Bình giảng về Lửa Vũ Trụ S6S8 Part I (659-668)

📘 Sách: Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S6 – Tác giả: Michael D. Robbins

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến trang sách tương ứng trong TCF

TCF 658 – 668: S6S8 Part I

8 – 23 January 2008

8 – 23 tháng Giêng 2008

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình giải được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the analysis.

Người ta gợi ý rằng phần Bình Giải này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, vì mục đích liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần phân tích.

Agnisuryans—Astral Plane Devas.

Agnisuryans—Các thiên thần cõi cảm dục.

We start here upon a consideration of those groups of devas who are the substance of the astral plane, the Agnisuryans.

Ở đây chúng ta bắt đầu xem xét những nhóm thiên thần là chất liệu của cõi cảm dục, tức các Agnisuryans.

1. We are to remember that this group of devas is also found on the buddhic plane.

1. Chúng ta cần nhớ rằng nhóm thiên thần này cũng được tìm thấy trên cõi Bồ đề.

They may be considered in the following manner, and by the employment of synonymous terms, some general idea of their function may be arrived at before we begin to differentiate them into groups

Chúng có thể được xem xét theo cách sau đây, và bằng việc sử dụng các thuật ngữ đồng nghĩa, có thể đạt được một ý niệm tổng quát nào đó về chức năng của chúng trước khi chúng ta bắt đầu biệt phân chúng thành các nhóm

2. The principle of order is required in this exacting study. The devas are typified by orderly action and a correct approach to understanding them will have to body done in an orderly manner.

2. Nguyên lý trật tự là điều cần thiết trong công trình nghiên cứu đòi hỏi chính xác này. Các thiên thần được tiêu biểu bởi hành động có trật tự và một cách tiếp cận đúng đắn để thấu hiểu họ sẽ phải được thực hiện một cách có trật tự.

and study their relation to:

và nghiên cứu mối liên hệ của chúng với:

1. The various entities who are the soul of the differing kingdoms, or groups, such as the animal kingdom, the human kingdom, and higher in the scale of consciousness than men—the planetary Logos.

1. Các thực thể khác nhau là linh hồn của các giới khác nhau, hay các nhóm, chẳng hạn như giới động vật, giới nhân loại, và cao hơn trên thang tâm thức so với những người nam và nữ—Hành Tinh Thượng đế.

3. We will study the relation of the Agnisuryans to great ensouling Entities—i.e., in relation to the ensouling consciousness of groups.

3. Chúng ta sẽ nghiên cứu mối liên hệ của các Agnisuryans với các Thực Thể phú linh vĩ đại—tức là, trong mối liên hệ với tâm thức phú linh của các nhóm.

2. Man himself.

2. Chính con người.

4. This is man considered as the microcosm.

4. Đây là con người được xét như tiểu thiên địa.

5. The manifestation of man is inseparable from his interplay with the deva kingdom.

5. Sự biểu hiện của con người không thể tách rời khỏi sự tương tác của y với giới thiên thần.

3. The plane as a totality.

3. Cõi như một toàn thể.

6. We may be considering the astral plane or other planes in relation to the astral plane.

6. Chúng ta có thể đang xem xét cõi cảm dục hoặc các cõi khác trong tương quan với cõi cảm dục.

7. The evolutionary devas we are considering are the positive forces of the planes.

7. Các thiên thần thăng thượng tiến hoá mà chúng ta đang xét đến là những mãnh lực tích cực của các cõi.

We might consider these devas:

Chúng ta có thể xem xét các thiên thần này:

First, as the substance of the astral plane in its seven grades.

Thứ nhất, như chất liệu của cõi cảm dục trong bảy cấp độ của nó.

8. Each systemic subplane is distinct grade of substance. There are seven systemic subplanes in one systemic plane.

8. Mỗi cõi phụ hệ thống một cấp độ chất liệu riêng biệt. Có bảy cõi phụ hệ thống trong một cõi hệ thống.

9. The Agnisuryans are particularly the energy-force-substance of the astral plane. They are not, however, the involutionary, elemental essence of that plane.

9. Các Agnisuryan đặc biệt là năng lượng-mãnh lực-chất liệu của cõi cảm dục. Tuy nhiên, các vị ấy không phải là tinh chất hành khí giáng hạ tiến hoá của cõi đó.

Second, as that aspect of logoic manifestation which corresponds to the liquid subplane in the systemic physical plane.

Thứ hai, như phương diện của biểu hiện logoic tương ứng với cõi phụ lỏng trong cõi hồng trần hệ thống.

10. The systemic astral plane is the liquid subplane of the cosmic physical plane. When we think in strictly systemic terms and look for the liquid subplane of the systemic physical plane, our focus is upon the subplane above the lowest of the forty-nine systemic sub-planes—either the second subplane or the forty-eighth depending on whether one is counting from below or above.

10. Cõi cảm dục hệ thống là cõi phụ lỏng của cõi hồng trần vũ trụ. Khi chúng ta suy nghĩ theo những thuật ngữ hoàn toàn hệ thống và tìm cõi phụ lỏng của cõi hồng trần hệ thống, sự chú ý của chúng ta đặt vào cõi phụ ở trên cõi thấp nhất trong bốn mươi chín cõi phụ hệ thống—hoặc là cõi phụ thứ hai hoặc cõi phụ thứ bốn mươi tám tùy theo việc người ta đếm từ dưới lên hay từ trên xuống.

11. DK is telling us that the astral plane (in which the Agnisuryans are the positive devic substance) is a liquid plane and corresponds (cosmically and logoically) to the liquidity of the sixth subplane (counting from above) on the solar systemic physical plane.

11. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng cõi cảm dục (trong đó các Agnisuryan là chất liệu thiên thần tích cực) là một cõi lỏng và tương ứng (về mặt vũ trụ và logoic) với tính lỏng của cõi phụ thứ sáu (đếm từ trên xuống) trên cõi hồng trần hệ mặt trời.

12. The word “substance” is sometimes difficult to understand. It can mean

12. Từ “chất liệu” đôi khi khó hiểu. Nó có thể có nghĩa là

a. Essential Being, as in the ABSOLUTE DEITY is the ONLY SUBSTANCE—THAT WHICH SUBSTANDS ALL-

a. Bản Thể cốt yếu, như trong THƯỢNG ĐẾ TUYỆT ĐỐI là CHẤT LIỆU DUY NHẤT—ĐIỀU NÂNG ĐỠ TẤT CẢ—

b. Energy substanding force

b. Năng lượng làm nền cho mãnh lực

c. Force substanding matter

c. Mãnh lực làm nền cho vật chất

d. Matter

d. Vật chất

13. When we encounter the word “substance” in discussing the devas we have to think of it principally as energy-force.

13. Khi gặp từ “chất liệu” trong khi bàn đến các thiên thần, chúng ta phải nghĩ về nó chủ yếu như năng lượng-mãnh lực.

Third, as the vehicle of the deva lord Varuna.

Thứ ba, như vận cụ của thiên thần chúa tể Varuna.

14. Each of the subplanes of the cosmic physical plane is ruled by a great Deva Lord—a Raja Deva Lord. We are not given the names of these system-wide Raja Deva Lords.

14. Mỗi cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ đều do một Đại Thiên Thần Chúa Tể cai quản—một Raja Deva Lord. Chúng ta không được cho biết tên của các Raja Deva Lord trên phạm vi hệ thống này.

15. The Lord Varuna is the Raja Deva Lord of the systemic astral plane of our Planetary Logos. The Lord Varuna (allied to Neptune) uses the Agnisuryans as His vehicle of expression.

15. Đức Chúa Tể Varuna là Raja Deva Lord của cõi cảm dục hệ thống của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Đức Chúa Tể Varuna (liên kết với Sao Hải Vương) dùng các Agnisuryan làm vận cụ biểu hiện của Ngài.

16. Above Him stand the Solar Lord of the system-wide astral plane and the Cosmic Lord of the cosmic astral vehicle of the Solar Logos.

16. Trên Ngài còn có Đức Chúa Tể Thái Dương của cõi cảm dục toàn hệ thống và Đức Chúa Tể Vũ Trụ của vận cụ cảm dục vũ trụ của Thái dương Thượng đế.

Fourth, as the animating lives of that involutionary matter of the astral plane which we call the elemental essence, and as the vitality energising the desire elementals of all that is sentient.

Thứ tư, như các sự sống linh hoạt hóa thứ vật chất giáng hạ tiến hoá của cõi cảm dục mà chúng ta gọi là tinh chất hành khí, và như sinh lực tiếp năng lượng cho các hành khí dục vọng của mọi hữu thể có tri giác.

14. Let us be clear—the Agnisuryans are not the involutionary matter of the astral plane called “elemental essence”.

14. Chúng ta hãy làm rõ—các Agnisuryan không phải là vật chất giáng hạ tiến hoá của cõi cảm dục được gọi là “tinh chất hành khí”.

15. Rather, the Agnisuryans are the “vitality energizing the desire elementals of all that is sentient”.

15. Đúng hơn, các Agnisuryan là “sinh lực tiếp năng lượng cho các hành khí dục vọng của mọi hữu thể có tri giác”.

16. We may say that the (lower) Agnisuryans, though unconscious, are on the evolutionary path and the elemental essence of the astral plane (the desire elementals) is not.

16. Chúng ta có thể nói rằng các Agnisuryan (thấp), dù vô thức, vẫn ở trên đường thăng thượng tiến hoá, còn tinh chất hành khí của cõi cảm dục (các hành khí dục vọng) thì không.

Viewed in this aspect in connection especially with man, they are the correspondence on the astral plane to the “devas of the shadows,” for the desire bodies of all human beings are composed of matter of the second, third and fourth subplanes of the astral plane.

Xét trong phương diện này, đặc biệt liên hệ với con người, chúng là sự tương ứng trên cõi cảm dục với “các thiên thần của bóng tối,” vì các thể dục vọng của mọi con người đều được cấu tạo bằng vật chất của các cõi phụ thứ hai, thứ ba và thứ tư của cõi cảm dục.

17. The “devas of the shadows” are found, apparently, on all the four systemic ethers of the etheric-physical plane. Thus, we may infer because they are described in four classes of four differing shakes of violet.

17. “Các thiên thần của bóng tối” dường như được tìm thấy trên cả bốn dĩ thái hệ thống của cõi dĩ thái-hồng trần. Vì vậy, chúng ta có thể suy ra điều đó vì chúng được mô tả thành bốn loại với bốn sắc tím khác nhau.

18. However, it appears that the astral bodies of all human beings are composed of matter of the second, third and fourth subplanes of the astral plane.

18. Tuy nhiên, dường như các thể cảm dục của mọi con người đều được cấu tạo bằng vật chất của các cõi phụ thứ hai, thứ ba và thứ tư của cõi cảm dục.

19. This is somewhat surprising, as only the sixth and seventh subplanes of the astral plane are considered inappropriate for the human constitution and for human focus and the fifth astral subplane (counting from above) is not.

19. Điều này có phần đáng ngạc nhiên, vì chỉ các cõi phụ thứ sáu và thứ bảy của cõi cảm dục mới được xem là không thích hợp cho cấu tạo con người và cho sự tập trung của con người, còn cõi phụ cảm dục thứ năm (đếm từ trên xuống) thì không phải.

20. In this connection, the following references must be compared as it seems to give an alternative indication:

20. Trong mối liên hệ này, các trích dẫn sau đây phải được so sánh vì dường như chúng đưa ra một chỉ dẫn thay thế:

Another cause of difference can be due to the polarization of the bodies. Unless this too meets with recognition in dealing with people lack of comprehension ensues. When you use the term: “a man polarized in his astral body”—you really mean a man whose ego works principally through that vehicle. Polarity indicates the clarity of the channel. Let me illustrate. The ego of the average [Page 113] man has its home on the third sub-plane of the mental plane. If a man has an astral vehicle largely composed of third sub-plane astral matter, and a mental vehicle mostly on the fifth sub-plane, the ego will centre his endeavour on the astral body. If he has a mental body of fourth sub-plane matter and an astral body of fifth sub-plane, the polarization will be mental. (TWM 112)

Một nguyên nhân khác của sự khác biệt có thể là do sự phân cực của các thể. Trừ phi điều này cũng được thừa nhận khi đề cập đến con người, nếu không sẽ nảy sinh sự thiếu thấu hiểu. Khi bạn dùng thuật ngữ: “một người phân cực trong thể cảm dục của y”—thì bạn thực sự muốn nói một người mà chân ngã hoạt động chủ yếu qua vận cụ đó. Sự phân cực chỉ ra độ trong suốt của kênh dẫn. Hãy để tôi minh họa. Chân ngã của người trung bình [Page 113] có nơi cư ngụ trên cõi phụ thứ ba của cõi trí. Nếu một người có vận cụ cảm dục được cấu tạo phần lớn bằng vật chất cảm dục cõi phụ thứ ba, và một vận cụ trí tuệ phần lớn ở cõi phụ thứ năm, thì chân ngã sẽ tập trung nỗ lực của y vào thể cảm dục. Nếu y có một thể trí bằng vật chất cõi phụ thứ tư và một thể cảm dục thuộc cõi phụ thứ năm, thì sự phân cực sẽ là trí tuệ. (TWM 112)

Counting, therefore, from the bottom upwards it is only the third subplane on the physical and the astral planes which mark the commencement of human effort, leaving five subplanes to be subdued. (TCF 188)

Vì vậy, khi đếm từ dưới lên trên, chỉ cõi phụ thứ ba trên cõi hồng trần và cõi cảm dục mới đánh dấu sự khởi đầu của nỗ lực con người, để lại năm cõi phụ cần được chế ngự. (TCF 188)

When it is realised that the physical body is not a principle but that the kama-manasic principle (or desire-mind principle) is one of the most vital to man then the period or cycle in which a man functions on the fifth subplane of the astral (the fundamentally kama-manasic plane) will assume its rightful place. (TCF 303)

Khi chứng nghiệm được rằng thể xác không phải là một nguyên khí mà nguyên khí trí-cảm (hay nguyên khí dục vọng-trí tuệ) lại là một trong những nguyên khí thiết yếu nhất đối với con người, thì thời kỳ hay chu kỳ trong đó một người hoạt động trên cõi phụ thứ năm của cõi cảm dục (cõi căn bản là trí-cảm) sẽ đảm nhận vị trí đúng đắn của nó. (TCF 303)

Etc.

Vân vân.

21. It is clear that the fifth sub-plane in this instance is reached counting from above to below. The fifth subplane is lower than the fourth which reveals that the fifth does not really mean the third.

21. Rõ ràng trong trường hợp này cõi phụ thứ năm được đạt đến khi đếm từ trên xuống dưới. Cõi phụ thứ năm thấp hơn cõi thứ tư, điều này cho thấy rằng cõi thứ năm thực sự không có nghĩa là cõi thứ ba.

22. We appear to have a contradiction. When DK writes of “all human beings” does He seek to distinguish the human being from the more animal type of man? This could be one explanation. Yet, kama-manas is not a principle for animalistic man. His manas is too undeveloped.

22. Dường như chúng ta có một mâu thuẫn. Khi Chân sư DK viết về “mọi con người”, Ngài có tìm cách phân biệt hữu thể nhân loại với kiểu người thú tính hơn chăng? Đây có thể là một cách giải thích. Tuy nhiên, kama-manas không phải là một nguyên khí đối với người còn thú tính. Manas của y còn quá kém phát triển.

23. In any case, it is clear, from some references at least, that some human beings have a majority of fifth subplane astral substance in their astral bodies.

23. Dù sao đi nữa, từ ít nhất một số trích dẫn, rõ ràng là một số con người có đa số chất liệu cảm dục cõi phụ thứ năm trong các thể cảm dục của họ.

24. Interestingly, on the astral plane, the fourth through first subplanes constitute what we can call the ‘astral ethers’. All systemic planes have a portion of their subplane structure which corresponds to the etheric subplanes of the etheric-physical plane. On such subplanes of the various systemic planes, the chakras of those systemic planes are found. (CF Chart VII, TCF, 817)

24. Điều đáng chú ý là trên cõi cảm dục, các cõi phụ từ thứ tư đến thứ nhất cấu thành điều mà chúng ta có thể gọi là các “dĩ thái cảm dục”. Mọi cõi hệ thống đều có một phần trong cấu trúc cõi phụ của chúng tương ứng với các cõi phụ dĩ thái của cõi dĩ thái-hồng trần. Trên các cõi phụ như thế của những cõi hệ thống khác nhau, các luân xa của những cõi hệ thống ấy được tìm thấy. (CF Chart VII, TCF, 817)

25. An initiate of the fourth degree has an astral body composed mostly or even entirely of atomic matter. Why, then, is the first subplane of the astral plane eliminated when describing the astral bodies of human beings? Is it because once a person has one hundred percent astral atomic subplane matter in his astral vehicle, he is no longer to be considered a human being? This is most unlikely, as even an Master of the Wisdom is considered a human being.

25. Một điểm đạo đồ cấp bốn có thể cảm dục được cấu tạo phần lớn hoặc thậm chí hoàn toàn bằng vật chất nguyên tử. Vậy thì tại sao cõi phụ thứ nhất của cõi cảm dục lại bị loại ra khi mô tả các thể cảm dục của con người? Có phải vì một khi một người có một trăm phần trăm vật chất cõi phụ nguyên tử cảm dục trong vận cụ cảm dục của y, thì y không còn được xem là một hữu thể nhân loại nữa chăng? Điều này rất khó có thể đúng, vì ngay cả một Chân sư Minh triết cũng được xem là một con người.

26. Sometimes, given what we know and our present interpretations of what is written, it is impossible to resolve the contradictions we think we perceive.

26. Đôi khi, với những gì chúng ta biết và với các diễn giải hiện nay của chúng ta về điều đã được viết ra, không thể giải quyết được những mâu thuẫn mà chúng ta nghĩ là mình nhận thấy.

This is a point which should be closely considered, and the analogy between the etheric body, the vehicle of prana vitalising the dense physical, and [Page 659] man’s astral body, and the method of its vitalisation will be found illuminating.

Đây là một điểm cần được xem xét kỹ lưỡng, và sự tương đồng giữa thể dĩ thái, vận cụ của prana tiếp sinh lực cho thể xác đậm đặc, và [Page 659] thể cảm dục của con người, cùng phương pháp tiếp sinh lực cho nó, sẽ được thấy là soi sáng.

27. If the higher four planes of the etheric-physical plane vitalize the lower three, “dense” subplanes, can we say that the higher four ‘etheric’ subplanes of the systemic astral plane vitalize the lower three (which then would be considered astrally ‘dense’? It is certainly true that the higher three mental subplanes vitalize the lower four. The fourth mental subplane is in an ambiguous position.

27. Nếu bốn cõi cao hơn của cõi dĩ thái-hồng trần tiếp sinh lực cho ba cõi phụ “đậm đặc” thấp hơn, thì chúng ta có thể nói rằng bốn cõi phụ “dĩ thái” cao hơn của cõi cảm dục hệ thống tiếp sinh lực cho ba cõi thấp hơn (khi đó sẽ được xem là “đậm đặc” về cảm dục) chăng? Chắc chắn là đúng khi ba cõi phụ trí tuệ cao hơn tiếp sinh lực cho bốn cõi thấp hơn. Cõi phụ trí tuệ thứ tư ở vào một vị trí mơ hồ.

28. Are the higher four subplanes of any systemic plane the most pranically sensitive of the seven subplanes of any systemic plane.

28. Liệu bốn cõi phụ cao hơn của bất kỳ cõi hệ thống nào có phải là những cõi nhạy cảm prana nhất trong bảy cõi phụ của bất kỳ cõi hệ thống nào không.

29. We can look for parallels between the etheric nature and the astral nature, especially if we focus on the higher three or four subplanes of the astral plane.

29. Chúng ta có thể tìm những điểm song hành giữa bản chất dĩ thái và bản chất cảm dục, đặc biệt nếu tập trung vào ba hoặc bốn cõi phụ cao hơn của cõi cảm dục.

30. In both cases however, it is difficult to find any good reason why the atomic astral plane (etheric or astral) should be excluded from our consideration.

30. Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, thật khó tìm được bất kỳ lý do xác đáng nào giải thích vì sao cõi nguyên tử cảm dục (dĩ thái hay cảm dục) lại bị loại khỏi sự xem xét của chúng ta.

31. For one thing the head center of all human beings is located in the atomic etheric solar plexus. This should be analogically true of the astral head center.

31. Trước hết, trung tâm đầu của mọi con người nằm trong tùng thái dương dĩ thái nguyên tử. Điều này theo phép tương đồng cũng phải đúng đối với trung tâm đầu cảm dục.

32. As well, a translucent lavender is given as the color of those devas of the shadows who inhabit the etheric atomic subplane. So man definitely uses all four systemic ethers. Why not all four of the higher astral subplanes of the systemic astral plane?

32. Ngoài ra, màu oải hương trong suốt được nêu là màu của những thiên thần của bóng tối cư ngụ trên cõi phụ nguyên tử dĩ thái. Vì vậy con người chắc chắn sử dụng cả bốn dĩ thái hệ thống. Vậy tại sao không phải cả bốn cõi phụ cảm dục cao hơn của cõi cảm dục hệ thống?

33. In other words, if we are to analogize from the four systemic ethers to the four higher subplanes of the astral plane, there should be a one-to-one correspondence and the highest astral subplane should not be left out of the picture.

33. Nói cách khác, nếu chúng ta suy theo phép tương đồng từ bốn dĩ thái hệ thống sang bốn cõi phụ cao hơn của cõi cảm dục, thì phải có một sự tương ứng một-một, và cõi phụ cảm dục cao nhất không nên bị bỏ ra ngoài bức tranh.

34. When apparent contradictions of this nature seem to appear, we must simply suspend judgment until we know more.

34. Khi những mâu thuẫn bề ngoài thuộc loại này dường như xuất hiện, chúng ta đơn giản phải đình chỉ phán đoán cho đến khi biết nhiều hơn.

Fifth, from the standpoint of the physical plane, as the sumtotal of material activity (even though subjective) which produces that which is tangible and objective.

Thứ năm, từ quan điểm của cõi hồng trần, như tổng số của hoạt động vật chất (dù là chủ quan) tạo ra điều hữu hình và khách quan.

35. DK is telling us that the Agnisuryans (who are subjectively “material” because they are part of the dense physical plane of the Planetary Logos and Solar Logos) are a form of “material activity” which produces that which is tangible and objective on the outer physical plane.

35. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng các Agnisuryan (vốn “vật chất” một cách chủ quan vì chúng là một phần của cõi hồng trần đậm đặc của Đức Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế) là một dạng “hoạt động vật chất” tạo ra điều hữu hình và khách quan trên cõi hồng trần bên ngoài.

36. He justifies this (below) by tracing objectivity to desire (which the Agnisuryans embody).

36. Ngài biện minh cho điều này (ở dưới) bằng cách truy nguyên tính khách quan về dục vọng (điều mà các Agnisuryan thể hiện).

37. Let us remember that from the cosmic perspective of the Solar Logos (and also the Planetary Logos), the activity of the Agnisuryans takes place within the liquid aspect of His dense physical body and is thus “material activity”.

37. Chúng ta hãy nhớ rằng từ quan điểm vũ trụ của Thái dương Thượng đế (và cả Đức Hành Tinh Thượng Đế), hoạt động của các Agnisuryan diễn ra trong phương diện lỏng của thể hồng trần đậm đặc của Ngài và do đó là hoạt động “vật chất”.

