Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến trang sách tương ứng trong TCF
TCF 612 – 619: S6S5
|
25 November – 10 December 2007 |
25 tháng 11 – 10 tháng 12 năm 2007 |
|
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) |
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện) |
|
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. |
Xin gợi ý rằng phần Bình Luận này nên được đọc cùng với quyển TCF đặt sẵn bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. |
|
1. In the last Commentary we discussed the complex nature of Lord Agni, the Being or Fire of the Logoic Personality, Who is also Fohat and cosmic Brahma. |
1. Trong phần Bình Luận trước, chúng ta đã bàn đến bản chất phức tạp của Chúa Tể Agni, Đấng hay Lửa của Phàm ngã Thượng đế, Đấng cũng là Fohat và Brahma vũ trụ. |
|
2. Within the realm of Agni, there are many subdivisions and it is some of these that we are about to study. |
2. Trong phạm vi của Agni, có nhiều phân bộ và một số trong đó là điều chúng ta sắp nghiên cứu. |
|
2. THE FIRE DEVAS THE GREATER BUILDERS. |
2. CÁC THIÊN THẦN LỬA CÁC ĐẤNG ĐẠI KIẾN TẠO. |
|
I have divided the groups of devas and elementals into evolutionary and involutionary Builders—those who are in themselves positive force, and those which are negative force, the conscious and the blind workers. |
Tôi đã chia các nhóm thiên thần và hành khí thành các đấng kiến tạo thăng thượng tiến hoá và giáng hạ tiến hoá—những vị tự thân là mãnh lực dương, và những vị là mãnh lực âm, những người hoạt động có ý thức và những người hoạt động mù quáng. |
|
3. Let us categorize some descriptors of these two basic forms of lives. |
3. Chúng ta hãy phân loại một số mô tả về hai hình thức sự sống căn bản này. |
|
Devas Elementals |
Thiên thần Hành khí |
|
Evolutionary BuildersInvolutionary Builders |
Các đấng kiến tạo thăng thượng tiến hoáCác đấng kiến tạo giáng hạ tiến hoá |
|
Positive ForceNegative Force |
Mãnh lực dươngMãnh lực âm |
|
Conscious WorkersBlind Workers |
Những người hoạt động có ý thứcNhững người hoạt động mù quáng |
|
4. While everything seems very clear cut in the description above, we actually find that there are some lives called devas who are also unconscious in their expression. |
4. Mặc dù mọi sự dường như rất rạch ròi trong mô tả trên, nhưng thực ra chúng ta thấy rằng có một số sự sống được gọi là thiên thần cũng vô thức trong sự biểu lộ của chúng. |
|
It is absolutely essential that students bear in mind here that we are studying the mystery of electricity and therefore must remember the following facts:— |
Điều tuyệt đối thiết yếu là các đạo sinh phải ghi nhớ ở đây rằng chúng ta đang nghiên cứu huyền nhiệm của điện lực và vì vậy phải nhớ các sự kiện sau đây:— |
|
5. When studying devic lives, we do so within the context of the “mystery of electricity”. |
5. Khi nghiên cứu các sự sống thiên thần, chúng ta làm như vậy trong bối cảnh của “huyền nhiệm của điện lực”. |
|
6. Devic and elemental lives are particularly related to the great Life of the Pleiades. The Pleiades are particularly associated with the manifestation of electrical phenomena. |
6. Các sự sống thiên thần và hành khí đặc biệt liên hệ với Sự sống vĩ đại của chòm Pleiades. Chòm Pleiades đặc biệt gắn liền với sự biểu lộ của các hiện tượng điện. |
|
The Pleiades are to the solar system, the source of electrical energy, and just as our sun is the embodiment of the heart, or love aspect, of the Logos (Who is Himself the heart of ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID) so the Pleiades are the feminine opposite of Brahma. Think this out, for much is contained in this statement. (TCF 156) |
Chòm Pleiades đối với hệ mặt trời là nguồn của năng lượng điện, và cũng như mặt trời của chúng ta là hiện thân của phương diện tâm, hay phương diện bác ái, của Thượng đế (Đấng chính Ngài là tâm của Đấng Bất Khả Tư Nghị) thì chòm Pleiades là đối cực nữ tính của Brahma. Hãy suy ngẫm điều này, vì có rất nhiều điều được hàm chứa trong phát biểu này. (TCF 156) |
|
7. If Agni is Fohat and Brahma, there is a definite relation between Agni and the Pleiades. |
7. Nếu Agni là Fohat và Brahma, thì có một mối liên hệ xác định giữa Agni và chòm Pleiades. |
|
8. The Pleiades are said to the be the feminine opposite of the Seven Rishis of the Great Bear. Are we in some way linking the Being here called “Brahma” with the Seven Rishis? |
8. Chòm Pleiades được nói là đối cực nữ tính của Bảy Rishi của Đại Hùng Tinh. Có phải bằng cách nào đó chúng ta đang liên kết Hữu thể ở đây được gọi là “Brahma” với Bảy Rishi chăng? |
|
a. Introductory Remarks. |
a. Những nhận xét mở đầu. |
|
The Mystery of Electricity. The greater Builders are the positive aspect of substance or of electrical phenomena whilst the lesser Builders are the negative aspect. |
Huyền Nhiệm của Điện Lực. Các đấng đại kiến tạo là phương diện dương của chất liệu hay của các hiện tượng điện, trong khi các vị tiểu kiến tạo là phương diện âm. |
|
9. We shall have to be careful how we differentiate these Builders. |
9. Chúng ta sẽ phải cẩn thận trong cách phân biệt các đấng kiến tạo này. |
|
10. From one perspective— |
10. Từ một góc nhìn— |
|
a. The “Burning Sons of Desire”(the second manifested Creative Hierarchy) are called the “Greater Builders” |
a. “Các Con Bốc Cháy của Dục Vọng” (Huyền Giai Sáng Tạo biểu hiện thứ hai) được gọi là “Các Đấng Đại Kiến Tạo” |
|
b. The “Triple Flowers” (the third manifested Creative Hierarchy) are called the “Lesser Builder” |
b. “Các Hoa Tam Phân” (Huyền Giai Sáng Tạo biểu hiện thứ ba) được gọi là “vị Tiểu Kiến Tạo” |
|
11. But the terms “greater” and “lesser” are quite general and can also indicate builders which are conscious (i.e., greater) and those which are still unconscious (i.e., lesser). |
11. Nhưng các thuật ngữ “đại” và “tiểu” khá tổng quát và cũng có thể chỉ các đấng kiến tạo có ý thức (tức là đại) và những vị vẫn còn vô thức (tức là tiểu). |
|
12. Electricity has two dichotomous charges—positive and negative, plus a third type of electricity which we might call ‘equilibrizing electricity’. |
12. Điện lực có hai điện tích nhị nguyên—dương và âm, cộng thêm một loại điện lực thứ ba mà chúng ta có thể gọi là ‘điện lực quân bình hóa’. |
|
13. We note that DK seems to be equating “substance” with “electrical phenomena”. Substance is energy and energy, for the most part, displays a bi-polar nature. |
13. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK dường như đang đồng nhất “chất liệu” với “các hiện tượng điện”. Chất liệu là năng lượng và năng lượng, phần lớn, biểu lộ một bản chất lưỡng cực. |
|
14. By “positive” we mean ‘impressive’ and by “negative”, receptive of impression. |
14. Bởi “dương” chúng ta muốn nói là ‘gây ấn tượng’, và bởi “âm” là tiếp nhận ấn tượng. |
|
Two types of force are represented in the activities of these two groups and it is their interaction and interplay which produces Light, or the manifested solar system. |
Hai loại mãnh lực được biểu hiện trong hoạt động của hai nhóm này và chính sự tương tác cùng giao thoa của chúng tạo ra Ánh sáng, hay hệ mặt trời biểu hiện. |
|
15. Light, then, is the result of devic and elemental interplay—the interplay between positive and negative. The terms “deva” and “elemental” are, however, relative. When using these two terms we are not necessarily speaking of tiny lives. |
15. Như vậy, Ánh sáng là kết quả của sự giao thoa giữa thiên thần và hành khí—sự giao thoa giữa dương và âm. Tuy nhiên, các thuật ngữ “thiên thần” và “hành khí” là tương đối. Khi dùng hai thuật ngữ này, chúng ta không nhất thiết đang nói về những sự sống nhỏ bé. |
|
16. Since light is produced by the coming together of Spirit and matter, the Greater Builders must be identified with Spirit and the lesser builders with matter—since the coming together of Spirit and matter produces light. |
16. Vì ánh sáng được tạo ra bởi sự gặp gỡ của tinh thần và vật chất, nên Các Đấng Đại Kiến Tạo phải được đồng hoá với tinh thần và các vị tiểu kiến tạo với vật chất—vì sự gặp gỡ của tinh thần và vật chất tạo ra ánh sáng. |
|
17. We must attend to the fact that the “manifested solar system” is “Light”. |
17. Chúng ta phải chú ý đến sự kiện rằng “hệ mặt trời biểu hiện” là “Ánh sáng”. |
|
Their sumtotal is substance in its totality, |
Tổng số của chúng là chất liệu trong tính toàn thể của nó, |
|
18. The sumtotal of the two types of force—positive and negative—is “substance in its totality”. |
18. Tổng số của hai loại mãnh lực—dương và âm—là “chất liệu trong tính toàn thể của nó”. |
|
19. We might also say that “their sumtotal is ‘electrical phenomena’ in its totality” since, as we learn above, “substance” and “electrical phenomena” are equivalent. |
19. Chúng ta cũng có thể nói rằng “tổng số của chúng là ‘các hiện tượng điện’ trong tính toàn thể của nó” vì, như chúng ta học ở trên, “chất liệu” và “các hiện tượng điện” là tương đương. |
|
the intelligent active form, built for the purpose of providing a habitation for a central subjective life. |
hình tướng thông minh, hoạt động, được xây dựng nhằm cung cấp một nơi cư ngụ cho một sự sống chủ quan trung tâm. |
|
20. Though the form is composed of some matter which is relatively “negative”, the form itself is both intelligent and active. |
20. Dù hình tướng được cấu thành từ một số vật chất tương đối “âm”, nhưng bản thân hình tướng vừa thông minh vừa hoạt động. |
|
21. Devic and elemental life is, in its own way, both intelligence and active, but the degree of consciousness of the various devic lives differs greatly. |
21. Sự sống thiên thần và hành khí, theo cách riêng của nó, vừa là trí tuệ vừa là hoạt động, nhưng mức độ tâm thức của các sự sống thiên thần khác nhau thì rất khác biệt. |
|
They are also the sumtotal of the Pitris,91 or Fathers of mankind, viewing mankind as the race itself, the fourth kingdom in nature, the Heavenly Men in physical manifestation. |
Chúng cũng là tổng số của các Pitris,91 hay Các Cha của nhân loại, xét nhân loại như chính giống dân ấy, giới thứ tư trong thiên nhiên, các Đấng Thiên Nhân trong biểu hiện hồng trần. |
|
22. The origin of mankind arises from Solar Pitris and Lunar Pitris. |
22. Nguồn gốc của nhân loại phát sinh từ thái dương tổ phụ và thái âm tổ phụ. |
|
23. We can say that humanity is an aspect of the Heavenly Men in physical manifestation, but not the whole of that physical manifestation—unless we consider humanity as the macrocosm for the lower kingdoms of nature (i.e., inclusive of those lower kingdoms) which, taken together, with humanity are the physical manifestation of the Heavenly Men. |
23. Chúng ta có thể nói rằng nhân loại là một phương diện của các Đấng Thiên Nhân trong biểu hiện hồng trần, nhưng không phải là toàn bộ biểu hiện hồng trần ấy—trừ phi chúng ta xem nhân loại là đại thiên địa đối với các giới thấp của thiên nhiên (tức là bao gồm các giới thấp ấy), mà khi được xét chung với nhân loại thì là biểu hiện hồng trần của các Đấng Thiên Nhân. |
|
This is a most important point to emphasise. These deva activities in relation to Self-Consciousness (which is the distinctive characteristic of humanity) can best be studied in the large, or through [Page 613] the consideration of groups, of races, and of the life of the scheme, the manifestation of one of the Heavenly Men. |
Đây là một điểm cực kỳ quan trọng cần nhấn mạnh. Các hoạt động thiên thần này liên quan đến ngã thức (vốn là đặc tính phân biệt của nhân loại) có thể được nghiên cứu tốt nhất trên quy mô lớn, hoặc thông qua [Page 613] việc xem xét các nhóm, các giống dân, và sự sống của hệ hành tinh, là biểu hiện của một trong các Đấng Thiên Nhân. |
|
24. The study of the devas is difficult, as this parallel kingdom is not directly visible to most human beings. DK is recommending the best method of study: |
24. Việc nghiên cứu các thiên thần là khó khăn, vì giới song hành này không trực tiếp khả kiến đối với phần lớn con người. Chân sư DK đang đề nghị phương pháp nghiên cứu tốt nhất: |
|
a. Study the devas in the large |
a. Nghiên cứu các thiên thần trên quy mô lớn |
|
b. Study the devas through the consideration of groups |
b. Nghiên cứu các thiên thần thông qua việc xem xét các nhóm |
|
c. Study the devas through the consideration of races |
c. Nghiên cứu các thiên thần thông qua việc xem xét các giống dân |
|
d. Study the devas through consideration of the life of the scheme |
d. Nghiên cứu các thiên thần thông qua việc xem xét sự sống của hệ hành tinh |
|
e. Study the devas through the manifestation of one of the Heavenly Men. |
e. Nghiên cứu các thiên thần thông qua biểu hiện của một trong các Đấng Thiên Nhân. |
|
22. In the following footnote, the creation of the lunar bodies of early, unconscious man is described. |
22. Trong cước chú sau đây, sự tạo thành các thể nguyệt của con người sơ khai, vô thức được mô tả. |
|
FOOTNOTE: The Lunar Pitris. “The great Chohans called the Lords of the Moon, of the airy bodies: “Bring forth Men,” they were told, “men of your nature. Give them their forms within. She (Mother Earth) will build coverings without (for external bodies). Males—females will they be. Lords of the Flame also….They went each on his allotted lands: Seven of them each on his lot. The Lords of the Flame remained behind. They would not go. They would not create.”—Stanza III, 12, 13, S. D., II, 79, 81. |
CƯỚC CHÚ: Các thái âm tổ phụ. “Các Chohan vĩ đại được gọi là các Chúa Tể của Mặt Trăng, của các thể khí: “Hãy sinh ra Người,” các Ngài được bảo, “những con người thuộc bản chất của các ngươi. Hãy ban cho họ các hình tướng bên trong của họ. Bà (Mẹ Trái Đất) sẽ xây dựng các lớp bao bọc bên ngoài (cho các thể bên ngoài). Họ sẽ là nam—nữ. Các Chúa Tể của Ngọn Lửa cũng vậy….Mỗi vị đi đến vùng đất đã được phân cho mình: bảy vị, mỗi vị trên phần của mình. Các Chúa Tể của Ngọn Lửa ở lại phía sau. Các Ngài không đi. Các Ngài không sáng tạo.”—Bài kệ III, 12, 13, Giáo Lý Bí Nhiệm, II, 79, 81. |
|
23. The “great Chohans” have to be Those Who are directing the evolutionary process within the planetary scheme and planetary chain and globes. |
23. Các “Chohan vĩ đại” hẳn phải là Những Đấng đang chỉ đạo tiến trình tiến hoá trong hệ hành tinh, dãy hành tinh và các bầu hành tinh. |
|
24. The Lords of the Moon had “airy bodies”—bodies which are more etheric and not physical in the outer sense. |
24. Các Chúa Tể của Mặt Trăng có “các thể khí”—những thể dĩ thái hơn và không phải hồng trần theo nghĩa bên ngoài. |
|
25. The denser “external bodies” are built by the physical elemental life which is attracted to the airy bodies provided by the Lords of the Moon out of the substance of their own nature. |
25. Các “thể bên ngoài” đậm đặc hơn được xây dựng bởi sự sống hành khí thể xác, vốn bị hút vào các thể khí do các Chúa Tể của Mặt Trăng cung cấp từ chất liệu của chính bản chất các Ngài. |
|
26. We note that the Lords of the Moon did not confer intelligence upon men. Only the Lords of the Flame could do that and they “remained behind”, “would not go” and “would not create”. |
26. Chúng ta lưu ý rằng các Chúa Tể của Mặt Trăng đã không ban trí tuệ cho con người. Chỉ các Chúa Tể của Ngọn Lửa mới có thể làm điều đó và các Ngài “ở lại phía sau”, “không đi” và “không sáng tạo”. |
|
27. At the time of this ‘creation’ by the Lords of the Moon, early pre-individualized animal men were not divided into male and females. Their ‘shape’ was altogether other than that which we now recognize as the human form. They were, in fact, hermaphroditic (“males-females”). This hermaphroditism was faint at the beginning and grew as the racial form developed through the first two and a half root races. |
27. Vào thời kỳ “sáng tạo” này bởi các Chúa Tể của Mặt Trăng, những người thú sơ khai chưa được biệt ngã hóa chưa phân chia thành nam và nữ. “Hình dạng” của họ hoàn toàn khác với điều mà hiện nay chúng ta nhận ra là hình thể con người. Thực ra, họ là lưỡng tính (“nam-nữ”). Tính lưỡng tính này lúc ban đầu còn mờ nhạt và tăng dần khi hình thể chủng tộc phát triển qua hai giống dân gốc đầu tiên và nửa đầu của giống dân gốc thứ ba. |
|
28. We can see that there were seven types of early human beings of the first root race. Humanity is now of one species but did not start out this way. |
28. Chúng ta có thể thấy rằng đã có bảy loại người sơ khai của giống dân gốc thứ nhất. Nhân loại hiện nay là một loài duy nhất nhưng đã không khởi đầu theo cách này. |
|
When the student brings his study of deva work down to the terms of his own individual life he is apt to become confused through too close a juxtaposition. |
Khi đạo sinh đưa việc nghiên cứu công việc thiên thần xuống các thuật ngữ của chính đời sống cá nhân mình, y dễ trở nên bối rối vì sự đặt cạnh nhau quá gần. |
|
29. We have encountered this confusion constantly. It is better to try to encompass our subject en large, and then begin the process of reasoned reduction to microcosmic proportions. |
29. Chúng ta đã liên tục gặp phải sự bối rối này. Tốt hơn là nên cố gắng bao quát đề tài của chúng ta trên quy mô lớn, rồi bắt đầu tiến trình thu giảm có lý luận xuống các tỷ lệ tiểu thiên địa. |
|
The greater Builders are the solar Pitris, whilst the lesser Builders are the lunar ancestors. |
Các Đấng Đại Kiến Tạo là các thái dương tổ phụ, trong khi các vị tiểu kiến tạo là các tổ phụ thái âm. |
|
30. As stated earlier, the terms “greater Builders” and “lesser builders” have many possible interpretations. In the tabulation in EA 35, the two Creative Hierarchies of lesser and greater Builders are both of them Beings of higher rank than the “solar pitris”, as usually considered. |
30. Như đã nói trước đó, các thuật ngữ “các đấng đại kiến tạo” và “các vị tiểu kiến tạo” có nhiều cách diễn giải khả dĩ. Trong bảng liệt kê ở EA 35, hai Huyền Giai Sáng Tạo của các vị tiểu kiến tạo và các đấng đại kiến tạo cả hai đều là những Hữu thể có cấp bậc cao hơn “thái dương tổ phụ” theo cách thường được hiểu. |
|
31. From the microcosmic perspective, the “solar Pitris” are the Solar Angels or Agnishvattas Who build the human personality of Lunar Pitris. The microcosmic Lunar Pitris which are built into form and which are composed of tiny elemental lives are naturally, compared with the solar devas, to be considered as lesser builders. |
31. Từ góc độ tiểu thiên địa, “các thái dương tổ phụ” là các Thái dương Thiên Thần hay Agnishvatta, những Đấng xây dựng phàm ngã con người từ các thái âm tổ phụ. Các thái âm tổ phụ tiểu thiên địa được xây dựng thành hình tướng và được cấu thành từ những sự sống hành khí nhỏ bé, dĩ nhiên, khi so với các thiên thần thái dương, phải được xem là các vị tiểu kiến tạo.tiểu builders. |
|
I would here explain the occult meaning of the word “ancestor,” as used in esotericism. It means literally initiatory life impulse. |
Ở đây tôi muốn giải thích ý nghĩa huyền bí của từ “tổ phụ”, như được dùng trong huyền bí học. Nó có nghĩa đen là xung lực sự sống điểm đạo. |
