S8S11 Part I (1054-1060)
|
Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) |
Phần lớn văn bản của Ngài Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi trình chiếu trong lớp. Chú thích và tham chiếu từ các Sách AAB khác và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Lời bình được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, In đậm và Tô sáng bởi MDR) |
|
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary |
Gợi ý đọc Bài Bình Giải này được đọc kèm với TCF cuốn sách trong tầm tay, để bảo đảm tính liên tục. Khi phân tích văn bản, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi hãy nghiên cứu phần Bình Giải |
|
3. The Law of Solar Evolution. |
3. Định luật Tiến hoá Thái dương. |
|
It is, of course, a truism to state that the Law of Solar Evolution is the sum-total of all the lesser activities. |
Dĩ nhiên, nói rằng Định luật Tiến hoá Thái dương là tổng số của mọi hoạt động nhỏ hơn là một điều hiển nhiên. |
|
1. All laws operative within the solar system are contained within it, though cosmic laws are not. |
1. Mọi định luật tác động trong hệ mặt trời đều được bao gồm trong đó, tuy các định luật vũ trụ thì không. |
|
[1055] We might consider this point in connection with the planetary atom, and the solar atom. |
[1055] Chúng ta có thể xét điểm này liên hệ với nguyên tử hành tinh, và nguyên tử Thái dương. |
|
The planetary atom has, as all else in nature, three main activities: |
Nguyên tử hành tinh có, như mọi thứ khác trong thiên nhiên, ba hoạt động chính: |
|
2. We discuss first the “planetary atom” and then the solar atom. |
2. Trước hết chúng ta bàn “nguyên tử hành tinh” rồi đến nguyên tử Thái dương. |
|
First. It rotates upon its own axis, |
Thứ nhất. Nó tự quay quanh trục của mình, |
|
3. This rotation determines the diurnal cycle. |
3. Sự tự quay này quyết định chu kỳ ban ngày. |
|
revolves cyclically within its own ring-pass-not, and thus displays its own inherent energy. |
vận hành theo chu kỳ trong vòng-giới-hạn riêng của nó, và như thế phô bày năng lượng tiềm tàng của chính nó. |
|
4. The term “revolution” relates mostly to the second ray whereas the term “rotation” relates to the third ray. |
4. Thuật ngữ “vận hành” liên hệ chủ yếu đến cung hai trong khi thuật ngữ “tự quay” liên hệ đến cung ba. |
|
5. When we see the words “revolves cyclically” we should remember that “cyclic activity” is the type of motion which DK related directly to the second ray. |
5. Khi thấy các từ “vận hành theo chu kỳ” chúng ta nên nhớ rằng “hoạt động chu kỳ” là kiểu chuyển động mà DK liên trực tiếp tới cung hai. |
|
6. In this case, the ring-pass-not of the planetary atom is its orbit. |
6. Trong trường hợp này, vòng-giới-hạn của nguyên tử hành tinh là quỹ đạo của nó. |
|
7. He seems to suggest that the revolution of our planetary atom is the result of “its own inherent energy”. |
7. Ngài dường như gợi ý rằng sự vận hành của nguyên tử hành tinh của chúng ta là kết quả của “năng lượng tiềm tàng riêng của nó”. |
|
What is meant by this phrase? Surely that the milliards of atoms which compose the planetary body (whether dense or subtle) pursue an orbital course around the central energetic positive unit. |
Cụm từ này có nghĩa gì? Chắc chắn là các hằng hà sa số nguyên tử cấu thành thể hành tinh (dù đậm đặc hay vi tế) đuổi theo một quỹ đạo quanh đơn vị dương năng động trung tâm. |
|
8. These atoms may be rotating on their own axis at tremendous rates of speed, but together they are made to pursue an “orbital course around the central energetic positive unit”. |