38. Note the use of the word “subjective” here. In esotericism the term “subjective” (in contradistinction to its use in modern psychology) is usually used to refer to the soul level, but here it is used in relation to one of the “subtle” bodies. This may be important to consider when we come to defining the nature and ‘location’ of the “subjective Sun”

38. Hãy lưu ý việc dùng từ “chủ quan” ở đây. Trong huyền bí học, thuật ngữ “chủ quan” (đối lập với cách dùng của nó trong tâm lý học hiện đại) thường được dùng để chỉ cấp độ linh hồn, nhưng ở đây nó được dùng liên hệ với một trong các thể “vi tế”. Điều này có thể quan trọng để xem xét khi chúng ta đi đến việc xác định bản chất và “vị trí” của “Mặt Trời chủ quan

Just as the solar system is a “Son of Necessity,” or of desire, so the physical bodies of all that exist are the product of the desire of some greater or lesser entity within the system.

Cũng như hệ mặt trời là một “Con của Tất Yếu”, hay của dục vọng, thì thể xác của mọi hữu thể hiện hữu đều là sản phẩm của dục vọng của một thực thể lớn hơn hay nhỏ hơn nào đó trong hệ thống.

39. Physical bodies are the product of desire. It is interesting that the sacral center (which produces physical bodies) has six petals—the number six corresponding to the sixth ray and to the form-making activity of the sacral center.

39. Các thể xác là sản phẩm của dục vọng. Điều đáng chú ý là trung tâm xương cùng (vốn tạo ra các thể xác) có sáu cánh hoa—con số sáu tương ứng với cung sáu và với hoạt động tạo hình tướng của trung tâm xương cùng.

40. In some respects, the number six is considered the number of form.

40. Trong một số phương diện, số sáu được xem là con số của hình tướng.

41. We cannot, it seems, divorce physicality from astrality. The planet Mars is powerfully involved in both materiality and the desire which produces material conditions.

41. Dường như chúng ta không thể tách tính hồng trần khỏi tính cảm dục. Hành tinh Sao Hỏa can dự mạnh mẽ vào cả tính vật chất lẫn dục vọng tạo ra các điều kiện vật chất.

It might be apposite here to point out the lines along which energy—whether manasic, pranic, or astral—enters the system and reaches a particular plane, thus finding its way to all units of consciousness, from an atom to a solar Logos.

Ở đây có lẽ thích hợp để chỉ ra những đường lối mà năng lượng—dù là manas, prana hay cảm dục—đi vào hệ thống và đến một cõi nhất định, nhờ đó tìm đường đến mọi đơn vị tâm thức, từ một nguyên tử đến một Thái dương Thượng đế.

42. DK is an expert in tracing lines of energy transmission. Much can be learned from these lines. They can be meditatively and imaginatively utilized to promote enhanced energy flows. In the section on the Techniques of Fusion in EP II, He does just this.

42. Chân sư DK là bậc chuyên gia trong việc truy vết các đường truyền dẫn năng lượng. Có thể học được rất nhiều từ các đường này. Chúng có thể được sử dụng trong tham thiền và bằng sự tưởng tượng để thúc đẩy các dòng năng lượng tăng cường. Trong phần về Kỹ Thuật Dung Hợp trong EP II, Ngài làm đúng như vậy.

The dense physical plane itself is energised via:

Bản thân cõi hồng trần đậm đặc được tiếp năng lượng qua:

a. The planetary etheric body.

a. Thể dĩ thái hành tinh.

b. The mental plane, or the cosmic gaseous subplane.

b. Cõi trí, hay cõi phụ khí vũ trụ.

c. The atmic plane, or the third cosmic ether.

c. Cõi atma, hay dĩ thái vũ trụ thứ ba.

d. The plane of adi, or the first cosmic ether.

d. Cõi adi, hay dĩ thái vũ trụ thứ nhất.

43. Here is the 1—3—5—7 line of energizing. When tracing lines of energy downflow or inflow, numerical resonance is definitely to be considered.

43. Đây là đường tiếp năng lượng 1—3—5—7. Khi truy các đường năng lượng tuôn xuống hay chảy vào, cộng hưởng số học chắc chắn cần được xem xét.

44. We note that in this context DK is putting the systemic planes in a cosmic context. Thus the highest systemic planes of our cosmic physical plane become ethers.

44. Chúng ta lưu ý rằng trong ngữ cảnh này Chân sư DK đang đặt các cõi hệ thống vào một bối cảnh vũ trụ. Vì vậy các cõi hệ thống cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ của chúng ta trở thành các dĩ thái.

and inferentially (by means of the logoic permanent atom) a similar flow of force enters from cosmic levels.

và theo suy luận (nhờ nguyên tử trường tồn logoic) một dòng mãnh lực tương tự đi vào từ các cấp độ vũ trụ.

45. This entry from cosmic levels would, presumably, also occur along a hard-line concatenation.

45. Có lẽ sự đi vào này từ các cấp độ vũ trụ cũng sẽ xảy ra dọc theo một chuỗi nối kết tuyến tính chặt chẽ.

46. We can infer that the cosmic mental plane would be involved in this downflow from cosmic planes, and one could attempt to trace still higher cosmic planar sources.

46. Chúng ta có thể suy ra rằng cõi trí vũ trụ sẽ can dự vào dòng tuôn xuống này từ các cõi vũ trụ, và người ta có thể cố gắng truy tìm những nguồn cõi vũ trụ còn cao hơn nữa.

47. When it comes to dealing with the actualities of the cosmic planes, inference is the only tool we have.

47. Khi bàn đến các thực tại của các cõi vũ trụ, suy luận là công cụ duy nhất chúng ta có.

The astral plane is energised via:

Cõi cảm dục được tiếp năng lượng qua:

a. The buddhic plane, the fourth cosmic ether.

a. Cõi Bồ đề, dĩ thái vũ trụ thứ tư.

b. The monadic plane, the second cosmic ether.

b. Cõi chân thần, dĩ thái vũ trụ thứ hai.

c. The cosmic astral plane, and thus to the Heart of all Being.

c. Cõi cảm dục vũ trụ, và do đó đến Trái Tim của mọi Bản Thể.

48. The line of descent is along the 2—4—6 line.

48. Đường giáng hạ đi theo tuyến 2—4—6.

49. DK seems to relate the cosmic astral plane to the “Heart of all Being”. Is that “Heart” to be found ‘there’ or within the causal body of the Solar Logos—the Heart of the Sun.

49. Chân sư DK dường như liên hệ cõi cảm dục vũ trụ với “Trái Tim của mọi Bản Thể”. “Trái Tim” đó được tìm thấy ‘ở đó’ hay trong thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế—Trái Tim của Mặt Trời.

The mental plane is energised via:

Cõi trí được tiếp năng lượng qua:

a. The atmic plane, the third cosmic ether.

a. Cõi atma, dĩ thái vũ trụ thứ ba.

b. The plane adi, the first cosmic ether.

b. Cõi adi, dĩ thái vũ trụ thứ nhất.

c. The cosmic mental plane, beyond which it is unnecessary for us to go.

c. Cõi trí vũ trụ, vượt quá đó thì chúng ta không cần đi xa hơn.

50. Again, the line is determined by numerical resonance.

50. Một lần nữa, đường này được xác định bởi cộng hưởng số học.

51. The connection between the cosmic mental plane and the adic plane is to be remembered. There is much of what we interpret as will descending from the cosmic mental plane, thus to see the plane of adi in line with this descent is reasonable.

51. Cần ghi nhớ mối liên hệ giữa cõi trí vũ trụ và cõi adi. Có nhiều điều mà chúng ta diễn giải là ý chí giáng xuống từ cõi trí vũ trụ, vì vậy việc thấy cõi adi nằm trên cùng tuyến với sự giáng xuống này là hợp lý.

52. DK rarely discusses anything beyond the cosmic mental plane. Chart V (TCF 344) takes us (visually and symbolically) beyond the cosmic mental plane, as does a mention of the cosmic buddhic plane and cosmic buddhi (TCF 1162) but the direct references are rare.

52. Chân sư DK hiếm khi bàn đến bất cứ điều gì vượt quá cõi trí vũ trụ. Biểu đồ V (TCF 344) đưa chúng ta (về mặt thị giác và biểu tượng) vượt quá cõi trí vũ trụ, cũng như một chỗ nhắc đến cõi Bồ đề vũ trụ và Bồ đề vũ trụ (TCF 1162), nhưng các dẫn chiếu trực tiếp thì hiếm.

53. We can understand why this must be the case; the great majority of us are not even conscious on the higher levels of the systemic mental plane.

53. Chúng ta có thể hiểu vì sao phải như vậy; đại đa số chúng ta thậm chí còn chưa có ý thức trên các cấp độ cao hơn của cõi trí hệ thống.

It will be noted by the careful student that these planes might be looked at in connection with the three worlds [Page 660] as demonstrating two types of force,

Cần lưu ý rằng đối với đạo sinh cẩn trọng, các cõi này có thể được xem xét trong liên hệ với ba cõi giới [Page 660] như biểu lộ hai loại mãnh lực,

—first, a force which tends to differentiation such as on the mental plane (the plane of inherent separation) and on the physical plane (the plane of actual separation);

—thứ nhất, một mãnh lực có khuynh hướng dẫn đến biến phân như trên cõi trí ( cõi của sự phân ly cố hữu) và trên cõi hồng trần (cõi của sự phân ly thực sự);

54. The force which tends to differentiation obviously involves the odd numbered planes.

54. Mãnh lực có khuynh hướng dẫn đến biến phân rõ ràng liên quan đến các cõi mang số lẻ.

55. The name used for the mental plane is arresting—”the plane of inherent separation”.

55. Tên dùng cho cõi trí thật đáng chú ý—“cõi của sự phân ly cố hữu”.

56. The seeds of separation which are actualized on the physical plane are sown on the mental plane.

56. Những hạt giống của sự phân ly được hiện thực hóa trên cõi hồng trần được gieo trên cõi trí.

secondly, a force which tends to unity, such as on the astral plane, and on the plane of essential harmony, the buddhic plane.

thứ hai, một mãnh lực có khuynh hướng dẫn đến hợp nhất, như trên cõi cảm dục, và trên cõi của sự hài hòa cốt yếu, cõi Bồ đề.

57. Planes on the even line of energy are planes of unity.

57. Các cõi nằm trên tuyến năng lượng chẵn là các cõi của hợp nhất.

58. We are given an excellent name for the buddhic plane: “the plane of essential harmony”. By the time consciousness is focussed on the buddhic plane, conflict (in the ordinary human sense) has been superseded.

58. Chúng ta được cho một tên gọi rất hay cho cõi Bồ đề: “cõi của sự hài hòa cốt yếu”. Đến khi tâm thức được tập trung trên cõi Bồ đề, xung đột (theo nghĩa thông thường của con người) đã bị vượt qua.

59. Harmony is considered the higher aspect of the fourth ray and conflict, the lower.

59. Sự hài hòa được xem là phương diện cao hơn của cung bốn, còn xung đột là phương diện thấp hơn.

It must be remembered that we are considering force as it flows through, or permeates, deva substance.

Cần nhớ rằng chúng ta đang xem xét mãnh lực khi nó chảy qua, hay thấm nhập, chất liệu thiên thần.

60. The Agnisuryans are the substance through which higher energies flow.

60. Các Agnisuryan là chất liệu mà qua đó các năng lượng cao hơn chảy qua.

61. We must bear in mind however that deva substance comes in two grades—one positive and evolutionary and the other negative and involutionary. Not always is the term “deva” differentiated from the term “elemental”, even though there is a very great difference.

61. Tuy nhiên, chúng ta phải ghi nhớ rằng chất liệu thiên thần có hai cấp độ—một tích cực và thăng thượng tiến hoá, còn một tiêu cực và giáng hạ tiến hoá. Không phải lúc nào thuật ngữ “thiên thần” cũng được phân biệt với thuật ngữ “hành khí”, dù giữa chúng có một khác biệt rất lớn.

62. How ‘flow-through’ or permeation really occurs is one of the mysteries of occult physics. There is much more to the problem than meets the eye.

62. Việc “chảy xuyên qua” hay sự thấm nhập thực sự diễn ra như thế nào là một trong những huyền nhiệm của vật lý học huyền bí. Vấn đề này còn nhiều hơn những gì mắt thấy.

A hint as to the truth lies in the fact that at present the astral body of man is positive to the physical plane, negative to the mental, and positive to the buddhic plane. As evolution proceeds, the astral body should become positive to the mental, and thus prove incapable of being swayed by thought currents, and the separative processes of that plane, and negative to the buddhic plane, or receptive to the forces from that plane.

Một gợi ý về chân lý nằm ở sự kiện rằng hiện nay thể cảm dục của con người tích cực đối với cõi hồng trần, tiêu cực đối với cõi trí, và tích cực đối với cõi Bồ đề. Khi tiến hoá tiếp diễn, thể cảm dục sẽ phải trở nên tích cực đối với cõi trí, và do đó chứng tỏ không thể bị các dòng tư tưởng làm dao động, cũng như các tiến trình phân ly của cõi đó, và tiêu cực đối với cõi Bồ đề, hay tiếp nhận các mãnh lực từ cõi ấy.

63. When we analyze this section of text we have to define very carefully the words “positive” and “negative”. In this case, “positive” means resistant, repellent of energies which would influence. “Negative” means receptive, capable of being influenced.

63. Khi phân tích đoạn văn này, chúng ta phải xác định thật cẩn thận các từ “tích cực” và “tiêu cực”. Trong trường hợp này, “tích cực” có nghĩa là kháng cự, đẩy lùi các năng lượng có thể gây ảnh hưởng. “Tiêu cực” có nghĩa là tiếp nhận, có khả năng bị ảnh hưởng.

64. We see that the astral body resists the influence of the physical plane (and that is as it should be) but is negative to the mental plane, thus is constantly swayed by thought currents, as water is roiled by the wind.

64. Chúng ta thấy rằng thể cảm dục kháng lại ảnh hưởng của cõi hồng trần (và điều đó là đúng như phải thế) nhưng lại tiêu cực đối với cõi trí, vì vậy nó liên tục bị các dòng tư tưởng làm dao động, như nước bị gió khuấy động.

65. The astral body is positive or presently resistant to the harmonious currents of the buddhic plane. This is especially true when Mars rules the astral body. When Neptune rules the astral body, receptivity to the higher ideals, harmonies and currents of love from the buddhic plane is more possible.

65. Thể cảm dục là tích cực hay hiện đang kháng cự các dòng hài hòa của cõi Bồ đề. Điều này đặc biệt đúng khi Sao Hỏa cai quản thể cảm dục. Khi Sao Hải Vương cai quản thể cảm dục, khả năng tiếp nhận các lý tưởng cao hơn, các hòa điệu và các dòng bác ái từ cõi Bồ đề trở nên khả dĩ hơn.

66. Our goal is to be positive to the mental plane and negative to the buddhic plane. We are to swayed by buddhic love rather than separative thought.

66. Mục tiêu của chúng ta là tích cực đối với cõi trí và tiêu cực đối với cõi Bồ đề. Chúng ta phải được tình thương Bồ đề chi phối hơn là tư tưởng phân ly.

67. It would be advisable for us to ponder these polarities, as a clear understanding of them will help us orient properly to higher and lower energy fields.

67. Chúng ta nên suy ngẫm về các cực tính này, vì sự thấu hiểu rõ ràng về chúng sẽ giúp chúng ta định hướng đúng đắn đối với các trường năng lượng cao hơn và thấp hơn.

68. And, of course, we can and should evaluate the condition of our vehicles—their positivity or negativity to each other, and ponder ways of inducing the type of polarization which DK suggests as desirable.

68. Và, dĩ nhiên, chúng ta có thể và nên đánh giá tình trạng các vận cụ của mình—tính tích cực hay tiêu cực của chúng đối với nhau, và suy ngẫm về những cách tạo ra loại sự phân cực mà Chân sư DK gợi ý là đáng mong muốn.

When it has attained equilibrium, and the forces are evenly balanced, the astral body should become the transmitter from the buddhic plane, the fourth cosmic ether, via the gaseous, to the dense physical plane.

Khi nó đã đạt đến trạng thái quân bình, và các mãnh lực được cân bằng đồng đều, thể cảm dục sẽ trở thành bộ truyền dẫn từ cõi Bồ đề, cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư, qua cõi khí, đến cõi hồng trần đậm đặc.

69. Libra is the sign of equilibrium and so we may infer that the influence of Libra is very important in bringing equilibrium to the forces of the astral body. The forces which disrupt the astral body, rendering it turbulent, emanate from Mars (a planet which, interestingly, is weakened in Libra). Through Libra and other planetary influences (Venus, the ruler of Libra among them) the subduing of the Martian forces in the astral body is accomplished.

69. Thiên Bình là dấu hiệu của sự quân bình và vì thế chúng ta có thể suy ra rằng ảnh hưởng của Thiên Bình rất quan trọng trong việc đem lại sự quân bình cho các mãnh lực của thể cảm dục. Những mãnh lực làm xáo trộn thể cảm dục, khiến nó trở nên hỗn loạn, phát ra từ Sao Hỏa (một hành tinh mà, điều thú vị là, bị suy yếu trong Thiên Bình). Qua Thiên Bình và những ảnh hưởng hành tinh khác (trong đó có Sao Kim, chủ tinh của Thiên Bình), việc chế ngự các mãnh lực Hỏa tinh trong thể cảm dục được hoàn thành.

70. We have been given a very interesting statement. It is well known that the astral body is eventually to transmit buddhic energy; the necessary correspondence is present. However, we notice that this transmission is to reach the dense physical plane “via the gaeous”.

70. Chúng ta đã được trao cho một phát biểu rất thú vị. Điều ai cũng biết là thể cảm dục rốt cuộc sẽ truyền dẫn năng lượng Bồ đề; sự tương ứng cần thiết hiện diện ở đó. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý rằng sự truyền dẫn này sẽ đến được vận cụ hồng trần đậm đặc “qua cõi khí”.

71. We have to pause to interpret this and the correct interpretation will not be long in coming. We must question the word “gaseous” as relating only to the systemic, physical plane.

71. Chúng ta phải dừng lại để giải thích điều này, và cách giải thích đúng sẽ không chậm xuất hiện. Chúng ta phải đặt vấn đề về từ “khí” khi liên hệ chỉ với cõi hồng trần của hệ thống.

72. The Tibetan may not entirely bypass the mental plane (especially, the higher mental or soul plane which is, through its second ray conditioning—the Venusian influence) resonant with the astral plane. We have long been told that just as the personality expresses through the physical body, and the Monad through the mental body, so the soul expresses through the astral body.

72. Chân sư Tây Tạng có thể không hoàn toàn bỏ qua cõi trí (đặc biệt là cõi thượng trí hay cõi linh hồn, vốn—qua sự tác động của cung hai, tức ảnh hưởng Kim tinh—cộng hưởng với cõi cảm dục). Từ lâu chúng ta đã được dạy rằng cũng như phàm ngã biểu lộ qua thể xác, và chân thần qua thể trí, thì linh hồn biểu lộ qua thể cảm dục.

73. If DK were discussing in a cosmic context, the mental plane would be considered as cosmic “gaseous” plane.

73. Nếu Chân sư DK đang bàn trong một bối cảnh vũ trụ, thì cõi trí sẽ được xem là cõi “khí” vũ trụ.

74. We should also bring into this discussion the fact that in occultism, the buddhic plane is considered the plane of “air”; this is the element (of the four elements) which rules this fourth level of the cosmic physical plane.

74. Chúng ta cũng nên đưa vào cuộc bàn luận này sự kiện rằng trong huyền bí học, cõi Bồ đề được xem là cõi của “khí”; đây là nguyên tố (trong bốn nguyên tố) cai quản cấp độ thứ tư này của cõi hồng trần vũ trụ.

75. Naturally buddhic rulership by “air” relates it to the cosmic gaseous plane and, very likely, to the systemic gaseous plane, for “air” is a “gas”.

75. Một cách tự nhiên, việc cõi Bồ đề được “khí” cai quản liên hệ nó với cõi khí vũ trụ và, rất có thể, với cõi khí của hệ thống, vì “khí” là một “chất khí”.

76. But it is not primarily the cosmic gaeous plane upon which DK is focusing (even though at a point of achieved mental polarization it can easily be seen as part of the transmission).

76. Nhưng Chân sư DK không chủ yếu tập trung vào cõi khí vũ trụ (dù rằng tại một điểm đã đạt được sự phân cực trí tuệ, nó có thể dễ dàng được thấy như một phần của sự truyền dẫn).

77. The word “via” suggests that buddhic energy is transmitted to the astral body and to the dense physical plane “via” the gaeous subplane of the system physical plane.

77. Từ “qua” gợi ý rằng năng lượng Bồ đề được truyền đến thể cảm dục và đến cõi hồng trần đậm đặc “qua” cõi phụ khí của cõi hồng trần hệ thống.

78. Notice how DK keeps us questioning. He does not follow the word “gaseous” with a noun, thus rendering “gaseous” an adjectival noun. It is for us to determine the meaning of “gaseous”—whether cosmic or systemic.

78. Hãy lưu ý cách Chân sư DK luôn khiến chúng ta phải đặt câu hỏi. Ngài không theo sau từ “khí” bằng một danh từ, do đó khiến “khí” trở thành một danh từ tính từ. Việc xác định ý nghĩa của “khí”—là vũ trụ hay hệ thống—là phần việc của chúng ta.

79. We have determined that in this context, it is the systemic gaseous.

79. Chúng ta đã xác định rằng trong ngữ cảnh này, đó là cõi khí của hệ thống.

This thought should be studied in connection with the burning of the etheric web of the planet, thus illumination may come.

Tư tưởng này nên được nghiên cứu trong liên hệ với việc đốt cháy màng lưới dĩ thái của hành tinh; nhờ đó sự soi sáng có thể đến.

80. We have been given conditions under which we may expect progress in the burning of the etheric web. The alignment suggested above provides those conditions. It may be that the application of buddhic energy to the ethers (‘from the other side’ as it were) facilitates this burning.

80. Chúng ta đã được cho biết những điều kiện trong đó có thể mong đợi sự tiến bộ trong việc đốt cháy màng lưới dĩ thái. Sự chỉnh hợp được gợi ý ở trên cung cấp những điều kiện ấy. Có thể việc áp dụng năng lượng Bồ đề vào các cõi dĩ thái (“từ phía bên kia”, có thể nói như vậy) tạo thuận lợi cho sự đốt cháy này.

81. When the etheric web is burned, the energies of the astral plane (and other higher planes) can reach the dense physical vehicle. They are not blocked by the etheric web.

81. Khi màng lưới dĩ thái bị đốt cháy, các năng lượng của cõi cảm dục (và các cõi cao hơn khác) có thể đến được vận cụ hồng trần đậm đặc. Chúng không còn bị màng lưới dĩ thái ngăn chặn.

82. In this burning process the systemic gaseous plane is involved. Certain breathing exercises (summoning the fire) promote the burning of the etheric web. There is one breathing exercise called the “Breath of Fire”.

82. Trong tiến trình đốt cháy này, cõi khí của hệ thống có liên quan. Một số bài tập hô hấp nhất định (triệu gọi lửa) thúc đẩy việc đốt cháy màng lưới dĩ thái. Có một bài tập hô hấp được gọi là “Hơi Thở của Lửa”.

83. In one respect, when the etheric web of the planet is burned, illumination will surely come, because forces obstructive to illumination will be eliminated. But DK is speaking of the illumination which may come to our mind if we ponder his points.

83. Ở một phương diện, khi màng lưới dĩ thái của hành tinh bị đốt cháy, sự soi sáng chắc chắn sẽ đến, vì các mãnh lực cản trở sự soi sáng sẽ bị loại bỏ. Nhưng Chân sư DK đang nói về sự soi sáng có thể đến với trí tuệ của chúng ta nếu chúng ta suy ngẫm về các điểm Ngài nêu ra.

