Bình Giảng về Lửa Vũ Trụ S8S12 Part I (1063-1070)

📘 Sách: Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S8 – Tác giả: Michael D. Robbins

S8-12 Preamble

Dear Fellow Students of A Treatise on Cosmic Fire,

Các Huynh đệ đồng học kính mến của Luận về Lửa Vũ Trụ,

It is the New Moon in Taurus and I am writing you from Mesa Arizona, where we are holding the 23rd annual Conference of the University of the Seven Rays and Seven Ray Institute. We will be thinking of you as a group standing in support of the deepening and spread of the Ageless Wisdom.

Hôm nay là Trăng non trong Kim Ngưu và tôi đang viết cho các bạn từ Mesa, Arizona, nơi chúng tôi đang tổ chức Hội nghị thường niên lần thứ 23 của Đại học Bảy Cung và Viện Bảy Cung. Chúng tôi sẽ tưởng nhớ đến các bạn như một nhóm đang đứng vững để nâng sâu và lan rộng Minh Triết Ngàn Đời.

In the Commentary for this period, Semester 8 Section 6 Part I.2, we are studying the last three Rules of Magic for the mental plane.

Trong Lời Bình cho giai đoạn này, Học kỳ 8 Mục 6 Phần I.2, chúng ta đang học ba Quy luật Chánh thuật cuối cùng cho cõi trí.

We are presented with some fascinating material concerning the use of the will as the magician “drives his thoughtform from him”. Certain petals in the egoic lotus (will petals) are involved in this process, but DK does not specify which one or ones.

Chúng ta được trình bày một chất liệu hấp dẫn về việc sử dụng ý chí khi nhà huyền thuật “xua phóng hình tư tưởng khỏi mình”. Một số cánh hoa trong hoa sen chân ngã (các cánh hoa ý chí) có tham dự vào tiến trình này, nhưng DK không xác định là cánh nào.

The role of the Ego (egoic will) in the magical process is emphasized. Without the propulsive will of the Ego the white magical process would never occur.

Vai trò của Chân ngã (ý chí chân ngã) trong tiến trình huyền thuật được nhấn mạnh. Không có ý chí đẩy của Chân ngã thì tiến trình chánh thuật sẽ không bao giờ diễn ra.

The process of “driving the thoughtform from him” does not constitute its release onto the dense physical plane. In fact, the next phase of the thoughtform’s mission is to enter the astral plane and take to itself matter of that plane. (Matter of the astral plane definitely exists, even though from a certain perspective, we have been thought to consider the astral plane as non-existent.)

Tiến trình “xua phóng hình tư tưởng khỏi mình” không cấu thành việc phóng thích nó xuống cõi hồng trần đậm đặc. Thực ra, giai đoạn kế tiếp của sứ mạng hình tư tưởng là đi vào cõi cảm dục và thu nhận cho mình chất liệu của cõi ấy. (Chất liệu của cõi cảm dục hiển nhiên tồn tại, dù xét theo một quan điểm nào đó, chúng ta đã được dạy xem cõi cảm dục như là không tồn tại.)

DK discusses the reasons why so many magicians fail in their task of driving the thoughtform from them, adding that their failure is fortunate. The modern magician lacks the knowledge of the words or sounds which will make this possible—though under certain circumstance the words or sounds can be recovered from the soul (under intensity of feeling) or are conferred to the magician by those who know. Also without their knowledge or cooperation, thoughtforms created by unwary magicians can be utilized by members of the White Lodge and also the Black Lodge.

DK bàn các lý do vì sao rất nhiều nhà huyền thuật thất bại trong nhiệm vụ xua phóng hình tư tưởng khỏi mình, và thêm rằng sự thất bại ấy là điều may. Nhà huyền thuật hiện đại thiếu tri thức về những lời hay âm tiết sẽ khiến điều này khả hữu—dù trong những hoàn cảnh nhất định các lời hay âm có thể được phục hồi từ linh hồn (dưới cường độ cảm xúc) hoặc được truyền cho nhà huyền thuật bởi những vị biết rõ. Ngoài ra, ngay cả khi không có tri thức hay sự hợp tác của họ, các hình tư tưởng do những nhà huyền thuật sơ suất tạo ra vẫn có thể được các thành viên của Thánh đoàn và cả Hắc đoàn sử dụng.

We must conclude that only the power to meditate strongly and effectively will make it possible to take the first steps towards becoming true white magicians.

Chúng ta phải kết luận rằng chỉ có năng lực tham thiền mạnh mẽ và hiệu quả mới cho phép thực hiện những bước đầu tiên để trở thành những nhà chánh thuật chân chính.

The ‘Age of the Magicians’ is rapidly approaching, and thus we have to become very cognizant of the magical methods which are sanctioned by the Great White Lodge. Additionally, we have to prove ourselves to be trustworthy if we wish to have the ancient formulas communicated to us by a Member of the Great White Lodge. Our moral orientation has much to do with our trustworthiness. DK informs us of the prevailing selfishness of most human beings; hence, at this time, the ancient formulas are for the most part unavailable to them.

‘Kỷ nguyên của các Nhà Huyền thuật’ đang nhanh chóng đến gần, bởi thế chúng ta phải nhận thức rất rõ các phương pháp huyền thuật được Thánh đoàn phê chuẩn. Thêm vào đó, chúng ta phải chứng tỏ mình là những người đáng tin cậy nếu mong các công thức cổ xưa được một Thành viên của Thánh đoàn truyền đạt. Phẩm hạnh đạo đức của chúng ta có nhiều liên quan đến độ đáng tin cậy của mình. DK cho chúng ta biết về tính vị kỷ đang ngự trị của đa số nhân loại; vì vậy, vào lúc này, các công thức cổ xưa phần lớn không sẵn có cho họ.

It is very interesting that the Solar Angel knows the words and sounds. When a man is under the influence of his Angel the formulas may come to him. But when not under the Solar Angel’s influence, he cannot retrieve the formulas. This assures that the formulas will be correctly used.

Điều rất thú vị là Thái dương Thiên Thần biết các lời và âm. Khi con người ở dưới ảnh hưởng của Thiên Thần của mình, các công thức có thể đến với y. Nhưng khi không ở dưới ảnh hưởng của Thái dương Thiên Thần, y không thể phục hồi các công thức. Điều này bảo đảm các công thức sẽ được sử dụng đúng đắn.

The Fifth Rule deals with the safety of the magician as he creates. The alliance of the heart, throat and eye are discussed. Safety is at least partially assured if the magician allows no perversion of the Solar Angel’s original intent to enter his mind and heart. If the thoughtform is not properly released, it will return to the sender and will wreak havoc within his vehicles. The safeguarding of his desire nature is most important for the magician’s safety. It largely determines the “condition of the waters” into which the mentally created thoughtform is sent.

Quy luật thứ Năm bàn đến sự an toàn của nhà huyền thuật khi y tạo tác. Sự liên minh của tim, cổ họng và mắt được luận. Sự an toàn chí ít cũng được bảo đảm phần nào nếu nhà huyền thuật không để bất kỳ sự xuyên tạc nào đối với ý định nguyên thủy của Thái dương Thiên Thần lọt vào tâm trí và trái tim mình. Nếu hình tư tưởng không được phóng thích đúng đắn, nó sẽ trở về với người gửi và sẽ tàn phá trong các hiện thể của y. Việc bảo toàn bản chất dục vọng của y là tối quan trọng đối với sự an toàn của nhà huyền thuật. Nó phần lớn quyết định “tình trạng của các làn nước” mà hình tư tưởng được tạo ra bằng trí tuệ được gửi vào.

Students will find the Tibetan’s commentary very rich. There are imparted many jewel’s of occultism.

Học viên sẽ thấy bình giảng của Chân sư Tây Tạng rất phong phú. Có nhiều viên ngọc của huyền học được ban truyền.

The astral devas are considered the most dangerous with which the magician must deal. DK explains why this is the case. The Solar Angel’s protection, available on the lower mental plane, is not to the same degree available on the astral plane. Hence the need for extreme caution!

Các thiên thần cảm dục được xem là nguy hiểm nhất mà nhà huyền thuật phải đối phó. DK giải thích vì sao lại như vậy. Sự bảo hộ của Thái dương Thiên Thần, sẵn có ở cõi hạ trí, không sẵn có ở cùng mức độ trên cõi cảm dục. Bởi thế cần hết sức thận trọng!

Protection for the magician working on the astral plane is imparted by one of the petals in the love tier of the egoic lotus. The petals are seen to be active in the magical process and not merely passive recipients of accumulated quality.

Sự bảo hộ cho nhà huyền thuật làm việc trên cõi cảm dục được ban bởi một trong những cánh hoa thuộc tầng bác ái của hoa sen chân ngã. Các cánh hoa được thấy là hoạt động trong tiến trình huyền thuật chứ không chỉ là các thụ thể thụ động của phẩm tính tích luỹ.

Another interesting subject to be dealt with is the transmutative effect of contemplation—both the contemplation of the Solar Angel and of the magician in deep meditation.

Một chủ đề thú vị khác sẽ được bàn là hiệu quả chuyển hóa của chiêm ngưỡng—cả sự chiêm ngưỡng Thái dương Thiên Thần lẫn của nhà huyền thuật trong tham thiền sâu.

Information relating the opening of the third eye to the opening of the sacrifice petals of the egoic lotus is given. This tells us that the opening of the third eye is not an instantaneous happening, but may span many lives—for it takes many lives to fully open the sacrifice tier.

Có những thông tin nối việc mở con mắt thứ ba với việc mở các cánh hoa hy sinh của hoa sen chân ngã. Điều này cho biết việc mở con mắt thứ ba không phải là một biến cố tức thì, mà có thể trải dài qua nhiều kiếp—vì cần nhiều kiếp để mở trọn tầng hy sinh.

Rule VI, the final Rule of the Mental Plane is also discussed briefly. These Rules are far more completely discussed in A Treatise on White Magic, a book which probably should be studied parallel to our present studies in A Treatise on Cosmic Fire.

Quy luật VI, Quy luật cuối cùng của Cõi Trí, cũng được bàn sơ lược. Những Quy luật này được bàn kỹ hơn nhiều trong Luận về Chánh Thuật, một cuốn sách có lẽ nên được học song song với học trình hiện tại của chúng ta trong Luận về Lửa Vũ Trụ.

Rule VI deals with the disempowering of the personality in the magical process. The four personality elementals lose their master; the personality is no longer in control.

Quy luật VI bàn về việc làm mất quyền lực của phàm ngã trong tiến trình huyền thuật. Bốn tinh linh phàm ngã mất chủ; phàm ngã không còn làm chủ nữa.

Read very carefully, pondering deeply, what the Tibetan is saying. He is packing much essential occultism into just a few words. He is unfolding the practical occultism of the future.

Hãy đọc thật kỹ, suy gẫm sâu, những gì Chân sư Tây Tạng đang nói. Ngài đang gói ghém rất nhiều huyền học cốt tủy chỉ trong vài lời. Ngài đang khai mở huyền học thực hành của tương lai.

In Light, Love and Power,

Trong Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng,

Michael

Michael

S8S12 Part I (1063-1070)

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi trình chiếu trong các lớp học. Chú thích và tham chiếu từ các Sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Lời bình được đặt ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, In đậm và Tô sáng bởi MDR)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Đề nghị đọc Lời Bình này kèm theo cuốn TCF trong tay, để bảo toàn mạch lạc. Khi phân tích văn bản, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn. Vì vậy, hãy đọc trọn một đoạn rồi mới học Lời Bình

Under our consideration of the law of radiation, we will first of all take up the topic of the cause of radiation.

Trong phần khảo cứu Định luật Bức xạ, trước hết chúng ta sẽ đề cập chủ đề nguyên nhân của bức xạ.

1. From the last commentary we remember that the Tibetan considered this among the most important of topics.

1. Từ lời bình trước, chúng ta nhớ rằng Chân sư Tây Tạng xem đây là một chủ đề quan trọng bậc nhất.

a. The Cause of Radiation. The student will only be able to get a true view of this matter if he views the subject in a large way. Two aspects of the matter naturally come before his mental vision,

a. Nguyên nhân của Bức xạ. Học viên chỉ có thể có cái nhìn chân xác về vấn đề này nếu y nhìn nó theo viễn tượng rộng lớn. Hai phương diện của vấn đề tự nhiên hiện ra trước cái nhìn của thể trí,

2. This is a type of vision which is framed by the mind and not merely by the imagination, which, essentially, is an astral activity.

2. Đây là loại cái nhìn được khuôn bởi thể trí chứ không chỉ bởi sự hình dung, vốn về bản chất là một hoạt động cảm dục.

both of which must be dealt with if any adequate concept of this subject is to be reached,—a subject which has engrossed philosophers, scientists and alchemists for hundreds of years consciously or unconsciously.

cả hai đều phải được xử lý nếu muốn đạt đến bất kỳ quan niệm thoả đáng nào về chủ đề này—một chủ đề đã thu hút mãi các triết gia, nhà khoa học và nhà giả kim hàng trăm năm qua, dù ý thức hay vô thức.

3. The subject has probably not been framed in terms of “radiation” but has been of moment to different types of thinkers who are interested in the question of liberation.

3. Có lẽ chủ đề không được khuôn theo thuật ngữ “bức xạ” nhưng vẫn là mối quan tâm của nhiều loại tư tưởng khác nhau, những người hứng thú với câu hỏi về giải thoát.

We must, therefore, consider:

Bởi vậy, chúng ta phải xét đến:

a. That which radiates.

a. Cái phát xạ.

4. This will be the nucleus of any atom.

4. Đây sẽ là hạch của bất kỳ nguyên tử nào.

b. That which is the subjective cause of radiation.

b. Cái là nguyên nhân chủ quan của bức xạ.

5. These will be higher energy which stimulates the nucleus.

5. Đó sẽ là những năng lượng cao hơn kích thích hạch.

6. A refined condition of the form will also be necessitated so that the higher stimulating energies can reach the nucleus which is to rendered radiatory.

6. Một tình trạng tinh luyện của hình tướng cũng là điều kiện cần, để các năng lượng kích thích cao hơn có thể vươn tới hạch sẽ được làm cho bức xạ.

It might be very briefly stated that when any form becomes radio­active, certain conditions have been fulfilled and certain results brought about, which conditions and results might be summed up as follows:

Có thể phát biểu thật ngắn gọn rằng khi bất kỳ hình tướng nào trở nên phóng xạ, nhất định phải có những điều kiện được thoả mãn và những kết quả nhất định được tạo ra, những điều kiện và kết quả đó có thể tóm tắt như sau:

The radioactive form is one which has run through its ap­point­ed cycles,

Hình tướng phóng xạ là hình tướng đã chạy hết các chu kỳ được ấn định của nó,

7. These are necessitated, required cycles. They are determined by law.

7. Đây là những chu kỳ tất yếu, bắt buộc. Chúng được định đoạt bởi định luật.

through its wheel of life, great or small, which has been turned with adequate frequency,

xuyên qua bánh xe sự sống của nó, lớn hay nhỏ, vốn đã được chuyển động với tần suất đầy đủ,

8. There is no ‘fast path’ to bringing about the state of radiation.

8. Không có “lối tắt” để đưa đến trạng thái phóng xạ.

9. On the human level, this is equivalent to saying that a sufficient number of incarnations must have been experienced through the turning of the “wheel of life” with adequate frequency, and, we might add, ‘for a sufficient duration’.

9. Ở cấp độ con người, điều này tương đương với việc nói rằng phải có đủ số lần lâm phàm đã được kinh nghiệm qua vòng quay của “bánh xe sự sống” với tần suất thích đáng, và, chúng ta có thể thêm rằng, “trong một khoảng thời gian đủ dài”.

so that the volatile life-essence is ready to escape from that form and merge itself in the greater form of which the lesser is but a part.