|
32. The solar and lunar “ancestors” provided the “initiatory life impulse” which created two orders of vehicles—the lunar vehicles of the personality and the solar vehicle or egoic lotus. |
32. Các “tổ phụ” thái dương và thái âm đã cung cấp “xung lực sự sống điểm đạo” tạo ra hai loại vận cụ—các vận cụ thái âm của phàm ngã và vận cụ thái dương hay hoa sen chân ngã. |
|
It is that subjective activity which produces objectivity, and concerns those emanatory impulses which come from any positive centre of force, and which sweep the negative aspect into the line of that force, and thus produce a form of some kind. The word “ancestor” is used in connection with both aspects. |
Đó là hoạt động chủ quan tạo ra tính khách quan, và liên quan đến những xung lực phát xạ đến từ bất kỳ trung tâm mãnh lực dương nào, và cuốn phương diện âm vào đường của mãnh lực ấy, nhờ đó tạo ra một hình tướng nào đó. Từ “tổ phụ” được dùng liên hệ với cả hai phương diện. |
|
33. An “ancestor” is a positive center of force from which emanates an impulse which sweeps a negative aspect into line with the positive force. |
33. Một “tổ phụ” là một trung tâm mãnh lực dương, từ đó phát ra một xung lực cuốn một phương diện âm vào đường thẳng hàng với mãnh lực dương. |
|
34. The Lunar Ancestors (as force centers) sweep the elemental life into line with its relatively more positive force. |
34. Các Tổ Phụ Thái Âm (với tư cách các trung tâm mãnh lực) cuốn sự sống hành khí vào đường thẳng hàng với mãnh lực tương đối dương hơn của chúng. |
|
35. The Solar Ancestors or Pitris (considered as force centers) sweep the lunar vehicles into line with their relatively more positive force. |
35. Các Tổ Phụ Thái Dương hay Pitris (được xét như các trung tâm mãnh lực) cuốn các vận cụ thái âm vào đường thẳng hàng với mãnh lực tương đối dương hơn của chúng. |
|
36. Since there are both solar and lunar positive centers of force, the term “ancestor” is used in connection with both categories of beings. |
36. Vì có cả các trung tâm mãnh lực dương thái dương lẫn thái âm, nên thuật ngữ “tổ phụ” được dùng liên hệ với cả hai loại hữu thể. |
|
The solar Logos is the initiatory impulse or Father of the Son in His physical incarnation, a solar system. |
Thái dương Thượng đế là xung lực điểm đạo hay là Cha của Con trong sự lâm phàm hồng trần của Ngài, một hệ mặt trời. |
|
37. If we wish to have a functional definition of the occult term, “Father”, it is “initiatory impulse”. |
37. Nếu chúng ta muốn có một định nghĩa chức năng cho thuật ngữ huyền bí “Cha”, thì đó là “xung lực điểm đạo”. |
|
He is the sumtotal of the Pitris, in the process of providing form. The union of Father (positive force) and Mother (negative force) produces that central blaze which we call the form, the body of manifestation of the Son. |
Ngài là tổng số của các Pitris, đang trong tiến trình cung cấp hình tướng. Sự kết hợp của Cha (mãnh lực dương) và Mẹ (mãnh lực âm) tạo ra ngọn lửa trung tâm mà chúng ta gọi là hình tướng, thể biểu hiện của Con. |
|
38. Here we are discussing greater and lesser Builders on a scale which can, indeed, produce a solar system—the “manifestation of the Son”. |
38. Ở đây chúng ta đang bàn đến các đấng đại kiến tạo và các vị tiểu kiến tạo trên một quy mô thực sự có thể tạo ra một hệ mặt trời—“biểu hiện của Con”. |
|
39. We may consider the Solar Logos as working primarily through the sumtotal of positive Pitris who, in the context we have been discussing, are relatively the “greater Builders”. |
39. Chúng ta có thể xem Thái dương Thượng đế là hoạt động chủ yếu thông qua tổng số các Pitris dương, những vị mà trong bối cảnh chúng ta đang bàn đến, tương đối là “các đấng đại kiến tạo”. |
|
40. Let us remember that the second aspect of divinity is the “form builder”. Form is not the substance of which the form is made. |
40. Chúng ta hãy nhớ rằng phương diện thứ hai của thiên tính là “đấng kiến tạo hình tướng”. Hình tướng không phải là chất liệu mà từ đó hình tướng được tạo nên. |
|
41. The Father is the “positive force” and the Mother the “negative force”. By coming together they produce a central blaze which is the “Son in physical incarnation”—a solar system. |
41. Cha là “mãnh lực dương” và Mẹ là “mãnh lực âm”. Bằng cách đến với nhau, các vị tạo ra một ngọn lửa trung tâm là “Con đang lâm phàm hồng trần”—một hệ mặt trời. |
|
42. This solar/lunar process operates both macrocosmically and microcosmically. |
42. Tiến trình thái dương/thái âm này vận hành cả ở cấp đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa. |
|
43. From a philosophical point of view, we may ask whether the Father includes the Mother. The Solar Logos is said to be the sumtotal of the Pitris. Are we to include the Lunar Pitris in this sumtotal? |
43. Từ quan điểm triết học, chúng ta có thể hỏi liệu Cha có bao gồm Mẹ hay không. Thái dương Thượng đế được nói là tổng số của các Pitris. Chúng ta có nên bao gồm các thái âm tổ phụ trong tổng số này không? |
|
44. The Solar Logos manifesting as Agni does include the Lunar Pitris. |
44. Thái dương Thượng đế biểu lộ như Agni quả thực bao gồm các thái âm tổ phụ. |
|
A Heavenly Man holds an analogous position in relation to a planetary scheme. He is the central germ of positive life or force, which, in due course of time, demonstrates as a planetary scheme, or an incarnation of the planetary Logos. |
Một Đấng Thiên Nhân giữ một vị trí tương tự liên hệ với một hệ hành tinh. Ngài là mầm trung tâm của sự sống hay mãnh lực dương, mà theo tiến trình thời gian thích đáng, biểu lộ thành một hệ hành tinh, hay một lần lâm phàm của Hành Tinh Thượng đế. |
|
45. The major incarnation of a Heavenly Man is a planetary scheme. There are a number of subsidiary incarnations of the Heavenly Man through the lesser structures within the scheme. |
45. Sự lâm phàm chính yếu của một Đấng Thiên Nhân là một hệ hành tinh. Có một số lần lâm phàm phụ thuộc của Đấng Thiên Nhân thông qua các cấu trúc nhỏ hơn trong hệ ấy. |
|
46. The Solar Logos and the Planetary Logos are both “the central germ of positive life or force” for Their respective systems—one a solar system and the other a planetary scheme. |
46. Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế đều là “mầm trung tâm của sự sống hay mãnh lực dương” đối với các hệ tương ứng của Các Ngài—một là hệ mặt trời và một là hệ hành tinh. |
|
47. In a somewhat cosmic sense, the Solar Logos and the Planetary Logos are also “Ancestors” providing vehicles of expression for many lesser lives. |
47. Theo một ý nghĩa phần nào vũ trụ, Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế cũng là những “Tổ phụ”, cung cấp các vận cụ biểu đạt cho nhiều sự sống nhỏ hơn. |
|
A man similarly is the positive life or energy which, through action on negative force, creates bodies of manifestation through which he can shine or radiate.92,93,94 |
Tương tự, con người là sự sống hay năng lượng dương tính, là cái, thông qua tác động lên mãnh lực âm tính, tạo ra các thể biểu hiện mà qua đó y có thể chiếu sáng hay phát xạ.92,93,94 |
|
48. A human being is meant to “shine forth”. This occurs gradually over time as the positive life or energy which he is acts upon the negative force which has been gathered into his vehicles of manifestation. |
48. Con người được dự định là phải “chiếu sáng ra”. Điều này xảy ra dần dần theo thời gian khi sự sống hay năng lượng dương tính mà y là tác động lên mãnh lực âm tính đã được tập hợp vào các vận cụ biểu hiện của y. |
|
49. The parallel is exact in all three cases. |
49. Sự song hành là hoàn toàn chính xác trong cả ba trường hợp. |
|
50. Thus far, we have listed as “positive center(s) of force” |
50. Cho đến đây, chúng ta đã liệt kê như những “trung tâm lực dương tính” |
|
a. Solar Logoi |
a. Các Thái dương Thượng đế |
|
b. Planetary Logoi or Heavenly Men |
b. Các Hành Tinh Thượng đế hay các Đấng Thiên Nhân |
|
c. Men |
c. Con người |
|
d. Solar Pitris in relation to the Lunar Pitris |
d. các thái dương tổ phụ trong tương quan với các thái âm tổ phụ |
|
e. Lunar Pitris in relation to the elemental substance of the lower sheaths |
e. các thái âm tổ phụ trong tương quan với chất liệu hành khí của các vỏ bọc thấp |
|
FOOTNOTE 92: The Lunar Pitris created the physical man.—S. D., I, 114, 197. |
CHÚ THÍCH 92: Các thái âm tổ phụ đã tạo ra con người thể xác.—S. D., I, 114, 197. |
|
They exist in three great classes. |
Các vị này tồn tại trong ba lớp lớn. |
|
51. Here we have important information from the Secret Doctrine concerning the “Lunar Ancestors” of man. |
51. Ở đây chúng ta có thông tin quan trọng từ Giáo Lý Bí Nhiệm liên quan đến các “Thủy Tổ Thái Âm” của con người. |
|
1. The most developed. They form, in Round one, the sumtotal of the three kingdoms, and achieve a human form.—S. D., I, 203. |
1. Những vị phát triển nhất. Trong cuộc tuần hoàn một, các vị này tạo thành tổng thể của ba giới, và đạt được hình tướng con người.—S. D., I, 203. |
|
52. We seem to be speaking of Round one in our chain. One question remains: “Do these Lunar Pitris actually achieve a human form in Round one, or does this happen only in Round four?” |
52. Dường như chúng ta đang nói về cuộc tuần hoàn một trong dãy của chúng ta. Một câu hỏi vẫn còn lại: “Các thái âm tổ phụ này có thực sự đạt được hình tướng con người trong cuộc tuần hoàn một hay điều này chỉ xảy ra trong cuộc tuần hoàn bốn?” |
|
53. One interpretation would be as follows: the Lunar Pitris of the first round gradually achieve a human form. But we could also interpret the statement as indicating that these Pitris achieve even in Round one a human form which as a form represents the sumtotal of the three kingdoms. |
53. Một cách diễn giải có thể là như sau: các thái âm tổ phụ của cuộc tuần hoàn thứ nhất dần dần đạt được hình tướng con người. Nhưng chúng ta cũng có thể diễn giải phát biểu này như cho thấy rằng các tổ phụ này đạt được ngay cả trong cuộc tuần hoàn một một hình tướng con người mà, với tư cách là hình tướng, biểu thị tổng thể của ba giới. |
|
54. Our usual studies focus on those lunar life forms which provide a human form in the fourth round, and especially on the fourth globe of the fourth round. We have had no discussion of lunar beings who could have achieved human form in the first round. |
54. Các nghiên cứu thông thường của chúng ta tập trung vào những hình thái sự sống thái âm cung cấp hình tướng con người trong cuộc tuần hoàn thứ tư, và đặc biệt trên bầu hành tinh thứ tư của cuộc tuần hoàn thứ tư. Chúng ta chưa hề bàn đến các hữu thể thái âm có thể đã đạt được hình tướng con người trong cuộc tuần hoàn thứ nhất. |
|
55. We must bear in mind that there is a distinction between becoming human and simply providing that which can be used as a human form by an individualized being. |
55. Chúng ta phải ghi nhớ rằng có một sự phân biệt giữa việc trở thành con người và chỉ đơn thuần cung cấp cái có thể được một hữu thể đã được biệt ngã hóa sử dụng như một hình tướng con người. |
|
In Rounds two and three they are the sumtotal of that which will eventually be human. |
Trong các cuộc tuần hoàn hai và ba, các vị này là tổng thể của cái rốt cuộc sẽ trở thành con người. |
|
56. Here again, we must be cautious. DK is speaking of Lunar Pitris who will “eventually be human”. This achievement would be far greater than simply providing a lunar form for the use of those who have become human. |
56. Ở đây một lần nữa, chúng ta phải thận trọng. Chân sư DK đang nói về các thái âm tổ phụ mà về sau sẽ “trở thành con người”. Thành tựu này sẽ lớn lao hơn nhiều so với việc chỉ cung cấp một hình tướng thái âm cho những ai đã trở thành con người sử dụng. |
|
57. To what time period does the term “eventually” apply? We see from point 7., Tabulation VI, TCF 844, that the Lunar Pitris who have provided for man a vehicle of contact through which he can express as a human being, must first enter the animal kingdom before they can individualize. |
57. Thuật ngữ “về sau” áp dụng cho giai đoạn thời gian nào? Chúng ta thấy từ điểm 7., Bảng VI, TCF 844, rằng các thái âm tổ phụ đã cung cấp cho con người một vận cụ tiếp xúc mà qua đó y có thể biểu lộ như một con người, trước hết phải đi vào giới động vật trước khi các vị ấy có thể biệt ngã hóa. |
|
In Round four at the beginning they form the etheric bodies of our Earth humanity. |
Trong cuộc tuần hoàn thứ tư, lúc khởi đầu, các vị này tạo thành các thể dĩ thái của nhân loại Trái Đất chúng ta. |
|
58. Are we speaking of our “Earth humanity” only as it appears on the fourth globe, or, apparently, as it appears from the beginning of the Round? |
58. Phải chăng chúng ta đang nói về “nhân loại Trái Đất” của chúng ta chỉ như nó xuất hiện trên bầu hành tinh thứ tư, hay dường như là như nó xuất hiện ngay từ khởi đầu của cuộc tuần hoàn? |
|
59. Is there a progression possible, by means of which Lunar Pitris form one type of lunar vehicle on one globe, another on the next and another on the next—and so forth. |
59. Có phải có một sự tiến triển khả hữu, nhờ đó các thái âm tổ phụ tạo thành một loại vận cụ thái âm trên một bầu hành tinh, một loại khác trên bầu kế tiếp và một loại khác nữa trên bầu tiếp theo—v.v.? |
|
2. Those whose bodies are taken by the Solar Angels.—S. D., I, 203. |
2. Những vị mà các thể của họ được các Thái dương Thiên Thần tiếp nhận.—S. D., I, 203. |
|
60. We seem to be referring to a certain group of human forms which, in early days, actually provided a basis for the incarnation of the Solar Angels. |
60. Dường như chúng ta đang nói đến một nhóm hình tướng con người nào đó mà, trong những thời kỳ đầu, thực sự đã cung cấp một nền tảng cho sự nhập thể của các Thái dương Thiên Thần. |
|
61. Does it seem logical that this group of Lunar Pitris would be lower than the first group? If so, why? |
61. Có hợp lý không khi nhóm thái âm tổ phụ này lại thấp hơn nhóm thứ nhất? Nếu vậy, tại sao? |
|
3. The sum total of the three kingdoms at present known. |
3. Tổng thể của ba giới hiện nay đã được biết đến. |
|
62. When we think of the Lunar Pitris, we must realize that they form the vehicular basis not only for human beings but for the lower three kingdoms as well. |
62. Khi nghĩ về các thái âm tổ phụ, chúng ta phải nhận ra rằng các vị này tạo thành nền tảng vận cụ không chỉ cho con người mà còn cho cả ba giới thấp nữa. |
|
63. All the lower kingdoms are composed of elemental lives and these are naturally of a lower calibre than the elemental lives constituting the lower vehicles of a human being. |
63. Tất cả các giới thấp đều được cấu thành từ các sự sống hành khí, và những sự sống này dĩ nhiên có phẩm cấp thấp hơn các sự sống hành khí cấu thành các vận cụ thấp của một con người. |
|
FOOTNOTE 93: |
CHÚ THÍCH 93: |
|
The Earth gives man his body; the Gods give him his five inner principles…Spirit is one.—S. D., I, 248. |
Trái Đất cho con người thể của y; các Thượng đế cho y năm nguyên khí bên trong…Tinh thần là một.—S. D., I, 248. |
|
64. By the term “body” as here used, it is probable that we mean the dense physical nature composed of the matter/substance of the previous solar system. |
64. Theo thuật ngữ “thể” như được dùng ở đây, có lẽ chúng ta muốn nói đến bản chất hồng trần đậm đặc được cấu thành từ vật chất/chất liệu của hệ mặt trời trước. |
|
65. Both types of Pitris, Lunar and Solar can, in this context, be considered as “the God”. |
65. Trong ngữ cảnh này, cả hai loại tổ phụ, thái âm và thái dương, đều có thể được xem là “Thượng đế”. |
|
1. The Earth gives the dense physical. |
1. Trái Đất cho thể xác đậm đặc. |
|
2. The Lunar Gods give him three lower principles— |
2. Các Thượng đế Thái Âm cho y ba nguyên khí thấp— |
|
a. Etheric body |
a. thể dĩ thái |
|
b. Prana |
b. prana |
|
c. Kama—manas |
c. thể trí cảm |
|
66. Do “principles” come from the “Lunar Gods” or do they provide the vehicles to house and express those principles? |
66. Các “nguyên khí” có đến từ các “Thượng đế Thái Âm” hay các vị ấy cung cấp các vận cụ để chứa đựng và biểu lộ các nguyên khí ấy? |
|
67. The etheric body is a vehicle. Prana is a principle and it is solar in nature (except for earthly prana which does not have a solar origin). |
67. Thể dĩ thái là một vận cụ. Prana là một nguyên khí và có bản chất thái dương (ngoại trừ prana địa cầu vốn không có nguồn gốc thái dương). |
|
68. If manas, as we seem to learn below, has a solar origin, then how is it that the Lunar Gods can provide kama-manas since it is a simultaneous functioning of kama and manas? |
68. Nếu manas, như dường như chúng ta học được ở dưới, có nguồn gốc thái dương, thì làm sao các Thượng đế Thái Âm có thể cung cấp kama-manas khi đó là sự vận hành đồng thời của kama và manas? |
|
69. As for the systemic etheric body of man, the devas of that plane are violet in color. Cancer, which is ruled by the Moon, has the color violet associated with it. Further, these devas are said to display a crescent Moon on their foreheads. So the association of the Moon with the etheric body makes sense even if the prana which animates it is solar in nature. |
69. Đối với thể dĩ thái hệ thống của con người, các thiên thần của cõi đó có màu tím. Cự Giải, được Mặt Trăng cai quản, có màu tím gắn liền với nó. Hơn nữa, các thiên thần này được nói là mang hình trăng lưỡi liềm trên trán. Vì vậy, sự liên hệ của Mặt Trăng với thể dĩ thái là hợp lý, ngay cả khi prana làm sinh động nó lại có bản chất thái dương. |
|
3. The Solar Gods give him two principles— |
3. Các Thượng đế Thái Dương cho y hai nguyên khí— |
|
d. Lower mind |
d. Hạ trí |
|
e. Higher mind |
e. Thượng trí |
|
70. The “Solar Gods” are the Solar Angels or Agnishvattas. |
70. Các “Thượng đế Thái Dương” là các Thái dương Thiên Thần hay các Agnishvatta. |
|
71. It is always theorized that they give man that which serves as a higher mental vehicle from the period of individualization until the fourth initiation, but the principles, themselves, are monadic in origin—i.e., they are potencies of the Monad working through the permanent atoms. |
71. Người ta luôn giả thuyết rằng các vị ấy ban cho con người cái đóng vai trò như một vận cụ thượng trí từ thời kỳ biệt ngã hóa cho đến lần điểm đạo thứ tư, nhưng bản thân các nguyên khí thì có nguồn gốc chân thần—nghĩa là, chúng là những tiềm năng của chân thần hoạt động qua các nguyên tử trường tồn. |
|
72. It is no easy matter to distinguish between a vehicle and the principle which informs it. |
72. Không dễ gì phân biệt giữa một vận cụ và nguyên khí thấm nhuần nó. |
|
73. There is also a question as to whether the lower mental vehicle is lunar or solar in nature. Since it is part of a threefold elemental (the personality elemental) it would definitely seem to be lunar. |
73. Cũng có một câu hỏi là liệu vận cụ hạ trí có bản chất thái âm hay thái dương. Vì nó là một phần của một hành khí tam phân (hành khí phàm ngã), nên dứt khoát dường như nó có tính thái âm. |