84. It seems we should extend the alignment until it looks something like this:

84. Có vẻ như chúng ta nên mở rộng sự chỉnh hợp cho đến khi nó trông gần như thế này:

a. Buddhic plane

a. Cõi Bồ đề

b. Higher mental plane (cosmic gaseous)

b. Cõi thượng trí (cõi khí vũ trụ)

c. Mental plane (still cosmic gaseous)

c. Cõi trí (vẫn là cõi khí vũ trụ)

d. Astral plane

d. Cõi cảm dục

e. Etheric subplanes

e. Các cõi phụ dĩ thái

f.   Systemic gaeous plane

f. Cõi khí của hệ thống

g. Dense physical plane

g. Cõi hồng trần đậm đặc

85. The occult properties of the systemic gaeous plane (the forty-seventh or third subplane) and its role in the enfiring of the ethers has much to be studied.

85. Các đặc tính huyền bí của cõi khí của hệ thống (cõi phụ thứ bốn mươi bảy hay cõi phụ thứ ba) và vai trò của nó trong việc làm bốc lửa các cõi dĩ thái còn rất nhiều điều phải nghiên cứu.

86. The etheric web is burned through aspiration and also through the evocation of soul and triadal energy. Once the antahkarana is built, the process of burning will be hastened, as contact with the fiery will aspect is facilitated.

86. Màng lưới dĩ thái bị đốt cháy nhờ khát vọng và cũng nhờ sự gợi lên năng lượng linh hồn và năng lượng Tam nguyên tinh thần. Một khi antahkarana được xây dựng, tiến trình đốt cháy sẽ được đẩy nhanh, vì sự tiếp xúc với phương diện ý chí đầy lửa được tạo điều kiện thuận lợi.

87. As well, how is the “breath” related to the acquisition of buddhic energy? There must be a connection between the systemic gaseous subplane and the systemic plane of air, the buddhic plane. Certain rhythms of breathing may facilitate access to the intuition.

87. Ngoài ra, “hơi thở” liên hệ thế nào với việc đạt được năng lượng Bồ đề? Hẳn phải có một mối liên hệ giữa cõi phụ khí của hệ thống và cõi khí của hệ thống, tức cõi Bồ đề. Một số nhịp điệu hô hấp nhất định có thể tạo thuận lợi cho việc tiếp cận trực giác.

Literally, there is no such division on the astral plane as we find on the mental or on the physical planes.

Theo nghĩa đen, trên cõi cảm dục không có sự phân chia như chúng ta thấy trên cõi trí hay trên các cõi hồng trần.

88. If we study the various charts carefully, Chart VIII of TCF, 817, for instance, we will see this to be the case. A separating dotted line appears on both the systemic mental and systemic physical planes.

88. Nếu chúng ta nghiên cứu cẩn thận các biểu đồ khác nhau, chẳng hạn Biểu đồ VIII của Luận về Lửa Vũ Trụ, 817, chúng ta sẽ thấy đúng là như vậy. Một đường chấm phân cách xuất hiện trên cả cõi trí hệ thống lẫn cõi hồng trần hệ thống.

On both those planes, we have a division into two: the mental plane being divided into higher and lower, rupa and arupa, concrete and abstract, and the physical plane into the etheric levels and the dense subplanes.

Trên cả hai cõi ấy, chúng ta có một sự phân chia thành hai: cõi trí được chia thành cao và thấp, rupa và arupa, cụ thể và trừu tượng, còn cõi hồng trần được chia thành các cấp dĩ thái và các cõi phụ đậm đặc.

89. VSK suggests, “This relationship of astral to buddhi may be hinted at in the meditation work prescribed in LOM on colour; by bringing yellow into the astral”.

89. VSK gợi ý, “Mối liên hệ này giữa cảm dục và Bồ đề có thể được ám chỉ trong công việc tham thiền được quy định trong LOM về màu sắc; bằng cách đưa màu vàng vào thể cảm dục”.

There is, therefore, a correspondence between these two.

Vì vậy, có một sự tương ứng giữa hai cõi này.

90. The correspondence is obvious—the abstract mind corresponds to the etheric subplanes, and the concrete mind to the dense physical subplanes. But the correspondence is not numerically correct, for the ratio is three to four and four to three.

90. Sự tương ứng là hiển nhiên—trí trừu tượng tương ứng với các cõi phụ dĩ thái, còn trí cụ thể tương ứng với các cõi phụ hồng trần đậm đặc. Nhưng sự tương ứng này không đúng về mặt số lượng, vì tỉ lệ là ba với bốn và bốn với ba.

The reason for this apparent division (considering the question apart from the states of consciousness of a human being) is due to the stage of development of the great devas who embody the plane, who ensoul it, and who manifest through it as a man manifests through his body.

Lý do của sự phân chia biểu kiến này (xét vấn đề tách khỏi các trạng thái tâm thức của con người) là do giai đoạn phát triển của các đại thiên thần hiện thân cho cõi ấy, phú linh cho nó, và biểu hiện qua nó như con người biểu hiện qua thể của mình.

91. Usually we explain the divided systemic mental and physical planes in terms of the microcosm.

91. Thông thường chúng ta giải thích các cõi trí và hồng trần hệ thống bị phân chia theo tiểu thiên địa.

92. Here we are offered a far more profound reason. The Raja Deva Lords Who ensoul the various systemic planes are at various stages of development.

92. Ở đây chúng ta được đưa ra một lý do sâu xa hơn nhiều. Các Chúa Tể Raja Deva phú linh cho các cõi hệ thống khác nhau đang ở những giai đoạn phát triển khác nhau.

Varuna, the Lord of the astral plane, has achieved a more unified conscious control than His brothers of [Page 661] the mental and physical planes.

Varuna, Chúa Tể của cõi cảm dục, đã đạt được sự kiểm soát hữu thức thống nhất hơn so với các huynh đệ của Ngài trên [Page 661] các cõi trí và hồng trần.

93. Since Varuna has “more unified conscious control” than Lord Kshiti or the lesser Lord Agni, He has managed to integrate the substance of the astral body of the Planetary Logos. The other two Raja Deva Lords have not yet managed this, though integration is now in process.

93. Vì Varuna có “sự kiểm soát hữu thức thống nhất hơn” so với Chúa Tể Kshiti hay Chúa Tể Agni thấp hơn, Ngài đã xoay xở để tích hợp chất liệu của thể cảm dục của Hành Tinh Thượng đế. Hai Chúa Tể Raja Deva kia vẫn chưa làm được điều này, dù sự tích hợp hiện đang diễn ra.

94. We must pause to realize that sometimes Lord Varuna is considered the Raja Deva Lord Who ensouls the astral body of our Planetary Logos and sometimes He is given dominion over the entire systemic astral plane, as in the following quotation:

94. Chúng ta phải dừng lại để nhận ra rằng đôi khi Chúa Tể Varuna được xem là Chúa Tể Raja Deva phú linh cho thể cảm dục của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, và đôi khi Ngài được trao quyền cai quản toàn bộ cõi cảm dục hệ thống, như trong trích dẫn sau đây:

We should therefore bear in mind that the Deva Lords, Agni, Varuna, Kshiti,4 represent in the exoteric teaching the substance aspect of the dense body of the Logos whilst the force aspect as flowing through the etheric body of the Logos is considered under various names, such as Shiva, Surya, Brahma. (TCF 625-626)

Do đó chúng ta nên ghi nhớ rằng các Chúa Tể Deva, Agni, Varuna, Kshiti,4 trong giáo huấn ngoại môn đại diện cho phương diện chất liệu của thể đậm đặc của Thượng đế, trong khi phương diện mãnh lực khi tuôn chảy qua thể dĩ thái của Thượng đế thì được xét dưới nhiều danh xưng khác nhau, như Shiva, Surya, Brahma. (TCF 625-626)

95. Here the opposite is given:

95. Ở đây điều ngược lại được nêu ra:

Agnisuryan…….6th subplane……Astral…………..Liquid……….Varuna

Agnisuryan…….6th subplane……Astral…………..Liquid……….Varuna

cosmic physical (TCF 633)

cosmic physical (TCF 633)

The Raja-Lord of the Plane, the great deva Varuna, Who is the central Life of the substance of the astral plane of our planetary scheme. (TCF 676)

Chúa Tể Raja của Cõi, đại thiên thần Varuna, Đấng là Sự sống trung tâm của chất liệu của cõi cảm dục của hệ hành tinh chúng ta. (TCF 676)

The Raja Lord of the astral plane, Varuna [Page 913] and his brother Kshiti, have been called to the council chamber of the Hierarchy for specific consultation, and just as the Masters are endeavouring to prepare humanity for service when the World Teacher comes, so these Raja Lords are working along similar lines in connection with the devas. They are arduous in Their work, intense in Their zeal, but much obstructed by man. (TCF 912-913)

Chúa Tể Raja của cõi cảm dục, Varuna [Page 913] và huynh đệ của Ngài là Kshiti, đã được triệu đến phòng hội đồng của Thánh đoàn để tham vấn đặc biệt, và cũng như các Chân sư đang nỗ lực chuẩn bị nhân loại cho sự phụng sự khi Đức Chưởng Giáo đến, thì các Chúa Tể Raja này cũng đang làm việc theo những đường hướng tương tự liên hệ với các thiên thần. Các Ngài chuyên cần trong công việc, mãnh liệt trong nhiệt tâm, nhưng bị con người cản trở rất nhiều. (TCF 912-913)

96. Perhaps there are greater and lesser Varunas.

96. Có lẽ có những Varuna lớn hơn và nhỏ hơn.

97. In this section He is considered mostly in relation to our Planetary Logos and the systemic astral body of that Planetary Logos.

97. Trong phần này, Ngài được xét chủ yếu trong liên hệ với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta và thể cảm dục hệ thống của Hành Tinh Thượng đế ấy.

He comes into manifestation in connection with one of the Heavenly Men, Who is the Lord of a major Ray.

Ngài đi vào biểu hiện trong mối liên hệ với một trong các Đấng Thiên Nhân, Đấng là Chúa Tể của một Cung chính.

98. We are given a potent occult hint. From the excerpt below, we understand that Lord Varuna is an emanation of the planet Neptune.

98. Chúng ta được trao cho một gợi ý huyền bí đầy mãnh lực. Từ đoạn trích dưới đây, chúng ta hiểu rằng Chúa Tể Varuna là một Xuất lộ/phát xạ của hành tinh Sao Hải Vương.

One of the most occult of the planets, Neptune, presides over the “devas of the waters”; their presiding deva Lord, Varuna, the Raja of the astral plane, being an emanation from that planet. (TCF 897)

Một trong những hành tinh huyền bí nhất, Sao Hải Vương, chủ trì “các thiên thần của nước”; Chúa Tể deva chủ trì của họ, Varuna, Raja của cõi cảm dục, là một phát xạ từ hành tinh ấy. (TCF 897)

99. Usually, however, Neptune is considered to be the Lord of a minor Ray, unless there is a very thorough search of the qualities of Neptune.

99. Tuy nhiên, thông thường Sao Hải Vương được xem là Chúa Tể của một Cung phụ, trừ phi có một sự khảo cứu rất thấu đáo về các phẩm tính của Sao Hải Vương.

100. In EP I, 420, we find that the “esoteric ray” (i.e., the monadic ray) of Neptune is actually the second Ray of Love-Wisdom.

100. Trong EP I, 420, chúng ta thấy rằng “cung huyền bí” (tức cung chân thần) của Sao Hải Vương thực ra là cung hai của Bác Ái – Minh Triết.

101. Not only is the second ray a “major ray”, but it is, for our solar system, the “major Ray”.

101. Cung hai không chỉ là một “Cung chính”, mà đối với hệ mặt trời của chúng ta, nó còn là “Cung chính”.

102. The fact that Varuna emanates from Neptune suggests that Kshiti may emanate from Saturn and Agni from Uranus.

102. Sự kiện Varuna phát ra từ Sao Hải Vương gợi ý rằng Kshiti có thể phát ra từ Sao Thổ và Agni từ Sao Thiên Vương.

103. Something about the (perhaps unsuspected) strength of Neptune is also suggested. Because Varuna is further advanced than His Brothers, perhaps Neptune (the source of Varuna) is, in some way, also further advanced than the two Lords of Saturn and Uranus. Saturn, however, seems to be older.

103. Một điều gì đó về sức mạnh (có lẽ không được ngờ tới) của Sao Hải Vương cũng được gợi ra. Bởi vì Varuna tiến bộ hơn các Huynh đệ của Ngài, có lẽ Sao Hải Vương (nguồn của Varuna) cũng, theo một cách nào đó, tiến bộ hơn hai Chúa Tể của Sao Thổ và Sao Thiên Vương. Tuy nhiên, Sao Thổ dường như cổ xưa hơn.

104. Even if it is not the case that Neptune is more advanced than Saturn and Uranus, it may well be that Neptune is to considered the major planet in our solar system—a second ray solar system.

104. Ngay cả nếu không phải trường hợp Sao Hải Vương tiến bộ hơn Sao Thổ và Sao Thiên Vương, thì rất có thể Sao Hải Vương phải được xem là hành tinh chính trong hệ mặt trời của chúng ta—một hệ mặt trời cung hai.

105. Yet, from another perspective, Neptune is said not to belong to our solar system at all. This may be an oblique way of saying that it belongs more to the cosmic astral plane than to the cosmic physical plane—the plane whereon the solar system can be found.

105. Tuy vậy, từ một góc nhìn khác, Sao Hải Vương được nói là hoàn toàn không thuộc hệ mặt trời của chúng ta. Đây có thể là một cách nói gián tiếp rằng nó thuộc về cõi cảm dục vũ trụ nhiều hơn là cõi hồng trần vũ trụ—cõi mà trên đó có thể tìm thấy hệ mặt trời.

The other two are linked up with the Lords of a minor Ray. There is a suggestive hint for students in this information.

Hai vị kia được nối kết với các Chúa Tể của một Cung phụ. Trong thông tin này có một gợi ý đáng suy ngẫm cho các đạo sinh.

106. We are here told that Kshiti and lesser Agni are linked with Lords of minor Rays. (This does not mean that They could not also be linked with the other two synthesizing planets.)

106. Ở đây chúng ta được cho biết rằng Kshiti và Agni thấp hơn được nối kết với các Chúa Tể của các Cung phụ. (Điều này không có nghĩa là Các Ngài không thể cũng được nối kết với hai hành tinh tổng hợp kia.)

107. I call the Agni who rules the systemic mental body of our Planetary Logos “lesser” because the Great Lord Agni expresses through the entire personality of the Solar Logos!

107. Tôi gọi Agni cai quản thể trí hệ thống của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta là “thấp hơn” vì Chúa Tể Agni Vĩ Đại biểu lộ qua toàn bộ phàm ngã của Thái dương Thượng đế!

108. Uranus (although the monadic Lord of the First Ray) is, from another perspective, Lord of the Seventh Ray, and, thus, has a Kshiti connection.

108. Sao Thiên Vương (dù là Chúa Tể chân thần của Cung một) từ một góc nhìn khác lại là Chúa Tể của cung bảy, và do đó có một mối liên hệ với Kshiti.

109. He is known as the Lord of the Seventh Ray (a minor Ray), yet since He is Lord of the First Ray (monadically) He can be related directly to Agni (who always seems to connect with first ray expressions).

109. Ngài được biết đến là Chúa Tể của cung bảy (một Cung phụ), thế nhưng vì Ngài là Chúa Tể của Cung một (về mặt chân thần) nên Ngài có thể được liên hệ trực tiếp với Agni (Đấng dường như luôn nối kết với các biểu hiện cung một).

110. Saturn, however, cannot easily be linked with a minor ray and is, definitely, connected with the systemic physical plane and with the cosmic physical plane as well.

110. Tuy nhiên, Sao Thổ không thể dễ dàng được liên hệ với một cung phụ và chắc chắn được nối kết với cõi hồng trần hệ thống cũng như với cõi hồng trần vũ trụ.

111. Neptune, Uranus and Saturn stand together and are not easily separated.

111. Sao Hải Vương, Sao Thiên Vương và Sao Thổ đứng cùng nhau và không dễ tách rời.

112. We cannot ascertain exactly which planets DK is hinting when mentioning that the Lord of the planetary physical plane and the Lord of the planetary mental plane are related to Lords of minor rays.

112. Chúng ta không thể xác định chính xác Chân sư DK đang ám chỉ những hành tinh nào khi nói rằng Chúa Tể của cõi hồng trần hành tinh và Chúa Tể của cõi trí hành tinh có liên hệ với các Chúa Tể của các Cung phụ.

113. Kshiti could be directly related to Earth which, from one perspective, is a Lord of a minor or non-sacred planet—though its personality ray is the third—a major ray..

113. Kshiti có thể liên hệ trực tiếp với Trái Đất, vốn từ một góc nhìn là Chúa Tể của một hành tinh phụ hay không thiêng liêng—dù cung phàm ngã của nó là cung ba, một Cung chính..

114. Agni fits with few if any planets other than Uranus, who, in one respect is a Lord of a minor Ray (as the seventh ray conditions the soul of Uranus). Uranus also has much of the fifth ray which fits with the fact that lesser Agni conditions the mental body of the Planetary Logos.

114. Agni hầu như không phù hợp với hành tinh nào khác ngoài Sao Thiên Vương, vốn ở một phương diện một Chúa Tể của Cung phụ (vì cung bảy tác động lên linh hồn của Sao Thiên Vương). Sao Thiên Vương cũng có nhiều cung năm, điều này phù hợp với sự kiện Agni thấp hơn tác động lên thể trí của Hành Tinh Thượng đế.

115. We will leave this subject having offered some speculations which can be pondered.

115. Chúng ta sẽ rời chủ đề này sau khi đã đưa ra một số suy đoán có thể được suy ngẫm.

116. One thing to consider—whereas we are told that Varuna is an “emanation” of Neptune, we are told merely that the other two Brother are “linked up” with “the Lords of minor Ray”. To be “linked up” may not be the same as to be an emanation.

116. Có một điều cần cân nhắc—trong khi chúng ta được bảo rằng Varuna là một “phát xạ” của Sao Hải Vương, thì về hai Huynh đệ kia chúng ta chỉ được nói rằng Các Ngài “được nối kết” với “các Chúa Tể của Cung phụ”. “Được nối kết” có thể không giống như là một phát xạ.

117. In other words, Kshiti could be an emanation of Saturn and Agni an emanation of Uranus, and yet these two Raja Deva Lords could still be “linked up” with other Ray Lords of minor Rays.

117. Nói cách khác, Kshiti có thể là một phát xạ của Sao Thổ và Agni là một phát xạ của Sao Thiên Vương, nhưng hai Chúa Tể Raja Deva này vẫn có thể “được nối kết” với các Chúa Tể Cung khác của các Cung phụ.

We may justly ask why, if this is so, it should apparently manifest so disastrously in connection with man?

Chúng ta có thể chính đáng đặt câu hỏi tại sao, nếu đúng như vậy, điều này lại dường như biểu hiện một cách tai hại đến thế trong liên hệ với con người?

118. The question is, if Lord Varuna, Who presides over the lesser Deva Lords of the planetary astral plane and over the Agnisuryans of our planet in general is linked up with a planetary Lord Who expresses a major Ray, why does the astral plane manifest so disastrously in the life of man and the planet at this time?

118. Câu hỏi là, nếu Chúa Tể Varuna, Đấng chủ trì các Chúa Tể Deva thấp hơn của cõi cảm dục hành tinh và các Agnisuryan của hành tinh chúng ta nói chung, được nối kết với một Chúa Tể hành tinh biểu lộ một Cung chính, thì tại sao cõi cảm dục lại biểu hiện tai hại đến thế trong đời sống con người và hành tinh vào lúc này?

There are several reasons for this, one being that the force flowing through the vehicle of the great deva, the plane,

Có nhiều lý do cho điều này, một trong số đó là mãnh lực tuôn chảy qua vận cụ của đại thiên thần, tức cõi ấy,

119. Is “the plane” to be considered “the force flowing through the vehicle of the great deva”?

119. Có phải “cõi ấy” được xem là “mãnh lực tuôn chảy qua vận cụ của đại thiên thần” không?

is consequently stronger than in the other two cases,

do đó mạnh hơn trong hai trường hợp kia,

and this is owing to His more advanced stage of development and also to the fact that the Logos Himself is polarised in His astral body.

và điều này là do giai đoạn phát triển cao hơn của Ngài và cũng do chính Thượng đế phân cực trong thể cảm dục của Ngài.

120. The disastrous effect of the astral plane, we are told, has to do with the excessive potency pouring through it because of the great potency of Lord Varuna (as well as the astral polarization of the Solar Logos)

120. Chúng ta được bảo rằng tác động tai hại của cõi cảm dục có liên quan đến năng lực quá mức tuôn qua nó vì năng lực lớn lao của Chúa Tể Varuna (cũng như sự phân cực cảm dục của Thái dương Thượng đế)

121. In occultism, overstimulation is often a greater danger and threat than under-stimulation.

121. Trong huyền bí học, sự kích thích quá mức thường là một nguy hiểm và đe dọa lớn hơn sự kích thích không đủ.

122. Man, our Planetary Logos and our Solar Logos are all wrestling with potent astral bodies. We can say that man’s problem arises because of the astral polarization of the Planetary Logos, and the Planetary Logos’ problem arises because of the astral polarization of the Solar Logos, but is there another Being (a Cosmic Logos) Who is also astrally polarized and Whose astral polarization greatly stimulates the astral polarization of the Solar Logos?

122. Con người, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta và Thái dương Thượng đế của chúng ta đều đang vật lộn với những thể cảm dục đầy mãnh lực. Chúng ta có thể nói rằng vấn đề của con người phát sinh vì sự phân cực cảm xúc của Hành Tinh Thượng đế, và vấn đề của Hành Tinh Thượng đế phát sinh vì sự phân cực cảm xúc của Thái dương Thượng đế, nhưng liệu có một Đấng nào khác (một Thượng đế Vũ trụ) cũng phân cực cảm dục và sự phân cực cảm dục của Đấng ấy kích thích mạnh mẽ sự phân cực cảm dục của Thái dương Thượng đế hay không?

123. There is reason for thinking this may be the case, for our Solar Logos may be a member of a Cosmic Logos Who expresses the solar plexus center in the “One About Whom Naught May Be Said”.

123. Có lý do để nghĩ rằng điều này có thể đúng, vì Thái dương Thượng đế của chúng ta có thể là một thành viên của một Thượng đế Vũ trụ biểu lộ trung tâm tùng thái dương trong “Đấng Bất Khả Tư Nghị”.

124. In any case, when judging the strength and relative ungovernability of the astral plane on our pt, we have been told that the greater development of Lord Varuna and the astral polarization of the Solar Logos account for this condition.

124. Dù sao đi nữa, khi đánh giá sức mạnh và tính tương đối khó kiểm soát của cõi cảm dục trên hành tinh chúng ta, chúng ta đã được bảo rằng sự phát triển lớn hơn của Chúa Tể Varuna và sự phân cực cảm dục của Thái dương Thượng đế giải thích cho tình trạng này.

125. Another reason is now given.

125. Giờ đây một lý do khác được đưa ra.

Another reason is that he has a peculiar link with the Ruler of the animal kingdom, and as the human being has not yet dissociated himself from, nor learnt to control, his animal nature, he too comes under the influence of this tremendous force. 

Một lý do khác là Ngài có một mối liên hệ đặc biệt với Chúa Tể cai quản giới động vật, và vì con người vẫn chưa tách mình ra khỏi, cũng chưa học được cách kiểm soát, bản chất động vật của mình, nên y cũng chịu ảnh hưởng của mãnh lực to lớn này. 

