Bình giảng về Lửa Vũ Trụ S6S6 (620-635)

📘 Sách: Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S6 – Tác giả: Michael D. Robbins

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến trang sách tương ứng trong TCF

TCF 620 – 635: S6S6

10 December – 24 December 2007

10 Tháng Mười Hai – 24 Tháng Mười Hai 2007

Version 1

Phiên bản 1

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi trình chiếu trong lớp. Các chú thích và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.

Người ta gợi ý rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.

[Page 620]

[Page 620]

1. Our work continues with a close examination of the deva kingdom in relation to several orders of “man”.

1. Công việc của chúng ta tiếp tục với việc khảo sát chặt chẽ giới thiên thần trong tương quan với một số cấp bậc của “con người”.

2. Point “a.” (in the previous commentary) offered a discussion on the following:

2. Điểm “a.” (trong phần bình luận trước) đã đưa ra một cuộc bàn luận về điều sau đây:

The Mystery of Electricity. The greater Builders are the positive aspect of substance or of electrical phenomena whilst the lesser Builders are the negative aspect.

Mầu Nhiệm của Điện. Các đấng đại kiến tạo là phương diện tích cực của chất liệu hay của các hiện tượng điện, trong khi các vị tiểu kiến tạo là phương diện tiêu cực.

b. The Functions of the Devas.

b. Các Chức Năng của chư thiên thần.

Having predicated certain basic facts about the devas, viewing them as the sum total of the energy of substance and of substance itself, we come down to more technical details and to the more detailed consideration of these building forces as they construct the thought-form of the Logos, the solar System.

Sau khi đã xác lập một số sự kiện căn bản về chư thiên thần, xem họ như tổng thể năng lượng của chất liệu và của chính chất liệu, chúng ta đi xuống các chi tiết kỹ thuật hơn và đến với sự xem xét chi tiết hơn về các mãnh lực kiến tạo này khi chúng xây dựng hình tư tưởng của Thượng đế, hệ mặt trời.

3. Substance itself is energy-force. We should not think of substance as matter only, and energy-force as that which animates matter. The devas we are studying are substance considered as energy-force.

3. Chính chất liệu là năng lượng-mãnh lực. Chúng ta không nên nghĩ về chất liệu chỉ như vật chất, và năng lượng-mãnh lực như cái làm sinh động vật chất. Các thiên thần mà chúng ta đang nghiên cứu là chất liệu được xem như năng lượng-mãnh lực.

4. We remind ourselves that the thoughtform of the Solar Logos is the solar system.

4. Chúng ta tự nhắc mình rằng hình tư tưởng của Thái dương Thượng đế là hệ mặt trời.

From this consideration of them certain practical knowledge will eventuate:

Từ việc xem xét họ như thế, một số tri thức thực tiễn sẽ phát sinh:

First. Knowledge of how to build in mental matter in the three worlds, and how to employ the devas of the gaseous plane of the cosmic physical.

Thứ nhất. Tri thức về cách xây dựng trong chất liệu trí tuệ trong ba cõi giới, và cách sử dụng các thiên thần của cõi khí của cõi hồng trần vũ trụ.

5. This is the beginning (for us) of the white magical process. This process is extensively considered later in this book and also in A Treatise on White Magic.

5. Đây là sự khởi đầu (đối với chúng ta) của tiến trình huyền thuật chánh đạo. Tiến trình này được khảo sát rộng rãi về sau trong quyển sách này và cả trong Luận về Chánh Thuật.

6. We remind ourselves that the systemic mental plane is the gaseous plane of the cosmic physical plane.

6. Chúng ta tự nhắc mình rằng cõi trí hệ thống là cõi khí của cõi hồng trần vũ trụ.

Second. Realisation of how to combine the pairs of opposites, and thus give body and form to concept.

Thứ hai. Chứng nghiệm cách kết hợp các cặp đối cực, và nhờ đó ban cho ý niệm thể và hình tướng.

7. Essentially the pairs of opposites are Spirit and matter. The pairs of opposites here referenced are the thought (i.e., the concept) and the thing—the product of the systemic mental plane and of the systemic etheric-physical plane.

7. Về bản chất, các cặp đối cực là tinh thần và vật chất. Các cặp đối cực được nói đến ở đây là tư tưởng (tức là ý niệm) và sự vật—sản phẩm của cõi trí hệ thống và của cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống.

8. The true form is found upon the etheric plane and its building begins on the plane of thought, then augmented on the plane of sentiency.

8. Hình tướng chân thực được tìm thấy trên cõi dĩ thái và việc xây dựng nó bắt đầu trên cõi tư tưởng, rồi được tăng cường trên cõi cảm giác.

Third. Materialisation upon the physical plane of the embodied idea.

Thứ ba. Sự hiện hình trên cõi hồng trần của ý tưởng đã nhập thể.

9. This third point references the art and science of precipitation.

9. Điểm thứ ba này nói đến nghệ thuật và khoa học của sự ngưng tụ.

10. Not all forms upon the physical plane are embodied ideas. Some are embodied thoughts. We may, however, suppose that thoughts are derivative of ideas even if the one engaged in the act of precipitation is not accessing the originating idea but only its representative thought.

10. Không phải mọi hình tướng trên cõi hồng trần đều là những ý tưởng nhập thể. Một số là những tư tưởng nhập thể. Tuy nhiên, chúng ta có thể giả định rằng các tư tưởng là phái sinh từ các ý tưởng, ngay cả khi người đang thực hiện hành vi ngưng tụ không tiếp cận ý tưởng nguyên thủy mà chỉ tiếp cận tư tưởng đại diện của nó.

1. Manifestation of the Logoic Aspects. This is achieved through the close consideration of the laws of being, and of the method pursued by the Logos in giving His conception form, thus working out His purpose, or will, through that form. In the three planes of man’s endeavour we have reflected the three aspects of the Logos as they produce manifestation:

1. Sự Biểu Hiện của các Phương diện Logoic. Điều này đạt được thông qua việc xem xét cẩn mật các quy luật của bản thể, và phương pháp mà Thượng đế theo đuổi khi ban cho quan niệm của Ngài hình tướng, nhờ đó thực hiện mục đích, hay ý chí, của Ngài qua hình tướng ấy. Trong ba cõi nỗ lực của con người, chúng ta có sự phản chiếu của ba phương diện của Thượng đế khi chúng tạo ra biểu hiện:

11. DK is referencing the “laws of being”. We must determine whether the word “being” is being used in a general sense, or whether He is referring to a very high set of laws related to the central life of the Solar Logos:

11. Chân sư DK đang nói đến “các quy luật của bản thể”. Chúng ta phải xác định xem từ “bản thể” đang được dùng theo nghĩa tổng quát, hay Ngài đang nói đến một tập hợp quy luật rất cao liên hệ với sự sống trung tâm của Thái dương Thượng đế:

The Mental Plane...reflection of the first aspect.

Cõi Trí...sự phản chiếu của phương diện thứ nhất.

12. The will consistently works through the mind. Manas and purpose are (according to definitions given in this treatise) inseparable.

12. Ý chí luôn luôn hoạt động thông qua trí tuệ. Manas và mục đích là bất khả phân ly (theo các định nghĩa được đưa ra trong bộ luận này).

The plane of concept, of the union of Father-Spirit-Will and Mother-Matter-Energy.

Cõi của ý niệm, của sự hợp nhất giữa Cha-Tinh thần-Ý chí và Mẹ-Vật chất-Năng lượng.

13. The substance of the mental plane is “Mother-Matter-Energy”. The “Father-Spirit-Will” aspect shapes substance upon the mental plane into concepts.

13. Chất liệu của cõi trí là “Mẹ-Vật chất-Năng lượng”. Phương diện “Cha-Tinh thần-Ý chí” định hình chất liệu trên cõi trí thành các ý niệm.

14. In a way, concepts represent the “Son” aspect of divinity.

14. Theo một cách nào đó, các ý niệm tượng trưng cho phương diện “Con” của thiên tính.

This is the work of the Logos, and this union produces the Son, for Divine Thought takes form. The body of the Ego is there found.

Đây là công việc của Thượng đế, và sự hợp nhất này sản sinh ra Con, vì Tư Tưởng thiêng liêng mang lấy hình tướng. Thể của chân ngã được tìm thấy ở đó.

15. From this perspective, the body of the Ego is both a “son” and a concept.

15. Từ góc nhìn này, thể của chân ngã vừa là một “con” vừa là một ý niệm.

16. The true “Ego” is consciousness. That which arises in substance upon the higher mental plane is the body of the Ego.

16. “Chân ngã” đích thực là tâm thức. Cái phát sinh trong chất liệu trên Cõi thượng trí là thể của chân ngã.

Astral Plane…reflection of the second aspect, the Son. Materialisation proceeds through desire, and the form grows and evolves, becoming more adequate.

Cõi cảm dục…sự phản chiếu của phương diện thứ hai, Con. Sự hiện hình tiến hành qua dục vọng, và hình tướng tăng trưởng và tiến hoá, trở nên thích hợp hơn.

17. DK is dealing in essence with the white magical process.

17. Về bản chất, Chân sư DK đang bàn đến tiến trình huyền thuật chánh đạo.

18. Upon the astral plane the initial mental form grows and is filled out.

18. Trên cõi cảm dục, hình thể trí tuệ ban đầu tăng trưởng và được lấp đầy.

19. Just as the mind reflects the Monad and the astral body reflects the second aspect, the soul aspect.

19. Cũng như trí tuệ phản chiếu chân thần và thể cảm dục phản chiếu phương diện thứ hai, phương diện linh hồn.

Physical Plane…Manifestation. The thought-form (of man or the Logos) appears in activity.

Cõi hồng trần…Biểu hiện. Hình tư tưởng (của con người hay của Thượng đế) xuất hiện trong hoạt động.

20. The third aspect is the activity aspect and is the primary influence upon the physical plane. Activity brings about manifestation.

20. Phương diện thứ ba là phương diện hoạt động và là ảnh hưởng chủ yếu trên cõi hồng trần. Hoạt động mang lại sự biểu hiện.

The Son is born on the physical plane, the thought of the Thinker (divine or human) becomes an entity, separated [Page 621] from its originating source, yet energised by the vitality emanating from him.

Con được sinh ra trên cõi hồng trần, tư tưởng của Đấng Tư Tưởng (thiêng liêng hay nhân loại) trở thành một thực thể, tách biệt [Page 621] khỏi nguồn gốc phát sinh của nó, tuy vậy vẫn được tiếp năng bởi sinh lực phát ra từ ông.

21. This is the “Birth of the Christ” to be understood in various ways.

21. Đây là “Sự Giáng Sinh của Đức Christ”, cần được hiểu theo nhiều cách khác nhau.

22. The “Divine Son” is “the thought of the Thinker”.

22. “Thiêng Tử” là “tư tưởng của Đấng Tư Tưởng”.

23. It is important to grasp that the “entity” (which the “thought of the Thinker” has become) is both separate from its originating source and, yet, connected to its originating source which vitalizes it.

23. Điều quan trọng là phải nắm được rằng “thực thể” (mà “tư tưởng của Đấng Tư Tưởng” đã trở thành) vừa tách biệt khỏi nguồn gốc phát sinh của nó, nhưng đồng thời lại được nối kết với nguồn gốc phát sinh vốn tiếp sinh lực cho nó.

24. Man upon the physical plane finds himself exactly in this position—separated from and yet connected to his source the systemic higher mental plane.

24. Con người trên cõi hồng trần thấy mình ở đúng trong vị thế này—tách biệt khỏi nhưng vẫn nối kết với nguồn của mình là Cõi thượng trí của hệ thống.

All this becomes possible—speaking now from the human standpoint—through the action of the devas who are that which embodies thought, and that which give it its separated energy, as distinct from the purpose which will work out to fruition as the form becomes adequate as a medium of expression.

Tất cả điều này trở nên khả hữu—nay nói từ quan điểm nhân loại—qua hoạt động của các thiên thần là cái thể hiện tư tưởng, và cái ban cho nó năng lượng tách biệt của nó, phân biệt với mục đích sẽ được hoàn thành khi hình tướng trở nên thích hợp như một môi trường biểu đạt.

25. We can gather that two functions of the devas here mentioned (i.e., the function of embodying thought and the function of providing the substance-energy apparently separated from the sustain source of energy) are the means through which the purpose works out to fruition in the apparently separated form upon the physical plane.

25. Chúng ta có thể suy ra rằng hai chức năng của các thiên thần được nhắc đến ở đây (tức chức năng thể hiện tư tưởng và chức năng cung cấp chất liệu-năng lượng dường như tách biệt khỏi nguồn năng lượng duy trì) là những phương tiện qua đó mục đích được hoàn thành trong hình tướng dường như tách biệt trên cõi hồng trần.

2. Deva force substance. As we consider the devas of the seven planes of the solar system, and especially as we consider those who work in the three worlds, we must bear in mind the following statements:

2. Chất liệu mãnh lực thiên thần. Khi chúng ta xem xét các thiên thần của bảy cõi của hệ mặt trời, và đặc biệt khi chúng ta xem xét những vị hoạt động trong ba cõi giới, chúng ta phải ghi nhớ các phát biểu sau đây:

26. Although the higher devas are of essential importance to the outworking of logoic purpose through man, the devas with which man is most intimately concerned are those of the three worlds—including (if we wish to be complete) those Agnishvattas which influence the higher mental plane through the building and maintenance of the egoic lotus.

26. Mặc dù các thiên thần cao cấp có tầm quan trọng cốt yếu đối với sự triển khai mục đích logoic qua con người, các thiên thần mà con người liên hệ mật thiết nhất là những vị của ba cõi giới—bao gồm (nếu muốn đầy đủ) cả những Agnishvattas ảnh hưởng đến Cõi thượng trí qua việc xây dựng và duy trì Hoa Sen Chân Ngã.

The First Statement. They are the devas who are the dual force-substance of the lowest cosmic plane, the cosmic physical.

Phát biểu thứ nhất. Họ là các thiên thần là chất liệu-mãnh lực nhị phân của cõi vũ trụ thấp nhất, cõi hồng trần vũ trụ.

27. Just as the systemic (or solar) physical plane is divided into two portions, the same is true of the cosmic physical plane. It is divided into the etheric body of the Solar Logos and the dense physical body of the Solar Logos.

27. Cũng như cõi hồng trần của hệ thống (hay thái dương) được chia thành hai phần, cõi hồng trần vũ trụ cũng vậy. Nó được chia thành thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế và thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế.

28. On the cosmic physical plane there are devas which are particular concerned with the dense physical body of the Solar Logos and those concerned with His etheric body—found upon the higher four systemic planes of the cosmic physical plane.

28. Trên cõi hồng trần vũ trụ có những thiên thần đặc biệt liên hệ với thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế và những vị liên hệ với thể dĩ thái của Ngài—được tìm thấy trên bốn cõi hệ thống cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ.

As regards the three worlds, they are the deva force and substance2 which compose the dense physical body of the Logos, hence man is limited, as he works on these planes, to those devas who are primarily regarded (from the higher levels) as having no part in the seven principles of the Logos;

Xét về ba cõi giới, họ là mãnh lực và chất liệu thiên thần2 hợp thành thể xác đậm đặc của Thượng đế, vì thế con người bị giới hạn, khi hoạt động trên các cõi này, vào những thiên thần mà chủ yếu được xem (từ các cấp độ cao hơn) là không có phần nào trong bảy nguyên khí của Thượng đế;

29. This is a most important statement. From this perspective, man is working within substance which is inherited from the previous solar system—unprincipled substance.

29. Đây là một phát biểu hết sức quan trọng. Từ góc nhìn này, con người đang hoạt động trong chất liệu được thừa hưởng từ hệ mặt trời trước—chất liệu không nguyên khí.

30. The tendencies of such devas conditioned by the patterns of the previous solar system do not correlate with the program of the Solar Logos which was conceived specifically for this second solar system. During the redemptive process which the Logos must, perforce, undertake in this solar system, these tendencies must be repatterned.

30. Các khuynh hướng của những thiên thần như thế, được định hình bởi các mô hình của hệ mặt trời trước, không tương ứng với chương trình của Thái dương Thượng đế vốn được hình thành riêng cho hệ mặt trời thứ hai này. Trong tiến trình cứu chuộc mà Thượng đế buộc phải đảm nhận trong hệ mặt trời này, các khuynh hướng ấy phải được tái mô hình hóa.

31. Below are other ways of describing these same devic lives.

31. Dưới đây là những cách khác để mô tả cùng những sự sống thiên thần này.

to those devas who form the gaseous, liquid, and concrete form of the Logos, the devas of concrete fire, of water and of earth in its densest aspect;

đến những thiên thần tạo thành thể khí, thể lỏng, và hình thể cụ thể của Thượng đế, các thiên thần của lửa cụ thể, của nước và của đất trong phương diện đậm đặc nhất của nó;

32. We note that the devas of the lower mental plane are called “devas of concrete fire”. It is hard to find specific names for these devas. Whether they are to be called “Agnishvattas” of a lower kind is still not ascertained though all indications point in that direction.

32. Chúng ta lưu ý rằng các thiên thần của cõi hạ trí được gọi là “các thiên thần của lửa cụ thể”. Thật khó tìm ra những tên gọi chuyên biệt cho các thiên thần này. Liệu họ có thể được gọi là những “Agnishvattas” thuộc loại thấp hơn hay không vẫn chưa được xác định, dù mọi dấu hiệu đều chỉ theo hướng đó.

33. The devas of water are astral devas.

33. Các thiên thần của nước là các thiên thần cảm dục.

34. We note that the earth devas here referenced are related to the “densest aspect” of the physical plane and, apparently, not to the etheric levels which are considered to be in a separate category.

34. Chúng ta lưu ý rằng các thiên thần đất được nhắc đến ở đây có liên hệ với “phương diện đậm đặc nhất” của cõi hồng trần và, dường như, không liên hệ với các cấp dĩ thái vốn được xem là thuộc một phạm trù riêng biệt.

35. The descriptions of the lower devas continues.

35. Các mô tả về các thiên thần thấp tiếp tục.

to those devas who are the automatic, subconscious builders, carrying on the work of the dense physical vehicle of the Logos in the same sense as the builders in man’s body work automatically and unconsciously, producing the cells and energising the bodily functions.

đến những thiên thần là các đấng kiến tạo tự động, vô thức, tiếp tục công việc của vận cụ hồng trần đậm đặc của Thượng đế theo cùng ý nghĩa như các đấng kiến tạo trong thể của con người hoạt động một cách tự động và vô thức, tạo ra các tế bào và tiếp năng lượng cho các chức năng của cơ thể.

36. It is important to note that these devas are definitely unconscious and automatic in their response.

36. Điều quan trọng là phải lưu ý rằng các thiên thần này rõ ràng là vô thức và tự động trong sự đáp ứng của họ.

FOOTNOTE 2:

CHÚ THÍCH 2:

The Solar Angels are dual in Nature.

Các Thái dương Thiên Thần có bản chất nhị phân.

“Manas is dual—Lunar in the lower, Solar in its upper portion.”—S. D., II, 520, 675.

“Manas là nhị phân—Thái âm ở phần thấp, Thái dương ở phần cao của nó.”—S. D., II, 520, 675.

37. Here is a most important statement. Usually, Solar Angels are considered as expressing only through the higher mental plane. In this footnote, we are led to believe that the devas of concrete mental fire can be called Solar Angels (or Agnishvattas).

37. Đây là một phát biểu hết sức quan trọng. Thông thường, các Thái dương Thiên Thần được xem là chỉ biểu lộ duy nhất qua Cõi thượng trí. Trong chú thích này, chúng ta được dẫn đến chỗ tin rằng các thiên thần của lửa trí tuệ cụ thể có thể được gọi là các Thái dương Thiên Thần (hay Agnishvattas).

38. From another perspective, the fire (agni) of the Agnishvattas is not always solar fire.

38. Từ một góc nhìn khác, lửa (agni) của các Agnishvattas không phải lúc nào cũng là lửa thái dương.

39. We are told that the Fifth Creative Hierarchy is dual. Does this duality consist of the devas of the higher mental plane and those of the lower mental plane?

39. Chúng ta được cho biết rằng Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm là kép. Nhị nguyên tính này có phải gồm các thiên thần của Cõi thượng trí và những vị của cõi hạ trí không?

40. We cannot, however, call the devas of concrete mental fire “returning Nirvanis”.

40. Tuy nhiên, chúng ta không thể gọi các thiên thần của lửa trí tuệ cụ thể là “các nirvani hồi quy”.

a. The solar aspect is attracted towards Buddhi.

a. Phương diện thái dương bị thu hút về phía Bồ đề.

41. We are speaking of the solar aspect of mind or “solar fire”.

41. Chúng ta đang nói về phương diện thái dương của trí tuệ hay “Lửa Thái dương”.

b. The other descends into, or is attracted by the lower animal.

b. Phương diện kia giáng xuống, hay bị thu hút bởi người thú thấp hơn.

42. Here we are speaking of concrete mental fire or lunar fire.

42. Ở đây chúng ta đang nói về lửa trí tuệ cụ thể hay lửa thái âm.

43. There is a close connection between all things lunar and the animal kingdom.

43. Có một mối liên hệ chặt chẽ giữa mọi sự vật thái âm và giới động vật.

c. The Solar Angels form the “Soul” or Second Aspect.

c. Các Thái dương Thiên Thần tạo thành “Linh hồn” hay Phương diện thứ hai.

44. Soul is always present, but what is here referenced is that condition of consciousness characteristic of the higher mental plane.

44. Linh hồn luôn hiện diện, nhưng điều được nhắc đến ở đây là trạng thái tâm thức đặc trưng của Cõi thượng trí.

45. The Solar Angels here concerned are not the lunar Agnishvattas (if such can be said to exist).

45. Các Thái dương Thiên Thần được nói đến ở đây không phải là các Agnishvattas thái âm (nếu có thể nói rằng những vị như thế tồn tại).

d. The chief “Soul” is Manas, or mind.”—S. D., II, 521.

d. “Linh hồn” chủ yếu là Manas, hay trí tuệ.”—S. D., II, 521.

46. There are many forms of “soul”—i.e., many forms of consciousness. HPB is saying that the chief form of consciousness (for man, at least) is that which is qualified by and limited by manas.

46. Có nhiều hình thức của “linh hồn”—tức nhiều hình thức của tâm thức. HPB đang nói rằng hình thức tâm thức chủ yếu (ít nhất đối với con người) là hình thức được phẩm định bởi và bị giới hạn bởi manas.

This is the basis of the danger to man in tampering with these forces. He is too close to them in many ways; he identifies himself with them and until [Page 622] he has attained the consciousness of the Ego, and has with full knowledge established his identity with the Spirit aspect and not with substance, he is liable to be swept into the line of blind force, and become a lost soul should he trespass ignorantly, and curiously, into their domain.

Đây là cơ sở của mối nguy đối với con người khi can thiệp vào các mãnh lực này. Y quá gần với chúng theo nhiều cách; y đồng hoá với chúng, và cho đến khi [Page 622] y đạt được tâm thức của chân ngã, và với tri thức trọn vẹn đã xác lập bản sắc của mình với phương diện tinh thần chứ không phải với chất liệu, y có thể bị cuốn vào con đường của mãnh lực mù quáng, và trở thành một linh hồn lạc mất nếu y xâm phạm một cách vô minh và tò mò vào lĩnh vực của chúng.

47. Here is a potent warning. We see that the danger discussed lifts when the level of man’s identification changes and his normal consciousness becomes that of the Ego on the systemic higher mental plane.

47. Đây là một lời cảnh báo mạnh mẽ. Chúng ta thấy rằng mối nguy được bàn đến sẽ được nâng khỏi khi cấp độ đồng hoá của con người thay đổi và tâm thức bình thường của y trở thành tâm thức của chân ngã trên Cõi thượng trí của hệ thống.

48. Some have wondered how the fate of “lost soul” may befall. Here we learn that it is not only selfishness which may lead to this dire consequence, but foolish tampering with forces which cannot yet be controlled by man who is not egoically polarized.

48. Một số người đã tự hỏi số phận của “linh hồn lạc mất” có thể xảy đến như thế nào. Ở đây chúng ta biết rằng không chỉ tính ích kỷ mới có thể dẫn đến hậu quả khủng khiếp này, mà còn cả sự can thiệp ngu xuẩn vào những mãnh lực mà con người chưa phân cực chân ngã vẫn chưa thể kiểm soát.

49. An important point emerges: that with which we identify has power over us. When we disidentify from it, the power subsides.

49. Một điểm quan trọng nổi lên: điều mà chúng ta đồng hoá với có quyền lực trên chúng ta. Khi chúng ta thôi đồng hoá với nó, quyền lực ấy lắng xuống.

50. Man is other than the devas which express the dense physical body of the Solar Logos. He must realize this factually before it is safe for him to deal directly with these lower energies and forces.

50. Con người là khác với các thiên thần biểu lộ thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế. Y phải nhận ra sự kiện này một cách thực tế trước khi việc trực tiếp đề cập đến các năng lượng và mãnh lực thấp này trở nên an toàn đối với y.

He is concerned also with those devas who are as yet animated by the life and purpose which distinguished the evolution of the first solar system.

Y cũng liên hệ với những thiên thần mà cho đến nay vẫn được sinh động bởi sự sống và mục đích vốn phân biệt sự tiến hoá của hệ mặt trời thứ nhất.

51. The powers of the past are still, with respect to man, overpowering. Humanity is still subject to patterns and purposes which should have been outlived—probably in the first solar system. It is not yet ascertained whether human tendencies from the first solar system were Plan-intended to be transferred to this solar system.

51. Các quyền năng của quá khứ vẫn còn, đối với con người, áp đảo. Nhân loại vẫn còn chịu phục tùng những mô hình và mục đích lẽ ra đã phải được vượt qua—có lẽ trong hệ mặt trời thứ nhất. Vẫn chưa xác định được liệu các khuynh hướng nhân loại từ hệ mặt trời thứ nhất có được Thiên Cơ chủ định chuyển sang hệ mặt trời này hay không.

That life is the life of God, and that purpose is the working out of His will, but it is evil from our present standpoint, for it is superseded as far as man is concerned by a different purpose and goal.

Sự sống ấy là sự sống của Thượng đế, và mục đích ấy là sự triển khai ý chí của Ngài, nhưng từ quan điểm hiện tại của chúng ta, nó là điều ác, vì đối với con người nó đã bị thay thế bởi một mục đích và cứu cánh khác.

52. Evil is always related to an identification with the past. God (the Solar Logos) has had a number of incarnations as a Solar Logos. To be unduly influenced by His own agenda in the previous solar system cannot help but mean identification with what, from the perspective of our present solar system, must be considered evil.

52. Điều ác luôn liên hệ với sự đồng hoá với quá khứ. Thượng đế (Thái dương Thượng đế) đã có một số lần lâm phàm với tư cách một Thái dương Thượng đế. Việc bị ảnh hưởng quá mức bởi chính chương trình nghị sự của Ngài trong hệ mặt trời trước không thể không có nghĩa là đồng hoá với điều mà, từ quan điểm của hệ mặt trời hiện tại của chúng ta, phải được xem là điều ác.

Therefore, identification with that which is past, retrogression and the methods of the old are for a man a return along the path of self-conscious evolution,

Vìthế, sự đồng hoá với điều thuộc về quá khứ, sự thoái bộ và các phương pháp cũ, đối với con người là một sự quay trở lại trên con đường tiến hoá ngã thức,

53. This means that man, who should be emerging into group consciousness, would (if treading the path of evil) re-identify with egoist consciousness, thus allowing himself to be motivated by first solar system influences and objectives.

53. Điều này có nghĩa là con người, lẽ ra phải đang xuất hiện vào tâm thức nhóm, sẽ (nếu bước trên con đường ác) tái đồng hoá với tâm thức vị kỷ, nhờ đó để cho mình bị thúc đẩy bởi các ảnh hưởng và mục tiêu của hệ mặt trời thứ nhất.

and lead eventually to a loss of the egoic principle, or of ego-ism, which distinguishes a man (human or heavenly) from the rest of evolution.

và cuối cùng dẫn đến sự mất đi nguyên khí chân ngã, hay tính ngã, vốn phân biệt một con người (nhân loại hay thiên giới) với phần còn lại của tiến hoá.

54. An identification with lower ego (which is not true Ego) will result in the animalization of human consciousness. This will ultimately mean a dissociation from the Solar Angel and, thus, a loss of inspiration from that spiritual source higher than the human personality. Man would again become the plaything of the lunar lords and would fail to establish himself within the solar consciousness.

