Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến trang sách tương ứng trong TCF
TCF 792- 807: S7S5
|
20 May – 4 June 2008 |
20 tháng 5 – 4 tháng 6 năm 2008 |
|
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) |
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện) |
|
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the analysis. |
Đề nghị nên đọc phần Bình luận này với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ được tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần phân tích. |
|
(h.) Incarnation and Karma. In resuming our consideration of the process pursued by the reincarnating Ego, |
(h.) Nhập thể và nghiệp quả. Khi tiếp tục việc xem xét của chúng ta về tiến trình được Chân ngã tái sinh theo đuổi, |
|
1. The process under discussion is one of movement towards incarnation. |
1. Tiến trình đang được bàn đến là một tiến trình vận động hướng tới nhập thể. |
|
it is necessary to point out that the entire subject radically concerns energy, |
cần phải chỉ ra rằng toàn bộ chủ đề này về căn bản liên quan đến năng lượng, |
|
2. The term “radically” means essentially and fundamentally. |
2. Thuật ngữ “về căn bản” ở đây có nghĩa là một cách cốt yếu và nền tảng. |
|
and that according to the place in evolution of the unit of force involved, so will the length of time required for the process be brief, or the reverse. |
và rằng tùy theo vị trí trong tiến hoá của đơn vị mãnh lực liên quan mà khoảng thời gian cần thiết cho tiến trình sẽ ngắn hay ngược lại. |
|
3. The “unit of force” in this instance is the reincarnating human being—technically, the “Jiva”. |
3. “Đơn vị mãnh lực” trong trường hợp này là con người tái sinh—về mặt kỹ thuật là “Jiva”. |
|
In the early stages, the initiatory impulse is heavy and slow, |
Trong các giai đoạn đầu, xung lực khởi đầu rất nặng nề và chậm chạp, |
|
4. By “the initiatory impulse” is meant the impulse which initiates incarnation. |
4. “Xung lực khởi đầu” có nghĩa là xung lực khởi sự sự nhập thể. |
|
and the matter required for the sheaths is of a correspondingly “low” grade, that is, it is of low vibratory capacity, |
và vật chất cần thiết cho các thể có phẩm cấp “thấp” tương ứng, nghĩa là nó có khả năng rung động thấp, |
|
5. By “low vibratory capacity” is meant the incapacity of such matter to achieve a relatively high frequency of vibration. |
5. “Khả năng rung động thấp” có nghĩa là sự bất lực của loại vật chất ấy trong việc đạt đến một tần số rung động tương đối cao. |
|
6. We note that matter of “low vibratory capacity” is required. Matter of higher vibratory capacity would not be suitable for the kinds of developments to be achieved a that early stage. |
6. Chúng ta lưu ý rằng vật chất có “khả năng rung động thấp” là điều cần thiết. Vật chất có khả năng rung động cao hơn sẽ không thích hợp cho những loại phát triển cần đạt được ở giai đoạn đầu ấy. |
|
and the time elapsing between the first vibration outwards on the mental plane, |
và khoảng thời gian trôi qua giữa rung động đầu tiên hướng ra ngoài trên cõi trí, |
|
7. That vibration comes from the higher mental plane. The lower mental subplanes are, with respect to the higher subplanes, in a direction esoterically “outwards”. |
7. Rung động ấy đến từ cõi thượng trí. Các cõi phụ hạ trí, so với các cõi phụ cao hơn, nằm theo một hướng được gọi một cách huyền bí là “hướng ra ngoài”. |
|
and the coordination of the dense physical body is a long one. |
và sự phối hợp của thể xác đậm đặc là một khoảng thời gian dài. |
|
8. We may often think of the interval lasting from the time of physical death to the time of reabsorption into the causal body as lengthy or the reverse, but perhaps we do not so often think of the great period of time which can be spent from the moment of the initial impulse towards incarnation and the time of the coordination of the dense physical body. |
8. Chúng ta thường có thể nghĩ đến khoảng thời gian kéo dài từ lúc chết trên cõi hồng trần đến lúc được tái hấp thu vào thể nguyên nhân là dài hay ngắn, nhưng có lẽ chúng ta không thường nghĩ đến khoảng thời gian rất lớn có thể trôi qua từ khoảnh khắc của xung lực ban đầu hướng tới nhập thể cho đến lúc thể xác đậm đặc được phối hợp. |
|
Later on, the vibration becomes more powerful and the effects therefore are more rapidly felt. |
Về sau, rung động trở nên mạnh hơn và do đó các hiệu quả được cảm nhận nhanh hơn. |
|
9. A more powerful vibration initiated from the Ego on the higher mental plane results in a shorter time period between the initiation of that vibration and the coordination of the dense physical body. |
9. Một rung động mạnh hơn được khởi phát từ chân ngã trên cõi thượng trí dẫn đến một khoảng thời gian ngắn hơn giữa sự khởi phát rung động ấy và sự phối hợp của thể xác đậm đặc. |
|
At the close of evolution, when the human unit is upon the Path and consciously controlling his destiny, and working off [Page 792] karma, |
Vào lúc kết thúc tiến hoá, khi đơn vị nhân loại ở trên Con Đường và đang hữu thức kiểm soát số phận của mình, và đang giải trừ [Page 792] nghiệp quả, |
|
10. The implication is that the human unit of low development does not consciously control his destiny and cannot consciously work off karma. |
10. Hàm ý ở đây là đơn vị nhân loại kém phát triển không kiểm soát số phận của mình một cách hữu thức và không thể giải trừ nghiệp quả một cách hữu thức. |
|
11. Disciples and initiates, it seems, are, before birth, consciously involved in arranging the destiny of their impending incarnation as a human being in the three lower worlds. They are also, it seems, consciously aware of the potential for the working off of karma in that impending incarnation. |
11. Dường như các đệ tử và các điểm đạo đồ, trước khi sinh ra, có tham gia một cách hữu thức vào việc sắp xếp số phận của lần nhập thể sắp đến của mình như một con người trong ba cõi thấp. Dường như họ cũng hữu thức nhận biết tiềm năng giải trừ nghiệp quả trong lần nhập thể sắp đến ấy. |
|
the intervals intervening between two incarnations are brief or not as the man may choose in the interests of the work to be done, and according to his intention to achieve liberation from form. |
các khoảng cách xen giữa hai lần nhập thể ngắn hay không là tùy theo con người lựa chọn vì lợi ích của công việc cần được thực hiện, và tùy theo ý định của y nhằm đạt được sự giải thoát khỏi hình tướng. |
|
12. It would seem that, in the interests of the work to be done, or to achieve the capacity to be liberated from form, the intervals between two incarnation can be brief or not. The man, himself, chooses and the choice is not made for him as in earlier incarnations. Perhaps, for such reasons, a lengthy interval might be chosen. There appears to be no hard and fast rule that disciples must necessarily return to incarnation very rapidly, though DK seems to indicate this as desirable and customary. |
12. Dường như, vì lợi ích của công việc phải được thực hiện, hoặc để đạt được năng lực được giải thoát khỏi hình tướng, các khoảng cách giữa hai lần nhập thể có thể ngắn hoặc không. Chính con người tự chọn, và sự chọn lựa ấy không được thực hiện cho y như trong các lần nhập thể trước đây. Có lẽ, vì những lý do như thế, một khoảng cách dài có thể được chọn. Dường như không có quy luật cứng nhắc nào rằng các đệ tử nhất thiết phải trở lại nhập thể thật nhanh, dù Chân sư DK dường như chỉ ra điều này là điều đáng mong muốn và thông thường. |
|
It must also be remembered that as the evolutionary process proceeds, the egoic activity calls out response not only from substance in the three worlds, but also from the formless levels of the system. |
Cũng phải nhớ rằng khi tiến trình tiến hoá tiếp diễn, hoạt động chân ngã khơi dậy sự đáp ứng không chỉ từ chất liệu trong ba cõi giới, mà còn từ các cấp độ vô tướng của hệ thống. |
|
13. DK is calling our attention to a type of dual evocation. The intensifying egoic vibration evokes response not only from the lower three worlds but from the levels of the cosmic ethers. |
13. Chân sư DK đang hướng sự chú ý của chúng ta đến một loại gợi lên nhị nguyên. Sự rung động chân ngã được tăng cường khơi dậy sự đáp ứng không chỉ từ ba cõi thấp mà còn từ các cấp độ của các dĩ thái vũ trụ. |
|
14. These higher energies become increasingly influential in the life of the man in the three lower worlds as egoic activity intensifies. |
14. Các năng lượng cao hơn này ngày càng trở nên có ảnh hưởng trong đời sống của con người trong ba cõi thấp khi hoạt động chân ngã tăng cường. |
|
The response will be felt finally on monadic levels. Then, after a moment of equilibrium, the effect of the rhythm is felt entirely on the higher planes, and leaves the lower. |
Sự đáp ứng rốt cuộc sẽ được cảm nhận trên các cấp độ chân thần. Khi đó, sau một khoảnh khắc quân bình, tác động của nhịp điệu được cảm nhận hoàn toàn trên các cõi cao hơn, và rời khỏi các cõi thấp. |
|
15. This “moment of equilibrium” may well be another name for the state which develops during the destruction of the causal body. |
15. “Khoảnh khắc quân bình” này rất có thể là một tên gọi khác cho trạng thái phát triển trong khi thể nguyên nhân bị hủy diệt. |
|
16. Of which “rhythm” are we speaking—the beat of the egoic ‘heart’? A transference is in process and a refocussing on higher planes. We have here yet another way of describing the process of the fourth initiation. |
16. Chúng ta đang nói đến “nhịp điệu” nào—nhịp đập của “trái tim” chân ngã chăng? Một sự chuyển dịch đang diễn ra và một sự tái tập trung trên các cõi cao hơn. Ở đây chúng ta lại có thêm một cách khác để mô tả tiến trình của lần điểm đạo thứ tư. |
|
17. Interestingly enough, we learn on TCF 1081 that the thirteenth category of Monads (corresponding to the Monads who are expressing the Jewel in the Lotus fully) is called “the equilibrised atoms”. |
17. Điều thú vị là, chúng ta học được trong TCF 1081 rằng loại Monads thứ mười ba (tương ứng với các chân thần đang biểu lộ đầy đủ Viên Ngọc trong Hoa Sen) được gọi là “các nguyên tử được quân bình”. |
|
The word “moment” is used here in its occult significance to specify a period of time, and must be considered as a period relative to a day or year of Brahma. |
Từ “moment” ở đây được dùng theo thâm nghĩa huyền bí của nó để chỉ định một khoảng thời gian, và phải được xem như một khoảng thời gian tương đối so với một ngày hay một năm của Brahma. |
|
18. If the hypothesis offered above (regarding the period of the fourth initiation) is correct, the period concerning the destruction of the causal body and a refocussing on the cosmic ethers would still be very brief in relation to a day or year of Brahma. |
18. Nếu giả thuyết được nêu ở trên (liên quan đến giai đoạn của lần điểm đạo thứ tư) là đúng, thì giai đoạn liên quan đến sự hủy diệt của thể nguyên nhân và một sự tái tập trung trên các dĩ thái vũ trụ vẫn sẽ rất ngắn so với một ngày hay một năm của Brahma. |
|
19. We will want to note that, below, DK uses the term “Brahmic moment” to indicate processes which concern the egoic groups specifically. A “moment” however is an imprecise term and there may be many “moments” of greater and lesser duration. The period of the destruction of the causal body may be considered one such “moment” in the life of the Ego. |
19. Chúng ta sẽ muốn lưu ý rằng, ở dưới, Chân sư DK dùng thuật ngữ “Brahmic moment” để chỉ các tiến trình đặc biệt liên quan đến các nhóm chân ngã. Tuy nhiên, một “moment” là một thuật ngữ không chính xác và có thể có nhiều “moment” với độ dài lớn nhỏ khác nhau. Giai đoạn hủy diệt thể nguyên nhân có thể được xem là một “moment” như thế trong đời sống của Chân ngã. |
|
20. Of course, the duration of the period when consciousness is focussed on the cosmic ethers would not be brief—at least from our present human perspective. |
20. Dĩ nhiên, thời lượng của giai đoạn khi tâm thức được tập trung trên các dĩ thái vũ trụ sẽ không ngắn—ít nhất là từ quan điểm nhân loại hiện tại của chúng ta. |
|
One of the secrets of initiation is concerned with the apprehension of cycles, and with their duration, and the following terms have to be appreciated, their duration recognised, and their antithesis (an intervening pralaya) duly considered before a man is considered a true occultist. |
Một trong những bí mật của điểm đạo liên quan đến sự lĩnh hội các chu kỳ, và thời lượng của chúng, và các thuật ngữ sau đây phải được trân trọng, thời lượng của chúng phải được nhận biết, và phản đề của chúng (một giai kỳ qui nguyên xen giữa) phải được cân nhắc đúng mức trước khi một người được xem là một nhà huyền bí học chân chính. |
|
21. We cannot realistically expect that we will fully fathom the meaning of the cycles discussed below. What is important, is to realize that if a disciple or probationary initiate does not appreciate the significance of the terms offered, understanding both their duration and the pralayic periods associated with each cycle, he cannot be considered a “true occultist”. |
21. Chúng ta không thể thực tế mà mong đợi rằng mình sẽ hoàn toàn thấu triệt ý nghĩa của các chu kỳ được bàn đến dưới đây. Điều quan trọng là phải chứng nghiệm rằng nếu một đệ tử hay một điểm đạo đồ dự bị không trân trọng thâm nghĩa của các thuật ngữ được đưa ra, thấu hiểu cả thời lượng của chúng lẫn các giai kỳ qui nguyên gắn liền với mỗi chu kỳ, thì y không thể được xem là một “nhà huyền bí học chân chính”. |
|
22. We do register the fact that our knowledge of cycles is presently scant and patchy. This will gradually be remedied by the knowledge conveyed during the initiatory process. |
22. Chúng ta quả có ghi nhận sự kiện rằng tri thức của mình về các chu kỳ hiện nay còn ít ỏi và rời rạc. Điều này sẽ dần dần được khắc phục nhờ tri thức được truyền đạt trong tiến trình điểm đạo. |
|
23. We may find that some of the terms offered below correspond well to the thoughts we have, thus far, built up concerning certain cycles and their duration. Some definitions below may, however, be at variance with those already established in our minds. |
23. Chúng ta có thể thấy rằng một số thuật ngữ được đưa ra dưới đây tương ứng khá tốt với những tư tưởng mà cho đến nay chúng ta đã xây dựng về một số chu kỳ và thời lượng của chúng. Tuy nhiên, một số định nghĩa dưới đây có thể khác với những gì đã được thiết lập trong tâm trí chúng ta. |
|
a. 100 years of Brahma… An occult century. The period of a solar system. |
a. 100 năm của Brahma… Một thế kỷ huyền bí. Giai đoạn của một hệ mặt trời. |
|
24. This is the standard definition. |
24. Đây là định nghĩa tiêu chuẩn. |
|
25. We must pause to realize, however, that the estimate for the duration of a solar system hypothesized by modern scientific thought and the duration asserted by the Ageless Wisdom are, to put it mildly, vastly different. |
25. Tuy nhiên, chúng ta phải dừng lại để chứng nghiệm rằng ước tính về thời lượng của một hệ mặt trời theo giả thuyết của tư tưởng khoa học hiện đại và thời lượng được Minh Triết Ngàn Đời khẳng định, nói nhẹ đi, là khác biệt vô cùng lớn. |
|
26. Are all periods of “100 years of Brahma” exactly equal. There are hints which point in this direction, and yet we may also reasonably infer that the previous solar system, said to have lasted an “occult century” or “100 years of Brahma” was greater in duration than the present solar system will be. What we are asking is whether all “occult centuries” are equal. |
26. Có phải mọi giai đoạn “100 năm của Brahma” đều hoàn toàn bằng nhau không? Có những gợi ý chỉ theo hướng này, nhưng chúng ta cũng có thể suy ra một cách hợp lý rằng hệ mặt trời trước, được nói là đã kéo dài một “thế kỷ huyền bí” hay “100 năm của Brahma”, có thời lượng lớn hơn hệ mặt trời hiện tại sẽ có. Điều chúng ta đang hỏi là liệu mọi “thế kỷ huyền bí” có bằng nhau hay không. |
|
b. One year of Brahma… The period of seven chains, where the seven planetary schemes are concerned. |
b. Một năm của Brahma… Giai đoạn của bảy dãy, xét nơi bảy hệ hành tinh. |
|
27. Is this “period of seven chains” the same as the duration of an entire planetary scheme? If this is the case, we have a great discrepancy, for it is said that some of the planetary schemes endure throughout the mahamanvantara, and a “Year of Brahma” is but one one-hundredth of a mahamanvantara! |
27. “Giai đoạn của bảy dãy” này có phải là cùng một thời lượng với toàn bộ thời gian của một toàn thể hệ hành tinh không? Nếu đúng như vậy, chúng ta có một sự chênh lệch lớn, vì có nói rằng một số hệ hành tinh tồn tại suốt Đại giai kỳ sinh hóa, trong khi một “Năm của Brahma” chỉ là một phần một trăm của một Đại giai kỳ sinh hóa! |
|
In connection with these two planets, it must be remembered that Venus is a sacred planet and the Earth is not. This means that certain of the planets are to the Logos what the permanent atoms are to man. They embody principles. Certain planets afford only temporary homes to these principles. Others persist throughout the mahamanvantara. Of these Venus is one. (TCF 298-299) |
Liên quan đến hai hành tinh này, phải nhớ rằng Sao Kim là một hành tinh thiêng liêng còn Trái Đất thì không. Điều này có nghĩa là một số hành tinh đối với Thượng đế cũng giống như các Nguyên tử trường tồn đối với con người. Chúng thể hiện các nguyên khí. Một số hành tinh chỉ cung cấp những nơi cư ngụ tạm thời cho các nguyên khí này. Những hành tinh khác tồn tại suốt Đại giai kỳ sinh hóa. Sao Kim là một trong số đó. (TCF 298-299) |
|
28. Certainly, if planetary schemes are as chakras to the Solar Logos, then it would be impossible that they endure for only one Year of Brahma. In any living B/being the seven major chakras must be fully functioning (so it would reasonably seem), for all or, at least, the greater part of its manifestational life. |
28. Chắc chắn, nếu các hệ hành tinh là các luân xa đối với Thái dương Thượng đế, thì không thể nào chúng chỉ tồn tại trong một Năm của Brahma. Trong bất kỳ B/bản thể sống nào, bảy luân xa chính phải hoạt động đầy đủ (ít ra dường như là như vậy) trong toàn bộ hoặc ít nhất phần lớn đời sống biểu hiện của nó. |
|
29. Or is a “period of seven chains” but one seventh of seven such periods to be experienced by a Planetary Logos? |
29. Hay phải chăng một “giai đoạn của bảy dãy” chỉ là một phần bảy của bảy giai đoạn như thế mà một Hành Tinh Thượng đế phải trải qua? |
|
30. Is it significant that a period equating to a “Month of Brahma” is missing? |
30. Có phải điều đáng chú ý là thiếu mất một giai đoạn tương đương với một “Tháng của Brahma” không? |
|
31. As the number twelve is so important in occultism, relating closely to the number seven, we would hardly expect it to be dissociated from the figure of a year—and a year is one of the fundamental ‘Brahmic’ measures. |
31. Vì số mười hai rất quan trọng trong huyền bí học, liên hệ chặt chẽ với số bảy, nên chúng ta khó có thể mong đợi nó bị tách rời khỏi hình tượng của một năm—và một năm quả thật là một trong những đơn vị đo lường “Brahmic” căn bản. |
|
32. One more point: sometimes planetary schemes are called “chains”. They were so in the old theosophical writings. If, in this context, by “chains”, DK actually means planetary schemes, then an entirely different interpretation would be suggested. |
32. Thêm một điểm nữa: đôi khi các hệ hành tinh được gọi là “dãy”. Chúng đã được gọi như thế trong các trước tác Thông Thiên Học xưa. Nếu, trong ngữ cảnh này, Chân sư DK thực sự muốn nói các hệ hành tinh khi dùng từ “dãy”, thì một cách diễn giải hoàn toàn khác sẽ được gợi ra. |
|
33. If we examine closely what DK has said above, we will note that it is perhaps purposely vague and can be interpreted in diverse ways. We also know that this whole matter of schemes, chains, globes and the rounds which emphasize them apparently in sequential order is very blinded. Much caution is needed, therefore, if we are to have any hope of penetrating the occult blinds. |
33. Nếu xem xét kỹ điều Chân sư DK đã nói ở trên, chúng ta sẽ lưu ý rằng có lẽ điều đó cố ý mơ hồ và có thể được diễn giải theo nhiều cách khác nhau. Chúng ta cũng biết rằng toàn bộ vấn đề về các hệ hành tinh, các dãy, các bầu hành tinh và các cuộc tuần hoàn nhấn mạnh chúng theo thứ tự tuần tự dường như là rất bị che mờ. Vì vậy, cần hết sức thận trọng nếu chúng ta còn hy vọng xuyên thấu các bức màn huyền bí. |
|
34. How many periods of seven chains are there where the planetary schemes are concerned? One way of interpreting a scheme round is that it is precisely one of seven periods of seven chains (i.e., seven periods of sequential emphasis upon each of the seven chains). |
34. Có bao nhiêu giai đoạn của bảy dãy xét nơi các hệ hành tinh? Một cách diễn giải một cuộc tuần hoàn hệ hành tinh là nó chính xác là một trong bảy giai đoạn của bảy dãy (tức bảy giai đoạn nhấn mạnh tuần tự trên mỗi một trong bảy dãy). |
|
35. Could it be, however, that this figure of a “Year of Brahma” refers not to the completion of a planetary scheme’s entire process, but merely to the period of focus upon a planetary scheme as a solar systemic round passes through it, activating in some manner all of its seven chains, thus stimulating a “period of seven chains where the seven planetary schemes are concerned”? |
35. Tuy nhiên, có thể chăng con số “Một Năm của Brahma” này không chỉ đến sự hoàn tất của toàn bộ tiến trình của một hệ hành tinh, mà chỉ đến giai đoạn tập trung vào một hệ hành tinh khi một cuộc tuần hoàn hệ mặt trời đi qua nó, hoạt hóa theo một cách nào đó cả bảy dãy của nó, nhờ đó kích thích một “giai đoạn của bảy dãy xét nơi bảy hệ hành tinh”? |
|
36. We must remember that if a Logos (of any kind) focuses upon a particular chain (or chakra), it is not the same as saying that only that chakra is active within the energy body of that Logos. A Logos may have multiple simultaneous foci, with one of them being the major focus. |
36. Chúng ta phải nhớ rằng nếu một Thượng đế (thuộc bất kỳ loại nào) tập trung vào một dãy đặc biệt (hay một luân xa), điều đó không đồng nghĩa với việc chỉ luân xa ấy hoạt động trong thể năng lượng của Thượng đế ấy. Một Thượng đế có thể có nhiều tiêu điểm đồng thời, trong đó một tiêu điểm là tiêu điểm chính. |
|
37. The following could occur in relation to a solar systemic round: |
37. Điều sau đây có thể xảy ra liên quan đến một cuộc tuần hoàn hệ mặt trời: |
|
a. Each planetary scheme could be activated sequentially in a focal way |
a. Mỗi hệ hành tinh có thể được hoạt hóa tuần tự theo cách tiêu điểm |
|
b. A pralaya of the same duration as the activation could occur following the activation |
b. Một giai kỳ qui nguyên có cùng thời lượng với sự hoạt hóa có thể xảy ra sau sự hoạt hóa đó |
|
c. Thus, in all, there would be seven activations and seven pralayas for each solar systemic round, (That there are presently ten well-designated planetary schemes will have to be reckoned with. Seven of the ten are fundamental.) |
c. Như vậy, tổng cộng sẽ có bảy lần hoạt hóa và bảy giai kỳ qui nguyên cho mỗi cuộc tuần hoàn hệ mặt trời, (Việc hiện nay có mười hệ hành tinh được xác định rõ sẽ phải được tính đến. Bảy trong mười hệ là căn bản.) |
|
d. Given seven solar systemic rounds, there would be ninety-eight (7 x 14) activation periods during that lengthy and solar-systemically complete period, and each activation period would last one Year of Brahma. |
d. Với bảy cuộc tuần hoàn hệ mặt trời, sẽ có chín mươi tám (7 x 14) giai đoạn hoạt hóa trong suốt giai đoạn dài lâu và hoàn chỉnh theo hệ mặt trời ấy, và mỗi giai đoạn hoạt hóa sẽ kéo dài một Năm của Brahma. |
|
e. The figure ninety-eight is approaching the period of an Occult Century, or 100 Years of Brahma. |
e. Con số chín mươi tám đang tiến gần đến giai đoạn của một Thế Kỷ Huyền Bí, hay 100 Năm của Brahma. |
|
f. To speak of a solar systemic round in this way does not, however, reveal the manner in which these activations would occur or whether they would be strictly sequential or some combination of sequential and simultaneous—a more likely option given the necessity of equating planetary schemes with solar systemic chakras. |
f. Tuy nhiên, nói về một cuộc tuần hoàn hệ mặt trời theo cách này không cho thấy cách thức mà các sự hoạt hóa này sẽ xảy ra, hay liệu chúng sẽ hoàn toàn tuần tự hay là một sự kết hợp giữa tuần tự và đồng thời—một lựa chọn có vẻ khả dĩ hơn, xét đến sự cần thiết phải đồng nhất các hệ hành tinh với các luân xa của hệ mặt trời. |
|
38. In any case, it is unlikely that the entire duration of any planetary scheme would be only one Year of Brahma or one one-hundreth of an occult century. |
38. Dù sao đi nữa, khó có khả năng toàn bộ thời lượng của bất kỳ hệ hành tinh nào chỉ là một Năm của Brahma hay một phần một trăm của một thế kỷ huyền bí.trăm. |
|
39. If this caveat is correct, we have to find some method of explaining point “b.” other than the obvious method. |
39. Nếu lời cảnh báo này là đúng, chúng ta phải tìm một phương pháp nào đó để giải thích điểm “b.” ngoài phương pháp hiển nhiên. |
|
40. Let us recapitulate the kinds of rounds there may be: |
40. Chúng ta hãy tóm lược các loại cuộc tuần hoàn có thể có: |
|
a. The ordinary chain round, with which we are so familiar. The life emphasis of the Logos in question (whether Solar Logos, Planetary Logos or Man) passes through seven globes. |
a. Cuộc tuần hoàn dãy thông thường, mà chúng ta rất quen thuộc. Sự nhấn mạnh sự sống của Thượng đế được nói đến (dù là Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế hay Con Người) đi qua bảy bầu hành tinh. |
|
b. A scheme round in which the life emphasis of a Logos passes (in a manner not yet to be ascertained) through seven chains. |
b. Một cuộc tuần hoàn hệ hành tinh trong đó sự nhấn mạnh sự sống của một Thượng đế đi qua (theo một cách chưa thể xác định) bảy dãy. |
|
c. A solar systemic round in which the life emphasis of the Solar Logos passes through seven schemes. |
c. Một cuộc tuần hoàn hệ mặt trời trong đó sự nhấn mạnh sự sống của Thái dương Thượng đế đi qua bảy hệ hành tinh. |
|
41. When examining the figure “7” and the 343 globes in a solar system consisting of seven major schemes, each with seven chains, each chain having, according to the usual method of counting, seven globes, we would have 7x7x7=343=10=1. There is something about these figures requiring close analysis. |
41. Khi khảo sát con số “7” và 343 bầu hành tinh trong một hệ mặt trời gồm bảy hệ lớn, mỗi hệ có bảy dãy, mỗi dãy có, theo cách đếm thông thường, bảy bầu hành tinh, chúng ta sẽ có 7x7x7=343=10=1. Có điều gì đó nơi các con số này đòi hỏi phải được phân tích kỹ lưỡng. |
|
c. One week of Brahma… The period of seven rounds in one scheme. It has a chain significance. |
c. Một tuần của Brahma… Giai đoạn của bảy cuộc tuần hoàn trong một hệ hành tinh. Nó có ý nghĩa dãy. |
|
42. It may be that the reason why DK tells us that a “week of Brahma” has a chain significance is that there may be a period of seven rounds which has a scheme significance. (This would mean that within the solar system as a whole, each scheme is to the Solar Logos as a chain is to a Planetary Logos.) |
42. Có thể lý do Chân sư DK nói với chúng ta rằng một “tuần của Brahma” có ý nghĩa dãy là vì có thể có một giai đoạn của bảy cuộc tuần hoàn mang ý nghĩa hệ hành tinh. (Điều này có nghĩa là trong toàn bộ hệ mặt trời, mỗi hệ hành tinh đối với Thái dương Thượng đế cũng như một dãy đối với một Hành Tinh Thượng đế.) |
|
43. It is probable here that DK could here be speaking of seven scheme rounds, presumably involving each of the chains in a planetary scheme seven times, just as, when considering chain rounds, each globe is activated seven times—once during each one of the seven chain rounds. |
43. Ở đây có lẽ Chân sư DK có thể đang nói đến bảy cuộc tuần hoàn hệ hành tinh, có lẽ liên quan đến mỗi dãy trong một hệ hành tinh bảy lần, cũng như khi xét các cuộc tuần hoàn dãy, mỗi bầu hành tinh được hoạt hóa bảy lần—một lần trong mỗi một của bảy cuộc tuần hoàn dãy. |
|
44. (Were this the case, then one “Day of Brahma”—a measure seven times smaller than a “week”—would pertain to a period of seven rounds in one chain and would have a ‘globe significance’.) |
44. (Nếu đúng như vậy, thì một “Ngày của Brahma”—một đơn vị đo nhỏ hơn “tuần” bảy lần—sẽ liên quan đến một giai đoạn của bảy cuộc tuần hoàn trong một dãy và sẽ có ‘ý nghĩa bầu hành tinh’.) |
|
45. However, a period of seven scheme rounds (with the life wave passing through and activating planetary chains instead of planetary globes) would probably signify the entire duration of a planetary scheme and so, according to what is said in point “b.”, should equate to a “Year of Brahma” and not to a “Week of Brahma”. |
45. Tuy nhiên, một giai đoạn của bảy cuộc tuần hoàn hệ hành tinh (với làn sóng sự sống đi qua và hoạt hóa các dãy hành tinh thay vì các bầu hành tinh) có lẽ sẽ biểu thị toàn bộ thời lượng của một hệ hành tinh và như thế, theo điều được nói trong điểm “b.”, phải tương đương với một “Năm của Brahma” chứ không phải một “Tuần của Brahma”. |
|
46. It remains necessary for us to establish (and it will not be any time soon, at least with certainty) whether scheme rounds entail sequential activity on one chain after another—the simple way of explaining a scheme round—or whether scheme rounds occur simultaneously, with chain rounds occurring simultaneously on all chains which, when taken together, constitute a scheme round. |
46. Chúng ta vẫn cần phải xác lập (và điều đó sẽ không sớm xảy ra, ít nhất là với sự chắc chắn) liệu các cuộc tuần hoàn hệ hành tinh có bao hàm hoạt động tuần tự trên hết dãy này đến dãy khác—cách giải thích đơn giản về một cuộc tuần hoàn hệ hành tinh—hay liệu các cuộc tuần hoàn hệ hành tinh xảy ra đồng thời, với các cuộc tuần hoàn dãy xảy ra đồng thời trên mọi dãy mà khi gộp lại cấu thành một cuộc tuần hoàn hệ hành tinh. |
|
47. In one manner of considering the sequential option (and it is not likely to be true however much it suggests itself to the concrete mind—that great generator of sequences) we would have, for instance, seven chain rounds on chain one (involving perhaps a “Week of Brahma”, followed by an equal period of pralaya. Then seven chain rounds on chain two would occur. By the end of the process we would have fourteen weeks of Brahma—far too few to constitute the “Year of Brahma” necessary for the duration of an entire planetary scheme. Yet if we repeat the process seven times, we have ninety-eight “Weeks of Brahma”, which is a period far more than the fifty-two weeks which are, supposedly, in a Year of Brahma”. |
47. Theo một cách xem xét phương án tuần tự (và điều này khó có thể đúng dù nó gợi ra mạnh mẽ đến đâu cho trí cụ thể—kẻ sản sinh lớn lao của các chuỗi tuần tự), chẳng hạn chúng ta sẽ có bảy cuộc tuần hoàn dãy trên dãy một (có lẽ liên quan đến một “Tuần của Brahma”), tiếp theo là một giai đoạn giai kỳ qui nguyên bằng như thế. Sau đó bảy cuộc tuần hoàn dãy trên dãy hai sẽ xảy ra. Đến cuối tiến trình, chúng ta sẽ có mười bốn tuần của Brahma—quá ít để cấu thành “Năm của Brahma” cần thiết cho thời lượng của toàn bộ một hệ hành tinh. Tuy nhiên, nếu chúng ta lặp lại tiến trình ấy bảy lần, chúng ta sẽ có chín mươi tám “Tuần của Brahma”, một giai đoạn lớn hơn rất nhiều so với năm mươi hai tuần được cho là có trong một Năm của Brahma”. |
|
48. Some other way of understanding scheme rounds (other than strictly sequential) must be the correct one. The whole matter may be far more complex. Since planetary chains are chakras with the Planetary Logos, we would expect simultaneous activity on all of them (though to differing degrees). It may well be that before the round activity on one chain has elapsed, round activity on the succeeding chain (and, in fact, on all succeeding chains) may have, to some extent, begun. |
48. Một cách hiểu nào khác về các cuộc tuần hoàn hệ hành tinh (ngoài cách hoàn toàn tuần tự) hẳn phải là cách đúng. Toàn bộ vấn đề có thể phức tạp hơn nhiều. Vì các dãy hành tinh là các luân xa nơi Hành Tinh Thượng đế, chúng ta sẽ mong đợi hoạt động đồng thời trên tất cả chúng (dù ở những mức độ khác nhau). Rất có thể trước khi hoạt động cuộc tuần hoàn trên một dãy chấm dứt, hoạt động cuộc tuần hoàn trên dãy kế tiếp (và thật ra trên mọi dãy kế tiếp) có thể, ở một mức độ nào đó, đã bắt đầu. |
|
49. Our deficiency, is that we do not really know the nature of a scheme round, while we do suppose that we know the nature of a chain round. Even the simpler design of a chain round may not take place precisely as we imagine, for globes, too, are as chakras, and must be simultaneously active in the life of a Globe Lord. |
49. Sự thiếu sót của chúng ta là chúng ta không thật sự biết bản chất của một cuộc tuần hoàn hệ hành tinh, trong khi chúng ta lại cho rằng mình biết bản chất của một cuộc tuần hoàn dãy. Ngay cả mô hình đơn giản hơn của một cuộc tuần hoàn dãy cũng có thể không diễn ra chính xác như chúng ta tưởng tượng, vì các bầu hành tinh cũng là các luân xa, và phải đồng thời hoạt động trong đời sống của một Chúa Tể Bầu Hành Tinh. |
|
50. The great problem of how to reconcile simultaneity and sequentiality has not been solved—by us. |
50. Vấn đề lớn lao về cách dung hòa tính đồng thời và tính tuần tự vẫn chưa được giải quyết—bởi chúng ta. |
|
51. Is there chain round activity on, say, chain five, six or seven of our Earth-scheme even now? If chains are chakras and chakras function simultaneously, and their functioning involves chain-round activity, we would have to say, “Yes”. |
51. Có hoạt động cuộc tuần hoàn dãy nào trên, chẳng hạn, dãy năm, sáu hay bảy của hệ Địa Cầu của chúng ta ngay cả bây giờ không? Nếu các dãy là các luân xa và các luân xa hoạt động đồng thời, và hoạt động của chúng bao hàm hoạt động cuộc tuần hoàn dãy, thì chúng ta sẽ phải nói, “Có”. |
|
52. The standard theosophical presentation (when describing the progress of a life-wave) gives us a picture of strict sequentiality, but this seems to discount[1] the type of energy movements which would necessarily arise if globes were chakras and chains were chakras (and, further, if schemes were chakras) |
52. Cách trình bày tiêu chuẩn của Thông Thiên Học (khi mô tả sự tiến triển của một làn sóng sự sống) cho chúng ta một bức tranh về tính tuần tự nghiêm ngặt, nhưng điều này dường như không tính đến loại chuyển động năng lượng tất yếu sẽ phát sinh nếu các bầu hành tinh là các luân xa và các dãy là các luân xa (và hơn nữa, nếu các hệ hành tinh là các luân xa) |
|
53. Another associated question could be presented as follows: “Are there seven chain rounds per chain or are there forty-nine?” The answer will depend upon how we define a scheme round. |
53. Một câu hỏi liên hệ khác có thể được nêu như sau: “Mỗi dãy có bảy cuộc tuần hoàn dãy hay có bốn mươi chín?” Câu trả lời sẽ tùy thuộc vào cách chúng ta định nghĩa một cuộc tuần hoàn hệ hành tinh. |
|
54. One fairly intricate conception which may be worth consideration (for its indications rather than its strict accuracy) is as follows, though some contradiction with the usual present conceptions will arise: |
54. Một quan niệm khá phức tạp có thể đáng để xem xét (vì các chỉ dấu của nó hơn là vì tính chính xác nghiêm ngặt của nó) như sau, dù sẽ nảy sinh một số mâu thuẫn với các quan niệm thông thường hiện nay: |
|
a. Seven chains exist simultaneously. |
a. Bảy dãy tồn tại đồng thời. |
|
b. When round one on chain one begins there is no chain round activity on any of the other six chains. |
b. Khi cuộc tuần hoàn một trên dãy một bắt đầu thì không có hoạt động cuộc tuần hoàn dãy nào trên bất kỳ dãy nào khác trong sáu dãy còn lại. |
|
c. When round two on chain one begins, round one on chain two begins. |
c. Khi cuộc tuần hoàn hai trên dãy một bắt đầu, cuộc tuần hoàn một trên dãy hai bắt đầu. |
|
d. When round three on chain one begins, round two on chain two begins and round one of chain three begins. |
d. Khi cuộc tuần hoàn ba trên dãy một bắt đầu, cuộc tuần hoàn hai trên dãy hai bắt đầu và cuộc tuần hoàn một của dãy ba bắt đầu. |
|
e. Thus round one on chain seven will begin with round seven on chain one is beginning. |
e. Như vậy cuộc tuần hoàn một trên dãy bảy sẽ bắt đầu khi cuộc tuần hoàn bảy trên dãy một đang bắt đầu. |
|
f. When round seven on chain one is completed, round one of chain seven will be completed. |
f. Khi cuộc tuần hoàn bảy trên dãy một hoàn tất, cuộc tuần hoàn một của dãy bảy sẽ hoàn tất. |
|
g. Chain one may then go into pralaya, and will only emerge from pralaya after chain seven has completed all of its seven rounds, for each globe, chain, and scheme must have (we have been taught) a period of pralaya commensurate with the period of activity which has just elapsed. |
g. Khi đó dãy một có thể đi vào giai kỳ qui nguyên, và sẽ chỉ xuất hiện trở lại từ giai kỳ qui nguyên sau khi dãy bảy đã hoàn tất cả bảy cuộc tuần hoàn của nó, vì mỗi bầu hành tinh, dãy và hệ hành tinh đều phải có (như chúng ta đã được dạy) một giai đoạn giai kỳ qui nguyên tương xứng với giai đoạn hoạt động vừa trôi qua. |
|