8. Những nguyên tử này có thể tự quay quanh trục với tốc độ khủng khiếp, nhưng cùng nhau chúng bị khiến phải theo một “quỹ đạo quanh đơn vị dương năng động trung tâm”. |
|
9. They both revolve around the central energetic positive unit which pertains to the Planetary Logos (for them the type of movement involved is revolution, though for the Planetary Logos, it is rotation) and because they perforce accompany the planetary atom in its revolution around the Sun, they as well are made to revolve around the Sun considered as a still larger central energetic positive unit |
9. Chúng vừa vận hành quanh đơn vị dương năng động trung tâm vốn thuộc về Hành Tinh Thượng đế (đối với chúng kiểu chuyển động liên quan là vận hành, còn đối với Hành Tinh Thượng đế là tự quay) và vì chúng buộc phải nhập cuộc trong sự vận hành của nguyên tử hành tinh quanh Thái Dương, chúng cũng bị khiến vận hành quanh Thái Dương, vốn được xem như một đơn vị dương năng động trung tâm lớn hơn nữa. |
|
10. If we think about the implications of DK’s statements we shall come to understand the subtle vehicles of the Planetary Logos are all in a state of rotation around a central point with the energy system of the Planetary Logos. The rate of rotation of these vehicles is of great importance when considering the dynamics of planetary processes. |
10. Nếu chúng ta suy xét những hàm ý trong các phát biểu của DK, chúng ta sẽ hiểu rằng các thể vi tế của Hành Tinh Thượng đế đều ở trong một trạng thái tự quay quanh một điểm trung tâm trong hệ năng lượng của Hành Tinh Thượng đế. Tốc độ tự quay của các hiện thể này rất quan trọng khi xét các động thái của các tiến trình hành tinh. |
|
This dynamic force centre must be considered as subsisting naturally in two locations (if such an unsuitable term is permissible) |
Trung tâm lực năng động này phải được xem như tồn tại một cách tự nhiên ở hai vị trí (nếu một thuật ngữ kém thích đáng như vậy có thể chấp nhận) |
|
11. The term “subsisting” denotes a subtle location and not a dense physical location. |
11. Từ “tồn tại” biểu thị một vị trí vi tế chứ không phải vị trí ở cõi hồng trần. |
|
12. DK is helping us locate the “dynamic force center” around which the milliards of atoms in a planetary system revolve. Perhaps we should say that the sheaths of a Planetary Logos rotate around such a dynamic force center, but that the milliards of tiny atoms which are incorporated in such sheaths pursue a type of motion which is more like revolution—as they are swept along in the rotation of the vehicle of which they form a part. |
12. DK đang giúp chúng ta định vị “trung tâm lực năng động” quanh đó hằng hà sa số nguyên tử trong một hệ hành tinh vận hành. Có lẽ chúng ta nên nói rằng các vỏ bọc của một Hành Tinh Thượng đế tự quay quanh một trung tâm lực năng động như vậy, nhưng rằng các nguyên tử nhỏ bé vô vàn được hàm chứa trong các vỏ bọc đó theo đuổi một loại chuyển động gần với vận hành hơn—vì chúng bị cuốn theo trong sự tự quay của hiện thể mà chúng là một phần của nó. |
|
according to the stage, usage, and particular type of the indwelling planetary entity. |
phụ thuộc vào giai đoạn, công dụng, và loại hình đặc thù của vị Hành Tinh Thượng đế đang cư ngụ. |
|
13. In our solar system we have three types of indwelling planetary entities. |
13. Trong hệ mặt trời của chúng ta có ba loại hình các vị Hành Tinh Thượng đế cư ngụ. |
|
a. In what corresponds to the head centre in man, if the planetary Logos is of very advanced development. |
Tại điều tương ứng với luân xa đầu nơi con người, nếu Hành Tinh Thượng đế rất phát triển. |
|