để tinh chất sự sống bay biến sẵn sàng thoát khỏi hình tướng ấy và hòa nhập vào hình tướng lớn hơn mà hình tướng nhỏ hơn chỉ là một bộ phận.

10. This is clear. The volatile essence escapes from its present ring-pass-not which bounds its enclosing form which is but part of a larger form. The volatile essence will now take part in the life process of a greater life expressing through that greater form—a form which had included the lesser form from which the volatile essence had escaped.

10. Điều này rõ ràng. Tinh chất bay biến thoát khỏi vòng-giới-hạn hiện tại vốn ràng buộc hình tướng bao bọc nó, hình tướng vốn chỉ là một phần của một hình tướng lớn hơn. Tinh chất bay biến giờ sẽ tham dự vào tiến trình sự sống của một sự sống lớn hơn biểu lộ qua hình tướng lớn hơn ấy—một hình tướng vốn bao gồm hình tướng nhỏ hơn mà từ đó tinh chất bay biến đã thoát ra.

11. When this escape occurs it signifies liberation, however relative that liberation may be.

11. Khi sự thoát ly này xảy ra, nó biểu thị giải thoát, dẫu cho sự giải thoát ấy có tính tương đối đến đâu.

12. The human being, for instance, escapes into the fifth kingdom of nature in such a way as to become a full member of that kingdom, instead of simply an ‘applicant’ to full membership in that kingdom, as had been the case up to the fourth initiation.

12. Chẳng hạn, con người thoát vào giới thứ năm của thiên nhiên theo cách để trở thành một thành viên trọn vẹn của giới ấy, thay vì chỉ là một “người xin gia nhập” vào thành viên trọn vẹn của giới ấy, như đã là trường hợp cho đến lần điểm đạo thứ tư.

13. For the human being at the fourth initiation, it is not the volatile essence in utter purity that escapes. The escaping essence is still encumbered by various identifications or veils, and will be encumbered until the final escape is made into the Universal Ring-Pass-Not. (We have no idea how many trillions of years into the future this final escape may be accomplished—final for this Universe only).

13. Đối với con người ở lần điểm đạo thứ tư, không phải là tinh chất bay biến tuyệt đối thanh khiết thoát ra. Tinh chất thoát ra vẫn còn bị chất chồng bởi các đồng nhất hóa hay những bức màn khác nhau, và sẽ còn bị chất chồng cho đến khi cuộc thoát ly sau cùng được thực hiện vào Vòng-giới-hạn Vũ Trụ. (Chúng ta không hề biết bao nhiêu nghìn tỷ năm nữa trong tương lai cuộc thoát ly sau cùng này mới có thể được hoàn tất— sau cùng chỉ đối với Vũ Trụ này).

It must be remembered in this connection that radiation occurs when the etheric or true form becomes responsive to certain types of force.

Cần ghi nhớ trong mối liên hệ này rằng phóng xạ xảy ra khi hình tướng dĩ thái hay hình tướng chân thực trở nên đáp ứng với những loại lực nhất định.

14. We must watch for the way that the etheric body is involved in inducing the process of radiation. There are, after all, many kinds of radiation taking place upon a number of planar levels.

14. Chúng ta phải theo dõi cách thức thể dĩ thái tham dự vào việc dẫn khởi tiến trình phóng xạ. Rốt cuộc có nhiều loại phóng xạ diễn ra trên nhiều cấp cõi khác nhau.

Radiation, as it is occultly understood, does not concern itself with the escape from the physical or dense form, but with that period in the life of any living entity (atomic, human or divine) wherein the etheric or pranic body is in such a state that it can no longer limit or confine the indwelling life.

Phóng xạ, như được hiểu một cách huyền bí, không liên quan đến việc thoát khỏi hình tướng hồng trần hay đậm đặc, mà liên quan đến giai đoạn trong đời sống của bất kỳ đơn vị sống nào (nguyên tử, con người hay thiêng liêng) trong đó thể dĩ thái hay thể prana ở trong một trạng thái đến mức nó không còn có thể giới hạn hay giam hãm sự sống nội tại.

15. DK is speaking of a kind of escape from the etheric field.

15. Chân sư DK đang nói về một loại thoát ly khỏi trường dĩ thái.

16. We note that the etheric body is called the “pranic body”; it is the vehicle which receives prana, contains and circulates it and radiates it.

16. Chúng ta ghi nhận rằng thể dĩ thái được gọi là “thể prana”; đó là vận cụ tiếp nhận prana, chứa đựng, lưu chuyển và phóng xạ nó.

17. We understand that the etheric body can act as an imprisoning field to the volatile essence and its consciousness and that when the field is “loosened” or sufficiently refined, it can no longer imprison this essence.

17. Chúng ta hiểu rằng thể dĩ thái có thể hành xử như một trường giam hãm đối với tinh chất bay biến và tâm thức của nó, và rằng khi trường ấy được “nới lỏng” hay đủ tinh luyện, nó không còn có thể giam hãm tinh chất này nữa.

18. We must also realize that the causal body is positioned on what might be called the etheric subplanes of the mental plane, and that, in a sense, the escape of the life centralized in the Jewel in the Lotus at the fourth initiation, is an escape from the mental ethers.

18. Chúng ta cũng phải nhận ra rằng thể nguyên nhân đặt ở những gì có thể gọi là các cõi phụ dĩ thái của cõi trí, và rằng, theo một nghĩa nào đó, sự thoát ly của sự sống tập trung nơi Bảo châu trong Hoa Sen tại lần điểm đạo thứ tư là một sự thoát ly khỏi các tầng dĩ thái của cõi trí.

Radiation comes about when the internal, self-sufficient life of any atom is offset by a stronger urge, or pull, emanating from the envel­oping greater existence of whose body it may form a part.

Phóng xạ xuất hiện khi sự sống nội tại, tự túc của bất kỳ nguyên tử nào bị hóa giải bởi một thôi thúc mạnh hơn, hay lực lôi kéo, phát xuất từ sự hiện hữu lớn hơn đang bao bọc, mà thân thể của hiện hữu ấy, nguyên tử đó có thể là một phần.

19. We see that radiation is induced by the effect of the “greater enveloping existence” upon the nucleus of the existence which is enveloped.

19. Chúng ta thấy rằng phóng xạ được khơi dậy bởi hiệu ứng của “hiện hữu lớn hơn đang bao bọc” tác động lên hạch nhân của hiện hữu bị bao bọc.

20. The third aspect which is the “internal, self-sufficient life” of the atom is overcome by a greater energy which promotes in the atom a more interactive relationship with the larger enveloping sphere. The atom’s ‘limiting integrity’ is destroyed as its animating life escapes to find its place within the enveloping sphere.

20. Phương diện thứ ba, tức “sự sống nội tại tự túc” của nguyên tử, bị một năng lượng lớn hơn chế ngự, năng lượng ấy thúc đẩy ở nguyên tử một mối liên hệ tương tác nhiều hơn với khối cầu bao bọc lớn hơn. “Toàn vẹn hạn định” của nguyên tử bị phá vỡ khi sự sống sinh động của nó thoát ra để tìm chỗ đứng trong khối cầu bao bọc.

21. The first force (the “internal, self-sufficient life” seeks to maintain the established ring-pass-not and the second force attempts to destroy it in the interests of liberation and greater unification.

21. Lực thứ nhất (“sự sống nội tại tự túc”) tìm cách duy trì vòng-giới-hạn đã thiết lập, và lực thứ hai tìm cách phá vỡ nó vì lợi ích của giải thoát và hợp nhất lớn hơn.

22. That which offsets the lower integrative tendencies has been characterized as a “pull”. This means that the Law of Attraction is involved in engineering the response of the lesser, enveloped life to the greater enveloping Life. Life calls to life and form is destroyed.

22. Cái hóa giải các khuynh hướng tích hợp thấp đã được đặc trưng như một “sức lôi”. Điều này có nghĩa là Định luật Hấp dẫn được can dự vào việc kiến tạo sự đáp ứng của sự sống nhỏ bé, bị bao bọc, đối với Sự sống lớn hơn bao bọc. Sự sống gọi Sự sống và hình tướng bị hủy hoại.

This is nevertheless only true when it is caused by the pull upon the essential [1064] life by the essential life of the greater form;

Điều này tuy thế chỉ đúng khi nó được gây nên bởi sức lôi tác động lên [ 1064] sự sống tinh yếu bởi sự sống tinh yếu của hình tướng lớn hơn;

23. As stated above. Life calls to life; life answers Life. We are speaking of the interplay of essences.

23. Như đã nói ở trên. Sự sống gọi Sự sống; sự sống đáp lời Sự Sống. Chúng ta đang nói về sự giao hòa của các tinh chất.

24. Master DK has told us that, ultimately, magnetism is ruled by the first ray.

24. Chân sư DK đã dạy chúng ta rằng, rốt lại, từ điện chịu sự cai quản của cung một.

There is still another point upon which I would like to touch. Owing to the fact that the Law which governs the Hierarchy is the second systemic law, the Law of Attraction, students are apt to think that magnetism is a second ray quality. They are right in so far that all the systemic laws are expressions of the life of God through the medium, at this time, of the second ray, which makes our solar system a second ray system. All other laws and qualities (for a law from the divine angle is the motivating, qualified agent of the divine will, as understood in Shamballa) are related to the second ray as it manifests through our planetary Logos. Nevertheless, magnetic action is more closely allied to first ray functioning than it is to the second ray, and is an aspect or quality of the Law of Synthesis. It was this magnetic power of the first ray to which the Christ referred when He said “I, if I be lifted up (The Ascension Initiation. A.A.B.), will draw all men unto me.” He faced then those initiations which would qualify Him to become what is esoterically called “a Shamballa recipient.” There is, in magnetic action, more of the element of the will and of an expressing purpose. In explanation it might be said that the radiation of the Hierarchy, which is definitely second ray in nature, and which is projected as attractive radiation, is implemented by the magnetic aspect. This—as the Old Commentary puts it—is “a point of focussed fire, found in the centre of the jewel. [376] It stirs to life the quality of love which permeates the Ashram of the Lord. Radiation then can penetrate to other centres and to other lives, and thus the Lord is served.” It is this point of focussed dynamic will at the very heart of the Hierarchy which in reality implements the Plan. (R&I 375-376)

Còn một điểm khác mà tôi muốn chạm đến. Do thực tế rằng Định luật chi phối Thánh Đoàn là định luật hệ thống thứ hai, Định luật Hấp dẫn, các môn sinh có xu hướng nghĩ rằng từ điện là một phẩm tính của cung hai. Họ đúng ở chừng mực tất cả các định luật hệ thống là biểu lộ của sự sống của Thượng đế qua trung giới, vào thời điểm này, của cung hai, điều này khiến hệ mặt trời của chúng ta là một hệ thống cung hai. Mọi định luật và phẩm tính khác (vì một định luật, xét từ góc nhìn thiêng liêng, là tác nhân được định chất của Thiên Ý, như được hiểu ở Shamballa) đều liên hệ với cung hai khi nó biểu lộ qua Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Tuy nhiên, hành động từ tính liên hệ mật thiết với sự vận hành của cung một hơn là với cung hai, và là một phương diện hay phẩm tính của Định luật Tổng hợp. Chính quyền năng từ tính của cung một này là điều Đức Christ ám chỉ khi Ngài nói: “Ta, nếu Ta được cất lên (Cuộc Điểm đạo Thăng Thiên. A.A.B.), Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta.” Khi ấy Ngài đối mặt với những lần điểm đạo sẽ đủ tư cách cho Ngài trở thành điều được gọi một cách huyền bí là “một thụ nhận Shamballa”. Trong hành động từ tính, có nhiều yếu tố của ý chí và của một mục đích biểu lộ. Để giải thích, có thể nói rằng sự phóng xạ của Thánh Đoàn—vốn chắc chắn có bản tính cung hai và được phóng chiếu như phóng xạ hấp dẫn—được tăng cường bởi phương diện từ tính. Điều này—như Cổ Luận nói—là “một điểm hỏa lực tập trung, được tìm thấy nơi trung tâm của bảo châu. [376] Nó khơi dậy phẩm tính Tình thương thấm nhập Đạo viện của Đức Chúa Tể. Phóng xạ rồi có thể xuyên đến các trung tâm khác và đến các sự sống khác, và như thế Đức Chúa Tể được phụng sự.” Chính điểm ý chí năng động tập trung này ở ngay trái tim của Thánh Đoàn thực sự vận dụng Thiên Cơ. (Cung và Điểm đạo 375-376)

it is not due to the attractive power of the form aspect of that greater life.

nó không phải do quyền năng hấp dẫn của phương diện hình tướng thuộc về sự sống lớn hơn ấy gây nên.

25. We have a very important statement here. The form of the greater Life, which enfolds the lesser life and its form, is not the attractive factor. It is the greater Life itself which calls to the lesser life expressing through the lesser form.

25. Ở đây chúng ta có một tuyên bố rất quan trọng. Hình tướng của Sự sống lớn hơn, vốn bao trùm sự sống nhỏ hơn và hình tướng của nó, không phải là yếu tố hấp dẫn. Chính Sự sống lớn hơn tự thân kêu gọi sự sống nhỏ hơn biểu lộ qua hình tướng nhỏ hơn.

26. And as well, it is not the form life of the enclosed unit on which the “pull” of the greater life is exerted.

26. Đồng thời, đó cũng không phải là sự sống hình tướng của đơn vị bị bao bọc mà trên đó “sức lôi” của sự sống lớn hơn được tác động.

A very definite distinction must here be made. It is the failure to recognise this that has led so many alchemical students and scientific investigators to lose their way, and thus negate the conclusions of years of study. They confuse the impulse of the atom to respond to the vibratory magnetic pull of the more powerful and comprehensive form with the true esoteric attraction which alone produces “occult radiation,”

Ở đây phải thực hiện một phân biệt rất rõ ràng. Sự không nhận ra điều này đã khiến quá nhiều môn sinh giả kim và các nhà điều tra khoa học đi lạc đường, và do đó phủ định những kết luận của nhiều năm nghiên cứu. Họ nhầm lẫn xung lực của nguyên tử muốn đáp ứng sức lôi từ rung động của hình tướng mạnh hơn và bao quát hơn với sự hấp dẫn huyền linh chân thực vốn một mình sản sinh “phóng xạ huyền linh,”

27. DK differentiates between exoteric attraction (emanating from the form life of the greater, including Being) and “the true esoteric attraction”—the attraction of the greater Life upon the lesser life. Like calls to like.

27. Chân sư DK phân biệt giữa hấp dẫn ngoại hiện (phát xuất từ sự sống hình tướng của Hữu thể bao gồm) và “sự hấp dẫn huyền linh chân thực”—sự hấp dẫn của Sự sống lớn hơn tác động lên sự sống nhỏ hơn. Đồng loại gọi đồng loại.

that of the central essential life of the form in which the element under consideration may have place. It is very necessary to make this clear from the start.

tức là của sự sống tinh yếu trung tâm của hình tướng trong đó yếu tố đang được xét có chỗ. Rất cần làm rõ điều này ngay từ đầu.

28. We notice DK’s use of the word “element”. The lesser form is considered an “element” within a greater form. Certainly, it is a constituent within the greater form.

28. Chúng ta lưu ý cách Chân sư DK dùng từ “yếu tố”. Hình tướng nhỏ hơn được xem như một “yếu tố” bên trong một hình tướng lớn hơn. Chắc chắn, nó là một thành tố trong hình tướng lớn hơn.

29. Thus, when achieving the fourth initiation, it is not the triadal vehicles or the monadic vehicle (for these do exist) which call to the life confined within the causal body, but the Monad itself—the greater Life. The greater energies of buddhi and atma which are expressions of the monadic Life may also be considered as aspect of the “pull” from essence to essence.

