Bình Giảng về Lửa Vũ Trụ S8S4 (958-977)

📘 Sách: Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S8 – Tác giả: Michael D. Robbins

Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến trang sách tương ứng trong TCF

S8S4 Part I

TCF 959-963

TCF 958-963

28 November – 13 December 2008

28 tháng Mười Một – 13 tháng Mười Hai 2008

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi trình chiếu trong các lớp học. Cước chú và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Có đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF đặt sẵn bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

1. We now enter a very practical section of A Treatise on Cosmic Fire—one which touches on the development of the disciple as a worker in white magic.

1. Giờ đây chúng ta bước vào một phần rất thực tiễn của Luận về Lửa Vũ Trụ—một phần chạm đến sự phát triển của đệ tử như một người hoạt động trong chánh thuật.

2. in the Three Worlds.

2. trong Ba Cõi Giới.

I have a few more words to say anent this subject of man as a Creator in mental matter. The words are addressed to all those students who—through their ability to concentrate—have developed a certain measure of thought control, and who desire to understand the process of creation with greater scientific accuracy.

Tôi còn vài lời nữa muốn nói liên quan đến chủ đề con người như một Đấng Sáng Tạo trong chất liệu trí tuệr. Những lời này được gửi đến tất cả những đạo sinh mà—nhờ khả năng tập trung—đã phát triển được một mức độ kiểm soát tư tưởng nhất định, và mong muốn hiểu tiến trình sáng tạo với độ chính xác khoa học lớn hơn.

2. We see that the capacity to concentrate is the sine qua non of thought control. Who has not wrestled with the lower mind?

2. Chúng ta thấy rằng năng lực tập trung là điều kiện tiên quyết của sự kiểm soát tư tưởng. Ai mà chưa từng vật lộn với Hạ trí?

3. We are engaged with the science thoughtform building. We have build thoughts for millions of years—relatively unconsciously. We have not really understood what we were constantly doing.

3. Chúng ta đang làm việc với khoa học kiến tạo Hình tư tưởng. Chúng ta đã xây dựng tư tưởng trong hàng triệu năm—một cách tương đối vô thức. Chúng ta thực sự chưa hiểu mình liên tục đang làm gì.

We will, therefore, consider two factors in the process of thought-form building:

Vì vậy, chúng ta sẽ xem xét hai yếu tố trong tiến trình kiến tạo Hình tư tưởng:

a. That of aligning with the Ego.88 [Alignment: See Letters on Occult Meditation, pp. 1-7.]

a. Yếu tố chỉnh hợp với chân ngã.88 [Chỉnh hợp: Xem Thư về Tham Thiền Huyền Bí, tr. 1-7.]

4. Man as “Ego” is considered to reside upon the third or second subplanes of the higher mental plane.

4. Con người như “chân ngã” được xem là cư ngụ trên cõi phụ thứ ba hoặc thứ hai của cõi thượng trí.

5. It can be questioned how many minutes or hours of the day we are actually aligned with the Ego. In a way, alignment is both the beginning and the end (as the prelude to absorption).

5. Người ta có thể đặt câu hỏi rằng trong một ngày, thực sự có bao nhiêu phút hay giờ chúng ta được chỉnh hợp với chân ngã. Theo một nghĩa nào đó, sự chỉnh hợp vừa là khởi đầu vừa là kết thúc (như khúc dạo đầu cho sự hấp thu).

b. The process of impressing the egoic will, on the physical brain, or (to word it otherwise) the initial utilisation of egoic energy. [Page 959]

b. Tiến trình ghi khắc ý chí chân ngã lên bộ não hồng trần, hay (nói cách khác) việc sử dụng ban đầu năng lượng chân ngã. [Trang 959]

6. We note that the egoic will must make its way to the very lowest portion of the human apparatus. Matter of the dense physical plane must be impressed.

6. Chúng ta lưu ý rằng ý chí chân ngã phải đi xuống đến phần thấp nhất của bộ máy con người. Vật chất của cõi hồng trần đậm đặc phải được ghi khắc.

7. It is also significant that it is the will that must impress the brain. Will and brain are fundamentally related—one the power to direct, the other the physical organ of direction.

7. Cũng đáng chú ý là chính ý chí phải ghi khắc lên bộ não. Ý chí và bộ não có liên hệ căn bản với nhau—một bên là quyền năng điều khiển, bên kia là cơ quan hồng trần của sự điều khiển.

8. We note that this type of impression concerns the “initial” use of egoic energy. There must be other and subsequent uses.

8. Chúng ta lưu ý rằng loại ghi khắc này liên quan đến việc sử dụng năng lượng chân ngã “ban đầu”. Hẳn phải có những cách sử dụng khác và tiếp theo.

Let us take them one by one:

Chúng ta hãy lần lượt xét từng điều:

              a. Alignment with the Ego. This, as we know, is only possible to the man who has reached the Probationary Path, or a certain very definite point in evolution.

              a. Chỉnh hợp với chân ngã. Điều này, như chúng ta biết, chỉ có thể đối với con người đã đạt đến Con Đường Dự Bị, hay một điểm tiến hoá rất xác định nào đó.

9. It appears, in this sentence, that the “certain very definite point in evolution” is equivalent to the Probationary Path.

9. Có vẻ như, trong câu này, “một điểm tiến hoá rất xác định nào đó” tương đương với Con Đường Dự Bị.

10. If it is so “definite”, one wonders exactly what the Masters ‘see’ to confirm that this point in evolution has been reached. Perhaps there are certain activation in the fifth petal of the egoic lotus which reveal the status.

10. Nếu nó “xác định” đến như vậy, người ta tự hỏi chính xác các Chân sư “thấy” điều gì để xác nhận rằng điểm tiến hoá này đã đạt tới. Có lẽ có những sự hoạt hóa nhất định trong cánh hoa thứ năm của Hoa Sen Chân Ngã bộc lộ tình trạng ấy.

11. The obvious implication is by far the vast majority of human beings are not aligned with the Ego, much less directed or consciously directed by that Ego.

11. Hàm ý hiển nhiên là đại đa số con người không được chỉnh hợp với chân ngã, huống chi được chân ngã ấy điều khiển hay điều khiển một cách có ý thức.

12. We also realize that alignment with the Ego is certainly possible before a man has taken the first initiation, as the Probationary Path begins before the first degree is consummated.

12. Chúng ta cũng nhận ra rằng sự chỉnh hợp với chân ngã chắc chắn có thể xảy ra trước khi một người trải qua lần điểm đạo thứ nhất, vì Con Đường Dự Bị bắt đầu trước khi cấp độ thứ nhất được hoàn tất.

13. A the initial reversal of the wheel, some degree of alignment with the Ego occurs.

13. Khi bánh xe bắt đầu đảo chiều, một mức độ chỉnh hợp nào đó với chân ngã xuất hiện.

Through knowledge and practice, the power has been acquired of automatically and scientifically utilising the sutratma (or channel) as a means of contact.

Thông qua tri thức và thực hành, quyền năng đã được đạt tới để tự động và một cách khoa học sử dụng sutratma (hay kênh dẫn) như một phương tiện tiếp xúc.

14. We note it is the “life thread” by means of which the personality contacts the Ego. DK is not here speaking of even the lower portion of the antahkarana connecting the mental unit with the causal body, though such a link is implied. Yet, since he is speaking of “power” to contact the Ego, it is understandable why the sutratma is necessary for such contact. The power to achieve certain levels of consciousness precedes the achievement of consciousness itself.

14. Chúng ta lưu ý rằng chính “sợi dây sự sống” là phương tiện nhờ đó phàm ngã tiếp xúc với chân ngã. Ở đây Chân sư DK không nói đến ngay cả phần thấp hơn của antahkarana nối đơn vị hạ trí với thể nguyên nhân, dù một liên kết như thế được hàm ý. Tuy nhiên, vì ông đang nói đến “quyền năng” để tiếp xúc với chân ngã, nên có thể hiểu được vì sao sutratma là cần thiết cho sự tiếp xúc ấy. Quyền năng để đạt tới những cấp độ tâm thức nhất định đi trước sự đạt được chính tâm thức ấy.

15. It is the ‘energy presence’ of the Ego which is utilized to achieve contact.

15. Chính “sự hiện diện năng lượng” của chân ngã được sử dụng để đạt được sự tiếp xúc.

16. Without practice, knowledge alone will not provide the necessary contact.

16. Nếu không có thực hành, chỉ riêng tri thức sẽ không cung cấp được sự tiếp xúc cần thiết.

17. Apparently, even upon the Probationary Path, the contact is to be automatic and scientifically executed.

17. Dường như, ngay cả trên Con Đường Dự Bị, sự tiếp xúc cũng phải được thực hiện một cách tự động và khoa học.

When to this ability is added that of utilising with equal ease the antaskarana (or bridge between the Triad and the personality) then we have a powerful agent of the Hierarchy on the earth.

Khi vào khả năng này được thêm vào khả năng sử dụng antaskarana với sự dễ dàng tương đương (hay cây cầu giữa Tam nguyên tinh thần và phàm ngã) thì chúng ta có một tác nhân hùng mạnh của Thánh Đoàn trên trần gian.

18. To be a true and powerful “agent of the Hierarchy on earth” necessitates contact with the spiritual triad. Power (the will aspect) descends via the antahkarana. True hierarchical workers are triadally focussed.

18. Để là một “tác nhân của Thánh Đoàn trên trần gian” chân chính và hùng mạnh, cần phải có sự tiếp xúc với Tam Nguyên Tinh Thần. Quyền năng (phương diện ý chí) giáng xuống qua antahkarana. Những người hoạt động đích thực của Thánh đoàn được tập trung trong Tam nguyên tinh thần.

19. For those of us who may find the process of building and utilising the antahkarana somewhat vague, DK assures us that utilization of this more subtle “inner organ” is to become as easy as utilizing one’s contact with the causal body (the vehicle of the soul)—i.e., utilizing the lower portion of the “bridge”.

19. Đối với những ai trong chúng ta có thể thấy tiến trình xây dựng và sử dụng antahkarana phần nào mơ hồ, Chân sư DK bảo đảm với chúng ta rằng việc sử dụng “cơ quan nội tại” tinh tế hơn này sẽ trở nên dễ dàng như việc sử dụng sự tiếp xúc của mình với thể nguyên nhân (vận cụ của linh hồn)—tức là, sử dụng phần thấp của “cây cầu”.

20. The antahkarana gives access to the true Ego—the spiritual triad. That which we call the Ego on the two lower subplanes of the higher mental plane is the Ego ‘enshrouded’ in the causal body.

20. Antahkarana cho phép tiếp cận chân ngã đích thực—Tam nguyên tinh thần. Điều mà chúng ta gọi là chân ngã trên hai cõi phụ thấp của Cõi thượng trí là chân ngã được ‘bao bọc’ trong thể nguyên nhân.

We might generalise in the following manner as to the stages of growth and consequent ability to become the agent of ever increasing powers,

Chúng ta có thể khái quát hóa theo cách sau đây về các giai đoạn tăng trưởng và năng lực hệ quả để trở thành tác nhân của những quyền năng ngày càng gia tăng,

21. The “powers” are resident ‘above’ and descend when proper contact is established.

21. Các “quyền năng” cư ngụ ở ‘bên trên’ và giáng xuống khi sự tiếp xúc thích đáng được thiết lập.

22. Ponder on the thought—“ever-increasing powers”.

22. Hãy suy ngẫm về tư tưởng—“những quyền năng ngày càng gia tăng”.

tapping the resources of dynamic energy in the three worlds.

khai mở các nguồn lực của năng lượng năng động trong ba cõi giới.

23. Dynamic energy is of the will, of the Spirit and to a lesser extent of the Triad.. Dynamic energy is capable of creating ‘movements’ within the lower three worlds. In addition there are energies within the lower three worlds which contact with higher sources (for instance, the Ego or Triad) will set loose.

23. Năng lượng năng động thuộc về ý chí, thuộc về tinh thần và ở mức độ thấp hơn thuộc về Tam nguyên tinh thần.. Năng lượng năng động có khả năng tạo ra những ‘chuyển động’ trong ba cõi thấp. Ngoài ra còn có những năng lượng bên trong ba cõi thấp mà sự tiếp xúc với các nguồn cao hơn (chẳng hạn chân ngã hay Tam nguyên tinh thần) sẽ giải phóng ra.

Lower types of humanity use the sutratma as it passes through the etheric body.

Những loại thấp của nhân loại sử dụng sutratma khi nó đi qua thể dĩ thái.

24. The sutratma always supports of empowers the consciousness of the vibratory field through which it passes. There can be no consciousness without life support.

24. Sutratma luôn nâng đỡ hoặc tiếp năng lực cho tâm thức của trường rung động mà nó đi qua. Không thể có tâm thức nếu không có sự nâng đỡ của sự sống.

25. Such people (“lower types of humanity”) are basically physically polarized, recognizing that the etheric body is essentially a physical vehicle.

25. Những người như thế (“những loại thấp của nhân loại”) về căn bản được phân cực hồng trần, nhận biết rằng thể dĩ thái về bản chất là một vận cụ hồng trần.

26. The first personality vehicle to become fully activated is the etheric-physical body. This is literally and symbolically a Lemurian activation.

26. Vận cụ phàm ngã đầu tiên trở nên được hoạt hóa đầy đủ là thể dĩ thái-hồng trần. Điều này theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa biểu tượng là một sự hoạt hóa Lemuria.

Average men utilise almost entirely that part of the sutratma which passes through the astral plane. Their reactions are largely based on desire, and are emotional.

Những người trung bình sử dụng gần như hoàn toàn phần sutratma đi qua cõi cảm dục. Những phản ứng của họ phần lớn dựa trên dục vọng, và mang tính cảm xúc.

27. Average man is definitely emotional in his responses. Average man is rather Atlantean in consciousness. Yet average men, also think (though that thinking be kama-manasic). Thus, the use of the term, “almost entirely”.

27. Con người trung bình rõ rệt là cảm xúc trong các đáp ứng của y. Con người trung bình khá Atlantis trong tâm thức. Tuy nhiên, những người trung bình cũng suy nghĩ (dù sự suy nghĩ ấy là trí-cảm). Vì vậy mới dùng cụm từ “gần như hoàn toàn”.

28. The sutratma (being the “life thread”) naturally passes through all personality vehicles, without which they could not be sustained in livingness.

28. Sutratma (vốn là “sợi dây sự sống”) tự nhiên đi qua mọi vận cụ phàm ngã, nếu không có nó thì chúng không thể được duy trì trong trạng thái sống động.

Intellectual men utilise the sutratma as it passes through the lower levels of the mental plane, down through the astral to the physical in its two sections.

Những người trí thức sử dụng sutratma khi nó đi qua các mức thấp của cõi trí, đi xuống qua cõi cảm dục đến cõi hồng trần trong hai phần của nó.

29. At each successive stage, the progressing man does not lose the sutratma function that demonstrates in the previous stage or stages.

29. Ở mỗi giai đoạn kế tiếp, con người đang tiến hóa không đánh mất chức năng của sutratma đã biểu lộ trong giai đoạn hay các giai đoạn trước đó.

30. Intellectual man is definitely focussed in his lower concrete mind. If a human being were focussed any higher upon the mental plane, he would no longer be strictly “intellectual”.

30. Con người trí thức rõ rệt được tập trung trong hạ trí cụ thể của y. Nếu một con người được tập trung cao hơn trên cõi trí, y sẽ không còn hoàn toàn là “trí thức” nữa.

Their activities are energised by mind and not by desire, as in the earlier cases.

Các hoạt động của họ được tiếp năng lượng bởi trí tuệ chứ không phải bởi dục vọng, như trong các trường hợp trước.

31. Still very few human beings are those whose activities are energized principally by mind. It is not said that no desire is involved in this higher type of energizing.

31. Tuy vậy, vẫn có rất ít con người mà các hoạt động của họ được tiếp năng lượng chủ yếu bởi trí tuệ. Không phải là nói rằng không có dục vọng nào dính líu trong kiểu tiếp năng lượng cao hơn này.

32. Have you checked the sources of your own motivation? Have mental motivations superseded emotionally-based motivations?

32. Bạn đã kiểm tra các nguồn động cơ của chính mình chưa? Những động cơ trí tuệ đã thay thế các động cơ dựa trên cảm xúc chưa?

Aspirants on the physical plane

Những người chí nguyện trên cõi hồng trần

33. DK seems to be hinting that there are effective aspirants on the subtler planes.

33. Chân sư DK dường như đang gợi ý rằng có những người chí nguyện hữu hiệu trên các cõi tinh tế hơn.

use the sutratma as it passes through the two lower subplanes of the abstract levels of the mental plane, and are beginning gradually to build the antaskarana, or the bridge between the Triad and the Personality. The power of the Ego can begin to make itself felt

sử dụng sutratma khi nó đi qua hai cõi phụ thấp của các mức trừu tượng của cõi trí, và đang bắt đầu dần dần xây dựng antaskarana, hay cây cầu giữa Tam nguyên tinh thần và phàm ngã. Quyền năng của chân ngã có thể bắt đầu làm cho chính nó được cảm nhận

34. Technically, the aspirant has advanced to a higher stage of development than the strictly intellectual man, though many aspirants have preserved their intellectual orientation.

34. Về mặt kỹ thuật, người chí nguyện đã tiến đến một giai đoạn phát triển cao hơn con người thuần túy trí thức, dù nhiều người chí nguyện vẫn giữ định hướng trí thức của mình.

35. We might ask whether the stage of aspiration begins before the Ego is focussed on the second subplane of the mental plane. Apparently this is the case. Even though the Ego of average man and even of intellectual man is polarized on the third subplane of the mental plane, the sutratma does not activate the third level of the abstract mental plane until the man has become an aspirant.

35. Chúng ta có thể hỏi liệu giai đoạn chí nguyện có bắt đầu trước khi chân ngã được tập trung trên cõi phụ thứ hai của cõi trí hay không. Rõ ràng là như vậy. Dù chân ngã của con người trung bình và ngay cả của con người trí thức được phân cực trên cõi phụ thứ ba của cõi trí, sutratma không hoạt hóa mức thứ ba của cõi trí trừu tượng cho đến khi con người ấy đã trở thành một người chí nguyện.

36. Here the antahkarana is defined as the “bridge between the Triad and the Personality”. In other contexts, the entire triangle connecting the mental unit, the Jewel in the Lotus and the manasic permanent atom is seen as the antahkarana.

36. Ở đây antahkarana được định nghĩa là “cây cầu giữa Tam nguyên tinh thần và Phàm ngã”. Trong những ngữ cảnh khác, toàn bộ tam giác nối đơn vị hạ trí, Viên Ngọc trong Hoa Sen và nguyên tử trường tồn manas được xem là antahkarana.

37. We have here the implication that for the aspirant some degree of abstract or higher mental thought is present for the higher mental plane is involved in their internal energy dynamics.

37. Ở đây hàm ý rằng đối với người chí nguyện, một mức độ nào đó của tư tưởng trừu tượng hay tư tưởng thượng trí hiện diện, vì Cõi thượng trí có liên quan trong động lực năng lượng nội tại của họ.

38. An aspirant is definitely subject to egoic influence whereas a strictly intellectual man is not.

38. Người chí nguyện rõ rệt chịu ảnh hưởng chân ngã, trong khi con người thuần túy trí thức thì không.

39. Even as an aspirant, one can begin to build the antahkarana.

39. Ngay cả khi là một người chí nguyện, người ta vẫn có thể bắt đầu xây dựng antahkarana.

40. The term “aspirant” covers a wide range of development as even an initiate of the second degree can be considered an aspirant.

40. Thuật ngữ “người chí nguyện” bao trùm một phạm vi phát triển rất rộng, vì ngay cả một điểm đạo đồ của cấp thứ hai cũng có thể được xem là một người chí nguyện.

41. From what is said below we may gather that the term “aspirant” (as just used above) indicates one who has stepped upon the Probationary Path but is not necessarily an initiate of the first degree. The Ego refocuses its polarization onto the second subplane of the mental plane when the individual becomes an aspirant. Such re-polarization may even be true of an “advanced man”. In this case “advanced man” would indicate a stage higher than strictly intellectual man.

41. Từ điều được nói bên dưới, chúng ta có thể suy ra rằng thuật ngữ “người chí nguyện” (như vừa được dùng ở trên) chỉ người đã bước lên Con Đường Dự Bị nhưng chưa nhất thiết là một điểm đạo đồ của cấp thứ nhất. Chân ngã tái tập trung sự phân cực của nó lên cõi phụ thứ hai của cõi trí khi cá nhân trở thành một người chí nguyện. Sự tái phân cực như thế thậm chí có thể đúng với một “con người tiến bộ”. Trong trường hợp này, “con người tiến bộ” sẽ chỉ một giai đoạn cao hơn con người thuần túy trí thức.

42. Some types of intellectual men (at least we call them that) have access also to the abstract mind. DK speaks of intellectual man as if he were only capable of thinking concretely. The higher types of intellectual men have the capacity for abstract thought. Perhaps, in DK’s terminology, we would have to call them “aspirants”.

42. Một số loại người trí thức (ít nhất chúng ta gọi họ như thế) cũng có khả năng tiếp cận cả trí trừu tượng. Chân sư DK nói về con người trí thức như thể y chỉ có khả năng suy nghĩ cụ thể. Những loại người trí thức cao hơn có năng lực tư tưởng trừu tượng. Có lẽ, theo thuật ngữ của Chân sư DK, chúng ta sẽ phải gọi họ là “những người chí nguyện”.

Applicants for initiation and initiates up to the third initiation use both the sutratma and the antaskarana, employing them as a unit.

Những người xin điểm đạo và các điểm đạo đồ cho đến lần điểm đạo thứ ba sử dụng cả sutratma antaskarana, dùng chúng như một đơn vị.

43. The antahkarana is employed as the human being becomes increasingly conscious.

43. Antahkarana được sử dụng khi con người trở nên ngày càng hữu thức.

44. When DK speaks of “applicants for initiation” it seems He is including even applicants for the first initiation. He seems to discriminate between aspirants/probationers and those who are truly “applicants” even for the first degree.

44. Khi Chân sư DK nói về “những người xin điểm đạo”, dường như Ngài bao gồm cả những người xin lần điểm đạo thứ nhất. Dường như Ngài phân biệt giữa những người chí nguyện/người dự bị và những ai thật sự là “người xin” ngay cả đối với cấp thứ nhất.

45. It might be that the type of “applicant” which Master DK has in mind is no lower than the applicant to the second degree, at which time the antahkarana is built to a noticeable extent.

45. Có thể loại “người xin” mà Chân sư DK nghĩ đến không thấp hơn người xin cấp thứ hai, vào lúc mà antahkarana đã được xây dựng đến một mức đáng kể.

46. To use the sutratma and antahkarana simultaneously suggests an empowered penetration into higher worlds. This simultaneous usage reminds one of the phase of projection in the sixfold method of building the antahkarana.

46. Việc sử dụng sutratma và antahkarana đồng thời gợi ý một sự xuyên nhập được tiếp năng lực vào các thế giới cao hơn. Việc sử dụng đồng thời này gợi nhớ đến giai đoạn phóng chiếu trong phương pháp lục phân xây dựng antahkarana.

The power of the Triad begins to pour through, thus energising all human [Page 960] activities upon the physical plane, and vitalising in ever increasing degree the man’s thought forms.

Quyền năng của Tam nguyên tinh thần bắt đầu tuôn chảy qua, nhờ đó tiếp năng lượng cho mọi hoạt động của con người [Page 960] trên cõi hồng trần, và tiếp sinh lực ở mức độ ngày càng tăng cho các hình tư tưởng của con người.

47. We are speaking of the process of thoughtform vitalization as it occurs for those who are applicants for initiation.

47. Chúng ta đang nói về tiến trình tiếp sinh lực cho hình tư tưởng như nó xảy ra nơi những người xin điểm đạo.

48. Where there is triadal contact, all aspects of human nature are energized.

48. Ở đâu có sự tiếp xúc tam nguyên tinh thần, mọi phương diện của bản chất con người đều được tiếp năng lượng.

49. Can we discriminate within ourselves between—

49. Chúng ta có thể phân biện trong chính mình giữa—

a. Thoughtforms energized from the lower levels of the mental plane

a. Những hình tư tưởng được tiếp năng lượng từ các mức thấp của cõi trí

b. Thoughtforms energized from the Ego on the third and second subplane of the mental plane

b. Những hình tư tưởng được tiếp năng lượng từ chân ngã trên cõi phụ thứ ba và thứ hai của cõi trí

c. Thoughtforms energized body the power of the Triad

c. Những hình tư tưởng được tiếp năng lượng bởi quyền năng của Tam nguyên tinh thần

The key to the formation of the Mayavirupa is found in the right comprehension of the process.

Chìa khóa cho sự hình thành của Mayavirupa được tìm thấy trong sự thấu hiểu đúng đắn về tiến trình này.

50. It is clear that the mayavirupa is formed from an impulse originating within the spiritual triad. It may be supposed that the impact of triadal energy upon the lower mental field creates the mental thoughtform on which the mayavirupa is to be built. As the mayavirupa cannot be formed until after the fourth initiation, and as, following the fourth initiation there is no mental unit, per se, the triadal energy must recreate a kind of mental unit through which to work on the lower mental plane in carrying forward this act of creation.

50. Rõ ràng là mayavirupa được hình thành từ một xung lực phát sinh bên trong Tam nguyên tinh thần. Có thể giả định rằng tác động của năng lượng tam nguyên tinh thần lên trường hạ trí tạo ra hình tư tưởng trí tuệ mà trên đó mayavirupa sẽ được xây dựng. Vì mayavirupa không thể được hình thành cho đến sau lần điểm đạo thứ tư, và vì sau lần điểm đạo thứ tư không còn đơn vị hạ trí, chính nó, nên năng lượng tam nguyên tinh thần phải tái tạo một loại đơn vị hạ trí nào đó để hoạt động qua đó trên cõi hạ trí trong khi xúc tiến hành vi sáng tạo này.

If students will study carefully the above differentiations, much light will be thrown upon the quality of the energy employed in thought-form building.

Nếu các đạo sinh nghiên cứu cẩn thận những sự phân biệt trên, nhiều ánh sáng sẽ được soi rọi lên phẩm tính của năng lượng được sử dụng trong việc xây dựng hình tư tưởng.

51. Our immediate task is to understand the levels from which our thoughtforms are impulsed. Probably for all, there is a mixture of effective impulses. Perhaps our thoughtforms are more concrete than we may have supposed?

51. Nhiệm vụ trước mắt của chúng ta là thấu hiểu những cấp độ mà từ đó các hình tư tưởng của chúng ta được thúc đẩy. Có lẽ đối với tất cả mọi người, có một sự pha trộn của các xung lực hữu hiệu. Có lẽ các hình tư tưởng của chúng ta cụ thể hơn điều chúng ta từng giả định?

In the early stages of alignment, it has to be concisely and carefully brought about through concentration and meditation.

Trong các giai đoạn đầu của sự chỉnh hợp, nó phải được được tạo ra một cách súc tích và cẩn thận qua sự tập trung và tham thiền.

52. This is the method of “practice” which DK mentioned above.

52. Đây là phương pháp “thực hành” mà Chân sư DK đã đề cập ở trên.

53. We learn that alignment is not a natural process but rather an achievement hardly won. This we can verify for ourselves if we have become sensitive to the times when we are truly aligned and the many moments when we may not be.

53. Chúng ta học được rằng sự chỉnh hợp không phải là một tiến trình tự nhiên mà đúng hơn là một thành tựu khó nhọc mới đạt được. Chúng ta có thể tự kiểm chứng điều này nếu đã trở nên nhạy cảm với những lúc mình thật sự được chỉnh hợp và nhiều khoảnh khắc khi mình có thể không được như vậy.

Later, when the right rhythm has been set up in the bodies, and the purification of the sheaths has been rigidly pursued, the dual activity will become practically instantaneous,

Về sau, khi nhịp điệu đúng đắn đã được thiết lập trong các thể, và sự thanh luyện các thể vỏ đã được theo đuổi một cách nghiêm ngặt, hoạt động kép sẽ trở nên hầu như tức thời,

54. Concentration and meditation become practically instantaneous.

54. Sự tập trung và tham thiền trở nên hầu như tức thời.

55. Notice the requirements—right rhythm and purification. It would seem that each body must be rendered rhythmic, rather than characterized by disjointed activity or even chaos, and that the rhythm in one vehicle must correlate relatively harmoniously with the rhythm in the other two.

55. Hãy lưu ý các yêu cầu—nhịp điệu đúng đắn và sự thanh luyện. Dường như mỗi thể phải được làm cho có nhịp điệu, thay vì mang đặc tính hoạt động rời rạc hay thậm chí hỗn loạn, và nhịp điệu trong một vận cụ phải tương quan tương đối hài hòa với nhịp điệu trong hai vận cụ kia.

56. What comes to mind when you think of submitting your three personality vehicles to “right rhythm”? Perhaps it is not so difficult when thinking of the physical body, but what of the astral vehicle or the lower mental vehicle?

56. Điều gì xuất hiện trong tâm trí bạn khi nghĩ đến việc đặt ba vận cụ phàm ngã của mình dưới “nhịp điệu đúng đắn”? Có lẽ điều đó không quá khó khi nghĩ đến thể xác, nhưng còn vận cụ cảm dục hay vận cụ hạ trí thì sao?

57. Perhaps giving due attention to cycles of activity and of receptivity/passivity will give a necessary clue.

57. Có lẽ việc chú ý thích đáng đến các chu kỳ hoạt động và tiếp nhận/thụ động sẽ cung cấp một đầu mối cần thiết.

and the student can then turn his attention to the work of conscious building and vitalisation; his point of concentration will not then be given to the attainment of alignment.

và khi đó đạo sinh có thể hướng sự chú ý của mình đến công việc xây dựng và tiếp sinh lực một cách hữu thức; khi ấy điểm tập trung của y sẽ không còn dành cho việc đạt được sự chỉnh hợp nữa.

58. Let us tabulate the sequence:

58. Chúng ta hãy lập bảng trình tự:

a. Concentration

a. Tập trung

b. Meditation

b. Tham thiền

c. Conscious building

c. Xây dựng hữu thức

d. Vitalization

d. Tiếp sinh lực

59. If there is to be conscious building and vitalization, then concentration cannot be constantly expended on the attainment of alignment.

59. Nếu phải có sự xây dựng và tiếp sinh lực một cách hữu thức, thì sự tập trung không thể liên tục bị tiêu hao vào việc đạt được sự chỉnh hợp.

60. We can see why it is so important to achieve alignment before any really creative work can be accomplished. One must not leap into supposed creativity before one is sure that alignment is established.

60. Chúng ta có thể thấy vì sao việc đạt được sự chỉnh hợp lại quan trọng đến thế trước khi bất kỳ công việc sáng tạo thực sự nào có thể được hoàn thành. Người ta không được lao vào cái gọi là sáng tạo trước khi chắc chắn rằng sự chỉnh hợp đã được thiết lập.

Accurate alignment entails,

Sự chỉnh hợp chính xác bao hàm,

Mental quiescence, or stable vibration,

Sự tĩnh lặng của thể trí, hay rung động ổn định,

61. The contents of the mind cannot be ‘leaping about’ or it will disturb the energy which seeks to descend.

61. Nội dung của thể trí không thể ‘nhảy loạn lên’ nếu không nó sẽ làm xáo trộn năng lượng đang tìm cách giáng xuống.

62. Steady, long breaths will assist in the quieting of the mind.

62. Những hơi thở dài và đều sẽ giúp làm lắng dịu thể trí.

Emotional stability, resulting in limpid reflection,

Sự ổn định cảm xúc, đưa đến sự phản chiếu trong sáng,

63. Eventually, the emotional body is to be a reflector of the intuition or buddhi.

63. Cuối cùng, thể cảm dục phải trở thành một tấm phản chiếu của trực giác hay Bồ đề.

64. We all know that it is impossible to meditate properly in a state of emotional agitation. One must first calm down.

64. Tất cả chúng ta đều biết rằng không thể tham thiền đúng đắn trong trạng thái kích động cảm xúc. Trước hết người ta phải bình tĩnh lại.

65. What would be the quality of thoughtforms built while in an emotional state? They would hardly reflect the Ego.

65. Phẩm tính của những hình tư tưởng được xây dựng trong khi ở trong trạng thái cảm xúc sẽ là gì? Chúng khó có thể phản chiếu chân ngã.

66. The type of meditation we are studying is not kama-manasic.

66. Loại tham thiền mà chúng ta đang nghiên cứu không phải là trí-cảm.

Etheric poise, producing a condition in the head centre which would permit of the direct application of force to the physical brain via the centre.

Sự quân bình dĩ thái, tạo ra một tình trạng trong trung tâm đầu cho phép mãnh lực được áp dụng trực tiếp vào bộ não hồng trần qua trung tâm ấy.

67. This is a poised quiescence of the ethers. Again, long, steady breaths will facilitate this. Both aspects of the physical apparatus (the etheric and the dense physical) must be quieted.

67. Đây là một sự tĩnh lặng quân bình của các dĩ thái. Một lần nữa, những hơi thở dài và đều sẽ tạo thuận lợi cho điều này. Cả hai phương diện của bộ máy hồng trần (dĩ thái và hồng trần đậm đặc) đều phải được làm cho yên lặng.

68. We are given the mode through which the dense physical brain can be impacted from the etheric levels. The line of transmission seems to be from the head center above the head, through the etheric brain and thence to the dense physical brain.

68. Chúng ta được cho biết phương thức mà qua đó bộ não hồng trần đậm đặc có thể nhận tác động từ các mức dĩ thái. Đường truyền dường như là từ trung tâm đầu phía trên đầu, qua não dĩ thái và từ đó đến bộ não hồng trần đậm đặc.

69. We have examined alignment and now take up the question of “physical brain impression”.

69. Chúng ta đã khảo sát sự chỉnh hợp và giờ đây bàn đến vấn đề “sự ghi nhận của bộ não hồng trần”.

c. Physical brain impression. The accurate realisation by the physical brain of what the Ego is seeking to convey concerning the work to be done only becomes possible when two things are realised:

c. Sự ghi nhận của bộ não hồng trần. Sự chứng nghiệm chính xác của bộ não hồng trần về điều mà chân ngã đang tìm cách truyền đạt liên quan đến công việc phải làm chỉ trở nên khả hữu khi hai điều được chứng nghiệm:

70. Within the dense physical brain there must be accurate egoic impression. This means that we, in our normal, waking consciousness, must know what it is that the Ego intends. Are we truly aware of such impression? And if so, with accuracy?

70. Trong bộ não hồng trần đậm đặc phải có sự ghi nhận chân ngã chính xác. Điều này có nghĩa là chúng ta, trong tâm thức thức tỉnh bình thường của mình, phải biết điều mà chân ngã dự định. Chúng ta có thật sự nhận biết được sự ghi nhận ấy không? Và nếu có, có chính xác không?

Direct alignment.

Sự chỉnh hợp trực tiếp.

71. Direct, unimpeded alignment is required, and the meditator must realize that it is occurring.

71. Cần có sự chỉnh hợp trực tiếp, không bị cản trở, và người hành thiền phải chứng nghiệm rằng điều đó đang xảy ra.

The transmission of the egoic energy or will to one or other of the three physical centres in the head:

Sự truyền dẫn năng lượng hay ý chí chân ngã đến một trong ba trung tâm hồng trần trong đầu:

72. These glands are definitely involved in the process of transmission. Note, however, that DK speaks of the alta major center and not of the carotid gland. Yet, what is the meaning of the term “centre”?

72. Những tuyến này rõ rệt có liên quan trong tiến trình truyền dẫn. Tuy nhiên, hãy lưu ý rằng Chân sư DK nói đến trung tâm alta major chứ không phải tuyến cảnh. Tuy vậy, ý nghĩa của thuật ngữ “trung tâm” là gì?

The pineal gland.

Tuyến tùng quả.

The pituitary body.

Thể tuyến yên.

The alta major centre, or that nerve centre at the top of the spine, where the cranium and the spine make approximate contact.

Trung tâm alta major, hay trung tâm thần kinh ở đỉnh cột sống, nơi hộp sọ và cột sống tiếp xúc xấp xỉ với nhau.

73. Perhaps His use of the word “center” does not signify an etheric center but, rather, a physical center. The term “center” can indicate either.

73. Có lẽ việc Ngài dùng từ “trung tâm” không chỉ một trung tâm dĩ thái mà đúng hơn là một trung tâm hồng trần. Thuật ngữ “trung tâm” có thể chỉ một trong hai.

When this congery of nerves is fully developed,

Khi cụm dây thần kinh này được phát triển đầy đủ,

74. DK is definitely speaking in physical terms. He is not indicating, in this reference, an etheric center.

74. Chân sư DK rõ rệt đang nói theo thuật ngữ hồng trần. Trong chỗ dẫn này, Ngài không chỉ một trung tâm dĩ thái.

it forms a centre of communication between the vital energy of the spinal column (the kundalini fire) and the energy of the two head centres above enumerated.

nó tạo thành một trung tâm giao tiếp giữa sinh lực của cột sống (lửa kundalini) và năng lượng của hai trung tâm đầu được liệt kê ở trên.

75. This is a most important piece of occultism. We see that there can be no true connection between the kundalini and the higher centers in the head unless the alta major center, physically considered, plays its role.

75. Đây là một điểm huyền bí học hết sức quan trọng. Chúng ta thấy rằng không thể có sự nối kết chân thực nào giữa kundalini và các trung tâm cao hơn trong đầu trừ khi trung tâm alta major, xét về mặt hồng trần, đóng vai trò của nó.

It is the physical correspondence to the antaskarana on higher levels. [Page 961]

Nó là sự tương ứng hồng trần với antaskarana trên các mức cao hơn. [Page 961]

76. There is also an etheric correspondence to the antahkarana at this anatomical location, but DK seems to be referencing the alta major nerve center or congery of nerves as a kind of lower correspondence to the antahkarana.

76. Cũng có một sự tương ứng dĩ thái với antahkarana tại vị trí giải phẫu này, nhưng Chân sư DK dường như đang nói đến trung tâm thần kinh alta major hay cụm dây thần kinh như một loại tương ứng thấp với antahkarana.

CHART X — THE SCIENCE OF MEDITATION

BIỂU ĐỒ X — KHOA HỌC THAM THIỀN

77. We can learn certain things of importance by studying this chart.

77. Chúng ta có thể học được một số điều quan trọng bằng cách nghiên cứu biểu đồ này.

78. Note that the spiritual triad (atma/buddhi/manas) is directly reflected in the Ego on the higher mental plane. We might consider the sacrifice petals the reflection of atma; the love petals the reflection of buddhi; and the knowledge petals as the reflection of manas.