126. The animal kingdom (in its upper brackets at least) is a kamic kingdom. The principle of desire is paramount.

126. Giới động vật (ít nhất trong các cấp cao của nó) là một giới kama. Nguyên khí dục vọng là tối thượng.

127. The explanations above grow only more occult. It would seem that the Lord of the Animal Kingdom is a great and turbulent Being with Whom Lord Varuna is associated, just as man is associated with his animal nature.

127. Những giải thích trên chỉ càng trở nên huyền bí hơn. Có vẻ như Chúa Tể của Giới Động Vật là một Đấng vĩ đại và đầy xáo động mà Chúa Tể Varuna có liên hệ, cũng như con người có liên hệ với bản chất động vật của mình.

128. The lunar lords are closely associated with the astral plane and ruled by the planet Mars, a sixth ray planet, just as the astral plane is the sixth plane. (cf. EA 35)

128. Các nguyệt tinh quân có liên hệ chặt chẽ với cõi cảm dục và được hành tinh Sao Hỏa cai quản, một hành tinh cung sáu, cũng như cõi cảm dục là cõi thứ sáu. (x. EA 35)

129. Eventually, Neptune/Varuna are to subdue the passion of Mars, but this is not yet the case. The Martian element of the astral plane is still strongly in control, and thus presents a problem to the higher Neptune influence (just as the Being Who informs the Animal Kingdom presents a problem of rebellion to Lord Varuna). There are wild horses on the astral plane!

129. Rốt cuộc, Sao Hải Vương/Varuna sẽ chế ngự đam mê của Sao Hỏa, nhưng điều này chưa xảy ra. Yếu tố Hỏa tinh của cõi cảm dục vẫn còn kiểm soát rất mạnh, và do đó gây ra một vấn đề cho ảnh hưởng cao hơn của Sao Hải Vương (cũng như Đấng thấm nhuần Giới Động Vật gây ra một vấn đề phản nghịch cho Chúa Tể Varuna). Có những con ngựa hoang trên cõi cảm dục!

130. Just as the astral body of our Planetary Logos has to come under the sway of Neptune rather than Mars, what, do we suppose, is the great Constellational Lord under Whom the astral body of the Solar Logos must re-conditioned? The analogies ascend.

130. Cũng như thể cảm dục của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta phải chịu dưới sự chi phối của Sao Hải Vương thay vì Sao Hỏa, vậy theo chúng ta, Đấng Chúa Tể Chòm Sao vĩ đại nào là Đấng mà dưới quyền Ngài thể cảm dục của Thái dương Thượng đế phải được tác động lại? Các phép tương đồng cứ thế đi lên.

There are other reasons hidden in the karma of our Heavenly Man, but the above reasons suffice.

Có những lý do khác ẩn trong nghiệp quả của Đấng Thiên Nhân của chúng ta, nhưng các lý do trên là đủ.

131. Some such reasons may be found in the Moon-chain disaster.

131. Một vài lý do như thế có thể được tìm thấy trong thảm họa của Dãy Mặt Trăng.

132. Other reasons relate to the karma of personality to which our Planetary Logos is subject.

132. Những lý do khác liên hệ với nghiệp quả của phàm ngã mà Hành Tinh Thượng đế của chúng ta phải chịu.

1. The Function of the Agnisuryans. The devas of the astral plane are those with whom man is very specially connected at this time owing to his astral polarisation,, and to the place desire and feeling play in his development.

1. Chức năng của các Agnisuryan. Các thiên thần của cõi cảm dục là những vị mà con người hiện nay có liên hệ đặc biệt mật thiết do sự phân cực cảm dục của mình, và do vị trí mà dục vọng và cảm xúc giữ trong sự phát triển của y.

133. An understanding of the Agnisuryans is, therefore, at this time in human development crucial.

133. Vì vậy, vào lúc này trong sự phát triển của nhân loại, việc thấu hiểu các Agnisuryan là điều cốt yếu.

134. The majority of human being are still astrally polarized and, thus, Atlantean in their consciousness.

134. Đa số con người vẫn còn phân cực cảm dục và do đó, trong tâm thức của họ, vẫn là Atlantis.

Consciousness expands through contact, through intelligent appreciation of that which is contacted, and through realisation of that which is to be gained through a specific contact.

Tâmthức mở rộng qua tiếp xúc, qua sự đánh giá thông tuệ về điều được tiếp xúc, và qua sự chứng nghiệm thực sự về điều sẽ đạt được nhờ một tiếpxúc đặc thù.

135. This is a valuable section of text. We often speak of the expansion of consciousness. Here we are given the manner in which consciousness expands:

135. Đây là một đoạn văn có giá trị. Chúng ta thường nói về sự mở rộng của tâm thức. Ở đây, chúng ta được cho biết cách thức tâm thức mở rộng:

a. Consciousness expand through contact. That which is contacted has something additional to that which contacts it. That which it (i.e., that which is contacted) has is absorbed by that which contacts.

a. Tâm thức mở rộng qua tiếp xúc. Điều được tiếp xúc có một cái gì đó bổ sung cho điều đang tiếp xúc với nó. Điều mà nó (tức điều được tiếp xúc) có sẽ được hấp thụ bởi điều đang tiếp xúc.

b. Consciousness expands through intelligent appreciation of that which is contacted. This is another way of say that the planet Venus is integral to the expansion of consciousness since Venus is uniquely the planet of “intelligent appreciation”.

b. Tâm thức mở rộng qua sự đánh giá thông tuệ về điều được tiếp xúc. Đây là một cách khác để nói rằng hành tinh Sao Kim là yếu tố thiết yếu đối với sự mở rộng của tâm thức vì Sao Kim là hành tinh độc đáo của “sự đánh giá thông tuệ”.

c. Consciousness expands through realization of that which is to be gained through a specific contact. This requires the activation of foresight and the sense of purpose. Thus, forethought expands the consciousness.

c. Tâm thức mở rộng qua sự chứng nghiệm về điều sẽ đạt được nhờ một tiếp xúc đặc thù. Điều này đòi hỏi sự hoạt hóa của viễn kiến và ý thức về mục đích. Do đó, sự tiên liệu làm mở rộng tâm thức.

That which is contacted depends upon reciprocal vibration,

Điều được tiếp xúc tùy thuộc vào sự rung động tương hỗ,

136. If there is going to be intelligent appreciation of that which is contacted, and a realization of that which is to be gained through contact, then reciprocal vibration (a feedback process, an interplay between that which contacts and that which is contacted) is necessary.

136. Nếu phải có sự đánh giá thông tuệ về điều được tiếp xúc, và một sự chứng nghiệm về điều sẽ đạt được nhờ tiếp xúc, thì sự rung động tương hỗ (một tiến trình phản hồi, một sự tương tác giữa điều đang tiếp xúc và điều được tiếp xúc) là điều cần thiết.

and the place therefore of desire (which is the going out after sensation) and of feeling (which is the reflex of that desire) is of real importance; they put man constantly in touch—even though he realises it not—with deva substance of some kind or another.

và vì thế vị trí của dục vọng (là sự vươn ra để tìm cảm giác) và của cảm xúc (là phản xạ của dục vọng ấy) có tầm quan trọng thực sự; chúng đặt con người vào sự tiếp xúc liên tục—dù y không nhận ra điều đó—với chất liệu thiên thần thuộc loại này hay loại khác.

113. Important definitions are given here:

113. Ở đây có những định nghĩa quan trọng:

a. Desire is the going out after sensation. Desire is always for the sake of contact. Desired contact is made in the anticipation of fulfillment.

a. Dục vọng là sự vươn ra để tìm cảm giác. Dục vọng luôn luôn là vì mục đích tiếp xúc. Sự tiếp xúc được mong muốn được tạo ra trong sự mong đợi được thỏa mãn.

b. Feeling is the reflex of that desire. Feeling arises through mutual impression between that which contacts and that which is contacted.

b. Cảm xúc là phản xạ của dục vọng ấy. Cảm xúc phát sinh qua sự gây ấn tượng lẫn nhau giữa điều đang tiếp xúc và điều được tiếp xúc.

114. Both desire and feeling put a man constantly in touch with deva substance of some kind.

114. Cả dục vọng lẫn cảm xúc đều đặt con người vào sự tiếp xúc liên tục với một loại chất liệu thiên thần nào đó.

115. One cannot live within the three worlds without be constantly in touch with deva substance of some kind. We live in a veritable ocean of devic substance.

115. Không ai có thể sống trong ba cõi thấp mà không liên tục tiếp xúc với một loại chất liệu thiên thần nào đó. Chúng ta sống trong một đại dương đích thực của chất liệu thiên thần.

Even when man has reached a relatively high stage of evolution, the demonstration of that point of attainment is seen in the type of not-self which he contacts;

Ngay cả khi con người đã đạt đến một giai đoạn tiến hoá tương đối cao, sự biểu lộ của điểm thành tựu ấy được thấy trong loại phi-ngã mà y tiếp xúc;

116. It is interesting to realize that there is a vast multiplicity of types of “not-self”. According to the nature of one’s desires, such is the nature of that toward which desire will extend itself and will, therefore, be contacted.

116. Thật thú vị khi nhận ra rằng có một sự đa tạp vô cùng lớn của các loại “phi-ngã”. Tùy theo bản chất của dục vọng của một người, bản chất của điều mà dục vọng sẽ vươn tới và do đó sẽ được tiếp xúc cũng như vậy.

117. The Law of Attraction is intimately involved in the process of what we may call the ‘direction of desire’. We are dealing with the attraction between substances of various qualities.

117. Định luật Hấp Dẫn có liên hệ mật thiết với tiến trình mà chúng ta có thể gọi là “sự định hướng của dục vọng”. Chúng ta đang bàn đến sự hấp dẫn giữa các chất liệu có những phẩm tính khác nhau.

118. A simple way of looking at this is to say that our contacts reveal our point of spiritual attainment.

118. Một cách đơn giản để nhìn vấn đề này là nói rằng những tiếp xúc của chúng ta bộc lộ điểm thành tựu tinh thần của chúng ta.

it is only when he is an initiate that [Page 662] he begins to approximate, and to know the meaning of the essential unity which lies at the heart of Being, and to comprehend the oneness of the Universal Soul, and the Unity of that subjective Life which secretes itself behind form of every kind.

chỉ khi y là một điểm đạo đồ thì [Page 662] y mới bắt đầu tiệm cận, và biết ý nghĩa của sự hợp nhất cốt yếu nằm ở trung tâm của Bản Thể, và thấu hiểu tính duy nhất của Đại Hồn Vũ Trụ, và sự hợp nhất của Sự sống chủ quan đang ẩn mình sau mọi loại hình tướng.

119. This is a beautiful description of the consciousness of the initiate.

119. Đây là một mô tả đẹp đẽ về tâm thức của điểm đạo đồ.

120. Great ideas expressing the realization of the initiate are suggested:

120. Những ý tưởng lớn diễn tả sự chứng nghiệm của điểm đạo đồ được gợi ra:

a. Essential Unity

a. Sự Hợp Nhất Cốt Yếu

b. The Heart of Being

b. Trái Tim của Bản Thể

c. The Oneness of the Universal Soul

c. Tính Duy Nhất của Đại Hồn Vũ Trụ

d. The Unity of the subjective Life. It is a hidden unity, secreting itself behind forms of every kind.

d. Sự Hợp Nhất của Sự Sống chủ quan. Đó là một sự hợp nhất ẩn kín, đang ẩn mình sau mọi loại hình tướng.

It should never be forgotten that the matter aspect is found on all planes;

Không bao giờ nên quên rằng phương diện vật chất được tìm thấy trên mọi cõi;

121. Does this apply to cosmic planes as well? Certain plans are designated as “prakritic” planes. Such are the seven systemic planes of the cosmic physical plane. We have to question whether and in what way such planes as the cosmic astral plane or the cosmic mental plane may be “prakritic”. From the super-cosmic perspective, they certainly must be.

121. Điều này có áp dụng cho cả các cõi vũ trụ không? Một số cõi được gọi là các cõi “prakritic”. Đó là bảy cõi hệ thống của cõi hồng trần vũ trụ. Chúng ta phải đặt câu hỏi liệu và theo cách nào những cõi như cõi cảm dục vũ trụ hay cõi trí vũ trụ có thể là “prakritic”. Từ quan điểm siêu vũ trụ, chắc chắn chúng phải như vậy.

122. Can there be form without matter (or “prakriti”)? This question has profound implications.

122. Có thể có hình tướng mà không có vật chất (hay “prakriti”) không? Câu hỏi này có những hàm ý sâu xa.

123. Another related question: “Is all matter particulate?”

123. Một câu hỏi liên hệ khác: “Mọi vật chất đều có tính hạt chăng?”

also that forms are ever to be found, until the solar ring-pass-not is transcended and the Logos escapes from His present limitation.

và cũng rằng hình tướng luôn luôn được tìm thấy, cho đến khi vòng-giới-hạn mặt trời được vượt qua và Thượng đế thoát khỏi giới hạn hiện tại của Ngài.

124. Form exists on all levels of the cosmic physical plane (even the so-called “formless” levels, the arupa planes). If such form is to exist until the Logos’ fourth initiation (the initiation at which He escapes from His present limitation and the solar system manifesting on the cosmic physical plane ceases to exist) the factor of desire which impels the creation of form will remain potent in the solar system until that time. This says something about the perpetuation of solar logoic sacral center energy and also solar logoic throat center energy.

124. Hình tướng tồn tại trên mọi cấp độ của cõi hồng trần vũ trụ (ngay cả những cấp độ được gọi là “vô tướng”, các cõi arupa). Nếu hình tướng như thế sẽ tồn tại cho đến lần điểm đạo thứ tư của Thượng đế (lần điểm đạo mà tại đó Ngài thoát khỏi giới hạn hiện tại của Ngài và hệ mặt trời biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ chấm dứt tồn tại), thì yếu tố dục vọng thúc đẩy sự tạo thành hình tướng sẽ vẫn còn mạnh mẽ trong hệ mặt trời cho đến lúc ấy. Điều này nói lên điều gì đó về sự duy trì năng lượng trung tâm xương cùng của Thái dương Thượng đế và cả năng lượng trung tâm cổ họng của Thái dương Thượng đế.

125. In this context, DK seems to be pointing especially to the forms which are found on the systemic physical plane. These, too, will exist until the Solar Logos escapes from His present limitation for physical incarnation is a necessity until the fourth initiation is reached.

125. Trong bối cảnh này, Chân sư DK dường như đặc biệt chỉ đến những hình tướng được tìm thấy trên cõi hồng trần hệ thống. Những hình tướng này cũng sẽ tồn tại cho đến khi Thái dương Thượng đế thoát khỏi giới hạn hiện tại của Ngài vì sự lâm phàm hồng trần là một điều tất yếu cho đến khi đạt đến lần điểm đạo thứ tư.

Owing to this the devas of the astral plane assume a very important place in the three worlds.

Do điều này mà các thiên thần của cõi cảm dục giữ một vị trí rất quan trọng trong ba cõi thấp.

126. Why should this be the case? It is the devas of the astral plane which are the material activity (material within the dense physical body of the Solar Logos) which is responsible for the appearance of form. The impulse form creation.

126. Tại sao lại như vậy? Chính các thiên thần của cõi cảm dục là hoạt động vật chất (vật chất bên trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế) chịu trách nhiệm cho sự xuất hiện của hình tướng. Xung lực tạo hình tướng.

127. In other worlds, without the form-impulsing activities of the Agnisuryans, the solar system cannot remain in manifestation until the Day of Liberation—which it must.

127. Nói cách khác, nếu không có các hoạt động thúc đẩy hình tướng của các Agnisuryan, hệ mặt trời không thể tiếp tục ở trong biểu hiện cho đến Ngày Giải Thoát—mà nó phải như vậy.

Previously, we considered them in a fivefold aspect, dividing them into five groups. At this point we will limit our consideration to the relationship of self-conscious units such as Man and the planetary Logos to this deva substance.

Trước đây, chúng ta đã xét họ trong một phương diện ngũ phân, chia họ thành năm nhóm. Tại điểm này chúng ta sẽ giới hạn sự khảoxét của mình vào mối liên hệ của các đơn vị tự ngã thức như Con Người và Hành Tinh Thượng đế với chất liệu thiên thần này.

128. The subject can be studied by differentiating and categorizing the various groups of Agnisuryans and other devas. We can also discuss the relationship of Man and the Planetary Logos to the Agnisuryans. This seems to be the method we will now pursue.

128. Chủ đề này có thể được nghiên cứu bằng cách biến phân và phân loại các nhóm Agnisuryan khác nhau và các thiên thần khác. Chúng ta cũng có thể bàn đến mối liên hệ của Con Người và Hành Tinh Thượng đế với các Agnisuryan. Đây dường như là phương pháp mà giờ đây chúng ta sẽ theo đuổi.

A great distinction exists between man and his prototype, a Heavenly Man.

Có một sự khác biệt lớn giữa con người và nguyên mẫu của y, một Đấng Thiên Nhân.

129. There are compelling analogies between the two, but the Planetary Logos is a Dragon of Wisdom, having developed much of the love nature, whereas a human being is simply working on the development of manas which the Planetary Logos developed mahakalpas ago.

129. Có những tương đồng đầy sức thuyết phục giữa hai bên, nhưng Hành Tinh Thượng đế là một Rồng Minh Triết, đã phát triển nhiều bản chất bác ái, trong khi một con người chỉ đơn giản đang nỗ lực phát triển manas, điều mà Hành Tinh Thượng đế đã phát triển từ nhiều đại kiếp trước.

The astral plane plays a very real part in the evolution of man, having a close connection with one of his principles.

Cõi cảm dục đóng một vai trò rất thực trong sự tiến hoá của con người, vì có liên hệ chặt chẽ với một trong các nguyên khí của y.

130. We can assume this principle to be kama. The astral plane is also related to the principle called kama-manas (at least kama-manas is, in some enumerations, considered a principle). (cf. TCF 261, 264, 265)

130. Chúng ta có thể giả định nguyên khí này là kama. Cõi cảm dục cũng liên hệ với nguyên khí được gọi là trí-cảm (ít nhất trí-cảm, trong một số cách liệt kê, được xem là một nguyên khí). (xem TCF 261, 264, 265)

131. But principle of buddhi is also closely connected to the astral plane.

131. Nhưng nguyên khí Bồ đề cũng có liên hệ chặt chẽ với cõi cảm dục.

Astral matter and vibration is one of the controlling factors in the lives of the great majority of people.

Vật chất và rung động cảm dục là một trong những yếu tố kiểm soát trong đời sống của đại đa số con người.

132. Perhaps this is the case for eighty to eighty-five percent of the people and, at this time, for the majority of Earth-chain humanity, and some of Moon-chain humanity.

132. Có lẽ điều này đúng với tám mươi đến tám mươi lăm phần trăm nhân loại và, vào lúc này, với đa số nhân loại Dãy Địa Cầu, và một phần nhân loại Dãy Mặt Trăng.

To the Heavenly Man, astral matter corresponds to the liquid portion in the physical body of man, and is for Him therefore no principle.

Đối với Đấng Thiên Nhân, vật chất cảm dục tương ứng với phần lỏng trong thể xác của con người, và vì thế đối với Ngài nó không phải là một nguyên khí.

133. This is clear. For the human being the liquid portion of his physical body is not a principle, and thus it is for the Planetary Logos in relation to the systemic astral plane.

133. Điều này thật rõ ràng. Đối với con người, phần lỏng trong thể xác của y không phải là một nguyên khí, và vì vậy cũng thế đối với Hành Tinh Thượng đế trong liên hệ với cõi cảm dục hệ thống.

The astral plane is man’s principal battle-ground and the area of his most intense field of sensation,—mental sensation (esoterically understood) is for him as yet only a possibility.

Cõi cảm dục là chiến trường chính yếu của con người và là khu vực của trường cảm giác mãnh liệt nhất của y,—cảm giác trí tuệ (được hiểu theo nghĩa huyền bí) hiện vẫn chỉ là một khả năng đối với y.

134. Sensation is the registration of contact—sentiency. It means more than the sentiency which arises from strictly physical contact.

134. Cảm giác là sự ghi nhận tiếp xúc—tính cảm tri. Nó có nghĩa nhiều hơn thứ cảm tri phát sinh từ tiếp xúc thuần túy hồng trần.

135. There is, of course, sensation on the physical and mental planes, but the degree of its impact is presently far less than on the highly energized astral plane.

135. Dĩ nhiên có cảm giác trên cõi hồng trần và cõi trí, nhưng mức độ tác động của nó hiện nay nhỏ hơn rất nhiều so với trên cõi cảm dục được nạp năng lượng mạnh mẽ.

136. We might say that as man developed to his present stage, he has transcended to a great extent the impact of sensation arising in relation to the stimuli of the physical plane. He is not yet sufficiently unfolded to register sensation of upon the mental plane with any degree of intensity, but this kind of “sensation” does, we are told, exist.

136. Chúng ta có thể nói rằng khi con người phát triển đến giai đoạn hiện tại, y đã vượt qua ở mức độ lớn tác động của cảm giác phát sinh liên hệ với các kích thích của cõi hồng trần. Y vẫn chưa đủ khai mở để ghi nhận cảm giác trên cõi trí với bất kỳ mức độ mãnh liệt nào, nhưng loại “cảm giác” này, như chúng ta được cho biết, quả thực có tồn tại.

137. On the astral plane there are the greatest number of contending forces, vigorously engaged. It is for most a battlefield.

137. Trên cõi cảm dục có số lượng lớn nhất những mãnh lực tranh chấp, đang hoạt động mạnh mẽ. Đối với đa số, đó là một chiến trường.

138. Sentiency is possible on all of the systemic planes. It arises from ‘touch’ (the primary sense in our astral-buddhic solar system) and the interplay between that which ‘touches’ and that which is ‘touched’.

138. Tính cảm tri có thể có trên mọi cõi hệ thống. Nó phát sinh từ “sự chạm” (giác quan sơ khởi trong hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề của chúng ta) và sự tương tác giữa điều “chạm” và điều được “chạm”.

139. We notice, however, that when DK speaks of “mental sensation” He qualifies the term by telling us it must be “esoterically understood”. If the dynamics of sentiency are to be clearly understood we must know a great deal about the physics of the planes in which that sentiency is taking place.

139. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý rằng khi Chân sư DK nói về “cảm giác trí tuệ”, Ngài xác định thêm thuật ngữ này bằng cách cho chúng ta biết rằng nó phải được “hiểu theo nghĩa huyền bí”. Nếu động lực học của tính cảm tri phải được hiểu rõ, chúng ta phải biết rất nhiều về vật lý học của các cõi nơi tính cảm tri ấy đang diễn ra.

The astral body is the seat of man’s most violent vibration, and these vibrations are a potent cause of his physical plane activities.

Thể cảm dục là trụ sở của những rung động dữ dội nhất của con người, và những rung động này là một nguyên nhân mạnh mẽ của các hoạt động của y trên cõi hồng trần.

140. The potent influence of the non-sacred planet Mars is suggested.

140. Ảnh hưởng mạnh mẽ của hành tinh không thiêng liêng Sao Hỏa được gợi ra.

141. Violent vibrations on the astral plane lead to violent activities on the physical plane.

141. Những rung động dữ dội trên cõi cảm dục dẫn đến những hoạt động dữ dội trên cõi hồng trần.

142. By what are most men swayed? By what are they impelled to act? By the impelling energy of desire originating on the astral plane. For most human beings, the physical plane is negative to the astral body whereas it should be negative to the mental body as that mental body should be negative to the buddhic vehicle as should the astral body.

142. Đa số người ta bị chi phối bởi điều gì? Họ bị thúc đẩy hành động bởi điều gì? Bởi năng lượng thúc đẩy của dục vọng phát sinh trên cõi cảm dục. Đối với đa số con người, cõi hồng trần là âm đối với thể cảm dục, trong khi lẽ ra nó phải âm đối với thể trí, cũng như thể trí ấy phải âm đối với vận cụ Bồ đề, và thể cảm dục cũng phải như vậy.

