Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến trang sách tương ứng trong TCF
S8S2
|
TCF 937 – 947 |
TCF 936 – 947 |
|
29 October – 13 November 2008 |
29 tháng 10 – 13 tháng 11 năm 2008 |
|
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) |
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện) |
|
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary |
Đề nghị đọc phần Bình Luận này với quyển TCF bên cạnh, vì mục đích giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận |
|
We will now briefly take up the subject of the work of the devas who build man’s etheric and dense physical body. |
Bây giờ chúng ta sẽ ngắn gọn bàn đến chủ đề công việc của các thiên thần xây dựng thể dĩ thái và thể xác hồng trần đậm đặc của con người. |
|
1. We have been concentrating upon the physical plane and focusing upon the two types of devas—those who work in the systemic ethers and those who work upon the dense physical subplanes. |
1. Chúng ta đã tập trung vào cõi hồng trần và chú tâm vào hai loại thiên thần—những vị hoạt động trong các dĩ thái của hệ và những vị hoạt động trên các cõi phụ hồng trần đậm đặc. |
|
2. It seems that in the last Commentary, DK switched back and forth between a discussion of the two. |
2. Có vẻ như trong phần Bình Luận trước, Chân sư DK đã chuyển qua lại giữa việc bàn về hai loại ấy. |
|
3. We have also noted that the terms “devas” can be quite broad. Whereas some uses of the term “devas” can include elementals and even elemental substance (i.e., the ‘material’ of the planes), the term “elementals” does not include any of the higher or even middling types of devas. |
3. Chúng ta cũng đã lưu ý rằng thuật ngữ “thiên thần” có thể rất rộng. Trong khi một số cách dùng thuật ngữ “thiên thần” có thể bao gồm các hành khí và ngay cả chất liệu hành khí (tức “vật liệu” của các cõi), thì thuật ngữ “hành khí” không bao gồm bất kỳ loại thiên thần cao hơn hay thậm chí trung gian nào. |
|
4. We try to remain alert to potential terminological confusion. |
4. Chúng ta cố gắng luôn tỉnh táo trước khả năng lẫn lộn về thuật ngữ. |
|
By dividing our thoughts into two sections, we may be able to cover the ground somewhat more easily, dealing first with the building devas and the microcosm and then with the lesser builders of the etheric levels. |
Bằng cách chia tư tưởng của chúng ta thành hai phần, có lẽ chúng ta sẽ có thể bao quát vấn đề dễ dàng hơn, trước hết bàn đến các thiên thần kiến tạo và tiểu thiên địa và sau đó đến các vị tiểu kiến tạo của các cấp dĩ thái. |
|
5. Much depends on what DK means by “the lesser builders of the etheric levels”. |
5. Nhiều điều tùy thuộc vào việc Chân sư DK muốn nói gì bởi “các vị tiểu kiến tạo của các cấp dĩ thái”. |
|
6. We recall this statement: |
6. Chúng ta nhớ lại phát biểu này: |
|
The etheric deva substance is acted upon in two ways: It is awakened into a specific activity by the sounding of the physical plane word, and it is built into forms by the lesser builders. (TCF 936) |
Chất liệu thiên thần dĩ thái chịu tác động theo hai cách: Nó được đánh thức vào một hoạt động đặc thù bởi sự xướng linh từ của cõi hồng trần, và được các vị tiểu kiến tạo xây dựng thành các hình tướng. (TCF 936) |
|
7. From this we gather that the lesser builders are not “etheric deva substance”. |
7. Từ đây chúng ta rút ra rằng các vị tiểu kiến tạo không phải là “chất liệu thiên thần dĩ thái”. |
|
8. These thoughts are focused on that borderline between involutionary and evolutionary lives. |
8. Những tư tưởng này tập trung vào ranh giới giữa các sự sống giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá. |
|
d. The Elementals and the Microcosm. |
d. Các Hành khí và Tiểu thiên địa. |
|
Man and the building devas. |
Con người và các thiên thần kiến tạo. |
|
9. Do we find the inference that the “elementals” are the building devas, or that certain of the “elementals” can be considered as such? |
9. Chúng ta có tìm thấy sự suy ra rằng các “hành khí” là các thiên thần kiến tạo, hay rằng một số “hành khí” nào đó có thể được xem là như thế không? |
|
10. Some of these terms (for instance, “elementals” and “devas”) have a certain ‘span’ which seems to overlap into the domain of others. |
10. Một số thuật ngữ này (chẳng hạn “hành khí” và “thiên thần”) có một độ bao quát nhất định dường như chồng lấn sang phạm vi của những thuật ngữ khác. |
|
Man, in the process of evolution, as he pursues the method of reincarnation, works with four types of builders and three major grades of building essence or deva substance. |
Con người, trong tiến trình tiến hoá, khi theo đuổi phương pháp tái sinh, làm việc với bốn loại đấng kiến tạo và ba cấp chính của tinh chất kiến tạo hay chất liệu thiên thần. |
|
11. In what follows below, the interplay of man with various types of devas is described. |
11. Trong phần tiếp theo dưới đây, sự tương tác của con người với nhiều loại thiên thần khác nhau được mô tả. |
|
12. Here we have a clear distinction between builders and “building essence or deva substance”. |
12. Ở đây chúng ta có một sự phân biệt rõ ràng giữa các đấng kiến tạo và “tinh chất kiến tạo hay chất liệu thiên thần”. |
|
13. There are so many important words that are used interchangeably. Notice, here, that the word “deva” is associated with substance. Also, when we think of “elemental essence” we usually think of it as that which is “built into” rather than “building”, and yet, DK seems to call it “building essence”. |
13. Có quá nhiều từ quan trọng được dùng thay thế cho nhau. Hãy lưu ý rằng ở đây từ “thiên thần” được gắn với chất liệu. Ngoài ra, khi nghĩ đến “Tinh chất hành khí”, chúng ta thường nghĩ đến nó như cái được “xây vào” hơn là cái “xây dựng”, thế nhưng Chân sư DK dường như gọi nó là “tinh chất kiến tạo”. |
|
14. The important thing will be to discriminate the true builders on the evolutionary arc (no matter how elemental they may be) from the involutionary “building essence or deva substance” which relatively is passive and comes under the name “recipients of force”. |
14. Điều quan trọng sẽ là phân biện các đấng kiến tạo đích thực trên cung tiến hoá (dù chúng có tính hành khí đến đâu) với “tinh chất kiến tạo hay chất liệu thiên thần” thuộc cung giáng hạ tiến hoá, vốn tương đối thụ động và được gọi là “những kẻ tiếp nhận mãnh lực”. |
|
15. It is at this point that a review should be conducted concerning the three main type of lunar lords on each systemic plane, the third an lowest category of which could be considered more substantial than manipulatory or building. |
15. Chính tại điểm này cần tiến hành một sự ôn lại liên quan đến ba loại chính của các nguyệt tinh quân trên mỗi cõi của hệ, trong đó loại thứ ba và thấp nhất có thể được xem là mang tính chất liệu hơn là thao tác hay kiến tạo. |
|
16. When DK calls “deva substance” by the name “building essence”, it is not probable that He is trying to remove the characterization of passivity from such deva substance. |
16. Khi Chân sư DK gọi “chất liệu thiên thần” bằng tên “tinh chất kiến tạo”, có lẽ Ngài không hề muốn loại bỏ đặc tính thụ động khỏi loại chất liệu thiên thần ấy. |
|
17. When we speak of the four types of builders, we may presume that there is one type for each of the four levels of man’s personality nature—the mental vehicle, the astral vehicle, the etheric vehicle and the dense physical vehicle. |
17. Khi chúng ta nói đến bốn loại đấng kiến tạo, có thể giả định rằng có một loại cho mỗi một trong bốn cấp độ của bản chất phàm ngã của con người—thể trí, thể cảm dục, thể dĩ thái và thể xác hồng trần đậm đặc. |
|
He [man] connects with the transmitting devas who are found in connection with the microcosm on the fourth subplane of the mental plane, and on the atomic subplanes of the astral and physical plane. |
Y [con người] kết nối với các thiên thần truyền dẫn được tìm thấy liên hệ với tiểu thiên địa trên cõi phụ thứ tư của cõi trí, và trên các cõi phụ nguyên tử của cõi cảm dục và cõi hồng trần. |
|
18. This is an interesting and important location for the transmitting devas—presumably, microcosmic “transmitters of the word”. |
18. Đây là một vị trí thú vị và quan trọng đối với các thiên thần truyền dẫn—có lẽ là những “kẻ truyền linh từ” vi mô. |
|
19. The “transmitting devas” are, in relation to the microcosmic, the highest type of devas we have been discussing in recent commentaries. |
19. Các “thiên thần truyền dẫn”, trong liên hệ với tiểu thiên địa, là loại thiên thần cao nhất mà chúng ta đã bàn đến trong các phần bình luận gần đây. |
|
20. Man is far from a completed being and has not yet lifted the polarization of his consciousness onto the atomic level of the mental plane. Hence the “transmitting devas” of the mental plane are found on its fourth subplane and not on its first. |
20. Con người còn xa mới là một hữu thể hoàn tất và chưa nâng sự phân cực tâm thức của mình lên cấp nguyên tử của cõi trí. Vì thế các “thiên thần truyền dẫn” của cõi trí được tìm thấy trên cõi phụ thứ tư của nó chứ không phải trên cõi phụ thứ nhất. |
|
He connects next with the devas concerned with: |
Tiếp theo, y kết nối với các thiên thần liên quan đến: |
|
1. The mental unit. |
1. Đơn vị hạ trí. |
|
2. The astral permanent atom. |
2. Nguyên tử trường tồn cảm dục. |
|
3. The physical permanent atom. |
3. Nguyên tử trường tồn hồng trần. |
|
21. These are other than the transmitting devas. Can they be considered “lunar pitris”? Or are the true lunar pitris found only among the “transmitting devas”? |
21. Đây là những vị khác với các thiên thần truyền dẫn. Có thể xem họ là các “thái âm tổ phụ” không? Hay các thái âm tổ phụ đích thực chỉ được tìm thấy nơi các “thiên thần truyền dẫn”? |
|
22. We may recall when studying devas connected with the various vehicles that there are two types of devas working in connection with the mental unit and permanent atoms. |
22. Khi nghiên cứu các thiên thần liên hệ với các vận cụ khác nhau, chúng ta có thể nhớ rằng có hai loại thiên thần hoạt động liên hệ với đơn vị hạ trí và các nguyên tử trường tồn. |
|
a. Those that work with the spirillae of the unit or permanent atoms. (These are the microcosmic “transmitting devas”.) |
a. Những vị làm việc với các loa tuyến của đơn vị hay các nguyên tử trường tồn. (Đây là các “thiên thần truyền dẫn” vi mô.) |
|
b. Those which gather substance around the permanent atom. (These are those, listed above as concerned with the mental unit, the astral permanent atom and the physical permanent atom.) |
b. Những vị tập hợp chất liệu quanh nguyên tử trường tồn. (Đây là những vị được liệt kê ở trên như liên hệ với đơn vị hạ trí, nguyên tử trường tồn cảm dục và nguyên tử trường tồn hồng trần.) |
|
c. Those which are negative substance |
c. Những vị là chất liệu âm |
|
23. The following lengthy quotation (interspersed with commentary) describes these associations. From what is said below, we can gather a good idea of the devas which are associated with the mental unit and the two lower permanent atoms. |
23. Đoạn trích dài sau đây (được xen kẽ với bình luận) mô tả các mối liên hệ này. Từ những gì được nói dưới đây, chúng ta có thể có được một ý niệm khá rõ về các thiên thần liên hệ với đơn vị hạ trí và hai nguyên tử trường tồn thấp hơn. |
|
We can now trace the progress of egoic energy as it passes down from the abstract levels to the permanent atoms. On each plane the work is threefold, and might be tabulated as follows: |
Giờ đây chúng ta có thể lần theo tiến trình của năng lượng chân ngã khi nó đi xuống từ các cấp trừu tượng đến các nguyên tử trường tồn. Trên mỗi cõi, công việc là tam phân, và có thể được lập bảng như sau: |
|
1. The response within the permanent atom to the vibration set up by the solar Pitris; to word it otherwise: the response of the highest group of lunar Pitris to the chord of the Ego. This definitely affects the spirillae of the atom, according to the stage of evolution of the Ego concerned. |
1. Sự đáp ứng bên trong nguyên tử trường tồn đối với rung động do các thái dương tổ phụ thiết lập; nói cách khác: sự đáp ứng của nhóm thái âm tổ phụ cao nhất đối với hợp âm của Chân ngã. Điều này tác động rõ rệt lên các loa tuyến của nguyên tử, tùy theo giai đoạn tiến hoá của Chân ngã liên hệ. |
|
24. These lunar pitris we can call “transmitting devas” or microcosmic “transmitters of the word” |
24. Các thái âm tổ phụ này chúng ta có thể gọi là “thiên thần truyền dẫn” hay những “kẻ truyền linh từ” vi mô |
|
25. It is these transmitting devas who affect the spirillae in the permanent atom or mental unit. |
25. Chính các thiên thần truyền dẫn này tác động lên các loa tuyến trong nguyên tử trường tồn hay đơn vị hạ trí. |
|
2. The response of the substance to the atomic vibration upon the particular plane involved. |
2. Sự đáp ứng của chất liệu đối với rung động nguyên tử trên cõi đặc thù liên hệ. |
|
26. Here, substance, is more than “building essence” or passive “deva substance”. |
26. Ở đây, chất liệu còn hơn cả “tinh chất kiến tạo” hay “chất liệu thiên thần” thụ động. |
|
This concerns the second group of Pitris, whose function it is to gather together the substance attuned to any particular key, and to aggregate it around the permanent atom. |
Điều này liên quan đến nhóm Pitris thứ hai, có chức năng tập hợp chất liệu được chỉnh hợp với bất kỳ chủ âm đặc thù nào, và kết tụ nó quanh nguyên tử trường tồn. |
|
27. We studied the “listening devas” and their gathering function in the preceding commentary and a correlation may be in order. |
27. Chúng ta đã nghiên cứu các “Thien thần lắng nghe” và chức năng tập hợp của họ trong phần bình luận trước, và có lẽ cần có một sự đối chiếu. |
|
They work under the Law of Magnetic Attraction, and are the attractive energy of the permanent atom. On a tiny scale each permanent atom has (to the substance of a man’s sheaths) a position relative to that which the physical sun holds to the substance of the system. It is the nucleus of attractive force. |
Họ hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn Từ Tính, và là năng lượng hấp dẫn của nguyên tử trường tồn. Trên một quy mô cực nhỏ, mỗi nguyên tử trường tồn có (đối với chất liệu của các thể của một người) một vị trí tương đối giống như vị trí mà mặt trời vật lý giữ đối với chất liệu của hệ. Nó là hạt nhân của mãnh lực hấp dẫn. |
|
28. From this description, we can understand the function of the Sun as a ‘great attractor’. |
28. Từ mô tả này, chúng ta có thể hiểu chức năng của Mặt Trời như một “đại hấp lực”. |
|
29. This second group is actually a dual group consisting of the following types of builders. |
29. Nhóm thứ hai này thực ra là một nhóm kép gồm các loại đấng kiến tạo sau đây. |
|
a. Those who are connected with the permanent atoms. |
a. Những vị liên hệ với các nguyên tử trường tồn. |
|
b. Those who are responsible for the building process (TCF 939) |
b. Những vị chịu trách nhiệm về tiến trình kiến tạo (TCF 939) |
|
30. It may be necessary, at this point, to correlate information on the “listening devas” and the “seeing elementals” with the two types of builders listed here—those connected with the permanent atoms, and those who are responsible for the building process. |
30. Có thể tại điểm này cần phải đối chiếu thông tin về các “Thien thần lắng nghe” và các “hành khí thấy” với hai loại đấng kiến tạo được liệt kê ở đây—những vị liên hệ với các nguyên tử trường tồn, và những vị chịu trách nhiệm về tiến trình kiến tạo. |
|
31. The members of this second group are not the microcosmic transmitting devas. |
31. Các thành viên của nhóm thứ hai này không phải là các thiên thần truyền dẫn vi mô. |
|
32. They are also not what DK calls below “negative substance”. |
32. Họ cũng không phải là điều mà Chân sư DK gọi ở dưới là “chất liệu âm”. |
|
3. The response of the negative substance concerned and its moulding into the desired form through the dual energy of the two higher groups of Pitris. |
3. Sự đáp ứng của chất liệu âm liên hệ và sự uốn nắn của nó thành hình tướng mong muốn thông qua năng lượng kép của hai nhóm Pitris cao hơn. |
|
33. So that we may retain our clarity, these two higher groups of Pitris are (as here described)— |
33. Để chúng ta giữ được sự minh bạch, hai nhóm Pitris cao hơn này là (như được mô tả ở đây)— |
|
a. The transmitting devas |
a. Các thiên thần truyền dẫn |
|
b. The devas concerned with the members of the atomic triangle—mental unit, astral permanent atom, and physical permanent atom. |
b. Các thiên thần liên hệ với các thành phần của tam giác nguyên tử—đơn vị hạ trí, nguyên tử trường tồn cảm dục, và nguyên tử trường tồn hồng trần. |
|
Some thought of the unity of this threefold work has been given in the differentiation of the substance of any plane into: |
Một số tư tưởng về tính hợp nhất của công việc tam phân này đã được nêu ra trong sự biến phân của chất liệu của bất kỳ cõi nào thành: |
|
a. Atomic substance. |
a. Chất liệu nguyên tử. |
|
b. Molecular substance. |
b. Chất liệu phân tử. |
|
c. Elemental essence. |
c. Tinh chất hành khí. |
|
This differentiation is not entirely accurate, and a truer idea of the underlying concept might be conveyed if the word “energy” took the place of “substance and essence.” This third group of Pitris is really not correctly termed Pitris at all. |
Sự biến phân này không hoàn toàn chính xác, và một ý niệm chân thực hơn về khái niệm nền tảng có thể được truyền đạt nếu từ “năng lượng” thay thế cho “chất liệu và tinh chất”. Nhóm Pitris thứ ba này thật ra hoàn toàn không được gọi đúng là Pitris. |
|
34. This is a most important statement, and must be remembered when we are classifying the lunar pitris into those who are builders and those who are substance or essence who are built into form. |
34. Đây là một phát biểu hết sức quan trọng, và phải được ghi nhớ khi chúng ta phân loại các thái âm tổ phụ pitris thành những vị là đấng kiến tạo và những vị là chất liệu hay tinh chất được xây vào trong hình tướng. |
|
The true lunar Pitris are those of the first and highest group, for they embody one aspect of the intelligent will of Brahma, or of God-in-substance. The third group are literally the lesser Builders, and are blind incoherent forces, subject to the energy emanating from the two higher groups. |
Các thái âm tổ phụ chân chính là những vị thuộc nhóm thứ nhất và cao nhất, vì các vị ấy thể hiện một phương diện của ý chí trí tuệ của Brahma, hay của Thượng đế-trong-chất-liệu. Nhóm thứ ba theo nghĩa đen là các vị tiểu kiến tạo, và là những mãnh lực mù quáng, rời rạc, phục tùng năng lượng phát ra từ hai nhóm cao hơn. |
|
35. When we speak of the “lesser Builders” as “blind incoherent forces” we must be careful to note whether such “builders” are actually builders, or whether they are passive deva substance, “building essence” acted upon and ‘built into’ rather than building. |
35. Khi chúng ta nói về các “vị tiểu kiến tạo” như những “mãnh lực mù quáng, rời rạc”, chúng ta phải cẩn thận lưu ý xem những “đấng kiến tạo” như thế có thật sự là đấng kiến tạo hay không, hay chúng là chất liệu thiên thần thụ động, là “tinh chất kiến tạo” bị tác động lên và bị ‘xây vào trong’ hơn là tự xây dựng. |
|
36. The problem is that the term “builders” is sometimes used to denote those who are acted upon and ‘built into’ rather than those who actually build. |
36. Vấn đề là thuật ngữ “đấng kiến tạo” đôi khi được dùng để chỉ những gì bị tác động lên và bị ‘xây vào trong’ hơn là chỉ những vị thật sự xây dựng. |
|
Occultly these three groups are divided into the following: |
Một cách huyền bí, ba nhóm này được phân chia như sau: |
|
a. The Pitris who see, but touch nor handle not. |
a. Các Pitris thấy, nhưng không chạm cũng không cầm nắm. |
|
b. The Pitris who touch but see not. |
b. Các Pitris chạm, nhưng không thấy. |
|
c. The Pitris who hear but neither see nor touch. (TCF 781-783) |
c. Các Pitris nghe, nhưng không thấy cũng không chạm. (TCF 781-783) |
|
37. Presumably, this is a descending list, with the first group designated as “the true lunar Pitris”. |
37. Có lẽ đây là một danh sách theo chiều đi xuống, với nhóm thứ nhất được chỉ định là “các thái âm tổ phụ chân chính”. |
|
38. The “blind incoherent forces” seem to be the third group “c”, and ‘passively substantial. |
38. Những “mãnh lực mù quáng, rời rạc” dường như là nhóm thứ ba “c”, và có tính chất liệu một cách thụ động. |
|
39. Although we are not told, we can infer that hearing is the property of all three groups. |
39. Dù chúng ta không được cho biết, chúng ta có thể suy ra rằng nghe là đặc tính của cả ba nhóm. |
|
40. The lunar pitris listed above (the first two) are definitely concerned with the mental unit and lower permanent atoms, however, they may only be concerned with the construction of these points of force and not their normal functioning whilst the man is in incarnation. We will have to observe this to see whether the devas listed by DK as concerned with the mental unit, astral permanent atom, and physical permanent atom are the same as these first two categories of lunar pitris listed immediately above. |
40. Các thái âm tổ phụ pitris được liệt kê ở trên (hai nhóm đầu) chắc chắn có liên hệ với đơn vị hạ trí và các nguyên tử trường tồn thấp; tuy nhiên, các vị ấy có thể chỉ liên hệ với sự kiến tạo các điểm mãnh lực này chứ không phải với sự vận hành bình thường của chúng khi con người đang lâm phàm. Chúng ta sẽ phải quan sát điều này để xem liệu các thiên thần được Chân sư DK liệt kê là liên hệ với đơn vị hạ trí, nguyên tử trường tồn cảm dục, và nguyên tử trường tồn hồng trần có phải chính là hai loại thái âm tổ phụ pitris đầu tiên vừa được liệt kê ở trên hay không. |
|
41. Having reconsidered an earlier reference, we now continue with the text pertaining to the present commentary— |
41. Sau khi xem xét lại một dẫn chiếu trước đó, giờ đây chúng ta tiếp tục với bản văn liên quan đến phần bình giải hiện tại— |
|
He [man] co-operates with the work of the building devas who form the etheric body, and influences the building devas of the dense physical substances, so that the necessary physical vehicle for his objective manifestation becomes an actuality. |
Y [man] hợp tác với công việc của các thiên thần kiến tạo tạo thành thể dĩ thái, và ảnh hưởng đến các thiên thần kiến tạo của các chất liệu hồng trần đậm đặc, để vận cụ hồng trần cần thiết cho sự biểu hiện khách quan của y trở thành hiện thực. |
|
42. It does seem that we are speaking of the stages involved in creating a physical vehicle for microcosmic objective manifestation. In this case, the lunar pitris discussed above would definitely be involved. |
42. Dường như rõ ràng là chúng ta đang nói về các giai đoạn liên quan đến việc tạo ra một vận cụ hồng trần cho sự biểu hiện khách quan của tiểu thiên địa. Trong trường hợp này, các thái âm tổ phụ pitris được bàn đến ở trên chắc chắn có liên hệ. |
|
43. We note that the man has two approaches: he “cooperates” and “influences”. |
43. Chúng ta lưu ý rằng con người có hai cách tiếp cận: y “hợp tác” và “ảnh hưởng”. |
|
a. He cooperates with the building devas who form his etheric body |
a. Y hợp tác với các thiên thần kiến tạo tạo thành thể dĩ thái của y |
|
b. He influences the building devas of the dense physical substances. |
b. Y ảnh hưởng đến các thiên thần kiến tạo của các chất liệu hồng trần đậm đặc. |
|
44. Let us pause to notice that we are discussing two types of “building devas”: |
44. Chúng ta hãy dừng lại để lưu ý rằng chúng ta đang bàn đến hai loại “thiên thần kiến tạo”: |
|
a. “Building devas” who form the etheric body of man |
a. “Các thiên thần kiến tạo” tạo thành thể dĩ thái của con người |
|
b. “Building devas” who work within the dense physical substances. |
b. “Các thiên thần kiến tạo” hoạt động bên trong các chất liệu hồng trần đậm đặc. |
|
45. It is at this point that we should remember some of the ambiguities which seemed to appear in the last commentary, when we were speaking of those “seeing elementals” who were responsible either for building the etheric doubles of various kinds of forms, or for building the physical vehicles of many kinds of forms or for both. |
45. Chính tại điểm này chúng ta nên nhớ lại một số điểm mơ hồ dường như đã xuất hiện trong phần bình giải trước, khi chúng ta nói về những “hành khí thấy” chịu trách nhiệm hoặc là xây dựng các bản sao dĩ thái của nhiều loại hình tướng khác nhau, hoặc là xây dựng các vận cụ hồng trần của nhiều loại hình tướng hay cả hai. |
|
46. We may remember that there are certain devas which a man must obey, but others with which he cooperates and still others whom he must command or direct. We are given an idea, here, of the last two categories: |
46. Chúng ta có thể nhớ rằng có những thiên thần nhất định mà con người phải tuân phục, nhưng có những vị khác mà y hợp tác cùng, và còn những vị khác nữa mà y phải ra lệnh hoặc chỉ đạo. Ở đây, chúng ta được cho một ý niệm về hai loại sau cùng: |
|
a. Man is to cooperate with the building devas who form the etheric body. |
a. Con người phải hợp tác với các thiên thần kiến tạo tạo thành thể dĩ thái. |
|
b. He is to influence those devas who work in the dense physical (unprincipled) substance. |
b. Y phải ảnh hưởng đến những thiên thần hoạt động trong chất liệu hồng trần đậm đặc (không nguyên khí). |
|
47. Apparently, in these sections of text, we are not talking about man the magician while in incarnation in the three lower worlds. Instead we are talking about man in the process of building his own vehicles and the devas and lesser lives with which he must interact as he does so. |
47. Rõ ràng, trong những đoạn văn này, chúng ta không nói về con người như nhà huyền thuật khi đang lâm phàm trong ba cõi thấp. Thay vào đó, chúng ta đang nói về con người trong tiến trình xây dựng các vận cụ của chính mình và các thiên thần cùng những sự sống nhỏ bé mà y phải tương tác khi làm như vậy. |
|
These [those listed above] are the four main groups of devas which come under the influence of any particular Ego. |
Những vị này [those listed above] là bốn nhóm thiên thần chính chịu dưới ảnh hưởng của bất kỳ Chân ngã cá biệt nào. |
|
48. How shall we list these four groups. Here is one possibility: |
48. Chúng ta sẽ liệt kê bốn nhóm này như thế nào? Đây là một khả năng: |
|
a. The transmitting devas |
a. Các thiên thần truyền dẫn |
|
b. The devas concerned with the mental unit, |
b. Các thiên thần liên hệ với đơn vị hạ trí, |
|
c. The devas concerned with the astral permanent atom |
c. Các thiên thần liên hệ với nguyên tử trường tồn cảm dục |
|
d. The devas concerned with the physical permanent atom. |
d. Các thiên thần liên hệ với nguyên tử trường tồn hồng trần. |
|
e. (If one checks the lengthy quotation above, it will emerge that devas listed under “b., c., and d.” can be divided into two groups, only one of which definitely affects the permanent atoms) The other seem to be “builders” of a different and lesser category (though not passive, negative substance).. |
e. (Nếu kiểm tra đoạn trích dài ở trên, sẽ thấy rằng các thiên thần được liệt kê dưới “b., c., và d.” có thể được chia thành hai nhóm, chỉ một trong hai nhóm chắc chắn tác động đến các nguyên tử trường tồn.) Nhóm kia dường như là các “đấng kiến tạo” thuộc một loại khác và thấp hơn (dù không phải là chất liệu thụ động, tiêu cực). |
|
f. Thus, with this way of counting, we would have four groups. |
f. Như vậy, với cách đếm này, chúng ta sẽ có bốn nhóm. |
|
g. But in foregoing pages, and in other commentaries, other types of devas like “transmitters of prana” have been listed. So we must proceed with caution if we are to preserve the necessary distinctions. |
g. Nhưng trong các trang trước, và trong những phần bình giải khác, các loại thiên thần khác như “những vị truyền dẫn prana” đã được liệt kê. Vì vậy chúng ta phải tiến hành một cách thận trọng nếu muốn giữ được những phân biệt cần thiết. |
|
49. Here the kinds of devas we have been discussing (in this case, those connected with the systemic physical plane) are tabulated in a different manner which must be correlated with our present method of distinguishing them. |
49. Ở đây, các loại thiên thần mà chúng ta đã bàn đến (trong trường hợp này là những vị liên hệ với cõi hồng trần hệ thống) được lập bảng theo một cách khác, và điều này phải được đối chiếu với phương pháp phân biệt hiện tại của chúng ta. |
|
The three groups function as follows: |
Ba nhóm vận hành như sau: |
|
Group A. on the first subplane. They are the sumtotal of the atomic matter of the physical plane. |
Nhóm A. trên cõi phụ thứ nhất. Họ là tổng thể của vật chất nguyên tử của cõi hồng trần. |
|
Group B. on the second, third and fourth etheric subplanes. They are the substance of those planes, the transmitters of prana, through which prana flows to the most concrete aspects of the logoic dense vahan, or vehicle. |
Nhóm B. trên các cõi phụ dĩ thái thứ hai, thứ ba và thứ tư. Họ là chất liệu của các cõi ấy, là những vị truyền dẫn prana, qua đó prana chảy đến các phương diện cụ thể nhất của vahan đậm đặc của Thượng đế, hay vận cụ của Ngài. |
|
Group C. the lowest three subplanes; they are the devas who are the essences of all that is tangible, visible and objective. (TCF 636) |
Nhóm C. ba cõi phụ thấp nhất; họ là các thiên thần là tinh chất của mọi điều có thể sờ chạm, nhìn thấy và khách quan. (TCF 636) |
|
50. We must also remind ourselves of another way of categorizing the devas: |
50. Chúng ta cũng phải tự nhắc mình về một cách khác để phân loại các thiên thần: |
|
Therefore, in connection with manifestation on the physical plane the devas may be divided into three groups: |
Vì vậy, liên quan đến sự biểu hiện trên cõi hồng trần, các thiên thần có thể được chia thành ba nhóm: |
|
1. The transmitters of the will of God, the originators of activity in deva substance. These are the greater builders in their various groups. |
1. Những vị truyền dẫn Ý Chí của Thượng Đế, những vị khởi phát hoạt động trong chất liệu thiên thần. Đây là các đấng đại kiến tạo trong những nhóm khác nhau của các vị ấy. |
|
2. The manipulators of the initiated energy. These are the myriads of workers with force who transmit the impulse in their turn to the elemental essence. They are the builders of lesser degree, but are on the evolutionary arc as are the first group. |
2. Những vị thao tác năng lượng đã được điểm đạo. Đây là vô số người hoạt động với mãnh lực, đến lượt mình truyền xung lực đến tinh chất hành khí. Họ là các đấng kiến tạo ở cấp thấp hơn, nhưng ở trên cung tiến hoá cũng như nhóm thứ nhất. |
|
3. The recipients of force, the sumtotal of the living substance of a plane. These lives are passive in the hands of the builders of greater degree. (TCF 890) |
3. Những vị tiếp nhận mãnh lực, là tổng thể của chất liệu sống của một cõi. Những sự sống này thụ động trong tay các đấng kiến tạo ở cấp cao hơn. (TCF 890) |
|
51. With regard to “recipients of force” are we speaking of the most passive deva lives, of “building essence” as mentioned below, or of the lowest category of those which still build rather than being built into? Terminologically, this is an important question. |
51. Liên quan đến “những vị tiếp nhận mãnh lực”, liệu chúng ta đang nói đến những sự sống thiên thần thụ động nhất, đến “tinh chất kiến tạo” như được nhắc đến bên dưới, hay đến loại thấp nhất trong số những vị vẫn còn xây dựng thay vì bị xây vào trong? Về mặt thuật ngữ, đây là một câu hỏi quan trọng. |
|
52. Are we to add two other groups to the four mentioned above—transmitters and those concerned with the mental unit, the astral permanent atom and the physical permanent atom? Namely— |
52. Chúng ta có nên thêm hai nhóm khác vào bốn nhóm đã nêu ở trên—những vị truyền dẫn và những vị liên hệ với đơn vị hạ trí, nguyên tử trường tồn cảm dục và nguyên tử trường tồn hồng trần? Cụ thể là— |
|
a. The building devas who form the etheric body |
a. Các thiên thần kiến tạo tạo thành thể dĩ thái |
|
b. The building devas of the dense physical substances. |
b. Các thiên thần kiến tạo của các chất liệu hồng trần đậm đặc. |
|
53. Or are these two categories of devas simply to be found under the devas concerned with the physical permanent atom? |
53. Hay hai loại thiên thần này chỉ đơn giản được tìm thấy dưới nhóm các thiên thần liên hệ với nguyên tử trường tồn hồng trần? |
|
54. There seem to be so many types of devas (with more than one name indicating the same type) that we must proceed with caution in order to maintain clarity. |
54. Dường như có quá nhiều loại thiên thần (với hơn một tên gọi chỉ cùng một loại) đến mức chúng ta phải tiến hành thận trọng để duy trì sự minh bạch. |
|
They [probably the four types under consideration] unitedly [Page 937] produce the lower man, and bring into manifestation the Personality, that reflection of the Ego and shadow of the Monad. |
Các vị ấy [probably the four types under consideration] cùng nhau [Page 937] tạo ra phàm nhân, và đưa Phàm ngã vào biểu hiện, là sự phản chiếu của Chân ngã và cái bóng của chân thần. |