78. Hãy lưu ý rằng Tam nguyên tinh thần (atma/buddhi/manas) được phản chiếu trực tiếp trong chân ngã trên Cõi thượng trí. Chúng ta có thể xem các cánh hoa hi sinh là sự phản chiếu của atma; các cánh hoa bác ái là sự phản chiếu của buddhi; và các cánh hoa tri thức là sự phản chiếu của manas.

79. We also notice that there is a direct alignment with atma (as it is reflected within the Ego on the higher mental plane) and the mental unit. Obviously, then, the mental unit is an instrument for conveying the will.

79. Chúng ta cũng nhận thấy rằng có một sự chỉnh hợp trực tiếp với atma (như nó được phản chiếu trong chân ngã trên Cõi thượng trí) và đơn vị hạ trí. Hiển nhiên, như vậy, đơn vị hạ trí là một công cụ để truyền đạt ý chí.

80. The mental unit is the only permanent atom (of a kind) that is directly connected to the reflection of atma, buddhi or manas within the Ego.

80. Đơn vị hạ trí là nguyên tử trường tồn duy nhất (theo một nghĩa nào đó) được trực tiếp nối kết với sự phản chiếu của atma, buddhi hay manas bên trong chân ngã.

81. The manasic portion of the Ego does, however, connect with the alta major center. The buddhic portion of the Ego connects with the pituitary body. The atmic portion of the ego does, also, connect with the pineal gland.

81. Tuy nhiên, phần manas của chân ngã có nối kết với trung tâm alta major. Phần Bồ đề của chân ngã nối kết với thể tuyến yên. Phần atma của chân ngã cũng nối kết với tuyến tùng quả.

82. We notice, by studying the vertical dotted line, that the atmic portion extends its influence through all members of the atomic triangle, but the line is only solid in relation to the mental unit.

82. Khi nghiên cứu đường chấm dọc, chúng ta nhận thấy rằng phần atma mở rộng ảnh hưởng của nó qua mọi thành viên của tam giác nguyên tử, nhưng đường này chỉ là đường liền đối với đơn vị hạ trí.

83. Since the members of the atomic triangle are directing centers with respect to the three lower vehicles, we can understand why they are all connected to the atmic portion of the Ego.

83. Vì các thành viên của tam giác nguyên tử là những trung tâm chỉ đạo đối với ba vận cụ thấp, chúng ta có thể hiểu vì sao tất cả chúng đều được nối kết với phần atma của chân ngã.

84. In this particular map, however, we do not see the permanent atoms of the spiritual triad represented as connected to the atmic, buddhic, and manasic portions of the Ego on the higher mental plane. Other charts seem to show this connection.

84. Tuy nhiên, trong sơ đồ đặc biệt này, chúng ta không thấy các nguyên tử trường tồn của Tam nguyên tinh thần được trình bày như nối kết với các phần atma, Bồ đề và manas của chân ngã trên Cõi thượng trí. Những biểu đồ khác dường như cho thấy sự nối kết này.

[Page 962]

[Page 962]

The pituitary body (in all cases of correct normal development) forms the centre which receives the threefold vitalisation pouring through the sutratma from the lower mental, the astral, and the etheric planes.

Thể tuyến yên (trong mọi trường hợp phát triển bình thường đúng đắn) tạo thành trung tâm tiếp nhận sự tiếp sinh lực tam phân tuôn chảy qua sutratma từ cõi hạ trí, cõi cảm dục và cõi dĩ thái.

85. The pituitary body is particularly connected with the personality composed of the mental, astral and etheric-physical bodies.

85. Thể tuyến yên đặc biệt liên hệ với phàm ngã gồm thể trí, thể cảm dục và thể dĩ thái-hồng trần.

86. Notice, however, that the Tibetan speaks of “planes” and not of bodies, per se. Reception within the pituitary body from planes, and not just from within the personality vehicles, is suggested.

86. Tuy nhiên, hãy lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng nói đến “các cõi” chứ không phải các thể, chính chúng. Điều này gợi ý sự tiếp nhận trong thể tuyến yên từ các cõi, chứ không chỉ từ bên trong các vận cụ phàm ngã.

87. One wonders what may befall the pituitary body in cases of abnormal development.

87. Người ta tự hỏi điều gì có thể xảy đến với thể tuyến yên trong những trường hợp phát triển bất thường.

88. Notice that, in this context, we are speaking of the sutratma and of vitalization and not of consciousness, per se.

88. Hãy lưu ý rằng, trong ngữ cảnh này, chúng ta đang nói về sutratma và về sự tiếp sinh lực chứ không phải về tâm thức, chính nó.

89. The sutratma is really the attenuated presence of the Monad in all phases of personality life. With this attenuated presence comes attenuated monadic awareness. The presence of life supports the presence of consciousness.

89. Sutratma thực sự là sự hiện diện được làm mảnh đi của chân thần trong mọi giai đoạn của đời sống phàm ngã. Cùng với sự hiện diện được làm mảnh đi này là sự nhận biết chân thần được làm mảnh đi. Sự hiện diện của sự sống nâng đỡ sự hiện diện của tâm thức.

The pineal gland comes into activity when this action is enhanced by the pouring through of energy from the Ego on its own plane.

Tuyến tùng quả đi vào hoạt động khi hoạt động này được tăng cường bởi sự tuôn chảy của năng lượng từ chân ngã trên chính cõi của nó.

90. We learn that there is a direct connection between the Ego “on its own plane” and the pineal gland.

90. Chúng ta học được rằng có một sự nối kết trực tiếp giữa chân ngã “trên chính cõi của nó” và tuyến tùng quả.

91. Usually, “on its own plane” represents the higher mental plane, but the planes of the spiritual triad (characterized by will—thus relating to the pineal gland) may also be indicated.

91. Thông thường, “trên chính cõi của nó” chỉ Cõi thượng trí, nhưng các cõi của Tam nguyên tinh thần (được đặc trưng bởi ý chí—do đó liên hệ với tuyến tùng quả) cũng có thể được hàm ý.

When the antaskarana is in process of utilisation the alta major centre is likewise employed,

Khi antaskarana đang trong tiến trình sử dụng thì trung tâm alta major cũng được dùng,

92. This seems to be a later development, even as the full activation of the base of the spine center comes well after all the other centers (perhaps with the exception of the crown center) are very unfolded.

92. Điều này dường như là một sự phát triển muộn hơn, cũng như sự hoạt hóa đầy đủ của trung tâm đáy cột sống đến rất lâu sau khi mọi trung tâm khác (có lẽ ngoại trừ trung tâm đỉnh đầu) đã được khai mở rất nhiều.

93. It is one thing for the antahkarana to be built and yet another for it to be utilized. The full activation of the alta major center seems to follow the activation of the pituitary body.

93. Việc antahkarana được xây dựng là một chuyện, còn việc nó được sử dụng lại là chuyện khác. Sự hoạt hóa đầy đủ của trung tâm alta major dường như theo sau sự hoạt hóa của thể tuyến yên.

and the three physical head centres begin to work as a unit, thus forming a kind of triangle.

ba trung tâm đầu hồng trần bắt đầu hoạt động như một đơn vị, nhờ đó hình thành một loại tam giác.

94. The interactivity of these three physical centers is paralleled on the etheric plane by the interactivity of the crown center, the ajna center and the alta major center considered etherically.

94. Sự tương tác của ba trung tâm hồng trần này được song hành trên cõi dĩ thái bởi sự tương tác của trung tâm đỉnh đầu, trung tâm ajna và trung tâm alta major xét về mặt dĩ thái.

By the time the third Initiation is reached, this triangle is fully awakened and the fire (or energy) is circulated freely.

Vào lúc lần điểm đạo thứ ba đạt đến, tam giác này hoàn toàn thức tỉnh và lửa (hay năng lượng) được lưu chuyển tự do.

95. VSK notes: “This triangle is implicated in Stanza 1.”

95. VSK ghi chú: “Tam giác này được hàm ý trong Bài kệ 1.”

96. Fire or energy circulates through the physical triangle and also through the etheric triangle.

96. Lửa hay năng lượng lưu chuyển qua tam giác hồng trần và cũng qua tam giác dĩ thái.

It will be apparent, therefore, that man’s ability to create in mental matter grows as he treads the Path.

Do đó, sẽ rõ ràng rằng khả năng sáng tạo trong chất liệu trí tuệ của con người tăng trưởng khi y bước đi trên Con Đường.

97. Higher impulsive sources can be accessed as he evolves.

97. Các nguồn xung lực cao hơn có thể được tiếp cận khi y tiến hóa.

He needs to remember that (from the angle from which we are studying) we are not considering the power of the Ego to produce forms on the mental plane,

Y cần nhớ rằng (từ góc độ mà chúng ta đang nghiên cứu) chúng ta không xét đến quyền năng của chân ngã trong việc tạo ra các hình tướng trên cõi trí,

98. That is a higher type of ability…

98. Đó là một loại năng lực cao hơn…

99. The personality of man is just such a creation, beginning with an Ego-created mental vehicle.

99. Phàm ngã của con người chính là một sáng tạo như thế, bắt đầu với một vận cụ trí tuệ do chân ngã tạo ra.

but the ability of physical plane man to create upon the mental plane those vehicles for energy which—when set in motion by his conscious will—will produce certain specific effects upon the physical plane.

nhưng là năng lực của con người cõi hồng trần trong việc tạo ra trên cõi trí những vận cụ cho năng lượng mà—khi được đặt vào chuyển động bởi ý chí hữu thức của y—sẽ tạo ra những hiệu quả đặc thù nào đó trên cõi hồng trần.

100. Here DK is dealing specifically with the white magical process. Man’s lesser and often personal creativity upon the lower mental plane is a reflection of the Ego’s creativity on the higher.

100. Ở đây Chân sư DK đang bàn riêng về tiến trình huyền thuật chánh đạo. Tính sáng tạo nhỏ hơn và thường mang tính cá nhân của con người trên cõi hạ trí là sự phản chiếu của tính sáng tạo của chân ngã trên cõi cao hơn.

101. Thoughtforms are those “vehicles of energy which…will produce certain specific effects upon the physical plane”.

101. Hình tư tưởng là những “vận cụ cho năng lượng mà… sẽ tạo ra những hiệu quả đặc thù nào đó trên cõi hồng trần”.

102. The magical creator utilizes the “conscious will”. We remember in the chart above how the atmic portion of the Ego on the higher mental plane is directly connected with the mental unit.

102. Nhà sáng tạo huyền thuật sử dụng “ý chí hữu thức”. Chúng ta nhớ trong biểu đồ trên rằng phần atma của chân ngã trên cõi thượng trí được nối trực tiếp với đơn vị hạ trí.

This is brought about by egoic energy passed down the sutratma to the physical brain, and retransmitted back to the mental plane, plus or minus that which has been gained or lost in the process.

Điều này được tạo ra bởi năng lượng chân ngã truyền xuống theo sutratma đến bộ não hồng trần, rồi được truyền ngược trở lại cõi trí, cộng hoặc trừ phần đã thu được hay mất đi trong tiến trình ấy.

103. This is a most interesting piece of information. In it we can see the modus operandi of soul-mind-brain coordination.

103. Đây là một mẩu thông tin hết sức thú vị. Trong đó chúng ta có thể thấy phương thức vận hành của sự phối hợp linh hồn-trí tuệ-bộ não.

104. This process of touching all points, then refocussing in a higher point that has already been touched, is found in several references and seems to be a customary process.

104. Tiến trình chạm đến mọi điểm này, rồi tái tập trung vào một điểm cao hơn đã được chạm đến trước đó, được thấy trong nhiều chỗ tham chiếu và dường như là một tiến trình thông thường.

105. The method is one which moves towards increasing integration.

105. Phương pháp này là một phương pháp tiến tới sự tích hợp ngày càng tăng.

The true Adept, through knowledge, conserves all energy while in process of transmission, and augments it with the energy contacted.

Chân sư đích thực, nhờ tri thức, bảo toàn mọi năng lượng trong khi đang được truyền dẫn, và gia tăng nó bằng năng lượng được tiếp xúc.

106. We can see how the Adept works with the Law of Economy—a law closely related to the atmic plane whereon the Adept is focussed.

106. Chúng ta có thể thấy Chân sư vận dụng Định luật Tiết Kiệm như thế nào—một định luật liên hệ mật thiết với cõi atma, nơi Chân sư tập trung.

107. The Adept works with the energy of the planet Saturn, conserving and augmenting where possible.

107. Chân sư làm việc với năng lượng của hành tinh Sao Thổ, bảo toàn và gia tăng ở nơi nào có thể.

108. All energies are to be wisely used and the Adept knows how. For ourselves, and at our present stage of evolution, an eye to the wise expenditure of energy would be useful.

108. Mọi năng lượng đều phải được sử dụng một cách minh triết và Chân sư biết cách làm điều đó. Đối với chúng ta, và ở giai đoạn tiến hoá hiện nay của chúng ta, việc lưu tâm đến sự tiêu dùng năng lượng một cách minh triết sẽ rất hữu ích.

It is, therefore, the energy of will, plus that of desire, fed by the energy of the physical brain.

Vì vậy, đó là năng lượng của ý chí, cộng với năng lượng của dục vọng, được nuôi dưỡng bởi năng lượng của bộ não hồng trần.

109. It is as if the two higher energies, of will and desire, are augmented or fed by the lower energy—that of the physical brain.

109. Dường như hai năng lượng cao hơn, của ý chí và dục vọng, được gia tăng hay được nuôi dưỡng bởi năng lượng thấp hơn—đó là năng lượng của bộ não hồng trần.

110. We know little of the additive nature of energies, but as wave can be added to wave, so different forms of energy, when added, may lead to an augmentation of wave amplitude.

110. Chúng ta biết rất ít về bản chất cộng thêm của các năng lượng, nhưng cũng như sóng có thể cộng vào sóng, thì những hình thức năng lượng khác nhau, khi được cộng lại, có thể dẫn đến sự gia tăng biên độ sóng.

111. The egoic energy, it would seem, does not descend directly to the physical brain without engaging the higher energies during the descent.

111. Dường như năng lượng chân ngã không đi thẳng xuống bộ não hồng trần mà không huy động các năng lượng cao hơn trong khi giáng xuống.

Literally, therefore, it is a small resume of the creative process of the Godhead, being the [Page 963] energy of the three persons unified, and considered from the standpoint of the physical.

Theo nghĩa đen, vì vậy, đó là một bản tóm lược nhỏ về tiến trình sáng tạo của Thượng đế, vì đó là [Page 963] năng lượng của ba ngôi vị được hợp nhất, và được xét từ quan điểm của cõi hồng trần.

112. We have been given an analogy. The greater Creative Process is reflected in the creative process utilized by the microcosm as it creates thoughtforms.

112. Chúng ta đã được ban cho một phép loại suy. Tiến trình Sáng Tạo lớn lao hơn được phản chiếu trong tiến trình sáng tạo mà tiểu thiên địa sử dụng khi nó tạo ra các hình tư tưởng.

113. We can practice this type of descent and reascent to see if we notice the unification of energies and their augmentation.

113. Chúng ta có thể thực hành loại giáng xuống và thăng trở lại này để xem liệu chúng ta có nhận thấy sự hợp nhất của các năng lượng và sự gia tăng của chúng hay không.

114. There is something about this process of descent and reascent which suggest the curvature of the Second Outpouring—the Outpouring of form-building.

114. Có điều gì đó trong tiến trình giáng xuống và thăng trở lại này gợi ý về đường cong của Lần Tuôn Đổ Thứ Hai—lần tuôn đổ của sự kiến tạo hình tướng.

It is the at-one-ment of the three fires in man, being in fact:

Đó là sự hợp nhất của ba ngọn lửa trong con người, thực ra là:

a. That much of the fire of spirit, or electric fire, which any particular Ego is embodying (relatively little prior to the third Initiation) or is able to transmit, coupled with,

a. Chừng ấy lửa của tinh thần, hay Lửa Điện, mà bất kỳ chân ngã riêng biệt nào đang thể hiện (tương đối ít trước lần điểm đạo thứ ba) hoặc có thể truyền dẫn, kết hợp với,

115. This is a most interesting angle on the subject. Not all Egos on the higher mental plane embody the same quantity of electric fire. The Spirit within the Jewel in the Lotus is not much released except in and through the Egos of those who have taken the third initiation.

115. Đây là một góc nhìn hết sức thú vị về đề tài này. Không phải mọi chân ngã trên cõi thượng trí đều thể hiện cùng một lượng Lửa Điện. Tinh thần bên trong Viên Ngọc trong Hoa Sen không được giải phóng bao nhiêu ngoại trừ trong và qua các chân ngã của những người đã trải qua lần điểm đạo thứ ba.

116. We note that the magical creative process requires the union of three fires, though not very much of ‘Spirit-fire’ is to be found until the creator is a true initiate.

116. Chúng ta lưu ý rằng tiến trình sáng tạo huyền thuật đòi hỏi sự hợp nhất của ba ngọn lửa, dù không có nhiều ‘Lửa-tinh thần’ được tìm thấy cho đến khi nhà sáng tạo là một điểm đạo đồ đích thực.

b. That much of the fire of the solar Angel (solar fire) or the egoic aspect which the Ego is able to transmit. This is but little in average man, a good deal in the man on the probationary path, and a full downpour by the time the third Initiation is reached.

b. Chừng ấy lửa của Thái dương Thiên Thần (Lửa Thái dương) hay phương diện chân ngã mà chân ngã có thể truyền dẫn. Điều này chỉ rất ít nơi con người trung bình, khá nhiều nơi người trên Con Đường Dự Bị, và một sự tuôn đổ trọn vẹn vào lúc lần điểm đạo thứ ba đạt đến.

117. Here we are speaking of the transmission of solar fire. While there is a full downpour of solar fire at the third initiation, the flow is Spirit-fire is much less.

117. Ở đây chúng ta đang nói về sự truyền dẫn Lửa Thái dương. Dù có một sự tuôn đổ trọn vẹn của Lửa Thái dương ở lần điểm đạo thứ ba, dòng chảy của Lửa-tinh thần thì ít hơn nhiều.

118. The fire of the Ego is essentially the fire of the Solar Angel which has invested an aspect of itself within the egoic form, the causal body.

118. Lửa của chân ngã về bản chất là lửa của Thái dương Thiên Thần, Đấng đã đầu tư một phương diện của chính mình vào trong hình tướng chân ngã, tức thể nguyên nhân.

119. It seems that Egos are differentiated regarding how much of the fire of the Solar Angel they are able to transmit (or bear?).

119. Dường như các chân ngã được biến phân theo mức độ lửa của Thái dương Thiên Thần mà chúng có thể truyền dẫn (hay chịu đựng?).

120. We are given three stages: one for the average man; one for the probationer; and another for the initiate of the third degree. Each is characterized by a different degree of soul-infusion.

120. Chúng ta được cho ba giai đoạn: một cho con người trung bình; một cho người dự bị; và một cho điểm đạo đồ bậc ba. Mỗi giai đoạn được đặc trưng bởi một mức độ được linh hồn thấm nhuần khác nhau.

121. Can we, in our own lives, sense what DK here calls the “downpour”?

121. Trong chính đời sống của mình, chúng ta có thể cảm nhận điều mà ở đây Chân sư DK gọi là “sự tuôn đổ” hay không?

c. That much of the fire of substance in its purified state which can penetrate. This is dependent upon the purity of the three sheaths, and in the case of a highly advanced man is the kundalinic fire as it swells the blaze produced by the other two.

c. Chừng ấy lửa của chất liệu trong trạng thái thanh luyện của nó có thể xuyên thấu. Điều này tùy thuộc vào sự thanh khiết của ba thể, và trong trường hợp của một người rất tiến bộ thì đó là lửa kundalini khi nó làm bùng lên ngọn lửa do hai ngọn lửa kia tạo ra.

122. The lower augments the higher. Just as the energy of the physical brain feeds the energy of will and desire, so does the fire of kundalini swell the blaze produced by the union of solar fire and electric fire.

122. Cái thấp gia tăng cái cao. Cũng như năng lượng của bộ não hồng trần nuôi dưỡng năng lượng của ý chí và dục vọng, thì lửa kundalini cũng làm bùng lên ngọn lửa được tạo ra bởi sự hợp nhất của Lửa Thái dương và Lửa Điện.

123. We note that if the “fire of substance” is to be involved in the creative process it must be in a purified state—a state which can “penetrate”. Is this penetration related to the ascent of the lower fire once it is touched by the descent of the higher fire? It would seem so.

123. Chúng ta lưu ý rằng nếu “lửa của chất liệu” được tham dự vào tiến trình sáng tạo thì nó phải ở trong trạng thái thanh luyện—một trạng thái có thể “xuyên thấu”. Sự xuyên thấu này có liên hệ với sự đi lên của ngọn lửa thấp một khi nó được chạm đến bởi sự giáng xuống của ngọn lửa cao hơn chăng? Dường như là như vậy.

When, therefore, the alignment is corrected, and the physical head centres are awakening, it becomes possible for man to become a conscious creator in mental matter.

Khi, vì vậy, sự chỉnh hợp được điều chỉnh đúng, và các trung tâm đầu hồng trần đang thức tỉnh, con người có thể trở thành một nhà sáng tạo hữu thức trong chất liệu trí tuệ.

124. This is the summary statement.

124. Đây là phát biểu tóm lược.

125. What is the sequence?

125. Trình tự là gì?

a. Alignment

a. Chỉnh hợp

b. Activation of the head centers—notice the plural

b. Hoạt hóa các trung tâm đầu—hãy lưu ý số nhiều

c. Conscious creation in mental matter.

c. Sáng tạo hữu thức trong chất liệu trí tuệ.

126. The foregoing section has dealt largely with the processes of alignment and of impression of higher or egoic energies upon the physical brain.

126. Phần trên chủ yếu đã bàn về các tiến trình chỉnh hợp và sự ghi nhận của các năng lượng cao hơn hay năng lượng chân ngã lên bộ não hồng trần.

S8S4 Part II

TCF 963 – 967

TCF 963 – 967

28 November – 13 December 2008

28 tháng 11 – 13 tháng 12 năm 2008

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được để ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được để ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Có đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

IV. MAN AND THE FIRE SPIRITS OR BUILDERS

IV. CON NGƯỜI VÀ CÁC HỎA LINH HAY CÁC ĐẤNG KIẾN TẠO

This section we will consider in somewhat greater detail than the previous one, as it concerns much of present practical value to man. This will be seen particularly as we study the effects of speech, and the occult significance of the spoken word.

Phần này chúng ta sẽ xem xét chi tiết hơn đôi chút so với phần trước, vì nó liên quan đến nhiều điều có giá trị thực tiễn hiện nay đối với con người. Điều này sẽ thấy rõ đặc biệt khi chúng ta nghiên cứu các hiệu quả của lời nói, và ý nghĩa huyền bí của lời được phát ra.

1. Here we have the study of one of the most occult building processes under man’s control.

1. Ở đây chúng ta có sự nghiên cứu một trong những tiến trình kiến tạo huyền bí nhất nằm dưới sự kiểm soát của con người.

2. By “fire spirits” are meant the builders who work within the lower three worlds.

2. “Hỏa linh” được hiểu là các đấng kiến tạo làm việc trong ba cõi thấp.

1. The Will Aspect and Creation.

1. Phương diện Ý chí và Sáng tạo.

In a previous division, we dealt somewhat with the transmission of the will of the Ego to the physical brain, and we saw how only in those persons who (through evolutionary development) had the sutratma and the antaskarana connected, and whose three physical head centres were more or less awakened, was the will of the Ego capable of transmission.

Trong một phần trước, chúng ta đã bàn phần nào về sự truyền dẫn ý chí của chân ngã đến bộ não hồng trần, và chúng ta đã thấy rằng chỉ nơi những người mà (nhờ sự phát triển tiến hoá) sutratma và antahkarana đã được nối kết, và ba trung tâm đầu hồng trần của họ đã thức tỉnh ít nhiều, thì ý chí của chân ngã mới có khả năng được truyền dẫn.

3. DK offers us an important summary of teaching given in the previous section of text: If the Ego is successfully to impress its will upon the physical brain the following are needed:

3. Chân sư DK đưa ra cho chúng ta một bản tóm lược quan trọng về giáo huấn đã được nêu trong phần văn bản trước: Nếu chân ngã muốn ghi dấu ý chí của nó thành công lên bộ não hồng trần thì cần có những điều sau:

a. The sutratma and antahkarana must be connected. This only occurs in advanced individuals—those of sufficient evolutionary development.

a. Sutratma và antahkarana phải được nối kết. Điều này chỉ xảy ra nơi những cá nhân tiến bộ—những người có sự phát triển tiến hoá đầy đủ.

b. The three physical head centers must sufficiently awakened.

b. Ba trung tâm đầu hồng trần phải được thức tỉnh đầy đủ.

4. In lower types of human beings, only the sutratma exists. The antahkarana has not yet been built, though latent consciousness, the seed of the antahkarana, is always present.

4. Ở những loại người thấp hơn, chỉ có sutratma hiện hữu. Antahkarana vẫn chưa được xây dựng, dù tâm thức tiềm ẩn, hạt giống của antahkarana, luôn luôn hiện diện.

In the other cases, such as the average man and little developed man, the purpose [Page 964] affecting the physical brain emanated from the astral or lower mental levels,

Trong các trường hợp khác, như nơi con người trung bình và con người ít phát triển, mục đích [Page 964] tác động lên bộ não hồng trần phát xạ từ các cấp độ cảm dục hay hạ trí,

5. What source of energy animates the physical brain of man at different stages of evolution? During the early stages of man’s development and even during the stage of average man, it is not the Ego which impresses the physical brain and the sutratma and antahkarana (because still unbuilt) cannot be connected.

5. Nguồn năng lượng nào làm sinh động bộ não hồng trần của con người ở các giai đoạn tiến hoá khác nhau? Trong các giai đoạn đầu của sự phát triển của con người và ngay cả trong giai đoạn con người trung bình, không phải chân ngã ghi dấu lên bộ não hồng trần và sutratma cùng antahkarana (vì vẫn chưa được xây dựng) không thể được nối kết.

6. Rather, it is the astral body and eventually the lower mental body, and the tendencies of these lunar vehicles which impact the physical brain. Man is not yet, during those earlier stages, directed from solar sources.

6. Đúng hơn, chính thể cảm dục và cuối cùng là thể hạ trí, cùng các khuynh hướng của những vận cụ nguyệt tính này tác động lên bộ não hồng trần. Trong những giai đoạn sớm hơn ấy, con người vẫn chưa được định hướng từ các nguồn thái dương.

7. We begin to see how important to spiritual expression is the physical brain, even though the physical body is not an occult principle.

7. Chúng ta bắt đầu thấy bộ não hồng trần quan trọng thế nào đối với sự biểu hiện tinh thần, dù thể xác không phải là một nguyên khí huyền bí.

and was, therefore, more likely to be the impulse of some lunar Lord, even if of a high order, than the divine will of the solar Angel, who is the true man.

và vì vậy, có nhiều khả năng là xung lực của một nguyệt tinh quân nào đó, dù thuộc một cấp cao, hơn là ý chí thiêng liêng của Thái dương Thiên Thần, Đấng là con người chân thực.

8. This is an important sentence. We learn that lunar lords can be of a high order but are not to be considered the “true man”. The true man is not lunar.

8. Đây là một câu quan trọng. Chúng ta học được rằng các nguyệt tinh quân có thể thuộc một cấp cao nhưng không được xem là “con người chân thực”. Con người chân thực không phải là nguyệt tính.

9. It is interesting to see the “true man” called the “solar Angel”. In one respect the Solar Angels are “the returning nirvanis of a previous logoic incarnation”. (TCF 1125) Thus they are greater than the human beings whose higher nature they inform.

9. Thật thú vị khi thấy “con người chân thực” được gọi là “Thái dương Thiên Thần”. Ở một phương diện, các Thái dương Thiên Thần là “những nirvani trở về của một lần nhập thể logoic trước đó”. (TCF 1125) Vì vậy Các Ngài vĩ đại hơn những con người mà bản chất cao hơn của họ được Các Ngài thấm nhuần.

10. From another perspective, however, these Solar Angels are so closely identified with man’s egoic nature, so thoroughly invested in it, that they are, reasonably considered, the “true man” expressing on the higher mental plane. Yet, as is well known, the true man (or ‘even truer man’) is the human Monad and the human Monad is distinct from the Solar Angel.

10. Tuy nhiên, từ một góc nhìn khác, các Thái dương Thiên Thần này đồng hoá chặt chẽ đến thế với bản chất chân ngã của con người, đầu tư vào đó triệt để đến thế, nên một cách hợp lý có thể xem Các Ngài là “con người chân thực” biểu hiện trên cõi thượng trí. Tuy vậy, như ai cũng biết, con người chân thực (hay ‘con người còn chân thực hơn nữa’) là chân thần nhân loại và chân thần nhân loại thì khác biệt với Thái dương Thiên Thần.

11. We note that the will of the “solar Angel” is to be considered a “divine will”. This makes attentiveness to the “solar Angel” of great importance in the carrying out of the Divine Will of the Planetary Logos. The term “divine” usually refers to the level of Spirit and is distinguished from “spiritual” which refers to the soul and spiritual triad.

11. Chúng ta lưu ý rằng ý chí của “Thái dương Thiên Thần” được xem là một “ý chí thiêng liêng”. Điều này khiến sự chú tâm đến “Thái dương Thiên Thần” trở nên hết sức quan trọng trong việc thực hiện Ý Chí thiêng liêng của Hành Tinh Thượng đế. Thuật ngữ “thiêng liêng” thường quy chiếu đến cấp độ của Tinh thần và được phân biệt với “tinh thần”, vốn quy chiếu đến linh hồn và Tam Nguyên Tinh Thần.

12. Below we enter an important discussion on White Magic. This subject is of sufficient importance that the Tibetan expanded what He said here into a full treatise—A Treatise on White Magic.

12. Dưới đây chúng ta đi vào một cuộc thảo luận quan trọng về Chánh Thuật. Đề tài này đủ quan trọng để Chân sư Tây Tạng đã khai triển điều Ngài nói ở đây thành một luận thuyết trọn vẹn—Luận về Chánh Thuật.

13. Yet there is certain condensed information conveyed in A Treatise on Cosmic Fire which is not conveyed in that later and more popular book.

13. Tuy nhiên, có một số thông tin cô đọng được truyền đạt trong Luận về Lửa Vũ Trụ mà không được truyền đạt trong quyển sách ra đời sau và phổ thông hơn ấy.

a. The condition of the Magician.

a. Điều kiện của nhà huyền thuật.

14. The white magician is ever the advanced individual. As students of occultism, we are all in process of becoming white magicians, even though our ray may not be the seventh.

14. Nhà huyền thuật chánh đạo luôn luôn là cá nhân tiến bộ. Là những đạo sinh của huyền bí học, tất cả chúng ta đều đang trong tiến trình trở thành những nhà huyền thuật chánh đạo, dù cung của chúng ta có thể không phải là cung bảy.

15. If we are soul-inspired creators, we are white magicians.

15. Nếu chúng ta là những nhà sáng tạo được linh hồn cảm hứng, chúng ta là những nhà huyền thuật chánh đạo.

It is of value to remember that when the physical head centres are awakened (through alignment of the etheric centres) we have the very lowest aspect of egoic influence.

Điều hữu ích cần nhớ là khi các trung tâm đầu hồng trần được thức tỉnh (nhờ sự chỉnh hợp của các trung tâm dĩ thái) chúng ta có phương diện thấp nhất của ảnh hưởng chân ngã.

16. This etheric alignment resulting in the alignment of the centers in the physical brain permits of the influence of the egoic will upon the physical brain, but this is considered “the very lowest aspect of egoic influence” even though it requires quite a degree of advancement in the disciple.

16. Sự chỉnh hợp dĩ thái này, dẫn đến sự chỉnh hợp của các trung tâm trong bộ não hồng trần, cho phép ý chí chân ngã ảnh hưởng lên bộ não hồng trần, nhưng điều này được xem là “phương diện thấp nhất của ảnh hưởng chân ngã” dù nó đòi hỏi một mức tiến bộ khá lớn nơi người đệ tử.

17. It appears that we are not yet speaking of the complete triangular coordination and activation of these awakened etheric and physical centers.

17. Dường như chúng ta vẫn chưa nói đến sự phối hợp tam giác hoàn chỉnh và sự hoạt hóa của các trung tâm dĩ thái và hồng trần đã thức tỉnh này.

From these three centres, man on the Probationary Path, and up to the third Initiation, directs and controls his sheath,

Từ ba trung tâm này, con người trên Con Đường Dự Bị, và cho đến lần điểm đạo thứ ba, điều khiển và kiểm soát thể,

18. Presumably we are speaking of the control of the dense physical sheath particularly.

18. Có lẽ ở đây chúng ta đang nói đặc biệt đến sự kiểm soát thể hồng trần đậm đặc.

19. If we were to involve the higher and subtler counterparts of these etheric centers, we could speak of the control of the astral body and lower mental body.

19. Nếu chúng ta bao gồm các đối phần cao hơn và vi tế hơn của các trung tâm dĩ thái này, chúng ta có thể nói đến sự kiểm soát thể cảm dục và thể hạ trí.

20. If the Path of Probation begins even before the first initiation, we can see that the three head centers are at least somewhat awakened and active even then.

20. Nếu Con Đường Dự Bị bắt đầu ngay cả trước lần điểm đạo thứ nhất, chúng ta có thể thấy rằng ba trung tâm đầu ít nhất cũng đã thức tỉnh và hoạt động phần nào ngay từ khi ấy.

21. We can ask ourselves, can we not, whether any disciple before he has achieved the third degree is to be considered as treading the Path of Probation? Certainly, before that point, he is to be considered a probationary initiate.

21. Chúng ta có thể tự hỏi, phải chăng bất kỳ đệ tử nào trước khi đạt bậc ba đều được xem là đang bước trên Con Đường Dự Bị? Chắc chắn, trước điểm đó, y được xem là một điểm đạo đồ dự bị.

and from them spreads that illumination which will irradiate the physical plane life.

và từ chúng lan tỏa sự soi sáng sẽ chiếu rạng đời sống cõi hồng trần.

22. The three physical centers in the head are to be considered sources of illumination. A certain radiance emanates from them and according to the quality and intensity of this radiance, the evolutionary status of the man can be judged.

22. Ba trung tâm hồng trần trong đầu phải được xem là những nguồn soi sáng. Một mức độ rạng ngời nào đó phát ra từ chúng, và tùy theo phẩm tính cùng cường độ của sự rạng ngời này mà có thể phán đoán tình trạng tiến hoá của con người.

By the time the third Initiation is reached, the internal triangle is in full process of circulatory transmission, and the whole life of the Personality is subjected to the will of the Ego.

Đến lúc lần điểm đạo thứ ba đạt tới, tam giác nội tại đang ở trong tiến trình truyền dẫn tuần hoàn trọn vẹn, và toàn bộ đời sống của Phàm ngã bị đặt dưới ý chí của chân ngã.

23. We can see that the importance of the triangle of physical centers begins long before the third initiation, but not until that initiation is this “internal triangle…in full process of circulatory transmission”.

23. Chúng ta có thể thấy rằng tầm quan trọng của tam giác các trung tâm hồng trần bắt đầu từ rất lâu trước lần điểm đạo thứ ba, nhưng chỉ đến lần điểm đạo ấy thì “tam giác nội tại… mới ở trong tiến trình truyền dẫn tuần hoàn trọn vẹn”.

24. In various references we read over and again that the personality is to be subjected to the Ego by the time the third initiation is reached.

24. Trong nhiều chỗ tham chiếu khác nhau, chúng ta đọc đi đọc lại rằng phàm ngã phải bị đặt dưới chân ngã vào lúc lần điểm đạo thứ ba đạt tới.

25. From various references we gather just how high a state of development and control the third initiation represents. Let us think and measure ourselves: “the whole life of the Personality is subjected to the will of the Ego”. Is this true of us?

25. Từ nhiều chỗ tham chiếu khác nhau, chúng ta hiểu được lần điểm đạo thứ ba biểu thị một trạng thái phát triển và kiểm soát cao đến mức nào. Hãy suy nghĩ và tự đo lường mình: “toàn bộ đời sống của Phàm ngã bị đặt dưới ý chí của chân ngã”. Điều này có đúng với chúng ta không?

“The Star absorbs the light of the moon, so that the rays of the Sun may be reflected back” is the occult way of expressing the truth anent this point in evolution.

“Ngôi Sao hấp thụ ánh sáng của mặt trăng, để những tia của Mặt Trời có thể được phản chiếu trở lại” là cách huyền bí diễn đạt chân lý liên quan đến điểm tiến hoá này.

26. This is an important occult aphorism. We cannot say that the “Star” is the Monad even though the Monad is frequently knows as a “Star”. There is no reason why, at the third initiation, it should be said that the Monad absorbs the light of the lunar vehicles. If anything this absorption would be the function of the soul on the higher mental plane.

26. Đây là một cách ngôn huyền bí quan trọng. Chúng ta không thể nói rằng “Ngôi Sao” là chân thần dù chân thần thường được biết đến như một “Ngôi Sao”. Không có lý do gì để nói rằng, ở lần điểm đạo thứ ba, chân thần hấp thụ ánh sáng của các vận cụ nguyệt tính. Nếu có gì, thì sự hấp thụ này phải là chức năng của linh hồn trên cõi thượng trí.

27. Can we say that the “Star”, in this case, is the so-called “soul star” above the head? We can be sure that the term “Star” (in this reference) has a very occult meaning.

27. Chúng ta có thể nói rằng “Ngôi Sao”, trong trường hợp này, là cái gọi là “ngôi sao linh hồn” phía trên đầu chăng? Chúng ta có thể chắc chắn rằng thuật ngữ “Ngôi Sao” (trong chỗ tham chiếu này) có một ý nghĩa rất huyền bí.

28. If the light of the lunar vehicles is dimmed, no longer overpowering the “rays of the Sun”, then these are the rays (the solar rays) which will be reflected in the lower nature and which will rise again to their solar source. From the Ego emanate symbolically and qualitatively the “the rays of the Sun” and, because the lunar nature has be reconditioned, those solar rays can at the time of the third degree, condition the lower vehicles. Rather than be overpowered by the “light of the moon” (as heretofore they have been), these solar rays now become prominent and characterize the manner in which the lunar vehicles relate to the solar source, the Ego.