If man only realised it, the devas of the astral plane at present very largely control what he does and says, and his goal of evolution (his immediate goal) is to liberate himself from their control in order that he, the real Ego or thinker, may be the dominating influence.

Nếu con người chỉ nhận ra điều đó, thì các thiên thần của cõi cảm dục hiện nay phần lớn kiểm soát điều y làm và nói, và mục tiêu tiến hoá của y (mục tiêu trước mắt của y) là giải thoát mình khỏi sự kiểm soát của họ để y, chân ngã hay thức giả thực sự, có thể là ảnh hưởng chi phối.

143. DK tells us how very much we are controlled by the devas of the astral plane and how little we realize that we are.

143. Chân sư DK cho chúng ta biết chúng ta bị các thiên thần của cõi cảm dục kiểm soát nhiều đến mức nào và chúng ta ít nhận ra điều đó đến mức nào.

144. The human being is predominantly emotional and from this emotional control he must liberate himself. Man has many goals, but liberation from his emotions is his first priority. When we examine the chaotic condition of human interaction in today’s world, we can only affirm DK’s evaluation.

144. Con người chủ yếu là cảm xúc và khỏi sự kiểm soát cảm xúc này y phải tự giải thoát. Con người có nhiều mục tiêu, nhưng giải thoát khỏi cảm xúc của mình là ưu tiên hàng đầu của y. Khi chúng ta khảo sát tình trạng hỗn loạn của sự tương tác nhân loại trong thế giới ngày nay, chúng ta chỉ có thể khẳng định sự đánh giá của Chân sư DK.

145. Man en masse is far from being dominated by the Ego or the soul. Man en masse is not yet either the thinker or the Thinker.

145. Con người nói chung còn rất xa mới được chân ngã hay linh hồn chi phối. Con người nói chung chưa phải là thức giả cũng chưa phải là Đấng Tư Tưởng.

146. Until a human being has liberated himself from the control of the astral devas he remains (in his astral nature) positive and resistant to the influence of solar fire on the higher mental plane. The “waves that rise upon the stormy sea of life” indeed “engulf the swimmer, shut out the sun and render all plans futile”. (Counsels to the Wise, TWM, 473)

146. Cho đến khi một con người tự giải thoát khỏi sự kiểm soát của các thiên thần cảm dục, y vẫn còn (trong bản chất cảm dục của mình) là dương và kháng cự ảnh hưởng của Lửa Thái dương trên Cõi thượng trí. Quả thật, “những làn sóng dâng lên trên biển đời giông tố” “nhấn chìm người bơi, che khuất mặt trời và làm cho mọi kế hoạch trở nên vô ích”. (Counsels to the Wise, TWM, 473)

147. As the Hierarchy and the Christ approach, this vulnerable, rather thoughtless and insufficiently spiritual state of being will gradually be superseded. Emotion is not love. Humanity as a whole does not yet realize this, but the Reappearance of the Christ will promote this realization.

147. Khi Thánh đoàn và Đức Christ đến gần, trạng thái hiện hữu dễ tổn thương, khá thiếu suy nghĩ và chưa đủ tinh thần này sẽ dần dần được thay thế. Cảm xúc không phải là bác ái. Nhân loại nói chung chưa nhận ra điều này, nhưng Sự Tái Lâm của Đức Christ sẽ thúc đẩy sự chứng nghiệm ấy.

To be explicit, and thus to illustrate this point: the little elemental lives which form the body of the emotions, and the positive [Page 663] life of any evolutionary deva who (through similarity of vibration) is linked to any particular man and who gives to him an astral body of a coherent and positive power, are as yet practically in control of the majority.

Nói rõ ra, và nhờ đó minh họa điểm này: những sự sống hành khí nhỏ bé tạo thành thể cảm xúc, và sự sống [Page 663]dương của bất kỳ thiên thần thăng thượng tiến hoá nào mà (qua sự tương đồng rung động) được liên kết với một con người cụ thể ban cho y một thể cảm dục có năng lực cố kết và dương tính, hiện vẫn thực tế kiểm soát đa số.

148. DK again differentiates between the elemental lives and the lives known as evolutionary devas who are linked to a particular human being.

148. Chân sư DK một lần nữa phân biệt giữa các sự sống hành khí và các sự sống được biết như những thiên thần thăng thượng tiến hoá vốn được liên kết với một con người cụ thể.

149. The elemental lives “form the body of the emotions”.

149. Các sự sống hành khí “tạo thành thể cảm xúc”.

150. Evolutionary devas (and it seems that in the astral body of the human being there are many) make of his astral body “a coherent and positive power”. It does not seem that DK is speaking only of one evolutionary deva per human astral body, even though He uses the singular form, “deva”.

150. Các thiên thần thăng thượng tiến hoá (và dường như trong thể cảm dục của con người có nhiều vị) làm cho thể cảm dục của y thành “một năng lực cố kết và dương tính”. Dường như Chân sư DK không chỉ nói về một thiên thần thăng thượng tiến hoá cho mỗi thể cảm dục của con người, dù Ngài dùng hình thức số ít là “thiên thần”.

151. There is probably a hierarchy of evolutionary astral devas associated with the astral body of man, including one which is paramount.

151. Có lẽ có một thánh đoàn các thiên thần cảm dục thăng thượng tiến hoá liên kết với thể cảm dục của con người, trong đó có một vị giữ địa vị tối thượng.

152. Certain astral devas are drawn to a particular man through “similarity of vibration”. We may say that according to the vibratory quality of a man’s elemental substance (really according to the vibratory condition of his astral permanent atom), so devas of a certain vibration or quality will be linked to him.

152. Một số thiên thần cảm dục bị hút đến với một con người cụ thể qua “sự tương đồng rung động”. Chúng ta có thể nói rằng tùy theo phẩm tính rung động của chất liệu hành khí của một người (thực ra là tùy theo tình trạng rung động của nguyên tử trường tồn cảm dục của y), các thiên thần có một rung động hay phẩm tính nhất định sẽ được liên kết với y.

153. Perhaps some of these devas have a long association with him and are not drawn in anew with every incarnation. The regathering by the incarnating human unit of previously conditioned personality substance is proposed by DK.

153. Có lẽ một số thiên thần này đã có sự liên kết lâu dài với y và không bị thu hút lại mới trong mỗi lần lâm phàm. Chân sư DK đã nêu ra việc đơn vị nhân loại đang lâm phàm thu hồi lại chất liệu phàm ngã đã được tác động từ trước.

154. The point is that these elementals and their controlling devas control the majority of human beings.

154. Điểm chính là các hành khí này và các thiên thần kiểm soát của chúng kiểm soát đa số nhân loại.

Man usually does as his desires and instincts prompt him.

Con người thường làm theo điều mà dục vọng và bản năng của y thúc đẩy.

155. This is the simple meaning of the control of man by the devas of the astral plane.

155. Đây là ý nghĩa đơn giản của sự kiểm soát con người bởi các thiên thần của cõi cảm dục.

156. The more advanced man will think, “I want to, however…”, and the desires are held in check by thought and purpose.

156. Con người tiến bộ hơn sẽ nghĩ: “Tôi muốn, tuy nhiên…”, và các dục vọng được giữ trong vòng kiểm soát bởi tư tưởng và mục đích.

If this evolutionary deva is of a high order (as will be the case in a highly developed man) the vibration will be high, and the desires and instincts will be good and exoterically right.

Nếu thiên thần thăng thượng tiến hoá này thuộc một cấp bậc cao (như sẽ là trường hợp nơi một con người phát triển cao) thì rung động sẽ cao, và các dục vọng cùng bản năng sẽ tốt đẹp và đúng đắn theo nghĩa ngoại môn.

157. First DK uses the singular, “deva”, and then (in the next section) a plural, “them”.

157. Trước hết Chân sư DK dùng số ít, “thiên thần”, rồi sau đó (trong phần kế tiếp) dùng số nhiều, “họ”.

158. We seem to speaking of a number of Agnisuryans who are associated with the astral body of man and not only one. This would necessarily be the case as there are so many different kinds of astrally related energy flows or currents in the human being.

158. Dường như chúng ta đang nói đến một số Agnisuryan liên kết với thể cảm dục của con người chứ không chỉ một. Điều này tất yếu phải như vậy vì trong con người có quá nhiều loại dòng hay luồng năng lượng liên hệ với cảm dục khác nhau.

159. The higher the order of the evolutionary astral deva, the higher the vibration of the astral body, the higher the desires and instincts, which will be aligned with Good and will not cause spiritual damage upon the physical plane.

159. Cấp bậc của thiên thần cảm dục thăng thượng tiến hoá càng cao thì rung động của thể cảm dục càng cao, dục vọng và bản năng càng cao, sẽ chỉnh hợp với Điều Thiện và sẽ không gây tổn hại tinh thần trên cõi hồng trần.

Nevertheless, if the man is controlled by them, he is as yet under deva influence, and must free himself.

Tuy nhiên, nếu con người bị họ chi phối, thì y vẫn còn ở dưới ảnh hưởng của thiên thần, và phải tự giải thoát.

160. Probably many highly developed, well-intended people are under this influence and do not suspect it. Even if they suspected it, they might see nothing wrong in it.

160. Có lẽ nhiều người phát triển cao, có thiện ý, đang ở dưới ảnh hưởng này mà không ngờ tới. Ngay cả nếu họ nghi ngờ điều đó, họ có thể cũng không thấy có gì sai trong đó.

161. There are, however, higher energies to be expressed and the center controlling the astral body is meant to be, at this stage, the Ego, with which the advanced disciple and initiate has identified himself.

161. Tuy nhiên, có những năng lượng cao hơn cần được biểu lộ và trung tâm kiểm soát thể cảm dục, ở giai đoạn này, được định là chân ngã, với chân ngã ấy đệ tử tiến bộ và điểm đạo đồ đã đồng hoá chính mình.

162. Whether astral promptings are high or low, man must not automatically follow them but, focussed upon the plane of mind (at first lower then higher mind), must learn to control them.

162. Dù các thúc đẩy cảm dục là cao hay thấp, con người không được tự động làm theo chúng mà phải, tập trung trên cõi trí (lúc đầu là hạ trí rồi đến thượng trí), học cách kiểm soát chúng.

If the deva life is of a low order, the man will demonstrate low and vicious instincts, and desires of a vile calibre.

Nếu sự sống thiên thần thuộc cấp thấp, con người sẽ biểu lộ những bản năng thấp hèn và hung ác, cùng những dục vọng có phẩm cấp đê tiện.

163. Most people do not think in these terms. Most do not realize that devas of different orders, when linked to the vehicles of the personality, contribute to different types of behaviour, ranging from low, vicious and vile to elevated and worthy.

163. Đa số người không suy nghĩ theo những thuật ngữ này. Đa số không nhận ra rằng các thiên thần thuộc những cấp bậc khác nhau, khi được liên kết với các vận cụ của phàm ngã, góp phần tạo nên những loại hành vi khác nhau, từ thấp hèn, hung ác và đê tiện cho đến cao thượng và đáng quý.

If these remarks are rightly apprehended, some understanding will come of what is meant when the deva evolution is spoken of as being a “parallel evolution” to that of man.

Nếu những nhận xét này được lĩnh hội đúng đắn, một phần thấu hiểu sẽ đến về điều được hàm ý khi nói rằng sự tiến hoá thiên thần là một “sự tiến hoá song song” với sự tiến hoá của con người.

164. The term “parallel” must be carefully pondered. The term suggests that each of the kingdoms has its own line of development but that these lines influence each other.

164. Thuật ngữ “song song” phải được suy ngẫm cẩn thận. Thuật ngữ này gợi ý rằng mỗi giới đều có đường phát triển riêng của mình nhưng những đường này ảnh hưởng lẫn nhau.

165. It also suggests that for every grade of development in one kingdom there is a corresponding or parallel grade of development in the other.

165. Nó cũng gợi ý rằng với mỗi cấp độ phát triển trong một giới đều có một cấp độ phát triển tương ứng hay song song trong giới kia.

166. We are told that the Raja Deva Lord’s such as Kshiti or Varuna have a stage of consciousness equivalent to that of a Chohan and are on occasion called into the Council Chamber in Shamballa for consultation.

166. Chúng ta được cho biết rằng các Chúa Tể Raja Deva như Kshiti hay Varuna có một giai đoạn tâm thức tương đương với một Chohan và đôi khi được mời vào Phòng Hội Đồng tại Shamballa để tham vấn.

In the three worlds the two lines of evolution parallel each other, and must not be consciously one.

Trong ba cõi thấp, hai đường tiến hoá song song với nhau, và không được có ý thức là một.

167. Mixing and blending are not always occultly desirable. Although there is to be cooperation, the two kingdoms must not be consciously one—in the three worlds. In higher worlds, harmonizing, blending and merging are to be achieved.

167. Sự pha trộn và hòa lẫn không phải lúc nào cũng đáng mong muốn theo huyền bí học. Dù phải có sự hợp tác, hai giới không được có ý thức là một—trong ba cõi thấp. Ở các thế giới cao hơn, sự hài hòa, hòa lẫn và hợp nhất sẽ phải được thành tựu.

168. Of importance at this time is the realization that man must not identify with the devas of the three worlds—i.e., with the devas in the dense physical plane of the Solar Logos or more specifically, the Planetary Logos. That which makes the Black Lodge evil may be precisely this type of identification.

168. Điều quan trọng vào lúc này là sự chứng nghiệm rằng con người không được đồng hoá với các thiên thần của ba cõi thấp—tức là với các thiên thần trong cõi hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế hay cụ thể hơn là của Hành Tinh Thượng đế. Điều làm cho Hắc đoàn trở nên tà ác có thể chính là loại đồng hoá này.

In the planes of the Triad they are known as a unity, producing the Divine Hermaphrodite, or the Heavenly Man,—the self-conscious human units embodying the three aspects of divinity, while the conscious deva units embody the divine attributes.

Trong các cõi của Tam nguyên tinh thần, họ được biết như một hợp nhất, tạo ra Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng, hay Đấng Thiên Nhân,—các đơn vị nhân loại tự ngã thức thể hiện ba phương diện của thiên tính, trong khi các đơn vị thiên thần hữu thức thể hiện các thuộc tính thiêng liêng.

169. Notice the word “in” in the phrase “in the planes of the Triad”. It seems to have a different feel than the preposition “on”.

169. Hãy lưu ý từ “trong” trong cụm từ “trong các cõi của Tam nguyên tinh thần”. Nó dường như mang một sắc thái khác với giới từ “trên”.

170. The Planetary Logos is known as the Divine Hermaphrodite. What entitles Him to this appellation? We learn here that it is the union of human beings and devas (of Hermes and Aphrodite, respectively) which lies at the root of this name.

170. Hành Tinh Thượng đế được biết đến như Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng. Điều gì khiến Ngài xứng với danh xưng này? Ở đây chúng ta biết rằng chính sự hợp nhất của con người và thiên thần (lần lượt là của Hermes và Aphrodite) nằm ở gốc rễ của danh xưng ấy.

171. Hermes is Mercury and is associate with human beings. Mercury rules the Fourth or Human Creative Hierarchy. Aphrodite is Venus and is associated with the devas.

171. Hermes là Sao Thủy và được liên kết với con người. Sao Thủy cai quản Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư hay Huyền Giai Sáng Tạo nhân loại. Aphrodite là Sao Kim và được liên kết với các thiên thần.

172. The Mercury and Venus factors, when taken together, are the divinely hermaphroditic unit in our solar system.

172. Các yếu tố Sao Thủy và Sao Kim, khi được xét cùng nhau, là đơn vị lưỡng tính thiêng liêng trong hệ mặt trời của chúng ta.

173. One of the ways of differentiating devas from human beings is by considering their relationship to the aspects of divinity and to the attributes of divinity.

173. Một trong những cách để phân biệt thiên thần với con người là xét mối liên hệ của họ với các phương diện của thiên tính và với các thuộc tính của thiên tính.

174. Human beings embody the divine aspects of divinity. Devas embody the divine attributes of divinity.

174. Con người thể hiện các phương diện thiêng liêng của thiên tính. Thiên thần thể hiện các thuộc tính thiêng liêng của thiên tính.

175. The relationship is that of the triangle to the square.

175. Mối liên hệ ấy là mối liên hệ của tam giác với hình vuông.

The two, blended together, form the body of manifestation, the centres and substance of the Heavenly Man. 

Hai bên, khi được hòa trộn với nhau, tạo thành thể biểu hiện, các trung tâm và chất liệu của Đấng Thiên Nhân. 

176. The body of manifestation of the Heavenly Man consists of the energy centers and substance.

176. Thể biểu hiện của Đấng Thiên Nhân gồm các trung tâm năng lượng và chất liệu.

177. As usual, the human being is associated with the centers and the devas with the substance.

177. Như thường lệ, con người được liên kết với các trung tâm và thiên thần với chất liệu.

178. We have already seen, however, on numerous occasions, that deva Monads (like human Monads) also go to the constitution of the centers of a Heavenly Man.

178. Tuy nhiên, chúng ta đã thấy nhiều lần rằng các chân thần thiên thần (cũng như các chân thần nhân loại) cũng góp phần vào cấu tạo của các trung tâm của một Đấng Thiên Nhân.

Great is the mystery, and until man knows his place within the conscious whole, he should reserve his opinion as to the meaning thereof.

Mầu nhiệm này thật lớn lao, và cho đến khi con người biết vị trí của mình trong toàn thể hữu thức, y nên dè dặt trong ý kiến của mình về ý nghĩa của điều đó.

179. DK is suggesting that we, “man”, do not yet know our place within the conscious whole. We are learning and have much of great interest to study, but our actual knowledge of our place is rather slight. This is, perhaps, hard to accept.

179. Chân sư DK đang gợi ý rằng chúng ta, “con người”, vẫn chưa biết vị trí của mình trong toàn thể hữu thức. Chúng ta đang học hỏi và có rất nhiều điều vô cùng lý thú để nghiên cứu, nhưng tri thức thực sự của chúng ta về vị trí của mình thì khá ít ỏi. Có lẽ điều này khó chấp nhận.

It will be apparent, therefore, in view of the connection between the astral plane with its unified work, and the buddhic plane with the conscious harmony there experienced, that the astral body of man calls for the closest study and understanding.

Do đó, sẽ thấy rõ rằng, xét theo mối liên hệ giữa cõi cảm dục với công việc hợp nhất của nó, và cõi Bồ đề với sự hài hòa hữu thức được kinhnghiệm tại đó, thể cảm dục của con người đòi hỏi sự nghiên cứu và thấu hiểu sát sao nhất.

180. DK is building a case for the importance of the astral body.

180. Chân sư DK đang xây dựng một luận cứ về tầm quan trọng của thể cảm dục.

181. He points to the “unified work” of the astral plane and the “conscious harmony” experienced on the buddhic plane. The astral vehicle is “unified”, i.e., undivided and thus works with potency.

181. Ngài chỉ ra “công việc hợp nhất” của cõi cảm dục và “sự hài hòa hữu thức” được kinh nghiệm trên cõi Bồ đề. Vận cụ cảm dục là “hợp nhất”, tức là không phân chia và vì thế hoạt động với mãnh lực mạnh mẽ.

182. The alliance between these two vehicles is what makes the more accessible astral body of such great importance.

182. Sự liên minh giữa hai vận cụ này là điều khiến thể cảm dục dễ tiếp cận hơn trở nên quan trọng đến thế.

183. It is interesting, is it not, to think of the buddhic plane as the plane whereon “conscious harmony” is experienced? Perhaps in those moments of life when we have experienced the greatest harmony, there has been for us a touch of the buddhic energy.

183. Thật thú vị, phải không, khi nghĩ về cõi Bồ đề như cõi nơi “sự hài hòa hữu thức” được kinh nghiệm? Có lẽ trong những khoảnh khắc của đời sống khi chúng ta đã kinh nghiệm sự hài hòa lớn lao nhất, đã có nơi chúng ta một sự chạm đến của năng lượng Bồ đề.

A link will be found through its medium with the buddhic plane and harmonious activity on the physical plane will be produced.

Một mối liên kết sẽ được tìm thấy qua trung gian của nó với cõi Bồ đề, và hoạt động hài hòa trên cõi hồng trần sẽ được tạo ra.

184. This is of great practical import. Troubled humanity has often wondered how it is to produce harmony on the physical plane. The necessary alignment to produce this harmony is the buddhic plane—the astral plane—the physical plane. Responsiveness to the fourth systemic ether will be of importance in promoting this alignment.

184. Điều này có tầm quan trọng thực tiễn rất lớn. Nhân loại đầy xáo trộn thường tự hỏi làm thế nào để tạo ra sự hài hòa trên cõi hồng trần. Sự chỉnh hợp cần thiết để tạo ra sự hài hòa này là: cõi Bồ đề—cõi cảm dục—cõi hồng trần. Sự đáp ứng với dĩ thái thứ tư của hệ sẽ có tầm quan trọng trong việc thúc đẩy sự chỉnh hợp này.

185. Creating this alignment is the responsibility of those with much fourth ray in their system: the buddhic plane is the fourth plane and through it the fourth ray expresses powerfully; the astral plane is the plane of the “dual forces”, presently a battle-ground which requires the harmonizing influence of the fourth ray; the physical plane is the fourth plane when considering the four personality divisions—lower mental, astral, etheric and dense physical.

185. Việc tạo ra sự chỉnh hợp này là trách nhiệm của những người có nhiều cung bốn trong hệ thống của mình: cõi Bồ đề là cõi thứ tư và qua đó cung bốn biểu lộ mạnh mẽ; cõi cảm dục là cõi của “các mãnh lực nhị nguyên”, hiện nay là một bãi chiến trường cần đến ảnh hưởng điều hòa của cung bốn; cõi hồng trần là cõi thứ tư khi xét bốn phân bộ của phàm ngã—hạ trí, cảm dục, dĩ thái và hồng trần đậm đặc.

186. It is interesting that within the United Nations (an organization dedicated through its ideals to world peace) there are working a number of fourth ray souls. Fourth ray souls are rarely in incarnation at this particular time in history.

186. Điều đáng chú ý là trong Liên Hiệp Quốc (một tổ chức tận hiến qua các lý tưởng của mình cho hòa bình thế giới) có một số linh hồn cung bốn đang hoạt động. Các linh hồn cung bốn hiếm khi đang lâm phàm vào đúng thời điểm đặc biệt này của lịch sử.

187. We understand, then, that the reconditioning of the astral body will render it more receptive to the harmonizing buddhic energy and a positive feedback loop between these two planes will be created. The resulting harmony on the astral plane will condition the quality of desires there found and the newly harmonized desires will contribute to the harmonization of the physical plane. Thus, peace will come.

187. Như vậy, chúng ta hiểu rằng việc tái điều kiện hóa thể cảm dục sẽ khiến nó dễ tiếp nhận hơn đối với năng lượng Bồ đề điều hòa, và một vòng phản hồi tích cực giữa hai cõi này sẽ được tạo ra. Sự hài hòa phát sinh trên cõi cảm dục sẽ tác động lên phẩm tính của các dục vọng được tìm thấy tại đó, và các dục vọng vừa được điều hòa sẽ góp phần vào sự điều hòa của cõi hồng trần. Như thế, hòa bình sẽ đến.

The student of occultism should study carefully in this connection:

Đạo sinh huyền bí học nên nghiên cứu cẩn thận trong mối liên hệ này:

188. The “this” which is to be studied is the link between the buddhic plane, the astral plane and the physical plane.

188. “Điều này” cần được nghiên cứu là mối liên kết giữa cõi Bồ đề, cõi cảm dục và cõi hồng trần.