29. Vì vậy, khi đạt tới lần điểm đạo thứ tư, không phải các vận cụ thuộc Tam Nguyên Tinh Thần hay vận cụ chân thần (vì những cái này có tồn tại) kêu gọi sự sống bị giam trong thể nguyên nhân, mà là chính Chân thần—Sự sống lớn hơn. Những năng lượng lớn hơn của Bồ đề và atma, vốn là các biểu lộ của Sự sống chân thần, cũng có thể được xem là các phương diện của “sức lôi” từ tinh yếu đến tinh yếu.

Perhaps the whole subject may be clearer if we consider it in the following way.

Có lẽ toàn bộ đề mục sẽ rõ ràng hơn nếu chúng ta xét nó theo cách sau.

The atom in a form revolves upon its own axis, follows its own revolution, and lives its own internal life. This concerns its pri­mary awareness.

Nguyên tử trong một hình tướng tự quay quanh trục của mình, theo quỹ đạo riêng của nó, và sống đời sống nội tại riêng của nó. Điều này liên quan đến nhận biết sơ cấp của nó.

30. The “primary awareness” of any unit of life is awareness of itself. This is the stage which in the human experience corresponds to individualism.

30. “Nhận biết sơ cấp” của bất kỳ đơn vị sự sống nào là nhận biết về chính nó. Đây là giai đoạn mà trong kinh nghiệm con người tương ứng với tính cá thể.

As time progresses it becomes magnetically aware of the attract­ive nature of that which envelops it on all sides, and becomes con­scious of the form which surrounds it.

Qua thời gian, nó trở nên nhạy cảm theo từ tính với bản chất lôi cuốn của cái bao bọc nó từ mọi phía, và trở nên ý thức về hình tướng đang vây quanh nó.

31. This is consciousness of the form which surrounds it, but not necessarily consciousness of the greater Life within the greater form.

31. Đây là tâm thức về hình tướng đang vây quanh nó, nhưng không nhất thiết là tâm thức về Sự sống lớn hơn bên trong hình tướng lớn hơn.

This is its secondary awareness but it still concerns what we might, for lack of a better term, call matter.

Đây là nhận biết thứ cấp nhưng vẫn liên quan đến cái mà, vì thiếu thuật ngữ tốt hơn, chúng ta có thể gọi là vật chất.

32. Form is composed of matter.

32. Hình tướng được cấu thành bởi vật chất.

33. The first type of awareness is awareness of its own ring-pass-not. The second type of awareness is awareness of the form of the greater, enfolding Life.

33. Dạng nhận biết thứ nhất là nhận biết về vòng-giới-hạn riêng của nó. Dạng nhận biết thứ hai là nhận biết về hình tướng của Sự sống bao bọc lớn hơn.

The atom, therefore, has an interplay with other atoms.

Vì thế, nguyên tử có sự tương tác với các nguyên tử khác.

34. This is interplay with the other atoms comprising the greater form which surrounds the atom in question.

34. Đây là sự tương tác với các nguyên tử khác cấu thành hình tướng lớn hơn đang vây quanh nguyên tử đang xét.

Later, the atom in a form becomes aware that it not only revolves upon its axis, but that it also follows an orbit around a greater centre of force within a greater form.

Về sau, nguyên tử trong một hình tướng nhận ra rằng nó không chỉ quay quanh trục của mình, mà còn theo một quỹ đạo quanh một trung tâm lực lớn hơn bên trong một hình tướng lớn hơn.

35. The atom can become aware of the other atoms to be found within the greater form encompassing it before it becomes aware that it is following an orbit around the major center of force within that greater form.

35. Nguyên tử có thể nhận ra các nguyên tử khác trong hình tướng lớn hơn bao bọc nó trước khi nó nhận ra rằng nó đang theo một quỹ đạo quanh trung tâm lực chính yếu bên trong hình tướng lớn hơn ấy.

This is tertiary awareness, and is caused by the magnetic pull of the greater centre being felt, thus causing an urge within the atom which impels it to move within certain specific cycles.

Đây là nhận biết tam cấp,do sức lôi từ của trung tâm lớn hơn được cảm nhận, khiến phát sinh một xung động bên trong nguyên tử, thôi thúc nó di chuyển trong những chu kỳ xác định.

36. Primary awareness is individual; secondary awareness is relational; tertiary awareness causes a yearning to follow a straight line towards a higher attractive center, but (due to cyclic restraints) results in spirals which achieve in a greater amount of time the same objective.

36. Nhận biết sơ cấp là cá thể; nhận biết thứ cấp là liên hệ; nhận biết tam cấp gây ra khát vọng đi theo một đường thẳng hướng về một trung tâm hấp dẫn cao hơn, nhưng (do những hạn chế chu kỳ) dẫn đến các đường xoáy ốc đạt cùng mục tiêu trong khoảng thời gian lớn hơn.

37. The cycles involved might be called ‘cycles of evolutionary ascension’.

37. Những chu kỳ liên hệ có thể gọi là “các chu kỳ thăng thượng tiến hóa”.

38. In time, and symbolically, we could say that the attracted revolving unit spirals inward (metaphysically inward) towards the center of attraction. This culminates in absorption in the greater center.

38. Theo thời gian, và nói tượng trưng, chúng ta có thể nói rằng đơn vị quay bị hấp dẫn xoáy vào trong (nội tâm theo nghĩa siêu hình) hướng về trung tâm hấp dẫn. Điều này đưa đến sự hấp thu vào trung tâm lớn hơn.

This awareness, esoterically under­stood, concerns itself with substance or with the true form within the objective form.

Nhận biết này, hiểu theo huyền môn, liên hệ đến chất liệu hay đến hình tướng chân thực bên trong hình tướng khách quan.

39. Tertiary awareness is concerned with “substance” which is different from matter in its objective state.

39. Nhận biết tam cấp liên quan đến “chất liệu”, khác với vật chất trong trạng thái khách quan của nó.

40. The movement is towards something more subtle than the form and its environing constituents contacted in secondary awareness. The movement is sequentially into a subtler form and towards the animating center of that subtler form.

40. Sự chuyển động hướng tới cái gì đó vi tế hơn hình tướng và các thành tố vây quanh nó đã được tiếp xúc trong nhận biết thứ cấp. Sự chuyển động là theo tuần tự vào một hình tướng vi tế hơn và hướng về trung tâm sinh động của hình tướng vi tế ấy.

Finally, the attractive pull of the greater centre becomes so pow­er­ful that the positive life within the atom (whatever type of atom it may be and in whatever kingdom) feels the force of the central energy which holds it, [1065] along with other atoms, coher­ently fulfilling their function.

Sau cùng, sức lôi hấp dẫn của trung tâm lớn hơn trở nên mạnh mẽ đến độ sự sống dương tính bên trong nguyên tử (dù là loại nguyên tử nào và ở bất kỳ giới nào) cảm thọ lực của năng lượng trung tâm vốn giữ nó, [1065] cùng với những nguyên tử khác, kết dính để hoàn tất phận sự của chúng.

41. This is the fourth stage of a four-stage process.

41. Đây là giai đoạn thứ tư của một tiến trình gồm bốn giai đoạn.

42. This reminds one of the sixth Rule for White Magic: “The devas of the lower four feel the force when the eye opens. They are driven forth and lose their master.”

42. Điều này gợi nhớ quy luật thứ sáu của Chánh Thuật: “Các thiên thần thuộc bốn giới thấp cảm thọ lực khi con mắt mở ra. Chúng bị xua tan và mất chủ nhân của chúng.”

43. On the human level, we might say that the disciple becomes aware of other disciples in the Ashram before becoming aware of the Master in the Ashram, and before ‘revolving around that Master’, until finally, the force of the Master is so great that the disciple breaks through the ring-pass-not of the ashramic periphery and is drawn progressively towards the Master.

43. Ở bình diện con người, chúng ta có thể nói rằng người đệ tử trở nên nhận biết các đệ tử khác trong Đạo viện trước khi trở nên nhận biết về Vị Thầy trong Đạo viện, và trước khi ‘quay quanh Vị Thầy’ ấy, cho đến khi cuối cùng, lực của Vị Thầy trở nên to lớn đến nỗi người đệ tử phá vỡ vòng-giới-hạn của chu vi đạo viện và được lôi kéo tiến dần về phía Vị Thầy.

44. We might substitute the word “Monad” for Master when looking at the human being’s initiatory process.

44. Chúng ta có thể thay từ “Chân thần” cho “Thầy” khi nhìn vào tiến trình điểm đạo của con người.

This energy penetrates through the ring-pass-not, evokes no res­ponse from what might be called the electronic or negative lives within the atomic periphery,

Năng lượng này xuyên qua vòng-giới-hạn, không khơi dậy đáp ứng nào từ những cái có thể gọi là các sự sống điện tử hay âm tính trong chu vi nguyên tử,

45. These lesser lives have no more hold over the volatile essence in process of liberation. Such lesser lives used to ‘contain’ the volatile essence inhibiting its release. Now they are no longer sufficiently strong to do so.

45. Những sự sống nhỏ bé này không còn nắm giữ gì đối với tinh chất bay biến đang ở trong tiến trình giải thoát. Những sự sống nhỏ bé ấy trước đây ‘giam giữ’ tinh chất bay biến, ngăn cản sự phóng thích của nó. Nay chúng không còn đủ mạnh để làm vậy nữa.

46. The greater energy enters and the electronic or negative lives do not ‘know’ it has entered. They are not aroused in resistance.

46. Năng lượng lớn hơn đi vào và các sự sống điện tử hay âm tính không ‘biết’ nó đã đi vào. Chúng không bị khuấy động để kháng cự.

47. If we analogize to the human atom, the elemental lives do not respond or resist when the greater energy enters. It is too high for them to recognize or resist. Or, these elemental lives have been sufficiently raised in their vibration to offer no resistance.

47. Nếu ví với nguyên tử con người, các sự sống hành khí không đáp ứng hay kháng cự khi năng lượng lớn hơn đi vào. Năng lượng ấy quá cao để chúng nhận ra hay kháng cự. Hoặc, các sự sống hành khí này đã được nâng cao rung động đủ để không còn chống đối.

48. If we analogize to man the social being, the forces of the fourth kingdom of nature (i.e., often the surrounding personnel—one’s family, friends and, in general, the force of society) cannot detect the coming in of the greater force. They are no longer strong enough to prevent its influencing the sensitive human being. That human being is no longer attracted to the surrounding personnel and does not ‘care’ what they think. The transformative forces enter and the usual self-protective responses of socially conditioned people are not aroused and, if they were aroused, would be ineffective.

48. Nếu ví với con người như một hữu thể xã hội, các lực của giới thứ tư của thiên nhiên (tức, thường là những nhân sự xung quanh—gia đình, bạn bè và, nói chung, lực của xã hội) không thể phát hiện sự đi vào của năng lượng lớn hơn. Chúng không còn đủ mạnh để ngăn cản ảnh hưởng của nó lên con người nhạy cảm ấy. Con người ấy không còn bị hấp dẫn bởi những nhân sự chung quanh và không còn “bận tâm” họ nghĩ gì. Những lực chuyển hóa đi vào và các phản ứng tự vệ thông thường của những người bị điều kiện xã hội chi phối không bị khơi dậy, và nếu có bị khơi dậy thì cũng bất hiệu.

but does evoke a response from the essential, positive nucleus of the atom.

nhưng lại khơi dậy đáp ứng từ hạch nhân dương tính, tinh yếu của nguyên tử.

49. The greater energy reaches through, arousing to response the “positive nucleus of the atom”. The lesser factors within the atom are penetrated and offer no resistance.

49. Năng lượng lớn hơn xuyên thấu, khơi dậy đáp ứng nơi “hạch nhân dương tính của nguyên tử”. Những yếu tố nhỏ bé trong nguyên tử bị xuyên qua và không kháng cự.

This is due to the fact that the essential life of any atom, its highest positive aspect, is ever of the same nature as that of the greater life which is drawing it to itself.

Điều này là do sự sống tinh yếu của bất kỳ nguyên tử nào—phương diện dương tính cao nhất của nó—luôn đồng một bản tính với sự sống lớn hơn đang lôi kéo nó về với chính mình.

50. Like calls to like. Spirit is merging with Spirit.

50. Đồng loại gọi đồng loại. Thần Linh hợp nhất với Thần Linh.

51. We are speaking of intercourse between identical essences.

51. Chúng ta đang nói về sự giao hòa giữa những tinh chất đồng nhất.

When this is felt sufficiently strongly, the atomic cycle is completed, the dense form is dispelled, the true form is dissipat­ed,

Khi điều này được cảm thọ đủ mạnh, chu kỳ nguyên tử được hoàn tất, hình tướng đậm đặc bị xua tan, hình tướng chân thực bị làm tiêu tán,

52. By this DK means either the etheric form, or the causal form, or both. The etheric form is always a reflection of the egoic lotus.

52. Qua đó, Chân sư DK muốn nói đến hoặc thể dĩ thái, hoặc thể nguyên nhân, hoặc cả hai. Thể dĩ thái luôn là phản ảnh của Hoa Sen Chân Ngã.

53. In the human microcosm, the elemental lives are scattered and return to the reservoir which is designed to receive them. The devic lives of the higher mental plane and the solar angelic forces are scattered and return to their sources—in the case of the Solar Angels, the Heart of the Sun (and perhaps, in some instances, to the Central Spiritual Sun—the monadic Lire of the Solar Logos).

53. Trong tiểu vũ trụ con người, các sự sống hành khí bị phân tán và trở về hồ chứa được thiết kế để tiếp nhận chúng. Các sự sống thiên thần của cõi thượng trí và các lực thiên thần thái dương bị phân tán và trở về nguồn của chúng—trong trường hợp các Thái dương Thiên Thần, trở về Trái Tim của Mặt Trời (và có lẽ, trong vài trường hợp, về Mặt trời Tinh thần Trung Ương—Sự sống chân thần của Thái dương Thượng đế).

54. In relation to the human being in society, he is ejected from the normal society which characterizes the fourth kingdom of nature, and instead is released into the “Society of Organized and Illumined Minds”. Normal personal and social forces are no longer strong enough to prevent the greater force from stimulating him in such a manner that he breaks fully into the fifth kingdom of nature.

54. Liên hệ đến con người trong xã hội, y bị bật ra khỏi xã hội bình thường vốn đặc trưng cho giới thứ tư của thiên nhiên, và thay vào đó được giải phóng vào “Xã hội của những Trí Tuệ có Tổ chức và Được Soi Sáng”. Những lực cá nhân và xã hội bình thường không còn đủ mạnh để ngăn cản năng lượng lớn hơn kích hoạt y theo cách khiến y hoàn toàn đột nhập vào giới thứ năm của thiên nhiên.

and the central life escapes to find its greater magnetic focal point.

sự sống trung tâm thoát ra để tìm điểm hội tụ từ tính lớn hơn của nó.

55. The greater magnetic focal point is, as we have been told, that part of the greater enveloping atom which represents the life aspect or the first ray.

55. Điểm hội tụ từ tính lớn hơn là, như chúng ta đã được nói, bộ phận của nguyên tử bao bọc lớn hơn vốn biểu hiện phương diện sự sống hay cung một.