|
74. Is HPB in error here or must we understand her differently? For instance, the Solar Angel (through the “spark of mind”) stimulated the emerging mental unit of animal man in such a way that it could become a functional lower mind. In this sense the lower mind begins to reflect the higher mind and its activation (i.e., the activation of the lower mind) is a kind of ‘gift’ from the “Solar Gods”. If this is meant, the statement that the “Solar Gods” give the principle of lower mind makes sense. |
74. HPB có sai ở đây không, hay chúng ta phải hiểu bà theo cách khác? Chẳng hạn, Thái dương Thiên Thần (thông qua “tia lửa trí tuệ”) đã kích thích đơn vị hạ trí đang xuất hiện của người thú theo cách khiến nó có thể trở thành một hạ trí hoạt động được. Theo nghĩa này, hạ trí bắt đầu phản chiếu hạ trí và sự hoạt hóa của nó (nghĩa là sự hoạt hóa của hạ trí) là một loại “quà tặng” từ các “Thượng đế Thái Dương”. Nếu được hiểu như vậy, phát biểu rằng các “Thượng đế Thái Dương” ban cho nguyên khí hạ trí là có ý nghĩa. |
|
75. But, it would seem that the lower mental vehicle is part of the overall construction of the lunar personality vehicles and is, in that respect, lunar in origin. There is a mental elemental life which is not solar in its nature or responses. |
75. Nhưng dường như vận cụ hạ trí là một phần của toàn bộ cấu trúc các vận cụ phàm ngã thái âm và, về phương diện đó, có nguồn gốc thái âm. Có một sự sống hành khí trí tuệ không có bản chất hay đáp ứng thái dương. |
|
4. The Monad is the unified two highest principles— |
4. Chân thần là hai nguyên khí cao nhất được hợp nhất— |
|
f. Buddhi |
f. Bồ đề |
|
g. Atma |
g. atma |
|
—S. D., I, 248. |
—S. D., I, 248. |
|
76. We might also say that the Monad is more than these two principles and stands ‘above’ them. |
76. Chúng ta cũng có thể nói rằng chân thần còn hơn hai nguyên khí này và đứng “trên” chúng. |
|
77. We learned when we studied principles and vehicles (beginning TCF 259) that it was crucial to differentiate between the two. Principles are potencies and vehicles are a means of expressing these potencies on any given plane or vibratory dimension. |
77. Khi nghiên cứu các nguyên khí và các vận cụ (bắt đầu từ TCF 259), chúng ta đã học rằng việc phân biệt giữa hai điều này là tối quan trọng. Các nguyên khí là những tiềm năng, còn các vận cụ là phương tiện để biểu lộ những tiềm năng ấy trên bất kỳ cõi hay chiều kích rung động nào. |
|
FOOTNOTE 94: |
CHÚ THÍCH 94: |
|
The totality of form. God is “One, notwithstanding the innumerable forms which are in Him,” so is man, on earth the microcosm of the macrocosm.—S. D., II, 197; II, 303; III, 584. |
Tổng thể của hình tướng. Thượng đế là “Một, mặc dù có vô số hình tướng ở trong Ngài,” con người cũng vậy, trên Trái Đất là tiểu thiên địa của đại thiên địa.—S. D., II, 197; II, 303; III, 584. |
|
78. To understand the nature of man or any other composite being, the puzzle of the One and the Many must be solved. |
78. Để hiểu bản chất của con người hay bất kỳ hữu thể phức hợp nào khác, câu đố về Một và Nhiều phải được giải quyết. |
|
79. So much of the evolutionary process as it works in the mind is the necessity of overcoming the illusion of the many and of replacing this illusion with the sensed presence of the One—Presence. |
79. Phần lớn của tiến trình tiến hoá khi nó vận hành trong trí tuệ là sự cần thiết phải vượt qua ảo tưởng về cái nhiều và thay thế ảo tưởng này bằng sự hiện diện được cảm nhận của Đấng Duy Nhất—Hiện Diện. |
|
Everything is comprised in man. |
Mọi sự đều được bao hàm trong con người. |
|
He unites in himself all forms. |
Y hợp nhất trong chính mình mọi hình tướng. |
|
The mystery of the earthly man is the mystery of the Heavenly Man. |
Huyền nhiệm của con người trần thế là huyền nhiệm của Đấng Thiên Nhân. |
|
80. This theme has been developed repeatedly throughout TCF. |
80. Chủ đề này đã được triển khai lặp đi lặp lại xuyên suốt TCF. |
|
81. Using the analogical faculty we can study the human microcosm and learn much about the greater Lives Who include the human. |
81. Bằng cách sử dụng năng lực tương đồng, chúng ta có thể nghiên cứu tiểu thiên địa con người và học được nhiều điều về các Sự sống lớn hơn bao gồm con người. |
|
The potentiality of every organ useful to animal life is locked up in man, the Microcosm of the Macrocosm.—S. D., II, 723. |
Tiềm năng của mọi cơ quan hữu ích cho đời sống động vật đều được khóa kín trong con người, Tiểu thiên địa của Đại thiên địa.—S. D., II, 723. |
|
82. The animal tends to become man. Man is the macrocosm to the animal life. What man has developed, the animal will develop. Man’s organs and faculties are latent in animal life as the animal is the reflection of man. Organs which are latent in the animal are unfolding or unfolded in man. |
82. Động vật có xu hướng trở thành con người. Con người là đại thiên địa đối với đời sống động vật. Điều con người đã phát triển, động vật sẽ phát triển. Các cơ quan và năng lực của con người tiềm ẩn trong đời sống động vật, vì động vật là sự phản chiếu của con người. Những cơ quan còn tiềm ẩn trong động vật thì đang khai mở hoặc đã khai mở trong con người. |
|
The lesser Builders95 are the negative aspect and are swept into action in group formation through the play [Page 614] of positive force upon them, or through the action of the conscious Minds of the system. |
Các vị tiểu kiến tạo95 là phương diện âm tính và bị cuốn vào hoạt động trong sự hình thành nhóm thông qua tác động [Page 614] của mãnh lực dương tính lên họ, hay thông qua tác động của các Trí Tuệ hữu thức của hệ thống lên họ. |
|
The Army of the Voice, the devas in their serried ranks, work ceaselessly. Let the disciple apply himself to the consideration of their methods; let him learn the rules whereby that Army works within the veils of Maya. (IHS 203) |
Đạo Quân của Âm Thanh, các thiên thần trong hàng ngũ dày đặc của họ, làm việc không ngừng nghỉ. Hãy để đệ tử chuyên tâm xem xét các phương pháp của họ; hãy để y học các quy luật nhờ đó Đạo Quân ấy hoạt động trong những bức màn của ảo lực. (IHS 203) |
|
83. The term “lesser Builders” is relative. There are always greater “conscious Minds of the system” which can sweep lesser lives into action and group formation. |
83. Thuật ngữ “các vị tiểu kiến tạo” là tương đối. Luôn luôn có những “Trí Tuệ hữu thức của hệ thống” lớn hơn có thể cuốn các sự sống nhỏ hơn vào hoạt động và sự hình thành nhóm. |
|
84. For instance, the free will of man is very limited in relation to greater Beings. Man is swept into activity and group formation by such greater “conscious Minds” as the Planetary Logos and the Solar Logos. Man, then, becomes like a “lesser builder”. |
84. Chẳng hạn, ý chí tự do của con người rất hạn chế trong tương quan với các Hữu thể lớn hơn. Con người bị cuốn vào hoạt động và sự hình thành nhóm bởi những “Trí Tuệ hữu thức” lớn hơn như Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế. Khi ấy, con người trở nên giống như một “vị tiểu kiến tạo”. |
|
85. For practical purposes, however, we are speaking largely of the unconscious lives which are moved and grouped by conscious lives which act upon them. |
85. Tuy nhiên, vì những mục đích thực tiễn, ở đây phần lớn chúng ta đang nói về những sự sống vô thức được di chuyển và tập hợp bởi các sự sống hữu thức tác động lên chúng. |
|
FOOTNOTE 95: |
CHÚ THÍCH 95: |
|
Pitris—The ancestors or creators of mankind. |
Pitris—các thủy tổ hay những đấng sáng tạo ra nhân loại. |
|
86. We should say, “creators of the lower vehicles of man”. |
86. Chúng ta nên nói, “những đấng sáng tạo ra các vận cụ thấp của con người”. |
|
They are of seven classes, three of which are incorporeal and four corporeal. |
Các vị này thuộc bảy lớp, trong đó ba lớp là vô thể và bốn lớp là hữu thể. |
|
87. It is difficult to discern what is meant. The term “corporeal” means possessing a body. Incorporeal entities do not possess a body of the same kind that corporeal beings do. |
87. Thật khó phân biện điều được hàm ý. Thuật ngữ “hữu thể” có nghĩa là sở hữu một thể. Các thực thể vô thể không sở hữu một thể cùng loại như các hữu thể. |
|
88. We must judge that “corporeal” and “incorporeal” are, again, relative terms. |
88. Chúng ta phải phán đoán rằng “hữu thể” và “vô thể”, một lần nữa, là những thuật ngữ tương đối. |
|
89. If the etheric nature is considered physical, it is “corporeal”. By comparison, the Lunar Pitris who provide the emotional and lower mental vehicles would be “incorporeal” |
89. Nếu bản chất dĩ thái được xem là hồng trần, thì nó là “hữu thể”. So sánh mà nói, các thái âm tổ phụ cung cấp các vận cụ cảm xúc và hạ trí sẽ là “vô thể” |
|
These are usually called the Lunar Pitris or Ancestors and must not be confounded with the Solar Pitris or Angels, who give mind to man, and create the relatively permanent body of the ego, or Higher Self. |
Những vị này thường được gọi là các thái âm tổ phụ hay các Thủy Tổ và không được nhầm lẫn với các thái dương tổ phụ hay các Thiên Thần, là những vị ban trí tuệ cho con người, và tạo ra thể tương đối trường tồn của chân ngã, hay Bản Ngã Cao Siêu. |
|
90. The distinction between Lunar and Solar Pitris is foundational. The present problems experienced by humanity arise because this distinction is not understood or acted upon. |
90. Sự phân biệt giữa các thái âm tổ phụ và thái dương tổ phụ là nền tảng. Những vấn đề hiện nay mà nhân loại trải qua phát sinh vì sự phân biệt này không được thấu hiểu hay được hành động theo. |
|
91. The idea that the Solar Angels gave mind to man is only partially true. Actually, they stimulated the development of the latent mind of animal man. Mind is inherent in the Monad (and, in fact, in all Monads) and, in time, would develop even without the intervention of the Solar Angels. Their intervention, however, advanced by millions of years the process of those who would eventually become human. |
91. Ý tưởng cho rằng các Thái dương Thiên Thần đã ban trí tuệ cho con người chỉ đúng một phần. Thực ra, các vị ấy đã kích thích sự phát triển của trí tuệ tiềm ẩn nơi người thú. Trí tuệ vốn cố hữu trong chân thần (và thật ra trong mọi chân thần) và, theo thời gian, sẽ phát triển ngay cả không có sự can thiệp của các Thái dương Thiên Thần. Tuy nhiên, sự can thiệp của các vị ấy đã đẩy nhanh tiến trình của những kẻ rốt cuộc sẽ trở thành con người lên hàng triệu năm. |
|
At the present stage of evolution—during the period of Light — it is difficult for the human being (until he has attained the consciousness of the Ego) to differentiate between the types of force, and to work consciously with these dual aspects. |
Ở giai đoạn tiến hoá hiện nay—trong thời kỳ của Ánh sáng — con người khó có thể (cho đến khi y đạt được tâm thức của Chân ngã) phân biệt giữa các loại mãnh lực, và làm việc một cách hữu thức với các phương diện kép này. |
|
92. Average human beings are so enmeshed in lunar forces that they do not realize that solar forces also exist. Even if they understand that solar forces exist, it is difficult for them to discriminate such forces from the more obviously present lunar forces. Presently, human consciousness is deeply veiled. |
92. Những con người trung bình bị vướng mắc trong các mãnh lực thái âm đến mức họ không nhận ra rằng các mãnh lực thái dương cũng tồn tại. Ngay cả nếu họ hiểu rằng các mãnh lực thái dương tồn tại, họ cũng khó phân biện những mãnh lực ấy với các mãnh lực thái âm hiện diện hiển nhiên hơn. Hiện nay, tâm thức con người còn bị che phủ rất sâu. |
|
93. At the third degree one consciously attains the consciousness of the Ego. In that far more solarized state of consciousness, it is easier to perceive the contrast between the solar and lunar forces. |
93. Ở cấp độ thứ ba, người ta hữu thức đạt được tâm thức của Chân ngã. Trong trạng thái tâm thức được thái dương hóa hơn rất nhiều ấy, việc nhận ra sự tương phản giữa các mãnh lực thái dương và thái âm trở nên dễ dàng hơn. |
|
94. The phrase “during the period of Light” is not easy to interpret. From one perspective, Spirit is “darkness” and we do not yet live in that form-obliterating, difference-obscuring darkness provided by Spirit-perception. Our consciousness is still very much captivated by that which “Light” reveals. (cf. Rule IX, R&I 22, 171). We are working within substance and are enveloped by both the “Mother” and the “Son”. |
94. Cụm từ “trong thời kỳ của Ánh sáng” không dễ diễn giải. Từ một góc nhìn, tinh thần là “bóng tối” và chúng ta chưa sống trong bóng tối xóa mờ hình tướng, che khuất dị biệt do tri giác tinh thần mang lại ấy. Tâm thức của chúng ta vẫn còn bị mê hoặc rất nhiều bởi điều mà “Ánh sáng” tiết lộ. (x. quy luật IX, R&I 22, 171). Chúng ta đang làm việc trong chất liệu và được bao bọc bởi cả “Mẹ” lẫn “Con”. |
|
95. The meaning of the phrase may be entirely other than that proposed, but at least one interpretation is put forth. |
95. Ý nghĩa của cụm từ này có thể hoàn toàn khác với điều được đề xuất, nhưng ít nhất một cách diễn giải đã được nêu ra. |
|
An Adept of the Light works with force in substance, viewing substance as that which is negative, and therefore occultly to be moved, |
Một chân sư của Ánh sáng làm việc với mãnh lực trong chất liệu, xem chất liệu là cái âm tính, và do đó theo huyền bí học phải được di chuyển, |
|
96. The highest expression of “Light” per se (and in relation to the human kingdom), comes at the fifth initiation. Masters are still human beings; Chohans, technically, are not. They have entered the “Darkness”. |
96. Biểu hiện cao nhất của “Ánh sáng” chính nó (và trong tương quan với giới nhân loại) đến ở lần điểm đạo thứ năm. Các Chân sư vẫn là những con người; còn các Chohan, về mặt kỹ thuật, thì không. Các Ngài đã đi vào “Bóng tối”. |
|
97. Substance is occultly negative and exhibits the quality of inertia. It is not ‘self-moving’ and, therefore, has to be “moved”, or acted upon. |
97. Chất liệu theo huyền bí học là âm tính và biểu lộ phẩm tính quán tính. Nó không “tự chuyển động” và do đó phải được “di chuyển”, hay bị tác động lên. |
|
98. The term “Adept of the Light” is used here in contrast to “Brother of Darkness”. |
98. Thuật ngữ “Chân sư của Ánh sáng” được dùng ở đây để đối chiếu với “Huynh Đệ của Bóng tối”. |
|
and He can do this because He has (in the three worlds of His endeavour) achieved unity, or the point of balance and equilibrium, and can therefore balance forces and deal with positive and negative energies as appears best in the interests of the plan of evolution. |
và Ngài có thể làm điều này vì Ngài đã (trong ba cõi giới của nỗ lực của Ngài) đạt được sự hợp nhất, hay điểm quân bình và cân bằng, và do đó có thể quân bình các mãnh lực và đề cập đến các năng lượng dương tính và âm tính theo cách có vẻ tốt nhất cho lợi ích của thiên cơ tiến hoá. |
|
99. The relationship of the sign Libra to the stage of Mastership has not been much emphasized, but it is unquestionably present. |
99. Mối liên hệ của dấu hiệu Thiên Bình với giai đoạn Chân sư quả chưa được nhấn mạnh nhiều, nhưng chắc chắn là có hiện diện. |
|
100. The “unity” achieved by the Master is related to the sign Leo, which occultly rules the fifth degree. The realization of unity is achieved by means of solar energies. One symbol for the Master is the Sun (the circle with the central dot). |
100. “Sự hợp nhất” mà Chân sư đạt được có liên hệ với dấu hiệu Sư Tử, vốn một cách huyền bí cai quản cấp độ thứ năm. Sự chứng nghiệm hợp nhất đạt được nhờ các năng lượng thái dương. Một biểu tượng của Chân sư là Mặt Trời (vòng tròn với chấm ở trung tâm). |
|
101. The Master stands at the acme of what we might call ‘first solar system development’ (even though the Arhat initiation was the highest initiation offered in that system). The Master has mastered or dominated the substance which is residual from that earlier system. Symbolically, He stands with his foot upon the “Serpent of Matter”. |
101. Chân sư đứng ở đỉnh cao của điều mà chúng ta có thể gọi là “sự phát triển của hệ mặt trời thứ nhất” (dù lần điểm đạo A-la-hán là lần điểm đạo cao nhất được ban trong hệ thống ấy). Chân sư đã làm chủ hay chế ngự chất liệu còn sót lại từ hệ thống trước đó. Một cách biểu tượng, Ngài đứng với bàn chân đặt trên “Con Rắn của Vật Chất”. |
|
102. He stands at the acme of intelligence and has become an intelligent manipulator of those forces. Therefore, He is an example, generically, of the triumph of the third ray. He is an Adept and can, thus, adapt matter/force to His purposes which are, of course, the purposes of the Divine Plan and Purpose (as He understands that Plan and Purpose). |
102. Ngài đứng ở đỉnh cao của trí tuệ và đã trở thành một người thao tác thông minh đối với các mãnh lực ấy. Vì vậy, một cách tổng quát, Ngài là một ví dụ về sự chiến thắng của cung ba. Ngài là một chân sư và do đó có thể thích ứng vật chất/mãnh lực với các mục đích của Ngài, mà dĩ nhiên là các mục đích của Thiên Cơ và Thiên Ý (theo như Ngài hiểu Thiên Cơ và Thiên Ý ấy). |
|
The Brother of Darkness, knowing himself to be positive force in essence, works with negative substance, or with the lesser Builders to bring about ends [Page 615] of his own, incited thereto by selfish motive. |
Huynh đệ của Bóng tối, biết mình về bản chất là mãnh lực dương tính, làm việc với chất liệu âm tính, hay với các vị tiểu kiến tạo để mang lại những mục đích [Page 615] của riêng y, bị thúc đẩy vào đó bởi động cơ ích kỷ. |
|
103. We have just see that a “Brother of Light” also works in substance, regarding it as something “occultly to be moved”, but His motive and objective are entirely other than those of the “Brother of Darkness”. |
103. Chúng ta vừa thấy rằng một “Huynh đệ của Ánh sáng” cũng làm việc trong chất liệu, xem nó như một cái gì đó “theo huyền bí học phải được di chuyển”, nhưng động cơ và mục tiêu của Ngài hoàn toàn khác với của “Huynh đệ của Bóng tối”. |
|
104. We can imagine that the work of the Brother of Darkness binds and enslaves the lives expressing as substance, and that the Brother of Light works in a manner which leads to the eventual liberation of these lesser lives. |
104. Chúng ta có thể hình dung rằng công việc của Huynh đệ của Bóng tối trói buộc và nô dịch các sự sống biểu lộ thành chất liệu, còn Huynh đệ của Ánh sáng làm việc theo cách dẫn đến sự giải thoát cuối cùng của những sự sống nhỏ bé ấy. |
|
The Brothers of Light co-operate with the positive aspect in, and of, all forms—the building devas of evolutionary intent—in order to bring about the purposes of the Heavenly Man Who is the sumtotal of planetary physical manifestation. |
Các Huynh đệ của Ánh sáng hợp tác với phương diện dương tính trong, và của, mọi hình tướng—các thiên thần kiến tạo với ý hướng tiến hoá—để mang lại các mục đích của Đấng Thiên Nhân là Đấng là tổng thể của biểu hiện hồng trần hành tinh. |
