Bình Giảng về Lửa Vũ Trụ S8S5 Part III-2 (994 – 996)

📘 Sách: Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S8 – Tác giả: Michael D. Robbins

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

TCF 994 – 996: S8S5 – Part III. 2

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình giải được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Xin đề nghị rằng phần Bình Giải này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để bảo đảm tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Giải

c. Conditions for White Magic. In considering the factors requiring adjustment prior to undertaking the work of magic, we are dealing with that which is of eminently practical value.

c. Những điều kiện cho Chánh Thuật. Khi xem xét các yếu tố cần được điều chỉnh trước khi đảm nhận công việc huyền thuật, chúng ta đang đề cập đến điều có giá trị thực tiễn nổi bật.

1. Perhaps we have noticed that we have entered a very practical section of the Treatise. What is more ‘practical’ than the magical art, the very purpose of which is correct manifestation?

1. Có lẽ chúng ta đã nhận thấy rằng chúng ta đã bước vào một phần rất thực tiễn của bộ Luận. Còn gì “thực tiễn” hơn nghệ thuật huyền thuật, mà chính mục đích của nó là sự biểu hiện đúng đắn?

Unless students of magic enter upon this pursuit fortified by pure motive, clean bodies, and high aspiration, they are foredoomed to disappointment and even to disaster.

Trừ phi các đạo sinh của huyền thuật bước vào sự theo đuổi này với sự củng cố của động cơ thanh khiết, các thể thanh sạch, và khát vọng cao cả, họ đã bị định trước là sẽ thất vọng và thậm chí còn gặp tai họa.

2. Let us tabulate for emphasis the requirements placed upon those who would enter seriously upon the pursuit of magic:

2. Để nhấn mạnh, chúng ta hãy liệt kê các yêu cầu đặt ra cho những ai muốn nghiêm túc bước vào việc theo đuổi huyền thuật:

a. Pure motive

a. Động cơ thanh khiết

b. Clean bodies (all of the personality vehicles, presumably)

b. Các thể thanh sạch (có lẽ là tất cả các vận cụ của phàm ngã)

c. High aspiration

c. Khát vọng cao cả

3. Chân sư DK promises no real achievement unless these requirements are completely fulfilled. The use of the word “foredoomed” is certainly serious.

3. Chân sư DK không hứa hẹn một thành tựu thực sự nào trừ phi các yêu cầu này được hoàn thành trọn vẹn. Việc dùng từ “bị định trước” quả thật rất nghiêm trọng.

All those who seek to work consciously with the forces of manifestation, and who endeavour to control the Energies of all that is seen, need the strong protection of purity.

Tất cả những ai tìm cách hoạt động một cách hữu thức với các mãnh lực của sự biểu hiện, và nỗ lực kiểm soát các Năng Lượng của mọi điều được thấy, đều cần sự bảo vệ mạnh mẽ của tính thanh khiết.

4. If they do not have this purity, they may be tempted towards misuse of the energies they seek to control. Impurity induces various types of magnetism which run counter to the magician’s higher purposes and motives.

4. Nếu họ không có sự thanh khiết này, họ có thể bị cám dỗ đi đến việc lạm dụng các năng lượng mà họ tìm cách kiểm soát. Sự ô uế gây ra nhiều loại từ điện khác nhau đi ngược lại các mục đích và động cơ cao hơn của nhà huyền thuật.

5. We know that physical impurity may lead to infection and death. The same is true on the subtler levels. There must be nothing within the magician which can respond to lower, disintegrative tendencies.

5. Chúng ta biết rằng sự ô uế hồng trần có thể dẫn đến nhiễm bệnh và tử vong. Điều ấy cũng đúng ở các cấp độ vi tế hơn. Không được có bất cứ điều gì bên trong nhà huyền thuật có thể đáp ứng với các khuynh hướng thấp kém, phân rã.

This is a point which cannot be too strongly emphasised and urged, and hence the constant injunctions to self control, comprehension of the nature of man, and devotion to the cause of humanity.

Đây là một điểm không thể được nhấn mạnh và thúc giục quá mức, và do đó mới có những lời huấn thị liên tục về tự chủ, thấu hiểu bản chất con người, và hiến dâng cho chính nghĩa của nhân loại.

6. The following three factors will insure purity:

6. Ba yếu tố sau đây sẽ bảo đảm sự thanh khiết:

a. “Self-control”. This will prevent the magician from being swept from his presumably high purpose by lower currents.

a. “Tự chủ”. Điều này sẽ ngăn nhà huyền thuật bị các dòng chảy thấp kém cuốn khỏi mục đích vốn được giả định là cao cả của mình.

b. “Comprehension of the nature of man”. This will prevent the magician from being blinded by the lure of the lower powers. He will acknowledge the existence of the higher aspects of his nature and will understand the desirability of developing the higher powers associated with these higher aspects.

b. “Thấu hiểu bản chất con người”. Điều này sẽ ngăn nhà huyền thuật bị làm mù quáng bởi sức quyến rũ của các quyền năng thấp. Y sẽ thừa nhận sự hiện hữu của các phương diện cao hơn trong bản chất mình và sẽ hiểu tính đáng mong muốn của việc phát triển các quyền năng cao hơn gắn liền với các phương diện cao hơn ấy.

c. “Devotion to the cause of humanity”. This will promote in the magician a willingness to commit all his powers to humanity’s greatest good.

c. “Hiến dâng cho chính nghĩa của nhân loại”. Điều này sẽ thúc đẩy nơi nhà huyền thuật sự sẵn lòng dâng hiến mọi quyền năng của mình cho thiện ích lớn nhất của nhân loại.

7. Chân sư DK enters into greater detail concerning the dangers which await those who pursue magical investigation.

7. Chân sư DK đi vào chi tiết hơn về những nguy hiểm đang chờ đợi những ai theo đuổi việc khảo cứu huyền thuật.

The pursuit of magical investigation is dangerous in three ways.

Việc theo đuổi khảo cứu huyền thuật là nguy hiểm theo ba cách.

If a man’s bodies are not sufficiently purified and their atomic vibration is not sufficiently high, he is in danger of over-stimulation when brought in contact with the forces of nature, and this inevitably entails the destruction and disintegration of one or other of his bodies.

Nếu các thể của một người không được thanh lọc đầy đủ và rung động nguyên tử của chúng không đủ cao, y có nguy cơ bị kích thích quá mức khi tiếp xúc với các mãnh lực của thiên nhiên, và điều này tất yếu kéo theo sự hủy diệt và phân rã của một hay một thể nào khác của y.

8. The relatively high energy of the forces contacted proves too much for the atoms of lower vibration contained within his vehicles. Atoms of high vibration can receive these forces and still maintain their integrity. The integrity of atoms of relatively lower vibration is threatened by the application of forces more potent than those to which they have become habituated.

8. Năng lượng tương đối cao của các mãnh lực được tiếp xúc tỏ ra quá sức đối với các nguyên tử có rung động thấp hơn chứa trong các vận cụ của y. Các nguyên tử có rung động cao có thể tiếp nhận các mãnh lực này mà vẫn duy trì được tính toàn vẹn của chúng. Tính toàn vẹn của các nguyên tử có rung động tương đối thấp hơn bị đe dọa bởi việc áp dụng các mãnh lực mạnh hơn những mãnh lực mà chúng đã quen chịu đựng.

9. The principle is simple: ensure purification before invoking and receiving potencies higher than the potencies to which one is normally exposed.

9. Nguyên lý thì đơn giản: hãy bảo đảm sự thanh lọc trước khi khẩn cầu và tiếp nhận những tiềm lực cao hơn các tiềm lực mà người ta thường tiếp xúc.

10. In the section above, Chân sư DK speaks of the possible destruction of one or other of the magician’s bodies.

10. Trong phần trên, Chân sư DK nói về khả năng hủy diệt một hay một thể nào khác của nhà huyền thuật.

At times it may entail the destruction of two or more, and when this is the case,

Đôi khi điều đó có thể kéo theo sự hủy diệt của hai hay nhiều thể hơn, và khi đó,

11. Even two of the magician’s bodies may be disintegrated and destroyed. Is it possible that he may suffer the same fate in all three of the personality’s vehicles?