56. Let us review the process:

56. Chúng ta hãy điểm qua tiến trình:

a. Phase one: individual rotary motion

a. Pha một: chuyển động quay cá thể

b. Phase two: relational interplay with aspects of the enveloping form.

b. Pha hai: tương giao liên hệ với các phương diện của hình tướng bao bọc.

c. Phase three: discovery of the central Life of the enveloping form and spiralling revolution around that centralized aspect of the enveloping form through which the central Life most expresses.

c. Pha ba: khám phá Sự sống trung tâm của hình tướng bao bọc và xoáy ốc quay quanh phương diện tập trung của hình tướng bao bọc qua đó Sự sống trung tâm biểu lộ nhiều nhất.

d. Phase four: reception of the influence of the central Life without resistance from the electronic life of the recipient’s form. Evolutionary spiral-cyclic motion increases progressively.

d. Pha bốn: tiếp nhận ảnh hưởng của Sự sống trung tâm mà không gặp kháng cự từ các sự sống điện tử của hình tướng của chủ thể tiếp nhận. Chuyển động xoáy-ốc-chu-kỳ tiến hóa tăng dần.

e. Phase five: intensified radiation of the central nucleus of the enveloped form, until that nucleus (the “volatile essence” of the enveloped form) breaks through its own ring-pass-not and seeks ever-closer direct association with the greater Life of the enveloping form. This type of activity corresponds to the motion of “progress onwards”.

e. Pha năm: phóng xạ được tăng cường của hạch nhân trung tâm của hình tướng bị bao bọc, cho đến khi hạch nhân đó (“tinh chất bay biến” của hình tướng bị bao bọc) phá vỡ vòng-giới-hạn riêng của nó và tìm sự liên hệ trực tiếp ngày càng gần với Sự sống lớn hơn của hình tướng bao bọc. Kiểu hoạt động này tương ứng với chuyển động “tiến về phía trước”.

Through this process (which is found throughout the solar system in all its departments) every atom in turn becomes an electron.

Qua tiến trình này (vốn được tìm thấy khắp hệ mặt trời trong mọi ngành của nó) mọi nguyên tử lần lượt trở thành một điện tử.

57. The atom, which is a greater life to still lesser units, is but an electron to the greater unit which contains it.

57. Nguyên tử—vốn là một sự sống lớn hơn đối với các đơn vị còn nhỏ hơn nữa—chỉ là một điện tử đối với đơn vị lớn hơn chứa nó.

58. As well, the liberated essence does not achieve immediate high status in the greater form into which it has been liberated. It takes up a tertiary place and fulfills a humble function.

58. Đồng thời, tinh chất được giải phóng không đạt ngay địa vị cao trong hình tướng lớn hơn mà nó đã được giải phóng vào. Nó giữ một vị trí tam cấp và thực hiện một chức năng khiêm nhường.

The positive life of any atom in due course of evolution becomes negative to a greater life toward which it is impelled or drawn,

Sự sống dương tính của bất kỳ nguyên tử nào theo diễn trình tiến hóa đến lượt mình trở thành âm tính đối với một Sự sống lớn hơn mà nó bị thôi thúc hay được lôi kéo hướng về,

59. The liberated life “rises to the feet” of the greater Life into whose presence it has been liberated.

59. Sự sống được giải phóng “ngoi lên dưới chân” của Sự sống lớn hơn mà nó được giải phóng vào trong Hiện diện của Ngài.

60. A homely way of expressing this (and one that is well recognized by most human beings): the big fish in the little pond becomes the little fish in the big pond.

60. Một cách diễn đạt gần gũi (và được đa số con người quen biết): con cá lớn trong ao nhỏ trở thành con cá nhỏ trong ao lớn.

and thus the process of evolution carries every life invariably through the four stages enumerated above.

và như thế tiến trình tiến hóa mang mọi sự sống đi qua một cách bất biến bốn giai đoạn đã liệt kê ở trên.

61. Rotation; Relation; Revolution; Release. (I added as the fourth stage, “Reception”, making “Release” the fifth.)

61. Quay; Liên hệ; Cách mạng quỹ đạo; Phóng thích. (Tôi đã thêm “Tiếp nhận” làm giai đoạn thứ tư, khiến “Phóng thích” trở thành giai đoạn thứ năm.)

Within the three lower kingdoms of nature, the process is under­gone unconsciously, according to the human connotation of that term;

Trong ba giới thấp của thiên nhiên, tiến trình ấy được trải qua một cách vô thức, theo hàm ý con người của thuật ngữ đó;

62. DK is alerting us to the idea that there may be limitations in our conception of “unconsciousness”.

62. Chân sư DK đang cảnh tỉnh chúng ta về ý tưởng rằng có thể có những giới hạn trong quan niệm của chúng ta về “vô thức”.

63. There is consciousness of what is happening, but no central “I” point to which to relate the experience. There is no sense of an “I” undergoing the experience. There is only the registration of the experience itself.

63. Có tâm thức về điều đang xảy ra, nhưng không có điểm “Ta” trung tâm để quy chiếu kinh nghiệm. Không có cảm thức về một “Ta” đang trải nghiệm. Chỉ có sự ghi nhận chính kinh nghiệm ấy.

it is consciously passed through in the human kingdom, and in the higher spheres of existence, with an enveloping conscious­ness which can only be hinted at in the ambiguous term “self-conscious group realisation.”

nó được trải qua một cách có ý thức trong giới nhân loại, và trong các cảnh giới cao hơn của hiện hữu, với một tâm thức bao bọc mà chỉ có thể được gợi ý trong thuật ngữ mơ hồ “tự-ý-thức về nhận biết nhóm”.

64. This is state of consciousness which embraces the qualities of consciousness of both Leo and Aquarius.

64. Đây là trạng thái tâm thức kết hợp phẩm tính tâm thức của cả Sư Tử và Bảo Bình.

65. It is the “We-in-the-I” and the “I-in-the-We”.

65. Đó là “Chúng-ta-trong-Ta” và “Ta-trong-Chúng-ta”.

66. The individual consciousness is not lost in the growing group consciousness. This paves the way for the realization of the “Individual and the Universal’.

66. Tâm thức cá thể không bị đánh mất trong tâm thức nhóm đang lớn dần. Điều này mở đường cho nhận thức về “Cá thể và Toàn thể”.

Therefore, after the fourth initiation, when the work of the soul is accomplished and the soul body fades out of the picture, only the quality which it has imparted in substance is left as its contribution—individual, group or planetary—to the sumtotal of manifestation. All that remains is a point of light. This point is conscious, immutable and aware of the two extremes of the divine expression: the sense of individual identity and the sense of universality. These are fused and blended in the ONE. Of this ONE the divine Hermaphrodite is the concrete symbol—the union in one of the pairs of opposites, negative and positive, male and female. In the state of being which we call the monadic, no difference is recognised between these two because (if I can bring such ideas down to the level of the intelligence of the aspirant) it is realised that there is no identity apart from universality and no appreciation of the universal apart from the individual realisation, and this realisation of identification with both the part and the whole finds its point of tension in the will-to-be, which is qualified by the will-to-good and developed (from the consciousness angle) by the will-to-know. (R&I 106)

Vì vậy, sau lần điểm đạo thứ tư, khi công việc của linh hồn đã hoàn tất và thể linh hồn mờ dần khỏi bức tranh, chỉ còn phẩm tính mà nó đã truyền cho chất liệu là phần đóng góp của nó—cá thể, nhóm hay hành tinh—vào tổng số của Hiển lộ. Tất cả những gì còn lại là một điểm sáng. Điểm ấy có tâm thức, bất biến và nhận biết hai cực của biểu lộ thiêng liêng: cảm thức về đồng nhất cá nhân và cảm thức về tính phổ quát. Những điều này được dung hợp và hòa lẫn trong ĐẤNG DUY NHẤT. Về ĐẤNG DUY NHẤT này, Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng là biểu tượng cụ thể—sự hợp nhất trong một của hai cặp đối đãi, âm và dương, nam và nữ. Trong trạng thái hiện hữu mà chúng ta gọi là chân thần, không có sự nhận biết khác biệt giữa hai điều này bởi vì (nếu tôi có thể đưa những ý tưởng như thế xuống ngang tầm trí năng của người chí nguyện) người ta nhận ra rằng không có đồng nhất nào tách rời khỏi tính phổ quát và không có sự thấu cảm cái phổ quát tách khỏi sự thực chứng cái cá thể, và sự thực chứng đồng nhất với cả bộ phận và toàn thể này tìm điểm nhất tâm của nó trong ý chí-hiện-hữu, vốn được định chất bởi Ý Chí-hướng Thiện và được phát triển (xét từ góc độ tâm thức) bởi ý chí-biết. (Cung và Điểm đạo 106)

It was in connection with this transmutative process that the al­chem­ists of old occupied themselves, but seldom did they reach the stage wherein it was possible for them to concern themselves with the response of the two types of positive energy to each other,

Chính với tiến trình chuyển hóa này mà các nhà giả kim xưa từng bận tâm, nhưng hiếm khi họ đạt đến giai đoạn có thể bận tâm đến sự đáp ứng giữa hai loại năng lượng dương tính đối với nhau,

67. This means that their experiments rarely dealt with radioactivity as it is here being described and rarely involved the relationship between two essences.

67. Điều này có nghĩa là các thí nghiệm của họ hiếm khi liên hệ đến tính phóng xạ như đang được mô tả ở đây và hiếm khi dính đến mối liên hệ giữa hai tinh chất.

and with the consequent escape of a lesser positive force to its greater attractive centre.

và với sự thoát ly hệ quả của một lực dương tính nhỏ hơn hướng về trung tâm hấp dẫn lớn hơn của nó.

68. These were alchemists working primarily in with the mineral kingdom. They were not capable of rendering radioactive the elements with which they were working.

68. Đó là những nhà giả kim làm việc chủ yếu với giới khoáng vật. Họ không có khả năng làm cho các nguyên tố mà họ đang làm việc trở nên phóng xạ.

When they did (with a few except­ions) they were brought up against a dead wall, for though they had succeeded in locating the radiating principle in substance, or in the true form,

Khi họ làm được (ngoại trừ một vài trường hợp) họ đã vấp phải một bức tường bít lối, vì dẫu họ đã thành công trong việc xác định nguyên lý phát xạ nơi chất liệu, hay nơi hình tướng chân thực,

69. These successful alchemists were able to register the etheric component of the atom—the ‘substantial’ aspect. They had succeeded in moving beyond the dense physical form.

69. Những nhà giả kim thành công này có thể ghi nhận thành phần dĩ thái của nguyên tử—phương diện “chất liệu”. Họ đã tiến xa hơn hình tướng hồng trần đậm đặc.

and had managed to pierce through (or to negate) both the dense physical [1066] body and the etheric form,

và đã xoáy thủng (hay vô hiệu hóa) cả thể hồng trần đậm đặc [1066] lẫn hình tướng dĩ thái,

70. They also negated the hold which the true form or etheric body had on the volatile essence.

70. Họ cũng đã vô hiệu hóa sự kềm giữ mà hình tướng chân thực hay thể dĩ thái áp đặt lên tinh chất bay biến.

yet they had no perception of the nature of the central force which was drawing the life they were concerned with out of its apparently legitimate sphere into a new realm of activity.

thì họ lại không hề nhận biết bản tính của lực trung tâm đang lôi kéo sự sống mà họ quan tâm ra khỏi phạm vi tưởng như chính đáng của nó vào một cõi hoạt động mới.

71. Did this new realm of activity involve the vegetable kingdom? Or was the “central force” a still higher order of life within the mineral kingdom?

71. Liệu cõi hoạt động mới này có liên quan đến giới thực vật chăng? Hay “lực trung tâm” là một trật bậc sự sống cao hơn nữa bên trong giới khoáng vật?

72. Note the words “apparently legitimate sphere” indicating, as they do, that the larger sphere into which the volatile essence escapes is also a “legitimate sphere” and, perhaps, even more “legitimate”.

72. Lưu ý những từ “phạm vi tưởng như chính đáng”, hàm ý rằng khối cầu lớn hơn vào đó tinh chất bay biến thoát ra cũng là một “phạm vi chính đáng” và có lẽ, còn “chính đáng” hơn.

Some few did possess this knowledge but (realising the danger of their conclusions) refused to put in writing the result of their investiga­tions.

Một số ít có sở đắc tri thức này nhưng ( nhận ra sự nguy hiểm trong các kết luận của họ) đã từ chối ghi chép kết quả điều tra của mình.

73. Presumably, these findings could have led to the dematerialization of matter and the liberation of great quantities of energy.

73. Nhiều khả năng những phát hiện này có thể dẫn đến sự phi-vật-chất hóa của vật chất và giải phóng những lượng năng lượng lớn.

74. We may assume that the fifth ray, in its normal cycle, was not in incarnation at this time, but such workers were certainly responding to a combination of fifth ray and seventh ray energies. From whence did they gather these energies if the rays which promote such investigations were not in incarnation? These are deep questions. The third ray came into incarnation in its present cycle in 1425, and contains rays five and seven, yet there was another 3000 year third ray cycle which may have begun in Grecian times—A.D. 500 or so—which may have been in effect during the period of the alchemists operative before 1425.

74. Chúng ta có thể giả định rằng cung năm, trong chu kỳ bình thường của nó, đã không lâm phàm vào thời ấy, nhưng những người làm việc như vậy chắc chắn đang đáp ứng với sự kết hợp của năng lượng cung năm và cung bảy. Họ đã thu nạp những năng lượng này từ đâu nếu các cung xúc tiến loại khảo cứu ấy không lâm phàm? Đây là những câu hỏi sâu xa. Cung ba đi vào lâm phàm trong chu kỳ hiện tại vào năm 1425, và bao gồm cung năm và bảy, nhưng đã có một chu kỳ cung ba kéo dài 3000 năm có lẽ bắt đầu từ thời Hy Lạp—khoảng năm 500 sau Công nguyên—có thể còn đang tác dụng trong giai đoạn các nhà giả kim hoạt động trước năm 1425.

If students will study the laws of transmutation,11 as already appre­hended, and above all, as incorporated in the writings of Hermes Trismegistus, bearing this in mind, some interesting results might be brought about.

Nếu các môn sinh chịu nghiên cứu các định luật chuyển hóa,11 như đã được hiểu biết, và hơn hết, như được thâu gồm trong trước tác của Hermes Trismegistus, ghi nhớ điều này, thì có thể đem lại vài kết quả thú vị.

75. Who was Hermes? It would seem that He was a great third ray/seventh ray teacher—the very rays that Master R. now demonstrates so fully as the Mahachohan.

75. Hermes là ai? Có vẻ như Ngài là một vị giáo sư cung ba/bảy vĩ đại—chính là những cung mà Chân sư R. hiện nay biểu lộ đầy đủ trong vai trò MahaChohan.

76. This is not to say that Master R. was Hermes Trismegistus, but the close relationship is to be pondered. One can also wonder about the relationship of Hermes to the previous Mahachohan.

76. Điều này không có nghĩa Chân sư R. Hermes Trismegistus, nhưng mối liên hệ gần gũi ấy đáng được suy ngẫm. Người ta cũng có thể tự hỏi về mối liên hệ giữa Hermes và vị MahaChohan trước đó.

77. The writings of Hermes Trismegistus now extant are thought to be some to originate in Neo-Platonic times—i.e. during certain early centuries of the Christian Era.

77. Những trước tác còn tồn tại của Hermes Trismegistus được cho là khởi nguyên vào thời Tân-Platon—tức trong những thế kỷ đầu của Kỷ nguyên Kitô giáo.

Footnote 11:

Chú thích 11:

In connection with Transmutation the following ancient formula is of interest. It was the basis of the alchemical work of olden days.

Liên hệ đến Chuyển hóa, công thức cổ dưới đây thật đáng quan tâm. Nó là nền tảng cho công trình giả kim thời xưa.

78. The following is the most famous of all the sayings of Hermes.

78. Sau đây là câu nói nổi tiếng nhất của Hermes.

“True, without error, certain and most true; that which is above is as that which is below and that which is below is as that which is above, for performing the miracles of the one Thing;

“Chân thật, không sai lầm, xác quyết và hoàn toàn chân thật; cái ở trên như cái ở dưới và cái ở dưới như cái ở trên, để thi thố các phép mầu của Một Vật;

79. These miracles, we may assume, are the many magical operations which are possible when working in the One Substance.

79. Chúng ta có thể giả định những phép mầu này là muôn vàn vận tác huyền thuật khả hữu khi làm việc trong Một Chất Thể.

80. They may also be thought of as the various Shaktis associated with the various levels of substance/matter.

80. Chúng cũng có thể được xem như các Shakti khác nhau liên hệ với các tầng chất/vật chất khác nhau.

and as all things were from one by the mediation of one

và như mọi sự đã từ Một qua trung giới của Một

81. The One is related to all things which have gone forth from it.

81. Đấng Duy Nhất có liên quan đến mọi sự đã phóng xuất từ Ngài.