54. Sự đồng hoá với phàm ngã thấp (không phải là chân ngã đích thực) sẽ dẫn đến sự thú tính hóa tâm thức con người. Điều này rốt cuộc sẽ có nghĩa là sự phân ly khỏi Thái dương Thiên Thần và do đó là mất đi cảm hứng từ nguồn tinh thần cao hơn phàm ngã nhân loại ấy. Con người sẽ lại trở thành món đồ chơi của các nguyệt tinh quân và sẽ không thiết lập được chính mình trong tâm thức thái dương.

The Second Statement. The hope for the devas and for the form aspect lies in the fact that each of the subplanes of the cosmic physical plane comes under the direct influence of cosmic forces, originating on the six other cosmic planes.

Phát biểu thứ hai. Niềm hy vọng cho các thiên thần và cho phương diện hình tướng nằm ở sự kiện rằng mỗi cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ đều nằm dưới ảnh hưởng trực tiếp của các mãnh lực vũ trụ, phát sinh trên sáu cõi vũ trụ khác.

55. This is quite an amazing statement. In effect we are being told that redemption comes from the six cosmic planes ‘higher’ than the cosmic physical plane.

55. Đây là một phát biểu thật đáng kinh ngạc. Thực chất, chúng ta đang được cho biết rằng sự cứu chuộc đến từ sáu cõi vũ trụ “cao hơn” cõi hồng trần vũ trụ.

56. We are also being told that each of the systemic planes (the subplanes of the cosmic physical plane) is under the direct influence of one of the higher cosmic planes.

56. Chúng ta cũng được cho biết rằng mỗi cõi của hệ thống (các cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ) đều nằm dưới ảnh hưởng trực tiếp của một trong các cõi vũ trụ cao hơn.

57. This will mean the following:

57. Điều này sẽ có nghĩa như sau:

a. The systemic astral plane will be under the direct influence of the cosmic astral plane.

a. Cõi cảm dục của hệ thống sẽ nằm dưới ảnh hưởng trực tiếp của cõi cảm dục vũ trụ.

b. The systemic mental plane will be under the direct influence of the cosmic mental plane.

b. Cõi trí của hệ thống sẽ nằm dưới ảnh hưởng trực tiếp của cõi trí vũ trụ.

c. The systemic buddhic plane will be under the direct influence of the cosmic buddhic plane.

c. Cõi Bồ đề của hệ thống sẽ nằm dưới ảnh hưởng trực tiếp của cõi Bồ đề vũ trụ.

d. The systemic atmic plane will be under the direct influence of the cosmic atmic plane.

d. Cõi atma của hệ thống sẽ nằm dưới ảnh hưởng trực tiếp của cõi atma vũ trụ.

e. The systemic monadic plane will be under the direct influence of the cosmic monadic plane.

e. Cõi chân thần của hệ thống sẽ nằm dưới ảnh hưởng trực tiếp của cõi chân thần vũ trụ.

f. The systemic logoic plane will be under the direct influence of the cosmic logoic plane.

f. Cõi logoic của hệ thống sẽ nằm dưới ảnh hưởng trực tiếp của cõi logoic vũ trụ.

58. The means of this transmission or direct influence must remain mysterious to us as we know little of the originating sources on the higher cosmic planes. We simply grasp the fact of the analogy.

58. Phương tiện của sự truyền dẫn hay ảnh hưởng trực tiếp này phải vẫn còn là điều huyền nhiệm đối với chúng ta vì chúng ta biết rất ít về các nguồn phát sinh trên các cõi vũ trụ cao hơn. Chúng ta chỉ đơn giản nắm được sự kiện của phép loại suy.

Of these forces everything is unknown and inconceivable, except the vague and general indications of these currents and forces as they may be felt as emanating from the cosmic planes.

Về các mãnh lực này, mọi sự đều không được biết đến và không thể quan niệm nổi, ngoại trừ những chỉ dẫn mơ hồ và tổng quát về các dòng và mãnh lực này khi chúng có thể được cảm nhận như phát ra từ các cõi vũ trụ.

54. Chart V in TCF gives us some idea of the kinds of Beings which can be found on various of the cosmic planes, but of Their true nature we really know nothing.

54. Biểu đồ V trong Luận về Lửa Vũ Trụ cho chúng ta một vài ý niệm về những loại Hữu thể có thể được tìm thấy trên các cõi vũ trụ khác nhau, nhưng về bản chất đích thực của Các Ngài thì chúng ta thực sự không biết gì cả.

55. Such Beings as the Solar Logos expressing through His causal body; the Logoi of the Pleiades; the Logoi Who are the Seven Rishis of the Great Bear; and Logoi of far greater scope and power are the ‘Residents’ of these higher cosmic planes.

55. Những Hữu thể như Thái dương Thượng đế biểu lộ qua thể nguyên nhân của Ngài; các Thượng đế của chòm Pleiades; các Thượng đế là Bảy Rishi của Đại Hùng Tinh; và các Thượng đế có phạm vi và quyền năng lớn lao hơn nhiều là những “Cư dân” của các cõi vũ trụ cao hơn này.

The cosmic mental plane. This manifests for us in the three types of force to be seen on the systemic mental plane. These three types have not been sufficiently studied, and are:

Cõi trí vũ trụ. Điều này biểu hiện đối với chúng ta trong ba loại mãnh lực được thấy trên cõi trí của hệ thống. Ba loại này chưa được nghiên cứu đầy đủ, và là:

56. That which we find manifesting on the systemic mental plane has its origins, we are told, on the cosmic mental plane. We are not yet told on what level or levels of the cosmic mental plane.

56. Điều mà chúng ta thấy biểu hiện trên cõi trí của hệ thống, như được cho biết, có nguồn gốc trên cõi trí vũ trụ. Chúng ta chưa được cho biết ở cấp độ hay các cấp độ nào của cõi trí vũ trụ.

a. The force which plays through all the manasic permanent atoms, and which produces basically that manifestation which we call the three worlds.

a. Mãnh lực vận hành xuyên qua tất cả các nguyên tử trường tồn manas, và về căn bản tạo ra sự biểu hiện mà chúng ta gọi là ba cõi giới.

57. It is suggested that the manasic permanent atom on the first subplane of the systemic mental plane is the source of all manifestation in the three worlds. This makes sense when we realize the importance of the manasic permanent atom in the creation of the egoic lotus. The ray of the manasic permanent atom and the ray of the causal body or egoic lotus are the same. (cf. EPI, 168-169)

57. Người ta gợi ý rằng nguyên tử trường tồn manas trên cõi phụ thứ nhất của cõi trí của hệ thống là nguồn của mọi biểu hiện trong ba cõi giới. Điều này hợp lý khi chúng ta nhận ra tầm quan trọng của nguyên tử trường tồn manas trong việc tạo ra Hoa Sen Chân Ngã. Cung của nguyên tử trường tồn manas và cung của thể nguyên nhân hay Hoa Sen Chân Ngã là như nhau. (xem EPI, 168-169)

b. The force which animates those groups of “lotuses” [Page 623] which we call egoic groups or centres-aggregations of causal bodies.

b. Mãnh lực làm sinh động những nhóm “hoa sen” ấy [Page 623] mà chúng ta gọi là các nhóm chân ngã hay các trung tâm—những tập hợp của các thể nguyên nhân.

58. Groups of causal bodies or egoic lotuses are also “lotuses”.

58. Các nhóm thể nguyên nhân hay các Hoa Sen Chân Ngã cũng là những “hoa sen”.

59. It would be of great interest to understand the modus operandi by which lesser lotuses combine to become still greater lotuses.

59. Sẽ rất đáng quan tâm nếu hiểu được phương thức hoạt động nhờ đó những hoa sen nhỏ hơn kết hợp để trở thành những hoa sen còn lớn hơn nữa.

c. The force which vitalises all the mental units and which is distributed thence to all the other permanent atoms.

c. Mãnh lực tiếp sinh lực cho tất cả các đơn vị hạ trí và từ đó được phân phối đến tất cả các nguyên tử trường tồn khác.

56. Even the force animating the mental units of the systemic mental plane originates from the cosmic mental plane.

56. Ngay cả mãnh lực làm sinh động các đơn vị hạ trí của cõi trí của hệ thống cũng phát sinh từ cõi trí vũ trụ.

57. It has yet to be established whether mental units are always found present in the development of the different types of “men”—human, heavenly and solar. The indications point to the existence of a mental unit as part of the equipment of a Solar Logos.

57. Vẫn còn phải xác lập liệu các đơn vị hạ trí có luôn hiện diện trong sự phát triển của các loại “người” khác nhau—nhân loại, thiên giới và thái dương—hay không. Các dấu hiệu cho thấy sự hiện hữu của một đơn vị hạ trí như một phần trong trang bị của một Thái dương Thượng đế.

These three types of force deal with the substance aspect—permanent atoms, causal vehicle, and mental units, and are therefore directly impressing themselves upon the devas who build these forms out of their own substance, and thus develop the divine plan.

Ba loại mãnh lực này liên quan đến phương diện chất liệu—các nguyên tử trường tồn, vận cụ nguyên nhân, và các đơn vị hạ trí, và do đó trực tiếp in dấu chính mình lên các thiên thần xây dựng các hình tướng này từ chính chất liệu của họ, và như thế phát triển Thiên Cơ.

60. We are considering both forces and forms, even though forms are really aggregates of forces.

60. Chúng ta đang xem xét cả mãnh lực lẫn hình tướng, dù hình tướng thực ra là những tập hợp của các mãnh lực.

61. The source (as here discussed) of the three forces we are considering is the cosmic mental plane. That cosmic mental forces naturally become attenuated as they ‘descend’ onto lower planes. These forces and their attenuations impress themselves upon the devas who build the manasic permanent atoms, the causal bodies and the mental units out of their own substance.

61. Nguồn gốc (như được bàn ở đây) của ba mãnh lực mà chúng ta đang xem xét là cõi trí vũ trụ. Các mãnh lực trí tuệ vũ trụ ấy tự nhiên trở nên suy giảm khi chúng “giáng xuống” các cõi thấp hơn. Các mãnh lực này và những sự suy giảm của chúng in dấu chính mình lên các thiên thần xây dựng các nguyên tử trường tồn manas, các thể nguyên nhân và các đơn vị hạ trí từ chính chất liệu của họ.

These three types of force affect substance, but with a psychic intent, being themselves swayed and actuated according to divine purpose, and from high levels.

Ba loại mãnh lực này tác động đến chất liệu, nhưng với một ý hướng thông linh, vì bản thân chúng được chi phối và thúc đẩy theo mục đích thiêng liêng, và từ các cấp độ cao.

62. It is clear that when DK is speaking of the “three types of force” He means not the very highest cosmic forces, but the systemic attenuations of cosmic forces which are directly responsible for building the forms of the three structures we have been considering—mental permanent atoms, causal bodies, and mental units.

62. Rõ ràng là khi Chân sư DK nói về “ba loại mãnh lực”, Ngài không có ý nói đến những mãnh lực vũ trụ cao nhất, mà là những sự suy giảm ở cấp hệ thống của các mãnh lực vũ trụ trực tiếp chịu trách nhiệm xây dựng các hình tướng của ba cấu trúc mà chúng ta đang xem xét—các nguyên tử trường tồn trí tuệ, các thể nguyên nhân, và các đơn vị hạ trí.

63. The term “psychic intent”, as here used, means that the descending forces are divinely, cosmically purposeful.

63. Thuật ngữ “ý hướng thông linh”, như được dùng ở đây, có nghĩa là các mãnh lực giáng xuống mang tính mục đích thiêng liêng, vũ trụ.

They emanate from the concrete levels of the cosmic mental plane (being therefore the force flowing through the mental unit of the Logos), and are concerned with the force centre which focalises the logoic mental body.

Chúng phát ra từ các cấp độ cụ thể của cõi trí vũ trụ (do đó là mãnh lực chảy qua đơn vị hạ trí của Thượng đế), và liên hệ với trung tâm mãnh lực tiêu điểm hóa thể trí của Thượng đế.

64. Here the analogy between the forces of the cosmic mental plane and those of the systemic mental plane seems to break down. One would expect that the forces which build the systemic egoic lotuses would emanate from the egoic lotus of the Solar Logos and that the forces building systemic mental permanent atoms would emanate from the very highest levels of the cosmic mental plane, those on which the solar logoic manasic permanent atom would be found.

64. Ở đây phép loại suy giữa các mãnh lực của cõi trí vũ trụ và những mãnh lực của cõi trí của hệ thống dường như bị đứt đoạn. Người ta hẳn sẽ mong đợi rằng các mãnh lực xây dựng các Hoa Sen Chân Ngã của hệ thống sẽ phát ra từ Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế và rằng các mãnh lực xây dựng các nguyên tử trường tồn trí tuệ của hệ thống sẽ phát ra từ những cấp độ cao nhất của cõi trí vũ trụ, những cấp độ mà trên đó nguyên tử trường tồn manas logoic thái dương sẽ được tìm thấy.

65. In fact, however(at least at this point in the text), we are told that all these forces which eventually appear on the systemic mental plane emanate from the concrete levels of the cosmic mental plane.

65. Tuy nhiên, trên thực tế (ít nhất ở điểm này trong bản văn), chúng ta được cho biết rằng tất cả các mãnh lực này cuối cùng xuất hiện trên cõi trí của hệ thống đều phát ra từ các cấp độ cụ thể của cõi trí vũ trụ.

66. Later, it will be indicated that the concrete levels of the cosmic mental plane are not the ultimate source of these forces.

66. Về sau, sẽ có chỉ dẫn rằng các cấp độ cụ thể của cõi trí vũ trụ không phải là nguồn tối hậu của các mãnh lực này.

67. There are force centers which focalize the logoic mental body. These centers many be considered the mental aspects of certain of the Planetary Logoi.

67. Có những trung tâm mãnh lực tiêu điểm hóa thể trí của Thượng đế. Các trung tâm này có thể được xem là các phương diện trí tuệ của một số Hành Tinh Thượng đế.

68. Even though the three types of cosmic forces which eventually impress and condition the systemic mental plane, may emanate from the mental unit of the Solar Logos, it is conceivable that two of the forces originated on the higher levels of the cosmic mental plane before focusing within the solar logoic mental unit. Later text seems to bear this out.

68. Dù ba loại mãnh lực vũ trụ cuối cùng in dấu và tác động lên cõi trí của hệ thống có thể phát ra từ đơn vị hạ trí của Thái dương Thượng đế, vẫn có thể hình dung rằng hai trong các mãnh lực ấy đã phát sinh trên các cấp độ cao hơn của cõi trí vũ trụ trước khi hội tụ trong đơn vị hạ trí logoic thái dương. Bản văn về sau dường như xác nhận điều này.

They are the force of Agni in His first aspect.

Chúng là mãnh lực của Agni trong phương diện thứ nhất của Ngài.

69. This statement implies that Agni has a second and third aspect, for the effects of which we must be watchful.

69. Phát biểu này hàm ý rằng Agni có phương diện thứ hai và thứ ba, mà các hiệu quả của chúng ta phải lưu tâm theo dõi.

70. We can see that first ray force enters the systemic mental plane via the cosmic mental unit on the concrete levels of the cosmic mental plane.

70. Chúng ta có thể thấy rằng mãnh lực cung một đi vào cõi trí của hệ thống qua đơn vị hạ trí vũ trụ trên các cấp độ cụ thể của cõi trí vũ trụ.

71. We remind ourselves that the mind is ever the conveyor of the first aspect. The first and third aspects are really inseparable.

71. Chúng ta tự nhắc mình rằng trí tuệ luôn là kẻ chuyển tải phương diện thứ nhất. Phương diện thứ nhất và thứ ba thực ra không thể tách rời.

He is that fire which is distinctive of the cosmic mental plane,

Ngài là ngọn lửa đặc trưng của cõi trí vũ trụ,

72. Here is it not specified whether Agni is the fire distinctive of all levels of the cosmic mental plane. In other references Agni seems to be the entire personality of the Solar Logos which embraces the eighteen lowest cosmic subplanes. If this is the case (i.e., if Lord Agni is another name of the solar logoic personality), His jurisdiction would extend no higher than the concrete levels of the cosmic mental plane.

72. Ở đây không xác định liệu Agni có phải là lửa đặc trưng của mọi cấp độ của cõi trí vũ trụ hay không. Trong những chỗ tham chiếu khác, Agni dường như là toàn bộ phàm ngã của Thái dương Thượng đế, bao trùm mười tám cõi phụ thấp nhất của vũ trụ. Nếu đúng như vậy (tức là nếu Chúa Agni là một tên gọi khác của phàm ngã thái dương logoic), thì phạm vi cai quản của Ngài sẽ không vươn cao hơn các cấp độ trí cụ thể của cõi trí vũ trụ.

73. Yet, what shall we call that Being Who is the Fire of the higher levels of the cosmic mental plane? Is such cosmic higher mental fire an aspect of the energy of Cosmic Vishnu? Or as later suggested, shall the name “Surya” be applied?

73. Tuy nhiên, chúng ta sẽ gọi Đấng là Lửa của các cấp độ cao hơn của cõi trí vũ trụ ấy là gì? Lửa thượng trí vũ trụ như thế có phải là một phương diện của năng lượng của Vishnu Vũ Trụ không? Hay như được gợi ý về sau, có nên dùng tên “Surya” chăng?

reflected in the cosmic gaseous subplane of the cosmic physical plane—our systemic mental plane.

được phản chiếu trong cõi phụ khí của cõi hồng trần vũ trụ—cõi trí hệ thống của chúng ta.

58. It is always helpful to remember the equivalence between the gaseous and mental states.

58. Luôn luôn hữu ích khi ghi nhớ sự tương đương giữa trạng thái khí và trạng thái trí tuệ.

59. Perhaps we can say that the energy of Agni is most distinctive of the cosmic mental plane (especially its lower levels) but that it includes the demonstrations of devic fire on the cosmic astral plane and the cosmic physical plane.

59. Có lẽ chúng ta có thể nói rằng năng lượng của Agni là năng lượng đặc trưng nhất của cõi trí vũ trụ (đặc biệt là các cấp độ thấp của nó), nhưng nó cũng bao gồm những biểu hiện của lửa thiên thần trên cõi cảm dục vũ trụ và cõi hồng trần vũ trụ.

The Cosmic Astral Plane. The force from this plane plays through our systemic astral plane, the cosmic liquid physical sub-plane, and it is practically subject only to two differentiations, each of them occultly embodied in two great groups of devas:

Cõi Cảm Dục Vũ Trụ. Mãnh lực từ cõi này vận hành xuyên qua cõi cảm dục hệ thống của chúng ta, tức cõi phụ lỏng của cõi hồng trần vũ trụ, và trên thực tế nó chỉ chịu hai loại biến phân khác nhau, mỗi loại trong đó hầu như chỉ chịu hai loại biến phân, mỗi loại đều được hiện thân một cách huyền bí trong hai nhóm thiên thần lớn:

60. The differentiation about to be made is most significant and occult.

60. Sự biến phân sắp được nêu ra là điều hết sức quan trọng và huyền bí.

First. The devas who are the substance or force of the astral plane, viewing it as the sumtotal of desire, of feeling and of sensation.

Thứ nhất. Các thiên thần là chất liệu hay mãnh lực của cõi cảm dục, xét nó như tổng thể của dục vọng, cảm xúc và cảm giác.

61. Three words are given which characterize astral force:

61. Ba từ được nêu ra để đặc trưng cho mãnh lực cảm dục:

a. Desire

a. Dục vọng

b. Feeling

b. Cảm xúc

c. Sensation

c. Cảm giác

They are, therefore, the nerve centers, or nerve plexi, of the logoic physical body, for the systemic astral plane provides the nervous system of the logoic physical body.

Vì vậy, chúng là các trung tâm thần kinh, hay các đám rối thần kinh, của thể hồng trần logoic, vì cõi cảm dục hệ thống cung cấp hệ thần kinh cho thể hồng trần logoic.

62. We must remember that the logoic dense physical body consists of the lower twenty-one subplanes.

62. Chúng ta phải nhớ rằng thể hồng trần đậm đặc logoic gồm hai mươi mốt cõi phụ thấp hơn.

63. Within these subplanes, the astral devas are to be considered nerve centers or nerve plexi.

63. Trong các cõi phụ này, các thiên thần cảm dục phải được xem như các trung tâm thần kinh hay các đám rối thần kinh.

64. These astral devas are, from the logoic standpoint, densely physical. They are not etheric. When thinking of the analogy which DK here proposes, we must remember this.

64. Từ quan điểm logoic, các thiên thần cảm dục này thuộc hồng trần đậm đặc. Chúng không phải là dĩ thái. Khi suy nghĩ về phép loại suy mà Chân sư DK đề nghị ở đây, chúng ta phải nhớ điều này.

65. For the human being, the nervous system is dense and the nadis are etheric. Within the lower twenty-one subplanes, nothing corresponding to the nadis are to be found; logoically, we must enter the cosmic ethers to found the higher correspondences to the etheric nadis in the human being.

65. Đối với con người, hệ thần kinh là đậm đặc còn các nadis là dĩ thái. Trong hai mươi mốt cõi phụ thấp hơn, không có gì tương ứng với các nadis; về mặt logoic, chúng ta phải đi vào các dĩ thái vũ trụ mới tìm được những tương ứng cao hơn với các nadis dĩ thái nơi con người.

66. We may consider the astral devas as related to logoic responsiveness—the sensitive responsiveness of the logoic nervous system.

66. Chúng ta có thể xem các thiên thần cảm dục là có liên hệ với tính đáp ứng—đáp ứng nhạy cảm của hệ thần kinh logoic.

It is the body of intensest vibration from the physical standpoint,

Đó là thể có rung động mãnh liệt nhất từ quan điểm hồng trần,

67. I.e., from the standpoint of the logoic physical body.

67. tức là từ quan điểm của thể hồng trần logoic.

68. In our astral-buddhic solar system, the solar logoic astral body is, temporarily, the Logos’ most potent personality vehicle.

68. Trong hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề của chúng ta, thể cảm dục thái dương logoic hiện đang tạm thời là vận cụ phàm ngã mạnh mẽ nhất của Logos.

and the vehicle through which all is transmitted to that portion of the logoic physical body which corresponds to the brain [Page 624] in man.

là vận cụ qua đó mọi sự được truyền đến phần của thể hồng trần logoic tương ứng với bộ não [Page 624] nơi con người.

69. When thinking of the logoic physical body (its dense aspect), we may imagine that the logoic dense brain is to be found on what we call the systemic mental plane.

69. Khi suy nghĩ về thể hồng trần logoic (ở phương diện đậm đặc của nó), chúng ta có thể hình dung rằng bộ não đậm đặc logoic được tìm thấy trên cái mà chúng ta gọi là cõi trí hệ thống.

70. In man, the nervous system transmits impulses to human brain. We may conceive that the systemic astral devic force is the means of transmission to the dense logoic brain.

70. Ở con người, hệ thần kinh truyền các xung lực đến bộ não con người. Chúng ta có thể quan niệm rằng mãnh lực thiên thần cảm dục hệ thống là phương tiện truyền dẫn đến bộ não logoic đậm đặc.

71. There is also a logoic etheric brain which will be found (if analogy holds) on the cosmic etheric planes.

71. Cũng có một bộ não dĩ thái logoic, và nếu phép loại suy đúng, nó sẽ được tìm thấy trên các cõi dĩ thái vũ trụ.

I can elucidate this no further, but the few words here imparted open up a tremendous range of thought, and give the key to much which transpires and which is distressing in solar evolution as well as human.

Tôi không thể làm sáng tỏ điều này thêm nữa, nhưng vài lời được truyền đạt ở đây mở ra một phạm vi tư tưởng vô cùng rộng lớn, và trao chìa khóa cho nhiều điều đang diễn ra và gây đau đớn trong tiến hoá thái dương cũng như tiến hoá nhân loại.

72. The analogies just opened are new to the thought of many.

72. Những phép loại suy vừa được mở ra này còn mới mẻ đối với tư tưởng của nhiều người.

73. When the terms “distress” or “distressing” are used, we may presume that the astral body (whether human, planetary logoic or logoic) is involved.

73. Khi các từ “đau đớn” hay “gây đau đớn” được dùng, chúng ta có thể giả định rằng thể cảm dục (dù là của con người, của Hành Tinh Thượng đế hay của Logos) có liên quan.

74. Can the distress be related to the intensity of vibration felt within the logoic astral body and maladjustment in the process of transmission of systemic astral impulses to the logoic brain? Much pondering will be required of us.

74. Sự đau đớn ấy có thể liên hệ đến cường độ rung động được cảm nhận trong thể cảm dục logoic và sự điều chỉnh sai lệch trong tiến trình truyền các xung lực cảm dục hệ thống đến bộ não logoic chăng? Điều này đòi hỏi chúng ta phải suy ngẫm rất nhiều.

75. Distress is caused by a lack of balance, and, clearly, the intensity of the logoic astral body is out of balance with the intensity of the Logos’ other vehicles.

75. Sự đau đớn do thiếu quân bình gây ra, và rõ ràng cường độ của thể cảm dục logoic đang mất quân bình với cường độ của các vận cụ khác của Logos.

Second.  Those devas who are the sumtotal of the astral light. They are the agents of the karmic lords, who are in themselves deva entities of an inconceivably advanced evolution

Thứ hai.  Những thiên thần là tổng thể của ánh sáng cảm dục. Chúng là các tác nhân của các Đấng Nghiệp Quả, mà bản thân các Ngài là những thực thể thiên thần đã tiến hoá đến mức không thể quan niệm nổi

76. It is important to realize that karmic lords are devic.

76. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng các Đấng Nghiệp Quả thuộc giới thiên thần.

77. When, on the Way of Higher Evolution one becomes a karmic lord, one is becoming a higher deva.

77. Khi trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, một người trở thành một Đấng Nghiệp Quả, người ấy đang trở thành một thiên thần cao cấp hơn.

78. We recall that the Path of Absolute Sonship leads to the dharma of Lipika Lord. Thus Their inconceivable advancement of which DK speaks.

78. Chúng ta nhớ rằng Con Đường của Quyền Tử Tuyệt Đối dẫn đến dharma của Đấng Lipika. Do đó mới có sự tiến bộ không thể quan niệm nổi mà Chân sư DK nói đến.

79. The responsiveness of those systemic astral devas who embody desire, feeling and sensation is of a lower order than those systemic astral devas who embody the astral light and who are directly responsible to the Karmic Lords.

79. Tính đáp ứng của những thiên thần cảm dục hệ thống hiện thân cho dục vọng, cảm xúc và cảm giác thuộc một trật tự thấp hơn so với những thiên thần cảm dục hệ thống hiện thân cho ánh sáng cảm dục và trực tiếp chịu trách nhiệm trước các Đấng Nghiệp Quả.

80. The distinction being offered is not much discussed and bears much pondering.

80. Sự phân biệt đang được nêu ra này không được bàn đến nhiều và rất đáng để suy ngẫm.

81. Can the difference in these devas be partially related to their sub-planar focus on the systemic astral plane?

81. Sự khác biệt nơi các thiên thần này có thể phần nào liên hệ đến tiêu điểm cõi phụ của chúng trên cõi cảm dục hệ thống chăng?

82. We are discussing the manner in which karma is imposed upon the astral plane through the agency of those systemic astral devas who are the force of the astral light.

82. Chúng ta đang bàn đến cách nghiệp quả được áp đặt lên cõi cảm dục thông qua tác nhân của những thiên thần cảm dục hệ thống là mãnh lực của ánh sáng cảm dục.

83. The term “astral light” is usually used in a number of ways. It sometimes refers to etheric substance.

83. Thuật ngữ “ánh sáng cảm dục” thường được dùng theo nhiều cách. Đôi khi nó chỉ chất liệu dĩ thái.

and who, in their own substance,

và những vị, trong chính chất liệu của mình,

1. Record.

1. Ghi nhận.

2. Produce effects from cause.

2. Tạo ra kết quả từ nguyên nhân.

3. Direct force.

3. Điều hướng mãnh lực.

84. It is the high Karmic Lords Who record, produce effects from cause

84. Chính các Đấng Nghiệp Quả cao cả là những Đấng ghi nhận, tạo ra kết quả từ nguyên nhân

85. We are reminded that desire is such an important force in determining the nature and direction of karma.

85. Chúng ta được nhắc rằng dục vọng là một mãnh lực quan trọng đến thế trong việc quyết định bản chất và phương hướng của nghiệp quả.

86. DK is speaking of three powers of high Karmic Lords emanating from Sirius. These Lords of Karma work through the lower devas of the astral light, producing, may we say, the ‘images of fate’.

86. Chân sư DK đang nói về ba quyền năng của các Đấng Nghiệp Quả cao cả phát xuất từ Sirius. Các Đấng Nghiệp Quả này hoạt động thông qua các thiên thần thấp hơn của ánh sáng cảm dục, tạo ra, có thể nói, những “hình ảnh của số mệnh”.