14. Head center development is always considered ultimate. In the cases of an advanced Planetary Logos the head center is considered the “central energetic positive unit”. |
14. Sự phát triển luân xa đầu luôn được xem là tối hậu. Trong trường hợp một Hành Tinh Thượng đế tiến hóa cao, luân xa đầu được xem là “đơn vị dương năng động trung tâm”. |
|
15. Perhaps this would be the case in those Planetary Logoi Who are synthesizing planets. |
15. Có lẽ điều này đúng trong các vị Hành Tinh Thượng đế của những hành tinh tổng hợp. |
|
b. In the planetary correspondence to the heart centre. |
Tại điều tương ứng với luân xa tim của hành tinh. |
|
16. We may infer that such Planetary Logoi are advanced but not as advanced as the Logoi of synthesizing planets. |
16. Chúng ta có thể suy rằng các Hành Tinh Thượng đế như vậy là tiến hoá, nhưng không cao như các Ngài của hành tinh tổng hợp. |
|
The throat centre is, of course, ever vibrant in all the Logoi, as all are fully intelligent Creators, having perfected this capacity in an earlier solar system. |
Luân xa cổ họng dĩ nhiên luôn rung động nơi mọi vị Thượng đế, vì tất cả đều là các Đấng Sáng tạo thông minh trọn vẹn, đã hoàn thiện năng lực này trong một hệ mặt trời trước đó. |
|
17. DK is not telling us which solar system He is referencing, but in any case it was long ago. |
17. DK không cho biết Ngài đang nói đến hệ mặt trời nào, nhưng dẫu sao cũng là từ lâu xa. |
|
18. The implication could be that, for a non-sacred planet, revolution occurs around the throat center and that it is that center which for them stands for the “central energetic positive unit” subsisting naturally in a certain location. |
18. Hệ quả có thể là, đối với một hành tinh không thiêng liêng, sự vận hành xảy ra quanh luân xa cổ họng và chính trung tâm đó đối với họ đóng vai “đơn vị dương năng động trung tâm” tồn tại ở một vị trí nhất định. |
|
19. Whether, however, the throat center serves such a function in the case of non-sacred planets cannot be ascertained. |
19. Tuy nhiên, liệu luân xa cổ họng có đảm nhận chức năng như vậy trong trường hợp các hành tinh không thiêng liêng hay không thì chưa thể xác nhận. |
|
Students should here bear in mind that these centres of force are to be found depicted in the central Triangles upon the chart on page 373, |
Các đạo sinh nên ghi nhớ ở đây rằng những trung tâm lực này được mô tả trong các Tam giác trung ương trên biểu đồ ở trang 373, |
|
20. It is best for us to review that chart. We see that the central position of all three allows for the concept of revolution around each one. |
20. Tốt nhất là chúng ta xem lại biểu đồ đó. Chúng ta thấy rằng vị trí trung tâm của cả ba cho phép quan niệm về sự vận hành quanh mỗi cái. |
|
though no indication is to be found through a study of such triangles as to the relative attainment of the planetary Logos. |
dù không thể tìm được dấu hiệu nào, qua việc nghiên cứu các tam giác như vậy, về mức độ thành tựu tương đối của Hành Tinh Thượng đế. |
|
21. This is a secret of initiation, obviously. We may assume that each Logos has its own specific degree of unfoldment, just as has the Logos of every Sun and every zodiacal or greater constellation. |
21. Rõ ràng đây là một bí ẩn của điểm đạo. Chúng ta có thể suy mỗi vị Thượng đế có một mức độ phát triển đặc thù, cũng như Thượng đế của mọi Thái Dương và của mọi chòm sao hay chòm sao lớn hơn. |
|
22. We may assume that the synthesizing planets are the most evolved, though Venus may well be the most unfolded. There is a clear difference between the degree of evolution and the degree of unfoldment. |
22. Chúng ta có thể suy các hành tinh tổng hợp là tiến hoá nhất, dù Kim Tinh có thể là được khai mở nhất. Có một khác biệt rõ rệt giữa mức độ tiến hoá và mức độ khai mở. |
