Psychology is essentially a buddhic discipline. Interestingly the Master in the Hierarchy particularly associated with the development of psychology is a fourth ray Master and the buddhic plane is the fourth plane.

177. Tâm lý học về bản chất là một bộ môn Bồ đề. Điều thú vị là Chân sư trong Thánh Đoàn đặc biệt gắn liền với sự phát triển của tâm lý học là một Chân sư cung bốn và cõi Bồ đề là cõi thứ bốn.

even though as yet they are but studying the kama-manasic body, and have not reached back to the egoic consciousness.

mặc dù cho đến nay họ mới chỉ nghiên cứu thể trí cảm, và chưa vươn ngược trở lại đến tâm thức chân ngã.

178. Modern psychology but studies the reflection of the Ego which appears on the lower mental and astral planes. Since most human beings are focussed in kama-manas, psychology (if it is to be of assistance to the majority) must focus in the dual kama-manasic vehicle.

178. Tâm lý học hiện đại chỉ nghiên cứu sự phản chiếu của Chân ngã xuất hiện trên cõi hạ trí và cõi cảm dục. Vì phần lớn nhân loại tập trung trong kama-manas, tâm lý học (nếu muốn trợ giúp cho đa số) phải tập trung vào vận cụ trí-cảm kép.

179. As more human beings begin to realize the nature of the soul, the province of psychological inquiry will shift upwards.

179. Khi ngày càng nhiều con người bắt đầu chứng nghiệm bản chất của linh hồn, phạm vi khảo cứu tâm lý học sẽ chuyển lên cao hơn.

180. Modern students of esotericism can do something to advance a truer form of psychology by working within the realm of soul consciousness and applying themselves to the laws of that level—i.e., the Laws of the Soul.

180. Các môn sinh huyền bí học hiện đại có thể làm điều gì đó để thúc đẩy một hình thức tâm lý học chân thực hơn bằng cách hoạt động trong lĩnh vực tâm thức linh hồn và chuyên tâm vào các định luật của cấp độ đó—tức là, các Định luật của Linh hồn.

The lunar Lords have had their day; now Agni, as the solar Lord of life and energy, will assume due importance in human life.

Các nguyệt tinh quân đã có thời của mình; nay Agni, với tư cách là nhật tinh quân của sự sống và năng lượng, sẽ đảm nhận tầm quan trọng thích đáng trong đời sống nhân loại.

181. While Agni may be considered a ‘God of Personality” from the solar logoic standpoint, He is still a representative of solar fire.

181. Mặc dù Agni có thể được xem là một “Thượng đế của Phàm ngã” theo quan điểm thái dương thượng đế, Ngài vẫn là một đại diện của Lửa Thái dương.

182. He is the Fohatic aspect of the Solar Logos, nevertheless carrying the solar vibration which is far above the vibration to which the lunar lords normally respond.

182. Ngài là phương diện Fohat của Thái dương Thượng đế, tuy vậy vẫn mang rung động thái dương cao vượt xa rung động mà các nguyệt tinh quân thường đáp ứng.

183. Agni may vitalize the dense physical body of the Logos, but His major focus is not there. His major focus is a cosmic etheric focus which, for us as human beings, is the realm of “life and energy”.

183. Agni có thể tiếp sinh lực cho thể xác đậm đặc của Thượng đế, nhưng trọng tâm chính của Ngài không ở đó. Trọng tâm chính của Ngài là một tiêu điểm dĩ thái vũ trụ, mà đối với chúng ta là những con người, đó là lĩnh vực của “sự sống và năng lượng”.

c. Agni and the Three Fires.

c. Agni và Ba Ngọn Lửa.

In studying the manifestation of Agni in the solar system it should be remembered that we are considering here His essential nature as actuating fire.

Khi nghiên cứu sự biểu hiện của Agni trong hệ mặt trời, cần nhớ rằng ở đây chúng ta đang xem xét bản chất cốt yếu của Ngài như lửa tác động.

184. What is “actuating fire”? Shall we call it the fire especially related to the activity aspect? Can we call it the ‘fire that makes action and manifestation possible’?

184. “Lửa tác động” là gì? Chúng ta có nên gọi đó là ngọn lửa đặc biệt liên hệ với phương diện hoạt động không? Chúng ta có thể gọi đó là “ngọn lửa làm cho hành động và biểu hiện trở nên khả hữu” không?

185. The personality is particularly related to the third or activity aspect, and Agni is, we are told, the Personality of the Solar Logos.

185. Phàm ngã đặc biệt liên hệ với phương diện thứ ba hay phương diện hoạt động, và như đã được cho biết, Agni là Phàm ngã của Thái dương Thượng đế.

We have seen that He is the threefold logoic personality, but He is the threefold Logos in a subjective sense, and the form aspect is only subsidiary.

Chúng ta đã thấy rằng Ngài là phàm ngã thượng đế tam phân, nhưng Ngài là Thượng đế tam phân theo nghĩa chủ quan, còn phương diện hình tướng chỉ là thứ yếu.

186. We have been examining the protean nature of Agni. The hint is here offered that He is more than the logoic Personality, but is subjectively the “threefold Logos”. We shall be looking for the explanation of this statement.

186. Chúng ta đã khảo sát bản chất biến hóa đa dạng của Agni. Ở đây có một gợi ý rằng Ngài còn hơn cả Phàm ngã thượng đế, mà về mặt chủ quan là “Thượng đế tam phân”. Chúng ta sẽ tìm kiếm lời giải thích cho phát biểu này.

187. The statement seems to direct human thinking towards that part of Agni’s expression which conveys the solar logoic presence in consciousness. As we contact and polarize within the cosmic ethers, the subjective presence of the threefold Logos is conveyed to us. This is not possible when our consciousness is entirely captivated within the three lower worlds of time and space. In fact, true subjectivity is not possible for the human being, until there is a focus on the buddhic plane—the first plane in which the life of the Solar Logos is present in a principled manner.

187. Phát biểu này dường như hướng tư tưởng con người đến phần biểu hiện của Agni vốn chuyển tải sự hiện diện của thái dương thượng đế trong tâm thức. Khi chúng ta tiếp xúc và phân cực trong các cõi dĩ thái vũ trụ, sự hiện diện chủ quan của Thượng đế tam phân được chuyển tải đến chúng ta. Điều này không thể xảy ra khi tâm thức của chúng ta hoàn toàn bị giam giữ trong ba cõi thấp của thời gian và không gian. Thật vậy, tính chủ quan đích thực không thể có đối với con người cho đến khi có một tiêu điểm trên cõi Bồ đề—cõi đầu tiên trong đó sự sống của Thái dương Thượng đế hiện diện theo một cách nguyên khí.

Perhaps a tabulation may make this point clearer.

Có lẽ một bảng tóm lược sẽ làm điểm này rõ hơn.

[Page 607]

[Page 607]

188. We note that it is the activity aspect which is pronounced in the following tabulation.

188. Chúng ta lưu ý rằng chính phương diện hoạt động được nhấn mạnh trong bảng tóm lược sau đây.

TABULATION V

BẢNG TÓM LƯỢC V

AGNI—LORD OF FIRE

AGNI—CHÚA TỂ CỦA LỬA

189. We are presented with the three aspects of Agni, Lord of Fire.

189. Ba phương diện của Agni, Chúa Tể của Lửa, được trình bày cho chúng ta.

Aspect

Fire

Result

Subjective

Manifestation

Origin

of Energy

Objective

Manifestation

First, Will

Electric Fire

Activity of Spirit

190.  This is occurring principally on the cosmic physical plane, and especially through the cosmic etheric planes.

The One Life.

Unity.

Spiritual.

Dynamic.

Coherence.

Synthesis.

191.  We are speaking of a subjective manifestation on the logoic and monadic systemic planes.

Central Spiritual Sun

192.  From the logoic standpoint the home of the Central Spiritual Sun is on the cosmic monadic plane. We are speaking of the Monad of the Solar Logos.

The solar system (etheric and dense)

Second, Love-Wisdom

Solar Fire

Activity of Consciousness.

Egoism.

Vitality.

Magnetism.

193.  It is important to see how the activity of consciousness manifests. It forms the egoic body and provides vitality and magnetism to the consciousness aspect within man.

The seven

Heavenly Men.

The seven Rays.

The seven types of Mind.

194.  These are always associated with the second ray. If the Grand Heavenly Man is connected with the first aspect, relatively speaking, then the Planetary Logoi are associated with the second aspect.

The Heart of the Sun

195.  We continue to speak of the expression of Lord Agni on the cosmic physical plane. The Heart of the Sun is on the higher cosmic mental plane but has fields of expression on the cosmic physical plane.

The seven Rays

manifesting

through the seven planetary schemes

196.  Compared with the seven planes, the seven rays express the second aspect of divinity.

Third, Activity

Fire by Friction

Activity in Matter.

Atomic vitality.

Energy.

197.  This is other than the vitality of the consciousness aspect. It is the energy to move rather than the energy which makes knowing possible.

The seven fires.

The akasha.

198.  We are dealing with the akasha considered as a synonym for matter. We are not dealing only with the akasha considered as the sounding matter of the second systemic plane—the monadic.