55. If we retain the chakra analogy, however, this solution is not entirely satisfactory, as there will need to be a time when both chain seven and chain one are fully active—for instance at the fifth initiation of the Entity concerned—in this case a Planetary Logos. (At the fifth initiation the crown center and base of the spine center are intimately engaged with each other.) |
55. Tuy nhiên, nếu chúng ta giữ phép loại suy về luân xa, thì giải pháp này không hoàn toàn thỏa đáng, vì sẽ cần có một thời điểm khi cả dãy bảy lẫn dãy một đều hoạt động đầy đủ—chẳng hạn vào lần điểm đạo thứ năm của Thực Thể liên hệ—trong trường hợp này là một Hành Tinh Thượng đế. (Ở lần điểm đạo thứ năm, trung tâm đỉnh đầu và trung tâm đáy cột sống gắn bó mật thiết với nhau.) |
|
56. The further we go into the analysis, the more it appears that a very complex type of mathematics is involved, and one that we cannot possibly grasp at present. |
56. Chúng ta càng đi sâu vào phân tích, càng thấy dường như có liên quan đến một loại toán học rất phức tạp, và là loại mà hiện nay chúng ta hoàn toàn không thể nắm bắt được. |
|
57. One additional solution which may well bear good fruit is as follows: the chain rounds in the earlier chains would proceed much more slowly than the chain rounds in subsequent chains, so that the chain rounds in the seventh chain would be the very fastest of all, and would be coming to fruition only as the chain rounds in the first chain would be reaching fulfillment. This would necessitate that chain rounds in the later chains would begin much later than chain rounds in the earlier chains. Could chakric functioning, however (and chakric functioning is, in some measure necessary from the first) be sustained if there were no round activity? This has to be determined. |
57. Một giải pháp bổ sung nữa có thể rất sinh quả tốt là như sau: các cuộc tuần hoàn dãy trong các dãy trước sẽ tiến hành chậm hơn nhiều so với các cuộc tuần hoàn dãy trong các dãy sau, đến nỗi các cuộc tuần hoàn dãy trong dãy thứ bảy sẽ là nhanh nhất trong tất cả, và sẽ đi đến kết quả chỉ khi các cuộc tuần hoàn dãy trong dãy thứ nhất đang đạt đến sự hoàn tất. Điều này sẽ đòi hỏi rằng các cuộc tuần hoàn dãy trong các dãy sau sẽ bắt đầu muộn hơn rất nhiều so với các cuộc tuần hoàn dãy trong các dãy trước. Tuy nhiên, liệu hoạt động luân xa có thể được duy trì không (và hoạt động luân xa, ở một mức độ nào đó, là cần thiết ngay từ đầu) nếu không có hoạt động cuộc tuần hoàn? Điều này phải được xác định. |
|
58. OR, it could be that each type of chain round has its own rate and measure and that the duration of chain rounds not only varies within every planetary scheme but is not equal at all on any chain within a given planetary scheme. There are many indications to suggest that on or within each chain, the sequence of seven chain rounds accelerates, but there is no guarantee of this. If, for instance, the base of the spine center is both the first to develop and one of the last to complete its development, there may be an interesting variation in the relative speed of its seven chain rounds—assuming that there are only seven. |
58. HOẶC, có thể là mỗi loại cuộc tuần hoàn dãy đều có nhịp độ và thước đo riêng của nó và thời lượng của các cuộc tuần hoàn dãy không những thay đổi trong mỗi hệ hành tinh mà còn hoàn toàn không bằng nhau trên bất kỳ dãy nào trong một hệ hành tinh nhất định. Có nhiều chỉ dấu cho thấy rằng trên hay trong mỗi dãy, chuỗi bảy cuộc tuần hoàn dãy tăng tốc, nhưng không có gì bảo đảm điều này. Chẳng hạn, nếu trung tâm đáy cột sống vừa là trung tâm đầu tiên phát triển vừa là một trong những trung tâm cuối cùng hoàn tất sự phát triển của nó, thì có thể có một biến thiên thú vị trong tốc độ tương đối của bảy cuộc tuần hoàn dãy của nó—giả sử rằng chỉ có bảy cuộc tuần hoàn như thế. |
|
59. Let us propose the following as important factors for the eventual formation of a comprehensive hypothesis concerning rounds of all kinds: |
59. Chúng ta hãy đề nghị những điều sau đây như các yếu tố quan trọng cho sự hình thành sau cùng của một giả thuyết toàn diện về các cuộc tuần hoàn thuộc mọi loại: |
|
a. There are planetary schemes which represent the lower chakras and those which represents middle and higher chakras. |
a. Có những hệ hành tinh đại diện cho các luân xa thấp và những hệ đại diện cho các luân xa trung gian và cao hơn. |
|
b. All chakras in the Solar Logos exist simultaneously and function (at least to some extent) simultaneously. If all did not function simultaneously, then the organs and/or glands associated with each chakra would not function and life could not be sustained. |
b. Mọi luân xa trong Thái dương Thượng đế đều tồn tại đồng thời và hoạt động (ít nhất ở một mức độ nào đó) đồng thời. Nếu tất cả không hoạt động đồng thời, thì các cơ quan và/hoặc các tuyến liên kết với mỗi luân xa sẽ không hoạt động và sự sống không thể được duy trì. |
|
c. Does round activity within all planetary schemes, however, exist simultaneously? I.e., is it possible for the chakras to exist and to function without round activity occurring? This is a very important question. Can these chakras uphold their function within any system without the presence of round activity? |
c. Tuy nhiên, liệu hoạt động cuộc tuần hoàn trong mọi hệ hành tinh có tồn tại đồng thời không? Tức là, liệu các luân xa có thể tồn tại và hoạt động mà không có hoạt động cuộc tuần hoàn xảy ra không? Đây là một câu hỏi rất quan trọng. Các luân xa này có thể duy trì chức năng của chúng trong bất kỳ hệ thống nào mà không có sự hiện diện của hoạt động cuộc tuần hoàn không? |
|
d. We can hypothesize that round activity can be correlated with the unfoldment of the petals of any lotus. All chakras (thus all globes, chains and schemes) have a petal formation which must gradually unfold. At least we will hypothesize that as round activity proceeds within any chakra it is accompanied by the petal unfoldment within that chakra. (This hypothesis could, however, be incorrect, but there is probably more indication that it is more correct than that it is not. The other alternative is that petal unfoldment within a chakra proceeds without the benefit of round activity, thus there could be chakric unfoldment without round activity. But really, it seems anti-intuitive to separate the two. Round activity is really a form of energy circulation within a chakra, this circulation being necessary to the chakra’s petal unfoldment—so it reasonably seems.) |
d. Chúng ta có thể giả thuyết rằng hoạt động cuộc tuần hoàn có thể được tương quan với sự khai mở các cánh hoa của bất kỳ hoa sen nào. Mọi luân xa (do đó mọi bầu hành tinh, dãy và hệ hành tinh) đều có một cấu tạo cánh hoa phải dần dần khai mở. Ít nhất chúng ta sẽ giả thuyết rằng khi hoạt động cuộc tuần hoàn tiến hành trong bất kỳ luân xa nào thì nó đi kèm với sự khai mở cánh hoa trong luân xa ấy. (Tuy nhiên, giả thuyết này có thể không đúng, nhưng có lẽ có nhiều chỉ dấu cho thấy nó đúng hơn là không đúng. Giải pháp thay thế kia là sự khai mở cánh hoa trong một luân xa tiến hành không có lợi ích của hoạt động cuộc tuần hoàn, do đó có thể có sự khai mở luân xa không có hoạt động cuộc tuần hoàn. Nhưng thật sự, dường như trái với trực giác khi tách rời hai điều ấy. Hoạt động cuộc tuần hoàn thật ra là một hình thức tuần hoàn năng lượng trong một luân xa, và sự tuần hoàn này là cần thiết cho sự khai mở cánh hoa của luân xa—ít nhất dường như hợp lý là như vậy.) |
|
e. Assuming that round activity and petal unfoldment proceed in a parallel manner, and assuming that the lower chakras would begin unfolding their petals and would more rapidly unfold those petals well before the middle and higher chakras do, then round activity with its parallel petal unfoldment within the lower chakras would (from one perspective) begin well before such activity in the higher chakras. |
e. Giả sử rằng hoạt động cuộc tuần hoàn và sự khai mở cánh hoa tiến hành song song, và giả sử rằng các luân xa thấp sẽ bắt đầu khai mở cánh hoa của chúng và sẽ khai mở các cánh hoa ấy nhanh hơn nhiều trước khi các luân xa trung gian và cao hơn làm như vậy, thì hoạt động cuộc tuần hoàn cùng với sự khai mở cánh hoa song song của nó trong các luân xa thấp sẽ (từ một góc nhìn) bắt đầu sớm hơn nhiều so với hoạt động như thế trong các luân xa cao hơn. |
|
f. From this perspective, the round activity within the planets representing say, the base of the spine center, the sacral center and the solar plexus center would begin much earlier than round activity on those planets representing the heart, ajna or crown centers. There would be, eventually, simultaneity of different phases of round activity on all planetary schemes, however the round activity on planetary schemes representing higher centers would be far behind the round activity within those planetary schemes representing the lower chakras. The mathematics of such a consideration are staggering to consider. |
f. Từ góc nhìn này, hoạt động cuộc tuần hoàn trong các hành tinh đại diện, chẳng hạn, cho trung tâm đáy cột sống, trung tâm xương cùng và trung tâm tùng thái dương sẽ bắt đầu sớm hơn nhiều so với hoạt động cuộc tuần hoàn trên những hành tinh đại diện cho các trung tâm tim, ajna hay đỉnh đầu. Tuy nhiên, rốt cuộc sẽ có tính đồng thời của các giai đoạn khác nhau của hoạt động cuộc tuần hoàn trên mọi hệ hành tinh, nhưng hoạt động cuộc tuần hoàn trên các hệ hành tinh đại diện cho các trung tâm cao hơn sẽ ở rất xa phía sau hoạt động cuộc tuần hoàn trong những hệ hành tinh đại diện cho các luân xa thấp. Toán học của một cách xem xét như thế thật choáng ngợp. |
|
g. Yet, there may be a flaw in the consideration just offered, as, for instance, the heart center must be functioning even during early stages of activity, and such functioning probably means a degree of petal unfoldment. |
Tuy nhiên, có thể có một khiếm khuyết trong cách xem xét vừa được nêu ra, vì chẳng hạn trung tâm tim phải hoạt động ngay cả trong các giai đoạn đầu của hoạt động, và sự hoạt động như thế có lẽ hàm ý một mức độ khai mở cánh hoa nào đó. |
|
h. Although the earlier chakras would very reasonably unfold their petals more rapidly than the later chakras, there is no certainty that the higher/later chakras would begin stimulating their first petal only well after the earlier chakras began the process of petal stimulation. It might be so. It might not be so. Maybe the pulsation of life alone would be enough to keep a higher chakra functioning until the time arrived for petal unfoldment (and round activity), but maybe not. One thing we know is that all chakras must function to some minimal degree at all times (except during the very last phases of chakra absorption). |
h. Mặc dù các luân xa trước sẽ rất hợp lý khi khai mở cánh hoa của chúng nhanh hơn các luân xa sau, nhưng không có gì chắc chắn rằng các luân xa cao hơn/sau hơn sẽ bắt đầu kích thích cánh hoa đầu tiên của chúng chỉ rất lâu sau khi các luân xa trước bắt đầu tiến trình kích thích cánh hoa. Có thể là như vậy. Cũng có thể không. Có lẽ chỉ riêng sự rung động của sự sống cũng đủ để giữ cho một luân xa cao hơn hoạt động cho đến khi thời điểm khai mở cánh hoa (và hoạt động cuộc tuần hoàn) đến, nhưng cũng có thể không. Một điều chúng ta biết là mọi luân xa phải hoạt động ở một mức độ tối thiểu nào đó trong mọi lúc (ngoại trừ trong các giai đoạn cuối cùng của sự hấp thu luân xa). |
|
i. What we must establish is whether chakric functioning equates with round activity for that chakra—i.e., is there chakric functioning before there is round activity or is the beginning of round activity equivalent to chakric functioning? |
i. Điều chúng ta phải xác lập là liệu hoạt động luân xa có tương đương với hoạt động cuộc tuần hoàn của luân xa ấy hay không—tức là, có hoạt động luân xa trước khi có hoạt động cuộc tuần hoàn hay không, hay sự bắt đầu của hoạt động cuộc tuần hoàn tương đương với hoạt động luân xa? |
|
j. Three possibilities exist: |
j. Có ba khả năng: |
|
i. The pulsation of life could alone be sufficient to sustain a chakra at a necessary vehicle-maintenance level |
i. Chỉ riêng sự rung động của sự sống có thể đủ để duy trì một luân xa ở mức cần thiết cho việc duy trì vận cụ |
|
ii. Petal unfoldment beings with the onset of round activity |
ii. Sự khai mở cánh hoa bắt đầu cùng với sự khởi phát của hoạt động cuộc tuần hoàn |
|
iii. Petal unfoldment begins before the onset of round activity. |
iii. Sự khai mở cánh hoa bắt đầu trước sự khởi phát của hoạt động cuộc tuần hoàn. |
|
k. If we wish to assume that there must be round activity if there is to be chakric functioning (i.e., petal unfoldment—assuming that chakric functioning requires petal unfoldment), and if we assume that all chakras must function from the first (as seems organically necessary) and that the only way that chakras can really function is if there is round activity and, thus, petal unfoldment, then we could assume the following. All chakras would begin their activation (however slow or fast) simultaneously, because no chakra could really function without life-wave activity, THEN— |
k. Nếu chúng ta muốn giả định rằng phải có hoạt động cuộc tuần hoàn thì mới có hoạt động luân xa (tức là sự khai mở cánh hoa—giả sử rằng hoạt động luân xa đòi hỏi sự khai mở cánh hoa), và nếu chúng ta giả định rằng mọi luân xa phải hoạt động ngay từ đầu (như dường như là cần thiết về mặt hữu cơ) và rằng cách duy nhất để các luân xa thật sự hoạt động là phải có hoạt động cuộc tuần hoàn và do đó có sự khai mở cánh hoa, thì chúng ta có thể giả định điều sau đây. Mọi luân xa sẽ bắt đầu sự hoạt hóa của chúng (dù chậm hay nhanh) đồng thời, vì không luân xa nào có thể thật sự hoạt động nếu không có hoạt động của làn sóng sự sống, RỒI— |
|
i. Round activity would begin in every planetary scheme at the same time, and, thus, within every chakra, petal unfoldment (however slow or fast) would begin at the same time. |
i. Hoạt động cuộc tuần hoàn sẽ bắt đầu trong mọi hệ hành tinh cùng một lúc, và do đó, trong mọi luân xa, sự khai mở cánh hoa (dù chậm hay nhanh) sẽ bắt đầu cùng một lúc. |
|
ii. But, when comparing, for instance, the first round on a planet representing a lower chakra with the first round on a planet representing a higher, then the first round on the higher planet (and thus the rate of unfoldment of its first petal) will be very slow compared with the first round on a lower planet, and, in parallel, the unfoldment of the first petal of a higher chakra would be much slower than the unfoldment of the first petal in a lower chakra. |
ii. Nhưng, khi so sánh, chẳng hạn, cuộc tuần hoàn thứ nhất trên một hành tinh tượng trưng cho một luân xa thấp với cuộc tuần hoàn thứ nhất trên một hành tinh tượng trưng cho một luân xa cao hơn, thì cuộc tuần hoàn thứ nhất trên hành tinh cao hơn ấy (và do đó tốc độ khai mở cánh hoa thứ nhất của nó) sẽ là rất chậm so với cuộc tuần hoàn thứ nhất trên một hành tinh thấp hơn, và song song với điều đó, sự khai mở cánh hoa thứ nhất của một luân xa cao hơn sẽ chậm hơn nhiều so với sự khai mở cánh hoa thứ nhất trong một luân xa thấp hơn. |
|
iii. Some lower planets would finish their round activity long before the higher planets do. |
iii. Một số hành tinh thấp hơn sẽ hoàn tất hoạt động cuộc tuần hoàn của chúng rất lâu trước khi các hành tinh cao hơn làm được điều đó. |
|
iv. Yet for a planet such as the one representing the base of the spine center, there may be initially rapid round activity, and yet, since the full development of the base of the spine center must only be concluded at the fifth initiation, perhaps, later rounds on that planet will again be slower. |
iv. Tuy nhiên, đối với một hành tinh như hành tinh tượng trưng cho trung tâm đáy cột sống, lúc đầu có thể có hoạt động cuộc tuần hoàn nhanh, nhưng vì sự phát triển trọn vẹn của trung tâm đáy cột sống chỉ phải được hoàn tất vào lần điểm đạo thứ năm, nên có lẽ các cuộc tuần hoàn sau này trên hành tinh ấy lại sẽ chậm hơn. |
|
v. We must ask ourselves whether, for instance, our own base of the spine center is now fully developed in terms of petal unfoldment (and the equivalent in that chakra of round activity) or whether there is still some final petal unfoldment impending (since we are not yet initiates of the fifth degree). |
v. Chúng ta phải tự hỏi liệu, chẳng hạn, trung tâm đáy cột sống của chính chúng ta hiện nay có hoàn toàn phát triển xét theo sự khai mở cánh hoa (và điều tương đương trong luân xa đó của hoạt động cuộc tuần hoàn) hay chưa, hoặc liệu vẫn còn một sự khai mở cánh hoa cuối cùng sắp xảy ra hay không (vì chúng ta chưa phải là các điểm đạo đồ cấp năm). |
|
vi. We hypothesized, then, that ‘round rates’ would be different upon every planetary scheme and even different from each other within a specific planetary scheme, and also different from chain to chain. There seems to be no analogical justification for complete regularity of round duration from scheme to scheme, from chain to chain, and even within the same chain. |
vi. Khi ấy, chúng ta đã giả thuyết rằng các “tốc độ cuộc tuần hoàn” sẽ khác nhau trên mọi hệ hành tinh và thậm chí còn khác nhau với nhau trong nội bộ một hệ hành tinh nhất định, và cũng khác nhau từ dãy này sang dãy khác. Dường như không có sự biện minh nào theo định luật tương đồng cho một tính đều đặn hoàn toàn của thời lượng cuộc tuần hoàn từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác, từ dãy này sang dãy khác, và ngay cả trong cùng một dãy. |
|
vii. Rounds may, we hypothesize: |
vii. Chúng ta giả thuyết rằng các cuộc tuần hoàn có thể: |
|
1. Start slowly, speed up and then slow down again. |
1. Bắt đầu chậm, tăng tốc rồi lại chậm xuống. |
|
2. Start slowly and then speed up |
2. Bắt đầu chậm rồi tăng tốc |
|
3. Start rapidly and then slow down |
3. Bắt đầu nhanh rồi chậm lại |
|
4. Start rapidly, then slow down and then speed up again |
4. Bắt đầu nhanh, rồi chậm lại, rồi lại tăng tốc |
|
viii. The mathematics of relative round speed and duration (assuming that there are a number of good reasons to believe that they are not simply uniform and sequential) is certainly one of the deep secrets of initiation. Within each system (whether a chain, a scheme or a solar system) it would seem that a unique algorithm is being worked out. |
viii. Toán học về tốc độ và thời lượng tương đối của các cuộc tuần hoàn (giả sử rằng có nhiều lý do xác đáng để tin rằng chúng không đơn giản là đồng đều và tuần tự) chắc chắn là một trong những bí mật sâu xa của điểm đạo. Trong mỗi hệ thống (dù là một dãy, một hệ hành tinh hay một hệ mặt trời), dường như một thuật toán độc nhất đang được triển khai. |
|
ix. All we can hope to do is understand, however vaguely, the principles involved. |
ix. Tất cả những gì chúng ta có thể hy vọng làm là thấu hiểu, dù mơ hồ đến đâu, các nguyên lý liên hệ. |
|
l. It also seems likely that round activity continues within higher chakras after it has ceased on the lower. |
l. Dường như cũng có khả năng là hoạt động cuộc tuần hoàn tiếp tục trong các luân xa cao hơn sau khi nó đã chấm dứt ở các luân xa thấp hơn. |
|
m. As well, we must determine whether the full activation of a lower chakra depends upon its own internal development or upon stimulation from other parts of the larger system in which it is imbedded. |
m. Ngoài ra, chúng ta phải xác định liệu sự hoạt hóa trọn vẹn của một luân xa thấp có tùy thuộc vào sự phát triển nội tại của chính nó hay vào sự kích thích từ những phần khác của hệ thống lớn hơn mà nó được đặt trong đó. |
|
n. For instance, could it be that the petals of the base of the spine center may be fully unfolded long before the full development of the petals of the head center, and yet that the base of the spine center would not be fully activated until receiving stimulation from the head center or other higher centers? |
n. Chẳng hạn, có thể nào các cánh hoa của trung tâm đáy cột sống có thể khai mở hoàn toàn rất lâu trước khi các cánh hoa của trung tâm đầu phát triển trọn vẹn, nhưng trung tâm đáy cột sống vẫn chưa được hoạt hóa hoàn toàn cho đến khi nhận được sự kích thích từ trung tâm đầu hoặc các trung tâm cao hơn khác? |
|
o. Perhaps, the full activation of any chakra depends not so much on petal unfoldment as on a particular type of activation of the central jewel. I.e., perhaps many chakras are already fully activated from the perspective of petal unfoldment but not activated in terms of the stimulation of the central jewel. |
o. Có lẽ sự hoạt hóa trọn vẹn của bất kỳ luân xa nào không tùy thuộc nhiều vào sự khai mở cánh hoa bằng vào một loại hoạt hóa đặc biệt của viên ngọc trung tâm. Tức là, có lẽ nhiều luân xa đã được hoạt hóa hoàn toàn xét từ góc độ khai mở cánh hoa nhưng không được hoạt hóa xét theo sự kích thích của viên ngọc trung tâm. |
|
p. Once full round development on any planetary scheme has been achieved, how long could it be sustained before stimulation came from elsewhere in the larger system of chakras (bringing, perhaps, final and full activation of the chakra concerned). |
p. Một khi sự phát triển cuộc tuần hoàn trọn vẹn trên bất kỳ hệ hành tinh nào đã đạt được, nó có thể được duy trì bao lâu trước khi sự kích thích đến từ nơi khác trong hệ thống luân xa lớn hơn (có lẽ mang lại sự hoạt hóa cuối cùng và trọn vẹn của luân xa liên hệ). |
|
q. OR, does the fullest activation for all chakras occur simultaneously towards the end of the development of the larger system? This latter seems unlikely, as Venus, it seems is presently very near to full unfoldment whereas other, greater planets are very far from full unfoldment. (Permanent atoms, we notice, achieve full activation sequentially and not all at the same time). Yet, who among us is to speak authoritatively of final ‘jewel dynamics’? |
q. HAY, phải chăng sự hoạt hóa đầy đủ nhất cho mọi luân xa xảy ra đồng thời vào gần cuối sự phát triển của hệ thống lớn hơn? Điều sau này có vẻ không chắc, vì Sao Kim dường như hiện đang rất gần sự khai mở trọn vẹn, trong khi các hành tinh khác lớn hơn lại còn rất xa sự khai mở trọn vẹn. (Các Nguyên tử trường tồn, như chúng ta nhận thấy, đạt đến sự hoạt hóa trọn vẹn một cách tuần tự chứ không phải tất cả cùng một lúc). Tuy nhiên, ai trong chúng ta có thể nói một cách có thẩm quyền về “động lực học của viên ngọc” tối hậu? |
|
r. Probably, the various planetary schemes reach full petal unfoldment at different times, and thus, reach full completing of round cycles at different times. Yet, because planets are chakras, they must remain functional until the very latter days of solar systemic development. Perhaps, then, full activation of the central jewel is withheld until the later stages of solar systemic development, OR, perhaps the fullest activation of any chakra occurs as a result of relationship between the chakras and not because of the chakras own internal processes. |
r. Có lẽ các hệ hành tinh khác nhau đạt đến sự khai mở cánh hoa trọn vẹn vào những thời điểm khác nhau, và do đó hoàn tất các chu kỳ cuộc tuần hoàn trọn vẹn vào những thời điểm khác nhau. Tuy nhiên, vì các hành tinh là các luân xa, chúng phải vẫn còn hoạt động cho đến những ngày rất muộn của sự phát triển hệ mặt trời. Vậy thì có lẽ sự hoạt hóa trọn vẹn của viên ngọc trung tâm bị trì hoãn cho đến các giai đoạn sau của sự phát triển hệ mặt trời, HOẶC, có lẽ sự hoạt hóa đầy đủ nhất của bất kỳ luân xa nào xảy ra như là kết quả của mối liên hệ giữa các luân xa chứ không phải do các tiến trình nội tại của chính luân xa đó. |
|
60. The mysteries (to us) are many and the possible intricacies staggering. What is being suggested here are factors which may have to be taken into consideration. There are still (for us) too many uncertainties to offer just one reasonably coherent hypothesis regarding |
60. Những huyền nhiệm (đối với chúng ta) thì nhiều, và những phức tạp khả dĩ thì choáng ngợp. Điều được gợi ý ở đây là những yếu tố có thể phải được đem vào cân nhắc. Vẫn còn (đối với chúng ta) quá nhiều điều bất định để đưa ra chỉ một giả thuyết tương đối mạch lạc về |
|
a. round activity, |
a. hoạt động cuộc tuần hoàn, |
|
b. petal unfoldment, |
b. sự khai mở cánh hoa, |
|
c. sequence of chakra development, |
c. trình tự phát triển luân xa, |
|
d. sequence or simultaneity of final chakra development, |
d. trình tự hay tính đồng thời của sự phát triển luân xa cuối cùng, |
|
e. inter-chakra dynamics which may contribute to final chakra unfoldment. |
e. động lực liên-luân-xa có thể góp phần vào sự khai mở luân xa cuối cùng. |
|
61. Probably, we shall achieve some greater degree of understanding if we think that a combination of simultaneity and sequentiality is always occurring. All chakras (i.e., all globes, chains and schemes) exist and function simultaneously, but the L/logos in question directs His principal focus to the various parts of His system in a sequential process. |
61. Có lẽ, chúng ta sẽ đạt được một mức độ thấu hiểu lớn hơn nào đó nếu nghĩ rằng một sự kết hợp giữa tính đồng thời và tính tuần tự luôn luôn đang xảy ra. Mọi luân xa (tức là mọi bầu hành tinh, dãy và hệ hành tinh) đều tồn tại và hoạt động đồng thời, nhưng L/logos liên hệ lại hướng sự tập trung chính của Ngài đến các phần khác nhau của hệ thống của Ngài trong một tiến trình tuần tự. |
|
62. A further refinement of this principle of simultaneity is to consider overlapping activity. In other words, though activity upon/within all seven chakras of a seven-chakra system may be simultaneous, it may not be of the same intensity and speed within each chakra. This seems very likely. |
62. Một sự tinh luyện thêm của nguyên lý đồng thời này là xét đến hoạt động chồng lấn. Nói cách khác, dù hoạt động trên/trong cả bảy luân xa của một hệ thống bảy luân xa có thể là đồng thời, nhưng nó có thể không có cùng cường độ và tốc độ trong mỗi luân xa. Điều này có vẻ rất có khả năng. |
|
d. One day of Brahma… The occult period of a round. |
d. Một ngày của Brahma… Chu kỳ huyền bí của một cuộc tuần hoàn. |
|
63. Again, we are familiar with this idea. |
63. Một lần nữa, chúng ta quen thuộc với ý tưởng này. |
|
64. Probably, we are speaking of a round which occurs within chains and involves progress from globe to globe (within a chain of, normally, seven globes). |
64. Có lẽ, chúng ta đang nói về một cuộc tuần hoàn xảy ra trong các dãy và bao gồm sự tiến triển từ bầu hành tinh này sang bầu hành tinh khác (trong một dãy, thông thường, gồm bảy bầu hành tinh). |
|
65. We might also wonder what is being hinted by the term “occult period”. Is there an exoteric “period” of a round and, also, something different called an “occult period”? |
65. Chúng ta cũng có thể tự hỏi điều gì đang được ám chỉ bởi thuật ngữ “chu kỳ huyền bí”. Có phải có một “chu kỳ” ngoại môn của một cuộc tuần hoàn và đồng thời cũng có một điều gì khác được gọi là một “chu kỳ huyền bí” hay không? |
|
66. In this context, a “round” is a “manvantara”—though the latter term is often used with some elasticity. |
66. Trong ngữ cảnh này, một “cuộc tuần hoàn” là một “Giai kỳ sinh hóa”—dù thuật ngữ sau thường được dùng với một độ co giãn nào đó. |
|
67. If a Year of Brahma represents the completion of the development of a planetary scheme, then, the usual method of counting forty-nine rounds per scheme (a nominal seven per chain in the scheme), plus equal rest periods, does not give us enough “Brahmic Days” to complete the “Brahmic Year”. We would have 98 time periods (“Days”) and would be in need of approximately 360. |
67. Nếu một Năm của Brahma tượng trưng cho sự hoàn tất sự phát triển của một hệ hành tinh, thì phương pháp thông thường tính bốn mươi chín cuộc tuần hoàn cho mỗi hệ hành tinh (danh nghĩa là bảy cho mỗi dãy trong hệ hành tinh), cộng với các thời kỳ nghỉ bằng nhau, không cho chúng ta đủ số “Ngày Brahma” để hoàn tất “Năm Brahma”. Chúng ta sẽ có 98 thời kỳ (“Ngày”) và sẽ cần khoảng 360. |
|
68. If a “Year of Brahma” represented (as suggested in one of the hypotheses above which considered schemes as solar systemic “chains”) but one ‘touch’ of the solar systemic life-wave (i.e., the solar systemic life wave touching one scheme, with seven such touches eventually necessary) then the discrepancy between “Days” elapsed during one such ‘touch’ and the number of “Days” in a “Year” grows far greater. We are assuming that 360 “Days of Brahma” complete one “Year of Brahma”. If a “Year of Brahma” represents, perhaps, only one one-hundreth of the total completion of a planetary scheme, then only a very few planetary “Days” would elapse in such a “Year” (representing, as it does, but a fraction of the total development of a planetary scheme). |
68. Nếu một “Năm của Brahma” tượng trưng (như được gợi ý trong một trong các giả thuyết trên, giả thuyết xem các hệ hành tinh như những “dãy” của hệ mặt trời) chỉ cho một lần “chạm” của làn sóng sự sống hệ mặt trời (tức là làn sóng sự sống hệ mặt trời chạm vào một hệ hành tinh, và rốt cuộc cần đến bảy lần chạm như thế) thì sự chênh lệch giữa các “Ngày” trôi qua trong một lần “chạm” như vậy và số “Ngày” trong một “Năm” còn lớn hơn rất nhiều. Chúng ta giả định rằng 360 “Ngày của Brahma” hoàn tất một “Năm của Brahma”. Nếu một “Năm của Brahma” có lẽ chỉ tượng trưng cho một phần một-trăm của toàn bộ sự hoàn tất của một hệ hành tinh, thì chỉ có rất ít “Ngày” hành tinh trôi qua trong một “Năm” như vậy (vì nó chỉ tượng trưng cho một phần nhỏ của toàn bộ sự phát triển của một hệ hành tinh). |
|
e. One hour of Brahma… Concerns interchain affairs. |
e. Một giờ của Brahma… Liên quan đến các công việc liên-dãy. |
|
69. There are twenty-four hours in a day. Perhaps interchain contacts are expressed in such “hours”. |
69. Có hai mươi bốn giờ trong một ngày. Có lẽ các tiếp xúc liên-dãy được biểu hiện bằng những “giờ” như thế. |
|
70. If a “Day of Brahma” entails the progress of a life-wave through seven globes, perhaps a certain number of such “Hours” are spent in relation to each globe (and the pralaya of that globe), with the number of “Hours” not necessarily equally apportioned. |
70. Nếu một “Ngày của Brahma” bao hàm sự tiến triển của một làn sóng sự sống qua bảy bầu hành tinh, thì có lẽ một số “Giờ” như vậy được dành cho mỗi bầu hành tinh (và giai kỳ qui nguyên của bầu hành tinh đó), với số “Giờ” không nhất thiết được phân chia bằng nhau. |
|
f. One Brahmic minute…Concerns the planetary centres, and therefore egoic groups. |
f. Một phút Brahma… Liên quan đến các trung tâm hành tinh, và do đó đến các nhóm chân ngã. |
|
71. Here the word “planetary” seems to refer to the “globe” level. |
71. Ở đây từ “hành tinh” dường như ám chỉ cấp độ “bầu hành tinh”. |
|
72. The cycles of egoic groups would then be expressed in terms of “Brahmic Minutes”. |
72. Khi ấy, các chu kỳ của các nhóm chân ngã sẽ được biểu hiện bằng “Những Phút Brahma”. |
|
73. We must remember, to retain the operative analogy, that there are sixty minutes in every hour and 1440 minutes in every day. We might be able to determine how many egoic group periods there are on every globe (probably seven), and then, perhaps, some approximation of their duration. We must not necessarily assume, however, that they would be of equal duration. |
73. Chúng ta phải nhớ, để giữ phép loại suy còn hiệu lực, rằng có sáu mươi phút trong mỗi giờ và 1440 phút trong mỗi ngày. Chúng ta có thể xác định được có bao nhiêu thời kỳ nhóm chân ngã trên mỗi bầu hành tinh (có lẽ là bảy), và rồi có lẽ ước lượng được phần nào thời lượng của chúng. Tuy nhiên, chúng ta không nhất thiết phải giả định rằng chúng có thời lượng bằng nhau. |
|
74. Perhaps some new respect for the intricacy of the planetary and systemic arrangement will be gathered from these considerations. |
74. Có lẽ từ những suy xét này sẽ nảy sinh một sự kính trọng mới đối với tính phức tạp của sự sắp xếp hành tinh và hệ thống. |
|
g. One Brahmic moment…Concerns an egoic group, and its relation to the whole. |
g. Một khoảnh khắc Brahma… Liên quan đến một nhóm chân ngã, và mối liên hệ của nó với toàn thể. |
|
75. Large groups consisting of many egoic groups are expressed in terms of “Brahmic Minutes”. The affairs of a particular egoic group are expressed its ‘Brahmic Moments’. |
75. Những nhóm lớn gồm nhiều nhóm chân ngã được biểu hiện bằng “Những Phút Brahma”. Các công việc của một nhóm chân ngã riêng biệt được biểu hiện bằng các ‘Khoảnh Khắc Brahma’ của nó. |
|
76. The term “moment” is very vague and could be a second of time, shorter or longer. Probably there are many categories of “Brahmic moments”. |
76. Thuật ngữ “khoảnh khắc” rất mơ hồ và có thể là một giây thời gian, ngắn hơn hoặc dài hơn. Có lẽ có nhiều loại “khoảnh khắc Brahma”. |
|
77. All these periods are expressed in terms of Earth cycles and so, although referring to processes within the larger system, are somehow relative to our planet and its rates of motion (relative to itself and relative to the Sun). |
77. Tất cả những thời kỳ này đều được biểu hiện theo các chu kỳ của Trái Đất và vì vậy, dù ám chỉ các tiến trình trong hệ thống lớn hơn, chúng bằng cách nào đó vẫn tương đối với hành tinh của chúng ta và các tốc độ chuyển động của nó (tương đối với chính nó và tương đối với Mặt Trời). |
|
78. If such cycles were considered from the perspective of other planets, the number of “Years”, “Months”, “Weeks” and “Days”, etc., would be different, IF we consider that an “Occult Century” (as this period applies to a particular solar system) has the same duration for all units of life within the solar system (which is reasonable to assume). |
78. Nếu các chu kỳ như vậy được xét từ góc nhìn của các hành tinh khác, thì số “Năm”, “Tháng”, “Tuần” và “Ngày”, v.v., sẽ khác đi, NẾU chúng ta cho rằng một “Thế Kỷ Huyền Bí” (vì thời kỳ này áp dụng cho một hệ mặt trời nhất định) có cùng thời lượng đối với mọi đơn vị sự sống trong hệ mặt trời (điều này là hợp lý để giả định). |
|
These are the greater periods of time, and when their significance is comprehended, much that is now obscure [Page 793] will be revealed. |
Đây là những thời kỳ lớn của thời gian, và khi thâm nghĩa của chúng được thấu hiểu, nhiều điều hiện nay còn tối nghĩa sẽ được mặc khải [Page 793]. |
|
79. These are the periods of time as seen from the perspective of ”Brahma” conceived as the Solar Logos. |
79. Đây là những thời kỳ thời gian được nhìn từ góc độ của ”Brahma” được quan niệm như Thái dương Thượng đế. |
|
80. It seems we are a long way from truly comprehending these greater periods of time. Therefore, much will remain obscure, it seems, for some time. |
80. Dường như chúng ta còn rất xa mới thực sự thấu hiểu được những thời kỳ lớn lao này của thời gian. Vì vậy, dường như còn nhiều điều sẽ vẫn tối nghĩa trong một thời gian nữa. |
|
81. Yet, if we understand the apparent contradictions and take note of that which we do not understand, we are coming closer to understanding. |
81. Tuy nhiên, nếu chúng ta hiểu được những mâu thuẫn bề ngoài và lưu ý đến điều mình không hiểu, thì chúng ta đang tiến gần hơn đến sự thấu hiểu. |
|
As yet, it is only to initiates that the true figures are given, the figures in the Secret Doctrine, such as the 100 years of Brahma, strike the general average |
Cho đến nay, chỉ các điểm đạo đồ mới được trao cho những con số chân thực; các con số trong Giáo Lý Bí Nhiệm, chẳng hạn như 100 năm của Brahma, chỉ đánh trúng mức trung bình tổng quát |
|
82. There are no doubt: we are not given the true figures for the actual number of Earth-years in any of these greater cycles. We are only given an indication which helps us understand at least something of their relative duration. |
82. Hẳn nhiên là: chúng ta không được trao cho những con số chân thực về số năm Trái Đất thực sự trong bất kỳ chu kỳ lớn nào trong số này. Chúng ta chỉ được trao một chỉ dẫn giúp chúng ta hiểu ít nhất điều gì đó về thời lượng tương đối của chúng. |
|
but it must be ever remembered that in considering the figures where a scheme, for instance, is concerned, much latitude has to be allowed for individual planetary karma, and idiosyncrasy. |
nhưng phải luôn luôn ghi nhớ rằng khi xét đến các con số ở nơi, chẳng hạn, một hệ hành tinh được bàn đến, thì phải chừa ra một khoảng co giãn lớn cho nghiệp quả hành tinh cá biệt và tính đặc thù riêng. |
|
83. We suggested this in our foregoing discussion. In relation to the manifestation of the Planetary Logos of the Earth-scheme, for instance, we do not know whether that manifestation lasts throughout the mahamanvantara or not. We do not know (from the occult perspective) the period of its inception or its termination. We also do not know the speed or duration of chain round cycles or the various chains (whether they are uniform from chain to chain or, even, uniform within the Earth-scheme’s seven chains) of the Earth-scheme nor the duration of scheme round cycles. |
83. Chúng ta đã gợi ý điều này trong phần thảo luận trước. Chẳng hạn, liên quan đến sự biểu hiện của Hành Tinh Thượng đế của hệ Địa Cầu, chúng ta không biết liệu sự biểu hiện ấy có kéo dài suốt Đại giai kỳ sinh hóa hay không. Chúng ta không biết (từ góc độ huyền bí) thời kỳ khởi đầu hay chấm dứt của nó. Chúng ta cũng không biết tốc độ hay thời lượng của các chu kỳ cuộc tuần hoàn của dãy hoặc của các dãy khác nhau (liệu chúng có đồng đều từ dãy này sang dãy khác hay thậm chí đồng đều trong bảy dãy của hệ Địa Cầu hay không) của hệ Địa Cầu, cũng như thời lượng của các chu kỳ cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh. |
