Bình Giảng về Lửa Vũ Trụ S8S6 (997-1013)

📘 Sách: Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S8 – Tác giả: Michael D. Robbins

Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến trang sách tương ứng trong TCF

Phần VI, Mục I.1

S8S6 Part I.1

TCF 997-1002

TCF 996-1002

Section VI, Part I.1

Phần VI, Phần I.1

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Có đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, vì mục đích liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ chuyển tải ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

3. Fifteen Rules for Magic.

3. Mười lăm Quy Luật về Huyền Thuật.

These rules will necessarily be of an esoteric nature, and the student will need to remember that the terminology is in the nature of a blind, which ever carries [Page 997] revelation to those who have the clue, but tends to perplex and to bewilder the student who as yet is unready for the truth.

Những quy luật này tất yếu sẽ có bản chất huyền bí, và đạo sinh cần nhớ rằng thuật ngữ mang bản chất của một bức màn che, luôn mang theo [Page 997] sự mặc khải cho những ai có chìa khóa, nhưng lại có khuynh hướng làm rối trí và gây hoang mang cho đạo sinh còn chưa sẵn sàng cho chân lý.

1. Here we have a foundational principle. Those who have eyes to see will see. Those who have ears to hear will hear.

1. Ở đây chúng ta có một nguyên lý nền tảng. Những ai có mắt để thấy sẽ thấy. Những ai có tai để nghe sẽ nghe.

2. Through deliberate blinding Master DK will protect the unready from the truth while simultaneously bringing revelation to those who have a sufficient clue and are, thus, ready to receive the truth.

2. Qua sự làm mù có chủ ý, Chân sư DK sẽ bảo vệ những người chưa sẵn sàng khỏi chân lý, đồng thời mang lại sự mặc khải cho những ai có đủ đầu mối và vì thế đã sẵn sàng tiếp nhận chân lý.

I would also remind the student to bear in mind that all that is here imparted concerns “white magic,” and is given from the standpoint of the solar Angel, and of solar Fire.

Tôi cũng xin nhắc đạo sinh ghi nhớ rằng tất cả những gì được truyền đạt ở đây đều liên quan đến “Chánh Thuật,”được ban ra từ quan điểm của Thái dương Thiên Thần, và của Lửa Thái dương.

3. Some might begin reading such a book in the hope of acquiring magical methods for selfish purposes. They will find no satisfaction in the Tibetan’s writings.

3. Một số người có thể bắt đầu đọc một quyển sách như thế này với hy vọng đạt được các phương pháp huyền thuật cho những mục đích ích kỷ. Họ sẽ không tìm thấy sự thỏa mãn nào trong các trước tác của Chân sư Tây Tạng.

4. The fire used in white magic is solar fire. The Agent of white magic is the Solar Angel.

4. Ngọn lửa được dùng trong Chánh Thuật là Lửa Thái dương. Tác nhân của Chánh Thuật là Thái dương Thiên Thần.

Bearing these two points in mind the student will find much in these rules to produce eventual internal illumination.

Ghi nhớ hai điểm này, đạo sinh sẽ thấy trong các quy luật này nhiều điều có thể tạo ra sự soi sáng nội tại về sau.

5. DK does not promise immediate illumination but rather “eventual illumination”

5. Chân sư DK không hứa hẹn sự soi sáng tức thời mà đúng hơn là “sự soi sáng về sau”

6. Why does He add the word “internal”? Perhaps, because He is working with the second aspect of divinity rather than the third. He seeks the improvement of the consciousness.

6. Vì sao Ngài thêm từ “nội tại”? Có lẽ vì Ngài đang làm việc với phương diện thứ hai của thiên tính hơn là phương diện thứ ba. Ngài tìm cách cải thiện tâm thức.

We will divide them into three groups of aphorisms or occult phrases;

Chúng ta sẽ chia chúng thành ba nhóm châm ngôn hay cụm từ huyền bí;

7. The personality is threefold.

7. Phàm ngã là tam phân.

of these, the first will concern itself with the work of the magician on the mental plane, with his manipulation of solar energy, and his ability to sweep the Builders into co-operation with his purposes.

trong đó, nhóm thứ nhất sẽ quan tâm đến công việc của nhà huyền thuật trên cõi trí, đến sự vận dụng năng lượng thái dương của y, và khả năng lôi cuốn các đấng kiến tạo vào sự hợp tác với các mục đích của y.

8. Upon the mental plane, the work of the magician is to—

8. Trên cõi trí, công việc của nhà huyền thuật là—

a. Manipulate solar energy

a. Vận dụng năng lượng thái dương

b. To sweep the Builders into cooperation with his purposes.

b. Lôi cuốn các đấng kiến tạo vào sự hợp tác với các mục đích của y.

9. Presumably, the “Builders” are deva lives and not only elemental lives, though the term “builders” is often used in connection with both. The elemental lives, however, are more built than building.

9. Có lẽ “các đấng kiến tạo” là các sự sống thiên thần chứ không chỉ là các sự sống hành khí, dù thuật ngữ “đấng kiến tạo” thường được dùng liên hệ với cả hai. Tuy nhiên, các sự sống hành khí thiên về được xây dựng hơn là xây dựng.

The second group will carry the work on down to the plane of desire, and of vitalisation, and will convey information as to the balancing of the pairs of opposites, and their equilibrising, so that eventual manifestation becomes possible.

Nhóm thứ hai sẽ đưa công việc đi xuống cõi của dục vọng, và của sự tiếp sinh lực, và sẽ truyền đạt thông tin về việc quân bình các cặp đối đãi, và đưa chúng đến thế quân bình, để sự biểu hiện rốt cuộc trở nên khả hữu.

10. Upon the astral plane, the work of the magician is to—

10. Trên cõi cảm dục, công việc của nhà huyền thuật là—

a. Work with the factors of desire and vitalization

a. Làm việc với các yếu tố dục vọng và sự tiếp sinh lực

b. To balance the pairs of opposites

b. Quân bình các cặp đối đãi

c. To equilibrize the pairs of opposites

c. Đưa các cặp đối đãi đến thế quân bình

d. To condition the “waters” so that manifestation eventually becomes possible

d. Tác động lên “các dòng nước” để sự biểu hiện rốt cuộc trở nên khả hữu

11. Do we find it interesting that the astral plane is called the “plane…of vitalisation”? We often hear of being animated by desire. Certainly the factors of desire, vitalization, animation and inspiration are all related. A man is moved or activated by these factors.

11. Chúng ta có thấy thú vị không khi cõi cảm dục được gọi là “cõi… của sự tiếp sinh lực”? Chúng ta thường nghe nói đến việc được dục vọng làm cho sinh động. Chắc chắn các yếu tố dục vọng, sự tiếp sinh lực, sự linh hoạt và cảm hứng đều có liên hệ với nhau. Con người được các yếu tố này thúc đẩy hay hoạt hóa.

The third group of rules will deal with the physical plane, with the transmission of force:

Nhóm quy luật thứ ba sẽ bàn đến cõi hồng trần, với sự truyền dẫn mãnh lực:

a. Through the centres,

a. Qua các trung tâm,

b. Through the brain,

b. Qua bộ não,

c. Through the physical plane itself.

c. Qua chính cõi hồng trần.

12. Upon the physical plane, the work of the magician is to deal with the transmission of force through the magician and into the surrounding physical environment.

12. Trên cõi hồng trần, công việc của nhà huyền thuật là bàn đến sự truyền dẫn mãnh lực qua nhà huyền thuật và đi vào môi trường hồng trần chung quanh.

13. We must not forget that the centers are found on the astral and mental planes as well.

13. Chúng ta không được quên rằng các trung tâm cũng được tìm thấy trên cõi cảm dục và cõi trí.

a. Six Rules for the Mental Plane. Certain of the laws of speech will be given, and the significance of colour and of sound will appear beneath the exoteric form of the phrasing to those whose perception suffices.

a. Sáu Quy Luật cho Cõi Trí. Một số định luật của lời nói sẽ được ban ra, và thâm nghĩa của màu sắc và âm thanh sẽ hiện ra bên dưới hình thức ngoại môn của cách diễn đạt đối với những ai có tri giác đầy đủ.

14. The Tibetan intends to convey certain laws of speech and to inform the perceptive student regarding the significance of color and sound. Obviously, then, the instruction has to be read with the aid of the intuition.

14. Chân sư Tây Tạng có ý định truyền đạt một số định luật của lời nói và cho đạo sinh có tri giác biết về thâm nghĩa của màu sắc và âm thanh. Hiển nhiên, vì thế, giáo huấn này phải được đọc với sự trợ giúp của trực giác.

15. He is asking us to sharpen our perception as we read. Perhaps this suffice to reveal to us more than the words seem to convey.

15. Ngài đang yêu cầu chúng ta làm sắc bén tri giác của mình khi đọc. Có lẽ điều này đủ để mặc khải cho chúng ta nhiều hơn những gì các từ ngữ dường như chuyển tải.

RULE I. The Solar Angel collects himself, scatters not his force, but in meditation deep communicates with his reflection.

QUY LUẬT I. Thái dương Thiên Thần tự thu nhiếp chính mình, không phân tán mãnh lực của mình, nhưng trong tham thiền sâu thẳm truyền thông với phản ảnh của mình.

16. In this case the Solar Angel is a high being working through the egoic lotus of man.

16. Trong trường hợp này, Thái dương Thiên Thần là một hữu thể cao cả đang hoạt động qua hoa sen chân ngã của con người.

17. Before the time when an evolving human being is ready for specific cultivation, the Solar Angel has been involved with many pursuits of its own.

17. Trước thời điểm một con người đang tiến hóa sẵn sàng cho sự tu dưỡng chuyên biệt, Thái dương Thiên Thần đã bận rộn với nhiều theo đuổi riêng của nó.

18. When the time comes that a man is capable of profiting from the Solar Angel’s direct supervision, the Angel collects His forces prior to a renewed focus upon its projection—the soul-in-incarnation.

18. Khi đến lúc một người có khả năng hưởng lợi từ sự giám sát trực tiếp của Thái dương Thiên Thần, Thiên Thần thu nhiếp các mãnh lực của Ngài trước khi tái tập trung vào sự phóng chiếu của mình—linh hồn đang nhập thể.

19. The Solar Angel meditates sending streams of meditatively generated energy towards the soul-in-incarnation.

19. Thái dương Thiên Thần tham thiền, gửi những dòng năng lượng được tạo ra trong tham thiền về phía linh hồn đang nhập thể.

It may be of use to the student if he here remembers that the ego (as well as the Logos) is in deep meditation during the whole cycle of physical incarnation. This meditation is cyclic in nature, the pitri involved sending out to his “reflection” rhythmic streams of energy, which streams are recognised by the man concerned as his “high impulses,” his dreams and aspirations. (TWM 61)

Điều này có thể hữu ích cho đạo sinh nếu y ở đây nhớ rằng chân ngã (cũng như Thượng đế) đang ở trong tham thiền sâu suốt toàn bộ chu kỳ lâm phàm hồng trần. Sự tham thiền này có tính chu kỳ, vị pitri liên hệ gửi ra cho “phản ảnh” của mình những dòng năng lượng có nhịp điệu, và những dòng này được người liên hệ nhận biết như các “thúc đẩy cao cả”, các giấc mơ và khát vọng của mình. (TWM 61)

20. To what extent and how is the soul-in-incarnation (the disciple) the “reflection” of the Solar Angel? May we say that the lower man is threefold (or fourfold) as is the Solar Angel within the egoic lotus? Every aspect of the man in the three lower worlds bears a similarity in quality to an aspect of the higher Ego.

20. Linh hồn đang nhập thể (đệ tử) là “phản ảnh” của Thái dương Thiên Thần đến mức nào và theo cách nào? Chúng ta có thể nói rằng phàm nhân là tam phân (hay tứ phân) cũng như Thái dương Thiên Thần bên trong hoa sen chân ngã chăng? Mọi phương diện của con người trong ba cõi thấp đều mang một sự tương tự về phẩm tính với một phương diện của Chân ngã cao hơn.

21. We may, thus, say that the Solar Angel creates its “shadow” in its own image.

21. Vì thế, chúng ta có thể nói rằng Thái dương Thiên Thần tạo ra “cái bóng” của mình theo hình ảnh của chính mình.

The significance of this rule is easily to be seen. The white magician is ever one who, through conscious alignment with his Ego, with his “Angel,” is receptive to his plans and purposes, and therefore capable of receiving the higher impression.

Thâm nghĩa của quy luật này rất dễ thấy. Nhà huyền thuật chánh đạo luôn luôn là người mà, qua sự chỉnh hợp có ý thức với Chân ngã của mình, với “Thiên Thần” của mình, có khả năng tiếp nhận các kế hoạch và mục đích của y, và do đó có khả năng tiếp nhận ấn tượng cao hơn.

22. We have established that the true white magician is a highly developed human being.

22. Chúng ta đã xác lập rằng nhà huyền thuật chánh đạo chân chính là một con người phát triển cao.

23. Are the “Ego” and the “Angel” identical? Probably the correct answer to this question must be subtle.

23. “Chân ngã” và “Thiên Thần” có đồng nhất không? Có lẽ câu trả lời đúng cho câu hỏi này phải thật tinh tế.

24. The true higher Ego of man is his spiritual triad.

24. Chân ngã cao hơn đích thực của con người là Tam Nguyên Tinh Thần của y.

25. The Solar Angel, per se, was once a human being in a previous mahamanvantara and now is one of a host of “returning nirvanis” from that mahamanvantara.

25. Thái dương Thiên Thần, chính nó, đã từng là một con người trong một Đại giai kỳ sinh hóa trước đây và nay là một trong vô số “nirvani trở về” từ Đại giai kỳ sinh hóa ấy.

26. Yet the Ego of man upon the higher mental plane would not exist if the matter of that plane were not suffused by the presence and consciousness of the Solar Angel.

26. Tuy nhiên, Chân ngã của con người trên cõi thượng trí sẽ không tồn tại nếu vật chất của cõi ấy không được thấm nhuần bởi sự hiện diện và tâm thức của Thái dương Thiên Thần.

27. We might say that the Solar Angel substanding the egoic lotus of the human being is the Ego on the higher mental plane. When the Solar Angel returns to its source, the Ego on the higher mental plane will exist no longer. The consciousness of the Ego will ‘relocate’ itself upon the planes of the spiritual triad. Man will be in full consciousness a higher Ego and the Solar Angel will no longer substand (or participate in) egoic consciousness.

27. Chúng ta có thể nói rằng Thái dương Thiên Thần nâng đỡ từ bên dưới hoa sen chân ngã của con người Chân ngã trên cõi thượng trí. Khi Thái dương Thiên Thần trở về nguồn của nó, Chân ngã trên cõi thượng trí sẽ không còn tồn tại nữa. Tâm thức của Chân ngã sẽ “tái định vị” trên các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần. Con người sẽ một Chân ngã cao hơn trong đầy đủ tâm thức và Thái dương Thiên Thần sẽ không còn nâng đỡ từ bên dưới (hay tham dự vào) tâm thức chân ngã nữa.

We must remember that [Page 998] white magic works from above downwards, and is the result of solar vibration, and not of the heating impulses emanating from one or other of the lunar Pitris;

Chúng ta phải nhớ rằng [Page 998] Chánh Thuật hoạt động từ trên xuống dưới, và là kết quả của rung động thái dương, chứ không phải của các xung lực nung nóng phát ra từ một hay một nhóm thái âm tổ phụ nào đó;

28. The lunar Pitris are ruled by Mars. At least the lunar lords (when the meaning of “lunar lords” is “lunar Pitris” instead of lunar elementals) are ruled by Mars.

28. Các thái âm tổ phụ được Sao Hỏa cai quản. Ít nhất các nguyệt tinh quân (khi ý nghĩa của “nguyệt tinh quân” là “thái âm tổ phụ” thay vì hành khí thái âm) được Sao Hỏa cai quản.

29. Mars is the planet most directly associated with “heat”.

29. Sao Hỏa là hành tinh liên hệ trực tiếp nhất với “nhiệt”.

30. Occult process proceeds from above to below. White magic, as an aspect of occult process, likewise proceeds from above to below.

30. Tiến trình huyền bí diễn ra từ trên xuống dưới. Chánh Thuật, như một phương diện của tiến trình huyền bí, cũng diễn ra từ trên xuống dưới.

31. True “solar vibration” ultimately emanates from the cosmic mental plane and from the far greater Solar Angels there found.

31. “Rung động thái dương” chân chính rốt cuộc phát ra từ cõi trí vũ trụ và từ các Thái dương Thiên Thần còn vĩ đại hơn nhiều được tìm thấy ở đó.

32. It is vitally important to distinguish between fire by friction and solar fire, between the heat of fire by friction and the warmth of solar fire.

32. Điều tối quan trọng là phải phân biệt giữa Lửa ma sát và Lửa Thái dương, giữa nhiệt của Lửa ma sát và sự ấm áp của Lửa Thái dương.

33. The sub-diaphragmatic centers are associated with heat and with fire by friction. The super-diaphragmatic centers are associated with solar fire and fire electric.

33. Các trung tâm dưới cơ hoành liên hệ với nhiệt và với Lửa ma sát. Các trung tâm trên cơ hoành liên hệ với Lửa Thái dương Lửa Điện.

34. Have we managed in our own consciousness to distinguish between solar vibration and fire by friction? At the present point of our evolution, such a distinction is vital.

34. Trong tâm thức của chính mình, chúng ta đã xoay xở để phân biệt giữa rung động thái dương và Lửa ma sát chưa? Ở điểm tiến hoá hiện nay của chúng ta, một sự phân biệt như thế là tối quan trọng.

the downflow of the impressing energy from the solar Pitri is the result of his internal recollectedness,

sự tuôn xuống của năng lượng gây ấn tượng từ thái dương tổ phụ là kết quả của sự thu nhiếp nội tại của vị ấy,

35. The Solar Angel is, in this context, the same as the “solar Pitri”.

35. Trong ngữ cảnh này, Thái dương Thiên Thần cũng chính là “thái dương tổ phụ”.

36. Is the Solar Pitri a one or a group? Probably both. It is one which emanates as a group while still retaining its oneness.

36. Thái dương tổ phụ là một hay là một nhóm? Có lẽ là cả hai. Đó là một phát xuất như một nhóm mà vẫn giữ được tính nhất thể của mình.

37. To remind ourselves of the exalted nature of a “solar Pitri” and to distinguish it from man’s Ego per se, the following sentence is of importance:

37. Để nhắc mình về bản chất cao cả của một “thái dương tổ phụ” và phân biệt nó với Chân ngã của con người chính nó, câu sau đây rất quan trọng:

Perfected men are in the councils of the planetary Logos of their particular ray; the solar Pitris are in the council of the solar Logos.69 (TCF 843)

Những con người đã hoàn thiện ở trong các hội đồng của Hành Tinh Thượng đế thuộc cung riêng của họ; các thái dương tổ phụ ở trong hội đồng của Thái dương Thượng đế.69 (TCF 843)

38. We must find a way to avoid confusing the Solar Angel or Solar Pitri with the human Ego or Higher Self, and yet realize that this Ego, as it manifests on the higher mental plane is substanded by the Angel or Pitri, and represents the influence of that Angel or Pitri in man’s constitution.

38. Chúng ta phải tìm ra một cách để tránh nhầm lẫn Thái dương Thiên Thần hay thái dương tổ phụ với Chân ngã con người hay Bản Ngã Cao Siêu, nhưng đồng thời nhận ra rằng Chân ngã này, khi biểu hiện trên cõi thượng trí, được Thiên Thần hay Pitri nâng đỡ từ bên dưới, và biểu trưng ảnh hưởng của Thiên Thần hay Pitri ấy trong cấu tạo của con người.

his indrawing of his forces prior to sending them out concentratedly to his shadow, man, and his steady meditation upon the purpose and the plan.

sự thu rút các mãnh lực của vị ấy trước khi gửi chúng ra một cách tập trung đến cái bóng của vị ấy, con người, và sự tham thiền bền bỉ của vị ấy về Thiên Ý và Thiên Cơ.

39. The Solar Angel can impress His shadow man. Why it his possible?

39. Thái dương Thiên Thần có thể gây ấn tượng lên con người là cái bóng của Ngài. Vì sao điều này có thể xảy ra?

a. Because He has achieved internal recollectedness

a. Vì Ngài đã đạt được sự thu nhiếp nội tại

b. Because He has indrawn His forces

b. Vì Ngài đã thu rút các mãnh lực của Ngài

c. Because He has sent out His indrawn forces in a concentrated manner to his shadow, man.

c. Vì Ngài đã gửi các mãnh lực đã thu rút của Ngài ra một cách tập trung đến cái bóng của Ngài, con người.

d. Because He pursues steady meditation upon the Divine Purpose and Divine Plan, and impresses man with the results of His meditation.

d. Vì Ngài theo đuổi sự tham thiền bền bỉ về Thiên Ý và Thiên Cơ, và gây ấn tượng lên con người bằng các kết quả của sự tham thiền của Ngài.

40. We are being told that knowledge of the Divine Plan and Divine Purpose can be derived from communion with the Solar Angel Who substands our Ego. This provides a strong incentive for occult meditation.

40. Chúng ta đang được cho biết rằng tri thức về Thiên Cơ và Thiên Ý có thể được rút ra từ sự giao cảm với Thái dương Thiên Thần, Đấng nâng đỡ từ bên dưới Chân ngã của chúng ta. Điều này tạo ra một động lực mạnh mẽ cho tham thiền huyền bí học.

It may be of use to the student if he here remembers that the Ego (as well as the Logos) is in deep meditation during the whole cycle of physical incarnation.

Điều này có thể hữu ích cho đạo sinh nếu y ở đây nhớ rằng Chân ngã (cũng như Thượng đế) đang ở trong tham thiền sâu suốt toàn bộ chu kỳ lâm phàm hồng trần.

41. This is another way of saying that each of us, in our higher nature, is in deep meditation during the whole cycle of physical incarnation. This suggests the reality of simultaneous multi-dimensional consciousness.

41. Đây là một cách khác để nói rằng mỗi chúng ta, trong bản chất cao hơn của mình, đều đang ở trong tham thiền sâu suốt toàn bộ chu kỳ lâm phàm hồng trần. Điều này gợi ý thực tại của tâm thức đa chiều đồng thời.

42. Our requirement is to synchronize our meditation ‘below’ (within the lower nature) with our meditation ‘above’.

42. Điều chúng ta cần là đồng bộ hóa sự tham thiền của mình “ở dưới” (trong bản chất thấp hơn) với sự tham thiền của mình “ở trên”.

43. White it may be the case that the Ego is in deep meditation throughout the cycle of physical incarnation (especially as the personality becomes more advanced—so one would think), the personality of man is not at all times in its developmental cycle in a position to receive and profit by the results of the Ego’s meditation.

43. Dù có thể đúng là Chân ngã ở trong tham thiền sâu suốt chu kỳ lâm phàm hồng trần (đặc biệt khi phàm ngã trở nên tiến bộ hơn—người ta hẳn sẽ nghĩ như vậy), phàm ngã của con người không phải lúc nào trong chu kỳ phát triển của nó cũng ở vào vị thế có thể tiếp nhận và hưởng lợi từ các kết quả của sự tham thiền của Chân ngã.

44. The cycle of physical incarnation is a much larger process than the cycle of a single physical incarnation and in early incarnational days, the personality simply has no notion of the existence of the Ego.

44. Chu kỳ lâm phàm hồng trần là một tiến trình lớn hơn nhiều so với chu kỳ của một lần lâm phàm hồng trần đơn lẻ, và trong những ngày đầu của các lần nhập thể, phàm ngã đơn giản là không có khái niệm nào về sự hiện hữu của Chân ngã.

45. Even later and during a cycle when the personality is relatively advanced, it may fail to sustain a continuity of awareness of the Ego. Rhythmic occult meditation is one of the methods of sustaining continuity of awareness.

45. Ngay cả về sau, trong một chu kỳ khi phàm ngã tương đối tiến bộ, nó vẫn có thể không duy trì được tính liên tục của sự nhận biết về Chân ngã. Tham thiền huyền bí học có nhịp điệu là một trong những phương pháp để duy trì tính liên tục của sự nhận biết.

This solar meditation is cyclic in nature, the Pitri involved sending out to his “reflection” rhythmic streams of energy, which streams are recognised by the man concerned as his “higher impulses,” his dreams and aspirations.

Sự tham thiền thái dương này có tính chu kỳ, vị Pitri liên hệ gửi ra cho “phản ảnh” của mình những dòng năng lượng có nhịp điệu, và những dòng này được nhận biết bởi người liên hệ như các “thúc đẩy cao cả”, các giấc mơ và khát vọng của mình.

46. This is one of the most important statements regarding the relationship between the Solar Pitri and the human being.

46. Đây là một trong những phát biểu quan trọng nhất liên quan đến mối quan hệ giữa thái dương tổ phụ và con người.

47. Perhaps meditation at sunrise is particularly propitious for receiving the streams of energy send forth by the Solar Pitri.

47. Có lẽ việc tham thiền vào lúc mặt trời mọc đặc biệt thuận lợi cho việc tiếp nhận các dòng năng lượng do thái dương tổ phụ phát ra.

48. It would be of value for every disciple to determine the rhythm or cycle of these rhythmic streams of energy.

48. Sẽ có giá trị đối với mọi đệ tử nếu xác định được nhịp điệu hay chu kỳ của các dòng năng lượng có nhịp điệu này.

49. When we have received higher impulses; when our dreams have been stimulated and aspirations have arisen, have we thought of their source as the Solar Angel or Solar Pitri?

49. Khi chúng ta đã tiếp nhận các thúc đẩy cao hơn; khi các giấc mơ của chúng ta đã được kích thích và khát vọng đã khởi lên, chúng ta có nghĩ đến nguồn gốc của chúng như là Thái dương Thiên Thần hay thái dương tổ phụ không?

Therefore, it will be apparent why workers in white magic are ever advanced, and spiritual men, for the “reflection” is seldom responsive to the Ego or the solar Angel until many cycles of incarnation have transpired.

Vì vậy, sẽ rõ vì sao những người hoạt động trong Chánh Thuật luôn luôn là những người tiến bộ và những người tinh thần, vì “phản ảnh” hiếm khi đáp ứng với Chân ngã hay Thái dương Thiên Thần cho đến khi nhiều chu kỳ nhập thể đã trôi qua.

50. It would seem useless to begin the study of white magic until the first initiation had been passed.

50. Dường như sẽ vô ích nếu bắt đầu nghiên cứu Chánh Thuật trước khi lần điểm đạo thứ nhất đã được vượt qua.

51. In this case the term “advanced” must mean more than the term “advanced man” (when designating an intelligent though not necessarily spiritual human being).

51. Trong trường hợp này, thuật ngữ “tiến bộ” hẳn phải có nghĩa nhiều hơn thuật ngữ “người tiến bộ” (khi chỉ một con người thông minh dù không nhất thiết là tinh thần).

52. It may be thought that, in some manner, the human personality reflects the structure of the Solar Angel and not just the structure of the egoic lotus.

52. Có thể nghĩ rằng, theo một cách nào đó, phàm ngã con người phản ánh cấu trúc của Thái dương Thiên Thần chứ không chỉ cấu trúc của hoa sen chân ngã.

53. The Solar Angel is as being which, like man, has a chakric system. In fact, is there any living thing which does not have a correspondence to a chakric system?

53. Thái dương Thiên Thần là một hữu thể mà, cũng như con người, có một hệ thống luân xa. Thật vậy, có sinh thể nào lại không có một tương ứng với một hệ thống luân xa chăng?

The solar Pitri communicates with his “shadow” or reflection by means of the sutratma, which passes down through the bodies to a point of entrance in the physical brain.

Thái dương tổ phụ truyền thông với “cái bóng” hay phản ảnh của mình bằng phương tiện sutratma, sợi này đi xuống qua các thể đến một điểm đi vào trong bộ não hồng trần.

54. The sutratma is usually considered a channel for the impartation of vital energy, per se, and not for the communication of consciousness. Yet we understand that the streams of energy coming forth from the Solar Angel also relate to high ideals and impulses and, thus, to consciousness.

54. Sutratma thường được xem là một kênh để truyền đạt sinh lực, chính nó, chứ không phải để truyền thông tâm thức. Tuy nhiên, chúng ta hiểu rằng các dòng năng lượng phát ra từ Thái dương Thiên Thần cũng liên hệ đến các lý tưởng và thúc đẩy cao cả, và vì thế liên hệ đến tâm thức.

55. The very physical point of communication is to be noted. In one way then, the influence of the Solar Angel reaches into the very lowest aspect of man—his dense physical aspect.

55. Chính điểm truyền thông hồng trần này cần được lưu ý. Theo một cách như thế, ảnh hưởng của Thái dương Thiên Thần vươn tới tận phương diện thấp nhất của con người—phương diện hồng trần đậm đặc của y.

RULE II. When the shadow hath responded, in meditation deep the work proceedeth.

QUY LUẬT II. Khi cái bóng đã đáp ứng, trong tham thiền sâu thẳm công việc tiếp diễn.

56. This response, as we have learned, arises only in the case of advanced or spiritually inclined human beings.

56. Như chúng ta đã học, sự đáp ứng này chỉ phát sinh trong trường hợp những con người tiến bộ hay có khuynh hướng tinh thần.

57. After the response of the shadow, the proceeding meditative work is dual. The Ego/Solar Angel continues its meditation which is now joined by the rhythmic meditation of the shadow—the disciple, the soul-in-incarnation.

57. Sau sự đáp ứng của cái bóng, công việc tham thiền tiếp theo là nhị phân. Chân ngã/Thái dương Thiên Thần tiếp tục sự tham thiền của nó, và nay được kết hợp bởi sự tham thiền có nhịp điệu của cái bóng—đệ tử, linh hồn đang nhập thể.

58. The personality elementals, per se, do not meditate.

58. Các hành khí phàm ngã, chính chúng, không tham thiền.

The lower light is thrown upward;

Ánh sáng thấp hơn được ném lên trên;

59. This is the light arising within the energy system of the shadow and specifically in two of its vehicles.

59. Đây là ánh sáng phát sinh bên trong hệ thống năng lượng của cái bóng và đặc biệt trong hai vận cụ của nó.

the greater light illuminates the three,

ánh sáng lớn hơn soi sáng bộ ba,

60. The three are the three personality aspects and the greater light is the light of the Ego or soul.

60. Bộ ba là ba phương diện của phàm ngã và ánh sáng lớn hơn là ánh sáng của Chân ngã hay linh hồn.

and the work of the four proceedeth.

và công việc của bộ bốn tiếp diễn.