|
105. We have already seen that the Brother of Light seeks to stimulate the positive nucleus, or Spirit, within the human being. There is also a central spiritual core within every form and with this core the Brother of Light works. |
105. Chúng ta đã thấy rằng Huynh đệ của Ánh sáng tìm cách kích thích hạt nhân dương tính, hay tinh thần, bên trong con người. Cũng có một cốt lõi tinh thần trung tâm bên trong mọi hình tướng, và với cốt lõi này Huynh đệ của Ánh sáng làm việc. |
|
106. There is also the tendency of the Brother of Light to work with the positive aspect of forms rather than the negative aspect. He tends to work with “the building devas of evolutionary intent” rather than with the blind, elemental forces. |
106. Huynh đệ của Ánh sáng cũng có khuynh hướng làm việc với phương diện dương tính của các hình tướng hơn là phương diện âm tính. Y có xu hướng làm việc với “các thiên thần kiến tạo với ý hướng tiến hoá” hơn là với các mãnh lực hành khí mù quáng. |
|
107. Clearly there is a conscious and unconscious way. The “Brother of Light” promotes the ‘Conscious Way’ and the “Brother of Darkness” does all he can to promote unconsciousness (in those he wishes to enslave). When the tide of ignorance in humanity rises precipitously, the “Brothers of Darkness” are at work. |
107. Rõ ràng có một con đường hữu thức và một con đường vô thức. “Huynh đệ của Ánh sáng” thúc đẩy “Con Đường Hữu Thức”, còn “Huynh đệ của Bóng tối” làm mọi điều y có thể để thúc đẩy tình trạng vô thức (nơi những kẻ y muốn nô dịch). Khi làn sóng vô minh trong nhân loại dâng lên đột ngột, các “Huynh đệ của Bóng tối” đang hoạt động. |
|
108. We may notice that a rather special definition of a Heavenly Man seems to have been given—He is the “sumtotal of planetary physical manifestation”. |
108. Chúng ta có thể lưu ý rằng dường như một định nghĩa khá đặc biệt về Đấng Thiên Nhân đã được đưa ra—Ngài là “tổng thể của biểu hiện hồng trần hành tinh”. |
|
109. Those who take exception to the equating of the terms “Planetary Logos” and “Heavenly Man” should look closely at this rather limiting definition of a Heavenly Man. |
109. Những ai phản đối việc đồng nhất hai thuật ngữ “Hành Tinh Thượng đế” và “Đấng Thiên Nhân” nên xem xét kỹ định nghĩa khá giới hạn này về một Đấng Thiên Nhân. |
|
110. Alternatively, we could be speaking of one particular Heavenly Man Who, Himself, “is the sumtotal of planetary physical manifestation”—for instance, the Globe Lord of the Earth-globe. |
110. Hoặc, chúng ta có thể đang nói về một Đấng Thiên Nhân đặc biệt, Đấng mà chính Ngài “là tổng thể của biểu hiện hồng trần hành tinh”—chẳng hạn, Chúa Tể bầu hành tinh của bầu Địa Cầu. |
|
111. From yet another perspective, we might ask, “Is there one particular Heavenly Man, Who is not a Globe Lord, Who is the embodiment “of planetary physical manifestation”? We probably should confine ourselves to the planetary scheme of Earth, in which case the answer becomes simpler. If we think of such a Heavenly Man as a systemic Being, we shall have to ponder the possibilities. |
111. Từ một góc nhìn khác nữa, chúng ta có thể hỏi, “Có phải có một Đấng Thiên Nhân đặc biệt nào đó, không phải là một Chúa Tể bầu hành tinh, là hiện thân ‘của biểu hiện hồng trần hành tinh’ không?” Có lẽ chúng ta nên giới hạn mình trong hệ hành tinh của Trái Đất, trong trường hợp đó câu trả lời trở nên đơn giản hơn. Nếu chúng ta nghĩ về một Đấng Thiên Nhân như thế như một Hữu thể hệ thống, chúng ta sẽ phải suy ngẫm về các khả năng. |
|
It can be seen, therefore, how necessary it is that the functions of the devas of all grades be comprehended. |
Do đó, có thể thấy các chức năng của những thiên thần ở mọi cấp bậc cần được thấu hiểu đến mức nào. |
|
112. We must realize that there are a huge number of grades. In studying these grades we are studying the many diverse forces of Nature. |
112. Chúng ta phải nhận ra rằng có một số lượng cấp bậc vô cùng lớn. Khi nghiên cứu các cấp bậc này, chúng ta đang nghiên cứu nhiều mãnh lực đa dạng của Thiên Nhiên. |
|
It is however equally important that man should refrain from the manipulation of these forces of nature until such time as he “knows” himself, and his own powers, and until he has fully unfolded the consciousness of the ego; |
Tuy nhiên, điều quan trọng không kém là con người phải tránh thao túng các mãnh lực này của thiên nhiên cho đến khi y “biết” chính mình, và các quyền năng của chính y, và cho đến khi y đã khai mở trọn vẹn tâm thức của chân ngã; |
|
113. What are the requirements to be fulfilled before the forces of nature can be safely and wisely manipulated: |
113. Những điều kiện nào phải được hoàn tất trước khi các mãnh lực của thiên nhiên có thể được thao túng một cách an toàn và minh triết: |
|
a. Man must know himself |
a. Con người phải biết chính mình |
|
b. Man must know his own powers |
b. Con người phải biết các quyền năng của chính mình |
|
c. Man must have unfolded the powers and consciousness of the Ego |
c. Con người phải khai mở các quyền năng và tâm thức của Chân ngã |
|
114. We have been told that intercourse with the lower devas (those of the eighteen lower sub-planes) is not initially allowed. Man may now attempt to approach the higher devas (such as Solar Angels or guardian angels), but not the lower. He does not yet know enough nor is he sufficiently ‘Self-possessed’. |
114. Chúng ta đã được cho biết rằng lúc ban đầu không được phép giao tiếp với các thiên thần thấp hơn (những vị thuộc mười tám cõi phụ thấp). Hiện nay con người có thể cố gắng tiếp cận các thiên thần cao hơn (như các Thái dương Thiên Thần hay các thiên thần hộ vệ), nhưng không phải các vị thấp hơn. Y vẫn chưa biết đủ và cũng chưa đủ “tự chủ”. |
|
then, and only then, can he safely, wisely, and intelligently co-operate in the plan. |
khi ấy, và chỉ khi ấy, y mới có thể hợp tác trong Thiên Cơ một cách an toàn, minh triết và thông tuệ. |
|
115. We gather here that one very important mode of cooperation with the Divine Plan is through the manipulation of devic forces. |
115. Ở đây chúng ta rút ra rằng một phương thức hợp tác rất quan trọng với Thiên Cơ là thông qua việc thao túng các mãnh lực thiên thần. |
|
116. Until the requirements for safe, wise and intelligent manipulation of such forces are fulfilled, man must find other methods of cooperating with the Plan. |
116. Cho đến khi các điều kiện để thao túng những mãnh lực ấy một cách an toàn, minh triết và thông tuệ được hoàn tất, con người phải tìm ra những phương pháp khác để hợp tác với Thiên Cơ. |
|
As yet, for the average man or even the advanced man this is dangerous to attempt and impossible to accomplish. |
Hiện nay, đối với người trung bình hay ngay cả người tiến bộ, điều này là nguy hiểm nếu cố làm và không thể hoàn thành. |
|
117. DK is telling us who may safely, wisely and intelligently manipulate the devic forces of nature and who may not. When the term “nature” is used, it usually means the forces of the eighteen lower sub-planes. If “Nature” is capitalized, it can indicate the forces of the cosmic physical plane, which, cosmically are natural (i.e., pertaining to material life). |
117. Chân sư DK đang cho chúng ta biết ai có thể thao túng các mãnh lực thiên thần của thiên nhiên một cách an toàn, minh triết và thông tuệ, và ai thì không thể. Khi thuật ngữ “nature” được dùng, nó thường có nghĩa là các mãnh lực của mười tám cõi phụ thấp. Nếu “Nature” được viết hoa, nó có thể chỉ các mãnh lực của cõi hồng trần vũ trụ, vốn, xét theo vũ trụ, là tự nhiên (tức là thuộc về sự sống vật chất). |
|
118. It would seem that the manipulation of the unconscious devic lives is very securely guarded. Average and even advanced man (not yet initiate) may succeed in contacting them and may affect them, but cannot do so safely, wisely and intelligently and cannot thereby assist the working out of the Divine Plan. All he can do is endanger himself and possibly interfere with the correct working out of the Plan. |
118. Dường như việc thao túng các sự sống thiên thần vô thức được canh giữ rất nghiêm ngặt. Người trung bình và ngay cả người tiến bộ (chưa phải điểm đạo đồ) có thể thành công trong việc tiếp xúc với họ và có thể tác động đến họ, nhưng không thể làm như vậy một cách an toàn, minh triết và thông tuệ, và do đó không thể trợ giúp cho sự triển khai của Thiên Cơ. Tất cả những gì y có thể làm là gây nguy hiểm cho chính mình và có thể cản trở sự triển khai đúng đắn của Thiên Cơ. |
|
Now, let us add a few more statements upon which the student can ponder before we pass on to study specifically the three main groups of building devas on the three planes in the three worlds which most intimately concern man. |
Bây giờ, chúng ta hãy thêm một vài phát biểu nữa để đạo sinh có thể suy ngẫm trước khi chúng ta chuyển sang nghiên cứu cụ thể ba nhóm chính của các thiên thần kiến tạo trên ba cõi trong ba cõi giới có liên hệ mật thiết nhất với con người. |
|
119. So far we are dealing with general information and are preparing to take up a study of specific devas. |
119. Cho đến nay chúng ta đang bàn đến thông tin tổng quát và đang chuẩn bị bắt đầu nghiên cứu các thiên thần cụ thể. |
|
The building devas96 are the Ah-hi, or Universal Mind. They contain within their consciousness the plan logoic, [Page 616] and inherently possess the power to work it out in time and space, being the conscious forces of evolution. |
Các thiên thần kiến tạo96 là các Ah-hi, hay Vũ Trụ Trí. Trong tâm thức của mình, các Ngài chứa đựng thiên cơ logoic, [Page 616] và vốn sẵn có quyền năng triển khai nó trong thời gian và không gian, vì các Ngài là những mãnh lực có ý thức của tiến hoá. |
|
120. The Ah-hi are solar systemic Beings. They are not simply planetary in scope. |
120. Các Ah-hi là những Hữu thể thuộc hệ mặt trời. Phạm vi của các Ngài không chỉ đơn thuần là hành tinh. |
|
121. It is essential that we understand the meaning of “Universal Mind”. Our solar system is frequently referred to as a “universe” and so the “Universal Mind” would be the Mind of the Solar Logos. |
121. Điều cốt yếu là chúng ta phải hiểu ý nghĩa của “Vũ Trụ Trí”. Hệ mặt trời của chúng ta thường được gọi là một “vũ trụ”, và vì thế “Vũ Trụ Trí” sẽ là Trí của Thái dương Thượng đế. |
|
122. Thus, to ‘locate’ “Universal Mind” we might be taken to the cosmic mental plane in its two divisions. |
122. Như vậy, để “định vị” “Vũ Trụ Trí”, chúng ta có thể được dẫn đến cõi trí vũ trụ trong hai phân bộ của nó. |
|
123. From another perspective, all of Brahma is the “Universal Mind” and Brahma, Fohat, Agni are intelligently active on all the eighteen lower cosmic sub-planes. |
123. Từ một góc nhìn khác, toàn bộ Brahma là “Vũ Trụ Trí”, và Brahma, Fohat, Agni hoạt động một cách thông tuệ trên toàn bộ mười tám cõi phụ vũ trụ thấp. |
|
124. Closer to our own level of experience, Universal Mind is reflected on the cosmic physical plane and especially on the atmic level which is ruled by Saturn and the third ray. |
124. Gần hơn với cấp độ kinh nghiệm của chính chúng ta, Vũ Trụ Trí được phản chiếu trên cõi hồng trần vũ trụ và đặc biệt trên cấp độ atma, vốn được Sao Thổ và cung ba cai quản. |
|
125. If we study what is said in the section of text above, there are many atmic ‘signatures’. |
125. Nếu chúng ta nghiên cứu điều được nói trong phần văn bản trên, có nhiều “dấu ấn” atma. |
|
a. The atmic plane is especially associated with the Divine Plan, the “plan logoic”. |
a. Cõi atma đặc biệt gắn liền với Thiên Cơ, “thiên cơ logoic”. |
|
b. The atmic plane is the specifically Brahmic plane (of the higher planes) and is, thus, specifically related to time and space. Its Word is the A.U.M. which is the Word of the third aspect. |
b. Cõi atma là cõi đặc thù của Brahma (trong các cõi cao) và vì vậy đặc biệt liên hệ với thời gian và không gian. Linh từ của nó là A.U.M., tức Quyền năng từ của phương diện thứ ba. |
|
c. The forces of the Universal Mind are the “conscious forces of evolution”. The forces behind the Will-to-Evolve can be found expressing on the atmic plane. The Will-to-Evolve is the third ray expression of the Divine Will and is, thus, particularly related to the atmic plane—the third plane. |
c. Các mãnh lực của Vũ Trụ Trí là “những mãnh lực có ý thức của tiến hoá”. Những mãnh lực đứng sau Ý Chí-hướng đến Tiến Hoá có thể được tìm thấy đang biểu lộ trên cõi atma. Ý Chí-hướng đến Tiến Hoá là biểu hiện cung ba của Ý Chí thiêng liêng và vì vậy đặc biệt liên hệ với cõi atma—cõi thứ ba. |
|
FOOTNOTE: 96 |
CHÚ THÍCH: 96 |
|
Devas. “…he would have |
Các thiên thần. “…ông ấy hẳn đã |
|
(1) divided the Devas into two classes—and called them the “Rupa-devas” and the “Arupa-devas” (the “form” or objective, and the “formless” or subjective Dhyan Chohans; |
(1) chia các thiên thần thành hai loại—và gọi chúng là “Rupa-devas” và “Arupa-devas” (các Dhyan Chohans “có hình tướng” hay khách quan, và “vô tướng” hay chủ quan; |
|
126. We see that some devic lives of a very high nature are called “Dhyan Chohans” |
126. Chúng ta thấy rằng một số sự sống thiên thần có bản chất rất cao được gọi là “Dhyan Chohans” |
|
127. From the perspective of the Planetary Logos, the rupa levels are found beneath the higher mental plane and the arupa levels on that plane (the higher mental) and above. |
127. Từ góc nhìn của Hành Tinh Thượng đế, các cấp độ rupa được tìm thấy bên dưới Cõi thượng trí và các cấp độ arupa ở trên cõi ấy (cõi thượng trí) và cao hơn nữa. |
|
128. From the solar logoic perspective, everything below the buddhic plane is rupa. |
128. Từ góc nhìn của Thái dương Thượng đế, mọi thứ bên dưới cõi Bồ đề đều là rupa. |
|
and |
và |
|
(2) would have done the same for his class of “men” since there are Shells and “Mara-rupas”—i.e. bodies doomed to annihilation. |
(2) cũng sẽ làm điều tương tự đối với loại “người” của ông ấy vì có các Vỏ và “Mara-rupas”—tức các thể bị định phải bị huỷ diệt. |
|
129. These are obviously lower or degenerate forms. Wherever we see the word “Mara” we are reminded of the enemy of the Buddha—the personification of the forces of glamor and illusion. |
129. Đây rõ ràng là những hình tướng thấp hoặc thoái hoá. Bất cứ nơi nào chúng ta thấy từ “Mara”, chúng ta đều được nhắc nhớ đến kẻ thù của Đức Phật—sự nhân cách hoá các mãnh lực của ảo cảm và ảo tưởng. |
|
All these are: |
Tất cả những loại này là: |
|
(1) “Rupa-devas”—Dhyan Chohans, having forms. | Ex-men. |
(1) “Rupa-devas”—Dhyan Chohans, có hình tướng. | Cựu nhân loại. |
|
130. By “ex-men” we mean those who have evolved through the human kingdom. |
130. Bởi “cựu nhân loại”, chúng ta muốn nói đến những vị đã tiến hoá qua giới nhân loại. |
|
131. The “Rupa-devas”, if they are Dhyan Chohans, are advanced beings. We can assume that for purposes of service, they have retained (or have generated) forms which can be used in the lower three worlds, hence the appellation, “Rupa”. |
131. Các “Rupa-devas”, nếu là Dhyan Chohans, là những hữu thể tiến hoá cao. Chúng ta có thể giả định rằng vì mục đích phụng sự, các vị ấy đã giữ lại (hoặc đã tạo ra) những hình tướng có thể được sử dụng trong ba cõi thấp, do đó có danh xưng “Rupa”. |
|
(2) “Arupa-devas”—Dhyan Chohans, having no forms. | Ex-men. |
(2) “Arupa-devas”—Dhyan Chohans, không có hình tướng. | Cựu nhân loại. |
|
132. We can conceive of these “Arupa-devas” as ‘graduate’ human beings who inhabit the cosmic etheric planes, and perhaps the higher mental plane. |
132. Chúng ta có thể hình dung các “Arupa-devas” này như những con người đã “tốt nghiệp”, cư ngụ trên các cõi dĩ thái vũ trụ, và có lẽ cả trên Cõi thượng trí. |
|
133. It would be of importance to know how these rupa and arupa devas became “ex-men”. Was it before they had mastered the spiritual curriculum, or only afterwards—once they had. |
133. Điều quan trọng là phải biết các thiên thần rupa và arupa này đã trở thành “cựu nhân loại” như thế nào. Có phải trước khi họ làm chủ chương trình học tinh thần, hay chỉ sau đó—một khi họ đã làm chủ. |
|
(3) “Pisachas”—(two-principled) ghosts. |
(3) “Pisachas”—ma quỷ (nhị nguyên khí). |
|
134. It would seem that there is no intelligence in these beings. They seem to be possessed of an etheric nature and perhaps of prana. |
134. Dường như không có trí tuệ trong những hữu thể này. Chúng có vẻ sở hữu một bản chất dĩ thái và có lẽ cả prana. |
|
(4) “Mara-rupa”—Doomed to death (three principled). |
(4) “Mara-rupa”—Bị định phải chết (tam nguyên khí). |
|
135. These beings (since the name “Mara” is attached to them) must have for one of their principles, “kama”. The major ‘haunt’ of “Mara” is the astral plane which is the plane of kama. |
135. Những hữu thể này (vì tên “Mara” gắn với chúng) hẳn phải có một trong các nguyên khí của mình là “kama”. “Nơi ám trú” chính của “Mara” là cõi cảm dục, vốn là cõi của kama. |
|
136. Sometimes “kama” is not enumerated as a principle and is replaced by “kama-manas”. |
136. Đôi khi “kama” không được liệt kê như một nguyên khí và được thay bằng “kama-manas”. |
|
137. The three principles of these beings would then be: the etheric body, prana and kama or, alternatively, the etheric body, prana and kama-manas. |
137. Khi đó ba nguyên khí của những hữu thể này sẽ là: thể dĩ thái, prana và kama hoặc, cách khác, thể dĩ thái, prana và trí-cảm. |
|
138. They are doomed to death because they are not informed by the energy of higher mind which confers the immortality of the soul/Ego/Monad. |
138. Chúng bị định phải chết vì không được thấm nhuần bởi năng lượng của thượng trí, năng lượng ban cho sự bất tử của linh hồn/chân ngã/chân thần. |
|
(5) Asuras—Elementals—having human form. | Future men. |
(5) Asuras—các hành khí—mang hình người. | Nhân loại tương lai. |
|
139. Sometimes the term “asuras” means “demons”. This is not the case here. We are speaking of the lords of the human lunar vehicles who will, eventually, become self-conscious as they evolve into human beings. |
139. Đôi khi thuật ngữ “asuras” có nghĩa là “quỷ”. Ở đây không phải vậy. Chúng ta đang nói đến các chúa tể của những vận cụ nguyệt tính của con người, những vị cuối cùng sẽ trở nên có ngã thức khi tiến hoá thành con người. |
|
140. In the Secret Doctrine HPB tells us that the Solar Angels or Agnishvattas are really “Asuras”. History has slandered these great Beings, demoting their clearly divine status to demons. |
140. Trong Giáo Lý Bí Nhiệm HPB cho chúng ta biết rằng các Thái dương Thiên Thần hay Agnishvattas thực sự là “Asuras”. Lịch sử đã vu khống những Hữu thể vĩ đại này, hạ thấp địa vị rõ ràng thiêng liêng của các Ngài xuống thành quỷ. |
|
(6) Beasts—Elementals second class—animal elementals. | Future men |
(6) Thú vật—hành khí loại hai—các hành khí động vật. | Nhân loại tương lai |
|
141. Animals will be individualized, eventually. Here we are speaking of the etheric/astral forms of animals. |