|
84. Naturally, for students at our stage of unfoldment, these secrets of initiate will not be imparted—especially not in a printed book which can be read by the general public. |
84. Đương nhiên, đối với các đạo sinh ở giai đoạn khai mở như chúng ta, những bí mật của điểm đạo này sẽ không được truyền đạt—đặc biệt không phải trong một cuốn sách in mà công chúng nói chung có thể đọc được. |
|
The following points are worthy of consideration when upon this subject, and deal with some interesting factors. |
Những điểm sau đây đáng được suy xét khi bàn đến chủ đề này, và đề cập đến một số yếu tố thú vị. |
|
All the planetary Rishis are not equally “long-lived,” in the occult sense of the term, |
Không phải mọi Rishi hành tinh đều “sống lâu” như nhau, theo nghĩa huyền bí của thuật ngữ ấy, |
|
85. We must pause when DK uses the phrase, “in the occult sense of the term”. We must remember from The Secret Doctrine that Martanda (the Sun) and His seven Brothers all came into physical existence at the same time. |
85. Chúng ta phải dừng lại khi Chân sư DK dùng cụm từ “theo nghĩa huyền bí của thuật ngữ ấy”. Chúng ta phải nhớ từ Giáo Lý Bí Nhiệm rằng Martanda (Mặt Trời) và bảy Huynh Đệ của Ngài đều đi vào sự tồn tại hồng trần cùng một lúc. |
|
86. With regard, at least, to seven major planets, we may have an apparent contradiction on our hands. |
86. Ít nhất đối với bảy hành tinh chính, có thể chúng ta đang đối diện với một mâu thuẫn bề ngoài. |
|
87. Note the use of the term “Rishis”: it applies to the Logoi of planets as well as to the Logoi of great stars such as the seven major stars of the Great Bear. |
87. Hãy lưu ý việc dùng thuật ngữ “Rishis”: nó áp dụng cho các Thượng đế của các hành tinh cũng như cho các Thượng đế của những ngôi sao lớn như bảy ngôi sao chính của Đại Hùng Tinh. |
|
and the seven planetary Logoi of the seven sacred planets are at different stages of evolution; |
và bảy Hành Tinh Thượng đế của bảy hành tinh thiêng liêng đang ở những giai đoạn tiến hoá khác nhau; |
|
88. This we well understand by consulting the following chart: |
88. Điều này chúng ta hiểu rõ khi tham khảo biểu đồ sau: |
|
“The Dense Physical Planets: |
“Các Hành Tinh Hồng Trần Đậm Đặc: |
|
Earth4th Chain4th Globe |
Trái ĐấtDãy Thứ TưBầu Hành Tinh Thứ Tư |
|
Jupiter3rd Chain4th Globe |
Sao MộcDãy thứ baBầu Hành Tinh Thứ Tư |
|
Saturn3rd Chain4th Globe |
Sao ThổDãy thứ baBầu Hành Tinh Thứ Tư |
|
Mars4th Chain4th Globe |
Sao HỏaDãy Thứ TưBầu Hành Tinh Thứ Tư |
|
Vulcan3rd Chain4th Globe |
VulcanDãy thứ baBầu Hành Tinh Thứ Tư |
|
Venus5th Chain5th Globe |
Sao KimDãy thứ nămBầu Hành Tinh Thứ Năm |
|
Mercury4th Chain5th Globe” (EA 673) |
Sao ThủyDãy Thứ TưBầu Hành Tinh Thứ Năm” (EA 673) |
|
89. We notice how the Planetary Logoi representing the lower solar systemic chakras, such as the Earth and Mars, are farther ahead in Their development than the far greater Planetary Logoi of Jupiter and Saturn. |
89. Chúng ta nhận thấy các Hành Tinh Thượng đế tượng trưng cho các luân xa thấp của hệ mặt trời, như Trái Đất và Sao Hỏa, lại tiến xa hơn trong sự phát triển của Các Ngài so với các Hành Tinh Thượng đế vĩ đại hơn nhiều là Sao Mộc và Sao Thổ. |
|
90. We also notice that the Planetary Logoi of Mercury and, above all, of Venus, are most fully developed. In the case of Venus, representing, we hypothesize, the solar plexus (and eventually the heart center) of our astral-buddhic Solar Logos, this could be expected. |
90. Chúng ta cũng nhận thấy các Hành Tinh Thượng đế của Sao Thủy và trên hết là của Sao Kim là phát triển đầy đủ nhất. Trong trường hợp Sao Kim, theo giả thuyết của chúng ta, tượng trưng cho tùng thái dương (và cuối cùng là trung tâm tim) của Thái dương Thượng đế cảm dục-Bồ đề của chúng ta, điều này có thể được trông đợi. |
|
Their vibratory response, therefore, differs, producing varying effects in time. |
Do đó, đáp ứng rung động của Các Ngài khác nhau, tạo ra những hiệu quả khác nhau trong thời gian. |
|
91. The vibratory response is, presumably, the response of the various Planetary Logoi to the energy of the Solar Logos. |
91. Đáp ứng rung động ấy, có lẽ, là đáp ứng của các Hành Tinh Thượng đế khác nhau đối với năng lượng của Thái dương Thượng đế. |
|
92. From the tabulation given in TCF 373, may we infer that the planets Uranus and Neptune are the least unfolded though, spiritually, the most developed Planetary Logoi? |
92. Từ bảng liệt kê được đưa ra trong TCF 373, liệu chúng ta có thể suy ra rằng các hành tinh Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương là ít khai mở nhất dù, về mặt tinh thần, lại là các Hành Tinh Thượng đế phát triển nhất chăng? |
|
The three major planetary schemes (Uranus, Neptune, and Saturn) have not, as yet, received their fullest stimulation, |
Ba hệ hành tinh chính (Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương, và Sao Thổ) cho đến nay vẫn chưa nhận được sự kích thích đầy đủ nhất của Các Ngài, |
|
93. These are the synthesizing planets. |
93. Đây là các hành tinh tổng hợp. |
|
94. Why is there no information given on Uranus and Neptune? May we assume, because They are mentioned in the same breath as Saturn, that They are unfolded to the same extent as Saturn is? |
94. Tại sao không có thông tin nào được đưa ra về Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương? Liệu chúng ta có thể giả định rằng, vì Các Ngài được nhắc đến cùng một hơi với Sao Thổ, nên Các Ngài được khai mở đến cùng mức độ như Sao Thổ chăng? |
|
95. Or is the planet Saturn, for which we are given the knowledge that it is in its third chain, fourth globe, not the same Saturn as is here being discussed? (c.f. Chart VI, TCF 373, for indications of two or even three Saturns). |
95. Hay hành tinh Sao Thổ, mà chúng ta được cho biết là ở dãy thứ ba, bầu hành tinh thứ tư, lại không phải là cùng một Sao Thổ như Sao Thổ đang được bàn đến ở đây? (xem Biểu đồ VI, TCF 373, để thấy những chỉ dấu về hai hay thậm chí ba Sao Thổ). |
|
96. Presumably, the stimulation to be received comes from the Solar Logos. |
96. Có lẽ, sự kích thích sẽ được tiếp nhận đến từ Thái dương Thượng đế. |
|
97. As none of the planets (discounting, for the moment, Saturn, Neptune and Uranus) except Venus are really anywhere nearly fully unfolded, can it really be assumed that any of them have, indeed, received “their fullest stimulation”. Perhaps They have, but have not yet responded fully to the fulness of stimulation They have received. |
97. Vì không hành tinh nào (tạm thời không kể Sao Thổ, Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương) ngoại trừ Sao Kim thực sự ở gần đâu mức khai mở trọn vẹn, nên liệu có thể thật sự giả định rằng bất kỳ hành tinh nào trong số đó quả thực đã nhận được “sự kích thích đầy đủ nhất của chúng” hay không? Có lẽ Các Ngài đã nhận được, nhưng chưa đáp ứng trọn vẹn với sự đầy đủ của kích thích mà Các Ngài đã tiếp nhận. |
|
and will not do so until the “energy of the sacred seven” has been transferred to Them. |
và sẽ không làm như vậy cho đến khi “năng lượng của bảy hành tinh thiêng liêng” được chuyển dịch đến Các Ngài. |
|
98. The planet Saturn, here mentioned alongside Uranus and Neptune, must be that which we have been calling ‘Greater Saturn’—a greater Being which, according to the chart on TCF 373, includes seven lesser planets, including the planet we normally call Saturn. |
98. Hành tinh Sao Thổ, ở đây được nhắc đến bên cạnh Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương, hẳn phải là điều mà chúng ta đã gọi là ‘Đại Sao Thổ’—một Hữu thể lớn hơn mà, theo biểu đồ ở TCF 373, bao gồm bảy hành tinh nhỏ hơn, kể cả hành tinh mà chúng ta thường gọi là Sao Thổ. |
|
Figures, therefore, as regards their duration and persistence are not in order. |
Do đó, các con số liên quan đến thời lượng và sự tồn tại bền lâu của Các Ngài không phải là điều có thể xác định đúng đắn. |
|
99. Will may infer that the three synthesizing planets endure beyond the point when the lesser planets ‘disappear’ into Them. It seems reasonable to conclude that They ‘outlast’ the planets they absorb—at least in physical or physical-etheric form. |
99. Chúng ta có thể suy ra rằng ba hành tinh tổng hợp tồn tại vượt quá điểm mà các hành tinh nhỏ hơn “biến mất” vào trong Các Ngài. Có vẻ hợp lý để kết luận rằng Các Ngài “sống lâu hơn” các hành tinh mà Các Ngài hấp thu—ít nhất là trong hình thức hồng trần hay hồng trần-dĩ thái. |
|
100. May we also assume that Saturn (probably ‘Greater Saturn’), Neptune and Uranus were present since the beginning of the solar system? One cannot imagine a Being in which the highest chakras are not present and functioning from the first—functioning, at least, at a maintenance level. |
100. Liệu chúng ta cũng có thể giả định rằng Sao Thổ (có lẽ là ‘Đại Sao Thổ’), Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương đã hiện diện từ lúc khởi đầu của hệ mặt trời hay không? Người ta khó có thể hình dung một Hữu thể mà trong đó các luân xa cao nhất lại không hiện diện và hoạt động ngay từ đầu—ít nhất hoạt động ở mức duy trì. |
|
The figures for the planets concerned with the “inner round” differ as to length of time but not as to space location from those of other planets. |
Các con số đối với những hành tinh liên hệ đến “cuộc tuần hoàn nội tại” khác nhau về độ dài thời gian nhưng không khác về vị trí trong không gian so với những hành tinh khác. |
|
101. The inner round concerns, in one respect, etheric development. |
101. Cuộc tuần hoàn nội tại, ở một phương diện, liên quan đến sự phát triển dĩ thái. |
|
102. DK seems to be telling us that the ‘spatial location’ of the inner round is not separate from that of the planets with which we are familiar. |
102. Chân sư DK dường như đang cho chúng ta biết rằng “vị trí không gian” của cuộc tuần hoàn nội tại không tách biệt khỏi vị trí của những hành tinh mà chúng ta quen thuộc. |
|
103. In any case, the cycles we call the ‘cycles of the inner round’ have their own duration, the figures of which will not be given out. |
103. Dù sao đi nữa, các chu kỳ mà chúng ta gọi là “các chu kỳ của cuộc tuần hoàn nội tại” có thời lượng riêng của chúng, và các con số ấy sẽ không được tiết lộ. |
|
The true figures in connection with any planetary scheme and its occult activity are not ascertainable by the man who cannot be trusted with the significance of the other planetary bodies (of great number) within the solar ring-pass-not. |
Những con số chân thực liên quan đến bất kỳ hệ hành tinh nào và hoạt động huyền bí của nó không thể được xác định bởi con người không thể được tín nhiệm với thâm nghĩa của các thiên thể hành tinh khác (với số lượng lớn) bên trong vòng-giới-hạn mặt trời. |
|
104. DK is telling us that there are a “great number” of planetary bodies within the “solar ring-pass-not”. He would not mention them if they were not significant. The term “great number” suggests, one would think, at least a hundred or more. |
104. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng có một “số lượng lớn” các thiên thể hành tinh bên trong “vòng-giới-hạn mặt trời”. Ngài hẳn đã không nhắc đến chúng nếu chúng không có ý nghĩa. Thuật ngữ “số lượng lớn” gợi ý, người ta sẽ nghĩ, ít nhất là một trăm hay hơn. |
|
105. It would seem that until we know what these bodies are, their location and significance, we will not be given the “true figures” regarding the planetary schemes which are more familiar to us. |
105. Dường như cho đến khi chúng ta biết những thiên thể này là gì, vị trí và thâm nghĩa của chúng ra sao, thì chúng ta sẽ không được trao cho “những con số chân thực” liên quan đến các hệ hành tinh quen thuộc hơn với chúng ta. |
|
106. Anyone who wishes to ascertain the true figures as regards any planetary scheme must study the solar system (visible and invisible) with occult care. This is not yet possible to us. |
106. Bất kỳ ai muốn xác định những con số chân thực liên quan đến bất kỳ hệ hành tinh nào đều phải nghiên cứu hệ mặt trời (hữu hình và vô hình) bằng sự cẩn trọng huyền bí. Điều này hiện chưa thể đối với chúng ta. |
|
107. We understand something of the exoteric activity of various of the planetary schemes, but not the “occult activity” of those schemes. |
107. Chúng ta hiểu đôi điều về hoạt động ngoại môn của nhiều hệ hành tinh khác nhau, nhưng không hiểu “hoạt động huyền bí” của các hệ hành tinh ấy. |
|
108. It is also clear that information regarding the other planetary bodies within our solar ring-pass-not is contained within the secrets of initiation, because the ‘initiatory word’ “trusted” is used. |
108. Cũng rõ ràng rằng thông tin liên quan đến các thiên thể hành tinh khác trong vòng-giới-hạn mặt trời của chúng ta nằm trong các bí mật của điểm đạo, bởi vì từ ngữ mang tính điểm đạo “được tín nhiệm” đã được dùng. |
|
The entire solar sphere is full of such bodies, characterised by the same features as are the seven and the ten, and each of them in some degree has an effect upon the whole. |
Toàn bộ khối cầu mặt trời đầy những thiên thể như thế, được đặc trưng bởi cùng những nét như bảy và mười, và mỗi thiên thể trong một mức độ nào đó đều có ảnh hưởng lên toàn thể. |
|
109. The “seven and the ten” are probably the ten planets with which we are now familiar if Vulcan is included. The “ten” would include the three synthesizing planets. |
109. “Bảy và mười” có lẽ là mười hành tinh mà hiện nay chúng ta quen thuộc nếu kể cả Vulcan. “Mười” sẽ bao gồm ba hành tinh tổng hợp. |
|
110. We must remember, however, that this book was written before Pluto was discovered, and so Saturn may be counted twice—once in its exoteric aspect and once as ‘Greater Saturn’, as we have called it. |
110. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng cuốn sách này được viết trước khi Sao Diêm Vương được khám phá, và vì vậy Sao Thổ có thể được tính hai lần—một lần trong phương diện ngoại môn của nó và một lần như ‘Đại Sao Thổ’, như chúng ta đã gọi. |
|
Figures, therefore, cannot be considered as final until the effect of the lesser planetary bodies upon their immediate neighbours is known, |
Do đó, các con số không thể được xem là tối hậu cho đến khi ảnh hưởng của các thiên thể hành tinh nhỏ hơn lên các láng giềng gần nhất của chúng được biết đến, |
|
111. Among these “immediate neighbors” may be the normally considered planets. |
111. Trong số những “láng giềng gần nhất” này có thể có các hành tinh thường được xét đến. |
|
112. These lesser planetary bodies probably affect each other as well. |
112. Những thiên thể hành tinh nhỏ hơn này có lẽ cũng ảnh hưởng lẫn nhau. |
|
and the extent of their planetary radiation has been gauged. |
và mức độ bức xạ hành tinh của chúng đã được đo lường. |
|
113. These lesser planetary bodies are certainly not dead or ineffective. They have their effective radiation and their influence. |
113. Những thiên thể hành tinh nhỏ hơn này chắc chắn không chết hay vô hiệu lực. Chúng có bức xạ hữu hiệu và ảnh hưởng của chúng. |
|
114. Any complete understanding of esoteric psychology must take their influence into consideration. |
114. Bất kỳ sự thấu hiểu trọn vẹn nào về Tâm Lý Học Nội Môn đều phải đem ảnh hưởng của chúng vào cân nhắc. |
|
There are more than 115 of such bodies to be reckoned with, and all are at varying stages of vibratory [Page 794] impulse. |
Có hơn 115 thiên thể như thế phải được tính đến, và tất cả đều ở những giai đoạn khác nhau của xung động rung động [Page 794]. |
|
115. We note that DK tells us that there are more than 115. Somehow the number 115 must be significant if it is singled out. |
115. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK cho chúng ta biết là có hơn 115. Bằng cách nào đó con số 115 hẳn phải có ý nghĩa nếu nó được nêu riêng ra. |
|
116. From one perspective, 115 suggests Uranus, Neptune and the other five sacred planets which include Brahma and come under Brahma. |
116. Từ một góc nhìn, 115 gợi đến Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và năm hành tinh thiêng liêng khác bao gồm Brahma và thuộc dưới Brahma. |
|
117. This number also suggests a way of highlighting the highest two subplanes of any seven plane system, and distinguishing them from the lower five subplanes. |
117. Con số này cũng gợi ra một cách làm nổi bật hai cõi phụ cao nhất của bất kỳ hệ thống bảy cõi nào, và phân biệt chúng với năm cõi phụ thấp hơn. |
|
118. We are learning that the more than 115 planetary bodies are all at different stages of unfoldment or of “vibratory impulse”. |
118. Chúng ta đang học rằng hơn 115 thiên thể hành tinh ấy đều ở những giai đoạn khác nhau của sự khai mở hay của “xung động rung động”. |
|
119. We would imagine that, among the 115, planetoids are to be included, but not necessarily moons. |
119. Chúng ta sẽ hình dung rằng, trong số 115 ấy, các tiểu hành tinh được bao gồm, nhưng không nhất thiết là các mặt trăng. |
|
120. We also think that the asteroids are not included as they are mentioned separately below (as are moons). |
120. Chúng ta cũng nghĩ rằng các asteroid không được bao gồm vì chúng được nhắc đến riêng ở dưới (cũng như các mặt trăng). |
|
121. If we add the number of known planets (excluding those few recently discovered) to the number 115, we have 125, and clearly there are more planets and planetoids than this relatively larger figure indicates. |
121. Nếu chúng ta cộng số hành tinh đã biết (không kể vài hành tinh mới được khám phá gần đây) vào con số 115, chúng ta có 125, và rõ ràng là có nhiều hành tinh và tiểu hành tinh hơn con số tương đối lớn hơn này biểu thị. |
|
They have definite orbits, |
Chúng có những quỹ đạo xác định, |
|
122. The orbits of some may be around the conventionally known planets, or perhaps, around some larger planets (perhaps beyond the orbit of Pluto) not yet discovered. |
122. Quỹ đạo của một số thiên thể có thể ở quanh các hành tinh được biết đến theo quy ước, hoặc có lẽ quanh một số hành tinh lớn hơn (có lẽ vượt ngoài quỹ đạo của Sao Diêm Vương) chưa được khám phá. |
|
123. On the other hand, their orbits may be around the Sun, as are the orbits of conventionally known planets. |
123. Mặt khác, quỹ đạo của chúng có thể quanh Mặt Trời, như quỹ đạo của các hành tinh được biết đến theo quy ước. |
|
they turn upon their axis, they draw their “life” and substance from the sun, |
chúng quay trên trục của mình, chúng rút lấy “sự sống” và chất liệu của mình từ mặt trời, |
|
124. Does the fact that the Lives informing these lesser planetary bodies “draw their ‘life’ and substance from the sun” indicate that their orbits are principally around the sun? |
124. Việc các Sự Sống phú linh cho những thiên thể hành tinh nhỏ hơn này “rút lấy ‘sự sống’ và chất liệu của chúng từ mặt trời” có cho thấy rằng quỹ đạo của chúng chủ yếu là quanh mặt trời hay không? |
|
but owing to their relative insignificance, they have not yet been considered factors of moment. |
nhưng do tính không đáng kể tương đối của chúng, chúng chưa được xem là những yếu tố quan trọng. |
|
125. DK is not telling us that the radiation of these lesser planetary bodies is insignificant, but only that these Lives and the planets or planetoids through which they function are relatively insignificant. They will still have to be factored-in to any true psychological assessment of self-conscious beings within our solar system. |
125. Chân sư DK không nói với chúng ta rằng bức xạ của những thiên thể hành tinh nhỏ hơn này là không đáng kể, mà chỉ nói rằng các Sự Sống này và các hành tinh hay tiểu hành tinh mà qua đó chúng hoạt động là tương đối không đáng kể. Dù vậy, chúng vẫn sẽ phải được tính đến trong bất kỳ sự đánh giá tâm lý chân thực nào về các hữu thể có ngã thức trong hệ mặt trời của chúng ta. |
|
126. They have also not been considered “factors of moment” because the vast majority of them has not yet been discovered. |
126. Chúng cũng chưa được xem là “những yếu tố quan trọng” vì đại đa số trong số chúng vẫn chưa được khám phá. |
|
This attitude of mind will change when etheric vision is a fact, and the reality of the existence of an etheric double of all that is in manifestation will be recognised by scientists. |
Thái độ trí tuệ này sẽ thay đổi khi linh thị dĩ thái trở thành một sự kiện, và thực tại về sự hiện hữu của một bản sao dĩ thái của mọi sự trong biểu hiện sẽ được các nhà khoa học công nhận. |
|
127. DK is telling us, it seems, that many of these planetary bodies do not have dense physical bodies but only etheric bodies as their lowest vehicle. |
127. Dường như Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng nhiều thiên thể hành tinh này không có thể hồng trần đậm đặc mà chỉ có thể dĩ thái như vận cụ thấp nhất của chúng. |
|
This fact will be demonstrated towards the close of the century, and, during the early part of the next century a revolution in astronomical circles will occur which will result in the study of the “etheric planets.” |
Sự kiện này sẽ được chứng minh vào gần cuối thế kỷ, và, trong phần đầu của thế kỷ kế tiếp, một cuộc cách mạng trong giới thiên văn học sẽ xảy ra, đưa đến việc nghiên cứu các “hành tinh dĩ thái”. |
|
128. We cannot fully know to what extent such a demonstration has been made in inner astronomical circles. Perhaps, there are some astronomers who are working on planetary energy sources which are not associated with apparent dense physical vehicles. |
128. Chúng ta không thể biết trọn vẹn sự chứng minh như vậy đã được thực hiện đến mức nào trong các giới thiên văn học nội môn. Có lẽ có một số nhà thiên văn đang nghiên cứu các nguồn năng lượng hành tinh không gắn với những vận cụ hồng trần đậm đặc biểu kiến. |
|
129. The phrase “revolution in astronomical circles” may have more than one meaning. Could DK be referring to a deeper understanding of the orbital dynamics of apparently ‘hidden’ planets? |
129. Cụm từ “cuộc cách mạng trong giới thiên văn học” có thể có hơn một nghĩa. Liệu Chân sư DK có đang ám chỉ đến một sự thấu hiểu sâu hơn về động lực quỹ đạo của những hành tinh dường như ‘ẩn giấu’ hay không? |
|
130. We know that radio sources far outside our solar system are presently studied by certain astronomers. Often astronomers are far more interested in what is occurring in “deep space” than they are in what is occurring within the confines of our solar system. It would seem that even now, they would have the capacity to detect etheric planets within the solar system. |
130. Chúng ta biết rằng hiện nay một số nhà thiên văn đang nghiên cứu các nguồn vô tuyến ở rất xa ngoài hệ mặt trời của chúng ta. Các nhà thiên văn thường quan tâm đến điều đang xảy ra trong “không gian sâu” hơn là điều đang xảy ra trong giới hạn của hệ mặt trời chúng ta. Dường như ngay cả bây giờ họ cũng có khả năng phát hiện các hành tinh dĩ thái trong hệ mặt trời. |
|
As these bodies are organs of energy, |
Vì những thiên thể này là những cơ quan năng lượng, |
|
131. Chakras are “organs of energy”. These lesser bodies represent, then, lesser chakras within the chakric system of our Solar Logos. |
131. Các luân xa là “những cơ quan năng lượng”. Vậy thì những thiên thể nhỏ hơn này tượng trưng cho những luân xa nhỏ hơn trong hệ thống luân xa của Thái dương Thượng đế của chúng ta. |
|
permeating the dense form, |
thấm nhập hình tướng đậm đặc, |
|
132. Chakras permeate the dense form. Some of them have noticeable externalizations in the form of organs and glands. |
132. Các luân xa thấm nhập hình tướng đậm đặc. Một số trong chúng có những sự ngoại hiện đáng chú ý dưới hình thức các cơ quan và tuyến. |
|
the study of the interaction of solar energy, and the occult “give and take” of planetary bodies will assume a new significance. |
việc nghiên cứu sự tương tác của năng lượng mặt trời, và sự “cho và nhận” huyền bí của các thiên thể hành tinh sẽ mang một thâm nghĩa mới. |
|
133. DK is pointing to a new science for the future. |
133. Chân sư DK đang chỉ ra một khoa học mới cho tương lai. |
|
134. We know, for instance, that there has been a significant interplay or “give and take” between Venus and the Earth. This type of interchange probably occurs on a wide scale throughout the solar system between many of the known and presently unknown planetary bodies. |
134. Chẳng hạn, chúng ta biết rằng đã có một sự tương tác đáng kể hay “cho và nhận” giữa Sao Kim và Trái Đất. Loại trao đổi này có lẽ xảy ra trên quy mô rộng khắp hệ mặt trời giữa nhiều thiên thể hành tinh đã biết và hiện chưa biết. |
|
135. It will become evident to analogical thinkers that to study the exoteric and esoteric solar system, we are studying a vast system of interrelated chakras and their externalizations. |
135. Đối với những nhà tư tưởng theo định luật tương đồng, sẽ trở nên hiển nhiên rằng khi nghiên cứu hệ mặt trời ngoại môn và nội môn, chúng ta đang nghiên cứu một hệ thống bao la gồm những luân xa liên hệ lẫn nhau và các sự ngoại hiện của chúng. |
|
Certain planetary bodies (both greater and lesser) are “absorbers,” |
Một số thiên thể hành tinh (cả lớn lẫn nhỏ) là những “kẻ hấp thu”, |
|
136. The “take”, occultly. |
136. “Nhận”, theo nghĩa huyền bí. |
|
others are “radiators,” |
những thiên thể khác là những “kẻ bức xạ”, |
|
137. The “give” occultly. |
137. “Cho”, theo nghĩa huyền bí. |
|
while some are in the stage of demonstrating a dual activity, and are being “transmuted.” |
trong khi một số đang ở giai đoạn biểu lộ một hoạt động kép, và đang được “chuyển hoá”. |
|
138. Is DK saying that some of these lesser bodies are both giving and taking? Venus and the Earth both give and take—at least They did so at the time of the individualization of animal man upon this planet. |
138. Có phải Chân sư DK đang nói rằng một số thiên thể nhỏ hơn này vừa cho vừa nhận hay không? Sao Kim và Trái Đất đều cho và nhận—ít nhất Các Ngài đã làm như vậy vào thời kỳ biệt ngã hóa của người thú trên hành tinh này. |
|
139. In any case, transmutation occurs on a planet when its life forms (and especially its self-conscious life forms) are being ‘solarized’. |
139. Dù sao đi nữa, sự chuyển hoá xảy ra trên một hành tinh khi các hình tướng sự sống của nó (và đặc biệt là các hình tướng sự sống có ngã thức của nó) đang được ‘thái dương hóa’. |
|
140. For instance, while only one fifth of the human units on Earth have been transmuted, two-fifths of the units on Vulcan have been so. Each planet (and probably each planetoid) has a fraction which describes the degree to which the process of transmutation has occurred upon or within it. |
140. Thí dụ, trong khi chỉ một phần năm các đơn vị nhân loại trên Trái Đất đã được chuyển hoá, thì hai phần năm các đơn vị trên Vulcan đã như vậy. Mỗi hành tinh (và có lẽ mỗi tiểu hành tinh) đều có một phân số mô tả mức độ mà tiến trình chuyển hoá đã xảy ra trên hoặc bên trong nó. |
|
141. A planetary or planetoid which has been completed “transmuted” is, we would infer, ready for absorption. |
141. Một hành tinh hay tiểu hành tinh đã được “chuyển hoá” hoàn tất thì, chúng ta có thể suy ra, đã sẵn sàng để được hấp thu. |
|
All these circumstances require to be considered by the initiate who is dealing with cycles. |
Tất cả những hoàn cảnh này cần được điểm đạo đồ đang bàn đến các chu kỳ xem xét. |
|
142. The initiate who is dealing with cycles must be both an astronomer and an astrologer. |
142. Điểm đạo đồ đang bàn đến các chu kỳ phải vừa là một nhà thiên văn học vừa là một nhà chiêm tinh học. |
|
143. To achieve “All Knowledge” on the third level of the atmic plane is to have a great and extensive knowledge of the Science of Cycles. May we say that the most advanced form of the study of astrology and astronomy possible to us as man is atmic in nature and requires atmic consciousness? |
143. Đạt được “Mọi Tri Thức” trên cấp độ thứ ba của cõi atma là có được một tri thức lớn lao và bao quát về Khoa Học về các Chu Kỳ. Chúng ta có thể nói rằng hình thức nghiên cứu chiêm tinh học và thiên văn học cao cấp nhất có thể có đối với chúng ta với tư cách con người có bản chất atma và đòi hỏi tâm thức atma chăng? |
|
Figures also must be computed when the effect upon the planets of what are called “asteroids” is known. |
Các con số cũng phải được tính đến khi ảnh hưởng của những gì được gọi là “các tiểu hành tinh” lên các hành tinh được biết đến. |
|
144. It is clear that DK is distinguishing the “asteroids” from the more than 115 lesser planetary bodies within the solar ring-pass-not. |
144. Rõ ràng là Chân sư DK đang phân biệt “các tiểu hành tinh” với hơn 115 thiên thể hành tinh nhỏ hơn bên trong vòng-giới-hạn của hệ mặt trời. |
|
145. Just because these bodies are called “asteroids” does not mean that this is the best or most indicative name for them. |
145. Chỉ vì những thiên thể này được gọi là “các tiểu hành tinh” không có nghĩa rằng đó là tên gọi tốt nhất hay có tính chỉ dấu nhất cho chúng. |
|
This is much greater than exoteric science has so far admitted, |
Điều này lớn hơn rất nhiều so với những gì khoa học ngoại môn cho đến nay đã thừa nhận, |
|
146. Exoteric science hardly acknowledges the “effect” of the asteroids, and certainly not any psychological effect. |
146. Khoa học ngoại môn hầu như không thừa nhận “ảnh hưởng” của các tiểu hành tinh, và chắc chắn không thừa nhận bất kỳ ảnh hưởng tâm lý nào. |
|
147. Could DK be speaking of exoteric astrological science? In some forms of exoteric astrology, the asteroids are considered effective, and perhaps we, too, have noticed their effects in our own astrological charts and the charts of those we know. |
147. Có thể Chân sư DK đang nói về khoa học ngoại môn chiêm tinh học chăng? Trong một số hình thức chiêm tinh học ngoại môn, các tiểu hành tinh được xem là có hiệu lực, và có lẽ chính chúng ta cũng đã nhận thấy các ảnh hưởng của chúng trong các lá số chiêm tinh của mình và của những người chúng ta quen biết. |
|
but the significance of this must eventually be interpreted in terms of energy and on etheric levels. |
nhưng ý nghĩa của điều này rốt cuộc phải được diễn giải theo phương diện năng lượng và trên các cấp độ dĩ thái. |
|
148. Really, the effect of all astrological factors is far more etheric than physical. |
148. Thật ra, ảnh hưởng của mọi yếu tố chiêm tinh mang tính dĩ thái nhiều hơn là hồng trần. |
|
149. Our microcosmic energy system reflects the energy system of the macrocosm in which we live. Every factor within that macrocosm must, eventually, be considered, but we are not yet in a position to do so. |
149. Hệ thống năng lượng vi mô của chúng ta phản chiếu hệ thống năng lượng của đại thiên địa mà trong đó chúng ta sống. Mọi yếu tố bên trong đại thiên địa ấy rốt cuộc đều phải được xem xét, nhưng chúng ta chưa ở vào vị thế để làm điều đó. |
|
150. It is clear that we will not completely know ourselves until we know far more about the macrocosm in which we live and move and have our being. |
150. Rõ ràng là chúng ta sẽ không hoàn toàn biết chính mình cho đến khi biết nhiều hơn nữa về đại thiên địa mà trong đó chúng ta sống, vận động và hiện hữu. |
|
Another factor in computation which must also be considered is the effect of the various moons upon any planetary scheme, |
Một yếu tố khác trong sự tính toán cũng phải được xem xét là ảnh hưởng của các mặt trăng khác nhau lên bất kỳ hệ hành tinh nào, |
|
151. Let us be clear that DK is bringing three different factors into consideration: |
151. Chúng ta hãy rõ ràng rằng Chân sư DK đang đưa ba yếu tố khác nhau vào sự xem xét: |
|
a. The effect of the lesser planetary bodies of which there are more than 115 |
a. Ảnh hưởng của các thiên thể hành tinh nhỏ hơn mà có hơn 115 thiên thể như vậy |
|
b. The effect of the asteroids |
b. Ảnh hưởng của các tiểu hành tinh |
|
c. The effect of the “various moons”. |
c. Ảnh hưởng của “các mặt trăng khác nhau”. |
|
152. It becomes clear that all three are distinct from each other. |
152. Rõ ràng là cả ba đều khác biệt với nhau. |
|
and the true meaning of the eighth sphere in connection with dense substance. |
và ý nghĩa chân thực của khối cầu thứ tám trong mối liên hệ với chất liệu đậm đặc. |
|
153. We cannot dissociate the nature of the “eighth sphere” from our Moon. |
153. Chúng ta không thể tách rời bản chất của “khối cầu thứ tám” khỏi Mặt Trăng của chúng ta. |
|
154. Our Moon is a “point of corruption” and so is the “eighth sphere” (a sphere of limitless decay and decomposition) |
154. Mặt Trăng của chúng ta là một “điểm hư hoại” và “khối cầu thứ tám” cũng vậy (một khối cầu của sự mục rữa và phân huỷ vô hạn) |
|
155. There is probably an interesting link between the “eighth sphere”, the Moon and Saturn. |
155. Có lẽ có một mối liên hệ thú vị giữa “khối cầu thứ tám”, Mặt Trăng và Sao Thổ. |
|
Every moon is occultly a “point of corruption,” or that which is passing off in noxious gases. |
Mỗi mặt trăng, về mặt huyền bí, là một “điểm hư hoại”, hay cái đang tan biến thành những khí độc hại. |
|
156. Our Moon and every other moon is in process of decomposition. |
156. Mặt Trăng của chúng ta và mọi mặt trăng khác đều đang trong tiến trình phân huỷ. |
|
157. With regard to moons in general, there are no longer internal principles (expressing the second and first aspects) to hold them in healthy coherence. |
157. Đối với các mặt trăng nói chung, không còn những nguyên khí nội tại nào nữa (biểu lộ phương diện thứ hai và thứ nhất) để giữ chúng trong sự cố kết lành mạnh. |
|
The transmutation of the form has been proceeded with in their case to a point where all that represents vital energy has left, |
Sự chuyển hoá của hình tướng trong trường hợp của chúng đã được tiến hành đến một điểm mà mọi điều biểu hiện cho năng lượng sinh động đều đã rời đi, |
|
158. All “solar” energy has left them. They are no longer animated. The soul factor is now absent. They are like decaying, dead bodies. |
158. Mọi năng lượng “thái dương” đã rời khỏi chúng. Chúng không còn được linh hoạt hoá nữa. Yếu tố linh hồn nay vắng mặt. Chúng giống như những tử thi đang phân rã. |
|
159. The Logos informing our Moon had His life-course interrupted by the timely interference of the Solar Logos. This has probably not been the case for all moons. Some may be the result of successful transmutation and the natural departure of the vital and coherent solar principles. |
159. Thượng đế phú linh cho Mặt Trăng của chúng ta đã bị gián đoạn lộ trình sự sống của Ngài bởi sự can thiệp đúng lúc của Thái dương Thượng đế. Điều này có lẽ không phải là trường hợp của mọi mặt trăng. Một số có thể là kết quả của sự chuyển hoá thành công và sự ra đi tự nhiên của các nguyên khí thái dương sinh động và cố kết. |
|
all solar life has passed off, no remnants of pranic energy remain, |
mọi sự sống thái dương đã rời đi, không còn tàn dư nào của năng lượng prana, |
|
160. Prana, in this context, is to be considered as “solar”. |
160. Trong ngữ cảnh này, prana phải được xem là “thái dương”. |
|
161. We must remember how prana contributes to the just coherence of the form it animates. |
161. Chúng ta phải nhớ prana góp phần như thế nào vào sự cố kết đúng đắn của hình tướng mà nó linh hoạt hoá. |
|
and that which is to be seen is simply the decay of the physical body,—a decay which is proceeding on etheric levels as well as [Page 795] on physical. |
và điều có thể được thấy chỉ đơn giản là sự phân rã của thể xác,—một sự phân rã đang diễn ra trên các cấp độ dĩ thái cũng như [Page 795] trên hồng trần. |
|
162. With respect to any moon, we are witnessing not only physical decay but etheric decay as well. |
162. Đối với bất kỳ mặt trăng nào, chúng ta đang chứng kiến không chỉ sự phân rã hồng trần mà còn cả sự phân rã dĩ thái nữa. |
|
163. We might remember here that when occult principles are listed, the etheric body and prana are usually both listed and differentiated from each other. Of these two principles, it seems that prana is the higher and, abstracting itself from the etheric body of a moon, causes that etheric body to decay and with that decay, the decay of the physical vehicle as well. |
163. Ở đây chúng ta có thể nhớ rằng khi các nguyên khí huyền bí được liệt kê, thể dĩ thái và prana thường đều được liệt kê cả hai và được phân biệt với nhau. Trong hai nguyên khí này, dường như prana là cao hơn và, khi tự rút ra khỏi thể dĩ thái của một mặt trăng, gây ra sự phân rã của thể dĩ thái ấy và cùng với sự phân rã đó là sự phân rã của vận cụ hồng trần nữa. |
|
The decay of a moon has as great an evil effect upon all that contacts it as a decaying body on earth has upon its surroundings. |
Sự phân rã của một mặt trăng có ảnh hưởng xấu lớn lao lên mọi thứ tiếp xúc với nó, cũng như một tử thi đang phân rã trên Trái Đất có ảnh hưởng lên môi trường xung quanh nó. |
|
164. This must be obvious. Does our Moon in our astrological chart represent that in us which is in process of decay and decomposition? Or, perhaps, that which should be in process of decay or decomposition? |
164. Điều này hẳn phải hiển nhiên. Phải chăng Mặt Trăng trong lá số chiêm tinh của chúng ta biểu thị điều gì đó trong chúng ta đang trong tiến trình phân rã và phân huỷ? Hoặc có lẽ, điều gì đó nên được đặt vào tiến trình phân rã hay phân huỷ? |