The physical Sun

199.  The “physical Sun” is considered in this context the third aspect or the Sun.

The seven planes

200.  These represent the third aspect of divinity just as the rays represent the second.

201. Our objective in the foregoing is not to trace the nature of Agni to planes higher than the cosmic physical plane, but to understand how the three subjective aspects of Agni (“actuating fire”, the fire of activity) demonstrate on different levels of the cosmic physical plane).

201. Mục tiêu của chúng ta trong phần trên không phải là truy nguyên bản chất của Agni đến các cõi cao hơn cõi hồng trần vũ trụ, mà là hiểu cách ba phương diện chủ quan của Agni (“lửa tác động”, ngọn lửa của hoạt động) biểu hiện trên các cấp độ khác nhau của cõi hồng trần vũ trụ).

202. We have traced the source of Agni to the Solar Logos and realize that Agni is under the direction of the logoic Egoic nature, but the only expression of Agni which we can comprehend in the faintest way occurs on the cosmic physical plane.

202. Chúng ta đã truy nguyên nguồn gốc của Agni đến Thái dương Thượng đế và nhận ra rằng Agni ở dưới sự chỉ đạo của bản chất chân ngã thượng đế, nhưng biểu hiện duy nhất của Agni mà chúng ta có thể hiểu dù chỉ mơ hồ nhất là biểu hiện xảy ra trên cõi hồng trần vũ trụ.

203. We also note that we are especially concerned with how Agni manifests on the etheric part of the cosmic physical plane, and not so much about its functioning within the physical body of the Solar Logos.

203. Chúng ta cũng lưu ý rằng điều chúng ta đặc biệt quan tâm là cách Agni biểu hiện trên phần dĩ thái của cõi hồng trần vũ trụ, chứ không quá nhiều về sự vận hành của nó trong thể xác của Thái dương Thượng đế.

[Page 608]

[Page 608]

Each of these three aspects of the One Fire, showing as the Creative Fire, Preserving Fire, and Destroying Fire, must be studied as electrical phenomena, and this under the aspects of light, flame, and heat, of electricity, radiance and motion, of will, desire and action.

Mỗi một trong ba phương diện này của Nhất Hỏa, biểu lộ thành Lửa Sáng Tạo, Lửa Bảo Tồn, và Lửa Hủy Diệt, phải được nghiên cứu như các hiện tượng điện, và điều này dưới các phương diện ánh sáng, ngọn lửa, và nhiệt; của điện, sự rạng ngời và chuyển động; của ý chí, dục vọng và hành động.

204. The entire cosmic physical plane is governed by and exemplifies electrical energy

204. Toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ được chi phối bởi và biểu hiện năng lượng điện

205. Agni is the One Fire, to be considered as Fohat. Upon the cosmic physical plane the One Fire manifests as

205. Agni là Nhất Hỏa, được xem như Fohat. Trên cõi hồng trần vũ trụ, Nhất Hỏa biểu hiện thành

a. The Creative Fire—third ray

a. Lửa Sáng Tạo—cung ba

b. The Preserving Fire—second ray

b. Lửa Bảo Tồn—cung hai

c. The Destroying Fire—first ray

c. Lửa Hủy Diệt—cung một

206. When we get into the technicalities of this study we will find ourselves considering the following “electrical phenomena”:

206. Khi đi vào các chi tiết kỹ thuật của nghiên cứu này, chúng ta sẽ thấy mình đang xem xét các “hiện tượng điện” sau đây:

a. Light

a. Ánh sáng

b. Flame

b. Ngọn lửa

c. Heat

c. Nhiệt

d. Electricity

d. Điện

e. Radiance

e. Sự rạng ngời

f. Motion

f. Chuyển động

g. Will

g. Ý chí

h. Desire

h. Dục vọng

i. Action

i. Hành động

207. Actually, we may have three triplicities here:

207. Thực ra, ở đây chúng ta có thể có ba bộ ba:

a. Light, Flame, Heat

a. Ánh sáng, Ngọn lửa, Nhiệt

b. Electricity, Radiance, Motion

b. Điện, Sự rạng ngời, Chuyển động

c. Will, Desire, Action

c. Ý chí, Dục vọng, Hành động

208. If we arrange the triplicities according to aspect, the following may emerge:

208. Nếu chúng ta sắp xếp các bộ ba theo phương diện, điều sau đây có thể xuất hiện:

First Aspect

Second Aspect

Third Aspect

Flame

Light

Heat

Electricity

Radiance

Motion

Will

Desire

Action

209. Only Light and Flame are out of the order presented and so a case could be made for their alternative positioning. It will be substantiated below, however, that Flame belongs to the first aspect and Light to the second.

209. Chỉ có Ánh sáng và Ngọn lửa là nằm ngoài trật tự đã trình bày, vì vậy có thể lập luận cho việc đặt chúng ở vị trí thay thế. Tuy nhiên, ở phần dưới sẽ được chứng minh rằng Ngọn lửa thuộc về phương diện thứ nhất và Ánh sáng thuộc về phương diện thứ hai.

Only thus will the true nature of Agni be apprehended.

Chỉ bằng cách ấy bản chất đích thực của Agni mới được lĩnh hội.

210. I think we are seeing that it is difficult to apprehend the true nature of Agni. There are so many ways to consider it.

210. Tôi nghĩ rằng chúng ta đang thấy việc lĩnh hội bản chất đích thực của Agni là điều khó khăn. Có quá nhiều cách để xem xét nó.

211. We can gather that Master Hilarion would be an expert (upon the cosmic physical plane, at least) in the understanding of Agni and its multifarious emanations. As least six of the seven properties of Agni listed above are to be studied within the realm of what we call “physics”, though it would have to be the physics of the seven systemic planes and not physics as presently conceived.

211. Chúng ta có thể suy ra rằng Chân sư Hilarion hẳn là một chuyên gia (ít nhất là trên cõi hồng trần vũ trụ) trong việc thấu hiểu Agni và các phát xạ đa tạp của Ngài. Ít nhất sáu trong bảy đặc tính của Agni được liệt kê ở trên phải được nghiên cứu trong lĩnh vực mà chúng ta gọi là “vật lý học”, mặc dù đó phải là vật lý học của bảy cõi hệ thống chứ không phải vật lý học như hiện nay được quan niệm.

As the logoic personality He is demonstrating through a triplicity of sheaths forming a unity,

Là phàm ngã thượng đế, Ngài đang biểu lộ qua một bộ ba các vỏ bọc tạo thành một hợp nhất,

212. These sheaths are composed of the matter of the eighteen lowest cosmic sub-planes. Each of these sub-planes is, in scope, equivalent to a systemic plane.

212. Các vỏ bọc này được cấu tạo từ vật chất của mười tám cõi phụ vũ trụ thấp nhất. Mỗi cõi phụ này, về phạm vi, tương đương với một cõi hệ thống.

213. The personality of the Solar Logos is considered a unity. He is not yet a cosmic Initiate of the third degree so we cannot yet say that His personality is completely integrated with His cosmic soul.

213. Phàm ngã của Thái dương Thượng đế được xem là một hợp nhất. Ngài chưa phải là một Điểm đạo đồ vũ trụ cấp ba nên chúng ta chưa thể nói rằng phàm ngã của Ngài đã hoàn toàn tích hợp với linh hồn vũ trụ của Ngài.

and only thus will it become apparent why at this stage in evolution the material aspect is the most considered.

và chỉ bằng cách ấy mới trở nên hiển nhiên vì sao ở giai đoạn tiến hoá này phương diện vật chất lại được quan tâm nhiều nhất.

214. The fact that the material aspect if most considered has to do with the stage of evolution of our Solar Logos.

214. Sự kiện phương diện vật chất được quan tâm nhiều nhất có liên quan đến giai đoạn tiến hoá của Thái dương Thượng đế của chúng ta.

215. Of course as a cosmic initiate of the second degree, Agni should also be manifesting quite completely and with reasonable success through the Solar Logos’ astral body on the cosmic astral plane, but of this dimension of his personality expression we can presently know nothing.

215. Dĩ nhiên, với tư cách một điểm đạo đồ vũ trụ cấp hai, Agni cũng phải đang biểu hiện khá hoàn chỉnh và với thành công hợp lý qua thể cảm dục của Thái dương Thượng đế trên cõi cảm dục vũ trụ, nhưng về chiều kích này của biểu hiện phàm ngã của Ngài, hiện nay chúng ta không thể biết gì cả.

216. Just as is the case with man, the etheric-physical vehicle of the Solar Logos is the most developed and the consciousness of His personality is most focussed there.

216. Cũng như trường hợp của con người, vận cụ dĩ thái-hồng trần của Thái dương Thượng đế là phát triển nhất và tâm thức của phàm ngã Ngài tập trung nhiều nhất ở đó.

217. When does a human being remove his focus from his etheric physical nature? Perhaps he does not do so until the fourth initiation, but on the way to that high degree, awareness of his astral and mental natures (on their own planes) increases. We can imagine this would be the case for the Solar Logos.

217. Khi nào một con người rút tiêu điểm của mình ra khỏi bản chất dĩ thái hồng trần? Có lẽ y không làm như vậy cho đến lần điểm đạo thứ tư, nhưng trên đường tiến đến cấp độ cao đó, nhận thức của y về bản chất cảm dục và trí tuệ của mình (trên các cõi riêng của chúng) gia tăng. Chúng ta có thể hình dung rằng điều này cũng đúng đối với Thái dương Thượng đế.