|
55. The personality is, in general, regarded as fourfold and so it makes sense that four groups of devas would, unitedly, bring the personality into manifestation. |
55. Phàm ngã, nói chung, được xem là tứ phân, và vì thế thật hợp lý khi bốn nhóm thiên thần cùng nhau đưa phàm ngã vào biểu hiện. |
|
56. There are of course more types of devas or deva substance than four, but we should keep the broad outlines intact before going into the many details and sub-classifications. |
56. Dĩ nhiên có nhiều loại thiên thần hay chất liệu thiên thần hơn là bốn, nhưng chúng ta nên giữ nguyên những nét đại cương trước khi đi vào nhiều chi tiết và phân loại phụ. |
|
57. Thus far we have listed four groups of devas who work upon “building essence” as it is called immediately below. |
57. Cho đến nay chúng ta đã liệt kê bốn nhóm thiên thần hoạt động trên “tinh chất kiến tạo” như được gọi ngay bên dưới. |
|
The three grades of building essence which are built into forms through the activity of the above four groups are here briefly recognised as the mental substance, built into the mental body, the astral substance, built into the astral vehicle and the matter of the physical body. |
Ba cấp độ của tinh chất kiến tạo được xây vào trong các hình tướng thông qua hoạt động của bốn nhóm trên đây, ở đây được nhìn nhận một cách vắn tắt là chất liệu trí tuệ, được xây vào trong thể trí, chất liệu cảm dục, được xây vào trong vận cụ cảm dục, và vật chất của thể xác. |
|
58. Here is a most important section of text. |
58. Đây là một đoạn văn hết sức quan trọng. |
|
59. The term “building essence” is a very useful concept and has not appeared in the book before this point. If we can remember the equivalence between “building essence” and “deva substance”, we will be in a position to discriminate these types of involutionary lives from the lowest types of true builders |
59. Thuật ngữ “tinh chất kiến tạo” là một khái niệm rất hữu ích và chưa xuất hiện trong sách trước điểm này. Nếu chúng ta có thể ghi nhớ sự tương đương giữa “tinh chất kiến tạo” và “chất liệu thiên thần”, chúng ta sẽ ở vào vị thế có thể phân biện các loại sự sống giáng hạ tiến hoá này với những loại thấp nhất của các đấng kiến tạo chân chính. |
|
60. DK gives us three kinds of building essence or deva substance: |
60. Chân sư DK cho chúng ta ba loại tinh chất kiến tạo hay chất liệu thiên thần: |
|
a. Mental substance built into the mental body |
a. Chất liệu trí tuệ được xây vào trong thể trí |
|
b. Astral substance built into the astral vehicle |
b. Chất liệu cảm dục được xây vào trong vận cụ cảm dục |
|
c. Etheric-physical substance (He simply calls it “matter of the physical body”) built into the etheric-physical body. |
c. Chất liệu dĩ thái-hồng trần (Ngài chỉ đơn giản gọi là “vật chất của thể xác”) được xây vào trong thể dĩ thái-hồng trần. |
|
61. DK began this section of text by mentioning seven types of devic lives or substance— |
61. Chân sư DK đã bắt đầu đoạn văn này bằng cách đề cập đến bảy loại sự sống thiên thần hay chất liệu— |
|
Man, in the process of evolution, as he pursues the method of reincarnation, works with four types of builders and three major grades of building essence or deva substance |
Con người, trong tiến trình tiến hoá, khi theo đuổi phương pháp luân hồi, làm việc với bốn loại đấng kiến tạo và ba cấp độ chính của tinh chất kiến tạo hay chất liệu thiên thần |
|
and it if we can keep these numbers relatively clear in our minds, we will have the kind of picture we need for understanding. |
và nếu chúng ta có thể giữ những con số này tương đối rõ ràng trong tâm trí, chúng ta sẽ có được loại bức tranh cần thiết cho sự thấu hiểu. |
|
62. Our problem is that there are quite a number of tabulations concerning the devas, and some of these tabulations deal with the same lives or entities, but from different perspectives. |
62. Vấn đề của chúng ta là có khá nhiều bảng phân loại liên quan đến các thiên thần, và một số bảng trong đó bàn đến cùng những sự sống hay thực thể ấy, nhưng từ những góc nhìn khác nhau. |
|
63. A really organized approach to the categorization of the devas has not yet been successfully undertaken (to my knowledge). It would be a task of great complexity and one would have to proceed very cautiously to avoid confusion. |
63. Theo chỗ tôi biết, một cách tiếp cận thật sự có tổ chức đối với việc phân loại các thiên thần vẫn chưa được thực hiện thành công. Đó sẽ là một công việc cực kỳ phức tạp, và người ta sẽ phải tiến hành hết sức thận trọng để tránh nhầm lẫn. |
|
These seven groups |
Bảy nhóm này |
|
64. Four types of builders and three types of building essence– |
64. Bốn loại đấng kiến tạo và ba loại tinh chất kiến tạo– |
|
form, in their totality, what we might call the Brahma aspect of the microcosm. |
hợp thành, trong tính toàn thể của chúng, điều mà chúng ta có thể gọi là phương diện Brahma của tiểu thiên địa. |
|
65. Let us remember that this discussion is no longer about the macrocosm but about the microcosm. |
65. Chúng ta hãy nhớ rằng cuộc thảo luận này không còn nói về đại thiên địa nữa mà nói về tiểu thiên địa. |
|
66. The Brahma aspect of the microcosm is everything that concerns the personality of man. |
66. Phương diện Brahma của tiểu thiên địa là mọi điều liên quan đến phàm ngã của con người. |
|
67. It does not include that which concerns his egoic nature or his monadic nature. |
67. Nó không bao gồm những gì liên quan đến bản chất chân ngã hay bản chất chân thần của y. |
|
From another point of view, we may be considered as studying the action of the solar Angel, or Lord, upon the lunar angels, |
Từ một góc nhìn khác, chúng ta có thể được xem như đang nghiên cứu tác động của Thái dương Thiên Thần, hay Chúa, lên các thiên thần thái âm, |
|
68. DK discussed the matter from this perspective in the lengthy quotation interpolated above. |
68. Chân sư DK đã bàn về vấn đề này từ góc nhìn ấy trong đoạn trích dài được chèn vào ở trên. |
|
69. Notice that He does not differentiate between a “solar Angel” or ‘solar Lord’. Probably, the term “Solar Pitri” would also be an equivalent. |
69. Hãy lưu ý rằng Ngài không phân biệt giữa một “Thái dương Thiên Thần” và một ‘Thái dương Chúa’. Có lẽ thuật ngữ “Solar Pitri” cũng là một từ tương đương. |
|
70. There are hints at distinctions between those three terms, but they are also, apparently, used interchangeably, just as the terms “Planetary Logos” and “Heavenly Man” are used interchangeably. |
70. Có những gợi ý về sự phân biệt giữa ba thuật ngữ ấy, nhưng dường như chúng cũng được dùng thay thế cho nhau, cũng như các thuật ngữ “Hành Tinh Thượng đế” và “Đấng Thiên Nhân” được dùng thay thế cho nhau. |
|
and the process whereby the solar Lord imposes a certain rhythm and vibration upon different aspects of lower manifestation. |
và tiến trình nhờ đó Thái dương Chúa áp đặt một nhịp điệu và rung động nhất định lên các phương diện khác nhau của biểu hiện thấp. |
|
71. The rhythm and vibration imposed upon the “lunar angels” by the “solar Lord” is accomplished through the sounding of certain mantrams which are created by the “solar Lord” in response to a transmitted Word of Power. |
71. Nhịp điệu và rung động được “Thái dương Chúa” áp đặt lên các “thiên thần thái âm” được thực hiện thông qua việc xướng lên những mantrams nhất định do “Thái dương Chúa” tạo ra để đáp ứng một Quyền năng từ được truyền xuống. |
|
Esoterically, this is all hidden in the words of a very ancient writing, which says: |
Một cách huyền bí, tất cả điều này đều được che giấu trong lời của một bản văn rất cổ, nói rằng: |
|
“As the moon revolves, she reflects. As she reflects, she causes response in that which failed to radiate. These three, the Sun, the Moon, and the Mother, produce that which pursues a tiny cycle, and burns.” |
“Khi mặt trăng xoay chuyển, nàng phản chiếu. Khi nàng phản chiếu, nàng gây ra sự đáp ứng nơi cái đã không phát sáng. Ba điều này, Mặt Trời, Mặt Trăng, và Mẹ, tạo ra điều theo đuổi một chu kỳ nhỏ bé, và cháy lên.” |
|
72. The words are certainly obscure. |
72. Những lời này quả thật mơ hồ. |
|
73. If the Moon “reflects” she does so because of the Sun. |
73. Nếu Mặt Trăng “phản chiếu” thì nàng làm như vậy là do Mặt Trời. |
|
74. We seem to be speaking of the effect of the solar builders upon the lunar builders, and, then, the effect of the lunar builders upon the “building essence” or deva substance which, technically, could be called the “Mother”. |
74. Dường như chúng ta đang nói về tác động của các đấng kiến tạo thái dương lên các đấng kiến tạo thái âm, rồi đến tác động của các đấng kiến tạo thái âm lên “tinh chất kiến tạo” hay chất liệu thiên thần mà, về mặt kỹ thuật, có thể được gọi là “Mẹ”. |
|
75. How shall we determine the nature of “that which pursued a tiny cycle and burns”? Certainly, this could be the human being. Even the long evolutionary period of a human being is relatively a tiny cycle. Further, every incarnation is a tiny cycle and as the incarnations proceed, the burning process proceeds. |
75. Chúng ta sẽ xác định bản chất của “điều đã theo đuổi một chu kỳ nhỏ bé và cháy lên” như thế nào? Chắc chắn, đó có thể là con người. Ngay cả thời kỳ tiến hoá dài lâu của một con người cũng tương đối là một chu kỳ nhỏ bé. Hơn nữa, mỗi lần nhập thể là một chu kỳ nhỏ bé, và khi các lần nhập thể tiếp diễn, tiến trình cháy cũng tiếp diễn. |
|
The first step of the Ego towards producing a “shadow” is expressed in the words “The Ego sounds his note.” |
Bước đầu tiên của Chân ngã hướng tới việc tạo ra một “cái bóng” được biểu lộ trong những lời “Chân ngã xướng lên âm điệu của mình.” |
|
76. We are speaking of the manner in which incarnation is sought by the Ego. |
76. Chúng ta đang nói về cách thức mà Chân ngã tìm kiếm sự nhập thể. |
|
77. The first note to be sounded in the process of creating vehicles for manifestation is the egoic note. This it the beginning of the magical incarnational process. |
77. Âm điệu đầu tiên được xướng lên trong tiến trình tạo ra các vận cụ cho sự biểu hiện là âm điệu chân ngã. Đây là khởi đầu của tiến trình nhập thể huyền thuật. |
|
He utters his voice, and (as in the logoic process) the lesser “army of the voice” responds immediately to it. |
Y cất lên tiếng nói của mình, và (như trong tiến trình logoi) Đạo Quân của Âm Thanh nhỏ hơn lập tức đáp ứng với nó. |
|
78. We are dealing with the microcosmic reflection of the logoic process. |
78. Chúng ta đang xử lý sự phản chiếu vi mô của tiến trình logoi. |
|
79. We have to remember that there are greater members of the Army of the Voice to be found on the cosmic etheric planes, with the exception of the logoic plane (in some manner, represented even there). |
79. Chúng ta phải nhớ rằng có những thành viên lớn hơn của Đạo Quân của Âm Thanh được tìm thấy trên các cõi dĩ thái vũ trụ, ngoại trừ cõi logoi (dù theo một cách nào đó, ngay cả ở đó cũng có sự biểu hiện của chúng). |
|
80. We are, however, speaking of the lesser Army of the Voice (an important distinction). |
80. Tuy nhiên, chúng ta đang nói về Đạo Quân của Âm Thanh nhỏ hơn (một sự phân biệt quan trọng). |
|
81. This lesser army is to be found within the realm of Brahma—i.e., within the lower eighteen systemic subplanes. |
81. Đạo quân nhỏ hơn này được tìm thấy trong phạm vi của Brahma—tức là trong mười tám cõi phụ thấp của hệ thống. |
|
According to the tone and quality of the voice, so is the nature of the responsive agents. |
Tùy theo âm sắc và phẩm tính của tiếng nói mà bản chất của các tác nhân đáp ứng cũng như vậy. |
|
82. We realize that there are a great number of responsive agents. We have been classifying them, and tabulating them, even though, so far, that classification is not precisely rendered. |
82. Chúng ta nhận ra rằng có một số lượng rất lớn các tác nhân đáp ứng. Chúng ta đã phân loại và lập bảng chúng, dù cho cho đến nay sự phân loại ấy vẫn chưa được trình bày một cách chính xác. |
|
According to the depth or height of the note, and according to its volume, so is the status or grade of building deva which replies to the call. |
Tùy theo độ sâu hay độ cao của âm điệu, và tùy theo âm lượng của nó, mà địa vị hay cấp bậc của thiên thần kiến tạo đáp lời tiếng gọi cũng như vậy. |
|
83. We can see how much depends upon the quality of the egoic note sounded. Tone, quality, depth, height volume—all these determine the status or grade of the building deva which responds to the Ego’s call. |
83. Chúng ta có thể thấy biết bao điều tùy thuộc vào phẩm tính của âm điệu chân ngã được xướng lên. Âm sắc, phẩm tính, độ sâu, độ cao, âm lượng—tất cả những điều này quyết định địa vị hay cấp bậc của thiên thần kiến tạo đáp ứng tiếng gọi của Chân ngã. |
|
84. There are a number of groups of building devas who must respond to this not, but within these groups, there are those of different quality and of different ray tone or coloration. Because of these distinctions, there will be differential response. |
84. Có một số nhóm thiên thần kiến tạo phải đáp ứng âm điệu này, nhưng trong các nhóm ấy có những vị khác nhau về phẩm tính và khác nhau về âm sắc hay sắc thái cung. Vì những khác biệt này, sẽ có sự đáp ứng sai biệt. |
|
This egoic note produces, therefore, certain effects: |
Vì vậy, âm điệu chân ngã này tạo ra những hiệu quả nhất định: |
|
It sweeps into activity devas who proceed to transmit the sound. They utter a word. |
Nó cuốn vào hoạt động những thiên thần tiến hành truyền dẫn âm thanh. Họ phát ra một từ. |
|
85. Again we see the phrase “sweeps into activity” indicating the irresistible power of one deva group over another—the Ego, from one perspective, is a deva or, at least, strongly infused by that deva we call the Solar Angel. |
85. Một lần nữa chúng ta thấy cụm từ “cuốn vào hoạt động” cho thấy quyền năng không thể cưỡng lại của một nhóm thiên thần đối với nhóm khác—Chân ngã, từ một góc nhìn, là một thiên thần hoặc ít nhất được thấm nhuần mạnh mẽ bởi thiên thần mà chúng ta gọi là Thái dương Thiên Thần. |
|
86. Here we reference the microcosmic parallels of those who, macrocosmically, are known as “Transmitters of the Word”. |
86. Ở đây chúng ta đang dẫn chiếu đến những tương đồng vi mô của những vị, ở cấp đại thiên địa, được biết đến như “Những vị Truyền Dẫn Linh từ”. |
|
87. We also studied earlier the threefold sequence of the “WORD”, the Mantram(s) and the Formula(s), involving three grades of devic beings. |
87. Trước đây chúng ta cũng đã nghiên cứu chuỗi tam phân của “LINH TỪ”, Mantram(s) và Formula(s), liên quan đến ba cấp độ hữu thể thiên thần. |
|
88. We are speaking of a high group of devas. The microcosmic “transmitters of the word” are higher in their development than even the highest type of microcosmic building devas. |
88. Chúng ta đang nói về một nhóm thiên thần cao. Những “vị truyền dẫn linh từ” ở cấp vi mô cao hơn trong sự phát triển của họ so với ngay cả loại thiên thần kiến tạo vi mô cao nhất. |
|
89. We may repeat again that the “transmitters” are not the “builders”, per se. |
89. Chúng ta có thể lặp lại một lần nữa rằng những “vị truyền dẫn” không phải là “đấng kiến tạo”, chính chúng. |
|
It reaches the listening devas of the second grade who take up the word and proceed to elaborate it into what might be called a mantric phrase. |
Nó đến với những thiên thần lắng nghe thuộc cấp thứ hai, những vị tiếp nhận từ ấy và tiến hành khai triển nó thành điều có thể được gọi là một cụm từ mantram. |
|
90. We are examining the creative process within the microcosm. |
90. Chúng ta đang khảo sát tiến trình sáng tạo bên trong tiểu thiên địa. |
|
91. Those who have first received the Ego’s tonal impulse have transmitted a “word” and it has been received by listening deva of the second grade. |
91. Những vị đầu tiên tiếp nhận xung lực âm điệu của Chân ngã đã truyền đi một “từ”, và nó đã được các thiên thần lắng nghe thuộc cấp thứ hai tiếp nhận. |
|
92. Let us see if we can become increasingly certain as to the nature of the “listening devas”. |
92. Hãy xem liệu chúng ta có thể ngày càng chắc chắn hơn về bản chất của “các thiên thần lắng nghe” hay không. |
|
93. If you search above in the large interpolation of text above (TCF 781-783), you will find their function described. These devas are the “attractive energy of the permanent atom”. They work through magnetism and are aggregators of substance which is attuned to the transmitted note (with all its variable including the key). |
93. Nếu bạn tìm ở trên trong đoạn nội suy lớn của bản văn phía trên (TCF 781-783), bạn sẽ thấy chức năng của họ được mô tả. Các thiên thần này là “năng lượng hấp dẫn của nguyên tử trường tồn”. Họ hoạt động qua từ điện và là những vị kết tập chất liệu được điều chỉnh theo âm điệu được truyền xuống (với tất cả các biến thể của nó, kể cả chủ âm). |
|
94. Immediately below is an excerpt from that large section of interpolated text. |
94. Ngay bên dưới là một đoạn trích từ phần lớn của bản văn nội suy ấy. |
|
2. The response of the substance to the atomic vibration upon the particular plane involved. This concerns the second group of Pitris, whose function it is to gather together the substance attuned to any particular key, and to aggregate it around the permanent atom. They work under the Law of Magnetic Attraction, and are the attractive energy of the permanent atom. On a tiny scale each permanent atom has (to the substance of a man’s sheaths) a position relative to that which the physical sun holds to the substance of the system. It is the nucleus of attractive force |
2. Sự đáp ứng của chất liệu đối với rung động nguyên tử trên cõi đặc thù có liên quan. Điều này liên quan đến nhóm Pitris thứ hai, có chức năng là tập hợp chất liệu được điều chỉnh theo bất kỳ chủ âm đặc thù nào, và kết tụ nó quanh nguyên tử trường tồn. Họ hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn Từ Tính, và là năng lượng hấp dẫn của nguyên tử trường tồn. Ở một quy mô nhỏ bé, mỗi nguyên tử trường tồn có (đối với chất liệu của các thể của một người) một vị trí tương đối giống như vị trí mà mặt trời vật lý giữ đối với chất liệu của hệ thống. Nó là hạt nhân của mãnh lực hấp dẫn |
|
95. The listening devas of the second grade, we are told, elaborate the transmitted “word” into a mantric phrase. |
95. Chúng ta được cho biết rằng các thiên thần lắng nghe thuộc cấp thứ hai khai triển “từ” được truyền xuống thành một cụm từ mantram. |
|
96. This is the place to interpolate a reference which encapsulates this idea, though on a higher turn of the spiral. The devas we are now studying are functioning beneath the level of the Ego and within the realm of personality. Still the idea of a relationship between a three devic types—a transmitter, a mantric formulator and one who manipulates according to mathematical formulas is preserved. |
96. Đây là chỗ để chèn vào một dẫn chiếu bao quát ý tưởng này, dù ở một vòng xoắn cao hơn. Các thiên thần mà chúng ta hiện đang nghiên cứu hoạt động bên dưới cấp độ của Chân ngã và trong phạm vi của phàm ngã. Tuy nhiên, ý tưởng về một mối liên hệ giữa ba loại thiên thần—một vị truyền dẫn, một vị tạo lập mantram và một vị thao tác theo các công thức toán học—vẫn được bảo tồn. |
|
97. We have somewhat studied this process about a hundred a fifty pages ago: |
97. Chúng ta đã phần nào nghiên cứu tiến trình này khoảng một trăm năm mươi trang trước: |
|
Each Identity concerned proceeds to sound a WORD. This sound expands into a mantram and the solar angels vibrate in response. There is a point of interest to be noted here. |
Mỗi Bản Sắc có liên quan tiến hành xướng lên một LINH TỪ. Âm thanh này mở rộng thành một mantram và các thái dương Thiên Thần rung động để đáp ứng. Có một điểm đáng chú ý ở đây. |
|
a. The first aspect works through a Word of Power. |
a. Phương diện thứ nhất hoạt động qua một Quyền năng từ. |
|
b The second aspect works through mantric combinations. |
b Phương diện thứ hai hoạt động qua các tổ hợp mantram. |
|
c. The third aspect works through mathematical formulas. (TCF 771) |
c. Phương diện thứ ba hoạt động qua các công thức toán học. (TCF 771) |
|
98. The “transmitters”, “listening devas” who are ‘mantric formulators’ and those still lesser devas who build, are all of them working under the use of “mathematical formulas” which is the method of all lunar devas. It is the Solar Angels who are the true and original workers “through mantric combination”. |
98. Những “vị truyền dẫn”, “các thiên thần lắng nghe” là những vị ‘tạo lập mantram’ và những thiên thần thấp hơn nữa là những vị xây dựng, tất cả đều đang hoạt động dưới việc sử dụng “các công thức toán học”, vốn là phương pháp của mọi thiên thần thái âm. Chính các Thái dương Thiên Thần mới là những người hoạt động chân chính và nguyên thủy “qua các tổ hợp mantram”. |
|
99. We should also interpolate the macrocosmic reference concerning the fifth systemic plane—the plane whereon the Solar Angels find their major expression to this time. |
99. Chúng ta cũng nên chèn vào dẫn chiếu đại thiên địa liên quan đến cõi thứ năm của hệ thống—cõi mà trên đó các Thái dương Thiên Thần tìm thấy sự biểu hiện chính yếu của mình cho đến thời điểm này. |
|
The logoic Phrase…Fifth plane…The plane of the logoic mantram of 35 stanzas. The gaseous body.(TCF 928) |
Cụm từ logoi…Cõi thứ năm…Cõi của mantram logoi gồm 35 bài kệ. Thể khí.(TCF 928) |
|
The building process [carried on the by the building devas who receive the transmitted word] definitely begins in a sequential threefold manner. The [Page 938] mental body begins to co-ordinate in three stages. |
Tiến trình kiến tạo [carried on the by the building devas who receive the transmitted word] chắc chắn bắt đầu theo một cách tam phân tuần tự. Thể trí [Page 938] bắt đầu phối hợp trong ba giai đoạn. |
|
100. It may be supposed that the mantrams devised by the devas of the second order are magnetic in their effect and work towards the gathering and coordination of the substance which will become the various personality vehicles. |
100. Có thể giả định rằng các mantram do các thiên thần thuộc cấp thứ hai tạo ra có tác dụng từ tính và hướng đến việc tập hợp và phối hợp chất liệu sẽ trở thành các vận cụ khác nhau của phàm ngã. |
|
101. The thing to keep in mind in all this apparent complexity is that the “transmitters” are not the “listeners” or the “builders. |
101. Điều cần ghi nhớ giữa tất cả sự phức tạp bề ngoài này là những “vị truyền dẫn” không phải là những “vị lắng nghe” hay những “đấng kiến tạo”. |
|
102. We note the sequentiality of the building process and remember that all proceeds according to law and in order. |
102. Chúng ta lưu ý tính tuần tự của tiến trình kiến tạo và nhớ rằng mọi sự đều tiến hành theo định luật và trong trật tự. |
|
All the building stages overlap. When, for instance, the co-ordination of the mental body is in its second stage, the first stage of astral concretion begins. |
Mọi giai đoạn kiến tạo đều chồng lấn lên nhau. Chẳng hạn, khi sự phối hợp của thể trí đang ở giai đoạn thứ hai, thì giai đoạn đầu của sự cô đọng cảm dục bắt đầu. |
|
103. We are definitely speaking of the building of the personality vehicle of the Ego—the process of gradual descent into incarnation. |
103. Chúng ta chắc chắn đang nói về việc xây dựng vận cụ phàm ngã của Chân ngã—tiến trình giáng xuống dần dần vào nhập thể. |
|
104. While the process is sequential and orderly, we see the principle of overlap at work. |
104. Dù tiến trình này là tuần tự và có trật tự, chúng ta thấy nguyên lý chồng lấn đang hoạt động. |
|
105. We have not yet been told what may be the three phases of coordination of any vehicle. |
105. Chúng ta vẫn chưa được cho biết ba giai đoạn phối hợp của bất kỳ vận cụ nào có thể là gì. |
|
This is carried on for seven stages (three major and four minor) which overlap in an intricate fashion. |
Điều này được tiến hành qua bảy giai đoạn (ba giai đoạn chính và bốn giai đoạn phụ) vốn chồng lấn nhau theo một cách phức tạp tinh vi. |
|
106. We are not in a position to understand the nature of these seven stages, but they concern coordination and concretion. One can attempt to count the possible stages in three or even four of the vehicles (including the dense physical body as a separate or fourth vehicle) and see whether it is possible to arrive at the number seven. |
106. Chúng ta không ở vào vị thế để thấu hiểu bản chất của bảy giai đoạn này, nhưng chúng liên quan đến sự phối hợp và sự cô đặc. Người ta có thể thử đếm các giai đoạn khả hữu trong ba hay thậm chí bốn vận cụ (kể cả thể xác đậm đặc như một vận cụ riêng biệt hay vận cụ thứ tư) và xem liệu có thể đi đến con số bảy hay không. |
|
107. Probably, until we are in a position to observe the process at first hand, it is sufficient for us to know that in the matter of creating the personality vehicles before birth, there is a concretizing and coordinative process which is relatively sequential and intricately overlapping. We always expect organized activity within the realm of the devas. |
107. Có lẽ, cho đến khi chúng ta ở vào vị thế quan sát tiến trình này tận mắt, thì đối với chúng ta chỉ cần biết rằng trong vấn đề tạo ra các vận cụ phàm ngã trước khi sinh, có một tiến trình cô đặc hóa và phối hợp tương đối tuần tự và chồng lấn nhau một cách tinh vi. Chúng ta luôn mong đợi hoạt động có tổ chức trong phạm vi của các thiên thần. |
|
Again, when the second stage is reached, a vibration is produced which awakens response in etheric matter on the physical plane, and the builders of the etheric double commence their activity. Again the process is repeated. |
Một lần nữa, khi giai đoạn thứ hai đạt đến, một rung động được tạo ra, đánh thức sự đáp ứng trong vật chất dĩ thái trên cõi hồng trần, và các đấng kiến tạo của bản sao dĩ thái bắt đầu hoạt động của họ. Một lần nữa tiến trình ấy được lặp lại. |
|
108. The principle of overlap is found throughout Nature. We have a false idea if we look for sequential stages of development which have hard and fast temporal boundaries. This same principle applies to the manner in which the petals of the egoic lotus unfold. |
108. Nguyên lý chồng lấn được tìm thấy khắp Thiên Nhiên. Chúng ta có một ý niệm sai lầm nếu tìm kiếm các giai đoạn phát triển tuần tự có những ranh giới thời gian cứng nhắc và cố định. Cùng nguyên lý này áp dụng cho cách thức các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã khai mở. |
|
When the second stage of the work of these etheric devas is begun, conception takes place upon the physical plane. |
Khi giai đoạn thứ hai trong công việc của các thiên thần dĩ thái này bắt đầu, sự thụ thai diễn ra trên cõi hồng trần. |
|
109. It is always when the second stage of development in a superior vehicle is reached that the first stage of development of the immediately inferior vehicle begins. |
109. Luôn luôn là khi giai đoạn phát triển thứ hai trong một vận cụ cao hơn đạt đến thì giai đoạn phát triển thứ nhất của vận cụ thấp hơn liền kề bắt đầu. |
|
110. The science of conception is also intricate. We see how much preparation has occurred before it is the correct moment for conception on the physical plane to occur. |
110. Khoa học về sự thụ thai cũng rất phức tạp. Chúng ta thấy đã có biết bao sự chuẩn bị xảy ra trước khi đúng thời điểm để sự thụ thai trên cõi hồng trần diễn ra. |
|
111. It would seem that the incarnating human being is hovering in the etheric field before the biological opportunity for further densification is presented. |
111. Có vẻ như con người đang lâm phàm đang lơ lửng trong trường dĩ thái trước khi cơ hội sinh học cho sự đậm đặc hóa thêm nữa được trình ra. |
|
112. Because it is not until the second stage of the world of the etheric devas that conception takes place upon the physical plane, we can link conception with the second aspect of divinity—the form building aspect. |
112. Bởi vì mãi cho đến giai đoạn thứ hai của thế giới các thiên thần dĩ thái thì sự thụ thai mới diễn ra trên cõi hồng trần, chúng ta có thể liên kết sự thụ thai với phương diện thứ hai của thiên tính—phương diện xây dựng hình tướng. |
|
This is a very important point to be remembered, for it brings the entire process of human birth definitely into line with established karmic law. |
Đây là một điểm rất quan trọng cần ghi nhớ, vì nó đưa toàn bộ tiếntrình sinh ra của con người vào đúng hàng ngũ của định luật nghiệp quả đã được thiết lập. |
|
113. A careful building process is pursued, proceeding according to the karmic patterns accumulated and released for activation in a particular incarnation. Not all karmic patterns are released for activation in any particular incarnation. |
113. Một tiến trình kiến tạo cẩn trọng được theo đuổi, tiến hành theo các mô hình nghiệp quả đã được tích lũy và được giải phóng để hoạt hóa trong một kiếp lâm phàm nhất định. Không phải mọi mô hình nghiệp quả đều được giải phóng để hoạt hóa trong bất kỳ kiếp lâm phàm cụ thể nào. |
|
It shows the close connection between that which is subjective and that which is tangible and seen. |
Điều này cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa cái có tính chủquan và cái hữu hình, thấy được. |
|
114. That which is tangible and seen definitely conforms to the subjective pattern upon which it is built. |
114. Cái hữu hình và thấy được nhất định phù hợp với mô hình chủ quan mà trên đó nó được xây dựng. |
|
115. If it fitting that we are discussing the incarnational process of the human being, as it is a building process, and the devas (our theme) are the builders. |
115. Thật thích hợp khi chúng ta đang bàn đến tiến trình lâm phàm của con người, vì đó là một tiến trình xây dựng, và các thiên thần (chủ đề của chúng ta) là các đấng kiến tạo. |
|
116. Of course, it is not the “greater Builders” who are involved in building the personality of man. Instead, various groups of “lesser builders” are involved. The whole process proceeds with great intelligence and is guided by karmic law. |
116. Dĩ nhiên, không phải các “đấng đại kiến tạo” tham gia vào việc xây dựng phàm ngã của con người. Thay vào đó, nhiều nhóm “vị tiểu kiến tạo” khác nhau tham gia. Toàn bộ tiến trình diễn ra với trí tuệ lớn lao và được định luật nghiệp quả hướng dẫn. |
|
117. Remember that the term “lesser builders” is very relative. |
117. Hãy nhớ rằng thuật ngữ “vị tiểu kiến tạo” là rất tương đối. |
|
The building of the physical body proceeds like that of the three stages during the prenatal period: |
Việc xây dựng thể xác diễn ra giống như ba giai đoạn trong thời kỳ trước khi sinh: |
|
a. The work of the building devas during the three and a half months prior to the realisation of life. This period sees the third stage of the building of the etheric body entered upon. |
a. Công việc của các thiên thần kiến tạo trong ba tháng rưỡi trước khi có sự chứng nghiệm sự sống. Trong thời kỳ này, giai đoạn thứ ba của việc xây dựng thể dĩ thái được bắt đầu. |
|
b. The building work of the next three and a half months of the gestation period. |
b. Công việc xây dựng của ba tháng rưỡi kế tiếp của thời kỳ thai nghén. |
|
c. The final process of concretion carried on through the remaining two months. |
c. Tiến trình cô đặc hóa cuối cùng được tiến hành trong hai tháng còn lại. |
|
118. We divide the prenatal period into three divisions during which various categories of concretizing and coordination of the personality vehicles occur. |
118. Chúng ta chia thời kỳ trước khi sinh thành ba phần, trong đó các loại cô đặc hóa và phối hợp khác nhau của các vận cụ phàm ngã diễn ra. |
|
119. DK is not specific but seems to suggest that during the three and a half months “prior to the realisation of life” the third period of etheric development is entered upon. We remember that conception occurred with the beginning of the second stage of etheric building. |
119. Chân sư DK không nói rõ nhưng dường như gợi ý rằng trong ba tháng rưỡi “trước khi có sự chứng nghiệm sự sống”, thời kỳ thứ ba của sự phát triển dĩ thái được bắt đầu. Chúng ta nhớ rằng sự thụ thai đã xảy ra cùng với sự khởi đầu của giai đoạn thứ hai của việc xây dựng dĩ thái. |
|
120. We must note carefully the phrase “prior to the realisation of life”. The so-called “animation” occurs approximately three and a half (perhaps four) months after conception, and at that time the heart beat of the foetus is detectable, hence realized. |
120. Chúng ta phải lưu ý cẩn thận cụm từ “trước khi có sự chứng nghiệm sự sống”. Cái gọi là “sự hoạt hóa” xảy ra xấp xỉ ba tháng rưỡi (có lẽ bốn tháng) sau khi thụ thai, và vào lúc đó nhịp tim của thai nhi có thể được phát hiện, do đó được chứng nghiệm. |
|
121. It is only after the animation occurs that the stage of gestation (occultly considered) begins. |
121. Chỉ sau khi sự hoạt hóa xảy ra thì giai đoạn thai nghén (xét theo huyền bí học) mới bắt đầu. |
|
122. We do see that the physical body is considered in its own right as one of four fields developing each in three stages. |