|
It is occultly “offensive.” |
Về mặt huyền bí, nó là “xúc phạm”. |
|
165. This means that such an influence challenges the integrity of that which is spiritually legitimate. Moons are no longer ‘spiritually legitimate’. They are no longer principled and, instead, correlate with that which is no longer ‘lawful’ and, in the moral sense, ‘principled’. |
165. Điều này có nghĩa là một ảnh hưởng như vậy thách thức tính toàn vẹn của điều gì là hợp pháp về mặt tinh thần. Các mặt trăng không còn ‘hợp pháp về mặt tinh thần’ nữa. Chúng không còn có nguyên khí nữa, và thay vào đó tương ứng với điều gì không còn ‘hợp luật’ và, theo nghĩa đạo đức, không còn ‘nguyên khí’. |
|
This will be more truly apprehended when the etheric double of our moon is studied. |
Điều này sẽ được lĩnh hội chân thực hơn khi bản sao dĩ thái của Mặt Trăng chúng ta được nghiên cứu. |
|
166. This type of study lies ahead. |
166. Loại nghiên cứu này còn ở phía trước. |
|
167. Within us and contravening our best efforts is a kind of “death instinct” which will one day be proved to be associated with the Earth’s decaying Moon. There may be other, now invisible, moons in our local vicinity, each with its own deleterious effect. Some astrologers work with such invisible bodies. One such is called the “black moon”, and attracts the attention of those interested in morbidity. |
167. Bên trong chúng ta và đi ngược lại những nỗ lực tốt đẹp nhất của chúng ta là một loại “bản năng chết” mà một ngày kia sẽ được chứng minh là có liên hệ với Mặt Trăng đang phân rã của Trái Đất. Có thể còn có những mặt trăng khác, hiện nay vô hình, trong vùng lân cận địa phương của chúng ta, mỗi mặt trăng đều có ảnh hưởng tai hại riêng. Một số nhà chiêm tinh làm việc với những thiên thể vô hình như vậy. Một trong số đó được gọi là “mặt trăng đen”, và thu hút sự chú ý của những người quan tâm đến tính bệnh hoạn. |
|
As the moon becomes small through the process of disintegration, |
Khi mặt trăng trở nên nhỏ bé qua tiến trình tan rã, |
|
168. By the end of the seven round (probably scheme round) of our planetary scheme, it will have disappeared; so we learn below. |
168. Vào cuối cuộc tuần hoàn thứ bảy (có lẽ là cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh) của hệ hành tinh chúng ta, nó sẽ biến mất; như vậy chúng ta sẽ biết ở dưới. |
|
its effect upon the Earth will be correspondingly lessened, and this stage will be paralleled by a consequent greater freedom from evil impulse of the sons of men. |
ảnh hưởng của nó lên Trái Đất sẽ tương ứng giảm đi, và giai đoạn này sẽ song hành với một sự giải thoát lớn hơn khỏi xung lực xấu xa nơi những người con của nhân loại. |
|
169. As the sacral center of our planet becomes less energized (its energy transferred to the solar plexus center) much criminal activity upon our planet will lessen. |
169. Khi trung tâm xương cùng của hành tinh chúng ta trở nên ít được tiếp năng lượng hơn (năng lượng của nó được chuyển dịch đến trung tâm tùng thái dương), nhiều hoạt động tội phạm trên hành tinh chúng ta sẽ giảm bớt. |
|
170. These two processes may be considered correlated: |
170. Hai tiến trình này có thể được xem là có tương quan: |
|
a. The gradual minimizing and disappearance of the Moon |
a. Sự giảm thiểu dần dần và biến mất của Mặt Trăng |
|
b. The transfer of energy from the planetary sacral center to the planetary solar plexus center. |
b. Sự chuyển dịch năng lượng từ trung tâm xương cùng của hành tinh đến trung tâm tùng thái dương của hành tinh. |
|
g. When the Heavenly Man, Who is at present demonstrating through the Earth scheme, has succeeded in vitalising His middle centre, or in directing the force of planetary kundalini away from the lower centres to the solar plexus centre, a new cycle will be reached, and much of the present distress will be ended. (TCF 297) |
g. Khi Đấng Thiên Nhân, Đấng hiện đang biểu lộ qua hệ Địa Cầu, đã thành công trong việc tiếp sinh lực cho trung tâm giữa của Ngài, hay trong việc hướng mãnh lực kundalini hành tinh ra khỏi các trung tâm thấp đến trung tâm tùng thái dương, một chu kỳ mới sẽ đạt tới, và phần lớn nỗi khốn khổ hiện nay sẽ chấm dứt. (TCF 297) |
|
Better conditions among the animals will be another result above all else, and the dying out of that which is noxious in the animal kingdom. |
Những điều kiện tốt đẹp hơn nơi giới động vật sẽ là một kết quả khác trên hết mọi sự, và sự diệt mất của điều gì độc hại trong giới động vật. |
|
171. Here we have the suggestion that the Moon is associated with the poisons found in some species in the animal kingdom. |
171. Ở đây chúng ta có gợi ý rằng Mặt Trăng có liên hệ với các chất độc được tìm thấy trong một số loài thuộc giới động vật. |
|
172. The Moon and Mars are definitely associated with the animal kingdom and with all that is ‘animal’ and ‘animal-like’ in man. |
172. Mặt Trăng và Sao Hỏa chắc chắn có liên hệ với giới động vật và với mọi điều ‘thú tính’ và ‘giống thú’ trong con người. |
|
173. The effect of cosmic evil upon our planet (a process, from one perspective, through which the third ray inhibits the expression of the second) is reflected in the poor relations between the animal and human kingdoms. The animal kingdom is, we know, the third kingdom. The animal nature within man inhibits the expression of his soul nature (vibrating to the second aspect or ray). |
173. Ảnh hưởng của cái ác vũ trụ lên hành tinh chúng ta (một tiến trình mà, từ một góc nhìn, qua đó cung ba ức chế sự biểu lộ của cung hai) được phản chiếu trong các quan hệ kém cỏi giữa giới động vật và giới nhân loại. Giới động vật, như chúng ta biết, là giới thứ ba. Bản chất thú tính bên trong con người ức chế sự biểu lộ của bản chất linh hồn của y (rung động theo phương diện hay cung thứ hai). |
|
By the time the seventh round is reached, the evil effect of the then moon (which will have to all intents and purposes practically disappeared) will be finished. |
Vào lúc cuộc tuần hoàn thứ bảy đạt tới, ảnh hưởng xấu của mặt trăng khi ấy (vốn trên thực tế hầu như đã biến mất) sẽ chấm dứt. |
|
174. It is not that we can ever expect good effects from the Moon. It is simply that the physical and etheric decomposition of the Moon will be, for all practical purposes, completed. |
174. Không phải là chúng ta có thể mong đợi những ảnh hưởng tốt từ Mặt Trăng. Chỉ là sự phân huỷ hồng trần và dĩ thái của Mặt Trăng, trên thực tế, sẽ được hoàn tất. |
|
175. Every planet must outlive its moon or moons and so must every human being on our planet. |
175. Mọi hành tinh đều phải sống lâu hơn mặt trăng hay các mặt trăng của nó, và mọi con người trên hành tinh chúng ta cũng vậy. |
|
During the fifth round, men will discover how to neutralise any remaining effects through scientific achievement and knowledge of the necessary sounds and mantrams, and thus much evil will be offset. |
Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, con người sẽ khám phá cách hóa giải bất kỳ ảnh hưởng còn lại nào nhờ thành tựu khoa học và tri thức về những âm thanh và mantram cần thiết, và như thế nhiều điều ác sẽ được hóa giải. |
|
176. Here we have the fifth round and, thus, the fifth ray engaged in the neutralizing of evil. The fifth round will reflect, very much, both Mercury and Venus (advanced planets and Planetary Logoi) conveying the power to offset evil. |
176. Ở đây chúng ta có cuộc tuần hoàn thứ năm và, như vậy, cung năm tham gia vào việc hóa giải điều ác. Cuộc tuần hoàn thứ năm sẽ phản chiếu rất nhiều cả Sao Thủy lẫn Sao Kim (những hành tinh và các Hành Tinh Thượng đế tiến bộ) truyền đạt quyền năng để hóa giải điều ác. |
|
177. It seems a long wait—millions of years, really. |
177. Điều đó dường như là một sự chờ đợi dài—thật sự là hàng triệu năm. |
|
178. A hint is given, however, which may be utilized even now. By the correct use of thought and speech much evil (unnecessary even now) may be offset. |
178. Tuy nhiên, một gợi ý đã được đưa ra, và có thể được sử dụng ngay cả bây giờ. Bằng cách sử dụng đúng đắn tư tưởng và lời nói, nhiều điều ác (ngay cả bây giờ là không cần thiết) có thể được hóa giải. |
|
The etheric moon is included in these remarks. |
Mặt trăng dĩ thái được bao gồm trong những nhận xét này. |
|
179. DK seeks to have us remember that the effects of the Moon are not only densely physical but etheric as well. |
179. Chân sư DK muốn chúng ta nhớ rằng các ảnh hưởng của Mặt Trăng không chỉ đậm đặc hồng trần mà còn dĩ thái nữa. |
|
180. We know that black magicians work with etheric energies and with certain devas of the ether who carry out their behests. Understanding that there are negative etheric conditions associated with our Moon helps us understand why the Moon figures in certain types of black magic. |
180. Chúng ta biết rằng các nhà hắc thuật làm việc với các năng lượng dĩ thái và với một số thiên thần của dĩ thái, những vị thực hiện mệnh lệnh của họ. Hiểu rằng có những điều kiện dĩ thái tiêu cực gắn liền với Mặt Trăng của chúng ta giúp chúng ta hiểu vì sao Mặt Trăng xuất hiện trong một số loại hắc thuật nhất định. |
|
The greatest effect of moon conditions is to be seen working out predominantly in the terror, and present distress in the animal kingdom.58 [Bible. Romans, 8:22] |
Ảnh hưởng lớn nhất của các điều kiện mặt trăng được thấy biểu hiện chủ yếu trong nỗi kinh hoàng, và sự khốn khổ hiện nay trong giới động vật.58 [Bible. Romans, 8:22] |
|
181. This terrorizing effect of the Moon reminds one of the two satellites of Mars—Phobos and Demos—“fear” and “dread”. |
181. Ảnh hưởng gây kinh hoàng này của Mặt Trăng khiến người ta nhớ đến hai vệ tinh của Sao Hỏa—Phobos và Demos—“sợ hãi” và “kinh hoàng”. |
|
182. Mars and the Moon are intimately related to the animal nature in man. |
182. Sao Hỏa và Mặt Trăng có liên hệ mật thiết với bản chất động vật trong con người. |
|
A further factor in cyclic computation lies in the effect of the following stars and constellations upon our system and upon any particular scheme within the system: |
Một yếu tố nữa trong sự tính toán chu kỳ nằm ở ảnh hưởng của các ngôi sao và chòm sao sau đây lên hệ thống chúng ta và lên bất kỳ hệ hành tinh đặc thù nào bên trong hệ thống: |
|
183. Here are listed effects of far greater moment that the effect of the Moon (which, we are told, has no true radiation). |
183. Ở đây liệt kê những ảnh hưởng có tầm quan trọng lớn hơn nhiều so với ảnh hưởng của Mặt Trăng (mà chúng ta được bảo là không có bức xạ chân thực). |
|
184. The great sources listed below affect not only the solar system but particular planetary schemes within the solar system. |
184. Những nguồn lớn được liệt kê dưới đây không chỉ ảnh hưởng đến hệ mặt trời mà còn đến các hệ hành tinh đặc thù bên trong hệ mặt trời. |
|
a. The Great Bear. |
a. Đại Hùng Tinh. |
|
185. The will aspect of the seven rays emanate from this source. |
185. Phương diện ý chí của bảy cung phát xuất từ nguồn này. |
|
b. The Little Bear. |
b. Tiểu Hùng Tinh. |
|
186. The Little Bear is the correspondence to the “Son” just as the Great Bear is to the “Father”. |
186. Tiểu Hùng Tinh là sự tương ứng với “Người Con” cũng như Đại Hùng Tinh là với “Người Cha”. |
|
187. The connection between the Little Bear, Sirius and Leo (all of them related to the second aspect) is to be explored. |
187. Mối liên hệ giữa Tiểu Hùng Tinh, Sirius và Leo (tất cả đều liên hệ với phương diện thứ hai) cần được khảo cứu. |
|
c. The Pole Star, especially where our planet is concerned. |
c. Sao Bắc Cực, đặc biệt khi liên quan đến hành tinh chúng ta. |
|
188. Our present Pole Star is found within the Little Bear. Naturally the Polar Star changes with the gyration of the axis of our Earth. Presently the Polar Star is “Polaris”. What may be its other names? |
188. Sao Bắc Cực hiện nay của chúng ta nằm trong Tiểu Hùng Tinh. Đương nhiên, sao cực thay đổi theo sự quay lắc của trục Trái Đất chúng ta. Hiện nay sao cực là “Polaris”. Những tên gọi khác của nó có thể là gì? |
|
d. The Pleiades. |
d. Pleiades. |
|
189. The feminine aspect of the seven rays emanates from this source. It is also the Hub of the Wheel as far as our local cosmo system is concerned. With respect to our local cosmo-system, probably no influence is more powerful than that of the Pleiades. |
189. Phương diện nữ tính của bảy cung phát xuất từ nguồn này. Nó cũng là Trục của Bánh Xe xét theo hệ vũ trụ địa phương của chúng ta. Đối với hệ vũ trụ địa phương của chúng ta, có lẽ không có ảnh hưởng nào mạnh hơn ảnh hưởng của Pleiades. |
|
e. The constellation of Capricorn. |
e. Chòm sao Ma Kết. |
|
190. This is one of the twelve signs of the zodiac and, one may infer, a senior Constellational Logos among the twelve. |
190. Đây là một trong mười hai dấu hiệu hoàng đạo và, người ta có thể suy ra, là một Thượng đế Chòm Sao cao cấp trong số mười hai vị. |
|
191. Just as not all the Planetary Logoi are equally evolved, so not all the Constellational Lords are equally evolved. |
191. Cũng như không phải mọi Hành Tinh Thượng đế đều tiến hoá ngang nhau, thì không phải mọi Chúa Tể Chòm Sao đều tiến hoá ngang nhau. |
|
f. Draco. |
f. Draco. |
|
192. Draco is to be associated with cosmic kundalini—risen into the area of the Head of the “One About Whom Naught May Be Said”. |
192. Draco phải được liên kết với kundalini vũ trụ—đã dâng lên vùng Đầu của “Đấng Bất Khả Tư Nghị”. |
|
193. Draco is, for us, the ultimate source of “Serpent Power” within our solar system. |
193. Đối với chúng ta, Draco là nguồn tối hậu của “Hỏa Xà” bên trong hệ mặt trời của chúng ta. |
|
g. Sirius. |
g. Sirius. |
|
194. So much is said about the power of Sirius in relation to our solar system and our planet. Yet, when compared to the other sources here listed, it is, overall, a relatively minor one. |
194. Rất nhiều điều được nói về quyền năng của Sirius trong liên hệ với hệ mặt trời và hành tinh chúng ta. Tuy nhiên, khi so với các nguồn khác được liệt kê ở đây, nhìn chung nó là một nguồn tương đối nhỏ. |
|
h. The various constellations and stars of the Zodiac. |
h. Các chòm sao và ngôi sao khác nhau của Hoàng Đạo. |
|
195. So much attention is usually given to the twelve signs of the zodiac. Yet, for a more complete picture of sources which are effective in influencing our planet and humanity, a number of extra-zodiacal sources must be included. |
195. Thông thường người ta dành rất nhiều chú ý cho mười hai dấu hiệu hoàng đạo. Tuy nhiên, để có một bức tranh đầy đủ hơn về các nguồn có hiệu lực trong việc ảnh hưởng đến hành tinh chúng ta và nhân loại, cần phải bao gồm một số nguồn ngoài hoàng đạo. |
|
196. These twelve, constellations, we remember are the heart within the head center of the “One About Whom Naught May Be Said”. |
196. Chúng ta nhớ rằng mười hai chòm sao này là trái tim bên trong trung tâm đầu của “Đấng Bất Khả Tư Nghị”. |
|
[Page 796] |
|
|
The mystery is hidden in esoteric astrology, and until the subject of energy working through the etheric body, of radioactivity, and of the transmutation of all bodies from a lower state into a higher is better comprehended, the true mystery of the “influence” of these various bodies upon each other will remain at its present stage—an unrevealed secret. |
Mầu nhiệm được ẩn giấu trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, và cho đến khi chủ đề năng lượng vận hành qua thể dĩ thái, phóng xạ, và sự chuyển hoá của mọi thể từ một trạng thái thấp lên một trạng thái cao được thấu hiểu tốt hơn, thì mầu nhiệm chân thực về “ảnh hưởng” của các thiên thể khác nhau này lên nhau sẽ vẫn ở nguyên giai đoạn hiện tại của nó—một bí mật chưa được mặc khải. |
|
197. We may presume then, that there are revealed secrets. |
197. Vậy thì chúng ta có thể giả định rằng có những bí mật đã được mặc khải. |
|
198. An “unrevealed secret” is doubly hidden. |
198. Một “bí mật chưa được mặc khải” bị che giấu gấp đôi. |
|
199. Let us remember with the writing of A Treatise on Cosmic Fire the Tibetan had not yet written Esoteric Astrology. |
199. Chúng ta hãy nhớ rằng khi viết Luận về Lửa Vũ Trụ, Chân sư Tây Tạng vẫn chưa viết Chiêm Tinh Học Nội Môn. |
|
200. What must be known before the true mystery of the “influence” of the various bodies upon each other may be more fully understood?: |
200. Điều gì phải được biết trước khi mầu nhiệm chân thực về “ảnh hưởng” của các thiên thể khác nhau lên nhau có thể được thấu hiểu đầy đủ hơn?: |
|
a. Energy as it works through the etheric body |
a. Năng lượng khi nó vận hành qua thể dĩ thái |
|
b. Radioactivity |
b. Phóng xạ |
|
c. Knowledge concerning transmutation of all bodies from a lower state into a higher |
c. Tri thức liên quan đến sự chuyển hoá của mọi thể từ một trạng thái thấp lên một trạng thái cao hơn |
|
If the radiatory effect of a human being or of a group of human beings upon each other is as yet practically an unknown thing from the standpoint of practical science, so the occult effect of these greater forms upon each other remains unknown. |
Nếu hiệu quả bức xạ của một con người hay của một nhóm người lên nhau, xét từ quan điểm của khoa học thực tiễn, vẫn còn thực tế là một điều chưa được biết đến, thì ảnh hưởng huyền bí của những hình tướng lớn hơn này lên nhau cũng vẫn chưa được biết đến. |
|
201. This is obvious. DK is giving us some extraordinary material for our contemplation. Much remedial work remains to be done within the realm of humanity before any wide registration of these greater influences comes into human consciousness. |
201. Điều này là hiển nhiên. Chân sư DK đang trao cho chúng ta một số chất liệu phi thường để chiêm ngưỡng. Còn rất nhiều công việc chữa lành phải được thực hiện trong phạm vi nhân loại trước khi có bất kỳ sự ghi nhận rộng rãi nào về những ảnh hưởng lớn lao hơn này đi vào tâm thức con người. |
|
202. As we are unaware of the effect of these great sources upon ourselves, how much less so are we aware of their effect upon each other! |
202. Vì chúng ta không nhận biết ảnh hưởng của những nguồn lớn này lên chính mình, thì chúng ta lại càng ít nhận biết ảnh hưởng của chúng lên nhau biết bao! |
|
Science recognises certain effects, leading and tending to the general coherence of the universe, just as the general laws of the social order among men are theoretically apprehended, |
Khoa học thừa nhận một số hiệu quả nhất định, dẫn đến và hướng về sự cố kết tổng quát của vũ trụ, cũng như các định luật tổng quát của trật tự xã hội giữa con người về mặt lý thuyết được lĩnh hội, |
|
203. Science knows that the universe is coherent, but does not know the inner, subjective causes of such coherence. |
203. Khoa học biết rằng vũ trụ có tính cố kết, nhưng không biết các nguyên nhân nội tại, chủ quan của sự cố kết ấy. |
|
204. Man is aware of certain generalities but not of deep causes. |
204. Con người nhận biết một số tính khái quát nhưng không nhận biết các nguyên nhân sâu xa. |
|
but the true scientific realisation of energy-radiations emanating from the etheric bodies of all these suns and groups of suns, and from all these planets and groups of planets is little understood. |
nhưng sự chứng nghiệm khoa học chân thực về các bức xạ năng lượng phát ra từ các thể dĩ thái của tất cả những mặt trời và nhóm mặt trời này, và từ tất cả những hành tinh và nhóm hành tinh này thì ít được thấu hiểu. |
|
205. We might say that among the ranks of conventional scientists it is not understood at all. |
205. Chúng ta có thể nói rằng trong hàng ngũ các nhà khoa học quy ước, điều này hoàn toàn không được thấu hiểu. |
|
206. Even astrologers who should understand something more about the sources and effects of these energies, understand but little—from the occult perspective., |
206. Ngay cả các nhà chiêm tinh, những người lẽ ra phải hiểu thêm phần nào về các nguồn và hiệu quả của những năng lượng này, cũng hiểu rất ít—từ góc nhìn huyền bí., |
|
Their atomic activity is recognised, but that department of their being, which finds its correspondence in “animal magnetism” in man, is little realised, |
Hoạt động nguyên tử của chúng được thừa nhận, nhưng phương diện ấy trong bản thể của chúng, phương diện tìm thấy sự tương ứng của nó trong “từ điện động vật” nơi con người, thì ít được chứng nghiệm, |
|
207. The outer and material effect of such sources is comprehended to a degree. The subjective nature of the sources is not understood at all. |
207. Hiệu quả bên ngoài và vật chất của những nguồn như vậy được hiểu đến một mức độ nào đó. Bản chất chủ quan của các nguồn ấy thì hoàn toàn không được hiểu. |
|
208. Animal magnetism, we can understand as a kind of ‘etheric magnetism’. |
208. Chúng ta có thể hiểu từ điện động vật như một loại ‘từ điện dĩ thái’. |
|
while the even more potent factor of the magnetic radiation of their astral bodies is totally uncalculated, nor is it admitted. |
trong khi yếu tố còn mạnh hơn nữa là bức xạ từ tính của các thể cảm dục của chúng thì hoàn toàn không được tính đến, cũng không được thừa nhận. |
|
209. These sources also all have astral bodies, the effect of which is magnetic. This is not registered, or the possibility of its existence acknowledged. |
209. Những nguồn này cũng đều có các thể cảm dục, mà ảnh hưởng của chúng là từ tính. Điều này không được ghi nhận, cũng không được thừa nhận khả năng tồn tại của nó. |
|
210. As modern scientists are mostly materialists, etheric energy (which is closer to material energy than is astral energy) may begin to be acknowledged. |
210. Vì các nhà khoa học hiện đại phần lớn là những người duy vật, năng lượng dĩ thái (gần với năng lượng vật chất hơn năng lượng cảm dục) có thể bắt đầu được thừa nhận. |
|
All these factors have to be allowed for in any consideration of the factor of time and cycles, and the true esoteric knowledge is not to be gained by the study of figures by the lower mind. |
Tất cả những yếu tố này đều phải được tính đến trong bất kỳ sự xem xét nào về yếu tố thời gian và các chu kỳ, và tri thức huyền bí chân thực không thể đạt được bằng việc nghiên cứu các con số bằng hạ trí. |
|
211. DK is telling us that without the antahkarana, we will not attain “true esoteric knowledge”. |
211. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng nếu không có antahkarana, chúng ta sẽ không đạt được “tri thức huyền bí chân thực”. |
|
212. Really, He is telling us of the various factors which must be grasped if we are to make our way to that highest of all presented siddhis, “All Knowledge” (cf. TCF 188-189) |
212. Thật ra, Ngài đang nói với chúng ta về các yếu tố khác nhau phải được nắm bắt nếu chúng ta muốn tiến đến siddhi cao nhất trong tất cả các siddhi được trình bày, “Mọi Tri Thức” (xem TCF 188-189) |
|
213. DK is warning us concerning the strictly mathematical, concrete-minded approach. |
213. Chân sư DK đang cảnh báo chúng ta về cách tiếp cận thuần túy toán học, thiên về trí cụ thể. |
|
It comes as the result of the intuition and is stimulated at initiation. |
Nó đến như kết quả của trực giác và được kích thích vào lúc điểm đạo. |
|
214. We require the buddhic sense to fathom the secrets of cycles. Without passing through initiation, these secrets will evade our grasp. |
214. Chúng ta cần cảm quan Bồ đề để thấu suốt các bí mật của các chu kỳ. Nếu không đi qua điểm đạo, những bí mật này sẽ thoát khỏi sự nắm bắt của chúng ta. |
|
215. The opening of the heart is related both to initiation and to intuition. The heart is a ‘rhythmic organ’ and we are here speaking of the fundamental rhythms of the great energy sources related to our solar system and the Earth. |
215. Sự khai mở của trái tim có liên hệ cả với điểm đạo lẫn trực giác. Trái tim là một ‘cơ quan nhịp điệu’ và ở đây chúng ta đang nói về những nhịp điệu căn bản của các nguồn năng lượng lớn liên hệ với hệ mặt trời và Trái Đất. |
|
All that has here been pointed out, can be applied equally (though in a very finite sense) to the ego and its cycles, and also equally, considerations other than the purely “personal” will enter into its time periods. |
Tất cả những gì đã được chỉ ra ở đây có thể được áp dụng tương tự (dù theo một nghĩa rất hữu hạn) cho chân ngã và các chu kỳ của nó, và cũng tương tự như vậy, những sự xem xét khác ngoài cái thuần túy “cá nhân” sẽ đi vào các chu kỳ thời gian của nó. |
|
216. For every star or source in the heavens there is a star or source in man. The analogies can be drawn. The various great stellar sources will have their analogies in the chakra system of man. |
216. Với mỗi ngôi sao hay nguồn trên trời đều có một ngôi sao hay nguồn trong con người. Có thể rút ra các tương đồng. Những nguồn sao lớn khác nhau sẽ có các tương đồng của chúng trong hệ thống luân xa của con người. |
|
217. We recall that cycles of planetary centers/egoic groups and specific, egoic groups (and their constituent Egos) were related to Brahmic “minutes” and “moments” respectively. The great sources have an effect even upon our egoic nature. |
217. Chúng ta nhớ rằng các chu kỳ của các trung tâm hành tinh/các nhóm chân ngã và các nhóm chân ngã đặc thù (và các Chân ngã cấu thành của chúng) lần lượt liên hệ với các “phút” và “khoảnh khắc” Brahma. Những nguồn lớn có ảnh hưởng ngay cả lên bản chất chân ngã của chúng ta. |
|
218. The time cycles of our Ego are not dictated by purely personal considerations. Impulsions from great sources are also involved. At this, DK hints. |
218. Các chu kỳ thời gian của Chân ngã chúng ta không bị quyết định bởi những xem xét thuần túy cá nhân. Những xung lực từ các nguồn lớn cũng có liên quan. Chân sư DK gợi ý điều này. |
|
219. “Personal” factors are lunar factors; DK, however, has been speaking of the impulsive, influential effects of stellar (thus solar) sources. We are connected to the stars. |
219. Những yếu tố “cá nhân” là những yếu tố nguyệt; tuy nhiên, Chân sư DK đã nói về những ảnh hưởng xung động, có tác động của các nguồn sao (do đó là thái dương). Chúng ta được nối kết với các vì sao. |
|
The influence of other groups and of other units, the effects of radiation from other rays, and of certain types of force as yet unrevealed, and thus outside our consideration, are concerned with its appearing, with the duration of its [Page 797] manifestation, its subsequent obscuration, and final pralayic interval. |
Ảnh hưởng của các nhóm khác và của các đơn vị khác, các hiệu quả của bức xạ từ các cung khác, và của một số loại mãnh lực hiện còn chưa được mặc khải, do đó nằm ngoài sự xem xét của chúng ta, đều liên quan đến sự xuất hiện của nó, thời lượng của sự [Page 797] biểu lộ của nó, sự che khuất tiếp theo của nó, và khoảng pralaya cuối cùng. |
|
220. DK is speaking of that which influences the Ego—influences other than those which are “purely personal”. Let us list these for easier apprehension: |
220. Chân sư DK đang nói về điều gì ảnh hưởng đến Chân ngã—những ảnh hưởng khác với những gì là “thuần túy cá nhân”. Chúng ta hãy liệt kê chúng để dễ lĩnh hội hơn: |
|
a. The influence of other groups |
a. Ảnh hưởng của các nhóm khác |
|
b. The influence of other units |
b. Ảnh hưởng của các đơn vị khác |
|
c. The effects of radiation from other rays |
c. Các hiệu quả của bức xạ từ các cung khác |
|
d. The effects of certain types of force as yet unrevealed |
d. Các hiệu quả của một số loại mãnh lực hiện còn chưa được mặc khải |
|
221. The effects upon the human Ego of greater sources are many, most of them not to be ascertained by the human mind in its present inadequate state of development. |
221. Những ảnh hưởng của các nguồn lớn hơn lên Chân ngã con người thì rất nhiều, phần lớn không thể được trí tuệ con người xác định trong tình trạng phát triển hiện nay còn bất toàn của nó. |
|
As the Ego has time periods corresponding to those of Brahma, and its “100 years”, and its “777 incarnations” have a solar analogy, so equally groups of Egos differ as to time, just as the planetary schemes are analogous in evolution but differ where their periods are concerned. |
Cũng như Chân ngã có những chu kỳ thời gian tương ứng với các chu kỳ của Brahma, và “100 năm” cùng “777 lần nhập thể” của nó có một sự tương đồng thái dương, thì tương tự như vậy các nhóm Chân ngã cũng khác nhau về thời gian, cũng như các hệ hành tinh tương đồng trong tiến hoá nhưng khác nhau về các chu kỳ của chúng. |
|
222. DK is telling us something of importance. |
222. Chân sư DK đang nói với chúng ta điều gì đó quan trọng. |
|
223. One hundred “Years of Brahma” correspond to the incarnation of a Solar Logos upon the eighteen lower cosmic subplanes. It does not seem accurate to say that this period corresponds only to the duration of the physical-etheric solar system. |
223. Một trăm “Năm của Brahma” tương ứng với sự nhập thể của một Thái dương Thượng đế trên mười tám cõi phụ vũ trụ thấp. Có vẻ không chính xác khi nói rằng giai đoạn này chỉ tương ứng với thời lượng của hệ mặt trời hồng trần-dĩ thái. |
|
224. It may be that our Solar Logos, through His present solar system, passes through an analogy to the “777 incarnations” through which the incarnating human being passes. |
224. Có thể là Thái dương Thượng đế của chúng ta, qua hệ mặt trời hiện tại của Ngài, đi qua một sự tương đồng với “777 lần nhập thể” mà con người đang nhập thể trải qua. |
|
225. Interestingly, the number 777 corresponds particularly to the Earth-scheme. Why then, should it have a “solar analogy”? Is there some particular connection between our Solar Logos and the Earth-scheme? |
225. Điều thú vị là con số 777 đặc biệt tương ứng với hệ Địa Cầu. Vậy tại sao nó lại có một “sự tương đồng thái dương”? Có phải có một mối liên hệ đặc biệt nào đó giữa Thái dương Thượng đế của chúng ta và hệ Địa Cầu chăng? |
|
226. May we say that “100 years of Brahma” correspond to the entire incarnational cycle of a human being? Or should we shorten the period to which 100 Brahmic years applies to the period of one incarnation? After all, 100 Years of Brahma applies only to one solar systemic incarnation! Yet, such a shortening does not seem quite legitimate. |
226. Chúng ta có thể nói rằng “100 năm của Brahma” tương ứng với toàn bộ trọn vẹn chu kỳ nhập thể của một con người chăng? Hay chúng ta nên rút ngắn giai đoạn mà 100 năm Brahma áp dụng vào giai đoạn của một lần nhập thể? Rốt cuộc, 100 Năm của Brahma chỉ áp dụng cho một lần nhập thể hệ mặt trời mà thôi! Tuy nhiên, sự rút ngắn như vậy dường như không hoàn toàn chính đáng. |
|
227. In any case, between similar E/entities, there may be a general similarity of process, but the details of the cyclic duration of their expression in manifestation may differ greatly. Each egoic group is conditioned by a different ray and substance-ray, and each ray has its own distinctive cycles. |
227. Dù sao đi nữa, giữa các Thực thể/thực thể tương tự, có thể có một sự tương đồng tổng quát về tiến trình, nhưng các chi tiết về thời lượng chu kỳ của sự biểu lộ của chúng trong biểu hiện có thể khác nhau rất nhiều. Mỗi nhóm chân ngã được tác động bởi một cung khác nhau và cung-chất liệu khác nhau, và mỗi cung có các chu kỳ đặc thù riêng của nó. |
|
The Law of Periodicity is one, |
Định luật Chu Kỳ là một, |
|
228. That is, the Law of Periodicity applies to all human beings, Egos, Planetary Logoi and Solar Logos—in general. |
228. Nghĩa là, Định luật Chu Kỳ áp dụng cho mọi con người, các Chân ngã, các Hành Tinh Thượng đế và các Thái dương Thượng đế—nói chung. |
|
but as it is based upon initial impulse, and upon the rhythmic beat of the “central heart” or the “central sun” of any organism (solar system, planetary scheme, planetary chain, egoic group or individual egoic life) |
nhưng vì nó dựa trên xung lực ban đầu, và trên nhịp đập của “trái tim trung tâm” hay “mặt trời trung tâm” của bất kỳ cơ thể sống nào (hệ mặt trời, hệ hành tinh, dãy hành tinh, nhóm chân ngã hay sự sống chân ngã cá biệt) |
|
229. The expression of the Law of Periodicity through any particular being depends upon the rhythm of the heart beat of the ‘central sun’ of that being. |
229. Sự biểu lộ của Định luật Chu Kỳ qua bất kỳ hữu thể đặc thù nào tùy thuộc vào nhịp điệu của nhịp tim của “mặt trời trung tâm” của hữu thể ấy. |
|
230. When we speak of the “central sun” or “central heart” we may be speaking of a monadic pulsation which is reflected in the egoic nature—specifically in the Jewel in the Lotus. |
230. Khi chúng ta nói về “mặt trời trung tâm” hay “trái tim trung tâm”, có thể chúng ta đang nói về một sự rung động của chân thần được phản chiếu trong bản chất chân ngã—cụ thể là trong Bảo Châu trong Hoa Sen. |
|
the true nature or “family” of any such organism must be ascertained before cyclic pronouncements can be made with any hope of approximate accuracy. |
thì bản chất chân thực hay “gia đình” của bất kỳ cơ thể sống nào như vậy phải được xác định trước khi có thể đưa ra những tuyên bố về chu kỳ với bất kỳ hy vọng nào về độ chính xác gần đúng. |
|
231. To which particular “central heart” does any B/being respond? This must be ascertained, along with the rhythm of the “beat” of that “central heart”. |
231. Bất kỳ Hữu thể/hữu thể nào đáp ứng với “trái tim trung tâm” đặc thù nào? Điều này phải được xác định, cùng với nhịp điệu của “nhịp đập” của “trái tim trung tâm” ấy. |
|
232. All cyclic pronouncement must be based upon the ascertainment of a fundamental frequency or beat. This differs for each B/being. |
232. Mọi tuyên bố theo chu kỳ đều phải dựa trên sự xác định một tần số hay nhịp đập căn bản. Điều này khác nhau đối với mỗi B/sự sống. |
|
233. Another way of saying this is that our knowledge of ray cycles is, thus far, scant. We may know something about ray cycles as presented in EP I, 26, but how can we generalize about the starting or ending points of vaster and vaster ray cycles (even though they may be based upon expansions or reductions of the same numbers found in the lesser ones)? For instance, while we may know that the 500 year cycle of the second ray began in 1575 AD, how do we know the starting point of a 5000 year or 50,000 year, or 500,000 year ray cycle also related to the second ray? |
233. Một cách khác để nói điều này là: cho đến nay, tri thức của chúng ta về các chu kỳ cung vẫn còn ít ỏi. Chúng ta có thể biết đôi điều về các chu kỳ cung như được trình bày trong EP I, 26, nhưng làm sao chúng ta có thể khái quát hóa về những điểm khởi đầu hay kết thúc của các chu kỳ cung ngày càng lớn hơn nữa (dù chúng có thể dựa trên sự mở rộng hay thu giảm của cùng những con số được tìm thấy trong các chu kỳ nhỏ hơn)? Chẳng hạn, trong khi chúng ta có thể biết rằng chu kỳ 500 năm của cung hai bắt đầu vào năm 1575 SCN, thì làm sao chúng ta biết được điểm khởi đầu của một chu kỳ cung 5.000 năm, hay 50.000 năm, hay 500.000 năm cũng liên hệ với cung hai? |
|
This was why H.P.B. sought to emphasise the need of studying the “astral family” and occult heredity of any person, for in the astral is to be found the clue to the “egoic family or group.” |
Đó là lý do vì sao H.P.B. đã tìm cách nhấn mạnh nhu cầu phải nghiên cứu “gia đình cảm dục” và di truyền huyền bí của bất kỳ người nào, vì trong cõi cảm dục có thể tìm thấy đầu mối dẫn đến “gia đình hay nhóm chân ngã”.” |
|
234. The astral body reflects the egoic body, just as the lower mind reflects the monadic nature. |
234. Thể cảm dục phản chiếu thể chân ngã, cũng như hạ trí phản chiếu bản chất chân thần. |
|
235. Once the “egoic family or group” is ascertained, something about the ray cycle to which that family responds may be known. Incarnation, we realize, is not strictly an individual matter. Egoic groups incarnate together. |
235. Một khi “gia đình hay nhóm chân ngã” được xác định, thì có thể biết được đôi điều về chu kỳ cung mà gia đình ấy đáp ứng. Chúng ta nhận ra rằng sự nhập thể không hoàn toàn là một vấn đề cá nhân. Các nhóm chân ngã cùng nhập thể với nhau. |
|
With this clue the student can then ascertain the characteristics of his group on egoic levels, its place among other egoic groups, and eventually his ray or group centre. |
Với đầu mối này, đạo sinh khi ấy có thể xác định các đặc tính của nhóm mình trên các cấp độ chân ngã, vị trí của nó giữa các nhóm chân ngã khác, và cuối cùng là cung của mình hay trung tâm nhóm của mình. |
|
236. With a knowledge of one’s astral family, what may be ascertained?: |
236. Với tri thức về gia đình cảm dục của mình, điều gì có thể được xác định?: |
|
a. The characteristics of one’s group on egoic levels |
a. Các đặc tính của nhóm mình trên các cấp độ chân ngã |
|
b. The place of one’s egoic group among other egoic groups |
b. Vị trí của nhóm chân ngã của mình giữa các nhóm chân ngã khác |
|
c. One’s ray |
c. Cung của mình |
|
d. The ray of one’s group center. (Here we may be speaking of lesser and greater Ashrams.) |
d. Cung của trung tâm nhóm của mình. (Ở đây chúng ta có thể đang nói đến các ashram nhỏ hơn và lớn hơn.) |
|
As time elapses, the true study of heredity and esoteric transmission will open up, and the whole fabric of thought built up around such modern expressions as: |
Khi thời gian trôi qua, sự nghiên cứu chân chính về di truyền và sự truyền đạt huyền bí sẽ được khai mở, và toàn bộ cấu trúc tư tưởng được xây dựng quanh những cách diễn đạt hiện đại như: |