218. When, we might ask, will the Solar Logos develop cosmic ‘continuity of consciousness’? Human initiates of the second degree do not have, as a rule, complete continuity of consciousness. Will a Solar Logos Who has attained the second degree have complete ‘cosmic continuity of consciousness’? When will the burning of the cosmic etheric webs occur? On the human scale, such continuity of consciousness occurs more frequently when the third degree is approached and taken.

218. Khi nào, chúng ta có thể hỏi, Thái dương Thượng đế sẽ phát triển “tính liên tục của tâm thức” vũ trụ? Các điểm đạo đồ nhân loại cấp hai, theo quy luật, không có tính liên tục hoàn toàn của tâm thức. Liệu một Thái dương Thượng đế đã đạt cấp hai có tính “liên tục của tâm thức” vũ trụ hoàn toàn hay không? Khi nào sự đốt cháy các màng lưới dĩ thái vũ trụ sẽ xảy ra? Trên quy mô con người, tính liên tục của tâm thức như thế xảy ra thường xuyên hơn khi cấp ba được tiếp cận và được đạt đến.

The entire system is the physical sheath of the Logos and consequently the most easily cognised,

Toàn bộ hệ thống là vỏ bọc hồng trần của Thượng đế và do đó là điều dễ nhận biết nhất,

219. We are speaking of the solar system which includes the cosmic dense subplanes and the cosmic etheric planes.

219. Chúng ta đang nói về hệ mặt trời bao gồm các cõi phụ đậm đặc vũ trụ và các cõi dĩ thái vũ trụ.

for the Logos is as yet centred in His cosmic sheaths and can only reveal Himself through their medium.

vì Thượng đế hiện vẫn còn tập trung trong các vỏ bọc vũ trụ của Ngài và chỉ có thể tự mặc khải qua trung gian của chúng.

220. Is an initiate of the second degree centered in his physical etheric body? The answer must be, “Yes” unless He has achieved continuity of consciousness by burning through the etheric webs.

220. Một điểm đạo đồ của lần điểm đạo thứ hai có tập trung trong thể dĩ thái thể xác của y không? Câu trả lời phải là, “Có”, trừ khi y đã đạt được sự liên tục của tâm thức bằng cách đốt xuyên qua các màng dĩ thái.

221. We may have to consider that our Solar Logos has not yet achieved continuity of consciousness within respect to the cosmic astral plane.

221. Có lẽ chúng ta phải xét đến khả năng rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta chưa đạt được tính liên tục của tâm thức đối với cõi cảm dục vũ trụ.

222. We do learn here, however, that the Logos is centered in His cosmic sheaths. What shall we consider as His cosmic sheaths? Perhaps His cosmic mental, astral, and etheric sheaths?

222. Tuy nhiên, ở đây chúng ta học được rằng Thượng đế tập trung trong các vỏ bọc vũ trụ của Ngài. Chúng ta nên xem những gì là các vỏ bọc vũ trụ của Ngài? Có lẽ là các vỏ bọc trí tuệ vũ trụ, cảm dục vũ trụ và dĩ thái vũ trụ của Ngài?

Man’s just apprehension of this mystery of electricity will only come about as he studies himself, and knows himself to be a triple fire, manifesting in many aspects.

Sự lĩnh hội đúng đắn của con người về huyền nhiệm điện này sẽ chỉ đến khi y nghiên cứu chính mình, và biết mình là một ngọn lửa tam phân, biểu hiện trong nhiều phương diện.

223. The Mystery of Electricity is profound. DK is recommending the study of the microcosm (i.e., the study of oneself in order more easily to understand electricity from the macrocosmic perspective).

223. Huyền nhiệm Điện thật sâu xa. Chân sư DK đang khuyến nghị việc nghiên cứu tiểu thiên địa (tức là nghiên cứu chính mình để nhờ đó dễ hiểu điện hơn từ quan điểm đại thiên địa).

224. Man, too, is a triple fire, and there are many principles and vehicles through which this triple fire manifests.

224. Con người cũng là một ngọn lửa tam phân, và có nhiều nguyên khí cùng vận cụ mà qua đó ngọn lửa tam phân này biểu hiện.

225. Man’s triple fire is electrical in nature.

225. Ngọn lửa tam phân của con người có bản chất điện.

MAN, A FIRE

CON NGƯỜI, MỘT NGỌN LỬA

Monadic fire

Electric fire

Spirit Will

The Central Spiritual Sun.

Egoic fire

Solar fire

Consciousness

Love-Wisdom

The Heart of the Sun.

Personality fire

Fire by friction

Physical man

Physical Sun.

226. We are familiar with the ideas here presented. Perhaps the entries in the first column are not so often seen:

226. Chúng ta quen thuộc với các ý tưởng được trình bày ở đây. Có lẽ các mục trong cột thứ nhất không thường được thấy đến thế:

a. Monadic fire

a. Lửa chân thần

b. Egoic fire

b. Lửa chân ngã

c. Personality fire

c. Lửa phàm ngã

227. These three are closely identified with three types of fire we commonly consider:

227. Ba loại này được đồng nhất chặt chẽ với ba loại lửa mà chúng ta thường xét đến:

a. Monadic fire with Electric fire

a. Lửa chân thần với Lửa Điện

b. Egoic fire with Solar fire

b. Lửa chân ngã với Lửa Thái dương

c. Personality fire with Fire by friction.

c. Lửa phàm ngã với Lửa ma sát.

228. When we think of the Physical Sun, what aspects of physicality are we discussing? The etheric nature of the Sun is also, from the cosmic perspective, physical.

228. Khi chúng ta nghĩ đến Mặt Trời Hồng trần, chúng ta đang bàn đến những phương diện nào của tính hồng trần? Bản chất dĩ thái của Mặt Trời cũng, từ quan điểm vũ trụ, là hồng trần.

229. Yet, the strictly physical sun may be understood as confined to the systemic etheric-physical plane.

229. Tuy nhiên, mặt trời hồng trần theo nghĩa chặt chẽ có thể được hiểu là bị giới hạn trong cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống.

230. We note that spiritual will pertains directly to the monadic level and also, in other references, to the atmic level.

230. Chúng ta lưu ý rằng ý chí tinh thần trực tiếp thuộc về cấp độ chân thần và cũng, trong những tham chiếu khác, thuộc về cấp độ atma.

Each of these fires can also be studied in a threefold manner and under three aspects.

Mỗi ngọn lửa này cũng có thể được nghiên cứu theo cách tam phân và dưới ba phương diện.

THE MONAD

CHÂN THẦN

Will aspect

Electric fire

Flame

Spiritual Will.

Love-wisdom

Solar fire

Light

Spiritual Love.

Active Intelligence

Fire by friction

Heat

Spiritual Intelligence.

231. It is evident that assigning “Flame” to the first aspect was correct. “Flames” per se, can be easily associated with the third aspect, but “Flame” (the noumenon of the flames) pertains to the first aspect.

231. Rõ ràng việc gán “Ngọn lửa” cho phương diện thứ nhất là đúng. “Các ngọn lửa”, chính chúng, có thể dễ dàng được liên kết với phương diện thứ ba, nhưng “Ngọn lửa” (bản thể của các ngọn lửa) lại thuộc về phương diện thứ nhất.

232. If we seek to assign Flame, Light and Heat to systemic planes, we will find that Flame accords with the logoic plane, Light with the monadic and Heat with the atmic plane.

232. Nếu chúng ta tìm cách gán Ngọn lửa, Ánh sáng và Nhiệt cho các cõi hệ thống, chúng ta sẽ thấy rằng Ngọn lửa tương ứng với cõi thượng đế, Ánh sáng với cõi chân thần và Nhiệt với cõi atma.

233. The three potencies of the Monad are here given. With the threefold Monad are contained:

233. Ba tiềm năng của Chân thần được nêu ra ở đây. Trong Chân thần tam phân có chứa:

a. Spiritual Will

a. Ý chí Tinh thần

b. Spiritual Love

b. Tình thương Tinh thần

c. Spiritual Intelligence

c. Trí tuệ Tinh thần

234. These are usually called, “Will”, “Wisdom” and “Activity”. They are directly reflected into the spiritual triad such that—

234. Những điều này thường được gọi là “Ý chí”, “Minh triết” và “Hoạt động”. Chúng được phản chiếu trực tiếp vào Tam Nguyên Tinh Thần đến mức—

a. Atma demonstrates Spiritual Will

a. Atma biểu lộ Ý chí Tinh thần

b. Buddhi demonstrates Spiritual Love

b. Buddhi biểu lộ Tình thương Tinh thần

c. Manas demonstrates Spiritual Intelligence.

c. Manas biểu lộ Trí tuệ Tinh thần.

[Page 609]

[Page 609]

THE EGO

CHÂN NGÃ

Will

Atma

Electric fire

The spark

The Jewel in the Lotus

Conscious Will.

Love- Wisdom

Buddhi Solar fire:

The rays

The twelve- petalled lotus.

Conscious Love.

Active Intelligence

Manas

Fire by friction

Substance. The perma nent atoms.

