Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến trang sách tương ứng trong TCF
TCF 844-844: S7S9 Part II
|
It might be of value here if we temporarily stopped our consideration of the egoic groups and briefly tabulated the evolutions, remembering that in this tabulation, the planes of differentiation alone are concerned; on the plane of the unmanifest or of the subjective, only unity is known. |
Sẽ có giá trị ở đây nếu chúng ta tạm thời dừng việc xem xét các nhóm chân ngã và ngắn gọn lập bảng các tiến hoá, nhớ rằng trong bảng này, chỉ các cõi của sự biến phân mới được xét đến; trên cõi không biểu hiện hay cõi chủ quan, chỉ có hợp nhất được biết đến. |
|
1. The consciousness of the occultist must ever be aware of the great unity, even on the “planes of differentiation”. |
1. Tâm thức của nhà huyền bí học phải luôn luôn ý thức về sự hợp nhất vĩ đại, ngay cả trên các “cõi của sự biến phân”. |
|
2. Tabulation VI will include some of the most significant evolutions, but certainly not all. Still, if these are borne in mind, the progression of evolutionary development on our planet and in our solar system will be better understood. |
2. Bảng VI sẽ bao gồm một số tiến hoá có ý nghĩa nhất, nhưng chắc chắn không phải tất cả. Tuy vậy, nếu ghi nhớ những điều này, sự tiến triển của phát triển tiến hoá trên hành tinh chúng ta và trong hệ mặt trời của chúng ta sẽ được thấu hiểu tốt hơn. |
|
It must again be remembered that the term “unmanifest” is one of relative importance only, and concerns man’s apprehension of all that is. To the solar Logos the planes of the unmanifest are objective. |
Một lần nữa phải nhớ rằng thuật ngữ “không biểu hiện” chỉ có tầm quan trọng tương đối, và liên quan đến sự lĩnh hội của con người về tất cả những gì hiện hữu. Đối với Thái dương Thượng đế, các cõi không biểu hiện là khách quan. |
|
3. The Solar Logos, too, is limited in His perception. There are many areas within the Cosmic Whole which, to Him, are unmanifest (i.e., unperceivable), though objective to still greater Beings. |
3. Thái dương Thượng đế cũng bị giới hạn trong tri giác của Ngài. Có nhiều khu vực trong Toàn Thể Vũ Trụ mà đối với Ngài là không biểu hiện (tức không thể tri giác), dù lại là khách quan đối với những Đấng còn vĩ đại hơn nữa. |
|
4. To the Ultimate Universal Logos, the SOURCE OF ALL is unmanifest. |
4. Đối với Thượng đế Vũ Trụ Tối Hậu, NGUỒN CỘI CỦA TẤT CẢ là không biểu hiện. |
|
Man has not as yet achieved etheric vision, and the etheric [844 Tabulation VI] [Page 845] subplanes are to him as yet unmanifest. |
Con người cho đến nay vẫn chưa đạt được linh thị dĩ thái, và các cõi phụ dĩ thái [844 Tabulation VI] [Page 845] đối với y vẫn còn là không biểu hiện. |
|
5. They exist but they are not perceived. We believe that they exist based upon the assertions of trusted sources. |
5. Chúng tồn tại nhưng không được tri giác. Chúng ta tin rằng chúng tồn tại dựa trên những khẳng định của các nguồn đáng tin cậy. |
|
6. Sensitive human beings, however, are penetrating into areas of the cosmic physical plane which to the great majority remain apparently unmanifest. |
6. Tuy nhiên, những con người nhạy cảm đang thâm nhập vào những khu vực của cõi hồng trần vũ trụ mà đối với đại đa số vẫn còn dường như không biểu hiện. |
|
The solar Logos has cosmic etheric vision fully developed, and because He is on the cosmic Path all is known and fully revealed to Him within the solar System. |
Thái dương Thượng đế đã phát triển đầy đủ linh thị dĩ thái vũ trụ, và bởi vì Ngài đang ở trên Con Đường vũ trụ nên mọi sự trong hệ mặt trời đều được biết và được mặc khải trọn vẹn cho Ngài. |
|
7. This means that the Solar Logos perceives easily and completely the happenings upon the systemic buddhic, atmic, monadic and logoic planes. Whether He perceives quite so consciously on the cosmic astral plane and the cosmic mental plane remains in question. |
7. Điều này có nghĩa là Thái dương Thượng đế tri giác dễ dàng và trọn vẹn các diễn biến trên các cõi Bồ đề, atma, chân thần và thượng đế của hệ thống. Liệu Ngài có tri giác hữu thức đến mức ấy trên cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ hay không vẫn còn là một câu hỏi. |
|
8. In this regard, we might base an analogy upon the life of a human being. The sensitive human being is beginning to be aware of the phenomena of the etheric plane. He also has some knowledge of the phenomena of the astral plane but few human beings are fully conscious on that plane or on the mental plane. Thus it may be for the Solar Logos on His own correspondingly higher levels. |
8. Về phương diện này, chúng ta có thể dựa vào một sự tương đồng từ đời sống của con người. Con người nhạy cảm đang bắt đầu ý thức được các hiện tượng của cõi dĩ thái. Y cũng có một ít hiểu biết về các hiện tượng của cõi cảm dục nhưng ít người hoàn toàn hữu thức trên cõi đó hay trên cõi trí. Vì vậy có thể cũng như thế đối với Thái dương Thượng đế trên các cấp độ tương ứng cao hơn của chính Ngài. |
|
9. We note that the cosmic etheric planes are linked to the solar system. It is being suggested that the Logos’ knowledge of these planes is equivalent to His knowledge of the solar system. As has often been stated, that part of our Solar Logos’ energy system which lies beyond the cosmic ethers is not considered to be part of our system. |
9. Chúng ta lưu ý rằng các cõi dĩ thái vũ trụ được nối kết với hệ mặt trời. Điều đang được gợi ý là tri thức của Thượng đế về các cõi này tương đương với tri thức của Ngài về hệ mặt trời. Như thường được phát biểu, phần hệ năng lượng của Thái dương Thượng đế chúng ta nằm vượt ra ngoài các dĩ thái vũ trụ không được xem là một phần của hệ thống chúng ta. |
|
10. Below is a very important tabulation. It is at first presented without commentary so that its general structure can be taken in. Commentary follows. |
10. Dưới đây là một bảng rất quan trọng. Trước hết nó được trình bày không có bình luận để có thể nắm lấy cấu trúc tổng quát của nó. Phần bình luận sẽ theo sau. |
|
TABULATION VI |
BẢNG VI |
|
Lives → Goal |
Các Sự sống → Mục tiêu |
|
1. Planetary Logoi; The major Three. → Cosmic liberation; the final cosmic Initiations. |
1. Các Hành Tinh Thượng đế; Bộ Ba chính yếu. → Giải thoát vũ trụ; các cuộc Điểm Đạo vũ trụ cuối cùng. |
|
2. The minor four planetary Logoi → Cosmic Initiation, or the first four Initiations. |
2. Bốn Hành Tinh Thượng đế thứ yếu → Điểm Đạo vũ trụ, hay bốn cuộc Điểm Đạo đầu tiên. |
|
3. The informing Lives of a planetary globe → Manus of a cosmic chain. Not a seed manu, but a periodical manu of lesser degree. This involves an unrevealable mystery, connected with certain Hierarchies of color. |
3. Các Sự sống phú linh của một bầu hành tinh → Các Manu của một dãy vũ trụ. Không phải một manu hạt giống, mà là một manu tuần hoàn có cấp độ thấp hơn. Điều này bao hàm một huyền nhiệm không thể tiết lộ, liên hệ với một số Huyền Giai về màu sắc. |
|
4. The informing life of a kingdom in nature → Transference in one of three directions: |
4. Sự sống phú linh của một giới trong thiên nhiên → Chuyển dịch theo một trong ba hướng: |
|
a. To the line of the solar Pitris. |
a. Đến tuyến của các thái dương tổ phụ. |
|
b. To Sirius, as a karmic adjuster. |
b. Đến Sirius, như một vị điều chỉnh nghiệp quả. |
|
c. To the solar system of the next order to work in connection with the planetary Logos of his own line as ruler of a kingdom or life wave in the system, and not just in a scheme. |
c. Đến hệ mặt trời của trật tự kế tiếp để làm việc liên hệ với Hành Tinh Thượng đế thuộc tuyến riêng của y như chủ thể cai quản một giới hay một làn sóng sự sống trong hệ thống, chứ không chỉ trong một hệ hành tinh. |
|
5. The solar Pitris. → The highest three groups will become major planetary Logoi; the lower four groups will become minor planetary Logoi. |
5. Các thái dương tổ phụ. → Ba nhóm cao nhất sẽ trở thành các Hành Tinh Thượng đế chính yếu; bốn nhóm thấp hơn sẽ trở thành các Hành Tinh Thượng đế thứ yếu. |
|
6. The human evolution. → To become the solar Pitris of another cycle. To follow any of the paths earlier enumerated. Those who become solar Pitris, being the bulk of humanity, return to Sirius to be breathed out again into activity. |
6. Tiến hoá nhân loại. → Trở thành các thái dương tổ phụ của một chu kỳ khác. Đi theo bất kỳ con đường nào đã được liệt kê trước đó. Những ai trở thành các thái dương tổ phụ, là phần lớn nhân loại, trở về Sirius để lại được thở ra vào hoạt động. |
|
7. The lunar Pitris → → To become men. They will in their higher grades pass directly into the animal evolution of the next cycle and so eventually individualise. Their three higher grades will become animal-men, and the lower four will contribute to the quaternic forms of the men of the next creation. |
7. Các thái âm tổ phụ → → Trở thành con người. Ở các cấp độ cao hơn, họ sẽ đi thẳng vào tiến hoá động vật của chu kỳ kế tiếp và như thế cuối cùng sẽ biệt ngã hóa. Ba cấp độ cao hơn của họ sẽ trở thành người-thú, và bốn cấp độ thấp hơn sẽ góp phần vào các hình tướng tứ phân của con người trong cuộc sáng tạo kế tiếp. |
|
8. The animal evolution → → Human kingdom. |
8. Tiến hoá động vật → → giới nhân loại. |
|
9. The vegetable evolution → → The animal kingdom. |
9. Tiến hoá thực vật → → giới động vật. |
|
10. The mineral evolution → → The vegetable kingdom. |
10. Tiến hoá khoáng vật → → giới thực vật. |
|
11. The four higher grades of lesser Builders on all planes → They will form the manifested double or form of that mysterious third evolution of the next system; that is, the etheric body of the planetary entity. This mysterious life is as yet an unfathomable mystery and one which will not be revealed till the final one of the triplicity of solar systems of our solar Logos. |
11. Bốn cấp độ cao hơn của các vị tiểu kiến tạo trên mọi cõi → Họ sẽ tạo thành đối phần biểu hiện hay hình tướng của tiến hoá thứ ba huyền nhiệm ấy của hệ thống kế tiếp; tức là thể dĩ thái của Thực Thể Hành Tinh. Sự sống huyền nhiệm này hiện vẫn là một huyền nhiệm không thể dò thấu và sẽ không được tiết lộ cho đến hệ thống cuối cùng trong bộ ba các hệ mặt trời của Thái dương Thượng đế chúng ta. |
|
12. The three lower grades of the lesser builders. → The physical body in its densest form of the planetary entity. |
12. Ba cấp độ thấp hơn của các vị tiểu kiến tạo. → Thể xác trong hình thức đậm đặc nhất của Thực Thể Hành Tinh. |
|
11. Below is the table above, with commentary included. |
11. Dưới đây là bảng trên, có kèm bình luận. |
|
12. As we consider the goals of these many types of L/lives, it is important to determine the distinction between “goal” and “objective”, as these terms are used on TCF 384 when discussing the initiatory programs of the Solar Logos, our Planetary Logos and the human being. |
12. Khi chúng ta xem xét các mục tiêu của rất nhiều loại S/sự sống này, điều quan trọng là phải xác định sự phân biệt giữa “mục tiêu” và “đối tượng”, như các thuật ngữ này được dùng trong TCF 384 khi bàn về các chương trình điểm đạo của Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta và con người. |
|
13. Is a “goal” an immediate “objective”? Perhaps. |
13. “Mục tiêu” có phải là một “đối tượng” trước mắt không? Có lẽ vậy. |
|
TABULATION VI |
BẢNG VI |
|
With Commentary |
Kèm Bình luận |
|
LivesGoal |