122. Chúng ta quả thật thấy rằng thể xác được xem xét theo đúng bản chất riêng của nó như một trong bốn trường, mỗi trường phát triển qua ba giai đoạn. |
|
123. The duration in months of the three phases as regards the physical body are 3.5, 3.5 and 2. |
123. Thời lượng tính theo tháng của ba giai đoạn liên quan đến thể xác là 3,5; 3,5 và 2. |
|
124. Concretion is proceeding all through the process and its final stages are reached as far as the physical body is concerned during the last two months. |
124. Sự cô đặc hóa diễn ra suốt toàn bộ tiến trình và các giai đoạn cuối cùng của nó được đạt đến, xét theo thể xác, trong hai tháng cuối. |
|
125. It is at birth that the sevenfold overlapping developmental process can be said to terminate. |
125. Chính vào lúc sinh ra mà tiến trình phát triển thất phân chồng lấn có thể được nói là chấm dứt. |
|
Students will here find it interesting to trace out the correspondence in this method of producing evolutionary manifestation in a planetary scheme with its rounds and races, and in a solar system with its manvantaras and greater cycles. |
Ở đây các đạo sinh sẽ thấy thú vị khi truy tìm sự tươngứng trong phương pháp tạo ra biểu hiện tiến hoá này trong một hệ hành tinh với các cuộc tuần hoàn và các nhân loại của nó, và trong một hệ mặt trời với các giai kỳ sinh hóa và các chu kỳ lớn hơn của nó. |
|
126. This will have to be something for the new schools. It will be an elaborate process. DK has given an assignment for the future. The books are filled with such suggestions for expanding the understanding. |
126. Đây sẽ phải là điều dành cho các trường học mới. Đó sẽ là một tiến trình công phu. Chân sư DK đã giao một bài tập cho tương lai. Các quyển sách đầy những gợi ý như thế để mở rộng sự thấu hiểu. |
|
127. We can see an immediate correspondence to that period which elapses “prior to the realization of life” in the three and half rounds which elapsed (at least on the Earth-chain) prior to the onset of the process of individualization via the intervention of the Solar Angels. Analogically, the planetary heart then began to ‘beat’, the correlation to the moment of “animation” in the microcosm. |
127. Chúng ta có thể thấy một sự tương ứng trực tiếp với thời kỳ trôi qua “trước khi có sự chứng nghiệm sự sống” trong ba cuộc tuần hoàn rưỡi đã trôi qua (ít nhất là trên Dãy Địa Cầu) trước khi tiến trình biệt ngã hóa khởi sự qua sự can thiệp của các Thái dương Thiên Thần. Theo phép tương đồng, trái tim hành tinh khi ấy bắt đầu ‘đập’, tương ứng với khoảnh khắc “hoạt hóa” trong tiểu thiên địa. |
|
128. From the rootrace perspective in relation to our chain and globe, two and a half rootraces elapsed before the onset of the individualization process and three and a half before the possibility of truly opening the doors of initiation to the human family. Individualization, while a birth into the human kingdom, can be considered the moment of spiritual conception leading to birth into the fifth kingdom of nature, and initiation, though a birth into the fifth kingdom of nature, can be considered a moment of conception for birth into the Kingdom of Planetary Lives. |
128. Từ quan điểm giống dân gốc liên hệ với dãy và bầu hành tinh của chúng ta, hai giống dân gốc rưỡi đã trôi qua trước khi tiến trình biệt ngã hóa khởi sự, và ba giống dân gốc rưỡi đã trôi qua trước khi khả năng thật sự mở các cánh cửa điểm đạo cho gia đình nhân loại xuất hiện. Biệt ngã hóa, tuy là một sự sinh ra vào giới nhân loại, có thể được xem là khoảnh khắc thụ thai tinh thần dẫn đến sự sinh ra vào giới thứ năm của bản chất, và điểm đạo, tuy là một sự sinh ra vào giới thứ năm của bản chất, có thể được xem là một khoảnh khắc thụ thai cho sự sinh ra vào Giới của Các Sự Sống Hành tinh. |
|
129. When thinking of a solar system, one would have to deal with ‘solar rounds’ analogous in a higher way to scheme rounds and chain rounds within a planetary scheme. We have no really clear idea about how these proceed. Certainly, however, in our solar system, the ‘solar heart’ has started to beat, just as our planetary heart has awakened with the coming of the “Lords of the Flame”. |
129. Khi suy nghĩ về một hệ mặt trời, người ta sẽ phải đề cập đến các ‘cuộc tuần hoàn mặt trời’ tương tự theo cách cao hơn với các cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh và các cuộc tuần hoàn của dãy trong một hệ hành tinh. Chúng ta không có ý niệm thật sự rõ ràng về cách chúng diễn ra. Tuy nhiên, chắc chắn là trong hệ mặt trời của chúng ta, ‘trái tim mặt trời’ đã bắt đầu đập, cũng như trái tim hành tinh của chúng ta đã thức tỉnh với sự xuất hiện của các “Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa”. |
|
130. There are probably greater “Lords of the Flame” operating on cosmic mental levels and we might look to their ‘coming’ when thinking about the “realisation of life” in solar logoic terms. |
130. Có lẽ có những “Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa” lớn lao hơn đang hoạt động trên các cấp độ trí tuệ vũ trụ, và chúng ta có thể hướng đến sự ‘đến’ của các Ngài khi suy nghĩ về “sự chứng nghiệm sự sống” theo các thuật ngữ của Thái dương Thượng đế. |
|
131. As well, the first three and a half months would probably have much to do with building the solar logoic personality and with developing the non-sacred centers or planets. |
131. Ngoài ra, ba tháng rưỡi đầu tiên có lẽ liên quan rất nhiều đến việc xây dựng phàm ngã của Thái dương Thượng đế và với sự phát triển các trung tâm hay các hành tinh không thiêng liêng. |
|
132. Was our present solar system the system in which our Solar Logos took His first initiation, for He has surely taken the second? If so, the realization of higher spiritual life, the “animation” may well have occurred in this second (or fifth) system. |
132. Có phải hệ mặt trời hiện tại của chúng ta là hệ trong đó Thái dương Thượng đế của chúng ta đã nhận lần điểm đạo thứ nhất, vì chắc chắn Ngài đã nhận lần điểm đạo thứ hai? Nếu vậy, sự chứng nghiệm sự sống tinh thần cao hơn, tức “sự hoạt hóa”, rất có thể đã xảy ra trong hệ thứ hai (hay thứ năm) này. |
|
133. We look forward to the day when we will have the leisure and motivation to pursued the Tibetan’s recommendations for expanding these ideas. |
133. Chúng ta mong đợi ngày mà chúng ta sẽ có sự nhàn rỗi và động lực để theo đuổi các khuyến nghị của Chân sư Tây Tạng nhằm mở rộng các ý tưởng này. |
|
In summing up this very cursory outline, the work of the etheric devas does not cease at the birth of the man, |
Tóm lược đề cương rất sơ lược này, công việc của các thiên thần dĩ thái không chấm dứt khi con người được sinh ra, |
|
134. This is most interesting and will be important when it is understood how, truly, to cultivate the personality of the human being so that it becomes a refined and reliable instrument for egoic expression. |
134. Điều này rất thú vị và sẽ quan trọng khi người ta hiểu được cách thật sự nuôi dưỡng phàm ngã của con người để nó trở thành một công cụ tinh luyện và đáng tin cậy cho sự biểu lộ của chân ngã. |
|
135. We are also assured that we have been focusing of the work of the building devas before birth—howevermuch they may be active after birth. |
135. Chúng ta cũng được bảo đảm rằng chúng ta đã tập trung vào công việc của các thiên thần kiến tạo trước khi sinh—dù cho họ có thể hoạt động sau khi sinh đến đâu đi nữa. |
|
but is continued likewise in three stages, which find a close analogy in the life period of a solar system. [Page 939] |
mà cũng tiếp tục tương tự qua ba giai đoạn, vốn tìm thấy một sự tương tự gần gũi trong chu kỳ sống của một hệ mặt trời. [Page 939] |
|
136. So we will look to the macrocosmic analogy to clarify work within the microcosm and vise versa. |
136. Vì vậy, chúng ta sẽ tìm đến phép tương đồng đại thiên địa để làm sáng tỏ công việc trong tiểu thiên địa và ngược lại. |
|
137. The formula of three-stage-development seems a constant both pre-natally and post natally. |
137. Công thức phát triển ba giai đoạn dường như là một hằng số cả trước khi sinh lẫn sau khi sinh. |
|
138. The animation corresponds to the activation of the second aspect in the pre-natal cycle. In the post-natal cycle, that same moment is mirrored in the birth of soul consciousness—the final appropriation of the personality by the soul. |
138. Sự hoạt hóa tương ứng với sự hoạt hóa phương diện thứ hai trong chu kỳ trước khi sinh. Trong chu kỳ sau khi sinh, cùng khoảnh khắc ấy được phản chiếu trong sự ra đời của tâm thức linh hồn—sự chiếm hữu cuối cùng của linh hồn đối với phàm ngã. |
|
139. There are seven ages of man” and yet, from the broader perspective, the seven can be seen as three. |
139. Có bảy thời kỳ của con người”, tuy nhiên, từ quan điểm rộng hơn, bảy có thể được xem là ba. |
|
140. From another point of view, the three pre-natal stages can be added to the seven ages of man (once he has been born upon the physical plane), making ten in all. |
140. Từ một quan điểm khác, ba giai đoạn trước khi sinh có thể được cộng vào bảy thời kỳ của con người (một khi y đã được sinh ra trên cõi hồng trần), thành mười giai đoạn tất cả. |
|
First, their work is directed to the steady increase of the human physical vehicle, so that it may follow accurately the lines of growth of the two subtler bodies. This is carried on till maturity is reached. |
Trước hết, công việc của họ hướng đến sự gia tăng đều đặn của vận cụ hồng trần của con người, để nó có thể theo sát một cách chính xác các đường tăng trưởng của hai thể tinh tế hơn. Điều này được tiếp tục cho đến khi sự trưởng thành đạt đến. |
|
141. The following reference is an important amplification: |
141. Đoạn tham chiếu sau đây là một sự khai triển quan trọng: |
|
That unfoldment which takes place as a physical plane child grows from an infant to a man. By the time he is twenty-one, the centres should normally have reached the same quality of expression as they had attained when he passed out of life in a previous incarnation. The man then takes up life where he had previously left it off. (EH 37) |
Sự khai mở diễn ra khi một đứa trẻ trên cõi hồng trần lớn lên từ trẻ sơ sinh thành người trưởng thành. Vào lúc y hai mươi mốt tuổi, các trung tâm thông thường phải đạt đến cùng phẩm tính biểu lộ mà chúng đã đạt được khi y rời bỏ sự sống trong một kiếp lâm phàm trước. Khi đó con người tiếp tục cuộc sống từ chỗ trước đây y đã dừng lại. (EH 37) |
|
142. Much depends on what is meant by “till maturity is reached”. Is maturity the age of twenty-one when the centers reach the same quality of expression they had attained when the man last passed out of incarnation, or does it occur later—for instance, at the age of thirty-five (generically considered)? |
142. Nhiều điều tùy thuộc vào ý nghĩa của cụm từ “cho đến khi sự trưởng thành đạt đến”. Sự trưởng thành có phải là tuổi hai mươi mốt khi các trung tâm đạt đến cùng phẩm tính biểu lộ mà chúng đã đạt được khi con người lần cuối rời khỏi lâm phàm, hay nó xảy ra muộn hơn—chẳng hạn ở tuổi ba mươi lăm (xét một cách tổng quát)? |
|
143. In any case we find that after birth the physical vehicle does not yet accurately represent the lines of growth of the two subtler bodies. The physical vehicle is not a perfect expression of the degree of development of the subjective aspects of the personality—presumably the mental and astral vehicles. Thus, there is more building to be accomplished and the etheric devas responsible for promoting continue growth in the physical vehicle must proceed with their work. |
143. Dù sao đi nữa, chúng ta thấy rằng sau khi sinh, vận cụ hồng trần vẫn chưa biểu hiện chính xác các đường tăng trưởng của hai thể tinh tế hơn. Vận cụ hồng trần không phải là một biểu hiện hoàn hảo của mức độ phát triển của các phương diện chủ quan của phàm ngã—hẳn là các vận cụ trí tuệ và cảm dục. Vì vậy, vẫn còn nhiều việc xây dựng phải hoàn tất, và các thiên thần dĩ thái chịu trách nhiệm thúc đẩy sự tăng trưởng liên tục trong vận cụ hồng trần phải tiếp tục công việc của họ. |
|
144. We can think of this first phase as the period of “flow” compared with the third period of “ebb”. |
144. Chúng ta có thể nghĩ về giai đoạn thứ nhất này như thời kỳ “triều lên” so với thời kỳ thứ ba là “triều xuống”. |
|
The next stage [the second] is that in which their work consists largely of repair work, and the preservation of the body during the years of full manhood so that it can measure up to the purpose of the subjective life. This purpose necessarily varies according to the stage of development of the man. |
Giai đoạn kế tiếp [giai đoạn thứ hai] là giai đoạn trong đó công việc của họ phần lớn gồm công việc sửa chữa, và sự bảo tồn thể trong những năm sung mãn của conngười để nó có thể đáp ứng mục đích của đời sống chủquan. Mục đích này tất yếu thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của con người. |
|
145. First growth then repair and preservation. The etheric devas are involved in this work of sustainment. It may be that such work occurs largely during the hours of sleep. |
145. Trước hết là tăng trưởng, rồi sửa chữa và bảo tồn. Các thiên thần dĩ thái tham gia vào công việc duy trì này. Có thể công việc ấy phần lớn diễn ra trong những giờ ngủ. |
|
146. The instrument is sustained so that an withstand the expression of the purpose for which it was originally made. |
146. Công cụ được duy trì để nó có thể chịu đựng sự biểu lộ của mục đích mà vì đó nó vốn được tạo ra. |
|
Finally comes the stage [the third] when the work of building ceases. |
Cuối cùng đến giai đoạn [giai đoạn thứ ba] khi công việc xây dựng chấm dứt. |
|
147. The work of building has continued even through the second stage. |
147. Công việc xây dựng đã tiếp tục ngay cả trong suốt giai đoạn thứ hai. |
|
The vitality in the etheric body waxes dim, and the processes of destruction begin. |
Sinh lực trong thể dĩ thái mờ dần, và các tiến trình hủydiệt bắt đầu. |
|
148. We can consider this stage as the withdrawal of vitality. |
148. Chúng ta có thể xem giai đoạn này như sự rút lui của sinh lực. |
|
The Ego begins to call in his forces. |
Chân ngã bắt đầu thu hồi các mãnh lực của y. |
|
149. This is a magnetic process and represents the ebb of life. |
149. Đây là một tiến trình từ tính và biểu thị sự triều xuống của sự sống. |
|
150. The indrawing may well occur under the influence of Jupiter, and magnetic Venus (the ruler of the soul on the higher mental plane) should not be discounted. |
150. Sự thu vào này rất có thể xảy ra dưới ảnh hưởng của Sao Mộc, và không nên xem nhẹ Sao Kim từ tính (chủ tinh của linh hồn trên Cõi thượng trí). |
|
The “sound” becomes faint and dim; |
“Âm điệu” trở nên mờ nhạt và lu mờ; |
|
151. This is what we might call the ‘sustaining sound’, that which upholds the integrity of the pattern of interrelated energies and forces within the personality vehicles. |
151. Đây là điều mà chúng ta có thể gọi là ‘âm điệu duy trì’, tức cái nâng đỡ tính toàn vẹn của mô hình các năng lượng và mãnh lực liên hệ lẫn nhau bên trong các vận cụ phàm ngã. |
|
there is less and less volume for the transmitters to pass on, |
ngày càng có ít biên độ hơn để các bộ truyền chuyển tiếp, |
|
152. Volume is caused by wave-amplitude and, in this case, correlates with the strength of the vehicles of the personality. |
152. Biên độ được tạo ra bởi độ lớn của sóng và, trong trường hợp này, tương quan với sức mạnh của các vận cụ của phàm ngã. |
|
153. We may infer that the transmitters continue their function all through the prenatal stages and through the post-natal stages of growth and repair/preservation. Though the volume of the note/word they transmit decreases in intensity, their function does continue even through the third stage of gradual withdrawal. |
153. Chúng ta có thể suy ra rằng các bộ truyền tiếp tục chức năng của chúng suốt các giai đoạn trước khi sinh và suốt các giai đoạn sau khi sinh của sự tăng trưởng và sửa chữa/bảo tồn. Dù biên độ của âm điệu/linh từ mà chúng truyền giảm cường độ, chức năng của chúng vẫn tiếp tục ngay cả trong giai đoạn thứ ba của sự rút lui dần dần. |
|
and the initial vibration gets fainter and fainter. |
và rung động ban đầu trở nên ngày càng mờ nhạt hơn. |
|
154. We have a fading out of the vital forces. |
154. Chúng ta có sự phai tắt của các mãnh lực sinh lực. |
|
The period of obscuration comes in. |
Thời kỳ che mờ bắt đầu xuất hiện. |
|
155. DK has described the onset of obscuration in terms of sound and its volume or amplitude. |
155. Chân sư DK đã mô tả sự khởi đầu của sự che mờ theo các thuật ngữ của âm thanh và biên độ hay độ lớn của nó. |
|
First the physical body waxes weak and useless; then the Ego withdraws from the centres, and functions for a few hours in the etheric double. |
Trước hết thể xác trở nên yếu ớt và vô dụng; rồi chân ngã rút khỏi các trung tâm, và hoạt động trong bản sao dĩ thái trong vài giờ. |
|
156. This is the process of death. Weakness and uselessness precede death by natural causes (except, presumably sudden deaths from heart attack or stroke, and, of course, accident). |
156. Đây là tiến trình chết. Sự suy yếu và vô dụng đi trước cái chết do nguyên nhân tự nhiên (trừ ra, hẳn nhiên, những cái chết đột ngột do đau tim hay đột quỵ, và dĩ nhiên là tai nạn). |
|
157. If following the debilitation of the physical body the Ego withdraws from the centers, it has always, in a way, ‘been there’. We may pause to realize the Ego exists on its own plane and yet suffuses the personality vehicles through the life thread (certainly) and also, increasingly, through its conscious presence. This is an important consideration. |
157. Nếu sau sự suy nhược của thể xác mà chân ngã rút khỏi các trung tâm, thì theo một cách nào đó, nó luôn luôn ‘đã ở đó’. Chúng ta có thể dừng lại để nhận ra rằng chân ngã hiện hữu trên cõi riêng của nó, nhưng vẫn thấm nhuần các vận cụ phàm ngã qua sợi dây sự sống (chắc chắn là như vậy) và cũng ngày càng nhiều hơn qua sự hiện diện có ý thức của nó. Đây là một điều cân nhắc quan trọng. |
|
158. Much speculation exists concerning the viability of the etheric body following its withdrawal from the physical body. The presence to he Ego functioning within the etheric body for a few hours after death would sustain the integrity of the etheric body. Perhaps reanimation of the dense physical body is possible as long as the Ego holds the etheric body in integrity. |
158. Có nhiều suy đoán liên quan đến khả năng tồn tại của thể dĩ thái sau khi nó rút khỏi thể xác. Sự hiện diện của chân ngã hoạt động trong thể dĩ thái trong vài giờ sau khi chết sẽ duy trì tính toàn vẹn của thể dĩ thái. Có lẽ việc tái hoạt hóa thể xác đậm đặc là có thể chừng nào chân ngã còn giữ thể dĩ thái trong tình trạng toàn vẹn. |
|
This in turn is devitalised, and so the process is carried on till one by one the sheaths are discarded and the egoic “shadow” is dissipated. |
Đến lượt nó, thể này bị rút sinh lực, và như thế tiến trình tiếp diễn cho đến khi từng vỏ bọc một bị loại bỏ và “cái bóng” chân ngã bị làm tiêu tan. |
|
159. The personality is considered the “shadow” of the Ego, or perhaps, more properly, the personality is the “shadow” of the Monad, and the Ego its reflection. |
159. Phàm ngã được xem là “cái bóng” của Chân ngã, hay có lẽ nói đúng hơn, phàm ngã là “cái bóng” của chân thần, còn Chân ngã là sự phản chiếu của nó. |
|
160. We are examining a process of devitalization, withdrawal, disintegration and dissipation. When the vitalizing force inducing coherency is withdrawn, there is nothing to hold a personality vehicle in integrity. |
160. Chúng ta đang khảo sát một tiến trình rút sinh lực, rút lui, tan rã và làm tiêu tan. Khi mãnh lực tiếp sinh lực gây ra sự cố kết bị rút đi, thì không còn gì để giữ cho một vận cụ phàm ngã được toàn vẹn. |
|
161. We continue below with a new subject, shifting the emphasis from “transmitting devas” to “building devas”. |
161. Bên dưới, chúng ta tiếp tục với một chủ đề mới, chuyển trọng tâm từ “các thiên thần truyền dẫn” sang “các thiên thần kiến tạo”. |
|
The work of the building devas. |
Công việc của các thiên thần kiến tạo. |
|
Let us now consider the work of the building devas on the three planes, dealing with them in two groups: |
Bây giờ chúng ta hãy xem xét công việc của các thiên thần kiến tạo trên ba cõi, xét họ thành hai nhóm: |
|
162. It is important to realize that building devas are not transmitting devas. We must keep them distinct as the following reference demonstrates. |
162. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng các thiên thần kiến tạo không phải là các thiên thần truyền dẫn. Chúng ta phải giữ cho chúng phân biệt rõ ràng như đoạn tham chiếu sau đây cho thấy. |
|
We have dealt at some length already with the work [Page 941] of the transmitting devas upon the three planes in the three worlds, and with that of the devas connected with those relatively permanent focal points—the permanent atoms within the causal periphery. We can now consider the group of builders [yet another group] who, responding to the note of the transmitting agencies and to the initial vibration of the second group of builders concerned with the triple lower self, begin the work of aggregating and moulding the living substance necessary for egoic manifestation upon the lower planes. (TCF 942) |
Chúng ta đã bàn khá dài về công việc [Page 941] của các thiên thần truyền dẫn trên ba cõi trong ba cõi giới, và về công việc của các thiên thần liên kết với những tiêu điểm tương đối trường tồn ấy—các nguyên tử trường tồn bên trong chu vi nhân thể. Giờ đây chúng ta có thể xem xét nhóm các đấng kiến tạo [một nhóm khác nữa] những vị này, đáp ứng với âm điệu của các cơ quan truyền dẫn và với rung động ban đầu của nhóm kiến tạo thứ hai liên quan đến phàm ngã tam phân, bắt đầu công việc tập hợp và nắn đúc chất liệu sống cần thiết cho sự biểu hiện chân ngã trên các cõi thấp. (TCF 942) |
|
163. There are three categories of devas listed here and it will be necessary to be clear about them: |
163. Ở đây có ba loại thiên thần được liệt kê và cần phải phân biệt rõ về họ: |
|
a. The “transmitting agencies” |
a. Các “cơ quan truyền dẫn” |
|
b. The second group of builders concerned with the permanent atoms within the causal periphery. These devas are concerned with an “initial vibration” and are concerned with the triple lower self.” We seek to understand the nature of this “initial vibration” and its relation both to the note of the “transmitting agencies” and to the triple lower self. There is some ambiguity here. |
b. Nhóm kiến tạo thứ hai liên quan đến các nguyên tử trường tồn bên trong chu vi nhân thể. Các thiên thần này liên quan đến một “rung động ban đầu” và liên quan đến “phàm ngã tam phân”. Chúng ta tìm cách hiểu bản chất của “rung động ban đầu” này và mối liên hệ của nó vừa với âm điệu của các “cơ quan truyền dẫn” vừa với phàm ngã tam phân. Ở đây có một mức độ mơ hồ nào đó. |
|
c. Those builders (manipulators)—a third group, apparently, but perhaps, really, a subdivision of the second group—who aggregate and mould the “living substance” necessary for creating the lunar vehicles. |
c. Những đấng kiến tạo (các vị thao tác)—rõ ràng là một nhóm thứ ba, nhưng có lẽ thật ra là một phân nhóm của nhóm thứ hai—những vị tập hợp và nắn đúc “chất liệu sống” cần thiết để tạo ra các vận cụ thái âm. |
|
164. Here we may have some possible terminological subtleties. The devas involved with the atomic triangle are not transmitters nor are they, according to this context, aggregators and moulders per se. So what then are the “listening devas”. Are they to be correlated with the “second group of builders” or with the third group who “begin the work of aggregating and moulding the living substance”. We must remember that “listening devas” do gather substance. We must also remember that the three groups of devas associated with the mental unit, astral permanent atom, and physical permanent atom, are part of a second group, whose function is “to gather together the substance attuned to any particular key, and to aggregate it around the permanent atom” (TCF 782) So, we see that the second group of “builders” (not just the third group above) does indeed “gather” and “aggregate”. |
164. Ở đây chúng ta có thể có một số sắc thái thuật ngữ khả dĩ. Các thiên thần liên quan đến tam giác nguyên tử không phải là các bộ truyền, cũng không phải, theo văn cảnh này, là các vị tập hợp và nắn đúc chính chúng. Vậy thì “Thien thần lắng nghe” là gì? Có nên tương quan họ với “nhóm kiến tạo thứ hai” hay với nhóm thứ ba là nhóm “bắt đầu công việc tập hợp và nắn đúc chất liệu sống”? Chúng ta phải nhớ rằng “Thien thần lắng nghe” quả thật có thu gom chất liệu. Chúng ta cũng phải nhớ rằng ba nhóm thiên thần liên kết với đơn vị hạ trí, nguyên tử trường tồn cảm dục và nguyên tử trường tồn hồng trần là thành phần của một nhóm thứ hai, mà chức năng của nhóm này là “thu gom chất liệu được điều chỉnh theo bất kỳ chủ âm đặc thù nào, và tập hợp nó quanh nguyên tử trường tồn” (TCF 782). Vì vậy, chúng ta thấy rằng nhóm “đấng kiến tạo” thứ hai (không chỉ nhóm thứ ba ở trên) quả thật có “thu gom” và “tập hợp”. |
|
165. Thus, we have an earlier reference stating that the second group “gathers” and “aggregate(s)” but here it is stated that the third group aggregates and moulds. To aggregate is very similar to gather. |
165. Như vậy, chúng ta có một đoạn tham chiếu trước đó nói rằng nhóm thứ hai “thu gom” và “tập hợp”, nhưng ở đây lại nói rằng nhóm thứ ba tập hợp và nắn đúc. Tập hợp rất gần với thu gom. |
|
166. Try to see clearly the equivalence between “living substance” and “building essence”, sometimes also called “deva substance”. It is upon such substance or essence that the building-manipulating devas (and elementals) work, moulding the necessary form. |
166. Hãy cố thấy rõ sự tương đương giữa “chất liệu sống” và “tinh chất kiến tạo”, đôi khi cũng được gọi là “chất liệu thiên thần”. Chính trên chất liệu hay tinh chất như thế mà các thiên thần kiến tạo-thao tác (và các hành khí) làm việc, nắn đúc hình tướng cần thiết. |
|
167. The two classifications of devas immediately below are not transmitting devas. They are group number two and three from the interpolated section of text (TCF 942) just above. |
167. Hai loại thiên thần được phân loại ngay bên dưới không phải là các thiên thần truyền dẫn. Họ là nhóm số hai và ba từ đoạn văn nội suy (TCF 942) ngay phía trên. |
|
a. Those who are connected with the permanent atoms. |
a. Những vị liên kết với các nguyên tử trường tồn. |
|
b. Those who are responsible for the building process. (TCF 939) |
b. Những vị chịu trách nhiệm về tiến trình xây dựng. (TCF 939) |
|
168. The permanent atoms are the power centers within any vehicle. They are, relative to that vehicle, connected with the first aspect. But they are also magnetic centers used to gather the substance for the vehicles to be created. |
168. Các nguyên tử trường tồn là các trung tâm quyền năng bên trong bất kỳ vận cụ nào. Tương đối với vận cụ đó, chúng liên kết với phương diện thứ nhất. Nhưng chúng cũng là các trung tâm từ tính được dùng để thu gom chất liệu cho các vận cụ sẽ được tạo ra. |
|
169. The building process itself concerns the third ray principally, but some influence of the second ray (since it is the building ray). Devas in this third category are also involved in aggregation which occurs partially under the magnetic influence of the second ray. |
169. Bản thân tiến trình xây dựng chủ yếu liên quan đến cung ba, nhưng cũng có một số ảnh hưởng của cung hai (vì đó là cung xây dựng). Các thiên thần trong loại thứ ba này cũng tham gia vào sự tập hợp, vốn xảy ra một phần dưới ảnh hưởng từ tính của cung hai. |
|
170. From all that has been said here, we may make the following tabulation: |
170. Từ tất cả những gì đã được nói ở đây, chúng ta có thể lập bảng sau đây: |
|
a. There are transmitting devas who are the true lunar pitris. They receive the transmitted egoic note and transmit it further. They transmit a “note”. |
a. Có các thiên thần truyền dẫn là các thái âm tổ phụ đích thực. Họ tiếp nhận âm điệu chân ngã được truyền đến và truyền nó đi xa hơn. Họ truyền một “âm điệu”. |
|
b. There are three groups of devas associated with the members of the atomic triangle, each group associated with either the mental unit, the astral permanent atom, or the physical permanent atom. Sometimes they are called “building” devas, but they do not build in the same way as the devas in the category to follow. They are responsible for what is called an “initial vibration” which is derived from the transmitted “note” of the “transmitting devas”. These devas, associated with the members of the along this line, work especially with magnetism and both gather and aggregate substance around the lower permanent atoms and mental unit. Immediately above, this group of devas are called “Those who are connected with the permanent atoms”. |
b. Có ba nhóm thiên thần liên kết với các thành viên của tam giác nguyên tử, mỗi nhóm liên kết hoặc với đơn vị hạ trí, hoặc với nguyên tử trường tồn cảm dục, hoặc với nguyên tử trường tồn hồng trần. Đôi khi họ được gọi là các thiên thần “kiến tạo”, nhưng họ không kiến tạo theo cùng cách như các thiên thần trong loại kế tiếp. Họ chịu trách nhiệm về điều được gọi là một “rung động ban đầu”, phát sinh từ “âm điệu” được truyền của các “thiên thần truyền dẫn”. Các thiên thần này, liên kết với các thành viên của đường này, làm việc đặc biệt với từ điện và vừa thu gom vừa tập hợp chất liệu quanh các nguyên tử trường tồn thấp và đơn vị hạ trí. Ngay phía trên, nhóm thiên thần này được gọi là “Những vị liên kết với các nguyên tử trường tồn”. |
|
c. Here from a section later in the text, are what the members of this second group do: |
c. Ở đây, từ một đoạn sau hơn trong văn bản, là điều mà các thành viên của nhóm thứ hai này làm: |
|
d. These building devas [closely allied, we are told, with the Solar Angels] are the ones who take up the sound as the Ego sends it forth through certain of the transmitting deva agencies, and by the vibration which this sets up they drive into activity the surrounding deva essence in their two groups (TCF 940): |
d. Các thiên thần kiến tạo [như chúng ta được biết, có liên hệ mật thiết với các Thái dương Thiên Thần] là những vị tiếp nhận âm thanh khi Chân ngã phát nó ra qua một số cơ quan thiên thần truyền dẫn nhất định, và nhờ rung động mà điều này tạo ra, họ thúc đẩy vào hoạt động tinh chất thiên thần xung quanh trong hai nhóm của chúng (TCF 940): |
|
e. We remember the relationship of these devas (sometimes their “building” nature is emphasized and sometimes not) to the factor of vibration. |
e. Chúng ta nhớ mối liên hệ của các thiên thần này (đôi khi bản chất “kiến tạo” của họ được nhấn mạnh và đôi khi thì không) với yếu tố rung động. |
|
f. The next group of devas (a third group) is closely related to the second group. This third group responds to the “initial vibration” of the second group, and continues to gather and aggregate the substance already gathered and aggregated by the second group, but contributes to greater concretion by moulding the gathered substance. Immediately above this third group of devas is called “Those who are responsible for the building process”. It is probably that we can with accuracy call this third group of devas “manipulating devas”. |
f. Nhóm thiên thần kế tiếp (một nhóm thứ ba) có liên hệ mật thiết với nhóm thứ hai. Nhóm thứ ba này đáp ứng với “rung động ban đầu” của nhóm thứ hai, và tiếp tục thu gom và tập hợp chất liệu đã được nhóm thứ hai thu gom và tập hợp, nhưng góp phần vào sự cô đặc hóa lớn hơn bằng cách nắn đúc chất liệu đã được thu gom. Ngay phía trên, nhóm thiên thần thứ ba này được gọi là “Những vị chịu trách nhiệm về tiến trình xây dựng”. Có lẽ chúng ta có thể gọi nhóm thiên thần thứ ba này một cách chính xác là “các thiên thần thao tác”. |
|
g. Following these three groups of devas—transmitting, vibrating and gathering, and aggregating and moulding, come the devas of passive elemental lives who are the substance to be built. |
g. Tiếp theo ba nhóm thiên thần này—truyền dẫn, rung động và thu gom, và tập hợp cùng nắn đúc—là các thiên thần của những sự sống hành khí thụ động, những vị là chất liệu sẽ được xây dựng. |
|
171. This tabulation and explanation should prove useful. Caution will have to be exerted when we get into the specifics of work upon each plane: |
171. Bảng phân loại và lời giải thích này hẳn sẽ hữu ích. Cần phải thận trọng khi chúng ta đi vào các chi tiết cụ thể của công việc trên mỗi cõi: |
|
a. Work within the dense physical subplanes |
a. Công việc trong các cõi phụ hồng trần đậm đặc |
|
b. Work within the etheric subplanes |
b. Công việc trong các cõi phụ dĩ thái |
|
c. Work upon the astral plane |
c. Công việc trên cõi cảm dục |
|
d. Work on the lower mental levels |
d. Công việc trên các cấp độ hạ trí |
|