Conscious Activity.

235. The structure of the “Ego” is particularly interesting and of particular importance to the student.

235. Cấu trúc của “Chân ngã” đặc biệt thú vị và đặc biệt quan trọng đối với đạo sinh.

236. The “Ego” is divided into two forms of expression:

236. “Chân ngã” được chia thành hai hình thức biểu hiện:

a. The Ego as it expresses through the spiritual triad

a. Chân ngã khi biểu hiện qua Tam Nguyên Tinh Thần

b. The Ego as it expresses through the causal body and, thus, ‘shrouded’

b. Chân ngã khi biểu hiện qua thể nguyên nhân và do đó được “che phủ”

237. The “spark” of electric fire is anchored in the “Jewel in the Lotus”.

237. “Tia lửa” của Lửa Điện được neo trong “Ngọc trong Hoa Sen”.

238. The rays are always associated with the second aspect and express particularly through the “twelve petalled lotus”—the three tiers of petals usually referenced (the petals of knowledge, of love and of sacrifice) and, then, the synthesis tier.

238. Các cung luôn luôn gắn liền với phương diện thứ hai và biểu hiện đặc biệt qua “hoa sen mười hai cánh”—ba tầng cánh hoa thường được nhắc đến (các cánh hoa tri thức, bác ái và hi sinh) và rồi đến tầng tổng hợp.

239. When dealing with the Ego we see the term “Conscious” used repeatedly. The Ego pertains to the consciousness aspect.

239. Khi bàn về Chân ngã, chúng ta thấy thuật ngữ “Có ý thức” được dùng lặp đi lặp lại. Chân ngã thuộc về phương diện tâm thức.

240. When considering the Ego as the spiritual triad, the expression might be as follows:

240. Khi xem xét Chân ngã như Tam Nguyên Tinh Thần, cách biểu hiện có thể như sau:

a. Atma—Conscious Spiritual Will

a. Atma—Có ý thức Ý chí Tinh thần

b. Buddhi—Conscious Spiritual Love

b. Buddhi—Có ý thức Tình thương Tinh thần

c. Manas—Conscious Spiritual Intelligence

c. Manas—Hữu thức Trí Tuệ Tinh thần

241. Even though all the three tiers of petals express one of the aspects of divinity, in genera, they express buddhi or solar fire. It is the permanent atoms which express fire by friction and the “Jewel in the Lotus” which expresses electric fire.

241. Mặc dù cả ba tầng cánh hoa đều biểu lộ một trong các phương diện của thiên tính, nhưng nói chung, chúng biểu lộ Bồ đề hay Lửa Thái dương. Chính các nguyên tử trường tồn biểu lộ Lửa ma sát và “Viên Ngọc trong Hoa Sen” biểu lộ Lửa Điện.

242. Often we have tried to discriminate the solar fire of buddhi from the solar fire of the higher mental plane. We might say that buddhi is a more essential form of solar fire, more directly related to the Heart of the Sun than the energy and structures of the higher mental plane.

242. Chúng ta thường cố gắng phân biện Lửa Thái dương của Bồ đề với Lửa Thái dương của Cõi thượng trí. Chúng ta có thể nói rằng Bồ đề là một hình thức cốt yếu hơn của Lửa Thái dương, liên hệ trực tiếp hơn với Trái Tim của Mặt Trời so với năng lượng và các cấu trúc của cõi thượng trí.

243. The term “substance” as used here indicates the substance of the lower eighteen sub-planes. Actually, the term can be applied to all matter of the forty nine systemic sub-planes. The lowest three sub-planes should not literally be called “substance” for they are that which substance substands.

243. Thuật ngữ “chất liệu” như được dùng ở đây chỉ chất liệu của mười tám cõi phụ thấp. Thực ra, thuật ngữ này có thể được áp dụng cho toàn bộ vật chất của bốn mươi chín cõi phụ hệ thống. Ba cõi phụ thấp nhất không nên được gọi theo nghĩa đen là “chất liệu”, vì chúng là cái mà chất liệu tựa trên đó.

THE PERSONALITY

PHÀM NGÃ

Will

Mental body

Electric fire

Lower mind

Thought

Love

Astral body

Solar fire

Kama

Desire

Activity

Physical body

Fire by friction

Prana

Activity

244. Each of the three aspects manifests through each periodical vehicle.

244. Mỗi một trong ba phương diện biểu lộ qua mỗi vận cụ chu kỳ.

245. It is significant that the mental body is, in a way, an outpost of the Monad and should eventually express electric fire. The mental body is, we are told, responsive to the monadic ray. The lower mental body will also become an expression of spiritual will and atma.

245. Điều có thâm nghĩa là thể trí, theo một cách nào đó, là một tiền đồn của chân thần và rốt cuộc phải biểu lộ Lửa Điện. Như chúng ta được cho biết, thể trí đáp ứng với cung chân thần. Thể trí thấp cũng sẽ trở thành một biểu lộ của ý chí tinh thần và atma.

246. The astral body is an outpost of the Ego and should eventually express solar fire. The astral body is, we are told, responsive to the egoic ray. If buddhi is solar fire, then the astral body should eventually express buddhi—an idea with which we are quite familiar and which begins to occur noticeably at the second initiation.

246. Thể cảm dục là một tiền đồn của chân ngã và rốt cuộc phải biểu lộ Lửa Thái dương. Như chúng ta được cho biết, thể cảm dục đáp ứng với cung chân ngã. Nếu Bồ đề là Lửa Thái dương, thì thể cảm dục rốt cuộc phải biểu lộ Bồ đề—một ý tưởng mà chúng ta khá quen thuộc và bắt đầu xuất hiện rõ rệt ở lần điểm đạo thứ hai.

247. The physical body is closely connected with the principle of prana. The dense physical body is energized by prana and its vitalization by prana is intended for great increase during the Age of Aquarius. The physical body is said to be especially responsive to the ray of the personality.

247. Thể xác liên hệ chặt chẽ với nguyên khí prana. Thể xác đậm đặc được prana tiếp năng lượng, và việc nó được prana tiếp sinh lực được dự định sẽ gia tăng mạnh trong Kỷ Nguyên Bảo Bình. Thể xác được nói là đặc biệt đáp ứng với cung phàm ngã.

I seek to emphasise here the fact that in this threefold manifestation there is a ninefold unfoldment.

Ở đây tôi tìm cách nhấn mạnh sự kiện rằng trong biểu lộ tam phân này có một sự khai mở cửu phân.

248. If we are alert, we will remember the Tibetan’s discussion of a ninefold choice of rays for the “Ego” (TCF 177)

248. Nếu tỉnh táo, chúng ta sẽ nhớ đến phần bàn luận của Chân sư Tây Tạng về một sự lựa chọn cung cửu phân cho “chân ngã” (TCF 177)

249. We have three periodical vehicles (the “threefold manifestation”) and the expression of each one of them is threefold. Thus the ninefold unfoldment.

249. Chúng ta có ba vận cụ chu kỳ (“biểu lộ tam phân”), và sự biểu lộ của mỗi vận cụ trong chúng đều là tam phân. Do đó có sự khai mở cửu phân.

It should ever be borne in mind that seven is the number which governs the evolution of substance and of form building in the solar system, but that nine is the number governing the development of the consciousness within that form of the psyche.

Cần luôn ghi nhớ rằng bảy là con số chi phối sự tiến hoá của chất liệu và của việc kiến tạo hình tướng trong hệ mặt trời, nhưng chín là con số chi phối sự phát triển của tâm thức bên trong hình tướng đó của psyche.

250. The seven and nine together are the sixteen which represent the sixteen potencies of the Ego.

250. Bảy và chín hợp lại thành mười sáu, tượng trưng cho mười sáu tiềm năng của chân ngã.

251. If the seven is viewed as two triplicities and a unity and if the unity is expanded into a triplicity, the seven becomes a nine.

251. Nếu bảy được nhìn như hai bộ ba và một đơn nhất, và nếu đơn nhất ấy được khai triển thành một bộ ba, thì bảy trở thành chín.

252. The development of consciousness within the form occurs through the process of initiation. There are nine such developmental unfoldments or initiations.

252. Sự phát triển của tâm thức bên trong hình tướng diễn ra qua tiến trình điểm đạo. Có chín sự khai mở phát triển như thế, hay chín lần điểm đạo.

This is seen in the sevenfold display of logoic life through the planetary scheme, and the ninefold nature of egoic unfoldment.

Điều này được thấy trong sự biểu hiện thất phân của sự sống logoi qua hệ hành tinh, và bản chất cửu phân của sự khai mở chân ngã.

253. The major chakras (the “display of logoic life”) are usually numbered as seven.

253. Các luân xa chính (“sự biểu hiện của sự sống logoi”) thường được đếm là bảy.

254. The egoic lotus demonstrates through nine principal petals in three tiers.

254. Hoa Sen Chân Ngã biểu lộ qua chín cánh hoa chính trong ba tầng.

255. The “display of logoic life” is, in this context, considered ‘formal’.

255. “Sự biểu hiện của sự sống logoi”, trong ngữ cảnh này, được xem là thuộc về ‘hình tướng’.