82. This phrase suggests the process of emanation.

82. Cụm từ này gợi ý tiến trình Xuất lộ.

so all things arose from this one thing by adaptation.

nên mọi sự phát sinh từ Một Vật này nhờ sự thích nghi.

83. Here is the suggestion that through combinations and permutations of the One Thing in relation to Itself, or through the combinations and permutations of the Aspects of the One Thing, all things may arise.

83. Ở đây gợi ý rằng qua các kết hợp và biến hóa của Một Vật trong liên hệ với chính Nó, hoặc qua các kết hợp và biến hóa của các Phương diện của Một Vật, muôn vật có thể sinh khởi.

84. The term “adaptation” suggests the involvement of the third ray and, to a degree, the seventh.

84. Thuật ngữ “thích nghi” hàm ý sự tham gia của cung ba và, ở một mức độ nào đó, cung bảy.

The Father of it is the sun, the mother of it is the moon; the wind car­ries it in its belly and the Mother of it is the earth.

Cha của nó là mặt trời, mẹ của nó là mặt trăng; gió mang nó trong bụng và Mẹ của nó là đất.

85. We see how the Moon and Earth are equated; they are both the “Mother of it”.

85. Chúng ta thấy Mặt Trăng và Đất được đồng hóa; cả hai đều là “Mẹ của nó”.

86. There is a hint concerning the use of the breath in the magical process.

86. Có ẩn dụ về việc sử dụng hơi thở trong tiến trình huyền thuật.

87. We may also visualize here the Tree of Life and the relationship between the sixth, ninth and tenth Sephiroth—Tiphereth, Yesod and Malkuth.

87. Chúng ta cũng có thể hình dung ở đây Cây Sự Sống và mối liên hệ giữa ba Sephiroth thứ sáu, thứ chín và thứ mười—Tiphereth, Yesod và Malkuth.

This is the Father of all perfection, and consummation of the whole world. The power of it is integral if it be turned into earth.

Đây là Cha của mọi toàn hảo, và sự viên mãn của toàn thế giới. Quyền năng của nó là toàn khối nếu nó được chuyển thành đất.

88. There is a hint concerning the power of the One Thing embodied in earthly forms. We have the secret of atomic energy hinted.

88. Ẩn tàng gợi ý về quyền năng của Một Vật khi được hiện thân trong các hình tướng trần gian. Bí quyết năng lượng nguyên tử được ám chỉ ở đây.

89. The Father is the Source of archetypal perfection. We may equate the “Father” with the planet Uranus.

89. Cha là Nguồn của toàn hảo nguyên mẫu. Chúng ta có thể đồng hóa “Cha” với hành tinh Uranus.

90. When this Father or Spirit-power is precipitated into lower substances, it is the power of integration within those substances.

90. Khi Quyền năng Cha hay Quyền năng Thần Linh được ngưng tụ vào các chất thấp, đó là quyền năng tích hợp bên trong các chất ấy.

91. We have here a relationship between the Sun, Moon and Earth—between Spirit/Soul, substance/form and matter.

91. Ở đây có một mối quan hệ giữa Mặt Trời, Mặt Trăng và Trái Đất—giữa Thần Linh/Linh hồn, chất liệu/hình tướng và vật chất.

Thou shalt separate the earth from the fire and subtle from the gross, gently with much sagacity;

Ngươi hãy tách đất ra khỏi lửa và vi tế khỏi thô trược, nhẹ nhàng với nhiều minh trí;

92. This suggests the separation of substance from matter.

92. Điều này gợi ý sự phân ly chất liệu khỏi vật chất.

93. This is a direction which alchemists for ages have attempted to fulfill.

93. Đây là một chỉ dẫn mà các nhà giả kim từ nhiều thời đại đã tìm cách thực hành.

it ascends from earth to Heaven, and again descends to earth;

nó thăng từ đất lên Trời, rồi lại giáng xuống đất;

94. The Spirit comes and goes as it wills. It is free.

94. Thần Linh đến và đi tùy ý. Ngài tự do.

95. We are speaking about the liberation of the subtle aspects of life from their confining forms.

95. Chúng ta đang nói về sự giải phóng các phương diện vi tế của sự sống khỏi các hình tướng giam cầm chúng.

and receives the strength of the superiors and the inferiors—

và tiếp nhận sức mạnh của bậc thượng và bậc hạ—

96. The Spirit is at home in both worlds and is empowered in both.

96. Thần Linh ngự trị tự tại ở cả hai thế giới và được trao quyền trong cả hai.

97. We are speaking of superior and inferior lives, presumably devic agencies of various kinds. The cooperation of various groups of devas is needed in this alchemical process.

97. Chúng ta đang nói về các sự sống thượng đẳng và hạ đẳng, giả định là các cơ quan thiên thần khác nhau. Sự cộng tác của nhiều nhóm thiên thần là cần thiết trong tiến trình giả kim này.

98. The Spirit holds sway over various kinds of devic lives.

98. Thần Linh làm chủ các loại sự sống thiên thần khác nhau.

so thou hast the glory of the whole world;

vậy thì ngươi có được vinh quang của toàn thế giới;

99. All things are possible to the one who has been released and can control the various elements.

99. Mọi sự đều khả hữu đối với kẻ đã được giải phóng và có thể điều khiển các nguyên tố khác nhau.

therefore let all obscurity fly before thee.

vì thế để mọi tăm tối bay khỏi trước ngươi.

100. The veils are penetrated. Ignorance is dispelled.

100. Các bức màn được xuyên thủng. Vô minh bị xua tan.

This is the strong fortitude of all fortitudes overcoming every subtle and penetrating every solid thing. So the world was created.”

Đây là Đại nghị lực của muôn nghị lực, vượt thắng mọi điều vi tế và xuyên nhập mọi vật cứng đặc. Thế giới đã được tạo nên như vậy.”

101. The Great Creative Power is in the hands of the alchemist. There is nothing he cannot do within the many-layered worlds of form.

101. Quyền Năng Sáng Tạo Vĩ Đại ở trong tay nhà giả kim. Không có gì y không thể làm trong các thế giới hình tướng nhiều tầng.

102. The normal constraints upon change and transformation have been loosened.

102. Những ràng buộc thông thường lên biến đổi và chuyển hóa đã được nới lỏng.

103. The alchemist is adept.

103. Nhà giả kim là một chân sư.

—Emerald Tablet of Hermes.

—Bảng Lục Bảo của Hermes.

Let them remember that that which “seeks liberty” is the central electric spark; that this liberty is achieved first of all through the results brought about by the activity of the “frictional fire”

Họ hãy nhớ rằng điều “tìm kiếm tự do” là tia lửa điện trung tâm; rằng sự tự do này trước hết đạt được qua những kết quả do hoạt động của “lửa ma sát”

104. All fires are involved sequentially in preparing for the release and freedom of the “central electric spark”.

104. Mọi loại lửa đều tham dự một cách tuần tự để chuẩn bị cho sự phóng thích và tự do của “tia lửa điện trung tâm”.

105. “Burning grounds” even of a personal nature are a necessary preparatory stage.

105. “Vùng đất cháy” ngay cả ở cấp độ cá nhân là một giai đoạn chuẩn bị cần thiết.

which speeds up its internal vibration;

vốn làm tăng tốc rung động nội tại của nó;

106. The vibratory rate of the “central electrical spark” is sped up by the frictional fires.

106. Tần số rung động của “tia lửa điện trung tâm” được tăng tốc bởi các ngọn lửa ma sát.

107. The alchemical work is furthered by external application of frictional fires as well as by the internal stimulus of solar and, then, electric fire.

107. Công trình giả kim còn được xúc tiến nhờ sự áp dụng bên ngoài của lửa ma sát cũng như bởi kích thích nội tại của Lửa Thái dương, rồi Lửa điện.

then by the work upon the atom, or the substance of solar fire, which causes:

rồi bởi công việc trên nguyên tử, hay chất liệu của Lửa Thái dương, vốn gây nên:

a. Orbital progression,

a. Sự tiến triển theo quỹ đạo,

b. Stimulative vibration,

b. Rung động được kích thích,

c. Awakened internal response,

c. Đáp ứng nội tại được đánh thức,

108. Solar fire plays its part. Growth occurs through sequential exposure during “orbital progression”. Refinement and sensitivity play their parts. All aspects of the atom become vibrant and radiatory. This prepares for the moment of release of the volatile essence.

108. Lửa Thái dương đóng vai phần của nó. Sự tăng trưởng diễn ra qua sự tiếp xúc tuần tự trong “sự tiến triển quỹ đạo”. Tinh luyện và mẫn cảm đóng vai phần của mình. Mọi phương diện của nguyên tử trở nên rung động và phóng xạ. Điều này chuẩn bị cho khoảnh khắc tinh chất bay biến được phóng thích.

109. Awakening “internal response” is, first of all, under the influence of solar fire, which prepares the way for the activation of electric fire.

109. “Đáp ứng nội tại được đánh thức” trước hết là dưới ảnh hưởng của Lửa Thái dương, vốn chuẩn bị con đường cho sự hoạt hóa của Lửa điện.

until finally electric fire is contacted.

cho đến sau cùng Lửa điện được tiếp xúc.

110. We see this from our own developmental process. We do not reach release into the monadic sphere immediately, or even release into direct contact with the Monad. We must first pass through the stages when fire by friction and, then, solar fire dominate and prepare the way for the time when the influence of the Monad will be the major influence upon the human energy system.

110. Chúng ta nhìn thấy điều này từ tiến trình phát triển riêng của mình. Chúng ta không đạt được ngay sự phóng thích vào cảnh giới chân thần, hay thậm chí sự phóng thích vào tiếp xúc trực tiếp với Chân thần. Trước hết chúng ta phải đi qua những giai đoạn khi Lửa do ma sát, rồi Lửa Thái dương thống lĩnh và chuẩn bị cho thời điểm khi ảnh hưởng của Chân thần sẽ là ảnh hưởng chính yếu lên hệ thống năng lượng con người.

111. The process of working through the two lower fires on the way to the third represents a gradual unveiling.

111. Tiến trình đi qua hai loại lửa thấp hơn trên đường đến loại lửa thứ ba biểu thị một sự khải lộ dần dần.

This is true of all atoms: [1067]

Điều này đúng với mọi nguyên tử: [1067]

a. The atom of substance,

a. Nguyên tử của chất liệu,

b. The atom of a form whatsoever it be,

b. Nguyên tử của bất cứ hình tướng nào,

c. The atom of a kingdom in nature,

c. Nguyên tử của một giới trong thiên nhiên,

d. The atom of a planet,

d. Nguyên tử của một hành tinh,

e. The atom of a solar system.

e. Nguyên tử của một hệ mặt trời.

112. DK has listed some of the types of atoms to be encountered. The names of some important atoms have been skipped.

112. Chân sư DK đã liệt kê vài loại nguyên tử sẽ gặp. Tên của vài nguyên tử quan trọng đã được lược qua.

113. Of interest is the phrase “the atom of a kingdom of nature”.

113. Điều đáng chú ý là cụm từ “nguyên tử của một giới trong thiên nhiên”.

114. To the extent that every form has Spirit, soul and body, it is an atom.

114. Ở mức độ mỗi hình tướng đều có Thần Linh, linh hồn và thể xác, nó là một nguyên tử.

In every case the three fires or types of energy play their part; in every case the four stages are passed through;

Trong mọi trường hợp ba loại lửa hay năng lượng đều đóng vai phần của chúng; trong mọi trường hợp bốn giai đoạn đều được trải qua;

115. As above, summarized as: Rotation; Relation; Revolution; (Reception); Release

115. Như trên, tóm lược là: Quay; Liên hệ; Cách mạng quỹ đạo; (Tiếp nhận); Phóng thích

in every case transmutation, transference, or radiation takes place,

trong mọi trường hợp chuyển hóa, chuyển dịch hay phóng xạ đều diễn ra,

116. Another name for radiation is “transference”. The life is transferred from a lesser ring-pass-not into a greater.

116. Một tên gọi khác của phóng xạ là “chuyển dịch”. Sự sống được chuyển từ một vòng-giới-hạn nhỏ hơn vào một vòng lớn hơn.

and the result of the escape of the central positive energy is achieved, and its absorption into a greater form, to be held in place for a specific cycle by the stronger energy.

kết quả của việc phóng thích năng lượng dương tính trung tâm được đạt đến, và sự hấp thu của nó vào một hình tướng lớn hơn, để được giữ đúng vị trí trong một chu kỳ xác định bởi năng lượng mạnh hơn.

117. The liberated essence is not, thus, unconditionally free. It is free only to be bound. The greater Life of the greater form into which it is liberated binds it for a term. All proceeds under law.

117. Tinh chất được giải phóng vì thế không tự do vô điều kiện. Nó chỉ tự do để được ràng buộc. Sự sống lớn hơn của hình tướng lớn hơn mà nó được giải phóng vào sẽ ràng buộc nó một thời hạn. Mọi việc diễn tiến theo định luật.

This process of rendering radioactive all the elements has, as we have seen, occupied students down the ages.

Tiến trình làm cho mọi nguyên tố trở nên phóng xạ như chúng ta đã thấy, đã bận tâm các môn sinh suốt bao thời đại.

118. The stage of radioactivity is a consummating stage. There are different forms of radioactivity and according to the level of the form to be rendered radioactive, so will be the type of radioactivity achieved. The radioactivity of a mineral is not that of a plant or animal, yet all achieve, at length, radioactivity.

118. Trạng thái phóng xạ là một giai đoạn điểm-tụ. Có những dạng phóng xạ khác nhau, và tùy theo cấp độ của hình tướng cần được làm cho phóng xạ, sẽ có loại phóng xạ tương ứng. Phóng xạ của khoáng vật không phải của thực vật hay thú vật, nhưng rốt cuộc tất cả đều đạt đến phóng xạ.

The alchemists of the middle ages beginning with the simpler elements and starting with the mineral kingdom sought to find out the secret of the liber­ating process, to know the method of release, and to under­stand the laws of transmutation.

Các nhà giả kim thời trung cổ, bắt đầu với những nguyên tố đơn giản hơn và khởi đi từ giới khoáng vật, đã tìm cách khám phá bí quyết của tiến trình giải phóng, biết phương pháp phóng thích, và hiểu các định luật chuyển hóa.

119. Transmutation, or the refinement of matter, prepares the way for liberation.

119. Chuyển hóa, hay tinh luyện vật chất, chuẩn bị con đường cho giải phóng.

120. In an historical period of spiritual oppression, a mode of liberation was sought, though we can say with confidence that the practice of alchemy far antedates the Middle Ages.

120. Trong một thời kỳ lịch sử bị áp chế tinh thần, người ta tìm một phương thức giải phóng, dẫu chúng ta có thể quả quyết rằng thực hành giả kim có từ rất lâu trước Trung cổ.

They did not succeed in the majority of cases

Họ đã không thành công trong phần lớn các trường hợp

121. Apparently some did succeed.

121. Hiển nhiên một số đã thành công.

because, having located the essence, they had no idea how to deal with it when released, nor (as we have seen) had they any conception as to the magnetic force which was drawing the released essence to itself.

vì, sau khi định vị được tinh chất, họ không biết phải xử lý nó thế nào khi đã được phóng thích, cũng như (như chúng ta đã thấy) họ không hề có khái niệm gì về lực từ đang lôi kéo tinh chất được phóng thích về với chính nó.