172. When such work is analyzed, new names for various devas and their processes are brought forward, and we will have to be careful to keep them within the overall fourfold tabulation just offered—transmitters, ‘vibrators’, moulders and passive substance. |
172. Khi công việc như thế được phân tích, những tên gọi mới cho các thiên thần khác nhau và các tiến trình của họ được đưa ra, và chúng ta sẽ phải cẩn thận giữ chúng trong bảng phân loại tứ phân tổng quát vừa được nêu—các tác nhân truyền dẫn, các “đấng gây rung động”, các đấng tạo khuôn và chất liệu thụ động. |
|
173. Once we make our way through the terminology, we should more clearly see the outlines of these intricate relationships, and the complexity which here appears so daunting, will disappear. |
173. Một khi chúng ta vượt qua được thuật ngữ, chúng ta sẽ thấy rõ hơn các đường nét của những mối liên hệ phức tạp này, và sự phức tạp hiện ở đây có vẻ quá đáng sợ sẽ biến mất. |
|
174. We are going to begin differentiating the status and functions of certain building devas. |
174. Chúng ta sẽ bắt đầu phân biệt địa vị và chức năng của một số thiên thần kiến tạo nhất định. |
|
The devas of the permanent atoms. |
Các thiên thần của các nguyên tử trường tồn. |
|
175. We will realize that we have (in earlier sections of the book) considered these devas somewhat. The lengthy interpolation at the beginning of this Commentary deals with them. DK seems to come back to certain subjects for further amplification. |
175. Chúng ta sẽ nhận ra rằng chúng ta đã phần nào khảo sát các thiên thần này (trong những phần trước của sách). Phần nội suy dài ở đầu bộ Chú Giải này bàn đến họ. Dường như Chân sư DK quay lại một số chủ đề nhất định để khai triển thêm. |
|
176. These are, in a way, building devas; they are not transmitting devas, even though the lunar transmitting devas powerfully affect the spirillae of the mental unit and the two permanent atoms. |
176. Theo một nghĩa nào đó, đây là các thiên thần kiến tạo; họ không phải là các thiên thần truyền dẫn, mặc dù các thiên thần truyền dẫn thái âm tác động mạnh mẽ lên các loa tuyến của đơn vị hạ trí và hai nguyên tử trường tồn. |
|
177. The “devas of the permanent atoms” belong to a second twofold category of devas. They are neither the devas most closely associated with the Ego nor are they the third category of deva listed above (TCF942) who aggregate and mould. Neither are they the passive, negative substance, the building essence which is built into forms. Nor are they a still |
177. “Các thiên thần của các nguyên tử trường tồn” thuộc về một phạm trù nhị phân thứ hai của các thiên thần. Họ không phải là những thiên thần gắn bó mật thiết nhất với Chân ngã, cũng không phải là phạm trù thiên thần thứ ba được liệt kê ở trên (TCF942), những vị kết tập và tạo khuôn. Họ cũng không phải là chất liệu thụ động, âm tính, là tinh chất kiến tạo được xây vào trong các hình tướng. Họ cũng không phải là một loại còn |
|
178. They are devas who work through magnetic power and set up an “initial vibration” which gathers substance around the lower permanent atoms. They are called “builders”, but they are less builders than the third classification of devas who aggregate and mould the living substance. |
178. Họ là những thiên thần hoạt động qua quyền năng từ tính và thiết lập một “rung động khởi đầu” thu hút chất liệu quanh các nguyên tử trường tồn thấp. Họ được gọi là “các đấng kiến tạo”, nhưng họ ít là đấng kiến tạo hơn so với loại thiên thần thứ ba, những vị kết tập và tạo khuôn chất liệu sống. |
|
This particular group of devas are the aggregate of the lives who form the mental unit and the two permanent atoms. |
Nhóm thiên thần đặc biệt này là tổng thể các sự sống tạo thành đơn vị hạ trí và hai nguyên tử trường tồn. |
|
179. Devas operate in groups. It would be of interest to know how many of such lives are aggregated to form the mental unit and the two permanent atoms. |
179. Các thiên thần hoạt động theo nhóm. Sẽ rất đáng quan tâm nếu biết có bao nhiêu sự sống như thế được kết tập để tạo thành đơn vị hạ trí và hai nguyên tử trường tồn. |
|
180. When we look at the meaning of the word “form” we have to decide whether it means “build” or “go to the constitution of”. |
180. Khi xem xét ý nghĩa của từ “form”, chúng ta phải quyết định liệu nó có nghĩa là “xây dựng” hay “đi vào cấu tạo của”. |
|
181. As devas often work by building themselves into the form, or underlie or suffuse the form, some combination of the two perspectives is possible. |
181. Vì các thiên thần thường hoạt động bằng cách tự xây mình vào trong hình tướng, hoặc nằm bên dưới hay thấm đẫm hình tướng, nên có thể có một sự kết hợp nào đó của hai góc nhìn này. |
|
182. When thinking of the Solar Angels, for instance, they are not the substance of the higher mental plane, but they are, as it were, ‘structurally present’ within that lesser higher mental substance, and it is the underlying presence of these Angels or Pitris which brings about the formation of the egoic lotus. |
182. Chẳng hạn, khi nghĩ đến các Thái dương Thiên Thần, các Ngài không phải là chất liệu của cõi thượng trí, nhưng các Ngài, có thể nói như vậy, “hiện diện về mặt cấu trúc” bên trong chất liệu thượng trí thấp hơn ấy, và chính sự hiện diện nền tảng của các Thiên Thần hay các Pitri này đem lại sự hình thành của Hoa Sen Chân Ngã. |
|
183. We must learn to study what we might call the ‘infusion of fields within fields’—the infusion of greater fields within lesser fields. This all has to do with what we might call the ‘interpenetration of fields’. |
183. Chúng ta phải học cách nghiên cứu điều mà chúng ta có thể gọi là “sự phú linh của các trường trong các trường”—sự phú linh của các trường lớn hơn trong các trường nhỏ hơn. Tất cả điều này đều liên quan đến cái mà chúng ta có thể gọi là “sự xuyên thấm lẫn nhau của các trường”. |
|
184. Yet, overall, the first of the options (to consider the word “form” as a verb seems the best solution). These, then, are the devas who form or work through the two lower permanent atoms and mental unit. |
184. Tuy nhiên, xét tổng thể, phương án thứ nhất (xem từ “form” như một động từ dường như là giải pháp tốt nhất). Vậy thì đây là những thiên thần tạo thành hoặc hoạt động qua hai nguyên tử trường tồn thấp và đơn vị hạ trí. |
|
185. This group of devas might be considered those who sustain the integrity of the permanent atoms, holding their formal integrity and also vitalizing them. |
185. Nhóm thiên thần này có thể được xem là những vị duy trì tính toàn vẹn của các nguyên tử trường tồn, giữ gìn tính toàn vẹn hình tướng của chúng và cũng tiếp sinh lực cho chúng. |
|
186. How small is a deva? This may be considered a strange questions, but if we think that there are devas who aggregate together to form the mental unit, or astral permanent atom or physical permanent atom; and when we consider how tiny these centers of force are; we are led to ask the quality in all seriousness. |
186. Một thiên thần nhỏ đến mức nào? Điều này có thể bị xem là một câu hỏi lạ lùng, nhưng nếu chúng ta nghĩ rằng có những thiên thần kết tập lại để tạo thành đơn vị hạ trí, hay nguyên tử trường tồn cảm dục hoặc nguyên tử trường tồn hồng trần; và khi chúng ta xét xem những trung tâm lực này nhỏ bé đến mức nào; chúng ta bị dẫn đến việc nêu câu hỏi ấy với tất cả sự nghiêm túc. |
|
They [the mental unit, the astral permanent atom and the physical permanent atom], as we know, have their place within the causal periphery, and are focal points of egoic energy. |
Chúng [đơn vị hạ trí, nguyên tử trường tồn cảm dục và nguyên tử trường tồn hồng trần], như chúng ta biết, có vị trí của chúng trong chu vi nhân thể, và là những tiêu điểm của năng lượng chân ngã. |
|
187. It is important to realize that the mental unit and two lower permanent atoms have their place within the causal periphery yet must, necessarily, remain on their own subplanes. This may seem a difficult concept but the utilization of visualization may help us conceive how it is possible. |
187. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng đơn vị hạ trí và hai nguyên tử trường tồn thấp có vị trí của chúng trong chu vi nhân thể nhưng nhất thiết vẫn phải ở trên các cõi phụ riêng của chúng. Điều này có thể có vẻ là một khái niệm khó, nhưng việc sử dụng sự hình dung có thể giúp chúng ta quan niệm được điều đó là khả hữu như thế nào. |
|
They are the very highest type of building devas, and form a group of lives which are closely allied to the solar Angels. |
Họ là loại thiên thần kiến tạo cao nhất, và hợp thành một nhóm sự sống có liên hệ mật thiết với các Thái dương Thiên Thần. |
|
188. While this group is the very highest type of “building devas”, they are not the highest of the three types of devas through which the Ego works. |
188. Tuy nhóm này là loại “thiên thần kiến tạo” cao nhất, họ không phải là cao nhất trong ba loại thiên thần mà qua đó Chân ngã hoạt động. |
|
189. The “transmitting devas” or microcosmic “transmitters of the word” are a still higher type. |
189. “Các thiên thần truyền dẫn” hay các “tác nhân truyền dẫn linh từ” vi mô còn là một loại cao hơn nữa. |
|
190. Here the devas associated with the mental unit and the two lower permanent atoms are definitely called “building devas”. Elsewhere, their role as builders is less emphasized and their power to initiate vibration more emphasized. |
190. Ở đây các thiên thần liên kết với đơn vị hạ trí và hai nguyên tử trường tồn thấp được gọi dứt khoát là các thiên thần “kiến tạo”. Ở nơi khác, vai trò của họ như các đấng kiến tạo ít được nhấn mạnh hơn, còn quyền năng khởi phát rung động của họ lại được nhấn mạnh hơn. |
|
191. Yet, the Solar Angels are strong representatives of the second aspect of divinity and so are this high type of building devas (for the act of building takes place under second ray influence). This could be one of the reasons for the close alliance between the Solar Angels and these building devas. |
191. Tuy nhiên, các Thái dương Thiên Thần là những đại diện mạnh mẽ của phương diện thứ hai của thiên tính, và loại thiên thần kiến tạo cao này cũng vậy (vì hành vi kiến tạo diễn ra dưới ảnh hưởng của cung hai). Đây có thể là một trong những lý do của sự liên minh mật thiết giữa các Thái dương Thiên Thần và các thiên thần kiến tạo này. |
|
192. We do begin to see, do we not, how intricate is the subject and how carefully we must proceed to keep things straight! |
192. Quả thật chúng ta bắt đầu thấy, phải không, chủ đề này phức tạp đến mức nào và chúng ta phải tiến hành cẩn trọng biết bao để giữ mọi điều cho rõ ràng! |
|
They exist in seven groups connected with three of the spirillae of [Page 940] the logoic physical permanent atom. |
Họ tồn tại trong bảy nhóm liên kết với ba loa tuyến của [Page 940] nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế. |
|
193. We might relate the three members of the atomic triangle (which are usually simply called “the permanent atoms”) to the three spirillae of the logoic physical permanent atom. There is a correspondence of three to three. |
193. Chúng ta có thể liên hệ ba thành phần của tam giác nguyên tử (thường chỉ đơn giản được gọi là “các nguyên tử trường tồn”) với ba loa tuyến của nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế. Có một sự tương ứng ba với ba. |
|
194. If we look at the logoic permanent atom, and presume, because it is on the cosmic physical plane that it has seven spirillae, then one group of devas would be related to the first spirilla (given to Shiva), another to the second spirilla (given to Vishnu) and the next five groups of devas to the third spirilla (given to Brahma). |
194. Nếu chúng ta nhìn vào nguyên tử trường tồn của Thượng đế, và giả định rằng vì nó ở trên cõi hồng trần vũ trụ nên nó có bảy loa tuyến, thì một nhóm thiên thần sẽ liên hệ với loa tuyến thứ nhất (được trao cho Shiva), một nhóm khác với loa tuyến thứ hai (được trao cho Vishnu), và năm nhóm thiên thần kế tiếp với loa tuyến thứ ba (được trao cho Brahma). |
|
195. We must remember, in this context, that spirillae of the logoic permanent atom are systemic planes! |
195. Trong bối cảnh này, chúng ta phải nhớ rằng các loa tuyến của nguyên tử trường tồn của Thượng đế là các cõi của hệ thống! |
|
196. Although these seven groups of building devas are connected with the logoic physical permanent atom which is principally anchored on the logoic plane, they also may be thought of as related to the seven spirillae to be found in the lower two permanent atoms. (The higher permanent atoms have only three spirillae). |
196. Mặc dù bảy nhóm thiên thần kiến tạo này liên kết với nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế, vốn chủ yếu được neo trên cõi logoic, chúng cũng có thể được xem là liên hệ với bảy loa tuyến được tìm thấy trong hai nguyên tử trường tồn thấp. (Các nguyên tử trường tồn cao hơn chỉ có ba loa tuyến). |
|
197. If we combine the spirillae to be found in the mental unit and in the manasic permanent atom (these two, seemingly separated by the causal body), we shall also have seven, as the three triadal permanent atoms have only three major spirillae. |
197. Nếu chúng ta kết hợp các loa tuyến được tìm thấy trong đơn vị hạ trí và trong nguyên tử trường tồn manas (hai điểm này dường như bị tách biệt bởi thể nguyên nhân), chúng ta cũng sẽ có bảy, vì ba nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần chỉ có ba loa tuyến chính. |
|
198. Can the seven groups be related to the seven rays. For one thing, we know that it is possible for any center of force (the mental unit or the two lower permanent atoms) to express, principally, any one of the seven rays. |
198. Bảy nhóm này có thể được liên hệ với bảy cung chăng. Trước hết, chúng ta biết rằng bất kỳ trung tâm lực nào (đơn vị hạ trí hay hai nguyên tử trường tồn thấp) cũng có thể biểu lộ, chủ yếu, bất kỳ một trong bảy cung nào. |
|
199. Do we begin to sense the nature of the intricate occult science into which we are entering? |
199. Chúng ta có bắt đầu cảm nhận được bản chất của khoa học huyền bí phức tạp mà chúng ta đang bước vào không? |
|
These three spirillae are to these seven groups of lives what the three major rays are to the seven groups of rays on the egoic subplanes of the mental plane. This phrase will bear meditating upon, and may convey much information to the intuitional thinker. |
Ba loa tuyến này đối với bảy nhóm sự sống này cũng như ba cung chính đối với bảy nhóm cung trên các cõi phụ chân ngã của cõi trí. Cụm từ này đáng để tham thiền, và có thể truyền đạt nhiều thông tin cho nhà tư tưởng trực giác. |
|
200. Here we have one of those profound statements which will demand prolonged pondering. |
200. Ở đây chúng ta có một trong những phát biểu sâu xa đòi hỏi phải suy ngẫm lâu dài. |
|
201. We may assume that the logoic physical permanent atom is to be found focally anchored upon the systemic logoic plane (the higher parallel to the anchoring of the microcosmic physical permanent atom on the atomic etheric subplane of the systemic physical plane). |
201. Chúng ta có thể giả định rằng nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế được tìm thấy như một tiêu điểm được neo trên cõi logoic của hệ thống (sự tương đồng cao hơn với việc nguyên tử trường tồn hồng trần vi mô được neo trên cõi phụ nguyên tử dĩ thái của cõi hồng trần hệ thống). |
|
202. We have a Kabalistic pattern of a greater three hovering over a lesser seven. It is the pattern of the Tree of Life. |
202. Chúng ta có một mô hình Kabbala về một bộ ba lớn hơn lơ lửng trên một bộ bảy nhỏ hơn. Đó là mô hình của Cây Sự Sống. |
|
203. These high microcosmically-related devas exist in seven groups, presumably related to the seven lesser spirillae in the normal, complete, sevenfold permanent atom. Of course, they will also be related to the seven rays and to the process of inducing the capacity of any permanent atom or unit to express any of the seven rays. |
203. Các thiên thần cao cấp liên hệ với vi mô này tồn tại trong bảy nhóm, có lẽ liên hệ với bảy loa tuyến nhỏ hơn trong nguyên tử trường tồn bình thường, hoàn chỉnh, thất phân. Dĩ nhiên, họ cũng sẽ liên hệ với bảy cung và với tiến trình tạo ra năng lực cho bất kỳ nguyên tử trường tồn hay đơn vị nào biểu lộ bất kỳ cung nào trong bảy cung. |
|
204. When dealing with the ‘higher three’ and their relation to the seven, we will divide the higher three into three divisions. Reviewing from an alternative perspective: the first of the three spirillae of logoic permanent atom will be given to Shiva and to the first type of the seven lower devas, as well as to the first of the lower seven spirillae; the second of the three spirillae of the logoic permanent atom will be given to Vishnu and to the second type of the seven lower devas as well as to the second of the lower seven spirillae; and the third of the three spirillae of the logoic permanent atom will be given to fivefold Brahma and to the fifth through seventh types of seven lower devas and to the lower five of the seven lower spirillae. |
204. Khi bàn đến “ba cao hơn” và mối liên hệ của chúng với bảy, chúng ta sẽ chia ba cao hơn thành ba phân bộ. Xét lại từ một góc nhìn khác: loa tuyến thứ nhất trong ba loa tuyến của nguyên tử trường tồn của Thượng đế sẽ được trao cho Shiva và cho loại thứ nhất trong bảy thiên thần thấp hơn, cũng như cho loa tuyến thứ nhất trong bảy loa tuyến thấp hơn; loa tuyến thứ hai trong ba loa tuyến của nguyên tử trường tồn của Thượng đế sẽ được trao cho Vishnu và cho loại thứ hai trong bảy thiên thần thấp hơn, cũng như cho loa tuyến thứ hai trong bảy loa tuyến thấp hơn; và loa tuyến thứ ba trong ba loa tuyến của nguyên tử trường tồn của Thượng đế sẽ được trao cho Brahma ngũ phân và cho các loại từ thứ năm đến thứ bảy trong bảy thiên thần thấp hơn, cũng như cho năm loa tuyến thấp hơn trong bảy loa tuyến thấp hơn. |
|
205. From the three, seven can be derived. Thinking in terms of the synthesizing Planetary Logoi and the sacred Planetary Logoi, a trinity is to be found on the systemic logoic plane and a septenate upon the second plane. (cf. TCF, Chart V, 344) We may analogize downward to the systemic subplanes looking for the three above the seven and also carry our analogy to the structure of the atom where we will find a major three and a lesser seven—three major spirillae and seven subsidiary and minor. |
205. Từ ba, bảy có thể được rút ra. Nếu suy nghĩ theo các Đức Hành Tinh Thượng Đế tổng hợp và các Đức Hành Tinh Thượng Đế thiêng liêng, thì một tam vị được tìm thấy trên cõi logoic của hệ thống và một bộ bảy trên cõi thứ hai. (xem TCF, Biểu đồ V, 344) Chúng ta có thể suy theo phép tương đồng xuống các cõi phụ của hệ thống để tìm ba ở trên bảy, và cũng mang phép tương đồng ấy đến cấu trúc của nguyên tử, nơi chúng ta sẽ thấy một bộ ba chính và một bộ bảy nhỏ hơn—ba loa tuyến chính và bảy loa tuyến phụ thuộc, thứ yếu. |
|
206. Is the logoic physical permanent atom to be found only upon the logoic plane, or is its highest spirilla there to be found, with each of the lower six systemic plane representing one of its spirillae? From this perspective, the entire solar system is as a cosmic atom with seven ‘planar spirillae’—the seven systemic planes. |
206. Nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế chỉ được tìm thấy duy nhất trên cõi logoic, hay loa tuyến cao nhất của nó được tìm thấy ở đó, còn mỗi cõi hệ thống thấp hơn trong sáu cõi biểu hiện một trong các loa tuyến của nó? Từ góc nhìn này, toàn bộ hệ mặt trời giống như một nguyên tử vũ trụ với bảy “loa tuyến cõi giới”—bảy cõi của hệ thống. |
|
207. The “seven groups of rays on the egoic subplanes of the mental plane” are represented by the seven groups of causal bodies there to be found—each group an egoic group qualified by one of the seven rays. DK seems to suggest that inspiration for these seven groups comes from three higher rays associated with the Shiva, Vishnu and Brahma of the cosmic physical plane and manifesting through the highest three cosmic physical subplanes. |
207. “Bảy nhóm cung trên các cõi phụ chân ngã của cõi trí” được biểu hiện bởi bảy nhóm thể nguyên nhân được tìm thấy ở đó—mỗi nhóm là một nhóm chân ngã được định tính bởi một trong bảy cung. Dường như Chân sư DK gợi ý rằng cảm hứng cho bảy nhóm này đến từ ba cung cao hơn liên kết với Shiva, Vishnu và Brahma của cõi hồng trần vũ trụ và biểu lộ qua ba cõi phụ cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ. |
|
208. What is said here far from exhausts the pondering necessary to interpret DK’s statement in relation to which He advised meditation by the “intuitional thinker”. |
208. Điều được nói ở đây còn xa mới làm cạn hết sự suy ngẫm cần thiết để diễn giải phát biểu của Chân sư DK, liên hệ với phát biểu ấy Ngài đã khuyên nhà tư tưởng trực giác nên tham thiền. |
|
There is a correspondence between the three permanent atomic triads, and the appearance of man in the third root race. |
Có một sự tương ứng giữa ba tam nguyên tử trường tồn, và sự xuất hiện của con người trong giống dân gốc thứ ba. |
|
209. How shall we understand the “three permanent atomic triads”? |
209. Chúng ta sẽ hiểu thế nào về “ba tam nguyên tử trường tồn”? |
|
210. What does the word “permanent” mean in this context? |
210. Từ “trường tồn” có nghĩa gì trong bối cảnh này? |
|
211. We may find that one of the three triads is the lower atomic triangle consisting of mental unit, astral permanent atom and physical permanent atom. We could hardly, however, call it “permanent” except that it is permanent with respect to the vehicles it builds, for the vehicles cyclically disintegrate and the permanent atoms do not. |
211. Chúng ta có thể thấy rằng một trong ba tam nguyên là tam giác nguyên tử thấp gồm đơn vị hạ trí, nguyên tử trường tồn cảm dục và nguyên tử trường tồn hồng trần. Tuy nhiên, chúng ta khó có thể gọi nó là “trường tồn”, ngoại trừ ở chỗ nó trường tồn đối với các vận cụ mà nó xây dựng, vì các vận cụ tan rã theo chu kỳ còn các nguyên tử trường tồn thì không. |
|
212. Another one of the “permanent triads” is, seemingly, the spiritual triad, consisting of the manasic permanent atom, the buddhic permanent atom, and the atmic permanent atom. These permanent atoms are, within almost the entire pilgrimage of the Monad, permanent |
212. Một tam nguyên khác trong các “tam nguyên trường tồn”, dường như, là Tam Nguyên Tinh Thần, gồm nguyên tử trường tồn manas, nguyên tử trường tồn Bồ đề, và nguyên tử trường tồn atma. Các nguyên tử trường tồn này, trong gần như toàn bộ cuộc hành hương của Chân thần, là trường tồn |
|
213. But what of the third? We have run out of permanent atoms (if in a permanent atomic triad there must be permanent atoms). |
213. Nhưng còn tam nguyên thứ ba thì sao? Chúng ta đã hết các nguyên tử trường tồn rồi (nếu trong một tam nguyên nguyên tử trường tồn thì phải có các nguyên tử trường tồn). |
|
214. We cannot find permanent atoms in the Monad, even though it is threefold—Will, Wisdom and Activity. |
214. Chúng ta không thể tìm thấy các nguyên tử trường tồn trong Chân thần, mặc dù nó là tam phân—Ý Chí, Minh triết và Hoạt động. |
|
215. BUT, we can find upon the mental plane, three points, two of which are constituents in the two triads already proposed. |
215. NHƯNG, trên cõi trí chúng ta có thể tìm thấy ba điểm, trong đó hai điểm là thành phần của hai tam nguyên đã được đề xuất. |
|
216. These three points are the mental unit, the manasic permanent atom and the “Jewel in the Lotus”, which is a projection of the Monad and permanent throughout the duration of the causal body, but far more permanent as the Monad—the most permanent of all factors in the human energy system. |
216. Ba điểm này là đơn vị hạ trí, nguyên tử trường tồn manas và “Ngọc trong Hoa Sen”, vốn là một phóng chiếu của Chân thần và trường tồn suốt thời gian tồn tại của thể nguyên nhân, nhưng còn trường tồn hơn nữa với tư cách là Chân thần—yếu tố trường tồn nhất trong toàn bộ hệ thống năng lượng của con người. |
|
217. We could contemplate this possibility. DK has given us a correspondence of three and three. How many triads shall there be in the future structure of man? |
217. Chúng ta có thể chiêm ngưỡng khả năng này. Chân sư DK đã cho chúng ta một sự tương ứng ba và ba. Sẽ có bao nhiêu tam nguyên trong cấu trúc tương lai của con người? |
|
218. One more thing—each of the three higher permanent atoms is threefold, as it has only three spirillae. The spiritual triad is permanent more or less throughout the duration of the Monad’s pilgrimage. Since each of the permanent atoms (atmic, buddhic and manasic) is threefold, we could call them “three permanent atomic triads). |
218. Thêm một điều nữa—mỗi nguyên tử trường tồn cao hơn trong ba nguyên tử là tam phân, vì nó chỉ có ba loa tuyến. Tam Nguyên Tinh Thần ít nhiều là trường tồn trong suốt thời gian cuộc hành hương của Chân thần. Vì mỗi nguyên tử trường tồn (atma, Bồ đề và manas) đều là tam phân, chúng ta có thể gọi chúng là “ba tam nguyên nguyên tử trường tồn”. |
|
A curiously interesting sequence of the three lines of force can be seen in: |
Một chuỗi trình tự kỳ lạ mà đầy thú vị của ba đường lực có thể được thấy trong: |
|
219. DK is helping us understand the relationship between certain groups of triads. |
219. Chân sư DK đang giúp chúng ta hiểu mối liên hệ giữa một số nhóm tam nguyên nhất định. |
|
a. The triads of the involutionary group soul. |
a. Các tam nguyên của Hồn nhóm giáng hạ tiến hoá. |
|
220. These cannot be triads which include a mental unit, as that unit takes time to emerge, and really, emerges only within the later phases of the animal kingdom, as instinct approximates intellect. |
220. Đây không thể là các tam nguyên bao gồm một đơn vị hạ trí, vì đơn vị ấy cần thời gian mới xuất hiện, và thực ra chỉ xuất hiện trong các giai đoạn muộn hơn của giới động vật, khi bản năng tiến gần đến trí tuệ. |
|
221. So we may assume that it is a collection of spiritual triads which are involved with the “involutionary group soul”. |
221. Vì vậy, chúng ta có thể giả định rằng đó là một tập hợp các Tam nguyên tinh thần liên hệ với “Hồn nhóm giáng hạ tiến hoá”. |
|
222. Below are some collected references concerning the triads and the involutionary path or involutionary group soul. |
222. Dưới đây là một số trích dẫn được tập hợp liên quan đến các tam nguyên và con đường giáng hạ tiến hoá hay Hồn nhóm giáng hạ tiến hoá. |
|
223. We may suppose that these triads/Triads (both types of capitalization are used) are actually spiritual triads because they are called “permanent triads”. |
223. Chúng ta có thể giả định rằng các triads/Triads này (cả hai kiểu viết hoa đều được dùng) thực ra là các Tam nguyên tinh thần vì chúng được gọi là các “tam nguyên trường tồn”. |
|
224. We know that once the atomic triangle is created (with the gradual emergence of the mental unit) it is not a permanent triad. It is destined for disintegration at the first great liberation—the fourth initiation. But from the time of the Second Outpouring, the Monad has selected three atoms from the atmic, buddhic and higher mental planes, respectively, which, through an act of sustained monadic association, it rendered relatively “permanent”. It may be presumed that the selection of these permanent atoms preceded the selection of the permanent atoms of the astral plane and etheric plane upon which the Monad would depend for its sojourn through the lower three kingdoms. Thus the permanent atoms of the spiritual triads would have a greater permanence than the two lower permanent atoms and certainly than the mental unit which emerged very late in the developmental process of the Monad. |
224. Chúng ta biết rằng một khi tam giác nguyên tử được tạo ra (cùng với sự xuất hiện dần dần của đơn vị hạ trí) thì nó không phải là một tam nguyên trường tồn. Nó được định cho sự tan rã vào cuộc giải thoát lớn đầu tiên—lần điểm đạo thứ tư. Nhưng từ thời điểm của Lần Tuôn Đổ Thứ Hai, Chân thần đã chọn ba nguyên tử lần lượt từ các cõi atma, Bồ đề và thượng trí, và qua một hành vi liên kết chân thần được duy trì, đã làm cho chúng trở nên tương đối “trường tồn”. Có thể giả định rằng việc chọn các nguyên tử trường tồn này đã đi trước việc chọn các nguyên tử trường tồn của cõi cảm dục và cõi dĩ thái, là những nguyên tử mà Chân thần sẽ nương vào trong cuộc lưu trú của nó qua ba giới thấp. Vì vậy, các nguyên tử trường tồn của các Tam nguyên tinh thần sẽ có một tính trường tồn lớn hơn so với hai nguyên tử trường tồn thấp và chắc chắn hơn so với đơn vị hạ trí, vốn xuất hiện rất muộn trong tiến trình phát triển của Chân thần. |
|
225. Here are the collected references and some brief commentary. |
225. Dưới đây là các trích dẫn được tập hợp cùng một số bình luận ngắn. |
|
On the involutionary path you have what is termed the Group Soul, aptly described (as far as earth words permit) as a collection of triads, enclosed in a triple envelop of monadic essence. On the evolutionary path, groups of causal bodies correspond and are similarly composed, three factors entering in. (LOM 29) |
Trên con đường giáng hạ tiến hoá, bạn có cái được gọi là Hồn nhóm, được mô tả rất đúng (trong chừng mực ngôn từ trần thế cho phép) như một tập hợp các tam nguyên, được bao bọc trong một vỏ bọc tam phân của tinh chất chân thần. Trên con đường tiến hoá, các nhóm thể nguyên nhân tương ứng và cũng được cấu thành tương tự, với ba yếu tố tham dự vào. (LOM 29) |
|
226. Monadic essence is substance of the atomic subplane of any plane. If the triads in the “collection of triads” was of a lower nature and included a mental unit (for, the atomic triangle), the type of “essence” enfolding it would not be “monadic” but “elemental”. |
226. Tinh chất chân thần là chất liệu của cõi phụ nguyên tử của bất kỳ cõi nào. Nếu các tam nguyên trong “tập hợp các tam nguyên” có bản chất thấp hơn và bao gồm một đơn vị hạ trí (tức là tam giác nguyên tử), thì loại “tinh chất” bao bọc nó sẽ không phải là “chân thần” mà là “hành khí”. |
|
227. The three focal points within the human spiritual triad, however, are all found upon atomic subplanes of their respective systemic plane and, thus, can be enclosed “in a triple envelop of monadic essence”. The triple envelop can exist because three kinds of monadic essence are available. |
227. Tuy nhiên, ba tiêu điểm trong Tam nguyên tinh thần của con người đều được tìm thấy trên các cõi phụ nguyên tử của các cõi hệ thống tương ứng của chúng và, do đó, có thể được bao bọc “trong một vỏ bọc tam phân của tinh chất chân thần”. Vỏ bọc tam phân có thể tồn tại vì có sẵn ba loại tinh chất chân thần. |
|
228. We continue with references related to triads and permanent triads… |
228. Chúng ta tiếp tục với các trích dẫn liên quan đến các tam nguyên và các tam nguyên trường tồn… |
|
3. The entities who are the sumtotal of those group souls who contain definite permanent triads. Nine triads constitute the body of one of these entities. (TCF 533) |
3. Các thực thể là tổng số của những Hồn nhóm chứa đựng các tam nguyên trường tồn xác định. Chín tam nguyên cấu thành thể của một trong các thực thể này. (TCF 533) |
|
229. Note here the term “permanent triads”. |
229. Hãy lưu ý ở đây thuật ngữ “các tam nguyên trường tồn”. |
|
On the path of involution it [the Law of Disintegration] controls the process of the breaking up of group souls; it governs the periods when the permanent triads are transferred from one form to another; (TCF 580-581) |
Trên con đường giáng hạ tiến hoá, nó [Định luật Tan Rã] kiểm soát tiến trình phân rã của các Hồn nhóm; nó chi phối những giai đoạn khi các tam nguyên trường tồn được chuyển từ hình tướng này sang hình tướng khác; (TCF 580-581) |
|
230. Note here, again, the term “permanent triads”. |
230. Ở đây, một lần nữa, hãy lưu ý thuật ngữ “các tam nguyên trường tồn”. |
|
2. It stimulates the efforts of the highest specimens of the third kingdom, and a dual effect is produced through this, for the fourth kingdom in nature makes its appearance on the physical plane and the Triads are reflected on the mental plane in the causal bodies to be found thereon. (TCF 694-695) |
2. Nó kích thích những nỗ lực của các mẫu mực cao nhất của giới thứ ba, và qua đó một hiệu quả kép được tạo ra, vì giới thứ tư trong thiên nhiên xuất hiện trên cõi hồng trần và các Tam nguyên được phản chiếu trên cõi trí trong các thể nguyên nhân được tìm thấy ở đó. (TCF 694-695) |
|
231. We now continue our discussion of “a curiously interesting sequence of the three lines of force”. |
231. Giờ đây chúng ta tiếp tục cuộc thảo luận về “một chuỗi trình tự kỳ lạ mà đầy thú vị của ba đường lực”. |
|
b. The appearance of triple natured man in the third root race. |
b. Sự xuất hiện của con người tam phân trong giống dân gốc thứ ba. |
|
232. “Triple natured man” appearing at individualization in the third root race is man as spiritual triad (this he was before he was “man”), man as personality (at least in embryo) and man as individualized soul on the higher mental plane. |