|
Within the chains likewise, will be found corresponding centres of energy, and also within the dense physical body of the Logos of any scheme, the physical planet. |
Trong các dãy hành tinh cũng vậy, sẽ tìm thấy các trung tâm năng lượng tương ứng, và cũng trong thể hồng trần đậm đặc của Thượng đế của bất kỳ hệ nào, tức chính hành tinh hồng trần. |
|
23. We are speaking of three centers of energy. We are told that correspondences to the higher three (the planetary level) will be found at the chain level and the globe level. |
23. Chúng ta đang nói về ba trung tâm năng lượng. Chúng ta được cho biết rằng các tương ứng với ba trung tâm cao hơn (cấp hành tinh) sẽ được tìm thấy ở cấp dãy và cấp bầu. |
|
24. From what is said below we see that the centers are considered to be quite literal. At least with respect to the dense physical body, they have a definite physical location. |
24. Theo điều được nói dưới đây, chúng ta thấy rằng các trung tâm được xem là khá theo nghĩa đen. Ít nhất đối với thể hồng trần đậm đặc, chúng có vị trí vật lý xác định. |
|
25. As to what actually is the dense physical body of a Planetary Logos, we should pause to reflect whether we are speaking of strictly physical density (the gaseous, liquid and apparently ‘solid’ strata) or whether we are speaking of the mental plane as gaseous, the astral plane as liquid and the etheric-physical plane as relatively ‘solid’. |
25. Về việc thể hồng trần đậm đặc của một Hành Tinh Thượng đế là gì, chúng ta nên tạm dừng để suy cho kỹ xem chúng ta đang nói tới mật độ hồng trần thuần túy (các tầng khí, lỏng và dường như ‘rắn’) hay chúng ta đang nói tới cõi trí như khí, cõi cảm dục như lỏng và cõi dĩ thái-hồng trần như tương đối ‘rắn’. |
|
26. We must remember that a Planetary Logos has an etheric body made of cosmic ethers and a dense physical body made of mental, astral and systemic etheric-physical substance-matter. |
26. Chúng ta phải nhớ rằng một Hành Tinh Thượng đế có một thể dĩ thái cấu thành bởi các dĩ thái vũ trụ và một thể hồng trần đậm đặc cấu thành bởi chất liệu-cốt lõi của cõi trí, cảm dục và dĩ thái-hồng trần của hệ. |
|
One such centre is to be found at the North Pole, |
Một trung tâm như vậy được tìm thấy ở Cực Bắc, |
|
27. This, we may presume, is the correspondence to the head center. |
27. Chúng ta có thể suy đây là tương ứng với luân xa đầu. |
|
and two more are located within the planetary sphere, |
và còn hai trung tâm nữa được đặt bên trong hình cầu hành tinh, |
|
28. Is Master DK distinguishing between “within” and “upon”? |
28. Phải chăng Chân sư DK đang phân biệt giữa “bên trong” và “trên bề mặt”? |
|
29. Presumably these other centers would be correspondences to the heart center and the throat center. |
29. Rất có thể hai trung tâm này tương ứng với luân xa tim và luân xa cổ họng. |
|
30. Although we may not be in a position to locate these other two centers with precision, we simply have to bear in mind that within the planetary atom rotation and revolution are constant. |
30. Tuy chúng ta chưa thể định vị thật chính xác hai trung tâm này, chúng ta chỉ cần ghi nhớ rằng trong nguyên tử hành tinh, sự tự quay và vận hành là thường trực. |
|
and frequently the inflow of force or energy to these internal centres (via the polar centre) results in those disasters we call earthquakes, and volcanic eruptions. |
và thường thì dòng nhập lưu của lực hay năng lượng tới những trung tâm nội tại này (thông qua trung tâm cực) đưa đến những thảm họa mà chúng ta gọi là động đất và phun trào núi lửa. |