28. Nếu ánh sáng của các vận cụ nguyệt tính bị làm mờ đi, không còn lấn át “những tia của Mặt Trời”, thì đó là những tia ấy (các tia thái dương) sẽ được phản chiếu trong bản chất thấp hơn và sẽ lại vươn lên nguồn thái dương của chúng. Từ chân ngã phát ra, một cách biểu tượng và về phẩm tính, “những tia của Mặt Trời” và, bởi vì bản chất nguyệt tính đã được tác động lại, những tia thái dương ấy vào lúc bậc ba có thể tác động lên các vận cụ thấp hơn. Thay vì bị lấn át bởi “ánh sáng của mặt trăng” (như trước đây vẫn thế), các tia thái dương này nay trở nên nổi bật và đặc trưng cho cách thức mà các vận cụ nguyệt tính liên hệ với nguồn thái dương, tức chân ngã.

It might be of value here also to point out the condition of the etheric centres during this process of direct solar control.

Ở đây cũng có thể hữu ích khi chỉ ra tình trạng của các trung tâm dĩ thái trong tiến trình kiểm soát thái dương trực tiếp này.

29. In this section of text we are speaking of the manner in which the Ego (the solar source within man) gains increasing control of the lunar vehicles.

29. Trong phần văn bản này chúng ta đang nói về cách thức chân ngã (nguồn thái dương bên trong con người) giành được sự kiểm soát ngày càng tăng đối với các vận cụ nguyệt tính.

30. Notice, too, that we are not speaking of mediated solar control but of “direct solar control”. Eventually an unimpeded channel must be created between the Ego and the physical brain. This will mean that the astral body, which is so often the personality vehicle that is out of alignment, has been subdued and no longer thwarts the direct impress of the Ego upon the physical brain.

30. Cũng hãy lưu ý rằng chúng ta không nói về sự kiểm soát thái dương được trung gian mà là về “kiểm soát thái dương trực tiếp”. Cuối cùng phải tạo ra một kênh không bị ngăn trở giữa chân ngã và bộ não hồng trần. Điều này sẽ có nghĩa là thể cảm dục, vốn rất thường là vận cụ phàm ngã bị lệch chỉnh hợp, đã được chế ngự và không còn cản trở sự ghi dấu trực tiếp của chân ngã lên bộ não hồng trần.

31. “Direct solar control” is a state characteristic of the third initiation.

31. “Kiểm soát thái dương trực tiếp” là một trạng thái đặc trưng của lần điểm đạo thứ ba.

Before the three physical head centres awaken, man is largely subjected to force flowing through the four minor etheric centres;

Trước khi ba trung tâm đầu hồng trần thức tỉnh, con người phần lớn bị đặt dưới các mãnh lực chảy qua bốn trung tâm dĩ thái phụ;

32. This is an interesting and important statement. It is obvious that the ajna is one of the three centers in the head and the pituitary body is its physical correspondence. Because the head, heart and throat centers are considered the three major centers, it becomes clear that the “four minor etheric centers” must be the sub-diaphragmatic centers and must include the spleen, because the ajna and pituitary (being part of the head apparatus) cannot be numbered among the three major centers.

32. Đây là một phát biểu thú vị và quan trọng. Rõ ràng ajna là một trong ba trung tâm trong đầu và tuyến yên là đối phần hồng trần của nó. Bởi vì các trung tâm đầu, tim và cổ họng được xem là ba trung tâm chính, nên rõ ràng “bốn trung tâm dĩ thái phụ” phải là các trung tâm dưới cơ hoành và phải bao gồm cả luân xa lá lách, bởi ajna và tuyến yên (vì là một phần của bộ máy đầu) không thể được tính vào ba trung tâm chính.

33. Notice that we are speaking of three physical head centers and four minor etheric centers. There is a mixture here of physicality and of ethereality.

33. Hãy lưu ý rằng chúng ta đang nói về ba trung tâm đầu hồng trần và bốn trung tâm phụ dĩ thái. Ở đây có một sự pha trộn giữa tính hồng trần và tính dĩ thái.

34. DK often intermixes the physical and etheric centers, perhaps because He does not want us to separate them too completely.

34. Chân sư DK thường đan xen các trung tâm hồng trần và dĩ thái, có lẽ vì Ngài không muốn chúng ta tách biệt chúng quá hoàn toàn.

later the three major centres—the head, the heart, and the throat —begin to vibrate, gradually assuming a greater sweep of activity, till their energy tends to negate that of the lower centres,

về sau ba trung tâm chính—đầu, tim và cổ họng—bắt đầu rung động, dần dần đảm nhận một phạm vi hoạt động lớn hơn, cho đến khi năng lượng của chúng có khuynh hướng phủ định năng lượng của các trung tâm thấp hơn,

35. The activity of the greater negates the activity of the lower.

35. Hoạt động của cái lớn hơn phủ định hoạt động của cái thấp hơn.

36. It would be an interesting study to discover the negation of lower energies by higher. What is the real meaning of this negation?

36. Sẽ là một nghiên cứu thú vị nếu khám phá sự phủ định các năng lượng thấp hơn bởi các năng lượng cao hơn. Ý nghĩa thực sự của sự phủ định này là gì?

to absorb their vitality and deflect the direction of their vitality, until the three higher wheels are in full fourth dimensional activity.

để hấp thụ sinh lực của chúng và làm chệch hướng sinh lực ấy, cho đến khi ba bánh xe cao hơn ở trong hoạt động chiều thứ tư trọn vẹn.

37. “The three higher wheels”, in this context, are the three major centers—head, heart and throat. (Of course, in other contexts, the three higher wheels could be crown, ajna and alta major center.)

37. “Ba bánh xe cao hơn”, trong ngữ cảnh này, là ba trung tâm chính—đầu, tim và cổ họng. (Dĩ nhiên, trong những ngữ cảnh khác, ba bánh xe cao hơn có thể là đỉnh đầu, ajna và trung tâm alta major.)

38. The sake of clarity, let us tabulate the effect of the three major centers upon the lower four centers, as these higher three assume a “greater sweep of activity” (this, in itself, an interesting phrase)—

38. Để rõ ràng, chúng ta hãy lập bảng hiệu quả của ba trung tâm chính đối với bốn trung tâm thấp hơn, khi ba trung tâm cao hơn này đảm nhận một “phạm vi hoạt động lớn hơn” (bản thân đây cũng là một cụm từ thú vị)—

a. The major centers “negate” the activity of the lower centers

a. Các trung tâm chính “phủ định” hoạt động của các trung tâm thấp hơn

b. The major centers absorb the vitality of the lower centers

b. Các trung tâm chính hấp thụ sinh lực của các trung tâm thấp hơn

c. The major centers deflect the direction of the vitality of the lower centers

c. Các trung tâm chính làm chệch hướng sinh lực của các trung tâm thấp hơn

39. These actions should be pondered.

39. Những tác động này cần được suy ngẫm.

40. Through the accomplishment of these three results, the higher centers enter full fourth dimensional activity.

40. Thông qua việc hoàn thành ba kết quả này, các trung tâm cao hơn đi vào hoạt động chiều thứ tư trọn vẹn.

41. We have read earlier in this Treatise that when chakras develop fourth dimensional activity, it is a sign that initiation is either imminent or in process.

41. Trước đây trong bộ Luận này chúng ta đã đọc rằng khi các luân xa phát triển hoạt động chiều thứ tư, đó là dấu hiệu cho thấy điểm đạo hoặc sắp xảy ra hoặc đang diễn ra.

Before initiation [meaning, in this case, the very first initiation], all the centres will be rotating in fourth-dimensional order, but after initiation they become flaming wheels, and—seen clairvoyantly—are of rare beauty, [we note the effect of the Rod of Initiation upon the centers] The fire of Kundalini is then awakened and is progressing in the necessary spirals. At the second initiation the emotional centres are similarly awakened, and at the third initiation those on the mental plane are touched. The initiate can then stand in the Presence of the Great King, the One Initiator. (LOM 74-75)

Trước điểm đạo [nghĩa là, trong trường hợp này, chính là lần điểm đạo thứ nhất], tất cả các trung tâm sẽ xoay chuyển theo trật tự bốn chiều, nhưng sau điểm đạo chúng trở thành những bánh xe rực lửa, và—được thấy bằng thông nhãn—có một vẻ đẹp hiếm có, [chúng ta lưu ý tác động của Thần Trượng Điểm đạo lên các trung tâm] Lửa Kundalini khi ấy được đánh thức và đang tiến triển theo những vòng xoắn cần thiết. Ở lần điểm đạo thứ hai, các trung tâm cảm xúc cũng được đánh thức tương tự, và ở lần điểm đạo thứ ba, những trung tâm trên cõi trí được chạm đến. Điểm đạo đồ khi ấy có thể đứng trong Hiện Diện của Đại Vương, Đấng Điểm đạo Duy Nhất. (LOM 74-75)

As this proceeds, the three physical head centres begin to awake from dormancy into activity, the effect being felt as follows:

Khi tiến trình này diễn ra, ba trung tâm đầu hồng trần bắt đầu thức dậy từ trạng thái ngủ yên để đi vào hoạt động, và tác động được cảm nhận như sau:

42. Due to the activity of the three major centers—head, heart and throat—and their effect upon the lower four sub-diaphragmatic centers, the physical head centers begin to awaken.

42. Do hoạt động của ba trung tâm chính—đầu, tim và cổ họng—và tác động của chúng lên bốn trung tâm thấp dưới cơ hoành, các trung tâm đầu hồng trần bắt đầu thức tỉnh.

43. It would seem that this awakening must follow or proceed pari passu with the awakening with the three etheric head centers to which the physical head centers correspond.

43. Dường như sự thức tỉnh này phải theo sau hoặc tiến hành song song với sự thức tỉnh của ba trung tâm đầu dĩ thái mà các trung tâm đầu hồng trần tương ứng với chúng.

a. As the major head centre awakens, the pineal gland begins to function.

a. Khi trung tâm đầu chính thức tỉnh, tuyến tùng bắt đầu hoạt động.

44. The pineal gland remains relatively dormant before the awakening of the head center.

44. Tuyến tùng vẫn tương đối ngủ yên trước khi trung tâm đầu được đánh thức.

b. As the heart centre becomes fully alive, the pituitary body enters into activity. [Page 965]

b. Khi trung tâm tim trở nên hoàn toàn sống động, thể tuyến yên đi vào hoạt độngy. [Page 965]

45. This connection is important and perhaps unexpected. It is the ajna center which is usually related to the pituitary body. Here we learn that the heart center is also related to this body. Expanding the implicit network of connections, we remember that the heart center and the ajna center are often considered related—both, at certain points in the development of man’s energy system, are correlated with the second aspect of divinity.

45. Mối liên hệ này quan trọng và có lẽ không được chờ đợi. Chính trung tâm ajna thường được liên hệ với thể tuyến yên. Ở đây chúng ta biết rằng trung tâm tim cũng liên hệ với cơ quan này. Mở rộng mạng lưới liên hệ hàm ẩn ấy, chúng ta nhớ rằng trung tâm tim và trung tâm ajna thường được xem là có liên hệ—cả hai, tại những điểm nhất định trong sự phát triển của hệ thống năng lượng của con người, đều tương quan với phương diện thứ hai của thiên tính.

46. If the pituitary through its connection with the ajna center is related to the expression of the personality, then there must be aspects of heart center functioning which are also related to personal expression. We do note that even during very personality centered stages of development, the heart center is always one of the principal three emphasized.

46. Nếu thể tuyến yên, thông qua mối liên hệ của nó với trung tâm ajna, có liên quan đến sự biểu lộ của phàm ngã, thì hẳn phải có những phương diện hoạt động của trung tâm tim cũng liên quan đến sự biểu lộ cá nhân. Chúng ta quả có lưu ý rằng ngay cả trong những giai đoạn phát triển rất tập trung vào phàm ngã, trung tâm tim luôn là một trong ba trung tâm chính được nhấn mạnh.

c. As the throat centre assumes its right place in the process of evolution, the alta major centre vibrates adequately.

c. Khi trung tâm cổ họng đảm nhận đúng vị trí của nó trong tiến trình tiến hoá, trung tâm alta major rung động đầy đủ.

47. Hitherto, the vibration of the alta major center was considered inadequate—inadequate to play its part in the full development of the major triangle in the head.

47. Cho đến nay, sự rung động của trung tâm alta major được xem là chưa đầy đủ—chưa đầy đủ để đảm nhiệm phần việc của nó trong sự phát triển trọn vẹn của tam giác chính trong đầu.

48. We might expect that the order of unfoldment would be:

48. Chúng ta có thể chờ đợi rằng trật tự khai mở sẽ là:

a. Alta major center, followed by

a. Trung tâm alta major, tiếp theo là

b. Pituitary body, followed by

b. Thể tuyến yên, tiếp theo là

c. Pineal gland

c. Tuyến tùng

49. There are also reasons to be believe that the alta major center reaches full development only later in the process of fully vitalizing the triangle in the head, just as the base of the spine center (while initially active in the primitive man) is only fully active at the most advanced stages of evolution—i.e., mastership.

49. Cũng có những lý do để tin rằng trung tâm alta major chỉ đạt đến sự phát triển đầy đủ muộn hơn trong tiến trình tiếp sinh lực trọn vẹn cho tam giác trong đầu, cũng như trung tâm đáy cột sống (dù ban đầu hoạt động nơi con người nguyên thủy) chỉ hoàn toàn hoạt động ở những giai đoạn tiến hoá cao nhất—tức là, chân sư quả vị.

When the triangle of force that these three physical centres form is in circulatory effect, the greater triangle can be seen in circulation;

Khi tam giác mãnh lực do ba trung tâm hồng trần này tạo thành ở trong hiệu ứng tuần hoàn, tam giác lớn hơn có thể được thấy đang tuần hoàn;

50. By the “greater triangle” is only perhaps meant the etheric triangle of head, heart and throat.

50. Bởi “tam giác lớn hơn” có lẽ chỉ có thể được hiểu là tam giác dĩ thái của đầu, tim và cổ họng.

51. It would seem, however, that the major etheric triangle in the head consisting of crown center, ajna center and alta major center would necessarily be in full circulation.

51. Tuy nhiên, dường như tam giác dĩ thái chính trong đầu gồm trung tâm đỉnh đầu, trung tâm ajna và trung tâm alta major tất yếu phải ở trong sự tuần hoàn trọn vẹn.

it then becomes a “wheel turning upon itself.”

khi ấy nó trở thành một “bánh xe tự xoay trên chính nó”.

52. As we study this section the relationship between the heart center and ajna center becomes important.

52. Khi nghiên cứu phần này, mối liên hệ giữa trung tâm tim và trung tâm ajna trở nên quan trọng.

53. Of which triangle is DK speaking when saying that the greater triangle “becomes a ‘wheel turning upon itself’. Is it the triangle of head, heart and throat? If so, this is hard to conceive, and yet the foregoing text could point in this direction.

53. DK đang nói đến tam giác nào khi nói rằng tam giác lớn hơn “trở thành một ‘bánh xe tự xoay trên chính nó’”? Có phải là tam giác đầu, tim và cổ họng không? Nếu vậy, điều này khó hình dung, tuy nhiên đoạn văn đi trước có thể chỉ theo hướng này.

54. Yet if the ajna center is substituted for the heart center, and the alta major center for the throat (the alta major center being arguably the higher correspondence to the throat center) the major triangle would be considered crown, ajna center and alta major center and the completed relationship between these three centers in the head can easily be conceived as a “wheel turning upon itself”.

54. Tuy nhiên, nếu trung tâm ajna được thay cho trung tâm tim, và trung tâm alta major thay cho cổ họng (vì trung tâm alta major có thể được xem là đối ứng cao hơn của trung tâm cổ họng) thì tam giác chính sẽ được xem là đỉnh đầu, trung tâm ajna và trung tâm alta major, và mối liên hệ hoàn tất giữa ba trung tâm này trong đầu có thể dễ dàng được hình dung như một “bánh xe tự xoay trên chính nó”.

The major etheric centres are in full action, and the man is nearing the moment of liberation.

Các trung tâm dĩ thái chính đang hoạt động trọn vẹn, và con người đang tiến gần đến khoảnh khắc giải thoát.

55. Again, these major etheric centers are either:

55. Một lần nữa, các trung tâm dĩ thái chính này hoặc là:

a. Head, heart and throat

a. Đầu, tim và cổ họng

b. Or head (i.e., crown), ajna center and alta major center

b. Hoặc đầu (tức là đỉnh đầu), trung tâm ajna và trung tâm alta major

In the work of creation, as occultly carried on, all these three physical centres have to be utilised,

Trong công việc sáng tạo, như được tiến hành một cách huyền bí, cả ba trung tâm hồng trần này đều phải được sử dụng,

56. DK is stating that the work of the magician requires the use not only the etheric centers, but the three physical centers which correspond to them. DK is indicating the strictly physical aspect of the magical work.

56. DK đang nói rằng công việc của nhà huyền thuật đòi hỏi việc sử dụng không chỉ các trung tâm dĩ thái, mà còn cả ba trung tâm hồng trần tương ứng với chúng. DK đang chỉ ra phương diện thuần hồng trần của công việc huyền thuật.

and from a consideration of the subject it will become apparent why it has been necessary to deal with them in this order.

và từ việc xem xét chủ đề này, sẽ trở nên hiển nhiên vì sao cần phải bàn đến chúng theo trật tự này.

57. Does DK mean an order beginning with the pineal gland and ending with the alta major center? Or does He mean that the material centers have to be dealt with first—even before the strictly etheric centers?

57. DK có muốn nói đến một trật tự bắt đầu với tuyến tùng và kết thúc với trung tâm alta major không? Hay Ngài muốn nói rằng các trung tâm vật chất phải được đề cập đến trước—ngay cả trước các trung tâm thuần dĩ thái?

By means of the pineal gland,89 the organ of spiritual perception, man ascertains the will and purpose of the Ego,

Nhờ tuyến tùng,89 cơ quan của tri giác tinh thần, con người xác định ý chí và mục đích của chân ngã,

58. This is the clearest of statements. We understand that all possible must be done to render the pineal gland fully functional. This requires the proper direction of the bodily energies.

58. Đây là lời phát biểu rõ ràng nhất. Chúng ta hiểu rằng phải làm mọi điều có thể để làm cho tuyến tùng hoạt động đầy đủ. Điều này đòi hỏi sự định hướng đúng đắn của các năng lượng trong thể.

59. We see that it is not only by means of the head center that man ascertains the will and purpose of the Ego. The pineal gland is definitely involved.

59. Chúng ta thấy rằng không chỉ nhờ trung tâm đầu mà con người xác định ý chí và mục đích của chân ngã. Tuyến tùng chắc chắn có liên can.

60. We remember that spiritual perception and intuitive instinct indicate preparedness for the third initiation. From this we understand that the activation of the pineal gland plays an important role in the third initiation.

60. Chúng ta nhớ rằng tri giác tinh thần và bản năng trực giác cho thấy sự sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ ba. Từ đó chúng ta hiểu rằng sự hoạt hóa tuyến tùng đóng một vai trò quan trọng trong lần điểm đạo thứ ba.

and from thence he draws the necessary energy [Page 966] from the higher levels, via the head centre and the sutratma.

từ đó y rút ra năng lượng cần thiết [Page 966] từ các cấp độ cao hơn, qua trung tâm đầu và sutratma.

61. So the pineal gland is to be considered magnetic. Energy is to be drawn into it. That energy comes through the head center (from higher levels via the sutratma).

61. Vì vậy tuyến tùng phải được xem là có tính từ tính. Năng lượng phải được rút vào đó. Năng lượng ấy đến qua trung tâm đầu (từ các cấp độ cao hơn qua sutratma).

By means of the pituitary body, the second element of desire or of the form-building energy, becomes available, and under the law of attraction he can mould, and build in deva substance.

Nhờ thể tuyến yên, yếu tố thứ hai của dục vọng hay của năng lượng kiến tạo hình tướng, trở nên khả dụng, và dưới định luật hấp dẫn y có thể nắn đúc, và xây dựng trong chất liệu thiên thần.

62. From this we understand that the second aspect of divinity is closely related to the pituitary body as are the astral body and the solar plexus. The second aspect is the form building aspect. Imagination is a form-building faculty. We realize the close relation between an activated pituitary body and an activated imagination.

62. Từ đây chúng ta hiểu rằng phương diện thứ hai của thiên tính có liên hệ mật thiết với thể tuyến yên, cũng như thể cảm dục và tùng thái dương. Phương diện thứ hai là phương diện kiến tạo hình tướng. Sự tưởng tượng là một năng lực kiến tạo hình tướng. Chúng ta nhận ra mối liên hệ chặt chẽ giữa một thể tuyến yên được hoạt hóa và một sự tưởng tượng được hoạt hóa.

Footnote 89

Chú thích 89

The Pineal Gland. The Third Eye.—S. D., III, 548.

Tuyến Tùng. Con Mắt Thứ Ba.—S. D., III, 548.

1. Goal of evolution to develop the inner vision.

1. Mục tiêu của tiến hoá là phát triển linh thị bên trong.

63. This would end the long excommunication of the outer man from his true inner nature.

63. Điều này sẽ chấm dứt sự tuyệt thông lâu dài của con người bên ngoài khỏi bản chất bên trong chân thực của mình.

2. The occult significance of the eye.—S. D., III, 577.

2. Ý nghĩa huyền bí của con mắt.—S. D., III, 577.

64. The eye can be a vehicle for all three major aspects of divinity. It is, however, particularly connected with the second aspect and with consciousness.

64. Con mắt có thể là một vận cụ cho cả ba phương diện chính của thiên tính. Tuy nhiên, nó đặc biệt được nối kết với phương diện thứ hai và với tâm thức.

3. The “eye of Taurus the Bull.”—(Compare bull’s-eye.)

3. “Con mắt của Kim Ngưu.” —(So sánh với bull’s-eye.)

65. We have been considering the constructive, form-building aspects of the eye (especially the pituitary body which correlates with the ajna center and with the two eyes). Taurus has two rulers, Venus and Vulcan. Venus is connected with the ajna center, the pituitary body and thus with form building. Venus, we realize, is a planet closely associated with the visual faculty. Vulcan is closely connected with the head center and, thus, with the pineal gland.

65. Chúng ta đã xem xét các phương diện xây dựng, kiến tạo hình tướng của con mắt (đặc biệt là thể tuyến yên, vốn tương quan với trung tâm ajna và với hai mắt). Kim Ngưu có hai chủ tinh, Sao Kim và Vulcan. Sao Kim liên hệ với trung tâm ajna, thể tuyến yên và do đó với việc kiến tạo hình tướng. Chúng ta nhận ra rằng Sao Kim là một hành tinh gắn bó chặt chẽ với năng lực thị giác. Vulcan gắn bó chặt chẽ với trung tâm đầu và do đó với tuyến tùng.

66. Interestingly, Mercury is also a planet connected with Taurus. We have a triangle in Taurus, Mercury and the Buddha. “Buddha” is the Sanskrit name for Mercury.

66. Điều thú vị là Sao Thủy cũng là một hành tinh liên hệ với Kim Ngưu. Chúng ta có một tam giác trong Kim Ngưu, Sao Thủy và Đức Phật. “Buddha” là tên Sanskrit của Sao Thủy.

67. So we have Vulcan, Venus and Mercury, all rulers of or closely related to Taurus, and all instruments of vision: from one perspective—Venus the left eye, Mercury the right eye and Vulcan the third eye.

67. Vì vậy chúng ta có Vulcan, Sao Kim và Sao Thủy, tất cả đều là các chủ tinh của hoặc có liên hệ chặt chẽ với Kim Ngưu, và tất cả đều là những công cụ của tầm nhìn: từ một góc độ—Sao Kim là mắt trái, Sao Thủy là mắt phải và Vulcan là con mắt thứ ba.

68. Venus and Mercury, thus, can be considered related to the pituitary body (for they both are closely associated with the ajna center) and Vulcan (ruling the head center) to the pineal gland.

68. Do đó, Sao Kim và Sao Thủy có thể được xem là liên hệ với thể tuyến yên (vì cả hai đều gắn bó chặt chẽ với trung tâm ajna) và Vulcan (cai quản trung tâm đầu) liên hệ với tuyến tùng.

69. The three planets together (and the functioning of the two glands) provide man with much of his constructive power. Constructiveness, form-building and the power to see are all intimately related.

69. Ba hành tinh cùng nhau (và hoạt động của hai tuyến) cung cấp cho con người phần lớn quyền năng xây dựng của y. Tính xây dựng, việc kiến tạo hình tướng và năng lực thấy đều liên hệ mật thiết với nhau.

The constellation of Taurus was called the Mother of Revelation and the interpreter of the divine Voice.—S. D., I, 721.

Chòm sao Kim Ngưu được gọi là Mẹ của Mặc Khải và là kẻ diễn giải Tiếng Nói thiêng liêng.—S. D., I, 721.

70. Taurus is also called the “Mother of Illumination”.

70. Kim Ngưu cũng được gọi là “Mẹ của Soi Sáng”.

71. Taurus stimulates the “Eye of the Bull” within man. From this perspective Taurus can be considered allied to the ajna center.

71. Kim Ngưu kích thích “Con Mắt của Con Bò Đực” bên trong con người. Từ góc độ này, Kim Ngưu có thể được xem là đồng minh với trung tâm ajna.

“Then the Bull of God carries the light in his forehead, and his eye transmits the radiance; (TWM 109)

“Bấy giờ Con Bò Đực của Thượng đế mang ánh sáng trên trán nó, và mắt nó truyền phát sự rạng ngời; (TWM 109)

72. Taurus, also, however, rules the Eye of Wisdom, the “Single Eye”, the “Blue Eye”, the “Eye of Shiva”, and, thus, must have a close connection with the head center.

72. Tuy nhiên, Kim Ngưu cũng cai quản Con Mắt Minh Triết, “Con Mắt Đơn Nhất”, “Con Mắt Xanh”, “Con Mắt của Shiva”, và do đó hẳn phải có một liên hệ chặt chẽ với trung tâm đầu.

73. We know well that the time of Shamballa’s strongest yearly impact is the Taurus Full Moon. Shamballa is the head center of the planet. Thus, Taurus, must be connected with the planetary head center even though Aries, usually, is considered the sign associated with the head—and is of course, also particularly related to Shamballa

73. Chúng ta biết rõ rằng thời điểm tác động hằng năm mạnh nhất của Shamballa là Trăng Tròn Kim Ngưu. Shamballa là trung tâm đầu của hành tinh. Vì vậy, Kim Ngưu hẳn phải liên hệ với trung tâm đầu hành tinh mặc dù Bạch Dương thường được xem là dấu hiệu gắn với đầu—và dĩ nhiên quả thật cũng đặc biệt liên hệ với Shamballa

4. The organs of inner vision:

4. Các cơ quan của linh thị bên trong:

a. The exoteric organ……Pineal gland……physical.

a. Cơ quan ngoại môn……Tuyến tùng……hồng trần.

74. It is interesting to see the pineal gland referred to as an “exoteric” organ, when its true purpose and functioning are so occult. Yet, for all that, the pineal gland is indeed a physical “body”.

74. Thật thú vị khi thấy tuyến tùng được gọi là một cơ quan “ngoại môn”, trong khi mục đích và hoạt động thực sự của nó lại huyền bí đến thế. Tuy vậy, dù sao đi nữa, tuyến tùng quả thật là một “thể” hồng trần.

b. The esoteric organ……the third eye…..etheric.

b. Cơ quan nội môn……con mắt thứ ba…..dĩ thái.

75. The third eye is an etheric eye.

75. Con mắt thứ ba là một con mắt dĩ thái.

76. We have an important triangle in the head center, the third eye and the pineal gland.

76. Chúng ta có một tam giác quan trọng trong trung tâm đầu, con mắt thứ ba và tuyến tùng.

Note: Students must be careful to distinguish between the third eye and the pineal gland.—See S. D., II, 308. “The third eye is dead and acts no longer.” It has left behind a witness to its existence in the Pineal gland.

Lưu ý: Các đạo sinh phải cẩn thận phân biệt giữa con mắt thứ ba và tuyến tùng.—Xem S. D., II, 308. “Con mắt thứ ba đã chết và không còn hoạt động nữa.” Nó đã để lại một chứng tích về sự hiện hữu của nó trong tuyến tùng.

77. Well, this is an interesting statement as we are looking forward to the future activation of the third eye, if by “the third eye” H.P.B. means that organ of synthetic vision which is evoked into activity when the triangle of energy between the crown, ajna center and alta major center is flowing freely.

77. Đây là một phát biểu thú vị vì chúng ta đang hướng tới sự hoạt hóa trong tương lai của con mắt thứ ba, nếu bởi “con mắt thứ ba” H.P.B. muốn nói đến cơ quan của tầm nhìn tổng hợp được gợi vào hoạt động khi tam giác năng lượng giữa trung tâm đỉnh đầu, trung tâm ajna và trung tâm alta major đang lưu chuyển tự do.

78. The days of the reawakening of the third eye and, correspondingly, the pineal gland, are soon to be with us.

78. Những ngày tái thức tỉnh của con mắt thứ ba và, tương ứng, của tuyến tùng, sắp đến với chúng ta.

5. The Pineal gland is a small pea-like mass of grey nervous matter attached to the back of the third ventricle of the brain.

5. Tuyến tùng là một khối nhỏ giống hạt đậu của chất thần kinh xám gắn vào phía sau não thất thứ ba của bộ não.

79. Although the anatomists in our groups are rare, this piece of specific information is of value for everyone.

79. Mặc dù các nhà giải phẫu trong các nhóm của chúng ta rất hiếm, mẩu thông tin cụ thể này có giá trị đối với mọi người.

80. Probably it would be good to study the position and relations between the ventricles of the brain, as they have great occult significance.

80. Có lẽ sẽ là điều tốt nếu nghiên cứu vị trí và các mối liên hệ giữa các não thất của bộ não, vì chúng có ý nghĩa huyền bí lớn lao.

81. What do we make of the fact that the pineal gland (organ of the third eye) is at the back of the third ventricle of the brain?

81. Chúng ta hiểu thế nào về sự kiện rằng tuyến tùng (cơ quan của con mắt thứ ba) nằm ở phía sau não thất thứ ba của bộ não?

6. The Pituitary Body stands to the Pineal gland as manas does to Buddhi, or mind to wisdom.—S. D., III, 504, 505.

6. Thể tuyến yên đối với tuyến tùng cũng như manas đối với Bồ đề, hay trí tuệ đối với minh triết.—S. D., III, 504, 505.

82. A very logical statement. The implications connect the ajna center with manas and the pineal gland with buddhi. This makes sense if one thinks of the heart in the head center as connected with both buddhi and the pineal gland.

82. Một phát biểu rất hợp lý. Những hàm ý của nó nối kết trung tâm ajna với manas và tuyến tùng với Bồ đề. Điều này có ý nghĩa nếu người ta nghĩ đến tim trong trung tâm đầu như được nối kết với cả Bồ đề lẫn tuyến tùng.

83. The goal of the disciple is to create the union of buddhi and manas as buddhi-manas. The goal is also to merge the head center and the ajna center and the pineal gland with the pituitary body.

83. Mục tiêu của đệ tử là tạo ra sự hợp nhất của Bồ đề và manas thành buddhi-manas. Mục tiêu cũng là hợp nhất trung tâm đầu và trung tâm ajna, và tuyến tùng với thể tuyến yên.

7. The Pineal gland reached its highest development proportionately with the Lowest Physical development.—S. D., II, 308, 313.

7. Tuyến tùng đạt đến sự phát triển cao nhất của nó tương ứng với sự phát triển Hồng trần Thấp nhất.—S. D., II, 308, 313.

84. Perhaps we are speaking of a very primitive period during which man had one eye rather than two. It could have been an early ‘cyclopean’ period. This type of third eye may literally have been physical, and the pineal gland may not have descended to its present position within the head. In fact, the pineal gland may be the remnant of a physical third eye which descended into the middle of the head.

84. Có lẽ chúng ta đang nói đến một thời kỳ rất nguyên thủy trong đó con người có một mắt thay vì hai. Đó có thể là một thời kỳ “cyclopean” sơ khai. Loại con mắt thứ ba này có thể theo nghĩa đen đã là hồng trần, và tuyến tùng có thể chưa hạ xuống vị trí hiện nay của nó trong đầu. Thật vậy, tuyến tùng có thể là tàn tích của một con mắt thứ ba hồng trần đã hạ xuống giữa đầu.

85. In any case, the Ancient Tradition seems to speak of early man as, literally, “one-eyed”. Spiritually, this will again become the case through the initiation process.

85. Dù sao đi nữa, Truyền Thống Cổ dường như nói về con người sơ khai như, theo nghĩa đen, là “một mắt”. Về mặt tinh thần, điều này sẽ lại trở thành trường hợp như vậy qua tiến trình điểm đạo.

8. The third eye exists in etheric matter.

8. Con mắt thứ ba tồn tại trong vật chất dĩ thái.

a. In front of the head.

a. Ở phía trước đầu.

b. On a level with the eyes.

b. Ngang tầm với hai mắt.

86. More useful occult information to be experimented with during profound meditation.

86. Thêm những thông tin huyền bí hữu ích để được thử nghiệm trong tham thiền sâu xa.

87. Is the exact location of the third eye (etheric) “in front of the head” or more surrounding the pineal gland?

87. Vị trí chính xác của con mắt thứ ba (dĩ thái) là “ở phía trước đầu” hay bao quanh tuyến tùng nhiều hơn?

9. It is an energy centre formed by a triangle of force:

9. Nó là một trung tâm năng lượng được hình thành bởi một tam giác mãnh lực:

a. The Pituitary Body.

a. Thể tuyến yên.

b. The Pineal Gland.

b. Tuyến tùng.

c. The alta major centre.

c. Trung tâm alta major.

88. Again we notice that be have two physical ‘bodies’ and one “centre”. The word “centre” in this case can indicate that which is either etheric or densely physical.

88. Một lần nữa chúng ta lưu ý rằng chúng ta có hai “thể” hồng trần và một “trung tâm”. Từ “trung tâm” trong trường hợp này có thể chỉ điều gì đó hoặc là dĩ thái hoặc là hồng trần đậm đặc.

89. If DK were being strictly literal, He might have used the term “carotid gland”.

89. Nếu DK hoàn toàn theo nghĩa đen, Ngài có thể đã dùng thuật ngữ “carotid gland”.

10. The opened or third eye does not convey direct clairvoyance but is the organ through which direct and certain knowledge is obtained.—S. D., I, 77.

10. Con mắt đã mở hay con mắt thứ ba không truyền đạt thông nhãn trực tiếp mà là cơ quan nhờ đó tri thức trực tiếp và chắc chắn được đạt đến.—S. D., I, 77.

90. In this respect we remember that clairvoyance upon the mental plane is not the highest faculty to be found upon that plane.

90. Về phương diện này, chúng ta nhớ rằng thông nhãn trên cõi trí không phải là năng lực cao nhất có thể tìm thấy trên cõi ấy.

91. From this perspective, we might consider the third eye as the organ of straight knowledge or intuition.

91. Từ góc độ này, chúng ta có thể xem con mắt thứ ba như cơ quan của tri thức trực tiếp hay trực giác.

92. We also come to the conclusion that “direct clairvoyance” is not exactly the intuition.

92. Chúng ta cũng đi đến kết luận rằng “thông nhãn trực tiếp” không hoàn toàn chính là trực giác.

a. The initiate directs the eye towards the essence of things.

a. Điểm đạo đồ hướng con mắt về phía tinh chất của sự vật.

93. Ultimately, the essence of things is buddhi. Conversely, buddhi is the faculty through which the essence of things can be discerned.

93. Rốt cuộc, tinh chất của sự vật là Bồ đề. Ngược lại, Bồ đề là năng lực nhờ đó tinh chất của sự vật có thể được phân biện tinh thần.

b. The third eye must be acquired by the ascetic before he becomes an adept.—S. D., II, 651.

b. Con mắt thứ ba phải được người khổ hạnh đạt được trước khi y trở thành một chân sư.—S. D., II, 651.

94. Here is a tremendous occult hint. The third eye does not come into functionality until a degree of asceticism is applied. If the energies of the body are directed towards various material satisfactions, the energies do not rise to activate the latent pineal gland and third eye.

94. Đây là một gợi ý huyền bí vô cùng lớn lao. Con mắt thứ ba không đi vào hoạt động cho đến khi một mức độ khổ hạnh nào đó được áp dụng. Nếu các năng lượng của thể được hướng về nhiều sự thỏa mãn vật chất khác nhau, các năng lượng ấy sẽ không dâng lên để hoạt hóa tuyến tùng tiềm ẩn và con mắt thứ ba.

95. We note that the adept is not really the ascetic—as the Buddha discovered. Asceticism is a previous stage, but probably an inescapable stage. It all depends on how we understand the term “ascetic”. It seems to have little appeal in today’s world, but we must remember the Patron God of all ascetics—Shiva!

95. Chúng ta lưu ý rằng chân sư không thực sự là người khổ hạnh—như Đức Phật đã khám phá. Khổ hạnh là một giai đoạn trước đó, nhưng có lẽ là một giai đoạn không thể tránh. Tất cả tùy thuộc vào cách chúng ta hiểu thuật ngữ “người khổ hạnh”. Nó dường như ít hấp dẫn trong thế giới ngày nay, nhưng chúng ta phải nhớ đến Vị Thượng đế Bảo Trợ của mọi người khổ hạnh—Shiva!

11. Students of occultism ought to know that the third eye is indissolubly connected with karma.—S. D., II, 312, note; S. D., II, 316, 320.

11. Các đạo sinh của huyền bí học nên biết rằng con mắt thứ ba gắn liền không thể tách rời với nghiệp quả.—S. D., II, 312, note; S. D., II, 316, 320.

96. Perhaps we may think of the atrophying of the third eye as related to karma.

96. Có lẽ chúng ta có thể nghĩ đến sự teo đi của con mắt thứ ba như có liên hệ với nghiệp quả.

a. From its Atlantean past, the fifth root-race is working out fourth root-race causes.

a. Từ quá khứ Atlantis của mình, giống dân gốc thứ năm đang giải quyết các nguyên nhân của giống dân gốc thứ tư.

97. It was during the fourth root-race that the third eye atrophied. It may be because of the materially-inclined emotionalism of the majority of that race.

97. Chính trong giống dân gốc thứ tư mà con mắt thứ ba đã teo đi. Điều này có thể là do tính cảm xúc thiên về vật chất của đa số thuộc giống dân ấy.

c. Because it reveals that which is its past.—S. D., II, 297, 320, 813.

c. Bởi vì nó tiết lộ điều vốn là quá khứ của nó.—S. D., II, 297, 320, 813.

98. Here is another hint concerning the relationship of the third eye to the reading of the akashic records. We also remember the connection of the pineal gland with the number three—the number of the past.