232. “Con người tam phân” xuất hiện tại biệt ngã hóa trong giống dân gốc thứ ba là con người như Tam Nguyên Tinh Thần (điều này y đã là trước khi y là “con người”), con người như phàm ngã (ít nhất là ở dạng phôi thai), và con người như linh hồn đã được biệt ngã hóa trên cõi thượng trí. |
|
233. He could also be called “triple natured” in the lower sense because he possesses not only a physical permanent atom and an astral permanent atom but an individualized mind through the angelically stimulated mental unit. |
233. Y cũng có thể được gọi là “tam phân” theo nghĩa thấp hơn vì y không chỉ sở hữu một nguyên tử trường tồn hồng trần và một nguyên tử trường tồn cảm dục mà còn có một trí tuệ đã được biệt ngã hóa thông qua đơn vị hạ trí được các thiên thần kích thích. |
|
c. The triads in the causal bodies of any self-conscious unit. |
c. Các tam nguyên trong các thể nguyên nhân của bất kỳ đơn vị ngã thức nào. |
|
234. Note in the following excerpt a reference which clarifies the existence of the “triads in the casual body of any self-conscious unit” |
234. Hãy lưu ý trong đoạn trích sau một dẫn chiếu làm sáng tỏ sự tồn tại của “các tam nguyên trong thể nguyên nhân của bất kỳ đơn vị ngã thức nào” |
|
the fourth kingdom in nature makes its appearance on the physical plane and the Triads are reflected on the mental plane in the causal bodies to be found thereon. (TCF 694-695) |
giới thứ tư trong thiên nhiên xuất hiện trên cõi hồng trần và các Tam nguyên được phản chiếu trên cõi trí trong các thể nguyên nhân được tìm thấy ở đó. (TCF 694-695) |
|
235. If we study these three related lines of force we will see that the spiritual triads (the “permanent triads”) are involved in each example. |
235. Nếu chúng ta nghiên cứu ba đường lực liên hệ này, chúng ta sẽ thấy rằng các Tam nguyên tinh thần (các “tam nguyên trường tồn”) đều liên quan trong mỗi ví dụ. |
|
These building devas [closely allied, we are told, with the Solar Angels] are the ones who take up the sound as the Ego sends it forth through certain of the transmitting deva agencies, and by the vibration which this sets up they drive into activity the surrounding deva essence in their two groups: |
Các thiên thần kiến tạo [như chúng ta được cho biết, có liên hệ mật thiết với các Thái dương Thiên Thần] là những vị tiếp nhận âm thanh khi Chân ngã phát nó ra qua một số tác nhân thiên thần truyền dẫn nhất định, và bằng rung động do điều này tạo nên họ thúc đẩy vào hoạt động tinh chất thiên thần xung quanh trong hai nhóm của chúng: |
|
236. We must remind ourselves that the “building devas” (we have been speaking of “the very highest type of building devas”) are not the “transmitting deva agencies”—the microcosmic “transmitters of the word”. |
236. Chúng ta phải tự nhắc mình rằng “các thiên thần kiến tạo” (chúng ta đã nói về “loại thiên thần kiến tạo cao nhất”) không phải là “các tác nhân thiên thần truyền dẫn”—các “tác nhân truyền dẫn linh từ” vi mô. |
|
237. The devas we are now discussing are those who are related most closely to the permanent atoms.. They seem to have a first ray function as the drive into activity the surrounding deva essence in two groups. They selectively drive the lesser devas through the power of vibration. And yet, they are also magnetic (as we learn elsewhere), gathering and aggregating substance around the lower permanent atoms. |
237. Các thiên thần mà hiện nay chúng ta đang bàn đến là những vị liên hệ mật thiết nhất với các nguyên tử trường tồn. Dường như họ có một chức năng cung một khi họ thúc đẩy tinh chất thiên thần xung quanh vào hoạt động trong hai nhóm. Họ thúc đẩy có chọn lọc các thiên thần nhỏ hơn bằng quyền năng của rung động. Tuy nhiên, họ cũng có tính từ tính (như chúng ta biết ở nơi khác), thu hút và kết tập chất liệu quanh các nguyên tử trường tồn thấp. |
|
238. These high building devas seem to have a driving influence just as Vulcan has. Vulcan is a first ray planet with great building powers (as its inner rays seem to be on the building line), but also the magnetic Jupiterian and Venusian influence. |
238. Các thiên thần kiến tạo cao này dường như có một ảnh hưởng thúc đẩy giống như Vulcan. Vulcan là một hành tinh cung một với những quyền năng kiến tạo lớn lao (vì các cung nội tại của nó dường như thuộc tuyến kiến tạo), nhưng cũng có ảnh hưởng từ tính kiểu Sao Mộc và Sao Kim. |
|
239. In this case, the term “deva essence” (as here used) does not only mean ‘passive deva substance, for it includes “those who build the form”—not only those who are built into the form. Those builders (the third group discussed above) who aggregate and mould are included. |
239. Trong trường hợp này, thuật ngữ “tinh chất thiên thần” (như được dùng ở đây) không chỉ có nghĩa là chất liệu thiên thần ‘thụ động, vì nó bao gồm cả “những vị xây dựng hình tướng”—không chỉ những gì được xây vào trong hình tướng. Những đấng kiến tạo ấy (nhóm thứ ba được bàn ở trên), những vị kết tập và tạo khuôn, đều được bao gồm. |
|
240. The term “deva essence” is perhaps a little confusing as it embraces not only the “building essence” which is built into form, but also some of the lower “builders—i.e., the members of the third group of devas (discussed above) who respond to the “initial vibration” (of the second group) which is set up in response to the transmitted “note” of the first group. |
240. Thuật ngữ “tinh chất thiên thần” có lẽ hơi gây lẫn lộn vì nó không chỉ bao gồm “tinh chất kiến tạo” được xây vào trong hình tướng, mà còn bao gồm một số “đấng kiến tạo” thấp hơn—tức là các thành viên của nhóm thiên thần thứ ba (được bàn ở trên), những vị đáp ứng với “rung động khởi đầu” (của nhóm thứ hai), rung động được thiết lập để đáp ứng với “âm điệu” được truyền đi của nhóm thứ nhất. |
|
241. Here is a reference which helps us distinguish the term “building essence” from the more general term “deva essence”. |
241. Đây là một dẫn chiếu giúp chúng ta phân biệt thuật ngữ “tinh chất kiến tạo” với thuật ngữ tổng quát hơn là “tinh chất thiên thần”. |
|
The three grades of building essence which are built into forms through the activity of the above four groups are here briefly recognised as the mental substance, built into the mental body, the astral substance, built into the astral vehicle and the matter of the physical body. (TCF 937) |
Ba cấp độ của tinh chất kiến tạo được xây vào trong các hình tướng qua hoạt động của bốn nhóm trên đây được nhìn nhận ngắn gọn ở đây là chất liệu trí tuệ được xây vào thể trí, chất liệu cảm dục được xây vào vận cụ cảm dục và vật chất của thể xác. (TCF 937) |
|
242. We continue in our discussion of the groups of devas who are driven into activity by this “highest group of building devas”—i.e., the ones who are most connected with magnetic power (and, apparently, driving power) of the mental unit, astral permanent atom and physical permanent atom—sustaining the integrity of these tiny focal points of power, vitalizing them and imbuing them with ray quality as needed according to instruction by the Ego. |
242. Chúng ta tiếp tục cuộc thảo luận về các nhóm thiên thần bị thúc đẩy vào hoạt động bởi “nhóm thiên thần kiến tạo cao nhất” này”—tức là những vị liên hệ nhiều nhất với quyền năng từ tính (và dường như cả quyền năng thúc đẩy) của đơn vị hạ trí, nguyên tử trường tồn cảm dục và nguyên tử trường tồn hồng trần—duy trì tính toàn vẹn của các tiêu điểm quyền năng cực nhỏ này, tiếp sinh lực cho chúng và thấm nhuần chúng bằng phẩm tính cung khi cần, theo chỉ thị của Chân ngã. |
|
a. Those who build the form. |
a. Những vị xây dựng hình tướng. |
|
243. These are the lesser builders in a number of varieties, one major variety for each of the four personality vehicles. |
243. Đây là các vị tiểu kiến tạo thuộc nhiều loại, với một loại chính cho mỗi một trong bốn vận cụ của phàm ngã. |
|
244. These include those who further aggregate and mould into form the substance gathered by the second group, They are manipulators of substance and build it into specified forms. |
244. Những vị này bao gồm những vị tiếp tục kết tập và tạo khuôn thành hình tướng chất liệu do nhóm thứ hai thu hút lại. Họ là những vị thao tác chất liệu và xây nó vào các hình tướng được chỉ định. |
|
b. Those who are built into the form. |
b. Những gì được xây vào trong hình tướng. |
|
245. These are the “building essences”. They are not elementals, per se. They are “elemental essence”. |
245. Đây là các “tinh chất kiến tạo”. Chính chúng không phải là các hành khí. Chúng là “Tinh chất hành khí”. |
|
246. Are we clear now: |
246. Giờ đây chúng ta đã rõ chưa: |
|
a. There are transmitting devas |
a. Có các thiên thần truyền dẫn |
|
b. There are magnetic building devas associated with the mental unit and lower permanent atoms |
b. Có các thiên thần kiến tạo từ tính liên kết với đơn vị hạ trí và các nguyên tử trường tồn thấp |
|
c. There are aggregating, moulding builders who build “building essence” into form, under the impulsion of the transmitters and the devas associated with the members of the atomic triangle, |
c. Có các đấng kiến tạo kết tập, nắn khuôn, những vị xây dựng “tinh chất kiến tạo” thành hình tướng, dưới sự thúc đẩy của các vị truyền dẫn và các thiên thần liên kết với các thành phần của tam giác nguyên tử, |
|
d. And, there is that which is built into form—“building essence”, variously described throughout these pages. |
d. Và có cái được xây vào trong hình tướng—“tinh chất kiến tạo”, được mô tả theo nhiều cách khác nhau xuyên suốt các trang này. |
|
They [the builders associated with the mental unit and lower permanent atoms] only affect those of analogous vibration. |
Các vị ấy [các đấng kiến tạo liên kết với đơn vị hạ trí và các nguyên tử trường tồn thấp] chỉ tác động đến những gì có rung động tương tự. |
|
247. The driving (and magnetic) activity is accomplished selectively through the power of vibration. |
247. Hoạt động thúc đẩy (và từ tính) được thực hiện một cách chọn lọc thông qua quyền năng của rung động. |
|
248. We are saying that the highest group of building devas has a driving effect upon those devas above who are called “those who build the form” and “those who are built into the form”. They are able to do this because of the vibration (within themselves) set up by the transmitting devas who have received that impulsed sound or note from the Ego. |
248. Chúng ta đang nói rằng nhóm thiên thần kiến tạo cao nhất có tác động thúc đẩy lên những thiên thần ở trên được gọi là “những vị xây dựng hình tướng” và “những vị được xây vào trong hình tướng”. Họ có thể làm điều này nhờ rung động (bên trong chính họ) được thiết lập bởi các thiên thần truyền dẫn, những vị đã tiếp nhận âm thanh hay âm điệu được thúc đẩy đó từ Chân ngã. |
|
The stages of the building of any of the four forms through which lower man (the Quaternary) functions, follow exactly analogous stages to the building of the dense physical body, for instance, of a planet, or of a solar system. |
Các giai đoạn xây dựng bất kỳ một trong bốn thể nào mà qua đó phàm nhân thấp (Bộ Tứ) hoạt động, tuân theo chính xác những giai đoạn tương tự với việc xây dựng thể xác đậm đặc, chẳng hạn, của một hành tinh, hay của một hệ mặt trời. |
|
249. DK speaks of the logical nature of the building process. |
249. Chân sư DK nói về bản chất hợp lý của tiến trình kiến tạo. |
|
250. We are speaking of the building of the “four forms through which the lower man…functions”. |
250. Chúng ta đang nói về việc xây dựng “bốn thể mà qua đó phàm nhân thấp… hoạt động”. |
|
251. We have already spoken above of the sequential yet overlapping procedure in this type of building. |
251. Ở trên chúng ta đã nói về thủ tục tuần tự nhưng chồng lấn trong loại kiến tạo này. |
|
252. Presumably, each vehicle will pass through its own type of conception, growth, coordination, organization, utilization and disintegration. |
252. Có lẽ, mỗi vận cụ sẽ trải qua loại thụ thai, tăng trưởng, phối hợp, tổ chức, sử dụng và tan rã riêng của nó. |
|
This can be traced all the way from the nebulous and chaotic stages through the fiery to the solid, or to the relatively solid where a subtle body is concerned. |
Điều này có thể được truy nguyên suốt từ các giai đoạn tinh vân và hỗn loạn, qua giai đoạn rực lửa, đến giai đoạn rắn chắc, hay đến mức rắn chắc tương đối khi liên quan đến một thể vi tế. |
|
253. DK gives us some idea of what He means. There is progress from a nebulous and chaotic stage, through a fiery stage, to a more condensed stage varying in degree of solidity. |
253. Chân sư DK cho chúng ta một vài ý niệm về điều Ngài muốn nói. Có sự tiến triển từ một giai đoạn tinh vân và hỗn loạn, qua một giai đoạn rực lửa, đến một giai đoạn cô đặc hơn với mức độ rắn chắc khác nhau. |
|
254. Earlier in the book when discussing Alchemy, we examined some of these stages and this would be a good time to review what was there given. (cf. TCF 476-477, 479) |
254. Trước đó trong sách, khi bàn đến thuật luyện kim, chúng ta đã khảo sát một số giai đoạn này và đây là lúc thích hợp để ôn lại điều đã được trình bày ở đó. (xem TCF 476-477, 479) |
|
There is no need for us further to enlarge. H. P. B. has outlined these stages in the Secret Doctrine,86 [S.D., I, 279, 280] and they have been dealt with in an earlier part of this Treatise. |
Chúng ta không cần khai triển thêm nữa. H. P. B. đã phác họa các giai đoạn này trong Giáo Lý Bí Nhiệm,86 [S.D., I, 279, 280] và chúng đã được bàn đến trong một phần trước của bộ Luận này. |
|
255. We can study the sections of alchemy for a more detailed sequence. |
255. Chúng ta có thể nghiên cứu các phần về thuật luyện kim để có một trình tự chi tiết hơn. |
|
We have dealt at some length already with the work [Page 941] of the transmitting devas upon the three planes in the three worlds, |
Chúng ta đã bàn khá dài về công việc [Page 941] của các thiên thần truyền dẫn trên ba cõi trong ba cõi thấp, |
|
256. Transmitting devas are found on all three planes of the three personality vehicles, though on the mental plane they are found on the fourth subplane rather than the first. |
256. Các thiên thần truyền dẫn hiện diện trên cả ba cõi của ba vận cụ phàm ngã, dù trên cõi trí chúng được tìm thấy ở cõi phụ thứ tư chứ không phải cõi phụ thứ nhất. |
|
and with that of the devas connected with those relatively permanent focal points—the permanent atoms within the causal periphery. |
và với công việc của các thiên thần liên kết với những tiêu điểm tương đối trườngtồn ấy—các nguyên tử trường tồn bên trong chu vi nhân thể. |
|
257. So, two types of devas are here listed: |
257. Vì vậy, ở đây có hai loại thiên thần được liệt kê: |
|
a. The transmitting devas |
a. Các thiên thần truyền dẫn |
|
b. The devas connected with the permanent atoms |
b. Các thiên thần liên kết với các nguyên tử trường tồn |
|
We can now consider the group of builders [a third group] who, responding to the note of the transmitting agencies and to the initial vibration of the second group of builders concerned with the triple lower self, begin the work of aggregating and moulding the living substance necessary for egoic manifestation upon the lower planes. |
Giờ đây chúng ta có thể xem xét nhóm các đấng kiến tạo [một nhóm thứ ba], những vị, đáp ứng với âm điệu của các tác nhân truyền dẫn và với rung động khởi đầu của nhóm đấng kiến tạo thứ hai liên quan đến phàm ngã tam phân, bắt đầu công việc kết tập và nắn khuôn chất liệu sống cần thiết cho sự biểu hiện của chân ngã trên các cõi thấp. |
|
258. We have inserted this section of text above where it was needed to elucidate other points. In short we are now about to deal with another group of builders. In a way, all devas are to be called “builders” even if they are transmitters. |
258. Chúng ta đã chèn đoạn văn này ở trên tại chỗ cần thiết để làm sáng tỏ những điểm khác. Tóm lại, giờ đây chúng ta sắp bàn đến một nhóm đấng kiến tạo khác. Theo một nghĩa nào đó, mọi thiên thần đều có thể được gọi là “đấng kiến tạo” ngay cả khi họ là những vị truyền dẫn. |
|
We have seen that the first three stages of the egoic work are: |
Chúng ta đã thấy rằng ba giai đoạn đầu của công việc chân ngã là: |
|
259. From what is said below, these three stages are all part of one preliminary or preparatory stage which does not end in manifestation. |
259. Từ những gì được nói dưới đây, ba giai đoạn này đều là một phần của một giai đoạn sơ khởi hay chuẩn bị, chưa kết thúc trong sự biểu hiện. |
|
260. DK is recapitulating— |
260. Chân sư DK đang tóm lược lại— |
|
1. The sounding of the appropriate note, which note is indicative of man’s place in evolution, and of the nature of his “psyche,” or Ego. |
1. Sự xướng lên âm điệu thích hợp, âm điệu này biểu thị vị trí của con người trong tiến hoá, và bản chất của “psyche” hay Chân ngã của y. |
|
261. This is the note of the Ego. It indicates the quality of the man and the type of creativity in which he will engages as he seeks expression. |
261. Đây là âm điệu của Chân ngã. Nó biểu thị phẩm tính của con người và loại sáng tạo mà y sẽ dấn thân vào khi tìm cách biểu lộ. |
|
262. For interesting information on the sounding of this note, see LOM, 19-21. |
262. Muốn có thông tin thú vị về việc xướng lên âm điệu này, xem LOM, 19-21. |
|
2. The transmission of this note by the solar Angel, |
2. Sự truyền đạt âm điệu này bởi Thái dương Thiên Thần, |
|
263. The “solar Angel” transmits this note but it is via the “transmitters of the word” that this transmission occurs. |
263. “Thái dương Thiên Thần” truyền đạt âm điệu này, nhưng sự truyền đạt ấy diễn ra thông qua “những vị truyền dẫn linh từ”. |
|
and the three groups of devas connected with the three permanent atoms. |
và ba nhóm thiên thần liên kết với ba nguyên tử trường tồn. |
|
264. The three groups of devas connected with the three permanent atoms are building devas (and they come in two varieties—higher and lower) They are not transmitters. Sometimes, as well, their building function is not so much emphasized as their gathering and aggregating function. |
264. Ba nhóm thiên thần liên kết với ba nguyên tử trường tồn là các thiên thần kiến tạo (và họ có hai loại—cao và thấp). Họ không phải là những vị truyền dẫn. Đôi khi, chức năng kiến tạo của họ không được nhấn mạnh bằng chức năng thu gom và kết tập của họ. |
|
3. The vibration set up within these atoms which is in line with the note sounded, |
3. Rung động được thiết lập bên trong các nguyên tử này, phù hợp với âm điệu đã được xướng lên, |
|
265. The permanent atoms vibrate in a certain way according to the nature of the note sounded by the Ego and transmitted by the “transmitters of the word”. |
265. Các nguyên tử trường tồn rung động theo một cách nhất định tùy theo bản chất của âm điệu do Chân ngã xướng lên và được truyền đạt bởi “những vị truyền dẫn linh từ”. |
|
266. The transmitted note or word, however, is passed through the devas who are closely associated with the permanent atoms. |
266. Tuy nhiên, âm điệu hay linh từ được truyền đạt ấy được chuyển qua các thiên thần có liên hệ mật thiết với các nguyên tử trường tồn. |
|
267. We have seen over and again that a “vibration [is] set up” in this second group of devas. |
267. Chúng ta đã thấy lặp đi lặp lại rằng một “rung động [được] thiết lập” trong nhóm thiên thần thứ hai này. |
|
and which becomes so strong as to make itself felt in the surrounding deva substance, thus awakening response. |
và trở nên mạnh đến mức làm cho nó được cảm nhận trong chất liệu thiên thần chung quanh, nhờ đó đánh thức sự đáp ứng. |
|
268. The original vibration or note having been set up within the permanent atoms and passed on impresses the surrounding “deva substance”. |
268. Rung động hay âm điệu nguyên thủy, sau khi được thiết lập trong các nguyên tử trường tồn và được truyền đi, sẽ gây ấn tượng lên “chất liệu thiên thần” chung quanh. |
|
269. The term “deva substance”, in this context, is generic and includes, we may infer, not only passive building essence and negative substance, but certain lesser builders (manipulating devas—aggregators and moulders) who continue the process of aggregating, coordinating, moulding and condensing the body of building essence which has been gathered magnetically through the work of the highest building devas working through the mental unit and two lower permanent atoms. |
269. Thuật ngữ “chất liệu thiên thần”, trong ngữ cảnh này, mang tính tổng quát và, như chúng ta có thể suy ra, không chỉ bao gồm tinh chất kiến tạo thụ động và chất liệu âm tính, mà còn bao gồm một số vị tiểu kiến tạo nào đó (các thiên thần thao tác—những vị kết tập và nắn khuôn) tiếp tục tiến trình kết tập, phối hợp, nắn khuôn và cô đặc thể của tinh chất kiến tạo đã được thu gom bằng từ tính qua công việc của các thiên thần kiến tạo cao nhất hoạt động thông qua đơn vị hạ trí và hai nguyên tử trường tồn thấp. |
|
These may be considered as the three primary stages, |
Những điều này có thể được xem là ba giai đoạn sơ cấp, |
|
270. Transmission, magnetic gathering, moulding/manipulating… |
270. Truyền dẫn, thu gom bằng từ tính, nắn khuôn/thao tác… |
|
271. They are primary, because they do not yet lead to concrete manifestation. |
271. Chúng là sơ cấp, vì chúng chưa dẫn đến sự biểu hiện cụ thể. |
|
and we find demonstrated (in connection with the microcosm) the three factors of sound, colour and vibration, which, under the Law of Analogy, reflect the three aspects of the macrocosm. |
và chúng ta thấy được chứng minh (liên quan đến tiểu thiên địa) ba yếu tố âm thanh, màu sắc và rung động, những yếu tố, dưới định luật tương đồng, phản chiếu ba phương diện của đại thiên địa. |
|
272. Does DK mean to compare the three stages with the three factors here listed—sound, colour and vibration? |
272. Chân sư DK có muốn so sánh ba giai đoạn với ba yếu tố được liệt kê ở đây—âm thanh, màu sắc và rung động—hay không? |
|
273. If so, it is difficult to know in what order we should arrange these three. |
273. Nếu vậy, thật khó biết chúng ta nên sắp xếp ba yếu tố này theo thứ tự nào. |
|
274. If the note is sounded first, it would seem that sound should be the first factor. |
274. Nếu âm điệu được xướng lên trước tiên, thì dường như âm thanh phải là yếu tố thứ nhất. |
|
275. We are told that a vibration corresponding to the original note is set up within the permanent atoms. In this case, the factor of vibration correlates with that group of building devas (the second group) closely associated with the mental unit and lower permanent atoms. |
275. Chúng ta được bảo rằng một rung động tương ứng với âm điệu nguyên thủy được thiết lập trong các nguyên tử trường tồn. Trong trường hợp này, yếu tố rung động tương ứng với nhóm thiên thần kiến tạo ấy (nhóm thứ hai) có liên hệ mật thiết với đơn vị hạ trí và các nguyên tử trường tồn thấp. |
|
276. This leaves colour for the final stage of concretization and, so we see, “veiling” of the original impulse through a cloak of building essence. The term “colour” signifies a veil. |
276. Điều này để lại màu sắc cho giai đoạn cuối của sự cụ thể hóa và, như chúng ta thấy, sự “che phủ” xung lực nguyên thủy bằng một lớp áo của tinh chất kiến tạo. Thuật ngữ “màu sắc” biểu thị một bức màn. |
|
277. The type of arrangement suggested is possible, and yet vibration, sound and color are one and the same. They, really, are inseparable from each other. If any one of these factors is in operation, the other two are as well. |
277. Kiểu sắp xếp được gợi ý này là có thể, tuy nhiên rung động, âm thanh và màu sắc là một và cùng một điều. Thật ra, chúng không thể tách rời nhau. Nếu một trong các yếu tố này đang hoạt động, thì hai yếu tố kia cũng vậy. |
|
278. Still the order suggested seems reasonable (sound, vibration color) even though it is different from the order which so often appears in TCF—vibration, light, sound, color. Biblically, sound precedes light. At least color uphold the final (and most concrete?) position. |
278. Tuy nhiên, thứ tự được gợi ý dường như hợp lý (âm thanh, rung động, màu sắc) dù nó khác với thứ tự thường xuất hiện trong TCF—rung động, ánh sáng, âm thanh, màu sắc. Theo Kinh Thánh, âm thanh đi trước ánh sáng. Ít nhất màu sắc vẫn giữ vị trí cuối cùng (và cụ thể nhất?). |
|
Here too is found a resemblance to the work of the first three Sephiroths of the Kabbalah,—the primary stage of manifestation finding its dim reflection in the work of the Ego in the three worlds. |
Ở đây cũng tìm thấy một sự tương tự với công việc của ba Sephiroth đầu tiên của Kabbalah,—giai đoạn sơ cấp của sự biểu hiện tìm thấy sự phản chiếu mờ nhạt của nó trong công việc của Chân ngã trong ba cõi giới. |
|
279. There are three stages in the process and DK is suggesting a correlation with the functions of the first three Sephiroth. |
279. Có ba giai đoạn trong tiến trình và Chân sư DK đang gợi ý một sự tương quan với các chức năng của ba Sephiroth đầu tiên. |
|
280. But what are the “first three Sephiroth”? Is it possible that DK is working His way upwards from below? |
280. Nhưng “ba Sephiroth đầu tiên” là gì? Có thể nào Chân sư DK đang đi từ dưới lên trên không? |
|
281. Or is He considering a reflection of the highest three Sephiroth is relatively low building processes within the personality? |
281. Hay Ngài đang xét đến một sự phản chiếu của ba Sephiroth cao nhất trong các tiến trình kiến tạo tương đối thấp bên trong phàm ngã? |
|
282. The stage of manifestation is usually considered the fourth and most concrete stage. |
282. Giai đoạn biểu hiện thường được xem là giai đoạn thứ tư và cụ thể nhất. |
|
283. We note the use of the word “resemblance”. We should consider the degree of rigor to be found in the three words “correspondence”, “analogy”, “resemblance”. It is descending sequence. |
283. Chúng ta lưu ý việc dùng từ “sự tương tự”. Chúng ta nên cân nhắc mức độ chặt chẽ có trong ba từ “tương ứng”, “tương đồng”, “tương tự”. Đó là một chuỗi giảm dần. |
|
The second stage now takes place, in which the work of building proceeds [through which set of builders?] until the microcosm, man, makes his appearance upon the physical plane. |
Giai đoạn thứ hai giờ đây diễn ra, trong đó công việc kiến tạo tiếp tục [thông qua tập hợp đấng kiến tạo nào?] cho đến khi tiểu thiên địa, con người, xuất hiện trên cõi hồng trần. |
|
284. In the stages of creation as here presented, the first or primary stage (consisting of three parts) is entirely one of preparation. |
284. Trong các giai đoạn sáng tạo như được trình bày ở đây, giai đoạn thứ nhất hay sơ cấp (gồm ba phần) hoàn toàn là giai đoạn chuẩn bị. |
|
285. The second stage is the stage of concrete building leading to manifestation or appearance on the physical plane. |
285. Giai đoạn thứ hai là giai đoạn kiến tạo cụ thể dẫn đến sự biểu hiện hay xuất hiện trên cõi hồng trần. |
|
286. The third stage follows birth, and is correlated more with the second aspect than with the third—the emergence of the psychic nature through the form. |
286. Giai đoạn thứ ba theo sau sự sinh ra, và tương quan nhiều hơn với phương diện thứ hai hơn là phương diện thứ ba—sự xuất hiện của bản chất tâm linh qua hình tướng. |
|
This is succeeded by a third stage of evolution, in which the psychic nature of man is to demonstrate through the medium of the [Page 942] created forms. |
Tiếp theo đó là giai đoạn tiến hoá thứ ba, trong đó bản chất tâm linh của con người sẽ biểu lộ qua trung gian của các [Page 942] hình tướng được tạo ra. |
|
287. The form has appeared on the physical plane. |
287. Hình tướng đã xuất hiện trên cõi hồng trần. |
|
288. The form is no longer the main objective of the creative process. Rather, it is the adjustment of the form to the psychic nature so that the psychic nature or soul can express itself ever more fully through the created forms. |
288. Hình tướng không còn là mục tiêu chính của tiến trình sáng tạo nữa. Đúng hơn, đó là sự điều chỉnh hình tướng theo bản chất tâm linh để bản chất tâm linh hay linh hồn có thể biểu lộ ngày càng đầy đủ hơn qua các hình tướng được tạo ra. |
|
Then [when the foregoing happens] the next two groups of Sephiroth are seen reproduced in man. |
Sau đó [khi điều nói trên xảy ra] hai nhóm Sephiroth kế tiếp được thấy tái hiện trong con người. |
|
289. It would seem that DK is speaking of groups of three. |
289. Dường như Chân sư DK đang nói đến các nhóm gồm ba. |
|
290. If DK is working His way upward, the Sephiroth which symbolize the psychic nature (which would include the Ego) are added to the “primary” Sephiroth which symbolize the forms in the three worlds. |
290. Nếu Chân sư DK đang đi từ dưới lên, thì các Sephiroth tượng trưng cho bản chất tâm linh (bao gồm cả Chân ngã) được thêm vào các Sephiroth “sơ cấp” tượng trưng cho các hình tướng trong ba cõi giới. |
|
291. But He could also be working His way downward, moving towards the manifestation of first psyche, and then Spirit through the created form. |
291. Nhưng Ngài cũng có thể đang đi từ trên xuống, tiến tới sự biểu hiện trước hết của psyche, rồi đến Tinh thần qua hình tướng được tạo ra. |
|
292. Sephiroth can be demonstrated as three triads, and one final sphere of outer manifestation, Malkuth. |
292. Sephiroth có thể được biểu hiện như ba tam nguyên tinh thần, và một khối cầu cuối cùng của sự biểu hiện bên ngoài, Malkuth. |
|
He is demonstrated to be nine from another angle but we are only concerned in this section with the builders of the form. |
Từ một góc độ khác, y được biểu hiện là chín, nhưng trong phần này chúng ta chỉ quan tâm đến các đấng kiến tạo của hình tướng. |
|
293. If we are working our way upward, and if we extend the thought to man as a nine, we must include the spiritual triad and eventually the Monad itself, Kether. |
293. Nếu chúng ta đang đi từ dưới lên, và nếu mở rộng tư tưởng này đến con người như một số chín, chúng ta phải bao gồm Tam Nguyên Tinh Thần và cuối cùng là chính Chân thần, Kether. |
|
294. It is legitimate to work one’s way up or down the Tree of Life. To work upward is to work in the direction of liberation. To work downward is to bring about manifestation of the highest spheres in the lowest. |
294. Việc đi lên hay đi xuống trên Cây Sự Sống đều là chính đáng. Đi lên là đi theo hướng giải thoát. Đi xuống là đem lại sự biểu hiện của các khối cầu cao nhất trong khối cầu thấp nhất. |
|
These groups of builders are four in number: |
Các nhóm đấng kiến tạo này có bốn nhóm: |
|
1. The builders of the mental body. |
1. Các đấng kiến tạo của thể trí. |
|
2. The builders of the astral body. |
2. Các đấng kiến tạo của thể cảm dục. |
|
3. The builders of the etheric body. |
3. Các đấng kiến tạo của thể dĩ thái. |
|
4. The builders of the dense physical. |
4. Các đấng kiến tạo của thể xác đậm đặc. |
|
295. Presumably, we are not talking about the very highest groups of builders, each of which is associated with one of the permanent atoms or the mental unit. We are speaking of the succeeding group (called above quite frequently, the third group) who do much by way of manipulating the building essence so that it becomes the personality vehicles listed above. |
295. Có lẽ, chúng ta không nói về các nhóm đấng kiến tạo cao nhất, mỗi nhóm trong số đó liên kết với một nguyên tử trường tồn hay đơn vị hạ trí. Chúng ta đang nói về nhóm kế tiếp (ở trên khá thường được gọi là nhóm thứ ba), những vị làm rất nhiều việc theo cách thao tác tinh chất kiến tạo để nó trở thành các vận cụ phàm ngã được liệt kê ở trên. |
|
Each of these groups can be subdivided into four or seven or three, according to the plane concerned. |
Mỗi nhóm trong số này có thể được phân chia thành bốn, bảy hay ba, tùy theo cõi liên quan. |
|
296. This is an interesting statement. Let us see if we can understand its meaning. |
296. Đây là một phát biểu thú vị. Hãy xem liệu chúng ta có thể hiểu ý nghĩa của nó không. |
|
297. If each of the groups of builders can be divided into four, seven or three, would this not apply to every plane, because each of these groups of builders can be found only on one plane (if we separate the etheric and dense physical planes and call them two). |
297. Nếu mỗi nhóm đấng kiến tạo có thể được chia thành bốn, bảy hay ba, thì điều này chẳng phải sẽ áp dụng cho mọi cõi sao, bởi vì mỗi nhóm đấng kiến tạo này chỉ có thể được tìm thấy trên một cõi mà thôi (nếu chúng ta tách cõi dĩ thái và cõi hồng trần đậm đặc ra và gọi chúng là hai). |
|
298. Assuming that we have seven subplanes to work with, if dividing these groups into seven, there would be one sub-group for each subplane. |
298. Giả sử chúng ta có bảy cõi phụ để làm việc, nếu chia các nhóm này thành bảy, thì sẽ có một phân nhóm cho mỗi cõi phụ. |
|
299. If divided into three, there are various ways of doing so: 1—1—5; 3—1—3; 2—2—3; |
299. Nếu chia thành ba, có nhiều cách khác nhau để làm điều đó: 1—1—5; 3—1—3; 2—2—3; |
|
300. If divided into four: 1—2—2—2; 2—2—2—1. |
300. Nếu chia thành bốn: 1—2—2—2; 2—2—2—1. |
|