Các Sự sốngMục tiêu |
|
1. Planetary Logoi; The major Three.Cosmic liberation; the final cosmic Initiations. |
1. Các Hành Tinh Thượng đế; Bộ Ba chính yếu.Giải thoát vũ trụ; các cuộc Điểm Đạo vũ trụ cuối cùng. |
|
14. The major three planetary Logoi are the Logoi of Saturn, Neptune, and Uranus. |
14. Ba Hành Tinh Thượng đế chính yếu là các Thượng đế của Sao Thổ, Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương. |
|
15. Their monadic rays are the third, second and first respectively. (cf. EPI, 420) |
15. Các cung chân thần của Các Ngài lần lượt là cung ba, cung hai và cung một. (xem EPI, 420) |
|
16. We note that this tabulation does not include our Solar Logos or any Beings of still greater scope. Thus, all L/lives mentioned below live and move and have their being with our Solar Logos. |
16. Chúng ta lưu ý rằng bảng này không bao gồm Thái dương Thượng đế của chúng ta hay bất kỳ Đấng nào có phạm vi còn lớn hơn nữa. Vì vậy, tất cả các S/sự sống được nhắc đến dưới đây đều sống, vận động và hiện hữu trong Thái dương Thượng đế của chúng ta. |
|
17. The Planetary Logoi are undergoing a series of initiations which, from all evidence, are not identical with the series undergone by Solar Logoi. |
17. Các Hành Tinh Thượng đế đang trải qua một loạt điểm đạo mà, theo mọi bằng chứng, không đồng nhất với loạt điểm đạo mà các Thái dương Thượng đế trải qua. |
|
18. The Solar Logos also has for His goal certain “final cosmic initiations” (if the fourth, fifth and sixth cosmic initiations can be called “final”), but we must not conclude that the major three Planetary Logoi are to undergo initiations identical with that of the Logos. |
18. Thái dương Thượng đế cũng có làm mục tiêu của Ngài một số “cuộc điểm đạo vũ trụ cuối cùng” (nếu các cuộc điểm đạo vũ trụ thứ tư, thứ năm và thứ sáu có thể được gọi là “cuối cùng”), nhưng chúng ta không được kết luận rằng ba Hành Tinh Thượng đế chính yếu sẽ trải qua các cuộc điểm đạo đồng nhất với các cuộc điểm đạo của Thượng đế. |
|
19. Our Planetary Logos (a non-sacred Planetary Logos) has before Him His second “cosmic initiation”. This is His “goal” (TCF 384). |
19. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta (một Hành Tinh Thượng đế không thiêng liêng) đang có trước mặt Ngài cuộc “điểm đạo vũ trụ” thứ hai của Ngài. Đây là “mục tiêu” của Ngài (TCF 384). |
|
20. We might presume that the Logoi of the synthesizing planets have taken the third cosmic initiation and are preparing to take the fourth and fifth cosmic initiations—along the planetary logoic line. Probably, for them, the sixth cosmic initiation lies ahead in the next solar system, as is the case for the Solar Logos. Whether or not the Solar Logos will take the fifth cosmic initiation in this incarnation (i.e., solar system) remains to be seen and perhaps it is so for the Logoi of the synthesizing planets with respect to the fifth cosmic initiation in their particular series of cosmic initiations. |
20. Chúng ta có thể giả định rằng các Logoi của các hành tinh tổng hợp đã trải qua lần điểm đạo vũ trụ thứ ba và đang chuẩn bị trải qua các lần điểm đạo vũ trụ thứ tư và thứ năm—dọc theo đường Hành Tinh Thượng đế. Có lẽ, đối với Các Ngài, lần điểm đạo vũ trụ thứ sáu nằm ở phía trước trong hệ mặt trời kế tiếp, cũng như trường hợp của Thái dương Thượng đế. Việc Thái dương Thượng đế có trải qua lần điểm đạo vũ trụ thứ năm trong lần lâm phàm này (tức là, hệ mặt trời này) hay không vẫn còn phải chờ xem, và có lẽ điều ấy cũng đúng với các Logoi của các hành tinh tổng hợp liên quan đến lần điểm đạo vũ trụ thứ năm trong chuỗi điểm đạo vũ trụ riêng biệt của Các Ngài. |
|
21. A “goal” seems to be a major objective. When the term “liberation” is used in relation to a human being, it usually means the fourth initiation. We are presuming that the Logoi of the synthesizing planets have taken the third cosmic initiation (a feat which the Logoi of the normal sacred planets have probably not accomplished). Perhaps, then, it is the fourth cosmic initiation which lies immediately before them as their next goal. |
21. Một “mục tiêu” dường như là một mục đích chính yếu. Khi thuật ngữ “giải thoát” được dùng liên hệ với một con người, nó thường có nghĩa là lần điểm đạo thứ tư. Chúng ta đang giả định rằng các Logoi của các hành tinh tổng hợp đã trải qua lần điểm đạo vũ trụ thứ ba (một thành tựu mà các Logoi của các hành tinh thiêng liêng thông thường có lẽ chưa đạt được). Vậy thì, có lẽ chính lần điểm đạo vũ trụ thứ tư là mục tiêu kế tiếp nằm ngay trước Các Ngài. |
|
22. Had these Logoi already taken the fourth cosmic initiation, they would not be in the developmental stages in which they now find themselves. Their physical bodies would be in process of destruction or already destroyed. But, instead, if we may judge from the evolution of Saturn, they are earlier in Their developmental process than some of the lesser (though still sacred) planets. Though Jupiter is not a synthesizing planet, it is still a great planet and demonstrates how the more spiritually developed planets are passing through their earlier rather than later developmental phases. Thus, they have not yet taken their fourth initiation. |
22. Nếu các Logoi này đã trải qua lần điểm đạo vũ trụ thứ tư, thì Các Ngài đã không ở trong những giai đoạn phát triển mà hiện nay Các Ngài đang ở. Các thể xác của Các Ngài hẳn đang trong tiến trình hủy diệt hoặc đã bị hủy diệt rồi. Nhưng thay vào đó, nếu chúng ta có thể phán đoán từ sự tiến hoá của Sao Thổ, thì Các Ngài đang ở giai đoạn sớm hơn trong tiến trình phát triển của mình so với một số hành tinh nhỏ hơn (dù vẫn là thiêng liêng). Dù Sao Mộc không phải là một hành tinh tổng hợp, nó vẫn là một hành tinh vĩ đại và cho thấy cách các hành tinh phát triển tinh thần hơn đang đi qua các pha phát triển sớm hơn chứ không phải muộn hơn. Vì vậy, Các Ngài chưa trải qua lần điểm đạo thứ tư của mình. |
|
“The Dense Physical Planets: |
“Các Hành Tinh Hồng Trần Đậm Đặc: |
|
Earth4th Chain4th Globe |
Trái ĐấtDãy Thứ TưBầu hành tinh thứ tư |
|
Jupiter3rd Chain4th Globe |
Sao Mộcdãy thứ baBầu hành tinh thứ tư |
|
Saturn3rd Chain4th Globe |
Sao Thổdãy thứ baBầu hành tinh thứ tư |
|
Mars4th Chain4th Globe |
Sao HỏaDãy Thứ TưBầu hành tinh thứ tư |
|
Vulcan3rd Chain4th Globe |
Vulcandãy thứ baBầu hành tinh thứ tư |
|
Venus5th Chain5th Globe |
Sao KimDãy thứ nămBầu hành tinh thứ năm |
|
Mercury4th Chain5th Globe” |
Sao ThủyDãy Thứ TưBầu hành tinh thứ năm” |
|
(Cosmic Fire, p. 373.) |
(Luận về Lửa Vũ Trụ, tr. 373.) |
|
23. Further, it would be unlikely that the Logoi of the synthesizing planets would be ahead of the Solar Logos in Their initiatory schedule, for He is, to them, a still greater God. |
23. Hơn nữa, khó có khả năng là các Logoi của các hành tinh tổng hợp lại đi trước Thái dương Thượng đế trong tiến trình điểm đạo của Các Ngài, vì đối với Các Ngài, Ngài là một Thượng đế còn vĩ đại hơn nữa. |
|
24. The Planetary Logos of our Earth has for objective seven initiations which, on the basis of the evidence found on TCF 384, we are presuming to be lesser initiations than cosmic initiations, per se. The Logos of the Earth-scheme, for instance, is passing through a fourth initiation (of seven), but has as its goal the second cosmic initiation. |
24. Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất chúng ta có mục tiêu là bảy lần điểm đạo mà, dựa trên chứng cứ tìm thấy trong TCF 384, chúng ta giả định là những lần điểm đạo thấp hơn so với chính các điểm đạo vũ trụ. Chẳng hạn, Logos của hệ hành tinh Địa Cầu đang trải qua một lần điểm đạo thứ tư (trong bảy lần), nhưng có mục tiêu là lần điểm đạo vũ trụ thứ hai. |
|
25. We cannot be sure whether the Logoi of the synthesizing planets also have seven such lesser initiations, but it is not a bad supposition. For a Planetary Logos, such lesser initiations would be taken through planetary chains, whether manifest or unmanifest. Our Planetary Logos, for instance, is taking a type of fourth initiation through our fourth chain and particularly through that chain’s fourth globe. |
25. Chúng ta không thể chắc liệu các Logoi của các hành tinh tổng hợp cũng có bảy lần điểm đạo thấp hơn như thế hay không, nhưng đó không phải là một giả định tồi. Đối với một Hành Tinh Thượng đế, những lần điểm đạo thấp hơn như thế sẽ được trải qua thông qua các dãy hành tinh, dù biểu hiện hay không biểu hiện. Chẳng hạn, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang trải qua một loại điểm đạo thứ tư qua dãy thứ tư của chúng ta và đặc biệt qua bầu hành tinh thứ tư của dãy ấy. |
|
2. The minor four planetary LogoiCosmic Initiation, or the first four Initiations. |
2. Bốn Hành Tinh Thượng đế nhỏ LogoiCosmic Điểm đạo, hay bốn lần Điểm đạo đầu tiên. |
|
26. The hypothesis now being advanced is that “four minor planetary Logoi” are the Logoi of those four sacred planets which are not synthesizing planets. |
26. Giả thuyết hiện đang được đưa ra là “bốn Hành Tinh Thượng đế nhỏ” là các Logoi của bốn hành tinh thiêng liêng không phải là các hành tinh tổng hợp. |
|
27. The four minor Planetary Logoi are, therefore, being considered as the systemic Lords of the four Rays of Attribute—the fourth, fifth, sixth and seventh rays. |
27. Vì vậy, bốn Hành Tinh Thượng đế nhỏ đang được xem là các Chúa Tể hệ thống của bốn Các Cung Thuộc Tính—cung bốn, cung năm, cung sáu và cung bảy. |
|
28. When we consider the number of Planetary Logoi in our solar system, there are far more than seven—over 115 we are told. Even among the planets and their Logoi which we usually consider, there are more than seven. If we include Vulcan, we usually consider ten, and DK says there is evidence for considering twelve. |
28. Khi chúng ta xét số lượng các Hành Tinh Thượng đế trong hệ mặt trời của chúng ta, thì có nhiều hơn bảy rất nhiều—hơn 115 như chúng ta được cho biết. Ngay cả trong số các hành tinh và các Logoi của chúng mà chúng ta thường xét đến, cũng có nhiều hơn bảy. Nếu kể cả Vulcan, chúng ta thường xét đến mười, và Chân sư DK nói rằng có bằng chứng để xét đến mười hai. |
|
29. The Logoi of the non-sacred planets are also “minor” Planetary Logoi, but are probably not the ones included under point “2”. |
29. Các Logoi của các hành tinh không thiêng liêng cũng là những Hành Tinh Thượng đế “nhỏ”, nhưng có lẽ không phải là những vị được bao gồm dưới điểm “2”. |
|
30. Even human beings undergo in their series of initiations what DK calls “cosmic initiations”. |
30. Ngay cả con người cũng trải qua trong chuỗi điểm đạo của mình điều mà Chân sư DK gọi là “các điểm đạo vũ trụ”. |
|
31. It is clear that the four minor Planetary Logoi (which are the Logoi of sacred planets) are already in process of undergoing cosmic initiation. |
31. Rõ ràng là bốn Hành Tinh Thượng đế nhỏ (là các Logoi của các hành tinh thiêng liêng) đã ở trong tiến trình trải qua điểm đạo vũ trụ. |
|
32. We can hypothesize that the non-sacred Planetary Logoi have not yet taken the second cosmic initiation. Such a one is our Earth. We further hypothesize that the sacred Planetary Logoi which are not synthesizing planets have taken the second cosmic initiation and are applying to take the third cosmic initiation; and that the Logoi of the synthesizing planets have already taken the third cosmic initiation and are applying to the liberation which the fourth cosmic initiation represents. |