87. The substance of the devas of the astral light is an extension of the substance of the great Deva Lords.

87. Chất liệu của các thiên thần của ánh sáng cảm dục là một sự mở rộng của chất liệu của các Đại Chúa Tể Thiên Thần.

This particular group of devas emanate from a great force centre which we generalise by calling it by the name of the sun Sirius.

Nhóm thiên thần đặc biệt này phát xuất từ một trung tâm mãnh lực lớn mà chúng ta khái quát hóa bằng cách gọi nó bằng tên mặt trời Sirius.

88. This is a very peculiar statement. In these commentaries we have sometimes spoken of the Cosmic Logos Who is Lord of the Sirian System, in which the Logos of the star Sirius is simply a participant (one of seven major participating Solar Logoi). Could DK be hinting at the existence of the Logos of the “Seven Solar Systems of Which Ours is One” and saying that we generalize this Cosmic Logos and His system under the name “Sirius”?

88. Đây là một phát biểu rất đặc biệt. Trong các phần bình giải này, đôi khi chúng ta đã nói đến Đấng Logos Vũ Trụ là Chúa Tể của Hệ Sirius, trong đó Logos của ngôi sao Sirius chỉ đơn giản là một thành phần tham dự (một trong bảy Thái dương Thượng đế lớn tham dự). Phải chăng Chân sư DK đang ám chỉ sự hiện hữu của Logos của “Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một”, và nói rằng chúng ta khái quát hóa Logos Vũ Trụ này cùng hệ của Ngài dưới tên gọi “Sirius”?

Sirius-kama-manas—the cosmic astral plane—and the systemic astral plane—make a close interlocking chain, and form the line of least resistance for a particular type of negative force to pour through.

Sirius-kama-manas—cõi cảm dục vũ trụ—và cõi cảm dục hệ thống—tạo thành một chuỗi móc nối chặt chẽ, và hình thành con đường ít trở ngại nhất để một loại mãnh lực âm đặc biệt tuôn qua.

89. Why negative? By this term do we mean “feminine”? Or are we referring to true cosmic negativity, since the real Black Lodge is focussed on the cosmic astral plane?

89. Tại sao lại là âm? Với thuật ngữ này, chúng ta có ý nói “nữ tính” chăng? Hay chúng ta đang nói đến tính âm vũ trụ đích thực, vì Hắc đoàn thực sự được tập trung trên cõi cảm dục vũ trụ?

90. The factors listed are as follows:

90. Các yếu tố được liệt kê như sau:

a. Sirius

a. Sirius

b. Kama-manas

b. Kama-manas

c. The cosmic astral plane

c. Cõi cảm dục vũ trụ

d. The systemic astral plane

d. Cõi cảm dục hệ thống

91. We see that for all its association with manas, Sirius is also closely associated with kama-manas and with astrality. This is fitting as, within the listing of the three great constellations, Sirius is placed in relation to the second divine aspect and the destination of those Monads who tread their ay to Sirius is he cosmic astral plane.

91. Chúng ta thấy rằng, dù có liên hệ với manas, Sirius cũng liên hệ chặt chẽ với kama-manas và với tính cảm dục. Điều này là thích hợp vì, trong danh sách ba chòm sao lớn, Sirius được đặt trong tương quan với phương diện thiêng liêng thứ hai và đích đến của những chân thần bước đi trên con đường đến Sirius là cõi cảm dục vũ trụ.

92. Further, if the Sirian System is really the solar plexus center of our local “One About Whom Naught May Be Said”, we can understand the close association of the Logos of the Sirian System with kama-manas.

92. Hơn nữa, nếu Hệ Sirius thực sự là trung tâm tùng thái dương của “Đấng Bất Khả Tư Nghị” cục bộ của chúng ta, thì chúng ta có thể hiểu được mối liên hệ chặt chẽ của Logos của Hệ Sirius với kama-manas.

93. Perhaps the star Sirius, itself, is less kama-manasic than the entire sevenfold system “which we generalise by calling it by the name of the sun Sirius”.

93. Có lẽ bản thân ngôi sao Sirius ít mang tính trí-cảm hơn toàn bộ hệ thất phân “mà chúng ta khái quát hóa bằng cách gọi nó bằng tên mặt trời Sirius”.

The Cosmic Physical Plane. This is the force (external and internal) of the solar system itself, and of its environing space.

Cõi Hồng Trần Vũ Trụ. Đây là mãnh lực (bên ngoài và bên trong) của chính hệ mặt trời, và của không gian bao quanh nó.

94. The cosmic etheric part of the cosmic physical plane is the “internal” force. The force of the dense aspect of the cosmic physical plane is the external force.

94. Phần dĩ thái vũ trụ của cõi hồng trần vũ trụ là mãnh lực “bên trong”. Mãnh lực của phương diện đậm đặc của cõi hồng trần vũ trụ là mãnh lực bên ngoài.

95. Our solar system, per se, does not extend beyond the cosmic physical plane.

95. Chính hệ mặt trời của chúng ta không vượt ra ngoài cõi hồng trần vũ trụ.

It might be regarded as the pranic forces, pouring through the logoic etheric body (our four higher subplanes) which are positive to the lower three, impregnating these lower three planes (a reflection in substance, or in the Brahma aspect, of the union of Father-Mother) and producing the purely concrete manifestation.

Nó có thể được xem như các mãnh lực prana tuôn qua thể dĩ thái logoic (bốn cõi phụ cao hơn của chúng ta), vốn dương đối với ba cõi thấp hơn, thấm nhập ba cõi thấp này (một sự phản chiếu trong chất liệu, hay trong phương diện Brahma, của sự hợp nhất giữa Cha-Mẹ) và tạo ra biểu hiện thuần túy cụ thể.

96. Cosmic prana is not to be considered “purely concrete”.

96. Prana vũ trụ không nên được xem là “thuần túy cụ thể”.

97. The “purely concrete manifestation” is a kind of “Son” in lower or Brahmic substance.

97. “Biểu hiện thuần túy cụ thể” là một loại “Con” trong chất liệu thấp hơn hay chất liệu Brahma.

98. Prana is always positive to that which is a purely concrete manifestation.

98. Prana luôn luôn dương đối với cái là biểu hiện thuần túy cụ thể.

99. It is implied that the true solar system is etheric and that is force is pranic force. The dense physical body of the Solar Logos is simply an aggregated reflection of higher principles.

99. Ở đây hàm ý rằng hệ mặt trời đích thực là dĩ thái và mãnh lực của nó là mãnh lực prana. Thể hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế chỉ đơn giản là một phản chiếu kết tập của các nguyên khí cao hơn.

This is why the physical vehicle has such control during long stages of man’s evolution, for the force of this type of energy is necessarily felt more strongly than any other.

Đó là lý do vì sao vận cụ hồng trần có quyền kiểm soát mạnh mẽ như vậy trong những giai đoạn dài của tiến hoá con người, vì mãnh lực của loại năng lượng này tất yếu được cảm nhận mạnh hơn bất kỳ loại nào khác.

100. That which is concrete is of long duration. That which is most identified with the third aspect of divinity endures for a longer period than that which identified with the second or first aspects of divinity.

100. Cái gì cụ thể thì có thời lượng lâu dài. Cái gì đồng hoá nhiều nhất với phương diện thứ ba của thiên tính thì tồn tại lâu hơn cái đồng hoá với phương diện thứ hai hay thứ nhất của thiên tính.

101. This type of concrete force is the matter-substance in which man’s consciousness is primarily (though temporarily) focussed.

101. Loại mãnh lực cụ thể này là chất liệu-vật chất trong đó tâm thức của con người trước hết được tập trung vào (dù chỉ là tạm thời).

102. Eventually towards the more spiritual arc of his career in consciousness, man outgrows this focus within the logoic concrete manifestation.

102. Cuối cùng, khi tiến về cung đi lên tinh thần hơn trong hành trình tâm thức của mình, con người vượt khỏi tiêu điểm này trong biểu hiện cụ thể logoic.

It is deva force, and substance, which is so close to us as powerfully to delude us.

Chính mãnh lực thiên thần và chất liệu thiên thần gần gũi với chúng ta đến mức có thể đánh lừa chúng ta một cách mạnh mẽ.

103. In relation to that which is very close to us, we have little objectivity. That which we cannot see objectively and understand, can delude. The main delusion is that such matter-substance seems more important than it really is. Essentially, and from the perspective of the principles which are under development in this second solar system, this lower type of deva force or substance is un-real.

103. Đối với điều gì quá gần gũi với chúng ta, chúng ta có rất ít tính khách quan. Điều gì chúng ta không thể thấy một cách khách quan và thấu hiểu thì có thể đánh lừa. Sự mê lầm chính là ở chỗ chất liệu-vật chất như thế dường như quan trọng hơn mức nó thực sự là. Về bản chất, và từ góc nhìn của các nguyên khí đang được phát triển trong hệ mặt trời thứ hai này, loại mãnh lực hay chất liệu thiên thần thấp này là không-thực.

Here lies the mystery of maya, and here is to be found the secret of illusion.

Chính ở đây có huyền nhiệm của ảo lực, và ở đây có thể tìm thấy bí mật của ảo tưởng.

104. Maya is a term equivalent to illusion. Maya/illusion is focussed in the dense physical plane of the Solar Logos. This means that even the higher mental plane is a plane of maya/illusion.

104. Ảo lực là một thuật ngữ tương đương với ảo tưởng. Ảo lực/ảo tưởng được tập trung trong cõi hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế. Điều này có nghĩa là ngay cả cõi thượng trí cũng là một cõi của ảo lực/ảo tưởng.

Here exists for man the first great stage of the battle for full Self-consciousness, and for identification with the God-aspect, and not with the [Page 625] matter-aspect.

Ở đây tồn tại đối với con người giai đoạn lớn đầu tiên của cuộc chiến để đạt ngã thức trọn vẹn, và để đồng hoá với phương diện Thượng đế, chứ không phải với phương diện [Page 625] vật chất.

105. When man can extricate his consciousness from the matter aspect (solar logoically considered) he can (by identifying with the higher aspects of himself) enter the realm of the cosmic ethers and begin to live.

105. Khi con người có thể giải thoát tâm thức của mình khỏi phương diện vật chất (xét theo thái dương logoic), y có thể—bằng cách đồng hoá với các phương diện cao hơn của chính mình—đi vào cõi giới của các dĩ thái vũ trụ và bắt đầu sống.

Here lies the occult reason why man is called by his father’s name and not his mother’s.

Chính ở đây có lý do huyền bí vì sao con người được gọi bằng tên của cha mình chứ không phải của mẹ mình.

106. This process of naming is sometimes considered arbitrary or purely conventional. It is neither. If man is to fulfill his destiny, he must learn to identify with his “Father” aspect.

106. Tiến trình đặt tên này đôi khi bị xem là tùy tiện hay chỉ thuần túy quy ước. Không phải vậy. Nếu con người muốn hoàn thành định mệnh của mình, y phải học cách đồng hoá với phương diện “Cha” của mình.

When man has dominated the deva essences of the physical plane, he controls next those of the astral and dominates the mental essences.

Khi con người đã chế ngự được các tinh chất hành khí của cõi hồng trần, tiếp theo y kiểm soát các tinh chất của cõi cảm dục và chế ngự các tinh chất trí tuệ.

107. All these dominations occur progressively within the solar logoic dense physical body.

107. Tất cả những sự chế ngự này diễn ra dần dần trong thể hồng trần đậm đặc thái dương logoic.

108. Achieving control is, we see, a gradual and sequential process. Each ascending layer of deva essence is harder to subdue than the previous layer.

108. Như chúng ta thấy, việc đạt được sự kiểm soát là một tiến trình tuần tự và tiệm tiến. Mỗi lớp tinh chất thiên thần đi lên đều khó khuất phục hơn lớp trước đó.

Having achieved this in his own nature he can then safely become a magician and contact, control and work with, the devas in connection with the plans of the Heavenly Man.

Khi đã đạt được điều này trong chính bản chất mình, lúc ấy y có thể an toàn trở thành một nhà huyền thuật và tiếp xúc, kiểm soát, và làm việc với các thiên thần liên hệ đến các kế hoạch của Đấng Thiên Nhân.

109. It is by now a truism that man must learn to control himself (as a microcosm) before he can possibly control devic substance in the wider, environing sphere.

109. Đến nay đã là một chân lý hiển nhiên rằng con người phải học cách kiểm soát chính mình (như một Tiểu thiên địa) trước khi có thể kiểm soát chất liệu thiên thần trong khối cầu rộng lớn bao quanh.

In the realisation of the three types of force, will be found for man the key to the mystery of his centres.

Trong sự chứng nghiệm ba loại mãnh lực, con người sẽ tìm thấy chìa khóa cho huyền nhiệm về các trung tâm của mình.

110. Each center is primarily an expression of one of the three types of force expressing within the logoic dense physical body but originating, of course, on logoic etheric planes and beyond.

110. Mỗi trung tâm trước hết là một biểu hiện của một trong ba loại mãnh lực đang biểu lộ trong thể hồng trần đậm đặc logoic, nhưng dĩ nhiên bắt nguồn trên các cõi dĩ thái logoic và vượt xa hơn nữa.

The secret of the note of the head, the heart, and the throat centre is found here and their blending with the lower centres so that the note of the higher sounds out, and the lower produces only harmony.

Bí mật của âm điệu của trung tâm đầu, trung tâm tim và trung tâm cổ họng nằm ở đây, cùng với sự hòa trộn của chúng với các trung tâm thấp hơn để cho âm điệu của cái cao hơn được xướng lên, còn cái thấp hơn chỉ tạo ra sự hài hòa.

111. We observe that the term “note” is singular rather than plural. Is the note of each of these centers the same or are they different (and does their sounding together produce one, greater composite note)? This is a probability.

111. Chúng ta nhận thấy rằng thuật ngữ “âm điệu” ở số ít chứ không phải số nhiều. Âm điệu của mỗi trung tâm này là giống nhau hay khác nhau (và việc chúng cùng vang lên có tạo ra một âm điệu tổng hợp lớn hơn không)? Đây là một khả năng.

112. The three major centers are the head, heart and throat. These three set the tone (or chord) to which the lower centers must harmoniously respond.

112. Ba trung tâm chính là đầu, tim và cổ họng. Ba trung tâm này đặt ra âm sắc (hay hợp âm) mà các trung tâm thấp hơn phải đáp ứng một cách hài hòa.

113. The higher must blend with the lower but the blending must be harmonious.

113. Cái cao hơn phải hòa trộn với cái thấp hơn, nhưng sự hòa trộn ấy phải hài hòa.

114. The three notes of the three higher centers when sounding together produce a chord. The chord of the lower centers must come to sound in harmony with the higher chord.

114. Ba âm điệu của ba trung tâm cao hơn khi cùng vang lên sẽ tạo thành một hợp âm. Hợp âm của các trung tâm thấp hơn phải trở nên vang lên hài hòa với hợp âm cao hơn.

115. We observe that the note of the three higher centers is a “secret” note. Will each of the centers have a specific note? It would seem so. Perhaps the chord formed through the sounding of these notes is, itself, considered a higher form of note for often notes have many ‘partials’ or subsidiary aspects. A note is not necessarily monochromatic.

115. Chúng ta nhận thấy rằng âm điệu của ba trung tâm cao hơn là một âm điệu “bí mật”. Mỗi trung tâm sẽ có một âm điệu riêng chăng? Có vẻ là như vậy. Có lẽ hợp âm được hình thành qua việc vang lên của các âm điệu này tự nó được xem là một hình thức cao hơn của âm điệu, vì các âm điệu thường có nhiều “thành phần phụ” hay phương diện phụ thuộc. Một âm điệu không nhất thiết là đơn sắc.

116. The note or notes sounding through the three higher centers may be secret because derived from the nature and note of the Monad.

116. Âm điệu hay các âm điệu vang lên qua ba trung tâm cao hơn có thể là bí mật vì chúng bắt nguồn từ bản chất và âm điệu của chân thần.

Upon the note of nature the Logos has to superimpose a higher note.

Trên âm điệu của bản chất, Logos phải chồng thêm một âm điệu cao hơn.

117. The art and science of the superimposition of higher notes upon lower are critical for an understanding of hierarchy, integration and magic.

117. Nghệ thuật và khoa học chồng thêm các âm điệu cao hơn lên các âm điệu thấp hơn là điều thiết yếu để thấu hiểu Thánh đoàn, sự tích hợp và huyền thuật.

118. The “note of nature” is usually considered to be FA, or F, the green note. The Solar Logos has for His soul note the note SOL, the blue note of the second ray.

118. “Âm điệu của bản chất” thường được xem là FA, hay F, âm xanh lục. Thái dương Thượng đế có âm điệu linh hồn là SOL, âm xanh lam của cung hai.

To the natural note of the centre (which is found through the development of the lower centre, which is its reflection or correspondence)

Vào âm điệu tự nhiên của trung tâm (được tìm ra qua sự phát triển của trung tâm thấp hơn, là sự phản chiếu hay tương ứng của nó)

119. Every note has a “natural note”. Perhaps we can call this note the “tonic” or base note.

119. Mỗi âm điệu đều có một “âm điệu tự nhiên”. Có lẽ chúng ta có thể gọi âm điệu này là “âm chủ” hay âm nền.

120. The method of finding the natural note of a higher center is most interesting. It seems that one must work first through a lower (and corresponding) center to find the natural note of the higher center.

120. Phương pháp tìm ra âm điệu tự nhiên của một trung tâm cao hơn là điều hết sức thú vị. Dường như trước hết người ta phải làm việc qua một trung tâm thấp hơn (và tương ứng) để tìm ra âm điệu tự nhiên của trung tâm cao hơn.

121. This is like saying that in order to find the natural note of the heart center one must first work through the solar plexus center. Equally to find the natural note of the throat center one must work through the sacral center. The same would apply in relation to the head center and the base of the spine center. The greater centers are really qualitatively inclusive of their lower corresponding centers.

121. Điều này cũng như nói rằng để tìm ra âm điệu tự nhiên của trung tâm tim, trước hết người ta phải làm việc qua trung tâm tùng thái dương. Tương tự, để tìm ra âm điệu tự nhiên của trung tâm cổ họng, người ta phải làm việc qua trung tâm xương cùng. Điều tương tự cũng áp dụng đối với trung tâm đầu và trung tâm đáy cột sống. Các trung tâm lớn thực sự bao gồm về phẩm tính các trung tâm thấp hơn tương ứng của chúng.

must be added the dominant note of the higher centre, and, in the dual harmony the centre vibrates as desired.

phải được thêm vào âm chủ đạo của trung tâm cao hơn, và trong sự hài hòa kép ấy trung tâm rung động như mong muốn.

122. The term “dominant” is a technical term in music and indicates a note which is a fifth (or five notes—three whole tones and one semi-tone) ‘above’ the tonic or base note.

122. Thuật ngữ “chủ đạo” là một thuật ngữ kỹ thuật trong âm nhạc và chỉ một âm là quãng năm (hay năm nốt—ba cung nguyên và một nửa cung) “cao hơn” âm chủ hay âm nền.

123. In each of the higher centers two notes must sound, the tonic and the dominant. This will produce, when correctly tuned, a perfect fifth which is the musical interval correlated with soul expression.

123. Trong mỗi trung tâm cao hơn, hai âm phải vang lên, âm chủ và âm chủ đạo. Khi được chỉnh đúng, điều này sẽ tạo ra một quãng năm hoàn hảo, là quãng nhạc tương ứng với sự biểu lộ của linh hồn.

124. For a center (especially a higher center, so it seems) to vibrate as desired, two notes (or an interval) must be sounding harmoniously.

124. Để một trung tâm (đặc biệt là một trung tâm cao hơn, dường như vậy) rung động như mong muốn, hai âm (hay một quãng) phải đang vang lên một cách hài hòa.

125. Another way of saying this is that the center must respond to soul energy as well as to its own fundamental energy. The “fundamental” is another way of denoting the tonic or base note.

125. Một cách khác để nói điều này là trung tâm phải đáp ứng với năng lượng linh hồn cũng như với năng lượng căn bản của chính nó. “Căn bản” là một cách khác để chỉ âm chủ hay âm nền.

The note is the result of correct activity.

Âm điệu là kết quả của hoạt động đúng đắn.

126. What does DK mean by “the note”? Does He mean the correctly sounding interval, or does He mean only the “dominant” of the higher center?

126. Chân sư DK muốn nói gì bởi “âm điệu”? Ngài muốn nói đến quãng vang đúng, hay Ngài chỉ muốn nói đến “âm chủ đạo” của trung tâm cao hơn mà thôi?

127. If the latter, we can see that the emergence of the “dominant” would occur through that form of correct activity which allowed the soul to express through the personality.

127. Nếu là trường hợp sau, chúng ta có thể thấy rằng sự xuất hiện của “âm chủ đạo” sẽ xảy ra qua hình thức hoạt động đúng đắn cho phép linh hồn biểu lộ qua phàm ngã.

That is why the lower centres of man are (in the early stages of his career) the controlling factor. He has to learn their note, and from it to attain the key of the higher.

Đó là lý do vì sao các trung tâm thấp hơn của con người là yếu tố kiểm soát (trong những giai đoạn đầu của hành trình y). Y phải học âm điệu của chúng, và từ đó đạt đến khóa của cái cao hơn.

128. At first man is controlled from below. When the wheel is reversed, this control is gradually challenged until the higher centers become the controlling factors.

128. Thoạt đầu con người bị kiểm soát từ bên dưới. Khi bánh xe đảo chiều, sự kiểm soát này dần dần bị thách thức cho đến khi các trung tâm cao hơn trở thành những yếu tố kiểm soát.

129. Each note can serve as the tonic, base note or fundamental of a given key in music. The key is named after the note itself.

129. Mỗi âm điệu có thể làm âm chủ, âm nền hay âm căn bản của một khóa nhạc nhất định. Khóa nhạc được gọi theo chính tên của âm điệu ấy.

130. For instance, the note C forms the tonic for the key of C. The note D forms the tonic for the key of D, etc. Different keys (or scales), however, can be based on the same note. For instance, if the tonic is the note D, then the key may be either D major or D minor (and a number of minor keys are possible—such as the melodic minor, the harmonic minor, the natural minor, etc.).

130. Thí dụ, nốt C tạo thành âm chủ cho giọng Đô. Nốt D tạo thành âm chủ cho giọng Rê, v.v. Tuy nhiên, những giọng khác nhau (hay những âm giai khác nhau) có thể được đặt trên cùng một nốt. Thí dụ, nếu âm chủ là nốt Rê, thì giọng có thể là Rê trưởng hoặc Rê thứ (và có thể có một số giọng thứ—như thứ giai điệu, thứ hòa âm, thứ tự nhiên, v.v.).

131. In any case, in early days of evolution, man is controlled from his lower centers. Eventually through the principal of resonance, he has to come into cognizance of the functioning of the higher center to which the lower center is correlated. When he can do this he attains the “key of the higher”.

131. Trong bất cứ trường hợp nào, vào những ngày đầu của tiến hoá, con người bị kiểm soát từ các trung tâm thấp của mình. Cuối cùng, qua nguyên lý cộng hưởng, y phải đi đến chỗ nhận biết được hoạt động của trung tâm cao hơn mà trung tâm thấp có tương quan với nó. Khi y có thể làm được điều này, y đạt tới “âm chủ của cái cao hơn”.

132. When dealing with the keynotes of the corresponding lower and higher centers, those keynotes will be initially harmonious even if not yet perfectly attuned.

132. Khi bàn đến các chủ âm của những trung tâm thấp và cao tương ứng, thì ban đầu những chủ âm ấy sẽ hài hòa với nhau dù chưa được chỉnh đúng một cách hoàn hảo.

133. From another perspective, the keynotes of corresponding centers may sound in a octave relationship to each other. In other words, the note of the higher center will be the same as the note of the lower center, but it will sound (for example) a higher octave of the note of the lower center.

133. Từ một góc nhìn khác, các chủ âm của những trung tâm tương ứng có thể vang lên trong một tương quan quãng tám với nhau. Nói cách khác, nốt của trung tâm cao hơn sẽ là cùng một nốt như nốt của trung tâm thấp hơn, nhưng nó sẽ vang lên (thí dụ) ở một quãng tám cao hơn nốt của trung tâm thấp hơn.

Then the higher takes the prominent place, and the lower only serves the purpose of providing that which is understood as occult “depth.”

Khi đó cái cao hơn giữ vị trí nổi bật, còn cái thấp hơn chỉ phục vụ mục đích cung cấp điều được hiểu là “chiều sâu” huyền bí.

134. From choral and orchestral music we know the value of tonal depth. We want to avoid a shallow sound which is superficial and unpleasant to the ear.

134. Từ âm nhạc hợp xướng và giao hưởng, chúng ta biết giá trị của chiều sâu âm sắc. Chúng ta muốn tránh một âm thanh nông cạn, hời hợt và khó chịu đối với tai nghe.

135. Depth of tone is the analogy to “occult depth”. Occult depth arises when higher principles resound within the lower substance, conditioning that substance and rendering it harmonious with the higher, originant tone.

135. Chiều sâu của âm thanh là sự tương đồng với “chiều sâu” huyền bí. Chiều sâu huyền bí phát sinh khi các nguyên khí cao hơn cộng hưởng bên trong chất liệu thấp hơn, tác động lên chất liệu ấy và làm cho nó hài hòa với âm điệu nguyên thủy cao hơn.

Why is this? Because in these notes those groups of devas who are the force and energy of the centres (which are centres in substance) are contacted and controlled.

Tại sao lại như vậy? Bởi vì trong những nốt này, những nhóm thiên thần là mãnh lực và năng lượng của các trung tâm (vốn là những trung tâm trong chất liệu) được tiếp xúc và kiểm soát.

136. When the lower devas (lower substance) work in harmony or in unison with higher devic forces a full sound with occult depth is achieved. God’s Plan (as known on the higher planes) is reflected accurately in the lower planes.

136. Khi các thiên thần thấp hơn (chất liệu thấp hơn) hoạt động hài hòa hoặc đồng thanh với các mãnh lực thiên thần cao hơn, thì một âm thanh trọn vẹn với chiều sâu huyền bí được đạt tới. Thiên Cơ của Thượng đế (như được biết trên các cõi cao) được phản chiếu chính xác trong các cõi thấp.

137. The notes of Nature are naturally lower than the notes of higher planes and subplanes. That which is to be achieved is a harmonious coordination of the two kinds of notes—i.e., the two types of devas, the two types of force-substance.

137. Các nốt của Thiên Nhiên tự nhiên thấp hơn các nốt của những cõi và cõi phụ cao hơn. Điều cần đạt được là một sự phối hợp hài hòa của hai loại nốt ấy—tức là, hai loại thiên thần, hai loại chất liệu-mãnh lực.

138. We see that the lower devas are subdued and controlled through the power of sound—through music, essentially. This could give a new perspective on the “Army of the Voice”.

138. Chúng ta thấy rằng các thiên thần thấp hơn được chế ngự và kiểm soát qua quyền năng của âm thanh—về bản chất là qua âm nhạc. Điều này có thể đem lại một góc nhìn mới về “Đạo Quân của Âm Thanh”.

Through their activity, directed through the centres, the material sheaths—physical, astral and mental—are built.

Qua hoạt động của họ, được hướng dẫn qua các trung tâm, các thể vỏ vật chất—hồng trần, cảm dục và trí tuệ—được xây dựng.

139. When the devas which are the force and energy of the centers (higher and lower) are rightly harmonized and, thus, the lower controlled, the vehicles or sheaths which these centers animate can be properly built.

139. Khi các thiên thần là mãnh lực và năng lượng của các trung tâm (cao và thấp) được hòa điệu đúng đắn và nhờ đó cái thấp hơn được kiểm soát, thì các vận cụ hay các thể vỏ mà những trung tâm này tiếp sinh lực có thể được xây dựng một cách thích đáng.

140. It also seems necessary to include in this model the permanent atoms (higher and lower), for the vehicles are actually built by the lower permanent atoms.

140. Dường như cũng cần phải bao gồm trong mô hình này các nguyên tử trường tồn (cao và thấp), vì các vận cụ thực sự được xây dựng bởi các nguyên tử trường tồn thấp hơn.

141. It is probable that the lower permanent atoms must be sonically subdued by the notes of the higher permanent atoms. Yet, as well, one can imagine that the notes of the lower permanent atoms must be tuned to sound either in harmony or in octaval-unison with the notes of the higher permanent atoms to which they correspond.