|
31. We note that the inflow occurs via the polar center and flows to one or other or both of the other centers with cataclysmic results. |
31. Chúng ta ghi nhận dòng nhập lưu xảy ra qua trung tâm cực và chảy về một hay cả hai trung tâm kia, với các hệ quả thảm họa. |
|
32. Note particularly the words “these internal centers”. These words definitively answer the question concerning whether the two additional centers are to be found upon or within the planetary sphere. The answer is—they are internal to that sphere and are found within it. |
32. Hãy chú ý đặc biệt các từ “những trung tâm nội tại này”. Các từ ấy trả lời dứt khoát câu hỏi rằng liệu hai trung tâm bổ sung được tìm trên bề mặt hay bên trong hình cầu hành tinh. Đáp án—chúng là nội tại đối với hình cầu đó và được tìm thấy bên trong nó. |
|
33. We may extend the analogy to the microcosm. We may presume that inflow occurs via the head center and makes its way to the throat center and heart center, with results that are momentous for the energy system concerned. |
33. Chúng ta có thể mở rộng tương đồng sang tiểu vũ trụ. Ta có thể suy rằng nhập lưu xảy ra qua luân xa đầu và chuyển tới luân xa cổ họng và luân xa tim, với kết quả trọng đại đối với hệ năng lượng liên hệ. |
|
34. If we wish to treat the inflow in strictly physical terms, we would speak of the pineal gland, the thymus and the thyroid representing respectively the head center, the heart center and the throat center. |
34. Nếu chúng ta muốn xử lý nhập lưu theo các thuật ngữ hồng trần nghiêm ngặt, chúng ta sẽ nói tuyến yên, tuyến ức và tuyến giáp lần lượt đại diện cho luân xa đầu, luân xa tim và luân xa cổ họng. |
|
35. We must remember that every occultist has the head center active. All ten Seed Groups require that its members have the head center functioning. |
35. Chúng ta phải nhớ rằng mọi nhà huyền bí đều có luân xa đầu hoạt động. Cả mười Nhóm Hạt giống đều đòi hỏi các thành viên có luân xa đầu vận hành. |
|
36. We can assume that ‘instructions’ from the Planetary Logos enter via the head center of the dense physical globe—related closely to the North Pole of the globe. The North Pole (and South) will have its correspondences in the astral and mental sheaths of the dense physical globe. |
36. Chúng ta có thể giả định rằng ‘mệnh lệnh’ từ Hành Tinh Thượng đế đi vào qua luân xa đầu của bầu hồng trần đậm đặc—liên hệ gần với Cực Bắc của bầu. Cực Bắc (và Cực Nam) sẽ có các tương ứng của nó trên các vỏ bọc cảm dục và trí tuệ của bầu hồng trần đậm đặc. |
|
37. This brings us back to the idea that the Earth-globe is not made only of etheric-physical matter, but has all the sheaths which are correlated with all seven principles. Examining this assertion closely could open up a very serious debate. |
37. Điều này đưa chúng ta trở lại ý niệm rằng bầu Địa cầu không chỉ được tạo bởi chất liệu dĩ thái-hồng trần, mà có đủ các vỏ bọc tương hệ với cả bảy nguyên khí. Xét kỹ luận điểm này có thể mở ra một cuộc thảo luận rất nghiêm túc. |
|
There is, as we know, a cyclic shifting of polar inclination, |
Như chúng ta biết, có sự dịch chuyển theo chu kỳ của độ nghiêng trục, |
|
38. This is more than the shifting of magnetic polarities which contemporary science already recognizes. |
38. Điều này vượt hơn sự đảo cực từ mà khoa học đương đại đã ghi nhận. |
|
39. We seem to be dealing with a measurable, geometrical fact. The degree of inclination seems to be changing, as occult astronomy has said it has done a number of times in the past. |