32. Chúng ta có thể giả thuyết rằng các Hành Tinh Thượng đế không thiêng liêng vẫn chưa trải qua lần điểm đạo vũ trụ thứ hai. Trái Đất của chúng ta là một vị như thế. Chúng ta còn giả thuyết thêm rằng các Hành Tinh Thượng đế thiêng liêng không phải là hành tinh tổng hợp đã trải qua lần điểm đạo vũ trụ thứ hai và đang xin trải qua lần điểm đạo vũ trụ thứ ba; và rằng các Logoi của các hành tinh tổng hợp đã trải qua lần điểm đạo vũ trụ thứ ba và đang hướng đến sự giải thoát mà lần điểm đạo vũ trụ thứ tư biểu thị. |
|
33. There is not way we can prove this conclusively, but it may be a good place to start. |
33. Chúng ta không thể nào chứng minh điều này một cách dứt khoát, nhưng đó có thể là một điểm khởi đầu tốt. |
|
34. If the only cosmic initiations which are possible for the Logoi of the four sacred non-synthesizing planets are the first through fourth, then, in this solar system at least, the fifth is not available to Them. This suggests that the fifth cosmic initiation is also not available to our Planetary Logos in this solar system. But our Planetary Logos is associated with the base of the spine center of our Solar Logos—a center which must be fully activated at the fifth initiation. In other words, if our Solar Logos is to take the fifth cosmic initiation in this solar system (which is sometimes offered as a possibility) it would seem that our Planetary Logos would also have to take the fifth in His series of cosmic initiations so that He could play the necessary role in the fifth initiation of the Solar Logos. |
34. Nếu các điểm đạo vũ trụ duy nhất có thể có đối với các Logoi của bốn hành tinh thiêng liêng không tổng hợp chỉ là từ thứ nhất đến thứ tư, thì, ít nhất trong hệ mặt trời này, lần thứ năm không dành cho Các Ngài. Điều này gợi ý rằng lần điểm đạo vũ trụ thứ năm cũng không dành cho Hành Tinh Thượng đế của chúng ta trong hệ mặt trời này. Nhưng Hành Tinh Thượng đế của chúng ta liên kết với trung tâm đáy cột sống của Thái dương Thượng đế chúng ta—một trung tâm phải được hoạt hóa hoàn toàn ở lần điểm đạo thứ năm. Nói cách khác, nếu Thái dương Thượng đế của chúng ta sẽ trải qua lần điểm đạo vũ trụ thứ năm trong hệ mặt trời này (điều đôi khi được nêu ra như một khả thể) thì dường như Hành Tinh Thượng đế của chúng ta cũng sẽ phải trải qua lần thứ năm trong chuỗi điểm đạo vũ trụ của Ngài để Ngài có thể đóng vai trò cần thiết trong lần điểm đạo thứ năm của Thái dương Thượng đế. |
|
35. The solution of these matters lie beyond us. Obviously, the extent of the progress of our Solar Logos and the Planetary Logoi is not rigidly determined just as it is not in the life of tiny man. In any one incarnation in the life of man, a particular initiation may be possible but it may or may not be achieved. So we will have to leave this question of whether sacred and non-sacred Planetary Logoi can achieve anything more than the fourth cosmic initiation in this particular solar system. What they can achieve however will have a great effect upon what the Solar Logos can achieve. |
35. Lời giải cho những vấn đề này vượt ngoài tầm chúng ta. Hiển nhiên, mức độ tiến bộ của Thái dương Thượng đế và các Hành Tinh Thượng đế không được xác định một cách cứng nhắc, cũng như không phải trong đời sống của con người bé nhỏ. Trong bất kỳ một lần lâm phàm nào trong đời sống con người, một lần điểm đạo nhất định có thể là khả hữu nhưng có thể đạt được hoặc không. Vì vậy, chúng ta sẽ phải để ngỏ câu hỏi này về việc liệu các Hành Tinh Thượng đế thiêng liêng và không thiêng liêng có thể đạt được điều gì vượt quá lần điểm đạo vũ trụ thứ tư trong hệ mặt trời đặc biệt này hay không. Tuy nhiên, điều mà Các Ngài có thể đạt được sẽ có ảnh hưởng lớn đến điều mà Thái dương Thượng đế có thể đạt được. |
|
3. The informing Lives of a planetary globeManus of a cosmic chain. Not a seed manu, but a periodical manu of lesser degree. This involves an unrevealable mystery, connected with certain Hierarchies of color. |
3. Các Sự Sống phú linh của một bầu hành tinh globeManus của một dãy vũ trụ. Không phải một manu hạt giống, mà là một manu tuần hoàn ở cấp độ thấp hơn. Điều này bao hàm một huyền nhiệm không thể tiết lộ, liên hệ với một số Huyền Giai về màu sắc. |
|
36. If we think carefully, we will see that DK has apparently skipped over discussing the informing Lives of a planetary chain! At least this appears to be the case. |
36. Nếu suy nghĩ cẩn thận, chúng ta sẽ thấy rằng Chân sư DK dường như đã bỏ qua việc bàn đến các Sự Sống phú linh của một dãy hành tinh! Ít nhất thì dường như là như vậy. |
|
37. This also happened in a significant tabulation (TCF, 331). The planes to be associated with vibration, light, sound and color were given for a Solar Logos, a Planetary Logos, and man, but not for the Life or Lives positioned between the Planetary Logos and man. |
37. Điều này cũng đã xảy ra trong một bảng liệt kê quan trọng (TCF, 331). Các cõi được liên kết với rung động, ánh sáng, âm thanh và màu sắc đã được nêu ra cho một Thái dương Thượng đế, một Hành Tinh Thượng đế và con người, nhưng không nêu cho Sự Sống hay các sự sống nằm giữa Hành Tinh Thượng đế và con người. |
|
38. What becomes apparent is that not all L/lives which could be listed on this large and significant tabulation (844) are listed. |
38. Điều trở nên rõ ràng là không phải mọi S/sự sống có thể được liệt kê trong bảng liệt kê lớn và quan trọng này (844) đều được liệt kê. |
|
39. What is a “cosmic chain”? From a certain perspective, the planetary schemes are cosmic chains—at least they are solar systemic chains. |
39. “Dãy vũ trụ” là gì? Từ một góc nhìn nào đó, các hệ hành tinh là các dãy vũ trụ—ít nhất chúng là các dãy thuộc hệ mặt trời. |
|
40. Maybe solar systems themselves are “cosmic chains”—at least this would fit analogically. |
40. Có lẽ chính các hệ mặt trời là những “dãy vũ trụ”—ít nhất điều này sẽ phù hợp theo định luật tương đồng. |
|
41. If we are in the presence of “an unrevealable mystery” the matter is certainly impenetrable to us. We might ask, “Unrevealable to whom? To what types of Lives can this mystery revealed?” Apparently, we do not have the mental/intuitive equipment to grasp it. |
41. Nếu chúng ta đang đứng trước “một huyền nhiệm không thể tiết lộ” thì vấn đề này chắc chắn không thể xuyên thấu đối với chúng ta. Chúng ta có thể hỏi, “Không thể tiết lộ cho ai? Huyền nhiệm này có thể được tiết lộ cho những loại Sự Sống nào?” Rõ ràng, chúng ta không có bộ máy trí tuệ/trực giác để nắm bắt nó. |
|
42. Can a Planetary Logos be called a “Manu”? Perhaps in a cosmic sense, He can be. The term “Manu” must be relative. It essentially refers to one who is the Director of an organized energy-field of a certain scope. |
42. Một Hành Tinh Thượng đế có thể được gọi là một “Manu” không? Có lẽ theo nghĩa vũ trụ, Ngài có thể được gọi như vậy. Thuật ngữ “Manu” hẳn phải có tính tương đối. Về bản chất, nó chỉ đến một Đấng là Đấng Điều Hành của một trường năng lượng có tổ chức với một phạm vi nhất định. |
|
43. Perhaps a Planetary Logos is already the Manu of a systemic chain (i.e., of a planetary scheme). Perhaps, on the way to becoming a Solar Logos Who supervises a Planetary Logos must become something less, but still more than a Planetary Logos? |
43. Có lẽ một Hành Tinh Thượng đế đã là Manu của một dãy hệ thống (tức là, của một hệ hành tinh). Có lẽ, trên đường trở thành một Thái dương Thượng đế, Đấng giám sát một Hành Tinh Thượng đế phải trở thành một điều gì đó thấp hơn, nhưng vẫn cao hơn một Hành Tinh Thượng đế? |
|
44. It would seem the normal goal of a “Globe-Lord” would be to become a “Chain-Lord”. |
44. Dường như mục tiêu thông thường của một “Chúa Tể Bầu hành tinh” sẽ là trở thành một “Chúa Tể Dãy”. |
|
45. Planetary Logoi, it seems, are to become Solar Logoi, so “Globe-Lords” must have more modest goals. |
45. Dường như các Hành Tinh Thượng đế sẽ trở thành các Thái dương Thượng đế, vì vậy các “Chúa Tể Bầu hành tinh” hẳn phải có những mục tiêu khiêm tốn hơn. |
|
46. Just as there are certain types of Manus to be found within a planetary scheme, so there must be certain types of Manus to be found within a solar systemic scheme and solar systemic schemes are as chains to a Cosmic Logos. |
46. Cũng như có những loại Manu nhất định được tìm thấy trong một hệ hành tinh, thì cũng phải có những loại Manu nhất định được tìm thấy trong một hệ thuộc hệ mặt trời, và các hệ thuộc hệ mặt trời là những dãy đối với một Vũ Trụ Thượng đế. |
|
47. We cannot know whether planetary schemes are, in this context, being called “cosmic chains” (since the Solar Logos is often regarded by DK as a cosmic Being) or whether solar systems, themselves, are really “cosmic chains”. In this latter case, we would be reserving the term “cosmic” for Cosmic Logoi (Beings Who include Solar Logoi and Their systems as chakras). |
47. Chúng ta không thể biết liệu các hệ hành tinh, trong ngữ cảnh này, có đang được gọi là “các dãy vũ trụ” hay không (vì Thái dương Thượng đế thường được Chân sư DK xem là một Hữu thể vũ trụ) hay liệu chính các hệ mặt trời có thực sự là các “dãy vũ trụ” hay không. Trong trường hợp sau, chúng ta sẽ dành thuật ngữ “vũ trụ” cho các Vũ Trụ Thượng đế (những Hữu thể bao gồm các Thái dương Thượng đế và các hệ của Các Ngài như các luân xa). |
|
48. If a “cosmic chain” is, in fact, a planetary scheme, then we can think that a Globe-Lord, Who is already a kind of Manu (or Ruler) within a planetary scheme will be attempting to become a higher type of Manu (a Chain-Lord) within a planetary scheme and, eventually, a Planetary Logos. |
48. Nếu một “dãy vũ trụ” thật ra là một hệ hành tinh, thì chúng ta có thể nghĩ rằng một Chúa Tể Bầu hành tinh, Đấng đã là một loại Manu (hay Đấng Cai Quản) trong một hệ hành tinh, sẽ cố gắng trở thành một loại Manu cao hơn (một Chúa Tể Dãy) trong một hệ hành tinh và cuối cùng là một Hành Tinh Thượng đế. |
|
49. But if a “cosmic chain” is actually a solar system, then a Globe-Lord has a more solar goal, and is attempting to become some sort of Manu within the solar system proper. Is such a Manu actually a Heavenly Man or Planetary Logos? Or are there Manus within a solar system which are still greater than Planetary Logoi? |
49. Nhưng nếu một “dãy vũ trụ” thật sự là một hệ mặt trời, thì một Chúa Tể Bầu hành tinh có một mục tiêu mang tính thái dương hơn, và đang cố gắng trở thành một loại Manu nào đó trong chính hệ mặt trời. Một Manu như thế có thật sự là một Đấng Thiên Nhân hay Hành Tinh Thượng đế không? Hay có những Manu trong một hệ mặt trời còn vĩ đại hơn các Hành Tinh Thượng đế? |
|
50. About this it would be difficult to speculate and, really, speculation could be considered unwarranted. Lesser and more reasonable goals seem to lie before a “Globe-Lord”—i.e., to become, minimally, a Lord of a Chain, or a Planetary Logos. |
50. Về điều này thì khó mà suy đoán, và thật ra, sự suy đoán có thể bị xem là không chính đáng. Những mục tiêu thấp hơn và hợp lý hơn dường như nằm trước một “Chúa Tể Bầu hành tinh”—tức là, tối thiểu là trở thành một Chúa Tể của một Dãy, hoặc một Hành Tinh Thượng đế. |
|
51. Sometimes DK uses unexpected terminology to describe a Being with which we are familiar under a different name. For instance, let us suppose that the real goal of a Globe-Lord is to become a Chain-Lord. Is another name for a Chain-Lord “a periodical Manu of lesser degree”? |