141. Có lẽ các nguyên tử trường tồn thấp hơn phải được chế ngự bằng âm thanh bởi các nốt của các nguyên tử trường tồn cao hơn. Tuy nhiên, cũng có thể hình dung rằng các nốt của các nguyên tử trường tồn thấp hơn phải được chỉnh để vang lên hoặc hài hòa hoặc đồng thanh theo quãng tám với các nốt của các nguyên tử trường tồn cao hơn tương ứng với chúng.

142. These considerations give new depth of meaning and greater specificity to such subjects as “attunement”—a term so often very loosely used in spiritual circles.

142. Những suy xét này đem lại chiều sâu ý nghĩa mới và tính đặc định lớn hơn cho những đề tài như “sự chỉnh đúng”—một thuật ngữ quá thường được dùng rất lỏng lẻo trong các giới tinh thần.

143. It is coming to seem that music is a great agent of control in building and maintaining any system in cosmos.

143. Ngày càng có vẻ rằng âm nhạc là một tác nhân kiểm soát lớn trong việc xây dựng và duy trì bất kỳ hệ thống nào trong vũ trụ.

These ideas of force and the sheaths are the basis of the astrological teaching that is one of the keys to the Secret Doctrine.3 [The Astrological Key is referred to in the S. D., Vol. II, 26.]

Những ý tưởng này về mãnh lực và các thể vỏ là nền tảng của giáo huấn chiêm tinh, vốn là một trong những chìa khóa của Giáo Lý Bí Nhiệm.3 [Chìa khóa Chiêm tinh được nhắc đến trong S. D., Tập II, 26.]

144. Various sheaths are clearly vibrating to different musical notes and these notes (and combinations of note) are clearly to be correlated with astrological influences.

144. Các thể vỏ khác nhau rõ ràng đang rung động theo những nốt nhạc khác nhau, và những nốt này (cùng các tổ hợp nốt) rõ ràng phải được liên hệ với các ảnh hưởng chiêm tinh.

145. There is an archetypal “harmony of the spheres”. These spheres eventually control all subsumed within them through the factors of sound and music.

145. Có một “sự hài hòa của các khối cầu” nguyên mẫu. Cuối cùng, những khối cầu này kiểm soát mọi điều được bao hàm trong chúng qua các yếu tố âm thanh và âm nhạc.

We should therefore bear in mind that [Page 626] the Deva Lords, Agni, Varuna, Kshiti,4 represent in the exoteric teaching the substance aspect of the dense body of the Logos

Do đó, chúng ta nên ghi nhớ rằng [Page 626] các Chúa Tể thiên thần, Agni, Varuna, Kshiti,4 biểu hiện trong giáo huấn ngoại môn phương diện chất liệu của thể đậm đặc của Thượng đế.

146. These are the Raja Deva Lords of the three lower subplanes of the cosmic physical plane.

146. Đây là các Chúa Tể Raja Deva của ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ.

whilst the force aspect as flowing through the etheric body of the Logos is considered under various names, such as Shiva, Surya, Brahma.

trong khi phương diện mãnh lực, khi tuôn chảy qua thể dĩ thái của Thượng đế, được xét dưới nhiều danh xưng khác nhau, như Shiva, Surya, Brahma.

147. We are being given the names of great Raja Deva Lords—those Who manifest through the cosmic etheric plane of the Solar Logos.

147. Chúng ta đang được ban cho các danh xưng của những Chúa Tể Raja Deva vĩ đại—những Đấng biểu hiện qua cõi dĩ thái vũ trụ của Thái dương Thượng đế.

148. “Surya” is a name which means “Sun”. It is to be correlated with the second aspect of divinity. In this case it appears that Surya and Vishnu are interchangeable.

148. “Surya” là một danh xưng có nghĩa là “Mặt Trời”. Nó phải được liên hệ với phương diện thứ hai của thiên tính. Trong trường hợp này, có vẻ như Surya và Vishnu có thể thay thế cho nhau.

149. Earlier we asked whether there was a name for the Deva Lord Who manifested through the cosmic higher mental plane. Perhaps “Surya” could be considered an appropriate name. On this plane the causal bodies of great Logoi are to be found. The causal body is a reflection of the Sun and “Surya” means Sun.

149. Trước đây chúng ta đã hỏi liệu có một danh xưng nào cho Chúa Tể thiên thần biểu hiện qua Cõi thượng trí vũ trụ hay không. Có lẽ “Surya” có thể được xem là một danh xưng thích hợp. Trên cõi này có thể tìm thấy các thể nguyên nhân của những Các Thượng đế vĩ đại. Thể nguyên nhân là một phản chiếu của Mặt Trời, và “Surya” có nghĩa là Mặt Trời.

150. From this perspective, if we were to name the Raja Deva Lords of the cosmic physical plane (both in its etheric and dense aspects) we would have, numbering from above to below:

150. Từ góc nhìn này, nếu chúng ta gọi tên các Chúa Tể Raja Deva của cõi hồng trần vũ trụ (trong cả hai phương diện dĩ thái và đậm đặc của nó), thì chúng ta sẽ có, tính từ trên xuống dưới:

a. Plane 1, Shiva

a. Cõi 1, Shiva

b. Plane 2, Vishnu

b. Cõi 2, Vishnu

c. Plane 3, Brahma

c. Cõi 3, Brahma

d. Plane 4, Indra

d. Cõi 4, Indra

e. Plane 5, upper part, Surya

e. Cõi 5, phần trên, Surya

f. Plane 5, lower part, Agni

f. Cõi 5, phần dưới, Agni

g. Plane 6, Varuna

g. Cõi 6, Varuna

h. Plane 7, Kshiti

h. Cõi 7, Kshiti

Yet the two aspects are but one.

Tuy nhiên, hai phương diện ấy chỉ là một.

151. DK is careful to prevent us from creating an artificial cleavage in our minds. Both the etheric and dense levels are physical.

151. Chân sư DK cẩn trọng ngăn chúng ta tạo ra một sự phân chia giả tạo trong trí tuệ của mình. Cả các cấp độ dĩ thái lẫn đậm đặc đều là hồng trần.

FOOTNOTE 4: Agni, the God of Fire in the Veda; the oldest and the most revered of the Gods in India. He is the triple aspect of Fire and therefore the sum total of manifestation. He is regarded also as the Lord of the mental plane (the 5th plane) whose symbol is Fire.

CHÚ THÍCH 4: Agni, Thần Lửa trong Veda; vị cổ xưa nhất và được tôn kính nhất trong các vị thần ở Ấn Độ. Ngài là phương diện tam phân của Lửa và do đó là tổng thể của sự biểu hiện. Ngài cũng được xem là Chúa Tể của cõi trí (cõi thứ 5), biểu tượng của cõi này là Lửa.

152. While Agni is the Lord of the mental plane (systemically considered) He is also more—the Lord of the lower cosmic mental plane and of the entire solar logoic personality.

152. Trong khi Agni là Chúa Tể của cõi trí (xét theo hệ thống), Ngài còn hơn thế nữa—Chúa Tể của cõi hạ trí vũ trụ và của toàn bộ phàm ngã logoic thái dương.

153. From the perspective given above, i.e., that of the cosmic physical plane, Agni embodies fire by friction, solar fire and electric fire.

153. Từ góc nhìn đã nêu trên, tức là góc nhìn của cõi hồng trần vũ trụ, Agni hiện thân cho Lửa ma sát, Lửa Thái dương và Lửa Điện.

Varuna, the God of Water, in the sense of the waters of space, or the waters of matter. He is regarded also as the Ruler of the astral plane (the 6th plane) whose symbol is water.

Varuna, Thần Nước, theo nghĩa là các nước của không gian, hay các nước của vật chất. Ngài cũng được xem là chủ tinh của cõi cảm dục (cõi thứ 6), biểu tượng của cõi này là nước.

154. Just as there is a systemic Varuna, it is probable that a cosmic Varuna related to the cosmic astral plane must also be considered.

154. Cũng như có một Varuna hệ thống, có lẽ cũng phải xét đến một Varuna vũ trụ liên hệ với cõi cảm dục vũ trụ.

155. All of “matter” is considered, occultly, “water”. Even the substance of the lower eighteen cosmic subplanes would, from this perspective, be considered cosmic “water”.

155. Toàn bộ “vật chất” được xem, một cách huyền bí, là “nước”. Ngay cả chất liệu của mười tám cõi phụ vũ trụ thấp hơn cũng sẽ, từ góc nhìn này, được xem là “nước” vũ trụ.

Kshiti, the God of the Earth in the sense of dense substance, and not a planetary body; he is the God of the physical plane, the seventh plane.

Kshiti, Thần của Đất theo nghĩa chất liệu đậm đặc, chứ không phải một thiên thể hành tinh; ông là Thần của cõi hồng trần, cõi thứ bảy.

156. Kshiti is both the Lord of the systemic physical plane as well as of the cosmic physical plane.

156. Kshiti vừa là Chúa Tể của cõi hồng trần hệ thống vừa là Chúa Tể của cõi hồng trần vũ trụ.

157. How shall we consider the distinction between “dense substance” and the “planetary body”? May we say that the substance ruled by Kshiti extends far beyond the planetary body. Its extent is, in fact, system-wide.

157. Chúng ta nên xét sự phân biệt giữa “chất liệu đậm đặc” và “thiên thể hành tinh” như thế nào? Chúng ta có thể nói rằng chất liệu do Kshiti cai quản trải rộng vượt xa thiên thể hành tinh. Thật ra, phạm vi của nó bao trùm toàn hệ thống.

158. These cosmic Raja Deva Lords probably have still higher correspondences on super cosmic planes and beyond.

158. Những Chúa Tể Raja Deva vũ trụ này có lẽ còn có những tương ứng cao hơn nữa trên các cõi siêu vũ trụ và vượt lên trên.

The Third Statement. The final point I seek to make here is that in connection with these three lower planes and their many groups of devas it must be remembered that their polar opposites are to be found in the great devas of the highest three planes.

Phát biểu thứ ba. Điểm cuối cùng tôi muốn nêu ra ở đây là rằng liên quan đến ba cõi thấp này và nhiều nhóm thiên thần của chúng, cần phải ghi nhớ rằng các cực đối nghịch của chúng được tìm thấy trong những thiên thần vĩ đại của ba cõi cao nhất.

159. All lower devas have their polar opposites or higher correspondences. Sometimes they are called by the same names, as in the case of agnisuryans (agnisuryans of the astral plane and their higher correspondences, the agnisuryans of the buddhic plane).

159. Mọi thiên thần thấp hơn đều có các cực đối nghịch hoặc những tương ứng cao hơn của chúng. Đôi khi chúng được gọi bằng cùng một tên, như trong trường hợp các agnisuryans (agnisuryans của cõi cảm dục và những tương ứng cao hơn của chúng, các agnisuryans của cõi Bồ đề).

160. We note that there are many groups of devas on the lower planes. We note, too, that, thus far, DK has not enumerated or named them. Throughout the book, however, some of these deva groups are brought to our attention.

160. Chúng ta lưu ý rằng có nhiều nhóm thiên thần trên các cõi thấp. Chúng ta cũng lưu ý rằng, cho đến nay, Chân sư DK chưa liệt kê hay gọi tên chúng. Tuy nhiên, xuyên suốt quyển sách, một số nhóm thiên thần này được đưa ra trước sự chú ý của chúng ta.

161. Immediately below we speak of the highest three planes of the cosmic physical plane and their corresponding lower planar forces.

161. Ngay bên dưới, chúng ta nói đến ba cõi cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ và các mãnh lực cõi thấp tương ứng của chúng.

162. We note that the divine plane corresponds to the mental plane; the monadic plane to the astral plane and the atmic plane to the physical plane.

162. Chúng ta lưu ý rằng cõi thiêng liêng tương ứng với cõi trí; cõi chân thần tương ứng với cõi cảm dục; và cõi atma tương ứng với cõi hồng trần.

163. In some sets of correspondences we begin with the atmic plane which corresponds to the mental plane; the buddhic plane then corresponds to the astral and he higher mental plane corresponds to the physical plane.

163. Trong một số hệ tương ứng, chúng ta bắt đầu với cõi atma, cõi này tương ứng với cõi trí; khi đó cõi Bồ đề tương ứng với cõi cảm dục và Cõi thượng trí tương ứng với cõi hồng trần.

164. There are also mirror image sets of correspondences which are more reflections than superimpositions. An example of one such would be the reflection of the atmic plane in the physical plane, the reflection of the buddhic plane in the astral; and the reflection of the higher mental plane in the lower mental.

164. Cũng có những hệ tương ứng theo hình ảnh phản chiếu, vốn là phản ánh hơn là chồng phủ. Một thí dụ như vậy sẽ là sự phản chiếu của cõi atma trong cõi hồng trần, sự phản chiếu của cõi Bồ đề trong cõi cảm dục, và sự phản chiếu của Cõi thượng trí trong cõi hạ trí.

Divine……..1st Cosmic…….Primordial

Thiêng liêng……..cõi phụ vũ trụ 1…….Nguyên sơ

ether…………..Fire………..Mental Plane…..Fire.

dĩ thái…………..Lửa………..Cõi Trí…..Lửa.

Monadic….2nd Cosmic…..Akasha……Astral Plane……Astral

Chân thần….cõi phụ vũ trụ 2…..Akasha……Cõi Cảm Dục……Cảm dục

ether light.

dĩ thái ánh sáng.

Spiritual

Tinh thần

or Atmic…3rd Cosmic…….Aether……Physical Plane…Ether

hay Atma…cõi phụ vũ trụ 3…….Aether……Cõi Hồng Trần…Dĩ thái

ether

dĩ thái

165. Here we are speaking of the Raja Deva Lords Who go under the names: “Shiva”, “Vishnu” and “Brahma”.

165. Ở đây chúng ta đang nói về các Chúa Tể Raja Deva mang những danh xưng: “Shiva”, “Vishnu” và “Brahma”.

The particular type of differentiated force which they embody, when brought into union with each other is that which causes concretion, or the appearance, in space and time, of the dense physical body.

Loại mãnh lực biến phân đặc thù mà các Ngài hiện thân, khi được đưa vào sự hợp nhất với nhau, chính là điều gây ra sự kết tụ, hay sự xuất hiện, trong không gian và thời gian, của thể xác hồng trần đậm đặc.

166. We are being told that all concretion or appearance (of a dense physical body) is the result of the union of the three highest forces of the cosmic physical plane.

166. Chúng ta đang được cho biết rằng mọi sự kết tụ hay sắc tướng (của một thể xác hồng trần đậm đặc) là kết quả của sự hợp nhất của ba mãnh lực cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ.

167. Concretion, therefore, has its origins on levels of cosmic vibration which are not, technically considered, concrete.

167. Do đó, sự kết tụ có nguồn gốc của nó trên những cấp độ rung động vũ trụ mà, xét theo kỹ thuật, không phải là cụ thể.

This should be carefully considered, along with the very interesting fact that on the fourth plane of our system (the fourth cosmic ether, or buddhic plane) we have the sphere of certain occult happenings which cannot be more than hinted at, because their true significance is one of the secrets of initiation. They are an aspect of the plan of the Logos which can be contacted direct by those who have expanded their consciousness adequately.

Điều này cần được suy xét cẩn trọng, cùng với sự kiện rất thú vị rằng trên cõi thứ tư của hệ thống chúng ta (dĩ thái vũ trụ thứ tư, hay cõi Bồ đề) chúng ta có khối cầu của những diễn biến huyền bí nào đó mà không thể nói hơn là chỉ gợi ý, bởi vì thâm nghĩa đích thực của chúng là một trong những bí mật của điểm đạo. Chúng là một phương diện của Thiên Cơ của Thượng đế mà có thể được tiếp xúc trực tiếp bởi những ai đã mở rộng tâm thức của mình một cách đầy đủ.

168. Now we are speaking of the realm of Indra, the God of the systemic buddhic plane.

168. Giờ đây chúng ta đang nói về cõi giới của Indra, Thần của cõi Bồ đề hệ thống.

169. Concretion within the lower worlds may originate in the interaction of Shiva, Vishnu and Brahma but without the functioning of Indra (through those solar logoic chakras found on the systemic buddhic plane) that concretion could not occur, just as dense physical concretion in human terms requires the action of the fourth systemic ether (analogous to the buddhic plane) and the human chakras found thereon.

169. Sự kết tụ trong các ba cõi thấp có thể bắt nguồn từ sự tương tác của Shiva, Vishnu và Brahma, nhưng nếu không có hoạt động của Indra (qua những luân xa logoic thái dương được tìm thấy trên cõi Bồ đề hệ thống), thì sự kết tụ ấy không thể xảy ra, cũng như sự kết tụ hồng trần đậm đặc theo nghĩa con người đòi hỏi tác động của dĩ thái hệ thống thứ tư (tương tự với cõi Bồ đề) và các luân xa con người được tìm thấy trên đó.

[Page 627]

[Page 627]

The buddhic plane, or fourth cosmic ether, is the plane whereon:

Cõi Bồ đề, hay dĩ thái vũ trụ thứ tư, là cõi trên đó:

a. The sacred planets function.

a. Các hành tinh thiêng liêng hoạt động.

170. We must be careful in our analysis of the word “function” for the planets corresponding to the chakras found on the fourth systemic ether are not (in some principal charts) sacred planets.

170. Chúng ta phải cẩn trọng trong việc phân tích từ “hoạt động”, vì các hành tinh tương ứng với các luân xa được tìm thấy trên dĩ thái hệ thống thứ tư không phải (trong một số biểu đồ chính yếu) là các hành tinh thiêng liêng.

171. We could say, however, that every sacred Planetary Logos has coordinated His buddhic vehicle whereas the non-sacred Planetary Logoi are more strictly manasic.

171. Tuy nhiên, chúng ta có thể nói rằng mọi Đức Hành Tinh Thượng Đế thiêng liêng đều đã phối hợp vận cụ Bồ đề của Ngài, trong khi các Hành Tinh Thượng đế không thiêng liêng thì nghiêm ngặt hơn là manas.

b. Man will eventually function freed from the triple lower man.

b. Cuối cùng con người sẽ hoạt động, được giải thoát khỏi phàm nhân tam phân.

172. To function on the fourth cosmic ether or systemic buddhic plane requires the passing of the fourth initiation.

172. Để hoạt động trên dĩ thái vũ trụ thứ tư hay cõi Bồ đề hệ thống, cần phải vượt qua lần điểm đạo thứ tư.

c. The true meaning of the words “Divine Hermaphrodite” is there to be comprehended.

c. Ý nghĩa chân thực của những từ “Lưỡng tính Thiêng liêng” sẽ được thấu hiểu ở đó.

173. On this plane the potencies of Venus and Mercury are blended. Venus is a Logos Who has achieved a great measure of buddhic expression. Mercury is one of the rulers of the buddhic plane.

173. Trên cõi này, các tiềm lực của Sao Kim và Sao Thủy được hòa trộn. Sao Kim là một Thượng đế đã đạt được một mức độ biểu hiện Bồ đề lớn lao. Sao Thủy là một trong những chủ tinh của cõi Bồ đề.

d. It is predominantly the plane of life-force, and one of the planes of generation.

d. Đây chủ yếu là cõi của sinh lực, và là một trong những cõi của sự sinh thành.

174. Are all cosmic etheric planes, planes of generation?

174. Phải chăng mọi cõi dĩ thái vũ trụ đều là những cõi của sự sinh thành?

175. Perhaps the buddhic plane is most focally a plane of generation because through the action of its chakras the dense physical body of the personality is precipitated. This applies to both the human and solar logoic spheres.

175. Có lẽ cõi Bồ đề là cõi sinh thành có tính tiêu điểm nhất, bởi vì qua tác động của các luân xa của nó, thể xác hồng trần đậm đặc của phàm ngã được ngưng tụ. Điều này áp dụng cho cả các khối cầu con người lẫn logoic thái dương.

176. In any case it is reasonable to assume that cosmic prana flows on the cosmic buddhic plane (but also on others of the cosmic etheric planes).

176. Trong bất cứ trường hợp nào, thật hợp lý khi giả định rằng prana vũ trụ tuôn chảy trên cõi Bồ đề vũ trụ (nhưng cũng trên những cõi dĩ thái vũ trụ khác).

177. It has often been stated in these commentaries that man does not begin to live until he achieves the consciousness of the cosmic buddhic plane.

177. Trong những phần bình giải này, thường đã được nói rằng con người không bắt đầu sống cho đến khi y đạt được tâm thức của cõi Bồ đề vũ trụ.

e. Here man will for the first time understand and utilize his relationship with the devas.

e. Ở đây lần đầu tiên con người sẽ thấu hiểu và sử dụng mối liên hệ của mình với các thiên thần.

178. The following quotations are important for understanding the relationship here referenced:

178. Những trích dẫn sau đây rất quan trọng để hiểu mối liên hệ được nhắc đến ở đây:

It is in the vegetable kingdom that we find one of the first and temporary approximations between the evolving human Monad, and the evolving deva Monad.  The two parallel evolutions touch in that kingdom, and then again follow their own paths, finding their next point of contact on the fourth or buddhic level, and a final merging on the second. (TCF 589)

Chính trong giới thực vật mà chúng ta tìm thấy một trong những sự tiếp cận đầu tiên và tạm thời giữa chân thần con người đang tiến hoá và chân thần thiên thần đang tiến hoá.  Hai tiến trình tiến hoá song song chạm nhau trong giới đó, rồi lại đi theo những con đường riêng của chúng, tìm thấy điểm tiếp xúc kế tiếp của chúng trên cấp độ thứ tư hay Bồ đề, và một sự hòa nhập cuối cùng trên cấp độ thứ hai. (TCF 589)

Further, the two great evolutions (human and deva) find their group unity on the buddhic plane, and portions of both hierarchies blend and merge so as to form the body of the divine Hermaphrodite.24,25 (TCF 328)

Hơn nữa, hai tiến trình tiến hoá lớn (con người và thiên thần) tìm thấy sự hợp nhất nhóm của chúng trên cõi Bồ đề, và những phần của cả hai Huyền Giai hòa trộn và hòa nhập để tạo thành thể của Đấng Lưỡng tính thiêng liêng.24,25 (TCF 328)

Earlier, at certain fixed points, they may temporarily approximate each other. On the buddhic plane definite and permanent alliance may be seen. (TCF 328-329)

Trước đó, tại một số điểm cố định nào đó, chúng có thể tạm thời tiến gần nhau. Trên cõi Bồ đề, có thể thấy một sự liên minh xác định và thường trực. (TCF 328-329)

The fourth plane is the plane of at-one-ment for certain deva and human units, and certain groups (the fourth Creative Hierarchy and the sixth Deva Hierarchy) have a pronounced karma to work out together. One can now see the supreme importance of the human Hierarchy, the fourth in this sequence of planes and ideas. (TCF 432)

Cõi thứ tư là cõi của sự hợp nhất đối với một số đơn vị thiên thần và con người, và một số nhóm (Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư và Huyền Giai thiên thần thứ sáu) có một nghiệp quả rõ rệt phải cùng nhau giải quyết. Giờ đây người ta có thể thấy tầm quan trọng tối thượng của Huyền Giai nhân loại, thứ tư trong chuỗi cõi và ý tưởng này. (TCF 432)

f. It will see the fruition of the combined evolutionary process of the two solar systems.

f. Nó sẽ chứng kiến sự viên mãn của tiến trình tiến hoá kết hợp của hai hệ mặt trời.

179. Before the possibility of focusing on the buddhic plane, the two evolutionary processes cannot combine and merge.

179. Trước khả năng tập trung trên cõi Bồ đề, hai tiến trình tiến hoá không thể kết hợp và hòa nhập.

180. The unifying of the human and devic kingdoms on the buddhic plane is symbolic of this merging.

180. Sự hợp nhất của giới nhân loại và giới thiên thần trên cõi Bồ đề là biểu tượng của sự hòa nhập này.

181. Fire by friction is characteristic of life within the logoic dense physical vehicle. By the time we reach the systemic buddhic plane, solar fire (as an aspect of Agni) is in increasing expression and thus the merging of the two aspects can occur.

181. Lửa ma sát là đặc trưng của sự sống bên trong vận cụ hồng trần đậm đặc logoic. Khi chúng ta đạt đến cõi Bồ đề hệ thống, Lửa Thái dương (như một phương diện của Agni) ngày càng biểu hiện nhiều hơn, và do đó sự hòa nhập của hai phương diện có thể xảy ra.

g. It is the plane from whence all planetary avatars emanate.

g. Đây là cõi từ đó mọi Đấng Hoá Thân hành tinh xuất lộ.

182. This is an important statement. Can it be said that the Christ and the coming seventh ray Avatar both emanate from the buddhic plane? Certainly there will be much of buddhi (the quality of Hierarchy) in Their expression but especially in the expression of the Great Avatar, the Christ.

182. Đây là một phát biểu quan trọng. Có thể nói rằng Đức Christ và Đấng Hoá Thân cung bảy sắp đến đều xuất lộ từ cõi Bồ đề chăng? Chắc chắn sẽ có nhiều Bồ đề (phẩm tính của Thánh đoàn) trong sự biểu hiện của Các Ngài, nhưng đặc biệt là trong sự biểu hiện của Đấng Hoá Thân Vĩ Đại, Đức Christ.

h. The Heavenly Men take the first Initiation on this plane.

h. Các Đấng Thiên Nhân nhận lần điểm đạo thứ nhất trên cõi này.

183. This is a profound occult hint. The coming of the Lords of the Flame may have had much to do with the first initiation of our Planetary Logos in Lemurian times. These great devas (as “hearts of fiery love”) were imbued with the quality of buddhi and implanted not only manas, but the qualities of latent buddhi and latent atma in animal man. The so-called “spark of mind” was triple.

183. Đây là một gợi ý huyền bí sâu xa. Sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa có thể đã liên hệ rất nhiều đến lần điểm đạo thứ nhất của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta vào thời Lemuria. Những thiên thần vĩ đại này (như “những trái tim của tình thương rực lửa”) được thấm nhuần phẩm tính của Bồ đề và đã cấy vào người thú không chỉ manas, mà còn cả những phẩm tính của Bồ đề tiềm ẩn và atma tiềm ẩn. Cái gọi là “tia lửa của trí tuệ” là tam phân.

184. There came a time when the opening of the planetary heart was the order of the day. We can correlate this opening with the individualization of man and the first initiation of the Planetary Logos.

184. Đã đến một thời điểm khi sự khai mở của trái tim hành tinh là mệnh lệnh của thời cuộc. Chúng ta có thể liên hệ sự khai mở này với sự biệt ngã hóa của con người và lần điểm đạo thứ nhất của Hành Tinh Thượng đế.

185. All first initiations require the infusion of the quality of buddhic energy.

185. Mọi lần điểm đạo thứ nhất đều đòi hỏi sự truyền nhập phẩm tính của năng lượng Bồ đề.

i. On this plane the true inner significance of the “Sun” is apprehended.

i. Trên cõi này, thâm nghĩa nội tại chân thực của “Mặt Trời” được lĩnh hội.

186. Here we are speaking of the Heart of the Sun, the true subjective Sun expressing the second aspect of divinity.

186. Ở đây chúng ta đang nói về Trái Tim của Mặt Trời, Mặt Trời chủ quan đích thực biểu hiện phương diện thứ hai của thiên tính.

187. Only those human beings who can focus on the buddhic plane truly understand what it means to be a “Son of God”. They are directly in touch with the Christ Aspect, which is buddhi.

187. Chỉ những con người nào có thể tập trung trên cõi Bồ đề mới thực sự hiểu điều đó có nghĩa là gì khi là một “Con của Thượng đế”. Họ trực tiếp tiếp xúc với Phương diện Christ, tức là Bồ đề.

More I cannot say, but careful study of that which is here given may open up much that is of significance in the study of the macrocosm and the microcosm.

Tôi không thể nói thêm nữa, nhưng sự nghiên cứu cẩn trọng điều được đưa ra ở đây có thể mở ra nhiều điều có thâm nghĩa trong việc nghiên cứu Đại thiên địa và Tiểu thiên địa.

188. Yes, the Tibetan has offered some profound occult hints which will be found as instrumental pieces of knowledge in bringing closure to patterns in consciousness which await closure.

188. Đúng vậy, Chân sư Tây Tạng đã đưa ra một số gợi ý huyền bí sâu xa, những điều sẽ được thấy là những mảnh tri thức có tính công cụ trong việc khép lại những mô hình trong tâm thức đang chờ được khép lại.

c. The Devas and the Planes.

c. Các thiên thần và các cõi.

Preliminary Remarks. We have considered in broad and general terms the various types of force which animate deva substance, and its origin.

Những nhận xét sơ bộ. Chúng ta đã xét, theo những nét rộng và tổng quát, các loại mãnh lực khác nhau tiếp sinh lực cho chất liệu thiên thần, và nguồn gốc của nó.

189. We have been considering cosmic forces from cosmic planes higher than the cosmic physical plane as these forces animate lower deva substance.