|
237. “Esoteric transmission” is something deeper than “heredity” as heredity is usually understood. |
237. “Sự truyền đạt huyền bí” là điều gì đó sâu xa hơn “di truyền” như di truyền thường được hiểu. |
|
a. Consanguinity or blood ties |
a. Huyết thống hay ràng buộc máu mủ |
|
238. Blood ties run deeper than physical relationships. They are to some extent based upon inner, subjective relations. Blood and water (i.e., the astral nature, as it reflects the egoic nature) are here related. |
238. Những ràng buộc máu mủ đi sâu hơn các quan hệ thể xác. Ở một mức độ nào đó, chúng dựa trên những quan hệ nội tại, chủ quan. Máu và nước (tức bản chất cảm dục, khi nó phản chiếu bản chất chân ngã) ở đây có liên hệ với nhau. |
|
b. Physical heredity |
b. Di truyền thể xác |
|
239. Some find themselves physically related to those to whom they have no strong inner or subjective relationship. |
239. Một số người thấy mình về mặt thể xác có liên hệ với những người mà họ không có mối quan hệ nội tại hay chủ quan mạnh mẽ. |
|
240. Psychologically and spiritually, even human being inherits himself! Physically, there is inheritance from parents. |
240. Về mặt tâm lý và tinh thần, ngay cả con người cũng thừa hưởng chính mình! Về mặt thể xác, có sự thừa hưởng từ cha mẹ. |
|
c. Atavism |
c. Hiện tượng hồi tổ |
|
241. This suggests the idea of a “throw back”—the demonstration of traits which are ancient and should long have been outlived. |
241. Điều này gợi ra ý niệm về một “sự thoái lui” — sự biểu lộ những đặc tính cổ xưa lẽ ra từ lâu đã phải được vượt qua. |
|
242. Egoic groups are not all equally evolved. Some groups still demonstrate characteristics which have a dwindling place in humanity’s modern expression. |
242. Các nhóm chân ngã không phải tất cả đều tiến hóa ngang nhau. Một số nhóm vẫn còn biểu lộ những đặc tính chỉ còn giữ một vị trí ngày càng thu hẹp trong sự biểu hiện hiện đại của nhân loại. |
|
d. Intermarriage |
d. Hôn phối khác nhóm |
|
243. This is not just a question of blending differing races in the physical marriage relationship. There are inner groups which differ greatly from each other. When one marries into a group which, subjectively, is very different from the group to which he or she belongs spiritually and psychologically, then one may speak occultly of “intermarriage”. |
243. Đây không chỉ là vấn đề hòa trộn các nhân loại khác nhau trong quan hệ hôn nhân thể xác. Có những nhóm nội tại rất khác biệt nhau. Khi một người kết hôn vào một nhóm mà, về mặt chủ quan, rất khác với nhóm mà y thuộc về về mặt tinh thần và tâm lý, thì khi ấy người ta có thể nói theo huyền bí học là “hôn phối khác nhóm”. |
|
e. Family relationships |
e. Quan hệ gia đình |
|
244. Such relationships are certainly physical but they may be, as well, emotional, mental or egoic. Usually, with the average family, it is rare to find relationship based upon all four criteria. |
244. Những quan hệ như thế chắc chắn là thể xác, nhưng cũng có thể là cảm xúc, trí tuệ hay chân ngã. Thông thường, trong gia đình trung bình, hiếm khi tìm thấy mối quan hệ dựa trên cả bốn tiêu chuẩn ấy. |
|
f. The family unit |
f. Đơn vị gia đình |
|
245. Such a unit may be draw together for reasons which are principally karmic. Such a unit, later in the process of evolution, may also reflect established inner relationships. |
245. Một đơn vị như thế có thể được tập hợp lại vì những lý do chủ yếu là nghiệp quả. Về sau trong tiến trình tiến hoá, một đơn vị như thế cũng có thể phản chiếu những mối quan hệ đã được thiết lập ở bên trong. |
|
g. Soul mates |
g. Bạn đồng điệu linh hồn |
|
246. There is much glamor surrounding this subject. When individuals representing the same soul group, partner, merge or marry on the outer planes, they have more than usual justification for considering themselves “soul mates”. |
246. Có rất nhiều ảo cảm bao quanh chủ đề này. Khi những cá nhân đại diện cho cùng một nhóm linh hồn, cùng bạn đồng hành, hòa nhập hay kết hôn trên các cõi bên ngoài, họ có nhiều cơ sở hơn bình thường để xem mình là “bạn đồng điệu linh hồn”. |
|
247. It may also be that long and close incarnational association contributes to the sense of being “soul mates”. |
247. Cũng có thể là sự gắn bó lâu dài và gần gũi qua nhiều lần nhập thể góp phần tạo nên cảm giác là “bạn đồng điệu linh hồn”. |
|
h. Divorce and many other terms |
h. Ly hôn và nhiều thuật ngữ khác |
|
248. While there arise many reasons for divorce, it frequently occurs when the souls of the individuals involved remove these individuals from each others influence because the possibility for soul growth no longer exists. |
248. Dù có nhiều lý do dẫn đến ly hôn, điều này thường xảy ra khi linh hồn của những cá nhân liên hệ rút những cá nhân ấy ra khỏi ảnh hưởng của nhau vì khả năng tăng trưởng linh hồn không còn nữa. |
|
will be shifted to higher planes, and will be recognised and used in connection with soul relationships. |
sẽ được chuyển lên các cõi cao hơn, và sẽ được nhìn nhận và sử dụng trong mối liên hệ với các quan hệ linh hồn. |
|
249. We need a higher perspective from which to interpret these subjects. When the human being understands himself principally as a soul, new light will be shed upon the formation, sustainment and severing of his relationship. |
249. Chúng ta cần một quan điểm cao hơn để diễn giải những chủ đề này. Khi con người hiểu chính mình chủ yếu như một linh hồn, ánh sáng mới sẽ được rọi vào sự hình thành, duy trì và cắt đứt các mối quan hệ của y. |
|
They are, as yet, but a faint realisation on the physical plane of [Page 798] certain inner relations, which are seeking outer response. |
Cho đến nay, chúng chỉ là một sự chứng nghiệm mờ nhạt trên cõi hồng trần về [Page 798] một số quan hệ nội tại đang tìm kiếm sự đáp ứng bên ngoài. |
|
250. As human beings, our attitude to life developments and events is insufficiently subjective. This is in process of remedy. When looking for the reasons why our relationships change, we have to look largely to inner causes. |
250. Là những con người, thái độ của chúng ta đối với các diễn biến và biến cố của đời sống chưa đủ tính chủ quan. Điều này đang được sửa chữa. Khi tìm lý do vì sao các mối quan hệ của chúng ta thay đổi, chúng ta phần lớn phải nhìn vào các nguyên nhân bên trong. |
|
When all aggregates of ideas are interpreted in terms of force and energy, in terms of attraction and repulsion, or the vibratory response of units to each other, and of aggregates of units to other groups, we shall have the clearing up of many problems and a simplification of life. |
Khi mọi tập hợp ý tưởng đều được diễn giải theo mãnh lực và năng lượng, theo hấp dẫn và đẩy lùi, hay theo sự đáp ứng rung động của các đơn vị với nhau, và của các tập hợp đơn vị với các nhóm khác, thì chúng ta sẽ làm sáng tỏ được nhiều vấn đề và đơn giản hóa đời sống. |
|
251. DK is asking us to interpret “aggregates of ideas” in certain terms. Which terms? |
251. Chân sư DK đang yêu cầu chúng ta diễn giải “các tập hợp ý tưởng” theo một số thuật ngữ nhất định. Đó là những thuật ngữ nào? |
|
a. In terms of force and energy |
a. Theo mãnh lực và năng lượng |
|
b. In terms of attraction and repulsion |
b. Theo hấp dẫn và đẩy lùi |
|
c. In terms of the vibratory response of units to each other |
c. Theo sự đáp ứng rung động của các đơn vị với nhau |
|
d. In terms of the vibrator response of aggregates of units to other groups |
d. Theo sự đáp ứng rung động của các tập hợp đơn vị đối với các nhóm khác |
|
252. In short, we are to interpret all life in terms of the “language of energy”. This will lead to a clarification of all our relationships. |
252. Tóm lại, chúng ta phải diễn giải toàn bộ đời sống theo “ngôn ngữ của năng lượng”. Điều này sẽ dẫn đến sự làm sáng tỏ mọi mối quan hệ của chúng ta. |
|
253. What are “things”, really, but “aggregates of ideas” and, more specifically, aggregations of thoughts which represent those ideas. |
253. Rốt cuộc, “sự vật” là gì nếu không phải là “các tập hợp ý tưởng”, và cụ thể hơn, là những tập hợp tư tưởng biểu hiện các ý tưởng ấy. |
|
Men will be true to their group affiliations, and the present misgrouping and mismating will gradually, through knowledge, die out. |
Con người sẽ trung thành với những liên hệ nhóm của mình, và sự xếp nhóm sai sai nhóm và kết đôi sai hiện nay sẽ dần dần, nhờ tri thức, biến mất. |
|
254. Misgrouping and mismating turns out to be an impediment to spiritual progress and, essentially, a waste of time. |
254. Sự xếp nhóm sai và kết đôi sai hóa ra là một chướng ngại đối với tiến bộ tinh thần và, về bản chất, là một sự phí thời gian. |
|
255. “Let the disciple merge himself within the circle of his other selves. Let but one colour blend them and their unity appear. Only when the group is known and sensed can energy be wisely emanated.” (Rule 9 for Applicants to Initiation—IHS 202) |
255. “Hãy để người đệ tử hòa nhập chính mình vào trong vòng tròn của những bản ngã khác của y. Hãy để chỉ một màu sắc hòa trộn họ và sự hợp nhất của họ xuất hiện. Chỉ khi nhóm được biết đến và được cảm nhận thì năng lượng mới có thể được phát xạ một cách khôn ngoan.” (Quy luật 9 dành cho những người Thỉnh Cầu Điểm Đạo—IHS 202) |
|
256. DK is telling us that aggregation and de-aggregation must be based upon occult knowledge. Presently, this is far from the case. |
256. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng sự kết tập và giải kết tập phải dựa trên tri thức huyền bí. Hiện nay, điều này còn rất xa thực tế. |
|
We can now take up the consideration of karma in its relation to the act of reincarnation. |
Giờ đây chúng ta có thể bàn đến việc xem xét nghiệp quả trong mối liên hệ của nó với hành vi tái sinh. |
|
257. Notice that we speak of the “act of reincarnation” and not, generally, of the process. |
257. Hãy lưu ý rằng chúng ta nói về “hành vi tái sinh” chứ không nói, nói chung, về tiến trình. |
|
As we are well aware, the law of karma is the most stupendous law of the system and one which it is impossible for the average man in any way to comprehend, for, if traced back along its central root and its many ramifications, one eventually reaches the position where causes antedating the solar system have to be dealt with, |
Như chúng ta đều biết rõ, định luật nghiệp quả là định luật kỳ vĩ nhất của hệ thống và là điều mà con người trung bình không thể nào thấu hiểu được theo bất kỳ cách nào, vì nếu lần ngược theo cội rễ trung tâm của nó và vô số nhánh phụ của nó, thì cuối cùng người ta sẽ đi đến chỗ phải đề cập đến những nguyên nhân có trước cả hệ mặt trời, |
|
258. We are even now acting on effects which antedate our present solar system. |
258. Ngay cả lúc này, chúng ta vẫn đang hành động dưới những hiệu quả có trước hệ mặt trời hiện tại của chúng ta. |
|
259. Some of our most pressing and immediate international problems are based upon such ancient causes. |
259. Một số vấn đề quốc tế cấp bách và trực tiếp nhất của chúng ta dựa trên những nguyên nhân cổ xưa như thế. |
|
260. Therefore, we should not consider what is here said merely as an abstraction. It has very immediate and pressing effects. |
260. Vì vậy, chúng ta không nên xem điều được nói ở đây chỉ như một sự trừu tượng. Nó có những hiệu quả rất trực tiếp và cấp bách. |
|
and this point of view can only be usefully grasped by a high initiate. |
và quan điểm này chỉ có thể được nắm bắt một cách hữu ích bởi một điểm đạo đồ cao cấp. |
|
261. We presume that it is not enough to be simply an initiate of the third degree, but either an Arhat or a Master—one who has transcended karma as it is applied in the three lower worlds. |
261. Chúng ta giả định rằng chỉ là một điểm đạo đồ bậc ba thì chưa đủ, mà phải là một Arhat hay một Chân sư — một Đấng đã vượt qua nghiệp quả như nó được áp dụng trong ba cõi thấp. |
|
262. Some of lower rank may grasp something of the subject but not “usefully”—that is, they will not be in any position, really, to do anything about what they faintly understand. |
262. Một số người ở cấp thấp hơn có thể nắm bắt được phần nào chủ đề này nhưng không phải một cách “hữu ích” — nghĩa là, họ thực sự sẽ không ở vào vị thế có thể làm được điều gì đối với điều họ chỉ hiểu lờ mờ. |
|
This great law really concerns, or is based on causes which are inherent in the constitution of matter itself |
Định luật vĩ đại này thực sự liên quan đến, hay dựa trên, những nguyên nhân cố hữu trong chính cấu tạo của vật chất |
|
263. Karma and the law that wields it are closely related to the effect of the already conditioned matter aspect (condition in the first solar system) upon the life and consciousness attempting to express itself in the present solar system. |
263. Nghiệp quả và định luật vận dụng nó có liên hệ chặt chẽ với tác động của phương diện vật chất đã được định hình từ trước (được định hình trong hệ mặt trời thứ nhất) lên sự sống và tâm thức đang cố gắng biểu hiện trong hệ mặt trời hiện tại. |
|
and on the interaction between atomic units whether we use this expression in connection with an atom of substance, a human being, a planetary atom or a solar atom. |
và trên sự tương tác giữa các đơn vị nguyên tử dù chúng ta dùng cách diễn đạt này trong mối liên hệ với một nguyên tử chất liệu, một con người, một nguyên tử hành tinh hay một nguyên tử thái dương. |
|
264. The Law of Karma concerns not only the conditioning of matter, but the quality of relationship. It is the purpose of the Law of Karma to improve the quality of all relationship so that such relationship corresponds to archetypes meant to condition and control the present solar system. |
264. Định luật Nghiệp quả không chỉ liên quan đến sự định hình của vật chất, mà còn liên quan đến phẩm tính của mối quan hệ. Mục đích của Định luật Nghiệp quả là cải thiện phẩm tính của mọi mối quan hệ để mối quan hệ ấy tương ứng với những nguyên mẫu vốn được dự định để tác động lên và kiểm soát hệ mặt trời hiện tại. |
|
265. The condition of matter is related to the third aspect of divinity, and relationship (and its quality) to the second aspect. |
265. Tình trạng của vật chất liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính, còn mối quan hệ (và phẩm tính của nó) liên hệ với phương diện thứ hai. |
|
266. As we presently experience karma on this planet and this solar system, we might say that its function is to bring the third aspect into right relationship with the second. |
266. Khi xét nghiệp quả như chúng ta hiện đang trải nghiệm trên hành tinh này và trong hệ mặt trời này, chúng ta có thể nói rằng chức năng của nó là đưa phương diện thứ ba vào mối quan hệ đúng đắn với phương diện thứ hai. |
|
We might express it also in saying that the will aspect or initiatory impulse is primarily that which produces cause, which is cause itself. |
Chúng ta cũng có thể diễn đạt điều đó bằng cách nói rằng phương diện ý chí hay xung lực khởi phát trước hết chính là điều tạo ra nguyên nhân, chính là nguyên nhân tự thân. |
|
267. The first aspect of divinity is impulsive and causal. |
267. Phương diện thứ nhất của thiên tính có tính xung động và nhân quả. |
|
It should be remembered ever that cause involves the idea of duality, i.e., that which initiates, and that which is produced simultaneously by the initiation. |
Cần luôn ghi nhớ rằng nguyên nhân bao hàm ý niệm về nhị nguyên tính, tức là điều khởi phát, và điều được tạo ra đồng thời bởi sự khởi phát ấy. |
|
268. From one perspective, we are being told that the first aspect of divinity (when exercised) leads inevitably to the appearance of the second aspect—i.e., to the appearance of duality. |
268. Từ một góc nhìn, chúng ta đang được cho biết rằng phương diện thứ nhất của thiên tính (khi được vận dụng) tất yếu dẫn đến sự xuất hiện của phương diện thứ hai — tức là, dẫn đến sự xuất hiện của nhị nguyên tính. |
|
269. We note the virtual simultaneity of the two—of that which initiates and that which is produced by the act of initiation. |
269. Chúng ta lưu ý tính gần như đồng thời của hai điều ấy — của điều khởi phát và điều được tạo ra bởi hành vi khởi phát. |
|
The two ideas are inseparable, |
Hai ý niệm này không thể tách rời, |
|
270. We are dealing with the cause and that which is caused—with the act of initiation and that which results from the act of initiation. |
270. Chúng ta đang bàn đến nguyên nhân và điều được gây ra — đến hành vi khởi phát và điều phát sinh từ hành vi khởi phát. |
|
yet nevertheless the second idea in its most abstract connotation must not be considered literally as an effect; true effect involves a third idea. |
tuy nhiên ý niệm thứ hai, trong hàm nghĩa trừu tượng nhất của nó, không được hiểu theo nghĩa đen như một hiệu quả; hiệu quả đích thực bao hàm một ý niệm thứ ba. |
|
271. DK is here entering an abstruse consideration. |
271. Ở đây Chân sư DK đang đi vào một sự khảo sát thâm áo. |
|
272. We are not to consider the second idea in any concrete connotation, but only “in its most abstract connotation”. Abstractly, according to the Tibetan, that which is “produced simultaneously by the initiation” is not a true “effect”. |
272. Chúng ta không được hiểu ý niệm thứ hai theo bất kỳ hàm nghĩa cụ thể nào, mà chỉ “trong hàm nghĩa trừu tượng nhất của nó”. Theo cách trừu tượng, theo Chân sư Tây Tạng, điều “được tạo ra đồng thời bởi sự khởi phát” không phải là một “hiệu quả” đích thực. |
|
273. Let us search for this third idea. |
273. Hãy tìm kiếm ý niệm thứ ba này. |
|
Some appreciation of the problem may be gleaned by a consideration of phenomena which ever involves this dual initiatory cause and its objective effect: [Page 799] |
Một phần sự cảm nhận về vấn đề có thể được rút ra bằng cách xem xét những hiện tượng vốn luôn bao hàm nguyên nhân khởi phát nhị nguyên này và hiệu quả khách quan của nó: [Page 799] |
|
a. Spirit-matter in dual activity produces the objective universe. |
a. Tinh thần-vật chất trong hoạt động nhị nguyên tạo ra vũ trụ khách quan. |
|
274. From this perspective, the objective universe is the “Son” and is related to the second aspect of divinity embodied by the third. |
274. Từ góc nhìn này, vũ trụ khách quan là “Con” và liên hệ với phương diện thứ hai của thiên tính được hiện thân qua phương diện thứ ba. |
|
275. We will learn that a dual activity is associated with both Spirit and matter—two activities for each, making four. |
275. Chúng ta sẽ học rằng một hoạt động nhị nguyên gắn liền với cả tinh thần lẫn vật chất — hai hoạt động cho mỗi bên, thành bốn. |
|
b. Electric fire and fire by friction when brought into contact produce solar fire; it flashes forth from darkness, yet a darkness which is potent with energy. |
b. Lửa Điện và Lửa ma sát khi được đưa vào tiếp xúc sẽ tạo ra Lửa Thái dương; nó bừng lóe ra từ bóng tối, nhưng là một bóng tối đầy quyền năng với năng lượng. |
|
276. To us, Shamballa is inconceivably potent yet also resides (for us) in darkness. |
276. Đối với chúng ta, Shamballa có quyền năng không thể nghĩ bàn nhưng cũng ngự trong bóng tối (đối với chúng ta). |
|
277. It is evident that, in looking for the third factor, that which arises from the interaction of the principal duality (Spirit/Matter) must be considered. |
277. Rõ ràng là, khi tìm kiếm yếu tố thứ ba, phải xét đến điều phát sinh từ sự tương tác của nhị nguyên tính chính yếu (Tinh thần/Vật chất). |
|
c. Will-desire is the cause of incarnation; the will-to-be reacting on substance (whose main quality is desire or responsiveness to sensation) produces the forms through which the central Life or Existence seeks expression. |
c. Ý chí-dục vọng là nguyên nhân của sự nhập thể; ý chí-tồn tại tác động lên chất liệu (mà phẩm tính chính của nó là dục vọng hay sự đáp ứng với cảm giác) tạo ra những hình tướng qua đó Sự sống trung tâm hay Hiện hữu tìm cách biểu hiện. |
|
278. DK is expressing the same idea in a number of different ways. |
278. Chân sư DK đang diễn đạt cùng một ý tưởng theo nhiều cách khác nhau. |
|
279. We note here, interestingly, that the “Will-to-Be” is contrasted with desire. The Will-to-Be is connected with Spirit and desire with substance. |
279. Ở đây, điều thú vị là chúng ta lưu ý rằng “Ý chí-Tồn tại” được đặt đối lập với dục vọng. Ý chí-Tồn tại liên hệ với Tinh thần còn dục vọng liên hệ với chất liệu. |
|
280. Form is that which arises as the third in a sequence of three, and yet is most closely related to the second aspect of divinity. |
280. Hình tướng là điều phát sinh như yếu tố thứ ba trong một chuỗi ba, nhưng lại liên hệ mật thiết nhất với phương diện thứ hai của thiên tính. |
|
d. Ideas and thought-matter together produce thoughtforms. |
d. Ý tưởng và vật chất tư tưởng cùng nhau tạo ra các Hình tư tưởng. |
|
281. Ideas pertain to the first aspect and thought-matter to the third. The thoughtform represents the second aspect. |
281. Ý tưởng thuộc về phương diện thứ nhất và vật chất tư tưởng thuộc về phương diện thứ ba. Hình tư tưởng biểu hiện phương diện thứ hai. |
|
If the student considers these points, it will become apparent that it is not possible for him to do more than study the effects produced by the juxtaposition of the pairs of opposites; |
Nếu đạo sinh suy xét những điểm này, sẽ trở nên hiển nhiên rằng y không thể làm gì hơn ngoài việc nghiên cứu những hiệu quả được tạo ra bởi sự đặt kề nhau của các cặp đối lập; |
|
282. Spirit in its purity and matter in its pure essence are beyond his comprehension. |
282. Tinh thần trong sự thuần khiết của nó và vật chất trong tinh túy thuần khiết của nó đều vượt ngoài sự thấu hiểu của y. |
|
he cannot dissociate them in his mind and deal with Spirit per se, or with matter per se any more than the atom of substance in man’s physical body can dissociate itself from that body, and consider itself independently of form influences. |
y không thể tách chúng ra trong trí tuệ của mình và đề cập đến Tinh thần chính nó, hay đến chính vật chất, cũng như nguyên tử chất liệu trong thể xác của con người không thể tách chính nó ra khỏi thể ấy và xem xét chính nó một cách độc lập với các ảnh hưởng của hình tướng. |
|
283. DK is telling us that (at our present stage of unfoldment) we cannot dissociate Spirit from matter and study the two independently. |
283. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng (ở giai đoạn khai mở hiện nay của chúng ta) chúng ta không thể tách Tinh thần khỏi vật chất và nghiên cứu hai điều ấy một cách độc lập. |
|
284. If the student cannot dissociate Spirit and matter “in his mind”, is there any vehicle through which this dissociation can be achieved, or is it just that the mind of man, as presently developed, is inadequate to the task? |
284. Nếu đạo sinh không thể tách Tinh thần và vật chất “trong trí tuệ của mình”, thì có hiện thể nào qua đó sự tách biệt này có thể đạt được chăng, hay chỉ là trí tuệ của con người, như hiện đang phát triển, không đủ cho nhiệm vụ ấy? |
|
285. DK is telling us that we are too imbedded in matter to study the true nature of matter or of Spirit. If we were deeply and consciously imbedded in Spirit we could study the nature of both Spirit and matter. |
285. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng chúng ta bị cắm quá sâu trong vật chất nên không thể nghiên cứu bản chất đích thực của vật chất hay của Tinh thần. Nếu chúng ta được cắm sâu và có ý thức trong Tinh thần thì chúng ta có thể nghiên cứu bản chất của cả Tinh thần lẫn vật chất. |
|
All atoms are always controlled by the following factors, just as a man in the body of a planetary Logos, and a planetary Logos within His greater Whole will be equally controlled by the same basic principles: |
Mọi nguyên tử luôn luôn bị kiểm soát bởi những yếu tố sau đây, cũng như một con người trong thể của một Hành Tinh Thượng đế, và một Hành Tinh Thượng đế trong Toàn Thể lớn hơn của Ngài cũng sẽ bị kiểm soát tương tự bởi cùng những nguyên lý căn bản ấy: |
|
286. We are examining the factors which control man, a Planetary Logos or a Solar Logos. These controlling factors arise within a number of dimensions. |
286. Chúng ta đang khảo sát những yếu tố kiểm soát con người, một Hành Tinh Thượng đế hay một Thái dương Thượng đế. Những yếu tố kiểm soát này phát sinh trong một số chiều kích. |
|
287. In the following list of influences, influences playing upon the atom of substance are compared with influences playing upon the atom, man. |
287. Trong danh sách các ảnh hưởng sau đây, những ảnh hưởng tác động lên nguyên tử chất liệu được so sánh với những ảnh hưởng tác động lên nguyên tử là con người. |
|
The influence and quality of the organ or unit in which it finds a place. In the human atom this means his group force or influence. |
Ảnh hưởng và phẩm tính của cơ quan hay đơn vị mà trong đó nó tìm thấy vị trí của mình. Trong nguyên tử con người, điều này có nghĩa là mãnh lực hay ảnh hưởng nhóm của y. |
|
288. The larger and embracing whole controls that which it includes and embraces. |
288. Toàn thể lớn hơn và bao trùm kiểm soát điều mà nó bao gồm và ôm chứa. |
|
289. The larger group controls the units which comprise it. This applies to the tiny atom of substance, to man, to a Planetary Logos, a Solar Logos, and Entities of still greater scope. |
289. Nhóm lớn hơn kiểm soát các đơn vị cấu thành nó. Điều này áp dụng cho nguyên tử chất liệu cực nhỏ, cho con người, cho một Hành Tinh Thượng đế, một Thái dương Thượng đế, và cho các Thực Thể có tầm mức còn lớn hơn nữa. |
|
290. Man, for instance, is affected by the group or groups to which he belongs egoically and monadically. |
290. Chẳng hạn, con người bị ảnh hưởng bởi nhóm hay các nhóm mà y thuộc về về mặt chân ngã và chân thần. |
|
The life influence of the entire physical body of which any atom is a corporate part. In the human atom this means the influence of the particular centre in which his egoic group has a place, and the type of energy which it embodies. |
Ảnh hưởng sự sống của toàn bộ thể xác mà bất kỳ nguyên tử nào cũng là một phần hợp thành của nó. Trong nguyên tử con người, điều này có nghĩa là ảnh hưởng của trung tâm đặc thù mà nhóm chân ngã của y có một vị trí trong đó, và loại năng lượng mà nó hiện thân. |
|
291. The tiny atom of substance is influenced powerfully by the quality of the physical body of which that atom is a corporate part. It lives not unto itself alone. |
291. Nguyên tử chất liệu cực nhỏ bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi phẩm tính của thể xác mà nguyên tử ấy là một phần hợp thành của nó. Nó không sống chỉ cho riêng mình. |
|
292. Similarly, each group of human egos is a part of a certain centre in a Globe Lord, Chain Lord or a Planetary Logos. |
292. Tương tự như vậy, mỗi nhóm chân ngã nhân loại là một phần của một trung tâm nào đó trong một Chúa Tể của Bầu hành tinh, Chúa Tể của Dãy hay một Hành Tinh Thượng đế. |
|
293. Can human egoic groups be found in all seven major centers of any of these entities, or only in the highest three? Probably, all seven, but one of those centers in the Planetary Logos which are comprised of Monads? |
293. Có thể tìm thấy các nhóm chân ngã nhân loại trong cả bảy trung tâm chính của bất kỳ thực thể nào trong số này không, hay chỉ trong ba trung tâm cao nhất? Có lẽ là cả bảy, nhưng một trong những trung tâm ấy trong Hành Tinh Thượng đế lại được cấu thành bởi các Chân thần chăng? |
|
294. The human unit is, of course, physically, part of the physical body of humanity as a whole. This greater physical aggregation naturally has an effect upon the individual human unit. |
294. Dĩ nhiên, đơn vị nhân loại, về mặt thể xác, là một phần của thể xác của toàn thể nhân loại. Sự kết tập thể xác lớn hơn này tự nhiên có ảnh hưởng lên đơn vị nhân loại cá biệt. |
|
The life influence of the desire or astral body, the strongest karmic agency which has to be considered. |
Ảnh hưởng sự sống của thể dục vọng hay thể cảm dục, tác nhân nghiệp quả mạnh nhất cần phải được xem xét. |
|
295. The atom of substance in the human physical body is strongly affected by the influence of the human astral body. The frequency of vibration and the quality of relationship experienced by that tiny atom (whether karmically desirable or not) is largely affected by the quality of emotion or desire demonstrated in the human astral body. |
295. Nguyên tử chất liệu trong thể xác con người bị ảnh hưởng mạnh bởi ảnh hưởng của thể cảm dục con người. Tần số rung động và phẩm tính của mối quan hệ mà nguyên tử cực nhỏ ấy trải nghiệm (dù có đáng mong muốn về mặt nghiệp quả hay không) phần lớn bị ảnh hưởng bởi phẩm tính của cảm xúc hay dục vọng được biểu lộ trong thể cảm dục con người. |
|
[Page 800] In the human atom, this involves the influence of the three centres in the body of the Heavenly Man which form any specific “force triangle,” and which have much to do with the liberation of groups of Egos from manifestation. |
[Page 800] Trong nguyên tử con người, điều này bao hàm ảnh hưởng của ba trung tâm trong thể của Đấng Thiên Nhân tạo thành bất kỳ “tam giác lực” đặc thù nào, và có liên quan rất nhiều đến sự giải thoát các nhóm Chân ngã khỏi biểu hiện. |
|
296. When speaking of the “entire physical body of the which any atom is a corporate part”, it could be inferred that each atom had a particularly close relationship with one or other of the seven centers in such a body, but we did not specifically isolate “three centres in the body of the Heavenly Man”. |
296. Khi nói về “toàn bộ thể xác mà bất kỳ nguyên tử nào cũng là một phần hợp thành của nó”, có thể suy ra rằng mỗi nguyên tử có một mối liên hệ đặc biệt gần gũi với một hay trung tâm nào đó trong bảy trung tâm của một thể như thế, nhưng chúng ta đã không đặc biệt tách riêng “ba trung tâm trong thể của Đấng Thiên Nhân”. |
|
297. The desire or aspiration for liberation is an important ingredient in the liberation process. |
297. Dục vọng hay khát vọng giải thoát là một thành phần quan trọng trong tiến trình giải thoát. |
|
298. When looking for the three centers in the body of a Heavenly Man which have to do with the liberation of egoic groups from manifestation, should we choose those centers closely related to the astral body—such as the solar plexus center, the heart center and, perhaps, the ajna center? |
298. Khi tìm ba trung tâm trong thể của một Đấng Thiên Nhân có liên quan đến sự giải thoát các nhóm chân ngã khỏi biểu hiện, liệu chúng ta có nên chọn những trung tâm liên hệ chặt chẽ với thể cảm dục — như trung tâm tùng thái dương, trung tâm tim và, có lẽ, trung tâm ajna? |
|
299. In what is said by the Tibetan above, there are levels of obscurity which are not easy to penetrate. |
299. Trong điều được Chân sư Tây Tạng nói ở trên, có những mức độ tối nghĩa không dễ xuyên thấu. |
|
300. Egos and egoic groups are liberated at the fourth initiation. We may presume that the triangles here discussed (perhaps one triangle, perhaps more than one) are influential in helping Egos and egoic groups achieve their fourth initiation and, thus, liberation from what is usually considered “manifestation”. |
300. Các Chân ngã và các nhóm chân ngã được giải thoát ở lần điểm đạo thứ tư. Chúng ta có thể giả định rằng các tam giác được bàn đến ở đây (có lẽ một tam giác, có lẽ nhiều hơn một) có ảnh hưởng trong việc giúp các Chân ngã và các nhóm chân ngã đạt đến lần điểm đạo thứ tư của mình và do đó được giải thoát khỏi điều thường được xem là “biểu hiện”. |
|
301. If we were to try to arrive at one particular triangle involved in liberation, we might choose crown, ajna and alta, or head, heart and throat. |
301. Nếu chúng ta cố gắng đi đến một tam giác đặc thù liên quan đến sự giải thoát, chúng ta có thể chọn đỉnh đầu, ajna và alta major, hoặc đầu, tim và cổ họng. |
|
The life influences of the mental body, or of that principle which imposes upon the atom the quality of activity in form, which governs the reaction of the atom to its group life, and which enables the quality of its life to be demonstrated. |
Những ảnh hưởng sự sống của thể trí, hay của nguyên khí áp đặt lên nguyên tử phẩm tính hoạt động trong hình tướng, điều chi phối phản ứng của nguyên tử đối với sự sống nhóm của nó, và điều làm cho phẩm tính của sự sống nó có thể được biểu lộ. |
|
302. We note that each influence controlling the atom of substance or the human unit is called a “life” influence |
302. Chúng ta lưu ý rằng mỗi ảnh hưởng kiểm soát nguyên tử chất liệu hay đơn vị nhân loại đều được gọi là một ảnh hưởng “sự sống” |
|
303. We must note that the “life influences of the mental body” are closely associated with the quality of imposition. The mind conveys the will. |
303. Chúng ta phải lưu ý rằng “những ảnh hưởng sự sống của thể trí” gắn liền chặt chẽ với phẩm tính của sự áp đặt. Trí tuệ chuyển tải ý chí. |
|
304. The mind aspect is also closely related to the activity aspect. |
304. Phương diện trí tuệ cũng liên hệ chặt chẽ với phương diện hoạt động. |
|
305. The mind is closely related to the unit’s group functioning, whether that unit is a tiny atom or a human being. |
305. Trí tuệ liên hệ chặt chẽ với chức năng nhóm của đơn vị, dù đơn vị ấy là một nguyên tử cực nhỏ hay một con người. |
|
306. The mental nature of the human being is decisively impressive upon the tiny atom of substance in the human body. The tiny atom has its own type of “group life”. The mental nature of the human being imposes upon that tiny atom a certain “quality of activity in form”, affecting the aggregations and de-aggregations of that atom of substance. The mind is, after all, closely associated with the third aspect of divinity and so is the tiny atom. |
306. Bản chất trí tuệ của con người tạo ấn tượng quyết định lên nguyên tử chất liệu cực nhỏ trong thể người. Nguyên tử cực nhỏ ấy có loại “sự sống nhóm” riêng của nó. Bản chất trí tuệ của con người áp đặt lên nguyên tử cực nhỏ ấy một “phẩm tính hoạt động trong hình tướng” nào đó, ảnh hưởng đến các sự kết tập và giải kết tập của nguyên tử chất liệu ấy. Rốt cuộc, trí tuệ liên hệ chặt chẽ với phương diện thứ ba của thiên tính và nguyên tử cực nhỏ ấy cũng vậy. |
|
In the human atom this concerns those causes which are incident to a man’s Ray, or literally the influence of the life of the planetary Logos as He functions as a self-conscious Life on His Own plane, as He works out His Own plans, and consequently sweeps into activity the cells of His body as mere incidents where He (the basic central life) is concerned. |
Trong nguyên tử con người, điều này liên quan đến những nguyên nhân gắn liền với cung của một người, hay theo nghĩa đen là ảnh hưởng của sự sống của Hành Tinh Thượng đế khi Ngài hoạt động như một Sự sống tự ý thức trên cõi riêng của Ngài, khi Ngài triển khai các kế hoạch riêng của Ngài, và do đó cuốn các tế bào trong thể Ngài vào hoạt động như những sự việc phụ thuộc đơn thuần xét theo phương diện Ngài (Sự sống trung tâm căn bản). |
|
307. As we consider the analogue in human life of the “life influences of the mental body”, we may infer that the monadic ray is involved. Usually when we speak of “a man’s Ray”, the monadic ray is meant. The lower mind, we remember, is (in some fundamental sense) an expression of the monadic ray just as the astral body expresses the soul ray. |
307. Khi xem xét sự tương đồng trong đời sống con người của “những ảnh hưởng sự sống của thể trí”, chúng ta có thể suy ra rằng cung chân thần có liên quan. Thông thường khi chúng ta nói về “cung của một người”, cung chân thần được hàm ý. Chúng ta nhớ rằng hạ trí (theo một ý nghĩa căn bản nào đó) là một biểu hiện của cung chân thần cũng như thể cảm dục biểu hiện cung linh hồn. |
|
308. It is the monadic ray which connects the human unit specifically to the Planetary Logos, for the human Monad is a “cell” in one of the centers of his Planetary Logos. |
308. Chính cung chân thần nối kết đơn vị nhân loại một cách đặc thù với Hành Tinh Thượng đế, vì Chân thần nhân loại là một “tế bào” trong một trong các trung tâm của Hành Tinh Thượng đế của y. |
|
309. We can see that monadic impulsions, which affect matters egoic and personal, are impelled by the Planetary Logos as He seeks to work out His own plans. The Monads are driven into activity simply the Planetary Logos’ act of will. They have, it seems, no ‘say’ about being driven forward. They are mere “incidents” in the willed-impulsions emanating from the Planetary Logos. |
309. Chúng ta có thể thấy rằng những xung lực chân thần, vốn ảnh hưởng đến các vấn đề chân ngã và cá nhân, được Hành Tinh Thượng đế thúc đẩy khi Ngài tìm cách triển khai các kế hoạch riêng của Ngài. Các Chân thần bị đẩy vào hoạt động đơn giản bởi hành vi ý chí của Hành Tinh Thượng đế. Có vẻ như họ không có “tiếng nói” nào về việc bị thúc đẩy tiến lên. Họ chỉ là những “sự việc phụ thuộc” trong các xung lực ý chí phát ra từ Hành Tinh Thượng đế. |
|
310. The causes with which we are here concerned originate with the Planetary Logos, affect the Monad and are mediated through the lower mental nature which, in turn, affects the tiny atoms of substance. |
310. Những nguyên nhân mà ở đây chúng ta quan tâm phát sinh từ Hành Tinh Thượng đế, ảnh hưởng đến Chân thần và được trung giới qua bản chất hạ trí, rồi đến lượt nó ảnh hưởng đến các nguyên tử chất liệu cực nhỏ. |