11. Ngay cả hai thể của nhà huyền thuật cũng có thể bị phân rã và hủy diệt. Có thể nào y phải chịu cùng số phận ấy trong cả ba vận cụ của phàm ngã không?

it involves a definite setback to egoic unfoldment, for it requires, in such cases, a much longer interval between incarnations, owing to the difficulty of assembling the needed materials in the sheaths.

điều đó bao hàm một sự thụt lùi rõ rệt đối với sự khai mở của chân ngã, vì trong những trường hợp như thế, nó đòi hỏi một khoảng cách giữa các lần lâm phàm dài hơn nhiều, do khó khăn trong việc tập hợp các vật liệu cần thiết trong các thể vỏ.

12. We have here a very interesting occult hint. The effect of the disintegration and destruction of the magician’s vehicles through overstimulation shows itself in relation to the building processes between incarnations. During this interval, materials for the future sheaths must be assembled and built into form, and if there has been disintegration and destruction of the vehicles during the previous incarnation, the period of time necessary to assemble and build-in the material necessary for the sheaths of the forthcoming incarnation is much longer. This stands to reason.

12. Ở đây chúng ta có một gợi ý huyền bí học rất thú vị. Tác động của sự phân rã và hủy diệt các vận cụ của nhà huyền thuật do bị kích thích quá mức biểu lộ trong mối liên hệ với các tiến trình kiến tạo giữa các lần lâm phàm. Trong khoảng thời gian này, các vật liệu cho những thể vỏ tương lai phải được tập hợp và xây dựng thành hình, và nếu đã có sự phân rã và hủy diệt các vận cụ trong lần lâm phàm trước, thì khoảng thời gian cần thiết để tập hợp và xây dựng vật liệu cần cho các thể vỏ của lần lâm phàm sắp tới sẽ dài hơn nhiều. Điều này là hợp lý.

13. Apparently, while delay may be expected if but one of the personality vehicles has been compromised, it is a delay of much shorter duration than if two vehicles have been compromised through unwise exposure to energies too potent to be rightly assimilated.

13. Rõ ràng, tuy có thể chờ đợi sự trì hoãn nếu chỉ một trong các vận cụ của phàm ngã bị tổn hại, nhưng đó là một sự trì hoãn ngắn hơn nhiều so với khi hai vận cụ bị tổn hại do phơi mình một cách thiếu khôn ngoan trước những năng lượng quá mạnh để có thể được đồng hóa đúng đắn.

[Danger 2]

[Danger 2]

Further, unless a man is strengthened in his endeavour by right motive, he is liable to be led astray by the acquisition of power.

Hơn nữa, trừ phi một người được củng cố trong nỗ lực của mình bằng động cơ đúng đắn, y có thể bị dẫn lạc bởi việc đạt được quyền năng.

14. This, we can understand, happens quite frequently. There is a certain “glamor of magical powers” which can be most intoxicating and which leads many astray.

14. Điều này, như chúng ta có thể hiểu, xảy ra khá thường xuyên. Có một thứ “ảo cảm về các quyền năng huyền thuật” có thể gây say mê tột độ và dẫn nhiều người đi lạc.

Knowledge of the laws of magic puts into the hands of the student powers which enable him to create, to acquire, and to control.

Tri thức về các định luật của huyền thuật đặt vào tay đạo sinh những quyền năng giúp y sáng tạo, thu đạt và kiểm soát.

15. Creation, acquisition and control—the student/practitioner of magic can fulfill his desires with far greater ease than can the normal person. If his desires are not pure, his creations and acquisitions and, additionally, his ability to control the forces and the lives of others will only lead to his further imprisonment.

15. Sáng tạo, thu đạt và kiểm soát—đạo sinh/người thực hành huyền thuật có thể hoàn thành các ham muốn của mình dễ dàng hơn nhiều so với người bình thường. Nếu các ham muốn của y không thanh khiết, thì những sáng tạo và thu đạt của y, và thêm vào đó là khả năng kiểm soát các mãnh lực và các sự sống của người khác, sẽ chỉ dẫn y đến sự giam hãm sâu hơn nữa.

Such powers [994] are fraught with menace to the unprepared and unready, for the student can, in this case, turn them to selfish ends, use them for his own temporal material advancement, and acquire in this way that which will feed the desires of the lower nature.

Những quyền năng như thế [994] đầy hiểm họa đối với kẻ chưa được chuẩn bị và chưa sẵn sàng, vì trong trường hợp này đạo sinh có thể xoay chúng về những mục đích ích kỷ, dùng chúng cho sự thăng tiến vật chất tạm thời của riêng mình, và nhờ đó đạt được điều sẽ nuôi dưỡng các ham muốn của bản chất thấp.

16. If the desire nature grows in potency without being transmuted into aspiration, then the tendency to bondage is only increased.

16. Nếu bản chất ham muốn tăng trưởng về sức mạnh mà không được chuyển hoá thành khát vọng, thì khuynh hướng nô lệ chỉ càng gia tăng.

17. The liberated man is free from such desires and, thus, can safely use the magical powers. These powers, especially the ones operative within the three lower worlds, only strengthen the relationship to those lower worlds and hold back the misguided and selfish magician from liberation.

17. Con người được giải thoát thì tự do khỏi những ham muốn như thế và do đó có thể sử dụng các quyền năng huyền thuật một cách an toàn. Những quyền năng này, đặc biệt là những quyền năng hoạt động trong ba cõi thấp, chỉ làm mạnh thêm mối liên hệ với các cõi thấp ấy và giữ nhà huyền thuật lầm lạc, ích kỷ khỏi sự giải thoát.

He takes, therefore, the first step towards the left hand path,

Vì vậy, y bước bước đầu tiên trên tả đạo,

18. He does this by strengthening within his energy system the power of lower desire and augmenting the strength of energy patterns which encumber his soul.

18. Y làm điều này bằng cách tăng cường trong hệ thống năng lượng của mình quyền lực của ham muốn thấp và gia tăng sức mạnh của các mô hình năng lượng đang trói buộc linh hồn y.

and each life may see him progressing towards it with greater readiness,

và mỗi kiếp sống có thể thấy y tiến về phía đó với sự sẵn sàng lớn hơn,

19. A habitual pattern of action has been established. Progressively he will find within himself less and less resistance to its fulfillment.

19. Một mô hình hành động theo thói quen đã được thiết lập. Dần dần y sẽ thấy trong chính mình ngày càng ít sự kháng cự hơn đối với việc hoàn thành nó.

until (almost unconsciously) he will find himself in the ranks of the black masters.

cho đến khi (gần như vô thức) y sẽ thấy mình ở trong hàng ngũ các chân sư đen.

20. We notice the term “masters” It would appear that it is possible for a black magician to achieve a condition of power and status equivalent in its own way to the rank of Master of the Great White Lodge

20. Chúng ta lưu ý đến từ “chân sư”. Dường như một nhà huyền thuật đen có thể đạt đến một trạng thái quyền năng và địa vị tương đương theo cách riêng của mình với cấp bậc Chân sư của Thánh đoàn

Such a state of affairs can only be offset through the cultivation of altruism, sincere love of man, and a steady negation of all lower desire.

Một tình trạng như thế chỉ có thể được hóa giải bằng việc vun bồi lòng vị tha, tình thương chân thành đối với con người, và sự phủ nhận bền bỉ mọi ham muốn thấp.

21. Love and desire are not equivalent.

21. Bác ái và ham muốn không tương đương nhau.

22. For the sake of emphasis, let us tabulate those practices and attitude which can offset any tendency to tread the left hand path.

22. Để nhấn mạnh, chúng ta hãy liệt kê những thực hành và thái độ có thể hóa giải bất kỳ khuynh hướng nào muốn bước trên tả đạo.

a. The cultivation of altruism.

a. Vun bồi lòng vị tha.

b. The sincere love of man

b. Tình thương chân thành đối với con người

c. A steady negation of all lower desire

c. Sự phủ nhận bền bỉ mọi ham muốn thấp

23. It becomes apparent that the development of real love negates the appeal of lower desire. Love must replace low desire. The power of the heart center must replace the power of the solar plexus center.

23. Rõ ràng là sự phát triển của tình thương đích thực sẽ phủ nhận sức hấp dẫn của ham muốn thấp. Tình thương phải thay thế ham muốn thấp. Quyền năng của trung tâm tim phải thay thế quyền năng của trung tâm tùng thái dương.