301. Of course, if we look closely at the planes or portions of planes involved we shall have: |
301. Dĩ nhiên, nếu chúng ta xem xét kỹ các cõi hay các phần của cõi liên quan, chúng ta sẽ có: |
|
a. Mental plane—four subplanes |
a. Cõi trí—bốn cõi phụ |
|
b. Astral plane—seven subplanes |
b. Cõi cảm dục—bảy cõi phụ |
|
c. Etheric plane—four subplanes |
c. Cõi dĩ thái—bốn cõi phụ |
|
d. Dense physical plane—three subplanes |
d. Cõi hồng trần đậm đặc—ba cõi phụ |
|
302. So we definitely see the numbers mentioned, four, seven and three. |
302. Vì vậy chúng ta rõ ràng thấy các con số được nêu ra: bốn, bảy và ba. |
|
303. We may have to interpret what DK says in another way. When He says “according to the plane concerned”, we may have to focus on the word “each”. Is it used correctly? Does He mean that every one of the four types of builders can be subdivided (all of them) into four and seven and three groupings? |
303. Có lẽ chúng ta phải diễn giải điều Chân sư DK nói theo một cách khác. Khi Ngài nói “tùy theo cõi liên quan”, có lẽ chúng ta phải tập trung vào từ “mỗi”. Từ này có được dùng đúng không? Ngài có ý nói rằng mỗi một trong bốn loại đấng kiến tạo đều có thể được phân chia (tất cả chúng) thành bốn, bảy và ba nhóm không? |
|
304. Or does He mean that the four groups of builders will naturally be divided according to the number of subplanes to be found on that plane on which they are expressing? There is some sense to this last solution, though if it is correct, the language used to indicate this method is not entirely clear. |
304. Hay Ngài muốn nói rằng bốn nhóm đấng kiến tạo sẽ tự nhiên được phân chia theo số lượng cõi phụ được tìm thấy trên cõi mà chúng đang biểu lộ? Cách giải thích sau này có phần hợp lý, dù nếu đúng thì ngôn ngữ được dùng để chỉ phương pháp này không hoàn toàn rõ ràng. |
|
Students must remember that matter from the two lowest subplanes of the physical and of the astral planes are never built into the human body as now constituted; |
Các đạo sinh phải nhớ rằng vật chất từ hai cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần và cõi cảm dục không bao giờ được xây vào thể người như hiện nay được cấu thành; |
|
305. This thought has been mentioned earlier in the book, and yet some possible contradictions exist. |
305. Tư tưởng này đã được nhắc đến trước đó trong sách, tuy nhiên vẫn có một số mâu thuẫn khả dĩ tồn tại. |
|
306. If we read the following reference how shall we interpret the words “sixth subplane”? |
306. Nếu chúng ta đọc đoạn trích dẫn sau, chúng ta sẽ diễn giải các từ “cõi phụ thứ sáu” như thế nào? |
|
Herein will be found one reason why men of a relatively low type of physical body, and having an astral body with some sixth subplane matter in it are responsive to higher things and have a spiritual aspiration. The influence emanating from the sixth subplane of the buddhic plane calls out a reciprocal response from the sixth subplane matter in other bodies, and the sixth principle of buddhi under the Law of Correspondences intensifies that vibration. (TCF 898) |
Chính trong đây có thể tìm thấy một lý do vì sao những người có một loại thể xác tương đối thấp, và có một thể cảm dục chứa một ít vật chất cõi phụ thứ sáu trong đó, lại đáp ứng với những điều cao cả hơn và có khát vọng tinh thần. Ảnh hưởng phát ra từ cõi phụ thứ sáu của cõi Bồ đề gọi ra một sự đáp ứng tương hỗ từ vật chất cõi phụ thứ sáu trong các thể khác, và nguyên khí thứ sáu của Bồ đề dưới Định luật Tương Ứng làm tăng cường rung động ấy. (TCF 898) |
|
307. At first, the meaning of this paragraph would seem straightforward, but, upon further examination, it is almost certain that DK means the sixth subplane from below, because the sixth subplane from above would have nothing to do with spiritual aspiration. In fact, it is “off limits” to the normal human being. |
307. Lúc đầu, ý nghĩa của đoạn này dường như khá rõ ràng, nhưng khi xem xét kỹ hơn, gần như chắc chắn rằng Chân sư DK muốn nói đến cõi phụ thứ sáu tính từ dưới lên, bởi vì cõi phụ thứ sáu tính từ trên xuống sẽ không liên quan gì đến khát vọng tinh thần. Thật ra, nó “nằm ngoài giới hạn” đối với con người bình thường. |
|
308. Yet, what about the correspondence on the buddhic plane? Is it really possible for man to touch the sixth subplane from below on the buddhic plane? When DK gives a list of siddhis or psychic powers for the buddhic plane, He does not even mention the sixth subplane from below because He says it concerns those whose degree is higher than that of an Adept! |
308. Tuy nhiên, còn sự tương ứng trên cõi Bồ đề thì sao? Liệu con người thật sự có thể chạm đến cõi phụ thứ sáu tính từ dưới lên trên cõi Bồ đề không? Khi Chân sư DK đưa ra một danh sách các siddhi hay năng lực thông linh của cõi Bồ đề, Ngài thậm chí còn không nhắc đến cõi phụ thứ sáu tính từ dưới lên vì Ngài nói nó liên quan đến những vị có cấp độ cao hơn cả một chân sư! |
|
309. So, then, maybe there is a connection between the sixth astral subplane (sixth from below) and the sixth buddhic subplane (sixth from above). This type of correspondence is also possible. |
309. Vậy thì, có lẽ có một mối liên hệ giữa cõi phụ cảm dục thứ sáu (thứ sáu từ dưới lên) và cõi phụ Bồ đề thứ sáu (thứ sáu từ trên xuống). Loại tương ứng này cũng có thể xảy ra. |
|
310. DK tells us that matter from the lowest two subplanes of the astral and physical plane are never built into the human body “as now constituted”. The last three words are of importance as they suggest that there may have been human beings, earlier in the evolutionary cycle, who had matter of the sixth and seventh subplanes of the astral plane built into their astral bodies, and the same for the physical body. |
310. Chân sư DK nói với chúng ta rằng vật chất từ hai cõi phụ thấp nhất của cõi cảm dục và cõi hồng trần không bao giờ được xây vào thể người “như hiện nay được cấu thành”. Ba từ cuối này rất quan trọng vì chúng gợi ý rằng có thể đã từng có những con người, trong giai đoạn sớm hơn của chu kỳ tiến hoá, có vật chất của cõi phụ thứ sáu và thứ bảy của cõi cảm dục được xây vào thể cảm dục của họ, và điều tương tự cũng đúng với thể xác. |
|
311. It must be obvious that there is a problem with the statement as it concerns the dense physical body. Do we not all have matter in the liquid state and in the dense mineral state built into our physical body? The answer must be “yes”. |
311. Hẳn phải rõ rằng có một vấn đề với phát biểu này khi nó liên quan đến thể xác đậm đặc. Chẳng phải tất cả chúng ta đều có vật chất ở trạng thái lỏng và ở trạng thái khoáng vật đậm đặc được xây vào thể xác của mình sao? Câu trả lời hẳn phải là “có”. |
|
312. So the only way to solve this problem is to redefine the nature of the human physical body. Perhaps the physical body, from the occult perspective (and at present) is considered to consist of matter of only the highest five etheric-physical subplanes. The etheric body, we have often been told, is the real physical body, and the gaseous layer is peculiarly associated with the ethers, but not with the liquid or dense physical subplanes. |
312. Vì vậy, cách duy nhất để giải quyết vấn đề này là xác định lại bản chất của thể xác con người. Có lẽ thể xác, từ quan điểm huyền bí học (và ở hiện tại), được xem là chỉ gồm vật chất của năm cõi phụ dĩ thái-hồng trần cao nhất. Chúng ta thường được bảo rằng thể dĩ thái là thể xác thực sự, và lớp khí có liên hệ đặc biệt với các dĩ thái, nhưng không liên hệ với các cõi phụ hồng trần lỏng hay đậm đặc. |
|
313. If this is the case, even if we seem to have the liquid state and the dense mineral state in our physical bodies, these states of matter, from the occult perspective, are not really parts of our real physical body. |
313. Nếu đúng như vậy, thì dù dường như chúng ta có trạng thái lỏng và trạng thái khoáng vật đậm đặc trong thể xác của mình, các trạng thái vật chất ấy, từ quan điểm huyền bí học, không thật sự là những phần của thể xác thực sự của chúng ta. |
|
314. Why does DK mention in this context the exclusion of the lower two subplanes. Does He want us to count in a new way the subplanes on which the building devas can work or create. If so— |
314. Vì sao Chân sư DK lại nhắc đến trong ngữ cảnh này việc loại trừ hai cõi phụ thấp hơn? Ngài có muốn chúng ta đếm theo một cách mới các cõi phụ mà trên đó các thiên thần kiến tạo có thể hoạt động hay sáng tạo không? Nếu vậy— |
|
a. Mental plane—four subplanes |
a. Cõi trí—bốn cõi phụ |
|
b. Astral plane—five subplanes (excluding the lower two) |
b. Cõi cảm dục—năm cõi phụ (loại trừ hai cõi thấp hơn) |
|
c. Etheric plane—four subplanes |
c. Cõi dĩ thái—bốn cõi phụ |
|
d. Dense physical plane—only one subplane (excluding the lower two) |
d. Cõi hồng trần đậm đặc—chỉ một cõi phụ (loại trừ hai cõi thấp hơn) |
|
315. All in all there are only fourteen subplanes on which the building and creative process can occur. Fourteen is an important number in the constitution of man. |
315. Tính chung lại chỉ có mười bốn cõi phụ mà trên đó tiến trình kiến tạo và sáng tạo có thể xảy ra. Mười bốn là một con số quan trọng trong cấu tạo của con người. |
|
it is of too low a vibration, and too coarse a grade for even the lowest type of men on earth at this time. |
nó có rung động quá thấp, và cấp độ quá thô trược ngay cả đối với loại người thấp nhất trên Trái Đất vào lúc này. |
|
316. The words “at this time” point in the same direction as, “as now constituted”. |
316. Các từ “vào lúc này” chỉ theo cùng một hướng như “như hiện nay được cấu thành”. |
|
317. This analysis does not take into consideration the possible physical subplanes even lower the liquid and dense-mineral subplanes. Such extremely dense physical subplanes are sometimes hinted. Could it be to these that DK is referring when speaking of matter which is of too coarse a grade even for the lowest type of men on earth at this time? |
317. Phân tích này không tính đến các cõi phụ hồng trần khả dĩ còn thấp hơn cả các cõi phụ lỏng và khoáng vật đậm đặc. Những cõi phụ hồng trần cực kỳ đậm đặc như thế đôi khi được ám chỉ. Có thể nào chính những cõi ấy là điều Chân sư DK đang nói đến khi đề cập đến loại vật chất quá thô trược ngay cả đối với loại người thấp nhất trên Trái Đất vào lúc này? |
|
It must be pointed out also that in the average man, the matter of some subplane will preponderate according to the depth of his nature and his place on the ladder of evolution. |
Cũng cần chỉ ra rằng trong con người trung bình, vật chất của một cõi phụ nào đó sẽ chiếm ưu thế tùy theo chiều sâu bản chất của y và vị trí của y trên nấc thang tiến hoá. |
|
318. As we consider this possibility, we must remember that the subplanes, themselves, are subdivided into seven, and so the vibratory distinctions between human beings has many levels on which to demonstrate. |
318. Khi xem xét khả năng này, chúng ta phải nhớ rằng bản thân các cõi phụ lại được phân chia thành bảy, và vì vậy các phân biệt về rung động giữa con người có nhiều cấp độ để biểu lộ. |
|
Just as each plane has its seven subplanes, so likewise each subplane can be subdivided, thus making forty-nine fires on every plane, or the three hundred and forty-three fires of the solar system. Herein can be found the clue to the mystery of the “fourth between the three” which has at times bewildered students of the occult records. (TCF 905-906) |
Cũng như mỗi cõi có bảy cõi phụ của nó, thì tương tự, mỗi cõi phụ cũng có thể được phân chia, do đó tạo thành bốn mươi chín ngọn lửa trên mỗi cõi, hay ba trăm bốn mươi ba ngọn lửa của hệ mặt trời. Chính trong đây có thể tìm thấy đầu mối cho huyền nhiệm của “cái thứ tư ở giữa bộ ba”, điều đôi khi đã làm bối rối các đạo sinh của các biên niên huyền bí. (TCF 905-906) |
|
319. The various rays and astrological factors are correlated with the various subplanes, and sub-subplanes, and so the astrological chart may given hints regarding subplane emphasis. |
319. Các cung khác nhau và các yếu tố chiêm tinh khác nhau tương quan với các cõi phụ và các cõi phụ của cõi phụ, vì vậy lá số chiêm tinh có thể đưa ra những gợi ý về sự nhấn mạnh nơi cõi phụ. |
|
320. By “depth of his nature”, we may assume that “depth” means “profundity” and not crudity. |
320. Bởi “chiều sâu bản chất của y”, chúng ta có thể giả định rằng “chiều sâu” có nghĩa là “sự thâm sâu” chứ không phải sự thô trược. |
|
321. A Master, we know, is possessed of vehicles which are made entirely of atomic subplane matter. The dense physical body is merely an accretion on the Master’s atomic etheric body—His real physical body, created through the power of Kriyashakti. |
321. Chúng ta biết rằng một Chân sư sở hữu các vận cụ được tạo thành hoàn toàn bằng vật chất cõi phụ nguyên tử. Thể xác đậm đặc chỉ đơn thuần là một sự bồi tụ lên thể dĩ thái nguyên tử của Chân sư—thể xác thực sự của Ngài, được tạo ra nhờ quyền năng của Kriyashakti. |
|
The “builders” of the human body work under the direction of one of the Lords of Karma from the lowest group. |
Các “đấng kiến tạo” của thể người hoạt động dưới sự chỉ đạo của một trong các Đấng Nghiệp Quả thuộc nhóm thấp nhất. |
|
322. Now we will be looking at the Supervisors of the builders who build the human being. |
322. Giờ đây chúng ta sẽ xem xét các Đấng Giám Sát của những đấng kiến tạo xây dựng con người. |
|
323. Since we are concerned with the human body (presumably the physical body, which is the lowest of the human bodies) it is natural that a Lord of Karma from the lowest group would be in charge. |
323. Vì chúng ta đang quan tâm đến thể người (có lẽ là thể xác, vốn là thể thấp nhất của con người), nên việc một Đấng Nghiệp Quả từ nhóm thấp nhất phụ trách là điều tự nhiên. |
|
324. However, the term “human body” may mean more than the human physical body. Sometimes, the entire personality is considered “body”. |
324. Tuy nhiên, thuật ngữ “thể người” có thể hàm ý nhiều hơn là thể người xác. Đôi khi, toàn bộ phàm ngã được xem là “thể”. |
|
325. When we speak of the “builders” of the human being, we must understand whether DK’s use of the term “builders” is precise or whether He is speaking in general—including transmitting devas as well as devas associated with the mental unit and lower two permanent atoms, as well as the still lower types of aggregating and moulding builders. |
325. Khi nói về các “đấng kiến tạo” của con người, chúng ta phải hiểu liệu cách Chân sư DK dùng thuật ngữ “đấng kiến tạo” có chính xác hay không, hay Ngài đang nói theo nghĩa tổng quát—bao gồm cả các thiên thần truyền dẫn cũng như các thiên thần liên kết với đơn vị hạ trí và hai nguyên tử trường tồn thấp, cũng như các loại đấng kiến tạo kết tập và nắn khuôn còn thấp hơn nữa. |
|
These Lords are to be found in three groups, |
Các Đấng này được tìm thấy trong ba nhóm, |
|
326. There are three types of Lords. We do not know how many of them there exist per group. |
326. Có ba loại Đấng. Chúng ta không biết mỗi nhóm có bao nhiêu vị. |
|
327. Remembering the idea of three trinities, are there three Lords in each of the three groups? |
327. Nhớ lại ý niệm về ba bộ ba, liệu có phải có ba Đấng trong mỗi một của ba nhóm không? |
|
and a Lord out of the third group has the work of superintending the builders of the human being on the three planes. |
và một Đấng từ nhóm thứ ba có công việc giám sát các đấng kiến tạo của con người trên ba cõi. |
|
328. Here we speak of the “human being on the three planes”. We are not speaking only of the dense physical body. |
328. Ở đây chúng ta nói về “con người trên ba cõi”. Chúng ta không chỉ nói về thể xác đậm đặc. |
|
329. In any case, one Karmic “Lord” from the lowest groups of Karmic Lords superintends the several types of builders who build the human body. |
329. Trong mọi trường hợp, một “Chúa Tể” Nghiệp Quả từ các nhóm thấp nhất của các Chúa Tể Nghiệp Quả giám sát nhiều loại đấng kiến tạo xây dựng thể người. |
|
330. We have discussed in some detail the nature of the builders of the human personality. |
330. Chúng ta đã bàn khá chi tiết về bản chất của các đấng kiến tạo của phàm ngã con người. |
|
331. Now we are looking at the Lords, presumably higher devas, who direct these building forces. |
331. Giờ đây chúng ta đang xem xét các Chúa Tể, có lẽ là các thiên thần cao cấp hơn, là những vị chỉ đạo các mãnh lực kiến tạo này. |
|
332. May we presume that a Lord from the two higher groups superintends the building of a man’s higher vehicles? |
332. Chúng ta có thể giả định rằng một Chúa Tể từ hai nhóm cao hơn giám sát việc xây dựng các vận cụ cao của con người chăng? |
|
Under Him |
Dưới quyền Ngài |
|
333. “a Lord out of the third group…” |
333. “một Chúa Tể từ nhóm thứ ba…” |
|
are to be found certain karmic agents, who again are divided into the following groups: |
có thể tìm thấy một số tác nhân nghiệp quả, và các vị này lại được chia thành những nhóm sau đây: |
|
334. This is the kind of organizational subdivision which is consistently found in the so-called “Department of Karma”. |
334. Đây là kiểu phân chia tổ chức nhất quán được thấy trong cái gọi là “Cơ quan Nghiệp Quả”. |
|
1. Three karmic agents responsible to the karmic Lords for the work on the three planes. |
1. Ba tác nhân nghiệp quả chịu trách nhiệm trước các Chúa Tể Nghiệp Quả về công việc trên ba cõi. |
|
335. One karmic “agent” for each plane—mental, astral and physical. |
335. Một “tác nhân” nghiệp quả cho mỗi cõi—cõi trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần. |
|
2. Five karmic Lords who work in close connection with the Manus of the various races, and who are responsible for the correct building of the varying race types. |
2. Năm Chúa Tể Nghiệp Quả làm việc trong sự liên hệ mật thiết với các Đức Manu của các nhân loại khác nhau, và chịu trách nhiệm về việc xây dựng đúng đắn các loại hình nhân loại khác nhau. |
|
336. Why five we may ask? Five is the number of Brahma and we are working within the Brahmic area of the cosmic physical plane—the eighteen lower subplanes. |
336. Tại sao lại là năm, chúng ta có thể hỏi? Năm là con số của Brahma và chúng ta đang hoạt động trong phạm vi Brahma của cõi hồng trần vũ trụ—mười tám cõi phụ thấp hơn. |
|
337. At the moment we know only of the Manus of the fourth and fifth races, but, perhaps, there are Manus or delegated officials from that department, who work with the various subraces. |
337. Hiện nay chúng ta chỉ biết về các Đức Manu của giống dân thứ tư và thứ năm, nhưng có lẽ có những Đức Manu hoặc các viên chức được ủy nhiệm từ bộ phận đó làm việc với các giống dân phụ khác nhau. |
|
338. If we consider that only in the third rootrace is the true human being produced, then numbering from three to seven, we have five rootraces. |
338. Nếu chúng ta xét rằng chỉ trong giống dân gốc thứ ba con người chân chính mới được tạo ra, thì đếm từ ba đến bảy, chúng ta có năm giống dân gốc. |
|
3. Karmic agents responsible for the subrace types of the present time. [Page 943] |
3. Các tác nhân nghiệp quả chịu trách nhiệm về các loại hình giống dân phụ của thời hiện tại. [Page 943] |
|
339. Yes, here it is. There are five sub-race karmic agents to deal with within the subraces of the fifth rootrace, and plans, it would seem, for the unfoldment of the sixth sub-race. |
339. Đúng vậy, ở đây là điều đó. Có năm tác nhân nghiệp quả của giống dân phụ để đề cập đến trong các giống dân phụ của giống dân gốc thứ năm, và dường như cũng có những kế hoạch cho sự khai mở của giống dân phụ thứ sáu. |
|
340. As well, there are many Atlantean racial forms still in existence and even some vestiges of the last sub-race of the Lemurian rootrace. |
340. Ngoài ra, vẫn còn nhiều hình tướng chủng tộc Atlantis đang tồn tại và thậm chí cả một số tàn tích của giống dân phụ cuối cùng của giống dân gốc Lemuria. |
|
4. Certain intermediary agents who represent (within these three groups) the seven Ray types. |
4. Một số tác nhân trung gian đại diện (trong ba nhóm này) cho bảy loại cung. |
|
341. No matter what kind of work is to be done, the influence of the seven rays is always inescapable. Forms are moulded by the quality of the Ray Lords. |
341. Bất kể loại công việc nào phải được thực hiện, ảnh hưởng của bảy cung luôn luôn không thể tránh khỏi. Các hình tướng được nắn đúc bởi phẩm tính của các Đấng Chúa Tể Cung. |
|
5. Those agents of the good Law who are connected specifically with the work of the etheric centres, and their response to the different planetary centres. |
5. Những tác nhân của Định luật thiện lành được nối kết đặc biệt với công việc của các trung tâm dĩ thái, và với sự đáp ứng của chúng đối với các trung tâm hành tinh khác nhau. |
|
342. Each of the etheric centers can be closely correlated with one or more planetary centers. In fact, every chakra can receive the influence of all the planets (and their representation through chains and globes). The chakras also have zodiacal and ray affinities. |
342. Mỗi trung tâm dĩ thái có thể được tương liên chặt chẽ với một hay nhiều trung tâm hành tinh. Thật ra, mỗi chakra đều có thể tiếp nhận ảnh hưởng của tất cả các hành tinh (và sự biểu hiện của chúng qua các dãy và các bầu hành tinh). Các chakra cũng có những tương ứng với hoàng đạo và với cung. |
|
343. We begin to realize that the building of the human form is exquisitely organized and involves many forms of lives (some vastly superior to the human being) as supervisors. |
343. Chúng ta bắt đầu nhận ra rằng việc xây dựng hình tướng con người được tổ chức hết sức tinh vi và bao hàm nhiều dạng sự sống (một số vượt trội con người rất xa) trong vai trò giám sát. |
|
6. The keepers of the records. |
6. Những vị giữ hồ sơ. |
|
344. These are “Lipika” of various kinds. The third ray, so closely related to the process of karmic administration, is the Ray of Memory, the “Lord of Memory”.. All is recorded in the ‘Memory of Nature’ |
344. Đây là các “Lipika” thuộc nhiều loại khác nhau. cung ba, liên hệ rất chặt với tiến trình quản trị nghiệp quả, là Cung của Ký Ức, “Chúa Tể của Ký Ức”.. Mọi sự đều được ghi lại trong ‘Ký Ức của Thiên Nhiên’ |
|
These various intelligences [and they are all higher intelligences] manipulate the building forces through the medium of streams of energy, which streams are set in motion when the Ego sounds his note. |
Những trí tuệ khác nhau này [và tất cả đều là những trí tuệ cao hơn] điều khiển các mãnh lực kiến tạo thông qua trung gian của các dòng năng lượng, những dòng này được khởi động khi chân ngã xướng lên âm điệu của mình. |
|
345. We are given a clear insight into how manipulation of the building forces occurs. It occurs “through the medium of streams of energy”. When we use thought-power to change things, do we not do the same? |
345. Chúng ta được ban cho một sự thấu hiểu rõ ràng về cách việc điều khiển các mãnh lực kiến tạo diễn ra. Nó diễn ra “thông qua trung gian của các dòng năng lượng”. Khi chúng ta dùng quyền năng tư tưởng để thay đổi sự vật, chẳng phải chúng ta cũng làm như vậy sao? |
|
346. The manipulators are manipulated. |
346. Những kẻ điều khiển lại bị điều khiển. |
|
347. The sounding of the egoic note releases streams of energy. A sounding note will have its energy stream. |
347. Việc xướng lên âm điệu chân ngã giải phóng các dòng năng lượng. Một âm điệu được xướng lên sẽ có dòng năng lượng của nó. |
|
348. We begin to understand that sound and music are modes of manipulation. This is a creative process which will be scientifically discovered in the New Age. Even now it can be to some extent employed. |
348. Chúng ta bắt đầu hiểu rằng âm thanh và âm nhạc là những phương thức điều khiển. Đây là một tiến trình sáng tạo sẽ được khám phá một cách khoa học trong Kỷ Nguyên Mới. Ngay cả bây giờ, nó cũng có thể được sử dụng ở một mức độ nào đó. |
|
It must be remembered that in more or less degree upon his own plane the Ego is aware of his karma, |
Cần phải nhớ rằng ở mức độ nhiều hay ít trên cõi riêng của mình, chân ngã ý thức được nghiệp quả của mình, |
|
349. This vision of karmic liability or potential extends, we may infer, backwards a number of lives and forward as well, as the Ego plans the possibilities for expiation (the balancing of karma) and reward (promotional circumstance) for the sake of greater expression of egoic purpose |
349. Chúng ta có thể suy ra rằng linh thị về trách nhiệm nghiệp quả hay tiềm năng nghiệp quả này trải dài ngược về sau qua một số kiếp sống và cả về phía trước nữa, khi chân ngã hoạch định những khả năng để đền bù nghiệp quả (sự quân bình nghiệp quả) và phần thưởng (hoàn cảnh thăng tiến) vì mục đích biểu lộ lớn hơn của mục đích chân ngã |
|
350. We can understand by what is said that the Ego is not omniscient. Who is the Ego? It is not the entire intelligence of the major Solar Angel, but a partial presence (through infusion of consciousness) of that Solar Angel within that portion of the Monad which has focused itself on the higher mental plane. The Ego is really two beings—the man and the Angel (who having pervaded the entire universe—the causal body—with a fragment of itself, remains). |
350. Qua điều được nói, chúng ta có thể hiểu rằng chân ngã không toàn tri. Chân ngã là ai? Nó không phải là toàn bộ trí tuệ của Thái dương Thiên Thần lớn, mà là một sự hiện diện bộ phận (qua sự thấm nhập của tâm thức) của Thái dương Thiên Thần đó bên trong phần của chân thần đã tự tập trung trên Cõi thượng trí. Chân ngã thực sự là hai hữu thể—con người và Thiên Thần (Đấng, sau khi đã thấm nhập toàn thể vũ trụ—thể nguyên nhân—bằng một mảnh của chính mình, vẫn còn lưu lại). |
|
and of what must be done to promote growth during the coming incarnation. |
và về điều phải được thực hiện để thúc đẩy sự tăng trưởng trong lần lâm phàm sắp tới. |
|
351. We are told that before each incarnation the Ego sounds its note, testing for fulness, harmony and whatever other egoic conditions it needs to diagnose. |
351. Chúng ta được bảo rằng trước mỗi lần lâm phàm, chân ngã xướng lên âm điệu của nó, kiểm tra sự viên mãn, sự hài hòa và bất cứ điều kiện chân ngã nào khác mà nó cần chẩn định. |
|
When the reincarnating unit has reached a point where he can consciously choose his mode of expression, he will first review his past lives, and from the knowledge gained thereby, he will guide his choice for the next. Prior to incarnation he will sound his egoic note and will note the lack of fullness or the discord it may contain; he will then decide upon which note he will base his coming personality vibration. (LOM 19-20) |
Khi đơn vị tái sinh đã đạt đến một điểm mà y có thể hữu thức chọn phương thức biểu lộ của mình, trước hết y sẽ xem lại các kiếp sống quá khứ của mình, và từ tri thức nhờ đó mà có được, y sẽ hướng dẫn sự lựa chọn của mình cho kiếp kế tiếp. Trước khi lâm phàm y sẽ xướng lên âm điệu chân ngã của mình và sẽ nhận thấy sự thiếu viên mãn hay sự bất hòa mà nó có thể chứa đựng; rồi y sẽ quyết định sẽ lấy âm điệu nào làm nền tảng cho rung động phàm ngã sắp tới của mình. (LOM 19-20) |
|
He [the Ego] works, therefore, in connection with these Lords, |
Ngài [chân ngã] làm việc, do đó, trong sự liên hệ với các Chúa Tể này, |
|
352. It is obvious that the Lords are superior in intelligence and power to the Ego and so are the various karmic agents who work under the Lords (from the lowest group of Lords) |
352. Rõ ràng là các Chúa Tể vượt trội chân ngã về trí tuệ và quyền năng, và các tác nhân nghiệp quả khác làm việc dưới quyền các Chúa Tể (từ nhóm Chúa Tể thấp nhất) cũng vậy |
|
but is only directly in touch with an agent of the sixth group |
nhưng chỉ trực tiếp tiếp xúc với một tác nhân của nhóm thứ sáu |
|
353. One of the “Keepers of the records”… |
353. Một trong những “Vị giữ hồ sơ”… |
|
and of the fourth. |
và của nhóm thứ tư. |
|
354. One of the “Intermediary Agents” who represent the seven rays… |
354. Một trong những “Tác Nhân Trung Gian” đại diện cho bảy cung… |
|
Through these two the work proceeds as far as the Ego is individually concerned, |
Thông qua hai vị này, công việc được tiến hành trong chừng mực chân ngã được quan tâm một cách cá nhân, |
|
355. The individual Ego has its own agenda and is able to use the information gained from these two sources. The information will touch on the karma which must be balanced or on karmic opportunity which makes further progress possible. The information will also deal with ray opportunity. |
355. Chân ngã cá nhân có chương trình nghị sự riêng của nó và có thể sử dụng thông tin thu được từ hai nguồn này. Thông tin ấy sẽ liên quan đến nghiệp quả phải được quân bình hoặc đến cơ hội nghiệp quả khiến sự tiến bộ thêm nữa trở nên khả hữu. Thông tin ấy cũng sẽ đề cập đến cơ hội cung. |
|
356. There is more to the process than the individual approach. The various groups to which the Ego belongs will also have their karma and ray requirements. |
356. Tiến trình này còn nhiều hơn cách tiếp cận cá nhân. Các nhóm khác nhau mà chân ngã thuộc về cũng sẽ có nghiệp quả và những đòi hỏi về cung của chúng. |
|
and they set in motion for him (after he has sounded his note) the machinery of the Law. |
và các vị ấy khởi động cho y (sau khi y đã xướng lên âm điệu của mình) bộ máy của Định luật. |
|
357. So two particular supervisors out of the several, are directly concerned with the Ego’s building process. |
357. Vì vậy, hai vị giám sát đặc biệt trong số nhiều vị có liên hệ trực tiếp với tiến trình xây dựng của chân ngã. |
|
358. When DK speaks of the “Law”, it is the manner in which the Law of Karma is administered in the creative process of building vehicles for the Ego’s expression. |
358. Khi Chân sư DK nói về “Định luật”, đó là cách thức Định luật Nghiệp Quả được quản trị trong tiến trình sáng tạo xây dựng các vận cụ cho sự biểu lộ của chân ngã. |
|
359. We see how very much is set in motion as the Ego sounds His note. |
359. Chúng ta thấy biết bao điều được khởi động khi chân ngã xướng lên âm điệu của Ngài. |
|
360. The Ego is at first very much the Solar Angel and later, as that extension of the Monad which we call the “man” evolves, the Ego becomes more and more than man, in addition to the Solar Angel. |
360. Lúc đầu chân ngã phần lớn là Thái dương Thiên Thần, và về sau, khi phần mở rộng của chân thần mà chúng ta gọi là “con người” tiến hoá, chân ngã ngày càng trở nên nhiều hơn con người, ngoài việc là Thái dương Thiên Thần. |
|
The builders of the human personality again are divided into seven main groups; |
Các đấng kiến tạo của phàm ngã con người lại được chia thành bảy nhóm chính; |
|
361. We are speaking of the ray conditioning of the deva builders of the human personality. |
361. Chúng ta đang nói về sự tác động của cung lên các thiên thần kiến tạo của phàm ngã con người. |
|
all devas, just as is the case with the human Monads, come under one or other of the seven Rays, |
mọi thiên thần, cũng như trường hợp của chân thần con người, đều thuộc về cung này hay cung khác trong bảy cung, |
|
362. If we look for one application of the number fourteen, we see that assigning the seven rays to both humans and devas results in this number. When it comes to the combined work of men and devas, the number fourteen is a unitive number. |
362. Nếu chúng ta tìm một ứng dụng của con số mười bốn, chúng ta thấy rằng việc gán bảy cung cho cả con người lẫn thiên thần tạo ra con số này. Khi nói đến công việc kết hợp của những người nam và nữ và các thiên thần, con số mười bốn là một con số hợp nhất. |
|
363. As well, DK seems to be telling us that there are seven monadic types. Is He speaking of the possibility of seven monadic rays? This idea seems confirmed in a number of references. Or is He saying that the projections of the Monads as Egos come under the seven rays. Both, it seems, are true. |
363. Ngoài ra, Chân sư DK dường như đang nói với chúng ta rằng có bảy loại chân thần. Ngài có đang nói đến khả năng có bảy cung chân thần chăng? Ý tưởng này dường như được xác nhận trong một số tham chiếu. Hay Ngài đang nói rằng các phóng chiếu của các chân thần như các chân ngã thuộc về bảy cung. Dường như cả hai đều đúng. |
|
and are responsive to one or other of the seven logoic streams of fiery energy. |
và đáp ứng với một hay một khác trong bảy dòng năng lượng lửa logoic. |
|
364. Rays are here defined as “seven logoic streams of fiery energy”, thus relating the seven rays to the Solar Logos. |
364. Ở đây các cung được định nghĩa là “bảy dòng năng lượng lửa logoic”, nhờ đó liên hệ bảy cung với Thái dương Thượng đế. |
|
According to a man’s egoic Ray, so will be the type of deva substance influenced. |
Theo cung chân ngã của một người, loại chất liệu thiên thần bị ảnh hưởng cũng sẽ tương ứng như vậy. |
|
365. In this case the seven rays are related to the Ego. They could also be related to a man’s monadic ray and sub-ray. |
365. Trong trường hợp này bảy cung được liên hệ với chân ngã. Chúng cũng có thể được liên hệ với cung chân thần và cung phụ của một người. |
|