98. Đây là một gợi ý khác liên quan đến mối liên hệ của con mắt thứ ba với việc đọc các hồ sơ akashic. Chúng ta cũng nhớ đến mối liên hệ của tuyến tùng với con số ba—con số của quá khứ.

99. But if the third eye reveals the past, it also reveals the future, as buddhi is the future and this eye is connected with the buddhic faculty.

99. Nhưng nếu con mắt thứ ba tiết lộ quá khứ, nó cũng tiết lộ tương lai, vì Bồ đề là tương lai và con mắt này được nối kết với năng lực Bồ đề.

12. The third eye is the mirror of the soul.—S. D., II, 312.

12. Con mắt thứ ba là tấm gương của linh hồn.—S. D., II, 312.

100. That which the soul sees, the soul-in-incarnation may also see by using the third eye.

100. Điều mà linh hồn thấy, linh hồn đang nhập thể cũng có thể thấy bằng cách sử dụng con mắt thứ ba.

101. We often say that “the eyes are the windows to the soul”, but perhaps it should be said that ‘the eye is the window to the soul’.

101. Chúng ta thường nói rằng “đôi mắt là cửa sổ nhìn vào linh hồn”, nhưng có lẽ nên nói rằng “con mắtcửa sổ nhìn vào linh hồn”.

102. That which the supervisory Ego seeks to see implemented through personality life can be sensed or reflected through the third eye.

102. Điều mà chân ngã giám sát tìm cách thấy được thực hiện qua đời sống phàm ngã có thể được cảm nhận hay phản chiếu qua con mắt thứ ba.

13. To the inner spiritual eye the Gods are no more abstractions than our soul and body are to us.—S. D., I, 694.

13. Đối với con mắt tinh thần bên trong, các Thượng đế không còn là những điều trừu tượng hơn linh hồn và thể của chúng ta đối với chúng ta.—S. D., I, 694.

103. Well, to some, the soul is still rather an abstraction, but certainly the body is not—it is the ultimate concretion!

103. Đối với một số người, linh hồn vẫn còn khá trừu tượng, nhưng chắc chắn thể thì không—nó là sự kết tinh tối hậu!

104. Through the third eye, it would see that one could begin to see the influences of the planets, for, really, the planets are the “Gods”.

104. Qua con mắt thứ ba, người ta sẽ thấy rằng có thể bắt đầu thấy các ảnh hưởng của các hành tinh, vì thật ra, các hành tinh là các “Thượng đế”.

105. This correlates well with the thought that the transfigured initiate sees the passage of the heavenly energies as streams of light and radiance.

105. Điều này tương hợp rất tốt với ý tưởng rằng điểm đạo đồ đã Biến hình nhìn thấy sự vận hành của các năng lượng thiên giới như những dòng ánh sáng và quang huy.

From the above few points, hints can be gathered together as to the interlocking forces of all the twelve constellations, as they pour into and through all the kingdoms in nature, carrying with them also not only their own individual potencies but also those of the seven rays, focussed through the sacred and non-sacred planets—the discovered and undiscovered planetary Lives. It has been occultly said that a vision of these powers and their many weaving lines (seen as rivers and streams of light) is given to the initiate from the mountain top of Capricorn, once that summit has been reached. It is at the Transfiguration initiation that this vision appears before the eyes of the astounded disciple. (EA 167)

Từ vài điểm nêu trên, có thể gom góp những gợi ý về các mãnh lực đan kết của cả mười hai chòm sao, khi chúng tuôn vào và xuyên qua mọi giới trong thiên nhiên, đồng thời mang theo không chỉ các tiềm lực cá biệt riêng của chúng mà còn cả các tiềm lực của bảy cung, được hội tụ qua các hành tinh thiêng liêng và không thiêng liêng—các Sự Sống Hành tinh đã được khám phá và chưa được khám phá. Một cách huyền bí, người ta đã nói rằng một linh ảnh về các quyền năng này và vô số đường đan dệt của chúng (được thấy như những con sông và dòng suối ánh sáng) được ban cho điểm đạo đồ từ đỉnh núi Ma Kết, một khi đỉnh ấy đã được đạt tới. Chính vào cuộc điểm đạo Biến hình mà linh ảnh này hiện ra trước mắt người đệ tử kinh ngạc. (EA 167)

a. The inner eye can see through the veil of matter.—S. D., I, 694.

a. Con mắt bên trong có thể nhìn xuyên qua bức màn của vật chất.—S. D., I, 694.

106. Since it is an etheric eye, this is to be presumed.

106. Vì đó là một con mắt dĩ thái, nên điều này là điều có thể giả định được.

107. But matter is of many varieties within the eighteen lower subplanes, and the true and highly developed third eye can penetrate the veils of subtle matter as well.

107. Nhưng vật chất có nhiều loại trong mười tám cõi phụ thấp, và con mắt thứ ba chân chính, được phát triển cao, cũng có thể xuyên thấu các bức màn của vật chất vi tế.

c. The spiritual eye reveals the super-sensual states.—S. D., II, 561.

c. Con mắt tinh thần tiết lộ các trạng thái siêu giác quan.—S. D., II, 561.

108. It certainly reveals that which lies beyond the senses (as normally considered).

108. Chắc chắn nó tiết lộ điều nằm vượt ngoài các giác quan (theo cách hiểu thông thường).

109. Notice the word “sensual” rather than “sensuous”. The ‘sensual states’ are those which are connected specifically to the dense physical subplanes of the etheric-physical plane.

109. Hãy lưu ý từ “sensual” thay vì “sensuous”. Các “trạng thái sensual” là những trạng thái được nối kết đặc biệt với các cõi phụ hồng trần đậm đặc của cõi dĩ thái-hồng trần.

110. The higher fifteen of the lower eighteen subplanes could, from this perspective, be considered “super-sensual”.

110. Mười lăm cõi phụ cao hơn trong mười tám cõi phụ thấp, từ góc nhìn này, có thể được xem là “siêu giác quan”.

14. In the spiritual regenerated man the third eye is active.—S. D., II, 458.

14. Ở con người được tái sinh tinh thần, con mắt thứ ba hoạt động.—S. D., II, 458.

111. Such is a man who has been created again. He has regained some of the spiritual prerogatives of his primitive nature (but with the addition of mind and a developed sentiency).

111. Đó là một con người đã được tạo ra lần nữa. Y đã phục hồi một số đặc quyền tinh thần của bản chất nguyên sơ của mình (nhưng có thêm trí tuệ và năng lực cảm nhận đã phát triển).

112. If Pluto is the ‘Regenerator’ and if Mercury “restores sight to the blind”, we can see that both must be active in reawakening the third eye. This makes sense when we consider Pluto as ruler of Scorpio (darkness) and Mercury as especially related to the sign Taurus (the Divine Light). “Lead us from darkness to light”.

112. Nếu Sao Diêm Vương là “Đấng Tái Sinh” và nếu Sao Thủy “phục hồi thị lực cho người mù”, chúng ta có thể thấy rằng cả hai đều phải hoạt động trong việc đánh thức lại con mắt thứ ba. Điều này có ý nghĩa khi chúng ta xem Sao Diêm Vương là chủ tinh của Hổ Cáp (bóng tối) và Sao Thủy là hành tinh đặc biệt liên hệ với dấu hiệu Kim Ngưu (Ánh Sáng thiêng liêng). “Xin dẫn dắt chúng con từ bóng tối đến ánh sáng”.

113. Mercury, kundalini and the regeneration of man are to be related.

113. Sao Thủy, kundalini và sự tái sinh của con người cần được liên hệ với nhau.

When the alta major centre, the synthesis of what might be called nervous energy, is awake, it becomes possible for him to materialise and activate the desired form which, through attractive energy, he is in process of constructing.

Khi trung tâm alta major, sự tổng hợp của cái có thể được gọi là năng lượng thần kinh, được đánh thức, thì y có thể hiện hình và kích hoạt hình tướng mong muốn mà, thông qua năng lượng hấp dẫn, y đang trong tiến trình kiến tạo.

114. We can understand the magical properties of the alta major center. The third ray is the Ray of Magic, per se, whereas the seventh ray is the Ray of the Ritualist—both rays, of course, intimately, related.

114. Chúng ta có thể hiểu các đặc tính huyền thuật của trung tâm alta major. Cung ba chính là Cung của huyền thuật, còn cung bảy là Cung của nhà nghi lễ—dĩ nhiên cả hai cung đều liên hệ mật thiết với nhau.

115. The alta major center is correlated with the third aspect of divinity, the aspect which makes materialization possible.

115. Trung tâm alta major tương quan với phương diện thứ ba của thiên tính, phương diện làm cho sự hiện hình trở nên khả hữu.

116. We have been given another potent hint in the thought that the alta major center is the “synthesis of….nervous energy”. Here is a connection to the actual, material nerves rather than the etheric nadis. Mercury is involved. Probably the deepest ray connected with Mercury is the third. Mercury also, we realize from the Tarot, is the planet of the “Magician”. Mercury is also “kundalini latent” and the alta major center is to the head as a whole in a position analogous to the base of the spine center (with respect to the body as a whole).

116. Chúng ta đã được ban cho một gợi ý mạnh mẽ khác trong ý tưởng rằng trung tâm alta major là “sự tổng hợp của….năng lượng thần kinh”. Ở đây có một mối liên hệ với các dây thần kinh vật chất thực sự hơn là với các nadi dĩ thái. Sao Thủy có liên quan. Có lẽ cung sâu xa nhất liên hệ với Sao Thủy là cung ba. Từ Tarot, chúng ta cũng nhận ra rằng Sao Thủy là hành tinh của “Nhà Huyền Thuật”. Sao Thủy cũng là “kundalini tiềm ẩn”, và trung tâm alta major đối với toàn bộ đầu có một vị trí tương tự như trung tâm đáy cột sống đối với toàn bộ cơ thể.

It will be apparent, therefore, why it is that so few people ever construct thought forms which are of constructive lasting benefit to humanity, and also why it is that the Great Ones, (as They work through Their disciples) are forced to work with groups, being seldom able to find a man or woman whose three physical head centres are simultaneously active.

Do đó, sẽ hiển nhiên vì sao rất ít người từng kiến tạo được các hình tư tưởng có lợi ích xây dựng và lâu bền cho nhân loại, và cũng vì sao các Đấng Cao Cả, (khi Các Ngài hoạt động qua các đệ tử của Các Ngài) buộc phải làm việc với các nhóm, vì hiếm khi có thể tìm được một người nam hay nữ mà ba trung tâm đầu hồng trần của họ cùng lúc hoạt động.

117. We have been given a list of very exacting requirements for the true magician. Few fulfill them.

117. Chúng ta đã được trao cho một danh sách những đòi hỏi rất khắt khe đối với nhà huyền thuật chân chính. Rất ít người đáp ứng được chúng.

118. In the foregoing section we have been speaking of the interior requirements for thoughtform construction.

118. Trong phần trước, chúng ta đã bàn đến các đòi hỏi nội tại cho việc kiến tạo hình tư tưởng.

119. In the thought that the group can replace the individual, we see at work compensatory activity. No one group member may possess what is needed for true magical work, but, in a group, the deficiencies of one are compensated by the abilities of another. Thus, an effective wholeness can be created.

119. Trong ý tưởng rằng nhóm có thể thay thế cá nhân, chúng ta thấy hoạt động bù trừ đang vận hành. Không một thành viên nhóm nào có thể sở hữu đầy đủ những gì cần thiết cho công việc huyền thuật chân chính, nhưng trong một nhóm, những thiếu sót của người này được bù đắp bởi năng lực của người khác. Nhờ đó, một tính toàn vẹn hữu hiệu có thể được tạo ra.

120. The Hierarchy would work through third degree initiates if it could with reasonable frequency, but such initiates are hard to find and so the group must perforce be used. In any case, group work is the trend of the future. A still better instrument would be the third degree initiate group.

120. Thánh Đoàn hẳn sẽ làm việc qua các điểm đạo đồ cấp ba nếu có thể với tần suất hợp lý, nhưng những điểm đạo đồ như thế rất khó tìm, nên nhóm buộc phải được sử dụng. Dù sao đi nữa, công việc nhóm là xu hướng của tương lai. Một công cụ còn tốt hơn nữa sẽ là một nhóm điểm đạo đồ cấp ba.

They frequently have to work with large groups before the quota of energy supplied to Them for the accomplishment of Their ends measures up to that necessitated.

Các Ngài thường phải làm việc với những nhóm lớn trước khi hạn ngạch năng lượng được cung cấp cho Các Ngài để hoàn thành mục đích của Các Ngài đạt tới mức cần thiết.

121. Here we have a fascinating thought. A certain amount of energy must be generated before the Great Ones can work through an individual, a group or a large group. It is obvious why a large group is sometimes required—through the addition of many smaller sources of energy, sufficient energy can be achieved.

121. Ở đây chúng ta có một ý tưởng đầy hấp dẫn. Một lượng năng lượng nhất định phải được tạo ra trước khi các Đấng Cao Cả có thể làm việc qua một cá nhân, một nhóm hay một nhóm lớn. Hiển nhiên là vì sao đôi khi cần một nhóm lớn—nhờ cộng thêm nhiều nguồn năng lượng nhỏ hơn, có thể đạt được đủ năng lượng.

122. We have only to think of how the Avatar of Synthesis works—always through large groupings. In His case, no individual could withstand the pure application of energy—except (in our Spiritual Hierarchy) for the Christ and the Buddha and Shamballic Beings.

122. Chúng ta chỉ cần nghĩ đến cách Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp hoạt động—luôn luôn qua những tập hợp lớn. Trong trường hợp của Ngài, không cá nhân nào có thể chịu đựng được sự áp dụng thuần túy của năng lượng—ngoại trừ (trong Huyền Giai Tinh Thần của chúng ta) Đức Christ và Đức Phật cùng các Hữu thể Shamballa.

123. We are members now of relatively smaller occult groups. More pressure is put upon us if we are to generate an energy sufficient for use by the Great Ones. Each disciple in such a group must generate a higher quota of energy.

123. Hiện nay chúng ta là thành viên của những nhóm huyền bí tương đối nhỏ hơn. Áp lực đặt lên chúng ta lớn hơn nếu chúng ta phải tạo ra một năng lượng đủ để các Đấng Cao Cả sử dụng. Mỗi đệ tử trong một nhóm như vậy phải tạo ra một hạn ngạch năng lượng cao hơn.

S8S4 Part III

TCF 967 – 969

TCF 967 – 969

28 November – 13 December 2008

28 tháng Mười Một – 13 tháng Mười Hai 2008

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Xin đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và chính cách trình bày cô đọng trong sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

It will be obvious, likewise, that the disciple’s power for service for humanity is dependent largely upon three things: [Page 967]

Tương tự, cũng sẽ hiển nhiên rằng quyền năng phụng sự nhân loại của người đệ tử phần lớn tùy thuộc vào ba điều: [Page 967]

a. The state of his bodies and their egoic alignment.

a. Tình trạng các thể của y và sự chỉnh hợp chân ngã của chúng.

1. Notice the occult factors on which the disciple’s power for service to humanity depends. This is probably little realized by those who are interested or engaged in service.

1. Hãy lưu ý các yếu tố huyền bí mà quyền năng phụng sự nhân loại của người đệ tử tùy thuộc vào. Điều này có lẽ ít được nhận ra bởi những người quan tâm đến hoặc đang dấn thân vào việc phụng sự.

2. We can never forget the importance of the condition of the instrument.

2. Chúng ta không bao giờ được quên tầm quan trọng của tình trạng của công cụ.

3. Instruments in good condition, however, are not sufficient. They must be correctly aligned with the Ego.

3. Tuy nhiên, những công cụ ở trong tình trạng tốt vẫn chưa đủ. Chúng phải được chỉnh hợp đúng đắn với Chân ngã.

b. The condition of activity present in the physical head centres.

b. Tình trạng hoạt động hiện diện trong các trung tâm đầu hồng trần.

4. Not only are the etheric centers to be sufficiently stimulated and in circulatory relationship, the physical head centers must be activated.

4. Không chỉ các trung tâm dĩ thái phải được kích thích đầy đủ và ở trong mối liên hệ tuần hoàn, mà các trung tâm đầu hồng trần cũng phải được hoạt hóa.

5. Service must work out onto the physical plane, so the physical apparatus, though not a principle, is of real importance.

5. Sự phụng sự phải được thể hiện ra trên cõi hồng trần, nên bộ máy hồng trần, tuy không phải là một nguyên khí, vẫn có tầm quan trọng thực sự.

c. The circulatory action of the triangular transmission of force.

c. Tác động tuần hoàn của sự truyền dẫn mãnh lực theo hình tam giác.

6. Presumably this applies to the transmission of force between the crown, ajna and alta major centers. In some manner there must be a triangular transmission of force (a more physical relationship—is it electro-chemical?) between the physical centers as well.

6. Có lẽ điều này áp dụng cho sự truyền dẫn mãnh lực giữa các trung tâm đỉnh đầu, ajna và alta major. Theo một cách nào đó, cũng phải có một sự truyền dẫn mãnh lực theo hình tam giác (một mối liên hệ vật chất hơn—có phải là điện-hóa học chăng?) giữa các trung tâm hồng trần.

These factors are again dependent upon others, among which might be enumerated:

Những yếu tố này lại tùy thuộc vào những yếu tố khác, trong số đó có thể kể ra:

7. We remember that we are speaking of the disciple’s power in service and the factors upon which such power depends.

7. Chúng ta nhớ rằng chúng ta đang nói về quyền năng của người đệ tử trong phụng sự và các yếu tố mà quyền năng ấy tùy thuộc vào.

1. The ability of the disciple to meditate.

1. Khả năng tham thiền của người đệ tử.

8. We are being told that without the power to meditate, there can be no true service, because without meditation the necessary physical plane activations, stimulations, alignment and interconnection cannot be established.

8. Ở đây chúng ta được cho biết rằng nếu không có năng lực tham thiền thì không thể có sự phụng sự chân chính, bởi vì nếu không có tham thiền thì những sự hoạt hóa, kích thích, chỉnh hợp và liên kết cần thiết trên cõi hồng trần không thể được thiết lập.

9. How often has servers related their effectiveness in service to their power to meditate? At least servers associated with the Ageless Wisdom must do so.

9. Đã bao lần những người phụng sự liên hệ hiệu quả phụng sự của họ với năng lực tham thiền của họ? Ít nhất những người phụng sự gắn liền với Minh Triết Ngàn Đời phải làm như vậy.

2. The capacity he displays for bringing through accurately from the subtler levels the plans and purposes of which his Ego is cognisant.

2. Năng lực mà y biểu lộ trong việc chuyển xuống một cách chính xác từ các cấp độ vi tế hơn những kế hoạch và mục đích mà Chân ngã của y nhận biết.

10. This capacity, presumably, is somewhat dependent upon alignment but, perhaps, a certain profound quality of attentiveness is also required. Alignment may exist, but the power to bring through with accuracy still wanting.

10. Năng lực này, có lẽ, phần nào tùy thuộc vào sự chỉnh hợp nhưng có thể cũng đòi hỏi một phẩm tính chú tâm sâu sắc nào đó. Sự chỉnh hợp có thể hiện hữu, nhưng năng lực chuyển xuống một cách chính xác vẫn còn thiếu.

11. We note that the Ego, on its own plane, is aware of aspects of the Plan of which the soul-in-incarnation is usually unaware. As the capacity for meditation grows and as alignment strengthens, some of that of which the Ego is aware will filter into the consciousness of the soul-in-incarnation within the personality. The disciple is literally an advanced condition of the soul-in-incarnation.

11. Chúng ta lưu ý rằng Chân ngã, trên cõi riêng của nó, nhận biết những phương diện của Thiên Cơ mà linh hồn đang nhập thể thường không nhận biết. Khi năng lực tham thiền tăng trưởng và sự chỉnh hợp được củng cố, một phần những gì Chân ngã nhận biết sẽ thấm lọc vào tâm thức của linh hồn đang nhập thể bên trong phàm ngã. Người đệ tử theo nghĩa đen là một trạng thái tiến bộ của linh hồn đang nhập thể.

12. The thought of independent (though interrelated) centers of consciousness to be found within the entirety of our nature (from the Monad to the physical plane) is to be pondered.

12. Ý tưởng về các trung tâm tâm thức độc lập (dù có liên hệ với nhau) hiện diện trong toàn thể bản chất của chúng ta (từ chân thần đến cõi hồng trần) là điều cần được suy ngẫm.

3. The purity of his motives.

3. Sự thanh khiết của các động cơ của y.

13. Such purity, therefore, has physical plane effects and affects the disciple’s power in service. Obviously, if motives are impure, that tells us something about the condition of the astral and mental bodies. Impure motives arise from impure psychological conditions and such conditions (such energy dynamics within the lower vehicles) block the downflow of higher energies.

13. Do đó, sự thanh khiết như thế có những tác động trên cõi hồng trần và ảnh hưởng đến quyền năng phụng sự của người đệ tử. Hiển nhiên, nếu các động cơ không thanh khiết, điều đó cho chúng ta biết điều gì đó về tình trạng của thể cảm dục và thể trí. Những động cơ không thanh khiết phát sinh từ những điều kiện tâm lý không thanh khiết, và những điều kiện như thế (những động lực năng lượng như thế trong các vận cụ thấp) ngăn chặn dòng chảy đi xuống của các năng lượng cao hơn.

4. His power to “hold a state of meditation,” and while in that state begin to build the form for his idea, and thus materialise the plan of his Ego.

4. Quyền năng của y để “giữ một trạng thái tham thiền,” và trong khi ở trong trạng thái ấy bắt đầu kiến tạo hình tướng cho ý tưởng của mình, và nhờ đó hiện hình Thiên Cơ của Chân ngã mình.

14. We began with the “power to meditate” as a prerequisite for ensuring certain physical plane developments necessary for power in service. Now we see that a sustained state of meditation is required, and also one in which constructive thoughtform building can be achieved.

14. Chúng ta đã bắt đầu với “năng lực tham thiền” như một điều kiện tiên quyết để bảo đảm một số phát triển trên cõi hồng trần cần thiết cho quyền năng trong phụng sự. Giờ đây chúng ta thấy rằng cần có một trạng thái tham thiền duy trì, và cũng là một trạng thái trong đó việc kiến tạo hình tư tưởng có tính xây dựng có thể được thực hiện.

15. One cannot build magically and with spiritual constructiveness unless in a state of meditation—presumably sustained meditation.

15. Người ta không thể kiến tạo một cách huyền thuật và với tính xây dựng tinh thần nếu không ở trong trạng thái tham thiền—có lẽ là tham thiền duy trì.

5. The amount of energy he can pour later into his thought form and thus procure for it a period of existence, or its tiny “day of Brahma.”

5. Lượng năng lượng mà về sau y có thể tuôn vào hình tư tưởng của mình và nhờ đó đem lại cho nó một thời kỳ tồn tại, hay “ngày Brahma” nhỏ bé của nó.

16. It is not enough to build accurate thoughtforms in line with the Divine Plan; one must also empower those thoughtforms.

16. Chỉ kiến tạo những hình tư tưởng chính xác phù hợp với Thiên Cơ là chưa đủ; người ta còn phải tiếp năng lượng cho những hình tư tưởng ấy.

17. The energizing of thoughtforms may be considered related to occult breathing and to the degree of concentration of which the meditator is capable.

17. Việc tiếp năng lượng cho các hình tư tưởng có thể được xem là liên hệ với sự hô hấp huyền bí và với mức độ tập trung mà người hành thiền có khả năng đạt được.

18. Each thoughtform has its tiny “day of Brahma”, its span of endurance as a separate entity. The use of this term invites us to apply what is here said to the manner in which the Planetary Logos creates, and even the manner in which the Solar Logos creates.

18. Mỗi hình tư tưởng đều có “ngày Brahma” nhỏ bé của nó, khoảng thời gian bền vững của nó như một thực thể riêng biệt. Việc dùng thuật ngữ này mời gọi chúng ta áp dụng điều được nói ở đây vào cách Hành Tinh Thượng đế sáng tạo, và thậm chí cả cách Thái dương Thượng đế sáng tạo.

These subsidiary factors are again dependent upon:

Những yếu tố phụ thuộc này lại tùy thuộc vào:

19. We are being given tabulations of certain requirements necessary for those who would serve humanity with power and effectiveness. Each group of requirements seems dependent on certain other requirements:

19. Chúng ta đang được trao cho những bảng liệt kê về một số đòi hỏi cần thiết đối với những ai muốn phụng sự nhân loại với quyền năng và hiệu quả. Mỗi nhóm đòi hỏi dường như tùy thuộc vào một số đòi hỏi khác:

a. Power in service is dependent upon the condition of the personality instruments, their degree of alignment with the Ego and the degree of activation and interrelation between the physical plane head centers and their etheric counterparts.

a. Quyền năng trong phụng sự tùy thuộc vào tình trạng của các công cụ phàm ngã, mức độ chỉnh hợp của chúng với Chân ngã và mức độ hoạt hóa cũng như tương liên giữa các trung tâm đầu trên cõi hồng trần và các đối phần dĩ thái của chúng.

b. These physical conditions are dependent upon meditation, accurate reception of that which is touched in meditation, purity of motive, the power to build thoughtforms while in a state of meditation, and the capacity of the meditator to empower his thoughtforms.

b. Những điều kiện hồng trần này tùy thuộc vào tham thiền, sự tiếp nhận chính xác điều được chạm tới trong tham thiền, sự thanh khiết của động cơ, quyền năng kiến tạo hình tư tưởng trong khi ở trong trạng thái tham thiền, và năng lực của người hành thiền trong việc tiếp năng lượng cho các hình tư tưởng của mình.

c. This latter group of requirements is dependent upon certain conditions described below:

c. Nhóm đòi hỏi sau cùng này tùy thuộc vào một số điều kiện được mô tả dưới đây:

a. His place on the ladder of evolution.

a. Vị trí của y trên chiếc thang tiến hoá.

20. The true white magician is ever an advanced soul.

20. Nhà huyền thuật chánh đạo chân chính luôn luôn là một linh hồn tiến bộ.

21. It is futile for the individual to attempt thoughtform building under the influence of the Ego before the Ego has become a sensed and felt factor in his life.

21. Thật vô ích khi cá nhân cố gắng kiến tạo hình tư tưởng dưới ảnh hưởng của Chân ngã trước khi Chân ngã trở thành một yếu tố được cảm nhận và cảm thấy trong đời sống của y.

b. The condition of his bodies.

b. Tình trạng các thể của y.

22. The condition of all vehicles of the personality. This condition will affect the condition of the physical plane apparatus to be found in the head.

22. Tình trạng của mọi vận cụ của phàm ngã. Tình trạng này sẽ ảnh hưởng đến tình trạng của bộ máy trên cõi hồng trần nằm trong đầu.

23. Weak and chaotic vehicles cannot participate in the process of white magical thoughtform building.

23. Những vận cụ yếu ớt và hỗn loạn không thể tham gia vào tiến trình kiến tạo hình tư tưởng huyền thuật chánh đạo.

c. His karmic condition.

c. Tình trạng nghiệp quả của y.

24. There are many preoccupations forced by unresolved karma. These preoccupations deprive the disciple of the time to fulfill other of the requirements.

24. Có nhiều mối bận tâm bị áp đặt bởi nghiệp quả chưa được giải quyết. Những mối bận tâm này tước mất của người đệ tử thời gian để hoàn thành các đòi hỏi khác.

25. The karmic condition of the vehicles may also prevent them from adequately playing their role in ensuring the presence of the necessary requirements. We remember that the personality vehicles must be in good condition if a real capacity for white magic is to arise and karmic conditions (weakening the vehicles or rendering them disorganized) may militate against this.

25. Tình trạng nghiệp quả của các vận cụ cũng có thể ngăn cản chúng đóng vai trò của mình một cách đầy đủ trong việc bảo đảm sự hiện diện của các đòi hỏi cần thiết. Chúng ta nhớ rằng các vận cụ phàm ngã phải ở trong tình trạng tốt nếu một năng lực thực sự về Chánh Thuật muốn phát sinh, và các điều kiện nghiệp quả (làm suy yếu các vận cụ hoặc khiến chúng mất tổ chức) có thể chống lại điều này.

d. The tenuosity of the etheric web.

d. Độ mỏng của màng dĩ thái.

26. If the etheric web is thick and, therefore, relatively impenetrable, the finer energies from higher dimensions will not be able to get through to stimulate the physical apparatus in the head, the activation of which is so necessary in producing the white magician.

26. Nếu màng dĩ thái dày và do đó tương đối không thể xuyên thấu, các năng lượng tinh tế hơn từ những chiều kích cao hơn sẽ không thể đi xuyên qua để kích thích bộ máy hồng trần trong đầu, mà sự hoạt hóa của nó rất cần thiết để tạo nên nhà huyền thuật chánh đạo.

27. We remember that as evolution proceeds, the gradual burning of the etheric web also proceeds. In the undeveloped human being, this web is very much intact and prevents the conscious intercommunication between the different aspects of man’s personality nature and their communication with the Ego and still higher aspects of man’s nature.

27. Chúng ta nhớ rằng khi tiến hoá tiếp diễn, sự đốt cháy dần dần của màng dĩ thái cũng tiếp diễn. Ở con người chưa phát triển, màng này còn nguyên vẹn rất nhiều và ngăn cản sự liên thông có ý thức giữa các phương diện khác nhau của bản chất phàm ngã của con người và sự liên lạc của chúng với Chân ngã cùng những phương diện còn cao hơn của bản chất con người.

e. The calibre of his physical body, and its relative refinement.

e. Phẩm chất của thể xác của y, và mức độ tinh luyện tương đối của nó.

28. This requirement has already been mentioned. The calibre of the physical vehicle is directly related to the condition of the all-important triangle of head centers.

28. Đòi hỏi này đã được nhắc đến rồi. Phẩm chất của vận cụ hồng trần liên hệ trực tiếp với tình trạng của tam giác cực kỳ quan trọng gồm các trung tâm đầu.

29. Here we are speaking of the degree of transmutation which remains to be accomplished. Personality vehicles which are not in process of transmutation will be obstructive to the white magical creation of soul-aligned thoughtforms.

29. Ở đây chúng ta đang nói về mức độ chuyển hoá còn phải được hoàn thành. Những vận cụ phàm ngã không ở trong tiến trình chuyển hoá sẽ gây cản trở cho sự sáng tạo huyền thuật chánh đạo các hình tư tưởng được chỉnh hợp với linh hồn.

It is necessary here to warn the student against the error of making any hard or fast rule anent the sequential order of the development of the physical head centres, and the vitalisation of the force centres.

Ở đây cần phải cảnh báo đạo sinh chống lại sai lầm là đặt ra bất kỳ quy luật cứng nhắc nào liên quan đến trình tự tuần tự của sự phát triển các trung tâm đầu hồng trần, và sự tiếp sinh lực cho các trung tâm lực.

30. Such development seems to depend on many and variable factors—for instance, the ray of the Monad.

30. Sự phát triển như thế dường như tùy thuộc vào nhiều yếu tố biến thiên—chẳng hạn như cung của chân thần.

31. In any case, many etheric and physical developments are occurring with relative simultaneity but this is not readily apparent to most disciples.

31. Dù sao đi nữa, nhiều phát triển dĩ thái và hồng trần đang xảy ra với tính đồng thời tương đối nhưng điều này không dễ thấy đối với đa số đệ tử.

This process is incident upon many things, such as the ray upon which the monad may be found, and the nature of the development in the past incarnations.

Tiến trình này tùy thuộc vào nhiều điều, chẳng hạn như cung mà chân thần được tìm thấy trên đó,bản chất của sự phát triển trong các kiếp quá khứ.

32. It is quite arresting to consider that the ray of the highest center within the constitution of man is responsible for the sequence of etheric and physical plane developments. The Monad has a definite etheric-physical influence.

32. Thật đáng chú ý khi xét rằng cung của trung tâm cao nhất trong cấu tạo của con người chịu trách nhiệm về trình tự của các phát triển dĩ thái và trên cõi hồng trần. Chân thần có một ảnh hưởng dĩ thái-hồng trần xác định.

33. Different incarnations offer different kinds of opportunities for development. Probably the astrological configurations to be found in those incarnations are of importance in this process. We all build upon our past. Tendencies established in the past have influential momentum in the present.

33. Những kiếp sống khác nhau đem lại những loại cơ hội phát triển khác nhau. Có lẽ các cấu hình chiêm tinh hiện diện trong những kiếp ấy có tầm quan trọng trong tiến trình này. Tất cả chúng ta đều xây dựng trên quá khứ của mình. Những khuynh hướng được thiết lập trong quá khứ có một động lượng ảnh hưởng trong hiện tại.

34. If we do not know who as man was it is difficult to determine who he is in his present incarnation.

34. Nếu chúng ta không biết con người đã là ai thì khó mà xác định được y ai trong kiếp hiện tại của mình.

Nature, in all departments of her corporate life, parallels her efforts, and overlaps her various processes, and it takes a seer of [Page 968] vast wisdom and experience to state exactly the stage at which any particular unit of the human family may be.

Thiên nhiên, trong mọi bộ phận của đời sống tập thể của mình, song hành các nỗ lực của mình, và chồng lấp các tiến trình khác nhau của mình,cần đến một nhà thông nhãn có [Page 968]minh triết và kinh nghiệm lớn lao mới có thể nói chính xác giai đoạn mà bất kỳ đơn vị nào của gia đình nhân loại có thể đang ở.

35. Presumably a Master such as DK is such a seer, for He seems very capable of assessing the stage of development which His students have achieved.

35. Có lẽ một Chân sư như Chân sư DK là một nhà thông nhãn như thế, vì Ngài dường như rất có khả năng đánh giá giai đoạn phát triển mà các đạo sinh của Ngài đã đạt được.

36. The overlapping processes of nature are to be pondered. To reduce the growth process to a strictly linear sequence of states is an error. At best it reveals an incomplete picture of the truth. Such formulations satisfy only the limited human mind which, despite the truth, seems to possess the ‘will-to-be-satisfied’!

36. Các tiến trình chồng lấp của thiên nhiên là điều cần được suy ngẫm. Giảm tiến trình tăng trưởng xuống thành một chuỗi trạng thái tuyến tính nghiêm ngặt là một sai lầm. Tốt nhất thì nó cũng chỉ cho thấy một bức tranh chưa trọn vẹn của chân lý. Những công thức như thế chỉ làm thỏa mãn trí tuệ hữu hạn của con người, vốn dường như, bất chấp chân lý, lại sở hữu “ý chí muốn được thỏa mãn”!

He that is wise always refrains from assertion until he knows.

Người khôn ngoan luôn luôn tránh khẳng định cho đến khi y biết.

37. This is frequently the Master’s advice to His students. Many are the apparently knowledgeable assertions prematurely offered.

37. Đây thường là lời khuyên của Chân sư dành cho các đạo sinh của Ngài. Có biết bao khẳng định tưởng như đầy hiểu biết đã được đưa ra quá sớm.

Let us now consider:

Bây giờ chúng ta hãy xét:

38. We now enter a subject of great importance to all white magical procedure.

38. Giờ đây chúng ta đi vào một chủ đề hết sức quan trọng đối với mọi thủ tục huyền thuật chánh đạo.

b. The construction, vitalisation, and actuating of the thought form.

b. Sự kiến tạo, tiếp sinh lực, và làm cho hình tư tưởng hoạt động.

39. Three factors have been given, and presumably they occur more or less in sequential order, though we must acknowledge the presence of overlapping processes just discussed.

39. Ba yếu tố đã được nêu ra, và có lẽ chúng xảy ra ít nhiều theo trình tự, dù chúng ta phải thừa nhận sự hiện diện của các tiến trình chồng lấp vừa được bàn đến.

40. In the white magical process, sufficiently vitalized, well-constructed thoughtforms are to become actual, i.e., are to become tangibly manifested.

40. Trong tiến trình huyền thuật chánh đạo, những hình tư tưởng được tiếp sinh lực đầy đủ và được kiến tạo tốt phải trở thành thực tại, nghĩa là phải trở nên được biểu hiện một cách hữu hình.

The Ego, having brought about a condition of receptivity, or of recognition in the physical brain of the man,

Chân ngã, sau khi đã tạo ra một tình trạng tiếp nhận, hay nhận biết trong bộ não hồng trần của con người,

41. This has been accomplished through the cooperation of the Solar Angel with the higher aspect of man (an attenuated extension of the presence of the Monad) focused on the higher mental plane.

41. Điều này đã được hoàn thành nhờ sự hợp tác của Thái dương Thiên Thần với phương diện cao hơn của con người (một sự mở rộng được làm mảnh đi của sự hiện diện của chân thần) được tập trung trên Cõi thượng trí.

42. We see that work occurs from two directions. Bringing the instrument into the proper condition is not the task of the soul-in-incarnation alone.

42. Chúng ta thấy rằng công việc diễn ra từ hai hướng. Việc đưa công cụ vào tình trạng thích hợp không phải chỉ là nhiệm vụ của linh hồn đang nhập thể.

and having drawn from him the necessary response,

và sau khi đã rút ra từ y sự đáp ứng cần thiết,

43. The Ego has invoked the lower man; response, or evocation, followed.

43. Chân ngã đã khẩn cầu phàm nhân; sự đáp ứng, hay gợi lên, tiếp theo sau đó.

the process of building is thereupon begun.

thì tiến trình kiến tạo liền được bắt đầu.

44. We see that building (presumably relatively constructive thoughtform building) begins after response to the Ego’s invocation has arisen in the lower man.

44. Chúng ta thấy rằng việc kiến tạo (có lẽ là việc kiến tạo hình tư tưởng tương đối có tính xây dựng) bắt đầu sau khi sự đáp ứng đối với sự khẩn cầu của Chân ngã đã phát sinh trong phàm nhân.

This process of physical plane response is based—as is all else in nature—upon the relation of the polar opposites.

Tiến trình đáp ứng trên cõi hồng trần này được đặt nền trên—cũng như mọi điều khác trong thiên nhiên—mối liên hệ của các cực đối nghịch.

45. DK is telling us that all natural process arises from bi-polar interplay.

45. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng mọi tiến trình tự nhiên phát sinh từ sự tương tác lưỡng cực.

The physical centres are receptive to the positive influence of the force centres.

Các trung tâm hồng trần tiếp nhận ảnh hưởng dương của các trung tâm lực.

46. Negativity (electrically considered) is another name of receptivity.

46. Tính âm (xét về điện) là một tên gọi khác của tính tiếp nhận.

47. In studying occultism, we must always realize that etheric energy is positive to the strictly physical plane apparatus.

47. Khi nghiên cứu huyền bí học, chúng ta luôn phải nhận ra rằng năng lượng dĩ thái là dương đối với bộ máy thuần hồng trần.