61. The Ego/Solar Angel is the fourth when the three aspects of the disciple are considered.

61. Chân ngã/Thái dương Thiên Thần là yếu tố thứ tư khi ba phương diện của đệ tử được xét đến.

62. There is also a chakric significance to the four as we will see below.

62. Cũng có một thâm nghĩa luân xa đối với bộ bốn này như chúng ta sẽ thấy dưới đây.

63. There is more to this phrase “the lower light is thrown upward”. In two other references in TWM, DK gives some more specific understanding of its meaning:

63. Cụm từ “ánh sáng thấp hơn được ném lên trên” còn có nhiều ý nghĩa hơn nữa. Trong hai chỗ dẫn khác trong TWM, Chân sư DK đưa ra một sự thấu hiểu cụ thể hơn về ý nghĩa của nó:

The significance of the words, “the lower light is thrown upward.” These deal with the centers and the Kundalini Fire. (TWM 766)

Thâm nghĩa của những lời, “ánh sáng thấp hơn được ném lên trên.” Những lời này liên quan đến các trung tâm và Hỏa Kundalini. (TWM 766)

64. The next quotation is very long, but gives a much fuller interpretation of its meaning.

64. Đoạn trích tiếp theo rất dài, nhưng đưa ra một cách giải thích đầy đủ hơn nhiều về ý nghĩa của nó.

Let us now consider the words at the end of the previous rule: “The lower light is thrown upward and the greater light illuminates the three; the work of the four proceedeth.”

Bây giờ chúng ta hãy xét những lời ở cuối quy luật trước: “Ánh sáng thấp hơn được ném lên trên và ánh sáng lớn hơn soi sáng bộ ba; công việc của bộ bốn tiếp diễn.”

What of this lower light? The student should remember that for the present purposes he has three bodies of light to consider:

Ánh sáng thấp hơn này là gì? Đạo sinh nên nhớ rằng đối với các mục đích hiện tại, y có ba thể ánh sáng cần xem xét:

There is the radiant body of the soul itself, found on its own plane, and called, frequently, the Karana Sarira or the causal body.

Có thể rạng ngời của chính linh hồn, được tìm thấy trên cõi riêng của nó, và thường được gọi là Karana Sarira hay thể nguyên nhân.

There is the vital or etheric body, the vehicle of prana which is the body of golden light, or rather the flame coloured vehicle.

Có thể sinh lực hay thể dĩ thái, vận cụ của prana, là thể ánh sáng vàng kim, hay đúng hơn là vận cụ màu ngọn lửa.

There is the body of “dark light”, which is the occult way of referring to the hidden light of the physical body, and to the light latent in the atom itself.

Có thể của “ánh sáng tối”, là cách nói huyền bí để chỉ ánh sáng ẩn tàng của thể xác, và ánh sáng tiềm ẩn trong chính nguyên tử.

These three types of energy are referred to in the Old Commentary under the following symbolic terms:

Ba loại năng lượng này được nói đến trong Cổ Luận dưới các thuật ngữ biểu tượng sau đây:

“When the radiant light of the Solar Angel is fused with the golden light of the cosmic intermediary, it awakens from darkness the rush light of anu, the speck.”

“Khi ánh sáng rạng ngời của Thái dương Thiên Thần được dung hợp với ánh sáng vàng kim của đấng trung gian vũ trụ, nó đánh thức khỏi bóng tối ánh sáng bấc đèn của anu, điểm nhỏ.”

The “cosmic intermediary” is the term given to the etheric body, which is part and parcel of the universal ether. It is through the etheric body that all the energies flow, whether emanating from the soul, or from the sun, or from a planet. Along those living lines of fiery essence pass all the contacts that do not emanate specifically from the tangible world.

“Đấng trung gian vũ trụ” là thuật ngữ được dùng cho thể dĩ thái, vốn là một phần không thể tách rời của dĩ thái vũ trụ. Chính qua thể dĩ thái mà mọi năng lượng tuôn chảy, dù phát ra từ linh hồn, hay từ mặt trời, hay từ một hành tinh. Dọc theo những đường sống của tinh chất rực lửa ấy đi qua mọi tiếp xúc không phát ra một cách chuyên biệt từ thế giới hữu hình.

The dark light of the tiny atoms of which the physical vehicle is constructed is responsive to the stimulation passing down from the soul into its vehicle, and, when the man is under control of the soul, there eventuates the shining forth of the light throughout the body. This [shows as the radiance emanating from the bodies of adepts and saints, giving the effect of bright and shining light.

Ánh sáng tối của những nguyên tử nhỏ bé cấu thành vận cụ hồng trần đáp ứng với sự kích thích đi xuống từ linh hồn vào vận cụ của nó, và khi con người ở dưới sự kiểm soát của linh hồn, thì ánh sáng bừng tỏa khắp thể sẽ xảy ra. Điều này [biểu lộ như sự rạng sáng phát ra từ các thể của các chân sư và các thánh nhân, tạo nên hiệu quả của ánh sáng sáng chói và rực rỡ.

When the radiant light of the soul is blended with the magnetic light of the vital body, it stimulates the atoms of the physical body to such an extent that each atom becomes in turn a tiny radiant centre. This only becomes possible when the head, heart, the solar plexus and the centre at the base of the spine are connected in a peculiar fashion, which is one of the secrets of the first initiation. When these four are in close cooperation the “floor of the triangle” as it is symbolically called, is prepared for the magical work. In other words—these can be enumerated as follows:

Khi ánh sáng rạng ngời của linh hồn được hòa trộn với ánh sáng từ tính của thể sinh lực, nó kích thích các nguyên tử của thể xác đến mức mỗi nguyên tử lần lượt trở thành một trung tâm rạng ngời nhỏ bé. Điều này chỉ trở nên khả hữu khi đầu, tim, tùng thái dương và trung tâm ở đáy cột sống được nối kết theo một cách đặc biệt, vốn là một trong những bí mật của lần điểm đạo thứ nhất. Khi bốn trung tâm này ở trong sự hợp tác chặt chẽ thì “đáy của tam giác”, như nó được gọi một cách biểu tượng, được chuẩn bị cho công việc huyền thuật. Nói cách khác—chúng có thể được liệt kê như sau:

a. The physical material form with its centre at the base of the spine.

a. Hình tướng vật chất hồng trần với trung tâm của nó ở đáy cột sống.

b. The vital body working through the heart centre where the life principle has its seat. The activities of the body which are due to this stimulation are carried through the circulation of the blood.

b. Thể sinh lực hoạt động qua trung tâm tim, nơi nguyên khí sự sống có chỗ ngự. Các hoạt động của thể do sự kích thích này được thực hiện qua sự tuần hoàn của máu.

c. The emotional body, working through the solar plexus centre.

c. Thể cảm xúc, hoạt động qua trung tâm tùng thái dương.

d. The head centre, the direct agent of the soul and its interpreter, the mind. These four are in complete accord and alignment. (TWM 105-106)

d. Trung tâm đầu, tác nhân trực tiếp của linh hồn và là thông dịch viên của nó, trí tuệ. Bốn yếu tố này ở trong sự hòa hợp và chỉnh hợp hoàn toàn. (TWM 105-106)

65. Here we have another interpretation of the “work of the four”—meaning the head, heart, solar plexus and base of the spine, i.e., the “floor of the triangle”.

65. Ở đây chúng ta có một cách giải thích khác về “công việc của bộ bốn”—nghĩa là đầu, tim, tùng thái dương và đáy cột sống, tức “đáy của tam giác”.

Here the work of the two, the Ego on its own plane, and its instrument in the three worlds, is shown as linked and co-ordinated.

Ở đây công việc của bộ hai, Chân ngã trên cõi riêng của nó, và công cụ của nó trong ba cõi giới, được cho thấy là được nối kết và phối hợp.

66. The plane of the Ego is the higher mental plane. The instrument of the Ego in the three lower worlds is threefold.

66. Cõi của Chân ngã là cõi thượng trí. Công cụ của Chân ngã trong ba cõi thấp là tam phân.

67. Linking is the first stage; communication is established. Coordination follows upon the linking and requires practice.

67. Nối kết là giai đoạn đầu tiên; sự truyền thông được thiết lập. Sự phối hợp theo sau sự nối kết và đòi hỏi thực hành.

As we well know, the main function of meditation is to bring the lower instrument into such a condition of receptivity and vibratory response that the Ego, or solar Angel, can use it, and produce specific results.

Như chúng ta đều biết rõ, chức năng chính của tham thiền là đưa công cụ thấp hơn vào một trạng thái tiếp nhậnđáp ứng rung động sao cho Chân ngã, hay Thái dương Thiên Thần, có thể sử dụng nó, và tạo ra những kết quả chuyên biệt.

68. DK continues to equate the Ego and Solar Angel. We understand, now, the manner in which they can be considered equivalent and the manner in which they cannot.

68. Chân sư DK tiếp tục đồng nhất Chân ngã với Thái dương Thiên Thần. Giờ đây chúng ta hiểu cách mà chúng có thể được xem là tương đương và cách mà chúng không thể được xem là tương đương.

69. The threefold lower instrument is to be used by the Ego. The more the disciple identifies as the Ego, the more successful the production of specific results.

69. Công cụ thấp hơn tam phân sẽ được Chân ngã sử dụng. Đệ tử càng đồng hoá như là Chân ngã, thì việc tạo ra các kết quả chuyên biệt càng thành công.

70. It is clear that the threefold instrument is not immediately responsive to the Ego. As the practice of occult meditation proceeds, receptivity and responsiveness grow.

70. Rõ ràng là công cụ tam phân không đáp ứng ngay lập tức với Chân ngã. Khi việc thực hành tham thiền huyền bí học tiếp diễn, tính tiếp nhận và khả năng đáp ứng tăng trưởng.

This involves, therefore, a downflow of force from the upper levels of the mental plane [Page 999] (the habitat of the real Man)

Do đó, điều này bao hàm một sự tuôn xuống của mãnh lực từ các cấp độ cao hơn của cõi trí [Page 999] (nơi trú ngụ của Con Người đích thực)

71. By the time this type of interplay between Ego and personality is possible, the Ego is focussed on the second subplane of the mental plane. This refocussing of the Ego, we are told in a number of references, occurs around the time of the first initiation.

71. Vào lúc loại tương tác này giữa Chân ngã và phàm ngã trở nên khả hữu, Chân ngã được tập trung trên cõi phụ thứ hai của cõi trí. Sự tái tập trung này của Chân ngã, như chúng ta được cho biết trong nhiều chỗ dẫn, xảy ra vào khoảng thời gian của lần điểm đạo thứ nhất.

72. DK names that which flows down “force” rather than energy. Perhaps this is so because that which flows has a targeted purpose and point of application.

72. Chân sư DK gọi điều tuôn xuống là “mãnh lực” hơn là năng lượng. Có lẽ là vì điều tuôn chảy ấy có một mục đích nhắm đích và một điểm ứng dụng.

73. The Ego is considered the “real man”. As disciples we are to consider our egoic nature more real than our personality nature.

73. Chân ngã được xem là “con người đích thực”. Là các đệ tử, chúng ta phải xem bản chất chân ngã của mình là thực hơn bản chất phàm ngã của mình.

and a reciprocal vibration, emanating from Man, the Reflection.

và một rung động tương hỗ, phát ra từ Con Người, Phản Ảnh.

74. What is being described is a Mercurian, Geminian process involving reciprocity. A stage of increasingly productive interplay has been reached by the Ego and its reflection in the three lower worlds.

74. Điều đang được mô tả là một tiến trình mang tính Sao Thủy, Song Tử, bao hàm tính tương hỗ. Một giai đoạn tương tác ngày càng hữu hiệu đã được đạt tới giữa Chân ngã và phản ảnh của nó trong ba cõi thấp.

When these two vibrations are attuned,

Khi hai rung động này được điều hợp,

75. Attunement is a process of harmonization. The sense of ‘clash’ between the quality of the Ego and the qualities of the personality vehicles must be reduced until the inner sense of harmony supervenes. Probably no one can tell the meditator when this has been achieved. He will simply have to know it.

75. Chỉnh hợp là một tiến trình hài hòa hóa. Cảm giác “xung đột” giữa phẩm tính của chân ngã và các phẩm tính của những vận cụ phàm ngã phải được giảm thiểu cho đến khi cảm nhận nội tại về sự hài hòa xuất hiện. Có lẽ không ai có thể nói cho người hành thiền biết khi nào điều này đã được đạt đến. Y đơn giản sẽ phải biết điều đó.

and the interplay is rhythmic,

và sự tương tác mang tính nhịp điệu,

76. This will result if occult meditation is practiced with regularity. Again, morning meditation presents the best opportunity to establish the necessary rhythm.

76. Điều này sẽ là kết quả nếu huyền bí học tham thiền được thực hành đều đặn. Một lần nữa, tham thiền buổi sáng đem lại cơ hội tốt nhất để thiết lập nhịp điệu cần thiết.

then the two meditations proceed synchronously,

khi ấy hai sự tham thiền tiến hành đồng bộ,

77. The two meditations proceed simultaneously and there is mutual interplay.

77. Hai sự tham thiền tiến hành đồng thời và có sự tương tác hỗ tương.

and the work of magic and of creation can proceed unimpeded.

và công việc huyền thuật và sáng tạo có thể tiến hành không bị cản trở.

78. The magical process is a creative process. Unimpeded flow is the optimal condition and is achieved only after much meditative practice.

78. Tiến trình huyền thuật là một tiến trình sáng tạo. Dòng chảy không bị cản trở là điều kiện tối ưu và chỉ đạt được sau nhiều thực hành tham thiền.

It will, therefore, be apparent that the brain is the physical correspondence to the force centres upon the mental plane, and that the vibration has to be consciously set up by the man when meditating.

Do đó, sẽ rõ ràng rằng bộ não là sự tương ứng hồng trần với các trung tâm mãnh lực trên cõi trí, và rung động phải được con người thiết lập một cách có ý thức khi tham thiền.

79. Here we have a very interesting statement. Perhaps it would be more likely to read that within the brain are to be found correspondences to the force centers upon the mental plane.

79. Ở đây chúng ta có một phát biểu rất thú vị. Có lẽ sẽ đúng hơn nếu nói rằng bên trong bộ não có thể tìm thấy những sự tương ứng với các trung tâm mãnh lực trên cõi trí.

80. As there are only four force centers, per se, to be found upon mental plane, the brain is the correspondence of all four. The other three force centers are, during the human stage of development, replaced by the three tiers of petals of the egoic lotus.

80. Vì chỉ có bốn trung tâm mãnh lực, chính chúng, được tìm thấy trên cõi trí, nên bộ não là sự tương ứng của cả bốn. Ba trung tâm mãnh lực kia, trong giai đoạn phát triển nhân loại, được thay thế bằng ba tầng cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã.

81. The meditating disciple must know exactly what he is doing. The link between the mental centers and the physical brain is to be consciously established during meditation.

81. Người đệ tử hành thiền phải biết chính xác mình đang làm gì. Mối liên kết giữa các trung tâm trí tuệ và bộ não hồng trần phải được thiết lập một cách có ý thức trong khi tham thiền.

82. Probably at a certain point of mental tension, this link with the mental force centers is appreciated in the physical brain.

82. Có lẽ tại một điểm tập trung trí tuệ nhất định, mối liên kết với các trung tâm mãnh lực trí tuệ này được nhận biết trong bộ não hồng trần.

83. Although the physical brain is part of that which is not a principle, it is not an apparatus that can be ignored by the occultist.

83. Mặc dù bộ não hồng trần là một phần của cái không phải là nguyên khí, nó không phải là một bộ máy mà nhà huyền bí học có thể bỏ qua.

When this is effected, the man can be a conscious creator,

Khi điều này được thực hiện, con người có thể là một đấng sáng tạo có ý thức,

84. We hardly realize to what an extent we are unconscious creators.

84. Chúng ta hầu như không nhận ra mình là những đấng sáng tạo vô thức đến mức nào.

85. We also realize that creativity is largely a mental process and depends very much upon the force centers upon the mental plane and their vibratory linking with the physical brain.

85. Chúng ta cũng nhận ra rằng tính sáng tạo phần lớn là một tiến trình trí tuệ và phụ thuộc rất nhiều vào các trung tâm mãnh lực trên cõi trí cùng sự liên kết rung động của chúng với bộ não hồng trần.

86. The egoic lotus cannot be excluded from the creative process. It is even more important than the force emanating from the force centers upon the lower mental plane.

86. Hoa Sen Chân Ngã không thể bị loại khỏi tiến trình sáng tạo. Nó thậm chí còn quan trọng hơn mãnh lực phát ra từ các trung tâm mãnh lực trên cõi hạ trí.

and the work proceeds therefore in a triple manner; the force circulates freely via three points of centralised activity:

và vì thế công việc tiến hành theo cách tam phân; mãnh lực lưu chuyển tự do qua ba điểm hoạt động tập trung trung tâm:

87. The three centers listed below are perhaps not exactly the three centers we might anticipate.

87. Ba trung tâm được liệt kê dưới đây có lẽ không hoàn toàn chính là ba trung tâm mà chúng ta có thể dự đoán.

First. From that circle of petals in the egoic lotus which the Ego chooses to use, or is in a position to use.

Thứ nhất. Từ vòng cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã mà chân ngã chọn sử dụng, hoặc ở vào vị thế có thể sử dụng.

88. The white magician is ever an advanced or spiritual man. Such a man would be in a position to use both the knowledge petals and the love petals but the number of sacrifice petals he might be able to use would be limited according to his initiatory degree.

88. Nhà huyền thuật chánh đạo luôn luôn là một người tiến bộ hoặc tinh thần. Một người như thế sẽ ở vào vị thế có thể sử dụng cả các cánh hoa tri thức lẫn các cánh hoa bác ái, nhưng số cánh hoa hi sinh mà y có thể sử dụng sẽ bị giới hạn tùy theo cấp độ điểm đạo của y.

89. We must not consider the tiers of petals to be passive repositories of quality. They are dynamic in relation to the personality vehicles.

89. Chúng ta không được xem các tầng cánh hoa là những kho chứa phẩm tính thụ động. Chúng năng động trong mối liên hệ với các vận cụ phàm ngã.

This is conditioned by the objective in view, and the state of egoic unfoldment.

Điều này được định hình bởi mục tiêu được nhắm đến, và trạng thái khai mở chân ngã.

90. The man as Solar Angel/Ego is at work in this magical process.

90. Con người với tư cách Thái dương Thiên Thần/chân ngã đang hoạt động trong tiến trình huyền thuật này.

91. Perhaps the different phases of the magical process will determine which of the tiers of petals (or individual petals) are put into use by the Solar Angel/Ego.

91. Có lẽ các giai đoạn khác nhau của tiến trình huyền thuật sẽ quyết định tầng cánh hoa nào (hoặc cánh hoa riêng lẻ nào) được Thái dương Thiên Thần/chân ngã đưa vào sử dụng.

92. One must be an initiate of the second degree before the love tier is completely unfolded and, thus, before its complete powers are at the disposal of magician/Ego.

92. Người ta phải là một điểm đạo đồ cấp hai trước khi tầng bác ái được khai mở hoàn toàn và như vậy, trước khi các quyền năng trọn vẹn của nó nằm trong tầm sử dụng của nhà huyền thuật/chân ngã.

Secondly. The centre in the physical brain which is active in meditation.

Thứ hai. Trung tâm trong bộ não hồng trần hoạt động trong khi tham thiền.

93. We must bear firmly in mind that within the physical brain there are physical centers which are activated during the meditation process. These will naturally correspond to certain of the etheric head centers.

93. Chúng ta phải ghi nhớ vững chắc rằng bên trong bộ não hồng trần có những trung tâm hồng trần được hoạt hóa trong tiến trình tham thiền. Những trung tâm này dĩ nhiên sẽ tương ứng với một số trung tâm đầu dĩ thái.

94. As there are a group of seven etheric head centers, will there also be seven correspondences to them within the physical brain?

94. Vì có một nhóm bảy trung tâm đầu dĩ thái, liệu cũng sẽ có bảy sự tương ứng với chúng bên trong bộ não hồng trần hay không?

95. Three major physical centers in the physical brain are the pineal gland, the pituitary gland and the carotid gland(s).

95. Ba trung tâm hồng trần chính trong bộ não hồng trần là tuyến tùng, tuyến yên và tuyến cảnh.

This is also conditioned by the man’s point in evolution, and the particular goal in mind.

Điều này cũng được định hình bởi điểm tiến hoá của con người, và mục tiêu đặc thù trong trí.

96. We learn that according to a man’s point of evolution, so will be the centers in the physical brain which are available for use.

96. Chúng ta học được rằng tùy theo điểm tiến hoá của một người, các trung tâm trong bộ não hồng trần sẵn có để sử dụng cũng sẽ như vậy.

97. We do not know yet whether the man is to work etherically and thus automatically activate the centers in the physical brain or whether he is to concentrate upon a given center in the physical brain per se.

97. Chúng ta vẫn chưa biết liệu con người phải hoạt động theo cách dĩ thái và do đó tự động hoạt hóa các trung tâm trong bộ não hồng trần, hay liệu y phải tập trung vào một trung tâm nhất định trong chính bộ não hồng trầne.

Thirdly. The centre of force generated by the man upon the lower mental plane, as he proceeds to form the necessitated thought form, and to sweep into activity those builders who can respond to the vibration sent forth.

Thứ ba. Trung tâm mãnh lực do con người tạo ra trên cõi hạ trí, khi y tiến hành hình thành hình tư tưởng cần thiết,quét vào hoạt động những đấng kiến tạo có thể đáp ứng với rung động được phát ra.

98. Upon the lower mental plane the magician does two major things:

98. Trên cõi hạ trí, nhà huyền thuật làm hai việc chính:

a. He forms the necessitated thoughtform

a. Y hình thành hình tư tưởng cần thiết

b. He sweeps into activity those builders who can respond to the vibration sent forth

b. Y quét vào hoạt động những đấng kiến tạo có thể đáp ứng với rung động được phát ra

99. In this triangle of force we have an alignment between soul, mind and brain (presumably, both etheric brain and physical brain).

99. Trong tam giác mãnh lực này, chúng ta có một sự chỉnh hợp giữa linh hồn, thể trí và bộ não (có lẽ là cả não dĩ thái lẫn não hồng trần).

100. Let us recapitulate:

100. Chúng ta hãy tóm lược:

a. Petals and tiers of petals in the egoic lotus. One tier will be singled out and perhaps one petal in that tier, especially.

a. Các cánh hoa và các tầng cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã. Một tầng sẽ được chọn riêng ra và có lẽ đặc biệt là một cánh hoa trong tầng ấyy.

b. The physical and etheric brains and their centers. One center will be singled out particularly

b. Não hồng trần và não dĩ thái cùng các trung tâm của chúng. Một trung tâm sẽ được chọn riêng ra đặc biệt

c. The center of force generated by man upon the lower mental plane

c. Trung tâm mãnh lực do con người tạo ra trên cõi hạ trí

This is likewise conditioned by the strength of his meditation,

Điều này cũng được định hình bởi sức mạnh tham thiền của y,

101. Only a strong meditator will be able to create and see built the necessitated thoughtform. Only a strong meditator will be able to command the necessary builders.

101. Chỉ một người hành thiền mạnh mới có thể sáng tạo và thấy hình tư tưởng cần thiết được xây dựng. Chỉ một người hành thiền mạnh mới có thể điều khiển các đấng kiến tạo cần thiết.

the fullness of the note sent forth by him, and the strength of his initiated vibration.

sự viên mãn của âm điệu do y phát ra, và sức mạnh của rung động do y khởi xướng.

102. Three factors are to be taken into consideration upon the lower mental plane:

102. Ba yếu tố phải được xét đến trên cõi hạ trí:

a. The magician’s meditative strength

a. Sức mạnh tham thiền của nhà huyền thuật

b. The fulness of the note sent forth by the magician

b. Sự viên mãn của âm điệu do nhà huyền thuật phát ra

c. The strength of the magician’s initiated vibration

c. Sức mạnh của rung động do nhà huyền thuật khởi xướng

103. It is apparent that the initial note which starts the magical process must be both strong and full. The magician’s alignment with the soul will determine whether these prerequisites can be met.

103. Rõ ràng là âm điệu ban đầu khởi động tiến trình huyền thuật phải vừa mạnh vừa đầy đủ. Sự chỉnh hợp của nhà huyền thuật với linh hồn sẽ quyết định liệu các điều kiện tiên quyết này có thể được đáp ứng hay khôngt.

Hence, the first thing the solar Angel does is to form a triangle, consisting of himself, the man on the physical plane, and the tiny point of force which is the result of their united endeavour.

Do đó, điều đầu tiên Thái dương Thiên Thần làm là hình thành một tam giác, gồm chính nó, con người trên cõi hồng trần, và điểm mãnh lực nhỏ bé là kết quả của nỗ lực hợp nhất của cả hai.

104. The tiny point of light is found upon the lower mental plane.

104. Điểm ánh sáng nhỏ bé được tìm thấy trên cõi hạ trí.

105. The Solar Angel pervades the egoic lotus and works through various aspects of the egoic lotus.

105. Thái dương Thiên Thần thấm nhuần Hoa Sen Chân Ngã và hoạt động qua nhiều phương diện khác nhau của Hoa Sen Chân Ngã.

106. It is interesting to consider who or what is active from the plane of soul:

106. Thật thú vị khi xem xét ai hay cái gì đang hoạt động từ cõi linh hồn:

a. The Solar Angel

a. Thái dương Thiên Thần

b. The Ego

b. Chân ngã

c. The man as Ego infused by the presence and power of the Solar Angel

c. Con người với tư cách chân ngã được thấm nhuần bởi sự hiện diện và quyền năng của Thái dương Thiên Thần

107. When considering the Solar Angel it is necessary to consider it both as the Ego and yet not the Ego. It is far more.

107. Khi xem xét Thái dương Thiên Thần, cần phải xem nó vừa là chân ngã mà lại vừa không là chân ngã. Nó còn hơn thế rất nhiều.

It will be of value to students of meditation to ponder upon this procedure, and to study the correspondence between it and the work of the solar Logos as He created “the Heavens and the Earth.”

Điều này sẽ có giá trị đối với các đạo sinh tham thiền nếu suy ngẫm về tiến trình này, và nghiên cứu sự tương ứng giữa nó với công việc của Thái dương Thượng đế khi Ngài tạo ra “Trời và Đất”.

108. We are speaking of the “Heavens” as they exist within this solar system. We are also speaking of the “Heavens” as the higher planes or dimensions (as found upon the cosmic physical plane).

108. Chúng ta đang nói về “Trời” như chúng hiện hữu bên trong hệ mặt trời này. Chúng ta cũng đang nói về “Trời” như các cõi cao hơn hay các chiều kích cao hơn (như được tìm thấy trên cõi hồng trần vũ trụ).

The [Page 1000] Highest and the lowest aspects met, spirit and matter were brought into contact with each other; the consequence of this interplay was the birth of the Son, or the great solar thought form.

[Page 1000] Phương diện cao nhất và thấp nhất gặp nhau, tinh thần và vật chất được đưa vào tiếp xúc với nhau; hệ quả của sự tương tác này là sự ra đời của Người Con, hay hình tư tưởng thái dương vĩ đại.

109. DK is speaking of the creative process initiated by the Solar Logos as He creates His solar system, both objective and subtle.

109. Chân sư DK đang nói về tiến trình sáng tạo do Thái dương Thượng đế khởi xướng khi Ngài tạo ra hệ mặt trời của Ngài, vừa khách quan vừa vi tế.

110. From one perspective, the solar system is the Divine Son. It is the form created by the soul aspect of the Solar Logos. This soul aspect is the true “Son of God”. The solar system might be considered the “Son of Necessity”.

110. Từ một góc nhìn, hệ mặt trời là Người Con Thiêng Liêng. Nó là hình tướng được tạo ra bởi phương diện linh hồn của Thái dương Thượng đế. Phương diện linh hồn này là “Con của Thượng đế” đích thực. Hệ mặt trời có thể được xem là “Người Con của Tất Yếu”.

111. It is obvious that this greater creative process is cosmic in scope and involves work upon the various cosmic planes—especially the cosmic mental plane and the cosmic physical plane. The cosmic astral plane is naturally involved in relation to the desire of the Solar Logos for a physical-etheric solar system.

111. Rõ ràng là tiến trình sáng tạo lớn lao hơn này có phạm vi vũ trụ và bao hàm công việc trên các cõi vũ trụ khác nhau—đặc biệt là cõi trí vũ trụ và cõi hồng trần vũ trụ. Cõi cảm dục vũ trụ dĩ nhiên cũng liên hệ đến dục vọng của Thái dương Thượng đế đối với một hệ mặt trời hồng trần-dĩ thái.

In the three worlds, man, the lesser Deity, within his limits,

Trong ba cõi giới, con người, vị Thượng đế nhỏ hơn, trong các giới hạn của mình,

112. The true human being is a god as St. Paul has informed us.

112. Con người chân chính là một thượng đế như Thánh Paul đã cho chúng ta biết.

proceeds along analogous lines. The three who are illumined by the light of the One are the three persons of the lower Triad, the mental body, the astral body, and the physical body.

tiến hành theo những đường lối tương tự. Ba cái được soi sáng bởi ánh sáng của Đấng Duy Nhất là ba ngôi vị của Tam nguyên thấp, thể trí, thể cảm dục và thể xác.

113. The “One” is the soul/Ego/project of the Solar Angel.

113. “Đấng Duy Nhất” là linh hồn/chân ngã/phóng chiếu của Thái dương Thiên Thần.

114. We have been told above that “the greater Light illumines the three”.

114. Chúng ta đã được nói ở trên rằng “Ánh Sáng lớn hơn soi sáng ba cái”.

They, with the Illuminator,

Chúng, cùng với Đấng Soi Sáng,

115. The Illuminator is the Ego/Solar Angel/soul

115. Đấng Soi Sáng là chân ngã/Thái dương Thiên Thần/linh hồn

make the “Four” referred to, and thus becomes apparent the microcosmic Tetraktys.

tạo thành “Bốn” được nói đến, và như vậy Tetraktys vi mô trở nên hiển nhiên.

116. The Tetraktys is the ten and yet the four.

116. Tetraktys là mười mà cũng là bốn.

117. The ‘macrocosmic Tetraktys’ consists of the cosmic Soul of the Solar Logos and the three vehicles of the solar logoic personality upon the lower three cosmic planes.

117. “Tetraktys vĩ mô” gồm linh hồn vũ trụ của Thái dương Thượng đế và ba vận cụ của phàm ngã logoi thái dương trên ba cõi vũ trụ thấp.