39. Chúng ta dường như đang xử lý một thực tế có thể đo lường, hình học. Mức độ nghiêng dường như đang thay đổi, như thiên văn học huyền bí đã nói là nó đã từng làm như thế một số lần trong quá khứ. |
|
40. We are not simply dealing with the gyration of the pole, producing the twelve precessional ages and, at length, an entire Platonic Year. Rather, we are dealing with an actual change of inclination—an angular change. |
40. Chúng ta không chỉ đang xử lý sự tiến động của trục, tạo ra mười hai thời kỳ tuế sai và rốt cuộc là một Năm Platon trọn vẹn. Đúng hơn, chúng ta đang xử lý một sự thay đổi độ nghiêng thực sự—một biến đổi góc. |
|
41. Just as the gyration of the pole is cyclic, so apparently, is this shifting of polar inclination. We do not, however, know the cycle for this latter and more momentous type of shift. Sampson Arnold Mackey had much to say about this in his Mythological Astronomy. |
41. Cũng như sự tiến động của trục là chu kỳ, rõ ràng, sự dịch chuyển độ nghiêng trục này cũng vậy. Tuy nhiên, chúng ta không biết chu kỳ cho kiểu dịch chuyển lớn lao sau này. Sampson Arnold Mackey đã nói nhiều về điều này trong tác phẩm Thiên văn học Huyền thoại. |
|
[1056] due to the gradually increasing responsiveness of the planetary Logos to His heavenly Prototype, |
[1056] do sự nhạy cảm ngày càng gia tăng của Hành Tinh Thượng đế đối với Bản mẫu Thiêng của Ngài, |
|
42. But the cause of this axial shift is very occult. Within the seven major stars of the Great Bear is one which, at this time, can be considered the “heavenly Prototype” of our Planetary Logos. |
42. Nhưng nguyên nhân của sự đổi trục này là rất huyền bí. Trong bảy ngôi sao lớn của Đại Hùng có một ngôi sao, vào thời này, có thể được xem là “Bản mẫu Thiêng” của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. |
|
43. We have discussed this matter before. Is it Alioth, the third star, correlating with the third ray personality of the Planetary Logos of the Earth-scheme? Or is it a star correlating with our Planetary Logoi second ray soul, or with His first ray Monad? |
43. Chúng ta đã bàn vấn đề này trước đây. Có phải là Alioth, ngôi sao thứ ba, tương hệ với cung ba phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế của Địa hệ? Hay là một ngôi sao tương hệ với linh hồn cung hai của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, hoặc với Chân thần cung một của Ngài? |
|
44. It seems that, at this time, at least, the star Alioth might be a pretty good bet, correlating as it would with Saturn, which planet represents the mental body of a great Entity, with Earth as the physical body of Earth and Mars as the astral body. The star Alioth must be closely correlated with the synthesizing planet Saturn, which has a third ray Monad. |
44. Có vẻ, ít nhất vào thời này, ngôi sao Alioth có thể là một chọn lựa khá tốt, vì nó tương quan với Thổ Tinh, hành tinh biểu tượng cho thể trí của một Đại Thực Thể, với Địa Cầu là thể xác của Địa Cầu và Hỏa Tinh là thể cảm dục. Ngôi sao Alioth hẳn tương hệ chặt với hành tinh tổng hợp Thổ Tinh, vốn có Chân thần cung ba. |
|
whereby influences from the Great Bear draw, or occultly “attract,” the attention of the Logos, |
nhờ đó ảnh hưởng từ Đại Hùng kéo, hay nói theo huyền môn là “hút”, sự chú tâm của Thượng đế, |
|
45. Through the Heavenly Prototype the influence of the entire Great Bear reaches our Planetary Logos. |
45. Thông qua Bản mẫu Thiêng, ảnh hưởng của toàn bộ Đại Hùng vươn đến Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. |
|
46. There is probably also a star in the Great Bear which is most closely related to every Sun in the “Seven Solar Systems of Which Ours is One” –including our own. |