51. Đôi khi Chân sư DK dùng thuật ngữ bất ngờ để mô tả một Hữu thể mà chúng ta quen biết dưới một tên gọi khác. Chẳng hạn, giả sử rằng mục tiêu thật sự của một Chúa Tể Bầu hành tinh là trở thành một Chúa Tể Dãy. Có phải một tên gọi khác của Chúa Tể Dãy là “một Manu tuần hoàn ở cấp độ thấp hơn” không? |
|
52. We know that each globe in a planetary scheme has its two kinds of major Manus—a “Root Manu” and a “Seed Manu” as well as lesser Manus for the various rootraces occurring upon and within that globe. We may infer that each Chain has a similar (though higher) grouping of Manus (for instance, a Root Man and Seed Man for the entire chain), and it would seem the natural objective of a Globe-Lord to become such a Manu in relation to a chain? Such a Manu might be something a little less than a Chain-Lord, per se? |
52. Chúng ta biết rằng mỗi bầu hành tinh trong một hệ hành tinh đều có hai loại Manu chính yếu của nó—một “Root Manu” và một “Seed Manu” cũng như các Manu thấp hơn cho các rootraces khác nhau xuất hiện trên và trong bầu hành tinh đó. Chúng ta có thể suy ra rằng mỗi Dãy có một nhóm Manu tương tự (dù cao hơn) như thế (chẳng hạn, một Root Manu và Seed Manu cho toàn bộ dãy), và dường như mục tiêu tự nhiên của một Chúa Tể Bầu hành tinh là trở thành một Manu như thế liên hệ với một dãy? Một Manu như thế có thể là điều gì đó thấp hơn một chút so với chính một Chúa Tể Dãy? |
|
53. We could extend that analogy in relation to a Planetary Logos. Perhaps such a Logos has a similar though still higher grouping of Manus, for a planetary scheme is as a chain to the Solar Logos. Could there be such Beings as the Root Manu and Seed Manu of an entire planetary scheme? Such a Being would be solar systemic in nature. |
53. Chúng ta có thể mở rộng phép loại suy đó liên hệ với một Hành Tinh Thượng đế. Có lẽ một Logos như thế có một nhóm Manu tương tự nhưng còn cao hơn nữa, vì một hệ hành tinh là như một dãy đối với Thái dương Thượng đế. Có thể có những Hữu thể như Root Manu và Seed Manu của toàn bộ một hệ hành tinh không? Một Hữu thể như thế sẽ có bản chất thuộc hệ mặt trời. |
|
54. Connected with every globe then, would be three Begins—the Globe-Lord and the Root and Seed Manus. Connected with every chain there would be three similar though higher Beings. And connected with every planetary scheme, there would also be three such Beings. |
54. Khi ấy, gắn liền với mỗi bầu hành tinh sẽ là ba Hữu thể—Chúa Tể Bầu hành tinh cùng Root Manu và Seed Manu. Gắn liền với mỗi dãy sẽ có ba Hữu thể tương tự nhưng cao hơn. Và gắn liền với mỗi hệ hành tinh, cũng sẽ có ba Hữu thể như thế. |
|
55. The number of Beings involved in the functioning of higher structures and Their relationships with each other is unknown to us, but when some hints are revealed, we find the structuring to be far more complex and mathematically precise than we might have expected. |
55. Số lượng các Hữu thể tham gia vào sự vận hành của các cấu trúc cao hơn và các mối liên hệ của Các Ngài với nhau là điều chúng ta chưa biết, nhưng khi một vài gợi ý được tiết lộ, chúng ta thấy cấu trúc ấy phức tạp hơn và chính xác về mặt toán học hơn nhiều so với điều chúng ta có thể đã mong đợi. |
|
56. DK’s suggestion about “Hierarchies of colour” is impenetrable at this point. Perhaps all Hierarchies can be identified in terms of their colour. Color functions as a veil, so perhaps DK is telling us that there are certain unknown and intervening Hierarchies of Beings within a planetary or solar system (the identity of which is veiled) which, if Their colors were known and their ‘position’ within the planetary or solar Hierarchy of Lives understood, would reveal the type of Being which a Chain-Lord is seeking to become. This is another way of saying that if we know that meaning of the color, we will know the B/being with which it is associated. |
56. Gợi ý của Chân sư DK về “các Huyền Giai màu sắc” là điều không thể xuyên thấu ở thời điểm này. Có lẽ mọi Huyền Giai đều có thể được nhận diện theo màu sắc của chúng. Màu sắc hoạt động như một bức màn che, vì vậy có lẽ Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng có những Huyền Giai Hữu thể trung gian và chưa biết nào đó trong một hệ hành tinh hay hệ mặt trời (bản sắc của chúng được che giấu) mà nếu màu sắc của Các Ngài được biết đến và “vị trí” của Các Ngài trong Huyền Giai hành tinh hay thái dương của các Sự Sống được thấu hiểu, thì sẽ tiết lộ loại Hữu thể mà một Chúa Tể Dãy đang tìm cách trở thành. Đây là một cách khác để nói rằng nếu chúng ta biết ý nghĩa của màu sắc, chúng ta sẽ biết H/hữu thể mà nó liên kết với. |
|
57. There is one more point to consider. DK speaks of the “informing Lives” (plural) of a planetary globe. We have been thinking in terms of a Globe-Lord, but perhaps He is thinking of a Hierarchy of Lives upon and within a globe. It is simple to think in terms of one Globe-Lord, but not so simple to think of a number of lives which inform a planetary globe. Of course, a Globe-Lord would be a group Entity just as a Planetary Logos is. So perhaps DK is considering a Globe-Lord as both a unity and a multiplicity. |
57. Còn một điểm nữa cần xem xét. Chân sư DK nói về “Sự Sống phú linhs” (số nhiều) của một bầu hành tinh. Chúng ta đã suy nghĩ theo thuật ngữ một Chúa Tể Bầu hành tinh, nhưng có lẽ Ngài đang nghĩ đến một Huyền Giai các sự sống trên và trong một bầu hành tinh. Thật đơn giản khi nghĩ theo thuật ngữ một Chúa Tể Bầu hành tinh, nhưng không đơn giản như vậy khi nghĩ đến một số sự sống phú linh cho một bầu hành tinh. Dĩ nhiên, một Chúa Tể Bầu hành tinh sẽ là một Thực Thể nhóm cũng như một Hành Tinh Thượng đế vậy. Vì thế có lẽ Chân sư DK đang xem một Chúa Tể Bầu hành tinh vừa là một hợp nhất vừa là một đa thể. |
|
58. There is also another problem. A Planetary Logos, also, is referred to frequently as a cosmic Being. So when we are speaking of a “cosmic chain”, the word “cosmic” remains ambiguous. This means that a “cosmic chain” could mean: |
58. Cũng còn một vấn đề khác. Một Hành Tinh Thượng đế cũng thường được gọi là một Hữu thể vũ trụ. Vì vậy khi chúng ta nói về một “dãy vũ trụ”, từ “vũ trụ” vẫn còn mơ hồ. Điều này có nghĩa là một “dãy vũ trụ” có thể có nghĩa là: |
|
a. A solar system considered as a “cosmic chain” in the life of a Cosmic Logos |
a. Một hệ mặt trời được xem như một “dãy vũ trụ” trong đời sống của một Vũ Trụ Thượng đế |
|
b. A planetary scheme, since a Solar Logos is a cosmic Being. |
b. Một hệ hành tinh, vì một Thái dương Thượng đế là một Hữu thể vũ trụ. |
|
c. A normal planetary chain since a Planetary Logos is also a cosmic Being! |
c. Một dãy hành tinh thông thường vì một Hành Tinh Thượng đế cũng là một Hữu thể vũ trụ! |
|
59. The most rational solution is to consider that a Globe-Lord (or the composite lives which together constitute a Globe-Lord) have for an immediate goal a position which is still within a planetary scheme. In other words, the destiny of a Globe-Lord would lie within a planetary chain, and such a Lord might become a Root Chain Manu, a Seed Chain Manu or, eventually a Chain-Lord, per se. |
59. Giải pháp hợp lý nhất là xem rằng một Chúa Tể Bầu hành tinh (hay các sự sống tổng hợp cùng nhau cấu thành một Chúa Tể Bầu hành tinh) có mục tiêu trước mắt là một vị trí vẫn còn ở trong một hệ hành tinh. Nói cách khác, định mệnh của một Chúa Tể Bầu hành tinh sẽ nằm trong một dãy hành tinh, và một Chúa Tể như thế có thể trở thành một Root Chain Manu, một Seed Chain Manu hoặc cuối cùng là chính một Chúa Tể Dãy. |
|
60. In the future, each of the entries in this tabulation will admit of extensive elaboration—when more is known. For the moment, reasoned speculation is all that is possible. |
60. Trong tương lai, mỗi mục trong bảng liệt kê này sẽ cho phép được khai triển rộng rãi—khi biết được nhiều hơn. Hiện giờ, suy đoán có lý là tất cả những gì có thể làm được. |
|
4.The informing life of a kingdom in nature: Transference in one of three directions: |
4.Sự sống phú linh của một giới trong thiên nhiên: Chuyển dịch theo một trong ba hướng: |
|
a. To the line of the solar Pitris. |
a. Đến đường của các thái dương tổ phụ. |
|
b. To Sirius, as a karmic adjuster. |
b. Đến Sirius, như một vị điều chỉnh nghiệp quả. |
|
c. To the solar system of the next order to work in connection with the planetary Logos of his own line as ruler of a kingdom or life wave in the system, and not just in a scheme. |
c. Đến hệ mặt trời của trật tự kế tiếp để hoạt động liên hệ với Hành Tinh Thượng đế thuộc đường riêng của y như Đấng Cai Quản một giới hay một làn sóng sự sống trong hệ, chứ không chỉ trong một hệ hành tinh. |
|
61. We are given seven kingdoms of nature: |
61. Chúng ta được cho biết có bảy giới trong thiên nhiên: |
|
a. Mineral |
a. Kim thạch |
|
b. Vegetable |
b. Thực vật |
|
c. Animal |
c. Động vật |
|
d. Human |
d. Nhân loại |
|
e. Spiritual |
e. Tinh thần |
|
f. Planetary Lives |
f. Các Sự Sống Hành tinh |
|
g. Solar |
g. Thái dương |
|
62. Kingdoms of nature are found throughout the solar system (as we discover when considering the meaning of point “3.” Above). At first, however, we seem to be speaking of the Lives which inform kingdoms of nature as they are found within a planetary scheme. |
62. Các giới trong thiên nhiên được tìm thấy khắp hệ mặt trời (như chúng ta khám phá khi xét ý nghĩa của điểm “3.” ở trên). Tuy nhiên, lúc đầu, dường như chúng ta đang nói về các Sự Sống phú linh cho các giới trong thiên nhiên như chúng được tìm thấy trong một hệ hành tinh. |
|
63. Can we hierarchicalize the three goals listed above? This is not easy to do. The goals seem very different and may not admit of ranking. If anything, the third goal seems the highest. |
63. Chúng ta có thể hierarchicalize ba mục tiêu được liệt kê ở trên không? Điều này không dễ làm. Các mục tiêu dường như rất khác nhau và có thể không cho phép xếp hạng. Nếu có thể nói gì, thì mục tiêu thứ ba dường như là cao nhất. |
|
64. The first goal is “transference to the line of the solar Pitris”. One could assume that “solar Pitris” are beings greater than the “informing lives of a kingdom of nature”, but we see that the order of lives (listed below in this tabulation as the fifth group of lives) is a lesser category. The tabulation we are working with seems to arrange the L/lives it describes in descending order of power and position. |
64. Mục tiêu thứ nhất là “chuyển dịch đến đường của các thái dương tổ phụ”. Người ta có thể giả định rằng “thái dương tổ phụ” là những hữu thể lớn hơn “các sự sống phú linh của một giới trong thiên nhiên”, nhưng chúng ta thấy rằng trật tự các sự sống (được liệt kê bên dưới trong bảng này như nhóm sự sống thứ năm) là một phạm trù thấp hơn. Bảng liệt kê mà chúng ta đang làm việc dường như sắp xếp các S/sự sống mà nó mô tả theo thứ tự giảm dần về quyền năng và vị trí. |
|
65. Of course, each of the groupings of L/lives examined is, itself, a Hierarchy and so, within itself, covers a vast range of power and consciousness. |
65. Dĩ nhiên, mỗi nhóm S/sự sống được khảo sát tự nó là một Huyền Giai và vì vậy, trong chính nó, bao trùm một phạm vi rất rộng về quyền năng và tâm thức. |
|