256. The egoic unfoldment is considered as relating to the consciousness aspect.

256. Sự khai mở chân ngã được xem là liên hệ đến phương diện tâm thức.

If the student here substitutes for the words, Monad, Ego and personality, the three aspects of the Logos, and will bear in mind that as yet all that he can ascertain or cognise is the lowest of the logoic manifestations—the personality—it will be apparent why so much must remain mysterious to even the higher grades of initiates,

Nếu ở đây đạo sinh thay thế các từ chân thần, chân ngã và phàm ngã bằng ba phương diện của Thượng đế, và ghi nhớ rằng cho đến nay tất cả những gì y có thể xác định hay nhận biết chỉ là phương diện thấp nhất trong các biểu lộ logoi—phàm ngã—thì sẽ rõ vì sao quá nhiều điều vẫn phải còn huyền nhiệm ngay cả đối với các cấp điểm đạo đồ cao hơn,

257. We have been presented with the threefold expression of Monad, Ego and personality. If we substitute the Cosmic Monad, the Cosmic Ego and the Cosmic Persona, we may learn much about the cosmic process within which the Solar Logos is expressing.

257. Chúng ta đã được trình bày về biểu lộ tam phân của chân thần, chân ngã và phàm ngã. Nếu thay vào đó là Chân thần Vũ trụ, Chân ngã Vũ trụ và Phàm ngã Vũ trụ, chúng ta có thể học được nhiều điều về tiến trình vũ trụ trong đó Thái dương Thượng đế đang biểu lộ.

258. We should pause to ponder the higher correspondences to the terms with which are familiar:

258. Chúng ta nên dừng lại để suy ngẫm về các tương ứng cao hơn của những thuật ngữ quen thuộc với chúng ta:

a. Cosmic Monadic Fire, Cosmic Egoic Fire, Cosmic Personality Fire

a. Lửa Chân thần Vũ trụ, Lửa Chân ngã Vũ trụ, Lửa Phàm ngã Vũ trụ

b. Cosmic Spiritual Will, Cosmic Spiritual Love, Cosmic Spiritual Intelligence

b. Ý Chí Tinh thần Vũ trụ, Bác ái Tinh thần Vũ trụ, Trí Tuệ Tinh thần Vũ trụ

c. Cosmic Conscious Will, Cosmic Conscious Love, Cosmic Intelligence

c. Ý Chí Hữu thức Vũ trụ, Bác ái Hữu thức Vũ trụ, Trí Tuệ Vũ trụ

d. Etc. The term “cosmic” can be placed before the entries in the tabulations, and the expansive implications pondered.

d. Vân vân. Thuật ngữ “vũ trụ” có thể được đặt trước các mục trong bảng liệt kê, và các hàm ý mở rộng của chúng có thể được suy ngẫm.

259. We must question whether the entirety of the lowest three aspects of the Logos can be cognized. Certainly not by man!

259. Chúng ta phải tự hỏi liệu toàn bộ ba phương diện thấp nhất của Thượng đế có thể được nhận biết hay không. Chắc chắn là không đối với con người!

260. The Buddha and the Christ have gained some small degree of cognizance of the aspects of the logoic Personality which lie above the cosmic etheric planes—the Christ, receiving a stream of influence from the cosmic astral plane; the Buddha receiving a “touch” of the cosmic mental plane.

260. Đức Phật và Đức Christ đã đạt được một mức độ nhận biết nhỏ nào đó về các phương diện của phàm ngã logoi nằm trên các cõi dĩ thái vũ trụ—Đức Christ tiếp nhận một dòng ảnh hưởng từ cõi cảm dục vũ trụ; Đức Phật tiếp nhận một “tiếp xúc” từ cõi trí vũ trụ.

and why even the perfected Dhyan Chohan cannot penetrate the secrets of the Logos outside His system.89  

và vì sao ngay cả một Dhyan Chohan hoàn thiện cũng không thể xuyên thấu các bí mật của Thượng đế bên ngoài hệ của Ngài.89

261. What will be mean here by a “perfected Dhyan Chohan”? Perhaps an initiate of the seventh degree?

261. Ở đây “một Dhyan Chohan hoàn thiện” có nghĩa là gì? Có lẽ là một điểm đạo đồ cấp bảy chăng?

262. This means that even the higher aspects of Agni (the logoic Personality) cannot be penetrated by “perfected Dhyan Chohans”.

262. Điều này có nghĩa là ngay cả các phương diện cao hơn của Agni (phàm ngã logoi) cũng không thể bị xuyên thấu bởi các “Dhyan Chohan hoàn thiện”.

263. Note that the term “secrets” is used. For a “perfected Dhyan Chohan” there may be contact with streams of energy, for instance, from the cosmic astral plane, but the “secrets” of the Logos upon the cosmic astral plane represent a form of energy/knowledge far more remote than simple contact.

263. Lưu ý rằng thuật ngữ “bí mật” được dùng. Đối với một “Dhyan Chohan hoàn thiện”, có thể có sự tiếp xúc với các dòng năng lượng, chẳng hạn từ cõi cảm dục vũ trụ, nhưng các “bí mật” của Thượng đế trên cõi cảm dục vũ trụ tượng trưng cho một dạng năng lượng/tri thức xa vời hơn rất nhiều so với sự tiếp xúc đơn thuần.

They [Page 610] can cognise much concerning Agni, the Lord of Fire, but until They can contact that of which He is an emanation, a reflection or a ray, there is a limit to what may be known.

Các Ngài [Page 610] có thể nhận biết nhiều điều liên quan đến Agni, Chúa Tể của Lửa, nhưng cho đến khi Các Ngài có thể tiếp xúc với cái mà Ngài là một phát xạ, một phản chiếu hay một tia của nó, thì vẫn có một giới hạn đối với điều có thể được biết.

264. We have to wonder what is meant by “much concerning Agni”. The term “system” generally means the seven systemic planes. Are we saying that these high Initiates can cognize that which is ‘above’ the solar system or that they cannot?

264. Chúng ta phải tự hỏi “nhiều điều liên quan đến Agni” có nghĩa là gì. Thuật ngữ “hệ” nói chung có nghĩa là bảy cõi hệ thống. Có phải chúng ta đang nói rằng các Điểm đạo đồ cao này có thể nhận biết cái ở ‘trên’ hệ mặt trời hay là không thể?

265. That of which Agni is an emanation, reflection or ray is the Logos on planes above the lower levels of cosmic mental plane.

265. Cái mà Agni là một phát xạ, phản chiếu hay tia của nó là Thượng đế trên các cõi cao hơn những cấp thấp của cõi trí vũ trụ.

266. Are we saying that until these Initiates can contact that, that the higher aspects of the Logoic Personality will lie beyond Their ken, and that only the aspects of Agni expressing on the cosmic physical plane will be accessible to Them? Or, that they cannot, for instance, penetrate the secrets of the cosmic astral plane or cosmic mental plane until they can contact and respond to the logoic Ego on the cosmic higher mental plane?

266. Có phải chúng ta đang nói rằng cho đến khi các Điểm đạo đồ này có thể tiếp xúc với cái đó, thì các phương diện cao hơn của phàm ngã logoi sẽ nằm ngoài tầm hiểu biết của Các Ngài, và chỉ những phương diện của Agni biểu lộ trên cõi hồng trần vũ trụ mới có thể tiếp cận đối với Các Ngài? Hay là, chẳng hạn, Các Ngài không thể xuyên thấu các bí mật của cõi cảm dục vũ trụ hay cõi trí vũ trụ cho đến khi Các Ngài có thể tiếp xúc và đáp ứng với chân ngã logoi trên cõi thượng trí vũ trụ?

267. In general, we can say that Agni is an emanation, reflection or ray of that which comes from the Heart of the Sun, the Logoic Ego on the higher cosmic mental plane.

267. Nói chung, chúng ta có thể nói rằng Agni là một phát xạ, phản chiếu hay tia của cái phát ra từ Trái Tim của Mặt Trời, chân ngã logoi trên cõi thượng trí vũ trụ.

268. It would appear that “perfected Dhyan Chohans” can know very much of Agni as He manifests upon the cosmic ethers, but relatively little of Him as He manifests on the cosmic astral and lower cosmic mental planes.

268. Có vẻ như các “Dhyan Chohan hoàn thiện” có thể biết rất nhiều về Agni khi Ngài biểu lộ trên các cõi dĩ thái vũ trụ, nhưng biết tương đối ít về Ngài khi Ngài biểu lộ trên cõi cảm dục vũ trụ và các cõi thấp của cõi trí vũ trụ.

269. From a practical perspective, we are speaking of the grandeur of Agni and His relative inaccessibility even to the relatively perfected lives focussed on the cosmic physical plane.

269. Từ góc độ thực tiễn, chúng ta đang nói về sự vĩ đại của Agni và tính tương đối khó tiếp cận của Ngài ngay cả đối với những sự sống tương đối hoàn thiện được tập trung trên cõi hồng trần vũ trụ.

FOOTNOTE 89:

CHÚ THÍCH 89:

H. P. B. in the Secret Doctrine refers to “…the solution of the riddle…before which even the highest Dhyan Chohan must bow in silence and ignorance—the Unspeakable Mystery of that which is called by the Vedantins, Parabrahman.”—S. D., I, 352.