[Page 664]

[Page 664]

a. The physical sun, and its relation to prana and the etheric body.

a. Mặt trời vật lý, và mối liên hệ của nó với prana và thể dĩ thái.

189. The physical Sun is of the fourth order (at least this is true of the Solar Logos). When the fourth ether is stimulated by solar prana, the desirable harmonizing effect (resulting from the alliance between the buddhic plane an the astral plane) will more easily reach the dense physical body of the planet. The line of descent will be via the number four.

189. Mặt Trời vật lý thuộc bậc thứ tư (ít nhất điều này đúng đối với Thái dương Thượng đế). Khi dĩ thái thứ tư được kích thích bởi prana mặt trời, hiệu quả điều hòa đáng mong muốn (phát sinh từ sự liên minh giữa cõi Bồ đề và cõi cảm dục) sẽ dễ dàng đến được thể xác đậm đặc của hành tinh hơn. Đường giáng hạ sẽ đi qua số bốn.

b. The subjective sun, and its connection with the astral plane, with the kama-manasic principle, and the astral body.

b. Mặt trời chủ quan, và mối liên hệ của nó với cõi cảm dục, với nguyên khí trí-cảm, và với thể cảm dục.

190. By the “subjective sun”, it is the Heart of the Sun which is most often meant.

190. Với “mặt trời chủ quan”, điều thường được hàm ý nhất là Trái Tim của Mặt Trời.

191. There is the possibility, however, that the Solar Logos’ manifestation through His astral body on the cosmic astral plane can also be called the “subjective sun”.

191. Tuy nhiên, cũng có khả năng rằng sự biểu hiện của Thái dương Thượng đế qua thể cảm dục của Ngài trên cõi cảm dục vũ trụ cũng có thể được gọi là “mặt trời chủ quan”.

192. In this case, the words “subjective sun” could also be translated as ‘subtle sun’.

192. Trong trường hợp này, các từ “mặt trời chủ quan” cũng có thể được dịch là “mặt trời vi tế”.

193. The fact that in this tabulation the Heart of the Sun is listed separately from the “subjective sun” alerts us to the possibility of a difference between the two.

193. Sự kiện rằng trong bảng liệt kê này Trái Tim của Mặt Trời được liệt kê riêng biệt với “mặt trời chủ quan” khiến chúng ta lưu ý đến khả năng có sự khác biệt giữa hai điều ấy.

194. The soul always has an archetypal relation to the astral body, just as the personality to the physical body and the Monad to the mind.

194. Linh hồn luôn có một mối liên hệ nguyên mẫu với thể cảm dục, cũng như phàm ngã với thể xác và chân thần với trí tuệ.

195. The egoic lotus on the higher mental plane is a blend primarily of the second and fifth rays. This is true also for the egoic lotus of the Solar Logos on the cosmic higher mental plane.

195. Hoa Sen Chân Ngã trên Cõi thượng trí chủ yếu là một sự pha trộn của cung hai và cung năm. Điều này cũng đúng đối với Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế trên cõi thượng trí vũ trụ.

196. The second ray of the egoic lotus connects it with the astral plane and the astral body and with the “kama” aspect of kama-manas. The fifth ray component of the egoic lotus connects it with the manasic component of kama-manas.

196. Cung hai của Hoa Sen Chân Ngã nối nó với cõi cảm dục và thể cảm dục, cũng như với phương diện “kama” của kama-manas. Thành phần cung năm của Hoa Sen Chân Ngã nối nó với thành phần manas của kama-manas.

197. We can extend the alignment bringing harmonization to the dense physical plane as follows:

197. Chúng ta có thể mở rộng sự chỉnh hợp mang lại sự điều hòa cho thể xác đậm đặc như sau:

a. Buddhic vehicle

a. Vận cụ Bồ đề

b. Egoic lotus on the higher mental plane

b. Hoa Sen Chân Ngã trên Cõi thượng trí

c. Kama-manas

c. Kama-manas

d. Astral body

d. Thể cảm dục

e. The fourth ether

e. Dĩ thái thứ tư

f. The dense physical body—the fourth vehicle or the personality (from one way of counting)

f. Thể xác đậm đặc—vận cụ thứ tư hay phàm ngã (theo một cách đếm)

c. The central spiritual sun, and its relation to the Spirit or atma in man.15 [S[S. D., II, 250, 251.]

c. Mặt trời Tinh thần Trung Ương, và mối liên hệ của nó với Tinh thần hay atma trong con người.15 [S[S. D., II, 250, 251.]

198. We have to discriminate here. Should the Spirit in man be called “atma” or the “Atman”. There are good reasons to think the latter. In this case, “atma” would refer to the highest of man’s principles.

198. Ở đây chúng ta phải phân biện. Tinh thần trong con người nên được gọi là “atma” hay “Atman”? Có những lý do xác đáng để nghĩ là cách sau. Trong trường hợp này, “atma” sẽ chỉ nguyên khí cao nhất của con người.

199. We can expect that the Central Spiritual Sun (considering it as the Monad of the Solar Logos) would have a line of connection to the Monad in man and, thence, to his atmic principle.

199. Chúng ta có thể mong đợi rằng Mặt trời Tinh thần Trung Ương (xét nó như chân thần của Thái dương Thượng đế) sẽ có một đường nối với chân thần trong con người và từ đó đến nguyên khí atma của y.

200. Again Chart VIII, TCF 817, shows this connection.

200. Một lần nữa, Biểu đồ VIII, TCF 817, cho thấy mối liên hệ này.

d. The heart of the sun, and its relation to the lower and higher mental bodies, producing that peculiar manifestation we call the causal body.

d. Trái tim của mặt trời, và mối liên hệ của nó với các thể trí thấp và cao, tạo ra sự biểu hiện đặc thù mà chúng ta gọi là thể nguyên nhân.

201. We notice here that the “heart of the sun” is differentiated from the “subjective sun” and that the differentiation is evident in this very tabulation.

201. Ở đây chúng ta nhận thấy rằng “trái tim của mặt trời” được phân biệt với “mặt trời chủ quan” và sự phân biệt ấy hiển nhiên ngay trong chính bảng liệt kê này.

202. As earlier suggested: we are certain that the Heart of the Sun relates to the egoic lotus of the Solar Logos. May it be that the “subjective sun” relates to the astral expression of the Solar Logos?

202. Như đã gợi ý trước đây: chúng ta chắc chắn rằng Trái Tim của Mặt Trời liên hệ với Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế. Có thể chăng “mặt trời chủ quan” liên hệ với biểu hiện cảm dục của Thái dương Thượng đế?

203. Why should the Heart of the Sun be related to the lower mental body? We remember that the Hierarchy of Agnishvattas is related not only the higher mind but to the lower mind as well, for it is a dual Hierarchy.

203. Tại sao Trái Tim của Mặt Trời lại phải liên hệ với thể trí thấp? Chúng ta nhớ rằng Huyền Giai của các Agnishvatta không chỉ liên hệ với thượng trí mà còn với cả hạ trí nữa, vì đó là một Huyền Giai kép.

204. As the Agnishvattas emanate from the Heart of the Sun, a connection is created between the Heart of the Sun, the Agnishvattas and both the higher and lower mental bodies.

204. Vì các Agnishvatta phát xạ từ Trái Tim của Mặt Trời, một mối liên hệ được tạo ra giữa Trái Tim của Mặt Trời, các Agnishvatta và cả hai thể trí cao lẫn thấp.

In this connection it must be remembered that the force which flows from the heart of the sun, works through a triangle formed by the Venusian scheme, the Earth and the sun.

Trong mối liên hệ này cần nhớ rằng mãnh lực tuôn chảy từ trái tim của mặt trời hoạt động qua một tam giác được tạo thành bởi hệ hành tinh Kim Tinh, Trái Đất và mặt trời.

205. A major solar triangle is offered four our consideration: the Sun, the Venus-scheme and the Earth.

205. Một tam giác mặt trời lớn được đưa ra để chúng ta xem xét: Mặt Trời, hệ Kim Tinh và Trái Đất.

206. The Heart of the Sun works through these three. The sun is, in this instance, the vehicle of the Heart of the Sun.

206. Trái Tim của Mặt Trời hoạt động qua ba yếu tố này. Trong trường hợp này, mặt trời là vận cụ của Trái Tim của Mặt Trời.

207. Each of the members of the triangle is distinguished by a powerful second ray: the soul and personality of the Solar Logos are both on the second ray; Venus is hypothesized as having a second ray personality and a second ray Monad; the Earth (or, really, the Planetary Logos of the Earth) has a second ray soul.

207. Mỗi thành viên của tam giác đều được phân biệt bởi một cung hai mạnh mẽ: linh hồn và phàm ngã của Thái dương Thượng đế đều thuộc cung hai; Sao Kim được giả định là có phàm ngã cung hai và chân thần cung hai; Trái Đất (hay đúng hơn là Đức Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất) có linh hồn cung hai.

208. When we think of the ‘descent’ of the Solar Angels, this triangle is involved. The Solar Angels (having emanated from Sirius, cf. TCF 844), are gathered into the Heart of the Sun, journey thence to Venus and, then, through descent into several spheres, reach the dense physical globe of Earth.

208. Khi chúng ta nghĩ đến “sự giáng hạ” của các Thái dương Thiên Thần, tam giác này có liên quan. Các Thái dương Thiên Thần (đã phát xạ từ Sirius, xem TCF 844), được tập hợp vào Trái Tim của Mặt Trời, từ đó du hành đến Sao Kim, rồi qua sự giáng hạ vào một số khối cầu, đến được bầu hành tinh hồng trần đậm đặc của Trái Đất.

209. DK is now about share some hints about the formation of triangles.

209. Giờ đây Chân sư DK sắp chia sẻ vài gợi ý về sự hình thành các tam giác.

That another triangle was also formed involving two planets was to be expected under the law, and the triangles vary according to the scheme involved.

Việc một tam giác khác cũng được hình thành liên quan đến hai hành tinh là điều có thể được mong đợi theo định luật, và các tam giác thay đổi tùy theo hệ hành tinh liên quan.

210. Apparently (because He used the word “also”) the triangle here mentioned is not Sun, Venus, Earth. Yet this additional triangle also probably involves the Sun.

210. Rõ ràng (vì Ngài dùng từ “cũng”) tam giác được nhắc đến ở đây không phải là Mặt Trời, Sao Kim, Trái Đất. Tuy vậy, tam giác bổ sung này có lẽ cũng liên quan đến Mặt Trời.

211. We have been speaking principally of the relationship between the buddhic and the astral planes. Mercury is closely related to the buddhic plane and Mars to the astral.

211. Chúng ta chủ yếu đã bàn đến mối liên hệ giữa cõi Bồ đề và cõi cảm dục. Sao Thủy liên hệ chặt chẽ với cõi Bồ đề và Sao Hỏa với cõi cảm dục.

212. It is possible that the triangle Sun/Mercury/Mars was also formed. In various Theosophical charts and tabulations Mercury and Mars are closely related.

212. Có thể tam giác Mặt Trời/Sao Thủy/Sao Hỏa cũng đã được hình thành. Trong nhiều biểu đồ và bảng liệt kê của Thông Thiên Học, Sao Thủy và Sao Hỏa có liên hệ chặt chẽ với nhau.

213. Under law, when one triangle is formed, must another also be formed?

213. Theo định luật, khi một tam giác được hình thành, có phải một tam giác khác cũng phải được hình thành không?

214. It seems that there must always be a relation between a planetary scheme and the Sun. DK seems to be suggesting that according to the nature of a particular planet related to the Sun, an additional planet (related to the first planet) will be involved.

214. Dường như luôn phải có một mối liên hệ giữa một hệ hành tinh và Mặt Trời. Chân sư DK dường như đang gợi ý rằng tùy theo bản chất của một hành tinh đặc biệt liên hệ với Mặt Trời, một hành tinh bổ sung (liên hệ với hành tinh thứ nhất) sẽ được lôi cuốn vào.

215. We do not yet know enough to explore this hypothesis.

215. Chúng ta vẫn chưa biết đủ để khảo sát giả thuyết này.

Cosmically there is a very interesting series of triangles which will be found by the student of esoteric astronomy and of occult cycles.

Về mặt vũ trụ có một chuỗi tam giác rất lý thú mà sẽ được tìm ra bởi đạo sinh thiên văn học huyền bí và các chu kỳ huyền môn.

216. By “esoteric astronomy” may be meant the study of the relative positions and cycles of stars and constellations as these positions and cycles reveal subjective energies and qualities. When they are esoterically considered, the positions and cycles will be shown to reveal the interrelated purposes of great Lives.

216. Với “thiên văn học huyền bí” có thể được hiểu là việc nghiên cứu các vị trí tương đối và các chu kỳ của các ngôi sao và chòm sao khi những vị trí và chu kỳ ấy biểu lộ các năng lượng và phẩm tính chủ quan. Khi được xem xét một cách huyền bí, các vị trí và chu kỳ ấy sẽ cho thấy các mục đích tương liên của những Sự sống vĩ đại.

They originate in the central sun of our particular group of solar systems.

Chúng bắt nguồn từ mặt trời trung tâm của nhóm hệ mặt trời đặc thù của chúng ta.

217. Our particular group of solar systems may be considered the “Seven Solar Systems of Which Ours is One”, if the term “solar system” means what it usually means—a system of planets with one or perhaps two central stars around which the planets revolve.

217. Nhóm hệ mặt trời đặc thù của chúng ta có thể được xem là “Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một”, nếu thuật ngữ “hệ mặt trời” mang nghĩa mà nó thường mang—một hệ các hành tinh với một hay có lẽ hai ngôi sao trung tâm mà quanh đó các hành tinh quay vòng.

218. Of the seven major stars in our particular grouping, one of them may, perhaps, be considered the “central sun”. It is hypothesized, relative to our particular group of solar systems, that Sirius is that central Sun.

218. Trong bảy ngôi sao lớn của nhóm đặc thù của chúng ta, có lẽ một ngôi có thể được xem là “mặt trời trung tâm”. Có giả thuyết cho rằng, đối với nhóm hệ mặt trời đặc thù của chúng ta, Sirius là Mặt Trời trung tâm ấy.

219. In some enumerations of our group of solar systems, some stars larger and more radiant than Sirius are included, such, for instance, as Vega. Given that our particular solar system is moving towards Vega, this motion might contain a hint about Vega and the central sun of our group of seven solar systems.

219. Trong một số cách liệt kê nhóm hệ mặt trời của chúng ta, có những ngôi sao lớn hơn và rực sáng hơn Sirius được bao gồm, chẳng hạn như Vega. Xét việc hệ mặt trời đặc thù của chúng ta đang chuyển động về phía Vega, chuyển động này có thể hàm chứa một gợi ý về Vega và mặt trời trung tâm của nhóm bảy hệ mặt trời của chúng ta.

220. The central sun of our particular group may or may, however, not be tangible. It may, for instance, be considered to be a Cosmic Logos as a whole, expressing through seven stars.

220. Tuy nhiên, mặt trời trung tâm của nhóm đặc thù của chúng ta có thể có hoặc không có tính hữu hình. Chẳng hạn, nó có thể được xem là một Thượng đế Vũ Trụ như một toàn thể, biểu lộ qua bảy ngôi sao.

221. On the other hand, Alcyone is often considered to be a kind of “central sun” (the Central Spiritual Sun to be exact) and may be central to our particular group of solar systems, if by “solar systems” is meant groupings of seven major stars.

221. Mặt khác, Alcyone thường được xem là một loại “mặt trời trung tâm” (chính xác là Mặt trời Tinh thần Trung Ương) và có thể là trung tâm của nhóm hệ mặt trời đặc thù của chúng ta, nếu “hệ mặt trời” được hiểu là những nhóm gồm bảy ngôi sao lớn.

This series involves the Pleiades.

Chuỗi này liên quan đến Pleiades.

222. Just as the series of systemic triangles always includes the Sun (Sun/Venus/Earth, or, proposed, Sun/Mercury/Mars), so the Pleiades as a whole (perhaps in their entirety—more than eight hundred stars) would, on a higher turn of the spiral, act as the Sun. The real local cosmic Central Spiritual Sun would be the Pleiades in their entirety and especially the Super-Constellational Logos expressing through them—namely, the “One About Whom Naught May Be Said”.

222. Cũng như chuỗi các tam giác hệ thống luôn bao gồm Mặt Trời (Mặt Trời/Sao Kim/Trái Đất, hay như được đề xuất, Mặt Trời/Sao Thủy/Sao Hỏa), thì toàn thể Pleiades (có lẽ trong toàn bộ của chúng—hơn tám trăm ngôi sao) ở một vòng xoắn cao hơn sẽ hoạt động như Mặt Trời. Mặt trời Tinh thần Trung Ương cục bộ vũ trụ thực sự sẽ là toàn thể Pleiades, và đặc biệt là Thượng đế Siêu Chòm Sao biểu lộ qua chúng—tức là, Đấng Bất Khả Tư Nghị.

223. The correspondences to the planets, lesser than the “Sun”, would be Cosmic Logoi and Their systems—the Logoi of certain of the great constellations in our local cosmos such as the Great Bear, Little Bear, Orion, Draco, etc.

223. Những tương ứng với các hành tinh, nhỏ hơn “Mặt Trời”, sẽ là các Thượng đế Vũ Trụ và các hệ của Các Ngài—các Thượng đế của một số chòm sao lớn trong vũ trụ cục bộ của chúng ta như Đại Hùng Tinh, Tiểu Hùng Tinh, Orion, Draco, v.v.

The fact that this is so will not be known until the last decade of the present century,

Sự kiện này sẽ không được biết cho đến thập niên cuối của thế kỷ hiện tại,

224. We might ask, “Known by whom”? This discovery will not come from contemporary science. In fact the last decade of the twentieth century has come and gone and this piece of knowledge has not emerged in the scientific community.

224. Chúng ta có thể hỏi, “Được biết bởi ai?” Khám phá này sẽ không đến từ khoa học đương đại. Thật vậy, thập niên cuối của thế kỷ hai mươi đã đến rồi qua đi, và mảnh tri thức này vẫn chưa xuất hiện trong cộng đồng khoa học.

225. Perhaps it is among esotericists and students of occult astronomy and cosmic cycles that the indicated hypotheses must be put forth. Certainly, at our stage of development, we have hypothesis and not confirmed knowledge.

225. Có lẽ chính trong giới các nhà bí truyền học và những người nghiên cứu thiên văn học huyền môn cùng các chu kỳ vũ trụ mà các giả thuyết được chỉ ra này phải được đưa ra. Chắc chắn, ở giai đoạn phát triển của chúng ta, chúng ta có giả thuyết chứ chưa có tri thức được xác nhận.

and will not be recognised by science till that time when certain lines of knowledge and discovery will bring scientists to a realisation that there is a third type of electricity, which ever balances and forms the apex of the triangle. But the time is not yet.

và sẽ không được khoa học côngnhận cho đến thời điểm khi một số đường hướng tri thức và khám phá sẽ đưa các nhà khoa học đến chỗ chứng nghiệm rằng có một loại điện thứ ba, luôn luôn quân bình và tạo thành đỉnh của tam giác. Nhưng thời điểm ấy vẫn chưa đến.

226. As far as we known, equilibrizing electricity has not been discovered.

226. Theo như chúng ta biết, điện năng quân bình hóa vẫn chưa được khám phá.

227. From one perspective, we would expect to find at the apex of the triangle that which balances Spirit and matter, positive and negative.

227. Từ một góc nhìn, chúng ta sẽ mong tìm thấy ở đỉnh của tam giác điều quân bình tinh thần và vật chất, dương và âm.

228. In the triangle Sun/Venus/Earth, does Venus play this role? If there were a triangle, Sun/Mercury/Mars, would Mercury play this role?

228. Trong tam giác Mặt Trời/Sao Kim/Trái Đất, có phải Sao Kim đóng vai trò này không? Nếu có một tam giác Mặt Trời/Sao Thủy/Sao Hỏa, có phải Sao Thủy sẽ đóng vai trò này không?

All that is here said is expressed in terms of deva groups and deva forces, which form (in their aggregate) substance responsive to analogous vibration.

Tất cả những gì được nói ở đây đều được diễn đạt theo các nhóm thiên thần và các mãnh lực thiên thần, những yếu tố tạo thành (trong tổng thể của chúng) chất liệu đáp ứng với rung động tương tự.

229. Forces which interplay harmoniously do so because they share “analogous vibration”.

229. Các mãnh lực tương tác hài hòa với nhau làm như vậy vì chúng chia sẻ “rung động tương tự”.

230. In the triangle Sun/Venus/Earth, groups related by analogous vibration are to be found and hence the transmission.

230. Trong tam giác Mặt Trời/Sao Kim/Trái Đất, có thể tìm thấy các nhóm liên hệ bởi rung động tương tự, và do đó có sự truyền dẫn.

This is occultly expressed under certain definite names.

Điều này được diễn đạt một cách huyền bí dưới những danh xưng xác định nào đó.

231. We can question whether these names are for exoteric consumption. From the scrupulous blinding process use, apparently they are not.

231. Chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu những danh xưng này có dành cho sự tiếp nhận ngoại môn hay không. Từ tiến trình làm mù che cẩn mật được sử dụng, rõ ràng là không.

It is possible, therefore, to transmit safely information of a character incomprehensible to the profane

Do đó, có thể truyền đạt một cách an toàn thông tin có tính chất không thể hiểu được đối với kẻ phàm tục

232. DK uses the old terminology. Occultly, “the profane” are those who stand outside the entry, gate or perimeter of the Temple.

232. Chân sư DK dùng thuật ngữ cổ. Theo huyền môn, “kẻ phàm tục” là những người đứng bên ngoài lối vào, cổng hay chu vi của Đền Thờ.

in such a phrase, for instance, as: “The triangle of…of…and of Group…of the Agnisuryans formed itself, and in the turning of the Wheel produced the third.”

trong một cụm từ, chẳng hạn như: “Tam giác của…của…và của Nhóm…của các Agnisuryan đã tự hình thành, và trong sự quay của Bánh Xe đã tạo ra thứ ba.”

233. The real information is hidden in number. To give the number of a particular group of Agnisuryans is not to reveal the nature and function of that group, except to those who are knowers.

233. Thông tin thực sự được ẩn trong con số. Việc nêu ra con số của một nhóm Agnisuryan đặc biệt không phải là tiết lộ bản chất và chức năng của nhóm ấy, ngoại trừ đối với những thức giả.

234. If to “the profane” it is said that the “turning of the Wheel produced the third”, immediately the questions arise, “What Wheel?” “The third what?”

234. Nếu với “kẻ phàm tục” mà nói rằng “sự quay của Bánh Xe đã tạo ra thứ ba”, thì lập tức các câu hỏi nảy sinh: “Bánh Xe nào?” “Thứ ba là gì?”

This conveys to the mind of the occultist the knowledge [Page 665] that in the flow of force from a particular constellation, outside our system altogether, through a particular planetary scheme, and thus through the astral body of a planetary Logos, a condition was brought about which produced the appearance of the third kingdom in nature, the sentient conscious animal kingdom.

Điều này truyền đạt cho trí tuệ của nhà huyền bí học tri thức [Page 665] rằng trong dòng chảy của mãnh lực từ một chòm sao đặc biệt, hoàn toàn ở ngoài hệ của chúng ta, qua một hệ hành tinh đặc biệt, và như thế qua thể cảm dục của một Hành Tinh Thượng đế, một điều kiện đã được tạo ra, điều kiện ấy đã tạo nên sự xuất hiện của giới thứ ba trong thiên nhiên, giới động vật hữu cảm hữu thức.