366. There is a great ocean of deva substance, generically considered. Obviously not all of it responds resonantly to the sounding of the egoic note and the transmission and elaboration of that note through various deva agencies. |
366. Có một đại dương bao la của chất liệu thiên thần, xét một cách tổng quát. Hiển nhiên không phải toàn bộ chất liệu ấy đều đáp ứng cộng hưởng với việc xướng lên âm điệu chân ngã và với sự truyền dẫn cũng như khai triển âm điệu ấy qua nhiều cơ quan thiên thần khác nhau. |
|
367. There is a great vibratory selectivity occurring, based initially and fundamentally on the ray quality of the egoic note. Other qualitative specifications may also be involved. |
367. Có một sự chọn lọc rung động rất lớn đang diễn ra, ban đầu và căn bản dựa trên phẩm tính cung của âm điệu chân ngã. Những quy định phẩm tính khác cũng có thể được bao hàm. |
|
These builders work with certain elementals, but it is only upon the physical plane that any idea can be given as to their nature and work. |
Các đấng kiến tạo này làm việc với một số hành khí, nhưng chỉ trên cõi hồng trần mới có thể đưa ra một ý niệm nào đó về bản chất và công việc của chúng. |
|
368. We are speaking of the builders of a human being’s personality. |
368. Chúng ta đang nói về các đấng kiến tạo của phàm ngã của một con người. |
|
369. It is obvious that we have to differentiate “builders” from “elementals” even though some elementals can be considered “builders”—lesser builders. |
369. Hiển nhiên là chúng ta phải phân biệt “đấng kiến tạo” với “hành khí” mặc dù một số hành khí có thể được xem là “đấng kiến tạo”—những đấng kiến tạo nhỏ hơn. |
|
370. There is so much overlap between these various categories that we must remain ever alert regarding the group or groups that DK is referencing. |
370. Có quá nhiều sự chồng lấn giữa các loại khác nhau này đến nỗi chúng ta phải luôn tỉnh táo đối với nhóm hay các nhóm mà Chân sư DK đang nhắc đến. |
|
371. Later sections in TCF tell us much, seemingly, about the nature and work of the elementals on the astral and mental planes as well. |
371. Những phần sau trong Luận về Lửa Vũ Trụ dường như cũng cho chúng ta biết nhiều điều về bản chất và công việc của các hành khí trên cõi cảm dục và cõi trí. |
|
These elementals are the little entities who, adhering to the plan as embodied by the builders, blindly construct the fabric of the body, and form the sheaths through which the Ego is to express himself. |
Những hành khí này là những thực thể nhỏ bé, những thực thể, tuân theo kế hoạch được hiện thân bởi các đấng kiến tạo, một cách mù quáng kiến tạo kết cấu của thể, và tạo thành các vỏ bọc mà qua đó chân ngã sẽ biểu lộ chính mình. |
|
372. These two sections of text are useful in discriminating the nature of elementals from “building essence”, “elemental essence” or “deva substance”. |
372. Hai đoạn văn này hữu ích trong việc phân biện bản chất của các hành khí với “tinh chất kiến tạo”, “Tinh chất hành khí” hay “chất liệu thiên thần”. |
|
373. The “builders” are their guides—the guides of the elementals (as elementals are here defined). They adhere to the builder’s plans, but they do so “blindly”, which means they are certainly not self-conscious, though, since they are actually builders rather than that which is built, they may be considered to be on the evolutionary path. |
373. Các “đấng kiến tạo” là những vị hướng dẫn của chúng—những vị hướng dẫn của các hành khí (như hành khí được định nghĩa ở đây). Chúng tuân theo các kế hoạch của đấng kiến tạo, nhưng làm như vậy “một cách mù quáng”, điều đó có nghĩa là chắc chắn chúng không có ngã thức, dù vậy, vì chúng thực sự là những đấng kiến tạo chứ không phải cái được xây dựng, chúng có thể được xem là đang ở trên đường tiến hoá. |
|
374. That is one of the key questions: are elementals on the evolutionary path or not? Probably the references available to us are not decisive in this regard. |
374. Đó là một trong những câu hỏi then chốt: các hành khí có ở trên đường tiến hoá hay không? Có lẽ những tham chiếu hiện có đối với chúng ta không mang tính quyết định về phương diện này. |
|
375. The term “elementals” is fairly elastic and seems to include builders as well as that which is build. In other worlds “building essence” or “elemental essence” is sometime called by the name “elementals”. |
375. Thuật ngữ “hành khí” khá co giãn và dường như bao gồm cả các đấng kiến tạo lẫn cái được xây dựng. Nói cách khác, “tinh chất kiến tạo” hay “Tinh chất hành khí” đôi khi cũng được gọi bằng tên “hành khí”. |
|
376. We must ask, are the third category of devas (which are really manipulating devas who aggregate and mould) to be called “elementals”. The term “elementals” has a range which seems to include certain kinds of manipulating devas (such as the “elemental alchemists” who build the etheric doubles of the mineral kingdom) all the way to very low and passive lives which are obviously on the involutionary arc. |
376. Chúng ta phải hỏi, liệu loại thiên thần thứ ba (thực ra là các thiên thần điều khiển, những vị kết tập và nắn đúc) có được gọi là “hành khí” hay không. Thuật ngữ “hành khí” có một phạm vi dường như bao gồm một số loại thiên thần điều khiển nhất định (chẳng hạn như các “nhà luyện kim hành khí” xây dựng các bản sao dĩ thái của giới kim thạch) cho đến những sự sống rất thấp và thụ động rõ ràng ở trên cung giáng hạ tiến hoá. |
|
On the etheric planes they [presumably, these little elemental lives] build the real “form” out of etheric substance. |
Trên các cõi dĩ thái chúng [có lẽ là những sự sống hành khí nhỏ bé này] xây dựng “hình tướng” thực sự bằng chất liệu dĩ thái. |
|
377. This little elemental entities are here defines as definitely distinct from etheric substance. They are the builders and etheric substance is that which is built. |
377. Ở đây những thực thể hành khí nhỏ bé này được xác định là hoàn toàn khác biệt với chất liệu dĩ thái. Chúng là những đấng kiến tạo còn chất liệu dĩ thái là cái được xây dựng. |
|
and produce the sheath of intricate lines of interlacing fiery strands, which is in [Page 944] reality an extension of the sutratma, or life thread. |
và tạo ra vỏ bọc gồm những đường nét phức tạp của các sợi lửa đan xen, mà [Page 944] thực ra là một sự mở rộng của sutratma, hay sinh mệnh tuyến. |
|
378. Here we have an excellent depiction of the etheric body. If we cannot see these things for ourselves, as one day we will see them, we need very good descriptions which will allow our imagination to picture these energy fields |
378. Ở đây chúng ta có một mô tả tuyệt vời về thể dĩ thái. Nếu chúng ta chưa thể tự mình thấy những điều này, như một ngày kia chúng ta sẽ thấy, thì chúng ta cần những mô tả thật tốt cho phép sự tưởng tượng của chúng ta hình dung các trường năng lượng này |
|
379. The strands or nadis of the etheric body are fiery. They are living substance animated by the fire of Brahma. Even the Ego lies within the realm of ‘solar Brahma’ (the lower twenty-one subplanes). The intricate lines or strands would not be fiery unless they were vitalized by fire ‘from above’. |
379. Các sợi hay nadis của thể dĩ thái là rực lửa. Chúng là chất liệu sống được linh hoạt bởi lửa của Brahma. Ngay cả chân ngã cũng nằm trong phạm vi của ‘Brahma thái dương’ (hai mươi mốt cõi phụ thấp hơn). Những đường nét hay sợi phức tạp ấy sẽ không thể rực lửa nếu chúng không được tiếp sinh lực bởi lửa ‘từ trên’. |
|
380. An important idea is that the etheric sheath is “an extension of the sutratma of life thread”. From this great ‘life-line’, life flows into every vehicle from the Ego and, ultimately, from the Monad, itself. |
380. Một ý tưởng quan trọng là vỏ bọc dĩ thái là “một sự mở rộng của sutratma hay sinh mệnh tuyến”. Từ ‘đường sinh mệnh’ lớn lao này, sự sống tuôn vào mọi vận cụ từ chân ngã và, rốt ráo, từ chính chân thần. |
|
As it is woven and interlaced it becomes vitalised with the life energy sent down from the Ego, just as Shiva, the Father, gives to the Son the real “bios” or life, while the Mother warms, builds, and nourishes the body. |
Khi nó được dệt và đan xen nó trở nên được tiếp sinh lực bằng năng lượng sự sống được gửi xuống từ chân ngã, cũng như Shiva, người Cha, ban cho người Con “bios” hay sự sống thực sự, trong khi người Mẹ sưởi ấm, xây dựng và nuôi dưỡng thể. |
|
381. The ‘fabric’ of the etheric body is portrayed as distinct from the vitalizing “life energy” sent down from the Ego. |
381. ‘Kết cấu’ của thể dĩ thái được mô tả như khác biệt với “năng lượng sự sống” tiếp sinh lực được gửi xuống từ chân ngã. |
|
382. Analogically, the Ego (in this context) is understood as the Father and the etheric body as the Son. On a higher turn of the spiral, the Monad is the Father and the Ego is the Son. |
382. Theo phép tương đồng, chân ngã (trong ngữ cảnh này) được hiểu là người Cha và thể dĩ thái là người Con. Ở một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc, chân thần là người Cha và chân ngã là người Con. |
|
383. The builders guiding the little elementals are the weavers, and that which they weave becomes vitalized by the Ego as it, itself, is vitalized by the Monad. |
383. Các đấng kiến tạo hướng dẫn những hành khí nhỏ bé là những người dệt, và cái mà họ dệt nên được chân ngã tiếp sinh lực, cũng như chính chân ngã được chân thần tiếp sinh lực. |
|
384. From one perspective, the Mother is related only the three dense physical subplanes, but from another (a cosmic perspective), the lower eighteen subplanes are the domain of the Mother and her warming, building and nourishing of the bodies proceeds in relation to all those subplanes. |
384. Từ một góc nhìn, người Mẹ chỉ liên hệ với ba cõi phụ hồng trần đậm đặc, nhưng từ một góc nhìn khác (một góc nhìn vũ trụ), mười tám cõi phụ thấp hơn là lãnh vực của người Mẹ và việc bà sưởi ấm, xây dựng và nuôi dưỡng các thể diễn ra trong liên hệ với tất cả các cõi phụ ấy. |
|
The work of the etheric elementals reaches its primary consummation when the sutratma is connected with the three centres of the physical nature within the cranium—the pineal gland, the pituitary body, and the alta major centre. |
Công việc của các hành khí dĩ thái đạt đến sự hoàn tất chủ yếu của nó khi mà sutratma được nối kết với ba trung tâm của bản chất hồng trần bên trong hộp sọ—tuyến tùng, thể tuyến yên, và trung tâm alta major. |
|
385. This is an important piece of occultism. The little elementals have to connect the sutratma to the three physical centers within the cranium. These three dense physical centers are the representatives within the head of the major head centers within the etheric-physical. |
385. Đây là một điểm quan trọng của huyền bí học. Những hành khí nhỏ bé phải nối kết sutratma với ba trung tâm hồng trần bên trong hộp sọ. Ba trung tâm hồng trần đậm đặc này là những đại diện bên trong đầu cho các trung tâm đầu chính trong thể dĩ thái-hồng trần. |
|
386. We must note that the alta major center is listed instead of the carotid gland. So we have two dense glands or bodies and one etheric center within the head. Perhaps if He has wished to be more specific, DK would have mentioned the carotid gland as a physical anchor for the alta major center. |
386. Chúng ta phải lưu ý rằng trung tâm alta major được liệt kê thay cho tuyến cảnh. Vì vậy chúng ta có hai tuyến hay thể đậm đặc và một trung tâm dĩ thái bên trong đầu. Có lẽ nếu Ngài muốn nói cụ thể hơn, Chân sư DK đã nhắc đến tuyến cảnh như một điểm neo hồng trần cho trung tâm alta major. |
|
Occultly, the most important connection is the entrance of the sutratma into the centre at the top of the head, that through which the life of the etheric body withdraws at the moment of death. This is the vital point. |
Về mặt huyền bí, sự nối kết quan trọng nhất là sự đi vào của sutratma vào trung tâm ở đỉnh đầu, trung tâm mà qua đó sự sống của thể dĩ thái rút lui vào lúc chết. Đây là điểm thiết yếu. |
|
387. DK is still discussing the building of the personality apparatus of the human being by the deva builders responsible for that task. |
387. Chân sư DK vẫn đang bàn về việc xây dựng bộ máy phàm ngã của con người bởi các thiên thần kiến tạo chịu trách nhiệm cho nhiệm vụ đó. |
|
388. Note the double use of language in the sentence “this is a vital point”, which indicates the portal of vitalization and devitalization at the top of the head. |
388. Hãy lưu ý cách dùng ngôn ngữ kép trong câu “đây là một điểm thiết yếu”, câu này chỉ ra cánh cổng của sự tiếp sinh lực và mất sinh lực ở đỉnh đầu. |
|
389. When death ensues, the dense physical body experiences complete devitalization, although the life of the very lowest material aspect still remains. |
389. Khi cái chết xảy ra, thể xác đậm đặc trải qua sự mất sinh lực hoàn toàn, mặc dù sự sống của phương diện vật chất thấp nhất vẫn còn tồn tại. |
|
The “thread” of life there, by the time the seventh year is reached, has divided itself into three branches, reaching out to the three centres. |
“Sợi dây” sự sống ở đó, vào lúc đứa trẻ đạt đến năm thứ bảy, đã tự phân chia thành ba nhánh, vươn tới ba trung tâm. |
|
390. The seventh year stands out as important for many reasons and one of them is being given here. By the time the seventh year is reached, the foundation of the potential triangular stimulation of the three dense centers in the head has been created. |
390. Năm thứ bảy nổi bật là quan trọng vì nhiều lý do và một trong số đó đang được nêu ra ở đây. Vào lúc đạt đến năm thứ bảy, nền tảng của sự kích thích tam giác tiềm năng đối với ba trung tâm đậm đặc trong đầu đã được tạo lập. |
|
391. We have read of the fiery triangle between the crown center, the ajna center and the alta major center which is completed in form by the time of the third initiation. It stands to reason that there will be a corresponding relationship between those dense physical precipitations (glands, bodies in the head) which represent those etheric centers. |
391. Chúng ta đã đọc về tam giác lửa giữa trung tâm đỉnh đầu, trung tâm ajna và trung tâm alta major, tam giác này được hoàn tất về hình thức vào lần điểm đạo thứ ba. Hợp lý mà nói, sẽ có một mối liên hệ tương ứng giữa những sự ngưng tụ hồng trần đậm đặc ấy (các tuyến, các thể trong đầu) vốn đại diện cho các trung tâm dĩ thái đó. |
|
The realisation of this fact will eventually prove of much interest to scientists. |
Sự chứng nghiệm sự kiện này rốt cuộc sẽ tỏ ra rất đáng quan tâm đối với các nhà khoa học. |
|
392. Presumably we are speaking of scientists in the psychological and medical fields. |
392. Có lẽ chúng ta đang nói đến các nhà khoa học trong các lĩnh vực tâm lý học và y học. |
|
A good deal of imbecility, or of arrested development will be found to have its origin in the etheric connection with these three centres. |
Khá nhiều tình trạng đần độn, hoặc sự phát triển bị đình trệ sẽ được phát hiện là có nguồn gốc trong sự nối kết dĩ thái với ba trung tâm này. |
|
393. If the vitality descending the sutratma cannot reach these glands, then they cannot perform their function. The physical mechanism, in the worst cases, cannot be intelligently directed, or is lesser cases, is imperfectly so. |
393. Nếu sinh lực đi xuống theo sutratma không thể đến được các tuyến này, thì chúng không thể thực hiện chức năng của mình. Trong những trường hợp xấu nhất, bộ máy hồng trần không thể được điều khiển một cách thông minh, hoặc trong những trường hợp nhẹ hơn, chỉ được điều khiển một cách bất toàn. |
|
394. We are speaking of conditions in which the inner man cannot reach and control his outer apparatus. |
394. Chúng ta đang nói về những tình trạng trong đó con người bên trong không thể tiếp cận và kiểm soát bộ máy bên ngoài của mình. |
|
The etheric web is literally the fine network of fiery threads which spreads itself over the centre, and forms an area of fairly large dimensions. It separates the two bodies, astral and physical. |
Tấm mạng dĩ thái theo nghĩa đen là mạng lưới tinh vi của những sợi lửa trải rộng trên trung tâm, và tạo thành một khu vực có kích thước khá lớn. Nó ngăn cách hai thể, cảm dục và hồng trần. |
|
395. The etheric webs are definitely made of ether, though we might call the webs ‘reinforced ether’ |
395. Các mạng dĩ thái chắc chắn được tạo bằng dĩ thái, dù chúng ta có thể gọi các mạng ấy là ‘dĩ thái được gia cường’ |
|
396. In a way, the ethers always separate the astral from the physical bodies, but as the centers are channels for the exchange of energy, it is they which must be particularly reinforced to prevent premature (and potentially over-stimulating and disorganizing) interchange of energies between different levels of the energy system. |
396. Theo một cách nào đó, các dĩ thái luôn luôn ngăn cách thể cảm dục với thể hồng trần, nhưng vì các trung tâm là những kênh trao đổi năng lượng, nên chính chúng phải được gia cường đặc biệt để ngăn chặn sự trao đổi năng lượng quá sớm (và có thể gây kích thích quá mức cũng như làm rối loạn) giữa các cấp độ khác nhau của hệ thống năng lượng. |
|
A similar corresponding area will be found in the solar system. Through it the cosmic forces must pass to the different planetary schemes. |
Một khu vực tương ứng tương tự sẽ được tìm thấy trong hệ mặt trời. Qua đó các mãnh lực vũ trụ phải đi đến các hệ hành tinh khác nhau. |
|
397. We have described for us the solar systemic etheric webs. |
397. Ở đây chúng ta được mô tả về các mạng dĩ thái của hệ mặt trời. |
|
398. Apparently the solar system must be protected from premature infusions of energy from the cosmic astral plane! |
398. Rõ ràng hệ mặt trời phải được bảo vệ khỏi những sự thấm nhập năng lượng quá sớm từ cõi cảm dục vũ trụ! |
|
399. As the planets are considered chakras within the energy system of the Solar Logos, the analogy is sound. |
399. Vì các hành tinh được xem là các chakra trong hệ thống năng lượng của Thái dương Thượng đế, nên phép tương đồng này là đúng đắn. |
|
400. We may suppose that within the body of the solar system, the physical vehicle of the Solar Logos, there are certain chakras which must be differentially stimulated (depending upon the degree of the advancement of the Solar Logos, Himself). |
400. Chúng ta có thể giả định rằng bên trong thể của hệ mặt trời, vận cụ hồng trần của Thái dương Thượng đế, có một số chakra phải được kích thích một cách phân biệt (tùy theo mức độ tiến bộ của chính Thái dương Thượng đế). |
|
401. When the human being, for instance, has not yet developed any consciousness of the soul, it is inadmissible for there to be a great stimulation of the head center. It would very premature and dangerously disorganizing to the integrity of the personality. The analogy, holds good, for planets. |
401. Chẳng hạn, khi con người chưa phát triển bất kỳ tâm thức nào về linh hồn, thì không thể chấp nhận việc có một sự kích thích lớn đối với trung tâm đầu. Điều đó sẽ rất quá sớm và gây rối loạn nguy hiểm cho tính toàn vẹn của phàm ngã. Phép tương đồng này cũng đúng đối với các hành tinh. |
|
402. Our Earth is still a non-sacred planet and, therefore, its monadic ray is occultly non-effective. The etheric crown center of our Planetary Logos can only receive the degree of stimulation from the planetary logoic Ego or Monad appropriate to its level of unfoldment. With respect to our Planetary Logos, the power of the Monad cannot be released through the planetary head center with any degree of fulness, and perhaps this will not happen until the very end of this mahamanvantara or into the next. |
402. Trái Đất của chúng ta vẫn là một hành tinh không thiêng liêng và do đó cung chân thần của nó về mặt huyền bí là không hữu hiệu. Trung tâm đỉnh đầu dĩ thái của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta chỉ có thể tiếp nhận mức độ kích thích từ chân ngã hay chân thần logoic hành tinh thích hợp với mức độ khai mở của Ngài. Đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, quyền năng của chân thần không thể được giải phóng qua trung tâm đầu hành tinh với bất kỳ mức độ viên mãn nào, và có lẽ điều này sẽ không xảy ra cho đến tận cuối Đại giai kỳ sinh hóa này hoặc sang giai kỳ kế tiếp. |
|
The elemental groups of the dense physical plane who are swept into activity by the builders, are three in number: |
Các nhóm hành khí của cõi hồng trần đậm đặc được các đấng kiến tạo cuốn vào hoạt động có số lượng là ba: |
|
403. The builders who sweep the elementals of the dense physical plane into activity are located on the etheric plane. |
403. Các đấng kiến tạo cuốn các hành khí của cõi hồng trần đậm đặc vào hoạt động nằm trên cõi dĩ thái. |
|
a. The gaseous elementals. |
a. Các hành khí thể khí. |
|
b. The liquid elementals. |
b. Các hành khí thể lỏng. |
|
c. The strictly dense elementals. |
c. Các hành khí đậm đặc đúng nghĩa. |
|
404. These physical elementals are, again, not “building essence”, but are, themselves, tiny building entities, blind, though possessing intelligence—the intelligence of the matter aspect. |
404. Những hành khí hồng trần này, một lần nữa, không phải là “tinh chất kiến tạo”, mà bản thân chúng là những thực thể kiến tạo nhỏ bé, mù quáng, tuy vẫn sở hữu trí tuệ—trí tuệ của phương diện vật chất. |
|
405. We must return to those elementals who, in earlier references, are called “seeing elementals” and see if the three types here described are “seeing elementals”. |
405. Chúng ta phải quay lại với những hành khí mà trong các tham chiếu trước được gọi là “hành khí thấy” và xem liệu ba loại được mô tả ở đây có phải là “hành khí thấy” hay không. |
|
406. In earlier references, however, it seemed that “seeing elementals” were involved in the construction of etheric doubles. |
406. Tuy nhiên, trong các tham chiếu trước, dường như “hành khí thấy” có liên quan đến việc kiến tạo các bản sao dĩ thái. |
|
407. DK now differentiates their functions according to dense physical subplane. |
407. Giờ đây Chân sư DK phân biệt các chức năng của chúng theo cõi phụ hồng trần đậm đặc. |
|
One group concerns itself with the fiery channels, with the fires of the human body, and with the different gases to be found within the human periphery. |
Một nhóm tự chuyên chú vào các kênh lửa, các ngọn lửa của thể người, và vào các loại khí khác nhau được tìm thấy bên trong chu vi con người. |
|
408. Let us tabulate the ‘concerns’ of the gaseous elementals: |
408. Chúng ta hãy lập bảng các “mối quan tâm” của các hành khí thể khí: |
|
a. They are concerned with the fiery channels. These channels are originally etheric, but the degree to which the etheric energies can vitalize the liquid-dense and strictly dense portions of the dense physical subplanes depends upon activities within the physical gaseous subplane. |
a. Chúng liên quan đến các kênh lửa. Những kênh này nguyên thủy là dĩ thái, nhưng mức độ mà các năng lượng dĩ thái có thể tiếp sinh lực cho các phần lỏng-đậm đặc và phần đậm đặc đúng nghĩa của các cõi phụ hồng trần đậm đặc tùy thuộc vào các hoạt động trong cõi phụ khí của cõi hồng trần. |
|
b. They are concerned with the fires of the human body. Analogously, and on the dense physical plane, we know that fire will not burn without the presence of the oxygen in the air |
b. Chúng liên quan đến các ngọn lửa của thể người. Theo phép tương đồng, và trên cõi hồng trần đậm đặc, chúng ta biết rằng lửa sẽ không cháy nếu không có sự hiện diện của oxy trong không khí |
|
c. They are concern with the different gases to be found within the human periphery. The functions of these various gases have probably not been fully explored. We speak of “vital airs” which term suggests gaseous streams. |
c. Chúng liên quan đến các loại khí khác nhau được tìm thấy bên trong chu vi con người. Có lẽ các chức năng của những loại khí khác nhau này chưa được khảo sát đầy đủ. Chúng ta nói đến “các luồng khí sinh lực”, thuật ngữ này gợi ý những dòng khí. |
|
409. DK now deals with the liquid elementals. |
409. Giờ đây Chân sư DK bàn đến các hành khí thể lỏng. |
|
Another group [Page 945] is to be seen working in connection with the circulatory system, and with all the liquids, juices, and waters of the body; |
Một nhóm khác [Page 945] được thấy đang làm việc trong sự liên hệ với hệ tuần hoàn, và với mọi chất lỏng, dịch thể và nước của cơ thể; |
|
410. Three interesting terms are given in relation to the work of the liquid elementals: |
410. Ba thuật ngữ thú vị được đưa ra liên hệ với công việc của các hành khí thể lỏng: |
|
a. Liquids |
a. Chất lỏng |
|
b. Juices |
b. Dịch thể |
|
c. Waters |
c. Nước |
|
411. One suspects that they can be differentiated, and that the term “juices” covers certain vital fluids which are indispensable for the functioning of the dense physical body. |
411. Người ta ngờ rằng chúng có thể được phân biệt, và rằng thuật ngữ “dịch thể” bao hàm một số lưu chất sinh lực nhất định không thể thiếu cho hoạt động của thể xác đậm đặc. |
|
412. Many discoveries along these lines lie ahead in the medical sciences. Many discoveries have already been made but they have not been put in the context of the occult sciences. |
412. Nhiều khám phá theo hướng này còn ở phía trước trong các khoa học y học. Nhiều khám phá đã được thực hiện rồi nhưng chúng chưa được đặt vào bối cảnh của các khoa học huyền bí. |
|
413. DK now describes the third group of elementals—those building on the densest of the physical subplanes. He calls them the “strictly dense elementals”. |
413. Giờ đây Chân sư DK mô tả nhóm hành khí thứ ba—những hành khí kiến tạo trên cõi phụ hồng trần dày đặc nhất. Ngài gọi chúng là “các hành khí đậm đặc đúng nghĩa”. |
|
414. Given all the extraordinary detail presented in this book, are we not impressed by how little we know and how much there is to learn? |
414. Với tất cả những chi tiết phi thường được trình bày trong quyển sách này, chẳng phải chúng ta ấn tượng trước việc mình biết quá ít và còn quá nhiều điều phải học sao? |
|
whilst the third is largely involved in the construction of the frame, through the right apportioning of the minerals and chemicals. |
trong khi nhóm thứ ba phần lớn liên quan đến việc kiến tạo khung thể, thông qua sự phân phối đúng đắn các khoáng chất và hóa chất. |
|
415. The densest aspects of the physical frames is the skeletal structure, but of course, though the organs and tissues of the body are far softer, they are not entirely in the liquid domain and must require the work of both of the lowest two types of physical elementals. |
415. Phương diện đậm đặc nhất của các khung thể xác là cấu trúc xương, nhưng dĩ nhiên, tuy các cơ quan và mô của cơ thể mềm hơn rất nhiều, chúng không hoàn toàn thuộc lĩnh vực lỏng và hẳn phải cần đến công việc của cả hai loại hành khí hồng trần thấp nhất. |
|
A hint in connection with medicine is here to be found; it is occultly true that just as the liquid devas and elementals are closely related to the vegetable kingdom, and both to the plane of the emotions, the logoic liquid body, so the ills of men which affect the circulatory system, the kidneys, the bladder, and the lubrication of the joints, will find a CURE in vegetable constituents and above all in the right adjustment of the emotional nature. |
Ở đây có thể tìm thấy một gợi ý liên quan đến y học; một cách huyền bí, điều này là chân thực rằng cũng như các thiên thần lỏng và hành khí có liên hệ mật thiết với giới thực vật, và cả hai đều liên hệ với cõi cảm xúc, thể lỏng của Thượng đế, thì các bệnh tật của con người ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn, thận, bàng quang, và sự bôi trơn của các khớp, sẽ tìm được SỰ CHỮA LÀNH trong các thành phần thực vật và trên hết là trong sự điều chỉnh đúng đắn của bản chất cảm xúc. |
|
416. It could not be more clearly stated. The correspondences are there. |
416. Không thể nói điều này rõ ràng hơn nữa. Các tương ứng đều ở đó. |
|
417. The circulatory system, the kidneys and bladder, and the lubrication of the joints are singled out because they are all involved in the distribution and managements of body liquids or fluids.. |
417. Hệ tuần hoàn, thận và bàng quang, cùng sự bôi trơn của các khớp được nêu riêng ra vì tất cả đều liên quan đến sự phân phối và quản lý các chất lỏng hay lưu chất của cơ thể. |
|
418. This is one of the great examples of how the Law of Correspondences can have extremely practical implications. |
418. Đây là một trong những ví dụ lớn cho thấy định luật tương ứng có thể có những hàm ý cực kỳ thực tiễn. |
|
419. It is our task to examine the usual diseases of all these systems and to find the emotional condition (arising on the cosmic liquid plane) which, ultimately, is the cause. As for the vegetable constituents, the means of amelioration which they provide must be discovered. |
419. Nhiệm vụ của chúng ta là khảo sát các bệnh thông thường của tất cả những hệ này và tìm ra trạng thái cảm xúc (phát sinh trên cõi lỏng vũ trụ) mà rốt cuộc là nguyên nhân. Còn về các thành phần thực vật, phải khám phá ra những phương tiện cải thiện mà chúng cung cấp. |
|
420. DK seems to be warning those who suffer from illness of these bodily systems that they should not eat meat. |
420. Chân sư DK dường như đang cảnh báo những ai mắc bệnh nơi các hệ cơ thể này rằng họ không nên ăn thịt. |
|
421. We note, however, that the right adjustment of the emotional nature is paramount. |
421. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý rằng sự điều chỉnh đúng đắn của bản chất cảm xúc là tối quan trọng. |
|
Several influences other than those mentioned have to be considered when the subject of the work of these builders of man’s body is under discussion. |
Một số ảnh hưởng khác ngoài những điều đã được đề cập phải được xem xét khi chủ đề về công việc của những đấng kiến tạo này của thể con người được bàn đến. |
|
422. We remind ourselves that we are discussing the building of the human body and the builders who build that body. |
422. Chúng ta tự nhắc mình rằng chúng ta đang bàn về sự kiến tạo thể người và những đấng kiến tạo xây dựng thể ấy. |
|
423. Again, no matter how terminology is occasionally used imprecisely, elementals are builders rather than passive substance which is built. |
423. Một lần nữa, dù thuật ngữ đôi khi được dùng thiếu chính xác đến đâu, các hành khí là những đấng kiến tạo hơn là chất liệu thụ động được xây dựng. |
|
Not only are they [the builders] affected by: |
Không những chúng [the builders] bị ảnh hưởng bởi: |
|
a. A man’s note, |
a. Âm điệu của một người, |
|
b. The colour poured forth by the transmitting agents, |
b. Màu sắc được tuôn đổ ra bởi các tác nhân truyền dẫn, |
|
c. The karmic agents, |
c. Các tác nhân nghiệp quả, |
|
424. This is in the nature of a review and some clarification of uncertainties earlier in the text may be noticed. |
424. Đây có tính chất như một sự điểm lại và có thể nhận thấy một vài sự làm sáng tỏ những điều chưa chắc chắn trước đó trong bản văn. |
|
425. Earlier we were dealing with sound, color and vibration—seeking the order in which they should be placed and the types of transmitting devas with which they should be associated. |
425. Trước đây chúng ta đã bàn về âm thanh, màu sắc và rung động—tìm kiếm trật tự mà chúng nên được đặt vào và các loại thiên thần truyền dẫn mà chúng nên được liên kết với. |
|
426. With “sound” there was no problem. The factor of sound was allocated to the Ego (although, in a more general sense, all vibration sounds). |
426. Với “âm thanh” thì không có vấn đề gì. Yếu tố âm thanh được quy cho Chân ngã (mặc dù, theo nghĩa tổng quát hơn, mọi rung động đều xướng). |
|
427. Here we see, however, that the transmitting devas (the highest kind of devas responsible for creating the personal human energy system) pour forth colour! |
427. Tuy nhiên, ở đây chúng ta thấy rằng các thiên thần truyền dẫn (loại thiên thần cao nhất chịu trách nhiệm tạo ra hệ thống năng lượng nhân loại cá nhân) lại tuôn ra màu sắc! |
|
428. The builders (associated with the members of the atomic triangle), ‘beneath’ the transmitters are not even mentioned. |
428. Những đấng kiến tạo (liên kết với các thành viên của tam giác nguyên tử), ở “bên dưới” các tác nhân truyền dẫn, thậm chí còn không được nhắc đến. |
|
429. We had originally allocated colour to the effect of the very lowest kinds of building devas, but now find that the transmitters are pouring it forth. |
429. Ban đầu chúng ta đã quy màu sắc cho tác động của những loại thiên thần kiến tạo thấp nhất, nhưng giờ lại thấy rằng chính các tác nhân truyền dẫn đang tuôn nó ra. |
|
430. It is as if the transmitters not only transmit the note of the Ego but transmit the equivalent of that note in color. It is as if the transmitters are contacting certain building devas (characterized by certain colors) by means of the colour poured forth. We remember DK’s emphasis upon the ‘differential response’ within devic substance. |
430. Dường như các tác nhân truyền dẫn không chỉ truyền âm điệu của Chân ngã mà còn truyền sự tương đương của âm điệu ấy trong màu sắc. Dường như các tác nhân truyền dẫn đang tiếp xúc với một số thiên thần kiến tạo nào đó (được đặc trưng bởi những màu sắc nhất định) bằng phương tiện của màu sắc được tuôn ra. Chúng ta nhớ đến sự nhấn mạnh của Chân sư DK về “đáp ứng biến phân” trong chất liệu thiên thần. |