141. Các động vật cuối cùng sẽ được biệt ngã hóa. Ở đây chúng ta đang nói đến các hình tướng dĩ thái/cảm dục của động vật. |
|
(7) Rakshasas—(Demons) Souls or Astral Forms of sorcerers; men who have reached the apex of knowledge in the forbidden art. Dead or alive they have, so to say, cheated nature; but it is only temporary—until our planet goes into obscuration, after which they have nolens volens to be annihilated. |
(7) Rakshasas—(Quỷ) các linh hồn hay các hình tướng cảm dục của những phù thủy; những người đã đạt đến đỉnh cao tri thức trong tà thuật bị cấm. Dù chết hay sống, có thể nói rằng họ đã lừa được thiên nhiên; nhưng điều đó chỉ là tạm thời—cho đến khi hành tinh của chúng ta đi vào sự che khuất, sau đó họ, dù muốn hay không, đều phải bị huỷ diệt. |
|
142. There are intelligent (often, very intelligent) human beings. They have been severed from the Solar Angel. They probably still have a causal body which is the repository of their accumulated human experience and a resource upon which they can draw—but this causal body is not animated by the Christ-Principle and a Solar Angel is no longer associated with it. |
142. Có những con người thông tuệ (thường là, rất thông tuệ). Họ đã bị cắt lìa khỏi Thái dương Thiên Thần. Có lẽ họ vẫn còn một thể nguyên nhân là nơi lưu giữ kinh nghiệm nhân loại đã tích luỹ của họ và là một nguồn lực mà họ có thể rút dùng—nhưng thể nguyên nhân này không được nguyên khí Christ làm sinh động, và một Thái dương Thiên Thần không còn liên kết với nó nữa. |
|
143. It may be that we have wondered how long a demon can survive before compulsory annihilation in the “eighth sphere”. HPB tells us that their annihilation will come when our planet goes into obscuration. In this regard (since our planet—considered as a globe—following those spans known as “World Periods” goes through a number of obscurations) we must wonder whether we are speaking of a temporary obscuration of a globe or the obscuration of the entire planetary scheme. |
143. Có thể chúng ta từng tự hỏi một quỷ có thể tồn tại bao lâu trước khi bị buộc phải huỷ diệt trong “khối cầu thứ tám”. HPB cho chúng ta biết rằng sự huỷ diệt của họ sẽ đến khi hành tinh của chúng ta đi vào sự che khuất. Về phương diện này (vì hành tinh của chúng ta—được xét như một bầu hành tinh—sau những chu kỳ được gọi là “Thời Kỳ Thế Giới” sẽ trải qua một số lần che khuất), chúng ta phải tự hỏi liệu ở đây đang nói đến sự che khuất tạm thời của một bầu hành tinh hay sự che khuất của toàn bộ hệ hành tinh. |
|
144. It would seem that it is the obscuration of the planetary scheme which is discussed but further research is necessary. |
144. Dường như điều được bàn đến là sự che khuất của hệ hành tinh, nhưng vẫn cần nghiên cứu thêm. |
|
It is these seven groups that form the principal divisions of the Dwellers of the subjective world around us.”—Mahatma Letters to A. P. Sinnett, 107. |
Chính bảy nhóm này tạo thành những phân bộ chính của các Kẻ Chận Ngõ của thế giới chủ quan quanh chúng ta.”—Mahatma Letters to A. P. Sinnett, 107. |
|
145. This is a very valuable tabulation. It is probable that the average reader of TCF is not yet in a position to ‘navigate’ the subtle worlds in subtle vehicles, but the time will come and, then, the inhabitants of these worlds must be understood because they will be encountered.. |
145. Đây là một bảng phân loại rất có giá trị. Có lẽ độc giả trung bình của TCF chưa ở vào vị thế có thể “định hướng” trong các thế giới vi tế bằng các vận cụ vi tế, nhưng thời điểm ấy sẽ đến, và khi đó cư dân của các thế giới này phải được hiểu rõ vì họ sẽ được gặp. |
|
They not only embody the Divine Thought but are that through which it manifests, and its actuating activity. They are essentially motion. |
Các Ngài không những hiện thân cho Tư Tưởng thiêng liêng mà còn là cái qua đó Tư Tưởng ấy biểu lộ, và là hoạt động thúc đẩy của nó. Về bản chất, các Ngài chính là chuyển động. |
|
146. We are now returning to a discussion of the Universal Mind. |
146. Giờ đây chúng ta đang quay lại với cuộc bàn luận về Vũ Trụ Trí. |
|
147. The Ah-hi are said to be two things: |
147. Các Ah-hi được nói là hai điều: |
|
a. They embody Divine Thought |
a. Các Ngài hiện thân cho Tư Tưởng thiêng liêng |
|
b. They are that through which Divine Thought manifests—the “actuating activity” of Divine Thought. |
b. Các Ngài là cái qua đó Tư Tưởng thiêng liêng biểu lộ—“hoạt động thúc đẩy” của Tư Tưởng thiêng liêng. |
|
148. We can link the Ah-hi to Agni by remembering that Agni has just been called “actuating fire” (TCF 606) |
148. Chúng ta có thể liên kết các Ah-hi với Agni bằng cách nhớ rằng Agni vừa được gọi là “lửa thúc đẩy” (TCF 606) |
|
149. It would seem that the Ah-hi have a ‘formless form’. We must remember that our arupa or formless levels are, nonetheless, rupa from a cosmic perspective. Shape and form still exists upon the cosmic etheric planes, just as it does upon the systemic etheric planes. |
149. Dường như các Ah-hi có một “hình tướng vô tướng”. Chúng ta phải nhớ rằng các cấp độ arupa hay vô tướng của chúng ta, tuy vậy, vẫn là rupa từ góc nhìn vũ trụ. Hình dạng và hình tướng vẫn tồn tại trên các cõi dĩ thái vũ trụ, cũng như trên các cõi dĩ thái của hệ thống. |
|
150. Thus the Ah-hi are subtle cosmic etheric forms through which Divine Thought can find expression. |
150. Như vậy các Ah-hi là những hình tướng dĩ thái vũ trụ vi tế qua đó Tư Tưởng thiêng liêng có thể tìm được sự biểu lộ. |
|
151. They also actuate Divine Thought, setting it in motion as an actuating, positive force in relation to lesser and negative forces. |
151. Các Ngài cũng thúc đẩy Tư Tưởng thiêng liêng, đặt nó vào chuyển động như một mãnh lực thúc đẩy, tích cực trong tương quan với các mãnh lực nhỏ hơn và tiêu cực. |
|
152. We can see the close relation between: |
152. Chúng ta có thể thấy mối liên hệ mật thiết giữa: |
|
a. Agni |
a. Agni |
|
b. Fohat |
b. Fohat |
|
c. Brahma |
c. Brahma |
|
d. Holy Spirit |
d. Chúa Thánh Thần |
|
e. Universal Mind |
e. Vũ Trụ Trí |
|
f. The Ah-hi |
f. Các Ah-hi |
|
The lesser builders are more particularly the material form which is actuated, and in their cohorts are the substance of matter (considering substance as that which lies back of matter). |
Các vị tiểu kiến tạo đặc biệt là hình tướng vật chất được thúc động, và trong các đoàn ngũ của họ là chất liệu của vật chất (xét chất liệu như cái nằm phía sau vật chất). |
|
153. The concept we are discussing is relatively simple: we are speaking of the movers and that which is moved; of that which impels and that which receives the impulsion; of positive and negative. |
153. Khái niệm chúng ta đang bàn đến tương đối đơn giản: chúng ta đang nói về cái làm chuyển động và cái được chuyển động; về cái thúc đẩy và cái tiếp nhận sự thúc đẩy; về tích cực và tiêu cực. |
|
154. The lesser builders are substance/matter which is acted upon by the Greater Builders. There is motion—the Greater Builders; and there is that which is moved—the lesser builders. |
154. Các vị tiểu kiến tạo là chất liệu/vật chất chịu tác động của các đấng đại kiến tạo. Có chuyển động—các đấng đại kiến tạo; và có cái được chuyển động—các vị tiểu kiến tạo. |
|
155. The Masters sometimes speak of the “material” with which They have to work. Their students are this “material”; Their students are then, analogously, “lesser builders” when compared to the Masters. |
155. Các Chân sư đôi khi nói về “vật liệu” mà Các Ngài phải làm việc cùng. Các đạo sinh của Các Ngài là “vật liệu” này; do đó, theo phép tương đồng, các đạo sinh của Các Ngài là “các vị tiểu kiến tạo” khi so với các Chân sư. |
|
156. Note the word “cohorts” as it suggests those who affiliate, even if unconsciously. Cohorts are lives which are magnetically drawn to each other because of their virtually identical nature. To be a “cohort” however is not a very high or conscious type of association. |
156. Hãy lưu ý từ “đoàn ngũ”, vì nó gợi ý những kẻ liên kết với nhau, dù là vô thức. Đoàn ngũ là những sự sống bị hút về nhau bằng từ tính vì bản chất của chúng hầu như đồng nhất. Tuy nhiên, là một “đoàn ngũ” không phải là một loại liên kết cao hay có ý thức lắm. |
|
157. All ‘material’ can be considered matter or substance depending on its relation to that which is above or below. What is substance from a lower perspective is matter when seen from a higher. |
157. Mọi “vật liệu” đều có thể được xem là vật chất hay chất liệu tùy theo tương quan của nó với cái ở trên hay ở dưới. Điều là chất liệu từ góc nhìn thấp hơn sẽ là vật chất khi được nhìn từ góc nhìn cao hơn. |
|
158. From another perspective, substance, when acted upon, can be denominated as matter. Matter, from this perspective, is passive and receptive and substance is active and positive. |
158. Từ một góc nhìn khác, chất liệu, khi bị tác động, có thể được gọi là vật chất. Theo góc nhìn này, vật chất là thụ động và tiếp nhận, còn chất liệu là tích cực và chủ động. |
|
159. Certain devas are considered substantial to matter when they act upon and manipulate it. |
159. Một số thiên thần được xem là có tính chất liệu đối với vật chất khi họ tác động lên và thao túng nó. |
|
160. There are other familiar contexts, however, in which substance is also considered passive and receptive to more positive forces. So, we cannot dogmatize about these two terms—matter and substance. |
160. Tuy nhiên, cũng có những ngữ cảnh quen thuộc khác trong đó chất liệu cũng được xem là thụ động và tiếp nhận đối với các mãnh lực tích cực hơn. Vì vậy, chúng ta không thể giáo điều về hai thuật ngữ này—vật chất và chất liệu. |
|
They are that which produces concretion and which gives form to the abstract. |
Chúng là cái tạo ra sự kết đặc và cái ban hình tướng cho điều trừu tượng. |
|
161. The lesser builders give form to that which is more abstract. |
161. Các vị tiểu kiến tạo ban hình tướng cho cái trừu tượng hơn. |
|
162. As givers of concretion they must be particularly ruled by the rays which confer concretion—the fifth, sixth and seventh. |
162. Với tư cách là những đấng ban sự kết đặc, hẳn họ đặc biệt được cai quản bởi các cung ban sự kết đặc—cung năm, sáu và bảy. |
|
163. If the “Law of Fixation” is the “Law of Concretion” it must be closely related to the manipulation of the lesser builders. |
163. Nếu “Định luật Cố Định” là “Định luật Kết Đặc” thì nó hẳn phải liên hệ mật thiết với việc thao túng các vị tiểu kiến tạo. |
|
The terms “rupa” and “arupa” devas are relative,97 for the formless levels and the formless lives are only so from the standpoint of man in the three worlds; |
Các thuật ngữ “rupa” và “arupa” devas là tương đối,97 vì các cấp độ vô tướng và các sự sống vô tướng chỉ là như vậy từ quan điểm của con người trong ba cõi giới; |
|
164. DK is stating the truth I have been trying to emphasize above. It is our own human perspective which suggests to us that certain lives are either rupa or arupa. |
164. Chân sư DK đang phát biểu chân lý mà tôi đã cố nhấn mạnh ở trên. Chính góc nhìn nhân loại của chúng ta khiến chúng ta cho rằng một số sự sống nào đó hoặc là rupa hoặc là arupa. |
|
165. Our highest, apparently, arupa expressions are very much rupa from the perspective of those whose lives are focussed on the cosmic astral or cosmic mental planes. |
165. Những biểu hiện cao nhất của chúng ta, bề ngoài là arupa, lại rất rupa từ góc nhìn của những vị có sự sống tập trung trên các cõi cảm dục vũ trụ hay cõi trí vũ trụ. |
|
the formless lives are those which are functioning in and through the etheric body of the Logos, formed of the matter of the four higher planes of the system. |
các sự sống vô tướng là những sự sống đang hoạt động trong và xuyên qua thể dĩ thái của Thượng đế, được cấu thành từ vật chất của bốn cõi cao của hệ thống. |
|
166. This is a succinct statement yet, still, a relative one. |
166. Đây là một phát biểu súc tích nhưng vẫn là một phát biểu tương đối. |
|
167. As stated, the higher mental plane occupies a midway position between those vibratory levels which from the human perspective are considered either rupa or arupa. |
167. Như đã nói, Cõi thượng trí chiếm một vị trí ở giữa giữa những cấp độ rung động mà từ góc nhìn nhân loại được xem là hoặc rupa hoặc arupa. |
|
FOOTNOTE 97: |
CHÚ THÍCH 97: |
|
Rupa with form or body. |
Rupa có hình tướng hay thể. |
|
Arupa formless or bodiless. |
Arupa vô tướng hay vô thể. |
|
Generally speaking, the term rupa is applied to all forms in the three worlds whilst the term arupa is applied to all forms through which existences manifest on the four higher levels of the solar system and the abstract levels of the mental plane. |
Nói chung, thuật ngữ rupa được áp dụng cho mọi hình tướng trong ba cõi giới trong khi thuật ngữ arupa được áp dụng cho mọi hình tướng qua đó các hiện hữu biểu lộ trên bốn cấp độ cao của hệ mặt trời và các cấp độ trừu tượng của cõi trí. |
|
168. We must be cautious when speaking of “the three worlds”. So often this phrase indicates life upon the lower eighteen sub-planes. The higher mental plane is usually not considered part of life in the three worlds. This is the case from the perspective of the Planetary Logos and is the perspective indicated in the foregoing section of text. |
168. Chúng ta phải thận trọng khi nói về “ba cõi giới”. Rất thường khi cụm từ này chỉ sự sống trên mười tám cõi phụ thấp. Cõi thượng trí thường không được xem là một phần của sự sống trong ba cõi giới. Đây là trường hợp từ góc nhìn của Hành Tinh Thượng đế và là góc nhìn được chỉ ra trong phần văn bản vừa nêu. |
|
169. However, from the solar logoic perspective, the three worlds include the egoic lotus and the higher mental plane. |
169. Tuy nhiên, từ góc nhìn của Thái dương Thượng đế, ba cõi giới bao gồm Hoa Sen Chân Ngã và Cõi thượng trí. |
|
From this point of view the mental plane provides an interesting consideration: —its three higher subplanes are positive, and centralise the positive force of the plane. |
Từ quan điểm này, cõi trí đem lại một sự xem xét thú vị: —estba cõi phụ cao của nó là tích cực, và tập trung mãnh lực tích cực của cõi ấy. |
|
170. The egoic lotus, resident upon the higher mental plane, is a center of positivity when compared to the lunar forces of the personality. |
170. Hoa Sen Chân Ngã, cư ngụ trên Cõi thượng trí, là một trung tâm tích cực khi so với các mãnh lực nguyệt tính của phàm ngã. |
|
171. The fourth sub-plane of the mental plane is also a subplane of relative positivity and capacity for centralization. The mental unit, let us remember, is found there. |
171. Cõi phụ thứ tư của cõi trí cũng là một cõi phụ có tính tích cực tương đối và có khả năng tập trung. Xin nhớ rằng đơn vị hạ trí nằm ở đó. |
|
172. Upon the higher three sub-planes of the mental plane the positive force of the mental plane is centralized. A different kind of positive force is centralized on each of the three higher sub-planes. |
172. Trên ba cõi phụ cao của cõi trí, mãnh lực tích cực của cõi trí được tập trung. Một loại mãnh lực tích cực khác nhau được tập trung trên mỗi cõi phụ cao trong ba cõi phụ ấy. |
|
This focussing of the positive affects the negative substance of the four lower planes and brings about likewise: |
Sự tập trung này của cái tích cực tác động lên chất liệu tiêu cực của bốn cõi thấp và cũng mang lại: |
|
173. Here we are discussing the positive effects of that which emanates from the positive force centers on the higher mental plane. These influence of the positive focussing operates horizontally as well as with respect to the lower three worlds. |
173. Ở đây chúng ta đang bàn đến các hiệu quả tích cực của cái phát xạ từ các trung tâm mãnh lực tích cực trên Cõi thượng trí. Ảnh hưởng của sự tập trung tích cực này vận hành theo chiều ngang cũng như đối với ba cõi thấp. |
|
a. The formation of force centres on the causal levels, those force centres being egoic groups in their various divisions. |
a. Sự hình thành các trung tâm mãnh lực trên các cấp độ nguyên nhân, các trung tâm mãnh lực ấy là các nhóm chân ngã trong những phân bộ khác nhau của chúng. |
|
174. There are many egoic groups and these aggregations are qualitatively determined. Aggregations are formed on the basis of ray concentrations and probably on the basis of the number of petals unfolded. Probably monadic type (albeit behind the scenes) has something to do with the manner of aggregation of the egoic groups. |
174. Có nhiều nhóm chân ngã, và những tập hợp này được xác định về mặt phẩm tính. Các tập hợp được hình thành trên cơ sở những sự tập trung cung và có lẽ trên cơ sở số lượng cánh hoa đã khai mở. Có lẽ loại chân thần (dù ở phía sau hậu trường) có liên quan đến cách thức tập hợp của các nhóm chân ngã. |
|
175. This formation of force centers is an effect that is confined to the higher mental plane and is not primarily an application of force to the lower mental sub-planes and planes still more inferior. |
175. Sự hình thành các trung tâm mãnh lực này là một hiệu quả chỉ giới hạn trên Cõi thượng trí và không chủ yếu là một sự áp dụng mãnh lực lên các cõi phụ hạ trí và các cõi còn thấp hơn nữa. |
|
b. The concretion of substance, or the building of the dense physical body of the Logos. |
b. Sự kết đặc của chất liệu, hay việc kiến tạo thể xác đậm đặc của Thượng đế. |
|
176. We must remember that the dense physical body of the Solar Logos includes the three sub-planes of the higher mental plane. |
176. Chúng ta phải nhớ rằng thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế bao gồm ba cõi phụ của Cõi thượng trí. |
|
177. Certain terms go together: centralization, focussing, formation and concretion. |
177. Một số thuật ngữ đi cùng nhau: sự tập trung vào trung tâm, sự hội tụ, sự hình thành và sự ngưng tụ. |
|
178. We have been studying the “Law of Fixation” and must conclude that this fifth systemic law is intimately involved in the concretion process. |
178. Chúng ta đã nghiên cứu “Định luật Cố Định” và phải kết luận rằng định luật hệ thống thứ năm này có liên hệ mật thiết với tiến trình ngưng tụ. |
|
On the physical plane of the solar system an analogous process can be seen taking place as regards the physical [Page 617] body of man, or his concrete manifestation. In his case, the fourth subplane is the focal point of positive force. |
Trên cõi hồng trần của hệ mặt trời, có thể thấy một tiến trình tương tự đang diễn ra liên quan đến thể xác [Page 617] của con người, hay biểu hiện cụ thể của y. Trong trường hợp của y, cõi phụ thứ tư là tiêu điểm của mãnh lực dương. |
|
179. We have a sevenfold plane (etheric-physical) in which there are four superior divisions and a sevenfold plane (mental) in which there are three superior divisions. |
179. Chúng ta có một cõi thất phân (dĩ thái-hồng trần) trong đó có bốn phân bộ cao hơn và một cõi thất phân (cõi trí) trong đó có ba phân bộ cao hơn. |
|