118. We have been given one view of the “work of the four”—the soul and its three vehicles.

118. Chúng ta đã được ban cho một cách nhìn về “công việc của bốn”—linh hồn và ba vận cụ của nó.

119. The other perspective involves the lower four which are the “floor of the triangle”.

119. Góc nhìn kia liên quan đến bốn thấp là “đáy của tam giác”.

The two rules above form the esoteric basis of all meditation, and need to be carefully studied if results are to be achieved.

Hai quy luật trên tạo thành nền tảng huyền bí của mọi sự tham thiền, và cần được nghiên cứu cẩn thận nếu muốn đạt kết quả.

120. DK is suggesting that the meditative process is a magical process. Thus the foundational rules for magic are also the esoteric basis of all meditation.

120. Chân sư DK đang gợi ý rằng tiến trình tham thiền là một tiến trình huyền thuật. Vì vậy, các quy luật nền tảng của huyền thuật cũng là cơ sở huyền bí của mọi sự tham thiền.

121. We as human beings are learning to create as the Planetary Logos and Solar Logos create. One day we (in collective form) shall be as They are.

121. Chúng ta, với tư cách con người, đang học cách sáng tạo như Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế sáng tạo. Một ngày kia chúng ta (trong hình thức tập thể) sẽ như Các Ngài vậy.

RULE III. The Energy circulates. The point of light, the product of the labours of the Four, waxeth and groweth.

QUY LUẬT III. Năng lượng lưu chuyển. Điểm ánh sáng, sản phẩm của những lao tác của Bốn, lớn dần và phát triển.

122. The point of light is upon the lower mental plane and has been created by the work of the Four.

122. Điểm ánh sáng ở trên cõi hạ trí và đã được tạo ra bởi công việc của Bốn.

123. This point cannot remain only a point but must be developed into the requisite thoughtform.

123. Điểm này không thể chỉ còn là một điểm mà phải được phát triển thành hình tư tưởng cần thiết.

124. In this case shall we say that “the Four” are the Ego and the energies of the three vehicles? The three persons of the lower triad?

124. Trong trường hợp này, chúng ta có nên nói rằng “Bốn” là chân ngã và các năng lượng của ba vận cụ không? Ba ngôi vị của tam nguyên thấp chăng?

The myriads gather round its glowing warmth until its light recedes. Its fire grows dim.

Muôn vàn sự sống tụ họp quanh hơi ấm rực sáng của nó cho đến khi ánh sáng của nó lùi xa. Lửa của nó mờ dần.

125. The “myriads’ are the builders who (in response to the originating impulse and the note sounding) will build themselves into the thoughtform to be materialized.

125. “Muôn vàn” là các đấng kiến tạo, những vị sẽ tự xây mình vào hình tư tưởng sẽ được hiện hình, để đáp ứng với xung lực khởi nguyên và âm điệu đang vang lên.

Then shall the second sound go forth.

Khi ấy âm thanh thứ hai sẽ phát ra.

126. This is a “secondary note” emanating from that which is built on the mental plane.

126. Đây là một “âm điệu thứ cấp” phát ra từ cái được xây dựng trên cõi tríe.

The white magician, having, through meditation and conscious purpose, formed a focal point of energy upon the mental plane, increases the vibration through strenuous concentration;

Nhà huyền thuật chánh đạo, sau khi đã, nhờ tham thiền và mục đích có ý thức, hình thành một điểm hội tụ năng lượng trên cõi trí, gia tăng rung động bằng sự tập trung mãnh liệt;

127. We learn of the ‘feeding power’ of concentration. Concentration is an energy conduit. The strength of the point of light must be augmented, its vibration increased. Concentration is necessitated to accomplish this.

127. Chúng ta học được về “quyền năng nuôi dưỡng” của sự tập trung. Tập trung là một ống dẫn năng lượng. Sức mạnh của điểm ánh sáng phải được tăng cường, rung động của nó phải được nâng cao. Sự tập trung là điều cần thiết để hoàn thành việc này.

he begins then to visualise in detail the form he is seeking to build; he pictures it with all its component parts, and sees “before his mind’s eye” the consummated product of the egoic meditation as he has succeeded in bringing it through.

y bắt đầu rồi hình dung chi tiết hình tướng mà y đang tìm cách xây dựng; y hình dung nó với tất cả các bộ phận cấu thành, và thấy “trước con mắt trí tuệ của mình” sản phẩm hoàn tất của sự tham thiền chân ngã khi y đã thành công trong việc đưa nó xuyên qua.

128. From this description, we understand visualization to be a mental activity. It is an activity involving the manipulation of the form provided by the astral imagination.

128. Từ mô tả này, chúng ta hiểu sự hình dung là một hoạt động trí tuệ. Đó là một hoạt động liên quan đến việc thao tác hình tướng do sự tưởng tượng cảm dục cung cấp.

129. We see that visualization is not a vague process but requires detailed work in the formulation of the required image.

129. Chúng ta thấy rằng sự hình dung không phải là một tiến trình mơ hồ mà đòi hỏi công việc chi tiết trong việc hình thành linh ảnh cần thiết.

130. Without sufficient contact with the Ego, that which must be imagined in detail will not be known. The Ego provides the template for that which must first be ‘seen’ in clarity and built in detail and then brought through onto the lower planes.

130. Nếu không có sự tiếp xúc đầy đủ với chân ngã, điều phải được hình dung chi tiết sẽ không được biết đến. Chân ngã cung cấp nguyên mẫu cho điều trước hết phải được “thấy” một cách rõ ràng và được xây dựng chi tiết rồi sau đó được đưa xuống các cõi thấp.

This

Điều này

131. The magician’s labors…

131. Những lao tác của nhà huyền thuật…

produces what is here called “the secondary note,” the first being the note emanating from the Ego on its own plane,

tạo ra cái ở đây được gọi là “âm điệu thứ cấp”, âm điệu thứ nhất là âm điệu phát ra từ chân ngã trên cõi riêng của nó,

132. The labors of man, the magician, produce the “secondary note”.

132. Những lao tác của con người, nhà huyền thuật, tạo ra “âm điệu thứ cấp”.

133. “The secondary note”, through the labors of the magician, sounds forth, apparently, on the lower mental plane (after ascending there) because the magician in creating his thoughtform is working on the lower mental plane via the physical brain, just as the primary note sounds forth from the higher.

133. “Âm điệu thứ cấp”, nhờ những lao tác của nhà huyền thuật, vang ra, dường như trên cõi hạ trí (sau khi đi lên đó), bởi vì nhà huyền thuật khi sáng tạo hình tư tưởng của mình đang làm việc trên cõi hạ trí qua bộ não hồng trần, cũng như âm điệu sơ cấp vang ra từ cõi cao hơn.

134. We have been studying the role of transmitting devas who convey the primary note to the builders of the form.

134. Chúng ta đã nghiên cứu vai trò của các thiên thần truyền dẫn, những vị chuyển tải âm điệu sơ cấp đến các đấng kiến tạo của hình tướng.

which awakened the “reflection” and called forth response.

âm điệu ấy đã đánh thức “sự phản chiếu” và gọi ra sự đáp ứng.

135. The “primary note” sounded by the Ego on its own plane awakened the “reflection”—the reflection, we remember, being the lower man—really the soul-in-incarnation.

135. “Âm điệu sơ cấp” do chân ngã xướng lên trên cõi riêng của nó đã đánh thức “sự phản chiếu”—mà chúng ta nhớ là phàm nhân—thực ra là linh hồn đang nhập thể.

The vibration becomes stronger, and the note sounded by the man on the physical plane

Rung động trở nên mạnh hơn, và âm điệu do con người trên cõi hồng trần xướng lên

136. The man on the physical plane is the creator and the original sounder of the “secondary note” which arises in response to the “primary note”. It is his labors upon the mental plane which lead to the sounding of the “secondary note”.

136. Con người trên cõi hồng trần là đấng sáng tạo và là người xướng nguyên thủy của “âm điệu thứ cấp” phát sinh để đáp ứng với “âm điệu sơ cấp”. Chính những lao tác của y trên cõi trí dẫn đến việc xướng lên “âm điệu thứ cấp”.

ascends and is heard upon the mental plane.

đi lên và được nghe thấy trên cõi trí.

137. The “secondary note” arises in response to the “primary note” of the Ego. It begins with an activity of the magician involving the physical brain and mental concentration. This note “ascends” to the mental plane and is there heard.

137. “Âm điệu thứ cấp” phát sinh để đáp ứng với “âm điệu sơ cấp” của chân ngã. Nó bắt đầu bằng một hoạt động của nhà huyền thuật liên quan đến bộ não hồng trần và sự tập trung trí tuệ. Âm điệu này “đi lên” cõi trí và được nghe thấy ở đó.

138. If this note ascends, one wonders whether it must not also ascend through the astral plane. If this is the case, the limpidity of the astral plane would be important in the initial phases of the creative process.

138. Nếu âm điệu này đi lên, người ta tự hỏi liệu nó cũng không phải đi lên qua cõi cảm dục hay sao. Nếu đúng như vậy, tính trong sáng của cõi cảm dục sẽ rất quan trọng trong các giai đoạn đầu của tiến trình sáng tạo.

139. If the “secondary note” is heard upon the mental plane, is it heard by the builders, who, it seems, are already gathering in response to the primary note of the Ego.

139. Nếu “âm điệu thứ cấp” được nghe thấy trên cõi trí, liệu nó có được nghe bởi các đấng kiến tạo, những vị dường như đã đang tụ họp để đáp ứng với âm điệu sơ cấp của chân ngã hay không.

140. Let us keep clearly in mind the sequence involved in the generation of “notes”:

140. Chúng ta hãy ghi nhớ rõ ràng trình tự liên quan đến việc phát sinh các “âm điệu”:

a. From the Ego on the higher mental plane…

a. Từ chân ngã trên cõi thượng trí…

b. To man the magician on the physical plane laboring through the physical brain and through the mind…

b. Đến con người, nhà huyền thuật trên cõi hồng trần, đang lao tác qua bộ não hồng trần và qua thể trí…

c. To the lower mental plane itself, where the ascending note gains in fulness and volume.

c. Đến chính cõi hạ trí, nơi âm điệu đi lên đạt được sự viên mãn và âm lượng lớn hơn.

Hence, in all meditation that is [Page 1001] of occult value, the man has to do certain things in order to aid in bringing about the results.

Do đó, trong mọi sự tham thiền có [Page 1001] giá trị huyền bí, con người phải làm một số điều nhất định để giúp đem lại các kết quả.

141. We note there can be meditation which is not of “occult value”. Perhaps it is of mystical value or of no value at all.

141. Chúng ta lưu ý rằng có thể có sự tham thiền không có “giá trị huyền bí”. Có lẽ nó có giá trị thần bí hoặc hoàn toàn không có giá trị nào cả.

He tranquilises his bodies in order that there be no impediment to the egoic intent, and listens for the “Voice of the Silence.”

Y làm cho các thể của mình tĩnh lặng để không có chướng ngại nào đối với ý định chân ngã, và lắng nghe “Tiếng Nói của Im Lặng.”

142. Without tranquility the “still small voice” cannot be heard.

142. Không có sự tĩnh lặng thì “tiếng nói nhỏ nhẹ tĩnh lặng” không thể được nghe thấy.

143. A fundamental principle in all meditative practice is that vibration within the lunar vehicles inhibits impression from the soul.

143. Một nguyên lý nền tảng trong mọi thực hành tham thiền là rung động bên trong các vận cụ thái âm ngăn cản sự cảm thụ từ linh hồn.

He responds then to that Voice consciously, and broods over the imparted plans.

Khi ấy y đáp ứng với Tiếng Nói đó một cách có ý thức, và trầm tư về các kế hoạch được truyền đạt.

144. The magician ‘hears’ the “Voice of the Soul” the “Voice of the Silence” because the ‘noise’ in his lower vehicles has abated sufficiently for this Voice to be heard.

144. Nhà huyền thuật “nghe” được “Tiếng Nói của Linh Hồn”, “Tiếng Nói của Im Lặng” vì “tiếng ồn” trong các vận cụ thấp của y đã lắng xuống đủ để Tiếng Nói này được nghe thấy.

145. He registers the soul’s ‘message’ and then ponders or broods. We can see that time is required and that instantaneous action taken by the lower man is likely to militate against understanding and expressing the soul’s plans with accuracy.

145. Y ghi nhận “thông điệp” của linh hồn rồi suy ngẫm hay trầm tư. Chúng ta có thể thấy rằng thời gian là cần thiết và hành động tức thời do phàm nhân thực hiện có khả năng cản trở việc thấu hiểu và biểu lộ các kế hoạch của linh hồn một cách chính xác.

He then sounds the Sacred Word, taking up the note of the Ego as he believes he hears it,

Sau đó y xướng Linh từ Thiêng Liêng, tiếp nhận âm điệu của chân ngã như y tin rằng mình nghe được,

146. The Sacred Word (taken to be the OM) is not the same as the note of the Ego (the “primary note”), though it reinforces the note of the Ego.

146. Linh từ Thiêng Liêng (được hiểu là OM) không giống với âm điệu của chân ngã (“âm điệu sơ cấp”), mặc dù nó củng cố âm điệu của chân ngã.

147. By sounding the Sacred Word the magician is reproducing within the lower worlds the Word as the soul sounds it.

147. Bằng cách xướng Linh từ Thiêng Liêng, nhà huyền thuật đang tái tạo trong các cõi thấp Linh từ như linh hồn xướng nó.

148. We see that the magician cannot be sure that he is hearing the “note of the Ego” with complete accuracy, but he must act as if he does.

148. Chúng ta thấy rằng nhà huyền thuật không thể chắc chắn mình đang nghe “âm điệu của chân ngã” với độ chính xác hoàn toàn, nhưng y phải hành động như thể mình nghe được.

149. The Ego has its own ray which expresses as a note, but it is probably not to this ray note that this text is referring.

149. Chân ngã có cung riêng của nó, được biểu lộ như một âm điệu, nhưng có lẽ bản văn này không nói đến âm điệu cung ấy.

and sending it [presumably, the OM or Sacred Word] forth to swell the egoic sound, and to set in motion matter on the mental plane.

và gửi nó [có lẽ là OM hay Linh từ Thiêng Liêng] ra ngoài để làm tăng âm thanh chân ngã, và làm cho vật chất trên cõi trí chuyển động.

150. The egoic sound or note is swelled by the OM which the magician sounds.

150. Âm thanh hay âm điệu chân ngã được làm tăng lên bởi OM mà nhà huyền thuật xướng ra.

151. In this way the magician consciously participates in the building process which must take place on the lower mental plane.

151. Theo cách này, nhà huyền thuật tham gia một cách có ý thức vào tiến trình xây dựng phải diễn ra trên cõi hạ trí.

He (synchronously with this sounding) visualises the proposed thought form which is to embody egoic purposes, and pictures it in detail.

Y (đồng thời với sự xướng này) hình dung hình tư tưởng được đề xuất sẽ hiện thân cho các mục đích chân ngã, và hình dung nó một cách chi tiết.

152. DK has added some important details concerning the construction of the thoughtform to be materialized.

152. Chân sư DK đã thêm một số chi tiết quan trọng liên quan đến việc kiến tạo hình tư tưởng sẽ được hiện hình.

153. Earlier we learned of the act of visualization to be accomplished by the magician. Now we learn that the sounding of the OM (which is swelling the egoic sound) must be sounded synchronously with the detailed visualization of the thoughtform to be built—this thoughtform arising from concentration upon the point of light created by the united labors of the Ego on the higher mental plane and of the magician upon the physical plane.

153. Trước đây chúng ta đã học về hành động hình dung mà nhà huyền thuật phải thực hiện. Giờ đây chúng ta học được rằng việc xướng OM (đang làm tăng âm thanh chân ngã) phải được xướng đồng bộ với sự hình dung chi tiết về hình tư tưởng sẽ được xây dựng—hình tư tưởng này phát sinh từ sự tập trung vào điểm ánh sáng được tạo ra bởi những lao tác hợp nhất của chân ngã trên cõi thượng trí và của nhà huyền thuật trên cõi hồng trần.

We must not forget that we are here dealing with those conscious meditations, based on knowledge and long experience, which produce magical results on the physical plane. We are not dealing here with those meditations which have for their purpose the revelation of the inner God, and the bringing in of the illuminating fire of the Ego.

Chúng ta không được quên rằng ở đây chúng ta đang đề cập đến những sự tham thiền có ý thức, dựa trên tri thức và kinh nghiệm lâu dài, những sự tham thiền tạo ra các kết quả huyền thuật trên cõi hồng trần. Ở đây chúng ta không đề cập đến những sự tham thiền có mục đích là sự mặc khải Thượng đế nội tại, và việc đưa lửa soi sáng của chân ngã vào.

154. DK discriminates between two types of meditation. Magical meditation is only undertaken successfully by experienced meditators.

154. Chân sư DK phân biệt giữa hai loại tham thiền. Tham thiền huyền thuật chỉ được thực hiện thành công bởi những người hành thiền giàu kinh nghiệm.

155. There are also meditations the purpose of which is to reveal the “inner God” or soul, thus invoking the light of the soul.

155. Cũng có những phép tham thiền mà mục đích là mặc khải “Thượng đế bên trong” hay linh hồn, nhờ đó khẩn cầu ánh sáng của linh hồn.

156. Proficiency with the first type of meditation presupposes the ability to engage in the second. If one wants to meditate occultly and magically, he must have contacted the “inner god” mystically.

156. Sự thành thạo đối với loại tham thiền thứ nhất giả định khả năng thực hành loại thứ hai. Nếu người ta muốn tham thiền một cách huyền bí và bằng huyền thuật, y phải tiếp xúc được với “thượng đế bên trong” theo lối thần bí.

When this process is proceeding under rule and order,

Khi tiến trình này diễn ra dưới quy luật và trật tự,

157. The rhythmic seventh ray is necessary to this approach.

157. cung bảy có nhịp điệu là điều cần thiết cho cách tiếp cận này.

the focal point of energy on the lower mental plane gains in strength;

tiêu điểm năng lượng trên cõi hạ trí gia tăng sức mạnh;

158. The point of light on the lower mental plane is strengthened through the magician’s concentration, through the magician’s sounding of the Sacred Word which augments the egoic note (which contains the originating impulse of the thoughtform to be manifested).

158. Điểm ánh sáng trên cõi hạ trí được tăng cường nhờ sự tập trung của nhà huyền thuật, nhờ việc nhà huyền thuật xướng Linh từ Thiêng liêng, điều này làm tăng cường âm điệu chân ngã (vốn chứa xung lực khởi nguyên của hình tư tưởng sẽ được biểu hiện).

its light or fire makes itself felt;

ánh sáng hay lửa của nó trở nên cảm nhận được;

159. Concentration and the OM augments the light and fire of the point of light.

159. Sự tập trung và OM làm tăng cường ánh sáng và lửa của điểm ánh sáng.

it becomes, in the occult sense, visually objective,

nó trở nên, theo nghĩa huyền bí, khách quan đối với thị giác,

160. To those with clairvoyant vision upon the lower mental plane…

160. đối với những ai có linh thị thông nhãn trên cõi hạ trí…

and attracts the attention of the lesser builders through

và thu hút sự chú ý của các vị tiểu kiến tạo qua

161. Light and fire are ‘noticed’ by the lesser builders.

161. Ánh sáng và lửa được các vị tiểu kiến tạo “nhận thấy”.

162. We must see to what extent these builders are intelligent, evolutionary builders and not simply elemental lives.

162. Chúng ta phải xem những đấng kiến tạo này thông tuệ và thăng thượng tiến hoá đến mức nào, chứ không chỉ đơn thuần là các sự sống hành khí.

a. Its radiation or warmth,

a. sự bức xạ hay hơi ấm của nó,

b. Its active vibration,

b. rung động hoạt động của nó,

c. Its sound or note,

c. âm thanh hay âm điệu của nó,

d. Its light.

d. ánh sáng của nó.

163. These are the details concerning the intensification of the original point of light created by the dual work of the Ego and the lower man upon the physical plane.

163. Đây là những chi tiết liên quan đến sự tăng cường của điểm ánh sáng nguyên thủy được tạo ra bởi công việc kép của Chân ngã và phàm nhân trên cõi hồng trần.

The elemental workers of responsive capacity are gathered and swept into the radius of the force, and begin to gather around.

Các hành khí hoạt động có năng lực đáp ứng được tập hợp lại và bị cuốn vào trong bán kính của mãnh lực, rồi bắt đầu tụ tập chung quanh.

164. According to the statement given, those who are gathered around the intensified point of light are elemental workers or builders and not, apparently, more conscious manipulating devas. Yet, we must not jump to conclusions. Members of the Army of the Voice must also necessarily respond to the augmented egoic note.

164. Theo lời trình bày đã cho, những kẻ tụ tập quanh điểm ánh sáng được tăng cường là các người hoạt động hay đấng kiến tạo hành khí chứ dường như không phải là các thiên thần thao tác có tâm thức hơn. Tuy nhiên, chúng ta không được vội kết luận. Các thành viên của Đạo Quân của Âm Thanh cũng tất yếu phải đáp ứng với âm điệu chân ngã đã được tăng cường.

The intended form begins to be apparent,

Hình tướng được dự định bắt đầu hiện ra rõ rệt,

165. We can imagine that the outlines of the form are at first dim.

165. Chúng ta có thể hình dung rằng lúc đầu các đường nét của hình tướng còn mờ nhạt.

and tiny life after tiny life takes its place in its construction.

và từng sự sống nhỏ bé một đảm nhận vị trí của mình trong sự kiến tạo nó.

166. The tiny elemental lives are built into the growing form in an orderly manner.

166. Các sự sống hành khí nhỏ bé được xây vào hình tướng đang tăng trưởng một cách có trật tự.

167. One wonders if manipulating and building devas are required if the tiny lives are to take their proper place in the structure.

167. Người ta tự hỏi liệu có cần các thiên thần thao tác và kiến tạo hay không nếu các sự sống nhỏ bé phải đảm nhận đúng vị trí của chúng trong cấu trúc.

168. Much concerning this building will depend upon the accuracy of the required detailed visualization.

168. Nhiều điều liên quan đến sự kiến tạo này sẽ tùy thuộc vào độ chính xác của sự hình dung chi tiết cần thiết.

The result of this “coherency”

Kết quả của “sự cố kết” này

169. By “coherency” is meant the gathering together of many elemental lives and their building into the visualized thoughtform.

169. “Sự cố kết” ở đây có nghĩa là việc tập hợp nhiều sự sống hành khí lại với nhau và xây chúng vào hình tư tưởng đã được hình dung.

is that the inner light becomes veiled, its brilliancy dimmed,

là ánh sáng bên trong trở nên bị che phủ, độ rực rỡ của nó bị làm mờ,

170. We are dealing with a somewhat second ray process operative also in relation to the Monad (as discussed below).

170. Chúng ta đang đề cập đến một tiến trình phần nào thuộc cung hai, cũng hoạt động trong liên hệ với chân thần (như sẽ bàn dưới đây).

“The Blessed One built him an ark. Stage by stage he built it, and floated upon the bosom of the waters. Deeply he hid himself, and his light was no more seen,—only his floating ark. (EP II 36)

“Đấng Chân Phúc đã xây cho y một con thuyền. Từng giai đoạn một Ngài xây nó, và nổi trên lòng nước. Ngài ẩn mình thật sâu, và ánh sáng của Ngài không còn được thấy nữa,—chỉ còn con thuyền nổi của Ngài. (EP II 36)

just as the inner light of the Ego in its shadow, or thought form, man, is similarly dimmed and hidden. [Page 1002]

cũng như ánh sáng bên trong của Chân ngã trong cái bóng của nó, hay hình tư tưởng là con người, cũng tương tự bị làm mờ và che giấu. [Page 1002]

171. Man in the lower worlds is to be considered a thoughtform and a veiling thoughtform at that.

171. Con người trong các cõi thấp phải được xem như một hình tư tưởng, và hơn nữa là một hình tư tưởng che phủ.

172. Within each of us is the luminous Ego hidden to a certain degree by the opacity of our lunar vehicles.

172. Bên trong mỗi chúng ta là Chân ngã rực sáng, bị che khuất ở một mức độ nào đó bởi tính đục mờ của các vận cụ thái âm của chúng ta.

S8S6 Part I.2

TCF 1002-1008

TCF 1002-1008

Section VI, Part I.2

Phần VI, Phần I.2

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Xin đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ ra, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

RULE IV. Sound, light, vibration, and the form blend and merge, and thus the work is one.

QUY LUẬT IV. Âm thanh, ánh sáng, rung động và hình tướng hòa lẫn và dung nhập, và như thế công việc là một.

1. Only the factor of color is missing from the usual listing.

1. Chỉ còn thiếu yếu tố màu sắc trong bảng liệt kê thông thường.

It proceedeth under the law, and naught can hinder now the work from going forward.

Nó tiến hành dưới định luật, và giờ đây không gì có thể cản trở công việc tiến lên.

2. A point of no return has been reached in the process. There is a certain ‘devic momentum’ arising from the steps already taken in the previous rules.

2. Một điểm không thể quay lui đã đạt đến trong tiến trình. Có một “động lượng thiên thần” nhất định phát sinh từ những bước đã được thực hiện trong các quy luật trước.

The man breathes deeply.

Con người hít thở sâu.

3. Here we have a psychic breath, not just a physical one.

3. Ở đây chúng ta có một hơi thở thông linh, không chỉ là hơi thở thể xác.

He concentrates his forces, and drives the thought-form from him.

Y tập trung các mãnh lực của mình, và đẩy hình tư tưởng ra khỏi mình.

4. All propulsion requires a previous concentration of forces.

4. Mọi sự phóng đẩy đều đòi hỏi một sự tập trung mãnh lực từ trước.

5. If the thoughtform is not properly driven from the magician, it cannot be effective in its mission and, further, may act in a manner inimical to the welfare of the magician.

5. Nếu hình tư tưởng không được đẩy ra khỏi nhà huyền thuật một cách đúng đắn, nó không thể hữu hiệu trong sứ mạng của nó và hơn nữa có thể hành động theo cách đối nghịch với phúc lợi của nhà huyền thuật.

Here we have a very important piece of work of magic dealt with, and one that is little considered and known.

Ở đây chúng ta có một công việc huyền thuật rất quan trọng được bàn đến, và là điều ít được xem xét và biết.

6. We see how much the Tibetan is revealing that is new to the common trend of thought about magic.

6. Chúng ta thấy Chân sư Tây Tạng đang tiết lộ biết bao điều mới đối với khuynh hướng tư tưởng thông thường về huyền thuật.

The force used by the Ego in the work of forcing the man to carry out His purpose has been dynamic will,

Mãnh lực được Chân ngã sử dụng trong công việc buộc con người thực hiện Thiên Ý của Ngài đã là ý chí năng động,

7. It is interesting that the Ego has been operating as the first ray factor in the entire process, and this, whatever the ray of the Ego concerned.

7. Điều thú vị là Chân ngã đã hoạt động như yếu tố cung một trong toàn bộ tiến trình, bất kể cung của Chân ngã là gì đi nữa.

8. The Ego has been a driving, propelling force in the entire magical process. This, perhaps, is little realized.

8. Chân ngã đã là một mãnh lực thúc đẩy, đẩy tới trong toàn bộ tiến trình huyền thuật. Có lẽ điều này ít được nhận ra.

9. The magician may think he is invoking the Ego, but, in fact, his invocation arises because he has been evoked by the initiative of the Ego.

9. Nhà huyền thuật có thể nghĩ rằng mình đang khẩn cầu Chân ngã, nhưng thật ra, sự khẩn cầu của y phát sinh vì y đã được gợi lên bởi sáng kiến của Chân ngã.

10. We note the relationship between the Solar Angel/Ego. Perhaps surprisingly to some, the Ego applies force.

10. Chúng ta lưu ý mối liên hệ giữa Thái dương Thiên Thần/Chân ngã. Có lẽ gây ngạc nhiên cho một số người, Chân ngã có vận dụng mãnh lực.

and the petal, or energy centre, employed has been one of the will petals.

cánh hoa, hay trung tâm năng lượng, được sử dụng là một trong những cánh hoa ý chí.

11. Earlier we have been told that the Ego was in a position to use different tiers of petals according to his development.

11. Trước đây chúng ta đã được cho biết rằng Chân ngã ở vào vị thế có thể sử dụng những tầng cánh hoa khác nhau tùy theo sự phát triển của y.

12. The process pursued by the Ego now seems both more limited and more specific. Now, so it seems, the Ego works through only one petal and it is a will petal.

12. Tiến trình mà Chân ngã hiện đang theo đuổi dường như vừa hạn định hơn vừa chuyên biệt hơn. Giờ đây, có vẻ như Chân ngã chỉ hoạt động qua một cánh hoa và đó là một cánh hoa ý chí.

13. We may infer that first degree initiates can work through the seventh petal; second degree initiates through the eighth petal; and third degree initiates through the ninth petal. These are, respectively, the first, second and third sacrifice petals.

13. Chúng ta có thể suy ra rằng các điểm đạo đồ bậc một có thể hoạt động qua cánh hoa thứ bảy; các điểm đạo đồ bậc hai qua cánh hoa thứ tám; và các điểm đạo đồ bậc ba qua cánh hoa thứ chín. Đây lần lượt là cánh hoa hi sinh thứ nhất, thứ hai và thứ ba.

14. Note that a petal is really an “energy center”. This is an important way to think of a petal, as petals are, as energy centers are, influential within the personality.

14. Lưu ý rằng một cánh hoa thật ra là một “trung tâm năng lượng”. Đây là một cách quan trọng để suy nghĩ về cánh hoa, vì các cánh hoa, cũng như các trung tâm năng lượng, đều có ảnh hưởng trong phàm ngã.

The man has, up till now, been driven by egoic will,

Cho đến lúc này, con người đã được thúc đẩy bởi ý chí chân ngã,

15. If he is a true white magician, he is not driven by personal will.

15. Nếu y là một nhà huyền thuật chánh đạo chân chính, y không bị thúc đẩy bởi ý chí cá nhân.

16. We see that the Solar Angel/Ego really initiates the entire magical process.

16. Chúng ta thấy rằng Thái dương Thiên Thần/Chân ngã thật sự khởi xướng toàn bộ tiến trình huyền thuật.

but has blended with this much of the energy of the attraction aspect (desire or love) thereby gathering to himself on the mental plane, the material needed for his thought form.

nhưng đã hòa trộn với điều này một phần năng lượng của phương diện hấp dẫn (ham muốn hay tình thương), nhờ đó tập hợp về cho mình trên cõi trí, chất liệu cần thiết cho hình tư tưởng của mình.

17. We remember that there are two types of major lunar pitris—transmitters and what might be called ‘magnetic gatherers’. They are responsible for the building of the lunar vehicles of man.