|
311. We see, therefore, a line emanating from the Planetary Logos all the way ‘down’ to the tiny atom of substance. |
311. Vì vậy, chúng ta thấy một đường phát xuất từ Hành Tinh Thượng đế đi suốt xuống tới nguyên tử chất liệu cực nhỏ. |
|
The life impulse of the Thinker functioning in the causal body who—though a great abstraction or the Absolute where the cellular life is concerned—is nevertheless a potent and active factor in the imposition of rhythm upon the atom in every body. |
Xung lực sự sống của Đấng Tư Tưởng hoạt động trong thể nguyên nhân, Đấng mà—dù là một sự trừu tượng lớn lao hay Đấng Tuyệt Đối xét theo sự sống tế bào—vẫn là một yếu tố mạnh mẽ và hoạt động trong việc áp đặt nhịp điệu lên nguyên tử trong mọi thể. |
|
312. We have, we see, being considering a basic analogy: how the atom in the human being responds to impulses originating within the higher aspects of the human being, expressing through the physical body of which the cell is a part; and, also, how the human unit responds to the impulsions arising from the greater Life of which it is a corporate part. |
312. Như vậy, chúng ta đã xét đến một sự tương đồng căn bản: nguyên tử trong con người đáp ứng thế nào với những xung lực phát sinh trong các phương diện cao hơn của con người, biểu hiện qua thể xác mà tế bào là một phần của nó; và đồng thời, đơn vị nhân loại đáp ứng thế nào với những xung lực phát sinh từ Sự sống lớn hơn mà nó là một phần hợp thành của Sự sống ấy. |
|
313. We note that the Tibetan has introduced the term “cellular life” when speaking of the atom of substance. Surely, they are related, but the atom is tiny constituent of the physical cell. |
313. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng đã đưa vào thuật ngữ “sự sống tế bào” khi nói về nguyên tử chất liệu. Chắc chắn chúng có liên hệ với nhau, nhưng nguyên tử là thành phần cực nhỏ của tế bào thể xác. |
|
314. As the Thinker in the causal body is to the tiny atom in the human body, so the Solar Logos on the cosmic mental plane is to the human unit in its entirety. |
314. Cũng như Đấng Tư Tưởng trong thể nguyên nhân đối với nguyên tử cực nhỏ trong thể người, thì Thái dương Thượng đế trên cõi trí vũ trụ cũng như vậy đối với toàn bộ đơn vị nhân loại. |
|
315. DK is telling us that the atom in the human body experiences an imposition of rhythm emanating from the Thinker in the causal body. For that tiny atom, the Thinker in the causal body is as the “Absolute”. |
315. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng nguyên tử trong thể người trải nghiệm một sự áp đặt nhịp điệu phát ra từ Đấng Tư Tưởng trong thể nguyên nhân. Đối với nguyên tử cực nhỏ ấy, Đấng Tư Tưởng trong thể nguyên nhân giống như “Đấng Tuyệt Đối”. |
|
316. If we extend the analogy, we will find the Solar Logos serving in the role of “Absolute” for the human atom. We will also find that the Solar Logos is responsible for the imposition of certain rhythms upon the life of the human unit in the three worlds. |
316. Nếu mở rộng sự tương đồng, chúng ta sẽ thấy Thái dương Thượng đế đảm nhiệm vai trò của “Đấng Tuyệt Đối” đối với nguyên tử con người. Chúng ta cũng sẽ thấy rằng Thái dương Thượng đế chịu trách nhiệm áp đặt những nhịp điệu nhất định lên sự sống của đơn vị nhân loại trong ba cõi giới. |
|
In the human atom, this brings in the influence of the life of the solar Logos, for that Life imposes rhythm upon every human atom in the system, and does so through the agency of substance and its inherent quality, sensation. |
Trong nguyên tử con người, điều này đưa vào ảnh hưởng của sự sống của Thái dương Thượng đế, vì Sự sống ấy áp đặt nhịp điệu lên mọi nguyên tử con người trong hệ thống, và làm như vậy thông qua tác nhân của chất liệu và phẩm tính cố hữu của nó là cảm giác. |
|
317. DK affirms that, a human units, we are greatly affected by the Solar Logos through the rhythms that the Logos imposes. We think immediately of the “heart beat” of the Solar Logos as a fundamental rhythm which is, in some mediated manner, imposed. In our solar system, we are dealing with the occult rhythm of the heartbeat of the Heart of the Sun. |
317. Chân sư DK khẳng định rằng, với tư cách các đơn vị nhân loại, chúng ta bị ảnh hưởng rất lớn bởi Thái dương Thượng đế thông qua những nhịp điệu mà Ngài áp đặt. Chúng ta lập tức nghĩ đến “nhịp tim” của Thái dương Thượng đế như một nhịp điệu căn bản được áp đặt theo một cách trung giới nào đó. Trong hệ mặt trời của chúng ta, chúng ta đang xử lý nhịp điệu huyền bí của nhịp tim của Trái Tim Mặt Trời. |
|
318. The solar logoic rhythm reaches the human being through the “agency of substance and its inherent quality, sensation”. We may infer that the human astral body is involved in mediating these rhythms to the human being on the physical plane. |
318. Nhịp điệu logoi thái dương đến với con người qua “môi giới của chất liệu và phẩm tính cố hữu, cảm giác của nó”. Chúng ta có thể suy ra rằng thể cảm dục của con người có liên quan đến việc trung gian các nhịp điệu này đến con người trên cõi hồng trần. |
|
In these thoughts, we have but approached the study of karma from a fresh angle, and endeavoured to show the sources of the “influences” which play upon all atomic lives. |
Trong những tư tưởng này, chúng ta chỉ mới tiếp cận việc nghiên cứu nghiệp quả từ một góc độ mới mẻ, và đã nỗ lực chỉ ra các nguồn của những “ảnh hưởng” tác động lên mọi sự sống nguyên tử. |
|
319. Indeed, the angle is “fresh” and requiring much reconfiguration of customary thought. |
319. Quả thật, góc độ này “mới mẻ” và đòi hỏi phải tái cấu hình rất nhiều lối tư duy quen thuộc. |
|
320. Just at the tiny atom of matter is conditioned karmically, so is the tiny unit man karmically conditioned by influences emanating from much greater sources. |
320. Cũng như nguyên tử vật chất nhỏ bé bị nghiệp quả tác động, thì đơn vị con người nhỏ bé cũng bị nghiệp quả tác động bởi những ảnh hưởng phát ra từ các nguồn lớn lao hơn nhiều. |
|
321. “Karma” means action, and DK is informing us of various relatively subjective actions which impact the unit experiencing karma. |
321. “Nghiệp quả” có nghĩa là hành động, và Chân sư DK đang cho chúng ta biết về nhiều hành động tương đối chủ quan khác nhau tác động đến đơn vị đang kinh nghiệm nghiệp quả. |
|
322. The principle is simple: all lives are atoms embedded within the body corporate of still greater atoms. Influences emanating from these still greater atoms affect the lesser atoms. In such cases the karma experienced cannot be called strictly individual. The human unit, as part of larger corporate units, experiences the karma due such larger units. |
322. Nguyên lý thì đơn giản: mọi sự sống đều là những nguyên tử được bao hàm trong cơ thể tập thể của những nguyên tử còn lớn hơn nữa. Những ảnh hưởng phát ra từ các nguyên tử còn lớn hơn ấy tác động đến các nguyên tử nhỏ hơn. Trong những trường hợp như thế, nghiệp quả được kinh nghiệm không thể được gọi là hoàn toàn cá nhân. Đơn vị con người, với tư cách là một phần của những đơn vị tập thể lớn hơn, kinh nghiệm nghiệp quả thuộc về các đơn vị lớn hơn ấy. |
|
The atom likewise is controlled by its own “esse,” or by its own inherent nature or vibration, which was the quality of matter itself before it was aggregated into a solar system, |
Nguyên tử cũng vậy, bị kiểm soát bởi “esse” riêng của nó, hay bởi bản chất hay rung động cố hữu riêng của nó, vốn là phẩm tính của chính vật chất trước khi nó được kết tập thành một hệ mặt trời, |
|
323. This quality of vibration resonates to the note of the solar system which preceded our own. |
323. Phẩm tính rung động này cộng hưởng với âm điệu của hệ mặt trời đã có trước hệ mặt trời của chúng ta. |
|
and which was the vibratory activity produced through the rhythmic life of an earlier solar system. |
và vốn là hoạt động rung động được tạo ra qua sự sống nhịp điệu của một hệ mặt trời trước đó. |
|
324. Greater rhythms are imposed upon lesser beings with their own lesser rhythms. |
324. Những nhịp điệu lớn hơn được áp đặt lên những hữu thể nhỏ hơn với các nhịp điệu nhỏ hơn riêng của chúng. |
|
325. All life in the previous solar system vibrated in some manner to the note FA or F. |
325. Mọi sự sống trong hệ mặt trời trước đây đã rung động theo một cách nào đó với nốt FA hay F. |
|
326. The human unit has its own inherent “esse”, inherited from a previous incarnation. |
326. Đơn vị con người có “esse” cố hữu riêng của mình, được thừa hưởng từ một kiếp lâm phàm trước. |
|
[Page 801] This is equally true of all atoms of all grades, but only in connection with the atom of substance, and to some degree with the human atom, is it in any way possible to ascertain the predisposing causes. |
[Page 801] Điều này cũng đúng như vậy đối với mọi nguyên tử ở mọi cấp độ, nhưng chỉ liên quan đến nguyên tử của chất liệu, và ở một mức độ nào đó với nguyên tử con người, thì mới có thể bằng cách nào đó xác định được các nguyên nhân tiềnđịnh. |
|
327. We can only imagine the nature of the larger systems of which our Solar Logos and His fellow Logoi are a part. As to the antecedents of these Entities and systems of Entities, we can have no reasonable notion. |
327. Chúng ta chỉ có thể hình dung bản chất của những hệ thống lớn hơn mà Thái dương Thượng đế của chúng ta và các Thượng đế đồng hàng của Ngài là một phần trong đó. Còn về các tiền thân của những Thực Thể và những hệ thống các Thực Thể này, chúng ta không thể có một quan niệm hợp lý nào. |
|
328. It is being impressed upon us that predisposing causes conditioning the human atom are many are often remote from our understanding. Still more remote are the predisposing causes which condition a Planetary Logos, a Solar Logos or a Cosmic Logos, etc. |
328. Điều đang được nhấn mạnh nơi chúng ta là các nguyên nhân tiền định tác động lên nguyên tử con người thì rất nhiều và thường xa ngoài sự thấu hiểu của chúng ta. Còn xa hơn nữa là các nguyên nhân tiền định tác động lên một Hành Tinh Thượng đế, một Thái dương Thượng đế hay một Vũ trụ Thượng đế, v.v. |
|
329. We may judge that all in cosmos is in some condition or other and there are predisposing causes for such a condition. |
329. Chúng ta có thể phán đoán rằng mọi sự trong vũ trụ đều ở trong một điều kiện nào đó, và đều có những nguyên nhân tiền định cho điều kiện ấy. |
|
330. While the principle may be clear to us, the ability to trace such causes in the case of greater Entities is necessarily lacking. |
330. Tuy nguyên lý có thể rõ ràng đối với chúng ta, nhưng khả năng truy nguyên những nguyên nhân như thế trong trường hợp các Thực Thể lớn hơn thì tất yếu là không có. |
|
331. We may emerge from this discussion with the sense that our human lives, here and now, are greatly affected by causes which lie far beyond our own Ego and the egoic group to which it belongs. Even the Solar Logos is involved in the imposition upon our lives of certain basic rhythms, and upon that Logos, still greater rhythms, of far more remote origin, are imposed. |
331. Chúng ta có thể bước ra khỏi cuộc thảo luận này với cảm nhận rằng đời sống con người của chúng ta, ở đây và ngay lúc này, bị tác động rất lớn bởi những nguyên nhân nằm vượt xa ngoài chân ngã riêng của chúng ta và nhóm chân ngã mà nó thuộc về. Ngay cả Thái dương Thượng đế cũng có liên quan đến việc áp đặt lên đời sống chúng ta một số nhịp điệu căn bản, và lên Thượng đế ấy, những nhịp điệu còn lớn hơn nữa, có nguồn gốc xa xôi hơn nhiều, cũng được áp đặt. |
|
Until the mystery of the Great Bear is revealed and is known as it is, and until the influence of the Pleiades is comprehended, and the true significance of the cosmic triangle formed by |
Cho đến khi huyền nhiệm của Đại Hùng Tinh được mặc khải và được biết đúng như nó là, và cho đến khi ảnh hưởng của Thất Nữ Tinh được thấuhiểu, và thâm nghĩa chân thực của tam giác vũ trụ được hìnhthành bởi |
|
a. The seven Rishis of the Great Bear, |
a. bảy Rishi của Đại Hùng Tinh, |
|
b. The seven planetary Logoi of our solar system, |
b. bảy Hành Tinh Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta, |
|
c. The seven Pleiades or Sisters, |
c. bảy Thất Nữ Tinh hay bảy Chị Em, |
|
is revealed, the karma of the seven sacred planets will remain unknown. |
được mặc khải, thì nghiệp quả của bảy hành tinh thiêng liêng sẽ vẫn còn chưa được biết. |
|
332. This is an amazingly abstruse section of prophecy. |
332. Đây là một đoạn tiên tri cực kỳ thâm áo. |
|
333. Three things must occur before the karma of the seven sacred planets can be known: |
333. Ba điều phải xảy ra trước khi nghiệp quả của bảy hành tinh thiêng liêng có thể được biết đến: |
|
a. The mystery of the Great Bear must be revealed and known as it is |
a. Huyền nhiệm của Đại Hùng Tinh phải được mặc khải và được biết đúng như nó là |
|
b. The influence of the Pleiades must be comprehended |
b. Ảnh hưởng của Thất Nữ Tinh phải được thấu hiểu |
|
c. The true significance of the cosmic triangle formed between the Great Bear, the seven Planetary Logoi of our solar system and the Pleiades must be understood. This is, in a sense, a constellational triangle. |
c. Thâm nghĩa chân thực của tam giác vũ trụ được hình thành giữa Đại Hùng Tinh, bảy Hành Tinh Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta và Thất Nữ Tinh phải được thấu hiểu. Theo một nghĩa nào đó, đây là một tam giác thuộc chòm sao. |
|
334. Such knowledge is not to be ascertained in our present round. Who knows whether it will be ascertainable in the next when these deeper cosmic matters will be more assiduously studied? |
334. Tri thức như thế không thể được xác định trong cuộc tuần hoàn hiện nay của chúng ta. Ai biết được liệu nó có thể được xác định trong cuộc tuần hoàn kế tiếp hay không, khi những vấn đề vũ trụ sâu xa hơn này sẽ được nghiên cứu chuyên cần hơn? |
|
All that we can see is its working out in the solar system. |
Tất cả những gì chúng ta có thể thấy là sự triển khai của nó trong hệ mặt trời. |
|
335. Obviously, the source of such causes lies far ‘above’ (or interior to) our solar system, on the cosmic astral plane, cosmic mental plane and beyond. |
335. Hiển nhiên, nguồn gốc của những nguyên nhân như thế nằm rất xa “bên trên” (hay bên trong) hệ mặt trời của chúng ta, trên cõi cảm dục vũ trụ, cõi trí vũ trụ và vượt xa hơn nữa. |
|
The intricacy of the whole subject will be apparent when it is borne in mind that not only do these three groups form a cosmic triangle, but that within that triangle many lesser triangles have to be studied. |
Sự phức tạp của toàn bộ chủ đề sẽ trở nên hiển nhiên khi ghi nhớ rằng không những ba nhóm này tạo thành một tam giác vũtrụ, mà bên trong tam giác đó còn có nhiều tam giác nhỏ hơn phải được nghiên cứu. |
|
336. The lesser triangles involve, for instance, one of the stars in the Great Bear, one of the stars the Pleiades and one (or other) of the Seven Heavenly Men. We can see that a great number of secondary triangles could emerge from such combinations. |
336. Chẳng hạn, các tam giác nhỏ hơn liên quan đến một trong các ngôi sao của Đại Hùng Tinh, một trong các ngôi sao của Thất Nữ Tinh và một (hay một vị khác) trong Bảy Đấng Thiên Nhân. Chúng ta có thể thấy rằng một số lượng rất lớn các tam giác thứ cấp có thể xuất hiện từ những tổ hợp như thế. |
|
337. There is probably one star in the Great Bear most related to one star in the Pleiades and these two are probably most related to only one of the seven principal Heavenly Men, however, the two stars could have a relationship which each and every one of the Seven Heavenly Men. Not only that, but each star in the Great Bear (though most related to only one of the stars in the Pleiades) has a relationship with each and every star in the Pleiades, and vise versa. |
337. Có lẽ có một ngôi sao trong Đại Hùng Tinh liên hệ nhiều nhất với một ngôi sao trong Thất Nữ Tinh, và hai ngôi sao này có lẽ liên hệ nhiều nhất chỉ với một trong bảy Đấng Thiên Nhân chính yếu; tuy nhiên, hai ngôi sao ấy có thể có một mối liên hệ với từng và mọi Đấng Thiên Nhân trong Bảy Đấng. Không chỉ vậy, mà mỗi ngôi sao trong Đại Hùng Tinh (dù liên hệ nhiều nhất chỉ với một trong các ngôi sao của Thất Nữ Tinh) vẫn có một mối liên hệ với từng và mọi ngôi sao trong Thất Nữ Tinh, và ngược lại. |
|
338. Effective studies of this nature lie far into the future. |
338. Những nghiên cứu hữu hiệu thuộc loại này còn nằm rất xa trong tương lai. |
|
Any one of the seven Rishis with one of our planetary Logoi and one of the seven Sisters may form a subsidiary triangle, and all must thus be studied. |
Bất kỳ một trong bảy Rishi nào cùng với một trong các Hành Tinh Thượng đế của chúng ta và một trong bảy Chị Em đều có thể tạo thành một tam giác phụ, và vì thế tất cả đều phải được nghiên cứu. |
|
339. DK informs us of some of the possible combinations—the most powerful subsidiary triangles. |
339. Chân sư DK cho chúng ta biết một số tổ hợp khả dĩ—những tam giác phụ mạnh mẽ nhất. |
|
340. We do not know that all of these subsidiary triangles are of equal strength or even fully formed, but at some point in time, all such triangles will be fully functioning. |
340. Chúng ta không biết rằng tất cả các tam giác phụ này có sức mạnh ngang nhau hay thậm chí đã hoàn toàn thành hình hay chưa, nhưng vào một thời điểm nào đó, mọi tam giác như thế sẽ vận hành trọn vẹn. |
|
341. Before we can study the triangles, we must understand the qualitative nature the stars and planets involved, which is, thus far, hardly the case. |
341. Trước khi có thể nghiên cứu các tam giác, chúng ta phải hiểu bản chất phẩm tính của các ngôi sao và hành tinh liên quan, điều mà cho đến nay hầu như chưa phải là trường hợp. |
|
In connection with the karma of the solar Logos, the subject is even more abstract and incomprehensible. |
Liên quan đến nghiệp quả của Thái dương Thượng đế, chủ đề này còn trừu tượng và bất khả hiểu hơn nữa. |
|
342. We have discussed the relationship between the stars in the Great Bear, the stars in the Pleiades and the various Planetary Logoi. |
342. Chúng ta đã bàn đến mối liên hệ giữa các ngôi sao trong Đại Hùng Tinh, các ngôi sao trong Thất Nữ Tinh và các Hành Tinh Thượng đế khác nhau. |
|
343. There are certainly triangles, as well, between certain stars in the Great Bear, stars in the Pleiades and our Solar Logos, but these are not the relationships which DK is about to discuss. |
343. Chắc chắn cũng có những tam giác giữa một số ngôi sao trong Đại Hùng Tinh, các ngôi sao trong Thất Nữ Tinh và Thái dương Thượng đế của chúng ta, nhưng đó không phải là những mối liên hệ mà Chân sư DK sắp bàn đến. |
|
344. In the examples above involving the Heavenly Men, we discussed the relationship between certain stars and our Heavenly Men (Planetary Logoi). Below, we shall discuss the relationship between certain constellations (not simply stars taken singly) and our Solar Logos (a Solar God) |
344. Trong các ví dụ trên liên quan đến các Đấng Thiên Nhân, chúng ta đã bàn đến mối liên hệ giữa một số ngôi sao và các Đấng Thiên Nhân của chúng ta (các Hành Tinh Thượng đế). Bên dưới, chúng ta sẽ bàn đến mối liên hệ giữa một số chòm sao (không chỉ đơn giản là các ngôi sao được xét riêng lẻ) và Thái dương Thượng đế của chúng ta (một Thượng đế Thái dương) |
|
It lies hidden —not in the seven constellations—but in the three constellations which concern the three bodies of His Personality and which in themselves are but manifestations of a central LIFE past our concept and our recognition. |
Nó ẩn giấu —không phải trong bảy chòm sao—mà trong ba chòmsao liên quan đến ba thể của Phàm ngã của Ngài và tự chúng chỉ là những biểu hiện của một SỰ SỐNG trung tâm vượt ngoài khái niệm và sự nhận biết của chúng ta. |
|
345. Our Solar Logos has a physical body, an astral body and a lower mental body. |
345. Thái dương Thượng đế của chúng ta có một thể xác, một thể cảm dục và một thể hạ trí. |
|
346. There are three entire constellations, which are probably chakras in the “One About Whom Naught May Be Said”, which are specifically related to the three personality vehicles of our Solar Logos. |
346. Có ba chòm sao trọn vẹn, có lẽ là các luân xa trong “Đấng Bất Khả Tư Nghị”, có liên hệ đặc biệt với ba vận cụ phàm ngã của Thái dương Thượng đế của chúng ta. |
|
347. May these be the Great Bear, the Sirian System and the Pleiades or, perhaps, the Great Bear, the Little Bear and the Pleiades—considered as constellations and not from the perspective of the individual stars within these constellations? |
347. Có thể đó là Đại Hùng Tinh, Hệ Sirius và Thất Nữ Tinh, hoặc có lẽ là Đại Hùng Tinh, Tiểu Hùng Tinh và Thất Nữ Tinh—được xét như những chòm sao chứ không phải từ góc nhìn của các ngôi sao riêng lẻ bên trong những chòm sao này chăng? |
|
It concerns the manifestation in time and space of the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, and Whose relationship to the solar Logos finds a faint analogy in that of the planetary Logos to man, the human unit. |
Điều này liên quan đến sự biểuhiện trong thời gian và không gian của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ, và mối liên hệ của Ngài với Thái dương Thượng đế có một sự tương đồng mờ nhạt với mối liên hệ của Hành Tinh Thượng đế với con người, đơn vị nhân loại. |
|
348. If man as a Monad is but a cell in a Heavenly Man, is DK suggesting that the Solar Logos is as a cell when compared to the “One About Whom Naught May Be Said”? |
348. Nếu con người với tư cách là một chân thần chỉ là một tế bào trong một Đấng Thiên Nhân, thì Chân sư DK có đang gợi ý rằng Thái dương Thượng đế cũng như một tế bào khi so với “Đấng Bất Khả Tư Nghị” chăng? |
|
349. This seems quite a reduction of the status of the Solar Logos, for usually the Solar Logos is considered as a chakra within a chakra (which chakra is one of the major centers in the “One About Whom Naught May Be Said”). Thus, the Solar Logos would be as a minor chakra which is certainly far greater than a cell. |
349. Điều này dường như làm giảm khá nhiều địa vị của Thái dương Thượng đế, vì thông thường Thái dương Thượng đế được xem như một luân xa bên trong một luân xa (mà luân xa ấy là một trong những trung tâm chính yếu trong “Đấng Bất Khả Tư Nghị”). Như vậy, Thái dương Thượng đế sẽ như một luân xa nhỏ, điều chắc chắn lớn lao hơn nhiều so với một tế bào. |
|
350. HOWEVER, if the “One About Whom Naught May Be Said” here referenced is a Galactic Logos, then it would make sense (in terms of scale) for our Solar Logos to be considered as a cell in the expression of such a great BEING. |
350. TUY NHIÊN, nếu “Đấng Bất Khả Tư Nghị” được nhắc đến ở đây là một Thượng đế Ngân Hà, thì sẽ hợp lý (xét theo quy mô) khi Thái dương Thượng đế của chúng ta được xem như một tế bào trong sự biểu lộ của một HỮU THỂ vĩ đại như thế. |
|
351. Certainly our GALACTIC LOGOS is a “One About Whom Naught May Be Said”. |
351. Chắc chắn THƯỢNG ĐẾ NGÂN HÀ của chúng ta là một “Đấng Bất Khả Tư Nghị”. |
|
352. We must note, however, that the analogy is “faint” and thus, must not be pressed too far. |
352. Tuy nhiên, chúng ta phải lưu ý rằng sự tương đồng này là “mờ nhạt” và vì thế không được đẩy đi quá xa. |
|
353. Nevertheless, it is important to note the problem of scale with which we seem to be presented. |
353. Dẫu vậy, điều quan trọng là phải lưu ý đến vấn đề về quy mô mà dường như chúng ta đang được đặt trước. |
|
It profits not to extend the thought any further. |
Không ích gì khi mở rộng tư tưởng này thêm nữa. |
|
354. DK well knows the limits of our minds. |
354. Chân sư DK biết rất rõ những giới hạn của trí tuệ chúng ta. |
|
We are but seeking to emphasise the fact of the interdependence of all atoms and forms, |
Chúng ta chỉ đang tìm cách nhấn mạnh sự kiện về tính phụ thuộc lẫnnhau của mọi nguyên tử và hình tướng, |
|
355. If an atom is included in a form, it is conditioned by the energy which the form expresses. |
355. Nếu một nguyên tử được bao hàm trong một hình tướng, nó bị tác động bởi năng lượng mà hình tướng ấy biểu lộ. |
|
to lay stress upon the reality of the variety of influences which play upon all [Page 802] that is manifesting, |
để nhấn mạnh thực tại của sự đa dạng các ảnh hưởng tác động lên mọi [Page 802] đang biểu hiện, |
|
356. So that we may be more alert to the reasons for the effects we experience in the three lower worlds… |
356. Để chúng ta có thể tỉnh thức hơn đối với những lý do của các hiệu quả mà chúng ta kinh nghiệm trong ba cõi thấp… |
|
357. Usually, we think there are far fewer effective influences that there really are. |
357. Thông thường, chúng ta nghĩ rằng có ít ảnh hưởng hữu hiệu hơn nhiều so với thực tế. |
|
and to call attention to the fact of the karma of the past aeons, kalpas and that unknowable period in which the initiatory impulses were set up which are still persisting, and which God, man and atoms are still working out and off. |
và để lưu ý đến sự kiện về nghiệp quả của các đại kiếp quá khứ, các kalpa và thời kỳ bất khả tri ấy trong đó các xung lực điểm đạo đã được thiết lập, vẫn còn đang tồn tại, và Thượng đế, con người và các nguyên tử vẫn còn đang giải quyết và thanh toán. |
|
358. We are presented with many impulsive effects which (now serving as causes) have been generated in circumstances which cannot possibly be understood—they occurred so long ago. |
358. Chúng ta được đặt trước nhiều hiệu quả xung động mà (nay đang phục vụ như những nguyên nhân) đã được tạo ra trong những hoàn cảnh hoàn toàn không thể hiểu được—chúng đã xảy ra từ quá lâu rồi. |
|
359. In the distant, remote past, patterns of energy and force interaction have arisen and still have not been neutralized or brought into conformity with the prevailing archetypes of our present solar system. Imbalance still exists. |
359. Trong quá khứ xa xăm, những mô hình tương tác của năng lượng và mãnh lực đã phát sinh và vẫn chưa được trung hòa hay đưa vào sự phù hợp với các nguyên mẫu đang chi phối của hệ mặt trời hiện tại của chúng ta. Sự mất cân bằng vẫn còn tồn tại. |
|
360. In summary, DK has just called our attention to three factors: |
360. Tóm lại, Chân sư DK vừa lưu ý chúng ta đến ba yếu tố: |
|
a. The interdependence of all atoms and forms |
a. Tính phụ thuộc lẫn nhau của mọi nguyên tử và hình tướng |
|
b. The great variety of influences which play upon all that is manifesting |
b. Sự đa dạng lớn lao của các ảnh hưởng tác động lên mọi sự đang biểu hiện |
|
c. The remote arising of still persistent effective causes and causative effects |
c. Sự phát sinh xa xôi của những nguyên nhân hữu hiệu và những hiệu quả nhân quả vẫn còn tồn tại |
|
Influences or vibrations, calling forth response, play upon every form and atom in the solar system and all that can be predicated of them is that they tend to develop consciousness of some kind, impose certain rhythms according to that conscious response, and produce aggregations or group activity. |
Những ảnh hưởng hay rung động, khơi dậy sự đáp ứng, tác động lên mọi hình tướng và nguyên tử trong hệ mặt trời, và tất cả những gì có thể được nói về chúng là rằng chúng có khuynh hướng phát triển một loại tâm thức nào đó, áp đặt những nhịp điệu nhất định tùy theo sự đáp ứng có ý thức ấy, và tạo ra những sự kết tập hay hoạt động nhóm. |
|
361. What can be said of the influences or vibrations (often very subtle and undetectable) which play upon every form and atom in the solar system? |
361. Có thể nói gì về những ảnh hưởng hay rung động (thường rất vi tế và không thể phát hiện) tác động lên mọi hình tướng và nguyên tử trong hệ mặt trời? |
|
a. They tend to develop consciousness of some kind. Although we cannot trace the origins of these influences and vibrations, we must use their impact wisely for the development of consciousness. Every encounter with energy and force (whether considered constructive or destructive) can be used to augment the extent and quality of consciousness. |
a. Chúng có khuynh hướng phát triển một loại tâm thức nào đó. Dù chúng ta không thể truy nguyên nguồn gốc của những ảnh hưởng và rung động này, chúng ta vẫn phải sử dụng tác động của chúng một cách khôn ngoan cho sự phát triển của tâm thức. Mọi cuộc gặp gỡ với năng lượng và mãnh lực (dù được xem là xây dựng hay phá hoại) đều có thể được sử dụng để tăng cường phạm vi và phẩm tính của tâm thức. |
|
b. These influences and forces impose certain rhythms upon our lives and upon the conditions which surround us—i.e., upon circumstance. Depending upon the nature of the conscious response with which we meet these influences and forces, so will be the nature of the rhythms imposed. |
b. Những ảnh hưởng và mãnh lực này áp đặt những nhịp điệu nhất định lên đời sống chúng ta và lên những điều kiện bao quanh chúng ta—tức là lên hoàn cảnh. Tùy theo bản chất của sự đáp ứng có ý thức mà chúng ta dùng để gặp gỡ những ảnh hưởng và mãnh lực này, bản chất của các nhịp điệu được áp đặt cũng sẽ như thế. |
|
c. These influences and forces affect all relationships: they produce aggregations and group activity. Can we meet them with such intelligence that the aggregations and group activity produced serve the Plan? |
c. Những ảnh hưởng và mãnh lực này tác động đến mọi mối liên hệ: chúng tạo ra những sự kết tập và hoạt động nhóm. Chúng ta có thể gặp gỡ chúng với một trí tuệ như thế nào để những sự kết tập và hoạt động nhóm được tạo ra có thể phụng sự Thiên Cơ? |
|
362. In short, all that we encounter can be used to promote an enhanced quality of life or consciousness. |
362. Nói ngắn gọn, mọi điều chúng ta gặp phải đều có thể được sử dụng để thúc đẩy một phẩm tính cao hơn của sự sống hay tâm thức. |
|
The liberation from karma about which would-be occult students so glibly talk |
Sự giải thoát khỏi nghiệp quả mà những đạo sinh huyền bí học tương lai thường nói đến một cách quá dễ dãi |
|
363. Notice, that not only is DK not taking about “occultists”, per se, but He is not even talking about “occult students”. He speaks only of “would-be occult students”…quite a reduction from the genuine article—the occultist. |
363. Hãy lưu ý rằng Chân sư DK không chỉ không nói về các “nhà huyền bí học”, chính họ, mà Ngài thậm chí cũng không nói về “đạo sinh huyền bí học”. Ngài chỉ nói về “những đạo sinh huyền bí học tương lai”… một sự hạ thấp khá nhiều so với hàng thật—nhà huyền bí học. |
|
is after all but the freeing of the atom from its own personal problem (the problem of response to unitary sensation), and its conscious acquiescence in group response and work. |
rốt cuộc chỉ là sự giải thoát nguyên tử khỏi vấn đề cá nhân riêng của nó (vấn đề đáp ứng với cảm giác đơn nhất), và sự thuận nhận có ý thức của nó đối với sự đáp ứng nhóm và công việc nhóm. |
|
364. DK offers us another slant on the meaning of liberation from karma. |
364. Chân sư DK cống hiến cho chúng ta một cách nhìn khác về ý nghĩa của sự giải thoát khỏi nghiệp quả. |
|
365. The atom is enmeshed in a certain context from which its usual, individual responses do not serve to free it. Instead, it must generate those kinds of responses which extricate it from that particular context. Eventually, the unit achieves a necessary degree of harmony with and imperviousness to his previously imprisoning context. One of the methods to achieve this, is to acquiesce in the necessity for group response and group work. |
365. Nguyên tử bị mắc kẹt trong một bối cảnh nhất định mà từ đó những đáp ứng cá nhân thông thường của nó không giúp giải thoát nó. Thay vào đó, nó phải tạo ra những loại đáp ứng có thể đưa nó ra khỏi bối cảnh đặc thù ấy. Cuối cùng, đơn vị đạt được một mức độ cần thiết của sự hài hòa với, và tính không bị xuyên thấu bởi, bối cảnh trước đây đã giam hãm nó. Một trong những phương pháp để đạt được điều này là thuận nhận sự cần thiết của sự đáp ứng nhóm và công việc nhóm. |
|
366. Another way of saying this is that strictly selfish, individualistic response will not achieve for the unit harmony with its environment. Without harmony with the environment and with the group life, which necessarily surrounds and enfolds the unit, there can be no true, karmically effective liberation from that environment. |
366. Một cách khác để nói điều này là: sự đáp ứng hoàn toàn ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa sẽ không đem lại cho đơn vị sự hài hòa với môi trường của nó. Không có sự hài hòa với môi trường và với sự sống nhóm, vốn tất yếu bao quanh và bao bọc đơn vị, thì không thể có sự giải thoát chân thực, có hiệu lực về mặt nghiệp quả, khỏi môi trường ấy. |
|
367. The unit which achieves true harmony with its environment and with its group owes nothing more to either its environment or group. That unit is free—free to serve both the environment and the group. |
367. Đơn vị đạt được sự hài hòa chân thực với môi trường và với nhóm của mình không còn nợ gì nữa đối với cả môi trường lẫn nhóm. Đơn vị ấy được tự do—tự do để phụng sự cả môi trường lẫn nhóm. |
|
It marks the dissociation |
Điều đó đánh dấu sự tách rời |
|
368. Hence, the ongoing necessity for detachment… |
368. Do đó, có sự cần thiết liên tục của việc tách rời… |
|
of the human atom from the rhythm imposed upon him by the lower “influences” which find their channel of approach through his vehicles, or lunar bodies, and his consequent willing recognition of the will-impulse of his greater whole, or the life of the egoic group—a centre in the planetary body. |
của nguyên tử con người khỏi nhịp điệu bị áp đặt lên y bởi những “ảnh hưởng” thấp hơn tìm thấy kênh tiếp cận qua các vận cụ của y, hay các thể thái âm, và sự nhận biết đầy thiện chí tiếp theo của y đối với xung lực-ý chí của toàn thể lớn hơn của y, hay sự sống của nhóm chân ngã—một trung tâm trong thể hành tinh. |
|
369. The liberated human unit is freed from the confines of lunar life. That unit recognizes within himself the solar, will-impulse which emanates from the greater whole of which it is a part. That will-impulse is really the impulse emanating from the life of the egoic group which includes the unit. |
369. Đơn vị con người được giải thoát thì thoát khỏi những giới hạn của sự sống thái âm. Đơn vị ấy nhận ra bên trong chính mình xung lực-ý chí thái dương phát ra từ toàn thể lớn hơn mà nó là một phần trong đó. Xung lực-ý chí ấy thực ra là xung lực phát ra từ sự sống của nhóm chân ngã bao gồm đơn vị ấy. |
|
370. Notice that DK speaks of a “willing recognition” of higher will-impulses. It is not enough simply to recognize these impulses. One must be ready and willing to carry them out as if they were one’s own. |
370. Hãy lưu ý rằng Chân sư DK nói đến một “sự nhận biết đầy thiện chí” đối với các xung lực ý chí cao hơn. Chỉ đơn giản nhận ra những xung lực này thì chưa đủ. Người ta phải sẵn sàng và thiện chí thực hiện chúng như thể chúng là của chính mình. |
|
371. To live as a selfish individual is to live a life prompted by lunar impulse. To live harmoniously and in group consciousness is to live the solar or egoically-impulsed life. The Ego serves the will of the greater whole. It is responsive to the will of the Planetary Logos and seeks to promote the proper functioning of that center within the Planetary Logos of which it forms a corporate part. |
371. Sống như một cá nhân ích kỷ là sống một đời sống được thúc đẩy bởi xung lực thái âm. Sống hài hòa và trong tâm thức nhóm là sống đời sống thái dương hay được thúc đẩy bởi chân ngã. Chân ngã phụng sự ý chí của toàn thể lớn hơn. Nó đáp ứng với ý chí của Hành Tinh Thượng đế và tìm cách thúc đẩy sự vận hành đúng đắn của trung tâm ấy bên trong Hành Tinh Thượng đế mà nó tạo thành một phần tập thể. |
|
372. When lunar selfishness ceases, the human unit can become increasingly responsive to the higher will impulses which emanate from its egoic nature. |
372. Khi tính ích kỷ thái âm chấm dứt, đơn vị con người có thể ngày càng đáp ứng với các xung lực ý chí cao hơn phát ra từ bản chất chân ngã của nó. |
|
373. Let us impress upon ourselves that an egoic group is a center (probably very minor) in the planetary body. An egoic group is a relatively greater center in the body of a Globe-Lord, a smaller center in the body of the Chain-Lord and a still smaller center in the body of the Heavenly Man or Planetary Logos. |
373. Chúng ta hãy khắc sâu nơi mình rằng một nhóm chân ngã là một trung tâm (có lẽ rất nhỏ) trong thể hành tinh. Một nhóm chân ngã là một trung tâm tương đối lớn hơn trong thể của một Chúa Tể bầu hành tinh, một trung tâm nhỏ hơn trong thể của Chúa Tể Dãy và một trung tâm còn nhỏ hơn nữa trong thể của Đấng Thiên Nhân hay Hành Tinh Thượng đế. |
|
It involves atomic control, but involves also conscious subjection to the karma of the Heavenly Man. |
Điều này bao hàm sự kiểm soát nguyên tử, nhưng cũng bao hàm sự quy phục có ý thức đối với nghiệp quả của Đấng Thiên Nhân. |
|
374. The human unit in process of liberation is no longer enmeshed by karma of its own making. Since that unit has begun to identify with the life of the Heavenly Man Who includes it, the unit can begin to play a role in working out the karma of the Heavenly Man. Only human beings who can begin to live the impersonal life can become constructively involved in neutralizing the karma of the Heavenly Man. |