180. The focusing of positive force on the three superior sub-planes of the systemic mental plane affects the four lower mental sub-planes. The focusing of positive force, especially on the fourth of the four etheric planes of the systemic etheric-physical plane, affects the three dense physical sub-planes. |
180. Sự hội tụ của mãnh lực dương trên ba cõi phụ cao hơn của cõi trí hệ thống tác động đến bốn cõi phụ hạ trí. Sự hội tụ của mãnh lực dương, đặc biệt trên cõi thứ tư trong bốn cõi dĩ thái của cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống, tác động đến ba cõi phụ hồng trần đậm đặc. |
|
181. If, of the four systemic ethers, there is one of them on which the focussing of positive force occurs, particularly, we could say the same of the three higher mental sub-planes. For advanced human beings and disciples who are still obliged to incarnate within the three lower worlds, the second sub-plane of the higher three mental sub-planes can reasonably be considered the “focal point of positive force”. |
181. Nếu trong bốn dĩ thái hệ thống có một cõi mà trên đó sự hội tụ của mãnh lực dương đặc biệt xảy ra, thì chúng ta cũng có thể nói như vậy về ba cõi phụ thượng trí. Đối với những người tiến hóa cao và các đệ tử vẫn còn buộc phải lâm phàm trong ba cõi thấp, cõi phụ thứ hai của ba cõi phụ thượng trí có thể được xem một cách hợp lý là “tiêu điểm của mãnh lực dương”. |
|
On that plane are located the etheric centres of man, which have, in the evolutionary process and in the work of force direction, a relationship to his physical body similar to the relationship which groups of Egos on the mental plane have to the dense physical body of the Logos. This is a profound occult hint. |
Trên cõi đó tọa lạc các trung tâm dĩ thái của con người, những trung tâm này, trong tiến trình tiến hoá và trong công việc định hướng mãnh lực, có một mối liên hệ với thể xác của y tương tự như mối liên hệ mà các nhóm chân ngã trên cõi trí có đối với thể xác đậm đặc của Thượng đế. Đây là một gợi ý huyền bí sâu sắc. |
|
182. Was this statement made before or after the shift of many of the Ashrams to the buddhic plane? |
182. Phát biểu này được đưa ra trước hay sau sự chuyển dịch của nhiều ashram lên cõi Bồ đề? |
|
183. Four of the etheric centers are located on the fourth systemic ether, and three more located (one each) on the three higher systemic ethers. |
183. Bốn trung tâm dĩ thái tọa lạc trên dĩ thái hệ thống thứ tư, và ba trung tâm khác tọa lạc (mỗi cõi một trung tâm) trên ba dĩ thái hệ thống cao hơn. |
|
184. The main point to be gathered is that there is a close analogy between the four lower chakras of the human being and the groupings of Egos on the systemic higher mental plane. |
184. Điểm chính cần rút ra là có một sự tương đồng chặt chẽ giữa bốn luân xa thấp của con người và các nhóm chân ngã trên cõi thượng trí hệ thống. |
|
185. Just as the chakras direct and animate the dense physical body of the man, so the “groups of Egos on the mental plane” direct and animate the dense physical body of the Logos. |
185. Cũng như các luân xa định hướng và tiếp sinh lực cho thể xác đậm đặc của con người, thì “các nhóm chân ngã trên cõi trí” cũng định hướng và tiếp sinh lực cho thể xác đậm đặc của Thượng đế. |
|
186. Again, we remember that the “dense physical body of the Logos” comprises the twenty-one lower systemic sub-planes of the cosmic physical plane. So, in a sense, the “groups of Egos” are within the field being controlled. This is not the case for the etheric chakras with respect to the lower three systemic sub-planes. |
186. Một lần nữa, chúng ta nhớ rằng “thể xác đậm đặc của Thượng đế” bao gồm hai mươi mốt cõi phụ hệ thống thấp hơn của cõi hồng trần vũ trụ. Vì vậy, theo một nghĩa nào đó, “các nhóm chân ngã” ở bên trong trường đang được kiểm soát. Điều này không đúng đối với các luân xa dĩ thái xét trong tương quan với ba cõi phụ hệ thống thấp hơn. |
|
187. It is probably truer to say that there are ashramic groupings on the buddhic plane which are as chakras to the lower twenty-one sub-planes of the cosmic physical plane, and that these buddhic-ashramic groupings are a closer analogy to the human chakras found on the fourth level of the systemic etheric plane. |
187. Có lẽ đúng hơn khi nói rằng có những nhóm ashram trên cõi Bồ đề đóng vai trò như các luân xa đối với hai mươi mốt cõi phụ thấp hơn của cõi hồng trần vũ trụ, và rằng các nhóm Bồ đề-ashram này là một sự tương đồng gần hơn với các luân xa của con người được tìm thấy trên cấp độ thứ tư của cõi dĩ thái hệ thống. |
|
188. If we speak, however, of the Planetary Logos, then the groupings of Egos on the higher mental plane are more like chakric aggregations and direct and control the eighteen lower sub-planes which are, to the Planetary Logos, as the physical body is to man. |
188. Tuy nhiên, nếu chúng ta nói về Đức Hành Tinh Thượng Đế, thì các nhóm chân ngã trên cõi thượng trí giống với các tập hợp luân xa hơn và định hướng, kiểm soát mười tám cõi phụ thấp hơn, những cõi này đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế cũng như thể xác đối với con người. |
|
189. The “groups of Egos” (like the chakras) are as animating centers when compared to lower, more receptive, more inert vibratory fields. |
189. “Các nhóm chân ngã” (giống như các luân xa) là những trung tâm tiếp sinh lực khi được so sánh với các trường rung động thấp hơn, dễ tiếp nhận hơn và trì trệ hơn. |
|
In the words “prana and the etheric body” (or life force and form) we have the key to the mystery of the solar and lunar pitris, and a hint as to the place of the physical body in the scheme of things. |
Trong các từ “prana và thể dĩ thái” (hay sinh lực và hình tướng), chúng ta có chìa khóa cho huyền nhiệm của thái dương tổ phụ và thái âm tổ phụ, cùng một gợi ý về vị trí của thể xác trong mô hình của vạn vật. |
|
190. DK is somewhat elaborating the hint He just gave. |
190. Chân sư DK đang phần nào khai triển gợi ý mà Ngài vừa đưa ra. |
|
191. The etheric body is almost always listed as a principle, even though it is a vehicle. Perhaps we can gain some hint as to why this should be so. |
191. Thể dĩ thái hầu như luôn được liệt kê như một nguyên khí, mặc dù nó là một vận cụ. Có lẽ chúng ta có thể nhận được một gợi ý nào đó về lý do tại sao lại như vậy. |
|
192. “Prana” is the solar factor and the “etheric body” is the lunar. |
192. “Prana” là yếu tố thái dương và “thể dĩ thái” là yếu tố thái âm. |
|
193. The Solar Pitris are particularly related to the pranic aspect and the Lunar Pitris (which are form builders in the lower three worlds) to the etheric body which is lunar in nature. |
193. Thái dương tổ phụ đặc biệt liên hệ với phương diện prana, còn thái âm tổ phụ (là những đấng kiến tạo hình tướng trong ba cõi thấp) thì liên hệ với thể dĩ thái vốn có bản chất thái âm. |
|
194. It has been a question as to whether the etheric body should be considered solar or lunar. Perhaps the issue will be clarified if we consider the prana which animates the etheric body as “solar” and the actual etheric structure as lunar. |
194. Đã từng có câu hỏi liệu thể dĩ thái nên được xem là thái dương hay thái âm. Có lẽ vấn đề sẽ được làm sáng tỏ nếu chúng ta xem prana tiếp sinh lực cho thể dĩ thái là “thái dương” và cấu trúc dĩ thái thực sự là thái âm. |
|
195. As the physical body is automatically and magnetically gathered upon and into the structure of the etheric body, the dense physical body is clearly lunar in its nature. It is built upon a lunar form. |
195. Vì thể xác tự động và bằng từ tính được tập hợp trên và vào trong cấu trúc của thể dĩ thái, nên thể xác đậm đặc rõ ràng có bản chất thái âm. Nó được xây dựng trên một hình tướng thái âm. |
|
196. Let us compare solar and lunar forces: |
196. Hãy so sánh các mãnh lực thái dương và thái âm: |
|
a. As the Ashrams on the buddhic plane are to the lower three sub-planes of the cosmic physical plane, so the chakras on the fourth sub-plane of the systemic etheric plane are to the lower three dense physical planes, so the Sun is to the Moon. |
a. Cũng như các ashram trên cõi Bồ đề đối với ba cõi phụ thấp hơn của cõi hồng trần vũ trụ, thì các luân xa trên cõi phụ thứ tư của cõi dĩ thái hệ thống đối với ba cõi hồng trần đậm đặc thấp hơn cũng như vậy, Mặt Trời đối với Mặt Trăng cũng vậy. |
|
b. As the “groups of Egos” on the higher mental plane are to the eighteen lower systemic sub-planes of the cosmic physical plane, so the chakras on the fourth sub-plane of the systemic etheric plane are to the three dense physical planes, so the Sun is to the Moon. |
b. Cũng như “các nhóm chân ngã” trên cõi thượng trí đối với mười tám cõi phụ hệ thống thấp hơn của cõi hồng trần vũ trụ, thì các luân xa trên cõi phụ thứ tư của cõi dĩ thái hệ thống đối với ba cõi hồng trần đậm đặc cũng như vậy, Mặt Trời đối với Mặt Trăng cũng vậy. |
|
c. A prana is to the structure of the etheric body, per se, so the Sun is to the Moon. |
c. Prana đối với chính cấu trúc của thể dĩ thái cũng như vậy, Mặt Trời đối với Mặt Trăng cũng vậy. |
|
d. As the vitality of Agni (manifesting on the cosmic etheric planes) is to the energy-forms to be found upon these higher etheric planes, so the Sun is to the Moon. |
d. Cũng như sinh lực của Agni (biểu hiện trên các cõi dĩ thái vũ trụ) đối với các hình tướng-năng lượng được tìm thấy trên các cõi dĩ thái cao hơn này, thì Mặt Trời đối với Mặt Trăng cũng vậy. |
|
The solar Pitris and devas find their force expression most adequately through man, with all that is included in that term. |
Thái dương tổ phụ và các thiên thần tìm thấy sự biểu hiện mãnh lực của mình một cách đầy đủ nhất qua con người, với tất cả những gì được bao hàm trong thuật ngữ đó. |
|
197. This suggests that man is more than human man; the Heavenly Men and the Grand Heavenly Man are also included. There are correspondingly larger and more inclusive Solar Pitris (logoic Solar Angels) to provide solar principles to these greater types of “Men”. |
197. Điều này gợi ý rằng con người còn hơn cả con người nhân loại; các Đấng Thiên Nhân và Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại cũng được bao gồm. Tương ứng cũng có những thái dương tổ phụ lớn hơn và bao quát hơn (các Thái dương Thiên Thần logoic) để cung cấp các nguyên khí thái dương cho những loại “Con Người” vĩ đại hơn này. |
|
198. Compared to the animal kingdom, man has become ‘solar’. This occurred at the moment of individualization. The number four (the number of the Human Kingdom) has a very close relation to the solar number, two. |
198. So với giới động vật, con người đã trở nên ‘thái dương’. Điều này xảy ra vào thời điểm biệt ngã hóa. Số bốn (con số của giới nhân loại) có một liên hệ rất chặt chẽ với con số thái dương, hai. |
|
They are the source of his self-consciousness, |
Các Ngài là nguồn gốc của ngã thức của y, |
|
199. Self-consciousness being a solar and Venusian factor in consciousness… |
199. ngã thức là một yếu tố thái dương và Kim tinh trong tâm thức… |
|
and it is their action upon the negative aspect which produces the human Ego (on a large scale, viewing them in their totality as cosmic force); |
và chính tác động của Các Ngài lên phương diện âm tạo ra chân ngã con người (trên quy mô lớn, khi xem Các Ngài trong tổng thể của Các Ngài như một mãnh lực vũ trụ); |
|
200. The Solar Angels in Their totality are to be viewed as a “cosmic force”. We can understand this if we view Them as a stream of lives emanating from the star Sirius, where They were trained. |
200. Các Thái dương Thiên Thần trong tổng thể của Các Ngài phải được xem như một “mãnh lực vũ trụ”. Chúng ta có thể hiểu điều này nếu xem Các Ngài như một dòng các sự sống phát xuất từ sao Sirius, nơi Các Ngài đã được huấn luyện. |
|
201. From this perspective, “Prometheus” is a “cosmic force”. |
201. Từ góc nhìn này, “Prometheus” là một “mãnh lực vũ trụ”. |
|
202. The human Ego (within the causal body) was produced from the moment of individualization. We do not know the exact timing of the process. Perhaps the causal body/egoic lotus was built on the higher mental plane before the stream of ‘light-love-power’ was shot forth towards the brain of animal man. If that ‘arrow of light’ anchored in the brain of animal man, it certainly first anchored in his etheric brain. |
202. Chân ngã con người (bên trong thể nguyên nhân) được tạo ra từ thời điểm biệt ngã hóa. Chúng ta không biết thời điểm chính xác của tiến trình này. Có lẽ thể nguyên nhân/Hoa Sen Chân Ngã đã được xây dựng trên cõi thượng trí trước khi dòng ‘ánh sáng-tình thương-quyền năng’ được phóng ra hướng về bộ não của người thú. Nếu ‘mũi tên ánh sáng’ đó được neo vào bộ não của người thú, thì chắc chắn trước hết nó đã neo vào bộ não dĩ thái của y. |
|
it is their action upon the negative or mother aspect which, on cosmic levels, produces that Self-conscious Unity, a solar Logos, functioning through His physical vehicle. |
chính tác động của Các Ngài lên phương diện âm hay mẫu tính mà, trên các cấp độ vũ trụ, tạo ra Hợp Nhất Tự Ý Thức đó, một Thái dương Thượng đế, hoạt động qua vận cụ hồng trần của Ngài. |
|
203. We are now speaking of higher orders of Solar Angels and of greater streams of these lives than engaged with man, the individual. |
203. Giờ đây chúng ta đang nói về những cấp bậc cao hơn của các Thái dương Thiên Thần và về những dòng sự sống lớn hơn các dòng đã tham gia với con người, cá nhân. |
|
204. Such action on cosmic levels calls for the existence of ‘Cosmic Solar Angels’. |
204. Tác động như vậy trên các cấp độ vũ trụ đòi hỏi sự hiện hữu của các ‘Thái dương Thiên Thần Vũ trụ’. |
|
205. The Solar Angels engaged with man have a very strong expression of buddhic energy; the same must be true of the ‘Cosmic Solar Angels’ and these great Angels must draw sustenance from the cosmic buddhic plane. |
205. Các Thái dương Thiên Thần tham gia với con người có một biểu hiện rất mạnh của năng lượng Bồ đề; điều tương tự hẳn cũng đúng với các ‘Thái dương Thiên Thần Vũ trụ’, và các Thiên Thần vĩ đại này hẳn phải rút dưỡng chất từ cõi Bồ đề vũ trụ. |
|
206. When speaking of the production of a solar system (especially the first minor solar system, some five solar systems ago) we must be speaking of a kind of logoic individualization. |
206. Khi nói về việc tạo ra một hệ mặt trời (đặc biệt là hệ mặt trời nhỏ thứ nhất, cách đây khoảng năm hệ mặt trời), hẳn chúng ta đang nói về một loại biệt ngã hóa logoic. |
|
207. The Greater Solar Angel’s produce a “Self-conscious Unity” (a Solar Logos incarnating in a solar system); the lesser Solar Angels produce a “self-conscious unity” known as a “Son of Man”—a lesser solar being incarnating in a human etheric-physical body. |
207. Các Thái dương Thiên Thần lớn hơn tạo ra một “Hợp Nhất Tự Ý Thức” (một Thái dương Thượng đế nhập thể trong một hệ mặt trời); các Thái dương Thiên Thần nhỏ hơn tạo ra một “hợp nhất tự ý thức” được biết như một “Con của Người”—một hữu thể thái dương nhỏ hơn nhập thể trong một thể dĩ thái-hồng trần của con người. |
|
208. The analogy between the processes of the Solar Logos and those of man are quite close and, therefore, very instructive. |
208. Sự tương đồng giữa các tiến trình của Thái dương Thượng đế và các tiến trình của con người là khá gần gũi và do đó rất giàu tính chỉ dẫn. |
|
From the Christian standpoint, the greater Builders are the Holy Spirit, or force overshadowing and fecundating matter, whilst the negative or lesser Builders correspond to the Virgin Mary. |
Theo quan điểm Cơ Đốc giáo, các đấng đại kiến tạo là Chúa Thánh Thần, hay mãnh lực phủ bóng và làm cho vật chất thụ thai, trong khi các vị tiểu kiến tạo âm tính hay thấp hơn tương ứng với Đức Trinh Nữ Maria. |
|
209. This is quite a remarkable statement. The Holy Spirit, then, is a collection of energies (‘Agnic’ energies) from the cosmic etheric planes. The “Virgin Mary” constitutes the material, negative energies of the lower twenty-one systemic sub-planes of the cosmic physical plane. Or from the planetary logoic perspective, the lower eighteen systemic sub-planes. |
209. Đây là một phát biểu thật đáng chú ý. Vậy thì Chúa Thánh Thần là một tập hợp các năng lượng (các năng lượng ‘Agnic’) từ các cõi dĩ thái vũ trụ. “Đức Trinh Nữ Maria” cấu thành các năng lượng vật chất, âm tính của hai mươi mốt cõi phụ hệ thống thấp hơn của cõi hồng trần vũ trụ. Hoặc theo góc nhìn logoic hành tinh, là mười tám cõi phụ hệ thống thấp hơn. |
|
210. For man in his physical body, Holy Spirit energies are conducted particularly through the four systemic etheric sub-planes. |
210. Đối với con người trong thể xác của y, các năng lượng Chúa Thánh Thần được dẫn truyền đặc biệt qua bốn cõi phụ dĩ thái hệ thống. |
|
The lunar Pitris, and lesser builders from the systemic point of view find their fullest expression in the animal kingdom. |
Thái âm tổ phụ, và các vị tiểu kiến tạo theo quan điểm hệ thống, tìm thấy sự biểu hiện đầy đủ nhất của mình trong giới động vật. |
|
211. The Moon is closely connected with the number three. The Moon-chain was the third. The animal kingdom is the third kingdom—hence the analogy. |
211. Mặt Trăng có liên hệ chặt chẽ với số ba. Dãy Mặt Trăng là dãy thứ ba. Giới động vật là giới thứ ba—do đó có sự tương đồng. |
|
When they, as the initiatory impulse, had produced animal man they had performed their prime function, |
Khi các Ngài, như xung lực điểm đạo, đã tạo ra người thú thì các Ngài đã hoàn thành chức năng chủ yếu của mình, |
|
212. Each group of lives has its highest creative work. The production of the form of animal man was the highest creative work of the “lunar Pitris”. |
212. Mỗi nhóm sự sống đều có công việc sáng tạo cao nhất của mình. Việc tạo ra hình tướng của người thú là công việc sáng tạo cao nhất của “thái âm tổ phụ”. |
|
213. We must remember that the Moon falls in Scorpio (the sign most associated with the human kingdom and the Fourth Creative Hierarchy). |
213. Chúng ta phải nhớ rằng Mặt Trăng rơi vào Hổ Cáp (dấu hiệu hoàng đạo gắn bó nhất với giới nhân loại và Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư). |
|
214. The destiny of the Fourth Creative Hierarchy is, occultly, to bring about the downfall of the Moon. |
214. Định mệnh của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, theo huyền bí học, là đưa đến sự suy vong của Mặt Trăng. |
|
and just as (on a smaller scale and in connection with only one of the Heavenly Men) the moon is a dying and decadent world, |
và cũng như (trên quy mô nhỏ hơn và chỉ liên hệ với một trong các Đấng Thiên Nhân) mặt trăng là một thế giới đang chết dần và suy tàn, |
|
215. DK seems to be hinting that the presence of a decadent Moon (of the nature of our Moon) is only the case with our own Heavenly Man. |
215. Chân sư DK dường như đang gợi ý rằng sự hiện diện của một Mặt Trăng suy tàn (thuộc bản chất như Mặt Trăng của chúng ta) chỉ là trường hợp của chính Đấng Thiên Nhân của chúng ta. |