17. Chúng ta nhớ rằng có hai loại thái âm tổ phụ chính—những vị truyền dẫn và những vị có thể gọi là “những kẻ tập hợp từ tính”. Các vị này chịu trách nhiệm xây dựng các vận cụ thái âm của con người.

18. It is the man and not the Ego per se, who seems responsible for blending the attractive energy to be used upon the mental plane to gather the material needed for the building of his intended thoughtform. The second category of lunar pitri is the attractive energy of the permanent atom. The attractive energy used by man-as-builder is different yet similar in its effect. In the first case the substance to build the mental vehicle is gathered. In the second case the substance to build a human thoughtform is gathered.

18. Dường như chính con người chứ không phải bản thân Chân ngã là kẻ chịu trách nhiệm hòa trộn năng lượng hấp dẫn sẽ được dùng trên cõi trí để tập hợp chất liệu cần thiết cho việc xây dựng hình tư tưởng dự định của mình. Loại thái âm tổ phụ thứ hai năng lượng hấp dẫn của nguyên tử trường tồn. Năng lượng hấp dẫn được con người-với-tư-cách-đấng-kiến-tạo sử dụng thì khác nhưng tương tự trong hiệu quả của nó. Trong trường hợp thứ nhất, chất liệu để xây dựng thể trí được tập hợp. Trong trường hợp thứ hai, chất liệu để xây dựng một hình tư tưởng của con người được tập hợp.

19. We have, we remember, a “primary note” and a “secondary note”. The primary note is an egoic sound and is associated with the will. The “secondary note” is a note arising from the labors of the magician, and is characterized more by the energy of the second aspect of divinity.

19. Chúng ta nhớ rằng có một “âm điệu sơ cấp” và một “âm điệu thứ cấp”. Âm điệu sơ cấp là một âm thanh chân ngã và gắn liền với ý chí. “Âm điệu thứ cấp” là một âm điệu phát sinh từ lao động của nhà huyền thuật, và được đặc trưng nhiều hơn bởi năng lượng của phương diện thứ hai của thiên tính.

20. We might imagine that it is the energy of desire which is at work. The man is motivated to build a certain thoughtform, and this energy (essentially of the second aspect) which assists him in gathering the necessary mental material.

20. Chúng ta có thể hình dung rằng chính năng lượng của ham muốn đang hoạt động. Con người được thúc đẩy để xây dựng một hình tư tưởng nào đó, và chính năng lượng này (về bản chất thuộc phương diện thứ hai) trợ giúp y trong việc tập hợp chất liệu trí tuệ cần thiết.

21. In the previous rules the interplay of soul, mind and brain has been emphasized. Now the second aspect is to be considered.

21. Trong các quy luật trước, sự tương tác của linh hồn, thể trí và bộ não đã được nhấn mạnh. Giờ đây phương diện thứ hai cần được xem xét.

He has succeeded so far that on the concrete levels of the mental plane is to be seen a form in mental matter which is coherent, alive, vibrant, and of a desired nature.

Cho đến nay y đã thành công đến mức trên các cấp độ cụ thể của cõi trí có thể thấy một hình tướng trong vật chất trí tuệ, cố kết, sống động, rung động và có bản chất như mong muốn.

22. We see that the factor of desire has, indeed, been involved in the building of the thoughtform.

22. Chúng ta thấy rằng yếu tố ham muốn quả thật đã tham dự vào việc xây dựng hình tư tưởng.

23. The man on the physical plane, though driven by the Ego, would not begin the magical process unless he desired to do so.

23. Con người trên cõi hồng trần, dù được Chân ngã thúc đẩy, cũng sẽ không bắt đầu tiến trình huyền thuật nếu y không mong muốn làm như vậy.

24. Let us think through each of these words—“coherent”, “alive”, “vibrant”—to gather some idea of the condition of the thoughtform under construction.

24. Hãy suy xét từng từ này—“cố kết”, “sống động”, “rung động”—để nắm được phần nào tình trạng của hình tư tưởng đang được xây dựng.

Its internal activity is such that its persistence for the length of time necessary to ensure achievement of the egoic purpose is assured;

Hoạt động bên trong của nó đến mức sự bền vững của nó trong khoảng thời gian cần thiết để bảo đảm việc hoàn thành Thiên Ý của Chân ngã được bảo đảm;

25. There are so many thoughtforms for which this is not the case. We see that we are already dealing with a thoughtform which is strong and persistent. It has enough vitality to materialize.

25. Có rất nhiều hình tư tưởng không được như vậy. Chúng ta thấy rằng mình đã đang đề cập đến một hình tư tưởng mạnh mẽ và bền bỉ. Nó có đủ sinh lực để hiện hình.

26. Fortunately for humanity and the planet this type of strength is lacking in most or the thoughtforms constructed.

26. May mắn cho nhân loại và hành tinh là loại sức mạnh này thiếu vắng trong phần lớn các hình tư tưởng được kiến tạo.

it stands ready to be sent forth upon its mission,

nó đứng sẵn để được phóng ra trong sứ mạng của nó,

27. By analogy, the Jiva is a kind of thoughtform sent forth on a mission. The one who impels it forth is the Monad.

27. Theo định luật tương đồng, Jiva là một loại hình tư tưởng được phóng ra trong một sứ mạng. Đấng thúc đẩy nó đi ra là chân thần.

28. The directing of potentized thoughtforms comes very much under the influence of the sign Sagittarius which contains both directing and propelling power.

28. Việc định hướng các hình tư tưởng đã được tăng cường quyền năng chịu ảnh hưởng rất nhiều của dấu hiệu hoàng đạo Nhân Mã, vốn chứa cả năng lực định hướng lẫn năng lực đẩy tới.

to gather to itself material of a denser nature upon the astral plane, and to achieve greater consolidation.

để tự tập hợp lấy chất liệu có bản chất đậm đặc hơn trên cõi cảm dục, và đạt tới sự củng cố lớn hơn.

The thoughtform is not ready to be sent on a mission into the dense physical plane. The next part of its mission is to be sent forth upon the astral plane.

Hình tư tưởng chưa sẵn sàng để được gửi vào một sứ mạng trên cõi hồng trần đậm đặc. Phần kế tiếp của sứ mạng nó là được phóng ra trên cõi cảm dục.

29. Upon the astral plane it is to achieve greater consolidation through the magnetic forces of that plane.

29. Trên cõi cảm dục nó phải đạt tới sự củng cố lớn hơn nhờ các mãnh lực từ tính của cõi ấy.

30. Note that astral matter is definitely of a denser nature than the matter of the mental plane.

30. Lưu ý rằng vật chất cảm dục rõ ràng có bản chất đậm đặc hơn vật chất của cõi trí.

This is brought about by an act of will emanating from the man, and he gives the living form power “to break loose.”

Điều này được thực hiện bởi một hành vi ý chí phát ra từ con người, và y ban cho hình tướng sống động quyền năng “bứt thoát ra.”

31. The Ego has driven the man to create the thoughtform. Now the created thoughtform is to be driven forth by an act of will, but it is not the egoic will. Rather, it is the will of the magician.

31. Chân ngã đã thúc đẩy con người tạo ra hình tư tưởng. Giờ đây hình tư tưởng đã được tạo ra phải được đẩy ra bằng một hành vi ý chí, nhưng đó không phải là ý chí chân ngã. Đúng hơn, đó là ý chí của nhà huyền thuật.

32. When we think of the act of conferring the power to break loose we think of two planets especially—Vulcan as the driving, propelling, impacting power, and Uranus, the ability to break free and achieve independent life.

32. Khi nghĩ đến hành vi ban cho quyền năng bứt thoát, chúng ta đặc biệt nghĩ đến hai hành tinh—Vulcan như quyền năng thúc đẩy, đẩy tới, tác động; và Sao Thiên Vương, như khả năng bứt ra tự do và đạt được sự sống độc lập.

33. Interestingly, Uranus is associated in astrology with the nature of the “conception chart” which literally rules the nature of the concept to be materialized. All aspects of the personality are concepts or conceptions of the creative Ego.

33. Điều thú vị là trong chiêm tinh học, Sao Thiên Vương gắn liền với bản chất của “lá số thụ thai”, vốn theo nghĩa đen cai quản bản chất của khái niệm sẽ được hiện hình. Mọi phương diện của phàm ngã đều là những khái niệm hay những sự hình thành ý niệm của Chân ngã sáng tạo.

It is exactly at this point, fortunately for the human race, that the majority of magical investigators fail in their work.

Chính ngay tại điểm này, may thay cho nhân loại, mà đa số các nhà nghiên cứu huyền thuật thất bại trong công việc của họ.

34. DK states the obvious and we can well understand the reason.

34. Chân sư DK nêu ra điều hiển nhiên và chúng ta hoàn toàn có thể hiểu lý do.

They build a form in mental matter, but do not know how to send it forth, so that inevitably it will fulfill its mission.

Họ xây dựng một hình tướng trong vật chất trí tuệ, nhưng không biết cách phóng nó ra, để nó tất yếu hoàn thành sứ mạng của mình.

35. Thus, the thoughtform remains within the aura, possibly burdening its creator.

35. Do đó, hình tư tưởng vẫn ở trong hào quang, có thể trở thành gánh nặng cho người tạo ra nó.

Thus many thought forms die a natural death on the mental plane owing to the inability of the man to exert the will faculty constructively,

Vì vậy nhiều hình tư tưởng chết một cách tự nhiên trên cõi trí do con người không có khả năng vận dụng năng lực ý chí một cách kiến tạo,

36. The suggestion is that would-be magicians can assert the will aspect, but not constructively in relation to the thoughtforms they wish to send forth.

36. Điều được gợi ý là những người muốn trở thành nhà huyền thuật có thể khẳng định phương diện ý chí, nhưng không thể làm điều đó một cách kiến tạo trong liên hệ với các hình tư tưởng mà họ muốn phóng ra.

37. Perhaps they also lack sufficient strength of will.

37. Có lẽ họ cũng thiếu đủ sức mạnh của ý chí.

38. It would seem that there are certain aspects of knowledge which are missing.

38. Dường như có một số phương diện tri thức còn thiếu.

and his failure to understand the laws of thought-form construction.

và sự thất bại của y trong việc thấu hiểu các định luật của sự kiến tạo hình tư tưởng.

39. We may infer that the magician has not learned to build really well. Presumably his constructed thoughtforms are weak and relatively incoherent.

39. Chúng ta có thể suy ra rằng nhà huyền thuật chưa học được cách xây dựng thật tốt. Có lẽ các hình tư tưởng do y tạo ra đều yếu và tương đối thiếu cố kết.

Another factor is his lack of knowledge [Page 1003] of the formula which releases the elemental builders from their surroundings,

Một yếu tố khác là sự thiếu hiểu biết [Page 1003] về công thức giải phóng các đấng kiến tạo hành khí khỏi môi trường chung quanh của chúng,

40. We may presume that this is guarded knowledge.

40. Chúng ta có thể giả định rằng đây là tri thức được gìn giữ kín.

41. A formula of ‘severance’ exists but such knowledge is, if not completely esoteric, not readily available.

41. Có tồn tại một công thức “cắt lìa”, nhưng tri thức ấy, nếu không hoàn toàn huyền bí, thì cũng không dễ tiếp cận.

and forces them to cohere within the periphery of the thought form for as long as the thinker desires.

và buộc chúng phải cố kết trong chu vi của hình tư tưởng chừng nào người tư tưởng còn mong muốn.

42. We are obviously speaking of a binding formula. In magical lore we hear much of binding and loosening. Obviously the will is involved in forcing certain lives to be bound or in giving them ‘permission’ to be free.

42. Rõ ràng chúng ta đang nói đến một công thức trói buộc. Trong truyền thống huyền thuật, chúng ta nghe nhiều về việc trói buộc và tháo mở. Rõ ràng ý chí có liên quan trong việc buộc một số sự sống phải bị ràng buộc hoặc ban cho chúng “sự cho phép” để được tự do.

43. It would seem that these bound lives (bound through the efficacy of a magical formula) can only be unbound through a loosening formula.

43. Dường như những sự sống bị trói buộc này (bị trói buộc nhờ hiệu lực của một công thức huyền thuật) chỉ có thể được tháo mở bằng một công thức nới lỏng.

44. When the magician no longer desires the thoughtform to cohere, he applies the loosening or liberating formula.

44. Khi nhà huyền thuật không còn mong muốn hình tư tưởng cố kết nữa, y áp dụng công thức nới lỏng hay giải phóng.

Finally, they die owing to the incapacity of the man, which prevents him holding a meditation long enough, and formulating his ideas clearly enough to bring about ultimate materialisation.

Sau cùng, chúng chết do sự bất lực của con người, điều ngăn cản y duy trì một sự tham thiền đủ lâu, và hình thành các ý tưởng của mình đủ rõ ràng để đưa đến sự hiện hình.

45. We see that all ‘properly conceived’ magical process depends upon meditation—its strength and quality. A weak meditator can never be a true magician.

45. Chúng ta thấy rằng mọi tiến trình huyền thuật được “quan niệm đúng đắn” đều tùy thuộc vào tham thiền—vào sức mạnh và phẩm tính của nó. Một người hành thiền yếu kém không bao giờ có thể là một nhà huyền thuật chân chính.

46. Strength and persistence in meditation are required and also clear formulation of thoughtforms through meditation.

46. Cần có sức mạnh và sự bền bỉ trong tham thiền, đồng thời cũng cần sự hình thành rõ ràng các hình tư tưởng qua tham thiền.

47. Let us tabulate the reasons why so few thoughtforms reach the stage of materialization.

47. Hãy liệt kê các lý do vì sao rất ít hình tư tưởng đạt đến giai đoạn hiện hình.

a. The inability of the magician to use the will constructively

a. Nhà huyền thuật không có khả năng sử dụng ý chí một cách kiến tạo

b. The inability of the would-be magician to understand the laws of thoughtform building

b. Người muốn trở thành nhà huyền thuật không có khả năng thấu hiểu các định luật của việc xây dựng hình tư tưởng

c. Lack of knowledge of the binding and releasing formulas

c. Thiếu hiểu biết về các công thức trói buộc và giải phóng

d. A meditative approach lacking strength, persistence and clarity.

d. Một cách tiếp cận tham thiền thiếu sức mạnh, sự bền bỉ và tính rõ ràng.

Men are, as yet, too impure and too selfish to be trusted with this knowledge.

Cho đến nay, con người vẫn còn quá bất tịnh và quá ích kỷ để có thể được tin cậy giao cho tri thức này.

48. This is Master DK’s frank assessment. Does it differ from our own?

48. Đây là sự đánh giá thẳng thắn của Chân sư DK. Nó có khác với đánh giá của chính chúng ta không?

49. Do we estimate that we are pure and selfless enough to be trusted with this knowledge?

49. Chúng ta có tự đánh giá rằng mình đủ thanh khiết và vô ngã để được tin cậy giao cho tri thức này không?

Their thought forms would be constructed in order to be sent on selfish missions and for destructive ends,

Các hình tư tưởng của họ sẽ được xây dựng để được gửi đi trong những sứ mạng ích kỷ và nhằm những mục đích hủy diệt,

50. Almost immediately they would be applied to military ends.

50. Hầu như ngay lập tức chúng sẽ được áp dụng vào các mục đích quân sự.

51. As we read these words we can imagine the fray which arose in ancient Atlantis when powerful sorcerers could command the elemental forces.

51. Khi đọc những lời này, chúng ta có thể hình dung cuộc hỗn chiến đã phát sinh trong Atlantis cổ xưa khi các pháp sư quyền năng có thể điều khiển các mãnh lực hành khí.

and until they are more spiritual, and have gained control over their lower nature, the magical words which galvanise into separated activity the form in mental substance will not be available for their use.

và cho đến khi họ trở nên tinh thần hơn, và đã đạt được sự kiểm soát đối với bản chất thấp của mình, những linh từ huyền thuật làm kích hoạt hình tướng trong chất liệu trí tuệ vào hoạt động biệt lập sẽ không được trao cho họ sử dụng.

52. DK almost seems to suggest not only that the magical words will not be conveyed to the unworthy by those who know, but that these words cannot arise in the consciousness of the unworthy because of their lack of spirituality and their inability to control their lower nature.

52. Chân sư DK hầu như gợi ý không chỉ rằng các linh từ huyền thuật sẽ không được những người biết truyền cho kẻ không xứng đáng, mà còn rằng những linh từ này không thể khởi lên trong tâm thức của kẻ không xứng đáng vì họ thiếu tinh thần và không có khả năng kiểm soát bản chất thấp của mình.

53. We may think of the process of producing ‘Mind-born Sons’ and realize that there are similarities between it and the art of releasing thoughtforms and sending them on their mission. Every Mind-born Son is related to its generator by a thread of energy. The same of true of a thoughtform which has been ‘released’ into the world.

53. Chúng ta có thể nghĩ đến tiến trình tạo ra “Các Con sinh bởi Trí Tuệ” và nhận ra rằng có những điểm tương đồng giữa tiến trình ấy với nghệ thuật giải phóng các hình tư tưởng và gửi chúng đi trong sứ mạng của chúng. Mỗi Con sinh bởi Trí Tuệ đều liên hệ với đấng sinh ra nó bằng một sợi dây năng lượng. Điều tương tự cũng đúng với một hình tư tưởng chân chính đã được “giải phóng” vào thế giới.

It might be asked how it is that men do achieve their ends, through concentration and visualisation, and do manage to send forth thought forms which reach their objective.

Có thể đặt câu hỏi làm sao con người vẫn đạt được mục đích của mình, qua sự tập trung và sự hình dung, và vẫn xoay xở để phóng ra những hình tư tưởng đạt đến mục tiêu của chúng.

54. DK is speaking of the magical success of those who are ignorant of the binding and releasing formulas, for there are, indeed, instances of such success.

54. Chân sư DK đang nói về sự thành công huyền thuật của những người không biết các công thức trói buộc và giải phóng, vì quả thật có những trường hợp thành công như thế.

In two ways this can be brought about:

Điều này có thể được thực hiện theo hai cách:

First. By an unconscious recollection of methods and formulas known and used in Atlantean days, when the magical formulas were public property, and men produced results through the pronouncement of certain sounds.

Thứ nhất. Bằng một sự hồi tưởng vô thức về các phương pháp và công thức đã được biết và sử dụng trong thời Atlantis, khi các công thức huyền thuật là tài sản công khai, và con người tạo ra kết quả qua việc phát âm một số âm thanh nhất định.

55. Probably buried in the sub-conscious of many of us, these methods and formulas are still extant. Nothing is permanently forgotten and under the right circumstances can be retrieved.

55. Có lẽ được chôn sâu trong tiềm thức của nhiều người chúng ta, những phương pháp và công thức này vẫn còn tồn tại. Không có gì bị quên lãng vĩnh viễn và trong những hoàn cảnh thích hợp có thể được phục hồi.

56. It seems that pronouncements were sufficient because the sounds used and the order in which they were pronounced were sufficiently accurate to achieve the desired results.

56. Dường như việc phát âm là đủ, bởi vì các âm thanh được dùng và trật tự mà chúng được phát âm ra đủ chính xác để đạt được các kết quả mong muốn.

57. It is interesting that DK did not say, ‘the pronouncement of certain words’. Maybe the formulas had little to do with ‘words’ as we now understand the nature of words. Maybe, certain sounds and sequences of sounds were sufficient.

57. Điều thú vị là Chân sư DK đã không nói, “việc phát âm một số từ ngữ nhất định”. Có lẽ các công thức ít liên quan đến “từ ngữ” như hiện nay chúng ta hiểu bản chất của từ ngữ. Có lẽ chỉ cần một số âm thanh và chuỗi âm thanh nhất định là đủ.

They did not achieve their ends through mental ability, but principally through a parrot-like capacity to repeat mantrams.

Họ không đạt được mục đích của mình nhờ năng lực trí tuệ, mà chủ yếu nhờ khả năng như con vẹt trong việc lặp lại các mantram.

58. The Atlanteans, per se, were not distinguished by mentality as we in the Aryan race understand mentality.

58. Người Atlantis, chính họ, không nổi bật về trí tuệ như chúng ta trong nhân loại Arya hiểu về trí tuệ.

59. We remember how for millions of years, wisdom was passed from generation to generation through oral transmission. Apparently, those living in those ancient times had a great ability to remember and repeat.

59. Chúng ta nhớ rằng trong hàng triệu năm, minh triết đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác qua sự truyền đạt khẩu truyền. Hiển nhiên, những người sống trong các thời đại cổ xưa ấy có khả năng ghi nhớ và lặp lại rất lớn.

These are, at times,

Đôi khi, những điều này

60. But, perhaps, not at all times…

60. Nhưng, có lẽ, không phải vào mọi lúc…

hidden in the subconscious nature, and are used unwittingly by the man who is feeling strongly enough.

được ẩn giấu trong bản chất tiềmthức, và được con người sử dụng một cách vô tình khi y cảm thấy đủ mạnh.

61. Here is a powerful occult hint: intensity of feeling evokes hidden memories.

61. Đây là một gợi ý huyền bí học đầy uy lực: cường độ cảm xúc gợi lên những ký ức ẩn giấu.

62. The man may not know what he is doing but manages to recapture that which he once knew consciously.

62. Con người có thể không biết mình đang làm gì nhưng vẫn xoay xở để thu hồi lại điều mà trước đây y đã từng biết một cách hữu thức.

63. The idea that Scorpio (a sign often conveying intensity of feeling) is linked to the factor of memory should be contemplated.

63. Ý tưởng cho rằng Hổ Cáp (một dấu hiệu thường chuyển tải cường độ cảm xúc) có liên hệ với yếu tố ký ức nên được chiêm ngưỡng.

Second. Through the thoughts and ideas of the man fitting in with the plans and purposes of those who do know, either on the path of white or black magic. Then they utilise the form with its inherent force and galvanise it into activity, and a temporary separate identity, thus sending it forth to accomplish its purpose.

Thứ hai. Qua các tư tưởng và ý tưởng của con người phù hợp với các kế hoạch và mục đích của những kẻ quả thực biết, hoặc trên con đường của các nhà huyền thuật chánh đạo hay hắc thuật. Khi đó họ sử dụng hình tướng với mãnh lực cố hữu của nó và kích hoạt nó vào hoạt động, cùng một bản sắc tách biệt tạm thời, nhờ đó phóng nó ra để hoàn thành mục đích của nó.

64. In other words, the magician is sufficiently attuned with certain magical knowers to evoke their unsuspected aid.

64. Nói cách khác, nhà huyền thuật được chỉnh hợp đầy đủ với một số thức giả huyền thuật nào đó để gợi lên sự trợ giúp mà y không ngờ tới.

65. The magician has built the thoughtform and the thoughtform is seen by magical knowers (white or black) to be useful to their purposes. They, therefore, apply their knowledge to the created thoughtform and assist (through definite knowledge) with the sending of the thoughtform upon its mission and the maintenance of its coherence.

65. Nhà huyền thuật đã xây dựng hình tư tưởng và hình tư tưởng ấy được các thức giả huyền thuật (chánh đạo hay hắc đạo) thấy là hữu ích cho các mục đích của họ. Vì vậy, họ áp dụng tri thức của mình vào hình tư tưởng đã được tạo ra và trợ giúp (qua tri thức xác định) trong việc phóng hình tư tưởng vào sứ mệnh của nó và duy trì sự cố kết của nó.

66. From the white magical perspective, we can see the value to creating constructive thoughtforms in line with the Divine Plan. Higher Agencies know how to utilize such forms, animating them and sending them forth upon a mission in accordance with the nature of the thoughtforms.

66. Từ quan điểm huyền thuật chánh đạo, chúng ta có thể thấy giá trị của việc tạo ra những hình tư tưởng có tính xây dựng phù hợp với Thiên Cơ. Các Tác Nhân Cao Cả biết cách sử dụng những hình tướng như thế, tiếp sinh lực cho chúng và phóng chúng ra thực hiện một sứ mệnh phù hợp với bản chất của các hình tư tưởng.

67. Thus, even if we are far from fully accomplished in the magical arts, our engagement in meditative, creative thoughtform-building can be a service and can bring about magical results in the world through the aid and assistance of our superiors.

67. Do đó, ngay cả khi chúng ta còn xa mới hoàn toàn thành tựu trong các nghệ thuật huyền thuật, sự dấn thân của chúng ta vào việc xây dựng hình tư tưởng sáng tạo trong tham thiền vẫn có thể là một sự phụng sự và có thể đem lại những kết quả huyền thuật trong thế giới nhờ sự trợ giúp và hỗ trợ của các bậc cao hơn chúng ta.

This accounts for many of the apparently phenomenal results achieved by selfish or by incompetent (though good) thinkers. [Page 1004]

Điều này giải thích nhiều kết quả phi thường đạt được bởi những người suy tư ích kỷ hoặc bất tài (dù tốt lành). [Page 1004]

68. These good people (who are incompetent because they are not fully proficient in the magical arts) have provided the needed thought material by means of which significant results can be achieved.

68. Những người tốt này (bất tài vì họ chưa hoàn toàn tinh thông các nghệ thuật huyền thuật) đã cung cấp chất liệu tư tưởng cần thiết nhờ đó những kết quả quan trọng có thể đạt được.

69. Even if, by human standards, some of us may be “good thinkers”, we are still, with respect to the performance of magic, “incompetent”.

69. Ngay cả nếu, theo tiêu chuẩn nhân loại, một số chúng ta có thể là những “người suy tư giỏi”, thì xét về việc thực hành huyền thuật, chúng ta vẫn là những kẻ “bất tài”.

70. We may infer that the dark brothers aid the powerful selfish thinkers, often rendering their thoughtforms phenomenally effective. One cannot help but think of Hitler in this regard.

70. Chúng ta có thể suy ra rằng các huynh đệ bóng tối trợ giúp những người suy tư ích kỷ đầy quyền lực, thường khiến các hình tư tưởng của họ trở nên hữu hiệu một cách phi thường. Trong phương diện này, người ta không thể không nghĩ đến Hitler.

The magical words are only communicated under the seal of secrecy, to men working under the Brotherhood of Light, to initiates, and to pledged chelas, owing to the great danger involved.

Các linh từ huyền thuật chỉ được truyền đạt dưới ấn tín bí mật, cho những người nam đang hoạt động dưới Huynh đệ Đoàn Chánh đạo, cho các điểm đạo đồ, và cho các đệ tử đã tuyên thệ, do mối nguy hiểm lớn lao liên hệ đến điều đó.

71. Notice that we are now speaking of “words” and not merely of “sounds”. One wonders of utterances which move relatively higher forces must be “words” possessing meaning whereas utterances which move elemental forces can merely be concatenations of “sounds” without meaning. The future will make this clear.

71. Hãy lưu ý rằng giờ đây chúng ta đang nói đến “các linh từ” chứ không chỉ đơn thuần là “các âm thanh”. Người ta tự hỏi liệu những phát ngôn làm chuyển động các mãnh lực tương đối cao hơn hẳn phải là những “linh từ” mang ý nghĩa, trong khi những phát ngôn làm chuyển động các mãnh lực hành khí có thể chỉ đơn thuần là những chuỗi “âm thanh” không có ý nghĩa. Tương lai sẽ làm sáng tỏ điều này.

72. Presumably the pledged chelas are at least treading the earlier phases of the Path of Initiation.

72. Có lẽ các đệ tử đã tuyên thệ ít nhất cũng đang bước đi trên những giai đoạn đầu của Con Đường Điểm Đạo.

73. We see that this type of communication is a most solemn affair. Recipients of such communication must have proved themselves and be deemed trustworthy.

73. Chúng ta thấy rằng loại truyền đạt này là một việc hết sức trang nghiêm. Những người tiếp nhận sự truyền đạt như thế hẳn phải tự chứng tỏ mình và được xem là đáng tin cậy.

74. Interestingly, until a disciple stands at least midway between the second and third initiations and has passed the “Temptations in the Desert” he is deemed untrustworthy and a hazard.

74. Điều đáng chú ý là, cho đến khi một đệ tử đứng ít nhất ở khoảng giữa lần điểm đạo thứ hai và lần điểm đạo thứ ba và đã vượt qua các “Cám dỗ trong Sa mạc”, y vẫn bị xem là không đáng tin cậy và là một mối nguy.

Occasionally, too, they are ascertained by men and women who have brought about a condition of alignment with the Ego, and are, therefore, in touch with the inner centre of all knowledge within themselves.

Đôi khi nữa, chúng cũng được khám phá bởi những người nam và nữ đã tạo ra một tình trạng chỉnh hợp với chân ngã, và vì thế, tiếp xúc với trung tâm bên trong của mọi tri thức ở ngay trong chính họ.

75. Short of their purposeful conferral by one of the Great Ones, this is, perhaps, the most reliable method of reception.

75. Ngoài việc được một trong Các Đấng Cao Cả truyền ban có chủ đích, đây có lẽ là phương pháp tiếp nhận đáng tin cậy nhất.

76. It becomes clear that all knowledge resides within us. This is not a fanciful assertion but is the basis of the omniscience which is possible to the Spirit.

76. Điều trở nên rõ ràng là mọi tri thức đều cư ngụ bên trong chúng ta. Đây không phải là một khẳng định viển vông mà là nền tảng của toàn tri vốn có thể có đối với tinh thần.

When this is so, the knowledge is safe, for the Ego ever works on the side of law and righteousness,

Khi điều này là như thế, tri thức được an toàn, vì chân ngã luôn luôn hoạt động về phía quy luật và chính trực,

77. The moral position of the Ego is established. There can be no evil or injustice in it. It may have deficiencies but no corruption.

77. Vị thế đạo đức của chân ngã đã được xác lập. Trong nó không thể có điều ác hay bất công. Nó có thể có những thiếu sót nhưng không có sự bại hoại.

and the words being emanated by the Ego are “lost in His sound” (as it is occultly termed)

và các linh từ do chân ngã phát ra sẽ “mất đi trong âm thanh của Ngài” (như được gọi một cách huyền bí)

78. This is a fascinating proposition. It reminds one of the phrase from Rule III for Disciples and Initiates—“When the demand the response are lost in one great Sound…”

78. Đây là một mệnh đề đầy hấp dẫn. Nó gợi nhớ đến cụm từ trong Quy luật III dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ—“Khi sự đòi hỏi và sự đáp ứng mất đi trong một Đại Âm Thanh…”

and will not be remembered by the physical brain when not under the influence of the solar Angel.

sẽ không được bộ não hồng trần ghi nhớ khi không ở dưới ảnh hưởng của Thái dương Thiên Thần.

79. A safeguard is, thus, established. The influence of the Solar Angel (which, after all, does reach all the way to the physical brain) induces the necessary memory in the physical brain consciousness.

79. Do đó, một sự bảo vệ được thiết lập. Ảnh hưởng của Thái dương Thiên Thần (vốn rốt cuộc quả thực vươn tới tận bộ não hồng trần) tạo ra ký ức cần thiết trong tâm thức của bộ não hồng trần.