|
431. With the intricacies of these processes we cannot proceed in any depth, but we are gathering how important are vibration, sound and color in the building process which creates man as we know him in the three worlds. |
431. Với những phức tạp của các tiến trình này, chúng ta không thể đi sâu nhiều, nhưng chúng ta đang thu thập được rằng rung động, âm thanh và màu sắc quan trọng biết bao trong tiến trình kiến tạo tạo ra con người như chúng ta biết y trong ba cõi thấp. |
|
432. In the impending seventh ray/fourth ray Age, much anent vibration, light, sound and color will be revealed and man will have new and unbelievable powers with which to express his growing creativity. |
432. Trong Kỷ nguyên cung bảy/cung bốn sắp đến, nhiều điều liên quan đến rung động, ánh sáng, âm thanh và màu sắc sẽ được mặc khải và con người sẽ có những quyền năng mới lạ không thể tin nổi để biểu lộ tính sáng tạo đang tăng trưởng của mình. |
|
433. As for man the magician, in order to be a creator, he must learn to do within his tiny sphere what greater agencies do to create his vehicles. |
433. Còn đối với con người là nhà huyền thuật, để trở thành một đấng sáng tạo, y phải học cách làm trong khối cầu nhỏ bé của mình điều mà các tác nhân lớn hơn làm để tạo ra các vận cụ của y. |
|
but they come under: |
nhưng chúng thuộc về: |
|
434. DK will now bring forward a larger picture, introducing other and wider factors which must be considered when we think of the creation of man’s personality vehicles. |
434. Giờ đây Chân sư DK sẽ đưa ra một bức tranh rộng lớn hơn, giới thiệu những yếu tố khác và rộng hơn phải được xem xét khi chúng ta nghĩ về sự tạo thành các vận cụ phàm ngã của con người. |
|
d. Group karma and vibration which will sweep in another group of agencies and builders, and thus affect a man’s bodies, |
d. Nghiệp quả nhóm và rung động sẽ cuốn vào một nhóm tác nhân và đấng kiến tạo khác, và do đó ảnh hưởng đến các thể của một người, |
|
435. Man is not only the individual. He is a member of other groups, all of which have their own karma. To the karma of these he is subject without being able to do very much about it. |
435. Con người không chỉ là cá nhân. Y là thành viên của những nhóm khác, tất cả đều có nghiệp quả riêng. Đối với nghiệp quả của các nhóm ấy, y phải chịu mà không thể làm được bao nhiêu. |
|
436. And, there are certain karmic agents (representing different levels of karma with which a man is involved, usually unconsciously so) which necessarily involve themselves in the formation of a man’s vehicles. |
436. Và có những tác nhân nghiệp quả nhất định (đại diện cho những cấp độ nghiệp quả khác nhau mà một người có liên hệ, thường là một cách vô thức) tất yếu can dự vào sự hình thành các vận cụ của một người. |
|
437. Family karma, racial karma, national karma, ray-group karma, the karma of humanity—in all these groups the human unit finds its place and to the karmic necessary karmic adjustments required in these groups, he is subject. |
437. Nghiệp quả gia đình, nghiệp quả chủng tộc, nghiệp quả quốc gia, nghiệp quả nhóm cung, nghiệp quả của nhân loại—trong tất cả những nhóm này đơn vị nhân loại tìm thấy vị trí của mình và đối với những điều chỉnh nghiệp quả cần thiết được đòi hỏi trong các nhóm ấy, y phải chịu sự chi phối. |
|
e. Racial karma, an extension of the above, |
e. Nghiệp quả chủng tộc, một sự mở rộng của điều trên, |
|
438. This was mentioned. When we think of the Jews as “the karmic clearing house” within humanity, we can see that membership in the Jewish group implies some inescapable karmic conditions and contact with certain karmic agents. |
438. Điều này đã được nhắc đến. Khi chúng ta nghĩ về người Do Thái như “trung tâm thanh toán nghiệp quả” trong nhân loại, chúng ta có thể thấy rằng việc thuộc về nhóm Do Thái hàm ý một số điều kiện nghiệp quả không thể tránh khỏi và sự tiếp xúc với một số tác nhân nghiệp quả nhất định. |
|
439. While there is much racial admixture, the white, black, brown, yellow and ‘red’ races are all under internal management within the Department of the Manu and all have destined karmic adjustments administered by designated karmic adjustors. |
439. Dù có nhiều sự pha trộn chủng tộc, các chủng tộc da trắng, da đen, da nâu, da vàng và da “đỏ” đều nằm dưới sự quản trị nội tại trong Ban của Đức Manu và tất cả đều có những điều chỉnh nghiệp quả định sẵn do các vị điều chỉnh nghiệp quả được chỉ định quản lý. |
|
f. Forces playing upon the planet from another scheme, or through the formation of a systemic triangle, |
f. Các mãnh lực tác động lên hành tinh từ một hệ hành tinh khác, hoặc thông qua sự hình thành một tam giác hệ mặt trời, |
|
440. In this case we can think not only of Venus but of Mars. Other Planetary Logoi may be involved. Through his ray structure, and his membership in certain egoic groups, and also because the manner in which he was individualized and the time when individualization took place, different human beings are related differently to the various planetary schemes coming under their influence or “rulership” in different ways. |
440. Trong trường hợp này chúng ta có thể nghĩ không chỉ đến Sao Kim mà còn đến Sao Hỏa. Những Hành Tinh Thượng đế khác có thể cũng liên quan. Thông qua cấu trúc cung của mình, và việc là thành viên của một số nhóm chân ngã nhất định, và cũng bởi cách thức y được biệt ngã hóa cùng thời điểm sự biệt ngã hóa diễn ra, những con người khác nhau có liên hệ khác nhau với các hệ hành tinh khác nhau, đi vào dưới ảnh hưởng hay “sự cai quản” của chúng theo những cách khác nhau. |
|
g. A cosmic triangle of force of some specific kind which may bring in entities and energies of any particular scheme incident upon the karma of the planetary Logos. |
g. Một tam giác mãnh lực vũ trụ thuộc một loại đặc thù nào đó mà có thể đưa vào các thực thể và năng lượng của bất kỳ hệ hành tinh đặc thù nào tác động lên nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế. |
|
441. Entry from the planet Vulcan (bringing, we may hypothesize, many “Primary Lotuses”) is a case in point. DK has also told us of significant inflows of Egos from Venus and Jupiter. (cf. TCF 841) |
441. Sự đi vào từ hành tinh Vulcan (mang đến, như chúng ta có thể giả thuyết, nhiều “Hoa Sen Sơ Cấp”) là một trường hợp điển hình. Chân sư DK cũng đã cho chúng ta biết về những dòng chảy vào quan trọng của các Chân ngã từ Sao Kim và Sao Mộc. (xem TCF 841) |
|
442. We cannot know the nature of such a “cosmic triangle”. The Solar Logos and even Planetary Logoi are mentioned as “cosmic” Beings. Could we be speaking of a triangle between, for instance, the Sun, a certain planetary scheme and the Earth? |
442. Chúng ta không thể biết bản chất của một “tam giác vũ trụ” như thế. Thái dương Thượng đế và ngay cả các Hành Tinh Thượng đế cũng được nhắc đến như những Hữu thể “vũ trụ”. Có thể chúng ta đang nói đến một tam giác giữa, chẳng hạn, Mặt Trời, một hệ hành tinh nào đó và Trái Đất chăng? |
|
443. It sounds as if energies and entities from any or all of the Planetary Logoi could be drawn into the energy system of our Earth. |
443. Nghe như thể các năng lượng và thực thể từ bất kỳ hay mọi Hành Tinh Thượng đế nào cũng có thể được hút vào hệ thống năng lượng của Trái Đất chúng ta. |
|
444. The karma of our Planetary Logos seems to be the predisposing factor in the process of attracting energy/entity streams from other planetary schemes. |
444. Nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta dường như là yếu tố khuynh hướng sẵn trong tiến trình thu hút các dòng năng lượng/thực thể từ những hệ hành tinh khác. |
|
445. We see, from the larger perspective, how many factors can influence the building of a human being’s personality vehicles. Who would suspect that so many factors could be involved? |
445. Từ viễn cảnh lớn hơn, chúng ta thấy có biết bao yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc kiến tạo các vận cụ phàm ngã của một con người. Ai có thể ngờ rằng nhiều yếu tố như thế lại có thể liên quan? |
|
It will, therefore, be apparent to the student how intricate this subject is |
Do đó, đối với đạo sinh, sẽ hiển nhiên rằng chủ đề này phứctạp đến mức nào |
|
446. Master DK is a Master of intricate thought, but He also has the wisdom to know when that intricacy should not be too fully presented. As a Master-Teacher He seeks to illumine the mind and expand the consciousness but not to overwhelm. |
446. Chân sư DK là một Chân sư của tư tưởng phức tạp, nhưng Ngài cũng có minh triết để biết khi nào sự phức tạp ấy không nên được trình bày quá đầy đủ. Với tư cách một Chân sư-Huấn sư, Ngài tìm cách soi sáng thể trí và mở rộng tâm thức chứ không làm choáng ngợp. |
|
and how truly each man is the outcome of force of some kind—egoic primarily, but also [Page 946] planetary, and even systemic. |
và mỗi người thực sự là kết quả của mãnh lực thuộc một loại nào đó như thế nào—trước hết là chân ngã, nhưng cũng [Page 946] là hành tinh, và thậm chí là hệ mặt trời. |
|
447. What we are as human beings in the three lower worlds is largely egoically determined, but there are more remote causes as well, and of these we must have at least some notion. The Ego is affected, we know, by ray, planetary, and zodiacal influences, and these are mediated to the builders who serve the Ego in creating its personality instrument. |
447. Điều chúng ta là với tư cách những con người trong ba cõi thấp phần lớn được chân ngã quyết định, nhưng cũng có những nguyên nhân xa hơn, và về những điều này chúng ta phải có ít nhất một khái niệm nào đó. Chân ngã, như chúng ta biết, bị ảnh hưởng bởi các tác động của cung, hành tinh và hoàng đạo, và những tác động này được trung gian đến các đấng kiến tạo phụng sự Chân ngã trong việc tạo ra công cụ phàm ngã của nó. |
|
Yet withal, no man is ever put into circumstances which are insurmountable, once he has reached the point where he has intelligently put himself on the side of evolution, or of God. |
Tuy nhiên, không người nào bao giờ bị đặt vào những hoàn cảnh không thể vượtqua, một khi y đã đạt đến điểm mà y đã một cách thôngminh đặt mình về phía tiến hoá, hay về phía Thượng đế. |
|
448. Is DK suggesting that the human being is put into some insurmountable circumstances before he has reached the point where he has thrown the weight of his mind and desires on the side of evolution? |
448. Có phải Chân sư DK đang gợi ý rằng con người bị đặt vào một số hoàn cảnh không thể vượt qua trước khi y đạt đến điểm mà y đã dồn sức nặng của trí tuệ và dục vọng của mình về phía tiến hoá chăng? |
|
449. The statement above is reassuring. Those who will be reading the works of the Tibetan with any degree of application will have made the decision to serve evolution “or…God”. We are therefore, reassured, that wherever we find ourselves, in whatever circumstances, our challenges are not insurmountable. At least there can be a significant gain in consciousness, regardless of apparent difficulties or even tragedies in the world of form. |
449. Phát biểu trên thật đáng an tâm. Những ai sẽ đọc các tác phẩm của Chân sư Tây Tạng với bất kỳ mức độ chuyên cần nào hẳn đã đưa ra quyết định phụng sự tiến hoá “hay…Thượng đế”. Vì vậy, chúng ta được trấn an rằng ở bất cứ nơi đâu chúng ta thấy mình, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, những thách thức của chúng ta không phải là không thể vượt qua. Ít nhất vẫn có thể có một sự tăng trưởng đáng kể trong tâm thức, bất kể những khó khăn bề ngoài hay ngay cả những bi kịch trong thế giới hình tướng. |
|
Prior to that he may, and will, be driven by the gales of circumstance; |
Trước đó y có thể, và sẽ, bị những cơn gió dữ của hoàn cảnh cuốn đi; |
|
450. This is what DK has called being “drive up and down the land”. He is swept by irresistible forces and has no say regarding the forces which sweep him |
450. Đây là điều Chân sư DK đã gọi là bị “xô đẩy lên xuống khắp miền đất”. Y bị cuốn bởi những mãnh lực không thể cưỡng lại và không có tiếng nói nào đối với những mãnh lực cuốn y đi. |
|
451. The correct appropriation of the energies of Saturn bring this phase to a close. |
451. Sự chiếm dụng đúng đắn các năng lượng của Sao Thổ đưa giai đoạn này đến chỗ kết thúc. |
|
452. We are also reminded of the involuntary sacrifices to which the human being is subjected when working upon the third petal in the first tier of the egoic lotus—a sacrifice petal. |
452. Chúng ta cũng được nhắc đến những sự hy sinh không tự nguyện mà con người phải chịu khi làm việc trên cánh hoa thứ ba trong vòng thứ nhất của hoa sen chân ngã—một cánh hoa hi sinh. |
|
the press of group and racial karma |
sức ép của nghiệp quả nhóm và chủng tộc |
|
453. People are caught up in terrible circumstances through race wars, attempted genocides, etc. |
453. Con người bị cuốn vào những hoàn cảnh khủng khiếp qua các cuộc chiến chủng tộc, những nỗ lực diệt chủng, v.v. |
|
will force him into situations necessary for the process of awakening him to his own innate possibilities. |
sẽ buộc y vào những tình huống cần thiết cho tiến trình đánh thức y đối với những khả năng bẩm sinh của chính mình. |
|
454. Much of this is accomplished in the Hall of Ignorance, climaxing with the kinds of events which transpire in the work of the third petal. |
454. Phần lớn điều này được hoàn thành trong Phòng Vô Minh, đạt cực điểm với những loại biến cố xảy ra trong công việc của cánh hoa thứ ba. |
|
455. Master M has told us that “obstacles are possibilities”. Apparently, very difficult circumstances will either awaken the human being to “his own innate possibilities” or will temporarily crush him, thus awakening in him the resolve to avoid such a crushing experience in the future. |
455. Chân sư M. đã nói với chúng ta rằng “chướng ngại là những khả năng”. Rõ ràng, những hoàn cảnh rất khó khăn hoặc sẽ đánh thức con người đối với “những khả năng bẩm sinh của chính mình” hoặc sẽ tạm thời nghiền nát y, nhờ đó đánh thức nơi y quyết tâm tránh một kinh nghiệm bị nghiền nát như thế trong tương lai. |
|
Once he becomes the conscious builder himself, seeking to control the forces and builders of his lower nature, and to construct the, then he is no longer subject to the earlier conditions. |
Một khi y trở thành chính đấng kiến tạo có ý thức, tìm cách kiểm soát các mãnh lực và các đấng kiến tạo của bản chất thấp của mình, và kiến tạo, thì y không còn lệ thuộc vào những điều kiện trước kia nữa. |
|
456. The discipline of overwhelming circumstance can be removed. He will guide himself in a suitable direction and no longer needs to be swept along against his desires—we could hardly say “will”. |
456. Kỷ luật của hoàn cảnh áp đảo có thể được dỡ bỏ. Y sẽ tự hướng dẫn mình theo một phương hướng thích hợp và không còn cần bị cuốn đi trái với dục vọng của mình nữa—chúng ta khó có thể nói là trái với “ý chí”. |
|
457. We are dealing with conditions and conditioning—the realm of lower Saturn. We note that Saturn is in detriment (weakened) in Leo, the sign of the inner, positive Self. As the soul-center within man increases in power, man becomes positive to circumstance (a Leo and solar ability), becoming Self-directing. |
457. Chúng ta đang bàn về các điều kiện và sự tác động định hình—lĩnh vực của Sao Thổ thấp. Chúng ta lưu ý rằng Sao Thổ ở thế suy yếu trong Sư Tử, dấu hiệu của Bản Ngã bên trong, tích cực. Khi trung tâm linh hồn trong con người gia tăng quyền năng, con người trở nên tích cực đối với hoàn cảnh (một khả năng của Sư Tử và thái dương), trở nên Tự Ngã-định hướng. |
|
He becomes a ruler, a builder, and a transmitter, until the time comes when he is one with the solar Angels, and the work of human evolution is accomplished. |
Y trở thành một người cai quản, một đấng kiến tạo, và một tác nhân truyền dẫn, cho đến khi thời điểm đến khi y là một với các Thái dương Thiên Thần, và công việc của tiến hoá nhân loại được hoàn tất. |
|
458. Man as a ruler, or inner ruler, is the ‘king’ of his own little system. This is an advanced Leonian state. Man becomes solarized. |
458. Con người như một người cai quản, hay người cai quản bên trong, là “vua” của hệ thống nhỏ bé của chính mình. Đây là một trạng thái Sư Tử tiến bộ. Con người trở nên được thái dương hóa. |
|
459. Man is taking over the functions of the higher builders and eventually, as he becomes one with the Solar Angels, of the Solar Angels themselves. |
459. Con người đang đảm nhận các chức năng của những đấng kiến tạo cao hơn và cuối cùng, khi y trở thành một với các Thái dương Thiên Thần, cả những chức năng của chính các Thái dương Thiên Thần nữa. |
|
460. Then man himself becomes the “Builder” and, identified with the Ego, the transmitter. |
460. Khi đó chính con người trở thành “Đấng Kiến Tạo” và, đồng hoá với Chân ngã, là tác nhân truyền dẫn. |
|
461. It is all a question of the gradual assumption of spiritual responsibility. |
461. Tất cả chỉ là vấn đề dần dần đảm nhận trách nhiệm tinh thần. |
|
462. To become one with the Solar Angels does not indicate that man has ascended to their high spiritual status, but rather than he has merged himself with that aspect of their presence which underlies the egoic lotus and which has supervised his evolution over millions of years. Man, then, becomes his own supervisor. |
462. Trở thành một với các Thái dương Thiên Thần không có nghĩa là con người đã thăng lên địa vị tinh thần cao của các Ngài, mà đúng hơn là y đã hợp nhất mình với phương diện hiện diện của các Ngài nằm bên dưới hoa sen chân ngã và đã giám sát sự tiến hoá của y suốt hàng triệu năm. Khi đó, con người trở thành người giám sát của chính mình. |
|
What has been said above is very superficial, and only that has been imparted which has a profound significance for man at this time. |
Điều đã được nói ở trên là rất hời hợt, và chỉ những gì có thâm nghĩa sâu xa đối với con người vào lúc này mới được truyền đạt. |
|
463. One can only imagine what the Tibetan must know if what He has given seems to him superficial! |
463. Người ta chỉ có thể hình dung Chân sư Tây Tạng hẳn phải biết những gì nếu điều Ngài đã ban ra lại dường như hời hợt đối với Ngài! |
|
464. As human beings, we must necessarily solve our own problems first before we can be effective on a planetary level (though there is naturally interdependence between the smaller and larger spheres). |
464. Với tư cách những con người, tất yếu trước hết chúng ta phải giải quyết các vấn đề của chính mình trước khi có thể hữu hiệu ở cấp độ hành tinh (dù dĩ nhiên có sự tương thuộc giữa các khối cầu nhỏ hơn và lớn hơn). |
|
Much must be inferred, and more must be arrived at under the Law of Correspondences. |
Nhiều điều phải được suy ra, và nhiều điều hơn nữa phải đạt đến dưới định luật tương ứng. |
|
465. DK is telling us how to proceed. Infer and apply the Law of Correspondences. We are to use our reason on the way to developing Pure Reason. It is a monumental task, but those who are willing to spend their time in the deepening of their education in spiritual occultism can go a long way in developing the higher understanding. |
465. Chân sư DK đang cho chúng ta biết cách tiến hành. Hãy suy luận và áp dụng định luật tương ứng. Chúng ta phải dùng lý trí của mình trên đường phát triển Lý Trí Thuần Khiết. Đó là một nhiệm vụ đồ sộ, nhưng những ai sẵn lòng dành thời gian để đào sâu nền giáo dục của mình trong huyền bí học tinh thần có thể tiến rất xa trong việc phát triển sự thấu hiểu cao hơn. |
|
It must ever be borne in mind likewise that our basic conception is one of fiery energy, of force centres set in motion, and kept in active vibration, by the pulsation of still greater centres. |
Cũng phải luôn ghi nhớ rằng quan niệm căn bản của chúng ta là về năng lượng lửa, về các trung tâm mãnh lực được đặt vào chuyển động, và được giữ trong rung động hoạt động, bởi sự rung mạch của những trung tâm còn lớn hơn. |
|
466. DK has laid out a large perspective which we are to maintain. |
466. Chân sư DK đã trình bày một viễn cảnh rộng lớn mà chúng ta phải duy trì. |
|
467. We are to hold the vision of— |
467. Chúng ta phải giữ linh ảnh về— |
|
a. Fiery energy |
a. Năng lượng lửa |
|
b. Force centers set in motion (displaying fiery energy and energized by sources of fiery energy) |
b. Các trung tâm mãnh lực được đặt vào chuyển động (biểu lộ năng lượng lửa và được tiếp năng lượng bởi các nguồn năng lượng lửa) |
|
c. Force centers kept in active vibration |
c. Các trung tâm mãnh lực được giữ trong rung động hoạt động |
|
d. Force centers set in motion and kept in active vibration by the pulsation of still greater centers. |
d. Các trung tâm mãnh lực được đặt vào chuyển động và được giữ trong rung động hoạt động bởi sự rung mạch của những trung tâm còn lớn hơn. |
|
468. When we deal with “pulsation”, we are entering the domain of the first ray. The Jewel in the Lotus, the generically first ray center within the egoic lotus, pulsates and thus energizes all other aspects of the lotus and the personality expression of the egoic lotus within the three lower worlds. |
468. Khi chúng ta bàn đến “rung mạch”, chúng ta đang đi vào lĩnh vực của cung một. Bảo Châu trong Hoa Sen, trung tâm cung một theo nghĩa tổng quát bên trong hoa sen chân ngã, rung mạch và nhờ đó tiếp năng lượng cho mọi phương diện khác của hoa sen và cho sự biểu lộ phàm ngã của hoa sen chân ngã trong ba cõi thấp. |
|
Every form is built of fiery atoms, or energetic lives, through the agency of greater lives, and is held in coherent form within the still greater sheaths,—that greater sheath being to the lesser what the macrocosm is to the microcosm. |
Mọi hình tướng đều được xây dựng bằng các nguyên tử lửa, hay các sự sống năng lượng, thông qua tác động của những sự sống lớn hơn, và được giữ trong hình tướng cố kết bên trong những vỏ bọc còn lớn hơn,—vỏ bọc lớn hơn ấy đối với cái nhỏ hơn cũng như đại thiên địa đối với tiểu thiên địa. |
|
469. DK offers a picture of creative coherency. |
469. Chân sư DK đưa ra một bức tranh về sự cố kết sáng tạo. |
|
470. It is well to remember that atoms are not just material structures but are tiny expressions of fire. |
470. Nên nhớ rằng các nguyên tử không chỉ là những cấu trúc vật chất mà còn là những biểu lộ nhỏ bé của lửa. |
|
471. In all this creative process we have to look to the greater, encompassing lives as major factors inducing coherency is lesser lives. |
471. Trong toàn bộ tiến trình sáng tạo này, chúng ta phải nhìn đến những sự sống lớn hơn, bao trùm hơn như những yếu tố chính gây ra sự cố kết nơi các sự sống nhỏ hơn. |
|
472. The greater holds the lesser together. |
472. Cái lớn hơn giữ cái nhỏ hơn lại với nhau. |
|
473. Fiery atoms may be of all kinds. Some are substantial—i.e., a part of that which we call “building essence”, “elemental essence” or “deva substance” (in its lowest category). |
473. Các nguyên tử lửa có thể thuộc mọi loại. Một số là chất thể—tức là một phần của điều chúng ta gọi là “tinh chất kiến tạo”, “Tinh chất hành khí” hay “chất liệu thiên thần” (trong loại thấp nhất của nó). |
|
474. But “fiery atoms” can also be permanent atoms which are relatively large composite structures. |
474. Nhưng “các nguyên tử lửa” cũng có thể là các nguyên tử trường tồn, vốn là những cấu trúc hợp thành tương đối lớn. |
|
All these groups of building lives may be divided into three groups of energy units, and their nature deduced from the phrases: |
Tất cả những nhóm sự sống kiến tạo này có thể được chia thành ba nhóm đơn vị năng lượng, và bản chất của chúng được suy ra từ các cụm từ sau: |
|
1. Groups of lives animated by dynamic energy. [the energy of Shiva] |
1. Những nhóm sự sống được linh hoạt bởi năng lượng động lực. [năng lượng của Shiva] |
|
2. Groups of lives animated by radiant energy.. [the energy of Vishnu] |
2. Những nhóm sự sống được linh hoạt bởi năng lượng bức xạ.. [năng lượng của Vishnu] |
|
3. Groups of lives animated by atomic energy.. [the energy of Brahma] |
3. Những nhóm sự sống được linh hoạt bởi năng lượng nguyên tử.. [năng lượng của Brahma] |
|
475. This is the overview. When DK speaks of “groups of building lives” He is including many kinds of lives mentioned in the foregoing pages. |
475. Đây là cái nhìn tổng quát. Khi Chân sư DK nói về “những nhóm sự sống kiến tạo”, Ngài đang bao gồm nhiều loại sự sống được nhắc đến trong các trang trước. |
|
476. The lives animated by dynamic energy are Builders who are animated by Spirit/Monad and (within the cosmic physical plane) build within the realms of the cosmic ethers. |
476. Những sự sống được linh hoạt bởi năng lượng động lực là các Đấng Kiến Tạo được linh hoạt bởi Tinh thần/Chân thần và (trong cõi hồng trần vũ trụ) kiến tạo trong các lĩnh vực của các dĩ thái vũ trụ. |
|
477. The lives animated by radiant energy are Builders within the domain of the second aspect, and, as regards man, build within the realm where solar fire predominates. For man, this is the higher mental plane. Many builders of the human personality are animated by the Ego, the source of radiant energy. |
477. Những sự sống được linh hoạt bởi năng lượng bức xạ là các Đấng Kiến Tạo trong lĩnh vực của phương diện thứ hai, và, xét về con người, kiến tạo trong lĩnh vực nơi Lửa Thái dương chiếm ưu thế. Đối với con người, đây là Cõi thượng trí. Nhiều đấng kiến tạo của phàm ngã con người được linh hoạt bởi Chân ngã, nguồn của năng lượng bức xạ. |
|
478. Within the realm of matter/substance, are lives animated by atomic energy. These are the blind, substantial lives, the “building essence” which is mounded by the two higher groups of lives. |
478. Trong lĩnh vực của vật chất/chất liệu, có những sự sống được linh hoạt bởi năng lượng nguyên tử. Đây là những sự sống mù quáng, có chất thể, “tinh chất kiến tạo” được hai nhóm sự sống cao hơn vun đắp nên. |
|
479. We are examining the dynamic energy of Spirit; the radiant energy of soul; the atomic energy of matter. These are the three great divisions to be kept in mind as we attempt to understand the macrocosm and microcosm. |
479. Chúng ta đang khảo sát năng lượng động lực của tinh thần; năng lượng bức xạ của linh hồn; năng lượng nguyên tử của vật chất. Đây là ba phân chia lớn cần được ghi nhớ khi chúng ta cố gắng thấu hiểu đại thiên địa và tiểu thiên địa. |
|
These again are the sumtotal of the three fires, electric fire, solar fire and fire by friction. |
Đến lượt chúng, những điều này lại là tổng số của ba ngọn lửa, Lửa Điện, Lửa Thái dương và Lửa ma sát. |
|
480. Another name for dynamic energy is electric fire. There are many dynamic lives within the realm of electric fire. |
480. Một tên gọi khác của năng lượng động lực là Lửa Điện. Có nhiều sự sống động lực trong lĩnh vực của Lửa Điện. |
|
481. Another name for radiant energy is solar fire. There are many radiant live with the realm of solar fire. |
481. Một tên gọi khác của năng lượng bức xạ là Lửa Thái dương. Có nhiều sự sống bức xạ trong lĩnh vực của Lửa Thái dương. |
|
482. Another name for atomic energy is fire by friction. There are many atomically vivified lives within the realm of fire by friction. |
482. Một tên gọi khác của năng lượng nguyên tử là Lửa ma sát. Có nhiều sự sống được tiếp sinh lực theo lối nguyên tử trong lĩnh vực của Lửa ma sát. |
|
In terms of the cosmic [Page 947] physical plane, the correspondence to the systemic plane can be seen in the following tabulation: |
Xét theo cõi hồng trần vũ trụ, sự tương ứng với cõi hệ mặt trời có thể được thấy trong bảng sau:[Page 947] |
|
483. Important and thought provoking correspondences. |
483. Những tương ứng quan trọng và gợi nhiều suy nghĩ. |
|
484. From the systemic perspective and that of the systemic physical plane, dynamic energy is found on the atomic subplane of the etheric-physical plane; radiant energy upon the lower three ethers of the systemic physical plane; atomic energy upon the three dense levels of the systemic physical plane. |
484. Từ viễn cảnh hệ mặt trời và của cõi hồng trần hệ mặt trời, năng lượng động lực được tìm thấy trên cõi phụ nguyên tử của cõi dĩ thái-hồng trần; năng lượng bức xạ trên ba dĩ thái thấp của cõi hồng trần hệ mặt trời; năng lượng nguyên tử trên ba cấp độ đậm đặc của cõi hồng trần hệ mặt trời. |
|
485. If we take the macrocosmic correspondence and consider the cosmic physical plane as a whole, we have that which is given below. |
485. Nếu chúng ta lấy sự tương ứng đại thiên địa và xem xét toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ, chúng ta có điều được nêu dưới đây. |
|
1. Dynamic energy…electric fire…..atomic subplane. First etheric substance. Plane adi. |
1. Năng lượng động lực…Lửa Điện…..cõi phụ nguyên tử. Chất liệu dĩ thái thứ nhất. Cõi adi. |
|
2. Radiant energy…solar fire……..three cosmic etheric levels. Logoic etheric body. |
2. Năng lượng bức xạ…Lửa Thái dương……..ba cấp độ dĩ thái vũ trụ. Thể dĩ thái của Thượng đế. |
|
3. Atomic energy…fire by friction…three planes of the three worlds. Logoic dense vehicle. |
3. Năng lượng nguyên tử…Lửa ma sát…ba cõi của ba cõi giới. Vận cụ đậm đặc của Thượng đế. |
|
486. The true home of electric fire (as far as the cosmic physical plane is concerned) is not all the cosmic etheric planes—rather, most focally, the plane of adi. |
486. Quê hương đích thực của Lửa Điện (xét theo cõi hồng trần vũ trụ) không phải là toàn bộ các cõi dĩ thái vũ trụ—mà đúng hơn, tập trung nhất là cõi adi. |
|
487. First etheric substance is cosmic-physical “monadic essence”. |
487. Chất liệu dĩ thái thứ nhất là “tinh chất chân thần” của cõi hồng trần-vũ trụ. |
|
488. Radiant energy is not confined to the domain of solar fire as the average disciple or aspirant experiences it, but expresses through the three lower cosmic ethers. |
488. Năng lượng bức xạ không bị giới hạn trong lĩnh vực của Lửa Thái dương như đệ tử hay người chí nguyện trung bình kinh nghiệm, mà biểu lộ qua ba dĩ thái vũ trụ thấp hơn. |
|
489. We are reminded that within the realm of Agni (considered as the personality of the Solar Logos) solar fire expresses on the cosmic physical plane through the second, third and fourth ethers. |
489. Chúng ta được nhắc rằng trong lĩnh vực của Agni (được xem như phàm ngã của Thái dương Thượng đế), Lửa Thái dương biểu lộ trên cõi hồng trần vũ trụ qua dĩ thái thứ hai, thứ ba và thứ tư. |
|
He [Lord Agni] shows forth as solar fire on the second, third and fourth, and as ‘fire by friction’ on the fifth, sixth and seventh. (TCF 521-522) |
Ngài [Lord Agni] biểu lộ như Lửa Thái dương trên thứ hai, thứ ba và thứ tư, và như ‘Lửa ma sát’ trên thứ năm, thứ sáu và thứ bảy. (TCF 521-522) |
|
490. As, from the solar-logoic perspective, the three lower cosmic physical subplanes are not principled, they are the natural domain for the expression of the atomic energy of the solar logoic physical body. For the Solar Logos this includes the higher mental plane, though it can be questioned whether this is the case for our Planetary Logos. |
490. Vì từ viễn cảnh thái dương-logoic, ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ không có nguyên khí, nên chúng là lĩnh vực tự nhiên cho sự biểu lộ của năng lượng nguyên tử của thể hồng trần thái dương-logoic. Đối với Thái dương Thượng đế, điều này bao gồm Cõi thượng trí, dù có thể đặt câu hỏi liệu điều này có đúng với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta hay không. |
|
491. We have probably gathered by examining this chart that our normal human lives are conducted within the realm of “atomic energy” and under the energy of fire by friction. Even what we call solar fire as it expresses through the Ego on the higher mental plane, is from the solar perspective, still fire by friction. |
491. Có lẽ qua việc khảo sát biểu đồ này, chúng ta đã nhận ra rằng đời sống nhân loại bình thường của chúng ta được tiến hành trong lĩnh vực của “năng lượng nguyên tử” và dưới năng lượng của Lửa ma sát. Ngay cả điều chúng ta gọi là Lửa Thái dương khi nó biểu lộ qua Chân ngã trên Cõi thượng trí, thì từ viễn cảnh thái dương vẫn là Lửa ma sát. |
|
492. From this perspective, we only begin to experience true solar fire once we are polarized on the fourth cosmic ether, the buddhic plane. |
492. Từ viễn cảnh này, chúng ta chỉ bắt đầu kinh nghiệm Lửa Thái dương đích thực một khi chúng ta phân cực trên dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề. |
|
Each plane will be found to reflect this order in an interesting manner. |
Mỗi cõi sẽ được thấy là phản chiếu trật tự này theo một cách thú vị. |
|
493. We can work out these correspondences, and no doubt, in the new esoteric schools of the future, it will be done as part of normal class work. |
493. Chúng ta có thể triển khai những tương ứng này, và chắc chắn trong các trường nội môn mới của tương lai, điều đó sẽ được thực hiện như một phần của công việc lớp học bình thường. |