The physical brain is responsive to the positive influence of the lower nature in the earlier evolutionary stages,

Bộ não hồng trần đáp ứng ảnh hưởng dương của bản chất thấp trong các giai đoạn tiến hoá ban đầu,

48. During the Lemurian and Atlantean stages of human development, the lower nature is positive and the physical brain negative, receptive or responsive. The lower nature runs the man.

48. Trong các giai đoạn Lemuria và Atlantis của sự phát triển nhân loại, bản chất thấp là dương còn bộ não hồng trần là âm, tiếp nhận hay đáp ứng. Bản chất thấp điều khiển con người.

49. During the Aryan Race comes man’s great opportunity to reverse this polarity.

49. Trong nhân loại Arya xuất hiện cơ hội lớn lao để con người đảo ngược cực tính này.

or to the reactions of the substance of the sheaths, the impress of the lunar Lords.

hay đối với các phản ứng của chất liệu của các thể, dấu ấn của các nguyệt tinh quân.

50. The lunar lords have had control over the behavior of the human being for millions of years. Because the lunar lords represent (from the perspective of the Planetary Logos) unprincipled substance, man’s behavior under their influence is unprincipled—in the moral sense.

50. Các nguyệt tinh quân đã kiểm soát hành vi của con người trong hàng triệu năm. Bởi vì các nguyệt tinh quân đại diện cho chất liệu không có nguyên khí (xét từ quan điểm của Hành Tinh Thượng đế), nên hành vi của con người dưới ảnh hưởng của chúng là không có nguyên khí—theo nghĩa đạo đức.

51. We see that polarity changes over the course of evolution. At first the lunar lords are positive and influential; later, the etheric body, which is often numbered among the principles, turns positive to the physical brain and to the physical body as a whole and, thus, turns positive to the lunar lords and their influence.

51. Chúng ta thấy rằng cực tính thay đổi trong suốt tiến trình tiến hoá. Lúc đầu các nguyệt tinh quân là dương và có ảnh hưởng; về sau, thể dĩ thái, vốn thường được kể trong số các nguyên khí, trở nên dương đối với bộ não hồng trần và đối với toàn bộ thể xác, và do đó trở nên dương đối với các nguyệt tinh quân cùng ảnh hưởng của chúng.

It [the physical brain] responds in the later stages to the positive influence of the Ego or the impress of the solar Lord.

[bộ não hồng trần] đáp ứng trong các giai đoạn sau đối với ảnh hưởng dương của Chân ngã hay dấu ấn của nhật tinh quân.

52. We have a threefold sequence:

52. Chúng ta có một trình tự tam phân:

a. At first the physical brain is negative to the influence of the personality vehicles and thus to the lunar lords.

a. Lúc đầu bộ não hồng trần là âm đối với ảnh hưởng của các vận cụ phàm ngã và do đó đối với các nguyệt tinh quân.

b. Then the physical brain becomes negative or receptive to the etheric body.

b. Sau đó bộ não hồng trần trở nên âm hay tiếp nhận đối với thể dĩ thái.

c. At last the physical brain becomes negative to the positive Ego.

c. Cuối cùng bộ não hồng trần trở nên âm đối với Chân ngã dương.

53. Here the Ego is called the “solar Lord” but this is not the same thing as to consider the Ego as identical with the Solar Angel in its true and independent nature. We must remember that the Solar Angel is a “returning Nirvani from a previous mahamanvantara”. The Ego of man-the-Monad is less that this—far less.

53. Ở đây Chân ngã được gọi là “nhật tinh quân” nhưng điều này không giống với việc xem Chân ngã là đồng nhất với Thái dương Thiên Thần trong bản chất chân thực và độc lập của nó. Chúng ta phải nhớ rằng Thái dương Thiên Thần là một “nirvani quay trở về từ một Đại giai kỳ sinh hóa trước”. Chân ngã của con người-chân thần còn kém hơn điều đó—kém hơn rất nhiều.

54. We might question ourselves: “To which of these three sources is our physical brain currently negative or receptive?”

54. Chúng ta có thể tự hỏi: “Hiện nay bộ não hồng trần của chúng ta đang âm hay tiếp nhận đối với nguồn nào trong ba nguồn này?”

As is apparent, this building process is divided into three parts, which overlap, and assume an appearance of simultaneity.

Như đã rõ, tiến trình kiến tạo này được chia thành ba phần, chồng lấp lên nhau, và mang dáng vẻ đồng thời.

55. DK is giving us a hint concerning how relatively sequential processes, by overlapping, assume the appearance of simultaneity without actually being so.

55. Chân sư DK đang cho chúng ta một gợi ý về cách các tiến trình tương đối tuần tự, do chồng lấp lên nhau, mang dáng vẻ của tính đồng thời mà thực ra không phải vậy.

56. For practical purposes, we must realize that both sequentiality and simultaneity are facts in nature.

56. Vì những mục đích thực tiễn, chúng ta phải nhận ra rằng cả tính tuần tự lẫn tính đồng thời đều là những sự kiện trong bản chất.

When (as is the case with the majority of the human family) the process is an unconscious one,

Khi (như trường hợp của đa số gia đình nhân loại) tiến trình là một tiến trình vô thức,

57. The building process is an unconscious one.

57. Tiến trình kiến tạo là một tiến trình vô thức.

produced by reflex action and based largely on the accomplishment of desire,

được tạo ra bởi phản xạ và phần lớn dựa trên sự hoàn thành của dục vọng,

58. It seems that desire, when accomplished, contributes to the building process.

58. Dường như dục vọng, khi được hoàn thành, góp phần vào tiến trình kiến tạo.

59. The mental elemental lives respond with reflexive activity to the impulse of desire.

59. Các sự sống hành khí trí tuệ đáp ứng bằng hoạt động phản xạ đối với xung lực của dục vọng.

60. We certainly know that many human beings build their thoughtforms (really kama-manasic forms which are a mixture of thought and desire) under the impulse of desire. Perhaps we should say that these persons to not so much build the thoughtforms but that within their energy system, thoughtforms are built by reflex as the lower manasic vehicle responds to the promptings of desire.

60. Chúng ta chắc chắn biết rằng nhiều con người xây dựng các Hình tư tưởng của mình (thực ra là các hình trí-cảm, là hỗn hợp của tư tưởng và dục vọng) dưới xung lực của dục vọng. Có lẽ chúng ta nên nói rằng những người này không hẳn là xây dựng các Hình tư tưởng cho bằng trong hệ thống năng lượng của họ, các Hình tư tưởng được xây dựng do phản xạ khi vận cụ manas thấp đáp ứng với những thôi thúc của dục vọng.

all is carried on with great rapidity,

mọi sự đều được tiến hành với tốc độ rất lớn,

61. Because there is no reflection! The salutary influence of the planet Saturn (a planet of mentality) is not applied.

61. Bởi vì không có sự phản tỉnh! Ảnh hưởng lành mạnh của hành tinh Sao Thổ (một hành tinh của trí tuệ) không được áp dụng.

62. All proceeds under the rapidity of Mars which is one of the rulers of the astral body.

62. Mọi sự diễn ra dưới tốc độ của Sao Hỏa, là một trong những chủ tinh của thể cảm dục.

and leads to rapid results—these results being effective of accomplishment according to the ability of the man to vitalise and hold in coherent form his idea.

và dẫn đến những kết quả nhanh chóng—những kết quả này hữu hiệu trong việc hoàn thành tùy theo khả năng của con người tiếp sinh lực và giữ ý tưởng của mình trong hình tướng cố kết.

63. We are speaking of the building process of the average man swayed far more by desire than mentality.

63. Chúng ta đang nói về tiến trình kiến tạo của con người trung bình, kẻ bị dục vọng chi phối nhiều hơn trí tuệ rất nhiều.

64. Intensity and persistence of desire contributes to the coherence of the thoughtform.

64. Cường độ và sự bền bỉ của dục vọng góp phần vào sự cố kết của Hình tư tưởng.

Most of the thought forms created by average man are only relatively effective, and this within great limitations, and having but a restricted radius.

Phần lớn các Hình tư tưởng do con người trung bình tạo ra chỉ tương đối hữu hiệu, và điều này trong những giới hạn lớn lao, đồng thời chỉ có một bán kính hạn chế.

65. Average human beings are far from being white magicians.

65. Những con người trung bình còn rất xa mới là các nhà huyền thuật chánh đạo.

66. We learn of the limited nature of the thoughtforms of average people and of the restricted radius within which they are only relatively effective. Given the nature and quality of these thoughtforms, we are fortunate that this is the case.

66. Chúng ta biết được bản chất hạn chế của các Hình tư tưởng của người trung bình và bán kính hạn chế trong đó chúng chỉ tương đối hữu hiệu. Xét theo bản chất và phẩm tính của các Hình tư tưởng này, thật may mắn là sự việc lại như thế.

When man is learning consciously to create, which he does through the organisation of thought, concentration and meditation,

Khi con người đang học cách sáng tạo một cách hữu thức, điều mà y làm thông qua sự tổ chức tư tưởng, tập trung và tham thiền,

67. Three factors are given involving largely the use of the fifth and seventh rays.

67. Ba yếu tố được nêu ra, phần lớn liên quan đến việc sử dụng cung năm và cung bảy.

he proceeds more slowly,

y tiến hành chậm hơn,

68. The restraining, reflective influence of Saturn is employed in his thoughtform building process.

68. Ảnh hưởng kiềm chế và phản tỉnh của Sao Thổ được sử dụng trong tiến trình xây dựng Hình tư tưởng của y.

for he has two primary things to do before the creative process can be carried through: [Page 969]

vì y có hai điều chủ yếu phải làm trước khi tiến trình sáng tạo có thể được thực hiện: [Page 969]

69. We are now speaking of conscious building and conscious creativity.

69. Hiện nay, chúng ta đang nói về sự kiến tạo hữu thức và sự sáng tạo hữu thức.

a. To contact or communicate with the Ego, or solar Angel.

a. Tiếp xúc hay giao tiếp với chân ngã, hay Thái dương Thiên Thần.

70. This is absolutely necessary. Whether we think of the Ego and “solar Angel” as equivalent or merely as cooperative, contact must be made with a supervising Entity on the higher mental plane and communication established.

70. Điều này tuyệt đối cần thiết. Dù chúng ta xem chân ngã và “Thái dương Thiên Thần” là tương đương hay chỉ đơn thuần là cộng tác, thì vẫn phải tạo được sự tiếp xúc với một Thực Thể giám sát trên Cõi thượng trí và thiết lập được sự giao tiếp.

b. To study the process of creation and to make it conform step by step with natural evolutionary law.

b. Nghiên cứu tiến trình sáng tạo và làm cho nó phù hợp từng bước với định luật tiến hoá tự nhiên.

71. For this reason A Treatise on White Magic was written. We can see from reading it how complex is the process of creation and how much the Tibetan refrained from including in this book, voluminous though it may be.

71. Vì lý do này mà Luận về Chánh Thuật đã được viết ra. Qua việc đọc tác phẩm ấy, chúng ta có thể thấy tiến trình sáng tạo phức tạp đến mức nào và Chân sư Tây Tạng đã kiềm chế biết bao khi không đưa vào cuốn sách này, dù nó có thể đồ sộ đến đâu.

72. The great danger to humanity is the unleashing of a creative potency which is out of conformity with evolutionary law. Man would then create only that which must later be destroyed if the Plan is to be manifested.

72. Mối nguy lớn đối với nhân loại là sự giải phóng một tiềm năng sáng tạo không phù hợp với định luật tiến hoá. Khi ấy con người sẽ chỉ sáng tạo ra điều mà về sau phải bị hủy diệt nếu Thiên Cơ được biểu lộ.

The above is necessarily but another way of defining meditation and its objective.

Điều nói trên tất yếu chỉ là một cách khác để định nghĩa tham thiền và mục tiêu của nó.

73. DK has defined creative meditation. The objective of the kind of meditation we are here discussing is creative. There are other forms of meditation which may have different objectives.

73. Chân sư DK đã định nghĩa tham thiền sáng tạo. Mục tiêu của loại tham thiền mà ở đây chúng ta đang bàn đến là sáng tạo. Có những hình thức tham thiền khác có thể có những mục tiêu khác.

Later on, when a man is an expert in meditation,

Về sau, khi một người trở thành chuyên gia trong tham thiền,

74. To become so is certainly possible and is held out for us as an incentive.

74. Việc trở thành như vậy chắc chắn là có thể, và được đặt ra trước chúng ta như một sự khích lệ.

the work of thought creation proceeds with ever increasing rapidity, until he surpasses (on a higher turn of the spiral) the activity of the earlier unconscious period.

công việc sáng tạo tư tưởng tiến hành với tốc độ ngày càng tăng, cho đến khi y vượt qua (trên một vòng xoắn cao hơn) hoạt động của thời kỳ vô thức trước kia.

75. We have been told of the rapidity of the creative process when under the impulse of desire. The interim process sees a slowing of the process under the reflective influence of Saturn. Later, again, when the meditator becomes highly accomplished, the creative process achieves even greater speed than it had when under the influence of desire.

75. Chúng ta đã được cho biết về tốc độ của tiến trình sáng tạo khi ở dưới xung lực của dục vọng. Tiến trình trung gian chứng kiến sự chậm lại của tiến trình dưới ảnh hưởng phản tỉnh của Sao Thổ. Về sau nữa, khi người hành thiền trở nên rất thành tựu, tiến trình sáng tạo đạt tới tốc độ còn lớn hơn cả khi nó ở dưới ảnh hưởng của dục vọng.

76. DK is telling us that the well-trained mind is more rapid than desire.

76. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng trí tuệ được huấn luyện tốt thì nhanh hơn dục vọng.

77. Most of us, however, are not yet experts in meditation.

77. Tuy nhiên, phần lớn chúng ta vẫn chưa phải là những chuyên gia trong tham thiền.

Starting, therefore, with the recognition of the egoic intent in the physical brain, the man proceeds to build the form for his idea.

Do đó, bắt đầu bằng việc nhận ra ý định chân ngã trong bộ não hồng trần, con người tiến hành xây dựng hình tướng cho ý tưởng của mình.

78. Notice that ideas come from a higher spiritual realm than the realm in which human thought originates.

78. Hãy lưu ý rằng các ý tưởng đến từ một cõi tinh thần cao hơn cõi mà trong đó tư tưởng của con người phát sinh.

79. For practical purposes we may say that ideas come from the Ego or Solar Angel though true ideas have sources even higher.

79. Vì những mục đích thực tiễn, chúng ta có thể nói rằng các ý tưởng đến từ chân ngã hay Thái dương Thiên Thần, dù các ý tưởng chân thực còn có những nguồn gốc cao hơn nữa.

80. One must not start building unless within the physical brain there is the recognition of egoic intent. Presumably such intent can be recognized by its impressive and selfless quality.

80. Người ta không được bắt đầu xây dựng trừ phi trong bộ não hồng trần có sự nhận ra ý định chân ngã. Có lẽ ý định ấy có thể được nhận ra nhờ phẩm tính gây ấn tượng và vô ngã của nó.

He begins first to organise the material required upon the mental plane.

Trước hết y bắt đầu tổ chức chất liệu cần thiết trên cõi trí.

81. The man organizes his material to produce coherent thought.

81. Con người tổ chức chất liệu của mình để tạo ra tư tưởng cố kết.

82. Even before organizing the material, he must gather the material. This, of course, requires a certain capacity for discriminative selectivity.

82. Ngay cả trước khi tổ chức chất liệu, y phải thu thập chất liệu. Dĩ nhiên, điều này đòi hỏi một năng lực chọn lọc có tính phân biện nhất định.

It is on that plane that the impulse takes to itself its primary form.

Chính trên cõi đó mà xung lực khoác lấy hình tướng sơ khởi của nó.

83. This is the primary form of the descending thoughtform but certainly not the final one.

83. Đây là hình tướng sơ khởi của Hình tư tưởng đang giáng xuống, nhưng chắc chắn chưa phải là hình tướng cuối cùng.

84. The impulse is the idea. The supervising or building consciousness is something still more essential and real. It is our very selves.

84. Xung lực là ý tưởng. Tâm thức giám sát hay kiến tạo là một điều còn cốt yếu và thực hơn nữa. Đó chính là bản thân chúng ta.

On the desire or astral plane, the process of vitalisation is largely pursued,

Trên cõi dục vọng hay cõi cảm dục, tiến trình tiếp sinh lực phần lớn được theo đuổi,

85. Vitalization is a term often associated with the etheric body, but we see that in the magical process of thoughtform building, the vitalization occurs largely on the astral plane. The thoughtform becomes vibrant and pulsates with color.

85. Tiếp sinh lực là một thuật ngữ thường gắn với thể dĩ thái, nhưng chúng ta thấy rằng trong tiến trình huyền thuật xây dựng Hình tư tưởng, sự tiếp sinh lực phần lớn xảy ra trên cõi cảm dục. Hình tư tưởng trở nên rung động và đập nhịp với màu sắc.

86. We well know that the factor of desire keeps thoughtforms alive.

86. Chúng ta biết rõ rằng yếu tố dục vọng giữ cho các Hình tư tưởng sống động.

for the length of the life of any thought form (even such an one as our solar system) is dependent upon the persistence of desire, and the strength of the desire.

vì độ dài sự sống của bất kỳ Hình tư tưởng nào (ngay cả một Hình tư tưởng như hệ mặt trời của chúng ta) đều tùy thuộc vào sự bền bỉ của dục vọng và sức mạnh của dục vọng.

87. The personality of a human being is a thoughtform and we realize that the “desire to live” (sometimes confused with the “will-to-live”) is very influential in keeping that thoughtform alive, i.e., in physical incarnation.

87. Phàm ngã của một con người là một Hình tư tưởng, và chúng ta nhận ra rằng “dục vọng được sống” (đôi khi bị lẫn với “Ý Chí-hướng sống”) có ảnh hưởng rất lớn trong việc giữ cho Hình tư tưởng ấy sống động, tức là trong sự lâm phàm hồng trần.

88. The desire to remain in incarnation perpetuates that incarnation. This is surely not the only factor influencing the length of an incarnation but it is a significant one in many cases. Of course, no human being desiring “to live forever” in a particular personality can do so, but the duration of that personality’s physical body can be lengthened through intense desire. This may also apply to the perpetuation of the astral and mental bodies in the post-mortem state.

88. Dục vọng tiếp tục lâm phàm làm kéo dài sự lâm phàm ấy. Chắc chắn đây không phải là yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến độ dài của một lần lâm phàm, nhưng trong nhiều trường hợp nó là một yếu tố đáng kể. Dĩ nhiên, không một con người nào mong muốn “sống mãi” trong một phàm ngã nhất định mà có thể làm được điều đó, nhưng thời lượng của thể xác của phàm ngã ấy có thể được kéo dài nhờ dục vọng mãnh liệt. Điều này cũng có thể áp dụng cho việc kéo dài sự tồn tại của thể cảm dục và thể trí trong trạng thái sau khi chết.

On the etheric levels of the physical plane the process of physical concretion takes place;

Trên các mức dĩ thái của cõi hồng trần, tiến trình kết tụ hồng trần diễn ra;

89. Thus far we have discussed the processes of formation and vitalization. These processes are followed concretion taking place on the etheric plane.

89. Cho đến đây chúng ta đã bàn về các tiến trình hình thành và tiếp sinh lực. Tiếp theo các tiến trình này là sự kết tụ diễn ra trên cõi dĩ thái.

as the physical vehicle assumes the necessary proportions, the thought form becomes divorced from the one who is giving it form.

khi vận cụ hồng trần đảm nhận những tỉ lệ cần thiết, Hình tư tưởng trở nên tách rời khỏi kẻ đang ban hình tướng cho nó.

90. This is a great interest. The creator must always, at the point of objectification, release his creation. At least such a release is desirable. The consequences of not doing so are destructive.

90. Điều này rất đáng quan tâm. Người sáng tạo luôn luôn phải, tại điểm khách quan hóa, giải phóng sáng tạo phẩm của mình. Ít nhất thì sự giải phóng như vậy là điều đáng mong muốn. Hậu quả của việc không làm như thế là có tính hủy diệt.

91. We are being told that the “divorce” comes “as the physical vehicle assumes the necessary proportions”. The systemic physical plane includes both the etheric aspect and the dense physical aspect. DK is probably speaking of the assumption of necessary proportions as a process occurring upon the etheric plane.

91. Chúng ta được cho biết rằng sự “tách rời” xảy ra “khi vận cụ hồng trần đảm nhận những tỉ lệ cần thiết”. Cõi hồng trần của hệ thống bao gồm cả phương diện dĩ thái lẫn phương diện hồng trần đậm đặc. Có lẽ Chân sư DK đang nói về việc đảm nhận những tỉ lệ cần thiết như một tiến trình xảy ra trên cõi dĩ thái.

92. In any case, as the objective form takes shape, the form becomes divorced from the one who created it.

92. Dù sao đi nữa, khi hình tướng khách quan thành hình, hình tướng ấy trở nên tách rời khỏi kẻ đã tạo ra nó.

Any idea of enough strength will inevitably materialise in dense physical matter,

Bất kỳ ý tưởng nào đủ mạnh ắt sẽ hiện hình trong vật chất hồng trần đậm đặc,

93. This should be an arresting thought. The question is—what exactly is enough strength?

93. Đây hẳn phải là một tư tưởng gây chấn động. Câu hỏi là—chính xác thì sức mạnh đủ là gì?

but the main work of its creator ceases when he has worked with it on mental, astral and etheric levels.

nhưng công việc chính của người sáng tạo ra nó chấm dứt khi y đã làm việc với nó trên các mức trí tuệ, cảm dục và dĩ thái.

94. Our question is: “does the ‘divorce’ of which DK speaks at least begin on the etheric plane”? It surely must be consummated on the dense physical plane.

94. Câu hỏi của chúng ta là: “sự ‘tách rời’ mà Chân sư DK nói đến có ít nhất bắt đầu trên cõi dĩ thái không?” Chắc chắn nó phải được hoàn tất trên cõi hồng trần đậm đặc.

The dense physical response is automatic and inevitable.

Sự đáp ứng hồng trần đậm đặc là tự động và tất yếu.

95. Apparently the occult creator has no extensive dense physical plane work to do. This should strike us as important when we think of our own creative process and will inform us concerning whether we have been creating using occult methods or only normal methods (which are very active upon the dense physical subplanes, per se).

95. Rõ ràng người sáng tạo huyền bí không có nhiều công việc phải làm trên cõi hồng trần đậm đặc. Điều này hẳn phải gây ấn tượng với chúng ta khi nghĩ về tiến trình sáng tạo của chính mình và sẽ cho chúng ta biết liệu chúng ta đã sáng tạo bằng các phương pháp huyền bí hay chỉ bằng các phương pháp thông thường (vốn rất hoạt động trên chính các cõi phụ hồng trần đậm đặc).

96. We must not overlook, however, the Tibetan’s use of the words “main work”, indicating that there may still be some work to be accomplished on the dense physical subplanes, even though relatively minor work.

96. Tuy nhiên, chúng ta không được bỏ qua việc Chân sư Tây Tạng dùng các từ “công việc chính”, cho thấy rằng vẫn có thể còn một ít công việc phải hoàn thành trên các cõi phụ hồng trần đậm đặc, dù đó là công việc tương đối nhỏ.

Some ideas of a large and important nature, which have arisen in the consciousness of the Guides of the race, reach full manifestation only through the medium of many agents, and the dynamic impulses of many minds.

Một số ý tưởng có bản chất lớn lao và quan trọng, đã phát sinh trong tâm thức của các Đấng Hướng Dẫn nhân loại, chỉ đạt đến sự biểu hiện trọn vẹn thông qua trung gian của nhiều tác nhân và các xung lực năng động của nhiều trí tuệ.

97. DK is telling us that some ideas are too large to be contained or embodied by any one human being. Perhaps these are the ideas “whose time has come”—ideas which move entire nations, cultures, civilizations and even human civilization considered as a whole.

97. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng một số ý tưởng quá lớn để có thể được chứa đựng hay hiện thân bởi bất kỳ một con người nào. Có lẽ đó là những ý tưởng “đã đến thời của chúng”—những ý tưởng làm chuyển động cả các quốc gia, các nền văn hóa, các nền văn minh, và thậm chí cả nền văn minh nhân loại xét như một toàn thể.

98. As we think of the ideas which now propel us, do we think we are involved in the execution of any such large and important ideas? If so, do we recognize the group of those who are similarly impulsed?

98. Khi nghĩ về những ý tưởng hiện đang thúc đẩy chúng ta, liệu chúng ta có nghĩ rằng mình đang tham gia vào việc thực hiện bất kỳ ý tưởng lớn lao và quan trọng nào như thế không? Nếu có, liệu chúng ta có nhận ra nhóm những người cũng đang được thúc đẩy tương tự không?

A few work consciously, when this is the case, at the production of the necessitated [Page 970] form;

Một số ít làm việc một cách hữu thức, khi trường hợp là như vậy, để tạo ra hình tướng cần thiết [Page 970];

99. We could say that the Divine Purpose is the repository of the greatest ideas (from a planetary perspective), and that some of the Masters can work consciously at the registration of this Purpose (“Registrants of the Purpose”). They can build thoughtforms which embody this Purpose. Human beings recognize such thoughtforms as the Divine Plan.

99. Chúng ta có thể nói rằng Thiên Ý là nơi chứa đựng những ý tưởng vĩ đại nhất (xét từ góc độ hành tinh), và một số Chân sư có thể làm việc một cách hữu thức trong việc ghi nhận Thiên Ý này (“Những Đấng Ghi Nhận Thiên Ý”). Các Ngài có thể xây dựng những Hình tư tưởng hiện thân cho Thiên Ý này. Con người nhận ra những Hình tư tưởng như thế là Thiên Cơ.

many more are swept into activity and lend their aid through the very negativity of their natures; they are “forced” to be interested in spite of themselves, and are “swept into the movement,” not through any mental apprehension or “vital desire,” but because it is the thing to do.

nhiều người hơn nữa bị cuốn vào hoạt động và góp phần trợ giúp qua chính tính tiêu cực trong bản chất của họ; họ bị “buộc” phải quan tâm bất chấp chính mình, và bị “cuốn vào phong trào”, không phải do bất kỳ sự lĩnh hội trí tuệ hay “dục vọng tiếp sinh lực” nào, mà bởi vì đó là điều phải làm.

100. DK is speaking of conscious and unconscious creators, indicating that there are many more who are unconscious than conscious.

100. Chân sư DK đang nói về những người sáng tạo hữu thức và vô thức, cho thấy rằng số người vô thức nhiều hơn số người hữu thức rất nhiều.

101. We see that ideas can compel, can force. We are being told that many people follow the direction of an idea not because they think about it, or even because they desire to follow, but due to some etheric force. There is a certain inevitability in this.

101. Chúng ta thấy rằng các ý tưởng có thể cưỡng bách, có thể ép buộc. Chúng ta được cho biết rằng nhiều người đi theo hướng của một ý tưởng không phải vì họ suy nghĩ về nó, hay thậm chí vì họ mong muốn đi theo, mà do một mãnh lực dĩ thái nào đó. Có một tính tất yếu nhất định trong điều này.

102. We should ponder how often we have been swept into action by great ideas or thoughts without any conscious apprehension on our part and with no real desire to do what we have found ourselves doing!

102. Chúng ta nên suy ngẫm xem đã bao nhiêu lần mình bị cuốn vào hành động bởi những ý tưởng hay tư tưởng lớn lao mà không có bất kỳ sự lĩnh hội hữu thức nào từ phía mình và cũng không có dục vọng thực sự nào muốn làm điều mà rốt cuộc mình đã thấy mình đang làm!

103. The “thing to do” is an energy pattern with which one can hardly resist engagement. DK speaks of the people who are “swept up and down the land”. Only very strong and conscious thinkers can choose whether or not to accept this ‘sweep’. Probably there are some sweeping actions which we cannot possibly resist. If the Planetary Logos strongly wills a certain action, can the cells in His body (human beings) resist?

103. “Điều phải làm” là một mô hình năng lượng mà người ta hầu như không thể cưỡng lại việc dấn thân vào. Chân sư DK nói về những người bị “cuốn lên cuốn xuống khắp xứ sở”. Chỉ những nhà tư tưởng rất mạnh và hữu thức mới có thể chọn có chấp nhận hay không chấp nhận sự “cuốn đi” này. Có lẽ có những hành động cuốn đi mà chúng ta hoàn toàn không thể cưỡng lại. Nếu Hành Tinh Thượng đế mạnh mẽ muốn một hành động nào đó, liệu các tế bào trong thể của Ngài (con người) có thể chống lại không?

In this may be seen an instance of the ability of the Great Ones to utilise conditions of apparent inertia and negativity (due to little development), and thus produce good results.

Trong điều này có thể thấy một ví dụ về khả năng của các Đấng Cao Cả sử dụng những điều kiện có vẻ trì trệ và tiêu cực (do ít phát triển), và nhờ đó tạo ra những kết quả tốt đẹp.

104. There is a great benevolence which sweeps the unknowing and even the unwilling into positive patterns of action.

104. Có một lòng nhân từ lớn lao cuốn những kẻ không biết, và thậm chí cả những kẻ không muốn, vào những mô hình hành động tích cực.

105. The entire process is an electrical one. The negative units are attracted to the positive energy source and, per force, must move (really, be moved) in accordance with the impulses emanating from that source.

105. Toàn bộ tiến trình là một tiến trình điện. Các đơn vị âm bị hút về nguồn năng lượng dương và, do sức ép ấy, phải chuyển động (thực ra là bị chuyển động) phù hợp với các xung lực phát ra từ nguồn đó.

106. Thus, even when we cannot direct ourselves into constructive channels, we are directed.

106. Do đó, ngay cả khi chúng ta không thể tự hướng mình vào những kênh xây dựng, chúng ta vẫn được hướng dẫn.

We will here only deal with the man who is learning consciously to build, and will not consider the process as pursued by the adept, or the chaotic attempts of the little evolved.

Ở đây chúng ta sẽ chỉ bàn đến con người đang học cách xây dựng một cách hữu thức, và sẽ không xét đến tiến trình như được chân sư theo đuổi, hay những cố gắng hỗn loạn của kẻ ít tiến hoá.

107. Thus, we are dealing with the building efforts of the conscious aspirant.

107. Như vậy, chúng ta đang bàn đến những nỗ lực kiến tạo của người chí nguyện hữu thức.

S8S4 Part IV

TCF 969 – 974

TCF 969 – 974

28 November – 13 December 2008

28 tháng Mười Một – 13 tháng Mười Hai 2008

Having grasped the idea, and having with care discriminated the motive underlying the idea, thus ascertaining its utilitarian purposes, and its value to the group in the service of humanity, the man has certain things to do which, for the sake of clarity, we might sum up in certain statements:

Sau khi đã nắm bắt ý tưởng, và đã cẩn thận phân biện động cơ nằm bên dưới ý tưởng, nhờ đó xác định được những mục đích hữu dụng của nó, và giá trị của nó đối với nhóm trong việc phụng sự nhân loại, con người có một số điều phải làm mà, để cho rõ ràng, chúng ta có thể tóm lược trong một số phát biểu:

1. We continue to describe the process of building thoughtforms. We are dealing with the white magical process.

1. Chúng ta tiếp tục mô tả tiến trình xây dựng Hình tư tưởng. Chúng ta đang bàn đến tiến trình huyền thuật chánh đạo.

a. The idea is grasped

a. Ý tưởng được nắm bắt

b. The motive is discriminated—

b. Động cơ được phân biện—

c. The purpose of the idea is discerned

c. Mục đích của ý tưởng được nhận ra bằng phân biện tinh thần

d. The service value of the idea is registered

d. Giá trị phụng sự của ý tưởng được ghi nhận

He has, first of all, to hold the idea sufficiently long for it to be faithfully registered in the physical brain.

Trước hết, y phải giữ ý tưởng đủ lâu để nó được ghi nhận trung thực trong bộ não hồng trần.

2. This necessity is often overlooked. Registration is not instantaneous. Perhaps we can see the reason for stilling the mind and holding the mind steady in the light.

2. Nhu cầu này thường bị bỏ qua. Sự ghi nhận không xảy ra tức thời. Có lẽ chúng ta có thể thấy lý do của việc làm lắng yên trí tuệ và giữ trí tuệ vững vàng trong ánh sáng.

3. Great stillness, the integration technique for those upon the third ray, is required for faithful registration. We can understand the mental activity is a deterrent to faithful registration of an egoically impulsed idea.

3. Sự tĩnh lặng lớn lao, Kỹ Thuật Tích Hợp dành cho những người ở cung ba, là điều cần thiết cho sự ghi nhận trung thực. Chúng ta có thể hiểu rằng hoạt động trí tuệ là một trở ngại đối với sự ghi nhận trung thực một ý tưởng được chân ngã thúc đẩy.egoically impulsed idea.

Frequently the Ego will “get through” to the brain some concept, some portion of the plan, and yet will have to repeat the process continuously over quite a long period before the physical response is such that the solar Angel can rest assured that it is intelligently registered and recorded.

Thường thì chân ngã sẽ “xuyên qua” đến bộ não một khái niệm nào đó, một phần nào đó của kế hoạch, và tuy vậy vẫn phải lặp lại tiến trình ấy liên tục trong một thời gian khá dài trước khi sự đáp ứng hồng trần đạt đến mức để Thái dương Thiên Thần có thể yên tâm rằng nó đã được ghi nhận và lưu giữ một cách thông minh.

4. This is so important. Can we see the need for steady and repeated meditation?

4. Điều này rất quan trọng. Liệu chúng ta có thể thấy nhu cầu của sự tham thiền đều đặn và lặp đi lặp lại không?

5. When group work is involved, some enhancement of the process may be expected. The partial registration of several group participants may equate to the registration of the whole idea.

5. Khi công việc nhóm có liên quan, có thể trông đợi một sự tăng cường nào đó của tiến trình. Sự ghi nhận từng phần của một số thành viên trong nhóm có thể tương đương với sự ghi nhận toàn bộ ý tưởng.

6. Note the Solar Angel’s attentiveness. The Solar Angel wishes to be assured that the descending idea is intelligently and faithfully registered.

6. Hãy lưu ý sự chú tâm của Thái dương Thiên Thần. Thái dương Thiên Thần muốn được bảo đảm rằng ý tưởng đang giáng xuống được ghi nhận một cách thông minh và trung thựcd.

7. We see then that the Solar Angel is definitely involved, at least in a supervisory role, in the process of thoughtform building. Further the Solar Angel may be involved in communicating the idea to the brain of man.

7. Như vậy chúng ta thấy rằng Thái dương Thiên Thần chắc chắn có liên quan, ít nhất trong vai trò giám sát, đến tiến trình xây dựng Hình tư tưởng. Hơn nữa, Thái dương Thiên Thần có thể còn tham gia vào việc truyền đạt ý tưởng đến bộ não của con người.

8. The element of time is under discussion, and it is of importance.

8. Yếu tố thời gian đang được bàn đến, và nó rất quan trọng.

9. Saturn, the planet which rules the physical brain is also the Lord of Time. The implications should be clear.

9. Sao Thổ, hành tinh cai quản bộ não hồng trần, cũng là Chúa Tể của Thời Gian. Những hàm ý của điều này hẳn là rõ ràng.

It is perhaps unnecessary to say that the entire process is greatly facilitated if the “shadow,” or the man, pursues regular meditation,

Có lẽ không cần phải nói rằng toàn bộ tiến trình được tạo điều kiện dễ dàng hơn rất nhiều nếu “cái bóng”, hay con người, theo đuổi việc tham thiền đều đặn,

10. As stated. We often do not realize how very important this is.

10. Như đã nói. Chúng ta thường không nhận ra điều này quan trọng biết bao.

11. The “shadow”, in this context, is really the soul-in-incarnation working through the personality. Recall the lines from A Treatise on White Magic regarding the relation of the Solar Angel with the reflection or shadow.

11. “Cái bóng”, trong ngữ cảnh này, thực ra là linh hồn đang nhập thể hoạt động qua phàm ngã. Hãy nhớ lại những dòng trong Luận về Chánh Thuật liên quan đến mối quan hệ của Thái dương Thiên Thần với sự phản chiếu hay cái bóng.

RULE ONE

QUY LUẬT MỘT

The Solar Angel collects himself, scatters not his force, but, in meditation deep, communicates with his reflection.

Thái dương Thiên Thần thu nhiếp chính mình, không phân tán mãnh lực của mình, mà trong tham thiền sâu xa, giao tiếp với sự phản chiếu của mình.

RULE TWO

QUY LUẬT HAI

When the shadow hath responded, in meditation deep the work proceedeth. The lower light is thrown upward; the greater light illuminates the three, and the work of the four proceedeth. (TWM xii)

Khi cái bóng đã đáp ứng, trong tham thiền sâu xa công việc tiếp tục. Ánh sáng thấp được phóng lên trên; ánh sáng lớn hơn soi sáng bộ ba, và công việc của bộ bốn tiếp diễn. (TWM xii)

cultivates the habit of a daily and hourly recollectedness of the higher Self,

vun bồi thói quen hồi tưởng hằng ngày và hằng giờ về Bản Ngã Cao Siêu,

12. Even hourly! In fact, a constant and continuous recollectedness is the eventual goal. We speak of “continuity of consciousness”. It has its greatest application to continuity of soul-consciousness.

12. Ngay cả hằng giờ! Thực ra, một sự hồi tưởng liên tục và không gián đoạn là mục tiêu cuối cùng. Chúng ta nói đến “tính liên tục của tâm thức”. Nó có ứng dụng lớn nhất đối với tính liên tục của tâm thức linh hồn.

and before retiring at night endeavours to “hold the thought” of bringing through at the time of awakening as much as possible of any egoic impress.

và trước khi đi ngủ vào ban đêm, cố gắng “giữ tư tưởng” đưa xuyên qua vào lúc thức dậy càng nhiều càng tốt bất kỳ ấn tượng chân ngã nào.

13. We are told of the act of setting a definite intention before retiring. To do so is a stabilization of a focussed receptivity to higher impression. The Ego is at work at night. There is much value in “sleeping on” any important matter (for this opens the door to egoic impression) and, in general, of remaining receptive to the flow of egoic influence.

13. Chúng ta được nói cho biết về hành động đặt ra một ý định rõ ràng trước khi đi ngủ. Làm như vậy là một sự ổn định của tính tiếp nhận tập trung đối với ấn tượng cao hơn. Chân ngã hoạt động vào ban đêm. Có rất nhiều giá trị trong việc “ngủ cùng” với bất kỳ vấn đề quan trọng nào (vì điều này mở cánh cửa cho ấn tượng chân ngã), và nói chung là trong việc duy trì tính tiếp nhận đối với dòng chảy của ảnh hưởng chân ngã.