H. P. B. trong Giáo Lý Bí Nhiệm nhắc đến “…lời giải của câu đố…trước đó ngay cả Dhyan Chohan cao nhất cũng phải cúi đầu trong im lặng và vô minh—Mầu Nhiệm Bất Khả Ngôn của cái mà các nhà Vedanta gọi là Parabrahman.”—S. D., I, 352.

270. We have been speaking of the perfected Dhyan Chohan’s inability to cognize the higher aspects of Agni and That which lies beyond Agni. Now we speak of “Parabrahman”.

270. Chúng ta đã nói về sự bất lực của Dhyan Chohan hoàn thiện trong việc nhận biết các phương diện cao hơn của Agni và Cái nằm vượt ngoài Agni. Giờ đây chúng ta nói đến “Parabrahman”.

271. It would seem that, in this presentation, “Parabrahman” has become a relative term, rather that a term representing the ABOLUTE.

271. Có vẻ như, trong cách trình bày này, “Parabrahman” đã trở thành một thuật ngữ tương đối, hơn là một thuật ngữ biểu thị TUYỆT ĐỐI THỂ.

272. It even seems that the term can be applied to the Solar Logos—i.e., to the unknown, monadic aspects of the Solar Logos, but the ABSOLUTE is far more than that—in fact, infinitely more.

272. Thậm chí có vẻ như thuật ngữ này có thể được áp dụng cho Thái dương Thượng đế—tức là cho các phương diện chân thần chưa được biết của Thái dương Thượng đế, nhưng TUYỆT ĐỐI THỂ còn hơn thế rất nhiều—thật ra là nhiều hơn vô hạn.

273. Of course, we cannot reach to the heights of the One Universe, therefore, for practical purposes, the higher reaches of the nature and consciousness of the Solar Logos are, to us, as is the ABSOLUTE—absolutely incognizable.

273. Dĩ nhiên, chúng ta không thể vươn tới các đỉnh cao của Vũ Trụ Duy Nhất; vì vậy, trên phương diện thực tiễn, những tầng cao hơn của bản chất và tâm thức của Thái dương Thượng đế đối với chúng ta cũng như TUYỆT ĐỐI THỂ—tuyệt đối không thể nhận biết.

Agni is Fohat, the threefold Energy (emanating from the logoic Ego) which produces the solar system, the physical vehicle of the Logos, and animates the atoms of substance.

Agni là Fohat, Năng Lượng tam phân (phát ra từ chân ngã logoi) tạo ra hệ mặt trời, vận cụ hồng trần của Thượng đế, và làm sinh động các nguyên tử của chất liệu.

274. Here is a completely clear statement:

274. Ở đây có một phát biểu hoàn toàn rõ ràng:

a. Agni is equivalent to Fohat

a. Agni tương đương với Fohat

b. Agni/Fohat is an emanation from the “logoic Ego” on the cosmic mental plane.

b. Agni/Fohat là một phát xạ từ “chân ngã logoi” trên cõi trí vũ trụ.

275. Agni/Fohat is a threefold energy just as the personality of the Solar Logos is threefold.

275. Agni/Fohat là một năng lượng tam phân cũng như phàm ngã của Thái dương Thượng đế là tam phân.

276. The solar system is definitely “the physical vehicle of the Logos”, and this includes the cosmic etheric planes.

276. Hệ mặt trời rõ ràng là “vận cụ hồng trần của Thượng đế”, và điều này bao gồm các cõi dĩ thái vũ trụ.

He is the basis of the evolutionary process,

Ngài là nền tảng của tiến trình tiến hoá,

277. We remember that the “Will-to-Evolve” is the third ray aspect of the Will. Agni is associated with the “actuating fire” of the third aspect. (cf. EA 605)

277. Chúng ta nhớ rằng “Ý Chí-tiến hoá” là phương diện cung ba của Ý Chí. Agni liên kết với “ngọn lửa thúc động” của phương diện thứ ba. (xem EA 605)

or the cause of the psychic unfoldment of the Logos,

hay là nguyên nhân của sự khai mở thông linh của Thượng đế,

278. This is a psychic unfoldment which occurs within the personality nature of the Solar Logos, on the lower eighteen cosmic sub-planes.

278. Đây là một sự khai mở thông linh diễn ra trong bản chất phàm ngã của Thái dương Thượng đế, trên mười tám cõi phụ vũ trụ thấp.

279. Psyche, per se, is found upon the higher mental plane, but psychic unfoldment and expression occurs within the personality.

279. Psyche, chính nó, được tìm thấy trên cõi thượng trí, nhưng sự khai mởbiểu lộ thông linh lại diễn ra trong phàm ngã.

280. There is, however, an expansion of psyche which can be said to occur on the higher mental plane (occurring as the scope of the causal body expands).

280. Tuy nhiên, có một sự mở rộng của psyche có thể được nói là diễn ra trên cõi thượng trí (xảy ra khi phạm vi của thể nguyên nhân mở rộng).

281. The psychic unfoldment of the human being begins with individualization. Maybe we can say the same of the Solar Logos.

281. Sự khai mở thông linh của con người bắt đầu bằng biệt ngã hóa. Có lẽ chúng ta cũng có thể nói như vậy về Thái dương Thượng đế.

and He is that vitality which ultimately brings about a divine synthesis in which the form approximates subjective demand, and after being consciously directed, and manipulated, is finally discarded. This is the goal for the Logos as it is for man; this marks the final liberation of a human being, of a Heavenly Man and of a solar Logos.

và Ngài là sinh lực rốt cuộc mang lại một tổng hợp thiêng liêng trong đó hình tướng tiệm cận với đòi hỏi chủ quan, và sau khi được điều khiển một cách hữu thức, và được vận dụng, cuối cùng bị loại bỏ. Đây là mục tiêu đối với Thượng đế cũng như đối với con người; điều này đánh dấu sự giải thoát cuối cùng của một con người, của một Đấng Thiên Nhân và của một Thái dương Thượng đế.

282. Let us tabulate again some of the things here said about Agni:

282. Chúng ta hãy lại lập bảng một số điều được nói ở đây về Agni:

a. Agni as threefold Fohat produces the solar system

a. Agni như Fohat tam phân tạo ra hệ mặt trời

b. Agni animates the atoms of substance

b. Agni làm sinh động các nguyên tử của chất liệu

c. Agni is the basis of the evolutionary process

c. Agni là nền tảng của tiến trình tiến hoá

d. Agni is the cause of the psychic unfoldment of the Logos

d. Agni là nguyên nhân của sự khai mở thông linh của Thượng đế

e. Agni is the vitality which ultimately brings about a divine synthesis.

e. Agni là sinh lực rốt cuộc mang lại một tổng hợp thiêng liêng.

f. Through the efforts of Agni, the form is brought to a condition in which it approximates subjective demand. To reach this point the form has been—

f. Qua những nỗ lực của Agni, hình tướng được đưa đến một trạng thái trong đó nó tiệm cận với đòi hỏi chủ quan. Để đạt đến điểm này, hình tướng đã được—

i. Consciously directed

i. Điều khiển một cách hữu thức

ii. Consciously manipulated

ii. Vận dụng một cách hữu thức

iii. Finally discarded.

iii. Cuối cùng bị loại bỏ.

283. From this perspective, Agni is a vital, synthesizing Life.

283. Từ góc nhìn này, Agni là một Sự sống tiếp sinh lực và tổng hợp.

284. Agni is directly involved in the achievement of the liberation of the Solar Logos.

284. Agni trực tiếp tham dự vào việc đạt tới sự giải thoát của Thái dương Thượng đế.

We could divide the process into three periods:

Chúng ta có thể chia tiến trình này thành ba giai đoạn:

First. The period wherein the fire of matter (the heat of mother) hides,

Thứ nhất. Giai đoạn trong đó lửa của vật chất (nhiệt của mẹ) ẩn giấu,

285. We remember the association of the “heat of the mother” with the sign Scorpio.

285. Chúng ta nhớ đến sự liên hệ của “nhiệt của mẹ” với dấu hiệu hoàng đạo Hổ Cáp.

nourishes and brings to birth the infant Ego.

nuôi dưỡng và sinh ra chân ngã sơ sinh.

286. This hiding, nourishing and bringing to birth of the “infant Ego” is also definitely a Virgoan process.

286. Sự che giấu, nuôi dưỡng và sinh ra “chân ngã sơ sinh” này cũng rõ ràng là một tiến trình của Xử Nữ.

287. The “infant Ego” is the individualized human being.

287. “Chân ngã sơ sinh” là con người đã được biệt ngã hóa.

288. We see that the term “Ego” can be applied to stages of human conscious—from the most veiled to stages to stages which involve conscious expression on the planes of the spiritual triad.

288. Chúng ta thấy rằng thuật ngữ “chân ngã” có thể được áp dụng cho các giai đoạn của tâm thức con người—từ những giai đoạn bị che phủ nhất cho đến những giai đoạn bao hàm sự biểu lộ hữu thức trên các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần.

289. Thus, when the term “Ego” is used, it does not always mean ‘Ego on its own plane’.

289. Vì vậy, khi thuật ngữ “chân ngã” được dùng, nó không phải lúc nào cũng có nghĩa là ‘chân ngã trên cõi riêng của nó’.