66. For the time being, it seems best to regard with simplicity the tabulation structure with which we are presented. If we do this, we will assume that the “informing lives of a kingdom of nature” are greater Lives than the “solar Pitris” (though possible contradictions may appear to those who read with attention). |
66. Hiện thời, dường như tốt nhất là nhìn cấu trúc bảng liệt kê được trình bày cho chúng ta một cách đơn giản. Nếu làm như vậy, chúng ta sẽ giả định rằng “các sự sống phú linh của một giới trong thiên nhiên” là những Sự Sống lớn hơn “các thái dương tổ phụ” (dù những mâu thuẫn có thể có có thể xuất hiện đối với những ai đọc một cách chú tâm). |
|
67. If we wish to know the meaning of “the line of the solar Pitris”, we will have to know the spiritual destination of “solar Pitris”. At length they can become (in group formation) a Planetary Logos or even a Solar Logos. So, a Life (such as the Life informing a kingdom of nature) could also achieve such a destiny, but apparently it would be starting on such a path from a more advanced position than would a member of the Creative Hierarchy of Solar Pitris. |
67. Nếu chúng ta muốn biết ý nghĩa của “đường của các thái dương tổ phụ”, chúng ta sẽ phải biết đích đến tinh thần của “các thái dương tổ phụ”. Cuối cùng, các vị ấy có thể trở thành (trong sự hình thành nhóm) một Hành Tinh Thượng đế hay thậm chí một Thái dương Thượng đế. Vì vậy, một Sự Sống (chẳng hạn như Sự Sống phú linh cho một giới trong thiên nhiên) cũng có thể đạt được một định mệnh như thế, nhưng rõ ràng nó sẽ bắt đầu trên con đường ấy từ một vị trí tiến bộ hơn so với một thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo các thái dương tổ phụ. |
|
68. The next goal offered to the “informing life of a kingdom in nature” is to be transferred to Sirius and there to become a “karmic adjuster”. This is interesting because “solar Pitris”, themselves, are, as it were, lesser “karmic adjusters”. |
68. Mục tiêu kế tiếp được đưa ra cho “sự sống phú linh của một giới trong thiên nhiên” là được chuyển dịch đến Sirius và ở đó trở thành một “vị điều chỉnh nghiệp quả”. Điều này thật thú vị vì chính “các thái dương tổ phụ”, theo một nghĩa nào đó, là những “vị điều chỉnh nghiệp quả” thấp hơn. |
|
69. Perhaps there are some “solar Pitris” who, originating from Sirius (or, at least trained there) might eventually become greater “karmic adjusters” (just as the “informing life of a kingdom in nature” can become). |
69. Có lẽ có một số “thái dương tổ phụ” mà, xuất phát từ Sirius (hoặc ít nhất được huấn luyện ở đó) cuối cùng có thể trở thành những “vị điều chỉnh nghiệp quả” cao hơn (cũng như “sự sống phú linh của một giới trong thiên nhiên” có thể trở thành). |
|
70. What is apparent is that there is a connection between “solar Pitris”, the informing lives of the kingdoms in nature, and Sirius. |
70. Điều rõ ràng là có một mối liên hệ giữa “các thái dương tổ phụ”, các sự sống phú linh của các giới trong thiên nhiên, và Sirius. |
|
71. We know that the various kingdoms of nature have their own karma. Apparently the informing L/life of any such kingdom is not the Intelligence which administers the karma of that kingdom. Just as man, the human being, does not administer his own karma but finds it adjusted by a Solar Angel, so an informing L/life of a kingdom in nature does not administer the karma of the kingdom it informs, but finds that karma adjusted by the type of superior Life which it (the L/life of a kingdom) can become. |
71. Chúng ta biết rằng các giới khác nhau trong thiên nhiên có nghiệp quả riêng của chúng. Rõ ràng S/sự sống phú linh của bất kỳ giới nào như thế không phải là Trí Tuệ quản trị nghiệp quả của giới đó. Cũng như con người không tự quản trị nghiệp quả của mình mà thấy nó được điều chỉnh bởi một Thái dương Thiên Thần, thì một S/sự sống phú linh của một giới trong thiên nhiên cũng không quản trị nghiệp quả của giới mà nó phú linh, mà thấy nghiệp quả ấy được điều chỉnh bởi loại Sự Sống cao hơn mà nó (S/sự sống của một giới) có thể trở thành. |
|
72. Would the responsibility of a “karmic adjuster” operate on a solar systemic level or a scheme level? We are not told, but the implication is that a “karmic adjuster” would first work in relation to a kingdom-L/life expressing within a planetary scheme. |
72. Trách nhiệm của một “vị điều chỉnh nghiệp quả” sẽ hoạt động ở cấp độ hệ mặt trời hay cấp độ hệ hành tinh? Chúng ta không được cho biết, nhưng hàm ý là một “vị điều chỉnh nghiệp quả” trước tiên sẽ hoạt động liên hệ với một S/sự sống-giới biểu hiện trong một hệ hành tinh. |
|
73. The third goal of an “informing life of a kingdom in nature” is to focus within the solar system of the next order to work in connection with the planetary Logos of his own line as Ruler of a kingdom or life wave in the system, and not just in a planetary scheme. |
73. Mục tiêu thứ ba của một “sự sống phú linh của một giới trong thiên nhiên” là tập trung trong hệ mặt trời của trật tự kế tiếp để hoạt động liên hệ với Hành Tinh Thượng đế thuộc đường riêng của y như Đấng Cai Quản một giới hay một làn sóng sự sống trong hệ, chứ không chỉ trong một hệ hành tinh. |
|
74. Here we find the scope of expression of such an evolving Life expanding beyond the scheme level. This seems to suggest that the earlier two goals were contained within the scheme level and, thus, offered less expansive possibilities. |
74. Ở đây chúng ta thấy phạm vi biểu hiện của một Sự Sống đang tiến hoá như thế mở rộng vượt quá cấp độ hệ hành tinh. Điều này dường như gợi ý rằng hai mục tiêu trước đó được chứa trong cấp độ hệ hành tinh và do đó đưa ra những khả thể ít mở rộng hơn. |
|
75. Two types of future rulership are offered in relation to a solar system of the next order. Given the position of our present solar system (the second major solar system of five), this would mean work within the coming third (or sixth) solar system. The present “informing life of a kingdom in nature” could work as the Ruler of a “life wave” or as the Ruler of kingdom in nature throughout the solar system. Kingdoms of nature are, we realize, expressing through all planetary schemes. For instance, the mineral kingdom is to be found expressing through all planetary schemes in a solar system, and thus for the remaining kingdoms. |
75. Hai loại quyền cai quản tương lai được đưa ra liên hệ với một hệ mặt trời của trật tự kế tiếp. Với vị trí của hệ mặt trời hiện tại của chúng ta (hệ mặt trời lớn thứ hai trong năm hệ), điều này sẽ có nghĩa là công việc trong hệ mặt trời thứ ba (hay thứ sáu) sắp đến. “Sự sống phú linh của một giới trong thiên nhiên” hiện tại có thể hoạt động như Đấng Cai Quản một “làn sóng sự sống” hoặc như Đấng Cai Quản một giới trong thiên nhiên khắp hệ mặt trời. Chúng ta nhận ra rằng các giới trong thiên nhiên đang biểu hiện qua mọi hệ hành tinh. Chẳng hạn, giới kim thạch được tìm thấy đang biểu hiện qua mọi hệ hành tinh trong một hệ mặt trời, và các giới còn lại cũng vậy. |
|
76. A “life wave” is a group of Monads passing cyclically through various kingdoms of nature. Life waves are of different orders. Some are operative at the scheme level and some, far greater, at the systemic level. |
76. Một “làn sóng sự sống” là một nhóm các Chân thần đi theo chu kỳ qua các giới khác nhau trong thiên nhiên. Các làn sóng sự sống thuộc những trật tự khác nhau. Một số hoạt động ở cấp độ hệ hành tinh và một số khác, lớn lao hơn nhiều, ở cấp độ hệ thống. |
|
77. We are somewhat familiar with the function of life waves at a chain level, but how they would function at a scheme level or solar systemic level leaves much room for careful thought and speculation. |
77. Chúng ta phần nào quen thuộc với chức năng của các làn sóng sự sống ở cấp độ dãy, nhưng việc chúng sẽ hoạt động như thế nào ở cấp độ hệ hành tinh hay cấp độ hệ mặt trời thì để lại rất nhiều chỗ cho sự suy nghĩ và suy đoán cẩn trọng. |
|
78. From what is said, is would appear that an earlier option (for the type of life which informs a kingdom in nature at the scheme level) would have been to rule a life wave focussed within a scheme, but of this lesser possibility nothing is mentioned. If ruling a kingdom of nature and ruling a life wave are considered parallel possibilities at a systemic level, there is no reason why such possibilities should not exist at both the scheme level and systemic level (the wider level mentioned in the section of text under discussion). |
78. Từ những gì được nói ra, dường như một lựa chọn sớm hơn (đối với loại sự sống phú linh cho một giới trong thiên nhiên ở cấp độ hệ hành tinh) hẳn đã là cai quản một làn sóng sự sống tập trung trong một hệ hành tinh, nhưng không có gì được nói đến về khả thể thấp hơn này. Nếu việc cai quản một giới trong thiên nhiên và cai quản một làn sóng sự sống được xem là những khả thể song song ở cấp độ hệ thống, thì không có lý do gì khiến những khả thể như thế lại không tồn tại ở cả cấp độ hệ hành tinh lẫn cấp độ hệ thống (cấp độ rộng hơn được nhắc đến trong đoạn văn đang bàn). |
|
79. It becomes clear that an “informing life of a kingdom in nature”, working presently at the scheme level of expression is eventually given the opportunity (as a composite Being, no doubt) to work at the solar systemic level, with powers and with a consciousness which extends throughout the solar system and through all planetary schemes within that solar system. |
79. Rõ ràng rằng một “sự sống phú linh của một giới trong thiên nhiên”, hiện đang hoạt động ở cấp độ biểu hiện của hệ hành tinh, cuối cùng được trao cơ hội (không nghi ngờ gì, như một Hữu thể tổng hợp) để hoạt động ở cấp độ hệ mặt trời, với những quyền năng và một tâm thức trải rộng khắp hệ mặt trời và qua mọi hệ hành tinh trong hệ mặt trời đó. |
|
80. We also note that such a life is to work in conjunction with “a Planetary Logos of his own line” when ruling a systemic life wave or systemic kingdom. Presumably, the “line” involved is a ray line, and the “informing life” concerned has a ray structure just as all E/entities do. |
80. Chúng ta cũng lưu ý rằng một sự sống như thế sẽ hoạt động phối hợp với “một Hành Tinh Thượng đế thuộc đường riêng của y” khi cai quản một làn sóng sự sống hệ thống hay một giới hệ thống. Có lẽ “đường” liên quan là một đường cung, và “sự sống phú linh” được nói đến có một cấu trúc cung cũng như mọi Thực Thể khác. |
|
81. When thinking of planetary or systemic life waves, we are thinking of groups of Monads. Large aggregations of Monads are, in fact, Creative Hierarchies, and Creative Hierarchies are qualified by certain rays and astrological factors. |
81. Khi nghĩ đến các làn sóng sự sống hành tinh hay hệ thống, chúng ta đang nghĩ đến các nhóm Chân thần. Những tập hợp lớn các Chân thần thật ra là các Huyền Giai Sáng Tạo, và các Huyền Giai Sáng Tạo được định tính bởi một số cung và các yếu tố chiêm tinh nhất định. |
|
82. The Creative Hierarchy of Human Monads can be considered a system-wide life wave and is qualified by the energies of the fourth ray (among others) and by the energy of Scorpio. The Planetary Logos concerned could be Mercury (in its soul aspect) or some hidden planet veiled by the Moon. Vulcan (as, hypothetically, a fourth ray Monad) could also be involved. |