|
so on a systemic scale and therefore covering a vast period of time, the work of the lunar Pitris is slowly coming to a conclusion as the power of the third kingdom, the animal, over the human is being [Page 618] superseded by spiritual power; the systemic correspondence to lunar pitric activity will occultly die out. |
thì trên quy mô hệ thống và do đó bao trùm một thời kỳ thời gian mênh mông, công việc của thái âm tổ phụ đang chậm rãi đi đến chỗ kết thúc khi quyền lực của giới thứ ba, giới động vật, đối với con người đang bị [Page 618] quyền năng tinh thần thay thế; sự tương ứng hệ thống với hoạt động của thái âm tổ phụ sẽ chết dần đi một cách huyền bí. |
|
216. We have three instances of dying out. |
216. Chúng ta có ba trường hợp chết dần đi. |
|
a. The Moon of the Earth-scheme is slowly disintegrating and dissipating |
a. Mặt Trăng của hệ hành tinh Địa Cầu đang chậm rãi tan rã và làm tiêu tan |
|
b. The “lunar pitric activity” in our solar system is slowly occultly dying out |
b. “Hoạt động của thái âm tổ phụ” trong hệ mặt trời của chúng ta đang chậm rãi chết dần đi một cách huyền bí |
|
c. The “cosmic Moon” which is the remnant of the previous solar system, is also in process if disintegration and dissipation. (cf. TCF 1112). |
c. “Mặt Trăng vũ trụ”, là tàn dư của hệ mặt trời trước, cũng đang trong tiến trình tan rã và làm tiêu tan. (xem TCF 1112). |
|
217. DK speaks of a “vast period of time” when thinking in terms of the duration of our solar system. Does He seem to be hinting at the accuracy of the huge figures appearing the Hindu Chronology? |
217. Chân sư DK nói đến một “thời kỳ thời gian mênh mông” khi suy nghĩ theo thời lượng của hệ mặt trời chúng ta. Ngài có vẻ đang gợi ý về tính chính xác của những con số khổng lồ xuất hiện trong Niên đại học Ấn Độ giáo chăng? |
|
218. We may be speaking of the etherealization of the matter of our solar system. The animal kingdom depends upon gross bodies made of the stuff of a previous solar system. This is not the case for man, who can exist as man while focussed on higher planes. |
218. Có thể chúng ta đang nói đến sự dĩ thái hóa vật chất của hệ mặt trời chúng ta. Giới động vật phụ thuộc vào các thể thô trược được tạo bằng chất liệu của một hệ mặt trời trước. Điều này không đúng với con người, vì con người có thể tồn tại như con người trong khi hội tụ trên các cõi cao hơn. |
|
219. Already on our plane, man is gaining ascendancy over the animal kingdom. This is symbolic of the gradual dying out of “lunar pitric activity” upon our plane and, thus, within our planetary scheme. |
219. Ngay trên cõi của chúng ta, con người đã đang giành ưu thế trước giới động vật. Điều này là biểu tượng cho sự chết dần dần của “hoạt động thái âm tổ phụ” trên cõi của chúng ta và do đó trong hệ hành tinh của chúng ta. |
|
220. This dying out is also in evidence when the lower animal nature of man can no longer express. |
220. Sự chết dần này cũng hiển hiện khi bản chất động vật thấp của con người không còn có thể biểu lộ nữa. |
|
221. Lunar power is not “spiritual power”. Life within our Earth-chain represents the tipping point in the battle between the Sun and the Moon as it occurs within our planetary scheme. |
221. Quyền lực thái âm không phải là “quyền năng tinh thần”. Sự sống trong Dãy Địa Cầu của chúng ta tượng trưng cho điểm nghiêng trong cuộc chiến giữa Mặt Trời và Mặt Trăng khi nó diễn ra trong hệ hành tinh của chúng ta. |
|
222. Mars and the Moon (both symbolic of the animal kingdom) are left outside the door of the Temple of Initiation. |
222. Sao Hỏa và Mặt Trăng (cả hai đều tượng trưng cho giới động vật) bị bỏ lại bên ngoài cửa Đền Điểm Đạo. |
|
The lunar Pitris,98,99 the builders of man’s lunar body and their correspondence in the other kingdoms of nature, are the sumtotal of the dense physical body of the Logos, |
Thái âm tổ phụ,98,99 những đấng kiến tạo thể thái âm của con người và sự tương ứng của họ trong các giới khác của bản chất, là tổng thể của thể xác đậm đặc của Thượng đế, |
|
223. Lunar life is densely material. The subtle vehicles of man (built by the Lunar Ancestors) are also densely physical from the logoic standpoint. |
223. Sự sống thái âm có tính vật chất đậm đặc. Các vận cụ vi tế của con người (được xây dựng bởi các thái âm tổ phụ) cũng là hồng trần đậm đặc theo quan điểm logoic. |
|
224. In esoteric astrology, the Moon represents the most dense of all the vehicles—the dense physical body. |
224. Trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, Mặt Trăng tượng trưng cho vận cụ đậm đặc nhất trong mọi vận cụ—thể xác đậm đặc. |
|
225. From this perspective, the “dense physical body of the Logos” (lunarly dense) comprises only eighteen sub-planes, because there are no lunar pitris of the systemic type to be found upon the higher three systemic mental sub-planes. |
225. Theo góc nhìn này, “thể xác đậm đặc của Thượng đế” (đậm đặc theo nghĩa thái âm) chỉ bao gồm mười tám cõi phụ, bởi vì không có thái âm tổ phụ thái âm thuộc loại hệ thống nào được tìm thấy trên ba cõi phụ thượng trí hệ thống. |
|
226. If we preserve the idea that even the three higher mental systemic sub-planes are a part of the dense physical body of the Logos (and it is a sound idea), then we shall simply have to say that there is one aspect of that dense physical body which is not lunar. |
226. Nếu chúng ta giữ nguyên ý tưởng rằng ngay cả ba cõi phụ thượng trí hệ thống cũng là một phần của thể xác đậm đặc của Thượng đế (và đó là một ý tưởng đúng đắn), thì đơn giản chúng ta sẽ phải nói rằng có một phương diện của thể xác đậm đặc đó không phải là thái âm. |
|
227. As the Solar Logos grows out of his dense physical body (even as man will one day have no need for his own dense physical body) so the Lunar Pitris will no longer be a part of the His form expression. |
227. Khi Thái dương Thượng đế vượt ra khỏi thể xác đậm đặc của Ngài (cũng như một ngày kia con người sẽ không còn cần đến chính thể xác đậm đặc của mình), thì thái âm tổ phụ sẽ không còn là một phần trong sự biểu hiện hình tướng của Ngài nữa. |
|
228. From a higher point of view, there are ‘Cosmic Lunar Pitris’, all forms to be found upon the cosmic etheric planes, the cosmic astral plane and the lower cosmic mental plane are ‘Lunar’ from the cosmic perspective. This means that the lives which form these planes are negative and receptive to still higher more impulsive Lives. |
228. Từ một quan điểm cao hơn, có những ‘Thái Âm Tổ Phụ Vũ Trụ’; mọi hình tướng được tìm thấy trên các cõi dĩ thái vũ trụ, cõi cảm dục vũ trụ và cõi hạ trí vũ trụ đều là ‘Thái âm’ theo góc nhìn vũ trụ. Điều này có nghĩa là các sự sống tạo thành các cõi này là âm tính và dễ tiếp nhận đối với những Sự Sống còn cao hơn và có tính thúc đẩy hơn. |
|
or the substance of the mental, astral and physical planes (the gaseous, liquid and dense bodies which form a unity, His physical vehicle, viewing it apart from the etheric). |
hay chất liệu của các cõi trí, cảm dục và hồng trần (các thể khí, lỏng và đậm đặc tạo thành một hợp nhất, vận cụ hồng trần của Ngài, khi xét tách khỏi thể dĩ thái). |
|
229. Much is concealed in this little section and somewhat which seems to contradict HPB when she earlier linked the principle of lower mind to the Solar Pitris. |
229. Nhiều điều được che giấu trong đoạn nhỏ này, và có phần nào đó dường như mâu thuẫn với HPB khi bà trước đây đã liên kết nguyên khí hạ trí với thái dương tổ phụ. |
|
230. We notice how the “etheric body” is excluded from the unity. The systemic etheric plane is in an ambiguous position. |
230. Chúng ta lưu ý rằng “thể dĩ thái” bị loại ra khỏi hợp nhất này. Cõi dĩ thái hệ thống ở trong một vị thế mơ hồ. |
|
a. It is composed of lunar substance and the devas there to be found are related to Cancer and the Moon |
a. Nó được cấu tạo bằng chất liệu thái âm và các thiên thần được tìm thấy ở đó có liên hệ với Cự Giải và Mặt Trăng |
|
b. It is a reflector of the very solar egoic lotus |
b. Nó là một phản chiếu của Hoa Sen Chân Ngã rất thái dương |
|
c. The prana which animates it is closely related to the Sun and to everything solar. |
c. Prana tiếp sinh lực cho nó có liên hệ chặt chẽ với Mặt Trời và với mọi điều thái dương. |
|
231. Therefore, when dealing with the lower four systemic etheric sub-planes, we have to study the context in which they are being to discussed, to see whether they are being presented as lunar or solar factors. |
231. Do đó, khi đề cập đến bốn cõi phụ dĩ thái hệ thống thấp hơn, chúng ta phải nghiên cứu ngữ cảnh trong đó chúng đang được bàn đến, để xem chúng được trình bày như những yếu tố thái âm hay thái dương. |
|
232. The best assessment, so it seems, is to consider its structure as lunar and the pranic energy which pours through it as solar. |
232. Đánh giá tốt nhất, dường như là như vậy, là xem cấu trúc của nó là thái âm và năng lượng prana tuôn qua nó là thái dương. |
|
233. Yet when compared to the usual lunar elementals (physical, astral and mental) it is in a category of its own. |
233. Tuy nhiên, khi so với các hành khí thái âm thông thường (hồng trần, cảm dục và trí tuệ), nó thuộc về một phạm trù riêng. |
|
234. The etheric body, in general can be considered a kind of ‘outpost of the Sun within the realm of the Moon’. |
234. Thể dĩ thái, nói chung, có thể được xem như một loại ‘tiền đồn của Mặt Trời trong lãnh vực của Mặt Trăng’. |
|
235. Also, from what is said, it is clear that the lower mind is to be considered lunar in nature—i.e., as one of the lunar elementals of the human personality. |
235. Ngoài ra, từ những gì được nói ra, rõ ràng là hạ trí phải được xem là có bản chất thái âm—tức là, như một trong các hành khí thái âm của phàm ngã con người. |
|
They are the product of an earlier solar system; their activities date from there. |
Chúng là sản phẩm của một hệ mặt trời sớm hơn; các hoạt động của chúng bắt đầu từ đó. |
|
236. We note that DK did not say, ‘the product of the previous solar system’, because there were a number of solar systems (preceding our own) through which the Solar Logos expressed in a lunar manner. |
236. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK đã không nói, ‘sản phẩm của hệ mặt trời trước’, bởi vì đã có một số hệ mặt trời (đi trước hệ của chúng ta) qua đó Thái dương Thượng đế biểu lộ theo cách thái âm. |
|
237. In any case, lunar substance is ‘old’ and came from forms though which our Solar Logos manifested in cycles long past. |
237. Dù sao đi nữa, chất liệu thái âm là ‘cũ’ và đến từ những hình tướng mà qua đó Thái dương Thượng đế của chúng ta đã biểu hiện trong những chu kỳ từ rất lâu xa. |
|
FOOTNOTE 98: |
CHÚ THÍCH 98: |
|
The Lunar, or Barhishad Pitris have the following function:—S. D., II, 99. |
Thái âm tổ phụ, hay Barhishad Pitris, có chức năng sau đây:—S. D., II, 99. |
|
1. They are the Ancestors of Man.—S. D., II, 107. |
1. Các Ngài là Tổ Tiên của Con Người.—S. D., II, 107. |
|
238. “Ancestors” are positive, emanative centers of force. |
238. “Tổ tiên” là những trung tâm mãnh lực dương, phát xạ. |
|
2. They are the Fashioners of his form. |
2. Các Ngài là những đấng tạo tác hình tướng của y. |
|
239. This form being his lower form… |
239. Hình tướng này là hình tướng thấp của y… |
|
3. They possessed the physical creative fire. |
3. Các Ngài sở hữu lửa sáng tạo hồng trần. |
|
240. This is not the fire of self-consciousness. |
240. Đây không phải là lửa của ngã thức. |
|
4. They could only clothe the human monads. |
4. Các Ngài chỉ có thể khoác áo cho các chân thần con người. |
|
241. Their action occurs at a time when the Solar Angels had not yet intervened to help the Monads become Self-consciously expressive in the lower worlds. |
241. Tác động của các Ngài xảy ra vào thời điểm mà các Thái dương Thiên Thần vẫn chưa can thiệp để giúp các chân thần trở nên có khả năng biểu hiện một cách tự ý thức trong các cõi thấp. |
|
5. They could not make man in their likeness. |
5. Các Ngài không thể tạo ra con người theo hình ảnh của các Ngài. |
|
242. We have to determine whether they had mind to give. Some of the greater beings associated with them, apparently, did have mind but no love. |
242. Chúng ta phải xác định liệu các Ngài có trí tuệ để ban cho hay không. Một số hữu thể lớn hơn liên kết với các Ngài, dường như, quả có trí tuệ nhưng không có bác ái. |
|
243. Also, it was not intended that man should be made in their likeness. |
243. Ngoài ra, con người không được dự định là sẽ được tạo ra theo hình ảnh của các Ngài. |
|
6. They could not give him mind.—S. D., II, 82. |
6. Các Ngài không thể ban cho y trí tuệ.—S. D., II, 82. |
|
244. This was the task of the Solar Pitris. |
244. Đó là nhiệm vụ của thái dương tổ phụ. |
|
245. The Lunar Pitris made copies of their form natures, but did not and could not convey self-consciousness. |
245. Thái âm tổ phụ tạo ra những bản sao của bản chất hình tướng của các Ngài, nhưng đã không và không thể truyền đạt ngã thức. |
|
7. They build his external form. |
7. Các Ngài xây dựng hình tướng bên ngoài của y. |
|
246. This was a shadowing, filmy, quasi-etheric form. |
246. Đó là một hình tướng phủ bóng, mờ ảo, gần như dĩ thái. |
|
8. They give the lower principle. |
8. Các Ngài ban nguyên khí thấp. |
|
247. We note that the term is not “principles”; it would seem that the Lunar Pitris gave the etheric form upon which the outer more physical form could be built. |
247. Chúng ta lưu ý rằng thuật ngữ ở đây không phải là “các nguyên khí”; dường như các thái âm tổ phụ đã ban cho hình thể dĩ thái, trên đó hình thể bên ngoài vật chất hơn có thể được xây dựng. |
|
248. Again, it must be asked whether these ‘Creators’ give any principle whatsoever or only the vehicles through which the principles can manifest. |
248. Một lần nữa, cần phải hỏi liệu các “Đấng Sáng Tạo” này có ban cho bất kỳ nguyên khí nào chăng, hay chỉ ban cho các vận cụ mà qua đó các nguyên khí có thể biểu hiện. |
|
FOOTNOTE 99: |
CHÚ THÍCH 99: |
|
Temporarily they are the Conquerors of Spirit.—S. D., II, 66. |
Tạm thời họ là những kẻ chinh phục tinh thần.—S. D., II, 66. |
|
249. The conquest is temporary and only abides so long as the World of Illusion can power over the incarnating Jiva. |
249. Sự chinh phục ấy chỉ là tạm thời và chỉ tồn tại chừng nào Thế Giới Đang Trở Thành còn có thể chế ngự Jiva đang lâm phàm. |
|
a. Spirit becomes immersed in material forms. |
a. Tinh thần trở nên chìm đắm trong các hình tướng vật chất. |
|
250. This is necessary if the Divine Purpose is to be enacted through the Divine Plan. “Except a kernel of wheat falleth in the ground and perisheth…” |
250. Điều này là cần thiết nếu Thiên Ý phải được thực thi thông qua Thiên Cơ. “Trừ phi hạt lúa mì rơi xuống đất và chết đi…” |
|
b. Forms are the battle ground. |
b. Các hình tướng là chiến trường. |
|
251. Form-consciousness is separative. It does not perceive the underlying unity and hence the struggle. |
251. Tâm thức hình tướng có tính phân ly. Nó không nhận ra sự hợp nhất nền tảng, và do đó mới có sự đấu tranh. |
|
c. Eventually Spirit will slay the forms.—S. D., II, 67. |
c. Cuối cùng tinh thần sẽ sát diệt các hình tướng.—S. D., II, 67. |
|
252. This occurs by means of the process of initiation. |
252. Điều này xảy ra nhờ tiến trình điểm đạo. |
|
d. Note the esoteric order. |
d. Hãy lưu ý trật tự huyền bí. |
|
253. Matter/illusion slays Spirit; only later, upon the returning arc, does Spirit slay matter illusion. |
253. Vật chất/ảo tưởng sát hại tinh thần; chỉ về sau, trên cung quay về, tinh thần mới sát hại ảo tưởng vật chất. |
|
—S. D., II, 88, 92, 100; II, 116. |
—S. D., II, 88, 92, 100; II, 116. |
|
That system stands to the present one as the lunar chain to ours. That is why the physical body is considered no principle (either for man or the solar Logos); |
Hệ thống đó liên hệ với hệ thống hiện tại như dãy mặt trăng liên hệ với dãy của chúng ta. Đó là lý do vì sao thể xác không được xem là một nguyên khí (đối với con người cũng như đối với Thái dương Thượng đế); |
|
254. The past is unprincipled. A principle is an energy bearing a definite ‘unit of purposeful intent’ of a higher Creative Power. The past bears a pattern which contains no ‘unit of purposeful intent’. The purpose of past structures has been served. |
254. Quá khứ là vô nguyên khí. Một nguyên khí là một năng lượng mang một “đơn vị ý định có mục đích” xác định của một Quyền Năng Sáng Tạo cao hơn. Quá khứ mang một mô hình không chứa “đơn vị ý định có mục đích” nào. Mục đích của các cấu trúc quá khứ đã được hoàn tất. |
|
that is why the lower nature is considered evil, and why man must “slay his lunar body.” |
đó là lý do vì sao bản chất thấp được xem là ác, và vì sao con người phải “sát diệt thể thái âm của mình.” |
|
255. World mythology is full of stories representing this perennial combat. Every time St. George slays the Dragon we have the same conflict reenacted. |
255. Thần thoại thế giới đầy những câu chuyện tượng trưng cho cuộc chiến trường kỳ này. Mỗi lần Thánh George giết Con Rồng, chúng ta lại thấy cùng một xung đột ấy được tái diễn. |
|
256. To follow “evil” tendencies would drag us back into fields of energy/force in the midst of which we cannot receive the intended energy endowment of the present. |
256. Đi theo các khuynh hướng “ác” sẽ kéo chúng ta trở lui vào những trường năng lượng/mãnh lực mà ở giữa đó chúng ta không thể tiếp nhận sự ban cấp năng lượng dự định của hiện tại. |
|
257. St. Paul certainly realized this. He was, we are told, a Scorpio individual and certainly knew what it must mean for the Moon for “fall” in Scorpio. |
257. Chắc chắn Thánh Paul đã nhận ra điều này. Như chúng ta được cho biết, ông là một cá nhân Hổ Cáp và hẳn biết rõ Mặt Trăng “sa hãm” trong Hổ Cáp phải có nghĩa gì. |
|
1 Evil is that which can be controlled and subdued but which is permitted to govern. |
1 Điều ác là cái có thể bị kiểm soát và chế ngự nhưng lại được cho phép cai quản. |
|
258. This is a brilliant definition of “evil”. There is no evil if negative and retrogressive forces are too strong to be controlled and subdued. |
258. Đây là một định nghĩa xuất sắc về “điều ác”. Không có điều ác nếu các lực tiêu cực và thoái hóa quá mạnh đến mức không thể bị kiểm soát và chế ngự. |
|
259. But if they are allowed to govern—if the choice is made to give them scope rather than suppress them—then the will has chosen to ally itself with that which will not bring to pass the intended good. That choice would be an evil choice and the actions resulting from that evil choice would be evil. |
259. Nhưng nếu chúng được phép cai quản—nếu sự lựa chọn là cho chúng phạm vi hoạt động thay vì đè nén chúng—thì ý chí đã chọn liên minh với cái sẽ không làm cho điều thiện dự định được thành tựu. Sự lựa chọn ấy sẽ là một lựa chọn ác, và các hành động phát sinh từ lựa chọn ác đó sẽ là ác. |
|