[Danger 3]

[Danger 3]

The third danger which menaces the unwary student of magic lies in the fact that when he tampers with these forces and energies he is dealing with that which is akin to his own lower nature. He, therefore, follows the line of least resistance; he augments these energies, thereby increasing their response to the lower and to the material aspects of his nature. This he does at the expense of his higher nature, retarding its unfoldment and delaying his progress.

Nguy hiểm thứ ba đe dọa đạo sinh huyền thuật thiếu thận trọng nằm ở chỗ khi y can thiệp vào các mãnh lực và năng lượng này y đang đề cập đến điều tương cận với chính bản chất thấp của mình. Vì vậy, y đi theo con đường ít trở ngại nhất; y gia tăng các năng lượng này, do đó làm tăng sự đáp ứng của chúng đối với các phương diện thấp và vật chất trong bản chất y. Y làm điều này với cái giá phải trả là bản chất cao hơn của mình, làm chậm sự khai mở của nó và trì hoãn sự tiến bộ của mình.

24. The essence of this danger is the tendency of man to strengthen his lower nature. Rather than participate in the salutary struggle between the higher and lower natures, he reinforces the strength of that which is of the personality and akin to the forces of the personality. Personality gratification becomes ever earlier of accomplishment.

24. Cốt lõi của nguy hiểm này là khuynh hướng của con người muốn tăng cường bản chất thấp của mình. Thay vì tham dự vào cuộc đấu tranh lành mạnh giữa bản chất cao và thấp, y lại củng cố sức mạnh của điều thuộc về phàm ngã và tương cận với các mãnh lực của phàm ngã. Sự thỏa mãn phàm ngã ngày càng đạt được sớm hơn.

25. If he follows the line of least resistance, he is strengthening within himself the third aspect of divinity instead of transferring his polarization into the second aspect.

25. Nếu y đi theo con đường ít trở ngại nhất, y đang tăng cường trong chính mình phương diện thứ ba của thiên tính thay vì chuyển dịch sự phân cực của mình sang phương diện thứ hai.

26. It becomes apparent that if the lower nature is strengthened without the cultivation of its response to the higher nature, the grip of the higher nature upon the lower will be weakened and the man’s spiritual process retarded.

26. Rõ ràng là nếu bản chất thấp được tăng cường mà không vun bồi sự đáp ứng của nó đối với bản chất cao hơn, thì sự nắm giữ của bản chất cao hơn trên bản chất thấp sẽ bị suy yếu và tiến trình tinh thần của con người sẽ bị trì hoãn.

Incidentally also, he attracts the attention of those masters of the left hand path

Ngoài ra, y cũng thu hút sự chú ý của những chân sư của tả đạo

27. Again, the term “masters” is used.

27. Một lần nữa, từ “chân sư” lại được dùng.

28. This is a type of “attention” which wise aspirants and disciples would be only too glad to relinquish if they but knew its nature.

28. Đây là một loại “sự chú ý” mà những người chí nguyện và đệ tử khôn ngoan sẽ vô cùng sẵn lòng từ bỏ nếu họ biết bản chất của nó.

who are ever on the lookout for those who can be bent to their purposes, and he becomes (unwittingly at first), an agent on the side of evil.

những kẻ luôn luôn canh chừng những ai có thể bị uốn nắn theo các mục đích của họ, và y trở thành (lúc đầu là vô tình) một tác nhân đứng về phía điều ác.

29. Probably there are few who would wittingly serve the black masters. Their methods, however, are subtle and deceptive and, once an aspiring magician has practiced magic in such a manner as to put him in resonance with such masters, it becomes much easier for these masters to influence his consciousness and actions.

29. Có lẽ rất ít người cố ý phụng sự các chân sư đen. Tuy nhiên, các phương pháp của họ thì tinh vi và lừa dối, và một khi một nhà huyền thuật chí nguyện đã thực hành huyền thuật theo cách khiến y cộng hưởng với các chân sư như thế, thì các chân sư ấy sẽ dễ dàng hơn nhiều trong việc ảnh hưởng đến tâm thức và hành động của y.

30. We notice that, however subtly, the force of compulsion is used. This is the connotation of the word “bent”.

30. Chúng ta lưu ý rằng, dù tinh vi đến đâu, mãnh lực cưỡng bách vẫn được sử dụng. Đó là hàm ý của từ “uốn nắn”.

31. We notice that there is type of vigilance to be found in the adepts of both lodges. Naturally, we do not wish to fall under the eye of the black masters unless because they consider our work inhibitory of their purposes. While we would not be wise to deliberately cultivate such attention, it will inevitably come if we are successful in serving the Great White Brotherhood.

31. Chúng ta lưu ý rằng có một loại tỉnh thức được tìm thấy nơi các chân sư của cả hai đoàn. Đương nhiên, chúng ta không muốn rơi vào tầm mắt của các chân sư đen trừ phi vì họ xem công việc của chúng ta là cản trở các mục đích của họ. Dù chúng ta sẽ không khôn ngoan nếu cố ý vun bồi sự chú ý như thế, nó vẫn sẽ tất yếu đến nếu chúng ta thành công trong việc phụng sự Huynh đệ Đoàn Chánh đạo.

It will be apparent, therefore, that the student has need of the following qualities before he undertakes the arduous task of becoming a conscious Master of Magic:

Vì vậy, rõ ràng là đạo sinh cần có những phẩm tính sau đây trước khi đảm nhận nhiệm vụ gian nan là trở thành một Chân sư Huyền thuật hữu thức:

32. Now Master Chân sư DK tabulates in a most specific manner summarizing the cautions He has been sharing in the preceding pages.

32. Giờ đây Chân sư DK liệt kê một cách hết sức cụ thể để tóm lược những lời cảnh báo mà Ngài đã chia sẻ trong các trang trước.

Physical Purity. This is a thing not easily to be acquired, but entailing many lives of strenuous effort.

Sự thanh khiết hồng trần. Đây không phải là điều dễ đạt được, mà đòi hỏi nhiều kiếp sống nỗ lực mãnh liệt.

33. We cannot think that the Tibetan is exaggerating. Anyone who has really tried to conquer his physical nature knows the difficulty of the enterprise.

33. Chúng ta không thể nghĩ rằng Chân sư Tây Tạng đang phóng đại. Bất cứ ai thực sự đã cố gắng chinh phục bản chất hồng trần của mình đều biết sự khó khăn của công việc này.

34. Perhaps there are a number of learned aspirants who think of this type of work as accomplished long ago and requiring of them no further attention. In this they are often mistaken.

34. Có lẽ có một số người chí nguyện uyên bác nghĩ rằng loại công việc này đã được hoàn thành từ lâu và không còn đòi hỏi nơi họ sự chú ý nào nữa. Trong điều này, họ thường lầm lẫn.

Through abstinence, right continence, clean living, vegetarian diet, and rigid self-control, the man gradually raises the vibration of his physical atoms, builds a body of ever greater resistance and strength, and succeeds in “manifesting” forth in a sheath of greater refinement.

Qua sự kiêng cữ, tiết dục đúng đắn, đời sống thanh sạch, chế độ ăn chay, và sự tự chủ nghiêm ngặt, con người dần dần nâng cao rung động của các nguyên tử hồng trần của mình, xây dựng một thể ngày càng có sức đề kháng và sức mạnh lớn hơn, và thành công trong việc “biểu hiện” ra ngoài trong một thể vỏ tinh luyện hơn.

35. The requirements here presented are very strict.

35. Những yêu cầu được trình bày ở đây là rất nghiêm ngặt.

36. From what must a man abstain? From all excess, especially in the use of he creative energies of the body.

36. Con người phải kiêng điều gì? Kiêng mọi sự quá độ, đặc biệt trong việc sử dụng các năng lượng sáng tạo của thể.

37. What is “right continence”? Is it not a conservation of the powers of the body so that they may be used rightly and not inappropriately or prodigally?

37. “Tiết dục đúng đắn” là gì? Chẳng phải đó là sự bảo tồn các quyền năng của thể để chúng có thể được sử dụng đúng đắn chứ không phải không thích hợp hay phung phí sao?