122. Two sources of failure are listed: the inability to handle the released essence and the inability to understand the greater energy inducing the release of the essence and drawing that essence towards itself.

122. Hai nguồn cội của thất bại được liệt kê: bất lực trong việc xử lý tinh chất đã phóng thích và bất lực trong việc hiểu năng lượng lớn hơn gây nên sự phóng thích tinh chất và lôi kéo tinh chất ấy về phía mình.

123. Note again the term “magnetic force” can apply to the attractive power of the greater enveloping form or the attractive power of the nucleus of the greater Life or essence.

123. Lưu ý một lần nữa thuật ngữ “lực từ” có thể áp dụng cho quyền năng hấp dẫn của hình tướng bao bọc lớn hơn hoặc quyền năng hấp dẫn của hạch nhân thuộc Sự sống lớn hơn hay tinh yếu.

To comprehend the law and therefore to be able to work perfectly with it, the experimenting student must have the ability to release the essence from its form.

Để thấu hiểu định luật và bởi vậy có thể làm việc hoàn hảo với nó, đạo sinh thí nghiệm phải có khả năng phóng thích tinh chất khỏi hình tướng của nó.

124. And even in this, the average alchemist failed.

124. Và ngay cả ở điểm này, đa số các nhà giả kim đã thất bại.

125. Analogically, our entire study of spirituality leads towards the full release of the essence into the fifth kingdom of nature.

125. Theo lối tương đồng, toàn bộ khảo cứu của chúng ta về tính tinh thần dẫn tới sự phóng thích trọn vẹn tinh chất vào giới thứ năm của thiên nhiên.

He must know the formulae and words which will direct it to that particular focal point in the mineral king­dom which stands in the same correspondential relation to the mineral monad as the Ego on its own plane stands to the man who casts off his physical and true forms through death.

Y phải biết các công thức và từ sẽ hướng nó tới điểm tiêu điểm đặc thù trong giới khoáng vật, vốn đứng trong cùng một tương quan tương ứng với chân thần khoáng vật như Chân ngã trên chính cõi của mình đứng với con người, kẻ trút bỏ các hình tướng thể xác và chân thật của y qua cái chết.

126. Here there is a clarification of the point raised earlier in this commentary. Through the alchemical process as enacted with respect to the mineral kingdom, the essence is not always released into the vegetable kingdom but into a superior condition within the mineral kingdom—i.e., released towards closer relation to the mineral Monad. There do come, however, points of transference from kingdom to kingdom and these are also vital points of alchemical release.

126. Ở đây có sự làm sáng tỏ điểm đã nêu trước đó trong phần bình giải này. Qua tiến trình giả kim được thực hiện đối với giới khoáng vật, tinh chất không phải lúc nào cũng được phóng thích vào giới thực vật mà vào một trạng thái trội hơn ngay trong giới khoáng vật—nghĩa là, được phóng thích hướng tới mối tương quan gần gũi hơn với Chân thần khoáng vật. Tuy nhiên, vẫn có những điểm chuyển dịch từ giới này sang giới khác và đó cũng là những điểm sinh động của sự phóng thích giả kim.

127. We see that the “formula and words” were not in the possession of the average alchemist.

127. Chúng ta thấy rằng “công thức và từ” không ở trong tay nhà giả kim bình thường.

128. There is the analog of and ‘egoic point’ within the mineral kingdom and towards it the release essence is to gravitate. Certain words and formulas will make that gravitation possible.

128. Có một tương đồng về “điểm chân ngã” trong giới khoáng vật và về phía đó mà tinh chất được phóng thích sẽ hướng tới. Những từ và công thức nhất định sẽ làm cho sự hấp dẫn đó khả hữu.

129. And if the liberated essence arrived at the “focal point”. What then?

129. Và nếu tinh chất đã được giải phóng đi tới “điểm tiêu điểm”. Khi ấy thì sao?

This involves knowledge only committed to the pledged disciple;

Điều này liên quan đến tri kiến chỉ giao phó cho đệ tử đã thệ nguyện;

130. Most pledged disciples, of whom we know, have not received such knowledge. Perhaps these words are committed along the third ray, fifth ray and seventh ray lines. Perhaps, also, the time has not yet come for the committing of these words to pledged disciples. In other words, with the time comes that such words may be safely committed, they will be committed only to pledged disciples.

130. Hầu hết các đệ tử đã thệ nguyện mà chúng ta biết chưa nhận được tri kiến như vậy. Có lẽ những lời này được giao phó theo các tuyến cung ba, cung năm và cung bảy. Cũng có lẽ, thời điểm vẫn chưa đến để giao phó những lời này cho các đệ tử đã thệ nguyện. Nói cách khác, khi thời điểm đến mà những lời như vậy có thể được giao phó một cách an toàn, chúng sẽ chỉ được giao phó cho các đệ tử đã thệ nguyện.

if chance students stumble upon the law, and theoretically know the process, they would do well to proceed no further until they have learned how [1068] to protect themselves from the interplay of forces.

nếu các môn sinh tình cờ vấp phải định luật, và về mặt lý thuyết biết tiến trình, họ sẽ khôn ngoan khi không tiến xa hơn cho tới khi họ đã học được cách [1068] tự bảo vệ khỏi sự tương tác của các mãnh lực.

131. Another caution is given. DK said how many disasters would arise through man’s imminent encounter with the deva kingdom.

131. Lại đưa ra một lời cảnh báo nữa. Chân sư DK đã nói có biết bao tai hoạ sẽ nảy sinh qua sự chạm trán cận kề của con người với giới thiên thần.

132. It is always true of neophytes upon the path of occult development: “fools rush in where angels fear to tread”.

132. Điều này luôn đúng với những người sơ cơ trên Thánh Đạo của sự phát triển huyền bí: “kẻ dại nhào vào nơi mà thiên sứ còn sợ chẳng dám bước”.

As we well know, the workers with radium, and those who experi­ment in the world’s laboratories, suffer frequently from loss of limb or life; this is due to their ignorance of the forces they are dealing with.

Như chúng ta biết rõ, những người làm việc với radium, và những ai thí nghiệm trong các phòng thí nghiệm của thế giới, thường phải chịu mất chi thể hay mất mạng; điều này là do sự không hiểu biết của họ về các mãnh lực mà họ đang đụng chạm tới.

133. There are pictures of early experiments actually handling radium (radioactive isotopes) with their bare hands!

133. Có những bức ảnh về các thí nghiệm ban sơ thật sự cầm nắm radium (các đồng vị phóng xạ) bằng tay trần!

The liberated essences become conductors of the greater force which is their magnetic centre, because they are responsive to it,

Các tinh chất được giải phóng trở thành các dẫn lưu cho mãnh lực lớn hơn, vốn là trung tâm từ của chúng, vì chúng đáp ứng với nó,

134. This is a point of great moment. The liberated essence, thus, becomes empowered by the greater force of the greater center.

134. Đây là một điểm hệ trọng. Như vậy, tinh chất được giải phóng trở nên được tiếp năng bởi mãnh lực lớn hơn của trung tâm lớn hơn.

135. From the human perspective the essence within the causal body is weaker than the essence liberated into the spiritual triad.

135. Từ viễn tượng nhân loại, tinh chất trong thể nguyên nhân yếu hơn tinh chất được giải phóng vào Tam Nguyên Tinh Thần.

and it is this force which produces the distressing conditions sometimes present in connection with radioactive substances.

và chính mãnh lực này tạo ra các tình trạng gây khổ sở đôi khi hiện diện trong liên hệ với các chất phóng xạ.

136. We are now speaking of the burning of tissue which occurs in the unprotected presence of radioactive substances.

136. Chúng ta đang nói về việc cháy bỏng mô xảy ra khi đứng trước các chất phóng xạ mà không được bảo vệ.

137. The cause is the greater power of the magnetic center towards which the liberated essence is attracted.

137. Nguyên nhân là sức mạnh lớn hơn của trung tâm từ lực hướng tới đó tinh chất được giải phóng bị hấp dẫn.

Every radioactive atom becomes, through this conductive faculty, a releasing agent;

Mọi nguyên tử phóng xạ trở thành, qua khả năng dẫn lưu này, một tác nhân phóng thích;

138. From the human perspective a liberated human being becomes a releasing agent for the power of the Monad. His vehicles can be ‘burned’ thereby. Others in his presence can also be ‘burned’ in other ways.

138. Từ viễn tượng nhân loại, một con người được giải phóng trở thành một tác nhân phóng thích cho quyền lực của Chân thần. Các vận cụ của y có thể bị “thiêu” bởi đó. Những người ở gần y cũng có thể bị “thiêu” theo các cách khác.

139. But because the greater force of the greater magnetic center is conducted through the released essences, the result can also be a releasing effect upon other atoms contacted.

139. Nhưng bởi vì mãnh lực lớn hơn của trung tâm từ lớn hơn được dẫn qua các tinh chất được giải phóng, kết quả cũng có thể là một hiệu ứng giải phóng lên các nguyên tử khác được tiếp xúc.

140. It would seem that radioactive substances which are in process of release are also conductors of the greater force of the higher magnetic center. The burning discussed below can occur, it seems, before there is complete release of the essence. This must be investigated.

140. Có vẻ như các chất phóng xạ đang đang trong quá trình giải phóng cũng là các dẫn lưu cho mãnh lực lớn hơn của trung tâm từ cao hơn. Việc cháy bỏng được bàn dưới đây dường như có thể xảy ra trước khi có giải phóng hoàn toàn tinh chất. Điều này cần được khảo sát.

and they consequently cause what we call burns. These burns are the result of the process of releasing the essential life of the atom of physical substance being dealt with.

và do đó chúng gây ra điều mà chúng ta gọi là bỏng. Những vết bỏng này là kết quả của tiến trình phóng thích sự sống tinh yếu của nguyên tử chất hồng trần đang được xử lý.

141. The empowered volatile essence, when released, impacts substances which cannot withstand its power.

141. Tinh chất dễ bay hơi đã được tiếp năng, khi được phóng thích, va chạm vào các chất liệu không thể chịu nổi sức mạnh của nó.

142. From the human perspective, the ‘released initiate’ must modulate his radiatory impact if he is not to be the cause of harm to those around him.

142. Từ viễn tượng nhân loại, “điểm đạo đồ được phóng thích” phải điều tiết tác động toả xạ của mình nếu y không muốn gây hại cho người xung quanh.

There might here be noted the curious phenomenon, in the human kingdom which is erroneously termed the prolongation of life; it might more truthfully be called the perpetuation of the form.

Ở đây có thể lưu ý hiện tượng lạ, trong giới nhân loại, thường bị gọi sai là kéo dài sự sống; đúng hơn nên gọi là duy trì hình tướng.

143. DK, obviously, does not think much of the desperate attempts of modern medical science to prevent the unit of consciousness from escaping the confines of the dense physical body.

143. Rõ ràng Chân sư DK không coi trọng những nỗ lực tuyệt vọng của y khoa hiện đại nhằm ngăn đơn vị tâm thức thoát khỏi khuôn khổ thể xác đậm đặc.

Medical science today strains every effort to retain life in forms diseased and inadequate; these Nature, if left to herself, would long ago have discarded.

Y khoa ngày nay dồn mọi nỗ lực để lưu giữ sự sống trong những hình tướng bệnh hoạn và bất cập; nếu để Tự Nhiên tự xử, những hình tướng này hẳn đã bị loại bỏ từ lâu.

144. Thus, there is a greater wisdom in Nature. It seeks the advancement of the consciousness. This cannot be achieved in inadequate forms.

144. Như vậy, trong Tự Nhiên có một sự minh triết lớn hơn. Tự Nhiên tìm sự thăng tiến của tâm thức. Điều này không thể đạt được trong những hình tướng bất cập.

145. Note the discarding process which is a natural part of Nature’s dynamics.

145. Hãy lưu ý tiến trình loại bỏ vốn là phần tự nhiên trong động lực của Tự Nhiên.

They thereby imprison the life, and force back the life essence again and again into the sheath at the moment of liberation.

Bằng cách đó, họ giam hãm sự sống, và ép sự sống tinh chất quay trở lại hết lần này đến lần khác vào vỏ bao ngay khoảnh khắc giải phóng.

146. Perhaps this is why, so it is reported, that those who have ‘died’ greatly resent being ‘called back’ by ‘heroic’ medical efforts.

146. Có lẽ vì thế, theo như thuật lại, những người đã “chết” rất bực bội khi bị “gọi trở lại” bởi các nỗ lực y khoa “anh hùng”.

147. We can see that what is called the “release of the volatile essence” occurs in several phases depending upon that category of form from which it is being released (for instance: the dense physical body, the etheric body, the astral body, the lower mental body, the causal body, etc.) Every time a vehicle dies and the “center of consciousness” is released to pursue experience in a higher vehicle (unencumbered by the lower vehicle) there is a kind of “release of the volatile essence”.

147. Chúng ta có thể thấy rằng điều gọi là “giải phóng tinh chất dễ bay hơi” xảy ra trong nhiều pha, tuỳ theo loại hình tướng mà nó đang được giải phóng khỏi (thí dụ: thể xác đậm đặc, thể dĩ thái, thể cảm dục, thể hạ trí, thể nguyên nhân, v.v.). Mỗi khi một hiện thể chết và “trung tâm tâm thức” được giải phóng để tiếp tục kinh nghiệm trong một hiện thể cao hơn (không bị vướng bởi hiện thể thấp), đều có một kiểu “giải phóng tinh chất dễ bay hơi”.

In course of time and with more knowledge, true medical science will become purely preventative.

Theo thời gian và với nhiều tri kiến hơn, y khoa chân chính sẽ trở thành thuần phòng ngừa.

148. “An ounce of prevention is worth a pound of cure.”

148. “Một chút phòng ngừa đáng giá hơn cả cân chữa trị.”

149. Etheric vision will make it possible to “see trouble coming”.

149. Thị giác dĩ thái sẽ làm cho có thể “thấy rắc rối đang đến”.

Let the healer train himself to know the inner stage of thought or of desire of the one who seeks his help. He can thereby know the source from which the trouble comes. Let him relate the cause and the effect, and know the point exact through which relief must come. (Rule III, EH 57)

Hãy để thầy thuốc rèn luyện chính mình để biết giai đoạn nội tâm của tư tưởng hay của dục vọng của người tìm kiếm sự giúp đỡ của y. Qua đó, y có thể biết nguồn gốc từ đó rắc rối phát sinh. Hãy để y liên hệ nguyên nhân và hậu quả, và biết chính xác điểm mà qua đó sự cứu trợ phải đến. (quy luật III, EH 57)

It will concentrate its ability on preserving the atomic life of the human atom, and at furthering the preservative protective processes,

Y khoa sẽ tập trung khả năng vào việc bảo tồn sự sống nguyên tử của nguyên tử con người, và thúc đẩy các tiến trình bảo tồn–bảo vệ,

150. This will involve the strengthening of the health aura—the radiatory power of the etheric body.

150. Điều này sẽ bao hàm việc tăng cường hào quang sức khoẻ—năng lực toả chiếu của thể dĩ thái.

and the functionary smooth­ness of the atomic rotary life, thus conducing to the correct follow­ing of the human orbital path.

và sự trơn tru trong vận hành của đời sống quay tròn nguyên tử, nhờ đó góp phần vào việc theo đúng đường quỹ đạo của con người.

151. From a certain perspective, the “human orbital path” is pursued on the “wheel of life”. There is a proper ‘reincarnational rhythm’ for the human being which will be rightly fulfilled when there is health, vibrancy and “functionary smoothness of the atomic rotary life”. From this perspective, the “orbital path” includes passage through the Ego on the higher mental plane.