80. We can see the importance of true communion with the Ego/Solar Angel if true white magic is to be performed.

80. Chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của sự hiệp thông chân chính với chân ngã/Thái dương Thiên Thần nếu Chánh Thuật đích thực được thực hiện.

81. Again, by the way, the Ego and Solar Angel seem to be given equivalence though, as always, we must remember that there is more to the Solar Angel than the Ego.

81. Nhân tiện, một lần nữa, chân ngã và Thái dương Thiên Thần dường như được xem là tương đương, dù như mọi khi, chúng ta phải nhớ rằng Thái dương Thiên Thần còn nhiều hơn chân ngã.

82. We live in a veritable cacophony of words and other sounds. The truly essential words and sounds are thereby veiled. We must learn to neutralize the endless babble within us and around us if we are to arrive at true knowledge of the creative words and sounds.

82. Chúng ta sống trong một thứ hỗn âm thực sự của các linh từ và những âm thanh khác. Vì thế, những linh từ và âm thanh thật sự cốt yếu bị che khuất. Chúng ta phải học cách trung hòa sự huyên thuyên bất tận bên trong và quanh mình nếu muốn đạt đến tri thức chân thật về các linh từ và âm thanh sáng tạo.

83. Let us summarize a few of the ways in which the magician’s thoughtforms may be rendered effective (even though he does not know the sounds and words) the magician of the present day may come into the possession of these sounds and words:

83. Hãy tóm lược một vài cách mà các hình tư tưởng của nhà huyền thuật có thể được làm cho hữu hiệu (dù y không biết các âm thanh và linh từ), và nhà huyền thuật thời nay có thể đi đến chỗ sở hữu các âm thanh và linh từ ấy:

a. Through intensity of feeling he remembers the sounds or words

a. Qua cường độ cảm xúc, y nhớ lại các âm thanh hoặc các linh từ

b. Through the aid of those who do know, his thoughts are released and send upon their mission

b. Qua sự trợ giúp của những người thực sự biết, các tư tưởng của y được giải phóng và được phóng đi thực hiện sứ mệnh của chúng

c. The necessary words are conveyed by one of the Great Ones, or one of the evil ones

c. Các linh từ cần thiết được truyền đạt bởi một trong Các Đấng Cao Cả, hoặc một trong những kẻ ác

d. The Ego conveys the words to the magician

d. Chân ngã truyền các linh từ cho nhà huyền thuật

The six rules for the mental plane are necessarily brief, owing to the fact that the plane of mind is as yet an unknown land to the majority,—unknown in so far as its conscious control is concerned.

Sáu quy luật dành cho cõi trí nhất thiết phải ngắn gọn, do sự kiện rằng cõi trí vẫn còn là một miền đất chưa biết đối với đa số,—chưa biết xét theo phương diện sự kiểm soát hữu thức đối với nó.

84. From the very first, following individualization, some presence of mind is acknowledged (however primitive).

84. Ngay từ đầu, sau biệt ngã hóa, một mức độ hiện diện của trí tuệ nào đó đã được thừa nhận (dù rất sơ khai).

85. Through the discipline of Raja Yoga the conscious control of the mind is established.

85. Qua kỷ luật của Raja Yoga, sự kiểm soát hữu thức đối với trí tuệ được thiết lập.

These two remaining rules concern, in the first case, the brother engaged in white magic, and in the second the thought form he is constructing.

Hai quy luật còn lại này, trong trường hợp thứ nhất, liên quan đến huynh đệ đang dấn thân vào Chánh Thuật, và trong trường hợp thứ hai, liên quan đến hình tư tưởng mà y đang kiến tạo.

86. The rules become increasingly practical and concern the welfare of the creator and the viability of his creation.

86. Các quy luật ngày càng trở nên thực tiễn hơn và liên quan đến phúc lợi của người sáng tạo cùng tính khả thi của sự sáng tạo của y.

RULE V. Three things engage the solar Angel before the sheath created passes downward:

QUY LUẬT V. Ba điều thu hút sự chú ý của Thái dương Thiên Thần trước khi lớp vỏ được tạo ra đi xuống:

87. We are speaking not only of the Solar Angel as it expresses itself through a “fragment’ of its presence on the higher mental plane, but of the human consciousness as it is identified as the Ego and thus knows itself to be immersed within the consciousness of the Solar Angel.

87. Chúng ta đang nói không chỉ về Thái dương Thiên Thần khi nó biểu lộ chính mình qua một “mảnh” hiện diện của nó trên cõi thượng trí, mà còn về tâm thức con người khi nó đồng hoá với chân ngã và nhờ đó biết chính mình đang được chìm đắm trong tâm thức của Thái dương Thiên Thần.

the condition of the waters,

tình trạng của các nước,

88. Here is a reference to the condition of the astral plane through which the thoughtform, in process of creation, must descend.

88. Đây là một quy chiếu đến tình trạng của cõi cảm dục mà hình tư tưởng, trong tiến trình được tạo ra, phải đi xuống xuyên qua.

the safety of the one who thus creates,

sự an toàn của kẻ đang sáng tạo như thế,

89. It is not commonly realize that the would-be magician can be damaged or destroyed in the process of attempting to create.

89. Người ta thường không nhận ra rằng nhà huyền thuật tương lai có thể bị tổn hại hoặc bị hủy diệt trong tiến trình cố gắng sáng tạo.

and steady contemplation.

và sự chiêm ngưỡng vững bền.

90. Only the soul can contemplate. Perhaps, it is better to say that only the human consciousness identified as a soul or Ego, can contemplate.

90. Chỉ linh hồn mới có thể chiêm ngưỡng. Có lẽ, nói đúng hơn, chỉ tâm thức con người được đồng hoá như một linh hồn hay chân ngã mới có thể chiêm ngưỡng.

Thus are the heart, the throat, and the eye, allied for triple service.

Như thế tim, cổ họng và mắt được liên kết cho sự phụng sự tam phân.

91. Here we have three major organs which are externalizations of three of the four higher or major energy centers.

91. Ở đây chúng ta có ba cơ quan chính là những ngoại hiện của ba trong bốn trung tâm năng lượng cao hơn hay chính yếu.

92. Which of these organs will fulfill the function of the will?

92. Cơ quan nào trong số này sẽ hoàn thành chức năng của ý chí?

The focal point of energy that the man, the magician, has now created upon the mental plane, has reached a vibratory activity which makes it certain that response will be called forth from the matter required for the providing of the next, and denser sheath.

Điểm hội tụ của năng lượng mà con người, nhà huyền thuật, nay đã tạo ra trên cõi trí, đã đạt đến một hoạt động rung động khiến cho chắc chắn rằng sự đáp ứng sẽ được gợi lên từ vật chất cần thiết để cung cấp lớp vỏ kế tiếp và đậm đặc hơn.

93. DK seems to suggest that unless the “vibratory activity” of the created focal point of energy is sufficient, response will not be called forth from astral matter—i.e., from that of which the “next and denser sheath” must be created.

93. Chân sư DK dường như gợi ý rằng trừ phi “hoạt động rung động” của điểm hội tụ năng lượng đã được tạo ra là đủ mạnh, sự đáp ứng sẽ không được gợi lên từ vật chất cảm dục—tức là từ thứ mà “lớp vỏ kế tiếp và đậm đặc hơn” phải được tạo thành.

This vibration will result in an aggregation of a different type of divine life-substance around the central nucleus.

Sự rung động này sẽ dẫn đến sự tập hợp của một loại chất liệu sự sống thiêng liêng khác quanh hạt nhân trung tâm.

94. We may pause to reflect that although the astral plane is said to be an illusion, the substance of which it is composed is as real as the substance of any of the other solar planes. This is a thought worth pondering.

94. Chúng ta có thể dừng lại để suy ngẫm rằng mặc dù cõi cảm dục được nói là một ảo tưởng, chất liệu cấu thành nó vẫn thực như chất liệu của bất kỳ cõi thái dương nào khác. Đây là một tư tưởng đáng để suy ngẫm.

The form, occultly, is made to be sent forth, to descend, to [Page 1005] fly as a bird forth upon its mission, and a critical moment is near for the magician.

Hình tướng, một cách huyềnbí, được làm cho được phóng ra, đi xuống, [Page 1005]bay đi như một con chim trên sứ mệnh của nó, và một thời điểm trọng yếu đang đến gần đối với nhà huyền thuật.

95. Created thoughtforms are not be retained but sent forth for specific purposes.

95. Các hình tư tưởng được tạo ra không phải để giữ lại mà để được phóng ra vì những mục đích xác định.

96. A “bird”, however well trained, has some degree of independence. To what extent does a created thoughtform sent forth have any degree of independence?

96. Tuy nhiên, một “con chim”, dù được huấn luyện tốt đến đâu, cũng có một mức độ độc lập nào đó. Một hình tư tưởng được tạo ra và phóng đi có mức độ độc lập nào không, và đến mức nào?

One of the things the magician has to see to is that this form which he has constructed, and which he holds linked to him by a fine thread of animated substance (a correspondence on a minute scale of the sutratmic thread whereby the Monad or the Ego holds in connection its “form of manifestation”)

Một trong những điều mà nhà huyền thuật phải lưu tâm là hình tướng này mà y đã kiến tạo, và mà y giữ cho liên kết với mình bằng một sợi dây mảnh của chất liệu được tiếp sinh lực (một tương ứng ở quy mô cực nhỏ của sợi dây sutratma nhờ đó chân thần hay chân ngã giữ cho “hình tướng biểu hiện” của nó được nối kết)

97. Here we have a most important revelation: the created thoughtform is definitely linked to the creator.

97. Ở đây chúng ta có một mặc khải hết sức quan trọng: hình tư tưởng được tạo ra được nối kết rõ rệt với người sáng tạo.

98. We can presume that the linking “thread” is not only made of “animated substance” but is an energy flow responsible for animating the thoughtform.

98. Chúng ta có thể giả định rằng “sợi dây” liên kết ấy không chỉ được làm bằng “chất liệu được tiếp sinh lực” mà còn là một dòng năng lượng chịu trách nhiệm tiếp sinh lực cho hình tư tưởng.

99. Here we have an explanation for the ‘karmic return’ of that which we create. It is as if no creator can be entirely free of that which he creates, especially if he creates under the spell of ahamkara (the principle of limited “I-ness”).

99. Ở đây chúng ta có một giải thích cho “sự trở lại theo nghiệp quả” của điều mà chúng ta tạo ra. Dường như không người sáng tạo nào có thể hoàn toàn tự do khỏi điều mình tạo ra, đặc biệt nếu y sáng tạo dưới bùa lực của ahamkara (nguyên khí của “tính tôi” giới hạn).

100. We note that the sutratma extends from both the Monad and the Ego. Both of these higher centers are centers of vitalization.

100. Chúng ta lưu ý rằng sutratma kéo dài từ cả chân thần lẫn chân ngã. Cả hai trung tâm cao hơn này đều là những trung tâm tiếp sinh lực.

101. The vitality of the Ego must necessarily depend upon the sutratma extending from the Monad.

101. Sinh lực của chân ngã nhất thiết phải tùy thuộc vào sutratma kéo dài từ chân thần.

shall neither die for lack of vital sustenance nor return to him with its mission unfulfilled.

sẽ không chết vì thiếu sự nuôi dưỡng sinh lực cũng không trở về với y khi sứ mệnh của nó chưa hoàn thành.

102. Here are described two conditions which must definitely be avoided by the successful magician.

102. Ở đây mô tả hai điều kiện mà nhà huyền thuật thành công nhất định phải tránh.

103. That which is created must be sustained or it will die. An infant in womb must be fed by the umbilical cord or it will die. An infant newly born must also be sustained by its mother through its childhood years.. Only much later can the child truly fend for itself in the acquisition its sustenance.

103. Điều gì được tạo ra thì phải được duy trì, nếu không nó sẽ chết. Một hài nhi trong bụng mẹ phải được nuôi bằng dây rốn, nếu không nó sẽ chết. Một hài nhi mới sinh cũng phải được mẹ nuôi dưỡng trong những năm thơ ấu.. Chỉ về sau rất lâu đứa trẻ mới thực sự có thể tự lo liệu việc kiếm lấy sự nuôi dưỡng cho mình.

104. Likewise, thoughtforms under construction are wholly dependent upon their creator for continued sustenance. Later, when finally released upon the physical plane, other methods of sustenance may suffice. Certain great thoughtforms have been kept ‘alive’ by the devotion of those who admire the thoughtform long after their creator has died.

104. Tương tự như vậy, các hình tư tưởng đang trong quá trình kiến tạo hoàn toàn lệ thuộc vào người sáng tạo của chúng để được nuôi dưỡng liên tục. Về sau, khi cuối cùng được giải phóng trên cõi hồng trần, những phương pháp nuôi dưỡng khác có thể là đủ. Một số hình tư tưởng lớn lao đã được giữ cho “sống” nhờ lòng sùng mộ của những người ngưỡng mộ hình tư tưởng ấy rất lâu sau khi người sáng tạo của chúng đã qua đời.

When this latter catastrophe is the case, the thought form becomes a menace to the magician, and he becomes the prey of that which he has created.

Khi thảm họa sau này xảy ra, hình tư tưởng trở thành một mối đe dọa đối với nhà huyền thuật, và y trở thành con mồi của chính điều mình đã tạo ra.

105. He cannot disengage from his creation.

105. Y không thể tách rời khỏi sự sáng tạo của mình.

106. We see a human analogy in the case of overly-dependent adult children who never “make it into the world” and who either never leave home or retreat to home creating a toxic atmosphere (generated by a realized sense of failure) both for themselves and their parents.

106. Chúng ta thấy một tương tự nơi con người trong trường hợp những đứa con trưởng thành lệ thuộc quá mức, không bao giờ “bước được vào đời”, hoặc không bao giờ rời nhà, hoặc lại quay về nhà, tạo nên một bầu khí độc hại (được phát sinh bởi cảm giác thất bại đã được chứng nghiệm) cho cả chính họ lẫn cha mẹ họ.

107. There are unfulfilled human beings who never succeed “on their own” and there are unfulfilled thoughtforms.

107. Có những con người không được hoàn thành, không bao giờ thành công “bằng chính mình”, và cũng có những hình tư tưởng không được hoàn thành.

108. We have, perhaps, met those who are “haunted by a sense of failure”. There is much practical occultism concealed in this phrase and, especially, in the word “haunted”.

108. Có lẽ chúng ta đã gặp những người “bị ám bởi một cảm giác thất bại”. Có rất nhiều huyền bí học thực tiễn được che giấu trong cụm từ này và đặc biệt trong từ “bị ám”.

The devas who form the body of the idea which has failed in its purpose form a drain upon his vital force.

Các thiên thần tạo thành thể của ý tưởng đã thất bại trong mục đích của nó tạo nên một sự rút cạn đối với quyền năng thiết yếu của y.

109. Here DK seems to be speaking of devic life rather than of elemental life.

109. Ở đây Chân sư DK dường như đang nói về sự sống thiên thần hơn là về sự sống hành khí.

110. Notice that we first speak of an “idea”. The thoughtform is the “body of the idea”.

110. Hãy lưu ý rằng trước tiên chúng ta nói đến một “ý tưởng”. Hình tư tưởng là “thể của ý tưởng”.

111. As all living things seek sustenance, and as a thoughtform is akin to a living thing, it is natural that thoughtforms which have not “broken free”, or have not broken free successfully, having returned to their creator, will seek their sustenance within the aura of that creator.

111. Vì mọi sinh vật đều tìm kiếm sự nuôi dưỡng, và vì một hình tư tưởng tương tự như một sinh vật, nên thật tự nhiên khi những hình tư tưởng chưa “bứt ra tự do”, hoặc chưa bứt ra thành công, sau khi trở về với người sáng tạo của chúng, sẽ tìm sự nuôi dưỡng trong hào quang của người sáng tạo ấy.

112. We often hear of those who are “consumed by their own thoughts”, having little energy for productive expression.

112. Chúng ta thường nghe nói đến những người “bị chính tư tưởng của mình thiêu đốt”, hầu như không còn năng lượng cho sự biểu lộ có tính sản xuất.

He, therefore, sees to it that the motive or desire lying back of the “idea,” now clothed with its first sheath, retains its pristine purity;

Vì vậy, y bảo đảm rằng động cơ hay dục vọng nằm phía sau “ý tưởng”, nay đã được khoác lớp vỏ đầu tiên của nó, vẫn giữ được sự tinh tuyền nguyên thủy của nó;

113. The implication here is that a thoughtform created as the result of impure motive or desire will return to its creator and work destructively within his aura.

113. Hàm ý ở đây là một hình tư tưởng được tạo ra do động cơ hay dục vọng bất tịnh sẽ trở về với người sáng tạo của nó và hoạt động một cách phá hoại trong hào quang của y.

114. Selfish people are self-centered. That which they create centers around themselves and will return to the egoistic center which the selfish creator conceives or bears in mind as he creates. We find here the dynamic of “nemesis”.

114. Những người ích kỷ là những người tập trung vào bản thân. Điều họ tạo ra xoay quanh chính họ và sẽ trở về trung tâm vị ngã mà người sáng tạo ích kỷ hình dung hay ghi nhớ trong trí khi y sáng tạo. Ở đây chúng ta thấy động lực của “nghiệp báo”.

that no trace of selfish intent, no perversion of the initial purpose of the solar Angel has been permitted to bring in an unworthy vibration.

để không một dấu vết nào của ý định ích kỷ, không một sự xuyên tạc nào đối với mục đích ban đầu của Thái dương Thiên Thần được cho phép mang vào một rung động không xứng đáng.

115. The Solar Angel is, in a way, the true Creator and the magician is to be so merged within the consciousness of the Solar Angel that solar angelic intent is not refracted—bent, distorted, minimized.

115. Thái dương Thiên Thần, theo một nghĩa nào đó, là Đấng Sáng Tạo đích thực và nhà huyền thuật phải được hòa nhập đến mức như thế trong tâm thức của Thái dương Thiên Thần để ý định của thái dương thiên thần không bị khúc xạ—uốn cong, bóp méo, làm giảm thiểu.

116. We are studying the necessity for purity in the creative process. The true white magician realizes that he, per se, is not the creator in the white magical process. He is but the medium for a higher magical Agency which creates. Remember that the whole process begins with an initiative of the Solar Angel.

116. Chúng ta đang nghiên cứu sự cần thiết của sự tinh tuyền trong tiến trình sáng tạo. Nhà huyền thuật chánh đạo chân chính nhận ra rằng y, chính y, không phải là người sáng tạo trong tiến trình huyền thuật chánh đạo. Y chỉ là trung gian cho một Tác Nhân huyền thuật cao hơn đang sáng tạo. Hãy nhớ rằng toàn bộ tiến trình bắt đầu bằng một sáng kiến của Thái dương Thiên Thần.

This is what is meant by attending to the “condition of the waters.”

Đó là điều được hàm ý khi nói đến việc lưu tâm đến “tình trạng của các nước”.

117. That which we call motive arises on the astral plane.

117. Điều mà chúng ta gọi là động cơ phát sinh trên cõi cảm dục.

118. The condition of the “waters” will be correct (i.e., pure) when motive and desire are pure (i.e., faithful to solar angelic intend rather than distortive or deflective of that intent).

118. Tình trạng của “các nước” sẽ đúng đắn (tức là tinh tuyền) khi động cơ và dục vọng là tinh tuyền (tức là trung thành với ý định của thái dương thiên thần thay vì bóp méo hay làm chệch hướng ý định ấy).

119. A healthy creation, a health thoughtform, cannot be bathed in turbid, tainted “waters”. ‘Infection’ will result.

119. Một sự sáng tạo lành mạnh, một hình tư tưởng lành mạnh, không thể được tắm trong những “dòng nước” đục ngầu, ô nhiễm. Sự “nhiễm độc” sẽ xảy ra.

As we well know, water stands for matter,

Như chúng ta đều biết rõ, nước tượng trưng cho vật chất,

120. This is a standard equivalence in occultism.

120. Đây là một tương đương tiêu chuẩn trong huyền bí học.

and the substances of the astral plane which are now under consideration are of prime importance in all form-building.

và các chất liệu của cõi cảm dục hiện đang được xét đến có tầm quan trọng hàng đầu trong mọi sự kiến tạo hình tướng.

121. DK views astral matter as composed not just of one substance but of a number of substances. We realize that, when considering seven subplanes and seven sub-subplanes within each subplane, there must necessarily be a variety of substances

121. Chân sư DK xem vật chất cảm dục không chỉ được cấu thành từ một chất liệu mà từ một số chất liệu. Chúng ta nhận ra rằng, khi xét đến bảy cõi phụ và bảy cõi phụ-phụ trong mỗi cõi phụ, nhất thiết phải có nhiều loại chất liệu

122. We are studying the form-building process and must remember that the forces of the astral plane are correlated with the second aspect of divinity—the form-building aspect.

122. Chúng ta đang nghiên cứu tiến trình kiến tạo hình tướng và phải nhớ rằng các mãnh lực của cõi cảm dục có tương quan với phương diện thứ hai của thiên tính—phương diện kiến tạo hình tướng.

According to the substance used and the nature of the Builders

Tùy theo chất liệu được dùng và bản chất của các Đấng kiến tạo

123. Here DK (or the editor) capitalizes the word “Builders”, but as may have been noticed in the foregoing pages, often He does not.

123. Ở đây Chân sư DK (hoặc biên tập viên) viết hoa từ “Đấng kiến tạo”, nhưng như có thể đã được nhận thấy trong các trang trước, thường thì Ngài không làm vậy.

124. Substance and Builders may be considered distinct.

124. Chất liệu và các Đấng kiến tạo có thể được xem là khác biệt.

who respond to the note of the form in mental matter,

những vị đáp ứng với âm điệu của hình tướng trong vật chất trí tuệ,

125. We remember the “secondary note”…

125.Chúng ta nhớ đến “âm điệu thứ yếu”…

126. This note began with the magician on the physical plane and ascended to the mental plane.

126.Âm điệu này bắt đầu với nhà huyền thuật trên cõi hồng trần và đi lên cõi trí.

will the purpose be accomplished.

thì mục đích mới được hoàn thành.

127. Different classes of Builders are correlated with different grades of substance. In fact, different classes of Builders are, in a way, different grades of energy-substance. Devas are energy and energy is substance.

127.Các loại Đấng kiến tạo khác nhau tương quan với các cấp độ chất liệu khác nhau. Thực ra, các loại Đấng kiến tạo khác nhau, theo một nghĩa nào đó, những cấp độ khác nhau của chất liệu-năng lượng. Các thiên thần là năng lượng và năng lượng là chất liệu.

128. We have, nevertheless, to distinguish between the elemental substance of any particular subplane or sub-subplane and the deva Builders associated with those substances.

128.Tuy nhiên, chúng ta phải phân biệt giữa chất liệu hành khí của bất kỳ cõi phụ hay cõi phụ-phụ nào với các thiên thần kiến tạo gắn liền với những chất liệu ấy.

129. We can see that if the form is sending forth ‘mixed signals’, the grade of Builder suited to the fulfillment of the thoughtform’s essential purpose (i.e., the egoic intent which sought manifestation) may not be attracted.

129.Chúng ta có thể thấy rằng nếu hình tướng đang phát ra những “tín hiệu pha tạp”, thì cấp độ Đấng kiến tạo thích hợp cho việc hoàn thành mục đích cốt yếu của hình tư tưởng (tức là ý định chân ngã đã tìm cách biểu hiện) có thể không được thu hút.

This is the most important stage in many ways, for the astral body of any form conditions:

Đây là giai đoạn quan trọng nhất theo nhiều phương diện, vì thể cảm dục của bất kỳ hình tướng nào cũng tác động lên:

a. The nature of the physical vehicle.

a. Bản chất của vận cụ hồng trần.

130. The importance of water within the physical vehicle gives some hint regarding the manner in which the astral body conditions the physical vehicle.

130.Tầm quan trọng của nước trong vận cụ hồng trần cho thấy phần nào cách thức mà thể cảm dục tác động lên vận cụ hồng trần.

b. The transmission of force from the next highest plane.

b. Sự truyền dẫn mãnh lực từ cõi cao hơn kế tiếp.

131. In this case, the “next highest plane” is the mental plane. We all realize the extent to which that which exists upon the mental plane can be distorted as it ‘moves down and through’ the astral plane.

131.Trong trường hợp này, “cõi cao hơn kế tiếp” là cõi trí. Tất cả chúng ta đều nhận ra mức độ mà điều tồn tại trên cõi trí có thể bị bóp méo khi nó “đi xuống và xuyên qua” cõi cảm dục.

Provided the man on the physical plane can hold the purpose steady, and refuse to permit its distortion by the influences and vibrations emanating from the lower man, then the “devas of kama” can carry on their work. [Page 1006]

Miễn là con người trên cõi hồng trần có thể giữ cho mục đích được vững bền, và từ chối cho phép nó bị bóp méo bởi các ảnh hưởng và rung động phát ra từ phàm nhân, thì các “thiên thần của kama” có thể tiếp tục công việc. [Page 1006]

132. The ‘lower man’, in this case, seems to implicate the physical-instinctual nature. Desires, as they are centered in the sacral center, must not become influential.

132.Trong trường hợp này, “phàm nhân” dường như hàm ý bản chất bản năng-hồng trần. Những dục vọng, khi được tập trung trong trung tâm xương cùng, không được phép trở nên có ảnh hưởng.

133. To “hold the purpose steady” is a mental act, for within the personality, the will functions through the mind.

133.“Giữ cho mục đích được vững bền” là một hành động trí tuệ, vì trong phàm ngã, ý chí hoạt động qua trí tuệ.

134. It would seem that the “devas of kama

134.Dường như các “thiên thần của kama

135. ” must remain undisturbed by lower influences.

135.” phải không bị quấy nhiễu bởi các ảnh hưởng thấp hơn.

136. Influences of the lower astral plane must also be negated in all true white magical work.

136.Các ảnh hưởng của cõi cảm dục thấp hơn cũng phải bị phủ nhận trong mọi công việc huyền thuật chánh đạo chân chính.k.

I would remind students at this juncture that any thought form necessarily finds its way into greater streams of force or energy, emanating from advanced thinkers of every grade, from the planetary Logos downward, and according to its nature and motive so the work of evolution is assisted or retarded.

Tại điểm này, tôi muốn nhắc các đạo sinh rằng bất kỳ hình tư tưởng nào nhất thiết cũng tìm đường đi vào những dòng mãnh lực hay năng lượng lớn hơn, phát ra từ các nhà tư tưởng tiến hóa ở mọi cấp độ, từ Hành Tinh Thượng đế đi xuống, và tùy theo bản chất cùng động cơ của nó mà công việc tiến hoá được trợ giúp hay bị trì hoãn.

137. This section of text reminds us of our creative responsibility, for it is possible for us to promote or retard the evolutionary work of greater thinkers and even such Thinkers as the Planetary Logos.

137. Phần văn bản này nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm sáng tạo của mình, vì chúng ta có thể thúc đẩy hoặc làm chậm lại công việc tiến hoá của các thức giả vĩ đại hơn, và ngay cả của những Đấng Tư Tưởng như Hành Tinh Thượng đế.

138. Our thoughtforms necessarily swell the strength of various kinds of energy-streams (whether positive or negative). No generated thoughtform remains forever unaffiliated with other thoughtforms, nor does it remain uninfluenced by the quality of other thoughtforms with which it has qualitative resonance.

138. Các hình tư tưởng của chúng ta tất yếu làm tăng sức mạnh của nhiều loại dòng năng lượng khác nhau (dù tích cực hay tiêu cực). Không một hình tư tưởng nào được tạo ra lại mãi mãi không liên kết với các hình tư tưởng khác, cũng không đứng ngoài ảnh hưởng của phẩm tính nơi những hình tư tưởng khác mà nó có sự cộng hưởng về phẩm tính.

139. By thinking and speaking we cannot help but create, and the resultant thoughtforms will necessarily have a certain quality. It is our responsibility to ensure that our creations have the highest quality which we can manage.

139. Bằng tư tưởng và lời nói, chúng ta không thể không sáng tạo, và các hình tư tưởng được tạo thành tất yếu sẽ có một phẩm tính nhất định. Trách nhiệm của chúng ta là bảo đảm rằng các sáng tạo của mình có phẩm tính cao nhất mà chúng ta có thể đạt được.

It is in this connection that the Nirmanakayas work, manipulating streams of thought energy, vitalising the forms created by men, and thus carrying on the work of construction or destruction. They have to use that which exists; hence the necessity for clear thinking.

Chính trong mối liên hệ này mà các Nirmanakaya hoạt động, điều khiển các dòng năng lượng tư tưởng, tiếp sinh lực cho các hình tướng do con người tạo ra, và như thế tiếp tục công việc kiến tạo hoặc hủy diệt. Các Ngài phải sử dụng những gì đang hiện có; do đó mới cần đến tư tưởng minh xác.

140. Here we have quite an extraordinary thought. Thoughtforms created by human beings fall under the province of the Nirmanakayas—the Divine Contemplatives.

140. Ở đây chúng ta có một ý tưởng thật phi thường. Những hình tư tưởng do con người tạo ra thuộc phạm vi hoạt động của các Nirmanakaya—các Đấng Chiêm Ngưỡng Thiêng Liêng.

141. Let us tabulate that which the Nirmanakayas do:

141. Chúng ta hãy liệt kê điều mà các Nirmanakaya thực hiện:

a. They manipulate streams of thought energy

a. Các Ngài điều khiển các dòng năng lượng tư tưởng

b. They vitalize the thoughtforms created by man

b. Các Ngài tiếp sinh lực cho các hình tư tưởng do con người tạo ra

c. In relation to the thoughtforms created by men, the Nirmanakayas carry on the work of construction and destruction.

c. Liên quan đến các hình tư tưởng do con người tạo ra, các Nirmanakaya tiếp tục công việc kiến tạo và hủy diệt.

142. DK is suggesting that it is our responsibility to present the Nirmanakayas with suitable ‘thought material’ with which to work. Probably, this is an angle of responsibility which is prone to escape us.

142. Chân sư DK đang gợi ý rằng trách nhiệm của chúng ta là cung cấp cho các Nirmanakaya “chất liệu tư tưởng” thích hợp để các Ngài làm việc. Có lẽ đây là một góc độ trách nhiệm rất dễ thoát khỏi sự chú ý của chúng ta.