38. We note the call to “clean living” and vegetarianism. So much depends upon what the man seeks to accomplish. These requirements do not apply to those who do not seek consciously to tread the Path of Initiation. The true applicant cannot tolerate within his nature that which attracts energies and forces inimical to his spiritual goals.

38. Chúng ta lưu ý lời kêu gọi về “đời sống thanh sạch” và ăn chay. Rất nhiều điều tùy thuộc vào điều con người tìm cách hoàn thành. Những yêu cầu này không áp dụng cho những ai không tìm cách hữu thức bước trên Con Đường Điểm Đạo. Người thỉnh cầu chân chính không thể dung thứ trong bản chất mình bất cứ điều gì thu hút các năng lượng và mãnh lực đối nghịch với các mục tiêu tinh thần của mình.

39. We note also the use of the word “rigid”—a word used not infrequently by the Tibetan. Here it applies to “self-control”. The aspirant to white magic must never allow any of his vehicles to ‘carry him away’. If he does so, he will become guilty of unprincipled behavior!

39. Chúng ta cũng lưu ý việc dùng từ “nghiêm ngặt”—một từ không hiếm khi được Chân sư Tây Tạng sử dụng. Ở đây nó áp dụng cho “tự chủ”. Người chí nguyện đối với chánh thuật không bao giờ được để bất kỳ vận cụ nào của mình ‘cuốn mình đi’. Nếu làm vậy, y sẽ phạm vào hành vi không có nguyên khí!

Etheric Freedom.

Tự do dĩ thái.

40. Each of these terms must be studied closely—purity, freedom, stability and poise.

40. Mỗi thuật ngữ này phải được nghiên cứu kỹ lưỡng—thanh khiết, tự do, ổn định và quân bình.

This term does not convey all that [995] I seek to impart, but it suffices for need of a better. The student of magic who can safely undertake the enterprise, will have constructed an etheric body of such a nature that vitality, or pranic force and energy, can circulate unimpeded;

Thuật ngữ này không chuyển tải trọn vẹn điều [995] tôi tìm cách truyền đạt, nhưng nó tạm đủ vì chưa có từ nào tốt hơn. Đạo sinh huyền thuật nào có thể an toàn đảm nhận công việc này sẽ đã kiến tạo một thể dĩ thái có bản chất sao cho sinh lực, hay mãnh lực prana và năng lượng, có thể lưu thông không bị cản trở;

41. Chân sư DK is speaking of the requirement for unimpeded circulation of prana within the etheric body. Obviously, etheric blockages are responsibility for many diseases in the physical body and a general weakening or overstimulation in that outermost vehicle. Poor circulation of prana creates imbalance and malfunction within the dense physical form.

41. Chân sư DK đang nói về yêu cầu lưu thông prana không bị cản trở trong thể dĩ thái. Hiển nhiên, các tắc nghẽn dĩ thái là nguyên nhân của nhiều bệnh tật trong thể xác và của sự suy yếu hoặc kích thích quá mức nói chung trong vận cụ ngoài cùng ấy. Sự lưu thông prana kém tạo ra mất quân bình và rối loạn chức năng trong hình tướng hồng trần đậm đặc.

he will have formed an etheric web of such tenuosity that it forms no barrier to consciousness.

y sẽ đã tạo thành một màng lưới dĩ thái có độ mỏng đến mức nó không tạo thành rào cản đối với tâm thức.

42. The implication here is that a thickened etheric web will, indeed, form a barrier to consciousness. The states of consciousness possible on the astral and mental planes (and on planes above) must eventually be accessible within the physical brain. This will not be possible unless a sufficiently tenuous etheric web permits of the transmission of these higher states to the physical brain.

42. Hàm ý ở đây là một màng lưới dĩ thái dày lên quả thật sẽ tạo thành một rào cản đối với tâm thức. Những trạng thái tâm thức khả hữu trên cõi cảm dục và cõi trí (và trên các cõi cao hơn) cuối cùng phải trở nên khả dụng trong bộ não hồng trần. Điều này sẽ không thể xảy ra trừ phi một màng lưới dĩ thái đủ mỏng cho phép truyền dẫn các trạng thái cao hơn ấy đến bộ não hồng trần.

This is all that can be said on this subject, owing to the danger involved, but it suffices for the conveyance of information to those who are beginning to know.

Đó là tất cả những gì có thể nói về chủ đề này, do nguy hiểm liên quan, nhưng như thế cũng đủ để truyền đạt thông tin cho những ai đang bắt đầu biết.

43. We see that while the physical body must be strong, it must also be pure: that while the etheric body must protect, it must also be sufficiently tenuous to allow the transmission of that which must reach the physical brain.

43. Chúng ta thấy rằng trong khi thể xác phải mạnh, nó cũng phải thanh khiết; rằng trong khi thể dĩ thái phải bảo vệ, nó cũng phải đủ mỏng để cho phép sự truyền dẫn của điều phải đến được bộ não hồng trần.

Astral Stability. The student of magic aims, above all,

Sự ổn định cảm dục. Trên hết, đạo sinh huyền thuật nhắm đến

44. This, it seems, is the most important requirement.

44. Dường như đây là yêu cầu quan trọng nhất.

to purify his desires, and so to transmute his emotions that the lower physical purity and the higher mental responsiveness and transmutative power may equally be available.

việc thanh lọc các ham muốn của mình, và nhờ đó chuyển hoá các cảm xúc của mình để sự thanh khiết hồng trần thấp hơn và khả năng đáp ứng trí tuệ cao hơn cùng quyền năng chuyển hoá đều có thể khả dụng như nhau.

45. The implication here is that if the desires are impure, that there will be no “lower physical purity” and that the higher mind will not be accessible. Without the energy of the higher mind, the energy of the spiritual triad will not be made available within the personality and its power of transmutation (eventually etheric substitution) will not work within the personality.

45. Hàm ý ở đây là nếu các ham muốn không thanh khiết, thì sẽ không có “sự thanh khiết hồng trần thấp hơn” và thượng trí sẽ không thể tiếp cận được. Không có năng lượng của thượng trí, năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần sẽ không được làm cho khả dụng trong phàm ngã và quyền năng chuyển hoá của nó (cuối cùng là sự thay thế dĩ thái) sẽ không hoạt động trong phàm ngã.

Every magician has to learn the fact that, in this solar system, during the cycle of humanity, the astral body is the pivotal point of endeavour,

Mọi nhà huyền thuật đều phải học sự kiện rằng, trong hệ mặt trời này, trong chu kỳ của nhân loại, thể cảm dục là điểm then chốt của nỗ lực,

46. So strong is the astral body of our emotionally polarized Solar Logos…

46. Thể cảm dục của Thái dương Thượng đế phân cực cảm xúc của chúng ta mạnh mẽ biết bao…

47. Notice that the existence of humanity has a certain time period or cycle. We may judge that humanity has not always existed in the solar system nor will it.

47. Hãy lưu ý rằng sự hiện hữu của nhân loại có một thời kỳ hay chu kỳ nhất định. Chúng ta có thể phán đoán rằng nhân loại không phải lúc nào cũng hiện hữu trong hệ mặt trời và cũng sẽ không luôn như vậy.

having a reflex effect on both the other sheaths, the physical and the mental.

có một tác động phản xạ lên cả hai thể vỏ kia, thể xác và thể trí.

48. What is suggested is that no true use of the etheric-physical body and of the mind (both lower and higher) will be possible unless the astral body is in a correct condition.

48. Điều được gợi ý là sẽ không thể có việc sử dụng đích thực thể dĩ thái-hồng trần và trí tuệ (cả hạ trí lẫn thượng trí) trừ phi thể cảm dục ở trong một tình trạng đúng đắn.

He, therefore, aims at transmuting (as has often been said) lower desire into aspiration;

Vì vậy, y nhắm đến việc chuyển hoá (như đã thường được nói) ham muốn thấp thành khát vọng;

49. Transmutation can be applied to all the vehicles of the personality.

49. Sự chuyển hoá có thể được áp dụng cho mọi vận cụ của phàm ngã.

50. Transmutation always represents an elevation of vibration and quality.

50. Sự chuyển hoá luôn luôn biểu thị một sự nâng cao về rung động và phẩm tính.

at changing the lower cruder colors which distinguish the astral body of average man, for the clearer, purer tones of the spiritual man,

đến việc thay đổi những màu sắc thấp và thô hơn vốn phân biệt thể cảm dục của con người trung bình, thành những sắc điệu trong sáng hơn, thanh khiết hơn của con người tinh thần,

51. This process entails a refinement of color. Since color is, essentially, a veil, such refinement allows a more thorough transmission of the higher to the lower, and an easier access to the higher by the lower.