151. Từ một viễn tượng nào đó, “đường quỹ đạo của con người” được theo đuổi trên “bánh xe sự sống”. Có một “nhịp điệu luân hồi” đúng đắn cho con người, sẽ được hoàn tất đúng khi có sức khoẻ, sinh lực và “sự trơn tru trong vận hành của đời sống quay tròn nguyên tử”. Từ viễn tượng này, “đường quỹ đạo” bao gồm hành trình đi qua Chân ngã trên cõi thượng trí.

But further than that it will not go, and when the course of nature has been run, when the wheel of life has run down, when the hour for liberation has struck, when the time has come for the return of the essence to its centre, then the work will be recognised as com­pleted, and the form discarded.

Nhưng vượt quá điều đó thì sẽ không tiến nữa, và khi chu trình của tự nhiên đã được hoàn tất, khi bánh xe sự sống đã ngừng quay, khi giờ giải phóng đã điểm, khi thời khắc đã đến để tinh chất trở về trung tâm của nó, khi ấy công việc sẽ được nhìn nhận là hoàn tất, và hình tướng bị loại bỏ.

152. Medical doctors will not interfere inappropriately nor interrupt the natural process of extraction and release.

152. Các y sĩ sẽ không can thiệp một cách không thích đáng, cũng không làm gián đoạn tiến trình trích xuất và phóng thích tự nhiên.

153. Much reduction of the fear of death will be required before this attitude is of general acceptance.

153. Sẽ cần phải giảm thiểu đáng kể nỗi sợ chết trước khi thái độ này được chấp nhận rộng rãi.

154. Notice here that the “centre” to which the essence is to return is, after several phases, the Ego on the higher mental plane.

154. Lưu ý ở đây rằng “trung tâm” mà tinh chất sẽ trở về, sau nhiều pha, là Chân ngã trên cõi thượng trí.

But this will not, however, be possible until the human family has reached a stage [1069] when, through pure living and clean thinking, the present corruptions have been eliminated.

Nhưng điều này sẽ không thể nào xảy ra cho đến khi gia đình nhân loại đã đạt tới một giai đoạn [1069] mà qua đó, nhờ sống thanh khiết và tư duy trong sạch, các sự thối nát hiện nay đã được loại trừ.

155. “When the building energies of the soul are active in the body, then there is health, clean interplay and right activity. When the builders are the lunar lords and those who work under the control of the moon and at the behest of the lower Personal self, then you have disease, ill health and death.” (LAW VI, EH 191)

155. “Khi các năng lượng kiến tạo của linh hồn hoạt động trong thân thể, thì có sức khoẻ, sự tương tác trong sạch và hoạt động đúng. Khi những người kiến tạo là các nguyệt tinh quân và những kẻ làm việc dưới sự kiểm soát của mặt trăng và theo lệnh của phàm ngã thấp, thì bạn có bệnh tật, sức khoẻ kém và cái chết.” (ĐỊNH LUẬT VI, EH 191)

156. We can see the intimate relationship between clean thinking and pure living. Following occult sequence, the first should precede the second.

156. Chúng ta có thể thấy mối liên hệ mật thiết giữa tư duy trong sạch và đời sống thanh khiết. Theo trình tự huyền môn, điều thứ nhất nên đi trước điều thứ hai.

157. Many purificatory processes lie ahead before the desired state of wisdom and detachment can be achieved.

157. Nhiều tiến trình tịnh hoá còn ở phía trước trước khi đạt được trạng thái minh triết và ly tham như mong muốn.

Men will then function on into old age,

Con người khi ấy sẽ tiếp tục hoạt động cho tới tuổi già,

158. They will do so in full heath, such will be the advanced state of medical knowledge.

158. Họ sẽ làm vậy trong trọn vẹn sức khoẻ; mức độ tiến bộ như thế của y học sẽ đạt được.

159. Elsewhere, DK has told us that, in the future, the body may be dropped earlier than now it is, once the life purpose has been accomplished.

159. Ở nơi khác, Chân sư DK đã nói rằng, trong tương lai, thân xác có thể được buông bỏ sớm hơn hiện nay, một khi mục đích sống đã được hoàn tất.

or until the Ego, realising the partic­ular work to be accomplished in any one life has been duly work­ed out,

hoặc cho đến khi Chân ngã, nhận biết công việc đăc thù cần được hoàn tất trong bất kỳ một đời sống nào đã được thực hiện đầy đủ,

160. This is according to the judgment of the Ego and not the judgment of the personality. These two often differ appreciably.

160. Điều này tuỳ theo phán xét của Chân ngã chứ không phải phán xét của phàm ngã. Hai điều này thường khác nhau đáng kể.

161. It seems that there is a certain elasticity to life in form. The Ego may wait, so it seems, until the soul-in-incarnation has accomplished the particular work to be accomplished.

161. Có vẻ như sự sống trong hình tướng có một mức độ co giãn nào đó. Chân ngã có thể chờ, dường như vậy, cho đến khi linh hồn đang nhập thể đã hoàn tất công việc đặc thù cần hoàn tất.

calls in the lower spark of life, and withdraws the central point of fire.

gọi về tia lửa sự sống thấp, và rút lui điểm lửa trung tâm.

162. The “lower spark of life” and the “central point of fire” are here equivalent.

162. “Tia lửa sự sống thấp” và “điểm lửa trung tâm” ở đây là tương đương.

163. The withdrawal or release of the “essence” so much discussed in these sections of text, is the withdrawal of the “lower spark of life”.

163. Sự rút lui hay sự phóng thích “tinh chất” được bàn rất nhiều trong các đoạn văn này chính là sự rút lui của “tia lửa sự sống thấp”.

164. There is also a ‘higher spark of life’ of which the “lower spark of life” is an emanative extension.

164. Cũng có một “tia lửa sự sống cao” mà “tia lửa sự sống thấp” là một xuất lộ từ nó.

This naturally presupposes knowledge and faculties at present lacking.

Điều này dĩ nhiên tiên quyết những tri kiến và năng lực hiện còn thiếu.

165. The Ego does this even now, but the man on the physical plane does not realize it is happening and is no position, in terms of his knowledge, to cooperate with it.

165. Chân ngã hiện vẫn làm điều này, nhưng con người trên cõi hồng trần không nhận ra điều đó đang xảy ra và theo nghĩa tri kiến, y không ở vị thế có thể hợp tác với nó.

All these thoughts can be extended to include entire kingdoms of nature, the globes of a chain, the chains themselves, a planetary scheme or a solar system.

Tất cả những tư tưởng này có thể được mở rộng để bao gồm toàn bộ các giới của thiên nhiên, các bầu hành tinh của một dãy, chính các dãy, một hệ hành tinh hay một hệ mặt trời.

166. The Law of Analogy ever holds good, but man being in no position to understand how this abstracting process occurs in relation to his own microcosm, is in no position to understand in any detail how it applies to the larger forms of life in which is lives and moves.

166. Định luật Tương đồng luôn đúng, nhưng con người vốn không ở vị thế hiểu được tiến trình trừu đoản này xảy ra thế nào đối với chính tiểu thiên địa của y, thì cũng không ở vị thế để hiểu chi tiết nó áp dụng ra sao cho các hình tướng lớn lao hơn của sự sống trong đó y sống và chuyển động.

The moon is an interesting instance of the transmutative or liber­ating process practically completed in a globe:

Mặt trăng là một thí dụ thú vị về tiến trình chuyển hoá hay giải phóng hầu như đã hoàn tất trong một bầu:

167. Which globe? The fourth? Probably—the fourth globe of the former third chain of the Earth-scheme. And which round? Individualization took place on the Moon-chain in the fifth race of the third round. If the destruction took place in the fourth round (fourth race) it would have set up a resonance of the incoming of Moon-chain Egos in the fourth rootrace of the fourth round on the Earth-chain.

167. Bầu nào? Bầu thứ tư? Có lẽ—bầu thứ tư của dãy thứ ba trước đây của Hệ Địa Cầu. Và là cuộc tuần hoàn nào? Sự biệt ngã hóa diễn ra trên Dãy Mặt Trăng ở giống dân thứ năm của cuộc tuần hoàn thứ ba. Nếu sự huỷ diệt xảy ra trong cuộc tuần hoàn thứ tư (giống dân thứ tư) thì nó hẳn đã thiết lập một cộng hưởng với sự tràn vào của các Chân ngã Dãy Trăng trong giống dân gốc thứ tư của cuộc tuần hoàn thứ tư trên Dãy Địa Cầu.

168. Is DK telling us that the transmutative or liberating process is, even now, still continuing on the Moon? It would seem so from what is said below.

168. Có phải Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng tiến trình chuyển hoá hay giải phóng, ngay đến bây giờ, vẫn còn đang tiếp diễn trên Mặt trăng? Có vẻ là như vậy theo những gì nói dưới đây.

the essential life of the human kingdom has withdrawn and found a new field of ex­pres­sion.

sự sống tinh yếu của giới nhân loại đã rút đi và tìm thấy một trường biểu hiện mới.

169. Was it a natural process? Was there a natural completion? Or was the process interrupted as we have been told, before there could be completion?

169. Đó có phải là một tiến trình tự nhiên? Có sự hoàn tất tự nhiên chăng? Hay tiến trình bị gián đoạn như chúng ta được cho biết, trước khi có thể hoàn tất?

170. That new field of expression became the Earth-chain and this field of expression was needed because the natural evolutionary process was disturbed by the Solar Logos.

170. Trường biểu hiện mới ấy trở thành Dãy Địa Cầu và trường biểu hiện này là cần thiết vì tiến trình tiến hoá tự nhiên đã bị Thái dương Thượng đế can thiệp làm rối loạn.

The progress of evolution on the moon was abruptly disturbed and arrested by the timely interference of the solar Logos. The secret of the suffering in the Earth chain, which makes it merit the name of the Sphere of Suffering, and the mystery of the long and painful watch kept by the SILENT WATCHER,48 has its origin in the events which brought the moon chain to a terrific culmination. Conditions of agony and of distress such as are found on our planet are found in no such degree in any other scheme. (TCF 416)

Sự tiến triển của tiến hoá trên mặt trăng đã bị can thiệp kịp thời bởi Thái dương Thượng đế làm cho bị xáo trộn và đình trệ đột ngột. Bí mật về khổ đau trong Dãy Địa Cầu, khiến nó xứng đáng với tên gọi Cầu Giới của Khổ Đau, và điều huyền bí về cuộc canh giữ dài lâu và đau đớn của VỊ GIÁM THỊ IM LẶNG,48 có nguyên nhân trong những biến cố đưa Dãy Trăng tới một kết cục kinh hoàng. Những tình cảnh thống khổ và đau đớn như được thấy trên hành tinh của chúng ta không hiện diện ở mức độ như thế trong bất kỳ hệ nào khác. (TCF 416)

All animal life has equally been absorbed by a greater centre in another chain.

Mọi sự sống thú vật đều đã được hấp thu bởi một trung tâm lớn hơn trong một dãy khác.

171. Can we, with reason, think of this chain as the sixth—the Mars-chain? There are a number of triangles in the diagram of the Mars-chain indicating an affinity for the third or animal kingdom.

171. Chúng ta có thể, một cách hợp lý, nghĩ dãy đó là dãy thứ sáu—Dãy Sao Hỏa chăng? Có một số tam giác trong sơ đồ Dãy Sao Hỏa cho thấy một tương ứng với giới thú vật thứ ba.

172. Does this mean that no Moon-chain animal life was absorbed into the Earth-chain of the Earth-scheme?

172. Điều này có nghĩa là không có sự sống thú vật nào của Dãy Trăng được hấp thu vào Dãy Địa Cầu của Hệ Địa Cầu chăng?

Practically the same can be said of the vegetable kingdom on the moon though there are a few of the lower forms of the vegetable life (of a kind unrecognisable by us) still to be found there;

Gần như điều tương tự có thể nói về giới thực vật trên mặt trăng tuy vẫn còn một ít trong các dạng thấp của sự sống thực vật (loại mà chúng ta không thể nhận ra) vẫn còn được tìm thấy ở đó;

173. A fascinating thought. Perhaps recent explorations of the Moon have gathered examples of these lower forms together without realizing it.

173. Một ý nghĩ hấp dẫn. Có lẽ những cuộc thám hiểm gần đây của Mặt trăng đã gom các mẫu của những dạng thấp này mà không nhận ra.

174. Were the vegetable forms transferred, apparently, to still another chain, transferred, perhaps, to the second of Venus-chain? The vegetable kingdom is the second kingdom.

174. Các dạng thực vật được chuyển giao, có vẻ như vậy, đến một dãy khác nữa, có thể chuyển đến dãy thứ hai của Dãy Kim Tinh? Giới thực vật là giới thứ hai.

whilst the mineral kingdom is radioactive and the essence of all mineral forms is fast escaping.

trong khi giới khoáng vật là phóng xạ và tinh chất của mọi hình tướng khoáng vật đang nhanh chóng thoát ra.

175. But escaping whither if not to another chain?

175. Nhưng thoát đi về đâu nếu không phải là sang một dãy khác?

176. The “Mystery of the Moon” is far deeper than we suspect.

176. “Huyền bí của Mặt trăng” sâu xa hơn chúng ta tưởng nhiều.

177. We see that not all Moon lives were transferred to the Earth-chain.

177. Chúng ta thấy rằng không phải mọi sự sống thuộc Mặt trăng đều được chuyển sang Dãy Địa Cầu.

178. If the mineral kingdom on the Moon is radioactive now it would seem that contemporary science should be able to determine if this is the case. Perhaps analysis of rock from the Moon will reveal the extent to which it is radioactive or not.

178. Nếu giới khoáng vật trên Mặt trăng là phóng xạ hiện nay  thì có vẻ như khoa học đương thời phải có thể xác định điều này. Có lẽ việc phân tích đá từ Mặt trăng sẽ cho thấy mức độ mà nó phóng xạ hay không.

179. What will remain of the mineral forms once the essence of the mineral forms escapes? We may infer that this escape will contribute to the physical disintegration of the present physical form of the Moon.

179. Điều gì sẽ còn lại của các hình tướng khoáng vật một khi tinh chất của các hình tướng khoáng vật thoát ra? Chúng ta có thể suy ra rằng sự thoát ra này sẽ góp phần vào sự tan rã hồng trần của hình tướng hồng trần hiện tại của Mặt trăng.

In connection with the kingdoms of nature, it must be remember­ed that their growth and eventual radiation is dependent upon the cyclic purpose of the planetary Logos, and upon the currents of force which play upon His planetary body, and which emanate from other planetary schemes.

Liên hệ đến các giới của thiên nhiên, cần nhớ rằng sự tăng trưởng và sự toả xạ rốt ráo của chúng phụ thuộc vào mục đích chu kỳ của Hành Tinh Thượng đế, và vào các dòng mãnh lực tác động lên thân thể hành tinh của Ngài, và vốn phát xuất từ các hệ hành tinh khác.

180. The different kinds of radioactivity achieved in the various kingdoms on our planet (and in other places within our planetary scheme) depend on many factors. Currents of force external to our Planetary Logos and coming from other planetary schemes determine, in part, the timing of the radioactive demonstration of any kingdom of nature. The “cyclic purpose of the Planetary Logos”, however, is probably the most important determinant.

180. Những loại phóng xạ khác nhau đạt được trong các giới nhau trên hành tinh chúng ta (và ở những nơi khác trong hệ hành tinh của chúng ta) tuỳ thuộc nhiều yếu tố. Các dòng mãnh lực bên ngoài Hành Tinh Thượng đế của chúng ta và đến từ các hệ hành tinh khác, phần nào quyết định thời điểm biểu lộ tính phóng xạ của bất kỳ giới nào của thiên nhiên. Tuy nhiên, “mục đích chu kỳ của Hành Tinh Thượng đế” có lẽ là yếu tố quyết định quan trọng nhất.

181. If we examine the state of the various kingdoms on our planet, we will see that, relatively speaking, the planet kingdom (as the most highly developed kingdom) is closer to a state of radioactivity than the other kingdoms, and especially closer than the animal or the human kingdom.