Having “purified” the waters, or safeguarded his desires,

Sau khi đã “thanh lọc” các dòng nước, hay gìn giữ các ham muốn của mình,

143. The two processes are equivalent. To purify is to safeguard.

143. Hai tiến trình này là tương đương. Thanh lọc tức là gìn giữ.

the thinker next proceeds (through the use of certain words which are imparted to him by the solar Angel)

thức giả kế đó tiến hành (thông qua việc sử dụng một số lời được thái dương Thiên Thần truyền cho y)

144. There are words to control the elementals and there are also words of protection—protective mantrams.

144. Có những lời để kiểm soát các hành khí, và cũng có những lời bảo vệ—những mantram bảo hộ.

145. Again, clear egoic contact is required if these words are to be consciously realized.

145. Một lần nữa, sự tiếp xúc chân ngã minh xác là điều cần thiết nếu những lời này được chứng nghiệm một cách hữu thức.

to protect himself from the devas of elemental nature with which he is purposing to work.

để tự bảo vệ mình khỏi các thiên thần có bản chất hành khí mà y dự định làm việk.

146. Is Master DK speaking of devas or of elementals, per se?

146. Chân sư DK đang nói về các thiên thần hay về chính các hành khí?

147. Usually there is a distinction between the two types of B/builders, devas being evolutionary and elementals, involutionary.

147. Thông thường có một sự phân biệt giữa hai loại đấng kiến tạo này, thiên thần thì thuộc thăng thượng tiến hoá, còn hành khí thì thuộc giáng hạ tiến hoá.

148. Some of the lower types of devas (perhaps manipulatory devas of the lower classes) might be reasonably called, “devas of elemental nature”.

148. Một số loại thiên thần thấp hơn (có lẽ là các thiên thần thao tác thuộc những cấp thấp) có thể được gọi một cách hợp lý là “các thiên thần có bản chất hành khí”.

149. Since DK’s use of terminology seems not to be entirely consistent in all instances, caution is needed. Sometimes He clearly distinguishes devas from elementals, but not always.

149. Vì cách dùng thuật ngữ của Chân sư DK dường như không hoàn toàn nhất quán trong mọi trường hợp, nên cần thận trọng. Đôi khi Ngài phân biệt rõ thiên thần với hành khí, nhưng không phải lúc nào cũng vậy.

On the mental plane, the nature and vibration of the solar Angel proved sufficient protection,

Trên cõi trí, bản chất và rung động của thái dương Thiên Thần tỏ ra là sự bảo vệ đầy đủ,

150. The influence of the Solar Angels is powerful upon the mental plane. It would seem that devas of the lower mental plane are more easily influenced by the Solar Angels than are devas of the still lower systemic planes. The lower mental plane is simply ‘closer’ to the domain of the soul/Ego/Solar Angel.

150. Ảnh hưởng của các Thái dương Thiên Thần rất mạnh trên cõi trí. Có vẻ như các thiên thần của cõi hạ trí dễ chịu ảnh hưởng của các Thái dương Thiên Thần hơn là các thiên thần của những cõi hệ thống còn thấp hơn nữa. Cõi hạ trí đơn giản là “gần” hơn với lãnh vực của linh hồn/chân ngã/thái dương Thiên Thần.

but he is now proposing to work with the most dangerous elementals and existences in the three worlds.2

nhưng giờ đây y đang đề nghị làm việc với những hành khí và thực thể nguy hiểm nhất trong ba cõi giới.2

151. This is a bold statement. DK is telling us that the astral elementals are the most dangerous “elementals and existences in the three worlds”.

151. Đây là một phát biểu táo bạo. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng các hành khí cảm dục là những “hành khí và thực thể nguy hiểm nhất trong ba cõi giới”.

152. We should, perhaps, pause and realize the effect of emotion in the expression of the human family.

152. Có lẽ chúng ta nên dừng lại và nhận ra ảnh hưởng của cảm xúc trong sự biểu lộ của gia đình nhân loại.

Footnote 2:

Chú thích 2:

H. P. B. has said that the elementals of the air are the most wicked and dangerous. He

H. P. B. đã nói rằng các hành khí của khí là độc ác và nguy hiểm nhất. Ông

153. We note the use of the word “He” when describing H.P.B. We can consider H.P.B. a masculine soul on the first ray. There may be other reasons for using the masculine personal pronoun as well. How many Great Ones used the vehicle of H.P.B. (who was a medium) to bring about the necessary presentation of aspects of the Teaching?

153. Chúng ta lưu ý việc dùng từ “Ông” khi mô tả H.P.B. Chúng ta có thể xem H.P.B. là một linh hồn nam tính thuộc cung một. Cũng có thể còn những lý do khác để dùng đại từ nhân xưng giống đực. Có bao nhiêu Đấng Cao Cả đã sử dụng vận cụ của H.P.B. (vốn là một đồng tử) để đem lại sự trình bày cần thiết về các phương diện của Giáo Huấn?

refers there to the physical plane, and to dangers menacing the physical body.

đề cập ở đó đến cõi hồng trần, và đến những hiểm nguy đe dọa thể xác.

154. We must remember that this was written at a time when air travel was nothing like what it is today. Is the Tibetan referring to the arising of great and destructive winds which whip both fire and water into irresistible forces?

154. Chúng ta phải nhớ rằng điều này được viết vào thời mà việc di chuyển bằng đường không hoàn toàn không giống như ngày nay. Chân sư Tây Tạng có đang nói đến sự nổi lên của những cơn gió lớn và tàn phá, quất cả lửa lẫn nước thành những mãnh lực không thể cưỡng lại chăng?

They are the most dangerous where the physical plane is concerned, but in the case we are considering, we are dealing with man, the unity in the three worlds.

Chúng là nguy hiểm nhất khi liên quan đến cõi hồng trần, nhưng trong trường hợp chúng ta đang xét, chúng ta đang bàn đến con người, đơn vị trong ba cõi giới.

155. Man, as a unity, is menaced more by the astral devas than by any other. It must be that these devas threaten his psychological balance and his fate in all three vehicles.

155. Con người, như một đơn vị, bị các thiên thần cảm dục đe dọa nhiều hơn bất cứ loại nào khác. Hẳn là các thiên thần này đe dọa sự quân bình tâm lý của y và số phận của y trong cả ba hiện thể.

These protective formulas are sounded forth by the thinker, in conjunction with the solar Angel,

Những công thức bảo hộ này được thức giả xướng lên, kết hợp với thái dương Thiên Thần,

156. Let us be clear in differentiating the “thinker” from the Solar Angel, Who is also, at times, called the “Thinker”. Certainly the Ego is called the “Thinker”.

156. Chúng ta hãy phân biệt rõ “thức giả” với Thái dương Thiên Thần, Đấng đôi khi cũng được gọi là “Thức Giả”. Chắc chắn chân ngã được gọi là “Thức Giả”.

157. The “thinker” can be thought of as the soul-in-incarnation acting as the magician and focussed on the lower mental plane but highly influenced and infused by the Solar Angel.

157. “Thức giả” có thể được hiểu là linh hồn đang nhập thể hành động như nhà huyền thuật và tập trung trên cõi hạ trí nhưng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và được Thái dương Thiên Thần thấm nhuần.

158. We are gathering the thought that, unless the protective formulas are imparted to us by one of the Initiates or Masters, fusion with the consciousness of the Solar Angel is required to receive (and retain) them.

158. Chúng ta đang thu nhận ý tưởng rằng, trừ phi các công thức bảo hộ được một trong các điểm đạo đồ hay các Chân sư truyền cho chúng ta, thì cần có sự dung hợp với tâm thức của Thái dương Thiên Thần để tiếp nhận (và giữ lại) chúng.

at the moment the thought form is ready to receive its astral sheath.

vào lúc hình tư tưởng sẵn sàng tiếp nhận thể vỏ cảm dục của nó.

159. It would seem that it is precisely at this moment that the protective formulas are needed. We can see why the adage “fools rush in where angels fear to tread” is peculiarly related to the work of magical creation.

159. Có vẻ như chính vào lúc này mà các công thức bảo hộ là cần thiết. Chúng ta có thể hiểu vì sao câu ngạn ngữ “kẻ ngu lao vào nơi thiên thần còn ngại bước” lại đặc biệt liên hệ với công việc sáng tạo huyền thuật.

The mantram deals with the forces which impel activity in the Agnisuryans,

Mantram này xử lý các mãnh lực thúc đẩy hoạt động trong các Agnisuryan,

160. We are definitely dealing (whether the elementals are involved or not) with the devas of the astral plane known as the Agnisuryans.

160. Chúng ta rõ ràng đang bàn đến (dù có liên quan đến các hành khí hay không) các thiên thần của cõi cảm dục được gọi là các Agnisuryan.

161. One definition of the Agnisuryans revealing their deva rather than elemental nature is as follows: They are…

161. Một định nghĩa về các Agnisuryan cho thấy bản chất thiên thần hơn là hành khí của họ như sau: Họ là…

the animating lives of that involutionary matter of the astral plane which we call the elemental essence, and as the vitality energising the desire elementals of all that is sentient.(TCF 658)

các sự sống hoạt hóa của loại vật chất giáng hạ tiến hoá nơi cõi cảm dục mà chúng ta gọi là tinh chất hành khí, và là sinh lực tiếp năng lượng cho các hành khí ham muốn của mọi loài hữu cảm.(TCF 658)

162. One can imagine that if such forces are excessive, the magician will find himself in serious difficulty if not danger.

162. Người ta có thể hình dung rằng nếu những mãnh lực như thế quá mức, nhà huyền thuật sẽ lâm vào khó khăn nghiêm trọng, nếu không muốn nói là nguy hiểm.

and starts a stream of protective energy from one of the heart petals of the Egoic lotus.

và khởi động một dòng năng lượng bảo hộ từ một trong các cánh hoa tim của Hoa Sen Chân Ngã.

163. Is the Tibetan suggesting that only one of these heart petals is involved always, or that one or the other of them can be involved depending on the degree of development of the magician?

163. Chân sư Tây Tạng có đang gợi ý rằng chỉ một trong các cánh hoa tim này luôn luôn tham dự, hay là cánh này hoặc cánh kia có thể tham dự tùy theo mức độ phát triển của nhà huyền thuật?

164. The fifth petal is, for many ones, the one most closely associated with the Solar Angel.

164. Đối với nhiều người, cánh hoa thứ năm là cánh hoa gắn bó mật thiết nhất với Thái dương Thiên Thần.

165. We see, again, that the petals are not passive repositories of quality but can be drawn upon to influence process in the lower three worlds. They are as much dynamic energy centers as are the chakras per se.

165. Một lần nữa, chúng ta thấy rằng các cánh hoa không phải là những kho chứa phẩm tính thụ động mà có thể được rút dùng để ảnh hưởng đến tiến trình trong ba cõi thấp. Chúng năng động như những trung tâm năng lượng chẳng kém gì chính các luân xa.

This circulates through the throat centre of the man,

Dòng này lưu chuyển qua trung tâm cổ họng của con người,

166. The second and third aspects of divinity are both involved, the heart love petals representing the second aspect and the throat center the third.

166. Cả phương diện thứ hai và thứ ba của thiên tính đều tham dự, các cánh hoa bác ái của tim tượng trưng cho phương diện thứ hai và trung tâm cổ họng tượng trưng cho phương diện thứ ba.

167. Because we are dealing with protective words and sounds, the throat center is naturally involved.

167. Vì chúng ta đang bàn đến những lời và âm thanh bảo hộ, nên trung tâm cổ họng đương nhiên có liên quan.

and sets up a circulatory stream of energy around him

và thiết lập một dòng năng lượng tuần hoàn quanh y

168. Is the rotary motion characteristic of the third aspect of divinity involved?

168. Phải chăng chuyển động quay, đặc trưng của phương diện thứ ba của thiên tính, có liên quan ở đây?

which automatically repulses the devas who might (through their blind unintelligent work) menace his peace.

tự động đẩy lùi các thiên thần có thể (qua công việc mù quáng vô trí của họ) đe dọa sự bình an của y.

169. If repulsion is involved in the process, so is the first ray.

169. Nếu sự đẩy lùi có liên quan trong tiến trình này, thì cung một cũng có liên quan.

170. The word “peace” should not be overlooked. A condition of equilibrium must be created within the astral body. This fact might point to the possibility that the central petal of the nine petals (the second love petal) is the petal from which the protective stream of energy is sent.

170. Không nên bỏ qua từ “bình an”. Một trạng thái quân bình phải được tạo ra trong thể cảm dục. Sự kiện này có thể gợi đến khả năng rằng cánh hoa trung tâm trong chín cánh hoa (cánh hoa bác ái thứ hai) là cánh hoa từ đó dòng năng lượng bảo hộ được phát ra.

171. We remember that the devas of the lower three worlds are not self-conscious and are, therefore, “blind”.

171. Chúng ta nhớ rằng các thiên thần của ba cõi thấp không có ngã thức và vì thế là “mù quáng”.

172. When, however, DK speaks of “blind unintelligent work” He seems to be speaking more in terms of elementals.

172. Tuy nhiên, khi Chân sư DK nói đến “công việc mù quáng vô trí”, Ngài dường như đang nói nhiều hơn theo nghĩa các hành khí.

These two matters attended to

Hai vấn đề này đã được xử lý xong

173. May we say, the purification of the waters and the utilization of protective formulas?

173. Chúng ta có thể nói là sự thanh lọc các dòng nước và việc sử dụng các công thức bảo hộ chăng?

desire adjusted and the identity guarded

ham muốn được điều chỉnhbản sắc được bảo vệ

174. The purification of desire and motive is the “adjustment” of desire and motive.

174. Sự thanh lọc ham muốn và động cơ chính là sự “điều chỉnh” ham muốn và động cơ.

175. The thought that protective formulas guard identity is most interesting. It is within the power of certain members of the deva kingdom to sweep a man away so that he forgets who he is. He is overcome by driving forces which compel him to forget his own center—his center of identity.

175. Ý tưởng rằng các công thức bảo hộ bảo vệ bản sắc thật rất đáng chú ý. Một số thành viên của giới thiên thần có khả năng cuốn phăng một người đi đến mức y quên mất mình là ai. Y bị áp đảo bởi những mãnh lực thúc bách khiến y quên mất trung tâm của chính mình—trung tâm bản sắc của y.

176. It may be supposed that the impulse of the deva kingdom is to lead away from center, whereas man is always seeking to centralize.

176. Có thể giả định rằng xung lực của giới thiên thần là dẫn ra xa khỏi trung tâm, trong khi con người luôn tìm cách tập trung hóa.

177. We can also infer that the activity of certain devas can become so intense that a man becomes completely distracted and, similarly, forgets who he is. He becomes entirely preoccupied with disruptive forces.

177. Chúng ta cũng có thể suy ra rằng hoạt động của một số thiên thần có thể trở nên mãnh liệt đến mức một người trở nên hoàn toàn phân tâm và tương tự như vậy, quên mất mình là ai. Y trở nên hoàn toàn bận tâm với những mãnh lực gây xáo trộn.

—both the solar Angel and the worker in magic maintain an attitude of contemplation, [Page 1007] or that profound condition which succeeds that called meditation.

—cả thái dương Thiên Thần lẫn người hoạt động trong huyền thuật đều duy trì một thái độ chiêm ngưỡng, [Page 1007] hay trạng thái thâm sâu nối tiếp điều được gọi là tham thiền.

178. Two precautionary measure have been taken. These are succeeded by a dual contemplation—the contemplation of the Solar Angel and the contemplation of the man merging within the contemplation of the Solar Angel.

178. Hai biện pháp phòng ngừa đã được thực hiện. Tiếp theo đó là một sự chiêm ngưỡng kép—sự chiêm ngưỡng của thái dương Thiên Thần và sự chiêm ngưỡng của con người hòa nhập vào trong sự chiêm ngưỡng của thái dương Thiên Thần.

179. We are alerted to the thought that contemplation succeeds what we normally call “meditation”.

179. Chúng ta được cảnh báo về ý tưởng rằng chiêm ngưỡng nối tiếp điều mà chúng ta thường gọi là “tham thiền”.

180. Again we remember that only the soul contemplates, so the man who has found his way into contemplation is focusing within the higher mind where the soul ‘resides’.

180. Một lần nữa, chúng ta nhớ rằng chỉ linh hồn mới chiêm ngưỡng, vì thế con người đã tìm được đường vào trạng thái chiêm ngưỡng là đang tập trung trong thượng trí, nơi linh hồn “cư ngụ”.

181. Libra, the sign associated with the necessary equilibrium we have been discussing, is also the sign associated with contemplation. Some degree of “peace” is required if contemplation is to ensue.

181. Thiên Bình, dấu hiệu gắn liền với sự quân bình cần thiết mà chúng ta đã bàn đến, cũng là dấu hiệu gắn liền với sự chiêm ngưỡng. Một mức độ “bình an” nào đó là cần thiết nếu sự chiêm ngưỡng muốn tiếp diễn.

In contemplation, the inner eye is fixed upon the object of contemplation,

Trong sự chiêm ngưỡng, nội nhĩ được cố định vào đối tượng chiêm ngưỡng,

182. At first this “inner eye” may be considered the imagination. Later it is the third eye, per se.

182. Thoạt đầu, “con mắt bên trong” này có thể được xem là sự tưởng tượng. Về sau, chính nó là con mắt thứ ba.

183. Let us note the fixity involved in the act of contemplation.

183. Chúng ta hãy lưu ý tính cố định có liên quan trong hành vi chiêm ngưỡng.

184. There is always an “object of contemplation”, but during the act of contemplation the contemplator merges with the object.

184. Luôn luôn có một “đối tượng chiêm ngưỡng”, nhưng trong hành vi chiêm ngưỡng, người chiêm ngưỡng hòa nhập với đối tượng.

and this produces (unconsciously in most cases)

và điều này tạo ra (một cách vô thức trong đa số trường hợp)

185. If all goes as it should…

185. Nếu mọi sự diễn ra đúng như cần phải vậy…

a steady stream of energy which is focussed upon the objective, producing vitalisation and activity.

một dòng năng lượng ổn định được tập trung vào mục tiêu, tạo ra sự tiếp sinh lực và hoạt động.

186. The stage of contemplation here discussed precedes any possible merging of subject and object. Through this stage of contemplation, vitalization ensues and additional activity. It is a way of conveying added livingness to the object of contemplation.

186. Giai đoạn chiêm ngưỡng được bàn đến ở đây đi trước bất kỳ sự hòa nhập nào có thể có giữa chủ thể và đối tượng. Qua giai đoạn chiêm ngưỡng này, sự tiếp sinh lực và hoạt động gia tăng sẽ xảy ra. Đây là một cách truyền thêm sinh động tính cho đối tượng chiêm ngưỡng.

It is the basis of the “work of transmutation,” for instance, when the human substance is transmuted into solar substance.

Đó là nền tảng của “công việc chuyển hoá”, chẳng hạn khi chất liệu nhân loại được chuyển hoá thành chất liệu thái dương.

187. This is a rather unique definition of transmutation. One type of substance can become another. Really, all substances are one. The changing of one substance to a higher or lower is really a change of quality which is essentially a change in vibratory frequency.

187. Đây là một định nghĩa khá độc đáo về sự chuyển hoá. Một loại chất liệu có thể trở thành một loại khác. Thật ra, mọi chất liệu đều là một. Việc biến đổi một chất liệu thành cao hơn hay thấp hơn thực ra là một sự thay đổi phẩm tính, mà về bản chất là một sự thay đổi về tần số rung động.

188. By “human substance” is presumably meant, “lunar substance”—the substance of the lunar vehicles.

188. Bởi “chất liệu nhân loại” có lẽ được hàm ý là “chất liệu nguyệt tính”—chất liệu của các hiện thể nguyệt tính.

The Ego contemplates his lunar bodies, and gradually the work is accomplished.

Chân ngã chiêm ngưỡng các thể nguyệt tính của y, và dần dần công việc được hoàn tất.

189. How interesting that via contemplation, transmutation is effected.

189. Thật thú vị biết bao khi qua sự chiêm ngưỡng, sự chuyển hoá được thực hiện.

190. We must realize contemplation as a dynamic, transmutative act. The “eye” brings about change simply by the act of gazing in a certain way.

190. Chúng ta phải nhận ra sự chiêm ngưỡng như một hành vi năng động, có tính chuyển hoá. “Con mắt” tạo ra sự thay đổi chỉ bằng chính hành vi nhìn theo một cách nhất định.

191. Consciousness is, in a sense, the “eye” and when an elevated state of consciousness is turned upon or fixed upon an object which must be raised in quality, that raising occurs.

191. Tâm thức theo một nghĩa nào đó, là “con mắt”, và khi một trạng thái tâm thức cao được hướng vào hay cố định vào một đối tượng cần được nâng cao về phẩm tính, thì sự nâng cao ấy xảy ra.

192. For this reason we must be careful of the manner in which we regard others and various objects. Our gaze is having an effect whether good or ill.

192. Vì lý do này, chúng ta phải cẩn trọng về cách mình nhìn người khác và nhiều đối tượng khác nhau. Ánh nhìn của chúng ta đang tạo ra ảnh hưởng, dù tốt hay xấu.

When his reflection, man, has reached a point in evolution where he can meditate and contemplate,

Khi phản ánh của Ngài là con người đã đạt đến một điểm tiến hoá mà y có thể tham thiền và chiêm ngưỡng,

193. Because he is merging into the consciousness of the Ego/Solar Angel…

193. Bởi vì y đang hòa nhập vào tâm thức của chân ngã/thái dương Thiên Thần…

the work is more rapidly accelerated,

công việc được tăng tốc nhanh hơn,

194. The resistance which unconsciousness inevitably offers is overcome.

194. Sự kháng cự mà vô thức tất yếu tạo ra được vượt qua.

195. A dual contemplative transmutation is then possible.

195. Khi ấy, một sự chuyển hoá chiêm ngưỡng kép trở nên khả hữu.

and transmutation proceeds with rapidity, particularly on the physical plane.

và sự chuyển hoá tiến hành nhanh chóng, đặc biệt trên cõi hồng trần.

196. This is the first arena of transmutation. The first initiation concerns the etheric and physical vehicles, the patterns of which must first be regulated before astral purification becomes possible.

196. Đây là đấu trường đầu tiên của sự chuyển hoá. Lần điểm đạo thứ nhất liên quan đến các hiện thể dĩ thái và hồng trần, mà các mô hình của chúng trước hết phải được điều hòa thì sự thanh lọc cảm dục mới trở nên khả hữu.

In the work of thought-form building, the man, in contemplation, pursues the work of energising and vitalising.

Trong công việc xây dựng hình tư tưởng, con người, trong sự chiêm ngưỡng, theo đuổi công việc tiếp năng lượng và tiếp sinh lực.

197. We have the Ego/Solar Angel contemplating man and thus raising his quality. We also have man in advanced meditation contemplating the thoughtform he is creating and intending to manifest. This contemplation vitalizes and energizes the thoughtform contributing to its endurance and viability.

197. Chúng ta có chân ngã/thái dương Thiên Thần chiêm ngưỡng con người và nhờ đó nâng cao phẩm tính của y. Chúng ta cũng có con người trong tham thiền cao cấp chiêm ngưỡng hình tư tưởng mà y đang tạo ra và dự định biểu hiện. Sự chiêm ngưỡng này tiếp sinh lực và tiếp năng lượng cho hình tư tưởng, góp phần vào sức bền và khả năng tồn tại của nó.

It might here be said that the eye is the great directing agency.

Ở đây có thể nói rằng con mắt là cơ quan chỉ đạo vĩ đại.

198. The eye can express itself under the influence of all three major aspects of divinity. As the “great directing agency” the eye is expressive of the first ray.

198. Con mắt có thể biểu lộ dưới ảnh hưởng của cả ba phương diện chính của thiên tính. Với tư cách là “cơ quan chỉ đạo vĩ đại”, con mắt là biểu hiện của cung một.

When the third eye is used, which is the case in contemplation,

Khi con mắt thứ ba được sử dụng, như trong trường hợp chiêm ngưỡng,

199. I.e., in the case of all true contemplation…Stages preliminary to contemplation are imaginative and do not employ the fully unfolded third eye.

199. Tức là, trong trường hợp của mọi sự chiêm ngưỡng đích thực… Những giai đoạn sơ khởi trước chiêm ngưỡng mang tính tưởng tượng và không sử dụng con mắt thứ ba đã khai mở hoàn toàn.

it is the synthesiser and director of triple energy;

nó là đấng tổng hợp và chỉ đạo năng lượng tam phân;

200. The energy of the first three, i.e., major rays.

200. Năng lượng của ba cung đầu tiên, tức là các cung chính.

hence the powerful work performed by those in whom it is functioning.

do đó có công việc đầy quyền năng được thực hiện bởi những ai nơi họ nó đang hoạt động.

201. This is the powerful work of an initiate of the third degree.

201. Đây là công việc đầy quyền năng của một điểm đạo đồ cấp ba.

202. Thus far, we are informed that the eye is an organ of synthesis and also an organ of direction.

202. Cho đến nay, chúng ta được cho biết rằng con mắt là một cơ quan của sự tổng hợp và cũng là một cơ quan của sự chỉ đạo.

The third eye only begins to function when the third circle of egoic petals is beginning slowly to unfold.

Con mắt thứ ba chỉ bắt đầu hoạt động khi vòng cánh hoa chân ngã thứ ba bắt đầu chậm rãi khai mở.

203. A most important hint is here given. The third eye does not open suddenly. There is a long period of preparation. Perhaps it takes twenty or thirty lives to unfold the final tier of petals—the sacrifice petals. All during this time it can be said that the third eye is in process of unfoldment.

203. Ở đây một gợi ý vô cùng quan trọng được đưa ra. Con mắt thứ ba không mở ra đột ngột. Có một thời kỳ chuẩn bị dài lâu. Có lẽ phải mất hai mươi hay ba mươi kiếp sống để khai mở tầng cánh hoa cuối cùng—các cánh hoa hi sinh. Trong suốt thời gian này, có thể nói rằng con mắt thứ ba đang trong tiến trình khai mở.

204. Since these are the sacrifice petals for the mental plane, it can be said that the third eye slowly opens only when the man is becoming mentally focussed and is subjecting his life to sacrifice.

204. Vì đây là các cánh hoa hi sinh dành cho cõi trí, nên có thể nói rằng con mắt thứ ba chỉ chậm rãi mở ra khi con người đang trở nên tập trung trí tuệ và đang đặt đời sống mình dưới sự hi sinh.

205. When normal desire relents (based as it is on the rejection of sacrifice) the third eye can be stimulated due to the redirection of energy liberated as desire becomes aspiration.

205. Khi ham muốn thông thường dịu xuống (vốn dựa trên sự khước từ hi sinh), con mắt thứ ba có thể được kích thích do sự tái định hướng của năng lượng được giải phóng khi ham muốn trở thành khát vọng.

206. The relation between the faculty of imagination and the opening of the third eye must be explored.

206. Mối liên hệ giữa năng lực tưởng tượng và sự mở ra của con mắt thứ ba phải được khảo cứu.

If students will study the effect of the human eye on the physical plane, and then extend the concept to the work of the interior Thinker, as he utilises the third eye, they will get an interesting light upon the subject of thought control.

Nếu các đạo sinh nghiên cứu ảnh hưởng của mắt người trên cõi hồng trần, rồi mở rộng khái niệm ấy đến công việc của Thức Giả bên trong, khi y sử dụng con mắt thứ ba, họ sẽ có được một ánh sáng thú vị về chủ đề kiểm soát tư tưởng.

207. A project is hereby proposed. The human eye is part of a dualistic system. The “interior Thinker” sees with the eye of unity which is the contemplative eye.

207. Một dự án được đề nghị ở đây. Mắt người là một phần của một hệ thống nhị nguyên. “Thức Giả bên trong” nhìn bằng con mắt của hợp nhất, tức là con mắt chiêm ngưỡng.

208. DK seems to be suggesting that certain external energy and force demonstrations can be regulated by the human eye. Likewise, many interior energy and force demonstrations can be regulated by the third eye.

208. Chân sư DK dường như đang gợi ý rằng một số biểu hiện năng lượng và mãnh lực bên ngoài có thể được điều chỉnh bởi mắt người. Tương tự, nhiều biểu hiện năng lượng và mãnh lực bên trong có thể được điều chỉnh bởi con mắt thứ ba.

209. The subjects of “light” and of “thought control” are to be simultaneously studied.

209. Hai chủ đề “ánh sáng” và “kiểm soát tư tưởng” cần được nghiên cứu đồng thời.

210. We are left with the impression that the eye controls and directs thought.

210. Chúng ta còn lại với ấn tượng rằng con mắt kiểm soát và chỉ đạo tư tưởng.

The old Commentary says:

Cổ Luận nói:

“When the eye is blind, the forms created revolve in circles and fulfill not the law.

“Khi con mắt mù, các hình tướng được tạo ra quay vòng tròn và không hoàn thành quy luật.

211. It is the third eye which is “blind” at the stage of evolution discussed.

211. Chính con mắt thứ ba là cái “mù” ở giai đoạn tiến hoá đang được bàn đến.

212. If forms revolve in circles they are subject to rotary motion (the motion of the third aspect) and are not responding to the transmutative, spiral-cyclic motion characteristic of the second aspect.

212. Nếu các hình tướng quay vòng tròn thì chúng chịu chuyển động quay (chuyển động của phương diện thứ ba) và không đáp ứng với chuyển động xoắn ốc-chu kỳ có tính chuyển hoá, vốn là đặc trưng của phương diện thứ hai.

213. The third aspect of divinity evades the law through the exercise of undisciplined motion.

213. Phương diện thứ ba của thiên tính né tránh quy luật qua việc vận dụng chuyển động vô kỷ luật.

When the eye is open, force streams forth, direction is assured, fulfillment is certain, and the plans proceed under law;

Khi con mắt mở ra, mãnh lực tuôn ra, sự chỉ đạo được bảo đảm, sự hoàn thành là chắc chắn, và các kế hoạch tiến hành theo quy luật;

214. The third eye is obviously associated with the directing will.

214. Con mắt thứ ba rõ ràng gắn liền với ý chí chỉ đạo.

215. The third eye sees the vision to be achieved under soul direction. The third eye also reveals the ways to avoid being lured off the track by the devas of the three lower worlds.

215. Con mắt thứ ba thấy linh ảnh cần đạt được dưới sự chỉ đạo của linh hồn. Con mắt thứ ba cũng bày ra những cách để tránh bị các thiên thần của ba cõi thấp dụ lệch khỏi đường đi.

216. We might think about the influence of the major star in the constellation Leo (i.e., Regulus) and its connection to the third eye as director and regulator.

216. Chúng ta có thể suy nghĩ về ảnh hưởng của ngôi sao chính trong chòm Sư Tử (tức Regulus) và mối liên hệ của nó với con mắt thứ ba như là đấng chỉ đạo và điều hòa.

the eye which is blue in color, and the eye which sees not red, when open, produce that which is intended with great facility.

con mắt có màu xanh lam, và con mắt không thấy màu đỏ ấy, khi mở ra, tạo ra điều được dự định với sự dễ dàng lớn lao.