14. I suppose it must be faced that for many of us, our alignment is weak and our physical brain resistant to impress from the higher dimensions. If this is the case, we must reverse the condition.

14. Tôi cho rằng phải đối diện với thực tế rằng đối với nhiều người trong chúng ta, sự chỉnh hợp của chúng ta còn yếu và bộ não hồng trần còn kháng cự ấn tượng từ các chiều kích cao hơn. Nếu đúng như vậy, chúng ta phải đảo ngược điều kiện này.

When the reaction between the two factors, the Ego and the receptive physical brain, is established,

Khi phản ứng giữa hai yếu tố, chân ngã và bộ não hồng trần tiếp nhận, được thiết lập,

15. This is the interplay which Master DK has been discussing for many pages. There is a definite link to be made between the higher mental plane and the physical brain.

15. Đây là sự tương tác mà Chân sư DK đã bàn đến trong nhiều trang. Có một liên kết rõ rệt phải được tạo ra giữa Cõi thượng trí và bộ não hồng trần.

the interplay is reciprocal,

sự tương tác là hỗ tương,

16. We are dealing with a dynamic ruled by both Mercury and Gemini.

16. Chúng ta đang bàn đến một động lực được cai quản bởi cả Sao Thủy lẫn Song Tử.

and the two are keyed or tuned to each other, the second stage is entered upon.

và cả hai được điều chỉnh hay hòa điệu với nhau, thì giai đoạn thứ hai được bước vào.

17. We are dealing not only with contact, impress and interplay, but with attunement. This is a conscious harmonization and must be felt.

17. Chúng ta không chỉ đang bàn đến sự tiếp xúc, ấn tượng và tương tác, mà còn đến sự hòa điệu. Đây là một sự hài hòa hóa hữu thức và phải được cảm nhận.

The idea is conceived. [Page 971]

Ý tưởng được thụ thai. [Page 971]

18. We note that before such conception can occur there must be an attunement between the Ego and the physical brain.

18. Chúng ta lưu ý rằng trước khi sự thụ thai như thế có thể xảy ra, phải có sự hòa điệu giữa chân ngã và bộ não hồng trần.

19. The idea is represents the masculine pole. The brain in this instance is the feminine receiver.

19. Ý tưởng tượng trưng cho cực dương. Trong trường hợp này, bộ não là kẻ tiếp nhận mang tính âm.

20. Note that the idea is not yet born but only “conceived”. This is a Uranian process. Uranus is the idea. Mercury is the transmission of the idea. Saturn is the receptive physical brain.

20. Hãy lưu ý rằng ý tưởng vẫn chưa được sinh ra mà chỉ mới được “thụ thai”. Đây là một tiến trình của Sao Thiên Vương. Sao Thiên Vương là ý tưởng. Sao Thủy là sự truyền đạt ý tưởng. Sao Thổ là bộ não hồng trần tiếp nhận.

A period of gestation is then pursued, itself divided into various stages.

Sau đó một thời kỳ thai nghén được theo đuổi, bản thân nó được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau.

21. The period of gestation occurs within the personality vehicles.

21. Thời kỳ thai nghén xảy ra trong các vận cụ của phàm ngã.

The man broods over the idea; he ponders upon it, thereby setting up activity in mental matter, and attracting to his germ thought the material necessary for its clothing.

Con người ấp ủ ý tưởng; y suy ngẫm về nó, nhờ đó khơi dậy hoạt động trong vật chất trí tuệ, và hút về tư tưởng mầm của mình chất liệu cần thiết để khoác áo cho nó.

22. This process is simply the higher analogue of the birth process.

22. Tiến trình này đơn giản là sự tương đồng cao hơn của tiến trình sinh nở.

23. The implanted idea is called the “germ thought”. It is that concentrated energy implanted upon the mental plane, from which the full blown thoughtform will germinate.

23. Ý tưởng được cấy vào được gọi là “tư tưởng mầm”. Đó là năng lượng tập trung được cấy vào trên cõi trí, từ đó Hình tư tưởng nở rộ đầy đủ sẽ nảy mầm.

24. To brood is to focus, warm and hold contained. To ponder has the same effect. We see that brooding is also a magnetic process. The warming of the germ of the idea in mental matter is magnetic in relation to the thought material necessary for clothing the implanted idea with the proper mental material.

24. Ấp ủ là tập trung, sưởi ấm và giữ chứa bên trong. Suy ngẫm cũng có cùng tác dụng. Chúng ta thấy rằng sự ấp ủ cũng là một tiến trình từ tính. Sự sưởi ấm mầm của ý tưởng trong vật chất trí tuệ có tính từ tính đối với chất liệu tư tưởng cần thiết để khoác cho ý tưởng được cấy vào chất liệu trí tuệ thích hợp.

25. It is important to stay with the implanted idea, otherwise we emerge with thoughts which are “half baked”—we see the analogy to the brooding process. Pondering and brooding are not rapid processes. So patience is required.

25. Điều quan trọng là phải gắn bó với ý tưởng được cấy vào, nếu không chúng ta sẽ xuất hiện với những tư tưởng “nửa sống nửa chín”—chúng ta thấy sự tương tự với tiến trình ấp ủ. Suy ngẫm và ấp ủ không phải là những tiến trình nhanh. Vì vậy cần có sự kiên nhẫn.

He pictures to himself the contour of the thought form, clothing it with colour, and painting in its details.

Y hình dung cho chính mình đường nét của Hình tư tưởng, khoác cho nó màu sắc,vẽ vào các chi tiết của nó.

26. VSK suggests: “This may include a hint about why colour is one of the most obscure and potent of the keys, due to the fact that we live ‘in colour’, and the visualization (mayavirupa-making) process involves fleshing out an idea in colour. It is the final step in magic making; the precipitation of the form.”

26. VSK gợi ý: “Điều này có thể bao hàm một gợi ý về lý do tại sao màu sắc là một trong những chìa khóa mơ hồ nhất mà cũng mạnh mẽ nhất, do sự kiện rằng chúng ta sống ‘trong màu sắc’, và tiến trình hình dung (tạo mayavirupa) liên quan đến việc làm cho một ý tưởng có thân xác bằng màu sắc. Đó là bước cuối cùng trong việc tạo tác huyền thuật; sự ngưng tụ của hình tướng.”

27. Little devas help with the painting as DK has suggested in other contexts.

27. Các thiên thần nhỏ giúp việc vẽ tô như Chân sư DK đã gợi ý trong những ngữ cảnh khác.

Under group 2 work the fairies of plant life, the elves who build and paint the flowers, the radiant little beings who inhabit the woods and the fields, the elementals who work with the fruits, vegetables, and with all that leads to the covering of the earth’s surface with verdure. (TCF 913)

Trong công việc nhóm 2, các tiên nữ của sự sống thực vật, các tinh linh xây dựng và tô vẽ các bông hoa, những hữu thể nhỏ bé rạng ngời cư ngụ trong rừng và ngoài đồng, các hành khí làm việc với trái cây, rau cỏ, và với tất cả những gì dẫn đến việc phủ xanh bề mặt trái đất. (TCF 913)

28. We can see introduced into the thoughtform construction a visual/spatial dimension.

28. Chúng ta có thể thấy một chiều kích thị giác/không gian được đưa vào việc kiến tạo Hình tư tưởngn.

29. The visualizing mind must be held very steady during this process, otherwise purposeful construction cannot proceed.

29. Trí tuệ hình dung phải được giữ thật vững trong suốt tiến trình này, nếu không sự kiến tạo có mục đích sẽ không thể tiếp tục.

30. We can see, therefore, that the imagination has entered. This is process different from brooding or pondering upon the implanted idea.

30. Do đó, chúng ta có thể thấy rằng Sự tưởng tượng đã đi vào. Đây là một tiến trình khác với việc ấp ủ hay suy ngẫm về ý tưởng được cấy vào.

Hence will be seen the great value of a true imagination, and its ordered scientific use.

Vì thế sẽ thấy được giá trị lớn lao của một Sự tưởng tượng chân chính, và việc sử dụng nó một cách có trật tự và khoa học.

31. We are moving into a fifth ray/seventh ray age, in which the fourth ray of imagination will be prominently expressive. Can we not see that the scientific and ordered use of the imagination will certainly grow? Due to emerging ray combinations, we are entering highly creative age.

31. Chúng ta đang tiến vào một thời đại cung năm/cung bảy, trong đó cung bốn của sự tưởng tượng sẽ biểu lộ một cách nổi bật. Chẳng phải chúng ta có thể thấy rằng việc sử dụng sự tưởng tượng một cách khoa học và có trật tự chắc chắn sẽ phát triển hay sao? Do các kết hợp cung đang xuất hiện, chúng ta đang bước vào một thời đại có tính sáng tạo cao.

Imagination is kama-manasic in origin, being neither pure desire nor pure mind,

Sự tưởng tượng có nguồn gốc trí-cảm, không phải là dục vọng thuần túy cũng không phải là trí tuệ thuần túy,

32. Since imagination originates on the second subplane of the astral plane, can we identify this plane with kama-manas or (shall we say) especially with the kama aspect of kama-manas?

32. Vì sự tưởng tượng phát sinh trên cõi phụ thứ hai của cõi cảm dục, liệu chúng ta có thể đồng nhất cõi này với kama-manas hay không, hoặc (chúng ta hãy nói rằng) đặc biệt với phương diện kama của kama-manas?

33. We can think of the creative imagination as image plus purpose mentally applied to the image. The goal-creating aspect of the mind is at work and directs and regulates that which imagination produces.

33. Chúng ta có thể nghĩ về sự tưởng tượng sáng tạo như là hình ảnh cộng với mục đích được áp dụng bằng trí tuệ lên hình ảnh ấy. Phương diện tạo mục tiêu của trí tuệ đang hoạt động và định hướng cũng như điều chỉnh điều mà sự tưởng tượng tạo ra.

34. There is probably also an expression of the imagination which displays much less mental content. This expression can be associated with memory, as when we spontaneously imagine that which has happened, or when we allow fantasy to flow freely without any mental regulation. In psychology, this latter expression is called “active imagination”.

34. Có lẽ cũng có một biểu hiện của sự tưởng tượng cho thấy nội dung trí tuệ ít hơn nhiều. Biểu hiện này có thể được liên kết với ký ức, như khi chúng ta tự phát tưởng tượng điều đã xảy ra, hoặc khi chúng ta để cho huyễn tưởng tuôn chảy tự do mà không có bất kỳ sự điều chỉnh trí tuệ nào. Trong tâm lý học, biểu hiện sau này được gọi là “sự tưởng tượng chủ động”.

35. We remember that the mind is the organ of the will within the personality and possesses a regulatory faculty.

35. Chúng ta nhớ rằng trí tuệ là cơ quan của ý chí bên trong phàm ngã và sở hữu một năng lực điều chỉnh.

and is a purely human product,

và là một sản phẩm thuần túy của con người,

36. We could say that kama-manas is “a purely human product” but, then, both Venus and Sirius can be associated with kama-manas in a larger sense.

36. Chúng ta có thể nói rằng kama-manas là “một sản phẩm thuần túy của con người”, nhưng khi đó, cả Sao Kim lẫn Sirius đều có thể được liên kết với kama-manas theo một ý nghĩa rộng lớn hơn.

37. If we think of imagination as a purely human product then, presumably, we are referring to imagination as the human being understand that faculty. One would suspect that the power to purposefully create images is the possession of all the great Creators as well as of human beings. God’s Creation is a reflection of this power.

37. Nếu chúng ta nghĩ về sự tưởng tượng như một sản phẩm thuần túy của con người, thì hẳn là chúng ta đang nói đến sự tưởng tượng như con người thấu hiểu năng lực ấy. Người ta hẳn sẽ nghi ngờ rằng quyền năng tạo ra các hình ảnh một cách có chủ đích là sở hữu của mọi Đấng Sáng Tạo vĩ đại cũng như của con người. Sự Sáng Tạo của Thượng đế là một phản ánh của quyền năng này.

being superseded by the intuition in perfected men, and in the higher Intelligences of Nature.

được trực giác thay thế nơi những người đã hoàn thiện, và nơi các Trí Tuệ cao hơn của Thiên Nhiên.

38. The intuition connects the consciousness directly with the archetype to be materialized. Yet the picture-forming power must in some way be present or the formation would not occur in the lower worlds.

38. Trực giác nối kết tâm thức trực tiếp với nguyên mẫu sẽ được hiện hình. Tuy nhiên, quyền năng tạo hình ảnh hẳn phải hiện diện theo một cách nào đó, nếu không thì sự hình thành sẽ không xảy ra trong các cõi thấp.

39. The ideas which the intuition touches are, we usually say, “formless” (at least when compared to the form in the lower worlds), yet from a higher perspective, they have cosmic etheric form, analogous to the much more tangible forms to be found on the systemic etheric subplanes.

39. Những ý tưởng mà trực giác chạm tới, như chúng ta thường nói, là “vô tướng” (ít nhất là khi so với hình tướng trong các cõi thấp), tuy nhiên từ một viễn tượng cao hơn, chúng có hình tướng dĩ thái vũ trụ, tương tự với những hình tướng hữu hình hơn nhiều được tìm thấy trên các cõi phụ dĩ thái của hệ thốngs.

40. It must be the case that the intuition can be wielded in such a manner as to produce the precipitation of the lower images which correspond to the archetypal forms of ideas which intuition accesses. God can dream.

40. Hẳn phải là trường hợp trực giác có thể được vận dụng theo cách tạo ra sự ngưng tụ của các hình ảnh thấp tương ứng với các hình tướng nguyên mẫu của những ý tưởng mà trực giác tiếp cận. Thượng đế có thể mơ.

41. Normal psychism is close to imagination. Higher psychism engages the intuition. Intuition is a higher psychic power whether for man of a god.

41. Thông linh bình thường gần với sự tưởng tượng. Thông linh cao hơn vận dụng trực giác. Trực giác là một quyền năng thông linh cao hơn, dù đối với con người hay một vị thần.

When his will, or the initial impulse is sufficiently strong, and when the imagination, or power of visualisation, is adequately vivid, the second part of the gestation period is entered upon, and the vitalisation by desire is begun.

Khi ý chí của y, hay xung lực ban đầu, đủ mạnh, và khi sự tưởng tượng, hay quyền năng hình dung, đủ sống động, thì phần thứ hai của thời kỳ thai nghén được bắt đầu, và sự tiếp sinh lực bằng dục vọng được khởi sự.

42. We have been speaking only of the first part of the gestation process. In includes:

42. Chúng ta mới chỉ nói về phần đầu của tiến trình thai nghén. Nó bao gồm:

a. The implantation of the idea

a. Sự cấy ý tưởng

b. The brooding and pondering on the germ idea and gathering of mental substance around that germ

b. Sự ấp ủ và suy ngẫm về ý tưởng mầm, cùng việc tập hợp chất liệu trí tuệ quanh mầm ấy

c. The kama-manasic use of the imagination to visualize the form which the implanted idea is to take

c. Việc sử dụng sự tưởng tượng theo lối trí-cảm để hình dung hình tướng mà ý tưởng đã được cấy sẽ mang lấy

43. Students of Psychosynthesis will begin to recognize something very close to Roberto Assagioli’s Act of Will. He was, as we know, a deep student of the Tibetan.

43. Các môn sinh của Tâm Tổng Hợp sẽ bắt đầu nhận ra điều gì đó rất gần với Hành Động của Ý Chí của Roberto Assagioli. Như chúng ta biết, ông là một môn sinh sâu sắc của Chân sư Tây Tạng.

The interplay of mental impulse and desire produce what might be called a pulsation in the organising form of the idea, and it becomes alive.

Sự tương tác giữa xung lực trí tuệ và dục vọng tạo ra điều có thể được gọi là một nhịp đập trong hình tướng tổ chức của ý tưởng, và nó trở nên sống động.

44. This is an important stage. We have moved—

44. Đây là một giai đoạn quan trọng. Chúng ta đã chuyển—

a. From idea

a. Từ ý tưởng

b. To the implantation of the idea

b. Đến sự cấy ý tưởng

c. To brooding over and pondering on the implanted idea—this is a mental activity

c. Đến việc ấp ủ và suy ngẫm về ý tưởng đã được cấy—đây là một hoạt động trí tuệ

d. To the visualization of the form to be taken by the idea—this is a kama-manasic activity

d. Đến sự hình dung hình tướng mà ý tưởng sẽ mang lấy—đây là một hoạt động trí-cảm

e. To vitalization of the implanted visualized idea. It becomes alive.

e. Đến sự tiếp sinh lực của ý tưởng đã được cấy và hình dung. Nó trở nên sống động.

45. As we will see below, although kama-manas is involved and although desire impulse is applied to vivify the germ idea, this idea is still to be found on the lower mental plane and has not yet descended to the astral plane.

45. Như chúng ta sẽ thấy dưới đây, mặc dù kama-manas có liên quan và mặc dù xung lực dục vọng được áp dụng để làm sống động ý tưởng mầm, ý tưởng này vẫn còn được tìm thấy trên cõi hạ trí và chưa hề giáng xuống cõi cảm dục.

46. Note how the interplay between mind and desire lead to vivification. The implanted, visualized idea becomes vibrant.

46. Hãy lưu ý cách sự tương tác giữa trí tuệ và dục vọng dẫn đến sự làm sống động. Ý tưởng đã được cấy và hình dung trở nên rung động.

47. From the astrological angle, mind is Mercury, kama-manas is Venus and desire is Mars—thus bringing into focus three closely related planet commonly associated with each other.

47. Xét từ góc độ chiêm tinh, trí tuệ là Sao Thủy, kama-manas là Sao Kim và dục vọng là Sao Hỏa—do đó làm nổi bật ba hành tinh có liên hệ mật thiết, thường được gắn với nhau.

It is yet but nebulous and its tenuosity is great, but it shows signs of organisation and the outline of its form.

Nó vẫn còn mơ hồ và độ mảnh nhẹ của nó rất lớn, nhưng nó cho thấy những dấu hiệu của sự tổ chức và đường nét của hình tướng nó.

48. The process of the creation of planets and stars—from the nebular stage to a stage of greater formation—is analogous.

48. Tiến trình tạo ra các hành tinh và các ngôi sao—từ giai đoạn tinh vân đến một giai đoạn thành hình lớn hơn—là tương tự.

49. We see that with regard to form, there is no full formal articulation at the outset of the creative process.

49. Chúng ta thấy rằng xét về hình tướng, không có sự khớp nối hình thức đầy đủ nào ngay lúc khởi đầu của tiến trình sáng tạo.

Students must remember that this entire process is being carried on now during this stage which we are considering from within the brain.

Các môn sinh phải nhớ rằng toàn bộ tiến trình này hiện đang được tiến hành trong giai đoạn mà chúng ta đang xem xét từ bên trong bộ não.

50. The physical brain is definitely involved in this creative process. We remember that the process began as the Ego impressed the physical brain with its idea followed by the establishing of attuned rapport between the Ego and the physical brain.

50. Bộ não hồng trần chắc chắn có liên quan trong tiến trình sáng tạo này. Chúng ta nhớ rằng tiến trình bắt đầu khi Chân ngã gây ấn tượng lên bộ não hồng trần bằng ý tưởng của mình, tiếp theo là việc thiết lập sự giao cảm chỉnh hợp giữa Chân ngã và bộ não hồng trần.

There is thus a definite correspondence to the work of the nine Sephiroth:

Do đó có một sự tương ứng rõ rệt với công việc của chín Sephiroth:

51. The final or 10th Sephira is Malkuth and represents the physical brain, per se, and the Earth.

51. Sephira cuối cùng hay thứ 10th là Malkuth và tượng trưng cho chính bộ não hồng trần, và Trái Đất.

The initial three correspond to the egoic impulse with which we have earlier dealt.

Ba Sephiroth đầu tiên tương ứng với xung lực chân ngã mà chúng ta đã bàn đến trước đây.

52. DK is linking the configuration of the Tree of Life to the creative process.

52. Chân sư DK đang nối kết cấu hình của Cây Sự Sống với tiến trình sáng tạo.

53. He seems to be saying that Kether, Chochma and Binah relate to the egoic impulse, which apparently is threefold.

53. Ngài dường như đang nói rằng Kether, Chochma và Binah liên hệ với xung lực chân ngã, vốn rõ ràng là tam phân.

54. The Ego is thus represented by the transcendent Kabalistic Triad.

54. Do đó Chân ngã được biểu thị bởi Tam nguyên Kabbalah siêu việt.

The secondary group of Sephiroth find their analogy in the work pursued in the stage we are now dealing with, or the impulse of mind-desire, emanating consciously from man’s brain.

Nhóm Sephiroth thứ hai tìm thấy sự tương tự của chúng trong công việc được theo đuổi ở giai đoạn mà hiện nay chúng ta đang bàn đến, hay xung lực của trí tuệ-dục vọng, phát ra một cách hữu thức từ bộ não của con người.

55. The secondary group of Sephiroth is involved with the process of the formulation of the germ idea by clothing it in mental and astral matter. This process is represented by the constructive interplay of:

55. Nhóm Sephiroth thứ hai có liên quan đến tiến trình định hình ý tưởng mầm bằng cách khoác cho nó vật chất trí tuệ và vật chất cảm dục. Tiến trình này được biểu thị bởi sự tương tác kiến tạo của:

a. Mind

a. Trí tuệ

b. Kama-manas

b. Kama-manas

c. Desire

c. Dục vọng

56. We are dealing with the manner in which these three are registered and expressed within the physical brain, but we have not come to that aspect of the Tree of Life which, per se, represents the physical brain.

56. Chúng ta đang bàn đến cách thức ba yếu tố này được ghi nhận và biểu lộ trong bộ não hồng trần, nhưng chúng ta vẫn chưa đi đến phương diện của Cây Sự Sống vốn tự nó tượng trưng cho bộ não hồng trần.

57. The three Sephiroth involved in this clothing process are Chesed (Mercy—Jupiter), Geburah (Severity—Mars) and Tiphereth (Harmony—Sun).

57. Ba Sephiroth liên quan trong tiến trình khoác áo này là Chesed (Mercy—Sao Mộc), Geburah (Severity—Sao Hỏa) và Tiphereth (Harmony—Mặt Trời).

The work of the final three is accomplished when the thought form, being clothed in mental and astral matter, passes into objectivity on the physical plane. [Page 972]

Công việc của ba Sephiroth cuối cùng được hoàn tất khi hình tư tưởng, đã được khoác vật chất trí tuệ và cảm dục, đi vào tính khách quan trên cõi hồng trần. [Page 972]

58. Here we have Netzach (Victory—Venus), Hod (Splendor—Mercury) and Yesod (Formation—Moon).

58. Ở đây chúng ta có Netzach (Victory—Sao Kim), Hod (Splendor—Sao Thủy) và Yesod (Formation—Mặt Trăng).

59. The analogies to the Tree of Life are found in The Secret Doctrine and Master DK, Who is obviously schooled in that tradition, continues them here.

59. Những sự tương tự với Cây Sự Sống được tìm thấy trong Giáo Lý Bí Nhiệm và Chân sư DK, Đấng hiển nhiên được đào luyện trong truyền thống ấy, tiếp tục chúng ở đây.

60. The Tree of Life is really a magical system and, therefore, has an important place in this type of discussion on thoughtform precipitation.

60. Cây Sự Sống thực sự là một hệ thống huyền thuật và vì vậy có một vị trí quan trọng trong loại thảo luận này về sự ngưng tụ của hình tư tưởng.

A later stage in the gestation period is pursued when the thought form, being clothed in mental matter, and having become vitalised by desire, takes to itself a layer of substance of astral matter, and is consequently enabled to function on the astral plane as well as the mental. Here its growth is rapid.

Một giai đoạn sau của thời kỳ thai nghén được tiếp tục khi hình tư tưởng, đã được khoác vật chất trí tuệ, và đã được tiếp sinh lực bởi dục vọng, khoác thêm cho chính nó một lớp chất liệu của vật chất cảm dục, và do đó được làm cho có khả năng hoạt động trên cõi cảm dục cũng như cõi trí. Ở đây sự tăng trưởng của nó diễn ra nhanh chóng.

61. Even though we have discussed the influence of imagination and of desire upon the developing thoughtform (both of which have roots on the astral plane), we see that the stage of gestation in which the thoughtform actually descends to the astral plane is only now reached.

61. Mặc dù chúng ta đã bàn đến ảnh hưởng của sự tưởng tượng và của dục vọng lên hình tư tưởng đang phát triển (cả hai đều có gốc rễ trên cõi cảm dục), chúng ta thấy rằng giai đoạn thai nghén trong đó hình tư tưởng thực sự giáng xuống cõi cảm dục chỉ đến lúc này mới đạt tới.

62. What do we have for a sequence?

62. Chúng ta có một trình tự như thế nào?

a. The egoic impulse

a. Xung lực chân ngã

b. The implantation of the egoic impulse in physical brain as a germ idea. Obviously, the lower mind must also be involved.

b. Sự cấy xung lực chân ngã vào bộ não hồng trần như một ý tưởng mầm. Hiển nhiên, hạ trí cũng phải có liên quan.

c. The registration of mental, kama-manasic and desire energies in the physical brain, the processes of which always remain active in the procedure we are discussing

c. Sự ghi nhận các năng lượng trí tuệ, trí-cảm và dục vọng trong bộ não hồng trần, những tiến trình của chúng luôn luôn vẫn hoạt động trong thủ tục mà chúng ta đang bàn đến

d. The brooding and gathering—a mental activity

d. Sự ấp ủ và tập hợp—một hoạt động trí tuệ

e. The visualization—a kama-manasic activity

e. Sự hình dung—một hoạt động trí-cảm

f. The vitalization involving desire

f. Sự tiếp sinh lực có liên quan đến dục vọng

g. YET, the thoughtform has not yet really descended onto the astral plane

g. TUY NHIÊN, hình tư tưởng vẫn chưa thực sự giáng xuống cõi cảm dục

h. Now we have that descent, and with it a very rapid growth of the thoughtform. The second major stage of the gestation process has been reached.

h. Giờ đây chúng ta có sự giáng xuống đó, và cùng với nó là sự tăng trưởng rất nhanh của hình tư tưởng. Giai đoạn lớn thứ hai của tiến trình thai nghén đã đạt tới.

63. If we look carefully at the process we will see several stages of the gestation process some of them major and some minor. Movement from plane to plane are major stages.

63. Nếu chúng ta nhìn kỹ vào tiến trình, chúng ta sẽ thấy nhiều giai đoạn của tiến trình thai nghén, một số là lớn và một số là nhỏ. Những chuyển động từ cõi này sang cõi khác là những giai đoạn lớn.

64. Birth, when it finally occurs, is upon the dense physical plane.

64. Sự sinh ra, khi cuối cùng xảy ra, là trên cõi hồng trần đậm đặc.

It should be carefully borne in mind that the process of building in mental matter proceeds simultaneously, and that the development is now twofold.

Cần ghi nhớ cẩn thận rằng tiến trình kiến tạo trong vật chất trí tuệ diễn ra đồng thời, và sự phát triển hiện nay là nhị phân.

65. We see that the process is not strictly sequential but overlapping. When the second major stage of the gestation process begins the first stage continues in its development.

65. Chúng ta thấy rằng tiến trình không hoàn toàn tuần tự mà chồng lấn lên nhau. Khi giai đoạn lớn thứ hai của tiến trình thai nghén bắt đầu, giai đoạn thứ nhất vẫn tiếp tục trong sự phát triển của nó.

66. This overlapping process is so much typical of nature. We should get used to its presence.

66. Tiến trình chồng lấn này rất điển hình cho bản chất. Chúng ta nên quen với sự hiện diện của nó.

Here the conscious builder must be careful to hold the balance, and not to let imagination unduly assume too large proportions.

Ở đây đấng kiến tạo hữu thức phải cẩn thận giữ thế quân bình, và không để sự tưởng tượng phình lớn quá mức một cách không thích đáng.

67. We are on the astral plane and the sign of equilibrium, Libra, must emerge in strength, helping the builder to “hold the balance”. The dynamic is described by Saturn in Libra.

67. Chúng ta đang ở trên cõi cảm dục và dấu hiệu của sự quân bình, Thiên Bình, phải xuất hiện mạnh mẽ, giúp đấng kiến tạo “giữ thế quân bình”. Động lực này được mô tả bởi Sao Thổ trong Thiên Bình.

68. The astral plane is, in its own right, the plane whereon the dual forces may be found. Again Libra is required for equilibrizing.

68. Cõi cảm dục, theo đúng bản chất riêng của nó, là cõi nơi các mãnh lực nhị nguyên có thể được tìm thấy. Một lần nữa Thiên Bình được đòi hỏi để tạo quân bình.

69. Saturn regulates the scope of the imagination. Only those who are intelligent and mentally focussed can work in this way, but, then, the true white magician is ever so.

69. Sao Thổ điều chỉnh phạm vi của sự tưởng tượng. Chỉ những ai thông minh và tập trung trí tuệ mới có thể làm việc theo cách này, nhưng nhà huyền thuật chánh đạo chân chính thì luôn luôn như vậy.

70. The task, then, is to ensure that the imagination does not “run away with” the creator. An appropriate symbol would be the ‘run-away horse’

70. Vậy thì nhiệm vụ là bảo đảm rằng sự tưởng tượng không “cuốn phăng” đấng sáng tạo đi. Một biểu tượng thích hợp sẽ là “con ngựa bất kham”

The manasic element and the kamic element must be justly proportioned, or else will be seen that too common manifestation, an idea wrongly conceived and nurtured, and therefore impossible of playing its just part in the evolutionary plan, being but a grotesque distortion.

Yếu tố manas và yếu tố kamic phải được cân xứng một cách công bằng, nếu không sẽ thấy xuất hiện biểu hiện quá đỗi thông thường ấy, một ý tưởng được quan niệm sai lầmđược nuôi dưỡng, và do đó không thể đảm đương phần việc chính đáng của nó trong Thiên Cơ tiến hoá, mà chỉ là một sự bóp méo kỳ quái.

71. DK is warning us against the distortion which arises when the manasic and kamic elements are not kept justly proportioned.

71. Chân sư DK đang cảnh báo chúng ta chống lại sự bóp méo phát sinh khi các yếu tố manas và kamic không được giữ ở thế cân xứng công bằng.

72. The word “just” is important as, again, it suggest Libra.

72. Từ “công bằng” là quan trọng vì, một lần nữa, nó gợi ý Thiên Bình.

73. The word “grotesque” is strong, but indicates what may eventuate if the balance is not held. Unless the balance is held, monstrosities can be created.

73. Từ “kỳ quái” rất mạnh, nhưng cho thấy điều gì có thể xảy ra nếu thế quân bình không được giữ. Trừ phi thế quân bình được giữ, những quái dạng có thể được tạo ra.

74. If there is too much mind and not enough of the kamic element, the implanted idea, good as it may be, may lack appeal.

74. Nếu có quá nhiều trí tuệ và không đủ yếu tố kamic, thì ý tưởng đã được cấy, dù tốt đến đâu, cũng có thể thiếu sức hấp dẫn.

75. If there is too much imagination and the manasic element weak, the implanted idea may have an appeal it does not deserve or may appeal only to those who are unbalanced in their nature. In any case, the form will not fit justly into the Plan which is a beautiful and well-proportioned Plan.

75. Nếu có quá nhiều sự tưởng tượng và yếu tố manas yếu, thì ý tưởng đã được cấy có thể có một sức hấp dẫn mà nó không đáng có, hoặc chỉ hấp dẫn những người mất quân bình trong bản chất của họ. Trong mọi trường hợp, hình tướng sẽ không khớp một cách công bằng vào Thiên Cơ, vốn là một Thiên Cơ đẹp đẽ và cân xứng.

76. We have all witnessed emerging thoughtforms which are simply missing something or distorted. We are repelled by such forms or simply not interested (i.e., attracted to them) and either do not want them to come to birth or are indifferent.

76. Tất cả chúng ta đều đã chứng kiến những hình tư tưởng đang xuất hiện mà đơn giản là thiếu một điều gì đó hoặc bị bóp méo. Chúng ta bị đẩy lùi bởi những hình tướng như thế hoặc đơn giản là không quan tâm (tức là không bị chúng thu hút), và hoặc không muốn chúng ra đời hoặc dửng dưng với chúng.

The idea now is reaching a critical stage, and should be ready for the assumption of physical matter and to take to itself an etheric form.

Ý tưởng nay đang đạt đến một giai đoạn khủng hoảng, và phải sẵn sàng để mang lấy vật chất hồng trần và khoác cho mình một hình thể dĩ thái.

77. This is really the third major phase of the gestation process. As we have seen, each phase of the gestation process has had subdivisions, especially the mental phase.

77. Đây thực sự là giai đoạn lớn thứ ba của tiến trình thai nghén. Như chúng ta đã thấy, mỗi giai đoạn của tiến trình thai nghén đều có những phân đoạn nhỏ, đặc biệt là giai đoạn trí tuệ.

78. Notice the word “critical”, with the implication that something could go drastically wrong at this point. We are entering a stage of crisis in the process of precipitating a thoughtform.

78. Hãy chú ý từ “khủng hoảng”, với hàm ý rằng ở điểm này một điều gì đó có thể đi sai nghiêm trọng. Chúng ta đang bước vào một giai đoạn khủng hoảng trong tiến trình ngưng tụ một hình tư tưởng.

When on etheric levels, it receives that final impulse which will lead to what may be called its “actuating,

Khi ở trên các cấp dĩ thái, nó nhận được xung lực cuối cùng ấy sẽ dẫn đến điều có thể được gọi là “sự tác động hoá” của nó,

79. We noted that the implanted idea has received an impulse on each level. Here we are dealing with the “actuating” or “actualization” of the implanted idea.

79. Chúng ta đã lưu ý rằng ý tưởng được cấy đã nhận một xung lực trên mỗi cấp. Ở đây chúng ta đang bàn đến “sự tác động hoá” hay “sự hiện thực hoá” của ý tưởng đã được cấy.

80. Will the idea actually be born onto the dense physical plane? This is the issue.

80. Liệu ý tưởng có thực sự được sinh ra trên cõi hồng trần đậm đặc hay không? Đó là vấn đề.

or its reception of that motivating impulse which will lead to its dissociation from its originator,

hay sự tiếp nhận xung lực thúc đẩy ấy, xung lực sẽ dẫn đến sự tách rời của nó khỏi người khởi tạo nó,

81. DK has defined “actuation” as the reception of that motivating impulse which will lead to its [the thoughtform’s] dissociation from its originator”.

81. Chân sư DK đã định nghĩa “sự tác động hoá” là sự tiếp nhận xung lực thúc đẩy ấy, xung lực sẽ dẫn đến “sự tách rời của nó [của hình tư tưởng] khỏi người khởi tạo nó”.

82. This is one of the key impulses in the creative process. The thoughtform, in order to be birthed, must become dissociated from its originator, just as the child become dissociated from the mother at birth. We can develop the analogy and understand the unhealthy or fatal implications if dissociation is not achieved.

82. Đây là một trong những xung lực then chốt trong tiến trình sáng tạo. Hình tư tưởng, để được sinh ra, phải trở nên tách rời khỏi người khởi tạo nó, cũng như đứa trẻ trở nên tách rời khỏi người mẹ khi sinh ra. Chúng ta có thể phát triển phép tương tự này và hiểu những hàm ý không lành mạnh hoặc chí tử nếu sự tách rời không đạt được.

and the sending out [i.e., onto the dense physical plane] to assume

và được phóng ra ngoài [i.e., onto the dense physical plane] để mang lấy

1. A dense form.

1. Một hình thể đậm đặc.

2. A separate existence.

2. Một sự tồn tại riêng biệt.

83. The planet Saturn is at work. Saturn, the planet of density. Saturn the planet of separation.

83. Hành tinh Sao Thổ đang hoạt động. Sao Thổ, hành tinh của sự đậm đặc. Sao Thổ, hành tinh của sự phân ly.

84. The sending forth is impulsed from the etheric plane.

84. Sự phóng ra được thúc đẩy từ cõi dĩ thái.

85. Those who are familiar with A Treatise on White Magic realize how thoroughly Master DK developed these ideas in that later book.

85. Những ai quen thuộc với Luận về Chánh Thuật nhận ra Chân sư DK đã triển khai những ý tưởng này một cách thấu đáo như thế nào trong cuốn sách ấy.

It should be remembered that the thought form has now passed from the mental plane, taken to itself an astral sheath, and likewise is gathering to itself a body of etheric matter.

Cần nhớ rằng hình tư tưởng nay đã đi ra khỏi cõi trí, đã khoác cho mình một vỏ bọc cảm dục, và tương tự cũng đang tập hợp cho mình một thể bằng vật chất dĩ thái.

86. DK continues to summarize the process so that we may be clear.

86. Chân sư DK tiếp tục tóm lược tiến trình để chúng ta có thể rõ ràng.

87. And all these processes continue to overlap.

87. Và tất cả các tiến trình này tiếp tục chồng lấn lên nhau.

When it has reached this stage its vitalisation is proceeding apace, and the hour of its separated existence is drawing near.

Khi nó đã đạt đến giai đoạn này, sự tiếp sinh lực của nó đang tiến hành nhanh chóng, và giờ phút tồn tại tách biệt của nó đang đến gần.

88. VSK suggests: “This echoes back to the opening statement in this section about the forming of the mayavirupa?” [Top of page 960]

88. VSK gợi ý: “Điều này vọng lại phát biểu mở đầu trong phần này về sự hình thành của mayavirupa chăng?” [Top of page 960]

89. One type of vitalization, we remember, depends upon the astral plane and the activation of the factor of desire. There seems to be an etheric component to vitalization and this would, of course, make sense.

89. Một loại tiếp sinh lực, như chúng ta nhớ, tùy thuộc vào cõi cảm dục và sự hoạt hóa của yếu tố dục vọng. Dường như có một thành phần dĩ thái trong sự tiếp sinh lực và điều này, dĩ nhiên, là hợp lý.

This vitalisation is consciously carried out by the man who—according to the original intent or initial impulse—directs to the thought form energy of some kind.

Sự tiếp sinh lực này được con người thực hiện một cách hữu thức—theo ý định nguyên thủy hay xung lực ban đầu—bằng cách hướng một loại năng lượng nào đó đến hình tư tưởng.

90. We see that the vitalization of which DK is speaking is not an unconscious process but, rather, is a deliberate process carried out by the man focussed in his brain consciousness.

90. Chúng ta thấy rằng sự tiếp sinh lực mà Chân sư DK đang nói đến không phải là một tiến trình vô thức mà đúng hơn là một tiến trình có chủ ý do con người tập trung trong tâm thức bộ não của mình thực hiện.