82. Huyền Giai Sáng Tạo của các Chân thần nhân loại có thể được xem là một làn sóng sự sống toàn hệ và được định tính bởi các năng lượng của cung bốn (trong số những năng lượng khác) và bởi năng lượng của Hổ Cáp. Hành Tinh Thượng đế liên quan có thể là Sao Thủy (trong phương diện linh hồn của nó) hoặc một hành tinh ẩn kín nào đó được Mặt Trăng che giấu. Vulcan (như, theo giả thuyết, một chân thần cung bốn) cũng có thể liên quan. |
|
5. The solar Pitris.The highest three groups will become major planetary Logoi; the lower four groups will become minor planetary Logoi. |
5. Các thái dương tổ phụ.Ba nhóm cao nhất sẽ trở thành các Hành Tinh Thượng đế lớn; bốn nhóm thấp hơn sẽ trở thành các Hành Tinh Thượng đế nhỏ. |
|
83. Now we are entering more familiar ‘territory’, but it is useful to think of the continuum of Lives which is found between “solar Pitris”, for instance, and Planetary Logoi of different kinds. The informing Lives of the various kingdoms in nature could be considered such intervening Lives. |
83. Giờ đây chúng ta đang đi vào “lãnh vực” quen thuộc hơn, nhưng thật hữu ích khi suy nghĩ về chuỗi liên tục các Sự Sống được tìm thấy giữa chẳng hạn như “các thái dương tổ phụ” và các Hành Tinh Thượng đế thuộc những loại khác nhau. Các Sự Sống phú linh của các giới khác nhau trong thiên nhiên có thể được xem là những Sự Sống trung gian như thế. |
|
84. From the division into three and four, we learn that there are seven groups of “solar Pitris”. This is a considerable number—more than have been discussed in any detail. |
84. Từ sự phân chia thành ba và bốn, chúng ta biết rằng có bảy nhóm “thái dương tổ phụ”. Đây là một con số đáng kể—nhiều hơn số đã từng được bàn đến một cách chi tiết. |
|
85. We have been told of Solar Angels which are related to the manasic permanent atom; of those which are related to each tier of petals of the egoic lotus and, as well, to every petal; of those which are related to the units in the atomic triangle; and of those who incarnated and moulded the human type long ago in ancient Lemuria. We have also been told of a differentiation between those which implanted the spark of mind in animal man and those who simply “fanned the flame” of the mental unit. From these different categories of solar angelic function, however, it would not be easy to discern seven distinct categories. Rather, there are both more and less. |
85. Chúng ta đã được cho biết về các Thái dương Thiên Thần liên hệ với nguyên tử trường tồn manas; về những vị liên hệ với mỗi tầng cánh hoa của hoa sen chân ngã và cũng như với từng cánh hoa; về những vị liên hệ với các đơn vị trong tam giác nguyên tử; và về những vị đã nhập thể và uốn nắn loại hình nhân loại từ lâu trong Lemuria cổ xưa. Chúng ta cũng đã được cho biết về một sự biến phân giữa những vị đã cấy tia lửa trí tuệ vào người thú và những vị chỉ đơn giản “quạt bùng ngọn lửa” của đơn vị hạ trí. Tuy nhiên, từ những phạm trù chức năng thái dương thiên thần khác nhau này, sẽ không dễ để phân biện ra bảy phạm trù riêng biệt. Đúng hơn, vừa có nhiều hơn vừa có ít hơn. |
|
86. The “solar Pitris” do not, themselves, become Planetary Logoi. They do so in groups. |
86. Chính “các thái dương tổ phụ” không tự mình trở thành các Hành Tinh Thượng đế. Các vị ấy làm điều đó theo nhóm. |
|
The student must bear in mind that [Page 879] in thinking of the Pitris, he must ever think in group terms. The Pitris who formed the egoic body of a human being do not—alone and isolated—form planetary Logoi. The forty-nine groups of solar fires concerned in the great work are those spoken of, and they become the forty-nine planetary Logoi in connexion with seven solar systems. (TCF 878-879) |
Đạo sinh phải ghi nhớ rằng [Page 879] khi suy nghĩ về các Pitris, y phải luôn luôn suy nghĩ theo thuật ngữ nhóm. Các Pitris đã tạo thành thể chân ngã của một con người không—một mình và cô lập—tạo thành các Hành Tinh Thượng đế. Bốn mươi chín nhóm lửa thái dương liên quan đến đại công trình là những nhóm được nói đến, và chúng trở thành bốn mươi chín Hành Tinh Thượng đế trong sự liên kết với bảy hệ mặt trời. (TCF 878-879) |
|
87. The same idea is expressed in this tabulation. The three higher groups will become major Planetary Logoi. The four lower groups will become minor Planetary Logoi. |
87. Cùng một ý tưởng được diễn đạt trong bảng liệt kê này. Ba nhóm cao hơn sẽ trở thành các Hành Tinh Thượng đế lớn. Bốn nhóm thấp hơn sẽ trở thành các Hành Tinh Thượng đế nhỏ. |
|
88. This is not necessarily to say that “major Planetary Logoi” are Logoi of synthesizing planets. Perhaps the Logoi of synthesizing, sacred and non-sacred planets are all “major” Planetary Logoi. |
88. Điều này không nhất thiết có nghĩa rằng các “Hành Tinh Thượng đế lớn” là các Logoi của các hành tinh tổng hợp. Có lẽ các Logoi của các hành tinh tổng hợp, thiêng liêng và không thiêng liêng đều là các Hành Tinh Thượng đế “lớn”. |
|
89. In our solar system, there are many minor planets and planetoids. Chain-Lords and Globe-Lords may also be considered “minor” Planetary Logoi. There are also, so it seems, the Logoi are asteroids. |
89. Trong hệ mặt trời của chúng ta, có nhiều hành tinh nhỏ và tiểu hành tinh. Các Chúa Tể Dãy và các Chúa Tể Bầu hành tinh cũng có thể được xem là những Hành Tinh Thượng đế “nhỏ”. Cũng có, dường như vậy, các Logoi của các tiểu hành tinh. |
|
90. We will know more when we understand the exact planetary constitution of our solar system. For now, the number of planets (dense, etheric, astral or otherwise unmanifested) is not known by humanity (but is by those Masters Who specialize in such information). Further the, number of planetoids (manifested and unmanifested) is also unknown and, thus, for the asteroids. |
90. Chúng ta sẽ biết nhiều hơn khi hiểu được cấu tạo hành tinh chính xác của hệ mặt trời chúng ta. Hiện nay, số lượng các hành tinh (đậm đặc, dĩ thái, cảm dục hay không biểu hiện theo cách khác) chưa được nhân loại biết đến (nhưng được biết bởi những Chân sư chuyên về loại thông tin này). Hơn nữa, số lượng các tiểu hành tinh (biểu hiện và không biểu hiện) cũng chưa được biết đến, và vì vậy, các tiểu hành tinh. |
|
91. When the number of such Entities is known, the destination of the different types of Solar Angels or “solar Pitris” will be better understood. |
91. Khi số lượng của các Thực Thể như thế được biết đến, đích đến của các loại Thái dương Thiên Thần hay “thái dương tổ phụ” khác nhau sẽ được hiểu rõ hơn. |
|
92. “Solar Pitris”, we are told, are also destined to become Solar Logoi. This will obviously be accomplished in groups. This is, perhaps, another way of saying that Planetary Logoi are destined to become Solar Logoi, for Solar Angels/“solar Pitris” are destined to become Planetary Logoi Who are, subsequently, destined to become Solar Logoi. |
92. Chúng ta được bảo rằng “thái dương tổ phụ” cũng được định mệnh để trở thành các Thái dương Thượng đế. Điều này hiển nhiên sẽ được hoàn thành theo nhóm. Có lẽ đây là một cách khác để nói rằng các Chân Linh Hành Tinh được định mệnh trở thành các Thái dương Thượng đế, vì các Thái dương Thiên Thần/“thái dương tổ phụ” được định mệnh trở thành các Chân Linh Hành Tinh, rồi sau đó được định mệnh trở thành các Thái dương Thượng đế. |
|
Perfected men are in the councils of the planetary Logos of their particular ray; the solar Pitris are in the council of the solar Logos.69 [All these will become solar Logoi of varying grades.] (TCF 843) |
Những con người toàn thiện ở trong các hội đồng của Hành Tinh Thượng đế thuộc cung riêng của họ; các thái dương tổ phụ ở trong hội đồng của Thái dương Thượng đế.69 [Tất cả những vị này sẽ trở thành các Thái dương Thượng đế với những cấp bậc khác nhau.] (TCF 843) |
|
93. It is clear that in this tabulation we are presented with destined transformations. Some transformations represent the next immediate developmental step forward for the E/entity concerned. Some transformations indicate a goal several developmental steps ahead. |
93. Rõ ràng trong bản liệt kê này, chúng ta được trình bày những sự chuyển đổi đã được định mệnh. Một số chuyển đổi tượng trưng cho bước phát triển kế tiếp trực tiếp của Thực thể liên hệ. Một số chuyển đổi khác chỉ ra một mục tiêu còn cách vài bước phát triển nữa. |
|
94. If Solar Angels/“solar Pitris” are to become “solar Logoi of varying grades”, the goal presented is several developmental steps ahead and indicates will very long developmental period. |
94. Nếu các Thái dương Thiên Thần/“thái dương tổ phụ” sẽ trở thành “các Thái dương Thượng đế với những cấp bậc khác nhau”, thì mục tiêu được nêu ra còn cách vài bước phát triển nữa và hàm ý một thời kỳ phát triển rất dài. |
|
95. Now let us reflect upon the developmental step or steps ahead of “an informing life of a kingdom in nature”. The goal for such a Life was to transfer to the line of Solar Pitris (which could seem a backward step) or to go to Sirius to become a “karmic adjuster”, or to direct a life-wave or systemic kingdom in cooperation with a Planetary Logos “along his line” (i.e., the line of the “informing life”). These goals do not seem as exalted as the goal of becoming a Planetary Logos or Solar Logos (goals held out to “solar Pitris”). |
95. Bây giờ chúng ta hãy suy ngẫm về bước hay các bước phát triển ở phía trước của “một sự sống phú linh cho một giới trong thiên nhiên”. Mục tiêu của một Sự Sống như thế là chuyển sang tuyến các thái dương tổ phụ (điều này có thể có vẻ là một bước lùi), hoặc đi đến Sirius để trở thành một “đấng điều chỉnh nghiệp quả”, hoặc chỉ đạo một làn sóng sự sống hay một giới hệ thống trong sự hợp tác với một Hành Tinh Thượng đế “theo tuyến của y” (nghĩa là tuyến của “sự sống phú linh”). Những mục tiêu này dường như không cao cả bằng mục tiêu trở thành một Chân Linh Hành Tinh hay một Thái dương Thượng đế (những mục tiêu được dành cho “thái dương tổ phụ”). |
|
96. Also, the goal held out to a Globe-Lord is to become the Manu of a “cosmic chain” which, depending upon how we interpret the rank of such a Manu, may be less exalted than a Planetary Logos or Solar Logos. |
96. Ngoài ra, mục tiêu được dành cho một Chúa Tể bầu hành tinh là trở thành Đức Manu của một “dãy vũ trụ”, điều này, tùy theo cách chúng ta diễn giải cấp bậc của một Đức Manu như thế, có thể kém cao cả hơn một Chân Linh Hành Tinh hay một Thái dương Thượng đế. |
|
97. We have in this tabulation, therefore, some possible ‘status discrepancies’ which have to be clarified. |
97. Vì vậy, trong bản liệt kê này chúng ta có một số khả năng về ‘sự chênh lệch địa vị’ cần phải được làm sáng tỏ. |
|
98. Of one thing we can be certain—the destiny lying before “solar Pitris” is a high one. Perhaps this is why it is said that the Path to Sirius offers those who tread it unusual opportunity, for when the human being (once He becomes a Chohan) treads the Path to Sirius, He is destined to become a Solar Angel after sufficient training within the “sunshine of the major Sun”. |
98. Về một điều chúng ta có thể chắc chắn—định mệnh ở phía trước của “thái dương tổ phụ” là một định mệnh cao cả. Có lẽ đây là lý do vì sao người ta nói rằng Con đường đến Sirius mang lại cơ hội khác thường cho những ai bước trên đó, vì khi con người, một khi đã trở thành một Chohan, bước trên Con đường đến Sirius, Ngài được định mệnh trở thành một Thái dương Thiên Thần sau khi được huấn luyện đầy đủ trong “ánh dương quang của Mặt Trời lớn”. |
|