181. Nếu chúng ta khảo sát trạng thái của các giới khác nhau trên hành tinh của mình, chúng ta sẽ thấy rằng, nói tương đối, giới hành tinh (với tư cách giới phát triển cao nhất) gần trạng thái phóng xạ hơn các giới khác, và đặc biệt gần hơn giới thú vật hay giới nhân loại.

182. Humanity, however, is heading into a period of increasing radiation. This has happened twice before in recent history—once at the time of the Christ in Palestine and the other at the time of the Buddha. (cf. TCF 1078-1079)

182. Tuy nhiên, nhân loại đang hướng vào một thời kỳ gia tăng toả xạ. Điều này đã xảy ra hai lần trước đây trong lịch sử gần đây—một lần vào thời Đức Christ tại Palestine và một lần khác vào thời Đức Phật. (x. TCF 1078-1079)

All atoms become radioactive as the result of a response to a stronger magnetic centre which response is brought about through the gradual evolutionary development of consciousness of some kind or another.

Mọi nguyên tử trở nên phóng xạ như là kết quả của sự đáp ứng trước một trung tâm từ lớn hơn, mà sự đáp ứng này được mang lại qua sự phát triển dần dần trong tiến hoá của một loại tâm thức nào đó.

183. A greater magnetic center is always the cause of the radioactivity of a lesser life.

183. Một trung tâm từ lớn hơn luôn là nguyên nhân của tính phóng xạ nơi một sự sống nhỏ hơn.

184. This happens only gradually and requires the growth of consciousness to prepare the lesser atom for response to the greater magnetic center.

184. Điều này chỉ xảy ra từ từ và đòi hỏi sự tăng trưởng của tâm thức để chuẩn bị cho nguyên tử nhỏ hơn đáp ứng với trung tâm từ lớn hơn.

This is known to be true in a small degree in connection with the mineral kingdom though scientists have not yet admitted that radia­tion is thus caused.

Điều này được biết là đúng ở một mức nhỏ liên hệ đến giới khoáng vật dù các nhà khoa học chưa thừa nhận rằng sự toả xạ được gây ra như vậy.

185. A little over a hundred years ago, humanity entered a phase in which radiation/radioactivity in the mineral kingdom became a well-known and widely accepted fact.

185. Hơn một trăm năm trước, nhân loại bước vào một giai đoạn trong đó bức xạ/tính phóng xạ trong giới khoáng vật trở thành một sự kiện nổi tiếng và được công nhận rộng rãi.

Later they will, but only when this general theory which is here laid down in connection with all atoms is ad­mit­ted by them to be a plausible hypothesis.

Sau này họ sẽ thừa nhận, nhưng chỉ khi lý thuyết tổng quát được trình bày ở đây liên hệ với mọi nguyên tử được họ thừa nhận là một giả thuyết có lý.

186. We see how important this book, A Treatise on Cosmic Fire, will be to scientists of the coming era.

186. Chúng ta thấy cuốn sách Luận về Lửa Vũ Trụ sẽ quan trọng thế nào đối với các nhà khoa học của thời kỳ sắp tới.

187. It seems as if Master DK is planting the seeds for the development of many forms of knowledge in the coming Age.

187. Có vẻ như Chân sư DK đang gieo các hạt giống cho sự phát triển nhiều dạng tri kiến trong Kỷ nguyên đang đến.

Then the goal of their endeavour will be somewhat changed; they will seek to ascertain through clear thinking and a study of the invol­ved analogy what focal points of magnetic energy may be regard­ed as existing, and how they affect the atoms in their environ­ment.

Khi đó mục tiêu của nỗ lực của họ sẽ phần nào thay đổi; họ sẽ tìm cách xác định qua tư duy sáng sủa và một sự khảo cứu về sự tương đồng liên hệ những điểm tiêu điểm của năng lượng từ tính có thể được xem như hiện hữu là gì, và chúng ảnh hưởng thế nào tới các nguyên tử trong môi trường của chúng.

188. They will be entering an appreciation of the life of the greater Being Who is the ensouling Life of the mineral kingdom.

188. Họ sẽ bước vào một sự lĩnh hội về sự sống của Đấng Lớn Hơn, Đấng là Sự sống phú linh của giới khoáng vật.

189. Interestingly the use of the Law of Analogy will be necessary for scientific progress along these lines.

189. Điều thú vị là việc sử dụng định luật tương đồng sẽ cần thiết cho tiến bộ khoa học theo các đường hướng này.

190. Scientists now know something about the existence of the nucleus of the atom, but of the greater magnetic center which ‘calls to’ the life within the atom, they know little if anything.

190. Các nhà khoa học giờ đã biết điều gì đó về sự hiện hữu của hạch nguyên tử, nhưng về trung tâm từ lớn hơn “gọi mời” sự sống trong nguyên tử, họ biết rất ít nếu không nói là chẳng biết gì.

191. One can think that such discoveries will be made partially under the influence of magnetic, attractive Jupiter in Aquarius.

191. Có thể nghĩ rằng những khám phá như vậy sẽ được thực hiện phần nào dưới ảnh hưởng của Sao Mộc từ tính, hấp dẫn trong Bảo Bình.

One hint only can here be given. Light upon these dark problems will come along two lines.

Chỉ có thể đưa ra một gợi ý ở đây. Ánh sáng trên các vấn đề tối tăm này sẽ đến theo hai tuyến.

First, it will come through the study of the place of the solar sys­tem in the universal whole, and the effect that certain constella­tions have upon it;

Thứ nhất, nó sẽ đến qua việc khảo cứu vị trí của hệ mặt trời trong toàn thể vũ trụ, và ảnh hưởng mà những chòm sao nhất định có đối với nó;

192. Thus the work of the esoterically-inclined astrophysicist will be necessary to the scientific alchemist.

192. Do đó công việc của nhà vật lý thiên văn có khuynh hướng nội môn sẽ cần thiết cho nhà giả kim khoa học.

193. We can see also, why DK said that a study of analogies would be required to discover what focal points of magnetic energy might exist.

193. Chúng ta cũng có thể thấy tại sao Chân sư DK nói rằng cần một sự khảo cứu các tương đồng để khám phá những điểm tiêu điểm của năng lượng từ tính có thể tồn tại.

194. What we are attempting to do now—blending macrocosm and microcosm through a study of analogy—will be the mode of procedure for scientific alchemical investigators of the future.

194. Điều chúng ta đang nỗ lực thực hiện bây giờ—hoà trộn đại thiên địa và tiểu thiên địa qua một khảo cứu về tương đồng—sẽ là phương thức tiến hành cho các nhà điều tra giả kim khoa học trong tương lai.

195. The effect of greater cosmic centers upon lesser ‘atoms’ such as our Sun and its solar system will give the analogical hint.

195. Ảnh hưởng của các trung tâm vũ trụ lớn hơn lên các “nguyên tử” nhỏ hơn như Thái Dương của chúng ta và hệ mặt trời của Ngài sẽ cho gợi ý theo lối tương đồng.

secondly, it will come through a close study of the effect of one planetary scheme upon another, and the place of the moon in our own planetary life.

thứ hai, nó sẽ đến qua một sự khảo cứu kỹ lưỡng về ảnh hưởng của một hệ hành tinh lên hệ khác, và vị trí của mặt trăng trong chính sinh mệnh hành tinh của chúng ta.

196. So the alchemical scientific investigator will have to “look to the heavens” for hints regarding the discovery of the focal points of magnetic energy.

196. Vậy nhà điều tra giả kim khoa học sẽ phải “ngước nhìn trời cao” để tìm các gợi ý liên quan đến việc khám phá các điểm tiêu điểm của năng lượng từ tính.

197. Uranus is the planet of radioactivity and, presumably, the influence of the Moon, such as it is today, resists the activation of radioactivity in elemental substances within the Earth-globe (and perhaps chain(, though its own physical disintegration may be seen as partially related to the radioactive state of its mineral forms.

197. Sao Thiên Vương là hành tinh của tính phóng xạ và, theo lẽ, ảnh hưởng của Mặt trăng, như hiện nay, kháng cự việc hoạt hoá tính phóng xạ trong các chất nguyên tố trong Bầu Địa cầu (và có lẽ dãy(, dù sự tan rã hồng trần của chính nó có thể được xem như liên hệ phần nào đến trạng thái phóng xạ của các hình tướng khoáng vật của nó.

198. Mars rules exoteric science and Uranus rules occult science. These two may play opposing roles. The planet Uranus has a liberative effect upon the Creative Hierarchy of Lunar Lords, which is ruled, in different ways, by both Mars and the Moon.

198. Sao Hỏa cai quản khoa học ngoại môn và Sao Thiên Vương cai quản khoa học huyền bí. Hai hành tinh này có thể đóng các vai trò đối nghịch. Hành tinh Sao Thiên Vương có tác động giải phóng lên Huyền Giai Sáng Tạo của các Nguyệt tinh quân, vốn được cai quản, theo các cách khác nhau, bởi cả Sao Hỏa và Mặt trăng.

This will lead to a close investigation of polar conditions in the earth, of the planetary magnetic currents, and of the electrical intercourse between our earth, and the Venusian and Martian planetary schemes.

Điều này sẽ dẫn đến một sự khảo sát kỹ lưỡng các điều kiện cực trên Trái Đất, các dòng từ tính hành tinh, và sự giao lưu điện lực giữa Trái Đất của chúng ta với các hệ hành tinh Kim Tinh và Hỏa Tinh.

199. Are Venus and Mars meant to be the two planetary schemes suggested above when DK mentioned “the effect of one planetary scheme upon another”? We could understand this to be the case. If so, Mars would be the retarding factor resisting the etherealization of matter and Venus the soul-related promotive factor.

199. Phải chăng Kim Tinh và Hỏa Tinh được hiểu là hai hệ hành tinh được gợi ý ở trên khi Chân sư DK đề cập “ảnh hưởng của một hệ hành tinh lên hệ khác”? Chúng ta có thể hiểu như vậy. Nếu đúng, Sao Hỏa sẽ là yếu tố trì hoãn kháng cự sự dĩ thái hoá vật chất và Kim Tinh là yếu tố thúc đẩy liên hệ linh hồn.

200. From another perspective, Mars represents fire by friction and Venus solar fire, both of which (we have been told above) prepare the way for the demonstration of radiation.

200. Từ một viễn tượng khác, Sao Hỏa tiêu biểu Lửa do ma sát và Kim Tinh là Lửa Thái dương, cả hai (như đã nói ở trên) chuẩn bị đường cho sự biểu lộ bức xạ.

201. Let us tabulate the three factors which will be investigated:

201. Chúng ta hãy liệt kê ba yếu tố sẽ được khảo cứu:

a. Polar conditions—the relationship between the magnetic condition of the North Pole and the Southern Pole

a. Các điều kiện cực—mối liên hệ giữa tình trạng từ tính của Cực Bắc và Cực Nam

b. Planetary magnetic currents

b. Các dòng từ tính hành tinh

c. The relationship between Earth, Venus and Mars

c. Mối liên hệ giữa Địa Cầu, Kim Tinh và Hỏa Tinh

When this has been accomplished, astronomy and esoteric astrol­ogy will be revolutionised, and the nature of solar energy as an expression of an Entity of the fourth rank will be appreciated.

Khi điều này được hoàn tất, thiên văn học và Chiêm Tinh Học Nội Môn sẽ được cách mạng hoá, và bản tính của năng lượng thái dương như là biểu hiện của một Thực thể bậc thứ tư sẽ được lĩnh hội.

202. The occultism only deepens.

202. Tính huyền bí chỉ càng thêm sâu.

203. We have in the Teaching the statement that our Solar Logos is one of the “fourth order”. Does DK here refer to the ranking of our Solar Logos; is He an “Entity of the fourth rank”—for instance within His own Creative Hierarchy of Solar Logoi?

203. Trong Giáo huấn có tuyên bố rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta thuộc “cấp thứ tư”. Liệu ở đây Chân sư DK có ám chỉ thứ bậc của Thái dương Thượng đế chúng ta; Ngài là một “Thực thể bậc thứ tư”—thí dụ trong Huyền Giai Sáng Tạo của chính Ngài gồm các Thái dương Thượng đế?

204. Or are we speaking of an Entity even greater in scope?

204. Hay chúng ta đang nói về một Thực thể còn lớn lao hơn nữa?

205. It also seems necessary to notice the role played by the fourth cosmic etheric subplane which, itself, is an entified sphere.

205. Cũng có vẻ cần lưu ý vai trò của cõi phụ dĩ thái vũ trụ thứ tư, vốn tự thân là một lĩnh vực được thực-thể-hoá.

From the cosmic point of view, as we know, our sun is but of the fourth order, and on the lowest cosmic plane. When the Son has, through the Sun, attained full expression (that is, perfected His display of light and heat) then He will shine forth upon another plane, that of the cosmic mental. (TCF 230)

Từ quan điểm vũ trụ, như chúng ta biết, mặt trời của chúng ta chỉ thuộc cấp thứ tư, và ở cõi vũ trụ thấp nhất. Khi Ngôi Con, qua Mặt Trời, đạt được biểu hiện trọn vẹn (tức là đã hoàn thiện sự phô diễn ánh sáng và nhiệt) thì Ngài sẽ chiếu rạng trên một cõi khác, tức cõi trí vũ trụ. (TCF 230)

206. We note also that by the time of this revolution “esoteric” astrology will be well-established and presumably in need of revolutionizing.

206. Chúng ta cũng lưu ý rằng vào thời điểm cách mạng này “chiêm tinh học nội môn” sẽ được thiết lập vững vàng và có lẽ cũng cần được cách mạng hoá.

This will come at the close of this century after a scientific discov­ery of even greater importance to the scientific world than that as to the nature of the atom.

Điều này sẽ đến vào cuối thế kỷ này sau một khám phá khoa học còn quan trọng hơn nữa đối với thế giới khoa học so với khám phá về bản tính của nguyên tử.

207. We do not know whether such a discovery has come or even what it is intended to be. Perhaps, since this book was written in the early 1920’s, some retardation has set in. On the other hand, the implications of discoveries made the scientific elite take some time to percolate into the consciousness of humanity.

207. Chúng ta không biết liệu một khám phá như vậy đã xuất hiện hay chưa, hoặc nó được định là gì. Có lẽ, vì cuốn sách này được viết đầu thập niên 1920, nên có một sự trì hoãn đã chen vào. Mặt khác, những hàm ý của các khám phá do giới tinh hoa khoa học đưa ra phải mất một thời gian để thấm dần vào tâm thức nhân loại.

Until that time it will be as difficult to express the hylozoistic con­ception in terms of exact science

Cho đến khi đó, sẽ khó mà diễn đạt quan niệm vật-sinh bằng những thuật ngữ của khoa học chính xác

208. Though it can be expressed more philosophically and symbolically…

208. Tuy nhiên nó có thể được diễn đạt theo lối triết học và biểu tượng…

as it would be for the sixteenth century ancestor of present humanity to conceive of the atom as being simply an aspect of force, and not objective and tangible. Hence further elucidation will but serve to confuse.

như việc tổ tiên thế kỷ mười sáu của nhân loại hiện nay hình dung nguyên tử chỉ đơn giản là một phương diện của lực, chứ không phải là khách quan và hữu hình khó khăn ra sao. Bởi vậy, việc khai minh thêm nữa chỉ làm cho rối thêm.

209. The veils over the mind are only slowly lifted and what is now inconceivable becomes reasonable speculation.

209. Các bức màn che phủ thể trí chỉ được cất lên dần dần và điều hiện nay không thể nghĩ bàn sẽ trở thành suy đoán hợp lý.

210. We presume that our ability to think in terms of the intangible is rapidly growing.

210. Chúng ta cho rằng khả năng tư duy theo những điều vô hình của mình đang tăng nhanh.

Scroll to Top