This is the period of purely personality life, when the third aspect dominates, and man is in the veil of illusion.

Đây là giai đoạn của đời sống thuần túy phàm ngã, khi phương diện thứ ba chi phối, và con người ở trong bức màn ảo tưởng.

290. We are speaking of a triple unfoldment undertaken under the directorship of the Cosmic God of Electricity—Agni/Fohat.

290. Chúng ta đang nói về một sự khai mở tam phân được thực hiện dưới sự chỉ đạo của Thượng đế Điện lực Vũ trụ—Agni/Fohat.

Second. The period wherein the Ego, or subjective life within the form, passes through certain stages of unfoldment, and comes to an ever fuller consciousness. This is the period of egoic development, and is produced by the gradual merging and blending of the two fires. It is the life of service and of the Path.

Thứ hai. Giai đoạn trong đó chân ngã, hay sự sống chủ quan bên trong hình tướng, đi qua một số giai đoạn khai mở nhất định, và đạt đến một tâm thức ngày càng đầy đủ hơn. Đây là giai đoạn phát triển chân ngã, và được tạo ra bởi sự hòa nhập và hòa trộn dần dần của hai ngọn lửa. Đó là đời sống phụng sự và của Con Đường.

291. From the time the fifth petal of the egoic lotus begins its unfoldment, the man or (great Man) can be consciously oriented to his higher Ego.

291. Từ lúc cánh hoa thứ năm của Hoa Sen Chân Ngã bắt đầu khai mở, con người hay (Đại Nhân) có thể được định hướng một cách hữu thức về chân ngã cao hơn của mình.

292. The two fires are solar fire and fire by friction. The period of “service and of the Path” is much shorter than the first stage of unfoldment (the stage of foundational establishment).

292. Hai ngọn lửa là Lửa Thái dương và Lửa ma sát. Giai đoạn “phụng sự và của Con Đường” ngắn hơn rất nhiều so với giai đoạn khai mở thứ nhất (giai đoạn thiết lập nền tảng).

Third. The period wherein the egoic consciousness itself is superseded by spiritual realisation, and the fire of Spirit blends with the other two.

Thứ ba. Giai đoạn trong đó chính tâm thức chân ngã bị vượt qua bởi sự chứng nghiệm tinh thần, và lửa của Tinh thần hòa nhập với hai ngọn lửa kia.

293. All the three stages we are discussing occur within the life demonstration of the great Cosmic Being we call “Agni”. Agni-Fohat-Brahma.

293. Cả ba giai đoạn mà chúng ta đang bàn đến đều diễn ra trong sự biểu hiện sự sống của Đại Hữu Thể Vũ trụ mà chúng ta gọi là “Agni”. Agni-Fohat-Brahma.

294. We note the direct connection of the terms “spiritual” and “Spirit”. The term “spiritual” is used loosely by many, but really concerns processes originating within the spiritual triad and, later, within the Monad.

294. Chúng ta lưu ý mối liên hệ trực tiếp giữa các thuật ngữ “tinh thần” và “Tinh thần”. Thuật ngữ “tinh thần” được nhiều người dùng một cách lỏng lẻo, nhưng thực ra liên quan đến các tiến trình phát sinh trong Tam Nguyên Tinh Thần và về sau trong chân thần.

At first the personality acts the part of mother, or of material aspect, to the germ of the inner life. Then [Page 611] the Ego manifests its life within the personal life, and produces a shining forth which “groweth ever more and more until the perfect day.”90 At that perfect day of revelation it is seen what man in essence is, and the Spirit within is revealed.

Thoạt đầu phàm ngã đóng vai người mẹ, hay phương diện vật chất, đối với mầm sống bên trong. Sau đó [Page 611] chân ngã biểu lộ sự sống của nó bên trong đời sống cá nhân, và tạo ra một sự chiếu rạng “càng lúc càng tăng mãi cho đến ngày toàn hảo.”90 Vào ngày toàn hảo của sự mặc khải ấy, người ta thấy con người trong bản chất cốt yếu là gì, và Tinh thần bên trong được mặc khải.

295. Here again a very useful summary paragraph.

295. Ở đây lại có một đoạn tóm lược rất hữu ích.

296. Students of the Tibetan’s words are most concerned with the second phase.

296. Các đạo sinh nghiên cứu lời dạy của Chân sư Tây Tạng quan tâm nhiều nhất đến giai đoạn thứ hai.

297. We can say that the “shining forth” is noticeable at the third initiation and the “perfect day” (relatively) occurs at the fifth degree.

297. Chúng ta có thể nói rằng “sự chiếu rạng” trở nên rõ rệt ở lần điểm đạo thứ ba và “ngày toàn hảo” (theo nghĩa tương đối) xảy ra ở cấp thứ năm.

298. The fifth initiation is called the “Revelation” and it is this we are discussing when mention is made of the “perfect day of revelation”.

298. Lần điểm đạo thứ năm được gọi là “Sự Mặc Khải” và chính điều này đang được chúng ta bàn đến khi có nhắc đến “ngày toàn hảo của sự mặc khải”.

299. At that time, man is seen for what he “in essence is, and the Spirit within is revealed”. In essence we are Spirit.

299. Vào lúc đó, con người được thấy đúng như điều y “trong bản chất cốt yếu là, và Tinh thần bên trong được mặc khải”. Trong bản chất cốt yếu, chúng ta là Tinh thần.

300. Even at the destruction of the causal body, and with the revelation of the “Jewel in the Lotus”, this is not yet the case.

300. Ngay cả khi thể nguyên nhân bị hủy diệt, và “Viên Ngọc trong Hoa Sen” được mặc khải, điều này vẫn chưa phải như vậy.

This can be studied from the Christian angle, and Paul was but voicing an occult truth when he enunciated the facts concerning the birth of the Christ within the heart, and the growth of the higher life at the expense of the lower.  

Điều này có thể được nghiên cứu từ góc độ Cơ Đốc giáo, và Paul chỉ đơn thuần phát biểu một chân lý huyền bí khi ông nêu ra các sự kiện liên quan đến sự giáng sinh của Đức Christ trong tim, và sự tăng trưởng của sự sống cao hơn bằng cái giá của sự sống thấp hơn.  

301. We cannot evade the implications. The higher life grows as the expense and sacrifice of the lower. This is the inevitable sacrifice of the “mother” aspect.

301. Chúng ta không thể né tránh các hàm ý ấy. Sự sống cao hơn tăng trưởng bằng cái giá và sự hi sinh của sự sống thấp hơn. Đây là sự hi sinh tất yếu của phương diện “người mẹ”.

302. The very strong connection of Paul with the buddhic aspect suggests a soul ray on the soft line (perhaps six transferring to two), even though the Essential Man as Monad is probably, for Him, on the hard line rays.

302. Mối liên hệ rất mạnh của Paul với phương diện Bồ đề gợi ý một cung linh hồn trên tuyến mềm (có lẽ cung sáu chuyển sang cung hai), dù Con Người Cốt Yếu với tư cách chân thần có lẽ, đối với Ông, thuộc các cung tuyến cứng.

Thus also can it be taught along occult, and not mystic, lines in the recognition (by science) of the vitalisation of the permanent atoms (the force centres of the sheaths or substance), of the unfoldment of the egoic lotus, and the awakening of its petals, and in the final revelation of the jewel in the lotus.

Vì vậy điều này cũng có thể được giảng dạy theo các đường lối huyền bí học, chứ không phải thần bí học, trong sự thừa nhận (bởi khoa học) việc tiếp sinh lực cho các nguyên tử trường tồn (các trung tâm lực của các thể vỏ hay chất liệu), sự khai mở của Hoa Sen Chân Ngã, và sự thức tỉnh của các cánh hoa của nó, và trong sự mặc khải cuối cùng của viên ngọc trong hoa sen.

303. DK is repeating the ABC’s of spiritual occultism. The mystic unfoldment is discussed in terms of consciousness. The occult unfoldment proceeds through the explanation of a number of scientific technicalities and always considers the structure and development of the form.

303. Chân sư DK đang lặp lại những điều ABC của huyền bí học tinh thần. Sự khai mở thần bí được bàn đến theo phương diện tâm thức. Sự khai mở huyền bí tiến hành qua việc giải thích một số chi tiết kỹ thuật khoa học và luôn xét đến cấu trúc cùng sự phát triển của hình tướng.

304. We note that the permanent atoms are also referred to as “force centers”—this being true of the chakric expression within the sheaths.

304. Chúng ta lưu ý rằng các nguyên tử trường tồn cũng được gọi là “các trung tâm lực”—điều này đúng đối với sự biểu lộ luân xa bên trong các thể vỏ.

305. Sheaths are substance.

305. Các thể vỏ là chất liệu.

All that can be said of man can be predicated of the Logos on an inconceivably greater scale.

Tất cả những gì có thể nói về con người đều có thể được khẳng định về Thượng đế trên một quy mô lớn hơn không thể tưởng tượng nổi.