189. Chúng ta đã xét đến các mãnh lực vũ trụ từ những cõi vũ trụ cao hơn cõi hồng trần vũ trụ khi các mãnh lực này tiếp sinh lực cho chất liệu thiên thần thấp hơn.

190. We have also considered lower types of deva forces found on the lower systemic planes. These forces are extensions or attenuations of the energies from the higher cosmic planes.

190. Chúng ta cũng đã xét đến những loại mãnh lực thiên thần thấp hơn được tìm thấy trên các cõi hệ thống thấp hơn. Những mãnh lực này là những sự mở rộng hay suy giảm của các năng lượng từ các cõi vũ trụ cao hơn.

Now we can study more specifically the deva entities in their various groups, having laid down the fundamentals in connection with them.

Giờ đây chúng ta có thể nghiên cứu cụ thể hơn các thực thể thiên thần trong những nhóm khác nhau của chúng, vì đã đặt ra những nền tảng liên quan đến chúng.

191. This is ever the way of proceeding in occultism—from the general to the particular.

191. Đó luôn là cách tiến hành trong huyền bí học—từ cái tổng quát đến cái cá biệt.

In this particular section students must remember that we are not considering those builders of involutionary development which are spoken of in theosophical and occult literature as the elemental essences.

Trong phần đặc biệt này, các đạo sinh phải nhớ rằng chúng ta không xét đến những đấng kiến tạo của sự giáng hạ tiến hoá vốn được nói đến trong văn học Thông Thiên Học và huyền bí học như là Tinh chất hành khí.

192. Though some devas may be unconscious as are the elemental essences, devas and elementals are not equivalent.

192. Dù một số thiên thần có thể vô thức như các Tinh chất hành khí, thiên thần và hành khí không tương đương nhau.

193. Devas, at least, can become self-conscious; elementals must become devas before this transition to self-consciousness is possible.

193. Ít nhất, thiên thần có thể trở nên có ngã thức; hành khí phải trở thành thiên thần trước khi sự chuyển tiếp sang ngã thức này có thể xảy ra.

We are discussing those who are on the evolutionary arc, and who are the agents of cosmic force, whilst the lesser builders are the agents specifically of solar and of lunar force.

Chúng ta đang bàn đến những vị ở trên cung tiến hoá, và là các tác nhân của mãnh lực vũ trụ, trong khi các vị tiểu kiến tạo là các tác nhân đặc biệt của mãnh lực thái dương và của mãnh lực thái âm.

194. We are considering self-conscious deva forces, though there are deva forces which are unconscious.

194. Chúng ta đang xét đến các mãnh lực thiên thần tự-ngã-thức, dù cũng có những mãnh lực thiên thần vô thức.

195. Are there 140,000,000,000 of such evolutionary devic units? This is a figure applied to the number of deva Monads in our solar system, but it not stated whether it applies to both self-conscious and un-self-conscious devas, or only to the self-conscious kind.

195. Có phải có 140.000.000.000 đơn vị thiên thần tiến hoá như thế chăng? Đây là con số được áp dụng cho số lượng các chân thần thiên thần trong hệ mặt trời của chúng ta, nhưng không nói rõ liệu nó áp dụng cho cả thiên thần tự-ngã-thức lẫn không-tự-ngã-thức, hay chỉ cho loại tự-ngã-thức.

196. We note that lesser builders can be agents of not only lunar force but of solar force as well.

196. Chúng ta lưu ý rằng các vị tiểu kiến tạo có thể là tác nhân không chỉ của mãnh lực thái âm mà còn của mãnh lực thái dương nữa.

197. There are a number of types of manasic devas which are the substance of the egoic lotus. Are these to be considered lesser builders which are specifically agents of solar force? Probably their nature, imbued with “I-ness” is too high.

197. Có một số loại thiên thần manas là chất liệu của Hoa Sen Chân Ngã. Có nên xem các vị này là những vị tiểu kiến tạo đặc biệt là tác nhân của mãnh lực thái dương không? Có lẽ bản chất của các vị ấy, được thấm nhuần bởi “tính Tôi”, là quá cao.

Solar force implies the various differentiations of the threefold cosmic force as it manifests within the solar [Page 628] system.

Mãnh lực thái dương hàm ý các biến phân khác nhau của mãnh lực vũ trụ tam phân khi nó biểu hiện trong hệ mặt trời [Page 628].

198. DK is careful to define the nature of “solar force” within the present context.

198. Chân sư DK cẩn trọng xác định bản chất của “mãnh lực thái dương” trong ngữ cảnh hiện tại.

199. Cosmic forces are primarily threefold in nature. When such forces manifest “within the solar system” they are to be considered solar forces.

199. Các mãnh lực vũ trụ trước hết có bản chất tam phân. Khi các mãnh lực ấy biểu hiện “trong hệ mặt trời” thì chúng được xem là các mãnh lực thái dương.

200. It may be that such forces manifest (at first) specifically through the objective sun.

200. Có thể là các mãnh lực như thế biểu hiện (thoạt đầu) đặc biệt qua mặt trời khách quan.

Solar force can also (as far as the creative or building faculty of man is concerned) be termed planetary force, for every human being (be he Adept or ordinary man) builds and creates his thought forms—consciously or unconsciously—within the planetary spheres in the three worlds.

Mãnh lực thái dương cũng có thể (xét theo năng lực sáng tạo hay kiến tạo của con người) được gọi là mãnh lực hành tinh, vì mỗi con người (dù là chân sư hay người thường) đều kiến tạo và sáng tạo các Hình tư tưởng của mình—một cách có ý thức hay vô thức—trong các khối cầu hành tinh ở ba cõi thấp.

201. When solar force is further transformed or attenuated such that it expresses within the planetary sphere, it is to be termed “planetary force”.

201. Khi mãnh lực thái dương được chuyển đổi hoặc làm suy giảm thêm đến mức nó biểu lộ trong khối cầu hành tinh, thì nó được gọi là “mãnh lực hành tinh”.

202. We can see that both solar and planetary forces are essential cosmic in origin.

202. Chúng ta có thể thấy rằng cả mãnh lực thái dương lẫn mãnh lực hành tinh đều có nguồn gốc thiết yếu là vũ trụ.

203. When DK speaks of planetary force, does He mean “lunar force”? He does not say.

203. Khi Chân sư DK nói đến mãnh lực hành tinh, Ngài có muốn nói đến “mãnh lực thái âm” không? Ngài không nói.

204. When human beings create thoughtforms, they are working with planetary force, which is, more essentially, solar force and originally, cosmic force.

204. Khi con người tạo ra các hình tư tưởng, họ đang làm việc với mãnh lực hành tinh, mà về bản chất sâu xa hơn là mãnh lực thái dương và nguyên thuỷ là mãnh lực vũ trụ.

We shall now come to a considerable amount of tabulation, for all that it is wise and possible to give at this time are certain facts, names and outlines which can only be demonstrated through the law of correspondence.

Giờ đây chúng ta sẽ đi đến một lượng đáng kể các bảng biểu, vì tất cả những gì khôn ngoan và có thể được ban ra vào lúc này chỉ là một số sự kiện, danh xưng và đại cương, mà chỉ có thể được chứng minh qua định luật tương ứng.

205. DK will present in such a manner that some degree of clarity can enter our minds. He is careful, however not to divulge too much at this early stage of our understanding. From the presented tables and correspondences we must deduce and intuit what we can.

205. Chân sư DK sẽ trình bày theo cách để một mức độ minh bạch nào đó có thể đi vào trí tuệ chúng ta. Tuy nhiên, Ngài cẩn trọng không tiết lộ quá nhiều ở giai đoạn sớm này của sự thấu hiểu của chúng ta. Từ các bảng biểu và các tương ứng được trình bày, chúng ta phải suy diễn và trực giác điều mình có thể.

The key to comprehension is always this law. 

Chìa khóa của sự lĩnh hội luôn luôn là định luật này. 

206. As we have studied TCF, have we realized the power of the Law of Correspondences? We should be gaining increased facility in working with this law.

206. Khi đã nghiên cứu Luận về Lửa Vũ Trụ, liệu chúng ta đã nhận ra quyền năng của định luật tương ứng chưa? Chúng ta nên ngày càng thành thạo hơn trong việc vận dụng định luật này.

207. DK does not tell us merely that one of the keys to comprehension is the Law of Correspondences, but that this law is always the key.

207. Chân sư DK không chỉ nói với chúng ta rằng một trong những chìa khóa của sự lĩnh hội là Định luật Tương ứng, mà còn rằng định luật này luôn luôn là chìa khóa.

The basic differentiation in the solar system is as follows:

Sự biến phân căn bản trong hệ mặt trời như sau:

Agni……..Electric fire………Spirit……Central Spiritual Sun..Energy

Agni……..Lửa Điện………Tinh thần……Mặt trời Tinh thần Trung Ương..Năng lượng

Surya……Solar fire…………Vishnu….Heart of the Sun………Light

Surya……Lửa Thái dương…………Vishnu….Tâm Mặt Trời………Ánh sáng

Brahma…Fire by friction………………Physical visible Sun….Fohat

Brahma…Lửa ma sát………………Mặt Trời hữu hình hồng trần….Fohat

208. We note the apparent equivalence of Surya and Vishnu. It is interesting that in these enumerations “Surya” is consistently substituted for “Vishnu” in the usual sequence “Brahma-Vishnu-Shiva”.

208. Chúng ta lưu ý sự tương đương bề ngoài giữa Surya và Vishnu. Điều đáng chú ý là trong các liệt kê này, “Surya” luôn được thay thế cho “Vishnu” trong trình tự quen thuộc “Brahma-Vishnu-Shiva”.

209. As well, Agni which is usually associated with the mental plane or with the cosmic mental plane is here designated as electric fire or Spirit. The term Spirit, however, may refer to Spirit as it manifests on the systemic planes (the subplanes of the cosmic physical plane) and not Spirit as it manifests on the cosmic planes.

209. Ngoài ra, Agni vốn thường được liên hệ với cõi trí hoặc với cõi trí vũ trụ, ở đây lại được chỉ định là Lửa Điện hay Tinh thần. Tuy nhiên, thuật ngữ Tinh thần có thể chỉ Tinh thần như nó biểu hiện trên các cõi của hệ thống (các cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ), chứ không phải Tinh thần như nó biểu hiện trên các cõi vũ trụ.

210. Energy is also put into a position superior to both “Light” and “Fohat”.

210. Năng lượng cũng được đặt vào một vị trí cao hơn cả “Ánh sáng” lẫn “Fohat”.

211. In some ways it makes sense to correlate Agni with Fohat.

211. Theo một số phương diện, việc tương liên Agni với Fohat là hợp lý.

212. We note that the triplicity of “Spirit-Vishnu…” is not completed.

212. Chúng ta lưu ý rằng bộ ba “Tinh thần-Vishnu…” không được hoàn tất.

213. In general there is a mixture of terms in this tabulation, but the mixture can offer new insights.

213. Nói chung, có một sự pha trộn các thuật ngữ trong bảng này, nhưng sự pha trộn ấy có thể đem lại những nhận thức mới.

214. We are speaking of the differentiated expressions of the Solar Logos.

214. Chúng ta đang nói về các biểu hiện đã biến phân của Thái dương Thượng đế.

As electric fire the Logos manifests as the seven aspects of Will, spiritual impulse or purpose.

Như Lửa Điện Thượng đế biểu hiện như bảy phương diện của Ý Chí, xung động tinh thần hay mục đích.

215. The seven aspects of will are those aspects manifesting on the cosmic physical plane, but they also manifest on the cosmic astral plane and on the lower subplanes of the cosmic mental plane.

215. Bảy phương diện của ý chí là những phương diện biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ, nhưng chúng cũng biểu hiện trên cõi cảm dục vũ trụ và trên các cõi phụ thấp của cõi trí vũ trụ.

216. Probably we are not yet speaking of cosmic electric fire as it manifests through the solar logoic Monad.

216. Có lẽ chúng ta chưa nói đến Lửa Điện vũ trụ như nó biểu hiện qua chân thần logoi thái dương.

217. Will, spiritual impulse and purpose are equated. They can be associated with the energies of the seven stars (or, rather, Logoic of the Great Bear) expressing in their will aspect.

217. Ý chí, xung động tinh thần và mục đích được xem là tương đương. Chúng có thể được liên hệ với các năng lượng của bảy ngôi sao (hay đúng hơn, các Đấng Logoic của Đại Hùng Tinh) biểu lộ trong phương diện ý chí của các Ngài.

As solar fire He manifests as the seven Rays, or as the Light of Wisdom, the Consciousness, radiating through the form.

Như Lửa Thái dương Ngài biểu hiện như bảy cung, hay như Ánh sáng của minh triết, Tâm thức, đang bức xạ qua hình tướng.

218. Let us look at the equivalences:

218. Chúng ta hãy xem các tương đương:

a. Seven Rays

a. Bảy cung

b. Light of Wisdom

b. Ánh sáng của minh triết

c. Consciousness radiating through the form.

c. Tâm thức bức xạ qua hình tướng.

d. The seven rays can manifest through a first aspect and also through a second aspect. The first aspect manifestation of the rays relates to will and purpose; the second aspect manifestation relates to consciousness. There is also a third aspect of the rays which relates to intelligent activity and form.

d. Bảy cung có thể biểu hiện qua phương diện thứ nhất và cũng qua phương diện thứ hai. Sự biểu hiện của các cung qua phương diện thứ nhất liên hệ đến ý chí và mục đích; sự biểu hiện qua phương diện thứ hai liên hệ đến tâm thức. Cũng có một phương diện thứ ba của các cung liên hệ đến hoạt động thông tuệ và hình tướng.

e. The Great Bear is associated with the will aspect of the seven rays; Sirius (the Sirian System) and (on a higher turn of the spiral) the Little Bear are associated with the consciousness aspect of the seven rays; the Pleiades are associated with the intelligent activity aspect of the seven rays.

e. Đại Hùng Tinh được liên hệ với phương diện ý chí của bảy cung; Sirius (Hệ thống Sirian) và (ở một vòng xoắn cao hơn) Tiểu Hùng Tinh được liên hệ với phương diện tâm thức của bảy cung; Pleiades được liên hệ với phương diện hoạt động thông tuệ của bảy cung.

As fire by friction He manifests as the seven Sons of Fohat, the seven great fires, or the active heat of intelligent substance.

Như Lửa ma sát Ngài biểu hiện như bảy Con của Fohat, bảy đại hỏa, hay nhiệt năng hoạt động của chất liệu thông tuệ.

219. Upon the cosmic physical plane, the “seven Sons of Fohat” manifest especially on the five lower subplanes, and yet active intelligent substance exists on all seven subplanes of the cosmic physical plane.

219. Trên cõi hồng trần vũ trụ, “bảy Con của Fohat” biểu hiện đặc biệt trên năm cõi phụ thấp, tuy nhiên chất liệu thông tuệ hoạt động vẫn hiện hữu trên cả bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ.

220. Note the association of heat, activity, intelligence and substance.

220. Hãy lưu ý sự liên hệ giữa nhiệt, hoạt động, thông tuệ và chất liệu.

221. Since the personality of the Solar Logos includes all the lower eighteen cosmic subplanes, the thee modes of manifestation apply to all of these cosmic subplanes.

221. Vì phàm ngã của Thái dương Thượng đế bao gồm toàn bộ mười tám cõi phụ vũ trụ thấp, nên ba phương thức biểu hiện này áp dụng cho tất cả các cõi phụ vũ trụ ấy.

222. All these modes of manifestation are considered to occur within Agni considered as the personality of the Solar Logos (i.e., the Being expressing through the lower eighteen cosmic subplanes).

222. Tất cả các phương thức biểu hiện này được xem là xảy ra trong Agni, được xét như phàm ngã của Thái dương Thượng đế (tức là Đấng biểu lộ qua mười tám cõi phụ vũ trụ thấp).

These three aspects of the God of Fire, and of the fire of God, are the three Entities of the logoic Trinity, and each in turn manifests through seven other Entities Who form their total manifestation.

Ba phương diện này của Thượng đế của Lửa, và của lửa của Thượng đế, là ba Thực Thể của Tam Vị logoi, và mỗi vị đến lượt mình biểu hiện qua bảy Thực Thể khác tạo thành toàn bộ sự biểu hiện của các vị ấy.

223. We continue to speak of Shiva, Surya and Brahma; of Energy, Light and Fohat.

223. Chúng ta tiếp tục nói về Shiva, Surya và Brahma; về Năng lượng, Ánh sáng và Fohat.

224. Each of three cosmic aspects manifests through seven subsidiary Entities or Fires. Such secondary Entities are emanated mind-born “Sons”.

224. Mỗi một trong ba phương diện vũ trụ biểu hiện qua bảy Thực Thể phụ thuộc hay bảy Lửa. Những Thực Thể thứ cấp như thế là các “Con” được xuất lộ, sinh ra từ trí tuệ.

225. We are speaking of the three aspects of the Solar Logos as these aspects manifest through the three vehicles of Agni but especially upon the cosmic physical plane (which is the plane on which our spiritual development is, perforce, focussed).

225. Chúng ta đang nói về ba phương diện của Thái dương Thượng đế khi các phương diện này biểu hiện qua ba vận cụ của Agni, nhưng đặc biệt là trên cõi hồng trần vũ trụ (là cõi mà trên đó sự phát triển tinh thần của chúng ta, do tất yếu, được tập trung).

226. We can correlate these three cosmic aspects of the Solar Logos with the three energies emanating from the solar logoic mental unit which animate the mental permanent atoms, egoic lotuses and mental units on the systemic mental plane.

226. Chúng ta có thể tương liên ba phương diện vũ trụ này của Thái dương Thượng đế với ba năng lượng phát ra từ đơn vị hạ trí logoi thái dương, vốn làm sinh động các nguyên tử trường tồn trí tuệ, các Hoa Sen Chân Ngã và các đơn vị hạ trí trên cõi trí của hệ thống.

227. There are different ways to understand the term “logoic Trinity”. The lower mode of understanding sees the logoic Trinity expressing through Agni as the personality of the Solar Logos. A higher way of understanding the logoic Trinity places Agni as the lowest aspect of the Trinity, the solar logoic Ego as the second aspect and the solar logoic Monad as the first aspect.

227. Có những cách khác nhau để hiểu thuật ngữ “Tam Vị logoi”. Cách hiểu thấp hơn nhìn Tam Vị logoi biểu lộ qua Agni như phàm ngã của Thái dương Thượng đế. Một cách hiểu cao hơn về Tam Vị logoi đặt Agni là phương diện thấp nhất của Tam Vị, chân ngã logoi thái dương là phương diện thứ hai và chân thần logoi thái dương là phương diện thứ nhất.

228. The twenty-one Entities, seven representing each of the three Persons of the logoic Trinity, are named below.

228. Hai mươi mốt Thực Thể, bảy vị đại diện cho mỗi một trong ba Ngôi của Tam Vị logoi, được nêu tên dưới đây.

Sevenfold electric fire. The seven types of spiritual existences, or the seven Spirits before the Throne in Their essential essence; the dynamic force or will lying back of all manifestation.

Lửa Điện thất phân. Bảy loại tồn tại tinh thần, hay Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai trong tinh chất cốt yếu của Các Ngài; mãnh lực năng động hay ý chí nằm phía sau mọi biểu hiện.

229. There are a number of “Thrones”; the Throne of Shamballa is one. The Throne of the Solar Logos is another.

229. Có một số “Thánh Ngai”; Thánh Ngai của Shamballa là một. Thánh Ngai của Thái dương Thượng đế là một cái khác.

230. The Ray Lords of Earth are Spirits before the Throne of Shamballa.

230. Các Đấng Chúa Tể Cung của Trái Đất là các Thánh Linh trước Thánh Ngai của Shamballa.

231. The planetary Ray Lords (cosmic Beings within our solar system) are the Spirits before the Throne of the Solar Logos.

231. Các Đấng Chúa Tể Cung hành tinh (các Hữu thể vũ trụ trong hệ mặt trời của chúng ta) là các Thánh Linh trước Thánh Ngai của Thái dương Thượng đế.

232. When the phrase “in Their essential essence” is used, we must wonder whether DK is referring to the cosmic monadic plane.

232. Khi cụm từ “trong tinh chất cốt yếu của Các Ngài” được dùng, chúng ta phải tự hỏi liệu Chân sư DK có đang quy chiếu đến cõi chân thần vũ trụ hay không.

233. And yet, the focus may not be that high, as “all manifestation” occurs within the body of expression of Agni, the personality of the Solar Logos expressing through the lowest eighteen cosmic subplanes.

233. Tuy vậy, tiêu điểm có thể không cao đến thế, vì “mọi biểu hiện” xảy ra trong thể biểu lộ của Agni, phàm ngã của Thái dương Thượng đế biểu lộ qua mười tám cõi phụ vũ trụ thấp nhất.

234. From this perspective, the higher levels of the cosmic mental plane may also lie “back of all manifestation”. We know that planes still higher (such as the cosmic buddhic plane, or cosmic atmic plane, etc.) definitely do.

234. Từ góc nhìn này, các cấp độ cao hơn của cõi trí vũ trụ cũng có thể nằm “phía sau mọi biểu hiện”. Chúng ta biết rằng các cõi còn cao hơn nữa (như cõi Bồ đề vũ trụ, hay cõi atma vũ trụ, v.v.) chắc chắn là như vậy.

235. Let us tabulate the names of these seven Existences related to the first aspect of divinity:

235. Chúng ta hãy lập bảng các danh xưng của bảy Tồn Tại này liên hệ với phương diện thứ nhất của thiên tính:

a. Sevenfold electric fire

a. Lửa Điện thất phân

b. The seven types of spiritual existences

b. Bảy loại tồn tại tinh thần

c. The seven Spirits before the throne in Their essential essence

c. Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai trong tinh chất cốt yếu của Các Ngài

d. The dynamic force of will lying back of all manifestation

d. Mãnh lực năng động của ý chí nằm phía sau mọi biểu hiện

They form on their own plane in a peculiar sense the logoic “Jewel in the Lotus,” and [Page 629] hence are inconceivable to our intelligence in this solar system, as They are not revealed until the “Son be made perfect,” or the logoic consciousness is fully awakened.

Các Ngài tạo thành, trên cõi riêng của mình, theo một ý nghĩa đặc biệt, “Ngọc trong Hoa Sen” logoi,” và do đó [Page 629] không thể được trí tuệ chúng ta trong hệ mặt trời này quan niệm nổi, vì Các Ngài không được mặc khải cho đến khi “Người Con được làm cho hoàn hảo,” hay tâm thức logoi được thức tỉnh trọn vẹn.

236. This is a highly esoteric section. Microcosmically, we usually understand the Jewel in the Lotus as focussed on the systemic higher mental plane. If we are speaking in cosmic terms, then the Jewel in the Lotus should, analogously, be a structure found on the cosmic higher mental plane.

236. Đây là một đoạn hết sức huyền bí. Ở cấp vi mô, chúng ta thường hiểu Ngọc trong Hoa Sen là được tập trung trên Cõi thượng trí của hệ thống. Nếu chúng ta đang nói theo các thuật ngữ vũ trụ, thì Ngọc trong Hoa Sen, theo phép tương đồng, phải là một cấu trúc được tìm thấy trên cõi thượng trí vũ trụ.

237. We know that Jewels in the Lotus are sevenfold, i.e., they have seven facets.

237. Chúng ta biết rằng các Ngọc trong Hoa Sen là thất phân, tức là chúng có bảy diện.

238. Each one of the Spirits of Darkness can be considered a radiation of the logoic Jewel in the Lotus on the cosmic higher mental plane.

238. Mỗi một trong các Thánh Linh của Bóng Tối có thể được xem là một bức xạ của Ngọc trong Hoa Sen logoi trên cõi thượng trí vũ trụ.

239. BUT, the true source of the Jewel in the Lotus is the Monad, which, itself, has been suggested as a “Jewel”.

239. NHƯNG, nguồn gốc đích thực của Ngọc trong Hoa Sen là chân thần, mà chính nó cũng đã được gợi ý như một “Ngọc”.

When the adept enters through the “luminous door” he has before him four very peculiar and esoteric IDENTIFICATIONS. This entrance takes place after he has passed the fifth Initiation and has demonstrated his fitness so to do through a long period of service in connection with our planetary evolution. These identifications eventually bring about within the jewel, which is essentially the true spiritual unit, a momentous happening, and are undergone within the monadic consciousness after the transcendence of the atmic sheath. (TCF 1246)

Khi chân sư đi vào qua “cánh cửa sáng chói”, trước mặt y có bốn sự ĐỒNG NHẤT HOÁ rất đặc biệt và huyền bí. Sự đi vào này diễn ra sau khi y đã vượt qua lần điểm đạo thứ năm và đã chứng tỏ sự xứng đáng để làm như vậy qua một thời kỳ phụng sự lâu dài liên hệ với sự tiến hoá hành tinh của chúng ta. Những sự đồng nhất hoá này cuối cùng tạo ra, bên trong ngọc, vốn về bản chất là đơn vị tinh thần đích thực, một biến cố trọng đại, và được trải qua trong tâm thức chân thần sau khi vượt khỏi thể atma. (TCF 1246)

240. From the above it is obvious that the “jewel” as represented in this paragraph is monadic in nature because the Jewel in the Lotus on the higher mental plane has long ago (well before mastership is attained) been destroyed.

240. Từ đoạn trên, hiển nhiên “ngọc” như được trình bày trong đoạn này có bản chất chân thần, bởi vì Ngọc trong Hoa Sen trên cõi thượng trí từ lâu rồi (rất lâu trước khi đạt chân sư quả) đã bị hủy diệt.

241. Therefore, we may be forced to think of the true monadic Jewel in the Lotus as also sevenfold, and of the causal Jewel in the Lotus as the sevenfold reflection of the sevenfold monadic original.

241. Do đó, chúng ta có thể buộc phải nghĩ đến Ngọc trong Hoa Sen chân thần đích thực cũng là thất phân, và Ngọc trong Hoa Sen nguyên nhân là sự phản chiếu thất phân của nguyên mẫu chân thần thất phân.

242. From this perspective, the Seven Spirits of Darkness may be related not only to the cosmic causal plane (the cosmic higher mental plane) but also to the cosmic monadic plane which may well be the source of the sevenfold radiations known as the Spirits of Darkness.

242. Từ góc nhìn này, Bảy Thánh Linh của Bóng Tối có thể liên hệ không chỉ với cõi nguyên nhân vũ trụ (cõi thượng trí vũ trụ) mà còn với cõi chân thần vũ trụ, vốn rất có thể là nguồn của các bức xạ thất phân được biết đến như các Thánh Linh của Bóng Tối.

243. If we consider this higher source of the Spirits of Darkness, then we would designate the logoic Trinity as the Monad, Ego and personality of the Solar Logos.

243. Nếu chúng ta xét đến nguồn cao hơn này của các Thánh Linh của Bóng Tối, thì chúng ta sẽ chỉ định Tam Vị logoi là chân thần, chân ngã và phàm ngã của Thái dương Thượng đế.

244. The “Son made perfect” (presumably our Solar Logos at His fifth initiation or, minimally, at His fourth= will not appear until after the causal body of the Solar Logos is destroyed. Therefore, the seven Spirits of Darkness cannot be sourced only in the causal body of the Solar Logos, but must necessarily have Their source above that plane.

244. “Người Con được làm cho hoàn hảo” (hẳn là Thái dương Thượng đế của chúng ta ở lần điểm đạo thứ năm của Ngài hoặc tối thiểu là ở lần điểm đạo thứ tư) sẽ không xuất hiện cho đến sau khi thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế bị hủy diệt. Do đó, bảy Thánh Linh của Bóng Tối không thể chỉ có nguồn gốc duy nhất trong thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế, mà tất yếu phải có nguồn gốc của Các Ngài ở trên cõi đó.

They are esoterically the “Spirits of Darkness.”

Các Ngài một cách huyền bí là “các Thánh Linh của Bóng Tối.”

245. We may often have noted that when the term “esoteric” is used, it has reference to the Monad.

245. Chúng ta có lẽ thường lưu ý rằng khi thuật ngữ “huyền bí” được dùng, nó quy chiếu đến chân thần.

246. This may be established on EP I 420, in which the three planets expressing the three major rays “esoterically” are tabulated—Uranus, Neptune and Saturn. It is obvious that DK is speaking of monadic rays.

246. Điều này có thể được xác lập ở EP I 420, trong đó ba hành tinh biểu lộ ba cung chính “một cách huyền bí” được lập bảng—Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và Sao Thổ. Hiển nhiên Chân sư DK đang nói về các cung chân thần.

Sevenfold solar fire. The seven Heavenly Men, the sumtotal of Light, the seven Rays of manifestation of the Spiritual Sun.