374. Đơn vị con người trong tiến trình giải thoát không còn bị mắc kẹt bởi nghiệp quả do chính mình tạo ra nữa. Vì đơn vị ấy đã bắt đầu đồng hoá với sự sống của Đấng Thiên Nhân bao gồm nó, nên đơn vị ấy có thể bắt đầu đóng một vai trò trong việc giải quyết nghiệp quả của Đấng Thiên Nhân. Chỉ những con người có thể bắt đầu sống đời sống vô ngã mới có thể tham gia một cách xây dựng vào việc trung hòa nghiệp quả của Đấng Thiên Nhân. |
|
Man is no longer the slave of the rhythm of matter per se, |
Con người không còn là nô lệ của nhịp điệu của chính vật chất, |
|
375. A close understanding of what is here said will reveal that we are enslaved by rhythms. We are also liberated through the expression of more goalfitting rhythms. |
375. Sự thấu hiểu sát sao điều được nói ở đây sẽ cho thấy rằng chúng ta bị nô dịch bởi những nhịp điệu. Chúng ta cũng được giải thoát nhờ sự biểu lộ của những nhịp điệu phù hợp với mục tiêu hơn. |
|
but controls it in the three worlds of his endeavour; he is still nevertheless controlled by the group karma of the planetary centre, by its influence, life and vibratory impulse. |
mà kiểm soát nó trong ba cõi giới của nỗ lực của y; tuy nhiên, y vẫn còn bị kiểm soát bởi nghiệp quả nhóm của trung tâm hành tinh, bởi ảnh hưởng, sự sống và xung lực rung động của nó. |
|
376. It is clear that a Master or Chohan (both of Them still very much part of the planetary process) are controlled by the “group karma of the planetary centre) of which They form a part. A Chohan is, after all, a “Planetary Life”. |
376. Rõ ràng là một Chân sư hay một Chohan (cả hai Vị này vẫn còn là phần rất lớn của tiến trình hành tinh) đều bị kiểm soát bởi “nghiệp quả nhóm của trung tâm hành tinh” mà Các Ngài là một phần trong đó. Rốt cuộc, một Chohan là một “Sự Sống Hành tinh”. |
|
377. At the onset of what we usually call “liberation” there is no true escape from karma. There is only escape from personal karma generated within the three lower worlds. Working constructively with planetary karma is very much focus of the Master or the Chohan. |
377. Khi khởi đầu điều mà chúng ta thường gọi là “giải thoát”, không có sự thoát khỏi nghiệp quả theo nghĩa chân thực. Chỉ có sự thoát khỏi nghiệp quả cá nhân được tạo ra trong ba cõi thấp. Làm việc một cách xây dựng với nghiệp quả hành tinh chính là trọng tâm của Chân sư hay Chohan. |
|
The same can be predicated of a Heavenly Man, and of a solar Logos. |
Điều tương tự cũng có thể được nói về một Đấng Thiên Nhân và về một Thái dương Thượng đế. |
|
378. These great Beings also achieve liberation and free themselves from a relatively individual context. They do not free themselves from the influence and karma of still greater Beings Who include them as centers, cells and atoms. |
378. Những Hữu Thể vĩ đại này cũng đạt được sự giải thoát và tự giải phóng mình khỏi một bối cảnh tương đối cá biệt. Các Ngài không tự giải phóng khỏi ảnh hưởng và nghiệp quả của những Hữu Thể còn lớn hơn nữa, là những Đấng bao gồm Các Ngài như những trung tâm, tế bào và nguyên tử. |
|
379. The purpose of all self-conscious B/beings is to free themselves from limiting karma, and through the freedom achieved, attain a greater expression of intended dharma. |
379. Mục đích của mọi hữu thể tự ý thức là tự giải phóng mình khỏi nghiệp quả giới hạn, và qua sự tự do đạt được, đạt đến một sự biểu lộ lớn hơn của dharma dự định. |
|
380. Masters and Chohans serve the Planetary Logos as both karmic and dharmic agents. |
380. Các Chân sư và Chohan phụng sự Hành Tinh Thượng đế như những tác nhân vừa nghiệp quả vừa dharma. |
|
We might, in closing, express the same thought in terms of fire, remembering that words only limit and confine the thought, and that the main reason for this mode of approach is to bring pictorially before man some aspects of the central idea. |
Khi kết thúc, chúng ta có thể diễn đạt cùng một tư tưởng theo thuật ngữ của lửa, nhớ rằng ngôn từ chỉ giới hạn và giam hãm tư tưởng, và rằng lý do chính của lối tiếp cận này là để đưa ra trước con người một cách hình tượng một số phương diện của ý tưởng trung tâm. |
|
381. DK, we see, tries many ways to impress the true nature of His thought upon us. There are so many different kinds of minds. Some will grasp the idea behind the thought through one presentation and some through another. |
381. Như chúng ta thấy, Chân sư DK thử nhiều cách để khắc ghi bản chất chân thực của tư tưởng Ngài vào chúng ta. Có rất nhiều loại trí tuệ khác nhau. Một số người sẽ nắm được ý tưởng đằng sau tư tưởng qua cách trình bày này, và một số khác qua cách trình bày khác. |
|
“Electric fire, or will-impulse” in conjunction with “fire by friction” produces light or “solar fire.” |
“Lửa Điện, hay xung lực-ý chí” kết hợp với “Lửa masát” tạo ra ánh sáng hay “Lửa Thái dương.” |
|
382. This is the ongoing and familiar presentation. |
382. Đây là cách trình bày quen thuộc và liên tục. |
|
Electric fire is force or energy of some kind, |
Lửa Điện là mãnh lực hay năng lượng thuộc một loại nào đó, |
|
383. Here, DK does not differentiate between force and energy. |
383. Ở đây, Chân sư DK không phân biệt giữa mãnh lực và năng lượng. |
|
and hence in itself [Page 803] is fundamentally an emanation. |
và do đó tự nó [Page 803] về cănbản là một phát xạ. |
|
384. Electric fire is a radiation or emanation. It goes forth from a source. |
384. Lửa Điện là một bức xạ hay một phát xạ. Nó phát ra từ một nguồn. |
|
“Fire by friction” is substance with the quality of heat as its predominant characteristic; |
“Lửa ma sát” là chất liệu với phẩm tính nhiệt là đặc tính nổi trội của nó; |
|
385. It is heat which produces activity (the nature of the third aspect of divinity), and heat which, from another perspective, is activity. |
385. Chính nhiệt tạo ra hoạt động (bản chất của phương diện thứ ba của thiên tính), và nhiệt cũng là, từ một góc nhìn khác, chính hoạt động. |
|
it is latent heat or sensation. |
nó là nhiệt tiềm ẩn hay cảm giác. |
|
386. Because of heat/activity, there exists the power to respond. Response involves movement and movement implies activity which does not exist unless there is heat (at least this is so within our three lower worlds). |
386. Vì có nhiệt/hoạt động nên tồn tại quyền năng đáp ứng. Đáp ứng bao hàm chuyển động, và chuyển động hàm ý hoạt động, điều không tồn tại nếu không có nhiệt (ít nhất điều này đúng trong ba cõi thấp của chúng ta). |
|
Both these ideas, therefore, convey the idea of duality. |
Do đó, cả hai ý tưởng này đều chuyển tải ý niệm về nhị nguyên tính. |
|
387. In the first instance and concerning electric fire, we have the source and that force or energy which emanates from the source. |
387. Trong trường hợp thứ nhất và liên quan đến Lửa Điện, chúng ta có nguồn và mãnh lực hay năng lượng phát ra từ nguồn ấy. |
|
388. In relation to fire by friction, we have both latent heat and sensation. |
388. Liên quan đến Lửa ma sát, chúng ta có cả nhiệt tiềm ẩn lẫn cảm giác. |
|
389. What we have to grasp is that without heat/activity, sensation cannot exist. When something is “cold and lifeless” there is no sensation or response. |
389. Điều chúng ta phải nắm bắt là: không có nhiệt/hoạt động thì cảm giác không thể tồn tại. Khi một cái gì đó “lạnh và vô sinh”, sẽ không có cảm giác hay đáp ứng. |
|
390. The factor of sensation also implies the presence of a conscious, experiencing E/entity which is impressed by a form of activity. |
390. Yếu tố cảm giác cũng hàm ý sự hiện diện của một Thực Thể có ý thức, đang kinh nghiệm, bị gây ấn tượng bởi một hình thức hoạt động. |
|
An emanation must have its originating source, |
Một phát xạ phải có nguồn phát sinh của nó, |
|
391. Hence the duality. |
391. Do đó có nhị nguyên tính. |
|
and heat is but the result of friction, |
và nhiệt chỉ là kết quả của ma sát, |
|
392. From one perspective, heat is based upon activity and that disruptive interplay we call “friction”. Friction, of course, necessitates motion. |
392. Từ một góc nhìn, nhiệt dựa trên hoạt động và sự tương tác gây xáo trộn mà chúng ta gọi là “ma sát”. Dĩ nhiên, ma sát đòi hỏi chuyển động. |
|
and is necessarily dual. |
và tất yếu là nhị nguyên. |
|
393. DK seems to be telling us that heat is necessarily dual. |
393. Chân sư DK dường như đang nói với chúng ta rằng nhiệt tất yếu là nhị nguyên. |
|
Both these concepts involve facts long antedating the solar system, and hidden in the Universal Mind. |
Cả hai khái niệm này đều bao hàm những sự kiện có trước hệ mặt trời từ rất lâu, và ẩn giấu trong Vũ Trụ Trí. |
|
394. Electric fire and fire by friction are energy states which long antedate the arising of the solar system. They are understood from the perspective of the Universal Mind (presumably on the cosmic mental plane). |
394. Lửa Điện và Lửa ma sát là những trạng thái năng lượng có trước rất lâu sự xuất hiện của hệ mặt trời. Chúng được thấu hiểu từ góc nhìn của Vũ Trụ Trí (có lẽ trên cõi trí vũ trụ). |
|
395. DK seems to be suggesting that unless we can penetrate the Universal Mind, we will not understand electric fire or fire by friction, per se. |
395. Chân sư DK dường như đang gợi ý rằng trừ phi chúng ta có thể xuyên nhập vào Vũ Trụ Trí, chúng ta sẽ không hiểu Lửa Điện hay Lửa ma sát, chính chúng. |
|
All that we can scientifically ascertain is the nature of that which is produced by their approximation, and this is solar fire or light. |
Tất cả những gì chúng ta có thể xác định một cách khoa học là bản chất của điều được tạo ra bởi sự tiếp cận gần của chúng, và đó là Lửa Thái dương hay ánh sáng. |
|
396. DK is telling us that electric fire, per se, and fire by friction, per se and in its own essence, are not ascertainable by our science. That which science can register is the result of the approximation of electric fire and fire by friction—namely, the solar system, demonstrating solar fire or light. |
396. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng Lửa Điện, chính nó, và Lửa ma sát, chính nó và trong bản chất riêng của nó, không thể được khoa học của chúng ta xác định. Điều mà khoa học có thể ghi nhận là kết quả của sự tiếp cận gần giữa Lửa Điện và Lửa ma sát—tức là hệ mặt trời, biểu lộ Lửa Thái dương hay ánh sáng. |
|
397. We note that, in this context, solar fire and light are equated. |
397. Chúng ta lưu ý rằng, trong bối cảnh này, Lửa Thái dương và ánh sáng được đồng nhất với nhau. |
|
These thoughts may make clear somewhat the significance of the number five, esoterically considered. Electric fire, being an emanation is essentially dual in concept, and so is fire by friction; they together produce solar fire, and thus the esoteric fifth. |
Những tư tưởng này có thể phần nào làm sáng tỏ thâm nghĩa của số năm, khi được xét một cách huyền bí. Lửa Điện, vì là một phát xạ, về bản chất là nhị nguyên trong khái niệm, và Lửa ma sát cũng vậy; cả hai cùng nhau tạo ra Lửa Thái dương, và như thế tạo nên số năm huyền bí. |
|
398. Here we have dual Spirit and dual substance, producing a unitary vehicle. Earlier in TCF we had dual material fire (latent and active), dual mental fire (mental elemental fire and solar fire), and unitary Spirit! |
398. Ở đây chúng ta có tinh thần nhị nguyên và chất liệu nhị nguyên, tạo ra một vận cụ đơn nhất. Trước đó trong Luận về Lửa Vũ Trụ, chúng ta đã có lửa vật chất nhị nguyên (tiềm ẩn và hoạt động), lửa trí tuệ nhị nguyên (lửa của hành khí trí tuệ và Lửa Thái dương), và Tinh thần đơn nhất! |
|
399. There are many ways of deriving numbers. In the foregoing discussion both electric fire and fire by friction have been considered dual, and solar fire (deriving from the approximation and interplay of the two) is considered unitary. Sometimes, however, solar fire is also considered dual, for it represents the dualistic second ray. |
399. Có nhiều cách để suy ra các con số. Trong cuộc thảo luận trên, cả Lửa Điện lẫn Lửa ma sát đều được xem là nhị nguyên, còn Lửa Thái dương (phát sinh từ sự tiếp cận gần và tương tác của hai thứ ấy) được xem là đơn nhất. Tuy nhiên, đôi khi Lửa Thái dương cũng được xem là nhị nguyên, vì nó biểu hiện cung hai nhị nguyên. |
|
400. Solar fire is the second which arises third in order. The numbers two and five are closely related, and here we see one reason why this should be the case. That which represents the second aspect (i.e., solar fire) is the “esoteric fifth”. |
400. Lửa Thái dương là cái thứ hai xuất hiện thứ ba theo thứ tự. Các số hai và năm có liên hệ mật thiết với nhau, và ở đây chúng ta thấy một lý do vì sao điều này lại như vậy. Điều biểu hiện phương diện thứ hai (tức là Lửa Thái dương) là “số năm huyền bí”. |
|
401. Interestingly, the second Cosmic Path (of Magnetic Work), which relates to the reconditioning of the second or astral plane, is pursued by man of those whose monadic ray is the fifth. |
401. Điều thú vị là Con đường Vũ trụ thứ hai (của Công Tác Từ Tính), liên quan đến việc tái tác động lên cõi thứ hai hay cõi cảm dục, được theo đuổi bởi những con người có cung chân thần là cung năm. |
|
402. The numbers two and five are also closely related in the expression of the Fifth Creative Hierarchy of Solar Angels. |
402. Các số hai và năm cũng liên hệ mật thiết với nhau trong sự biểu lộ của Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm của các Thái dương Thiên Thần. |
|
It will be apparent that when a man speaks of karma, he is dealing with something much wider than the interplay of effect and cause within the sphere of his own individual routine. He is, in all things, governed by causes originating in the aggregate of lives which form his egoic group, by the aggregate of groups which form one petal in a centre of a Heavenly Man, by force or purpose circulating through a triangle of centres, and by the life energy or purposeful will of the planetary Logos Himself. |
Cần lưu ý rằng khi con người nói về nghiệp quả, y đang bàn đến một điều rộng lớn hơn rất nhiều so với sự tương tác giữa kết quả và nguyên nhân trong phạm vi nếp sống cá nhân riêng của y. Trong mọi sự, y đều bị chi phối bởi các nguyên nhân phát sinh từ tổng thể các sự sống tạo thành nhóm chân ngã của y, bởi tổng thể các nhóm tạo thành một cánh hoa trong một trung tâm của một Đấng Thiên Nhân, bởi mãnh lực hay mục đích lưu chuyển qua một tam giác các trung tâm, và bởi năng lượng sự sống hay ý chí có mục đích của chính Hành Tinh Thượng đế. |
|
Finally he is governed by the will of the solar Logos as it demonstrates itself in initiatory activity. |
Sau cùng, y bị chi phối bởi ý chí của Thái dương Thượng đế khi ý chí ấy biểu lộ trong hoạt động điểm đạo. |
|
403. DK has immensely extended the consideration of the origins of karma and the forces by which man is governed and conditioned. Let us tabulate: |
403. Chân sư DK đã mở rộng vô cùng lớn việc xem xét các nguồn gốc của nghiệp quả và các mãnh lực chi phối và tác động lên con người. Chúng ta hãy lập bảng: |
|
a. Man is conditioned by those karmic forces which are the result of the interplay of cause and effect within the sphere of his own individual routine |
a. Con người bị tác động bởi những mãnh lực nghiệp quả là kết quả của sự tương tác giữa nguyên nhân và kết quả trong phạm vi nếp sống cá nhân riêng của y |
|
b. Man is karmically governed by causes originating in the aggregate of lives which form his egoic group |
b. Con người bị chi phối về mặt nghiệp quả bởi các nguyên nhân phát sinh từ tổng thể các sự sống tạo thành nhóm chân ngã của y |
|
c. Man is karmically governed by the aggregate of groups which form one petal in a centre of a Heavenly Man. Here we have fresh light upon the manner in which egoic groups participate in the life of a center of a Heavenly Man: they form one petal in such a center. |
c. Con người bị chi phối về mặt nghiệp quả bởi tổng thể các nhóm tạo thành một cánh hoa trong một trung tâm của một Đấng Thiên Nhân. Ở đây chúng ta có ánh sáng mới về cách các nhóm chân ngã tham dự vào sự sống của một trung tâm của một Đấng Thiên Nhân: chúng tạo thành một cánh hoa trong trung tâm ấy. |
|
d. Man is karmically governed by force or purpose circulating through a triangle of centres |
d. Con người bị chi phối về mặt nghiệp quả bởi mãnh lực hay mục đích lưu chuyển qua một tam giác các trung tâm |
|
e. Man is karmically governed by the life energy or purposeful will of the planetary Logos Himself. |
e. Con người bị chi phối về mặt nghiệp quả bởi năng lượng sự sống hay ý chí có mục đích của chính Hành Tinh Thượng đế. |
|
f. Finally man is karmically governed by the will of the Solar Logos as it demonstrates itself in initiatory activity—setting fundamental rhythms to which all lives within a solar system must, perforce, respond. |
f. Sau cùng, con người bị chi phối về mặt nghiệp quả bởi ý chí của Thái dương Thượng đế khi ý chí ấy biểu lộ trong hoạt động điểm đạo—thiết lập những nhịp điệu căn bản mà mọi sự sống trong một hệ mặt trời đều buộc phải đáp ứng. |
|
Beyond this we need hardly go, but enough has been said to show that every human atom is under the dominance of forces outside his own consciousness, which sweep him and others into situations from which there is no escape, and which are to him incomprehensible. |
Vượt quá điều này, chúng ta hầu như không cần đi xa hơn, nhưng như thế cũng đủ để cho thấy rằng mỗi nguyên tử nhân loại đều nằm dưới sự thống trị của những mãnh lực ở ngoài tâm thức riêng của y, cuốn y và những người khác vào những tình huốngkhông thể thoát ra, và đối với y thì không thể nào hiểu nổi. |
|
404. There is no freewill in relation to such governance. There is no escape from it. And, there is no understanding of the true nature and origin of such karmic causes. Man has, perforce, to accept them and make the best of them, using them to improve the quality of his consciousness and skillful response to circumstance. |
404. Không có tự do ý chí nào liên hệ đến sự chi phối như thế. Không có sự thoát khỏi nó. Và cũng không có sự thấu hiểu bản chất và nguồn gốc đích thực của những nguyên nhân nghiệp quả như thế. Con người, do bắt buộc, phải chấp nhận chúng và tận dụng tốt nhất có thể, dùng chúng để cải thiện phẩm tính tâm thức của mình và khả năng đáp ứng khéo léo với hoàn cảnh. |
|
This has been at no time better illustrated than in the event of the late war and in present world conditions; these are effects of causes having their origin in the renewed activity of a certain planetary triangle, and in the vibration set up by our planetary Logos on the moon-chain, [Page 804] and which had a faint beginning in an earlier solar system. |
Điều này chưa từng được minh họa rõ hơn qua biến cố của cuộc chiến vừa qua và trong các điều kiện thế giới hiện nay; đó là những kết quả của các nguyên nhân có nguồn gốc trong hoạt động được đổi mới của một tam giác hành tinh nào đó, và trong rung động do Hành Tinh Thượng đế của chúng ta thiết lập trên Dãy Mặt Trăng, [Page 804] và đã có một khởi đầu mờ nhạt trong một hệ mặt trời trước đây. |
|
405. When DK speaks here of a “certain planetary triangle” we do not know whether the triangle is intra-planetary (and thus within the planetary scheme and perchance involving planetary chains or certain globes) or extra-planetary (thus involving the Earth and two to three other Planetary Logoi. |
405. Khi Chân sư DK nói ở đây về “một tam giác hành tinh nào đó”, chúng ta không biết tam giác ấy là tam giác nội-hành tinh (và như thế ở trong hệ hành tinh, có lẽ liên quan đến các Dãy hành tinh hay một số bầu hành tinh nào đó) hay ngoại-hành tinh (như thế liên quan đến Trái Đất và hai đến ba Hành Tinh Thượng đế khác). |
|
406. We are alerted to the fact that this triangle was active prior to the period of the First WW, perhaps ages ago for the activity of this triangle has been “renewed”. |
406. Chúng ta được báo cho biết rằng tam giác này đã hoạt động trước thời kỳ Thế Chiến thứ Nhất, có lẽ từ nhiều thời đại trước, vì hoạt động của tam giác này đã được “đổi mới”. |
|
407. We might expect that such planets as Mars, Vulcan and Pluto were active, and Venus as well (offering the ideal of the soul). |
407. Chúng ta có thể chờ đợi rằng những hành tinh như Sao Hỏa, Vulcan và Sao Diêm Vương đã hoạt động, và cả Sao Kim nữa (cung ứng lý tưởng của linh hồn). |
|
408. The vibration established upon on the Moon-chain was probably not a positive vibration and may have had its effective origin in the previous solar system. |
408. Rung động được thiết lập trên Dãy Mặt Trăng có lẽ không phải là một rung động tích cực và có thể đã có nguồn gốc hữu hiệu của nó trong hệ mặt trời trước. |
|
409. Thus, another triangle can be inferred: influences from the previous solar system; influences originating on the Moon-chain; conditions (resonant to both these antecedent causes) existent on our planet at the time of the war. |
409. Như vậy, có thể suy ra một tam giác khác: các ảnh hưởng từ hệ mặt trời trước; các ảnh hưởng phát sinh trên Dãy Mặt Trăng; các điều kiện (cộng hưởng với cả hai nguyên nhân tiền nhiệm này) hiện hữu trên hành tinh chúng ta vào thời chiến tranh. |
|
410. Is DK suggesting something about the functioning of our Planetary Logos in a previous solar system? We have many times gathered that the Planetary Logos of the Earth did, indeed, exist in the immediately previous solar system as did certain other planets, such as Mercury and, certainly, Saturn. |
410. Có phải Chân sư DK đang gợi ý điều gì đó về hoạt động của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta trong một hệ mặt trời trước đây chăng? Chúng ta đã nhiều lần nhận thấy rằng Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất quả thực đã hiện hữu trong hệ mặt trời ngay trước đó, cũng như một số hành tinh khác, như Sao Thủy và chắc chắn là Sao Thổ. |
|
411. We gather that the forceful arising of certain ancient vibrations (possibly evoked by the approach of the Good—as “Perfection calls imperfection to the surface”) were responsible for WWI and its continuation as WWII—both constituting the “Great War”. |
411. Chúng ta hiểu rằng sự trỗi dậy mãnh liệt của một số rung động cổ xưa nào đó (có thể được gợi lên bởi sự tiếp cận của Điều Thiện—vì “Sự Toàn Thiện gọi sự bất toàn trồi lên bề mặt”) đã chịu trách nhiệm cho Thế Chiến I và sự tiếp diễn của nó thành Thế Chiến II—cả hai cùng cấu thành “Đại Chiến”. |
|
This vibration impinged primarily upon certain atoms and groups of atoms in His body, principally those composing the human and animal kingdoms, and produced the apparently dire results which we have been witnessing. |
Rung động này tác động chủ yếu lên một số nguyên tử và nhóm nguyên tử nào đó trong thể của Ngài, chủ yếu là những nguyên tử cấu thành giới nhân loại và giới động vật, và đã tạo ra những kết quả có vẻ thảm khốc mà chúng ta đã chứng kiến. |
|
412. The atoms here mentioned are human and animal units. |
412. Những nguyên tử được nhắc đến ở đây là các đơn vị người và động vật. |
|
413. The atoms upon which the vibration impinged must have been peculiarly responsive to that vibration. May they have been atoms characterized to a high degree by selfishness (i.e., atoms highly conditioned by the lunar nature rather than the solar)? |
413. Những nguyên tử mà rung động ấy tác động vào hẳn phải đáp ứng một cách đặc biệt với rung động đó. Có thể nào đó là những nguyên tử được đặc trưng ở mức độ cao bởi tính ích kỷ (tức là những nguyên tử bị tác động mạnh bởi bản chất nguyệt hơn là bản chất thái dương) chăng? |
|
So great was the effect of His energy, that the vegetable kingdom was somewhat (though not so much) affected, and the mineral kingdom felt the effect in a startling manner, |
Ảnh hưởng của năng lượng của Ngài lớn lao đến mức, giới thực vật cũng bị ảnh hưởng phần nào (dù không nhiều đến thế), và giới kim thạch cảm nhận ảnh hưởng ấy một cách đáng kinh ngạc, |
|
414. Nuclear chain reactions are “startling”. |
414. Các phản ứng dây chuyền hạt nhân là “đáng kinh ngạc”. |
|
far more than the vegetable kingdom and almost as much as the animal. |
nhiều hơn giới thực vật rất nhiều và gần như nhiều bằng giới động vật. |
|
415. Mars is largely the ruler of the animal kingdom, and, thus, the thought of its involvement as part of the planetary triangle mentioned. |
415. Sao Hỏa phần lớn là chủ tinh của giới động vật, và do đó có ý nghĩ rằng nó có liên hệ như một phần của tam giác hành tinh được nhắc đến. |
|
416. Vulcan is the ruler of the mineral kingdom, hence, likewise, the reason for including it within the proposed planetary triangle. |
416. Vulcan là chủ tinh của giới kim thạch, vì thế cũng là lý do để đưa nó vào trong tam giác hành tinh được đề nghị. |
|
417. Or, perhaps there have been chains and globes responsive to such planetary influences. |
417. Hoặc có lẽ đã có những Dãy và những bầu hành tinh đáp ứng với các ảnh hưởng hành tinh như thế. |
|
418. The vegetable kingdom is ruled by Venus. To what extent should Venus be implicated in that war, except for the fact that it represents the emergent soul in humanity? |
418. Giới thực vật được cai quản bởi Sao Kim. Sao Kim nên bị quy vào cuộc chiến ấy đến mức nào, ngoại trừ sự kiện rằng nó tượng trưng cho linh hồn đang nổi lên trong nhân loại? |
|
419. We may further conclude that our Planetary Logos, Himself, was very much involved in impulsing the first phase of the Great War. |
419. Chúng ta còn có thể kết luận thêm rằng chính Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đã can dự rất nhiều vào việc thúc đẩy giai đoạn đầu của Đại Chiến. |
|
Here we have a setting of circumstances outside human and even group control, which illustrates the helplessness of man in certain conditions, |
Ở đây chúng ta có một sự an bài các hoàn cảnh nằm ngoài sự kiểm soát của con người và ngay cả của nhóm, điều này minh họa sự bất lực của con người trong một số điều kiện nhất định, |
|
420. Millions of human beings were the victims of an enforced sacrifice, necessitated through the imposition of the Will of the Planetary Logos, and other equally high (and probably still greater) sources of Will. |
420. Hàng triệu con người là nạn nhân của một sự hi sinh bị cưỡng bách, cần thiết do sự áp đặt của Ý Chí của Hành Tinh Thượng đế, và của những nguồn Ý Chí cao cả khác tương đương (và có lẽ còn lớn hơn nữa). |
|
421. Not only could man not control the circumstances which drove him into inevitable sacrifice, but groups, as well, could not exert any control. |
421. Không những con người không thể kiểm soát các hoàn cảnh đã đẩy y vào sự hi sinh không thể tránh khỏi, mà các nhóm cũng không thể thực hiện bất kỳ sự kiểm soát nào. |
|
and which serves to bring in factors apparently apart from the individual vibration of the fourth kingdom. |
và điều này giúp đưa vào những yếu tố dường như tách biệt khỏi rung động cá nhân của giới thứ tư. |
|
422. DK has been enumerating various energies and forces which affect the human unit and the human kingdom and over which no human control can possibly be exerted. This is part of His attempt to indicate the greater and often more remote causes of the karmic conditions presently facing the human kingdom and the individual human being. |
422. Chân sư DK đã liệt kê nhiều năng lượng và mãnh lực khác nhau ảnh hưởng đến đơn vị người và giới nhân loại, và trên đó không thể nào có bất kỳ sự kiểm soát nào của con người. Đây là một phần trong nỗ lực của Ngài nhằm chỉ ra những nguyên nhân lớn hơn và thường xa hơn của các điều kiện nghiệp quả hiện đang đối diện giới nhân loại và từng con người. |
|
Nevertheless, within limits, man definitely does “control his destiny,” and can initiate action which produces effects recognisable by him as being dependent upon his activity along a particular line. |
Tuy nhiên, trong những giới hạn nhất định, con người quả thực “kiểm soát số phận của mình,” và có thể khởi xướng hành động tạo ra những kết quả có thể nhậnbiết đối với y như là tùy thuộc vào hoạt động của y theo một đường lối nhất định. |
|
423. Though individual man is helpless to alter the course of great causes arising from great systemic and cosmic sources, he does, at least, have some control over his individual destiny. |
423. Dù cá nhân con người bất lực trong việc thay đổi tiến trình của những nguyên nhân lớn phát sinh từ các nguồn hệ thống và vũ trụ lớn lao, ít nhất y vẫn có một mức độ kiểm soát nào đó đối với số phận cá nhân của mình. |
|
424. When dealing with karma, we are always dealing with the principle of limitation and the energy and force of the planet which sets limits—Saturn. |
424. Khi bàn đến nghiệp quả, chúng ta luôn luôn đang bàn đến nguyên khí của sự giới hạn và năng lượng cùng mãnh lực của hành tinh đặt ra các giới hạn—Sao Thổ. |
|
425. It is important for the human being to develop a balanced attitude, recognizing those conditions and circumstances over which he has no possible control and those over which he may exert a degree of control. |
425. Điều quan trọng đối với con người là phát triển một thái độ quân bình, nhận ra những điều kiện và hoàn cảnh mà y hoàn toàn không thể kiểm soát, và những điều mà y có thể thực hiện một mức độ kiểm soát nào đó. |
|
426. To say this reminds one of the Serenity Prayer of St. Francis, who, according to reasonable astrological hypothesis was a Libran—perhaps the major sign of karma and one in which the planet Saturn has unique potency. |
426. Nói điều này khiến người ta nhớ đến Lời Cầu Nguyện về sự Tĩnh Lặng của Thánh Francis, người mà theo giả thuyết chiêm tinh hợp lý là một người Thiên Bình—có lẽ là dấu hiệu hoàng đạo chính yếu của nghiệp quả và là một dấu hiệu trong đó hành tinh Sao Thổ có uy lực độc đáo. |
|
He does, on a miniature scale, repeat the procedure of the Logos on a vaster scale, and thus is the arbiter of his own destiny, the producer of his own drama, the architect of his own home, and the initiator of his own affairs. |
Y quả thực, trên một quy mô thu nhỏ, lặp lại tiến trình của Thượng đế trên một quy mô rộng lớn hơn, và do đó là người phân xử số phận của chính mình, người tạo ra vở kịch của chính mình, kiến trúc sư của chính ngôi nhà mình, và người khởi xướng những công việc của chính mình. |
|
427. DK discusses the control which man may exert upon his own destiny in a variety of ways. Let us tabulate them for impact: Within limits, man is— |
427. Chân sư DK bàn về sự kiểm soát mà con người có thể thực hiện đối với số phận của chính mình theo nhiều cách khác nhau. Chúng ta hãy lập bảng để tạo ấn tượng: Trong những giới hạn nhất định, con người là— |
|
a. The arbiter of his own destiny |
a. Người phân xử số phận của chính mình |
|
b. The producer of his own drama. Is he the author and director as well? |
b. Người tạo ra vở kịch của chính mình. Y có phải là tác giả và đạo diễn nữa không? |
|
c. The architect of his own home. ‘You built your house. Now live in it.’ ‘You made your own bed. No lie in it.’ |
c. Kiến trúc sư của chính ngôi nhà mình. ‘Bạn đã xây ngôi nhà của mình. Giờ hãy sống trong đó.’ ‘Bạn đã tự dọn giường cho mình. Giờ hãy nằm trên đó.’ |
|
d. The initiator of his own affairs. |
d. Người khởi xướng những công việc của chính mình. |
|
428. We gather from what is said that, as human beings, we are both controlling and controlled and that we must understand the balance between these two conditions. |
428. Từ những gì được nói ra, chúng ta hiểu rằng, với tư cách những con người, chúng ta vừa kiểm soát vừa bị kiểm soát, và rằng chúng ta phải hiểu sự quân bình giữa hai điều kiện này. |
|
429. It would behoove us to make lists of those conditions and circumstances over which we seem to have a degree of control and those over which we have none. |
429. Chúng ta nên lập danh sách những điều kiện và hoàn cảnh mà dường như chúng ta có một mức độ kiểm soát nào đó, và những điều mà chúng ta không có chút nào. |
|
Though he may be the meeting place of forces outside his control, yet he can utilize force, circumstance and environment and can turn them, if he so will, to his own ends. |
Dù y có thể là nơi gặp gỡ của những mãnh lực nằm ngoài sự kiểm soát của mình, nhưng y vẫn có thể sử dụng mãnh lực, hoàn cảnh và môitrường, và có thể xoay chuyển chúng, nếu y muốn, theo những mục đích riêng của mình. |
|
430. We are reminded of the sailor who must sail into the wind. If he knows what he is doing, he may utilize this counterforce to his advantage, thus propelling his craft forward. |
430. Điều này nhắc chúng ta nhớ đến người thủy thủ phải chèo thuyền ngược gió. Nếu biết mình đang làm gì, ông có thể sử dụng phản lực này để có lợi cho mình, nhờ đó đẩy con thuyền tiến lên phía trước. |
|
431. Thus, even if man cannot stem the forces which will impact him, he can, to a degree, utilize such forces in a constructive manner. In his own little sphere, he can turn evil into good, and adversity into advantage. |
431. Như vậy, ngay cả nếu con người không thể ngăn chặn những mãnh lực sẽ tác động đến mình, y vẫn có thể, ở một mức độ nào đó, sử dụng những mãnh lực ấy theo cách xây dựng. Trong khối cầu nhỏ bé của riêng mình, y có thể biến điều ác thành điều thiện, và nghịch cảnh thành lợi thế. |
|
The working out of karmic law in a man’s own life might be broadly divided into three divisions, in each of which a different type of energy is demonstrating, producing effects upon the lower and higher bodies of a definite nature. |
Sự vận hành của định luật nghiệp quả trong đời sống riêng của một người có thể được chia rộng ra thành ba phần, trong mỗi phần một loại năng lượng khác nhau đang biểu lộ, tạo ra những kết quả có bản chất xác định trên các thể thấp và cao. |
|
432. In this entire commentary we have been dealing with karma and its working out. |
432. Trong toàn bộ phần bình luận này, chúng ta đã bàn đến nghiệp quả và sự vận hành của nó. |
|
433. DK seeks to help us structure our thought process in relation to this subject. |
433. Chân sư DK tìm cách giúp chúng ta cấu trúc tiến trình tư tưởng của mình liên hệ đến chủ đề này. |
|
434. Now we are to consider three divisions applicable to the working out of karmic law in a man’s life. |
434. Giờ đây chúng ta sẽ xem xét ba phần áp dụng cho sự vận hành của định luật nghiệp quả trong đời sống của một người. |
|
435. Division One: |
435. Phần Một: |
|
In the very early stages, when man is scarcely more than an animal, |
Trong những giai đoạn rất sớm, khi con người hầu như chưa hơn gì một con vật, |
|
436. This is the stage of individualized “animal-man”. |
436. Đây là giai đoạn của “người thú” đã được biệt ngã hóa. |
|
the vibratory activity of the atoms of his three sheaths (and of the lowest primarily) |
hoạt động rung động của các nguyên tử trong ba thể của y (và chủ yếu là thể thấp nhất) |
|
437. The physical body, primarily… |
437. Chủ yếu là thể xác… |
|
governs all actions on his part. |
chi phối mọi hành động của y. |
|
438. Man is entirely governed by his lunar nature and, especially, by the lowest of the four elementals—the physical elemental. |
438. Con người hoàn toàn bị chi phối bởi bản chất nguyệt của mình và đặc biệt bởi hành khí thấp nhất trong bốn hành khí—tinh linh thể xác. |
|
He is the victim of the vibratory activity of physical substance, and much that occurs is the [Page 805] consequence of the interaction between the Ego and its lowest manifestation, the physical sheath. |
Y là nạn nhân của hoạt động rung động của chất liệu hồng trần, và phần lớn những gì xảy ra là [Page 805] hệ quả của sự tương tác giữa Chân ngã và biểu hiện thấp nhất của nó, thể xác. |
|
439. Though the stage is primitive, the Ego nevertheless interacts with the man’s life in the three worlds. |
439. Dù giai đoạn này còn nguyên sơ, Chân ngã vẫn tương tác với đời sống của con người trong ba cõi giới. |
|
440. The attention of the Ego on its own plane (such attention as there is) is directed to the physical vehicle. |
440. Sự chú ý của Chân ngã trên cõi riêng của nó (chừng nào còn có sự chú ý ấy) được hướng về vận cụ hồng trần. |
|
441. We note that the man is considered a “victim”. He has very little or no control over his physical substance. He is not self-directing. |
441. Chúng ta lưu ý rằng con người được xem là một “nạn nhân”. Y có rất ít hoặc không có sự kiểm soát nào đối với chất liệu hồng trần của mình. Y không tự định hướng được. |
|
The centre of attention is the physical body and only faintly are the two subtler bodies responding. |
Trung tâm của sự chú ý là thể xác và chỉ một cách mờ nhạt hai thể vi tế hơn mới đang đáp ứng. |
|
442. The period of development indicated is principally that of the organizing and unfoldment of the first petal of the egoic lotus. The focus is definitely within the first tier of petals. The man is engaged in work within the Hall of Ignorance. |
442. Thời kỳ phát triển được chỉ ra chủ yếu là thời kỳ tổ chức và khai mở cánh hoa thứ nhất của Hoa Sen Chân Ngã. Trọng điểm rõ rệt nằm trong tầng cánh hoa thứ nhất. Con người đang dấn thân vào công việc trong Phòng Vô Minh. |
|
443. There is response from the astral body and mental body while within the Hall of Ignorance, but the astral and mental natures are not fully developed until subsequent tiers are unfolded. |