51. Tiến trình này kéo theo một sự tinh luyện màu sắc. Vì màu sắc, về bản chất, là một bức màn, nên sự tinh luyện như thế cho phép sự truyền dẫn từ cao xuống thấp được triệt để hơn, và sự tiếp cận từ thấp lên cao được dễ dàng hơn.

52. There is also a process of growing translucency leading to transparency.

52. Cũng có một tiến trình ngày càng trở nên bán trong suốt dẫn đến trong suốt hoàn toàn.

and of transforming its normal chaotic vibration, and the “stormy sea of life,”

và biến đổi rung động hỗn loạn thông thường của nó, cùng “biển đời dậy sóng”,

53. Chân sư DK has spoken of the engulfing effect of the “waves which rise upon the stormy sea of life” in His injunction (in A Treatise on White Magic) to “control the body of emotion”.

53. Chân sư DK đã nói về tác động nhấn chìm của “những làn sóng dâng lên trên biển đời dậy sóng” trong huấn thị của Ngài (trong Luận về Chánh Thuật) là phải “kiểm soát thể cảm xúc”.

for the steady rhythmic response to that which is highest and the centre of peace.

thành sự đáp ứng nhịp nhàng, vững chắc đối với điều cao nhất và trung tâm của bình an.

54. Peacefulness in the astral body is achieved when there is established within the meditating consciousness a steady rhythmic response to the soul and especially to its buddhic quality.

54. Sự an bình trong thể cảm dục đạt được khi trong tâm thức tham thiền đã thiết lập được một sự đáp ứng nhịp nhàng, vững chắc đối với linh hồn và đặc biệt đối với phẩm tính Bồ đề của nó.

55. While chaos often reigns within the lunar vehicles, the soul expresses the principle of “cosmos”— i.e., of order and beauty.

55. Trong khi hỗn loạn thường ngự trị trong các vận cụ thái âm, linh hồn biểu lộ nguyên lý của “vũ trụ”—tức là của trật tự và vẻ đẹp.

These things he effects by constant watchfulness, unremitting control, and steady meditation.

Ông thực hiện những điều này bằng sự tỉnh thức liên tục, sự kiểm soát không ngơi nghỉ, và sự tham thiền bền bỉ.

56. The requirements are uncompromising.

56. Những yêu cầu này không chấp nhận sự nhân nhượng.

57. How must a man approach the transmutation of the astral body?

57. Con người phải tiếp cận việc chuyển hoá thể cảm dục như thế nào?

a. Through constant watchfulness. This suggests an ability to focus as the observer within the mind.

a. Qua sự tỉnh thức không ngừng. Điều này gợi ý một khả năng tập trung như người quan sát bên trong thể trí.

b. Through unremitting control. One does not allow the astral body to react.

b. Qua sự kiểm soát không ngơi nghỉ. Người ta không cho phép thể cảm dục phản ứng.

c. Through steady meditation. The influence of the soul and its rhythm steadies the astral body and produces within it a new rhythm conducive to loving response.

c. Qua sự tham thiền vững bền. Ảnh hưởng của linh hồn và nhịp điệu của nó làm ổn định thể cảm dục và tạo ra bên trong nó một nhịp điệu mới thuận lợi cho sự đáp ứng đầy bác ái.

Mental Poise. These words are used in the occult sense, wherein the mind (as it is commonly understood) becomes the keen steady instrument of the indwelling thinker, and the point from which he can travel onwards to higher realms of comprehension.

Sự quân bình trí tuệ. Những lời này được dùng theo nghĩa huyền bí, trong đó thể trí (như nó thường được hiểu) trở thành công cụ sắc bén và vững chắc của thức giả nội tại, là điểm từ đó y có thể tiến onward đến những lĩnh vực cao hơn của sự lĩnh hội.

58. First there must be mental control. Then the use of the mind to enter wider and higher realms of comprehension and understanding.

58. Trước hết phải có sự kiểm soát trí tuệ. Kế đó là việc sử dụng thể trí để đi vào những lĩnh vực rộng lớn hơn và cao hơn của sự lĩnh hội và thấu hiểu.

59. The mind becomes sharp. The mind becomes steady. The mind becomes progressive, leading into areas greater mental perception.

59. Thể trí trở nên sắc bén. Thể trí trở nên vững chắc. Thể trí trở nên tiến bộ, dẫn vào những lĩnh vực tri giác trí tuệ lớn lao hơn.

It is the foundation stone whence the higher expansion can be initiated.

Đó là viên đá nền tảng từ đó sự mở rộng cao hơn có thể được khởi sự.

60. Initiation is an achieved and sustained expansion of consciousness.

60. Điểm đạo là một sự mở rộng tâm thức đã đạt được và được duy trì.

61. A poised mind is required of one who seeks those higher expansions of consciousness we call “initiations”. We see that without proper training there is no real treading of the Path of Initiation.

61. Một thể trí quân bình là điều được đòi hỏi nơi người tìm kiếm những sự mở rộng tâm thức cao hơn mà chúng ta gọi là “điểm đạo”. Chúng ta thấy rằng nếu không có sự huấn luyện thích đáng thì không có sự thực sự bước đi trên Con Đường Điểm Đạo.

Let not the would-be student of magic proceed in his investigations and his experiments until he has attended to these injunctions, and until the whole bent of his thought is towards their manifestation and their demonstration [996] in his every day life.

Đừng để đạo sinh muốn học huyền thuật tiến hành các khảo cứu và các thí nghiệm của mình cho đến khi y đã lưu tâm đến những huấn lệnh này, và cho đến khi toàn bộ xu hướng tư tưởng của y hướng về sự biểu hiện và sự chứng minh của chúng [996] trong đời sống hằng ngày của y.

62. Probably it will be many decades and even centuries before the requisite magical words and formulas are placed in his hands. Nevertheless, there are still many ancient formulas extant which can be used ignorantly, improperly and with wrong motive. Until the true magical formulas are revealed, Chân sư DK’s warnings may safeguard many.

62. Có lẽ sẽ còn nhiều thập niên và thậm chí nhiều thế kỷ trước khi những linh từ và công thức huyền thuật cần thiết được đặt vào tay y. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều công thức cổ xưa hiện tồn có thể được sử dụng một cách vô minh, sai lạc và với động cơ sai trái. Cho đến khi các công thức huyền thuật chân chính được tiết lộ, những lời cảnh báo của Chân sư DK có thể bảo vệ được nhiều người.

When he has so worked, ceaselessly and untiringly, and his physical plane life and service bear witness to the inner transmutation, then he can proceed to parallel this life with magical studies and work.

Khi y đã làm việc như thế, liên tục và không mệt mỏi, và đời sống cùng sự phụng sự trên cõi hồng trần của y làm chứng cho sự chuyển hoá bên trong, thì khi ấy y có thể tiến tới song hành đời sống này với việc học hỏi và công việc huyền thuật.

63. It is clear that the inner transmutation upon which the true student has labored long must be visible and in serviceable expression before it is wise for him to apply himself to magical studies of the practical kind.

63. Rõ ràng là sự chuyển hoá bên trong mà đạo sinh chân chính đã lao động lâu dài phải trở nên hữu hình và được biểu lộ một cách hữu dụng trước khi việc y chuyên tâm vào những nghiên cứu huyền thuật có tính thực hành trở nên khôn ngoan.

Only the solar Angel can do the work of the white magician, and he effects it through the control of the lunar angels and their complete subjugation.

Chỉ Thái dương Thiên Thần mới có thể làm công việc của nhà huyền thuật chánh đạo, và Ngài thực hiện điều đó qua sự kiểm soát các thái âm thiên thần và sự khuất phục hoàn toàn họ.

64. This is a potent statement giving pause for reflection. One implication is that, well before the taking of the fourth initiation, the human being can become a white magician.