Lửa Thái dương thất phân. Bảy Đấng Thiên Nhân, tổng thể của Ánh sáng, bảy cung biểu hiện của Mặt Trời Tinh thần.

247. If the seven Heavenly Man are the Planetary Logoi, what are the Spirits of Darkness? Can they be considered the seven monadic aspects of the seven sacred Heavenly Men?

247. Nếu bảy Đấng Thiên Nhân là các Hành Tinh Thượng đế, thì các Thánh Linh của Bóng Tối là gì? Có thể xem các vị ấy là bảy phương diện chân thần của bảy thiêng liêng Đấng Thiên Nhân chăng?

248. What also is the “Spiritual Sun”? The term “Central Spiritual Sun” is not here used, so we are not necessarily speaking of the monadic aspect of the Solar Logos. Probably we are speaking of the soul aspect of the Solar Logos. From this perspective, the seven Rays can be thought of as emanating from the solar logoic Heart of the Sun (the logoic egoic lotus).

248. “Mặt Trời Tinh thần” cũng là gì? Ở đây không dùng thuật ngữ “Mặt trời Tinh thần Trung Ương”, nên chúng ta không nhất thiết đang nói về phương diện chân thần của Thái dương Thượng đế. Có lẽ chúng ta đang nói về phương diện linh hồn của Thái dương Thượng đế. Từ góc nhìn này, bảy cung có thể được nghĩ là phát ra từ Tâm Mặt Trời logoi thái dương (Hoa Sen Chân Ngã logoi).

249. We also know that there are a number of higher sources of these Rays. Probably they have emanative sources within the Central Spiritual Sun and also, as we have been taught, within the seven stars of the Great Bear. Their true Sources lie even beyond the Bear.

249. Chúng ta cũng biết rằng có một số nguồn cao hơn của các Cung này. Có lẽ chúng có các nguồn phát xạ trong Mặt trời Tinh thần Trung Ương và cũng, như chúng ta đã được dạy, trong bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh. Các Nguồn đích thực của chúng còn nằm vượt ra ngoài Đại Hùng Tinh.

250. Let us tabulate the names of these seven Beings Who represent the Vishnu aspect of the Solar Logos.

250. Chúng ta hãy lập bảng các danh xưng của bảy Hữu thể này, những vị đại diện cho phương diện Vishnu của Thái dương Thượng đế.

a. Sevenfold solar fire

a. Lửa Thái dương thất phân

b. Seven Heavenly Men

b. Bảy Đấng Thiên Nhân

c. The sumtotal of Light

c. Tổng thể của Ánh sáng

d. The seven Rays of manifestation of the Spiritual Sun

d. Bảy cung biểu hiện của Mặt Trời Tinh thần

e. The seven Rays of Light

e. Bảy Cung của Ánh sáng

In time and space these seven Rays of Light become the nine (the major three, with the third demonstrating as seven) and are thus esoterically the nine petals of the logoic Ego as He manifests in His physical vehicle.

Trong thời gian và không gian, bảy Cung của Ánh sáng này trở thành chín (ba cung chính, với cung thứ ba biểu lộ thành bảy) và do đó một cách huyền bí là chín cánh hoa của chân ngã logoi khi Ngài biểu hiện trong vận cụ hồng trần của Ngài.

251. If we reference Chart VI, TCF 373, we shall see the nine here discussed. Each one of the planetary schemes depicted is an expression of one of the seven or nine Rays of Light.

251. Nếu chúng ta tham chiếu Biểu đồ VI, TCF 373, chúng ta sẽ thấy số chín được bàn đến ở đây. Mỗi một hệ hành tinh được mô tả là một biểu hiện của một trong bảy hay chín Cung của Ánh sáng.

252. Nine is the number of the third ray. This ray is particularly related to physical manifestation—in this case cosmic physical manifestation.

252. Chín là con số của cung ba. Cung này đặc biệt liên hệ với sự biểu hiện hồng trần—trong trường hợp này là sự biểu hiện hồng trần vũ trụ.

253. The Rays of Light are clearly expressions of the nine petals of the logoic Ego. For our purposes, they are to be understood primarily as they manifest in the physical vehicle of the Solar Logos. This physical vehicle (consisting of both its etheric and dense physical parts) is located on the cosmic physical plane.

253. Các Cung của Ánh sáng rõ ràng là những biểu hiện của chín cánh hoa của chân ngã logoi. Đối với mục đích của chúng ta, chúng phải được hiểu chủ yếu như chúng biểu hiện trong vận cụ hồng trần của Thái dương Thượng đế. Vận cụ hồng trần này (bao gồm cả phần dĩ thái lẫn phần hồng trần đậm đặc) nằm trên cõi hồng trần vũ trụ.

They are esoterically the “Sons of Light.”

Các vị ấy một cách huyền bí là “Các Con của Ánh sáng.”

254. The “Sons of Light” are the mind-born Sons of Brahma, the Prajapatis. They are also known as the Planetary Logoi.

254. “Các Con của Ánh sáng” là các Con sinh ra từ trí tuệ của Brahma, các Prajapati. Các vị ấy cũng được biết đến như các Hành Tinh Thượng đế.

Sevenfold fire by friction. The seven brothers of Fohat. The seven manifestations of electricity, or of electrical phenomena. These are the seven Raja-Lords or Devas of the seven planes; they are the seven Fires, or those seven states of activity through which consciousness is expressing itself. They are the vehicles of consciousness and the seven vibrations. They are esoterically the “Brothers of energy.”

Lửa ma sát thất phân. Bảy huynh đệ của Fohat. Bảy biểu hiện của điện, hay của các hiện tượng điện. Đây là bảy Raja-Lords hay thiên thần của bảy cõi; các vị ấy là bảy Lửa, hay bảy trạng thái hoạt động mà qua đó tâm thức đang biểu lộ chính nó. Các vị ấy là các vận cụ của tâm thức và là bảy rung động. Các vị ấy một cách huyền bí là “Các Huynh Đệ của năng lượng.”

255. The “seven brothers of Fohat” are connected especially with the cosmic physical plane. They are the Raja Deva Lords of the seven systemic planes.

255. “Bảy huynh đệ của Fohat” đặc biệt liên hệ với cõi hồng trần vũ trụ. Các vị ấy là các Chúa Tể Raja Deva của bảy cõi của hệ thống.

256. Let us look at some of their names:

256. Chúng ta hãy xem một số danh xưng của các vị ấy:

a. Sevenfold Fire by Friction

a. Lửa ma sát thất phân

b. Seven “Brothers of Fohat”

b. Bảy “Huynh đệ của Fohat”

c. Seven manifestations of electricity or of electrical phenomena

c. Bảy biểu hiện của điện hay của các hiện tượng điện

d. The Raja Deva Lords of the seven systemic planes

d. Các Chúa Tể Raja Deva của bảy cõi của hệ thống

e. Seven Fires

e. Bảy Lửa

f. Seven states of activity through which consciousness is expressing itself

f. Bảy trạng thái hoạt động mà qua đó tâm thức đang biểu lộ chính nó

g. Vehicles of consciousness of the seven vibrations

g. Các vận cụ của tâm thức của bảy rung động

h. “Brothers of energy”

h. “Các Huynh Đệ của năng lượng”

257. How shall we consider Fohat? Is He not equivalent to Agni considered as the personality of the Solar Logos? If so, the range of expression of the “seven brothers of Fohat” (or also the ‘seven sons of Fohat’) must be higher than only the cosmic physical plane (though this plane is the principal focus of our present thought).

257. Chúng ta nên xem Fohat như thế nào? Chẳng phải Ngài tương đương với Agni được xét như phàm ngã của Thái dương Thượng đế sao? Nếu vậy, phạm vi biểu lộ của “bảy huynh đệ của Fohat” (hay cũng là “bảy con của Fohat”) phải cao hơn chỉ riêng cõi hồng trần vũ trụ (dù cõi này là tiêu điểm chính của tư tưởng hiện tại của chúng ta).

Therefore it will be apparent that the sumtotal of logoic manifestation as it can be seen in existence in time and space is:

Do đó, sẽ hiển nhiên rằng tổng thể sự biểu hiện logoi như nó có thể được thấy là hiện hữu trong thời gian và không gian là:

Seven Spirits……………sevenfold will.

Bảy Thánh Linh……………ý chí thất phân.

Seven Rays……………..sevenfold quality or psyche.

Bảy Cung……………..phẩm tính hay tâm thức thất phân.

Seven Deva Lords……sevenfold form.

Bảy Chúa Tể Deva……hình tướng thất phân.

258. What is the realm of time and space? Different reasonable answers might be as follows:

258. Cõi của thời gian và không gian là gì? Những câu trả lời hợp lý khác nhau có thể như sau:

a. The realm of humanity’s physical brain consciousness

a. Cõi tâm thức bộ não hồng trần của nhân loại

b. The eighteen lower subplanes

b. Mười tám cõi phụ thấp

c. The entire cosmic physical plane

c. Toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ

d. The lower eighteen cosmic subplanes

d. Mười tám cõi phụ vũ trụ thấp

259. DK seems largely to be confining His focus to the cosmic physical plane even though the origin of the Energies and Entities He is discussing is obviously higher than the cosmic physical plane.

259. Dường như Chân sư DK phần lớn đang giới hạn trọng tâm của Ngài vào cõi hồng trần vũ trụ, mặc dù nguồn gốc của các Năng Lượng và các Thực Thể mà Ngài đang bàn đến hiển nhiên cao hơn cõi hồng trần vũ trụ.

260. From one perspective, the Seven Deva Lords, the Seven Rays and the Seven Spirits are all to be understood in relation to the cosmic physical plane and yet, if we do not consider still higher cosmic planes, we shall never be able to trace the true origin of these Entities.

260. Từ một góc nhìn, Bảy Đấng Chúa Tể Deva, Bảy cung và Bảy Thánh Linh đều phải được hiểu trong liên hệ với cõi hồng trần vũ trụ; tuy nhiên, nếu chúng ta không xét đến các cõi vũ trụ còn cao hơn nữa, chúng ta sẽ không bao giờ có thể truy nguyên nguồn gốc đích thực của các Thực Thể này.

261. From a higher perspective, while the Seven Raja Deva Lords are to be understood in relation to the cosmic physical plane, the Seven Rays and the Seven Spirits have a definitely higher focus as well as Their focus on the cosmic physical plane. The Monads of all three types of these Beings must certainly be located on cosmic planes higher than the cosmic physical plane.

261. Từ một góc nhìn cao hơn, trong khi Bảy Đấng Chúa Tể Raja Deva phải được hiểu trong liên hệ với cõi hồng trần vũ trụ, thì Bảy cung và Bảy Thánh Linh có một tiêu điểm rõ ràng cao hơn cũng như tiêu điểm của Các Ngài trên cõi hồng trần vũ trụ. Các chân thần của cả ba loại Hữu Thể này chắc chắn phải tọa lạc trên những cõi vũ trụ cao hơn cõi hồng trần vũ trụ.

262. We recall that the Seven Rays are expressions of the ninefold logoic causal body and that the Seven Spirits are expressions of the logoic Jewel in the Lotus (both in its causal and its monadic ‘locations’).

262. Chúng ta nhớ rằng Bảy cung là những biểu hiện của thể nguyên nhân logoic cửu phân và Bảy Thánh Linh là những biểu hiện của Ngọc Châu trong Hoa Sen logoic (cả trong các “vị trí” nguyên nhân lẫn chân thần của nó).

The latter are literally the seven spirillae, or force vibrations within the logoic physical permanent atom. This needs to be carefully borne in mind and pondered upon.

Những Đấng sau này theo nghĩa đen là bảy loa tuyến, hay những rung động mãnh lực bên trong nguyên tử trường tồn hồng trần logoic. Điều này cần được ghi nhớ cẩn thận và suy gẫm.

263. Here we have an idea of profound importance—that the seven Raja Deva Lords are really spirillae “within the logoic physical permanent atom”.

263. Ở đây chúng ta có một ý tưởng vô cùng quan trọng—rằng bảy Đấng Chúa Tể Raja Deva thực sự là các loa tuyến “bên trong nguyên tử trường tồn hồng trần logoic”.

264. We must put this idea together with the thought that “Saturn is in fact the correspondence to the logoic physical permanent atom”. (TCF 406)

264. Chúng ta phải đặt ý tưởng này cùng với tư tưởng rằng “Sao Thổ thật ra là đối phần với nguyên tử trường tồn hồng trần logoic”. (TCF 406)

265. The two ideas are not easy to unite. We might say that while Saturn is the correspondence to the logoic physical permanent atom, it is not the logoic physical permanent atom. That logoic physical permanent atom seems to have a systemic extension far greater than that of Saturn for the Raja Deva Lords are found everywhere without our solar system and are not confined to a particular systemic location or orbit.

265. Hai ý tưởng này không dễ hợp nhất. Chúng ta có thể nói rằng trong khi Sao Thổ là đối phần với nguyên tử trường tồn hồng trần logoic, thì nó không phải là nguyên tử trường tồn hồng trần logoic. Nguyên tử trường tồn hồng trần logoic ấy dường như có một sự mở rộng hệ thống lớn hơn nhiều so với Sao Thổ, vì các Đấng Chúa Tể Raja Deva hiện diện khắp nơi trong hệ mặt trời của chúng ta và không bị giới hạn vào một vị trí hay quỹ đạo hệ thống riêng biệt nào.

266. What we have to grasp is that the Raja Deva Lords are at once logoic spirillae and vibrations.

266. Điều chúng ta phải nắm bắt là các Đấng Chúa Tể Raja Deva đồng thời vừa là các loa tuyến logoic vừa là các rung động.

The seven Rays are the sumtotal of the psychic nature of the Logos, as it radiates through His physical form—His seven qualities, the aggregate of the expression of His desire, or love nature.

Bảy cung là tổng thể của bản chất thông linh của Thượng đế, khi nó bức xạ qua hình tướng hồng trần của Ngài—bảy phẩm tính của Ngài, tổng hợp của sự biểu lộ bản chất dục vọng, hay bản chất bác ái của Ngài.

267. The “seven Rays” are psychic in nature. Here They are related to the physical form of the Solar Logos, but They express His desire or love nature.

267. “Bảy cung” có bản chất thông linh. Ở đây Các Ngài được liên hệ với hình tướng hồng trần của Thái dương Thượng đế, nhưng Các Ngài biểu lộ bản chất dục vọng hay bản chất bác ái của Ngài.

268. It seems reasonable to think that ‘above’ the Logos’ physical form (which is found on the cosmic physical plane) these Rays would still be called “Rays” and would still have a psychic and qualitative effect—for instance on the logoic astral body (on the cosmic astral plane) and on the logoic mental body on the logoic mental plane.

268. Có vẻ hợp lý khi nghĩ rằng ‘bên trên’ hình tướng hồng trần của Thượng đế (vốn được tìm thấy trên cõi hồng trần vũ trụ), các cung này vẫn sẽ được gọi là “cung” và vẫn sẽ có một tác động thông linh và phẩm tính—chẳng hạn trên thể cảm dục logoic (trên cõi cảm dục vũ trụ) và trên thể trí logoic ở cõi trí logoic.

269. While this may be the case, we are confining our consideration primarily to the cosmic physical plane.

269. Mặc dù có thể là như vậy, chúng ta chủ yếu đang giới hạn sự xem xét của mình vào cõi hồng trần vũ trụ.

The seven Spirits are the sumtotal of His Will-to-be aspect, the synthetic Life of His total manifestation, that which causes the persistence [Page 630] of the form, and its evolution for as long as the logoic Ego seeks physical existence.

Bảy Thánh Linh là tổng thể của phương diện Ý Chí-hiện hữu của Ngài, Sự sống tổng hợp của toàn bộ sự biểu hiện của Ngài, điều gây ra sự bền tồn [Page 630] của hình tướng, và sự tiến hoá của nó chừng nào Chân ngã logoic còn tìm kiếm sự hiện hữu hồng trần.

270. The true plane of the “seven Spirits” is obviously not the cosmic physical plane. We are, however, speaking of the effect of these Spirits on the cosmic physical plane, causing the “persistence of the form, and its evolution for as long as the logoic Ego seeks physical existence”.

270. Cõi đích thực của “bảy Thánh Linh” hiển nhiên không phải là cõi hồng trần vũ trụ. Tuy nhiên, chúng ta đang nói về tác động của các Thánh Linh này trên cõi hồng trần vũ trụ, gây ra “sự bền tồn của hình tướng, và sự tiến hoá của nó chừng nào Chân ngã logoic còn tìm kiếm sự hiện hữu hồng trần”.

271. Upon what cosmic plane is the cosmic “Will-to-be” found? If we are considering the “Will-to-be” in cosmic physical manifestation then the cosmic “Will-to-be” emanates from the plane of the solar logoic Ego (the cosmic higher mental plane).

271. Ý Chí-hiện hữu vũ trụ được tìm thấy trên cõi vũ trụ nào? Nếu chúng ta đang xét Ý Chí-hiện hữu trong sự biểu hiện hồng trần vũ trụ, thì Ý Chí-hiện hữu vũ trụ phát xuất từ cõi của Chân ngã thái dương logoic (cõi thượng trí vũ trụ).

272. If we are considering the “Will-to-be” as impulsing both cosmic egoic and cosmic triadal expressions, then it will emanate from the cosmic monadic plane.

272. Nếu chúng ta đang xét Ý Chí-hiện hữu như đang thúc đẩy cả những biểu hiện chân ngã vũ trụ lẫn tam nguyên tinh thần vũ trụ, thì nó sẽ phát xuất từ cõi chân thần vũ trụ.

273. But it must be born in mind that during this second ray solar system, it is unlikely that anything like pure solar logoic Will can be expressed or experienced. Thus, for practical purposes, the solar logoic “Will-to-be” should be considered as emanating from the cosmic higher mental plane on which the logoic Ego can be found.

273. Nhưng phải ghi nhớ rằng trong hệ mặt trời cung hai này, khó có khả năng bất cứ điều gì giống như Ý Chí thuần túy của thái dương logoic có thể được biểu lộ hay được kinh nghiệm. Vì vậy, trên thực tế, “Ý Chí-hiện hữu” của thái dương logoic nên được xem là phát xuất từ cõi thượng trí vũ trụ, nơi có thể tìm thấy Chân ngã logoic.

To carry the simile, or analogy, even further back and thus bear in mind the resemblance between microcosmic and macrocosmic development we have:

Để tiếp tục phép so sánh, hay phép loại suy, lùi xa hơn nữa và như thế ghi nhớ sự tương tự giữa sự phát triển của tiểu thiên địa và đại thiên địa, chúng ta có:

1. The seven Spirits who find Their originating incentive on:

1. Bảy Thánh Linh tìm thấy động lực khởi nguyên của Các Ngài trên:

a. The cosmic lower mental levels.

a. Các cấp độ hạ trí vũ trụ.

b. The logoic “Jewel in the Lotus.”

b. “Ngọc Châu trong Hoa Sen” logoic.

c. The cosmic atmic plane.

c. Cõi atma vũ trụ.

274. DK now shows definitely that it is legitimate to think of the originating incentive of the seven Spirits on planes higher than the cosmic lower mental plane (i.e., within the mind nature of cosmic Agni).

274. Giờ đây Chân sư DK cho thấy rõ ràng rằng thật chính đáng khi nghĩ về động lực khởi nguyên của bảy Thánh Linh trên những cõi cao hơn cõi hạ trí vũ trụ (tức là, bên trong bản chất trí tuệ của Agni vũ trụ).

275. If we were to be entirely accurate, we would carry the incentive back to the cosmic monadic plane. Chart VII on TCF 817 shows that whatever emanates from the atmic permanent atom is directly related to the highest aspect of the human Monad. We can extend the analogy, imagining that the cosmic atmic plane is directly connected to the cosmic monadic plane.

275. Nếu chúng ta hoàn toàn chính xác, chúng ta sẽ truy ngược động lực ấy về cõi chân thần vũ trụ. Biểu đồ VII ở TCF 817 cho thấy rằng bất cứ điều gì phát xuất từ nguyên tử trường tồn atma đều liên hệ trực tiếp với phương diện cao nhất của chân thần con người. Chúng ta có thể mở rộng phép loại suy, hình dung rằng cõi atma vũ trụ được nối kết trực tiếp với cõi chân thần vũ trụ.

2. The seven Heavenly Men are in the line of force from:

2. Bảy Đấng Thiên Nhân nằm trong tuyến mãnh lực từ:

a. The cosmic astral plane.

a. Cõi cảm dục vũ trụ.

b. The logoic nine-petalled lotus.

b. Hoa sen cửu cánh logoic.

c. The cosmic buddhic plane (the seven Rishis of the Great Bear).

c. Cõi Bồ đề vũ trụ (bảy Đấng Rishi của Đại Hùng Tinh).

276. Again as is suggested in the Chart V, TCF 344, the “seven Rishis of the Great Bear” are associated with the cosmic buddhic plane, and yet on TCF 1162, the true plane of the seven Rishis is hinted as the cosmic atmic plane, for it is the Pleiades (presumably seven or nine of them) that are given as representatives of cosmic buddhi.

276. Một lần nữa, như được gợi ý trong Biểu đồ V, TCF 344, “bảy Đấng Rishi của Đại Hùng Tinh” được liên kết với cõi Bồ đề vũ trụ; tuy nhiên ở TCF 1162, cõi đích thực của bảy Đấng Rishi được ám chỉ là cõi atma vũ trụ, vì chính Pleiades (có lẽ là bảy hay chín ngôi) được nêu ra như những đại diện của Bồ đề vũ trụ.

277. It is interesting and important to realize that a stream of energy has a number of sources, each higher than the next. We cannot reasonably imagine that the highest of the sources here listed is the ultimate source.

277. Thật thú vị và quan trọng khi nhận ra rằng một dòng năng lượng có một số nguồn, mỗi nguồn lại cao hơn nguồn kế tiếp. Chúng ta không thể hợp lý mà tưởng tượng rằng nguồn cao nhất được liệt kê ở đây là nguồn tối hậu.

3. The seven Sons of Fohat find their vital force emanating from:

3. Bảy Con của Fohat tìm thấy mãnh lực sinh động của mình phát xuất từ:

a. The cosmic physical plane.

a. Cõi hồng trần vũ trụ.

b. The logoic permanent atoms (within the causal body).

b. Các nguyên tử trường tồn logoic (bên trong thể nguyên nhân).

c. The cosmic higher mental levels.

c. Các cấp độ thượng trí vũ trụ.

278. The very sources for these energies which seemed to be implied in the foregoing pages are at last given explicitly, though probably not completely.

278. Những nguồn gốc đích thực của các năng lượng này, vốn dường như được hàm ý trong các trang trước, cuối cùng đã được nêu ra một cách minh nhiên, dù có lẽ chưa hoàn toàn.

279. We now see that although the expression of the “seven Sons of Fohat” on the cosmic physical plane is the main focus of the foregoing pages, the origin of these energies is much higher, including the logoic permanent atoms (the cosmic physical permanent atom, the cosmic astral permanent atom and the logoic mental unit) and also, presumably, the manasic permanent atom on the higher cosmic mental plane—an aspect of the logoic spiritual triad (which seems to be implicated in the descent).

279. Giờ đây chúng ta thấy rằng mặc dù sự biểu lộ của “bảy Con của Fohat” trên cõi hồng trần vũ trụ là trọng tâm chính của các trang trước, nguồn gốc của các năng lượng này cao hơn nhiều, bao gồm các nguyên tử trường tồn logoic (nguyên tử trường tồn hồng trần vũ trụ, nguyên tử trường tồn cảm dục vũ trụ và đơn vị hạ trí logoic) và cũng, có lẽ, nguyên tử trường tồn manas trên cõi thượng trí vũ trụ—một phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần logoic (dường như có liên can trong sự giáng hạ).

280. Apparently, the “seven Sons of Fohat” have sources that rise no higher than the manasic nature of the Solar Logos. Given, however, that Cosmic Brahma extends all the way to the cosmic atmic plane, and that atma is intelligence as well as will, we may be justified in tracing the source of “seven Sons of Fohat” to that cosmic plane on which cosmic Brahma is most fully represented—the cosmic atmic plane.

280. Dường như, “bảy Con của Fohat” có những nguồn không vươn cao hơn bản chất manas của Thái dương Thượng đế. Tuy nhiên, vì Brahma Vũ Trụ kéo dài đến tận cõi atma vũ trụ, và atma là trí tuệ cũng như ý chí, nên chúng ta có thể có lý khi truy nguyên nguồn của “bảy Con của Fohat” đến cõi vũ trụ mà trên đó Brahma Vũ Trụ được biểu hiện đầy đủ nhất—cõi atma vũ trụ.

Yet these three are but the expressions of One Existence, for behind the Logos in physical incarnation is to be found the logoic Monad, expressing Itself through the logoic Ego, and its reflection, the logoic Personality.

Tuy nhiên, ba điều này chỉ là những biểu hiện của Một Hiện Hữu, vì đằng sau Thượng đế đang lâm phàm hồng trần có thể tìm thấy chân thần logoic, tự biểu lộ qua Chân ngã logoic, và sự phản chiếu của nó, Phàm ngã logoic.

281. While taking pains to carefully differentiate one aspect from another, the Tibetan always closes such a discussion on note of unity. The factors which has been differentiated are yet, essentially, all expressions of One Existence.

281. Trong khi cẩn trọng phân biệt phương diện này với phương diện khác, Chân sư Tây Tạng luôn kết thúc một cuộc thảo luận như thế trên nốt hợp nhất. Những yếu tố đã được phân biệt ấy, về bản chất, vẫn đều là những biểu hiện của Một Hiện Hữu.

282. Here we see DK having recourse to the ultimate logoic Trinity—the logoic Monad, the logoic Ego and the logoic Personality. There are, as previously stated, a number of logoic Trinities, the lesser of them contained within the greater.

282. Ở đây chúng ta thấy Chân sư DK viện đến Tam Vị logoic tối hậu—chân thần logoic, Chân ngã logoic và Phàm ngã logoic. Như đã nói trước đây, có một số Tam Vị logoic, những tam vị nhỏ hơn được chứa trong tam vị lớn hơn.

All these spiritual Essences are individualised self-conscious Identities, and the “Fiery Lives” are real, and conscious, vital Existences. Thus we see the Logos manifesting as One Unity yet Three in One; we see the threefold Unity differentiating into the seven great Lives, containing within Themselves all lesser lives.

Tất cả những Tinh Túy tinh thần này đều là những Bản Sắc hữu thức-ngã đã được biệt ngã hóa, và các “Sự Sống Rực Lửa” là những Hiện Hữu sống động, có thực và có tâm thức. Như vậy chúng ta thấy Thượng đế biểu lộ như Một Hợp Nhất nhưng Ba trong Một; chúng ta thấy Hợp Nhất tam phân phân hoá thành bảy Sự Sống vĩ đại, chứa trong Chính Các Ngài mọi sự sống nhỏ hơn.

283. Here is a synthetic statement. DK speaks of the Great Existences as real, individualized, self-conscious “Fiery Lives”.

283. Đây là một phát biểu tổng hợp. Chân sư DK nói về các Hiện Hữu Vĩ Đại như những “Sự Sống Rực Lửa” có thực, đã được biệt ngã hóa và hữu thức-ngã.

284. The differentiation proceeds from the One to the Three and,thence, to the Seven—every member of the Three differentiating into a Seven, just as the One differentiated into a Three.

284. Sự phân hoá tiến từ Một đến Ba và từ đó đến Bảy—mỗi thành viên của Bộ Ba phân hoá thành một Bảy, cũng như Một đã phân hoá thành một Ba.

285. DK affirms the reality of the logoic Trinity and yet its essential oneness.

285. Chân sư DK khẳng định tính có thực của Tam Vị logoic, nhưng đồng thời cũng khẳng định tính nhất thể cốt yếu của nó.

286. All the lives in our solar system are contained within the One Existence, its threefold differentiation, and the twenty-one fold differentiation arising from the Three.

286. Mọi sự sống trong hệ mặt trời của chúng ta đều được chứa trong Một Hiện Hữu, trong sự phân hoá tam phân của nó, và trong sự phân hoá hai mươi mốt phần phát sinh từ Bộ Ba.

287. Truly the great “Fiery Lives” are within us (as human beings) tiny though we are. In fact, we are, in essence, those very Fiery Lives. Can we in any way feel this?

287. Quả thật các “Sự Sống Rực Lửa” vĩ đại ở bên trong chúng ta (với tư cách những con người), dù chúng ta nhỏ bé đến đâu. Thật ra, về bản chất, chúng ta chính là những Sự Sống Rực Lửa ấy. Liệu chúng ta có thể bằng cách nào đó cảm nhận được điều này không?