217. The eye is “blue in color” because it opens in connection with the energizing of the egoic lotus on the higher mental plane. We may think of the higher mental plane as associated with “blue” which is the complement of orange (a color also rightfully associated with the higher mental plane).

217. Con mắt “có màu xanh lam” vì nó mở ra cùng với sự tiếp năng lượng cho Hoa Sen Chân Ngã trên cõi thượng trí. Chúng ta có thể nghĩ đến cõi thượng trí như gắn liền với “xanh lam”, là màu bổ sung của cam (một màu cũng gắn liền một cách chính đáng với cõi thượng trí).

218. We live within the “Blue Logos” and the developed soul ‘sees’ within the unified energy of Love-Wisdom (the color of which is dark blue or indigo—the dark blue of the second ray).

218. Chúng ta sống trong “Logos Xanh Lam” và linh hồn đã phát triển “thấy” trong năng lượng hợp nhất của Bác Ái – Minh Triết (màu của nó là xanh lam đậm hay chàm—màu xanh lam đậm của cung hai).

219. The third eye does not see “red” in this case, as red is the color of desire (based on duality). As the third eye opens, desire for life in the dualistic world is fast fading.

219. Trong trường hợp này, con mắt thứ ba không thấy “đỏ”, vì đỏ là màu của ham muốn (dựa trên nhị nguyên tính). Khi con mắt thứ ba mở ra, ham muốn sống trong thế giới nhị nguyên đang nhanh chóng phai tàn.

220. From an astrological perspective, we have the third eye as the “Eye of Jupiter”, overcoming through unity and inclusiveness the dualistic vision of Mercury and Venus (in their lower forms of expression)—this lower perception being driven by the energy of ruddy Mars which produces the “Desire for Duality”.

220. Từ góc nhìn chiêm tinh học, chúng ta có con mắt thứ ba như “Con Mắt của Sao Mộc”, vượt thắng bằng sự hợp nhất và tính bao gồm đối với linh thị nhị nguyên của Sao Thủy và Sao Kim (trong những hình thức biểu lộ thấp của chúng)—sự tri giác thấp này bị thúc đẩy bởi năng lượng của Sao Hỏa đỏ rực, vốn tạo ra “Ham Muốn đối với Nhị Nguyên Tính”.

221. The third eye or “Eye of Shiva” is often considered blue in color. It truly does not see the lower red of desire. But DK may, perhaps, be speaking of two centers of vision—one of them the third eye and also the eye(s) of the human thinker which finally arrive at a condition which is focussed on blue and impervious to the influence of red.

221. Con mắt thứ ba hay “Mắt của Shiva” thường được xem là có màu xanh lam. Quả thật, nó không nhìn thấy màu đỏ thấp của dục vọng. Nhưng có lẽ Chân sư DK đang nói đến hai trung tâm thị giác—một là con mắt thứ ba và cũng là mắt của nhà tư tưởng con người, cuối cùng đạt đến một trạng thái tập trung vào màu xanh lam và không thấm ảnh hưởng của màu đỏ.

The final rule is contained in the words: [Page 1008]

Quy luật cuối cùng được chứa trong những lời sau: [Page 1008]

RULE VI. The devas of the lower four feel the force when the eye opens;

QUY LUẬT VI. Các thiên thần của bốn thấp cảm nhận mãnh lực khi con mắt mở ra;

222. We are speaking of the force of the opening third eye.

222. Chúng ta đang nói về mãnh lực của con mắt thứ ba đang mở ra.

223. The lower four are the four force fields included within the human personality.

223. Bốn thấp là bốn trường lực được bao gồm trong phàm ngã con người.

they are driven forth and lose their master.

chúng bị xua ra ngoài và mất đi chủ nhân của chúng.

224. The following reference from A Treatise on White Magic reveals to us how we may consider the term “master” in this context:

224. Đoạn trích sau đây từ Luận về Chánh Thuật cho chúng ta thấy có thể hiểu từ “chủ nhân” trong ngữ cảnh này như thế nào:

Here is an enigmatic phrase. Who, then, is the master of the “devas of the lower four”? Bringing these concepts down to practical expression in relation to the Rule under consideration, it can be noted that all these three activities are dealt with in this Rule. The third eye opens as the result of conscious development, right alignment and the inflow of soul life. Then its magnetic controlling force makes itself felt, controlling the lives of the lower bodies, driving forth the lower four elementals (of earth, water, fire, air) and forcing the lunar lords to abdicate. The personality, which has hitherto been the master, no longer can control, and the soul comes into full domination in the three worlds.

Đây là một cụm từ bí ẩn. Vậy thì ai là chủ nhân của “các thiên thần của bốn thấp”? Khi đưa các khái niệm này xuống mức biểu hiện thực tiễn liên hệ với Quy luật đang được xem xét, cần lưu ý rằng cả ba hoạt động này đều được bàn đến trong Quy luật này. Con mắt thứ ba mở ra như kết quả của sự phát triển hữu thức, sự chỉnh hợp đúng đắn và dòng tuôn đổ của sự sống linh hồn. Khi đó, mãnh lực kiểm soát từ tính của nó được cảm nhận, kiểm soát các sự sống của các thể thấp, xua ra ngoài bốn hành khí thấp (của đất, nước, lửa, khí) và buộc các nguyệt tinh quân phải thoái vị. Phàm ngã, vốn từ trước đến nay là chủ nhân, không còn có thể kiểm soát nữa, và linh hồn đi đến chỗ hoàn toàn thống trị trong ba cõi giới.

The elemental of earth, who is the sum total of the many lives which form the physical body, is controlled and feels the eye of the Master (the one Master in the head) upon it. The gross elements constituting that body are “driven forth” and better and more adequate atoms or lives are built in. Or should we think of the “master” as the personality—the inclusive elemental life. (TWM 214)

Hành khí của đất, là tổng thể của nhiều sự sống tạo thành thể xác, bị kiểm soát và cảm nhận con mắt của Chân sư (một Chân sư trong đầu) chiếu lên nó. Các nguyên tố thô cấu thành thể ấy bị “xua ra ngoài” và những nguyên tử hay sự sống tốt hơn, thích hợp hơn được xây dựng vào. Hay chúng ta nên nghĩ “chủ nhân” là phàm ngã—sự sống hành khí bao gồm? (TWM 214)

The egoic energy, transmitted via the physical brain, is directed now to the work of sending forth the form, so that it may clothe itself in astral matter.

Năng lượng chân ngã, được truyền qua bộ não hồng trần, nay được hướng vào công việc phóng xuất hình tướng, để nó có thể khoác lấy vật chất cảm dục.

225. There are several ‘sendings forth’; this is the first. Each time there is such a sending forth, the thoughtform descends into a plane of greater density.

225. Có một số lần “phóng xuất”; đây là lần thứ nhất. Mỗi khi có một lần phóng xuất như thế, hình tư tưởng lại đi xuống một cõi có mật độ lớn hơn.

226. We remember that the magician is working as a conscious human being upon the physical plane and utilizing the physical brain.

226. Chúng ta nhớ rằng nhà huyền thuật đang hoạt động như một con người hữu thức trên cõi hồng trần và sử dụng bộ não hồng trần.

227. There is a link between soul—mind—brain—and again, mind.

227. Có một liên kết giữa linh hồn—trí tuệ—bộ não—và một lần nữa, trí tuệ.

228. Man is not directing the process from the mental plane alone. He is utilizing the physical brain as well.

228. Con người không chỉ điều khiển tiến trình từ cõi trí. Y cũng sử dụng bộ não hồng trần nữa.

The eye of the Thinker opens, and repulsing vitality streams forth.

Con mắt của Nhà Tư Tưởng mở ra, và sinh lực đẩy lùi tuôn ra ngoài.

229. The magician is identified as the Ego and strongly under the influence of the Solar Angel.

229. Nhà huyền thuật được đồng hoá với Chân ngã và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Thái dương Thiên Thần.

230. The third eye is functioning in its first ray mode and drives the thoughtform towards the astral plane.

230. Con mắt thứ ba đang hoạt động trong phương thức cung một của nó và đẩy hình tư tưởng về phía cõi cảm dục.

231. Let us ponder the words “repulsing vitality”. We know that vitality repulses the agents of disease. Here it overcomes the bonds which would keep the thoughtform upon the mental plane.

231. Chúng ta hãy suy ngẫm về những lời “sinh lực đẩy lùi”. Chúng ta biết rằng sinh lực đẩy lùi các tác nhân gây bệnh. Ở đây nó vượt thắng những ràng buộc vốn sẽ giữ hình tư tưởng lại trên cõi trí.

More need not be said here, for until the eye is functioning, it is not possible for men to comprehend the nature of the energy which they will then wield or direct.

Không cần nói thêm ở đây, vì cho đến khi con mắt hoạt động, con người không thể hiểu được bản chất của năng lượng mà khi ấy họ sẽ vận dụng hay điều khiển.

232. Our task, then, is to ensure that the third eye opens. How we manage our desire life (under Taurus) and the energies of the physical elemental (again associated with Taurus) has much to do with when and with what strength the third eye opens (again, under Taurus).

232. Vậy thì nhiệm vụ của chúng ta là bảo đảm rằng con mắt thứ ba mở ra. Chúng ta quản trị đời sống dục vọng của mình như thế nào (dưới Kim Ngưu) và các năng lượng của hành khí thể xác (cũng lại liên hệ với Kim Ngưu) có liên quan rất nhiều đến thời điểm và sức mạnh mà con mắt thứ ba mở ra (một lần nữa, dưới Kim Ngưu).

S8S6 Part II

TCF 1008–1013

TCF 1008–1013

Section VI, Part II

Phần VI, Phần II

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình giải được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Xin đề nghị rằng phần Bình Giải này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Giải

b. Five Rules for the Astral Plane. Before we take up the consideration of the second set of “Rules for Magic,”

b. Năm Quy Luật cho Cõi Cảm Dụce. Trước khi chúng ta bắt đầu xem xét bộ thứ hai của “Các Quy Luật về Huyền Thuật,”

1. Within the Fifteen Rules for Magic there are three sets of rules corresponding to the three planes of the lower worlds and the three vehicles which correspond to these planes.

1. Trong Mười Lăm Quy Luật về Huyền Thuật có ba bộ quy luật tương ứng với ba cõi của các thế giới thấp và ba vận cụ tương ứng với các cõi ấy.

I would like to make a few remarks anent the “eye of the Magician,” to which reference has been earlier made.

Tôi muốn đưa ra vài nhận xét liên quan đến “con mắt của Nhà Huyền Thuật”, điều đã được nhắc đến trước đây.

2. Let us see if by the “eye of the Magician” the Tibetan means the third eye.

2. Hãy xem liệu qua “con mắt của Nhà Huyền Thuật”, Chân sư Tây Tạng có muốn nói đến con mắt thứ ba hay không.

One of the fundamental rules back of all magical processes is that no man is a magician or worker in white magic until the third eye is opened,

Một trong những quy luật căn bản đứng sau mọi tiến trình huyền thuật là không ai là nhà huyền thuật hay người hoạt động trong Chánh Thuật cho đến khi con mắt thứ ba được mở ra,

3. Indeed, He does mean the third eye.

3. Quả thật, Ngài quả có ý nói đến con mắt thứ ba.

or in process of opening,

hoặc đang trong tiến trình mở ra,

4. To what extent must it be open? We recall that from the time the sacrifice petals are unfolding the third eye is slowly in the process of opening.

4. Nó phải mở đến mức nào? Chúng ta nhớ rằng từ lúc các cánh hoa hi sinh bắt đầu khai mở thì con mắt thứ ba chậm rãi ở trong tiến trình mở ra.

5. The opening or these petals occurs from the time that a man is nearing or undergoing the first initiation.

5. Sự mở ra của các cánh hoa này xảy ra từ lúc một người đang tiến gần đến hoặc đang trải qua lần điểm đạo thứ nhất.

6. Can a man really be called a “white magician” when his consciousness is focussed at the level of the first degree? It seems unlikely. Yet he can create in a benevolent and useful manner and thus, to a degree, precipitate upon the physical plane those patterns which are in line with the Divine Plan.

6. Liệu một người thật sự có thể được gọi là “nhà huyền thuật chánh đạo” khi tâm thức của y tập trung ở cấp độ của bậc thứ nhất không? Điều đó dường như khó có thể xảy ra. Tuy nhiên, y có thể sáng tạo theo cách thiện lành và hữu ích, và như thế, ở một mức độ nào đó, ngưng tụ trên cõi hồng trần những mô hình phù hợp với Thiên Cơ.

for it is by means of that eye that the thought form is energised,

vì chính nhờ con mắt ấy mà hình tư tưởng được tiếp sinh lực,

7. We remember when studying the rules for the mental plane that contemplation is that which energizes the thoughtform. True contemplation takes place only when the third eye is opening.

7. Chúng ta nhớ khi nghiên cứu các quy luật cho cõi trí rằng chiêm ngưỡng là điều tiếp sinh lực cho hình tư tưởng. Sự chiêm ngưỡng chân chính chỉ diễn ra khi con mắt thứ ba đang mở ra.

directed and controlled and the lesser builders or forces are swept into any particular line of activity.

được hướng dẫn và kiểm soát, và các vị tiểu kiến tạo hay các mãnh lực bị cuốn vào một đường hoạt động đặc thù nào.

8. Here we have the actions for which the third eye is responsible in relation to the work of the magician.

8. Ở đây chúng ta có những tác động mà con mắt thứ ba chịu trách nhiệm trong liên hệ với công việc của nhà huyền thuật.

a. It energizes the thoughtform under construction

a. Nó tiếp sinh lực cho hình tư tưởng đang được xây dựng

b. It directs that thoughtform

b. Nó hướng dẫn hình tư tưởng ấy

c. It controls that thoughtform

c. Nó kiểm soát hình tư tưởng ấy

d. It sweeps the lesser builders into a particular line of activity

d. Nó cuốn các vị tiểu kiến tạo vào một đường hoạt động đặc thù

Among the coming discoveries, and among the next revelations of materialistic science will be one which will concern itself with the force-directing faculty of the human eye, alone or collectively, and this will indicate one of the first stages towards the rediscovery of the third eye, or the “Eye of Shiva.”

Trong số những khám phá sắp đến, và trong số những mặc khải kế tiếp của khoa học duy vật sẽ có một khám phá liên quan đến năng lực định hướng mãnh lực của mắt người, riêng lẻ hoặc tập thể, và điều này sẽ chỉ ra một trong những giai đoạn đầu tiên hướng tới việc tái khám phá con mắt thứ ba, hay “Mắt của Shiva”.

9. DK is informing us that the third eye will not be rediscovered over night. First will come confirmable discoveries concerning the eyes of which we are already aware—the “human eye”.

9. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng con mắt thứ ba sẽ không được tái khám phá chỉ trong một đêm. Trước hết sẽ đến những khám phá có thể kiểm chứng được liên quan đến đôi mắt mà chúng ta đã biết—“mắt người”.

10. It is important that we realize that the eye does not only ‘see’; it also directs. This can already be felt as true in relation to the gaze of certain powerful individuals.

10. Điều quan trọng là chúng ta nhận ra rằng mắt không chỉ ‘nhìn thấy’; nó còn định hướng nữa. Điều này đã có thể được cảm nhận là đúng trong liên hệ với ánh nhìn của một số cá nhân đầy quyền lực.

11. We see, however, that we are not only dealing with individuals but with groups. We must research the power of the ‘collective gaze’.

11. Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng mình không chỉ đang đề cập đến các cá nhân mà còn đến các nhóm. Chúng ta phải nghiên cứu quyền năng của ‘ánh nhìn tập thể’.

12. Can we think of the force-directing faculty of public opinion based upon the vision or shared perspective of many?

12. Chúng ta có thể nghĩ đến năng lực định hướng mãnh lực của dư luận quần chúng dựa trên linh thị hay quan điểm chung của nhiều người không?

Shiva is, as we know, one of the names for the first great logoic aspect, and under that name is hidden much of esoteric moment.

Shiva, như chúng ta biết, là một trong những danh xưng của phương diện logoic vĩ đại thứ nhất, và dưới danh xưng ấy ẩn giấu nhiều điều có tầm quan trọng huyền bít.

13. Perhaps we will need to know the language and the tradition associated with Shiva to discover that which is hidden and of esoteric moment.

13. Có lẽ chúng ta sẽ cần biết ngôn ngữ và truyền thống gắn liền với Shiva để khám phá điều đang bị che giấu và có tầm quan trọng huyền bí.

14. The fact that the third eye is called the “Eye of Shiva” alerts us to its power, its directing potential.

14. Việc con mắt thứ ba được gọi là “Mắt của Shiva” báo cho chúng ta biết về quyền năng của nó, tiềm năng định hướng của nó.

Shiva stands for:

Shiva tượng trưng cho:

a. The Will aspect,

a. Phương diện Ý Chí,

b. The Spirit aspect,

b. Phương diện Tinh thần,

c. The Father in Heaven,

c. Đức Cha trên Trời,

d. The directing purpose,

d. mục đích định hướng,

e. Conscious energy,

e. năng lượng hữu thức,

f. Dynamic intent, [Page 1009]

f. ý định năng động, [Page 1009]

15. All of these are considered to be roughly synonymous.

15. Tất cả những điều này được xem là gần như đồng nghĩa với nhau.

16. Shiva represents occultism which is the Science of Energy and of energy direction.

16. Shiva tượng trưng cho huyền bí học, vốn là Khoa Học về Năng Lượng và về sự định hướng năng lượng.

17. The “Eye of Shiva” is considered blue. Sometimes the first ray is assigned the color blue. We read of the “eye that sees not red” and yet red is the color of the first ray. Blue and red must be studied in connection with the “Eye of Shiva”.

17. “Mắt của Shiva” được xem là màu xanh lam. Đôi khi cung một được gán màu xanh lam. Chúng ta đọc về “con mắt không thấy màu đỏ”, thế nhưng đỏ lại là màu của cung một. Xanh lam và đỏ phải được nghiên cứu trong liên hệ với “Mắt của Shiva”.

and in the consideration of these phrases the innate faculties of the third eye will become apparent.

và khi xem xét những cụm từ này, các năng lực bẩm sinh của con mắt thứ ba sẽ trở nên hiển nhiên.

18. Here then, is a hint. What are the innate faculties which will become apparent as we consider this list of words? What may we infer?

18. Vậy thì đây là một gợi ý. Những năng lực bẩm sinh nào sẽ trở nên hiển nhiên khi chúng ta xem xét danh sách từ ngữ này? Chúng ta có thể suy ra điều gì?

a. The third eye conveys the Will.

a. Con mắt thứ ba truyền đạt Ý Chí.

b. The third eye reveals the World of Spirit.

b. Con mắt thứ ba mặc khải Thế giới của Tinh thần.

c. The third eye is connected with the Monad or “Father in Heaven”.

c. Con mắt thứ ba được nối kết với chân thần hay “Đức Cha trên Trời”.

The Monad is to the planetary Logos what the third eye is to man, esoterically understood. (DINA II 310)

Chân thần đối với Hành Tinh Thượng đế cũng như con mắt thứ ba đối với con người, nếu được hiểu theo nghĩa huyền bí. (DINA II 310)

d. Via the third eye, Divine Purpose can direct the life in the lower three worlds.

d. Qua con mắt thứ ba, Thiên Ý có thể định hướng đời sống trong ba cõi thấp.

e. When the third eye opens, one becomes consciously aware of energy and where and how it may be directed.

e. Khi con mắt thứ ba mở ra, người ta trở nên hữu thức về năng lượng và về nơi chốn cũng như cách thức mà nó có thể được định hướng.

f. The power of the third eye renders intent dynamic.

f. Quyền năng của con mắt thứ ba làm cho ý định trở nên năng động.

19. These are some of the various factors which will manifest in the life as the third eye is opening.

19. Đây là một số yếu tố khác nhau sẽ biểu hiện trong đời sống khi con mắt thứ ba đang mở ra.

20. We can see that the third eye, contemplation and Shiva must be studied together.

20. Chúng ta có thể thấy rằng con mắt thứ ba, sự chiêm ngưỡng và Shiva phải được nghiên cứu cùng nhau.

The “Eye of Shiva” in the human being has its position, as is already known, in the centre of the forehead between the two physical eyes.3 [S.D., I, 77; II, 297, 309, 316]

“Mắt của Shiva” trong con người có vị trí của nó, như đã được biết, ở trung tâm trán giữa hai mắt hồng trần.3 [S.D., I, 77; II, 297, 309, 316]

21. This positioning of the “Eye of Shiva” is a conventional positioning. The actual “Eye of Shiva” may be more properly located more towards the center of the head and surrounding the pineal gland.

21. Vị trí này của “Mắt của Shiva” là một vị trí quy ước. “Mắt của Shiva” thực sự có lẽ đúng hơn nên được đặt về phía trung tâm đầu hơn và bao quanh tuyến tùng.

22. We are also learning that the “Eye of Shiva” exists in beings other than human beings.

22. Chúng ta cũng đang học rằng “Mắt của Shiva” hiện hữu trong những hữu thể khác ngoài con người.

It is not to be confounded with the pineal gland, which is distinctly a physical centre or gland.

Không nên nhầm lẫn nó với tuyến tùng, vốn rõ ràng là một trung tâm hay tuyến hồng trần.

23. But, in fact, its location surrounds the pineal gland. We can say that the pineal gland is the physical organ through which the “Eye of Shiva” works.

23. Nhưng trên thực tế, vị trí của nó bao quanh tuyến tùng. Chúng ta có thể nói rằng tuyến tùng là cơ quan hồng trần mà qua đó “Mắt của Shiva” hoạt động.

The third eye, not the pineal gland but its etheric correspondence. This is the responsive mechanism to the directing eye of the soul. (DINA II 290)

Con mắt thứ ba, không phải tuyến tùng mà là đối phần dĩ thái của nó. Đây là bộ máy đáp ứng đối với con mắt của linh hồn đang định hướng. (DINA II 290)

; related to this third eye as it awakens and comes into functioning activity is what we call “the eye of the soul”; this is a point within the highest head centre. This eye of the soul can and does transmit energy to the ajna centre and is itself the agent (before the fourth initiation) of the energy of the Spiritual Triad. (EH 571)

; liên hệ với con mắt thứ ba này khi nó thức tỉnh và đi vào hoạt động là điều chúng ta gọi là “con mắt của linh hồn”; đây là một điểm bên trong trung tâm đầu cao nhất. Con mắt của linh hồn này có thể và quả thật truyền năng lượng đến trung tâm ajna và chính nó là tác nhân (trước lần điểm đạo thứ tư) của năng lượng Tam Nguyên Tinh Thần. (EH 571)

The third eye exists in etheric matter, and is an etheric centre of force,

Con mắt thứ ba hiện hữu trong vật chất dĩ thái, và là một trung tâm lực dĩ thái,

24. Thus, in a way, the “Eye of Shiva” is a kind of chakra.

24. Như vậy, theo một nghĩa nào đó, “Mắt của Shiva” là một loại luân xa.

25. This must be remembered when we enumerate the chakras to be found in and around the head.

25. Điều này phải được ghi nhớ khi chúng ta liệt kê các luân xa được tìm thấy trong và quanh đầu.

being made of the substance of the ethers, whereas the pineal gland is formed of matter of the three lower subplanes of the physical plane.

được tạo thành từ chất liệu của các dĩ thái, trong khi tuyến tùng được tạo thành từ vật chất của ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần.

26. The pineal gland is a strictly physical organ, not etheric.

26. Tuyến tùng là một cơ quan hoàn toàn hồng trần, không phải dĩ thái.

The latter, nevertheless, has to be functioning more or less before the “Eye of Shiva” becomes in any degree active, and it is this fact that has led writers of occult books in the past purposely to confound the two, in order to protect the knowledge.

Tuy nhiên, cơ quan sau đó, phải hoạt động ít nhiều trước khi “Mắt của Shiva” trở nên hoạt động ở bất kỳ mức độ nào, và chính sự kiện này đã khiến các tác giả sách huyền bí trong quá khứ cố ý đánh đồng hai điều ấy, để bảo vệ tri thức.

27. We are given a hint showing a particular method of occult blinding—substituting something physical for its etheric correspondence, or, in general, something lower for something closely related but higher.

27. Chúng ta được cho một gợi ý cho thấy một phương pháp làm mù huyền bí đặc thù—thay thế một điều hồng trần bằng đối phần dĩ thái của nó, hay nói chung, thay thế một điều thấp bằng một điều cao hơn có liên hệ mật thiết với nó.

28. We are being told of an occult blind which has existed for many centuries so that knowledge of the etheric nature of the “Eye of Shiva” could be protected.

28. Chúng ta đang được cho biết về một sự che giấu huyền bí đã tồn tại trong nhiều thế kỷ để tri thức về bản chất dĩ thái của “Mắt của Shiva” có thể được bảo vệ.

29. We do see that a certain degree of functioning of physical organs may be necessary before more subtle organs or centers connected with them can manifest their powers on the physical plane.

29. Chúng ta quả thật thấy rằng một mức độ hoạt động nào đó của các cơ quan hồng trần có thể là cần thiết trước khi những cơ quan hay trung tâm tinh tế hơn liên hệ với chúng có thể biểu lộ quyền năng của mình trên cõi hồng trần.

30. If we wish for the pineal gland to come into power, we must follow the ancient rules concerning purification and continence.

30. Nếu chúng ta muốn tuyến tùng đi vào quyền năng, chúng ta phải tuân theo những quy luật cổ xưa liên quan đến sự thanh lọc và tiết dục.

The third eye is formed through the activity of three factors:

Con mắt thứ ba được hình thành qua hoạt động của ba yếu tố:

31. Here is the occult explanation. We can see that much more is being revealed in this text than has previously been revealed.

31. Đây là lời giải thích huyền bí. Chúng ta có thể thấy rằng trong bản văn này đang được tiết lộ nhiều hơn rất nhiều so với những gì trước đây từng được tiết lộ.

First, through the direct impulse of the Ego on its own plane. During the greater part of evolution the Ego makes its contact with its reflection, physical plane man, through the centre at the top of the head.

Thứ nhất, qua xung lực trực tiếp của Chân ngã trên chính cõi của nó. Trong phần lớn tiến trình tiến hoá, Chân ngã tiếp xúc với phản ánh của nó, con người trên cõi hồng trần, qua trung tâm ở đỉnh đầu.

32. The essence of this point is that the activation of the third eye is based at least partially upon egoic impulse—an impulse released from the higher mental plane.

32. Cốt lõi của điểm này là sự hoạt hóa con mắt thứ ba ít nhất một phần dựa trên xung lực chân ngã—một xung lực được giải phóng từ cõi thượng trí.

33. Egoic stimulation at the top of the head is a partial stimulation. There is a further stage of egoic impression and control possible.

33. Sự kích thích chân ngã ở đỉnh đầu là một sự kích thích từng phần. Còn có một giai đoạn xa hơn của sự gây ấn tượng và kiểm soát của chân ngã có thể xảy ra.

When man is more highly evolved, and is nearing or treading the Path, the indwelling Self takes a more complete grasp of its lower vehicle, and descends to a point in the head or brain which is found approximately in the centre of the forehead. This is its lowest contact.

Khi con người tiến hoá cao hơn, và đang tiến gần hoặc đang bước trên Con Đường, Bản Ngã Cao Siêu nội tại nắm giữ hoàn bị hơn công cụ thấp của nó, và hạ xuống một điểm trong đầu hay bộ não được tìm thấy xấp xỉ ở trung tâm trán. Đây là điểm tiếp xúc thấp nhất của nó.

34. Here we have a most valuable piece of occult information. The Ego is taking an ever-firmer grip upon its instrument. Its stimulation of the center at the top of the head is important but not ultimate.

34. Ở đây chúng ta có một mẩu thông tin huyền bí vô cùng quý giá. Chân ngã đang nắm giữ công cụ của nó ngày càng vững chắc hơn. Sự kích thích của nó đối với trung tâm ở đỉnh đầu là quan trọng nhưng chưa phải tối hậu.

35. The point within the brain which is the Ego’s lowest point of descent has sometimes been called the “cave”.

35. Điểm trong bộ não là điểm hạ xuống thấp nhất của Chân ngã đôi khi đã được gọi là “hang động”.

36. The word “grasp” is important as it indicates the power of the planet Vulcan which can reasonably be inferred as the ruler of the seven major head centers. Vulcan is also the planet directly associated with the pineal gland. As well, Vulcan is said to rule the head center of the disciple or initiate.

36. Từ “nắm giữ” rất quan trọng vì nó chỉ ra quyền năng của hành tinh Vulcan, vốn có thể được suy ra một cách hợp lý là chủ tinh của bảy trung tâm đầu chính. Vulcan cũng là hành tinh liên hệ trực tiếp với tuyến tùng. Ngoài ra, Vulcan được nói là cai quản trung tâm đầu của đệ tử hay điểm đạo đồ.

37. Through the power of Vulcan the Ego takes a firmer grip upon its instrument through the third eye—a chakra in the center of the head found approximately at the level of the forehead.

37. Qua quyền năng của Vulcan, Chân ngã nắm giữ công cụ của nó vững chắc hơn qua con mắt thứ ba—một luân xa ở trung tâm đầu được tìm thấy xấp xỉ ngang mức trán.

38. Vulcan, we must realize, is the esoteric and hierarchical ruler of Taurus, the zodiacal sign particularly associated with the third eye. Through Vulcan comes the intense luminosity which is an aspect of the “Greatest Light”. presumably the third eye is needed to perceive this “Greatest Light”

38. Chúng ta phải nhận ra rằng Vulcan là chủ tinh huyền bí và chủ tinh theo Thánh đoàn của Kim Ngưu, dấu hiệu hoàng đạo đặc biệt liên hệ với con mắt thứ ba. Qua Vulcan đến ánh sáng chói lọi mãnh liệt, là một phương diện của “Ánh Sáng Vĩ Đại Nhất”. Có lẽ con mắt thứ ba là cần thiết để tri giác “Ánh Sáng Vĩ Đại Nhất” này.

It is interesting here to note the correspondence with the evolution of the senses. The three major senses and the three first to demonstrate in order are, hearing, touch, sight. For the greater part of evolution, hearing is the guiding impulse of human life through egoic contact with the top of the head.

Ở đây thật thú vị khi lưu ý đến sự tương ứng với sự tiến hoá của các giác quan. Ba giác quan chính và cũng là ba giác quan đầu tiên biểu hiện theo thứ tự là thính giác, xúc giác, thị giác. Trong phần lớn tiến trình tiến hoá, thính giác là xung lực hướng dẫn của đời sống con người qua sự tiếp xúc chân ngã với đỉnh đầu.