235. DK seems to be using this description only as an example, but perhaps He is conveying something more?

235. Chân sư DK dường như chỉ dùng mô tả này như một ví dụ, nhưng có lẽ Ngài đang truyền đạt điều gì đó hơn nữa chăng?

236. Could it be (hypothetically) that from the constellation—let us say— Scorpius (outside our solar system altogether) and through the planetary scheme of Mars and thus through the astral body of our Planetary Logos (involving the ‘x’ group of Agnisuryans), the third kingdom in nature (the animal kingdom), ruled by Mars, was made to appear.

236. Có thể chăng (theo giả thuyết) rằng từ chòm sao—chúng ta hãy nói là—Hổ Cáp (hoàn toàn ở ngoài hệ mặt trời của chúng ta) và qua hệ hành tinh Sao Hỏa, rồi như thế qua thể cảm dục của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta (liên quan đến nhóm Agnisuryan ‘x’), giới thứ ba trong thiên nhiên (giới động vật), do Sao Hỏa cai quản, đã được làm cho xuất hiện.

237. In this connection we may also wish to consider the relation of the constellation Orion (the Hunter) to the animal kingdom.

237. Trong mối liên hệ này, chúng ta cũng có thể muốn xem xét mối liên hệ của chòm sao Orion (Thợ Săn) với giới động vật.

3. The animal kingdom—The Moon and Mars (EP I 245)

3. Giới động vật—Mặt Trăng và Sao Hỏa (EP I 245)

Some such similar phrase embodies also the deva connection with man’s individualisation, but it profits not to pass it on;

Một cụm từ tương tự nào đó cũng hàm chứa mối liên hệ thiên thần với sự biệt ngã hóa của con người, nhưng không ích gì khi truyền lại nó;

238. Could it be (hypothetically) that from the constellation Sirius (considering Sirius as a constellation and not just a star) and through the planetary scheme of Venus, and thus through the mental body of our Planetary Logos (involving the ‘x’ group of Agnishvattas), the fourth kingdom of nature (the human kingdom), ruled by Venus, was made to appear.

238. Có thể chăng (theo giả thuyết) rằng từ chòm sao Sirius (xét Sirius như một chòm sao chứ không chỉ là một ngôi sao) và qua hệ hành tinh Sao Kim, rồi như thế qua thể trí của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta (liên quan đến nhóm Agnishvatta ‘x’), giới thứ tư trong thiên nhiên (giới nhân loại), do Sao Kim cai quản, đã được làm cho xuất hiện.

239. Humanity as a Creative Hierarchy is ruled by Mercury but as the individualized human kingdom, by Venus (ruling the Solar Angels who provided the causal body).

239. Nhân loại như một Huyền Giai Sáng Tạo được Sao Thủy cai quản, nhưng như giới nhân loại đã được biệt ngã hóa thì do Sao Kim cai quản (cai quản các Thái dương Thiên Thần, những Đấng đã cung cấp thể nguyên nhân).

the above is only quoted in order to do three things:

điều trên đây chỉ được trích dẫn nhằm làm ba việc:

1. Demonstrate somewhat the nature and extent of the forces flowing through our system.

1. Chứng minh phần nào bản chất và phạm vi của các mãnh lực chảy qua hệ của chúng ta.

240. We see that these forces flow through B/beings of widely varying vibratory level, scope and quality. A Constellational Logos is far greater than a Planetary Logos Who is far greater than the Raja Deva Lord of a plane, Who is far greater than the evolutionary devas who guide the response of vehicles composed of elemental substance within the plane ruled by the Raja Deva Lord.

240. Chúng ta thấy rằng các mãnh lực này chảy qua những Hữu thể có cấp độ rung động, tầm mức và phẩm tính rất khác nhau. Một Thượng đế Chòm Sao vĩ đại hơn rất nhiều so với một Hành Tinh Thượng đế, Đấng lại vĩ đại hơn rất nhiều so với Chúa Tể Raja Deva của một cõi, Đấng lại vĩ đại hơn rất nhiều so với các thiên thần thăng thượng tiến hoá hướng dẫn sự đáp ứng của các vận cụ được cấu thành từ chất liệu hành khí trong cõi do Chúa Tể Raja Deva cai quản.

241. DK, we see, is not revealing exact information, but is offering sufficient hints to indicate the nature of that which He may be concealing.

241. Như chúng ta thấy, Chân sư DK không tiết lộ thông tin chính xác, nhưng đưa ra đủ những gợi ý để chỉ ra bản chất của điều mà Ngài có thể đang che giấu.

2. Show the close connection we have with the deva evolution.

2. Cho thấy mối liên hệ mật thiết của chúng ta với tiến hoá thiên thần.

242. Humanity would not have been created (at least on our chain) without the involvement of the deva kingdom.

242. Nhân loại đã không thể được tạo ra (ít nhất là trên dãy của chúng ta) nếu không có sự tham dự của giới thiên thần.

243. In fact we can think of humanity as ‘deva substance plus a god’.

243. Thật vậy, chúng ta có thể nghĩ về nhân loại như là “chất liệu thiên thần cộng với một vị thần”.

244. From what DK say, the animal kingdom, as well, necessitated the involvement of the Agnisuryans.

244. Từ điều Chân sư DK nói, giới động vật cũng đòi hỏi sự tham dự của các Agnisuryan.

245. We remember reading of the close connection between Varuna and the Entity ensouling the animal kingdom.

245. Chúng ta nhớ đã đọc về mối liên hệ mật thiết giữa Varuna và Thực Thể phú linh cho giới động vật.

3. Emphasise the triangular nature and interrelation of all that eventuates.

3. Nhấn mạnh bản chất tam giác và sự tương liên của mọi điều được tạo thành.

246. It seems that if some new factor in manifestation is to emerge, that emergence depends upon a triangular interplay of energies.

246. Dường như nếu một yếu tố mới nào đó trong biểu hiện sắp xuất hiện, thì sự xuất hiện ấy tùy thuộc vào một sự tương tác tam giác của các năng lượng.

247. Think how the Eye of Shiva does not emerge until there is a triangular interplay between the crown center, the ajna center and the alta major center.

247. Hãy nghĩ xem Mắt của Shiva không xuất hiện cho đến khi có sự tương tác tam giác giữa trung tâm đỉnh đầu, trung tâm ajna và trung tâm alta major.

It might be advisable here to bring out a point in connection with the devas of the lower planes (those with whom man is peculiarly connected).

Ở đây có lẽ nên nêu ra một điểm liên quan đến các thiên thần của các cõi thấp (những vị mà con người có liên hệ đặc biệt).

248. Though it is not safe for average man to consciously attempt to manipulate or control these devas, he cannot avoid interacting with them.

248. Dù con người trung bình không an toàn khi cố ý thức thao túng hay kiểm soát các thiên thần này, y không thể tránh khỏi việc tương tác với họ.

They can be divided into certain groups, indicating their place in the scale of consciousness.

Họ có thể được chia thành một số nhóm nhất định, cho thấy vị trí của họ trên thang tâm thức.

249. There are scales of form and scales of consciousness. In modern occultism, we are particularly concerned with scales of consciousness.

249. Có những thang hình tướng và những thang tâm thức. Trong huyền bí học hiện đại, chúng ta đặc biệt quan tâm đến những thang tâm thức.

Perhaps the question may here be asked why we are dealing only with those deva groups which are to be found in the three worlds. Occultly understood, these devas (of the type we are considering) are only found in the dense physical body of the Logos,—being the substance of the lower three subplanes of the cosmic physical.

Có lẽ ở đây có thể đặt câu hỏi vì sao chúng ta chỉ bàn đến những nhóm thiên thần được tìm thấy trong ba cõi giới. Theo nghĩa huyền bí, các thiên thần này (thuộc loại chúng ta đang xem xét) chỉ được tìm thấy trong thể xác đậm đặc của Thượng đế, — là chất liệu của ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ.

250. While, until the third initiation is passed, we are advised not to attempt conscious interplay with such devas, they are the unavoidable participants in the life of man in the three lower worlds.

250. Trong khi, cho đến khi vượt qua lần điểm đạo thứ ba, chúng ta được khuyên không nên cố gắng tương tác có ý thức với các thiên thần như thế, họ vẫn là những thành phần tham dự không thể tránh khỏi trong đời sống của con người trong ba cõi thấp.

The old Commentary says as follows:

Cổ Luận nói như sau:

“The spheres of fire seek location upon the lower three. They originate by medium of the fifth, yet merge upon the planes of yoga. When the fiery essences permeate all, then there is no more the fifth nor sixth, nor seventh, but only the three shining by medium of the fourth.”

“Các khối cầu lửa tìm chỗ định vị trên ba cõi thấp. Chúng phát nguyên qua trung gian của cõi thứ năm, nhưng hợp nhất trên các cõi yoga. Khi các tinh chất lửa thấm nhập mọi sự, thì không còn cõi thứ năm, thứ sáu hay thứ bảy nữa, mà chỉ còn ba cõi chiếu sáng qua trung gian của cõi thứ tư.”

251. DK is using the same method of ‘numerical blinding’ which He discussed above. The various groups are numbered, but no explicit information is given concerning exactly which groups are meant.

251. Chân sư DK đang dùng cùng một phương pháp “làm mù bằng số” mà Ngài đã bàn ở trên. Các nhóm khác nhau được đánh số, nhưng không có thông tin minh nhiên nào được đưa ra về chính xác những nhóm nào được hàm ý.

252. We can attempt a rather microcosmic interpretation—one which has it deficiencies. As we learn below, there is an interpretation which concerns more than man.

252. Chúng ta có thể thử một cách giải thích khá vi mô — một cách có những thiếu sót của nó. Như chúng ta sẽ thấy ở dưới, có một cách giải thích liên quan đến nhiều hơn là con người.

253. The Monads may be the spheres of fire. When they go forth on their Pilgrimage, “they seek location upon the lower three”. In other words, they seek to demonstrate within the lower three worlds.

253. Các Chân thần có thể là những khối cầu lửa. Khi các Ngài lên đường trong cuộc Hành Hương của mình, “các Ngài tìm chỗ định vị trên ba cõi thấp”. Nói cách khác, các Ngài tìm cách biểu lộ trong ba cõi thấp.

254. Following this line (which may or may not be correct), the spheres of fire emerge onto the lower three through the medium (“by medium”) of the Fifth Creative Hierarchy, the Agnishvattas, who make this emergence, as man, possible.

254. Theo đường lối này (có thể đúng mà cũng có thể không), các khối cầu lửa xuất hiện trên ba cõi thấp qua trung gian (“by medium”) của Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm, các Agnishvatta, những vị làm cho sự xuất hiện này, như con người, trở nên khả hữu.

255. From a much higher perspective, emergence “by medium of the fifth” may reference the cosmic mental plane.

255. Từ một viễn tượng cao hơn nhiều, sự xuất hiện “qua trung gian của cõi thứ năm” có thể quy chiếu đến cõi trí vũ trụ.

256. The “planes of yoga” are particularly the higher two planes of the spiritual triad and especially the buddhic plane.

256. “Các cõi yoga” đặc biệt là hai cõi cao của Tam nguyên tinh thần và nhất là cõi Bồ đề.

257. The causal bodies of humanity are related to each other on the mental plane but their essence merges on the buddhic plane, presumably after the fourth initiation is experienced.

257. Các thể nguyên nhân của nhân loại có liên hệ với nhau trên cõi trí nhưng tinh túy của chúng hợp nhất trên cõi Bồ đề, có lẽ sau khi lần điểm đạo thứ tư được kinh nghiệm.

258. The fiery essences, permeating all, can indicate a stage of complete soul infusion of the lower three worlds (inspired by the Solar Angels). The energies provided by the Fifth Creative Hierarchy would have flowed into the spheres of the lower devic lives, infusing and redeeming those spheres.

258. Các tinh chất lửa, thấm nhập mọi sự, có thể chỉ ra một giai đoạn linh hồn thấm nhuần hoàn toàn ba cõi thấp (được các Thái dương Thiên Thần truyền cảm hứng). Những năng lượng do Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm cung cấp hẳn đã tuôn vào các khối cầu của các sự sống thiên thần thấp, thấm nhuần và cứu chuộc các khối cầu ấy.

259. Then there would be no need for vehicles in the dense physical plane of the Planetary Logos, and thus the fifth, sixth and seventh groups of devas (the lower Agnishvattas, the astral Agnisuryans and the Agnichaitans) would disappear as would the planes which represent the non-principled substance of the Planetary Logos. Then only, the spiritual triad (the three) would shine forth through the medium of the Fourth Creative Hierarchy (the human Creative Hierarchy). The life of the Planetary Logos would then be completely centered in His etheric body (cosmically considered).

259. Khi đó sẽ không còn cần đến các vận cụ trong cõi hồng trần đậm đặc của Đức Hành Tinh Thượng Đế, và như thế các nhóm thiên thần thứ năm, thứ sáu và thứ bảy (các Agnishvatta thấp, các Agnisuryan cảm dục và các Agnichaitan) sẽ biến mất, cũng như các cõi vốn tượng trưng cho chất liệu không nguyên khí của Đức Hành Tinh Thượng Đế. Chỉ khi ấy, Tam Nguyên Tinh Thần (ba) mới chiếu sáng qua trung gian của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư (Huyền Giai Sáng Tạo nhân loại). Khi đó sự sống của Đức Hành Tinh Thượng Đế sẽ hoàn toàn tập trung trong thể dĩ thái của Ngài (xét theo nghĩa vũ trụ).

260. Even if this interpretation is incorrect in part or entirely, it give a sense of the different groupings which can be signified by numbers. Numbers remain what they are, but the B/beings which they reference change constantly.

260. Ngay cả nếu cách giải thích này sai một phần hay hoàn toàn, nó vẫn đem lại một cảm nhận về những nhóm khác nhau có thể được biểu thị bằng các con số. Các con số vẫn là chính chúng, nhưng các B/bản thể mà chúng quy chiếu đến thì thay đổi không ngừng.

261. Only those who are very well versed in the occult lore can be sure of their interpretation.

261. Chỉ những ai rất tinh thông tri thức huyền bí mới có thể chắc chắn về cách giải thích của mình.

Therefore, for the purposes of our present study, the devas are only to be found in the three worlds.

Vì vậy, cho mục đích của cuộc nghiên cứu hiện tại của chúng ta, các thiên thần chỉ được tìm thấy trong ba cõi giới.

262. We have not yet reached the point of planetary development when the three are shining forth through the medium of the fourth. Thus, we study that which lies immediately before us—the devas which are to be found in the three worlds.’

262. Chúng ta chưa đạt đến điểm phát triển hành tinh khi ba cõi đang chiếu sáng qua trung gian của cõi thứ tư. Vì thế, chúng ta nghiên cứu điều nằm ngay trước mắt mình — các thiên thần được tìm thấy trong ba cõi giới.’

263. I do not think that DK means to suggest that all members of the deva kingdom are to be found only in the three lower worlds.

263. Tôi không nghĩ rằng Chân sư DK muốn gợi ý rằng mọi thành viên của giới thiên thần chỉ được tìm thấy duy nhất trong ba cõi thấp.

Beyond those three planes we have the three aspects of [Page 666] the major three manifesting through the fourth; we have consequently the spheres of the planetary Logoi upon the plane of buddhi.

Vượt lên trên ba cõi ấy, chúng ta có ba phương diện của [Page 666] ba đấng đại biểu hiện qua đấng thứ tư; do đó chúng ta có các khối cầu của các Hành Tinh Thượng đế trên cõi Bồ đề.

264. DK seems to be offering more hints concerning the meaning of the paragraph interpreted above.

264. Chân sư DK dường như đang đưa ra thêm những gợi ý về ý nghĩa của đoạn văn đã được giải thích ở trên.

265. These hints point to the potentially macrocosmic nature of the interpreted paragraph. DK seems to be speaking in terms of Planetary Logoi.

265. Những gợi ý này chỉ đến bản chất có thể là đại thiên địa của đoạn văn được giải thích. Chân sư DK dường như đang nói theo thuật ngữ của các Hành Tinh Thượng đế.

266. We are perhaps presented with a picture of three major Logoi focussed on the higher three cosmic ethers and manifesting through those Planetary Logoi connected especially with the fourth cosmic ether.

266. Có lẽ chúng ta được trình bày một bức tranh về ba Thượng đế lớn tập trung trên ba dĩ thái vũ trụ cao và biểu hiện qua những Hành Tinh Thượng đế đặc biệt liên hệ với dĩ thái vũ trụ thứ tư.

267. If we review the Chart VIII (TCF,817) and examine the etheric microcosmic structure (and then extrapolate to the possible planetary significance of this structure) we shall find ourselves contemplating a triangle of centers hovering above a fourth dimension or plane where a number of other centers are expressing. The Chart shows three hovering above four.

267. Nếu chúng ta xem lại Biểu đồ VIII (TCF,817) và khảo sát cấu trúc vi mô dĩ thái (rồi ngoại suy sang ý nghĩa hành tinh khả dĩ của cấu trúc này), chúng ta sẽ thấy mình đang chiêm ngưỡng một tam giác các trung tâm lơ lửng phía trên một chiều kích hay cõi thứ tư, nơi một số trung tâm khác đang biểu lộ. Biểu đồ cho thấy ba ở phía trên bốn.

268. What DK said earlier about Aspects and Attributes may also be referenced when we attempt to interpret the paragraph. It seems that all Attributes but one are disappearing, the fourth Attribute synthesizing the lower three. The three Aspects express through this synthesizing fourth Attribute.

268. Điều Chân sư DK đã nói trước đó về Các Cung Trạng Thái và Các Cung Thuộc Tính cũng có thể được quy chiếu đến khi chúng ta cố gắng giải thích đoạn văn này. Dường như mọi Thuộc Tính trừ một đều đang biến mất, Thuộc Tính thứ tư tổng hợp ba thuộc tính thấp. Ba Trạng Thái biểu lộ qua Thuộc Tính thứ tư có tính tổng hợp này.

269. We must remember that the buddhic plane serves as a concrete vehicle for the higher three cosmic etheric planes.

269. Chúng ta phải nhớ rằng cõi Bồ đề phục vụ như một vận cụ cụ thể cho ba cõi dĩ thái vũ trụ cao hơn.

270. In a general sense, DK may also be describing progressive relationships between the seven systemic planes and thus between seven Raja Deva Lords.

270. Theo một nghĩa tổng quát, Chân sư DK cũng có thể đang mô tả những mối liên hệ tiến triển giữa bảy cõi hệ thống và do đó giữa bảy Raja Deva Lords.

271. It seems there will come a time with the three lower systemic planes will be abstracted and the higher three will manifest through the fourth.

271. Dường như sẽ đến một thời điểm khi ba cõi hệ thống thấp được rút trừu tượng ra và ba cõi cao sẽ biểu hiện qua cõi thứ tư.

272. From another perspective, Kshiti, Varuna and lower Agni will be abstracted, withdrawn or absorbed into synthetic Indra, and the Raja Deva Lords Who correlated with Shiva, Vishnu and Brahma will manifest through synthetic Indra.

272. Từ một viễn tượng khác, Kshiti, Varuna và Agni thấp sẽ được rút ra, thu hồi hay hấp thu vào Indra tổng hợp, và các Raja Deva Lords tương ứng với Shiva, Vishnu và Brahma sẽ biểu hiện qua Indra tổng hợp.

273. In any case, we have to get used to interpreting obscure occult paragraphs (which offer us only numbers) to designate various orders of B/beings and their interrelationships. It is not easy, but with practice (and many mistakes—as I am sure exist in the interpretations above) we shall know what is really meant by the blinded communications.

273. Dù sao đi nữa, chúng ta phải làm quen với việc giải thích những đoạn huyền bí tối nghĩa (chỉ cho chúng ta các con số) để chỉ định những cấp bậc B/bản thể khác nhau và các tương liên của chúng. Điều này không dễ, nhưng với thực hành (và nhiều sai lầm — như tôi chắc chắn có trong các cách giải thích trên) chúng ta sẽ biết điều gì thực sự được hàm ý bởi những truyền đạt đã bị làm mù.

They synthesise all that has been developing through the denser manifestation.

Chúng tổng hợp tất cả những gì đã phát triển qua biểu hiện đậm đặc hơn.

274. DK continues to speak of Planetary Logoi, and, it would seem, of the three synthesizing planets.

274. Chân sư DK tiếp tục nói về các Hành Tinh Thượng đế, và dường như là về ba hành tinh tổng hợp.

From the standpoint of the esoteric philosophy, the cosmic physical plane on which our entire solar system has its place must be studied in a dual manner:

Từ quan điểm của triết học huyền bí, cõi hồng trần vũ trụ, trên đó toàn bộ hệ mặt trời của chúng ta có vị trí của nó, phải được nghiên cứu theo hai cách:

275. We remember that the solar system is only the etheric-physical body of our Solar Logos. He has other vehicles which, technically, are not part of His solar system.

275. Chúng ta nhớ rằng hệ mặt trời chỉ là thể hồng trần-dĩ thái của Thái dương Thượng đế của chúng ta. Ngài có những vận cụ khác mà, về mặt kỹ thuật, không thuộc về hệ mặt trời của Ngài.

1. From the point of view of the Heavenly Men, covering the evolutions of the four higher planes, or the etheric levels. Of these we can know practically nothing until after initiation,

1. Từ quan điểm của các Đấng Thiên Nhân, bao trùm các tiến hoá của bốn cõi cao hơn, hay các cấp dĩ thái. Về những điều này, trên thực tế chúng ta hầu như không thể biết gì cho đến sau điểm đạo,

276. Namely the third initiation.

276. Cụ thể là lần điểm đạo thứ ba.

277. An analogy stands forth. Human beings develop within the dense physical body of the Solar Logos. Heavenly Men serve and express within the etheric body of the Solar Logos and, of course, through the medium of their own etheric bodies—at least three of the four cosmic ethers.

277. Một sự tương đồng hiện ra rõ rệt. Con người phát triển trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế. Các Đấng Thiên Nhân phụng sự và biểu lộ trong thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế và, dĩ nhiên, qua trung gian các thể dĩ thái riêng của Các Ngài — ít nhất là ba trong bốn dĩ thái vũ trụ.

at which time the consciousness of the human being is transferred gradually on to the cosmic etheric planes.

vào lúc mà tâm thức của con người được chuyển dịch dần sang các cõi dĩ thái vũ trụ.

278. We are under no illusions regarding the focus of consciousness of the majority of us; it is still within the dense physical body of the Solar Logos and not even focused within the highest level of that dense physical body.

278. Chúng ta không có ảo tưởng nào về tiêu điểm tâm thức của đa số chúng ta; nó vẫn còn ở trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế và thậm chí còn chưa tập trung trong cấp độ cao nhất của thể xác đậm đặc ấy.

2. From the standpoint of the human being in the three worlds. Man is the consummating evolution in the three worlds, just as the Heavenly Men are in the higher four.

2. Từ quan điểm của con người trong ba cõi giới. Con người là tiến hoá hoàn tất trong ba cõi giới, cũng như Đấng Thiên Nhân là như vậy trong bốn cõi cao hơn.

279. This is an excellent comparison. However, the analogy must be closely studied. Whereas man can undertake his evolution up to the third initiation within the dense physical body of the Solar Logos, the Heavenly Man cannot undertake His evolution up to the third initiation or even the second if His consciousness remains focussed only within the cosmic ethers.

279. Đây là một sự so sánh rất hay. Tuy nhiên, sự tương đồng này phải được nghiên cứu kỹ. Trong khi con người có thể đảm nhận tiến hoá của mình cho đến lần điểm đạo thứ ba trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế, thì Đấng Thiên Nhân không thể đảm nhận tiến hoá của Ngài cho đến lần điểm đạo thứ ba hay thậm chí lần thứ hai nếu tâm thức của Ngài chỉ còn tập trung trong các dĩ thái vũ trụ.

In the three worlds, we have the parallel evolutions—deva and human in their many varying grades—the human naturally concerning us the most intimately, though the two evolve through interaction with each other.