91. Do we know how to vitalize a thoughtform? The conscious use of the desire body and the breath are certainly involved as will be the imagination.

91. Chúng ta có biết cách tiếp sinh lực cho một hình tư tưởng không? Việc sử dụng hữu thức thể dục vọng và hơi thở chắc chắn có liên quan, cũng như sự tưởng tượng.

This energy is directed from one or other of the three higher centres, according to the quality of the embodied idea, [Page 973] and will be seen pouring towards the rapidly objectivising idea from the particular centre involved.

Năng lượng này được hướng ra từ một trong ba trung tâm cao, tùy theo phẩm tính của ý tưởng được nhập thể, [Page 973] và sẽ được thấy đang tuôn về phía ý tưởng đang nhanh chóng khách quan hóa từ trung tâm đặc thù có liên quan.

92. Here we have a most valuable occult hint. It requires that we understand the quality of the thoughtform we are creating and then consciously use one of the three higher chakras (perhaps with the accompanied use of the ajna center) to vitalize that thoughtform or “objectivising idea”.

92. Ở đây chúng ta có một gợi ý huyền bí vô cùng quý giá. Nó đòi hỏi chúng ta phải hiểu phẩm tính của hình tư tưởng mà chúng ta đang tạo ra, rồi sau đó sử dụng một cách hữu thức một trong ba luân xa cao hơn (có lẽ cùng với việc sử dụng trung tâm ajna đi kèm) để tiếp sinh lực cho hình tư tưởng ấy hay “ý tưởng đang khách quan hóa”.

93. We will, therefore, be dealing with thoughts imbued with intelligence, those imbued with love-wisdom and those imbued with will.

93. Do đó, chúng ta sẽ bàn đến những tư tưởng thấm nhuần trí tuệ, những tư tưởng thấm nhuần bác ái – minh triết, và những tư tưởng thấm nhuần ý chí.

94. A most significant method of vitalization has been given.

94. Một phương pháp tiếp sinh lực hết sức quan trọng đã được đưa ra.

95. Obviously, it is the true clairvoyant who sees this vitalization in process.

95. Hiển nhiên, chính nhà thông nhãn chân chính là người thấy sự tiếp sinh lực này trong tiến trình của nó.

We must not forget that we are considering the thought form of the conscious builder.

Chúng ta không được quên rằng chúng ta đang xem xét hình tư tưởng của đấng kiến tạo hữu thức.

96. This means that we are not considering the thoughtforms-building process of the average man.

96. Điều này có nghĩa là chúng ta không đang xem xét tiến trình kiến tạo hình tư tưởng của con người trung bình.

The thought forms of the majority of human beings are energised from no such high source, but find their active impulse emanating from either the solar plexus, or the still lower organs of generation.

Các hình tư tưởng của đa số con người không được tiếp năng lượng từ một nguồn cao như thế, mà tìm thấy xung lực hoạt động của chúng phát ra từ hoặc tùng thái dương, hoặc các cơ quan sinh sản còn thấp hơn nữa.

97. DK is speaking of the normal processes of fantasy—of the wishes, longings and sexual fantasies of the average human being.

97. Chân sư DK đang nói về các tiến trình huyễn tưởng bình thường—về những ước muốn, khát khao và huyễn tưởng tình dục của con người trung bình.

98. It is important to realize that thoughtforms can be energised from any chakric source. We can see why the influence of the lower chakras must be held in check during consciously creative thoughtform-building.

98. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng các hình tư tưởng có thể được tiếp năng lượng từ bất kỳ nguồn luân xa nào. Chúng ta có thể thấy vì sao ảnh hưởng của các luân xa thấp phải được kiềm chế trong việc kiến tạo hình tư tưởng một cách hữu thức và sáng tạo.

It is this constant stream of emotional or sexual energy which is responsible for the chaotic conditions of the present; the balance is not preserved,

Chính dòng năng lượng cảm xúc hay tình dục liên tục này chịu trách nhiệm cho những điều kiện hỗn loạn của hiện tại; thế quân bình không được duy trì,

99. Saturn in Libra does not control.

99. Sao Thổ trong Thiên Bình không kiểm soát.

100. Such is the stage of development of the average human being that the stream is “constant”.

100. Giai đoạn phát triển của con người trung bình là như thế nên dòng chảy này là “liên tục”.

101. The influence of the lower chakras, in this instance, tends towards chaos. The Moon is, in a sense, the “Mother of Chaos” and the lower chakras are, all of them, lunar.

101. Ảnh hưởng của các luân xa thấp, trong trường hợp này, có xu hướng dẫn đến hỗn loạn. Mặt Trăng, theo một nghĩa nào đó, là “Mẹ của Hỗn Loạn”, và các luân xa thấp, tất cả đều là nguyệt tính.

102. Obviously, correct education would assist in the elevation of these energies. In the correctly educated person, the higher centers draw upon the lower, and the influence of the lower centers is regulated. The rational, Apollonian or solar factor subdues the chaotic lunar factor.

102. Hiển nhiên, sự giáo dục đúng đắn sẽ hỗ trợ trong việc nâng cao các năng lượng này. Ở người được giáo dục đúng đắn, các trung tâm cao rút dùng từ các trung tâm thấp, và ảnh hưởng của các trung tâm thấp được điều chỉnh. Yếu tố duy lý, Apollon hay thái dương chế ngự yếu tố nguyệt tính hỗn loạn.

the interaction between the two,

sự tương tác giữa hai yếu tố ấy,

103. We are speaking of the interaction between the sacral and solar plexus centers.

103. Chúng ta đang nói về sự tương tác giữa trung tâm xương cùng và trung tâm tùng thái dương.

and the myriads of thought forms consequently produced of a low order and vibration are producing a condition which is going to require all the efforts of mental workers eventually to negate, offset, and transmute.

và vô số hình tư tưởng do đó được tạo ra thuộc loại và rung động thấp đang tạo ra một tình trạng mà rốt cuộc sẽ đòi hỏi mọi nỗ lực của những người hoạt động trí tuệ để phủ định, hóa giải và chuyển hoá.

104. DK is speaking of a task which lies ahead for all of us. In fact, we may be in the midst of it right now. The sacral and solar plexus centers of mankind are enflamed.

104. Chân sư DK đang nói về một nhiệm vụ nằm phía trước tất cả chúng ta. Thực ra, có thể ngay lúc này chúng ta đang ở giữa nhiệm vụ ấy. Các trung tâm xương cùng và tùng thái dương của nhân loại đang bốc cháy.

105. DK has spoken of a great miasma which vampirizes humanity. To this vampiristic thoughtform average human beings are contributing constantly. In truth the conscious workers of the world have much to dispel.

105. Chân sư DK đã nói về một đại chướng khí đang hút sinh lực của nhân loại. Vào hình tư tưởng có tính hút sinh lực này, những con người trung bình đang liên tục góp phần. Thật vậy, những người hoạt động hữu thức của thế giới có rất nhiều điều phải làm tiêu tan.

A gigantic thought form hovers over the entire human family, built by men everywhere during the ages, energised by the insane desires and evil inclinations of all that is worst in man’s nature, and kept alive by the promptings of his lower desires. (TCF 948)

Một hình tư tưởng khổng lồ lơ lửng trên toàn thể gia đình nhân loại, được những người nam và nữ ở khắp nơi xây dựng qua các thời đại, được tiếp sinh lực bởi những dục vọng điên loạn và những khuynh hướng xấu xa của tất cả những gì tệ hại nhất trong bản chất con người, và được duy trì bởi những sự thúc đẩy của các ham muốn thấp kém của y. (TCF 948)

These forms, which scarce merit the prefix “thought,” being largely kamic with an admixture of the lowest grade of mental matter, are responsible for the heavy, slow vibrating or pulsating fog or cloak which envelops the human family, and which produces much of the present evil, crime and mental lethargy.

Những hình thể này, hầu như không đáng mang tiền tố “hình tư tưởng”, vì phần lớn là cảm dục với sự pha trộn của loại vật chất trí tuệ thấp nhất, chịu trách nhiệm cho màn sương hay tấm áo choàng nặng nề, rung động hay dao động chậm chạp bao bọc gia đình nhân loại, và tạo ra phần lớn điều ác, tội phạm và sự trì trệ trí tuệ hiện nay.

106. This is a very repulsive picture. We would probably be horrified if we could see it with clarity.

106. Đây là một bức tranh rất ghê tởm. Có lẽ chúng ta sẽ kinh hoàng nếu có thể thấy nó một cách rõ ràng.

107. We do understand the very material nature of such thoughtforms as they can be composed of admixtures of different types of matter. According to the quality of the subtle matter composing them, so will be their general level of usefulness or deterrence to the Plan.

107. Chúng ta quả thật hiểu bản chất rất vật chất của những hình tư tưởng như thế, vì chúng có thể được cấu thành từ những hỗn hợp của các loại vật chất khác nhau. Tùy theo phẩm tính của chất liệu vi tế cấu tạo nên chúng, mức độ hữu ích tổng quát của chúng hay mức độ cản trở đối với Thiên Cơ cũng sẽ như vậy.

108. Note that these demi-thoughts not only incline to evil but to ignorance by promoting mental lethargy. To the Buddha, ignorance was the great sin.

108. Lưu ý rằng những bán-tư-tưởng này không chỉ nghiêng về điều ác mà còn nghiêng về vô minh, bằng cách thúc đẩy sự trì trệ trí tuệ. Đối với Đức Phật, vô minh là tội lỗi lớn lao.

People are mainly polarised in the astral body, as we know, and the lower centres are the most active; when an atmosphere or environment of thought-forms of a low key

Như chúng ta biết, con người chủ yếu phân cực trong thể cảm dục, và các trung tâm thấp là hoạt động mạnh nhất; khi một bầu khí quyển hay môi trường gồm những hình tư tưởng có chủ âm thấp

109. Notice here the musical reference—“key”.

109. Hãy lưu ý ở đây sự quy chiếu âm nhạc—“chủ âm”.

and vitalised by all the baser forms of astral energy is coupled to this,

và được tiếp sinh lực bởi mọi hình thức thấp hèn hơn của năng lượng cảm dục kết hợp với điều này,

110. Presumably this vitalization may occur from levels of the astral plane with which the human being is to have nothing to do–the sixth and seventh subplanes.

110. Có lẽ sự tiếp sinh lực này có thể xảy ra từ những cấp độ của cõi cảm dục mà con người không nên có bất cứ liên hệ nào—cõi phụ thứ sáu và thứ bảy.

it will become apparent how stupendous is the task of lifting humanity to a clearer, purer and better atmosphere,

thì sẽ trở nên hiển nhiên nhiệm vụ nâng nhân loại lên một bầu khí quyển trong sáng hơn, thanh khiết hơn và tốt đẹp hơn là vĩ đại đến mức nào,

111. We are thinking of the quality of the “air” to be found upon the astral plane. When the term “air” is used, the redeeming quality of buddhic energy (the buddhic plane is the plane of “air”) is suggested.

111. Chúng ta đang nghĩ đến phẩm tính của “không khí” có thể được tìm thấy trên cõi cảm dục. Khi thuật ngữ “không khí” được dùng, phẩm tính cứu chuộc của năng lượng Bồ đề (cõi Bồ đề là cõi của “không khí”) được gợi ý.

112. We live in several kinds of ‘atmospheres’ simultaneously—physical, etheric, astral and lower mental.

112. Chúng ta sống đồng thời trong nhiều loại “bầu khí quyển”—hồng trần, dĩ thái, cảm dục và hạ trí.

113. DK is painting no rosy picture. We live and ‘breathe’ within heavy pollution. Pollution is not only of the physical plane. The etheric, astral and mental miasms are the cause of our physical plane pollution.

113. Chân sư DK không vẽ nên một bức tranh màu hồng nào. Chúng ta sống và “hít thở” trong sự ô nhiễm nặng nề. Ô nhiễm không chỉ thuộc cõi hồng trần. Những khí độc dĩ thái, cảm dục và trí tuệ là nguyên nhân gây ra sự ô nhiễm trên cõi hồng trần của chúng ta.

114. Hercules, the world disciple, must lift. And Hercules in Aquarius must cleanse the mired stables of King Augeus.

114. Hercules, vị đệ tử thế gian, phải nâng lên. Và Hercules trong Bảo Bình phải tẩy sạch những chuồng ngựa lầy lội của Vua Augeus.

and how easy it is for the lower aspects and appetites to flourish and to grow.

các phương diện thấp kém cùng những thèm muốn dễ dàng phát triển và tăng trưởng biết bao.

115. Humanity lives in a fetid atmosphere promotive of disease on all levels of the personality. We are spared the full realization of this because we cannot yet see with entire clarity on the etheric, astral and lower mental planes.

115. Nhân loại sống trong một bầu khí hôi thối, thúc đẩy bệnh tật trên mọi cấp độ của phàm ngã. Chúng ta được miễn khỏi sự chứng nghiệm trọn vẹn điều này vì chúng ta chưa thể thấy hoàn toàn rõ ràng trên các cõi dĩ thái, cảm dục và hạ trí.

As the vitalisation is pursued and the energy is poured from one or other of the centres into the thought-form,

Khi sự tiếp sinh lực được tiếp tục và năng lượng được tuôn đổ từ một hay một trung tâm khác vào hình tư tưởng,

116. Yes, this is a tremendous occult hint…

116. Đúng vậy, đây là một gợi ý huyền bí học vô cùng lớn lao…

the conscious builder begins to extend this influence in order to send it forth from him to perform its mission,

đấng kiến tạo có ý thức bắt đầu mở rộng ảnh hưởng này để phóng nó ra từ chính mình hầu thực hiện sứ mệnh của nó,

117. The created thoughtform is like the “jiva” sent forth from the Monad on a “mission” into the lower worlds.

117. Hình tư tưởng được tạo ra giống như “jiva” được phóng ra từ chân thần trong một “sứ mệnh” đi vào các cõi thấp.

whatever that may be, to make it occultly “radiant” so that its vibrations will emanate, and make themselves felt, and finally to make it magnetic, so that something [Page 974] in the thought form will call forth response from other thought forms or from the minds it may contact.

dù sứ mệnh ấy là gì đi nữa, để làm cho nó một cách huyền bí trở nên “rạng chiếu” hầu các rung động của nó sẽ phát xạ ra, tự làm cho mình được cảm nhận, và sau cùng làm cho nó có từ tính, để một điều gì đó [Page 974] trong hình tư tưởng sẽ gọi ra sự đáp ứng từ những hình tư tưởng khác hay từ những trí tuệ mà nó có thể tiếp xúc.

118. Let us tabulate the tasks of the conscious builder:

118. Chúng ta hãy lập bảng các nhiệm vụ của đấng kiến tạo có ý thức:

a. The conscious builder extends the influence of the energy coming forth from one of the three higher centers and into the thoughtform’

a. Đấng kiến tạo có ý thức mở rộng ảnh hưởng của năng lượng phát ra từ một trong ba trung tâm cao và đi vào hình tư tưởng.

b. The conscious builder makes the thoughtform occultly “radiant” so that it may impact the environment

b. Đấng kiến tạo có ý thức làm cho hình tư tưởng trở nên “rạng chiếu” một cách huyền bí để nó có thể tác động lên môi trường.

c. The conscious builder renders the thoughtform magnetic and hence attractive.

c. Đấng kiến tạo có ý thức làm cho hình tư tưởng có từ tính và do đó có sức hấp dẫn.

d. So we have empowerment, radiance and magnetism.

d. Như vậy chúng ta có sự trao quyền, sự rạng chiếu và từ tính.

119. Note that thoughtforms are magnetic between themselves. A magnetic thoughtform magnetizes and attracts other thoughtforms.

119. Lưu ý rằng các hình tư tưởng có từ tính đối với nhau. Một hình tư tưởng có từ tính sẽ từ hóa và thu hút những hình tư tưởng khác.

When these three objectives have been reached, the life of the form itself is now so strong that it can pursue its own little life cycle and fulfil its work,

Khi ba mục tiêu này đã đạt được, sự sống của chính hình thể lúc này mạnh đến nỗi nó có thể theo đuổi chu kỳ sống nhỏ bé của riêng nó và hoàn thành công việc của nó,

120. Just as can a human child who has been born…

120. Cũng như một đứa trẻ con người đã được sinh ra có thể làm như vậy…

121. Though the human child does seem to need much more tending than a thoughtform recently released from its originator.

121. Mặc dù đứa trẻ con người dường như cần được chăm nom nhiều hơn một hình tư tưởng vừa mới được giải phóng khỏi đấng khởi tạo của nó.

122. Perhaps, the released thoughtform also needs a degree of tending or supervision after is separation from its creator, its release.

122. Có lẽ hình tư tưởng được giải phóng cũng cần một mức độ chăm nom hay giám sát nào đó sau khi tách khỏi đấng sáng tạo của nó, sau khi được phóng thích.

being only linked to its creator by a tiny thread of radiant substance, which is a correspondence to the sutratma.

chỉ còn được nối với đấng sáng tạo của nó bằng một sợi chỉ nhỏ bé của chất liệu rạng chiếu, vốn là một tương ứng với sutratma.

123. Let us observe closely. Is this thread ever snapped? Ideas live on well after their originator has departed incarnation. Are such ideas still linked to the originator?

123. Chúng ta hãy quan sát kỹ. Sợi dây này có bao giờ bị cắt đứt không? Các ý tưởng vẫn sống rất lâu sau khi đấng khởi tạo của chúng đã rời khỏi lâm phàm. Những ý tưởng như thế có vẫn còn được nối với đấng khởi tạo không?

All forms have such a sutratma.

Mọi hình thể đều có một sutratma như vậy.

124. Sustaining life must flow.

124. Sự sống duy trì phải tuôn chảy.

It links a man’s bodies to the inner Identity,

Nó nối các thể của con người với Bản Sắc bên trong,

125. In this instance, that “inner identity”, as far as man is concerned, is his Monad.

125. Trong trường hợp này, “bản sắc bên trong” ấy, xét theo con người, là chân thần của y.

or to that magnetic current which, emanating from the true Identity, the solar Logos, connects the Creator of the solar system with His great thought form by a stream of energy from the central Spiritual Sun to a point in the centre of the physical Sun.

hay với dòng điện từ tính ấy, phát ra từ Bản Sắc chân thực, Thái dương Thượng đế, nối Đấng Sáng Tạo của hệ mặt trời với hình tư tưởng vĩ đại của Ngài bằng một dòng năng lượng từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương đến một điểm ở trung tâm của mặt trời vật lý.

126. More occult hints of real magnitude. The sutratma comes from the monadic nature of any Entity.

126. Những gợi ý huyền bí học khác có tầm vóc thực sự lớn lao. Sutratma phát xuất từ bản chất chân thần của bất kỳ Thực Thể nào.

127. We, as human beings, are thoughtforms of the Solar Logos.

127. Chúng ta, với tư cách những con người, là những hình tư tưởng của Thái dương Thượng đế.

128. The Central Spiritual Sun is the monadic nature of the Solar Logos.

128. Mặt trời Tinh thần Trung Ương là bản chất chân thần của Thái dương Thượng đế.

129. We note that the Monad of the Solar Logos is connected to His physical nature (the Sun and its system of planets) via a sutratma. We also note that the point of connection is the center of the physical Sun. This tells us much about how the human Monad is connected to the human physical body.

129. Chúng ta lưu ý rằng chân thần của Thái dương Thượng đế được nối với bản chất hồng trần của Ngài (Mặt Trời và hệ hành tinh của nó) qua một sutratma. Chúng ta cũng lưu ý rằng điểm nối kết là trung tâm của mặt trời vật lý. Điều này cho chúng ta biết nhiều về cách chân thần con người được nối với thể xác con người.

As long as the attention of the creator of any thought form, great or small, is turned towards it, that magnetic link persists, the thought form is vitalised, and its work carried on.

Chừng nào sự chú ý của đấng sáng tạo của bất kỳ hình tư tưởng nào, lớn hay nhỏ, còn hướng về nó, thì liên kết từ tính ấy vẫn tồn tại, hình tư tưởng được tiếp sinh lực, và công việc của nó được tiếp tục.

130. Practical experience has shown us that this is true. When we take our eye off the progressive development of our thoughtforms, those thoughtforms fall apart. A supervisor must supervise.

130. Kinh nghiệm thực tiễn đã cho chúng ta thấy điều này là đúng. Khi chúng ta rời mắt khỏi sự phát triển tiến bộ của các hình tư tưởng của mình, những hình tư tưởng ấy tan rã. Một người giám sát phải giám sát.

131. We gather then, that even in the release of the thoughtform, the magnetic link is preserved.

131. Vậy thì chúng ta hiểu rằng ngay cả khi hình tư tưởng được phóng thích, liên kết từ tính vẫn được bảo tồn.

When the work has been accomplished, and the thought-form has served its purpose, every creator, consciously or unconsciously, turns his attention elsewhere, and his thought form disintegrates.

Khi công việc đã hoàn tất, và hình tư tưởng đã phụng sự mục đích của nó, mọi đấng sáng tạo, dù có ý thức hay vô thức, đều chuyển sự chú ý của mình sang nơi khác, và hình tư tưởng của mình tan rã.

132. This is the point…the dissolving the magnetic link occurs with the removal of attention. This is why every creator must keep his eye on that which he has created.

132. Đây là điểm then chốt… sự tan biến của liên kết từ tính xảy ra cùng với việc rút sự chú ý đi. Đây là lý do vì sao mọi đấng sáng tạo phải giữ mắt của mình trên điều mà mình đã tạo ra.

133. We see that attention is the great life-giving power.

133. Chúng ta thấy rằng sự chú ý là quyền năng ban sự sống vĩ đại.

134. Of course the human creator can, at a certain point, release the thoughtform from his attention, because it is otherwise vitalized—i.e., by the attention of those whom the thoughtform serves. What keeps great works of art alive long after the creator has departed this plane? Is it not the life energy of those who support the thoughtform and wish for it to remain ‘alive’? It would seem so.

134. Dĩ nhiên, đấng sáng tạo con người có thể, ở một điểm nào đó, giải phóng hình tư tưởng khỏi sự chú ý của mình, vì nó được tiếp sinh lực theo cách khác—nghĩa là bởi sự chú ý của những người mà hình tư tưởng ấy phụng sự. Điều gì giữ cho những tác phẩm nghệ thuật vĩ đại sống động rất lâu sau khi đấng sáng tạo đã rời cõi này? Chẳng phải đó là năng lượng sự sống của những người nâng đỡ hình tư tưởng và mong nó vẫn “sống” hay sao? Có vẻ là như vậy.

Hence the occult significance of all the processes occultly involved in sight, can be seen.

Do đó, có thể thấy được ý nghĩa huyền bí học của mọi tiến trình liên quan một cách huyền bí đến thị giác.

135. The eye is a life-giving organ.

135. Con mắt là một cơ quan ban sự sống.

As long as the eye of the Creator is upon that which is created, just so long does it persist;

Chừng nào mắt của Đấng Sáng Tạo còn đặt trên điều được tạo ra, chừng đó nó còn tồn tại;

136. Yes, unless and until the sustaining of the form is taken over by others.

136. Đúng vậy, trừ phi và cho đến khi việc duy trì hình thể được người khác tiếp nhận.

137. We begin to think that the physical death by natural causes of man upon the physical plane comes when the Ego averts its eye from its physical expression. The same is to be inferred by so-called death upon the astral plane and upon the lower mental plane.

137. Chúng ta bắt đầu nghĩ rằng cái chết hồng trần do nguyên nhân tự nhiên của con người trên cõi hồng trần xảy ra khi chân ngã quay mắt khỏi biểu hiện hồng trần của nó. Điều tương tự cũng được suy ra đối với cái gọi là cái chết trên cõi cảm dục và trên cõi hạ trí.

let the Creator withdraw “the light of his countenance”

hãy để Đấng Sáng Tạo rút lại “ánh sáng của dung nhan mình”

138. It is, then, a life-giving light.

138. Vậy thì đó là một ánh sáng ban sự sống.

and the death of the thought form ensues, for vitality or energy follows the line of the eye.

và cái chết của hình tư tưởng sẽ tiếp theo, vì sinh lực hay năng lượng đi theo đường của con mắt.

139. In general we find this to be the case. DK is offering is sound advice for all creators, especially during the period that they are the major supporting influence for the created form.

139. Nói chung, chúng ta thấy đây là trường hợp như vậy. Chân sư DK đang đưa ra lời khuyên xác đáng cho mọi đấng sáng tạo, đặc biệt trong giai đoạn họ là ảnh hưởng nâng đỡ chủ yếu cho hình thể được tạo ra.

140. There would seem to occur, however, a transfer of responsibility for sustenance. For instance, Beethoven’s Fifth Symphony is vitally alive in the consciousness of humanity, yet it is not Beethoven who is presently keeping it alive!

140. Tuy nhiên, dường như có xảy ra một sự chuyển dịch trách nhiệm duy trì. Chẳng hạn, Bản Giao Hưởng số Năm của Beethoven vẫn sống động mạnh mẽ trong tâm thức nhân loại, nhưng hiện nay không phải Beethoven đang giữ cho nó sống!

141. We often say that “energy follows thought”. We should also say that ‘life-giving energy follows the focus of the eye’.

141. Chúng ta thường nói rằng “năng lượng đi theo tư tưởng”. Chúng ta cũng nên nói rằng “năng lượng ban sự sống đi theo tiêu điểm của con mắt”.

When, therefore, a man, in meditation, considers his work and builds his thought form for service, he is occultly looking, and consequently energising; he begins to use the third eye in its secondary aspect.

Vì vậy, khi một người, trong tham thiền, suy xét công việc của mình và xây dựng hình tư tưởng của mình để phụng sự, y đang nhìn một cách huyền bí, và do đó tiếp sinh lực; y bắt đầu sử dụng con mắt thứ ba trong phương diện thứ yếu của nó.

142. A primary function of the eye is imaginative formation—the third eye searches the world of the Ego and faithfully registers the pattern of egoic intent.

142. Một chức năng chính yếu của con mắt là sự hình thành bằng tưởng tượng—con mắt thứ ba dò tìm thế giới của chân ngã và trung thành ghi nhận mô hình của ý định chân ngã.

143. The secondary function of the third eye is to occultly energize thoughtforms in process of creation.

143. Chức năng thứ yếu của con mắt thứ ba là tiếp sinh lực một cách huyền bí cho các hình tư tưởng trong tiến trình được tạo ra.

144. Can we see, by implication, why it is so important for people to be seen for who they are? Can we see that seeing another person in his or her soul identity keeps that person ‘alive’? Discerning vision vitalizes the soul expression of the one who is seen—spiritually.

144. Qua hàm ý, chúng ta có thể thấy vì sao điều quan trọng đến thế là con người phải được nhìn thấy đúng như họ là ai không? Chúng ta có thể thấy rằng việc nhìn thấy một người khác trong bản sắc linh hồn của người ấy giữ cho người ấy “sống” không? Linh thị phân biện tiếp sinh lực cho biểu hiện linh hồn của người được nhìn thấy—về mặt tinh thần.

S8S4 Part V

TCF 974 – 977

TCF 974 – 977

28 November – 13 December 2008

28 tháng Mười Một – 13 tháng Mười Hai 2008

The third or spiritual eye has several functions.

Con mắt thứ ba hay con mắt tinh thần có một số chức năng.

1. We will want to note these carefully.

1. Chúng ta sẽ muốn lưu ý kỹ những điều này.

2. We have a wonderful compilation on “Eye”. It has some 280 pages. Go to the AWC Group and reference it. In it, of course, are a great many reference to the third eye.

2. Chúng ta có một bản tổng hợp tuyệt vời về “Con Mắt”. Nó dài khoảng 280 trang. Hãy đến Nhóm AWC và tham chiếu nó. Trong đó, dĩ nhiên, có rất nhiều tham chiếu đến con mắt thứ ba.

Amongst others,

Trong số những chức năng khác,

3. Other functions will be discussed.

3. Những chức năng khác sẽ được bàn đến.

it is the organ of illumination, the unveiled eye of the soul, through which light and illumination comes into the mind, and thus the entire lower life becomes irradiated.

nó là cơ quan của sự soi sáng, con mắt không che phủ của linh hồn, qua đó ánh sáng và sự soi sáng đi vào trí tuệ, và như thế toàn bộ đời sống thấp kém được chiếu rạng.

4. If the third eye is the organ of illumination and the third initiation is called by many the “Enlightenment” or the “Illumination”, we can infer the role of the third initiation in this initiation.

4. Nếu con mắt thứ ba là cơ quan của sự soi sáng và lần điểm đạo thứ ba được nhiều người gọi là “Giác Ngộ” hay “Soi Sáng”, chúng ta có thể suy ra vai trò của lần điểm đạo thứ ba trong cuộc điểm đạo này.

5. The soul-in-incarnation sees, usually, through veiled eyes. Sight through the functioning third initiation is unveiled. Even on the Path of Discipleship, however, that third eye is relatively veiled.

5. Linh hồn đang nhập thể thường nhìn qua những đôi mắt có màn che. Thị giác qua lần điểm đạo thứ ba đang hoạt độngkhông che phủ. Tuy nhiên, ngay cả trên Con Đường Đệ Tử, con mắt thứ ba ấy vẫn còn tương đối bị che phủ.

6. If we consider the third eye to be an etheric evocation arising from the interplay between the crown center, the ajna center and the alta major center, then the mind into which illumination comes is the mind as it expresses in the brain consciousness of the personality.

6. Nếu chúng ta xem con mắt thứ ba là một sự gợi lên dĩ thái phát sinh từ sự tương tác giữa trung tâm đỉnh đầu, trung tâm ajna và trung tâm alta major, thì trí tuệ mà vào đó sự soi sáng đi đến là trí tuệ khi nó biểu hiện trong tâm thức não bộ của phàm ngã.

It is also the organ through which pours the directing energy [Page 975] which streams out from the conscious creating adept to the instruments of service, his thought-forms.

Nó cũng là cơ quan qua đó năng lượng chỉ đạo tuôn đổ [Page 975] phát ra từ chân sư sáng tạo có ý thức đến các công cụ phụng sự, tức các hình tư tưởng của Ngài.

7. We see and understand that the adept serves largely through thoughtform building.

7. Chúng ta thấy và hiểu rằng chân sư phụng sự phần lớn thông qua việc xây dựng hình tư tưởng.

8. As the “organ of illumination” the third eye serves largely a second ray function. As the organ through which directing energy pours, it exhibits a first ray function.

8. Là “cơ quan của sự soi sáng”, con mắt thứ ba phần lớn phụng sự một chức năng cung hai. Là cơ quan qua đó năng lượng chỉ đạo tuôn đổ, nó biểu lộ một chức năng cung một.

9. We understand the association of the number five with creativity (and the creative sign Leo). The Adept of the fifth initiation is, above all, a creative being.

9. Chúng ta hiểu sự liên hệ của con số năm với tính sáng tạo (và dấu hiệu sáng tạo Sư Tử). Chân sư của lần điểm đạo thứ năm, trên hết, là một hữu thể sáng tạo.

10. We also understand that the adept (an initiate of the fifth degree) is possessed of a third eye even though His personality apparatus is, in most cases, no longer a vehicle produced by ordinary generative means but by the power of Kriyashakti. This means that within the mayavirupa, the spiritual organ called the “third eye” does, indeed, exist.

10. Chúng ta cũng hiểu rằng chân sư (một điểm đạo đồ của cấp thứ năm) sở hữu con mắt thứ ba mặc dù bộ máy phàm ngã của Ngài, trong đa số trường hợp, không còn là một vận cụ được tạo ra bằng những phương tiện sinh sản thông thường mà bằng quyền năng của Kriyashakti. Điều này có nghĩa là trong mayavirupa, cơ quan tinh thần được gọi là “con mắt thứ ba” quả thật hiện hữu.

The little evolved do not, of course, employ the third eye for the stimulating of their thought forms.

Những người ít tiến hoá dĩ nhiên không sử dụng con mắt thứ ba để kích thích các hình tư tưởng của họ.

11. The power of the third eye is not available to the little evolved.

11. Quyền năng của con mắt thứ ba không sẵn có cho những người ít tiến hoád.

12. We remember that the insight of the soul is revealed through the third eye and thus, thoughtforms stimulated by the third eye will be built in accordance with those perceived soul patterns.

12. Chúng ta nhớ rằng linh thị của linh hồn được biểu lộ qua con mắt thứ ba và như thế, những hình tư tưởng được kích thích bởi con mắt thứ ba sẽ được xây dựng phù hợp với những mô hình linh hồn được tri nhận ấy.

13. It is obvious that disciples such as we are, are increasingly to use the third eye for the stimulating of thoughtforms. This means, of course, that we have to evoke the potency of this “eye” in our lives.

13. Rõ ràng là những đệ tử như chúng ta ngày càng phải sử dụng con mắt thứ ba để kích thích các hình tư tưởng. Điều này dĩ nhiên có nghĩa là chúng ta phải gợi lên tiềm lực của “con mắt” này trong đời sống của mình.

14. The work of Taurus suggests how we are to do this. The ‘Bull of Instinct’ must become the “Bull of Illumination”.

14. Công việc của Kim Ngưu gợi ý cách chúng ta phải làm điều này. “Con Bò của Bản Năng” phải trở thành “Con Bò của Sự Soi Sáng”.

15. There will be no use of a functional third eye until we change our desires and our values, and thus redirect occult energies to the head where the third eye resides.

15. Sẽ không có việc sử dụng một con mắt thứ ba đang hoạt động nào cho đến khi chúng ta thay đổi các ham muốn và các giá trị của mình, và nhờ đó tái định hướng các năng lượng huyền bí học lên đầu, nơi con mắt thứ ba cư ngụ.

The energy used by them in the majority of cases originates in the solar plexus, and works in two directions, either via the organs of generation, or through the physical eyes.

Năng lượng được họ sử dụng trong đa số trường hợp phát sinh từ tùng thái dương, và hoạt động theo hai hướng, hoặc qua các cơ quan sinh sản, hoặc qua đôi mắt hồng trần.

16. Do we realize the profound occultism which is being taught here?

16. Chúng ta có nhận ra tính huyền bí học sâu xa đang được giảng dạy ở đây không?

17. DK is telling us that the majority of human beings energize thoughtforms with energy arising in the solar plexus.

17. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng đa số con người tiếp sinh lực cho các hình tư tưởng bằng năng lượng phát sinh trong tùng thái dương.

18. Apparently many thoughtforms deal with the sexual life of humanity and are expressed, eventually, in relation to or through the organs of generation.

18. Rõ ràng nhiều hình tư tưởng đề cập đến đời sống tính dục của nhân loại và cuối cùng được biểu lộ trong liên hệ với hay qua các cơ quan sinh sản.

19. Some occult functions of the physical eyes are suggested. Many thoughtforms relate directly to what is “seen” and to that which, being seen, is desired.

19. Một số chức năng huyền bí học của đôi mắt hồng trần được gợi ý. Nhiều hình tư tưởng liên hệ trực tiếp đến điều được “nhìn thấy” và đến điều mà, vì được nhìn thấy, nên được ham muốn.

20. We note that the physical eyes (two organs, which together, symbolize dualistic perception) are the eyes in use and not the unitive third eye.

20. Chúng ta lưu ý rằng đôi mắt hồng trần (hai cơ quan, cùng nhau tượng trưng cho tri giác nhị nguyên) là những con mắt đang được sử dụng chứ không phải con mắt thứ ba hợp nhất.

In many people these three points—the lower organs, the solar plexus, and the physical eyes—form a triangle of force,

Ở nhiều người ba điểm này—các cơ quan thấp, tùng thái dương, và đôi mắt hồng trần—tạo thành một tam giác lực,

21. This triangle involves the planets Mars, Venus and Mercury in their lower expressions in man.

21. Tam giác này liên quan đến các hành tinh Sao Hỏa, Sao Kim và Sao Thủy trong những biểu hiện thấp của chúng nơi con người.

22. Man desires what he “sees” and seeks to possess it. Possession of those objects to which sexual energy attaches itself, (i.e., “sex-objects”) is part of this process.

22. Con người ham muốn điều y “thấy” và tìm cách chiếm hữu nó. Việc chiếm hữu những đối tượng mà năng lượng tính dục gắn vào, (tức là “đối tượng tính dục”) là một phần của tiến trình này.

23. The whole process is very dualistic: man as an egoistic self (i.e., man identified as a lower ego) desires the ‘other’ and goes forth (Mars) to possess that other. Such as man has no notion, alter revealed by the unitive “Eye”, that he is the other.

23. Toàn bộ tiến trình này rất nhị nguyên: con người như một bản ngã ích kỷ (tức con người được đồng hoá với một phàm ngã) ham muốn “kẻ khác” và tiến ra (Sao Hỏa) để chiếm hữu kẻ khác ấy. Con người như thế không có khái niệm nào, về sau được bộc lộ bởi “Con Mắt” hợp nhất, rằng y chính là kẻ khác ấy.

around which the stream of energy flows before going out to the objectivised thought form.

quanh đó dòng năng lượng chảy trước khi đi ra đến hình tư tưởng đã được khách quan hoá.

24. Thus, we learn that most thoughtforms are servants of egoistically-based desire.

24. Như vậy, chúng ta học được rằng phần lớn các hình tư tưởng là những kẻ phụng sự của ham muốn đặt nền trên tính ích kỷ.

25. From another perspective, “why do most human beings create thoughtforms”? Largely, in order to fulfill their lower desires within the dualistically perceived lower three worlds.

25. Từ một góc nhìn khác, “vì sao đa số con người tạo ra các hình tư tưởng”? Phần lớn là để hoàn thành những ham muốn thấp kém của họ trong ba cõi thấp được tri nhận một cách nhị nguyên.

26. We learn that forces circulates between the sacral center, the solar plexus center and the two eyes before attaching itself to the “objectivized thoughtform”—the thoughtform in process of construction.

26. Chúng ta học được rằng các mãnh lực lưu chuyển giữa trung tâm xương cùng, trung tâm tùng thái dương và đôi mắt trước khi gắn vào “hình tư tưởng đã được khách quan hoá”—hình tư tưởng đang trong tiến trình được xây dựng.

In the aspirant, and the man who is intellectual,

Ở người chí nguyện, và người có trí tuệ,

27. DK seems to distinguish between these two. The aspirant is not necessarily the man who is intellectual. Ray difference may distinguish them—the intellectual found more on the hard line rays (especially three and five) and the aspirant upon rays six, four and two. Nor is one type necessarily higher than the other, though usually the aspirant is seen to be more spiritually receptive and advanced than the man who is merely intellectual.