64. Đây là một phát biểu mạnh mẽ khiến người ta phải dừng lại để suy ngẫm. Một hàm ý là, từ rất lâu trước khi trải qua lần điểm đạo thứ tư, con người có thể trở thành một nhà huyền thuật chánh đạo.

65. The Solar Angel is not the white magician and yet it is. When the energy system and consciousness of the magician are a pure and clear conduit for the energies of the Solar Angel (energies which are normally suffused throughout the causal body), then the magician can act as a white magician and not before. Then and only then can the Solar Angel work through the magician—now a white magician.

65. Thái dương Thiên Thần không phải là nhà huyền thuật chánh đạo, nhưng đồng thời Ngài lại là. Khi hệ thống năng lượng và tâm thức của nhà huyền thuật là một ống dẫn thuần khiết và trong sáng cho các năng lượng của Thái dương Thiên Thần (những năng lượng vốn thường thấm đẫm khắp thể nguyên nhân), thì khi ấy nhà huyền thuật mới có thể hành động như một nhà huyền thuật chánh đạo, chứ không phải trước đó. Khi ấy và chỉ khi ấy Thái dương Thiên Thần mới có thể hoạt động qua nhà huyền thuật—nay là một nhà huyền thuật chánh đạo.

66. The Solar Angel knows the Divine Plan. The true white magician seeks ever to cooperate with this Plan.

66. Thái dương Thiên Thần biết Thiên Cơ. Nhà huyền thuật chánh đạo chân chính luôn tìm cách hợp tác với Thiên Cơ này.

67. We note that the Solar Angel working through the white magician does not share authority with the lunar angels but seeks to control them completely. The greater Angel (working through the white magician—i.e., through the purified soul-in-incarnation) subjugates the lesser ‘angels’ entirely. When such subjugation is firmly established, white magic can be performed.

67. Chúng ta lưu ý rằng Thái dương Thiên Thần hoạt động qua nhà huyền thuật chánh đạo không chia sẻ quyền uy với các thái âm thiên thần mà tìm cách kiểm soát họ hoàn toàn. Thiên Thần lớn hơn (hoạt động qua nhà huyền thuật chánh đạo—tức là qua linh hồn đang nhập thể đã được thanh luyện) khuất phục hoàn toàn các ‘thiên thần’ nhỏ hơn. Khi sự khuất phục ấy được thiết lập vững chắc, Chánh Thuật có thể được thực hiện.

They are arrayed against him, until, through meditation, aspiration, and control, he bends them to his will and they become his servants.

Họ dàn trận chống lại y, cho đến khi, qua tham thiền, khát vọng và kiểm soát, y uốn họ theo ý chí mình và họ trở thành những kẻ phụng sự của y.

68. The magician who can identify with the Solar Angel and transmit its potency becomes (in a sense and for purposes of white magic) the Solar Angel.

68. Nhà huyền thuật có thể đồng hoá với Thái dương Thiên Thần và truyền dẫn uy lực của Ngài thì trở thành (theo một nghĩa nào đó và vì những mục đích của Chánh Thuật) chính Thái dương Thiên Thần.

69. We are to make no mistake. The lunar angels are the opponents of the Solar Angel. To be “arrayed against him” is to act as an opposing army.

69. Chúng ta không được lầm lẫn. Các thái âm thiên thần là những đối thủ của Thái dương Thiên Thần. “Dàn trận chống lại y” có nghĩa là hành động như một đạo quân đối nghịch.

70. The white magician does not lose his own identity but identifies so closely with the Solar Angel that it is as if, for purposes of magical work, they are one.

70. Nhà huyền thuật chánh đạo không đánh mất bản sắc riêng của mình, nhưng đồng hoá chặt chẽ với Thái dương Thiên Thần đến nỗi dường như, vì những mục đích của công việc huyền thuật, họ là một.

71. The three methods of bending the lunar angels to the united will of the Solar Angel and white magician are meditation, aspiration and control. Unless these three means constitute the approach of the magician to the lunar lords, they will not become his servants and the white magical process cannot proceed.

71. Ba phương pháp để uốn các thái âm thiên thần theo ý chí hợp nhất của Thái dương Thiên Thần và nhà huyền thuật chánh đạo là tham thiền, khát vọng kiểm soát. Trừ phi ba phương tiện này cấu thành cách tiếp cận của nhà huyền thuật đối với các nguyệt tinh quân, họ sẽ không trở thành những kẻ phụng sự của y, và tiến trình huyền thuật chánh đạo không thể tiếp tục.

This thought brings us to the vital and real distinction between the white brother and the brother of darkness, and in this summation we will conclude the present discussion and proceed with the rules.

Tư tưởng này đưa chúng ta đến sự phân biệt thiết yếu và thực sự giữa huynh đệ chánh đạo và huynh đệ của bóng tối, và với phần tóm lược này chúng ta sẽ kết thúc cuộc thảo luận hiện tại và tiếp tục với các quy luật.

72. It seems that to draw the basic distinctions between the white and dark brother has been Chân sư DK’s intention throughout these pages.

72. Dường như việc vạch ra những phân biệt căn bản giữa huynh đệ chánh đạo và Huynh đệ bóng tối đã là chủ ý của Chân sư DK xuyên suốt những trang này.

The worker in white magic utilises ever the energy of the Solar Angel to effect his ends. The dark brother works through the inherent force of the lunar lords, which are allied in nature to all that is objective.

Người hoạt động trong Chánh Thuật luôn sử dụng năng lượng của Thái dương Thiên Thần để đạt các mục đích của mình. Huynh đệ bóng tối hoạt động qua mãnh lực cố hữu của các nguyệt tinh quân, vốn đồng minh về bản chất với mọi điều khách quan.

73. The dark brother has no use for the energies of the Solar Angel. He rejects such energies because attunement to such energies and their subsequent expression leads to the victory of the second aspect of divinity and not the third.

73. Huynh đệ bóng tối không dùng đến các năng lượng của Thái dương Thiên Thần. Y khước từ những năng lượng ấy vì sự chỉnh hợp với các năng lượng ấy và sự biểu lộ tiếp theo của chúng dẫn đến chiến thắng của phương diện thứ hai của thiên tính chứ không phải phương diện thứ ba.

74. The final purposes of the dark brother concern objectivity—i.e., all that is within the dense physical body of the Solar Logos and, especially, within the dense physical body of the Planetary Logos.

74. Những mục đích tối hậu của Huynh đệ bóng tối liên quan đến tính khách quan—tức là mọi điều nằm trong thể xác hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế và đặc biệt là trong thể xác hồng trần đậm đặc của Đức Hành Tinh Thượng Đế.

75. The lunar lords, we remember, are elemental lives and are inherently involutionary. The dark brother works against the etherealization of cosmic dense physical matter. He seeks to remove the dense physical matter of the lower three systemic planes from the possibility of redemption by the higher, principled energies.

75. Chúng ta nhớ rằng các nguyệt tinh quân là những sự sống hành khí và vốn dĩ thuộc giáng hạ tiến hoá. Huynh đệ bóng tối hoạt động chống lại sự dĩ thái hoá của vật chất hồng trần đậm đặc vũ trụ. Y tìm cách loại bỏ vật chất hồng trần đậm đặc của ba cõi thấp hệ thống khỏi khả năng được cứu chuộc bởi các năng lượng cao hơn, có nguyên khí.

In an old book of magic, hidden in the caves of learning

Trong một cuốn sách huyền thuật cổ, ẩn trong các hang động của tri thức

76. Are these “caves” the Master’s inner libraries?

76. Những “hang động” này có phải là các thư viện nội môn của Chân sư không?

guarded by the Masters,

được các Chân sư canh giữ,

77. This knowledge clearly is not available on demand.

77. Rõ ràng tri thức này không thể có được theo yêu cầu.

are the following conclusive words, which find their place in this Treatise on Fire through their very appropriateness:

có những lời kết luận dứt khoát sau đây, được đặt vào Luận về Lửa Vũ Trụ này chính vì sự thích đáng của chúng:

78. Here we have in the words of the Old Commentary a definitive distinction between the Brothers of the Sun and of the Moon.

78. Ở đây, trong lời của Cổ Luận, chúng ta có một sự phân biệt dứt khoát giữa các Huynh Đệ của Mặt Trời và của Mặt Trăng.