Trong ba cõi giới, chúng ta có những tiến hoá song hành — thiên thần và nhân loại trong nhiều cấp bậc khác nhau của họ — dĩ nhiên nhân loại liên hệ với chúng ta mật thiết nhất, mặc dù cả hai tiến hoá qua sự tương tác với nhau.

280. It has been said by Alexander Pope that “the proper study of mankind is man”. As interested as we may be in the deva kingdom (and as students of occultism, we must be interested), we must realize that because we are human beings the study of the human kingdom concerns us most intimately. Of course, that study necessarily involves the study of certain particular devas.

280. Alexander Pope đã nói rằng “đối tượng nghiên cứu thích đáng của nhân loại là con người”. Dù chúng ta có thể quan tâm đến giới thiên thần đến đâu (và với tư cách đạo sinh huyền bí học, chúng ta phải quan tâm), chúng ta phải nhận ra rằng vì chúng ta là con người nên việc nghiên cứu giới nhân loại liên hệ với chúng ta mật thiết nhất. Dĩ nhiên, việc nghiên cứu ấy tất yếu bao hàm việc nghiên cứu một số thiên thần đặc thù.

281. We understand the neither man nor deva can evolve without interaction with the other. Though these two kingdoms are parallel, they are, mutually dependent.

281. Chúng ta hiểu rằng cả con người lẫn thiên thần đều không thể tiến hoá nếu không có sự tương tác với bên kia. Dù hai giới này là song hành, chúng vẫn phụ thuộc lẫn nhau.

In the higher four worlds, we have this duality viewed as a unity, and the aspect of the synthetic evolution of the Heavenly Men is the one considered.

Trong bốn cõi cao hơn, chúng ta thấy nhị nguyên tính này được nhìn như một hợp nhất, và phương diện của tiến hoá tổng hợp của các Đấng Thiên Nhân là điều được xem xét.

282. The duality meant is the duality formed by the relationship of humans and devas.

282. Nhị nguyên tính được nói đến là nhị nguyên tính được hình thành bởi mối liên hệ giữa con người và thiên thần.

283. There are number of quotations which tell us that on the higher planes (the buddhic plane and the monadic plane) the two kingdoms approximate each other, begin to blend and finally merge.

283. Có nhiều trích dẫn cho chúng ta biết rằng trên các cõi cao (cõi Bồ đề và cõi chân thần), hai giới này xích lại gần nhau, bắt đầu hòa trộn và cuối cùng hợp nhất.

284. The higher planes (the cosmic ethers) are planes of synthesis. They concern the life of the Planetary Logos and on those planes the ancient enmity between man and deva is dissolved and one phase of the “battle of the sexes” is resolved.

284. Các cõi cao (các dĩ thái vũ trụ) là những cõi tổng hợp. Chúng liên hệ đến sự sống của Đức Hành Tinh Thượng Đế và trên những cõi ấy, mối thù nghịch cổ xưa giữa con người và thiên thần được giải tan, và một phương diện của “cuộc chiến giữa hai giới tính” được giải quyết.

It would interest us much could we but understand a little of the point of view of those great devas Who co-operate intelligently in the plan of evolution.

Điều đó sẽ khiến chúng ta rất quan tâm nếu chúng ta có thể hiểu được đôi chút quan điểm của những thiên thần vĩ đại đang cộng tác một cách thông tuệ trong kế hoạch tiến hoá.

285. Here we are speaking of the Raja Deva Lords of the systemic planes.

285. Ở đây chúng ta đang nói về các Raja Deva Lords của các cõi hệ thống.

They have Their own method of expressing these ideas, the medium being colour which can be heard, and sound which can be seen. Man reverses the process and sees colors and hears sounds.

Các Ngài có phương pháp riêng để biểu đạt những ý tưởng này, với môi giới là màu sắc có thể được nghe thấy, và âm thanh có thể được nhìn thấy. Con người đảo ngược tiến trình ấy và thấy màu sắc, nghe âm thanh.

286. DK is suggesting that the abstruse matters He is discussing are also expressed by the highly evolved devas although in a manner quite the opposite of the manner used by humanity.

286. Chân sư DK đang gợi ý rằng những vấn đề thâm áo mà Ngài đang bàn đến cũng được các thiên thần tiến hoá cao biểu đạt, tuy theo một cách hoàn toàn đối nghịch với cách mà nhân loại sử dụng.

287. These high devas also need to impart what they know. They too have accessed ideas which they need to convey to those they instruct.

287. Những thiên thần cao này cũng cần truyền đạt điều họ biết. Họ cũng đã tiếp cận những ý tưởng mà họ cần chuyển đạt cho những người họ huấn luyện.

288. There are some human beings equipped with special abilities which resemble what DK is here discussing: they can see sound and hear color. The experience has been called “synthesia”.

288. Có một số con người được trang bị những khả năng đặc biệt tương tự điều Chân sư DK đang bàn ở đây: họ có thể thấy âm thanh và nghe màu sắc. Kinh nghiệm này được gọi là “synthesia”.

289. Color and sound are distinguished by different vibratory frequencies. According to human knowledge, color is the result of frequencies far higher than those heard as sound, but we cannot take man’s very relative point of view and think that it expresses the complete truth. It is reasonable to think that there are colors expressing at very low frequencies and sounds, at very high.

289. Màu sắc và âm thanh được phân biệt bởi những tần số rung động khác nhau. Theo tri thức của con người, màu sắc là kết quả của những tần số cao hơn rất nhiều so với những gì được nghe như âm thanh, nhưng chúng ta không thể lấy quan điểm rất tương đối của con người mà nghĩ rằng nó biểu đạt toàn bộ chân lý. Thật hợp lý khi nghĩ rằng có những màu sắc biểu lộ ở tần số rất thấp và những âm thanh ở tần số rất cao.

290. Perhaps a simple approach would be to think that that which the human being experiences as color, the deva experiences as sound, and that which the human being experiences a sound, the deva experiences as color.

290. Có lẽ một cách tiếp cận đơn giản là nghĩ rằng điều con người kinh nghiệm như màu sắc thì thiên thần kinh nghiệm như âm thanh, và điều con người kinh nghiệm như âm thanh thì thiên thần kinh nghiệm như màu sắc.

291. Subjectively (as representations in consciousness) sound is sound and color is color. We are given to understand that sound and color are experienced by both human beings and devas. But the same range of frequencies (we are led to believe) will produce contrasting subjective effects in man and deva—color in one, sound in the other.

291. Về mặt chủ quan (như những biểu tượng trong tâm thức), âm thanh là âm thanh và màu sắc là màu sắc. Chúng ta được cho hiểu rằng cả âm thanh lẫn màu sắc đều được kinh nghiệm bởi cả con người lẫn thiên thần. Nhưng cùng một dải tần số (như chúng ta được dẫn đến để tin) sẽ tạo ra những hiệu quả chủ quan tương phản nơi con người và thiên thần — màu sắc ở bên này, âm thanh ở bên kia.

A hint lies here as to the necessity for symbols, for they are signs which convey cosmic truths, and instruction, and can be comprehended alike by the evolved of both evolutions.

Ở đây có một gợi ý về sự cần thiết của các biểu tượng, vì chúng là những dấu hiệu chuyển tải các chân lý vũ trụ, sự huấn thị, và có thể được những thực thể tiến hoá của cả hai tiến hoá thấu hiểu như nhau.

292. Those systems of spiritual education which employ symbols extensively in the instruction they offer, have the possibility of communicating more readily with the deva kingdom. One thinks of Masonry in this regard.

292. Những hệ thống giáo dục tinh thần sử dụng biểu tượng một cách rộng rãi trong sự huấn luyện mà chúng cung cấp có khả năng giao tiếp dễ dàng hơn với giới thiên thần. Người ta nghĩ đến Hội Tam Điểm về phương diện này.

293. The members of the deva kingdom (the higher ones) communicate in symbol. We can wonder about the crop circle phenomenon. Something intelligent (even wise), so it appears, is definitely being communicated and the medium of communication is symbol. Are great devas behind this form of communication—a communication ostensibly intended to reach the understanding of man.

293. Các thành viên của giới thiên thần (những vị cao hơn) giao tiếp bằng biểu tượng. Chúng ta có thể tự hỏi về hiện tượng vòng tròn trên đồng ruộng. Một điều gì đó có trí tuệ (thậm chí minh triết), dường như vậy, chắc chắn đang được truyền đạt và môi giới truyền đạt là biểu tượng. Có phải những thiên thần vĩ đại đứng sau hình thức truyền đạt này — một sự truyền đạt bề ngoài nhằm đạt đến sự thấu hiểu của con người chăng.

294. It is constantly to be borne in mind that in the Aquarius there will be an increasing necessity for conscious communication to occur between the human and deva kingdoms. What is here said about the fact that the evolved in both groups can comprehend the meaning of symbols is a most important hint concerning how this future communication may proceed.

294. Cần luôn ghi nhớ rằng trong Bảo Bình sẽ ngày càng có nhu cầu để sự giao tiếp có ý thức diễn ra giữa giới nhân loại và giới thiên thần. Điều được nói ở đây về sự kiện rằng những thực thể tiến hoá trong cả hai nhóm đều có thể thấu hiểu ý nghĩa của các biểu tượng là một gợi ý rất quan trọng về cách sự giao tiếp tương lai này có thể tiến hành.

It should be borne in mind, as earlier pointed out, that:

Cần ghi nhớ, như đã được chỉ ra trước đây, rằng:

295. We are reviewing in summary that which has been presented.

295. Chúng ta đang điểm lại một cách tóm tắt điều đã được trình bày.

[Page 667]

[Page 667]

a. Man is demonstrating the aspects of divinity. The devas are demonstrating the attributes of divinity.

a. Con người đang biểu lộ các phương diện của thiên tính. Các thiên thần đang biểu lộ các thuộc tính của thiên tính.

296. The relationship is of the three to the four. Man is the triangle and the devas the quaternary.

296. Mối liên hệ là của ba với bốn. Con người là tam giác và các thiên thần là bộ bốn.

297. Might we also say that man is the pyramid and the devas the tetrahedron? This involves a different number for man.

297. Chúng ta cũng có thể nói rằng con người là kim tự tháp và các thiên thần là tứ diện chăng? Điều này bao hàm một con số khác cho con người.

b. Man is evolving the inner vision and must learn to see.

b. Con người đang tiến hoá linh thị bên trong và phải học cách thấy.

298. Man is evolving the eye of synthetic comprehension. It is the eye which allows man to abstract himself from identification with the part and enter into identification as the Whole.

298. Con người đang tiến hoá con mắt của sự thấu hiểu tổng hợp. Chính con mắt này cho phép con người rút mình ra khỏi sự đồng hoá với bộ phận và đi vào sự đồng hoá như Toàn Thể.

The devas are evolving the inner hearing and must learn to hear.

Các thiên thần đang tiến hoá thính giác bên trong và phải học cách nghe.

299. The devas are evolving the ‘ear of obedience’. They hear and they obey the dictates of their superiors. They are auditorily responsive to the will.

299. Các thiên thần đang tiến hoá “tai của sự tuân phục”. Họ nghe và tuân theo những mệnh lệnh của các đấng bề trên. Họ đáp ứng bằng thính giác đối với ý chí.

c. Both are as yet imperfect, and an imperfect world is the result.

c. Cả hai hiện vẫn chưa hoàn hảo, và kết quả là một thế giới bất toàn.

300. In philosophy the question is often asked: “Is God imperfect?” Depending upon the definition of “God”, occultism says “Yes”. This does not deny the ABSOLUTE PERFECTION of the ABSOLUTE DEITY.

300. Trong triết học, câu hỏi thường được đặt ra: “Thượng đế có bất toàn không?” Tùy theo định nghĩa về “Thượng đế”, huyền bí học trả lời “Có”. Điều này không phủ nhận SỰ TOÀN HẢO TUYỆT ĐỐI của THƯỢNG ĐẾ TUYỆT ĐỐI.

301. We can see that as the adjustment between man and deva is harmonized and beautified, a far more perfect world will result.

301. Chúng ta có thể thấy rằng khi sự điều chỉnh giữa con người và thiên thần được hài hòa và làm cho đẹp đẽ, một thế giới hoàn hảo hơn rất nhiều sẽ là kết quả.

d. Man is evolving by means of contact and experience. He expands.

d. Con người tiến hoá bằng phương tiện tiếp xúc và kinh nghiệm. Y mở rộng.

302. This is a Jupiterian dynamic and Uranian to a degree. There is the expansion of the ring-pass-not (Jupiter) and its final breaking (Uranus).

302. Đây là một động lực của Sao Mộc và ở một mức độ nào đó của Sao Thiên Vương. Có sự mở rộng của vòng-giới-hạn (Sao Mộc) và sự phá vỡ cuối cùng của nó (Sao Thiên Vương).

The devas evolve by means of the lessening of contact. Limitation is the law for them.

Các thiên thần tiến hoá bằng phương tiện làm giảm bớt tiếp xúc. Giới hạn là định luật đối với họ.

303. This is a Saturnian dynamic and Vulcanian to a degree. We can think of how a nebula becomes a solar system.

303. Đây là một động lực của Sao Thổ và ở một mức độ nào đó của Vulcan. Chúng ta có thể nghĩ đến cách một tinh vân trở thành một hệ mặt trời.

304. We see that the devas are ruled by a dominating third ray and man by the second ray.

304. Chúng ta thấy rằng các thiên thần được cai quản bởi một cung ba chi phối, còn con người bởi cung hai.

305. Yet, from another perspective, the devas are a feminine kingdom (ruled by the acquiescent second ray) and man is a masculine kingdom (ruled by the dominating first ray)

305. Tuy nhiên, từ một viễn tượng khác, các thiên thần là một giới nữ tính (được cai quản bởi cung hai thuận phục) còn con người là một giới nam tính (được cai quản bởi cung một chi phối)

306. Once earlier in these commentaries (place yet to be discovered) I offered a tabulation suggesting the ray natures of men and devas.

306. Trước đây một lần trong những phần bình luận này (chỗ ấy còn phải tìm lại), tôi đã đưa ra một bảng gợi ý về bản chất cung của con người và thiên thần.

Rays

Men

Devas

Ray 1

Ray 1

Ray 2

Ray 2

Ray 2

Ray 3

Ray 3

307. What is evident from this little tabulation is that men and devas share the second ray in common. No wonder their most successful communication begins on the buddhic plane and is consummated on the monadic plane.

307. Điều hiển nhiên từ bảng nhỏ này là con người và thiên thần cùng chia sẻ cung hai. Không lạ gì sự giao tiếp thành công nhất của họ bắt đầu trên cõi Bồ đề và được hoàn tất trên cõi chân thần.

308. Ray Two is the Ray of the Divine Pattern, hence the possibility of communication through symbols which are meaningful patterns.

308. Cung Hai là Cung của Mô Hình Thiêng Liêng, do đó có khả năng giao tiếp qua các biểu tượng là những mô hình đầy ý nghĩa.

e. Man aims at self-control.

e. Con người nhắm đến sự tự kiểm soát.

309. The human being, whether male or female in a particular incarnation, must become (at length) self-determining.

309. Con người, dù là nam hay nữ trong một lần lâm phàm cụ thể, cuối cùng phải trở nên tự quyết định.

Devas must develop by being controlled.

Các thiên thần phải phát triển bằng cách được kiểm soát.

310. Devas are acquiescent and suppliant. They cannot help but obey. It is for man to help the devas which he can influence to align which the best sources to obey.

310. Các thiên thần thuận phục và cầu khẩn. Họ không thể không tuân theo. Bổn phận của con người là giúp những thiên thần mà y có thể ảnh hưởng chỉnh hợp với những nguồn tốt nhất để tuân theo.

f. Man is innately Love,—the Force which produces coherency.  The devas are innately intelligence,—the force which produces activity.

f. Con người bẩm sinh là Tình thương,—Mãnh lực tạo ra sự cố kết.  Các thiên thần bẩm sinh là trí tuệ,—mãnh lực tạo ra hoạt động.

311. This dichotomy relates to the tabulation. While man is “innately love”, he may be essentially will. while the devas may be “innately intelligence”, they may be essentially love.

311. Sự phân đôi này liên hệ đến bảng trên. Trong khi con người “bẩm sinh là tình thương”, y có thể cốt yếu là ý chí. Trong khi các thiên thần có thể “bẩm sinh là trí tuệ”, họ có thể cốt yếu là tình thương.

312. That which is “innate” is found deep within the nature, but the essence is nuclear.

312. Điều gì là “bẩm sinh” thì được tìm thấy sâu trong bản chất, nhưng tinh túy thì có tính hạt nhân.

313. We cannot forget that man evolves through destruction of ring-pass-nots and devas through holding them coherent, upholding limitation.

313. Chúng ta không thể quên rằng con người tiến hoá bằng cách phá vỡ các vòng-giới-hạn còn các thiên thần thì bằng cách giữ cho chúng cố kết, duy trì giới hạn.

f. The third type of force, that of Will, the balancing equilibrium of electrical phenomena, has to play equally upon and through both evolutions, but in the one it demonstrates as self-consciousness, and in the other as constructive vibration.

f. Loại mãnh lực thứ ba, tức mãnh lực của Ý chí, sự quân bình cân bằng của các hiện tượng điện, phải tác động như nhau lên và xuyên qua cả hai tiến hoá, nhưng trong một bên nó biểu lộ như ngã thức, và trong bên kia như rung động kiến tạo.

314. This is an amazing statement. Usually the force of love is considered to be the equilibrizing, balancing force. Perhaps determination of the equilibrizing force depend much upon which two factors (of three) in a triangle are being related. The one which is not related may become the equilibrizer.

314. Đây là một phát biểu đáng kinh ngạc. Thông thường mãnh lực của tình thương được xem là mãnh lực quân bình, cân bằng. Có lẽ việc xác định mãnh lực quân bình phụ thuộc nhiều vào việc hai yếu tố nào (trong ba yếu tố) của một tam giác đang được liên hệ. Yếu tố không được liên hệ có thể trở thành yếu tố quân bình.

315. DK has often hinted at a third type of electrical phenomenon, but in those cases it was a type which would neutralize or harmonize the interplay between positive (electric fire) and negative (fire by friction).

315. Chân sư DK thường đã ám chỉ đến một loại hiện tượng điện thứ ba, nhưng trong những trường hợp ấy, đó là một loại có thể trung hòa hoặc điều hòa sự tương tác giữa dương cực (Lửa Điện) và âm cực (Lửa ma sát).

316. The first ray potentials of the energy of Libra are suggested. It is the sign of equilibrization and there is much first ray pouring through it via Saturn.

316. Các tiềm năng cung một của năng lượng Thiên Bình được gợi ra. Đây là dấu hiệu của sự quân bình hóa, và có nhiều cung một tuôn đổ qua nó thông qua Sao Thổ.

317. We may gather that the devas outstrip man in their capacity for “constructive vibration” and human beings outstrip the devas in their capacity for “self-consciousness”. This does not mean that men are devoid of constructive vibration or that devas are devoid of self-consciousness. Perhaps they each learn from the other.

317. Chúng ta có thể suy ra rằng các thiên thần vượt con người về năng lực “rung động kiến tạo”, còn con người vượt các thiên thần về năng lực “ngã thức”. Điều này không có nghĩa là con người thiếu rung động kiến tạo hay các thiên thần thiếu ngã thức. Có lẽ mỗi bên đều học hỏi từ bên kia.

318. Because the will aspect emerges last, we may gather that both self-consciousness and constructive vibration are consummated relatively late in the developmental process.

318. Bởi vì phương diện ý chí xuất hiện sau cùng, chúng ta có thể suy ra rằng cả ngã thức lẫn rung động kiến tạo đều được hoàn tất ở giai đoạn tương đối muộn trong tiến trình phát triển.

319. Later in the commentary DK speaks again of the equilibrizing form of electricity, but relates it to the second aspect rather than the first. This type of relation is a better fit with the Law of Correspondences.

319. Về sau trong phần bình luận, Chân sư DK lại nói đến hình thức điện quân bình hóa, nhưng liên hệ nó với phương diện thứ hai thay vì phương diện thứ nhất. Loại tương quan này phù hợp hơn với định luật tương ứng.

In the Heavenly Man these two great aspects of divinity are equally blended, and in the course of the mahamanvantara the imperfect Gods become perfect.

Trong Đấng Thiên Nhân, hai phương diện lớn lao này của thiên tính được hòa trộn đồng đều, và trong tiến trình của Đại giai kỳ sinh hóa, các vị Thượng đế bất toàn trở nên hoàn hảo.

320. DK seems to be calling men and devas “two great aspects of divinity”. We cannot know exactly what He means by “equally blended”. In different great Beings there are different proportions of human to deva Monads. (In our present solar system there are 140 billion deva Monads and 60 human Monads.)

320. Chân sư DK dường như đang gọi con người và các thiên thần là “hai phương diện lớn lao của thiên tính”. Chúng ta không thể biết chính xác Ngài muốn nói gì qua cụm từ “được hòa trộn đồng đều”. Trong những Đấng vĩ đại khác nhau có những tỉ lệ khác nhau giữa các Chân thần người và các Chân thần thiên thần. (Trong hệ mặt trời hiện nay của chúng ta có 140 tỉ Chân thần thiên thần và 60 Chân thần người.)

321. In any case, the imperfect human beings and the imperfect devas at length become perfect as the Heavenly Man evolves and as the Solar Logos also evolves through the long course of the mahamanvantara.

321. Dù sao đi nữa, những con người bất toàn và những thiên thần bất toàn cuối cùng đều trở nên hoàn hảo khi Đấng Thiên Nhân tiến hoá và khi Thái dương Thượng đế cũng tiến hoá qua tiến trình dài lâu của Đại giai kỳ sinh hóa.

322. Usually when the words “aspects of divinity” are used, the first, second and third aspects are indicated. In the foregoing discussing the second and third aspects were discussed in relation to man and the devas respectively. These two aspects are not yet, however, “equally blended”, though in the life of expression of our particular Heavenly Man, the blending of the second and third aspects is a focal undertaking necessary for His fourth minor initiation.

322. Thông thường, khi các từ “các phương diện của thiên tính” được dùng, thì phương diện thứ nhất, thứ hai và thứ ba được chỉ định. Trong phần bàn luận trước đó, phương diện thứ hai và thứ ba đã được bàn đến trong liên hệ với con người và các thiên thần theo thứ tự ấy. Tuy nhiên, hai phương diện này vẫn chưa được “hòa trộn đồng đều”, mặc dù trong đời sống biểu lộ của Đấng Thiên Nhân đặc thù của chúng ta, sự hòa trộn của phương diện thứ hai và thứ ba là một công cuộc trọng điểm cần thiết cho lần điểm đạo phụ thứ tư của Ngài.

323. The fourth initiation involves the buddhic plane and upon the buddhic plane, men and devas harmonize and begin to merge.

323. Lần điểm đạo thứ tư liên quan đến cõi Bồ đề, và trên cõi Bồ đề, những người nam và nữ cùng các thiên thần hòa hợp và bắt đầu dung nhập.

These broad and general distinctions are pointed out as they throw light upon the relationship of Man to the devas.

Những phân biệt rộng lớn và tổng quát này được nêu ra vì chúng soi sáng mối liên hệ của Con Người với các thiên thần.

324. The forgoing series of contrasts between the human and deva kingdoms is of great synthetic value and should be studied closely as it presents the contrasts with great clarity.

324. Chuỗi đối chiếu vừa qua giữa giới nhân loại và giới thiên thần có giá trị tổng hợp rất lớn và cần được nghiên cứu kỹ lưỡng, vì nó trình bày các tương phản với sự minh bạch lớn lao.

Leave a Comment

Scroll to Top