6. The human evolution…To become the solar Pitris of another cycle. To follow any of the paths earlier enumerated. Those who become solar Pitris, being the bulk of humanity, return to Sirius to be breathed out again into activity. |
6. Tiến hoá nhân loại…Trở thành các thái dương tổ phụ của một chu kỳ khác. Đi theo bất kỳ con đường nào đã được liệt kê trước đó. Những ai trở thành thái dương tổ phụ, là đại đa số nhân loại, trở về Sirius để lại được thở ra vào hoạt động. |
|
99. The bulk of humanity will become Solar Angels, and eventually, either minor or major Planetary Logoi, though there are other Paths open to them, as we have been told. |
99. Đại đa số nhân loại sẽ trở thành các Thái dương Thiên Thần, và cuối cùng là các Chân Linh Hành Tinh nhỏ hoặc lớn, mặc dù còn có những Con Đường khác mở ra cho họ, như chúng ta đã được bảo. |
|
100. Since Solar Angels become Planetary Logos in groups we might wonder whether human beings become Solar Angels in groups. |
100. Vì các Thái dương Thiên Thần trở thành Chân Linh Hành Tinh theo nhóm, chúng ta có thể tự hỏi liệu con người có trở thành các Thái dương Thiên Thần theo nhóm hay không. |
|
101. Each ascent along the line of the Creative Hierarchies may be a group ascent. Let us ponder on this for it may indicate the manner in which the ‘Universal Pyramid’ may be ascended. |
101. Mỗi sự thăng tiến dọc theo tuyến của các Huyền Giai Sáng Tạo có thể là một sự thăng tiến theo nhóm. Chúng ta hãy suy ngẫm về điều này vì nó có thể chỉ ra cách thức mà ‘Kim Tự Tháp Vũ Trụ’ có thể được leo lên. |
|
102. The “cycle” concerned is probably a subsequent mahamanvantara or occult century. Since we are only half way through our present mahamanvantara, we can understand that it may be a very long while before those who are presently the bulk of humanity are ”breathed out again into activity” from Sirius. |
102. “Chu kỳ” được nói đến có lẽ là một Đại giai kỳ sinh hóa tiếp theo hay một thế kỷ huyền bí. Vì chúng ta mới chỉ đi được nửa chặng của Đại giai kỳ sinh hóa hiện tại, chúng ta có thể hiểu rằng sẽ còn rất lâu trước khi những ai hiện nay là đại đa số nhân loại “lại được thở ra vào hoạt động” từ Sirius. |
|
103. The bulk of humanity is not mentally polarized and needs the manasic development which experience on Sirius will offer. |
103. Đại đa số nhân loại không phân cực trí tuệ và cần sự phát triển manas mà kinh nghiệm trên Sirius sẽ mang lại. |
|
104. As for the human beings not contained in the majority, the six other (now, in fact, eight other) cosmic paths offer the possibility for further training. |
104. Còn đối với những con người không nằm trong đa số ấy, sáu con đường vũ trụ khác (nay thực ra là tám con đường khác) mở ra khả năng được huấn luyện thêm. |
|
105. Just as there are many possible cosmic Paths which can be followed by a human being, we should not suppose that a variety of Paths do not confront other types of Beings, such as Globe-Lords, the informing lives of kingdoms in nature and Solar Angels. Each Creative Hierarchy is sevenfold and the lines of possible improvement offered to each Hierarchy should give scope for the different types within that Hierarchy. |
105. Cũng như có nhiều Con Đường vũ trụ khả dĩ mà một con người có thể đi theo, chúng ta không nên cho rằng những loại Hữu thể khác, như các Chúa Tể bầu hành tinh, các sự sống phú linh cho các giới trong thiên nhiên và các Thái dương Thiên Thần, lại không đối diện với nhiều Con Đường khác nhau. Mỗi Huyền Giai Sáng Tạo đều thất phân và các tuyến cải thiện khả dĩ được dành cho mỗi Huyền Giai phải tạo phạm vi cho các loại khác nhau bên trong Huyền Giai ấy. |
|
7. The lunar Pitris…To become men. They will in their higher grades pass directly into the animal evolution of the next cycle and so eventually individualise. Their three higher grades will become animal-men, and the lower four will contribute to the quaternic forms of the men of the next creation. |
7. Các thái âm tổ phụ…Trở thành con người. Ở các cấp cao hơn, họ sẽ đi thẳng vào tiến hoá động vật của chu kỳ kế tiếp và như thế cuối cùng sẽ biệt ngã hóa. Ba cấp cao hơn của họ sẽ trở thành người-thú, và bốn cấp thấp hơn sẽ đóng góp vào các hình tướng tứ phân của con người trong cuộc sáng tạo kế tiếp. |
|
106. Again, we are faced with a sevenfold division. Each Creative Hierarchy is sevenfold. |
106. Một lần nữa, chúng ta đối diện với một phân chia thất phân. Mỗi Huyền Giai Sáng Tạo đều thất phân. |
|
107. When examining such septenates, we find that they are divided into a three and a four—the three (in this instance) being higher. |
107. Khi khảo sát những bộ bảy như thế, chúng ta thấy rằng chúng được chia thành một bộ ba và một bộ bốn—bộ ba (trong trường hợp này) là cao hơn. |
|
108. We must ask about the meaning of “the next cycle”. Is the next mahamanvantara meant? |
108. Chúng ta phải hỏi về ý nghĩa của “chu kỳ kế tiếp”. Có phải Đại giai kỳ sinh hóa kế tiếp được hàm ý không? |
|
109. If the higher groups of lunar lords enter directly into the animal evolution of the next mahamanvantara, they should not have to wait until a succeeding mahamanvantara to become human beings. Animals on our chain became human beings within the chain and certainly do not have to wait until the onset of another occult century to make the necessary transition into a higher kingdom. |
109. Nếu các nhóm cao hơn của các nguyệt tinh quân đi thẳng vào tiến hoá động vật của Đại giai kỳ sinh hóa kế tiếp, thì họ không phải chờ đến một Đại giai kỳ sinh hóa tiếp sau nữa mới trở thành con người. Các động vật trên dãy của chúng ta đã trở thành con người ngay trong dãy ấy và chắc chắn không phải chờ đến khi một thế kỷ huyền bí khác bắt đầu mới thực hiện sự chuyển tiếp cần thiết vào một giới cao hơn. |
|
110. We see, when comparing the status of those lunar lords who comprise the quaternic forms of men and those entities who are animals, that the animals are higher in evolutionary development. We are not sure what kinds of animals are meant. All kinds? Or only the higher forms of animals? |
110. Khi so sánh địa vị của những nguyệt tinh quân cấu thành các hình tướng tứ phân của con người với những thực thể là động vật, chúng ta thấy rằng động vật cao hơn về mặt phát triển tiến hoá. Chúng ta không chắc những loại động vật nào được nói đến. Mọi loại chăng? Hay chỉ những hình thức động vật cao hơn? |
|
111. In any case, we see that the higher forms of lunar lords are already quite close to the animal kingdom. The animal kingdom is ruled by Mars and so are the lunar lords (EA, 35, Creative Hierarchy VI). |
111. Dù sao đi nữa, chúng ta thấy rằng những hình thức cao hơn của các nguyệt tinh quân đã khá gần với giới động vật. Giới động vật được Sao Hỏa cai quản và các nguyệt tinh quân cũng vậy (EA, 35, Huyền Giai Sáng Tạo VI). |
|
112. Interestingly, the lunar lords, apparently, do not enter the plant kingdom. This is probably the case because their origin is lunar—the third chain, correlating with the third kingdom, the animal kingdom. |
112. Điều đáng chú ý là các nguyệt tinh quân dường như không đi vào giới thực vật. Có lẽ là vì nguồn gốc của họ là nguyệt tính—dãy thứ ba, tương ứng với giới thứ ba, giới động vật. |
|
113. Lunar lives are transplants from the Moon-chain and, in a way, do not belong to the evolution of the fourth chain at all. They are currently in process of redemption and are being integrated into (grafted into or upon) the life expression of the Earth-chain. |
113. Các sự sống nguyệt tính là những sự cấy ghép từ Dãy Mặt Trăng và, theo một nghĩa nào đó, hoàn toàn không thuộc về tiến hoá của Dãy Thứ Tư. Hiện nay họ đang trong tiến trình được cứu chuộc và đang được tích hợp vào (ghép vào hay ghép lên) biểu hiện sự sống của Dãy Địa Cầu. |
|
114. Perhaps we can form an analogy between: |
114. Có lẽ chúng ta có thể lập một sự tương đồng giữa: |
|
a. The destiny of the three synthesizing planets and that of the other four sacred planets. |
a. Định mệnh của ba hành tinh tổng hợp và định mệnh của bốn hành tinh thiêng liêng còn lại. |
|
b. The destiny of the three Lives informing the three highest kingdoms and the four Lives informing the four lowest. |
b. Định mệnh của ba Sự Sống phú linh cho ba giới cao nhất và bốn Sự Sống phú linh cho bốn giới thấp nhất. |
|
c. The three higher types of Solar Angels and the four lower |
c. Ba loại Thái dương Thiên Thần cao hơn và bốn loại thấp hơn |
|
d. The three higher types of lunar lords and the four lower |
d. Ba loại nguyệt tinh quân cao hơn và bốn loại thấp hơn |
|
115. Perhaps, there is even a division in the types of human beings, such that there are three higher and four lower. This, however, is not so easy to see. |
115. Có lẽ thậm chí còn có một sự phân chia trong các loại người, sao cho có ba loại cao hơn và bốn loại thấp hơn. Tuy nhiên, điều này không dễ thấy lắm. |
|
8. The animal evolution…Human kingdom. |
8. Tiến hoá động vật…Giới nhân loại. |
|
116. We are assuming that Tabulation VI is organized such that the higher the number, the lower the B/being represented. |
116. Chúng ta đang giả định rằng Bảng VI được tổ chức sao cho số càng cao thì Hữu thể được biểu thị càng thấp. |
|
117. In this case, however, we can question such an arrangement, as above we have read that the higher types of lunar lords were destined to enter the animal evolution, and here, the animal evolution is listed below the “lunar Pitris”. |
117. Tuy nhiên, trong trường hợp này chúng ta có thể đặt vấn đề về cách sắp xếp ấy, vì ở trên chúng ta đã đọc rằng các loại nguyệt tinh quân cao hơn được định mệnh đi vào tiến hoá động vật, còn ở đây tiến hoá động vật lại được liệt kê bên dưới “các thái âm tổ phụ”. |
|
118. Again, we must question whether the advanced lunar lords enter only certain types of animal forms or whether they will express themselves through all types of animal forms. |
118. Một lần nữa, chúng ta phải đặt câu hỏi liệu các nguyệt tinh quân tiến bộ chỉ đi vào một số loại hình tướng động vật nhất định hay liệu họ sẽ biểu hiện qua mọi loại hình tướng động vật. |
|
119. In any case, animals are destined to enter the human kingdom. This is their natural line of evolution. The lunar lords, on the other hand, are, as it were, being grafted onto the evolution proceeding through the Earth-chain. |
119. Dù sao đi nữa, động vật được định mệnh đi vào giới nhân loại. Đây là tuyến tiến hoá tự nhiên của chúng. Mặt khác, các nguyệt tinh quân, có thể nói, đang được ghép vào tiến hoá đang diễn ra qua Dãy Địa Cầu. |
|
120. Do distinct animal units become separate human beings or do more than one animal enter into the formation of the individual human being? This is not as strange a question as may at first appear. There is a pyramidal structure to the Creative Hierarchies, there being far more distinct units lower in the structure of the pyramid and far fewer as we rise. Thus, the phenomenon of ‘group coalescence’ is to be seen as lesser forms of life aggregate to constitute greater forms. An example of this is the manner in which groups of Solar Angels become Planetary Logoi and, eventually, Solar Logoi. |