Another broad differentiation must next be touched upon:

Tiếp theo phải đề cập đến một sự phân hoá rộng lớn khác:

288. DK proceeds with still further differentiations, for the “seven Fires” are each to be differentiated into forty-nine.

288. Chân sư DK tiếp tục với những sự phân hoá sâu hơn nữa, vì “bảy Lửa” mỗi cái đều phải được phân hoá thành bốn mươi chín.

[Page 631]

[Page 631]

a. The seven Fires form the forty-nine Fires.

a. Bảy Lửa tạo thành bốn mươi chín Lửa.

289. From the perspective above the cosmic physical plane, the forty-nine fires would each of them be associated with one of the forty-nine systemic subplanes of the cosmic physical plane.

289. Từ góc nhìn bên trên cõi hồng trần vũ trụ, bốn mươi chín lửa này mỗi cái sẽ được liên kết với một trong bốn mươi chín cõi phụ hệ thống của cõi hồng trần vũ trụ.

b. The seven Heavenly Men manifest through forty-nine lesser Rays.

b. Bảy Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua bốn mươi chín cung nhỏ hơn.

290. Each of these forty-nine lesser rays is to be considered as a subray of one of the major seven Rays.

290. Mỗi một trong bốn mươi chín cung nhỏ hơn này phải được xem là một cung phụ của một trong bảy cung chính.

c. The seven Spirits shew forth as forty-nine Existences.

c. Bảy Thánh Linh hiển lộ thành bốn mươi chín Hiện Hữu.

291. When DK uses the term “Existences” it is usually always to denote a Being of considerable stature.

291. Khi Chân sư DK dùng thuật ngữ “Hiện Hữu”, hầu như luôn luôn là để chỉ một Hữu Thể có tầm vóc đáng kể.

292. Another way of looking at the forty-nine Existences, is as monadic subrays of the seven major monadic types. Although, ultimately, there are only three principal monadic rays, from the planetary logoic standpoint there are seven monadic rays to be expressed. Each of these seven can, apparently, have seven subrays, though usually only the subrays of the three principal monadic rays are emphasized. (cf. TCF 176)

292. Một cách khác để nhìn bốn mươi chín Hiện Hữu là xem chúng như các cung phụ chân thần của bảy loại chân thần chính. Mặc dù rốt cuộc chỉ có ba cung chân thần chủ yếu, nhưng từ quan điểm của Hành Tinh Thượng đế thì có bảy cung chân thần cần được biểu lộ. Mỗi một trong bảy cung này, dường như, có thể có bảy cung phụ, dù thông thường chỉ các cung phụ của ba cung chân thần chủ yếu được nhấn mạnh. (xem TCF 176)

In connection with the Spirit aspect it will prove unprofitable to carry the thought any further. Of Spirit per se we can know nothing, and beyond predicating the forty-nine5 solar Manus (each of the Heavenly Men is expressing Himself on the physical plane through seven Manus) it is impossible to go.

Liên quan đến phương diện tinh thần, sẽ không có ích gì nếu mang tư tưởng này đi xa hơn nữa. Về tinh thần chính nó, chúng ta không thể biết gì, và ngoài việc khẳng định bốn mươi chín5 Đức Manu thái dương (mỗi Đấng Thiên Nhân đang biểu lộ chính Ngài trên cõi hồng trần qua bảy Đức Manu) thì không thể đi xa hơn được.

293. The Manus through which each Heavenly Man expresses Himself is considered a solar being.

293. Các Đức Manu mà qua đó mỗi Đấng Thiên Nhân biểu lộ chính Ngài được xem là một hữu thể thái dương.

294. A Manu is typically at least a sixth degree initiate and thus a direct expression of a Monad. Each of the seven Manus is not only a human Monad in expression, but is a differentiated expression of the Monad of a particular Heavenly Man.

294. Một Đức Manu thường ít nhất là một điểm đạo đồ cấp sáu và do đó là một biểu hiện trực tiếp của một chân thần. Mỗi một trong bảy Đức Manu không chỉ là một chân thần nhân loại đang biểu lộ, mà còn là một biểu hiện phân hoá của chân thần của một Đấng Thiên Nhân đặc thù.

295. Since we are speaking of Manus expressing on the physical plane we are probably speaking of Manus associated with rootraces.

295. Vì chúng ta đang nói về các Đức Manu biểu lộ trên cõi hồng trần, nên có lẽ chúng ta đang nói về các Đức Manu liên kết với các giống dân gốc.

296. DK advises that we can carry this speculation no further. We do see that sevenfold differentiations apply not only to the “seven Rays” as qualitative and psychic emanations, but also to the Spirit aspect.

296. Chân sư DK khuyên rằng chúng ta không thể đưa sự suy đoán này đi xa hơn nữa. Chúng ta thấy rằng các sự phân hoá thất phân không chỉ áp dụng cho “bảy cung” như những phát xạ phẩm tính và thông linh, mà còn áp dụng cho cả phương diện tinh thần.

FOOTNOTE 5:

CHÚ THÍCH 5:

The forty-nine Manus. They are the patrons or guardians of the race cycles in a manvantara, or Day of Brahma. There are seven races in a world period, and there are seven world periods.

Bốn mươi chín Đức Manu. Các Ngài là những vị bảo trợ hay hộ trì cho các chu kỳ nhân loại trong một giai kỳ sinh hóa, hay một Ngày của Brahma. Có bảy nhân loại trong một thời kỳ thế giới, và có bảy thời kỳ thế giới.

297. Each of the forty-nine solar Manus can be related to a planetary logoic chain. There are also lesser Manus related to each globe. There are still lesser Manus related to the rootraces. It may be that the lesser of such Manus are to be considered as overshadowed by greater Manus who Whom they correspond. Perhaps, when dealing with the highest type of Manus, the phenomenon of being mind-born may come to apply.

297. Mỗi một trong bốn mươi chín Đức Manu thái dương có thể được liên hệ với một dãy của Hành Tinh Thượng đế. Cũng có những Đức Manu nhỏ hơn liên hệ với mỗi bầu hành tinh. Lại còn có những Đức Manu nhỏ hơn nữa liên hệ với các giống dân gốc. Có thể những Đức Manu nhỏ hơn như thế phải được xem là được phủ bóng bởi những Đức Manu lớn hơn mà Các Ngài tương ứng. Có lẽ, khi bàn đến loại Đức Manu cao nhất, hiện tượng được sinh ra từ trí tuệ có thể được áp dụng.

298. A manvantara (in this context) is one seventh of world period or that portion of a round (manvantara) which passes through a particular globe.

298. Một giai kỳ sinh hóa (trong ngữ cảnh này) là một phần bảy của một thời kỳ thế giới, hay phần của một cuộc tuần hoàn (giai kỳ sinh hóa) đi qua một bầu hành tinh đặc thù.

299. From a higher perspective, a world period can be considered a chain period in relation to a scheme round. Such a world period would be one seventh of a complete scheme round or that portion of a scheme round which passes through a particular chain within a planetary scheme.

299. Từ một góc nhìn cao hơn, một thời kỳ thế giới có thể được xem là một thời kỳ dãy trong liên hệ với một cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh. Một thời kỳ thế giới như thế sẽ là một phần bảy của một cuộc tuần hoàn hoàn chỉnh của hệ hành tinh, hay phần của một cuộc tuần hoàn hệ hành tinh đi qua một dãy đặc thù trong một hệ hành tinh.

Therefore, in discussing these abstract questions, we will concern ourselves only with the seven Rays of Light, or Heavenly Men, and the seven Fires.

Vì vậy, khi bàn về những vấn đề trừu tượng này, chúng ta sẽ chỉ quan tâm đến bảy Cung Ánh Sáng, hay Bảy Đấng Thiên Nhân, và bảy Lửa.

300. We are confining ourselves to a discussion of the second and third aspects, leaving the first aspect temporarily to the side.

300. Chúng ta đang giới hạn mình vào việc bàn về phương diện thứ hai và thứ ba, tạm thời để phương diện thứ nhất sang một bên.

Each of the seven Rays of Light differentiates into seven making the forty-nine aspects of the logoic psychic nature, as it shews itself on the cosmic physical plane, and each of the seven Fires manifests as seven lesser Fires, making the forty-nine Fires referred to by H. P. B. in the Secret Doctrine.6 [See S. D., I, 567.]

Mỗi một trong bảy Cung Ánh Sáng phân hoá thành bảy, tạo nên bốn mươi chín phương diện của bản chất thông linh logoic, như nó hiển lộ trên cõi hồng trần vũ trụ, và mỗi một trong bảy Lửa biểu lộ thành bảy Lửa nhỏ hơn, tạo nên bốn mươi chín Lửa được H. P. B. nhắc đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm.6 [Xem S. D., I, 567.]

301. Again our attention is drawn to the cosmic physical plane and the forty-ninefold differentiations of energy upon that plane.

301. Một lần nữa sự chú ý của chúng ta được hướng về cõi hồng trần vũ trụ và những sự phân hoá bốn mươi chín phần của năng lượng trên cõi ấy.

302. The forty-nine aspects of the logoic psychic nature are forty-nine modes of consciousness, or forty nine subrays.

302. Bốn mươi chín phương diện của bản chất thông linh logoic là bốn mươi chín phương thức tâm thức, hay bốn mươi chín cung phụ.

303. The forty nine Fires are forty-nine modes of activity on the cosmic physical plane.

303. Bốn mươi chín Lửa là bốn mươi chín phương thức hoạt động trên cõi hồng trần vũ trụ.

The seven Heavenly Men manifest each through seven lesser Entities, Who form the psychic centres in Their body

Bảy Đấng Thiên Nhân mỗi Đấng biểu lộ qua bảy Thực Thể nhỏ hơn, các Đấng này tạo thành những trung tâm thông linh trong thể của Các Ngài

304. Such lesser Entities can be considered as Chain Lords Who are qualitatively different from each other and have differing modes and scopes of consciousness.

304. Những Thực Thể nhỏ hơn như thế có thể được xem là các Chúa Tể Dãy, những Đấng khác nhau về phẩm tính và có những phương thức cũng như phạm vi tâm thức khác nhau.

in the same manner as They—in Their turn—form the psychic centres in the logoic vahan or vehicle.

cũng theo cùng cách mà đến lượt Các Ngài tạo thành những trung tâm thông linh trong vahan hay vận cụ logoic.

305. The Seven Heavenly Men are psychic centers in the logoic vehicle. The logoic consciousness is qualitatively sevenfold. The consciousness of each of the Seven Heavenly Men is also sevenfold.

305. Bảy Đấng Thiên Nhân là những trung tâm thông linh trong vận cụ logoic. Tâm thức logoic có tính thất phân về phẩm tính. Tâm thức của mỗi một trong Bảy Đấng Thiên Nhân cũng là thất phân.

306. We can see that, taking into account all differentiations, the solar logoic consciousness is essentially forty-nine fold, though when lesser differentiations are admitted the differentiations of consciousness become far more complex.

306. Chúng ta có thể thấy rằng, nếu tính đến mọi sự phân hoá, tâm thức thái dương logoic về bản chất là bốn mươi chín phần, dù khi chấp nhận những sự phân hoá nhỏ hơn thì các sự phân hoá của tâm thức trở nên phức tạp hơn rất nhiều.

307. Psychic centers (according to their qualitative nature) are centers of conditioned consciousness. The one solar logoic consciousness is qualified and limited through each of its major seven and minor forty-nine psychic centers. After these major differentiations, the differentiations of solar logoic consciousness become multitudinous.

307. Các trung tâm thông linh (theo bản chất phẩm tính của chúng) là những trung tâm của tâm thức đã được tác động. Tâm thức thái dương logoic duy nhất được định tính và giới hạn qua mỗi một trong bảy trung tâm thông linh lớn và bốn mươi chín trung tâm thông linh nhỏ của nó. Sau những sự phân hoá lớn này, các sự phân hoá của tâm thức thái dương logoic trở nên vô số.

Each of the seven Fires, or Deva Lords, of a plane manifest through seven lesser devas, who form the central fire, and consciousness of the substance of a subplane.

Mỗi một trong bảy Lửa, hay các Đấng Chúa Tể Deva, của một cõi biểu lộ qua bảy thiên thần nhỏ hơn, các vị này tạo thành lửa trung tâm, và tâm thức của chất liệu của một cõi phụ.

308. We are given the structure of the seven major systemic planes and seven subplanes associated with each of the seven systemic planes.

308. Chúng ta được cho biết cấu trúc của bảy cõi hệ thống chính và bảy cõi phụ gắn liền với mỗi một trong bảy cõi hệ thống.

It is with their mutual interplay and work that we are now concerned, or with the study of matter as it is affected and built into form through the medium of Divine Thought or Will.

Chính sự tương tác hỗ tương và công việc của các vị ấy là điều chúng ta hiện đang quan tâm, hay là việc nghiên cứu vật chất khi nó bị tác động và được xây dựng thành hình tướng qua trung gian của Tư Tưởng hay Ý Chí thiêng liêng.

309. The interplay of matter and consciousness is our concern.

309. Sự tương tác giữa vật chất và tâm thức là điều chúng ta quan tâm.

310. We note that Will is not left out of the picture as (in our solar system) it is ‘contained’ within the second aspect.

310. Chúng ta lưu ý rằng Ý Chí không bị loại ra khỏi bức tranh, vì (trong hệ mặt trời của chúng ta) nó được “chứa” bên trong phương diện thứ hai.

Of the higher Fires (the Lords of the four higher planes) I do not seek to deal, for it only profits us to [Page 632] study the construction of thought-forms in the three worlds through the medium of deva essences;

Về các Lửa cao hơn (các Đấng Chúa Tể của bốn cõi cao hơn) tôi không tìm cách bàn đến, vì điều chỉ thực sự có ích cho chúng ta là [Page 632] nghiên cứu sự kiến tạo các hình tư tưởng trong ba cõi thấp qua trung gian của các tinh túy deva;

311. Our focus is still the cosmic physical plane as especially its densest dimensions. The four higher systemic planes (in this context) are the planes comprising the cosmic ethers.

311. Trọng tâm của chúng ta vẫn là cõi hồng trần vũ trụ, đặc biệt là những chiều kích đậm đặc nhất của nó. Bốn cõi hệ thống cao hơn (trong ngữ cảnh này) là những cõi cấu thành các dĩ thái vũ trụ.

312. The Lords of the four higher planes are Shiva, Vishnu/Surya, Brahma and Indra.

312. Các Đấng Chúa Tể của bốn cõi cao hơn là Shiva, Vishnu/Surya, Brahma và Indra.

313. DK is confining His attention to purposeful form-building as it works out in the dense physical body of the Solar Logos.

313. Chân sư DK đang giới hạn sự chú ý của Ngài vào việc kiến tạo hình tướng có mục đích khi nó được triển khai trong thể xác hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế.

314. Basically, the forms in the three lower worlds are thoughtforms. It is in this magical context that we will study form creation.

314. Về căn bản, các hình tướng trong ba cõi thấp là các hình tư tưởng. Chính trong ngữ cảnh huyền thuật này mà chúng ta sẽ nghiên cứu sự sáng tạo hình tướng.

315. In the lower three worlds, thoughtforms are composed of structured devic essences and, as well, of elemental essences.

315. Trong ba cõi thấp, các hình tư tưởng được cấu tạo từ những tinh túy deva có cấu trúc và cả từ các tinh chất hành khí nữa.

these are vitalised and manipulated by the Builders, the Dhyan Chohans, the Heavenly Men through the force of Their Life, through Their knowledge of the logoic Will or purpose, and through the power of Their psychic nature.

những thứ này được tiếp sinh lực và được các Đấng Kiến Tạo, các Dhyan Chohan, các Đấng Thiên Nhân điều khiển bằng mãnh lực của Sự sống của Các Ngài, bằng tri thức của Các Ngài về Ý Chí hay mục đích logoic, và bằng quyền năng của bản chất thông linh của Các Ngài.

316. We are speaking of the magical work of the Seven Heavenly Men.

316. Chúng ta đang nói về công việc huyền thuật của Bảy Đấng Thiên Nhân.

317. They are called by the following terms:

317. Các Ngài được gọi bằng những thuật ngữ sau:

a. The Seven Heavenly Men

a. Bảy Đấng Thiên Nhân

b. The Builders

b. Các Đấng Kiến Tạo

c. The Dhyan Chohans

c. Các Dhyan Chohan

318. We are speaking of the building and manipulation of thoughtforms in the three lower worlds. That manipulation, impulsed by the Heavenly Man, occurs through—

318. Chúng ta đang nói về việc kiến tạo và điều khiển các hình tư tưởng trong ba cõi thấp. Sự điều khiển ấy, được thúc đẩy bởi Đấng Thiên Nhân, diễn ra qua—

a. the force of Their life

a. mãnh lực của Sự sống của Các Ngài

b. their knowledge of the logoic Will or purpose,

b. tri thức của Các Ngài về Ý Chí hay mục đích logoic,

c. the power of Their psychic nature

c. quyền năng của bản chất thông linh của Các Ngài

319. We see that thoughtform building is accomplished through planetary logoic life, through the knowledge or logoic Will or purpose, and through the planetary logoic psychic nature.

319. Chúng ta thấy rằng việc kiến tạo hình tư tưởng được hoàn thành qua sự sống của Hành Tinh Thượng đế, qua tri thức về Ý Chí hay mục đích logoic, và qua bản chất thông linh của Hành Tinh Thượng đế.

320. Life can be placed at the center of a triangle with will-purpose, psychic quality and manipulative activity at the vertices.

320. Sự sống có thể được đặt ở trung tâm của một tam giác, với ý chí-mục đích, phẩm tính thông linh và hoạt động điều khiển ở các đỉnh.

Thus They are occupied in building the logoic physical body, and in carrying out His plans in that body, in this way fulfilling the purpose for which He incarnated.

Như vậy Các Ngài bận rộn trong việc kiến tạo thể xác hồng trần logoic, và trong việc thực hiện các kế hoạch của Ngài trong thể ấy, nhờ đó hoàn thành mục đích mà vì đó Ngài đã lâm phàm.

321. From this perspective, the Heavenly Men are the Greater Builders involved in carrying out the will of the Solar Logos as that will is intended to be expressed in the logoic physical body.

321. Từ góc nhìn này, các Đấng Thiên Nhân là những đấng đại kiến tạo tham gia vào việc thực hiện ý chí của Thái dương Thượng đế như ý chí ấy được dự định biểu lộ trong thể xác hồng trần logoic.

Their work is infinitely greater than this, for it lies primarily on cosmic levels,

Công việc của Các Ngài lớn lao hơn điều này vô hạn, vì nó chủ yếu nằm trên các cấp độ vũ trụ,

322. This is a point never to be forgotten, but it is seldom referenced because there is so little we can know of what a Heavenly Man accomplishes on the cosmic astral plane and cosmic mental plane.

322. Đây là một điểm không bao giờ được quên, nhưng hiếm khi được nhắc đến vì chúng ta biết quá ít về điều mà một Đấng Thiên Nhân hoàn thành trên cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ.

but this is what concerns us, and all that we can, in any way grasp.

nhưng đây là điều liên quan đến chúng ta, và là tất cả những gì chúng ta có thể, bằng bất cứ cách nào, nắm bắt được.

323. Now the parallel will be offered comparing the work of man to the work of the Heavenly Man.

323. Giờ đây sự song hành sẽ được trình bày, so sánh công việc của con người với công việc của Đấng Thiên Nhân.

Man in the three worlds of human endeavour works at two things:

Con người trong ba cõi giới của nỗ lực nhân loại hoạt động trên hai điều:

First. The building of his body of manifestation, a threefold body.

Thứ nhất. Việc xây dựng thể biểu hiện của y, một thể tam phân.

324. This must not only be built but refined. Man as Ego accomplishes this with every new incarnation.

324. Thể này không những phải được xây dựng mà còn phải được tinh luyện. Con người với tư cách chân ngã hoàn thành điều này qua mỗi lần nhập thể mới.

Second. The construction of thought-forms, which he builds of mental matter and vitalises by desire, and which he holds within his aura, thus constructing a tiny system of his own.

Thứ hai. Việc kiến tạo các Hình tư tưởng, mà y xây dựng bằng chất liệu trí tuệ và tiếp sinh lực cho chúng bằng dục vọng, rồi giữ chúng trong hào quang của mình, nhờ đó kiến tạo nên một hệ thống nhỏ bé của riêng y.

325. Man thereby is learning to become a creator. Man is a created being but also a lesser creator.

325. Nhờ đó con người đang học để trở thành một đấng kiến tạo. Con người là một hữu thể được sáng tạo nhưng cũng là một đấng kiến tạo nhỏ hơn.

326. Actually, it is possible to say this of every self-conscious B/being. All such are both created/emanated beings and creators.

326. Thật ra, có thể nói điều này về mọi hữu thể có ngã thức. Tất cả những hữu thể như thế đều vừa là những hữu thể được sáng tạo/xuất lộ vừa là những đấng kiến tạo.

Both man, and the Heavenly Men, work in deva substance; both co-operate with the devas; both manifest will, psychic quality and intelligent activity as they pursue their work but a difference lies, not only in degree, but in consciousness. Man works usually unconsciously.

Cả con người lẫn các Đấng Thiên Nhân đều hoạt động trong chất liệu thiên thần; cả hai đều hợp tác với các thiên thần; cả hai đều biểu lộ ý chí, phẩm tính thông linh và hoạt động thông tuệ khi theo đuổi công việc của mình, nhưng sự khác biệt không chỉ nằm ở mức độ mà còn ở tâm thức. Con người thường hoạt động một cách vô thức.

327. The parallels are clear but the major distinction must be held in mind.

327. Những điểm song hành thì rõ ràng, nhưng phải ghi nhớ sự phân biệt chủ yếu.

328. Man should be a conscious builder but, instead, he is mostly unconscious as he builds. The more soul conscious he becomes, the more his building in devic substance will become conscious.

328. Con người lẽ ra phải là một đấng kiến tạo có ý thức, nhưng thay vào đó, phần lớn y lại vô thức khi xây dựng. Y càng trở nên có tâm thức linh hồn bao nhiêu, việc xây dựng của y trong chất liệu thiên thần sẽ càng trở nên có ý thức bấy nhiêu.

The Heavenly Men, on cosmic levels, work for the most part consciously. Herein lies a hint as to the stage of evolution of our Logos.

Các Đấng Thiên Nhân, trên các cấp độ vũ trụ, phần lớn hoạt động một cách có ý thức. Chính trong điều này có một gợi ý về giai đoạn tiến hoá của Thượng đế của chúng ta.

329. Our Solar Logos is a cosmic initiate of the second degree, working gradually upon His third cosmic initiation.

329. Thái dương Thượng đế của chúng ta là một điểm đạo đồ vũ trụ ở cấp thứ hai, đang dần dần tiến tới lần điểm đạo vũ trụ thứ ba của Ngài.

330. May it be said that man, when he becomes at least an initiate of the second degree, will be known for his conscious building?

330. Có thể nói rằng con người, khi trở thành ít nhất một điểm đạo đồ ở cấp thứ hai, sẽ được biết đến nhờ sự xây dựng có ý thức của y chăng?

331. The principal lower aspects of man are unconscious and lunar; the principal lower aspects of a Solar Logos are definitely self-conscious and solar.

331. Các phương diện thấp chủ yếu của con người là vô thức và thái âm; các phương diện thấp chủ yếu của một Thái dương Thượng đế thì rõ rệt là có ngã thức và thái dương.

332. Both the Solar Logos and the Planetary Logoi are group conscious Beings. This reveals much about their spiritual status on Their respective Paths of Cosmic Initiation.

332. Cả Thái dương Thượng đế lẫn các Hành Tinh Thượng đế đều là những Hữu thể có tâm thức nhóm. Điều này tiết lộ nhiều điều về địa vị tinh thần của Các Ngài trên những Con Đường Điểm Đạo Vũ Trụ tương ứng của Các Ngài.

This matter is of real difficulty, for the subject is abstruse and profound.

Vấn đề này thật sự khó khăn, vì chủ đề này vừa thâm áo vừa sâu sắc.

333. Though this is the case, we can be grateful that DK is introducing the subject to us.

333. Dù vậy, chúng ta có thể biết ơn vì Chân sư DK đang giới thiệu chủ đề này cho chúng ta.

334. We note that there is a distinction in the meaning of the terms “abstruse” and “profound”. Much of real simplicity (and accessibility) can be profound. If something is abstruse as well as profound, it is far removed from what we normally call simplicity. Rather it is recondite, quite inaccessible and hard to grasp.

334. Chúng ta lưu ý rằng có một sự phân biệt trong ý nghĩa của các thuật ngữ “thâm áo” và “sâu sắc”. Nhiều điều thật sự đơn giản (và dễ tiếp cận) vẫn có thể sâu sắc. Nếu điều gì đó vừa thâm áo vừa sâu sắc, thì nó rất xa với điều mà chúng ta thường gọi là sự đơn giản. Đúng hơn, nó là huyền vi, khá khó tiếp cận và khó nắm bắt.

We will now leave these basic ideas, and deal more specifically with the devas with whom we are immediately concerned, or with the three groups I have outlined—the Agnichaitans, the Agnisuryans, and the Agnishvattas. They are concerned primarily with the evolution of the dense body of the Logos, the liquid, gaseous and dense subplanes of the [Page 633] cosmic physical, or the three worlds of human endeavour; with the magnetic radiation of the Logos through His physical vehicle, and with the radiatory emanations of the particular Heavenly Man Who is expressing Himself through our planet.

Giờ đây chúng ta sẽ rời các ý tưởng căn bản này, và bàn đến cụ thể hơn về các thiên thần mà chúng ta đang trực tiếp quan tâm, hay ba nhóm mà tôi đã phác họa—các Agnichaitan, các Agnisuryan, và các Agnishvatta. Trước hết, các vị này chủ yếu liên quan đến sự tiến hoá của thể đậm đặc của Thượng đế, các cõi phụ lỏng, khí và đậm đặc của [Page 633] cõi hồng trần vũ trụ, hay ba cõi giới của nỗ lực nhân loại; với sự phát xạ từ tính của Thượng đế qua vận cụ hồng trần của Ngài, và với các phát xạ bứcxạ của Đấng Thiên Nhân đặc thù đang biểu lộ Chính Ngài qua hành tinh của chúng ta.

335. It has sometimes been questioned whether the term “Agnishvattas” refers only to the Solar Angels or to the devas of the lower mental plane as well.

335. Đôi khi người ta đã đặt câu hỏi liệu thuật ngữ “Agnishvattas” chỉ nói đến các Thái dương Thiên Thần hay còn bao gồm cả các thiên thần của cõi hạ trí nữa.

336. From what is said above it seems like the term “Agnishvattas” is to be applied to the entire gaseous subplane of the cosmic physical plane.

336. Từ những gì được nói ở trên, có vẻ như thuật ngữ “Agnishvattas” được áp dụng cho toàn bộ cõi phụ khí của cõi hồng trần vũ trụ.

337. The “magnetic radiation of the Logos through His physical vehicle” seems to concern the second aspect as it manifests through all lower twenty-one systemic subplanes.

337. “Sự phát xạ từ tính của Thượng đế qua vận cụ hồng trần của Ngài” dường như liên quan đến phương diện thứ hai khi nó biểu lộ qua toàn bộ hai mươi mốt cõi phụ thấp của hệ thống.

338. The “radiatory emanations of the particular Heavenly Man Who is expressing Himself through our planet” seem to emanate from a source higher than the three lower worlds.

338. “Các phát xạ bức xạ của Đấng Thiên Nhân đặc thù đang biểu lộ Chính Ngài qua hành tinh của chúng ta” dường như phát ra từ một nguồn cao hơn ba cõi thấp.

339. In general the term “magnetism” refers to the second aspect of divinity and “radiation” to the first. We see, therefore, all three aspects of divinity represented in the section of text above.

339. Nói chung, thuật ngữ “từ điện” chỉ phương diện thứ hai của thiên tính, còn “bức xạ” chỉ phương diện thứ nhất. Vì vậy, chúng ta thấy cả ba phương diện của thiên tính đều được biểu hiện trong đoạn văn trên.

340. Although the Agnichaitans, Agnisuryans and Agnishvattas are here related more focally to the lower twenty-one subplanes (i.e., the dense physical body of the Solar Logos), the Agnisuryans and Agnichaitans may have higher correspondences of planes higher than the systemic mental.

340. Mặc dù ở đây các Agnichaitan, Agnisuryan và Agnishvatta được liên hệ tập trung hơn với hai mươi mốt cõi phụ thấp (tức thể hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế), các Agnisuryan và Agnichaitan có thể có những tương ứng cao hơn trên các cõi cao hơn cõi trí của hệ thống.