443. Có sự đáp ứng từ thể cảm dục và thể trí khi còn ở trong Phòng Vô Minh, nhưng bản chất cảm dục và trí tuệ chưa phát triển đầy đủ cho đến khi các tầng tiếp theo được khai mở. |
|
The egoic impulse is slow and heavy, |
Xung lực chân ngã chậm chạp và nặng nề, |
|
444. This means that the Ego is only rarely attending to the outer personality and that its impacts are not aimed at producing delicacy of response but only in establishing basic, necessitous conditions. |
444. Điều này có nghĩa là Chân ngã chỉ hiếm khi chú ý đến phàm ngã bên ngoài và các tác động của nó không nhằm tạo ra sự tinh tế trong đáp ứng mà chỉ nhằm thiết lập những điều kiện căn bản và cần thiết. |
|
and the vibration is directed to producing response between the egoic consciousness and the atoms of the physical body. |
và rung động được hướng đến việc tạo ra sự đáp ứng giữa tâm thức chân ngã và các nguyên tử của thể xác. |
|
445. The Ego is not attempting to influence or refine the astral and mental bodies. Its work is concentrated upon rendering the physical body increasingly responsive (albeit crudely responsive) to egoic impulses. |
445. Chân ngã không tìm cách ảnh hưởng hay tinh luyện thể cảm dục và thể trí. Công việc của nó tập trung vào việc làm cho thể xác ngày càng đáp ứng hơn (dù là đáp ứng một cách thô sơ) với các xung lực chân ngã. |
|
The physical permanent atom is more active than the other two. |
Nguyên tử trường tồn hồng trần hoạt động mạnh hơn hai nguyên tử kia. |
|
446. This is the case throughout development in the first tier of petals, and, in fact, even until the sixth petal is unfolded, at which time the astral permanent atom is equally vibrant as the physical permanent atom. |
446. Điều này đúng trong suốt quá trình phát triển ở tầng cánh hoa thứ nhất, và thật ra còn kéo dài cho đến khi cánh hoa thứ sáu được khai mở; lúc ấy nguyên tử trường tồn cảm dục rung động ngang bằng với nguyên tử trường tồn hồng trần. |
|
It is the aspect of “fire by friction” which is fanned by the egoic breath, with a triple object in view: |
Đó là phương diện của “Lửa ma sát” được quạt lên bởi hơi thở chân ngã, với ba mục tiêu được nhắm đến: |
|
447. We note the interesting term “egoic breath” connoting the outgoing influence of the Ego upon the lower sheaths. |
447. Chúng ta lưu ý thuật ngữ thú vị “hơi thở chân ngã”, hàm ý ảnh hưởng hướng ngoại của Chân ngã lên các thể thấp. |
|
448. The term “fanned” is also used. We recall the “fanning of the spark of mind” for which the Solar Angel is responsible. |
448. Thuật ngữ “quạt lên” cũng được dùng. Chúng ta nhớ đến việc “quạt lên tia lửa của trí tuệ” mà Thái dương Thiên Thần chịu trách nhiệm. |
|
449. We can conclude that the fanning which occurs in those early days occurs through the emanation of the egoic breath (or, perhaps we could call it the ‘Breath of the Solar Angel’). In this context, egoic breathing is fanning. |
449. Chúng ta có thể kết luận rằng sự quạt lên xảy ra trong những ngày đầu ấy diễn ra qua sự phát xạ của hơi thở chân ngã (hay có lẽ chúng ta có thể gọi đó là ‘Hơi Thở của Thái dương Thiên Thần’). Trong bối cảnh này, hơi thở chân ngã là sự quạt lên. |
|
450. We must remember that fire by friction is not only physical, but is an aspect of energy found within the astral body and lower mental body as well. |
450. Chúng ta phải nhớ rằng Lửa ma sát không chỉ là hồng trần, mà còn là một phương diện của năng lượng được tìm thấy trong thể cảm dục và thể hạ trí nữa. |
|
451. In the early days of the working out of karmic law, the Ego seeks to achieve three results. |
451. Trong những ngày đầu của sự vận hành định luật nghiệp quả, Chân ngã tìm cách đạt được ba kết quả. |
|
a. Co-ordinating the physical body. |
a. Phối hợp thể xác. |
|
452. The physical body of early man was, we are told, ill-coordinated. One of the first necessities was the coordination of the physical body with the etheric body. Success with respect to this coordination was the mark of an early form of initiation. |
452. Thể xác của con người thời kỳ đầu, như chúng ta được cho biết, là thiếu phối hợp. Một trong những nhu cầu đầu tiên là sự phối hợp thể xác với thể dĩ thái. Thành công đối với sự phối hợp này là dấu hiệu của một hình thức điểm đạo sơ kỳ. |
|
b. Increasing the resistance of the etheric web, a work which was only carried to the desired point by the middle of the Atlantean root-race. |
b. Gia tăng sức kháng cự của màng dĩ thái, một công việc chỉ được đưa đến mức mong muốn vào khoảng giữa giống dân gốc Atlantis. |
|
453. We see that millions of years were required to strengthen the resistance of the etheric web. |
453. Chúng ta thấy rằng cần đến hàng triệu năm để tăng cường sức kháng cự của màng dĩ thái. |
|
454. If the etheric web was not sufficiently resistant, may we conclude that man was very passive to influences reaching him via the astral plane. Such a condition may well have furthered the psychism for which the Atlanteans were renowned. |
454. Nếu màng dĩ thái không đủ sức kháng cự, liệu chúng ta có thể kết luận rằng con người đã rất thụ động trước những ảnh hưởng đến với mình qua cõi cảm dục không? Một điều kiện như thế rất có thể đã thúc đẩy tính thông linh mà người Atlantis nổi tiếng. |
|
455. May the sufficient strengthening of the etheric web have coincided with that period of man’s development when his mental apparatus was growing in strength. We have read that in the middle of the Atlantean rootrace, the foremost members of the human race were becoming increasingly mentally focussed. |
455. Liệu việc tăng cường đầy đủ màng dĩ thái có trùng hợp với thời kỳ phát triển của con người khi bộ máy trí tuệ của y đang tăng trưởng sức mạnh không? Chúng ta đã đọc rằng vào giữa giống dân gốc Atlantis, những thành viên tiên tiến nhất của nhân loại ngày càng trở nên tập trung trí tuệ hơn. |
|
c. Bringing certain of the lower centres to the necessary stage of expression. |
c. Đưa một số trung tâm thấp đến giai đoạn biểu lộ cần thiết. |
|
456. Why does DK not specify which centers? He may mean the base of the spine center, the sacral center and the solar plexus center, but He may also be including the spleen. There are other, lesser and more ancient centers which it would not be the goal of early man to cultivate but, rather, to see subdued. |
456. Tại sao Chân sư DK không chỉ rõ là những trung tâm nào? Ngài có thể muốn nói đến trung tâm đáy cột sống, trung tâm xương cùng và trung tâm tùng thái dương, nhưng Ngài cũng có thể bao gồm cả luân xa lá lách. Còn có những trung tâm khác, nhỏ hơn và cổ xưa hơn, mà mục tiêu của con người thời kỳ đầu không phải là vun bồi, mà đúng hơn là thấy chúng bị chế ngự. |
|
The heat of the atoms in the bodies is increased during this stage, and their atomic life co-ordinated, while the triangle between the three permanent atoms becomes a demonstrable fact and not a faint indication. |
Nhiệt của các nguyên tử trong các thể được gia tăng trong giai đoạn này, và sự sống nguyên tử của chúng được phối hợp, trong khi tam giác giữa ba nguyên tử trường tồn trở thành một sự kiện có thể chứng minh được chứ không còn là một dấu hiệu mờ nhạt.. |
|
457. Three more effects are found during this first phase of the outworking of karmic law: |
457. Ba hiệu quả nữa được tìm thấy trong giai đoạn đầu tiên này của sự vận hành định luật nghiệp quả: |
|
a. The heat of the atoms in the three bodies in increased. |
a. Nhiệt của các nguyên tử trong ba thể được gia tăng. |
|
b. The atomic life of these atoms is coordinated |
b. Sự sống nguyên tử của các nguyên tử này được phối hợp |
|
c. The three permanent atoms are related in triangular formation. The triangle, however, is still weak, and will not be strong until the phase of initiation is reached. |
c. Ba nguyên tử trường tồn được liên hệ trong sự hình thành tam giác. Tuy nhiên, tam giác này vẫn còn yếu, và sẽ không mạnh cho đến khi đạt đến giai đoạn điểm đạo. |
|
458. Thus, six developments in all occur during this first period of karmic expression: |
458. Như vậy, tổng cộng có sáu sự phát triển xảy ra trong thời kỳ đầu tiên này của sự biểu lộ nghiệp quả: |
|
a. The physical body is coordinated |
a. Thể xác được phối hợp |
|
b. The resistance of the etheric web is increased |
b. Sức kháng cự của màng dĩ thái được gia tăng |
|
c. Certain of the lower centers are brought to a necessary level of expression |
c. Một số trung tâm thấp được đưa đến mức biểu lộ cần thiết |
|
d. The heat of the atoms in the three bodies is increased. |
d. Nhiệt của các nguyên tử trong ba thể được gia tăng. |
|
e. The atomic life of these atoms is coordinated |
e. Sự sống nguyên tử của các nguyên tử này được phối hợp |
|
d. The three permanent atoms are related in triangular formation |
d. Ba nguyên tử trường tồn được liên hệ trong sự hình thành tam giác |
|
459. We are reminded that in each of these three phases, the law of karma or of karmic influence is seeking to effect certain ends within the vehicles of man in the lower three worlds. |
459. Chúng ta được nhắc rằng trong mỗi một trong ba giai đoạn này, định luật nghiệp quả hay ảnh hưởng nghiệp quả đang tìm cách thực hiện những mục đích nhất định trong các vận cụ của con người ở ba cõi thấp. |
|
460. Division Two: |
460. Phần Hai: |
|
During the second stage, the law of karma or karmic influence (through the inevitable reflex action produced by the increased activity of the sheaths) turns its attention to the working out of desire, and its transmutation into the higher aspiration. |
Trong giai đoạn thứ hai, định luật nghiệp quả hay ảnh hưởng nghiệp quả (qua phản ứng phản hồi tất yếu do hoạt động gia tăng của các thể tạo ra) chuyển sự chú ý của nó sang sự vận hành của dục vọng, và sự chuyển hoá của nó thành khát vọng cao hơn. |
|
461. When the outworking with respect to the physical body has been sufficiently accomplished, a reflex action turns the direction and application of the law of karmic influence towards the astral body. The goal is the “working out of desire and its transmutation into the higher aspiration”. |
461. Khi sự vận hành liên quan đến thể xác đã được hoàn thành đầy đủ, một phản ứng phản hồi sẽ chuyển hướng và sự áp dụng của định luật ảnh hưởng nghiệp quả về phía thể cảm dục. Mục tiêu là “sự vận hành của dục vọng và sự chuyển hoá của nó thành khát vọng cao hơn”. |
|
462. We may judge that the major focus of egoic attention is the love petals (for the astral plane). |
462. Chúng ta có thể phán đoán rằng trọng tâm chính của sự chú ý chân ngã là các cánh hoa bác ái (đối với cõi cảm dục). |
|
Through experience, the pairs of opposites are recognised by the Thinker, and he becomes no longer the victim of the vibratory impulses of his physical body; |
Qua kinh nghiệm, các cặp đối đãi được nhận ra bởi Kẻ Tư Tưởng, và y không còn là nạn nhân của các xung lực rung động của thể xác nữa; |
|
463. We may recall that the recognition of the pairs of opposites is particularly associated with the development and unfoldment of the fourth petal. |
463. Chúng ta có thể nhớ rằng sự nhận ra các cặp đối đãi đặc biệt gắn liền với sự phát triển và khai mở cánh hoa thứ tư. |
|
1. The Petal of Knowledge, for the astral plane; unfoldment is brought about by the conscious balancing of the pairs of opposites, and the gradual utilisation of the Law of Attraction and Repulsion. (TCF 540) |
1. Cánh hoa tri thức, đối với cõi cảm dục; sự khai mở được mang lại bởi sự quân bình có ý thức các cặp đối đãi, và sự sử dụng dần dần Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. (TCF 540) |
|
464. The astral plane is particularly that dimension in the life of man which presents the challenge of duality, and this even though it is the only unitary body of the three personality vehicles. |
464. Cõi cảm dục đặc biệt là chiều kích trong đời sống con người trình bày thách thức của nhị nguyên tính, dù rằng nó là thể duy nhất trong ba vận cụ phàm ngã. |
|
the factor of intelligent choice becomes apparent. |
yếu tố của sự lựa chọn thông minh trở nên hiển nhiên. |
|
465. We will naturally find the presence of Libra, Saturn and the third ray. |
465. Chúng ta tự nhiên sẽ thấy sự hiện diện của Thiên Bình, Sao Thổ và cung ba. |
|
466. Man is no longer ignorant. He understands that there are a higher and lower pair of opposites and that he has the choice regarding which of these he will emphasize. |
466. Con người không còn vô minh nữa. Y hiểu rằng có một cặp đối đãi cao và thấp, và rằng y có sự lựa chọn về việc mình sẽ nhấn mạnh bên nào. |
|
467. His first work is with horizontal pairs of opposites. Later he becomes aware of the vertical pair of opposites—soul and personality. |
467. Công việc đầu tiên của y là với các cặp đối đãi theo chiều ngang. Về sau y nhận biết cặp đối đãi theo chiều dọc—linh hồn và phàm ngã. |
|
The man begins to discriminate between the pairs of opposites, choosing ever in the early stages that which appeals most to his lower nature and that which he believes will bring him pleasure. |
Con người bắt đầu phân biện giữa các cặp đối đãi, trong những giai đoạn đầu luôn chọn điều hấp dẫn nhất đối với bản chất thấp của mình và điều mà y tin sẽ đem lại khoái lạc cho mình. |
|
468. Man is confronted with the choice between pleasure and responsibility (which leads ever to the soul). |
468. Con người đối diện với sự lựa chọn giữa khoái lạc và trách nhiệm (điều luôn dẫn đến linh hồn). |
|
469. DK emphasizes the thought that, in the beginning, man almost always fails to choose aright. He has not yet learned through bitter experience, to do otherwise. |
469. Chân sư DK nhấn mạnh ý tưởng rằng, lúc ban đầu, con người hầu như luôn luôn không chọn đúng. Y chưa học được qua kinh nghiệm cay đắng để làm khác đi. |
|
The centre of the attention of the Ego is the astral body, |
Trung tâm chú ý của Chân ngã là thể cảm dục, |
|
470. We note that the Ego (in this instance the Solar Angel as the Divine Supervisor) will concentrate progressively upon the different vehicles in ascending order. Now the solar angelic attention is focussed on the astral body. |
470. Chúng ta lưu ý rằng Chân ngã (trong trường hợp này là Thái dương Thiên Thần với tư cách Đấng Giám Sát thiêng liêng) sẽ dần dần tập trung vào các vận cụ khác nhau theo thứ tự đi lên. Giờ đây sự chú ý của thiên thần thái dương được tập trung vào thể cảm dục. |
|
and it becomes so closely co-ordinated with the physical body that the two form one united expression of desire. |
và nó trở nên được phối hợp chặt chẽ với thể xác đến nỗi cả hai tạo thành một biểu hiện hợp nhất của dục vọng. |
|
471. We witness the close coordination of the etheric-physical body and the astral body. This is completed in fulness when the sixth petal is opened, but that lies relatively far ahead of this stage. |
471. Chúng ta chứng kiến sự phối hợp chặt chẽ của thể dĩ thái-hồng trần và thể cảm dục. Điều này được hoàn tất trọn vẹn khi cánh hoa thứ sáu mở ra, nhưng điều đó còn ở khá xa phía trước giai đoạn này. |
|
472. At the stage under discussion, the physical body serves the behests of the astral body. The physical nature becomes the immediate servant of desire. Mind, however, slowly enters and provides the necessary “checks and balances”. Mind becomes the instrument of conscious choice. |
472. Ở giai đoạn đang được bàn đến, thể xác phục vụ các đòi hỏi của thể cảm dục. Bản chất hồng trần trở thành người phục vụ trực tiếp của dục vọng. Tuy nhiên, trí tuệ chậm rãi đi vào và cung cấp những “kiểm soát và cân bằng” cần thiết. Trí tuệ trở thành công cụ của sự lựa chọn có ý thức. |
|
The mental body [Page 806] remains comparatively inactive at this stage. |
Thể trí [Page 806] vẫn còn tương đối bất hoạt ở giai đoạn này. |
|
473. Yet, we have been told that the man is confronted with choice between the pairs of opposites, and this must be a growing tendency, even if, in the beginning, the outcome is a foregone conclusion. |
473. Tuy nhiên, chúng ta đã được cho biết rằng con người đối diện với sự lựa chọn giữa các cặp đối đãi, và đây hẳn phải là một khuynh hướng đang tăng trưởng, dù rằng lúc ban đầu kết quả gần như đã được định sẵn. |
|
The love nature of the Ego is in process of being developed, and this stage is the longest of the three. |
Bản chất bác ái của Chân ngã đang trong tiến trình được phát triển, và đây là giai đoạn dài nhất trong ba giai đoạn. |
|
474. We live within a love solar system and upon a planet which, under its second ray soul, will be expressive of love. |
474. Chúng ta sống trong một hệ mặt trời bác ái và trên một hành tinh mà, dưới cung linh hồn cung hai của nó, sẽ biểu lộ bác ái. |
|
475. The love nature of the Ego begins its development even in the second petal (and in the Hall of Ignorance) and continues through the development of the sixth petal (the last of the petals of love for the astral plane). In fact the love nature continues to grow through the opening of all twelve petals. |
475. Bản chất bác ái của Chân ngã bắt đầu phát triển ngay từ cánh hoa thứ hai (và trong Phòng Vô Minh) và tiếp tục qua sự phát triển của cánh hoa thứ sáu (cánh hoa cuối cùng trong các cánh hoa bác ái đối với cõi cảm dục). Thật ra, bản chất bác ái tiếp tục tăng trưởng qua sự mở ra của cả mười hai cánh hoa. |
|
It deals with the evolution of the petals of the egoic lotus, and with the blending of solar fire and of fire by friction. |
Nó liên quan đến sự tiến hoá của các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã, và với sự hòa trộn của Lửa Thái dương và Lửa ma sát. |
|
476. To a certain extent, all the petals of the egoic lotus relate to the love nature, just as the three permanent atoms (i.e., the atomic triangle) relate to the intelligence aspect and the Jewel in the Lotus to the will aspect. |
476. Ở một mức độ nào đó, mọi cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã đều liên hệ đến bản chất bác ái, cũng như ba nguyên tử trường tồn (tức tam giác nguyên tử) liên hệ đến phương diện trí tuệ và Bảo Châu trong Hoa Sen liên hệ đến phương diện ý chí. |
|
477. With the unfolding of the second tier of petals, solar fire is blended with fire by friction, but this blending continues throughout the unfoldment of the sacrifice petals during which the process of initiation commands the attention of the human being. Even between the third and fourth initiation, when the synthesizing planets are opening completely, the quality of love continues to grow. |
477. Với sự khai mở tầng cánh hoa thứ hai, Lửa Thái dương được hòa trộn với Lửa ma sát, nhưng sự hòa trộn này tiếp tục suốt sự khai mở các cánh hoa hi sinh, trong thời gian đó tiến trình điểm đạo thu hút sự chú ý của con người. Ngay cả giữa lần điểm đạo thứ ba và lần điểm đạo thứ tư, khi các hành tinh tổng hợp đang mở ra hoàn toàn, phẩm tính bác ái vẫn tiếp tục tăng trưởng. |
|
Reflex action between the lower and the higher during this middle period produces three effects, which will be seen, if carefully studied to convey much information anent the working out of the law of Karma. |
Phản ứng phản hồi giữa cái thấp và cái cao trong thời kỳ giữa này tạo ra ba hiệu quả, mà nếu được nghiên cứu cẩn thận, sẽ thấy là chuyển tải nhiều thông tin liên quan đến sự vận hành của định luật nghiệp quả. |
|
478. During this second phase, man is far more conscious of karmic law and of the manner in which the quality of his choices determine the effects which he experiences as karmic repercussion or beneficence. |
478. Trong giai đoạn thứ hai này, con người ý thức nhiều hơn về định luật nghiệp quả và về cách phẩm tính của những lựa chọn của mình quyết định các kết quả mà y trải nghiệm như sự dội lại nghiệp quả hay ân phúc. |
|
479. During this stage man becomes increasingly aware of being torn between the pairs of opposites. He also recognizes that he need not be helplessly torn, but, upon the Battlefield of Kurukshetra, may throw his will upon the side of the soul and of spiritual values. |
479. Trong giai đoạn này con người ngày càng ý thức hơn về việc bị giằng xé giữa các cặp đối đãi. Y cũng nhận ra rằng mình không nhất thiết phải bị giằng xé một cách bất lực, mà trên Chiến Trường Kurukshetra, có thể đặt ý chí của mình về phía linh hồn và các giá trị tinh thần. |
|
These three effects are: |
Ba hiệu quả này là: |
|
1. The development of the astral permanent atom with a concurrent stimulation of the physical permanent atom, and thus the growth and evolution of the two sheaths concerned. |
1. Sự phát triển của nguyên tử trường tồn cảm dục cùng với sự kích thích đồng thời của nguyên tử trường tồn hồng trần, và do đó là sự tăng trưởng và tiến hoá của hai thể liên quan. |
|
480. In this second phase of the expression of karmic law, both the astral permanent atom and physical permanent atom are stimulated. |
480. Trong giai đoạn thứ hai này của sự biểu lộ định luật nghiệp quả, cả nguyên tử trường tồn cảm dục lẫn nguyên tử trường tồn hồng trần đều được kích thích. |
|
481. The astral permanent atom is stimulated to the fullest extent by the time the second tier is fully opened. |
481. Nguyên tử trường tồn cảm dục được kích thích đến mức tối đa vào lúc tầng thứ hai được mở ra hoàn toàn. |
|
2. The co-ordination of the threefold man through the innate vitality of the astral body and its effect upon the mental and the physical. |
2. Sự phối hợp của con người tam phân qua sinh lực bẩm sinh của thể cảm dục và ảnh hưởng của nó lên thể trí và thể xác. |
|
482. The first stages of personality integration are reached. |
482. Những giai đoạn đầu của sự tích hợp phàm ngã đã đạt tới. |
|
483. We note that the astral body has an effect both upon the physical body and mental body. The physical body is compelled by desire and the mental body is stimulated by focused desire and then aspiration. |
483. Chúng ta lưu ý rằng thể cảm dục có ảnh hưởng cả lên thể xác lẫn thể trí. Thể xác bị dục vọng cưỡng bách và thể trí được kích thích bởi dục vọng tập trung rồi đến khát vọng. |
|
484. In our study of the petals we noticed that a high stage of personality integration was reached with the development of the fifth petal. |
484. Trong nghiên cứu của chúng ta về các cánh hoa, chúng ta nhận thấy rằng một giai đoạn cao của sự tích hợp phàm ngã đã đạt được với sự phát triển của cánh hoa thứ năm. |
|
This is the kama-manasic period, |
Đây là thời kỳ trí-cảm, |
|
485. Thus it is ruled by Venus, just as the first period was ruled by Mars. |
485. Vì vậy nó được cai quản bởi Sao Kim, cũng như thời kỳ thứ nhất được cai quản bởi Sao Hỏa. |
|
and as this body is the only complete sphere in the threefold lower man, |
và vì thể này là khối cầu hoàn chỉnh duy nhất trong phàm nhân tam phân, |
|
486. The physical body and mental body are, we realize, divided into physical and etheric sections and into lower and higher mental sections. |
486. Chúng ta nhận ra rằng thể xác và thể trí được phân chia thành các phần hồng trần và dĩ thái, và thành các phần hạ trí và thượng trí. |
|
it is the most powerful body inherently for it embodies (as does the solar system) the heart aspect, or embryonic love nature, |
nên tự thân nó là thể mạnh nhất vì nó thể hiện (cũng như hệ mặt trời) phương diện tim, hay bản chất bác ái phôi thai, |
|
487. The soul nature is reflected in the astral body as the personality is in the physical body and the Monad in the mental body. |
487. Bản chất linh hồn được phản chiếu trong thể cảm dục cũng như phàm ngã được phản chiếu trong thể xác và chân thần trong thể trí. |
|
which it is the object of macrocosmic and microcosmic evolution to develop. |
mà đó là mục tiêu của tiến hoá đại thiên địa và tiểu thiên địa nhằm phát triển. |
|
488. Generically, the astral body is most attuned with the quality which the Planetary Logos seeks to develop upon the planet and which the Solar Logos seeks to express throughout His solar system—the quality of Love. |
488. Nói chung, thể cảm dục hòa điệu nhất với phẩm tính mà Hành Tinh Thượng đế tìm cách phát triển trên hành tinh và mà Thái dương Thượng đế tìm cách biểu lộ khắp hệ mặt trời của Ngài—phẩm tính Bác ái. |
|
3. Finally the unfoldment of the nine egoic petals in three stages. |
3. Sau cùng là sự khai mở của chín cánh hoa chân ngã trong ba giai đoạn. |
|
489. The second division of karmic expression includes, it seems, the development of the nine petals of the egoic lotus, and thus leads to the third initiation. |
489. Phân bộ thứ hai của sự biểu lộ nghiệp quả dường như bao gồm sự phát triển của chín cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã, và do đó dẫn đến lần điểm đạo thứ ba. |
|
490. This second division or phase is, we see, not a strictly emotional phase, as during the stage of the unfoldment of the sacrifice petals, initiation is pursued and the mental nature is brought to a high stage of development. |
490. Phân bộ hay giai đoạn thứ hai này, như chúng ta thấy, không phải là một giai đoạn hoàn toàn cảm xúc, vì trong giai đoạn khai mở các cánh hoa hi sinh, điểm đạo được theo đuổi và bản chất trí tuệ được đưa đến một giai đoạn phát triển cao. |
|
491. Yet from a higher perspective, this phase may still be called “kama-manas”, and that stage may end only with the fourth initiation, when the causal body (under Venus, the planet of kama-manas) disappears. |
491. Tuy nhiên, từ một viễn tượng cao hơn, giai đoạn này vẫn có thể được gọi là “trí-cảm”, và giai đoạn ấy có thể chỉ chấm dứt với lần điểm đạo thứ tư, khi thể nguyên nhân (dưới Sao Kim, hành tinh của trí-cảm) biến mất. |
|
In the working out of the law we must therefore note that man is first of all the victim of the impulses of dense substance or of the brahma aspect, and thus repeats rapidly the evolutionary process of the preceding solar system; in the second stage he is the victim of desire, or of his own love nature. |
Trong sự vận hành của định luật vì vậy chúng ta phải lưu ý rằng con người trước hết là nạn nhân của các xung lực của chất liệu đậm đặc hay của phương diện brahma, và do đó nhanh chóng lặp lại tiến trình tiến hoá của hệ mặt trời trước; trong giai đoạn thứ hai, y là nạn nhân của dục vọng, hay của chính bản chất bác ái của mình. |
|
492. In both phases thus far under discussion, the man if the victim of impulses he cannot control. |
492. Trong cả hai giai đoạn được bàn đến cho đến nay, con người là nạn nhân của những xung lực mà y không thể kiểm soát. |
|
493. In the Hall of Ignorance the man recapitulates the development pursued during the previous solar system (and for some, upon the Moon-chain). |
493. Trong Phòng Vô Minh, con người lặp lại tóm tắt sự phát triển đã được theo đuổi trong hệ mặt trời trước (và đối với một số người, trên Dãy Mặt Trăng). |
|
494. In the second phase of the working out of karmic law, the man is the victim of his desire nature, a reflection of his love nature. |
494. Trong giai đoạn thứ hai của sự vận hành của định luật nghiệp quả, con người là nạn nhân của bản chất dục vọng của mình, một phản ảnh của bản chất bác ái của mình. |
|
495. Shall we say that this is the case even as the last tier of petals is being unfolded? Until the will aspect comes strongly into prominence, it is, indeed, the case, even though during the development of the sacrifice tier, the man is developing a high mentality and responsiveness to the soul. |
495. Chúng ta có nên nói rằng điều này vẫn đúng ngay cả khi tầng cánh hoa cuối cùng đang được khai mở chăng? Cho đến khi phương diện ý chí nổi bật mạnh mẽ, quả thật vẫn là như vậy, dù rằng trong khi phát triển tầng hi sinh, con người đang phát triển một trí tuệ cao và khả năng đáp ứng với linh hồn. |
|
496. Division Three: |
496. Phân bộ Ba: |
|
In the third stage, the law of karma works through a man’s mental nature, and awakens in him recognition of the law, and an intellectual apprehension of cause and of effect. |
Trong giai đoạn thứ ba, định luật nghiệp quả vận hành qua bản chất trí tuệ của một người, và đánh thức trong y sự nhận biết về định luật, và một sự nắm bắt bằng trí tuệ về nguyên nhân và kết quả. |
|
497. To a certain extent, this stage of development is occurring during the development of the final tier of petals, the sacrifice tier, yet there may be sufficient mentality even during the development of the second tier for a useful apprehension of cause and of effect to occur. |
497. Ở một mức độ nào đó, giai đoạn phát triển này diễn ra trong khi tầng cánh hoa cuối cùng, tầng hi sinh, đang phát triển, tuy nhiên có thể có đủ trí tuệ ngay cả trong khi tầng thứ hai đang phát triển để một sự nắm bắt hữu ích về nguyên nhân và kết quả xuất hiện. |
|
498. The man is becoming responsive to a higher will than his personal will, and is able to restrain both his desire and aspiration by conscious, intellectual realization reinforced by the power of spiritual will. |
498. Con người đang trở nên đáp ứng với một ý chí cao hơn ý chí cá nhân của mình, và có thể kiềm chế cả dục vọng lẫn khát vọng của mình bằng sự chứng nghiệm trí tuệ có ý thức, được tăng cường bởi quyền năng của ý chí tinh thần. |
|
This is the shortest stage but is also the most powerful; it concerns the evolution of the three inner [Page 807] petals shielding the “jewel,” |
Đây là giai đoạn ngắn nhất nhưng cũng là giai đoạn mạnh mẽ nhất; nó liên quan đến sự tiến hoá của ba cánh hoa bên trong [Page 807] che chở “viên ngọc”, |
|
499. If the second phase in the working out of karma leads to the unfoldment of all nine petals of the egoic lotus, then the final stage (concerned with the evolution of the three synthesis petals shielding the Jewel in the Lotus) must necessarily occur from the period of the third initiation until the fourth. At least this will be the focal period for stage three. |
499. Nếu giai đoạn thứ hai trong sự vận hành của nghiệp quả dẫn đến sự khai mở của cả chín cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã, thì giai đoạn cuối cùng (liên quan đến sự tiến hoá của ba cánh hoa tổng hợp che chở Viên Ngọc trong Hoa Sen) tất yếu phải diễn ra từ thời kỳ lần điểm đạo thứ ba cho đến lần điểm đạo thứ tư. Ít nhất đây sẽ là thời kỳ trọng tâm của giai đoạn ba. |
|
500. This is the period of true mental polarization during which the man can actually spiritually discern causes and their effects—karmically considered. |
500. Đây là thời kỳ của sự phân cực trí tuệ đích thực trong đó con người thực sự có thể một cách tinh thần phân biện các nguyên nhân và các kết quả của chúng—xét theo nghiệp quả. |
|
501. We see that the period following the third initiation is highly mental in nature, even though the intuition is being cultivated. |
501. Chúng ta thấy rằng thời kỳ tiếp theo sau lần điểm đạo thứ ba có bản chất rất trí tuệ, dù trực giác đang được vun bồi. |
|
and their ability to disclose at the right moment that which lies hidden. |
và khả năng của chúng trong việc tiết lộ vào đúng lúc điều đang ẩn giấu. |
|
502. That “right moment” occurs just before the fourth initiation. |
502. “Đúng lúc” ấy xảy ra ngay trước lần điểm đạo thứ tư. |
|
It covers the period of the evolution of advanced man, and of the man upon the Path. |
Nó bao trùm thời kỳ tiến hoá của con người tiến bộ, và của con người trên Con Đường. |
|
503. In DK’s presentation of this subject we see that there is some overlap between the phases. |
503. Trong cách trình bày của Chân sư DK về chủ đề này, chúng ta thấy rằng có một số chồng lấn giữa các giai đoạn. |
|
504. Phase two takes a man to the unfoldment of nine of the petals and thus to the third initiation. |
504. Giai đoạn hai đưa con người đến sự khai mở của chín cánh hoa và do đó đến lần điểm đạo thứ ba. |
|
505. Yet, if it is true that phase three covers the period of evolution of “advanced man and of man upon the Path”, it includes all the work done on the sacrifice petals, at which time the first three initiations are experienced and the synthesis petals begin to open, disclosing as they do ever more of the central Jewel. |
505. Tuy nhiên, nếu đúng là giai đoạn ba bao trùm thời kỳ tiến hoá của “con người tiến bộ và con người trên Con Đường”, thì nó bao gồm toàn bộ công việc được thực hiện trên các cánh hoa hi sinh, vào lúc mà ba lần điểm đạo đầu tiên được trải qua và các cánh hoa tổng hợp bắt đầu mở ra, nhờ đó ngày càng để lộ nhiều hơn Viên Ngọc trung tâm. |
|
506. We can divide the three stages, basically, into physical, emotional and mental, but DK extends the second period to the third initiation, and includes in the third period those phases of development which begin even before the first initiation, for it is advance man who makes application to the first initiation. |
506. Về cơ bản, chúng ta có thể chia ba giai đoạn thành hồng trần, cảm xúc và trí tuệ, nhưng Chân sư DK kéo dài thời kỳ thứ hai đến lần điểm đạo thứ ba, và bao gồm trong thời kỳ thứ ba những giai đoạn phát triển bắt đầu ngay cả trước lần điểm đạo thứ nhất, vì chính con người tiến bộ là người nộp đơn cho lần điểm đạo thứ nhất. |
|
507. The general picture, however, remains clear, if we retain the divisions of physical, emotional, mental. |
507. Tuy nhiên, bức tranh tổng quát vẫn rõ ràng, nếu chúng ta giữ các phân chia thành hồng trần, cảm xúc, trí tuệ. |
|
In connection with the human family it covers the first half of the next round, prior to the great separation. |
Liên hệ với gia đình nhân loại, nó bao trùm nửa đầu của cuộc tuần hoàn kế tiếp, trước cuộc phân ly lớn. |
|
508. It is at that time that man will truly be able to discriminate cause from effect and will be truly mentally focussed. |
508. Chính vào lúc đó con người mới thực sự có thể phân biện nguyên nhân với kết quả và sẽ thực sự được tập trung trí tuệ. |
|
509. This realization may cause us to pause and reflect. At his present stage of development, man is, largely, a very emotional being. |
509. Sự chứng nghiệm này có thể khiến chúng ta dừng lại và suy ngẫm. Ở giai đoạn phát triển hiện nay, con người phần lớn là một hữu thể rất cảm xúc. |
|
Electric fire is beginning to make its radiations felt, |
Lửa Điện đang bắt đầu làm cho các bức xạ của nó được cảm nhận, |
|
510. It does so at the first initiation, but even more emphatically at the third. |
510. Điều này diễn ra ở lần điểm đạo thứ nhất, nhưng còn nhấn mạnh hơn ở lần điểm đạo thứ ba. |
|
and the will or purpose of the Ego is now consciously realised upon the physical plane. |
và ý chí hay mục đích của chân ngã giờ đây được chứng nghiệm một cách có ý thức trên cõi hồng trần. |
|
511. It is the initiate of the third degree who realizes the will or purpose of the Ego while in his physical plane consciousness. |
511. Chính điểm đạo đồ cấp ba là người chứng nghiệm ý chí hay mục đích của chân ngã trong khi ở trong tâm thức cõi hồng trần của mình. |
|
The three permanent atoms form a triangle of light, and the petals of the lotus are rapidly unfolding. |
Ba nguyên tử trường tồn tạo thành một tam giác ánh sáng, và các cánh hoa của hoa sen đang nhanh chóng khai mở. |
|
512. This rapid unfoldment occurs as the third initiation is approached, with the synthesis petals unfolding more fully after the third degree. |
512. Sự khai mở nhanh chóng này diễn ra khi lần điểm đạo thứ ba đang đến gần, với các cánh hoa tổng hợp khai mở đầy đủ hơn sau cấp ba. |
|
When the will and purpose of the Ego are realised by man in his waking consciousness in the physical brain, then the law of karma in the three worlds is becoming neutralised, and man is on the verge of liberation. |
Khi ý chí và mục đích của chân ngã được chứng nghiệm bởi con người trong tâm thức tỉnh thức của y nơi bộ não hồng trần, thì định luật nghiệp quả trong ba cõi giới đang được hoá giải, và con người đang ở bên bờ giải thoát. |
|
513. To be “on the verge of liberation” is to have achieved the third degree and to be moving towards the fourth. |
513. “Ở bên bờ giải thoát” là đã đạt đến cấp ba và đang tiến về cấp bốn. |
|
514. It is not that the will and purpose of the Ego are inferred or imagined; they are actually realized. The power of Venus is (in relation to Capricorn) offsetting the personality effects of Saturn. Man is becoming a conscious soul in incarnation. |
514. Không phải là ý chí và mục đích của chân ngã được suy ra hay tưởng tượng; chúng thực sự được chứng nghiệm. Quyền năng của Sao Kim (liên hệ với Ma Kết) đang hóa giải các hiệu ứng phàm ngã của Sao Thổ. Con người đang trở thành một linh hồn đang nhập thể có ý thức. |
|
He has exhausted the initial vibration, |
Y đã làm cạn kiệt rung động ban đầu, |
|
515. This is the lunar vibration. |
515. Đây là rung động thái âm. |
|
and there is no response within his sheaths to the threefold vibration of the three worlds; he stands freed from the three kingdoms and the fourth. |
và không còn sự đáp ứng nào trong các thể của y đối với rung động tam phân của ba cõi giới; y đứng giải thoát khỏi ba giới và giới thứ tư. |
|
516. The last sentence tells us that the man has achieved the fourth degree because even the initiate of the third degree does not stand free of the three kingdoms and the fourth. |
516. Câu cuối cho chúng ta biết rằng con người đã đạt đến cấp bốn bởi vì ngay cả điểm đạo đồ cấp ba cũng chưa đứng giải thoát khỏi ba giới và giới thứ tư. |
[1] không kể đến, không đếm xỉa đến, không để ý đến; coi nhẹ; coi thường