The positive can always manipulate the negative. When the negative line is followed and the line of least resistance to that which is no principle, is pursued, then we have evil. |
Cái tích cực luôn có thể điều khiển cái tiêu cực. Khi đường lối tiêu cực được theo đuổi, và con đường ít trở ngại nhất hướng tới cái không phải là nguyên khí được theo đuổi, thì khi ấy chúng ta có điều ác. |
|
260. So the appearance of evil is a matter related to will and to capacity. When the will is present but the capacity to thwart evil is missing, there is no evil. |
260. Vì vậy, sự xuất hiện của điều ác là một vấn đề liên hệ đến ý chí và năng lực. Khi có ý chí nhưng thiếu năng lực ngăn chặn điều ác, thì không có điều ác. |
|
261. But where the capacity to thwart the appearance of evil is present, but the will to do so is not present, then there is evil. |
261. Nhưng ở đâu có năng lực ngăn chặn sự xuất hiện của điều ác mà ý chí làm như vậy lại không hiện diện, thì ở đó có điều ác. |
|
262. It is all a question of choice. Thus, only those who have the power of conscious choice can be consciously evil. |
262. Tất cả đều là vấn đề lựa chọn. Do đó, chỉ những ai có năng lực lựa chọn có ý thức mới có thể ác một cách có ý thức. |
|
In the first solar system the negative substance aspect, the Mother aspect or matter, was perfected. The lower Pitris dominated. |
Trong hệ mặt trời thứ nhất, phương diện chất liệu tiêu cực, phương diện Mẹ hay vật chất, đã được hoàn thiện. Các thái âm tổ phụ thấp đã thống trị. |
|
263. These residual lives are, therefore, every old. |
263. Vì vậy, các sự sống tồn dư này đều rất cổ xưa. |
|
264. I think we can see why any reversion to domination by the Mother aspect or by the lower devas would be evil in light of God-the-Solar-Logos’ present intentions. |
264. Tôi nghĩ chúng ta có thể thấy vì sao bất kỳ sự quay trở lại nào với sự thống trị của phương diện Mẹ hay của các thiên thần thấp đều sẽ là ác dưới ánh sáng những ý định hiện tại của Thượng đế-Thái dương Thượng đế. |
|
In this system force activity lies in the hands of the solar Pitris or greater devas. |
Trong hệ thống này, hoạt động của mãnh lực nằm trong tay các thái dương tổ phụ hay các thiên thần lớn hơn. |
|
265. We are living in a very solar solar system and the lunar forces or forces of form are definitely on the wane and are considered (compared with what must be accomplished in this solar system) evil. |
265. Chúng ta đang sống trong một hệ mặt trời rất thái dương, và các lực thái âm hay các lực của hình tướng rõ ràng đang suy tàn và được xem là (so với điều phải được hoàn thành trong hệ mặt trời này) ác. |
|
At the close of the mahamanvantara they will have built according [Page 619] to the plan a perfect sheath or vehicle of expression for the Divine Thought, and this through the manipulation of negative substance; |
Vào lúc kết thúc Đại giai kỳ sinh hóa, họ sẽ xây dựng theo [Page 619] kế hoạch một vỏ bọc hay vận cụ biểu lộ hoàn hảo cho Tư Tưởng thiêng liêng, và điều này thông qua sự vận dụng chất liệu tiêu cực; |
|
266. We see that negative substance may still very much present and that the “solar Pitris” or “greater devas” must engage with it, using it as the substance of their building. |
266. Chúng ta thấy rằng chất liệu tiêu cực có thể vẫn còn hiện diện rất nhiều, và các “thái dương tổ phụ” hay “các thiên thần lớn hơn” phải dấn thân vào nó, dùng nó làm chất liệu cho công trình xây dựng của mình. |
|
267. Yet, from another perspective, there may be no lunar substance by the end of the Mahamanvantara, and the “perfect sheath or vehicle of expression for the Divine Thought” may be on a higher and more solar plane altogether, and there reach its perfection. |
267. Tuy nhiên, từ một góc nhìn khác, đến cuối Đại giai kỳ sinh hóa có thể sẽ không còn chất liệu thái âm, và “vỏ bọc hay vận cụ biểu lộ hoàn hảo cho Tư Tưởng thiêng liêng” có thể hoàn toàn ở trên một cõi cao hơn và thái dương hơn, và tại đó đạt đến sự hoàn hảo của nó. |
|
268. The building of a perfect sheath may be seen to accord with attaining that level of development where the fourth initiation can be taken. Let us remember that four is a number deeply associated with perfection. |
268. Việc xây dựng một vỏ bọc hoàn hảo có thể được xem là phù hợp với việc đạt đến cấp độ phát triển mà ở đó lần điểm đạo thứ tư có thể được tiếp nhận. Chúng ta hãy nhớ rằng bốn là một con số gắn liền sâu sắc với sự hoàn hảo. |
|
269. Yet, we must remember that there are references pointing to the possibility that the Solar Logos will take the fifth cosmic initiation in this solar system. |
269. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng có những dẫn chiếu chỉ ra khả năng Thái dương Thượng đế sẽ tiếp nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ năm trong hệ mặt trời này. |
|
270. Whether He takes the fourth or the fifth initiation, there will come a time when the Moon “falls” systemically and when, therefore, lunar vehicles may no longer be needed. A lunar-like Mayavirupa could be built by the projective powers of the Solar Logos, but this would not be the same as original lunar vehicles. Through such a solar logoic Mayavirupa, the very highest and the very lowest could, conceivably, meet. |
270. Dù Ngài tiếp nhận lần điểm đạo thứ tư hay thứ năm, sẽ đến một lúc Mặt Trăng “sa hãm” một cách hệ thống và khi đó, vì vậy, các vận cụ thái âm có thể không còn cần thiết nữa. Một Mayavirupa giống thái âm có thể được xây dựng bằng các quyền năng phóng chiếu của Thái dương Thượng đế, nhưng điều này sẽ không giống với các vận cụ thái âm nguyên thủy. Qua một Mayavirupa thái dương logoic như thế, cái cao nhất và cái thấp nhất có thể, theo cách có thể hình dung được, gặp nhau. |
|
they utilise the heat of the Mother to nourish the germ of the Divine Thought, and to bring it to fruition. |
họ sử dụng nhiệt của Mẹ để nuôi dưỡng mầm của Tư Tưởng thiêng liêng, và đưa nó đến kết quả viên mãn. |
|
271. We are speaking of nourishing the “germ of Divine Thought” in matter. |
271. Chúng ta đang nói về việc nuôi dưỡng “mầm của Tư Tưởng thiêng liêng” trong vật chất. |
|
272. The “heat of the Mother” is the sumtotal of lower fires—latent heat and active heat, and possibly mental elemental fire. |
272. “Nhiệt của Mẹ” là tổng số các lửa thấp—nhiệt tiềm tàng và nhiệt hoạt động, và có thể cả lửa hành khí trí tuệ. |
|
273. The principle to be understood is that heat is needed to bring thought to fruition. |
273. Nguyên lý cần được thấu hiểu là nhiệt cần thiết để đưa tư tưởng đến chỗ kết quả viên mãn. |
|
274. Heat is associated with the atmic plane, the plane of Brahma Who is so engaged with the Mother aspect. |
274. Nhiệt được liên kết với cõi atma, cõi của Brahma, Đấng gắn bó sâu xa với phương diện Mẹ. |
|
275. At some time before the destruction of the solar logoic causal body, the Divine Thought will find quite full expression through the substances of the solar logoic lunar vehicles. As long as the “lowest” exists, there must come a time when, relatively, “The Highest and the Lowest Meet”. |
275. Vào một thời điểm nào đó trước khi thể nguyên nhân logoic thái dương bị hủy diệt, Tư Tưởng thiêng liêng sẽ tìm được sự biểu lộ khá trọn vẹn qua các chất liệu của các vận cụ thái âm logoic thái dương. Chừng nào cái “thấp nhất” còn tồn tại, thì phải đến một lúc mà, theo nghĩa tương đối, “Cái Cao Nhất và Cái Thấp Nhất Gặp Nhau”. |
|
When the germ has developed to maturity the Mother aspect no longer has a place, and the Man occultly is freed or liberated. |
Khi mầm đã phát triển đến chín muồi, phương diện Mẹ không còn chỗ đứng nữa, và Con Người theo huyền bí học được giải thoát hay được phóng thích. |
|
276. Even in the tiny cycle of human life this process is to be noted. There comes a time when every individual must escape the clutches of the mother. This does not mean that one cannot have a good and spiritually mature relationship with one’s earthly mother, but the mother must become a spiritual friend and not one who must continue to “take care of” the lunar nature of the child. An ideal later relationship between mother and child would be based upon solar principles and not upon lunar. Otherwise, retrogression occurs. |
276. Ngay cả trong chu kỳ nhỏ bé của đời sống con người, tiến trình này cũng có thể được ghi nhận. Sẽ đến lúc mỗi cá nhân phải thoát khỏi sự kềm giữ của người mẹ. Điều này không có nghĩa là người ta không thể có một mối quan hệ tốt đẹp và trưởng thành về tinh thần với người mẹ trần thế của mình, nhưng người mẹ phải trở thành một người bạn tinh thần chứ không phải là người phải tiếp tục “chăm sóc” bản chất thái âm của đứa trẻ. Một mối quan hệ lý tưởng về sau giữa mẹ và con sẽ dựa trên các nguyên lý thái dương chứ không phải các nguyên lý thái âm. Nếu không, sự thoái hóa sẽ xảy ra. |
|
This idea runs through all manifestations, and the kingdoms of nature or the form (no matter what form it may be) nourish the germ of that which is the next step on in the evolutionary process, and are considered the Mother aspect. This aspect is eventually discarded and superseded. |
Ý tưởng này xuyên suốt mọi biểu hiện, và các giới trong thiên nhiên hay hình tướng (dù đó là hình tướng nào) nuôi dưỡng mầm của cái là bước kế tiếp trong tiến trình tiến hoá, và được xem là phương diện Mẹ. Phương diện này cuối cùng bị loại bỏ và được thay thế. |
|
277. That which nourishes is valued for what it has done, but must be discarded and superseded if there is to be spiritual progress. |
277. Cái nuôi dưỡng được trân trọng vì điều nó đã làm, nhưng phải bị loại bỏ và thay thế nếu muốn có tiến bộ tinh thần. |
|
278. The greater kingdoms ‘feed’ on the lesser kingdoms. The lesser kingdoms are the nourishing support for the advancement of the greater kingdoms. |
278. Các giới lớn hơn “nuôi” bằng các giới nhỏ hơn. Các giới nhỏ hơn là sự nâng đỡ nuôi dưỡng cho sự tiến bộ của các giới lớn hơn. |
|
For example, the third kingdom, the animal, in the early stages nourishes and preserves the germ of that which will some day be a man; the personality is the preserver of that which will some day unfold into spiritual man. |
Thí dụ, giới thứ ba, giới động vật, trong các giai đoạn đầu nuôi dưỡng và bảo tồn mầm của cái một ngày kia sẽ là con người; phàm ngã là kẻ bảo tồn cái một ngày kia sẽ khai mở thành con người tinh thần. |
|
279. This suggests that the personality has at least one function as a preserver. |
279. Điều này gợi ý rằng phàm ngã có ít nhất một chức năng là bảo tồn. |
|
280. We also have the suggestion that as the personality must be considered the composite animal aspect of man. The animal/personality guards that which will become the ‘Solar Man’, the spiritual man. |
280. Chúng ta cũng có gợi ý rằng phàm ngã phải được xem là phương diện động vật tổng hợp của con người. Động vật/phàm ngã canh giữ cái sẽ trở thành “Con Người Thái Dương”, con người tinh thần. |
|
281. Each new kingdom arises out of the one preceding. |
281. Mỗi giới mới phát sinh từ giới đi trước nó. |
|
It will thus become apparent to students how the Heavenly Man, viewing Him as a solar Deity, a self-conscious Entity, works with His negative aspect through positive force, from logoic etheric levels upon the three aspects of the logoic dense physical, thus bringing to maturity the atoms and cells of His Body, fostering the germ of self-consciousness, fanning the flame until each unit becomes fully group conscious and aware of his place within the body corporate. |
Như vậy, các đạo sinh sẽ thấy rõ cách Đấng Thiên Nhân, xem Ngài như một Thượng đế thái dương, một Thực Thể có ngã thức, hoạt động với phương diện tiêu cực của Ngài bằng mãnh lực tích cực, từ các cấp độ dĩ thái logoic lên ba phương diện của hồng trần đậm đặc logoic, nhờ đó đưa các nguyên tử và tế bào trong Thể của Ngài đến chín muồi, nuôi dưỡng mầm ngã thức, quạt bùng ngọn lửa cho đến khi mỗi đơn vị trở nên hoàn toàn có tâm thức nhóm và ý thức được vị trí của y trong toàn thể cơ cấu. |
|
282. We remember that we hypothesized that, from the perspective of a Heavenly Man, the higher mental plane could be considered “etheric”. |
282. Chúng ta nhớ rằng chúng ta đã giả định rằng, từ góc nhìn của một Đấng Thiên Nhân, Cõi thượng trí có thể được xem là “dĩ thái”. |
|
283. Even if this is the case, He still works upon the lesser lives from within the cosmic etheric planes—i.e., from “logoic etheric levels”. |
283. Ngay cả nếu đúng như vậy, Ngài vẫn tác động lên các sự sống nhỏ hơn từ bên trong các cõi dĩ thái vũ trụ—tức là, từ “các cấp độ dĩ thái logoic”. |
|
284. We will now have a comparison between the fostering power of a Heavenly Man and that of the human being. |
284. Giờ đây chúng ta sẽ có một sự so sánh giữa quyền năng nuôi dưỡng của một Đấng Thiên Nhân và của con người. |
|
285. The Heavenly Man is a “solar Deity” because He is a “self-conscious Entity” and is positive to the substance contained within His body of expression. |
285. Đấng Thiên Nhân là một “Thượng đế thái dương” vì Ngài là một “Thực Thể có ngã thức” và có tính tích cực đối với chất liệu chứa trong thể biểu lộ của Ngài. |
|
286. The Heavenly Man Who has self-consciousness, fosters the germs of self-consciousness in those lives He contains who have not yet unfolded self-consciousness. |
286. Đấng Thiên Nhân, Đấng có ngã thức, nuôi dưỡng các mầm ngã thức trong những sự sống mà Ngài bao hàm, là những sự sống chưa khai mở ngã thức. |
|
287. The Dragon of Wisdom (the Heavenly Man) is bringing into full Self-consciousness lesser units of life so they may one day be as He is now. |
287. Con Rồng Minh Triết (Đấng Thiên Nhân) đang đưa các đơn vị sự sống nhỏ hơn vào ngã thức trọn vẹn để một ngày kia chúng có thể như Ngài hiện nay. |
|
Each human being likewise, functioning in the three worlds, works in a corresponding way upon the conscious cells of his bodies, until each atom eventually achieves its goal. |
Tương tự như vậy, mỗi con người, hoạt động trong ba cõi thấp, tác động theo cách tương ứng lên các tế bào có ý thức trong các thể của y, cho đến khi mỗi nguyên tử cuối cùng đạt được mục tiêu của nó. |
|
288. The work off the human being proceeds from the higher mental plane (or at least under very strong guidance from that plane) and, later, from the buddhic plane. |
288. Công việc của con người tiến hành từ Cõi thượng trí (hoặc ít nhất dưới sự hướng dẫn rất mạnh từ cõi đó) và về sau từ cõi Bồ đề. |
|
289. The goal of human atoms is self-consciousness. But this self-consciousness is achieved, it seems, in aggregate, just as on a much higher level of development, groups of Solar Angels in aggregate achieve planetary logoic consciousness. |
289. Mục tiêu của các nguyên tử người là ngã thức. Nhưng ngã thức này, dường như, được đạt tới trong tổng thể, cũng như ở một cấp độ phát triển cao hơn rất nhiều, các nhóm Thái dương Thiên Thần trong tổng thể đạt được tâm thức logoic hành tinh. |
|
The Heavenly Man works necessarily through egoic groups, pouring positive force upon them until they emerge from passivity and negativity into potency and activity. |
Đấng Thiên Nhân tất yếu hoạt động thông qua các nhóm chân ngã, tuôn đổ mãnh lực tích cực lên chúng cho đến khi chúng thoát khỏi tính thụ động và tiêu cực để đi vào năng lực và hoạt động. |
|
290. At first egoic groups can be passive and negative. This may seem a strange thought. Analogically, however, we have to remember that, at first, causal bodies are only of small development and man’s causal consciousness is practically non-existent. If egoic groups in relation to the dense physical body of the Planetary Logos are as the human causal body to the personality of man, then, at first, the causal body is not by any means fully empowered. |
290. Thoạt đầu các nhóm chân ngã có thể thụ động và tiêu cực. Điều này có vẻ là một ý tưởng lạ. Tuy nhiên, theo định luật tương đồng, chúng ta phải nhớ rằng lúc đầu các thể nguyên nhân chỉ phát triển rất ít và tâm thức nguyên nhân của con người hầu như không hiện hữu. Nếu các nhóm chân ngã, trong tương quan với thể xác đậm đặc của Đức Hành Tinh Thượng Đế, giống như thể nguyên nhân của con người đối với phàm ngã của y, thì lúc đầu thể nguyên nhân tuyệt nhiên chưa được trao quyền đầy đủ. |
|
291. We remember that this work by the Heavenly Man upon egoic groups takes place from “logoic etheric levels”. The work of egoic groups upon the lower three worlds takes place from the higher mental plane (which, from one point of view, can be considered etheric in relation to a Planetary Logos). |
291. Chúng ta nhớ rằng công việc này của Đấng Thiên Nhân trên các nhóm chân ngã diễn ra từ “các cấp độ dĩ thái logoic”. Công việc của các nhóm chân ngã trên ba cõi thấp diễn ra từ Cõi thượng trí (mà, từ một quan điểm nào đó, có thể được xem là dĩ thái trong tương quan với một Đức Hành Tinh Thượng Đế). |
|
292. The same must be true of man (i.e., he would work from systemic etheric levels, as he seeks to uplift the quality of the atoms constituent to his physical vehicle). |
292. Điều tương tự cũng phải đúng với con người (tức là, y sẽ hoạt động từ các cấp độ dĩ thái hệ thống, khi y tìm cách nâng cao phẩm tính của các nguyên tử cấu thành vận cụ hồng trần của mình). |
|
Man works correspondingly through his centres upon his sheaths, and has a responsibility to the lesser lives which under the karmic law must be worked out. |
Con người hoạt động một cách tương ứng thông qua các trung tâm của y lên các vỏ bọc của y, và có một trách nhiệm đối với các sự sống nhỏ hơn mà theo định luật nghiệp quả phải được giải quyết. |
|
293. We remember that the etheric centers of man occur on all the systemic ethers, and not just on the fourth. |
293. Chúng ta nhớ rằng các trung tâm dĩ thái của con người hiện diện trên mọi dĩ thái hệ thống, chứ không chỉ trên dĩ thái thứ tư. |
|
This is the basis of the evolutionary process. |
Đây là nền tảng của tiến trình tiến hoá. |
|
294. This process is directed from the realm of the Holy Spirit, Agni, Fohat, Brahma and animates lesser, passive, inert, negative lives. |
294. Tiến trình này được chỉ đạo từ lĩnh vực của Chúa Thánh Thần, Agni, Fohat, Brahma và tiếp sinh lực cho các sự sống nhỏ hơn, thụ động, trì trệ, tiêu cực. |
|
295. The occultist works from above upon that which is below. He is the ‘mover’ and words upon that which must be ‘moved’. |
295. Nhà huyền bí học hoạt động từ trên xuống trên cái ở dưới. Y là “kẻ làm chuyển động” và hoạt động trên cái phải được “làm chuyển động”. |
|
296. The ‘Great Ladder of Evolution’ requires that the ones who work upon shall, in their turn, be worked upon. A hand is extended upward anticipating aid even as the hand of service is extended downwards. |
296. “Nấc Thang Vĩ Đại của Tiến Hóa” đòi hỏi rằng những kẻ tác động lên kẻ khác rồi đến lượt mình cũng sẽ bị tác động lên. Một bàn tay được đưa lên trên để chờ đợi sự trợ giúp cũng như bàn tay phụng sự được đưa xuống dưới. |