341. Within this paragraph we are actually being given an extended view of the arena of expression of these devic lives.

341. Trong đoạn này, thật ra chúng ta đang được trao cho một cái nhìn mở rộng về phạm vi biểu lộ của các sự sống thiên thần này.

Finally they are concerned with the evolution of consciousness7 in the three worlds, and particularly with the individualisation of the human unit of consciousness, and with the vitalisation of the centres in the body of the Heavenly Man with Whom we are peculiarly connected.

Sau cùng, các vị này còn liên quan đến sự tiến hoá của tâm thức7 trong ba cõi giới, và đặc biệt là với sự biệt ngã hóa của đơn vị tâm thức nhân loại, cũng như với việc tiếp sinh lực cho các trung tâm trong thể của Đấng Thiên Nhân mà chúng ta có liên hệ đặc biệt.

342. These three orders of devic lives are not related only to the activity aspect. They contribute to the development of human consciousness.

342. Ba cấp bậc sự sống thiên thần này không chỉ liên hệ với phương diện hoạt động. Chúng góp phần vào sự phát triển của tâm thức nhân loại.

343. If they also contribute to the vitalization of the centers in the body of a Heavenly Man, they are concerned as well with the cosmic etheric planes on which the centers of a Heavenly Man can be found. Therefore, their effectiveness cannot be limited to the lower three systemic planes.

343. Nếu các vị ấy cũng góp phần vào việc tiếp sinh lực cho các trung tâm trong thể của một Đấng Thiên Nhân, thì các vị ấy cũng liên quan đến các cõi dĩ thái vũ trụ, nơi có thể tìm thấy các trung tâm của một Đấng Thiên Nhân. Vì vậy, hiệu lực của các vị ấy không thể bị giới hạn trong ba cõi thấp của hệ thống.

344. Let us tabulate the areas in which the Agnichaitans, the Agnisuryans and Agnishvattas are influential:

344. Chúng ta hãy lập bảng các lĩnh vực mà các Agnichaitan, các Agnisuryan và các Agnishvatta có ảnh hưởng:

a. The evolution of the dense physical body of the Logos or Planetary Logos

a. Sự tiến hoá của thể hồng trần đậm đặc của Thượng đế hay Hành Tinh Thượng đế

b. The magnetic radiation of the Logos through His physical vehicle. This obviously concerns the egoic nature of the Planetary Logos.

b. Sự phát xạ từ tính của Thượng đế qua vận cụ hồng trần của Ngài. Điều này hiển nhiên liên quan đến bản chất chân ngã của Hành Tinh Thượng đế.

c. The radiatory emanations of the particular Heavenly Man Who is expressing Himself through our planet. May we say that “radiatory emanations” concern the Spirit nature of the Planetary Logos?

c. Các phát xạ bứcxạ của Đấng Thiên Nhân đặc thù đang biểu lộ Chính Ngài qua hành tinh của chúng ta. Chúng ta có thể nói rằng “các phát xạ bức xạ” liên quan đến bản chất tinh thần của Hành Tinh Thượng đế chăng?

d. The evolution of consciousness in the three worlds

d. Sự tiến hoá của tâm thức trong ba cõi giới

e. The individualization of the human unit of consciousness

e. Sự biệt ngã hóa của đơn vị tâm thức nhân loại

f. The vitalisation of the centres in the body of the Heavenly Man with Whom we are peculiarly connected

f. Việc tiếp sinh lực cho các trung tâm trong thể của Đấng Thiên Nhân mà chúng ta có liên hệ đặc biệt

345. If we survey the scope of influence of these devas, we shall see that it both wide and diverse. They may well be active on all five lower systemic planes of the cosmic physical plane.

345. Nếu chúng ta khảo sát phạm vi ảnh hưởng của các thiên thần này, chúng ta sẽ thấy nó vừa rộng vừa đa dạng. Rất có thể các vị ấy hoạt động trên cả năm cõi thấp của hệ thống thuộc cõi hồng trần vũ trụ.

FOOTNOTE 7:

CHÚ THÍCH 7:

The Lunar Angels have to reach the plane of the Solar Angels.—S. D., I, 203.

Các Thiên Thần Thái Âm phải đạt đến cõi của các Thái dương Thiên Thần.—S. D., I, 203.

346. This will happen only very gradually as the tabulation on TCF 844 shows. The Lunar Angels have first to become animal and then human before they can become Solar Angels.

346. Điều này sẽ chỉ xảy ra rất dần dần như bảng ở TCF 844 cho thấy. Các Thiên Thần Thái Âm trước hết phải trở thành động vật rồi thành người trước khi có thể trở thành các Thái dương Thiên Thần.

They have to win immortality.—S. D., III, 518, 519.

Các vị ấy phải giành được sự bất tử.—S. D., III, 518, 519.

347. Immortality is a matter of consciousness. It is not about the preservation of a single form.

347. Sự bất tử là vấn đề của tâm thức. Nó không liên quan đến việc bảo tồn một hình tướng đơn lẻ.

Self-consciousness is their goal.—S. D., I, 205; II, 622.

Ngã thức là mục tiêu của các vị ấy.—S. D., I, 205; II, 622.

348. This stage, too, will not be achieved immediately.

348. Giai đoạn này cũng sẽ không đạt được ngay lập tức.

The subject of our consideration now is the fire devas of the physical plane, those great building devas who are working out the purposes of the Logos in his dense, physical body.

Chủ đề mà giờ đây chúng ta xem xét là các thiên thần lửa của cõi hồng trần, những thiên thần kiến tạo vĩ đại đang thực hiện các mục đích của Thượng đế trong thể hồng trần đậm đặc của ngài.

349. When we consider the “physical plane” we shall have to perceive it from the perspective above of the Solar Logos. The dense physical body of the Solar Logos includes the lower twenty-one systemic subplanes.

349. Khi chúng ta xét đến “cõi hồng trần”, chúng ta sẽ phải nhận thức nó từ viễn cảnh bên trên của Thái dương Thượng đế. Thể hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế bao gồm hai mươi mốt cõi phụ thấp của hệ thống.

350. When we learn that we are seeking to understand “fire devas” we are alerted to the fact that the name of each of the devas under discussion begins with the Sanskrit word for “fire”—i.e., “Agni”.

350. Khi chúng ta biết rằng mình đang tìm cách hiểu các thiên thần “lửa”, chúng ta được báo trước về sự kiện rằng tên của mỗi loại thiên thần đang được bàn đến đều bắt đầu bằng từ Sanskrit chỉ “lửa”—tức “Agni”.

Let us get our ideas as clear as possible on this matter; in the following tabulation, the status of these devas will be apparent at a glance:

Chúng ta hãy làm cho các ý tưởng của mình rõ ràng nhất có thể về vấn đề này; trong bảng sau đây, địa vị của các thiên thần này sẽ hiện rõ chỉ trong một cái nhìn:

Systemic

Hệ thống

Name Cosmic Plane Plane Nature Ruler

Tên Cõi Vũ Trụ Cõi Bản chất Chủ tinh

Agnichaitan…….7th subplane…..Physical………..Densest……..Kshiti

Agnichaitan…….cõi phụ thứ 7…..Hồng trần………..Đậm đặc nhất……..Kshiti

cosmic physical concretion

hồng trần vũ trụ sự kết tụ

Agnisuryan…….6th subplane……Astral…………..Liquid……….Varuna

Agnisuryan…….cõi phụ thứ 6……Cảm dục…………..Lỏng……….Varuna

cosmic physical

hồng trần vũ trụ

Agnishvatta……5th subplane……Mental…………Gaseous……..Agni

Agnishvatta……cõi phụ thứ 5……Trí tuệ…………Khí……..Agni

cosmic physical

hồng trần vũ trụ

351. The higher form of Agnisuryan is not mentioned, nor the (hypothesized) higher form of Agnichaitan.

351. Dạng cao hơn của Agnisuryan không được nhắc đến, và dạng cao hơn (được giả định) của Agnichaitan cũng vậy.

352. Again, we do not see that the devas of the lower mental plane are excluded from the category of Agnishvattas.

352. Một lần nữa, chúng ta không thấy rằng các thiên thần của cõi hạ trí bị loại khỏi phạm trù Agnishvatta.

353. We note as well that each of these devas works within the cosmic physical plane.

353. Chúng ta cũng lưu ý rằng mỗi loại thiên thần này đều hoạt động trong cõi hồng trần vũ trụ.

The Agnichaitans. These are the devas who construct, and build in matter of the densest kind in connection with logoic manifestation. They function on the seventh subplane of the cosmic physical plane, and are the producers of the greatest concretion.

Các Agnichaitan. Đây là những thiên thần kiến tạo và xây dựng trong loại vật chất đậm đặc nhất liên quan đến sự biểu lộ của Thượng đế. Các vị ấy hoạt động trên cõi phụ thứ bảy của cõi hồng trần vũ trụ, và là những tác nhân tạo ra sự kết tụ lớn nhất.

354. There are less dense forms of concretion. The lowest Agnichaitans concern the densest form of concretion—that which is to be found upon the seventh and lowest systemic subplane.

354. Có những dạng kết tụ ít đậm đặc hơn. Các Agnichaitan thấp nhất liên quan đến dạng kết tụ đậm đặc nhất—dạng được tìm thấy trên cõi phụ thứ bảy và thấp nhất của hệ thống.

355. Agnichaitans in general are found on all the seven systemic physical and etheric subplanes.

355. Các Agnichaitan nói chung được tìm thấy trên cả bảy cõi phụ hồng trần và dĩ thái của hệ thống.

In the planetary body of our planetary Logos they are the builders of the Earth, His densest form, and throughout the entire solar system they are the sum-total of that activity and vibration [Page 634] which demonstrates through what we call “solid substance.”

Trong thể hành tinh của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, các vị ấy là những đấng kiến tạo của Trái Đất, hình tướng đậm đặc nhất của Ngài, và trong toàn thể hệ mặt trời, các vị ấy là tổng thể của hoạt động và rung động biểu lộ qua điều mà chúng ta gọi là “chất liệu rắn.”[Page 634]

356. They are also concerned with systemic etheric manifestation.

356. Các vị ấy cũng liên quan đến sự biểu lộ dĩ thái của hệ thống.

357. It is important to remind ourselves that apparently “solid substance” is not “solid” at all and really a condition of atomic congestion.

357. Điều quan trọng là phải nhắc mình rằng “chất liệu rắn” bề ngoài thật ra hoàn toàn không “rắn”, mà thực sự là một trạng thái tắc nghẽn nguyên tử.

Therefore, it will be apparent that under the law they will have a peculiarly powerful effect on the lowest subplane of the systemic physical plane; hence their esoteric appellation of the “Agnichaitans of the inner or central heat.”

Vì vậy, sẽ rõ ràng rằng theo định luật, các vị ấy sẽ có một tác động đặc biệt mạnh mẽ trên cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần hệ thống; do đó mới có danh xưng huyền bí của các vị ấy là “các Agnichaitan của nhiệt bên trong hay trung tâm.”

358. The Agnichaitans have a wider range of effect than is emphasized in this section of text. Here they are most related to the very densest of all the systemic subplanes—the forty-ninth and lowest systemic subplane.

358. Các Agnichaitan có phạm vi tác động rộng hơn điều được nhấn mạnh trong đoạn văn này. Ở đây các vị ấy được liên hệ nhiều nhất với cõi phụ đậm đặc nhất trong tất cả các cõi phụ của hệ thống—cõi phụ thứ bốn mươi chín và thấp nhất của hệ thống.

359. The inference to be gathered is that the “inner or central heat” is to be found within matter of the very lowest kind—that found upon the lowest subplane of the systemic physical plane.

359. Điều suy ra cần rút lấy là “nhiệt bên trong hay trung tâm” này được tìm thấy trong loại vật chất thấp nhất—loại được tìm thấy trên cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần hệ thống.

360. This “inner or central heat” is a form of “latent fire”, as we have studied in the earliest sections of this treatise.

360. “Nhiệt bên trong hay trung tâm” này là một dạng của “lửa tiềm ẩn”, như chúng ta đã nghiên cứu trong những phần đầu tiên của bộ luận này.

They are the totality of the lowest vibration in the cosmic physical vehicle.

Các vị ấy là tổng thể của rung động thấp nhất trong vận cụ hồng trần vũ trụ.

361. We are not here discussing the possibility of a category of matter even lower in vibration than the seventh and lowest physical subplane. Speculations about an eighth (and lower) level of matter are reasonable and hints about such a level are given in the text.

361. Ở đây chúng ta không bàn đến khả năng có một loại vật chất còn thấp hơn về rung động so với cõi phụ hồng trần thứ bảy và thấp nhất. Những suy đoán về một cấp vật chất thứ tám (và thấp hơn) là hợp lý, và trong văn bản có đưa ra những gợi ý về một cấp như thế.

362. We must remember, however, that although the very lowest subplane of the systemic physical subplane is emphasized in relation to the Agnichaitans, they are active and influential on all the seven dense and etheric subplanes (and perhaps in relation to the systemic atmic plane).

362. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng mặc dù cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần hệ thống được nhấn mạnh khi liên hệ với các Agnichaitan, các vị ấy vẫn hoạt động và có ảnh hưởng trên cả bảy cõi phụ đậm đặc và dĩ thái (và có lẽ cả trong liên hệ với cõi atma của hệ thống).

The Agnisuryans are the builders on the sixth subplane of the cosmic physical plane, our systemic astral plane.

Các Agnisuryan là những đấng kiến tạo trên cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ, tức cõi cảm dục của hệ thống chúng ta.

363. We note that the Agnisuryans are spoken of in relation to the entire sixth subplane of the cosmic physical plane, and not just its lowest level.

363. Chúng ta lưu ý rằng các Agnisuryan được nói đến trong liên hệ với toàn bộ cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ, chứ không chỉ riêng cấp thấp nhất của nó.

They represent, as I have before hinted, the sympathetic nervous system in the logoic physical body, just as their brothers of the seventh vibration represent the sumtotal of the circulatory or blood system.

Các vị ấy biểu hiện, như tôi đã gợi ý trước đây, hệ thần kinh giao cảm trong thể hồng trần của Thượng đế, cũng như các huynh đệ của các vị ấy thuộc rung động thứ bảy biểu hiện tổng thể của hệ tuầnhoàn hay hệ máu.

364. Let us tabulate the hinted relationship:

364. Chúng ta hãy lập bảng mối liên hệ được gợi ý này:

a. Agnisuryans—the sympathetic nervous system in the logoic physical body

a. Agnisuryans—hệ thần kinh giao cảm trong thể hồng trần của Thượng đế

b. Agnichaitans—the circulatory or blood system

b. Agnichaitans—hệ tuần hoàn hay hệ máu

365. The following quotation from EH, 143, may shed some unexpected light upon the relationship between the devic brothers of the sixth and seventh orders.

365. Đoạn trích sau từ EH, 143, có thể soi sáng một cách bất ngờ lên mối liên hệ giữa các huynh đệ thiên thần thuộc cấp thứ sáu và thứ bảy.

1. The etheric vehicle from the circulatory angle, is governed by the Moon, as it veils Vulcan.

1. Vận cụ dĩ thái, xét từ góc độ tuần hoàn, được Mặt Trăng cai quản, khi nó che phủ Vulcan.

2. The nervous system is ruled by Venus.

2. Hệ thần kinh được Sao Kim cai quản.

3. The endocrine system is governed by Saturn.

3. Hệ nội tiết được Sao Thổ cai quản.

4. The blood stream is governed by Neptune. (EH 143)

4. Dòng máu được Sao Hải Vương cai quản. (EH 143)

366. The Agnichaitans are particularly associated with Vulcan and we do see Vulcan here associated with etheric circulation.

366. Các Agnichaitan đặc biệt liên kết với Vulcan, và ở đây quả thật chúng ta thấy Vulcan được liên kết với sự tuần hoàn dĩ thái.

367. The circulation of the blood however is governed by Neptune, a planet far more closely related to the Agnisuryans (in both their astral and buddhic expressions) than to the Agnichaitans.

367. Tuy nhiên, sự tuần hoàn của máu lại được Sao Hải Vương cai quản, một hành tinh liên hệ mật thiết với các Agnisuryan (trong cả biểu lộ cảm dục lẫn Bồ đề của các vị ấy) hơn là với các Agnichaitan.

A hint to the student who is interested in the physiological key lies in the relationship between the two great groups of devas who build and construct the most objective portion of logoic manifestation, and the two groups of corpuscles which in their mutual interaction hold the body in health;

Một gợi ý cho đạo sinh quan tâm đến chìa khóa sinh lý học nằm trong mối liên hệ giữa hai nhóm lớn thiên thần kiến tạo và xây dựng phần khách quan nhất của sự biểu lộ của Thượng đế, và hai nhóm huyết cầu mà trong sự tương tác lẫn nhau của chúng giữ cho cơ thể được khỏe mạnh;

368. It is suggested that we study both the white and red corpuscles of the blood in order to understand the relationship between the Agnisuryans and Agnichaitans.

368. Người ta gợi ý rằng chúng ta nên nghiên cứu cả bạch huyết cầu lẫn hồng huyết cầu để hiểu mối liên hệ giữa các Agnisuryan và Agnichaitan.

369. Perhaps we can relate the white corpuscles to the Agnichaitans and the red corpuscles to the Agnisuryans.

369. Có lẽ chúng ta có thể liên hệ bạch huyết cầu với các Agnichaitan và hồng huyết cầu với các Agnisuryan.

there is an analogy also in the relationship between the devas of the astral plane, and the motor and sensory nerves of the physical body. I will not enlarge upon this angle of vision.

Cũng có một sự tương đồng trong mối liên hệ giữa các thiên thần của cõi cảm dục và các dây thần kinh vận động cùng cảm giác của thể xác. Tôi sẽ không khai triển thêm về góc nhìn này.

370. We can leave the elucidation of this analogy to the medical students of this treatise.

370. Chúng ta có thể để việc làm sáng tỏ sự tương đồng này cho các đạo sinh y khoa của bộ luận này.

371. From a qualitative angle, however, we do know that the astral plane is associated with the guna of “rajas” or mobility.

371. Tuy nhiên, xét từ góc độ phẩm tính, chúng ta biết rằng cõi cảm dục được liên kết với guna “rajas” hay tính động.

372. Is DK suggesting that there are two kinds of devas of the astral plane? Earlier He mentioned devas associated with desire, feeling and sentiency and those related to the astral light. Are these the two categories of devas under discussion and are they related to Venus and Mars—the devas of the astral light to Venus and he devas of desire and feeling to Mars?

372. Phải chăng Chân sư DK đang gợi ý rằng có hai loại thiên thần của cõi cảm dục? Trước đó Ngài đã nhắc đến các thiên thần liên hệ với dục vọng, cảm xúc và cảm giác, và những vị liên hệ với ánh sáng cảm dục. Phải chăng đây là hai loại thiên thần đang được bàn đến, và chúng có liên hệ với Sao Kim và Sao Hỏa—các thiên thần của ánh sáng cảm dục với Sao Kim, còn các thiên thần của dục vọng và cảm xúc với Sao Hỏa?

373. In one of the references from EH immediately above, we find Venus related to the nervous system, presumably to its sensory aspect. It makes sense to consider Mars (so influential in relation to the astral plane) as the planet conditioning the motor nerves.

373. Trong một trong các trích dẫn từ EH ngay phía trên, chúng ta thấy Sao Kim được liên hệ với hệ thần kinh, có lẽ là với phương diện cảm giác của nó. Có lý khi xem Sao Hỏa (có ảnh hưởng rất mạnh trong liên hệ với cõi cảm dục) là hành tinh tác động lên các dây thần kinh vận động.

These devas have to do, in a very esoteric sense, with the nerve plexus in the:

Các thiên thần này liên quan, theo một ý nghĩa rất huyền bí, đến đám rối thần kinh trong:

a. Solar system. (Physical Sun)

a. Hệ mặt trời. (Mặt Trời hồng trần)

b. Planetary scheme. (Dense Planet)

b. Hệ hành tinh. (Hành tinh đậm đặc)

c. Human physical body. (Dense Body)

c. Thể xác con người. (Thể đậm đặc)

374. In the human physical body the nerve plexus concerned is that which is associated with the solar plexus center.

374. Trong thể xác con người, đám rối thần kinh được nói đến là đám rối liên kết với trung tâm tùng thái dương.

375. We know the location of the nerve plexus in the human physical body but not within the dense planet and certainly not within the physical sun.

375. Chúng ta biết vị trí của đám rối thần kinh trong thể xác con người, nhưng không biết trong hành tinh đậm đặc, và chắc chắn không biết trong mặt trời hồng trần.

376. The nervous system itself is a dense physical construct underlain by etheric nadis. The responsiveness of the nervous system, however, seems to have much to do with astral forces.

376. Bản thân hệ thần kinh là một cấu trúc hồng trần đậm đặc được nâng đỡ bởi các nadi dĩ thái. Tuy nhiên, tính đáp ứng của hệ thần kinh dường như liên quan rất nhiều đến các mãnh lực cảm dục.

377. The nature of our planet as a living being is now slowly coming into human consciousness. The parts of our planet which correspond to the human physical body will gradually be discovered. Humanity is probably not yet ready for such sensitive knowledge.

377. Bản chất của hành tinh chúng ta như một sinh thể đang sống hiện nay đang chậm rãi đi vào tâm thức nhân loại. Những phần của hành tinh chúng ta tương ứng với thể xác con người sẽ dần dần được khám phá. Có lẽ nhân loại vẫn chưa sẵn sàng cho loại tri thức nhạy cảm như thế.

and are therefore a powerful factor in the eventual vitalisation of the centres in man.

và vì vậy là một yếu tố mạnh mẽ trong việc tiếp sinh lực sau cùng cho các trung tâm trong con người.

378. DK seems to be suggesting that all the centers in man owe much to the astral devas in the matter of their vitalization.

378. Chân sư DK dường như đang gợi ý rằng mọi trung tâm trong con người đều mang ơn rất nhiều đối với các thiên thần cảm dục trong vấn đề tiếp sinh lực cho chúng.

379. We do know that aspiration (a largely astral activity) plays a significant role in the activation of the centers.

379. Chúng ta quả thật biết rằng khát vọng (một hoạt động phần lớn thuộc cảm dục) giữ một vai trò đáng kể trong việc hoạt hóa các trung tâm.

The etheric centres, or the focal points of force of a Heavenly Man are on the fourth cosmic ether, the buddhic plane.

Các trung tâm dĩ thái, hay các tiêu điểm mãnh lực của một Đấng Thiên Nhân, nằm trên cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức cõi Bồ đề.

380. As Chart VIII in TCF shows, this is true as regards some of the etheric centers, but probably not all, if the analogy between the positions of the human etheric centers and those of a Planetary Logos is to be maintained.

380. Như Biểu đồ VIII trong TCF cho thấy, điều này đúng đối với một số trung tâm dĩ thái, nhưng có lẽ không phải tất cả, nếu sự tương đồng giữa vị trí các trung tâm dĩ thái của con người và của một Hành Tinh Thượng đế được duy trì.

The astral plane is closely allied to the buddhic, and as the etheric centres of our Heavenly Man, for instance, come into full activity, the force is transmitted through the astral correspondence [Page 635] to the fourth physical ether, in which the centres of man exist.

Cõi cảm dục liên kết chặt chẽ với cõi Bồ đề, và khi các trung tâm dĩ thái của Đấng Thiên Nhân của chúng ta, chẳng hạn, đi vào hoạt động trọn vẹn, mãnh lực được chuyển truyền qua sự tương ứng cảm dục [Page 635] đến dĩ thái hồng trần thứ tư, nơi các trung tâm của con người hiện hữu.

381. Again, a number of these centers in man do exist within the fourth physical ether, but not all.

381. Một lần nữa, một số trung tâm này trong con người quả thật hiện hữu trong dĩ thái hồng trần thứ tư, nhưng không phải tất cả.

382. The paths of transmission are governed by the principle of numerical resonance. We do not know, however, the exact method of transmission.

382. Các con đường truyền dẫn được chi phối bởi nguyên lý cộng hưởng số học. Tuy nhiên, chúng ta không biết phương pháp truyền dẫn chính xác.

383. The etheric centers of a Heavenly Man may be considered as Ashrams containing the higher principles of the human being. We certainly do not bring our lower principles into the Ashram.

383. Các trung tâm dĩ thái của một Đấng Thiên Nhân có thể được xem như các ashram chứa đựng các nguyên khí cao của con người. Chắc chắn chúng ta không mang các nguyên khí thấp của mình vào ashram.

The Agnishvattas are the builders on the fifth or gaseous subplane of the cosmic physical, and—from the human standpoint—are the most profoundly important, for they are the builders of the body of consciousness per se.

Các Agnishvatta là những đấng kiến tạo trên cõi phụ thứ năm hay cõi phụ khí của cõi hồng trần vũ trụ, và—xét từ quan điểm con người—là quan trọng sâu xa nhất, vì các vị ấy là những đấng kiến tạo của chính thể tâm thức.

384. The lower mental body is, apparently, also considered an aspect of the body of consciousness.

384. Thể trí thấp, theo bề ngoài, cũng được xem là một phương diện của thể tâm thức.

385. The egoic lotus on the higher mental plane is for most human beings the destined body of consciousness per se. Meanwhile the lower mental body serves this function.

385. Hoa Sen Chân Ngã trên Cõi thượng trí, đối với phần lớn nhân loại, là thể tâm thức đích định. Trong khi đó, thể trí thấp đảm nhiệm chức năng này.

From the psychic standpoint of occult physiology, they have a close connection with the physical brain, the seat or empire of the Thinker, and as at this stage all that we can know must be viewed kama-manasically, it will be apparent that between the sympathetic nervous system and the brain is such a close interaction as to make one organised whole.

Từ quan điểm thông linh của sinh lý học huyền bí, chúng có liên hệ mật thiết với bộ não hồng trần, là chỗ ngự hay vương quốc của Thức giả, và vì ở giai đoạn này tất cả những gì chúng ta có thể biết đều phải được nhìn dưới góc độ trí-cảm, nên sẽ hiển nhiên rằng giữa hệ thần kinh giao cảm và bộ não có một sự tương tác mật thiết đến mức tạo thành một toàn thể có tổ chức.

386. The implication is that the kama-manas and the sympathetic nervous system are closely allied.

386. Hàm ý ở đây là kama-manas và hệ thần kinh giao cảm có liên hệ rất mật thiết.

387. Agnishvattas (apparently of two main varieties—one solar and one lunar) are closely related to the human physical brain.

387. Agnishvattas (dường như có hai loại chính—một thái dương và một thái âm) có liên hệ mật thiết với bộ não hồng trần của con người.

388. We have a further implication that man, presently, is a very kama-manasic being and finds his thought process almost inextricably entangled with kama.

388. Chúng ta còn có thêm một hàm ý nữa rằng hiện nay con người là một hữu thể rất trí-cảm và thấy tiến trình tư tưởng của mình hầu như bị vướng mắc không thể gỡ ra với kama.

389. The relationships expressed in this section of text are reflections of the very close relationship between Mercury (manas) and Venus, (kama-manas).

389. Những mối liên hệ được diễn tả trong phần văn bản này là các phản chiếu của mối liên hệ rất mật thiết giữa Sao Thủy (manas) và Sao Kim, (kama-manas).

This microcosmic correspondence is of interest, but in studying these groups of devas at present we will view them principally in their work as systemic and planetary builders, leaving the student to trace out for himself the human analogy.

Sự tương ứng vi mô này thật đáng quan tâm, nhưng khi nghiên cứu các nhóm thiên thần này hiện nay chúng ta sẽ xem xét chúng chủyếu trong công việc của chúng với tư cách là các đấng kiến tạo hệ thống và hành tinh, để đạo sinh tự mình truy ra phép loại suy nơi con người.

390. If we study carefully, we will be equipped to trace the human analogy.

390. Nếu nghiên cứu cẩn thận, chúng ta sẽ có đủ khả năng để truy ra phép loại suy nơi con người.

He will learn thereby. Having indicated certain lines of thought, we will now take up these groups one at a time and consider them.

Nhờ đó y sẽ học được. Sau khi đã chỉ ra một số tuyến tư tưởng, giờ đây chúng ta sẽ lần lượt xét từng nhóm này và khảo cứu chúng.

391. The general outline has been presented. We are given a view of the Agnichaitans, the Agnisuryans, and the Agnishvattas in their role as planetary builders.

391. Dàn ý tổng quát đã được trình bày. Chúng ta được cho thấy một cái nhìn về các Agnichaitans, các Agnisuryans, và các Agnishvattas trong vai trò các đấng kiến tạo hành tinh.

392. We will now learn something more specific about them.

392. Giờ đây chúng ta sẽ tìm hiểu điều gì đó cụ thể hơn về chúng.

Scroll to Top