“The Brothers of the Sun, through the force of solar fire, fanned to a flame in the blazing vault of the second Heaven, put out the lower lunar fires, and render naught that lower ‘fire by friction.’

“Các Huynh Đệ của Mặt Trời, nhờ mãnh lực của Lửa Thái dương, được quạt bùng thành ngọn lửa trong vòm rực cháy của cõi trời thứ hai, dập tắt các lửa thái âm thấp hơn, và làm cho cái ‘Lửa ma sát’ thấp hơn ấy trở thành hư kh y.

79. How may we interpret the idea of the “second Heaven”? The term “heaven” is used to describe a number of locales upon the subtler planes.

79. Chúng ta có thể diễn giải ý niệm “cõi trời thứ hai” như thế nào? Thuật ngữ “cõi trời” được dùng để mô tả một số nơi chốn trên các cõi vi tế hơn.

80. It is reasonable to conclude that each of the subplanes of the higher mental plane is as a “heaven” and that the “second Heaven” represents the second subplane on which the Ego of the advanced individual is polarized.

80. Có lý khi kết luận rằng mỗi cõi phụ của Cõi thượng trí đều như một “cõi trời” và “cõi trời thứ hai” tượng trưng cho cõi phụ thứ hai, nơi chân ngã của cá nhân tiến hoá cao được phân cực.

81. From another perspective, each of the systemic planes above the systemic physical plane can be considered a kind of “heaven”. From this perspective, the logoic plane is the “seventh Heaven”.

81. Từ một góc nhìn khác, mỗi cõi hệ thống ở trên cõi hồng trần hệ thống đều có thể được xem như một loại “cõi trời”. Từ góc nhìn này, cõi logoic là “cõi trời thứ bảy”.

“The Brother of the Moon ignores the sun and solar heat;

“Huynh Đệ của Mặt Trăng phớt lờ mặt trời và nhiệt thái dương;

82. “Heat” in this case represents spiritual energy.

82. Trong trường hợp này, “nhiệt” tượng trưng cho năng lượng tinh thần.

That light is clear and cold, but produces the needed “heat,” which is a symbolic word used in many of the world Scriptures to express living, spiritual energy. I said “spiritual energy” and not soul force, and herein lies a distinction which you will some day have to grasp. (R&I 32)

Ánh sáng ấy trong sáng và lạnh, nhưng tạo ra “nhiệt” cần thiết, một từ biểu tượng được dùng trong nhiều Kinh điển thế gian để diễn tả năng lượng sống, tinh thần. Tôi đã nói “năng lượng tinh thần” chứ không phải mãnh lực linh hồn, và chính trong đó có một sự phân biệt mà một ngày nào đó các bạn sẽ phải nắm bắt. (R&I 32)

borrows his fire from all that triply is,

vay mượn lửa của mình từ mọi điều tam phân,

83. He borrows his fire from the three lunar lords, working through their inherent force.

83. Y vay mượn lửa của mình từ ba nguyệt tinh quân, hoạt động qua mãnh lực cố hữu của họ.

and pursues his cycle.

và theo đuổi chu kỳ của mình.

84. It becomes apparent that there is a limited cycle during which a brother of darkness can pursue his low objectives. There will come a time in the development of our solar system when the dense physical body of the Solar Logos will disappear entirely. This would not augur well for such misguided brothers who have confined their objectives to that unprincipled cosmic vehicle.

84. Rõ ràng là có một chu kỳ giới hạn trong đó một huynh đệ của bóng tối có thể theo đuổi các mục tiêu thấp kém của mình. Sẽ đến một thời điểm trong sự phát triển của hệ mặt trời chúng ta khi thể xác hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế sẽ hoàn toàn biến mất. Điều này hẳn không báo trước điều gì tốt đẹp cho những huynh đệ lầm lạc đã giới hạn các mục tiêu của mình vào vận cụ vũ trụ vô nguyên khí ấy.

The fires of hell await, and lunar fire dies out.

Lửa địa ngục chờ đợi y, và lửa thái âm tắt lịm.

85. Hell has been called the seventh subplane of the astral plane. Is this subplane to be considered the Avitchi?

85. Địa ngục đã được gọi là cõi phụ thứ bảy của cõi cảm dục. Cõi phụ này có nên được xem là Avitchi chăng?

4. Certain devas who—being of the third order—form the Heaven of the average orthodox Christian or believer of any faith. Another group—being the seventh order—form the Hell for the same class of thinker. (TCF 677)

4. Một số thiên thần—vì thuộc bậc thứ ba—tạo thành Thiên Đàng của người Kitô hữu chính thống trung bình hay của tín đồ thuộc bất kỳ đức tin nào. Một nhóm khác—vì thuộc bậc thứ bảy—tạo thành Địa Ngục cho cùng hạng người suy tưởng ấy. (TCF 677)

86. Below it seems that Avitchi must have still broader connotations.

86. Dưới đây dường như Avitchi phải có những hàm nghĩa còn rộng hơn nữa.

35: Avitchi. A state of consciousness, not necessarily after death or between births for it can take place on earth as well. Literally it means “uninterrupted hell.” The last of the eight hells we are told where “the culprits die and are reborn without interruption—yet not without hope of final redemption.” See S. D., I

35: Avitchi. Một trạng thái tâm thức, không nhất thiết là sau khi chết hay giữa các lần sinh, vì nó cũng có thể xảy ra trên trần thế. Theo nghĩa đen, nó có nghĩa là “địa ngục không gián đoạn”. Chúng ta được cho biết đó là địa ngục cuối cùng trong tám địa ngục, nơi “những kẻ phạm tội chết đi và tái sinh không gián đoạn—nhưng không phải không có hy vọng được cứu chuộc cuối cùng.” Xem S. D., I

87. In the following writings by H.P.B., we are presented with a still fuller description of the “hell” to which the unrepentant dark brother will be confined.

87. Trong những trước tác sau đây của H.P.B., chúng ta được trình bày một mô tả còn đầy đủ hơn về “địa ngục” mà Huynh đệ bóng tối không ăn năn sẽ bị giam cầm trong đó.

HPB: COLLECTED WRITINGS: The “furnace of Nature” is the eighth sphere. When man fails to mould his soul “in the image and likeness of the great Adam”—we say of—Buddha, Krishna, or Christ (according to our respective creeds)—he is “a failure of nature” and nature has to remould the cast before it can launch it again on the shoreless

HPB: TRƯỚC TÁC SƯU TẬP: “lò lửa của Thiên Nhiên” là khối cầu thứ tám. Khi con người không nặn đúc linh hồn mình “theo hình ảnh và sự tương tự của đại Adam”—chúng ta nói là—Đức Phật, Krishna, hay Đức Christ (tuỳ theo tín điều của mỗi người)—thì y là “một thất bại của thiên nhiên” và thiên nhiên phải nặn đúc lại khuôn đúc ấy trước khi có thể phóng nó trở lại trên bờ vô tận của

Ocean of Immortality

Đại Dương Bất Tử

HPB: VEIL OF ISIS.

HPB: MÀN CHE CỦA ISIS.

This gehenna, termed by the occultists the eighth sphere is merely a planet like our own, attached to the latter and following it in its penumbra; a kind of dust-hole, a “place where all its garbage and filth is consumed,” to borrow an expression of the above-mentioned authors, and on which all the dross and scorification of the cosmic matter pertaining to our planet is in a continual state of remodelling.

Cái gehenna này, được các nhà huyền bí học gọi là khối cầu thứ tám, chỉ đơn thuần là một hành tinh giống như hành tinh của chúng ta, gắn với hành tinh sau và đi theo nó trong vùng nửa tối của nó; một loại hố rác, một “nơi mà mọi rác rưởi và ô uế của nó bị thiêu huỷ”, mượn cách diễn đạt của các tác giả đã nhắc ở trên, và trên đó mọi cặn bã và xỉ than của vật chất vũ trụ liên hệ với hành tinh chúng ta đều ở trong một trạng thái được nặn đúc lại liên tục.