27. Chân sư DK dường như phân biệt hai hạng người này. Người chí nguyện không nhất thiết là người có trí tuệ. Sự khác biệt về cung có thể phân biệt họ—người trí tuệ thường thấy nhiều hơn trên các cung tuyến cứng (đặc biệt là ba và năm) còn người chí nguyện trên các cung sáu, bốn và hai. Cũng không phải một loại nhất thiết cao hơn loại kia, dù thông thường người chí nguyện được xem là dễ tiếp nhận tinh thần hơn và tiến bộ hơn người chỉ đơn thuần có trí tuệ.

the triangle may be from the solar plexus, to the throat centre and thence to the eyes.

tam giác có thể là từ tùng thái dương đến trung tâm cổ họng rồi từ đó đến đôi mắt.

28. As long as the two physical eyes are involved, dualism has not yet merged with the unitive vision of the third eye.

28. Chừng nào đôi mắt hồng trần còn tham dự, nhị nguyên tính vẫn chưa hòa nhập vào linh thị hợp nhất của con mắt thứ ba.

29. We thus far have two triangles and a third will be discussed.:

29. Cho đến nay chúng ta có hai tam giác và một tam giác thứ ba sẽ được bàn đến.:

a. The generative organs, the solar plexus and the two physical eyes

a. Các cơ quan sinh sản, tùng thái dương và đôi mắt hồng trần

b. The solar plexus center, the throat center and the two physical eyes.

b. Trung tâm tùng thái dương, trung tâm cổ họng và đôi mắt hồng trần.

30. Note that there is a progression here, as energy seems to go from the lower centers towards the higher

30. Lưu ý rằng ở đây có một sự tiến triển, vì năng lượng dường như đi từ các trung tâm thấp lên các trung tâm cao hơn.

31. We note that the in these two triangles, two of the centers are the same, but the throat center has replaced the sacral center. Thus, in the aspirant and intellectual man, a higher creativity is demonstrating instead of ordinary sacral procreativity.

31. Chúng ta lưu ý rằng trong hai tam giác này, hai trung tâm là giống nhau, nhưng trung tâm cổ họng đã thay thế trung tâm xương cùng. Như vậy, nơi người chí nguyện và người trí tuệ, một tính sáng tạo cao hơn đang biểu lộ thay cho khả năng sinh sản xương cùng thông thường.

Later, as the aspirant grows in knowledge and purity of motive,

Về sau, khi người chí nguyện tăng trưởng trong tri thức và sự thanh khiết của động cơ,

32. Thus, becoming, shall we say, a disciple…

32. Như vậy, trở thành, chúng ta hãy nói rằng, một đệ tử…

the triangle of energy will have the heart for its lowest point instead of the solar plexus, and the third eye will begin to do its work, though as yet very imperfectly.

tam giác năng lượng sẽ lấy tim làm điểm thấp nhất thay cho tùng thái dương, và con mắt thứ ba sẽ bắt đầu làm công việc của nó, dù cho đến lúc ấy vẫn còn rất bất toàn.

33. DK is describing the incipient working of the third eye in the life of the disciple.

33. Chân sư DK đang mô tả sự hoạt động chớm nở của con mắt thứ ba trong đời sống của đệ tử.

34. The triangle here involves the throat center again, apparently.

34. Tam giác ở đây dường như lại liên quan đến trung tâm cổ họng.

35. These triangles can be compared with the triangles of chakras active in the case of human beings at different stages of evolution. (TCF 170)

35. Những tam giác này có thể được so sánh với các tam giác luân xa hoạt động trong trường hợp con người ở những giai đoạn tiến hoá khác nhau. (TCF 170)

36. Even at the third initiation it may be that the working of the third eye cannot be considered perfect. We may infer this because the Master, Himself, uses the third eye as a “conscious creating adept”.

36. Ngay cả ở lần điểm đạo thứ ba, có thể sự hoạt động của con mắt thứ ba vẫn chưa thể được xem là hoàn hảo. Chúng ta có thể suy ra điều này vì chính Chân sư sử dụng con mắt thứ ba như một “chân sư sáng tạo có ý thức”.

37. We will want to associate the opening of the third initiation with heart energy, which tends towards unification, just as the third eye tends towards singleness of vision.

37. Chúng ta sẽ muốn liên kết sự khai mở của lần điểm đạo thứ ba với năng lượng tim, vốn có khuynh hướng hướng đến sự hợp nhất, cũng như con mắt thứ ba có khuynh hướng hướng đến tính đơn nhất của linh thị.

Just as long as the “Eye” is directed to the created form, the current of force will be transmitted to it, and the more one-pointed the man may be the more this energy will be centralised and effective.

Chừng nào “Con Mắt” còn hướng vào hình thể được tạo ra, dòng mãnh lực sẽ được truyền đến nó, và con người càng nhất tâm bao nhiêu thì năng lượng này càng được tập trung và hữu hiệu bấy nhiêu.

38. We are speaking of how to maintain the vitality of any created form. An eye must be upon it, or its coherence and vitality will fade and dissipate.

38. Chúng ta đang nói về cách duy trì sinh lực của bất kỳ hình thể được tạo ra nào. Một con mắt phải đặt trên nó, nếu không sự cố kết và sinh lực của nó sẽ phai nhạt và tiêu tan.

39. This makes one wonder who or what is observing the thoughtform called “man”. The answer is, in a way, obvious—“the eye of the soul”.

39. Điều này khiến người ta tự hỏi ai hay điều gì đang quan sát hình tư tưởng gọi là “con người”. Câu trả lời, theo một cách nào đó, là hiển nhiên—“con mắt của linh hồn”.

40. At the same time, from a practical perspective, we are being informed of the technique for keeping our own creations coherent and vital.

40. Đồng thời, từ một góc độ thực tiễn, chúng ta đang được cho biết kỹ thuật để giữ cho các sáng tạo của chính mình được cố kết và đầy sinh lực.

Much of the ineffectiveness of people is due to the fact that their interests are not centralised but very diffuse, and no one thing engrosses their attention.

Phần lớn sự thiếu hiệu quả của con người là do các mối quan tâm của họ không được tập trung mà rất phân tán, và không có một điều gì chiếm trọn sự chú ý của họ.

41. Without one-pointed vision, a would-be creator remains ineffective. Diffuse attention (refusal or incapacity to pay attention) guarantees ineffectiveness—i.e., lack of success of bringing intentions through into manifestation.

41. Không có linh thị nhất tâm, một người muốn trở thành đấng sáng tạo vẫn sẽ không hiệu quả. Sự chú ý phân tán (sự từ chối hay bất lực trong việc chú ý) bảo đảm sự thiếu hiệu quả—tức là thiếu thành công trong việc đưa các ý định đi xuyên suốt vào biểu hiện.

42. We are discussing the relation between correct thoughtform building and effectiveness upon the physical plane.

42. Chúng ta đang bàn về mối liên hệ giữa việc xây dựng hình tư tưởng đúng đắn và tính hiệu quả trên cõi hồng trần.

They scatter their energy and are attempting to satisfy every wandering desire, and to dabble in everything which comes their way.

Họ làm phân tán năng lượng của mình và đang cố thỏa mãn mọi ham muốn lang thang, và nhúng tay hời hợt vào mọi thứ đến với họ.

43. The point is clear: dabblers cannot help but be ineffective!

43. Điểm này rất rõ: những kẻ nhúng tay hời hợt không thể nào không thiếu hiệu quả!

44. This thought should incline us to strengthen our point of tension.

44. Tư tưởng này nên khiến chúng ta nghiêng về việc tăng cường điểm tập trung nhất tâm của mình.

45. It is as if we are told of how the early expression of Gemini must be transformed into the one-pointedness of Sagittarius if effectiveness is to be achieved.

45. Dường như chúng ta đang được cho biết cách biểu hiện ban đầu của Song Tử phải được chuyển đổi thành tính nhất tâm của Nhân Mã nếu muốn đạt được hiệu quả.

46. Obviously discrimination is needed—the ability to choose where attention will be ‘paid’. This requires the work of Saturn and Libra.

46. Hiển nhiên là cần có sự phân biện—khả năng chọn nơi mà sự chú ý sẽ được “trao vào”. Điều này đòi hỏi công việc của Sao Thổ và Thiên Bình.

Therefore, no thought they think ever assumes a proper form, or is ever duly energised.

Do đó, không một tư tưởng nào họ nghĩ bao giờ mang lấy một hình thể thích đáng, hay bao giờ được tiếp sinh lực đúng mức.

47. We are discussing the haphazard creation of weak, inchoate thoughtforms. We are speaking of those who have not yet learned to be true creators.

47. Chúng ta đang bàn về sự tạo tác ngẫu nhiên những hình tư tưởng yếu ớt, chưa thành hình. Chúng ta đang nói về những người chưa học được cách trở thành những đấng sáng tạo chân chính.

They are consequently surrounded by a dense cloud of half-formed disintegrating thought forms and clouds of partially energised matter in process of dissolution.

Do đó, họ bị bao quanh bởi một đám mây dày đặc gồm những hình tư tưởng đang tan rã, mới chỉ thành hình một nửa, và những đám mây vật chất được tiếp sinh lực một phần đang trong tiến trình tan biến.

48. The image presented is one of a noxious atmosphere in which clear sight and even the ability to ‘breathe’ is compromised.

48. Hình ảnh được trình bày là một bầu khí quyển độc hại, trong đó linh thị rõ ràng và ngay cả khả năng “hít thở” cũng bị tổn hại.

49. Obviously, this is not how we wish for our mental body to appear!

49. Hiển nhiên, đây không phải là cách chúng ta mong muốn thể trí của mình xuất hiện!

50. Have we ever felt such a surrounding cloud—within ourselves? In a gathering of people?

50. Chúng ta đã bao giờ cảm thấy một đám mây bao quanh như thế—ở bên trong chính mình chưa? Trong một cuộc tụ họp đông người chăng?

This produces occultly a condition similar to the decay of a physical form, and is equally unpleasant and unwholesome. It accounts for much of the diseased condition of the human family at this time.

Điều này, về mặt huyền bí, tạo ra một tình trạng tương tự như sự phân rã của một hình tướng hồng trần, và cũng khó chịu và không lành mạnh như vậy. Nó giải thích phần lớn tình trạng bệnh hoạn của gia đình nhân loại vào lúc này.

51. What an amazing thought! Our inability to create (accompanied by the unconscious tendency constantly to create) produces a poisonous, decaying atmosphere which affects the health of our physical vehicle and probably the health of our emotional and mental vehicles as well.

51. Thật là một ý nghĩ đáng kinh ngạc! Sự bất lực của chúng ta trong việc sáng tạo (đi kèm với khuynh hướng vô thức là liên tục sáng tạo) tạo ra một bầu khí quyển độc hại, đang phân rã, ảnh hưởng đến sức khỏe của hiện thể hồng trần của chúng ta và có lẽ cả sức khỏe của các hiện thể cảm xúc và trí tuệ nữa.

52. Because we are not really conscious on the mental and astral planes (at least not conscious of many conditions existing there) the unwholesome condition of which Master DK speaks is not a ‘reality’ to us and we do not think of its presence as especially dire. The occult perspective, however, reveals how serious the situation really is.

52. Bởi vì chúng ta không thật sự hữu thức trên các cõi trí và cảm dục (ít nhất là không hữu thức về nhiều điều kiện đang hiện hữu ở đó), nên tình trạng không lành mạnh mà Chân sư DK nói đến không phải là một “thực tại” đối với chúng ta, và chúng ta không xem sự hiện diện của nó là đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, quan điểm huyền bí cho thấy tình hình thật sự nghiêm trọng đến mức nào.

53. Obviously, our entire planet is presently surrounded by such an unwholesome atmosphere.

53. Hiển nhiên, toàn bộ hành tinh của chúng ta hiện nay đang bị bao quanh bởi một bầu khí quyển không lành mạnh như thế.

Failure in thought creation is due also to the fact that [Page 976] the laws of thought are not taught,

Sự thất bại trong việc sáng tạo tư tưởng cũng là do sự kiện rằng [Page 976] các quy luật của tư tưởng không được giảng dạy,

54. Scattered throughout Master DK’s books we can find statements and hints regarding these laws. Work with the Fifteen Rules of White Magic reveals some of the laws of thought as does the list of Fifteen Injunctions found in A Treatise on White Magic. The Yoga Sutras bear heavily on the question of the correct creation of thought. The study of illusion in Glamour: A World Problem touches directly on the matter.

54. Rải rác trong các sách của Chân sư DK, chúng ta có thể tìm thấy những phát biểu và gợi ý liên quan đến các quy luật này. Việc làm việc với Mười Lăm Quy Luật của Chánh Thuật cho thấy một số quy luật của tư tưởng, cũng như danh sách Mười Lăm Huấn Thị được tìm thấy trong Luận về Chánh Thuật. Kinh Yoga Sutras liên hệ rất nhiều đến vấn đề sáng tạo tư tưởng đúng đắn. Việc nghiên cứu ảo tưởng trong Glamour: A World Problem cũng trực tiếp chạm đến vấn đề này.

55. What do you think to be some of the laws of thought? Certainly the very first occult Point of Revelations from the “Five Points of Revelation”—“Energy follows thought and the eye directs that energy” is one of the very first laws of thought.

55. bạn nghĩ một số quy luật của tư tưởng là gì? Chắc chắn, chính Điểm Mặc Khải huyền bí đầu tiên trong “Năm Điểm Mặc Khải”—“Năng lượng đi theo tư tưởng và con mắt điều hướng năng lượng ấy”—là một trong những quy luật đầu tiên của tư tưởng.

and men do not know how, through meditation, to create those children of their activity to carry on their work.

và con người không biết cách, qua tham thiền, tạo ra những đứa con của hoạt động mình để tiếp tục công việc của mình.

56. In other words, men do not understand and cannot practice occult meditation.

56. Nói cách khác, con người không hiểu và không thể thực hành tham thiền huyền bí.

57. The “children of one’s mind” are meant to serve one’s intentions. Our thoughtforms are intended to be our servants.

57. “Những đứa con của trí óc một người” được dự định để phục vụ các ý định của người ấy. Các hình tư tưởng của chúng ta được dự định là những kẻ phụng sự của chúng ta.

58. One remembers the regulatory power of the star Regulus, so closely associated with the creative activity of Leo. That activity must be submitted for first ray/seventh ray restraints.

58. Người ta nhớ đến quyền năng điều tiết của ngôi sao Regulus, vốn gắn bó chặt chẽ với hoạt động sáng tạo của Sư Tử. Hoạt động ấy phải được đặt dưới những sự kiềm chế của cung một/cung bảy.

59. The hint: one never acts alone. One is intended to scientifically create an army of thoughtforms to carry forth one’s work.

59. Gợi ý là: không ai hành động một mình. Người ta được dự định là phải sáng tạo một cách khoa học cả một đạo quân hình tư tưởng để mang công việc của mình tiến lên.

Results on the physical plane are much more quickly achieved through scientific thought creation than through the directly physical plane means.

Các kết quả trên cõi hồng trần đạt được nhanh hơn nhiều qua sự sáng tạo tư tưởng có tính khoa học so với bằng những phương tiện trực tiếp của cõi hồng trần.

60. Perhaps we find this to be a surprising statement. If we accept it, we will hasten to purify and control our thoughtform-making apparatus.

60. Có lẽ chúng ta thấy đây là một phát biểu đáng ngạc nhiên. Nếu chấp nhận điều đó, chúng ta sẽ mau chóng thanh lọc và kiểm soát bộ máy tạo hình tư tưởng của mình.

10. For thee, the aspirant on the way of life, the way of conscious building is not yet the goal. The work of cleaning out the atmosphere of thought, of barring fast the doors of thought to hate and pain, to fear, and jealousy and low desire, must first precede the conscious work of building. See to thy aura, oh traveler on the way.

10. Đối với ngươi, người chí nguyện trên đường đời, con đường kiến tạo có ý thức chưa phải là mục tiêu. Công việc quét sạch bầu khí quyển của tư tưởng, đóng chặt các cánh cửa của tư tưởng trước hận thù và đau khổ, trước sợ hãi, ghen tị và dục vọng thấp hèn, trước hết phải đi trước công việc kiến tạo có ý thức. Hãy chăm lo hào quang của ngươi, hỡi lữ khách trên đường.

11. Watch close the gates of thought. Sentinel desire. Cast out all fear, all hate, all greed. Look out and up. (TWM 473-474)

11. Hãy canh giữ chặt các cổng của tư tưởng. Hãy canh chừng dục vọng. Hãy tống khứ mọi sợ hãi, mọi hận thù, mọi tham lam. Hãy nhìn ra ngoài và nhìn lên trên. (TWM 473-474)

61. We are still a long way from the scientific creation of effective thoughtforms in line with the Divine Plan.

61. Chúng ta vẫn còn cách rất xa việc sáng tạo một cách khoa học những hình tư tưởng hữu hiệu phù hợp với Thiên Cơ.

62. Perhaps another two or three hundred years of close training and supervision may see us in a position to be trusted.

62. Có lẽ phải cần thêm hai hoặc ba trăm năm huấn luyện và giám sát chặt chẽ nữa thì chúng ta mới ở vào vị thế có thể được tín nhiệm.

This is becoming more realised, but until the race has reached a point of greater purity and unselfishness, the more detailed explanation of the process must necessarily be withheld.

Điều này đang ngày càng được chứng nghiệm nhiều hơn, nhưng cho đến khi nhân loại đạt đến một điểm thanh khiết và vô ngã lớn hơn, thì sự giải thích chi tiết hơn về tiến trình này nhất thiết phải bị giữ lại.

63. One studies A Treatise on White Magic only to realize that the most practical instructions on the magical process have been withheld. It is obvious from DK’s statements here why this is the case.

63. Người ta nghiên cứu Luận về Chánh Thuật chỉ để nhận ra rằng những chỉ dẫn thực tiễn nhất về tiến trình huyền thuật đã bị giữ lại. Từ những phát biểu của DK ở đây, hiển nhiên là vì sao lại như vậy.

64. “A little knowledge is a dangerous thing” and this applies to premature knowledge as well. It is surprising but true that the Masters labor to withhold from man premature knowledge of the Plan. If too much is discovered too quickly, the plans leading towards the manifestation of the Plan could be ruined.

64. “Một ít tri thức là điều nguy hiểm” và điều này cũng áp dụng cho tri thức quá sớm. Thật đáng ngạc nhiên nhưng đúng là các Chân sư nỗ lực giữ không cho con người có được tri thức quá sớm về Thiên Cơ. Nếu quá nhiều điều được khám phá quá nhanh, thì những kế hoạch dẫn đến sự biểu hiện của Thiên Cơ có thể bị phá hỏng.

Another reason for creative ineffectiveness is owing to the currents which emanate from the majority of people being of such a low order that the thought forms never reach the point of independent action, except through cumulative group work.

Một lý do khác của sự bất hiệu quả trong sáng tạo là do các dòng năng lượng phát ra từ đa số con người thuộc một trật tự quá thấp đến nỗi các hình tư tưởng không bao giờ đạt đến điểm hành động độc lập, ngoại trừ qua công việc nhóm tích lũy.

65. We are being given reasons for “creative ineffectiveness” and this is an interesting one.

65. Chúng ta đang được trao cho những lý do của “sự bất hiệu quả trong sáng tạo” và đây là một lý do thú vị.

66. Apparently energy currents animating thoughtforms must be of a relatively high order if thoughtforms capable of real independence are to be generated.

66. Rõ ràng, các dòng năng lượng làm sinh động các hình tư tưởng phải thuộc một trật tự tương đối cao nếu muốn tạo ra những hình tư tưởng có khả năng độc lập thật sự.

67. It is arresting to realize, however, that a group in which the majority of members are relatively low grade creators can, nevertheless, together create thoughtforms which are capable of independent action. This points to a certain danger. We come to understand something of the menace of mob or mass psychology and the relative effectiveness of public opinion even of a low order (as was seen in Nazi Germany and more recently in countries under the grip of religious fanaticism).

67. Tuy nhiên, thật đáng chú ý khi nhận ra rằng một nhóm mà trong đó đa số thành viên là những người sáng tạo ở cấp tương đối thấp vẫn có thể, dẫu vậy, cùng nhau tạo ra những hình tư tưởng có khả năng hành động độc lập. Điều này chỉ ra một mối nguy nhất định. Chúng ta bắt đầu hiểu phần nào mối đe dọa của tâm lý đám đông hay tâm lý quần chúng và hiệu quả tương đối của dư luận công cộng ngay cả ở cấp thấp (như đã thấy ở nước Đức Quốc Xã và gần đây hơn ở các quốc gia nằm dưới sự kềm tỏa của cuồng tín tôn giáo).

Until matter of the three higher subplanes of the astral and physical planes finds its place in the thought form, it has to be energised principally by mob energy.

Cho đến khi vật chất của ba cõi phụ cao hơn của cõi cảm dục và cõi hồng trần tìm được chỗ của nó trong hình tư tưởng, thì nó phải được tiếp sinh lực chủ yếu bởi năng lượng đám đông.

68. Yes, here is Master DK giving us a strong hint in His use of the word “mob”—a powerful and suggestive word. We understand now, from the occult perspective, the reason by demagogues can be so effective and so dangerous. They can shape the thought of the mob and use its energy to render their own thoughts effective on a mass scale.

68. Đúng vậy, ở đây Chân sư DK đang cho chúng ta một gợi ý mạnh mẽ qua việc Ngài dùng từ “đám đông”—một từ đầy sức mạnh và gợi mở. Giờ đây, từ quan điểm huyền bí, chúng ta hiểu lý do vì sao những kẻ mị dân có thể hữu hiệu đến thế và cũng nguy hiểm đến thế. Họ có thể định hình tư tưởng của đám đông và dùng năng lượng của nó để làm cho những tư tưởng riêng của họ trở nên hữu hiệu trên quy mô quần chúng.

69. We are learning that an individual can create independent thoughtforms if that individual can work on the higher etheric and astral subplanes.

69. Chúng ta đang học rằng một cá nhân có thể tạo ra những hình tư tưởng độc lập nếu cá nhân ấy có thể hoạt động trên các cõi phụ cao hơn của dĩ thái và cảm dục.

70. We must note, when considering the potencies to be found on these levels (etheric and astral), that the senses of smell, taste and sight are necessarily involved etherically, and the siddhis called emotional idealism, imagination and clairvoyance are involved astrally.

70. Khi xem xét các tiềm lực có thể tìm thấy trên những cấp độ này (dĩ thái và cảm dục), chúng ta phải lưu ý rằng các giác quan ngửi, nếm và thấy tất yếu có liên quan về mặt dĩ thái, còn các siddhi được gọi là chủ nghĩa duy tâm cảm xúc, sự tưởng tượng và thông nhãn thì có liên quan về mặt cảm dục.

71. What is really interesting, from the etheric perspective, is that that the capacity of the individual creator to use the fourth ether is insufficient to vitalize thoughtforms to the point of independence.

71. Điều thật sự thú vị, từ quan điểm dĩ thái, là năng lực của cá nhân sáng tạo trong việc sử dụng dĩ thái thứ tư là không đủ để tiếp sinh lực cho các hình tư tưởng đến mức độc lập.

When the higher substance begins to find its way into the form, then it can be seen acting independently, for the individual Ego of the man concerned can begin to work through the matter—a thing before impossible.

Khi chất liệu cao hơn bắt đầu tìm được đường đi vào hình tướng, thì khi ấy nó có thể được thấy đang hành động độc lập, vì chân ngã cá nhân của người liên hệ có thể bắt đầu hoạt động xuyên qua chất liệu ấy—một điều trước đó là không thể.

72. We are being told that the individual Ego can only work through thoughtforms which have matter of the three higher subplanes.

72. Chúng ta đang được cho biết rằng chân ngã cá nhân chỉ có thể hoạt động xuyên qua những hình tư tưởng có vật chất của ba cõi phụ cao hơn.

73. We are being told that unless the Ego can work through the thoughtforms of the individual creator, those thoughtforms cannot achieve independent action.

73. Chúng ta đang được cho biết rằng trừ phi chân ngã có thể hoạt động xuyên qua các hình tư tưởng của cá nhân sáng tạo, thì những hình tư tưởng ấy không thể đạt được hành động độc lập.

74. This stands to reason, as the individual Ego is found on the third and second subplanes, and, some say, the first subplane of the mental plane as well.

74. Điều này là hợp lý, vì chân ngã cá nhân được tìm thấy trên cõi phụ thứ ba và thứ hai, và theo một số người, cả cõi phụ thứ nhất của cõi trí nữa.

75. The higher three subplanes of the etheric and astral planes correspond to the higher three subplanes of the mental plane (the subplanes from which soul energy emanates), and thus the resonance and the ability of the Ego to be influential on these subplanes.

75. Ba cõi phụ cao hơn của cõi dĩ thái và cõi cảm dục tương ứng với ba cõi phụ cao hơn của cõi trí (những cõi phụ mà từ đó năng lượng linh hồn phát ra), và do đó có sự cộng hưởng cùng khả năng để chân ngã có ảnh hưởng trên các cõi phụ này.

The Ego cannot work freely in the personality until third subplane matter is found in his bodies; the correspondence consequently holds good.

Chân ngã không thể hoạt động tự do trong phàm ngã cho đến khi vật chất cõi phụ thứ ba được tìm thấy trong các thể của y; vì thế sự tương ứng này là đúng.

76. Yes, we understand this, do we not?

76. Đúng vậy, chúng ta hiểu điều này, phải không?

77. Still more effective work can be accomplished when second and first sub-plane matter is found in the vehicles and in the thoughtforms being created.

77. Công việc còn hữu hiệu hơn nữa có thể được hoàn thành khi vật chất cõi phụ thứ hai và thứ nhất được tìm thấy trong các hiện thể và trong các hình tư tưởng đang được tạo ra.

Once the thought form has been vitalised and its etheric form is completed or “sealed” as it is called, it can attain the dense physical form if desired.

Một khi hình tư tưởng đã được tiếp sinh lực và hình thể dĩ thái của nó đã hoàn tất hay được “niêm phong” như cách gọi, thì nó có thể đạt đến hình thể hồng trần đậm đặc nếu muốn.

78. So many occult hints! Here we have the sealing of the etheric form of the thoughtform. How is this to be done? One imagines that there are certain symbolic gestures (undertaken in the ethers) and Words of Power which can accomplish the task.

78. Biết bao gợi ý huyền bí! Ở đây chúng ta có sự niêm phong hình thể dĩ thái của hình tư tưởng. Điều này phải được thực hiện như thế nào? Người ta hình dung rằng có những cử chỉ biểu tượng nhất định (được thực hiện trong các cõi dĩ thái) và những Quyền năng từ có thể hoàn thành công việc ấy.

79. All this knowledge was once in our possession, but through misuse it has been withdrawn.

79. Tất cả tri thức này đã từng nằm trong sở hữu của chúng ta, nhưng do bị lạm dụng nên đã bị rút lại.

This does not mean that the individual thought forms of every man take dense substance upon the etheric, but they will eventuate in activity upon the physical plane.

Điều này không có nghĩa là các hình tư tưởng cá nhân của mọi người đều khoác lấy chất liệu đậm đặc trên cõi dĩ thái, nhưng cuối cùng chúng sẽ đưa đến hoạt động trên cõi hồng trần.

80. DK offers an important qualification for our understanding.

80. DK đưa ra một sự giới định quan trọng cho sự hiểu biết của chúng ta.

81. Some thoughtforms, we are to understand, do take dense substance upon the etheric subplanes.

81. Chúng ta phải hiểu rằng một số hình tư tưởng quả thật khoác lấy chất liệu đậm đặc trên các cõi phụ dĩ thái.

82. The agglomeration of similar thoughtforms is part of the eventual dense physical plane activity which such thoughtforms achieve.

82. Sự kết tụ của những hình tư tưởng tương tự là một phần của hoạt động cuối cùng trên cõi hồng trần đậm đặc mà những hình tư tưởng ấy đạt được.

A man, for instance, is thinking a kindly thought; he has built it up and vitalised it; it is objective to the clairvoyant and exists in etheric matter close to the man.

Chẳng hạn, một người đang nghĩ một tư tưởng tử tế; y đã xây dựng nó và tiếp sinh lực cho nó; nó khách quan đối với nhà thông nhãn và tồn tại trong vật chất dĩ thái gần bên người ấy.

83. Such a thoughtform has not yet been released, hence its actual closeness to man.

83. Một hình tư tưởng như thế vẫn chưa được phóng thích, vì vậy nó thực sự ở gần con người.

84. Notice that it takes time to build such thoughtforms.

84. Hãy lưu ý rằng cần có thời gian để xây dựng những hình tư tưởng như thế.

It will, therefore, find physical expression in an act of kindness or a physical caress. When the act is over, the caress consummated, the interest of the man in that particular thought form fades out and it dies.

Do đó, nó sẽ tìm được sự biểu hiện hồng trần trong một hành động tử tế hay một sự vuốt ve bằng thân thể. Khi hành động chấm dứt, sự vuốt ve hoàn tất, thì sự quan tâm của người ấy đối với hình tư tưởng đặc biệt đó phai nhạt đi và nó chết.

85. We find described the motivating power of thoughtforms and their outworking in particular physical plane expressions.

85. Chúng ta thấy được mô tả quyền năng thúc đẩy của các hình tư tưởng và sự biểu lộ của chúng trong những biểu hiện đặc thù trên cõi hồng trần.

86. The expression of a thoughtform seems to remove the motivating power from that thoughtform. The modern phrase, “Been there. Done that” illuminates the process.

86. Sự biểu hiện của một hình tư tưởng dường như lấy đi quyền năng thúc đẩy khỏi hình tư tưởng ấy. Cụm từ hiện đại “Đã ở đó. Đã làm điều đó.” soi sáng tiến trình này.

87. As interest fades and the gaze of the eyes is removed from the thoughtform, the thoughtform dies of attrition.

87. Khi sự quan tâm phai nhạt và ánh mắt được rút khỏi hình tư tưởng, thì hình tư tưởng chết đi vì hao mòn.

88. Some thoughtforms are very strong, however, and continue to reappear and, thus, continue to be expressed in the manner described above. Eventually, however, desire for such expression will die, and an expressed thoughtform will not be re-constellated and reinvigorated by desire.

88. Tuy nhiên, một số hình tư tưởng rất mạnh và tiếp tục tái xuất hiện, và do đó tiếp tục được biểu hiện theo cách mô tả ở trên. Tuy vậy, cuối cùng dục vọng đối với sự biểu hiện như thế sẽ chết đi, và một hình tư tưởng đã được biểu hiện sẽ không còn được dục vọng tái kết tụ và tiếp thêm sinh lực nữa.

Similarly with a crime—the [Page 977] thought form has been built up and inevitably it will find its physical expression in some deed of one kind or another.

Tương tự với một tội ác—[Page 977] hình tư tưởng đã được xây dựng và tất yếu nó sẽ tìm được sự biểu hiện hồng trần của mình trong một hành vi nào đó thuộc loại này hay loại khác.

89. We have here the plotting and planning of those who nurture and harbor evil within themselves. In EP II, DK discussed this form of brooding anti-social behavior as particularly related to abnormal individuals upon the second, fourth or sixth rays.

89. Ở đây chúng ta thấy sự mưu tính và hoạch định của những kẻ nuôi dưỡng và chứa chấp điều ác trong chính mình. Trong EP II, DK đã bàn đến hình thức hành vi phản xã hội ủ ấp này như có liên hệ đặc biệt với những cá nhân bất thường thuộc cung hai, cung bốn hay cung sáu.

All activity of every kind is the result:

Mọi hoạt động thuộc mọi loại đều là kết quả:

90. DK will present the main cause of activity.

90. DK sẽ trình bày nguyên nhân chính của hoạt động.

a. Of thought forms built consciously or unconsciously.

a. Của những hình tư tưởng được xây dựng một cách hữu thức hay vô thức.

91. This is very interesting because is makes us question the activity of man before he was capable of much thought.

91. Điều này rất thú vị vì nó khiến chúng ta đặt câu hỏi về hoạt động của con người trước khi y có khả năng tư tưởng nhiều.

92. What of the activity of man before He was individualized? Surely there was activity. Who then was doing the thinking? The same question could be asked re the activity animals.

92. Còn hoạt động của con người trước khi y được biệt ngã hóa thì sao? Chắc chắn vẫn có hoạt động. Vậy khi ấy ai là kẻ đang tư duy? Câu hỏi tương tự cũng có thể được đặt ra đối với hoạt động của động vật.

93. Of course, there are many grades of thinkers and un-self-conscious lives are responsive to them rather than only to their own individualized center.

93. Dĩ nhiên, có nhiều cấp độ của những kẻ tư duy, và những sự sống chưa có ngã thức đáp ứng với họ chứ không chỉ với trung tâm biệt ngã hóa riêng của mình.

94. Below it will be shown that thoughtforms alone are not the cause of all activities. Lesser impulses also play their role.

94. Ở dưới sẽ cho thấy rằng chỉ riêng các hình tư tưởng không phải là nguyên nhân của mọi hoạt động. Những xung lực thấp hơn cũng đóng vai trò của chúng.

b. Of self-initiated thought forms or of the effect of the thought forms of others.

b. Của những hình tư tưởng do chính mình khởi xướng hoặc của hiệu quả từ những hình tư tưởng của người khác.

95. Here we realize that a particular form of life may respond as much to the thoughtforms of others as to its own thoughtforms.

95. Ở đây chúng ta nhận ra rằng một hình thức sự sống nhất định có thể đáp ứng với các hình tư tưởng của người khác cũng nhiều như với các hình tư tưởng riêng của nó.

96. Given the non-individualized man, response to the thoughtforms of others (of other and higher beings) is certainly possible.

96. Đối với con người chưa biệt ngã hóa, sự đáp ứng với các hình tư tưởng của người khác (của những hữu thể khác và cao hơn) chắc chắn là có thể.

97. Response to his own lower impulses also actuates activity.

97. Sự đáp ứng với các xung lực thấp hơn của chính y cũng thúc đẩy hoạt động.

c. Of responsiveness to one’s own inner impulses, or of responsiveness to the impulses of others, and therefore to group thought forms.

c. Của sự đáp ứng với những xung lực bên trong của chính mình, hoặc của sự đáp ứng với những xung lực của người khác, và do đó với các hình tư tưởng nhóm.

98. Here the cause of activity no longer resides in the world of thought but in the world of impulse. Within this world we find impulses from the actor and impulses from others.

98. Ở đây nguyên nhân của hoạt động không còn nằm trong thế giới của tư tưởng mà nằm trong thế giới của xung lực. Trong thế giới này, chúng ta thấy có những xung lực từ người hành động và những xung lực từ người khác.

99. It is clear that un-individualized man is certainly possessed of astral and etheric-physical (i.e., instinctual) impulses, and it is these, rather than thought, which impel him into activity.

99. Rõ ràng là con người chưa biệt ngã hóa chắc chắn có những xung lực cảm dục và dĩ thái-hồng trần (tức là bản năng) xung lực, và chính những xung lực này, chứ không phải tư tưởng, thúc đẩy y đi vào hoạt động.

100. DK hints at the idea that “group thought forms” are created by combining the impulses of a group. This hearkens back to the creation of independent thoughtforms through mob energy.

100. DK gợi ý ý tưởng rằng “các hình tư tưởng nhóm” được tạo ra bằng cách kết hợp các xung lực của một nhóm. Điều này gợi lại việc tạo ra các hình tư tưởng độc lập thông qua năng lượng đám đông.

101. We can summarize this little section by saying that activity is caused both by thoughtforms and by lesser impulses (from within the individual or from within a group).

101. Chúng ta có thể tóm tắt phần nhỏ này bằng cách nói rằng hoạt động được gây ra vừa bởi các hình tư tưởng vừa bởi những xung lực thấp hơn (từ bên trong cá nhân hoặc từ bên trong một nhóm).

It will be apparent, therefore, how vital is this matter,

Do đó, sẽ hiển nhiên thấy được vấn đề này thiết yếu đến mức nào,

102. We are speaking of thoughtform vitalization and manifestation.

102. Chúng ta đang nói về sự tiếp sinh lực và biểu hiện của hình tư tưởng.

103. We are speaking of the sources of those conditioning factors and impulses which drive any being (great or tiny) into action.

103. Chúng ta đang nói về các nguồn của những yếu tố tác động và những xung lực thúc đẩy bất kỳ hữu thể nào (lớn hay nhỏ) đi vào hoạt động.

and how influenced men and women are by the thought forms they themselves create, or the mental children of other men.

và những người nam và nữ bị ảnh hưởng biết bao bởi các hình tư tưởng do chính họ tạo ra, hay những đứa con trí tuệ của những người khác.

104. We hear the note of responsibility sounding. Day in and out, night after night, we create thoughtforms and desire forms—mostly unconsciously. This condition must be rectified if we are to become true white magicians.

104. Chúng ta nghe thấy âm điệu của trách nhiệm đang vang lên. Ngày này qua ngày khác, đêm này qua đêm khác, chúng ta tạo ra các hình tư tưởng và hình dục vọng—phần lớn là vô thức. Tình trạng này phải được sửa chữa nếu chúng ta muốn trở thành những nhà huyền thuật chánh đạo chân chính.

105. We are being told that it is not only what we do that counts for good or ill, but what we desire and most of all, what we think—for thinking is the seed of all that transpires on the two lower planes. This is especially true of disciples.

105. Chúng ta đang được bảo rằng không chỉ điều chúng ta làm mới tạo nên thiện hay ác, mà còn điều chúng ta ham muốn và trên hết là điều chúng ta nghĩ—vì tư tưởng là hạt giống của mọi điều diễn ra trên hai cõi thấp. Điều này đặc biệt đúng đối với các đệ tử.

106. We are being encouraged to take responsibility for our creative life and realize that the whole matter of creation of far more subtle than we may have thought.

106. Chúng ta đang được khuyến khích nhận trách nhiệm về đời sống sáng tạo của mình và nhận ra rằng toàn bộ vấn đề sáng tạo tinh tế hơn rất nhiều so với điều chúng ta có thể đã nghĩ.

107. The life of the occultist becomes ever more subtle and his responsibility exists on levels which others believe non-existent.

107. Đời sống của nhà huyền bí học ngày càng trở nên tinh tế hơn và trách nhiệm của y tồn tại trên những cấp độ mà người khác cho là không hiện hữu.

108. Great caution is demanded of us. Our creations determine our karma and that, collectively, that of the human race.

108. Chúng ta được đòi hỏi phải hết sức thận trọng. Những sáng tạo của chúng ta quyết định nghiệp quả của chúng ta và, một cách tập thể, cả nghiệp quả của nhân loại.

Leave a Comment

Scroll to Top