46. Có lẽ cũng có một ngôi sao trong Đại Hùng liên hệ gần nhất với mỗi Thái Dương trong “Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của chúng ta là một trong số đó”—kể cả Thái Dương của chúng ta. |
|
47. A triangle could be drawn from that star to our Sun and to Jupiter, perhaps. It would be a second ray triangle, very influential in our solar system. |
47. Có thể vẽ một tam giác từ ngôi sao đó tới Thái Dương của chúng ta và tới Mộc Tinh, chăng? Đó sẽ là một tam giác cung hai, rất ảnh hưởng trong hệ mặt trời của chúng ta. |
|
48. We are learning that the attention of our Planetary Logos is being drawn increasingly towards the Great Bear via one of its stars. |
48. Chúng ta đang học rằng sự chú tâm của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang ngày càng được hướng về Đại Hùng qua một trong các ngôi sao của nó. |
|
49. Probably the lore surrounding each of the stars should be closely studied. |
49. Có lẽ cần khảo cứu kỹ kho tàng huyền thoại quanh mỗi ngôi sao. |
|
50. Here from the Wikipedia is a reference on Alioth: |
50. Sau đây là một trích dẫn về Alioth từ Wikipedia: |
|
Epsilon Ursae Majoris |
Epsilon Ursae Majoris |
|
[picture] |
[hình] |
|
Alioth in Ursa Major. |
Alioth trong Đại Hùng. |
|
Observation data |
Dữ liệu quan sát |
|
J2000 J2000 |
|
|
12h 54m 01.6s |
|
|
Right ascension 12h 54m 01.6s |
+55° 57′ 35.4″ |
|
Declination +55° 57′ 35.4″ |
(V) 1.76 |
|
Apparent magnitude (V) 1.76 |
Đặc trưng |
|
Characteristics |
A0pCr |
|
Spectral type A0pCr |
U-B 0.02 |
|
U-B color index 0.02 |
B-V -0.02 |
|
B-V color index -0.02 |
alpha2-CVn |
|
Variable type alpha2-CVn |
( R v ) -9.3 |
|
(μ) RA: 111.74 / |
|
|
Radial velocity (Rv) -9.3 km/s |
Xích vĩ: -8.99 / |
|
Proper motion (μ) RA: 111.74 mas/yr |
(π) 40.3 ± 0.62 |
|
81 ± 1 |
|
|
(24.8 ± 0.4 ) |
|
|
(M V ) -0.22 |
|
|
(24.8 ± 0.4 pc) |
Chi tiết |
|
Absolute magnitude (MV) -0.22 |
|
|
Details |
~3 |
|
3.7 |
|
|
108 |
|
|
9,400 |
|
|
Luminosity 108 L☉ |
? |
|
Temperature 9,400 K |
38 km/s. |
|
? |
|
|
Rotation 38 km/s. |
|
|
Alioth, Allioth, Aliath, 77 Ursae Majoris, HR 4905, BD +56°1627, HD 112185, GCTP 2964.00, SAO 28553, FK5 483, CCDM 12540+5558, HIP 62956. |
Alioth, Allioth, Aliath, 77 Ursae Majoris, 4905, +56°1627, 112185, 2964.00, 28553, FK5 483, CCDM 12540+5558, 62956. |
|
[picture] |
[hình] |
|
[hình] |
|
|
[picture] |
|
|
Book plate by Sydney Hall depicting Ursa Major’s stars |
Bản khắc của Sydney Hall mô tả các sao của chòm Đại Hùng |
|
Epsilon Ursae Majoris (ε UMa / ε Ursae Majoris) is the brightest star in the constellation Ursa Major (despite its Bayer designation being merely “epsilon”), and at magnitude 1.76 is the thirty-first brightest star in the sky. It has the traditional name Alioth (from the Arabic word alyat—fat tail of a sheep). |
Epsilon Ursae Majoris (ε UMa / ε Ursae Majoris) là ngôi sao sáng nhất trong (mặc dù của nó chỉ là “epsilon”), và ở 1.76 là trên bầu trời. Ngôi sao có tên truyền thống là Alioth (từ tiếng Ả Rập alyat —đuôi mập của cừu). |
|
It is known as 北斗五 (the Fifth Star of the Northern Dipper) or 玉衡 (the Star of Jade Sighting-tube) in Chinese. |
Trong tiếng Trung, nó được gọi là 北斗五 (Ngôi sao thứ năm của Bắc Đẩu) hoặc 玉衡 (Sao Ống Ngọc để ngắm). |
|
It is the star in the tail of the bear closest to its body, and thus the star in the handle of the Big Dipper closest to the bowl. It is also a member of the large and diffuse Ursa Major moving group. Historically, the star was frequently used in celestial navigation in the maritime trade, because it is listed as one of the 57 navigational stars.[1] |