306. We remember that eve the “perfected Dhyan Chohan” cannot conceive the nature of unfoldment of the Logos.

306. Chúng ta nhớ rằng ngay cả “Dhyan Chohan hoàn thiện” cũng không thể quan niệm được bản chất của sự khai mở của Thượng đế.

a. There are aspects of the logoic personality which are inaccessible to such a Chohan..

a. Có những phương diện của phàm ngã logoi mà một Chohan như thế không thể tiếp cận..

b. The logoic Ego is completely inaccessible to such a Chohan.

b. Chân ngã logoi hoàn toàn không thể tiếp cận đối với một Chohan như thế.

c. The logoic Monad is completely inaccessible to such a Chohan.

c. Chân thần logoi hoàn toàn không thể tiếp cận đối với một Chohan như thế.

As man discovers the laws of his own material sheaths—the laws of substance—he is ascertaining the nature of the fires of the outer man or Fohat, as he vitalises the logoic vehicle;

Khi con người khám phá các định luật của chính các thể vỏ vật chất của mình—các định luật của chất liệu—y đang xác định bản chất của các ngọn lửa của con người bên ngoài hay Fohat, khi y tiếp sinh lực cho vận cụ logoi;

307. Fohat is particularly concerned with the fires of the sheaths. Fohat (and His lesser emanated representatives) animate the outer man.

307. Fohat đặc biệt liên quan đến các ngọn lửa của các thể. Fohat (và các đại diện phát xạ thấp hơn của Ngài) làm sinh động con người bên ngoài.

308. This is true also of Agni. Although Agni’s present focus may be the cosmic etheric planes, He is, nonetheless, the Animator of the dense physical body of the Logos wherein are found man’s “own material sheaths”.

308. Điều này cũng đúng đối với Agni. Mặc dù tiêu điểm hiện nay của Agni có thể là các cõi dĩ thái vũ trụ, tuy nhiên, Ngài vẫn là Đấng Làm Sinh Động thể xác đậm đặc của Thượng đế, trong đó tìm thấy “các thể vật chất riêng” của con người.

the fires of his own sheaths are aspects of Agni as the fire of matter.

các ngọn lửa của chính các thể của y là những phương diện của Agni với tư cách là lửa của vật chất.

309. The term “Agni” is here being used interchangeably with Fohat.

309. Thuật ngữ “Agni” ở đây đang được dùng thay thế cho Fohat.

310. The fires of our ‘matter(s)’ are Agni. The fire of our soul is Agni. The fire of our Spirit is Agni.

310. Các ngọn lửa của “vật chất” của chúng ta là Agni. Lửa của linh hồn chúng ta là Agni. Lửa của tinh thần chúng ta là Agni.

311. We must never forget, however, the more subjective aspects of Agni/Fohat.

311. Tuy nhiên, chúng ta không bao giờ được quên các phương diện chủ quan hơn của Agni/Fohat.

312. We are studying Agni in triple demonstration in the life of man.

312. Chúng ta đang nghiên cứu Agni trong sự biểu lộ tam phân trong đời sống của con người.

As he ascertains the nature of consciousness, and the laws of psychical unfoldment he is studying the nature of the vitality of the subjective man, and the laws of conscious being, thus studying Agni as He manifests as Light and Cool Radiance, shining through the vehicle.

Khi y xác định bản chất của tâm thức, và các định luật của sự khai mở thông linh y đang nghiên cứu bản chất của quyền năng thiết yếu của con người chủ quan, và các định luật của hiện hữu hữu thức, nhờ đó nghiên cứu Agni như Ngài biểu lộ như Ánh Sáng và Quang Huy Mát Dịu, chiếu xuyên qua vận cụ.

313. Agni on the lower eighteen sub-planes of the cosmic physical plane has to do only with the outer fires, but cosmic Agni, embraces man’s personal, psychical, and monadic unfoldment.

313. Agni trên mười tám cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ chỉ liên quan đến các ngọn lửa bên ngoài, nhưng Agni vũ trụ bao hàm sự khai mở phàm ngã, thông linh và chân thần của con người.

314. The seven Laws of the Soul are laws of psychical unfoldment.

314. Bảy Định luật của Linh hồn là các định luật của sự khai mở thông linh.

315. The vitality of the subjective man is of a different nature than the external vitality connected with the outer sheaths.

315. Quyền năng thiết yếu của con người chủ quan có bản chất khác với sinh lực bên ngoài gắn với các thể bên ngoài.

316. Agni can manifest as heated fire by friction, but Agni (as a cosmic God) can also manifest as “Light and Cool Radiance” shining through the vehicle. This demonstration of Agni has much more to do with solar fire and the “clear cold light” of buddhi.

316. Agni có thể biểu lộ như lửa ma sát nóng, nhưng Agni (với tư cách một Thượng đế vũ trụ) cũng có thể biểu lộ như “Ánh Sáng và Quang Huy Mát Dịu” chiếu xuyên qua vận cụ. Sự biểu lộ này của Agni liên quan nhiều hơn đến Lửa Thái dương và “ánh sáng lạnh trong sáng” của Bồ đề.

317. We must grasp something of the scope of Agni/Fohat cosmically considered.

317. Chúng ta phải nắm được phần nào tầm mức của Agni/Fohat khi được xét về mặt vũ trụ.

Later (for the time is not yet) as he comes to comprehend the nature of his Monad, the spiritual or essential life which is developing consciousness by means of the sheaths, he will discover the nature of Agni as He shews forth as pure electricity.

Về sau (vì thời điểm ấy chưa đến), khi y bắt đầu hiểu được bản chất của Chân thần, sự sống tinh thần hay cốt yếu của mình, vốn đang phát triển tâm thức bằng các thể, y sẽ khám phá ra bản chất của Agni khi Ngài biểu lộ như điện lực thuần túy.

318. In our human unfoldment, the different aspects of Agni are being gradually discovered.

318. Trong sự khai mở nhân loại của chúng ta, các phương diện khác nhau của Agni đang dần dần được khám phá.

319. The Monad is developing consciousness on the lower planes through its appropriated sheaths, but it should not be ignored that the Monad also has consciousness on its own plane—”monadic awareness”.

319. Chân thần đang phát triển tâm thức trên các cõi thấp thông qua các thể mà nó chiếm dụng, nhưng không nên bỏ qua rằng Chân thần cũng có tâm thức trên chính cõi của nó—“nhận biết chân thần”.

320. We have discussed many and varied terms for Agni and for the triple fires through which He manifests.

320. Chúng ta đã bàn đến nhiều thuật ngữ đa dạng dành cho Agni và cho ba ngọn lửa mà qua đó Ngài biểu lộ.

321. Agni’s manifestation as “pure electricity” is His manifestation as the electric fire of the Monad. We remember, however, that this type of electric fire is but an aspect of a far greater Solar Fire expressive of the Heart of the Sun.

321. Sự biểu lộ của Agni như “điện lực thuần túy” là sự biểu lộ của Ngài như Lửa Điện của Chân thần. Tuy nhiên, chúng ta nhớ rằng loại Lửa Điện này chỉ là một phương diện của một Lửa Thái dương lớn lao hơn nhiều, biểu đạt Tâm của Mặt Trời.

Even though this is not yet possible, nevertheless the statement as to the lines of investigation which can be pursued, and the realisation of that which may eventually [Page 612] be achieved, may cause men’s minds to turn to the study of the real and of the true.

Dù điều này hiện chưa thể thực hiện được, tuy nhiên, lời phát biểu về các đường hướng khảo cứu có thể được theo đuổi, và sự chứng nghiệm về điều mà rốt cuộc có thể [Page 612] đạt được, có thể khiến trí tuệ con người hướng về việc nghiên cứu cái thực và cái chân.

322. Why does DK give us so much of that which we cannot possibly assimilate and apply at our present stage of evolution? Perhaps He knows that the presentation of the distant vista may inspire men to tread the Path thither!

322. Tại sao Chân sư DK lại cho chúng ta quá nhiều điều mà ở giai đoạn tiến hoá hiện nay chúng ta hoàn toàn không thể đồng hoá và áp dụng? Có lẽ Ngài biết rằng việc trình bày viễn cảnh xa xôi có thể truyền cảm hứng cho con người bước đi trên Con Đường hướng đến đó!

323. Let us ask ourselves; when we learn of the great possibilities which lie before the individual, the race, the planet and the solar system, are we inspired? And if so, why?”

323. Chúng ta hãy tự hỏi mình; khi biết đến những khả năng lớn lao đang ở phía trước cá nhân, nhân loại, hành tinh và hệ mặt trời, chúng ta có được truyền cảm hứng không? Và nếu có, thì vì sao?”

324. May we say that such a presentation prevents the sordid nature of the present condition from overcoming us and destroying our will to progress?

324. Chúng ta có thể nói rằng một sự trình bày như thế ngăn không cho bản chất đê tiện của tình trạng hiện tại lấn át chúng ta và hủy hoại ý chí tiến bộ của chúng ta chăng?

325. Each will have his or her own way of becoming inspired. DK’s presentation of certain aspects of the Great Cosmic Scheme is certainly meant to offer inspiration, and with inspiration, greater will to progress and serve.

325. Mỗi người sẽ có cách riêng để được truyền cảm hứng. Sự trình bày của Chân sư DK về một số phương diện của Đại Hệ Vũ Trụ chắc chắn nhằm mang lại cảm hứng, và cùng với cảm hứng là ý chí tiến bộ và phụng sự lớn hơn.

Leave a Comment

Scroll to Top