When, through vice, fearful crimes and animal passions, a disembodied spirit has fallen to the eighth sphere — the allegorical Hades, and the gehenna of the Bible — the nearest to our earth — he can, with the help of that glimpse of reason and consciousness left to him, repent; that is to say, he can, by exercising the remnants of his will-power, strive upward, and like a drowning man, struggle once more to the surface. A strong aspiration to retrieve his calamities, a pronounced desire, will draw him once more into the earth’s atmosphere. Here he will wander and suffer more or less in dreary solitude. His instincts will make him seek with avidity contact with living persons…. These spirits are the invisible but too tangible magnetic vampires; the subjective dæmons so well known to mediæval ecstatics, nuns, and monks, to the “witches” made so famous in the Witch-Hammer; and to certain sensitive clairvoyants, according to their own confessions. They are the blood-dæmons of Porphyry, the larvæ and lemures of the ancients; the fiendish instruments which sent so many unfortunate and weak victims to the rack and stake. Origen held all the dæmons which possessed the demoniacs mentioned in the New Testament to be human “spirits.” It is because Moses knew so well what they were, and how terrible were the consequences to weak persons who yielded to their influence, that he enacted the cruel, murderous law against such would-be “witches”; but Jesus, full of justice and divine love to humanity, healed instead of killing them. Subsequently our clergy, the pretended exemplars of Christian principles, followed the law of Moses, and quietly ignored the law of Him whom they call their “one living God,” by burning dozens of thousands of such pretended “witches.”

Khi, do thói xấu, những tội ác ghê sợ và các dục vọng thú tính, một linh hồn lìa xác đã rơi xuống khối cầu thứ tám — Hades theo nghĩa ngụ ngôn, và gehenna của Kinh Thánh — nơi gần Trái Đất chúng ta nhất — y vẫn có thể, với sự trợ giúp của tia sáng lý trí và tâm thức còn sót lại nơi mình, ăn năn; nghĩa là, bằng cách vận dụng những tàn dư của ý chí, y có thể cố vươn lên, và như một người chết đuối, lại một lần nữa vật lộn để nổi lên mặt nước. Một khát vọng mạnh mẽ muốn khôi phục những tai hoạ của mình, một ước muốn rõ rệt, sẽ kéo y trở lại bầu khí quyển của Trái Đất. Ở đây y sẽ lang thang và đau khổ ít nhiều trong cô tịch ảm đạm. Bản năng của y sẽ khiến y háo hức tìm kiếm sự tiếp xúc với những người đang sống…. Những linh hồn này là những ma cà rồng từ tính vô hình nhưng quá hữu hình; những chủ quan quỷ thần rất quen thuộc với các nhà xuất thần thời trung cổ, các nữ tu và tu sĩ, với những “phù thuỷ” được làm cho nổi tiếng trong cuốn Witch-Hammer; và với một số nhà thông nhãn nhạy cảm, theo chính lời thú nhận của họ. Chúng là những quỷ thần hút máu của Porphyry, những larvælemures của người xưa; những công cụ quỷ dữ đã đưa biết bao nạn nhân bất hạnh và yếu đuối lên giá tra tấn và giàn thiêu. Origen cho rằng tất cả những quỷ thần nhập vào những kẻ bị quỷ ám được nhắc đến trong Tân Ước đều là những “linh hồn” con người. Chính vì Moses biết quá rõ chúng là gì, và hậu quả khủng khiếp đối với những người yếu đuối khi khuất phục ảnh hưởng của chúng, nên y đã ban hành luật tàn nhẫn, đẫm máu chống lại những kẻ muốn làm “phù thuỷ” như thế; nhưng Đức Jesus, đầy công lý và tình thương thiêng liêng đối với nhân loại, đã chữa lành thay vì giết chết họ. Về sau, hàng giáo sĩ của chúng ta, những kẻ tự xưng là gương mẫu của các nguyên lý Kitô giáo, đã theo luật của Moses, và lặng lẽ phớt lờ luật của Đấng mà họ gọi là “Thượng đế hằng sống duy nhất” của họ, bằng cách thiêu sống hàng chục ngàn những “phù thuỷ” bị gán ghép như thế.

Then neither sun nor moon avails him,

Khi ấy cả mặt trời lẫn mặt trăng đều không giúp được y,

88. At the point when the dark brother enters Avitchi, he can expect no hope (Chân sư DK says, for the duration of the solar system) from either the Solar Lords or the lunar lords. Both will fail him. He will be, eventually, bereft of both the lunar personality and the solar “soul”.

88. Vào thời điểm Huynh đệ bóng tối đi vào Avitchi, y không thể mong đợi hy vọng nào (Chân sư DK nói, trong suốt thời gian của hệ mặt trời) từ cả các nhật tinh quân lẫn các nguyệt tinh quân. Cả hai đều sẽ phụ y. Cuối cùng y sẽ bị tước mất cả phàm ngã thái âm lẫn “linh hồn” thái dương.

only the highest heaven awaits the spark electric,

chỉ cõi trời cao nhất chờ đợi tia lửa điện,

89. The “highest heaven” is either the monadic plane or the logoic plane (into which the essential Monad—the “spark electric”—will one day be released).

89. “Cõi trời cao nhất” hoặc là cõi chân thần hoặc là cõi logoic (mà một ngày kia chân thần cốt yếu—“tia lửa điện”—sẽ được giải phóng vào đó).

90. It is as if the Monad awaits the return of the “Prodigal Son”, but the Prodigal Son, completely captured in Avitchi, does not return.

90. Dường như chân thần đang chờ đợi sự trở về của “Đứa Con Hoang Đàng”, nhưng Đứa Con Hoang Đàng, bị giam giữ hoàn toàn trong Avitchi, lại không trở về.

seeking vibration synchronous from that which lies beneath.

tìm kiếm rung động đồng bộ từ điều nằm bên dưới.

91. The Monad seeks to reproduce on ‘earth’ that which is in ‘heaven’—i.e., through its long pilgrimage, to “bring heaven to earth”.

91. Chân thần tìm cách tái tạo trên ‘đất’ điều ở trên ‘trời’—tức là, qua cuộc hành hương dài lâu của mình, “mang trời xuống đất”.

92. The Monad Whose venturing Jiva has come to express itself as a brother of darkness has failed in its pilgrimage. No heavenly vibration arises “from that which lies beneath”.

92. Chân thần mà Jiva phiêu lưu của nó đã đi đến chỗ biểu lộ như một huynh đệ của bóng tối đã thất bại trong cuộc hành hương của mình. Không có rung động thiên thượng nào phát sinh “từ điều nằm bên dưới”.

And yet it cometh not.”

Và tuy vậy nó vẫn không đến.”

93. From that area of experience called Avitchi no such synchronous vibration can arise. The Monad’s pilgrimage will have to be undertaken anew in a succeeding solar system.

93. Từ khu vực kinh nghiệm được gọi là Avitchi ấy, không một rung động đồng bộ nào như thế có thể phát sinh. Cuộc hành hương của chân thần sẽ phải được thực hiện lại trong một hệ mặt trời kế tiếp.

94. H.P.B. hints at the possibility of redemption following Avitchi, but she does not offer details concerning this redemption as does the Tibetan. According to the Tibetan, redemption comes only in a future solar system.

94. H.P.B. gợi ý về khả năng cứu chuộc sau Avitchi, nhưng bà không đưa ra chi tiết về sự cứu chuộc này như Chân sư Tây Tạng đã làm. Theo Chân sư Tây Tạng, sự cứu chuộc chỉ đến trong một hệ mặt trời tương lai.

95. The selected writings of H.P.B. offered above seem to offer redemption from Avitchi within the aura of the planetary scheme. Perhaps this redemption (occurring still within the solar system in which the great misdeeds were enacted) is available only for those who have somehow managed to free themselves from Avitchi. Obviously, there are some members of the Black Lodge who never succeed in freeing themselves and perhaps do not wish to do so.

95. Những trước tác được chọn của H.P.B. nêu trên dường như đưa ra sự cứu chuộc khỏi Avitchi trong hào quang của hệ hành tinh. Có lẽ sự cứu chuộc này (xảy ra vẫn trong hệ mặt trời nơi các đại ác nghiệp đã được thực hiện) chỉ dành cho những ai bằng cách nào đó đã tự giải thoát khỏi Avitchi. Rõ ràng có một số thành viên của Hắc đoàn không bao giờ thành công trong việc tự giải thoát và có lẽ cũng không muốn làm như vậy.

Scroll to Top