Đây là ngôi sao ở phần đuôi của con gấu gần thân nhất, và do đó là sao ở tay cầm của gần cái bát nhất. Nó cũng là một thành viên của. Về lịch sử, ngôi sao thường được dùng trong trong thương mại hàng hải, vì nó được liệt kê là một trong 57. |
|
Peculiarities |
Những điểm dị thường |
|
According to Hipparcos, Alioth is 81 light years (25 parsecs) from Earth. Its spectral type is A0p; the “p” stands for peculiar, as the spectrum of its light is characteristic of an Alpha2 Canum Venaticorum variable. Alioth, as a representative of this type, may harbor two interacting processes. First, the star’s strong magnetic field separating different elements in the star’s hydrogen ‘fuel’. In addition, a rotation axis at an angle to the magnetic axis may be spinning different bands of magnetically-sorted elements into the line of sight between Alioth and the Earth. The intervening elements react differently at different frequencies of light as they whip in and out of view, causing Alioth to have very strange spectral lines that fluctuate over a period of 5.1 days. |
Theo, Alioth cách 81 (25 ) từ. của nó là A0p; chữ “p” là viết tắt của peculiar (dị thường), vì của ánh sáng của nó có tính chất đặc trưng của một. Alioth, như một đại diện của kiểu loại này, có thể ẩn chứa hai quá trình tương tác. Trước hết, mạnh mẽ của ngôi sao đang tách biệt các nguyên tố khác nhau trong “nhiên liệu” của ngôi sao. Thêm vào đó, một trục quay tạo một góc với trục từ có thể đang quay những dải nguyên tố được sắp xếp theo từ tính vào trong đường ngắm giữa Alioth và Trái Đất. Các nguyên tố xen vào phản ứng khác nhau ở các tần số ánh sáng khác nhau khi chúng quét vào rồi ra khỏi tầm nhìn, khiến Alioth có các rất lạ, dao động theo chu kỳ 5.1 ngày. |
|
With Alioth, the rotational and magnetic axes are at almost 90 degrees to one another. A map of the star below shows how darker (denser) regions of chromium form a band at right angles to the equator. |
Với Alioth, trục quay và trục từ hầu như vuông góc với nhau. Bản đồ ngôi sao dưới đây cho thấy các vùng tối hơn (đậm đặc hơn) tạo thành một dải theo góc vuông với xích đạo. |
|
A recent study suggests Alioth’s 5.1-day variation may be due to a substellar object of about 14.7 Jupiter masses in an eccentric orbit (e=0.5) with an average separation of 0.055 astronomical units. |
Một nghiên cứu gần đây gợi ý biến thiên 5.1 ngày của Alioth có thể là do một thiên thể dưới cấp sao khoảng 14.7 khối lượng Mộc tinh, trên một quỹ đạo lệch tâm (e=0.5) với khoảng cách trung bình 0.055. |
|
Alioth has a relatively weak magnetic field, fifteen times weaker than α CVn, but it is still 100 times stronger than that of the Earth. |
Alioth có từ trường tương đối yếu, yếu hơn α CVn mười lăm lần, nhưng vẫn mạnh hơn Trái Đất 100 lần. |
|
51. There are many interesting thoughts in this section, but underlined above is a section of text which calls attention to the separative or separating dynamics operative on Alioth. In this case we should recall the name of the Third Ray Lord: “the Divine Separator”. |
51. Có nhiều điều đáng suy ngẫm trong mục này, nhưng đoạn gạch chân bên trên lưu ý đến động lực phân ly hay tách biệt đang vận hành trên Alioth. Trong trường hợp này chúng ta nên nhớ danh xưng của Đấng Chúa Tể Cung ba: “Đấng Phân Ly Thiêng Liêng”. |
|
52. Alioth is apparently the brightest start in the Great Bear. This may correlate well with the importance of the third ray within the local cosmosystem—the system of the “One About Whom |
52. Alioth hiển nhiên là ngôi sao sáng nhất trong Đại Hùng. Điều này có thể tương hợp tốt với tầm quan trọng của cung ba trong hệ vũ trụ địa phương—hệ thống của “Đấng Về Ngài |