120. Các đơn vị động vật riêng biệt có trở thành những con người riêng biệt hay có nhiều hơn một động vật đi vào sự hình thành của một con người cá thể? Đây không phải là một câu hỏi kỳ lạ như thoạt đầu có thể tưởng. Có một cấu trúc hình kim tự tháp đối với các Huyền Giai Sáng Tạo, trong đó có nhiều đơn vị riêng biệt hơn rất nhiều ở phần thấp của cấu trúc kim tự tháp và ít hơn nhiều khi chúng ta đi lên. Vì vậy, hiện tượng ‘hợp tụ theo nhóm’ phải được thấy khi các hình thức sự sống thấp hơn kết tập để cấu thành các hình thức cao hơn. Một ví dụ về điều này là cách mà các nhóm Thái dương Thiên Thần trở thành các Chân Linh Hành Tinh và cuối cùng là các Thái dương Thượng đế. |
|
121. VSK inquires: “What is the difference in point “7”, “to become men”, and point “8”, the goal being the “human kingdom”? Same, or what is the difference? |
121. VSK hỏi: “Sự khác nhau giữa điểm ‘7’, ‘trở thành con người’, và điểm ‘8’, với mục tiêu là ‘giới nhân loại’, là gì? Giống nhau, hay khác ở chỗ nào?” |
|
122. May it be suggested that there is no difference? The higher types of lunar lords will eventually become human beings as will animals. It is simply that animals will achieve before the lunar lords. |
122. Có thể gợi ý rằng không có sự khác nhau chăng? Các loại nguyệt tinh quân cao hơn cuối cùng sẽ trở thành con người cũng như động vật sẽ như vậy. Chỉ là động vật sẽ đạt được trước các nguyệt tinh quân. |
|
9. The vegetable evolution… The animal kingdom. |
9. Tiến hoá thực vật… Giới động vật. |
|
123. VSK states: “This somehow seems odd, since we hear that the vegetable kingdom is more advanced than the animal. Somehow it must seem like a backwards step”. |
123. VSK nói: “Điều này dường như có phần lạ, vì chúng ta nghe rằng giới thực vật tiến bộ hơn giới động vật. Bằng cách nào đó nó dường như là một bước lùi”. |
|
124. May it be suggested that the animal kingdom is, indeed, more advanced than the vegetable kingdom, but that the vegetable kingdom (in its place and given its spiritual status) is relatively more advanced than the animal kingdom (in its place and given its particular spiritual status). |
124. Có thể gợi ý rằng giới động vật quả thực tiến bộ hơn giới thực vật, nhưng giới thực vật (trong vị trí của nó và xét theo địa vị tinh thần của nó) lại tương đối tiến bộ hơn giới động vật (trong vị trí của nó và xét theo địa vị tinh thần riêng của nó). |
|
125. Another way of saying this is that the vegetable kingdom (given its intended schedule of spiritual evolution) has kept pace with expectations and (like Venus, which ruled the vegetable kingdom) has even outstripped expectation. When it comes to the animal kingdom (associated as it is with the Moon-chain failure) it has not kept pace with its intended schedule of spiritual evolution. It is still, relatively, more advanced that its progressive younger Brother, the vegetable kingdom. |
125. Một cách khác để nói điều này là giới thực vật (xét theo lịch trình tiến hoá tinh thần đã được dự định của nó) đã theo kịp kỳ vọng và (giống như Sao Kim, vốn cai quản giới thực vật) thậm chí còn vượt quá kỳ vọng. Khi nói đến giới động vật (gắn liền như nó với thất bại của Dãy Mặt Trăng), nó đã không theo kịp lịch trình tiến hoá tinh thần đã được dự định của nó. Nó vẫn, một cách tương đối, tiến bộ hơn Huynh Đệ trẻ hơn đang tiến triển của nó là giới thực vật. |
|
126. Does DK have a reason for differentiating between the term “evolution” as in “the animal evolution” and the word “kingdom”, as in the “animal kingdom”? It would seem that they are the same, but some important distinction may here be hidden. |
126. Liệu Chân sư DK có lý do nào để phân biệt giữa thuật ngữ “tiến hoá” như trong “tiến hoá động vật” và từ “giới” như trong “giới động vật” không? Dường như chúng là một, nhưng có thể ở đây đang ẩn giấu một phân biệt quan trọng nào đó. |
|
10. The mineral evolution… The vegetable kingdom. |
10. Tiến hoá khoáng vật… Giới thực vật. |
|
127. We continue to deal with forms of life with which we feel more familiar. Our supposed familiarity does not compensate for the great mystery that lies at the heart of each of these kingdoms. |
127. Chúng ta tiếp tục bàn đến những hình thức sự sống mà chúng ta cảm thấy quen thuộc hơn. Sự quen thuộc được cho là ấy không bù đắp được cho huyền nhiệm lớn lao nằm ở trung tâm của mỗi giới này. |
|
128. In TCF DK has discussed the manner in which the members of one kingdom transition to the next higher. The process is (for us) mysterious in the extreme. There are, we are told, transitional forms of life which belong neither to one kingdom or the next. Clearly a mystery is present. |
128. Trong TCF, Chân sư DK đã bàn đến cách thức mà các thành viên của một giới chuyển tiếp sang giới cao hơn kế tiếp. Tiến trình này (đối với chúng ta) huyền nhiệm đến tột độ. Chúng ta được bảo rằng có những hình thức sự sống chuyển tiếp không thuộc hẳn về giới này cũng không thuộc hẳn về giới kế tiếp. Rõ ràng ở đây có một huyền nhiệm hiện diện. |
|
11. The four higher grades of lesser Builders on all planes…They will form the manifested double or form of that mysterious third evolution of the next system; that is, the etheric body of the planetary entity. This mysterious life is as yet an unfathomable mystery and one which will not be revealed till the final one of the triplicity of solar systems of our solar Logos. |
11. Bốn cấp cao hơn của các vị tiểu kiến tạo trên mọi cõi…Chúng sẽ tạo thành thể đôi hay hình tướng biểu hiện của cuộc tiến hoá thứ ba huyền nhiệm ấy trong hệ thống kế tiếp; tức là thể dĩ thái của thực thể hành tinh. Sự sống huyền nhiệm này hiện vẫn là một huyền nhiệm không thể dò thấu và sẽ không được mặc khải cho đến hệ cuối cùng trong bộ ba các hệ mặt trời của Thái dương Thượng đế chúng ta. |
|
129. Here we find a most interesting reversal. In most of the life groupings above there were a superior three and an inferior four. Here the opposite is the case. |
129. Ở đây chúng ta thấy một sự đảo ngược rất thú vị. Trong hầu hết các nhóm sự sống ở trên, có một bộ ba cao hơn và một bộ bốn thấp hơn. Ở đây thì ngược lại. |
|
130. May it be so that when dealing with “M/men”, we find a superior three and that, when dealing with devic lives, we find a superior four. |
130. Có thể chăng rằng khi bàn đến “con người”, chúng ta thấy một bộ ba cao hơn, còn khi bàn đến các sự sống thiên thần, chúng ta thấy một bộ bốn cao hơn? |
|
131. A term like “lesser Builders” is very protean. The eighth (third) Creative Hierarchy is the Hierarchy of Lesser Builders (cf. EA, 35). Lesser Builders, however, are also unconscious lives which are directed rather than directing. |
131. Một thuật ngữ như “các vị tiểu kiến tạo” rất đa dạng. Huyền Giai Sáng Tạo thứ tám (thứ ba) là Huyền Giai của các vị tiểu kiến tạo (x. EA, 35). Tuy nhiên, các vị tiểu kiến tạo cũng là những sự sống vô thức được chỉ đạo hơn là chỉ đạo. |
|
132. DK speaks of a destiny within the forthcoming solar system for the four higher grades of lesser Builders. Their four grades will form the four ‘layers’ of the etheric body of the “Planetary Entity”. |
132. Chân sư DK nói về một định mệnh trong hệ mặt trời sắp tới dành cho bốn cấp cao hơn của các vị tiểu kiến tạo. Bốn cấp của họ sẽ tạo thành bốn ‘lớp’ của thể dĩ thái của “Thực Thể Hành Tinh”. |
|
133. The lesser builders may be involutionary (in fact, mostly so) and, sometimes, evolutionary lives—at least certain evolutionary devas are referred to as “lesser builders”. The “Planetary Entity” is, presently, a great involutionary Life, but all this may change in the next solar system and it may a probably will step upon the evolutionary path. |
133. Các vị tiểu kiến tạo có thể là những sự sống giáng hạ tiến hoá (thực ra phần lớn là như vậy) và đôi khi là những sự sống thăng thượng tiến hoá—ít nhất một số thiên thần thăng thượng tiến hoá nào đó được gọi là “các vị tiểu kiến tạo”. “Thực Thể Hành Tinh” hiện nay là một Sự Sống giáng hạ tiến hoávĩ đại, nhưng tất cả điều này có thể thay đổi trong hệ mặt trời kế tiếp và có lẽ nó sẽ bước lên con đường tiến hoá. |
|
12. The three lower grades of the lesser builders….The physical body in its densest form of the planetary entity. |
12. Ba cấp thấp hơn của các vị tiểu kiến tạo….Thể xác ở hình thức đậm đặc nhất của thực thể hành tinh. |
|
134. Such lesser builders must definitely be involutionary at the present time in the process of our second solar system. |
134. Những vị tiểu kiến tạo như thế chắc chắn hiện nay phải là giáng hạ tiến hoá trong tiến trình của hệ mặt trời thứ hai của chúng ta. |
|
135. One might think that a body of dense physical matter might not be necessary or even possible in the next solar system. DK does not tell us what type of dense matter will exist at that time or whether it will be comparable to the dense matter of our present, second major, solar system. |
135. Người ta có thể nghĩ rằng một thể bằng vật chất hồng trần đậm đặc có thể không cần thiết hay thậm chí không thể có trong hệ mặt trời kế tiếp. Chân sư DK không cho chúng ta biết loại vật chất đậm đặc nào sẽ tồn tại vào thời điểm đó hay liệu nó có thể so sánh được với vật chất đậm đặc của hệ mặt trời lớn thứ hai hiện nay của chúng ta hay không. |
|
136. Whatever the density of the lowest form of matter at that time, the three lower grades of lesser builders will go to its constitution. |
136. Dù mật độ của hình thức vật chất thấp nhất vào thời điểm ấy là gì, ba cấp thấp hơn của các vị tiểu kiến tạo sẽ đi vào sự cấu thành của nó. |
|
137. Of course, in point “12” we may be speaking of the physical body of the Solar Logos and, above, in point “11”, of the etheric body of that Logos. If this is the case, then the physical body under discussion will include matter of the astral and mental planes and the logoic etheric body will include matter of the four cosmic ethers. |
137. Dĩ nhiên, ở điểm “12” chúng ta có thể đang nói về thể xác của Thái dương Thượng đế và ở trên, tại điểm “11”, là về thể dĩ thái của Thượng đế ấy. Nếu đúng như vậy, thì thể xác đang được bàn đến sẽ bao gồm vật chất của các cõi cảm dục và trí, còn thể dĩ thái logoi sẽ bao gồm vật chất của bốn dĩ thái vũ trụ. |
|
138. Much depends on the ‘reach’ of the “Planetary Entity”. How ‘high’ in the cosmic physical plane does it extend? If it is an Entity confined to the lower three subplanes of the cosmic physical plane, then the etheric body and physical body under discussion will be systemic in nature rather than cosmic. |
138. Nhiều điều tùy thuộc vào ‘tầm với’ của “Thực Thể Hành Tinh”. Nó vươn ‘cao’ đến đâu trong cõi hồng trần vũ trụ? Nếu đó là một Thực Thể bị giới hạn trong ba cõi phụ thấp hơn của cõi hồng trần vũ trụ, thì thể dĩ thái và thể xác đang được bàn đến sẽ có bản chất hệ thống chứ không phải vũ trụ. |
|
139. Devic substance is spread throughout the our present cosmic physical plane, and we have to question whether the “lesser builders” are found on all of the seven subplanes of the cosmic physical plane. From one perspective, it seems as if they are. In this regard it will be necessary to study both “monadic essence” and “elemental essence”—both composed of different categories of “lesser builders”. |
139. Chất liệu thiên thần trải khắp cõi hồng trần vũ trụ hiện nay của chúng ta, và chúng ta phải đặt câu hỏi liệu “các vị tiểu kiến tạo” có được tìm thấy trên cả bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ hay không. Từ một góc nhìn, dường như là có. Về phương diện này, cần phải nghiên cứu cả “tinh chất chân thần” lẫn “Tinh chất hành khí”—cả hai đều được cấu thành từ những loại khác nhau của “các vị tiểu kiến tạo”. |