39. This statement is of fascinating importance. The third aspect of divinity rules the human being for the greater part of his evolutionary journey. Similarly, we are told, the sense of hearing is the guiding impulse of human life for the greater part of evolution.

39. Phát biểu này có tầm quan trọng đầy hấp dẫn. Phương diện thứ ba của thiên tính cai quản con người trong phần lớn hành trình tiến hoá của y. Tương tự như vậy, chúng ta được cho biết, giác quan thính giác là xung lực hướng dẫn của đời sống con người trong phần lớn tiến trình tiến hoán.

40. DK is associating the sense of hearing with initial egoic stimulation at the top of the head. For this reason, we will have to connect the third ray—the ray associated with the sense of hearing—with stimulation at the top of the head.

40. Chân sư DK đang liên hệ giác quan thính giác với sự kích thích chân ngã ban đầu ở đỉnh đầu. Vì lý do này, chúng ta sẽ phải nối kết cung ba—cung liên hệ với giác quan thính giác—với sự kích thích ở đỉnh đầu.

41. Usually, the center at the top of the head is given to the first ray and is considered the most important of the head centers. In fact, it is so, in its entirety, but DK is alerting us to a kind of stimulation of the head which precedes stimulations caused by the second and first aspects as these emanate from the Ego.

41. Thông thường, trung tâm ở đỉnh đầu được gán cho cung một và được xem là quan trọng nhất trong các trung tâm đầu. Thực ra, điều đó đúng như vậy, trong tính toàn thể của nó, nhưng Chân sư DK đang báo cho chúng ta biết về một loại kích thích của đầu đi trước những kích thích do phương diện thứ hai và thứ nhất gây ra khi chúng phát xạ từ Chân ngã.

Later, when the Ego descends a little lower, the etheric centre which is active in connection with the pituitary body, is added, and man becomes responsive [Page 1010] to subtler and higher vibrations; the occult correspondence to the physical sense of touch awakens.

Về sau, khi Chân ngã hạ xuống thấp hơn một chút, trung tâm dĩ thái hoạt động liên hệ với tuyến yên được thêm vào, và con người trở nên đáp ứng [Page 1010] với những rung động tinh tế và cao hơn; đối phần huyền bí của giác quan hồng trần là xúc giác thức tỉnh.

42. Here we have a definite correlation of the pituitary body with the sense of touch and, thus, with the second ray and the second aspect.

42. Ở đây chúng ta có một sự tương quan rõ rệt giữa tuyến yên với giác quan xúc giác và như thế, với cung hai và phương diện thứ hai.

43. Anatomically, however, we will find that the pituitary is located still more deeply in the head than the pineal gland though not as deeply recessed in the head.

43. Tuy nhiên, về mặt giải phẫu, chúng ta sẽ thấy rằng tuyến yên nằm còn sâu hơn trong đầu so với tuyến tùng, dù không lùi sâu vào đầu bằng.

44. Pituitary stimulation is correlated with subtler and higher vibrations than can be registered following the preliminary stimulation of the top of the head.

44. Sự kích thích tuyến yên tương quan với những rung động tinh tế và cao hơn những gì có thể được ghi nhận sau sự kích thích sơ bộ ở đỉnh đầu.

Finally, the third eye opens and the pineal gland simultaneously begins to function.

Cuối cùng, con mắt thứ ba mở ra và tuyến tùng đồng thời bắt đầu hoạt động.

45. It is difficult to know the order of the process as we have just been told that the pineal gland must be somewhat functioning if the third eye is to function.

45. Thật khó biết được thứ tự của tiến trình vì chúng ta vừa được cho biết rằng tuyến tùng phải hoạt động phần nào nếu con mắt thứ ba muốn hoạt động.

46. We may assume that at approximately the time of the third initiation, the two centers—one densely physical and the other etheric—begin to function together powerfully and effectively in relation to the consciousness of the disciple/initiate upon the physical plane.

46. Chúng ta có thể giả định rằng vào khoảng thời gian của lần điểm đạo thứ ba, hai trung tâm—một đậm đặc hồng trần và một dĩ thái—bắt đầu cùng hoạt động một cách mạnh mẽ và hữu hiệu trong liên hệ với tâm thức của đệ tử/điểm đạo đồ trên cõi hồng trần.

At first, the sight is dim, and the gland is only partially responsive to vibration,

Lúc đầu, thị giác còn mờ nhạt, và tuyến chỉ đáp ứng một phần với rung động,

47. DK, naturally, speaks as one who has undergone the unfoldment of the power of this subtle organ of spiritual sight. We cannot expect that the inner sight will open suddenly and completely. At first the quality of spiritual sight is as if “through a glass darkly” (in the words of St. Paul).

47. Dĩ nhiên, Chân sư DK nói như một vị đã trải qua sự khai mở quyền năng của cơ quan tinh tế của linh thị tinh thần này. Chúng ta không thể mong đợi rằng nội nhĩ sẽ mở ra đột ngột và hoàn toàn. Lúc đầu phẩm tính của thị giác tinh thần giống như “nhìn qua một tấm kính mờ tối” (theo lời Thánh Paul).

but gradually the eye opens fully,

nhưng dần dần con mắt mở ra hoàn toàn,

48. We realize that the period of its opening is long because the complete unfoldment of the sacrifice petals spans quite a number of lives.

48. Chúng ta nhận ra rằng thời kỳ mở ra của nó kéo dài vì sự khai mở trọn vẹn của các cánh hoa hi sinh trải qua khá nhiều kiếp sống.

the gland is fully active, and we have the “fully awakened” man.

tuyến trở nên hoàn toàn hoạt động, và chúng ta có con người “hoàn toàn thức tỉnh”.

49. When this full awakening has occurred, we have the “Enlightenment”, the “Illumination”, “Satori”, “Realization”—minimally the third initiation.

49. Khi sự thức tỉnh trọn vẹn này đã xảy ra, chúng ta có “Giác Ngộ”, “Soi Sáng”, “Satori”, “Chứng nghiệm”—ít nhất là lần điểm đạo thứ ba.

50. In order that this state of consciousness supervene, it is required that both the pineal gland and third eye be significantly active. With respect to the gland, DK tells us that it becomes “fully active”.

50. Để trạng thái tâm thức này xuất hiện, đòi hỏi rằng cả tuyến tùng lẫn con mắt thứ ba đều phải hoạt động đáng kể. Đối với tuyến, Chân sư DK cho chúng ta biết rằng nó trở nên “hoàn toàn hoạt động”.

51. We think of the Buddha (identified so completely with Taurus) as the “Supremely Awakened One”. Obviously His stage of awakening was far beyond that which is here discussed.

51. Chúng ta nghĩ đến Đức Phật (được đồng nhất trọn vẹn đến thế với Kim Ngưu) như “Đấng Tối Thượng Giác Ngộ”. Hiển nhiên giai đoạn thức tỉnh của Ngài vượt xa điều đang được bàn đến ở đây.

When this is the case, the alta major centre vibrates and then the three physical head centres are functioning.

Khi điều này xảy ra, trung tâm alta major rung động và khi ấy ba trung tâm đầu hồng trần đều hoạt động.

52. We seem to be told that the alta major center awakens fully only during the very latest stages of the process. It seems that a fully awakened third eye requires a fully awakened alta major center.

52. Dường như chúng ta được cho biết rằng trung tâm alta major chỉ thức tỉnh hoàn toàn trong những giai đoạn rất muộn của tiến trình. Có vẻ như một con mắt thứ ba hoàn toàn thức tỉnh đòi hỏi một trung tâm alta major hoàn toàn thức tỉnh.

53. The alta major center is sometimes called a physical head center, but the lowest and truly physical head center is the carotid gland (or glands).

53. Trung tâm alta major đôi khi được gọi là một trung tâm đầu hồng trần, nhưng trung tâm đầu thấp nhất và thật sự hồng trần là tuyến cảnh mạch (hay các tuyến cảnh mạch).

54. We continue now with our discussion of the formation of the third eye.

54. Giờ đây chúng ta tiếp tục cuộc thảo luận về sự hình thành của con mắt thứ ba.

55. The first factor involved was egoic impulse.

55. Yếu tố thứ nhất liên hệ là xung lực chân ngã.

Second, through the co-ordinated activity of the major head centre, the many petalled lotus above the top of the head.

Thứ hai, qua hoạt động phối hợp của trung tâm đầu chính, hoa sen nhiều cánh phía trên đỉnh đầu.

56. Obviously there can be activity within the major head center long before there is coordinated activity between its many aspects.

56. Hiển nhiên có thể có hoạt động bên trong trung tâm đầu chính rất lâu trước khi có hoạt động phối hợp giữa nhiều phương diện của nó.

This centre directly affects the pineal gland,

Trung tâm này tác động trực tiếp lên tuyến tùng,

57. We are discriminating between the initial stimulation by the Ego registered at the top of the head and the actual coordinated activity of the highest head center, directly affecting as it does the pineal gland.

57. Chúng ta đang phân biện giữa sự kích thích ban đầu bởi Chân ngã được ghi nhận ở đỉnh đầu và hoạt động phối hợp thực sự của trung tâm đầu cao nhất, vốn trực tiếp tác động lên tuyến tùng.

and the interplay of force behind the two (the correspondence, on a tiny scale, of the pairs of opposites, spirit and matter), produces the great organ of consciousness, the “Eye of Shiva.”

và sự tương tác của mãnh lực phía sau cả hai (đối phần, trên một quy mô rất nhỏ, của các cặp đối cực, tinh thần và vật chất), tạo ra cơ quan lớn của tâm thức, “Mắt của Shiva.”

58. Here we have a very direct statement about the manner in which the “Eye of Shiva” or third eye is produced. It appears that the energy of the highest head center and its interplay with the pineal gland produces the “Eye of Shiva”.

58. Ở đây chúng ta có một phát biểu rất trực tiếp về cách thức mà “Mắt của Shiva” hay con mắt thứ ba được tạo ra. Có vẻ như năng lượng của trung tâm đầu cao nhất và sự tương tác của nó với tuyến tùng tạo ra “Mắt của Shiva”.

59. We are also learning that this is not the entire story as it can be presumed that the pituitary/ajna and alta major/carotid are also involved, just as is the Ego in a fundamental way.

59. Chúng ta cũng đang học rằng đây không phải là toàn bộ câu chuyện, vì có thể giả định rằng tuyến yên/ajna và alta major/cảnh mạch cũng có liên quan, cũng như chân ngã theo một cách thức căn bản.

60. As with all major occult processes occurring within the human being, a number of lesser processes contribute to the fulfillment of the greater process.

60. Cũng như với mọi tiến trình huyền bí học lớn diễn ra bên trong con người, một số tiến trình nhỏ hơn góp phần vào sự hoàn tất của tiến trình lớn hơn.

It is the instrument of wisdom,

Đó là khí cụ của minh triết,

61. It is a subtle and not a dense instrument.

61. Đó là một khí cụ vi tế chứ không phải một khí cụ đậm đặc.

62. The third eye is sometimes called the “wisdom eye”.

62. Con mắt thứ ba đôi khi được gọi là “con mắt minh triết”.

and in these three centres of energy we have the correspondence of the three aspects within the head of man.

và trong ba trung tâm năng lượng này chúng ta có sự tương ứng của ba phương diện bên trong đầu của con người.

63. Master DK is exploring our subject from a number of angles and in this process a variety of correspondences appears.

63. Chân sư DK đang khảo sát chủ đề của chúng ta từ nhiều góc độ, và trong tiến trình này nhiều sự tương ứng xuất hiện.

64. We are to consider the “Eye of Shiva” or the third eye as the “instrument of wisdom”. From this perspective, true wisdom does not express itself through the human consciousness until the third initiation, bringing with it a very full stimulation of the etheric centers in and around the head and their dense physical counterparts in the head.

64. Chúng ta phải xem “Con Mắt của Shiva” hay con mắt thứ ba như là “khí cụ của minh triết”. Từ góc nhìn này, minh triết chân chính không biểu lộ qua tâm thức con người cho đến lần điểm đạo thứ ba, mang theo cùng nó một sự kích thích rất đầy đủ đối với các trung tâm dĩ thái trong và quanh đầu cùng các đối phần hồng trần đậm đặc của chúng trong đầu.

1. Major head centre Will Aspect Spirit Father in Heaven

1. Trung tâm đầu chính Phương diện Ý chí Tinh thần Cha trên Trời

65. We continue to discriminate between this major center and the etheric area at the top of the head which was stimulated by the Ego in its initial grasp upon the human being.

65. Chúng ta tiếp tục phân biện giữa trung tâm chính yếu này và vùng dĩ thái ở đỉnh đầu, vốn đã được chân ngã kích thích trong sự nắm bắt ban đầu của nó đối với con người.

2. Pineal gland Love-Wisdom aspect Consciousness Son

2. Tuyến tùng quả phương diện Bác Ái – Minh Triết Tâm thức Con

66. Usually considered a material expression of the major head center above the top of the head, in this set of correspondences the pineal gland is associated with the second aspect. Yet the pineal gland is more material than the third eye which it is etheric counterpart.

66. Thường được xem là một biểu hiện vật chất của trung tâm đầu chính yếu ở phía trên đỉnh đầu, trong tập hợp các sự tương ứng này, tuyến tùng quả được liên kết với phương diện thứ hai. Tuy nhiên tuyến tùng quả lại vật chất hơn con mắt thứ ba, vốn là đối phần dĩ thái của nó.

67. From this perspective, it is the organ of the soul and especially of the light of the soul.

67. Từ góc nhìn này, nó là cơ quan của linh hồn và đặc biệt là của ánh sáng linh hồn.

3. Third eye. Activity aspect Matter… Mother

3. Con mắt thứ ba. Phương diện hoạt động Vật chất… Mẹ

68. The correspondences here are definitely unusual. In much of the foregoing text, the third eye has been considered correlated with the first aspect of divinity, but now it is assigned to the third or matter aspect, even when it is more closely related to consciousness than is its physical expression, the pineal gland.

68. Các sự tương ứng ở đây quả thật khác thường. Trong phần lớn đoạn văn đi trước, con mắt thứ ba đã được xem là tương quan với phương diện thứ nhất của thiên tính, nhưng giờ đây nó lại được gán cho phương diện thứ ba hay phương diện vật chất, dù nó liên hệ chặt chẽ với tâm thức hơn là biểu hiện hồng trần của nó, tức tuyến tùng quả.

69. From another point of view, the third eye is closely related to the “Eye of the Soul” and is the expression in matter of soul vision. Thus, perhaps, its relation to the third aspect of divinity.

69. Từ một quan điểm khác, con mắt thứ ba liên hệ mật thiết với “Con Mắt của Linh Hồn” và là biểu hiện trong vật chất của linh thị linh hồn. Vì thế, có lẽ, là mối liên hệ của nó với phương diện thứ ba của thiên tính.

70. In this particular correspondence, we have yet to solve why the third eye (which is etheric) should be assigned to the third aspect of divinity whereas the pineal gland (which is material) is assigned to the second aspect. One factor may be the dynamic, manipulative aspect of the third eye.

70. Trong sự tương ứng đặc biệt này, chúng ta vẫn chưa giải quyết được vì sao con mắt thứ ba (vốn là dĩ thái) lại được gán cho phương diện thứ ba của thiên tính, trong khi tuyến tùng quả (vốn vật chất) lại được gán cho phương diện thứ hai. Một yếu tố có thể là phương diện năng động, thao tác của con mắt thứ ba.

71. Here is an excerpt which presents a picture of nature and functions of the various “eyes” to be found in the head:

71. Đây là một đoạn trích trình bày một bức tranh về bản chất và chức năng của các “con mắt” khác nhau được tìm thấy trong đầu:

In between these two directing eyes is to be found the ajna centre, which is like a third eye or directing agent for the blended and fused energies of the personality; related to this third eye as it awakens and comes into functioning activity is what we call “the eye of the soul”; this is a point within the highest head centre. This eye of the soul can and does transmit energy to the ajna centre and is itself the agent (before the fourth initiation) of the energy of the Spiritual Triad. This esoteric relationship is only set up when the soul is dominating its instrument, the personality, and is bringing all the lower activities upon the physical plane under soul direction.

Ở giữa hai con mắt chỉ đạo này có thể tìm thấy trung tâm ajna, vốn giống như một con mắt thứ ba hay tác nhân chỉ đạo cho các năng lượng đã được hòa trộn và dung hợp của phàm ngã; liên hệ với con mắt thứ ba này khi nó thức tỉnh và đi vào hoạt động chức năng là điều mà chúng ta gọi là “con mắt của linh hồn”; đây là một điểm bên trong trung tâm đầu cao nhất. Con mắt của linh hồn này có thể và thực sự truyền năng lượng đến trung tâm ajna, và chính nó là tác nhân (trước lần điểm đạo thứ tư) của năng lượng Tam Nguyên Tinh Thần. Mối liên hệ huyền bí này chỉ được thiết lập khi linh hồn đang chi phối khí cụ của nó là phàm ngã, và đang đưa mọi hoạt động thấp trên cõi hồng trần vào dưới sự chỉ đạo của linh hồn.

In the perfected man, there is to be found, therefore, the following distributors or distributing agents of energy:

Trong con người hoàn thiện, vì vậy, có thể tìm thấy các bộ phân phối hay tác nhân phân phối năng lượng sau đây:

1. The eye of the soul agent of the Spiritual Triad Will.

1. Con mắt của linh hồn tác nhân của Tam Nguyên Tinh Thần Ý chí.

2. The third eye agent of the soul Love.

2. Con mắt thứ ba tác nhân của linh hồn Bác ái.

3. The right eye distributor of buddhic energy.

3. Mắt phải bộ phân phối năng lượng Bồ đề.

4. The left eye conveyor of pure manasic energy.

4. Mắt trái bộ chuyển tải năng lượng manas thuần túy.

5. The ajna centre focussing and directing point for all these energies. (EH 571)

5. Trung tâm ajna điểm tập trung và chỉ đạo cho tất cả các năng lượng này. (EH 571)

72. Returning to text…

72. Trở lại bản văn…

The third eye is the director of energy or force, and thus an instrument of the will or Spirit;

Con mắt thứ ba là đấng chỉ đạo năng lượng hay mãnh lực, và do đó là một khí cụ của ý chí hay tinh thần;

73. This is the more usual correspondence. The Ego is also an instrument of the will or Spirit, but an instrument generically on the second ray.

73. Đây là sự tương ứng thông thường hơn. Chân ngã cũng là một khí cụ của ý chí hay tinh thần, nhưng là một khí cụ nói chung thuộc cung hai.

74. The third eye can be considered an expression of the activity of Spirit.

74. Con mắt thứ ba có thể được xem là một biểu hiện của hoạt động của tinh thần.

it is responsive only to that will as controlled by the Son-aspect,

nó chỉ đáp ứng với ý chí như sự kiểm soát được điều khiển bởi phương diện Con,

75. This is important as the Monad/Spirit does not have initial control of the third eye. Rather, it is initially a mediated control via the Ego or “Son-aspect”.

75. Điều này quan trọng, vì Chân thần/Tinh thần không có sự kiểm soát ban đầu đối với con mắt thứ ba. Đúng hơn, lúc đầu đó là sự kiểm soát được trung giới thông qua chân ngã hay “phương diện Con”.

the revealer of the love-wisdom nature of gods and man, and it is therefore the sign of the white magician.

đấng mặc khải bản chất bác ái-minh triết của các vị thần và con người, và vì thế nó là dấu hiệu của nhà huyền thuật chánh đạo.

76. We are considering the third eye in relation to the stage of soul development and expression.

76. Chúng ta đang xem xét con mắt thứ ba trong liên hệ với giai đoạn phát triển và biểu lộ của linh hồn.

77. The third eye is the “sign of the white magician”.

77. Con mắt thứ ba là “dấu hiệu của nhà huyền thuật chánh đạo”.

78. Given our present stage of evolution, the third eye is to be considered the instrument of the second aspect of divinity (not yet fully the direct instrument of the first aspect).

78. Với giai đoạn tiến hoá hiện nay của chúng ta, con mắt thứ ba phải được xem là khí cụ của phương diện thứ hai của thiên tính (chưa hoàn toàn là khí cụ trực tiếp của phương diện thứ nhất).

79. The accomplished white magician is one who expresses fully the second aspect of divinity, the egoic or soul aspect. For practical purposes, the third eye is his instrument of expression.

79. Nhà huyền thuật chánh đạo thành tựu là người biểu lộ trọn vẹn phương diện thứ hai của thiên tính, phương diện chân ngã hay linh hồn. Xét về mặt thực tiễn, con mắt thứ ba là khí cụ biểu lộ của y.

80. Later when the egoic lotus is destroyed and the man is directed from the triadal and even monadic levels, the third eye will be a direct expression of the spirit (even though it manifests itself within and through a mayavirupa).

80. Về sau, khi hoa sen chân ngã bị hủy diệt và con người được chỉ đạo từ các cấp độ tam nguyên tinh thần và thậm chí chân thần, con mắt thứ ba sẽ là một biểu hiện trực tiếp của tinh thần (dù nó tự biểu lộ bên trong và thông qua một mayavirupa).

Third, the reflex action of the pineal gland itself.

Thứ ba, phản ứng phản xạ của chính tuyến tùng quả.

81. We continue in discussing the three means by which the third eye is generated.

81. Chúng ta tiếp tục bàn đến ba phương tiện nhờ đó con mắt thứ ba được tạo ra.

82. We have discussed the originating impulse of the Ego and also the coordinated activity of the many petalled lotus (the major head center). Now we also consider a strictly physical response—the reflex action of the pineal gland itself.

82. Chúng ta đã bàn đến xung lực khởi nguyên của chân ngã và cả hoạt động phối hợp của hoa sen nhiều cánh (trung tâm đầu chính yếu). Giờ đây chúng ta cũng xét đến một đáp ứng thuần túy hồng trần—phản ứng phản xạ của chính tuyến tùng quả.

83. We have already discussed how indispensable is the full functioning of the pineal gland to the full activation of the third eye.

83. Chúng ta đã bàn đến việc sự vận hành trọn vẹn của tuyến tùng quả là thiết yếu đến mức nào đối với sự hoạt hóa trọn vẹn của con mắt thứ ba.

As these three types of energy, or the vibration of these three centres, begin to contact each other, a definite interplay is set up.

Khi ba loại năng lượng này, hay rung động của ba trung tâm này, bắt đầu tiếp xúc với nhau, một sự tương tác xác định được thiết lập.

84. The third eye is definitely the result of triangular interplay.

84. Con mắt thứ ba rõ ràng là kết quả của sự tương tác tam giác.

85. Here we are being told that it is the interplay between the Ego, the crown center and the pineal gland that produces the emergence of the third eye.

85. Ở đây chúng ta được cho biết rằng chính sự tương tác giữa chân ngã, trung tâm đỉnh đầu và tuyến tùng quả tạo ra sự xuất hiện của con mắt thứ ba.

86. In other sections of text, we are told that the interplay between the crown center, the ajna center and the alta major center produce the emergence of that etheric organ we call the third eye. In all, five factors seem to be involved in its generation.

86. Trong những phần khác của bản văn, chúng ta được cho biết rằng sự tương tác giữa trung tâm đỉnh đầu, trung tâm ajna và trung tâm alta major tạo ra sự xuất hiện của cơ quan dĩ thái mà chúng ta gọi là con mắt thứ ba. Tính chung lại, dường như có năm yếu tố liên quan đến sự phát sinh của nó.

This triple interplay forms in time a vortex or centre of force, which finds its place in the centre of the forehead,

Sự tương tác tam phân này theo thời gian hình thành một xoáy hay trung tâm mãnh lực, tìm thấy vị trí của nó ở trung tâm trán,

87. Yet, as we have studied—yet still within the head, i.e., within the etheric brain.

87. Tuy nhiên, như chúng ta đã nghiên cứu—nhưng vẫn còn bên trong đầu, tức là bên trong bộ não dĩ thái.

and takes eventually the semblance of an eye looking out between the other two.

và cuối cùng mang dáng vẻ của một con mắt nhìn ra giữa hai con mắt kia.

[Page 1011]

[Page 1011]

88. Again, this is one of the standard descriptions of the third eye—an eye which looks out between the other two eyes.

88. Một lần nữa, đây là một trong những mô tả tiêu chuẩn về con mắt thứ ba—một con mắt nhìn ra giữa hai con mắt kia.

89. We seem to have a discrepancy between the standard placement of the third eye and the position of the pineal gland within the head (given that the third eye in some sense said to be an etheric center or organ which is the etheric correspondence to the pineal gland and located in such a way as to surround that gland.

89. Dường như có một sự sai biệt giữa vị trí tiêu chuẩn của con mắt thứ ba và vị trí của tuyến tùng quả bên trong đầu (nếu quả thật con mắt thứ ba theo một nghĩa nào đó được nói là một trung tâm hay cơ quan dĩ thái, là sự tương ứng dĩ thái với tuyến tùng quả và được định vị theo cách bao quanh tuyến ấy.

90. From another perspective, the soul is the “eye” which looks out between the two.

90. Từ một góc nhìn khác, linh hồn là “con mắt” nhìn ra giữa hai mắt.

91. Rule XII for Applicants deals with this “eye”.

91. Quy luật XII dành cho người thỉnh cầu bàn đến “con mắt” này.

“Let the disciple learn the use of the hands in service. Let him seek the mark of the messenger in his feet. And let him learn to see with the eye which looks out between the two”.

“Hãy để người đệ tử học cách sử dụng đôi tay trong phụng sự. Hãy để y tìm dấu hiệu của sứ giả nơi đôi bàn chân. Và hãy để y học cách nhìn bằng con mắt nhìn ra giữa hai con mắt”.

92. In the discussion of Rule XII, we are told that it is definitely the soul which is to be considered as the “eye which looks out between the two”. ( IHS 206)

92. Trong phần bàn về Quy luật XII, chúng ta được cho biết rằng chính linh hồn phải được xem là “con mắt nhìn ra giữa hai con mắt”. ( IHS 206)

It is the eye of the inner vision, and he who has opened it can direct and control the energy of matter,

Đó là con mắt của linh thị bên trong, và người đã mở được nó có thể chỉ đạo và kiểm soát năng lượng của vật chất,

93. Thus, the connection with the third aspect of divinity and with the first (the aspect of the director).

93. Như vậy, có mối liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính và với phương diện thứ nhất (phương diện của đấng chỉ đạo).

94. Perhaps it is the pure receptivity of the pineal gland which justified the correspondence relating it to the second aspect of divinity.

94. Có lẽ chính tính tiếp nhận thuần túy của tuyến tùng quả đã biện minh cho sự tương ứng liên hệ nó với phương diện thứ hai của thiên tính.

see all things in the Eternal Now,

thấy mọi sự trong Hiện Tại Vĩnh Cửu,

95. This ability represents the overcoming of time and space. Under the second and first rays the polar opposites are unified. Influences from both the buddhic and atmic planes are involved in this process.

95. Khả năng này biểu thị sự vượt thắng thời gian và không gian. Dưới cung hai và cung một, các cực đối lập được hợp nhất. Các ảnh hưởng từ cả cõi Bồ đề lẫn cõi atma đều liên quan đến tiến trình này.

96. One wonders about the relation of Uranus to the third eye. Uranus is the planet of simultaneity, and its energy promotes the overcoming of the illusion of time (and space) and the ability to perceive the reality of the Eternal Now.

96. Người ta tự hỏi về mối liên hệ của Sao Thiên Vương với con mắt thứ ba. Sao Thiên Vương là hành tinh của tính đồng thời, và năng lượng của nó thúc đẩy sự vượt thắng ảo tưởng về thời gian (và không gian) cùng khả năng tri nhận thực tại của Hiện Tại Vĩnh Cửu.

and therefore be in touch with causes more than with effects,

và vì thế tiếp xúc với các nguyên nhân nhiều hơn là với các kết quả,

97. Uranus is also the planet of causes rather than effects (Saturn).

97. Sao Thiên Vương cũng là hành tinh của các nguyên nhân hơn là các kết quả (Sao Thổ).

98. The Ego which initially stimulates the emerging of the third eye is focussed through the causal body. From this perspective, the higher mental plane is a world of causes.

98. Chân ngã, vốn ban đầu kích thích sự xuất hiện của con mắt thứ ba, được tập trung qua thể nguyên nhân. Từ góc nhìn này, cõi thượng trí là một thế giới của các nguyên nhân.

read the akashic records, and see clairvoyantly. Therefore, its possessor can control the builders of low degree.

đọc các hồ sơ akasha, và thấy bằng thông nhãn. Vì vậy, người sở hữu nó có thể kiểm soát các đấng kiến tạo cấp thấp.

99. It seems important for us to tabulate that which the possession of a functioning third eye confers upon its possessor:

99. Dường như điều quan trọng là chúng ta phải lập bảng những gì mà việc sở hữu một con mắt thứ ba đang hoạt động đem lại cho người sở hữu nó:

a. Directing and controlling the energy of matter

a. Chỉ đạo và kiểm soát năng lượng của vật chất

b. Seeing all things in the “Eternal Now”

b. Thấy mọi sự trong “Hiện Tại Vĩnh Cửu”

c. Being in touch with causes more than effects

c. Tiếp xúc với các nguyên nhân nhiều hơn là các kết quả

d. Reading the akashic records

d. Đọc các hồ sơ akasha

e. Seeing clairvoyantly

e. Thấy bằng thông nhãn

f. Controlling the builders of low degree. By these builders we probably mean elemental forces or “devas of elemental nature” (TCF 1006).

f. Kiểm soát các đấng kiến tạo cấp thấp. Bởi các đấng kiến tạo này, có lẽ chúng ta muốn nói đến các mãnh lực hành khí hay “các thiên thần có bản chất hành khí” (TCF 1006).

The “Eye of Shiva,” when perfected, is blue in colour, and as our solar Logos is the “Blue Logos” so do His children occultly resemble Him; but this colour must be interpreted esoterically.

“Con Mắt của Shiva”, khi được hoàn thiện, thì có màu xanh lam, và cũng như Thái dương Thượng đế của chúng ta là “Blue Logos”, thì con cái của Ngài về mặt huyền bí cũng giống Ngài; nhưng màu sắc này phải được giải thích một cách huyền bí.

100. We are dealing, therefore, with an esoteric blue.

100. Vì vậy, chúng ta đang bàn đến một màu xanh lam huyền bí.

101. When the “Blue Eye” is developed one is in the process of taking the first of the truly solar initiations. We realize that the initiations of the threshold (i.e., the first two initiations) are strictly planetary initiations.

101. Khi “Con Mắt Xanh” được phát triển, người ta đang trong tiến trình nhận lấy lần điểm đạo đầu tiên trong các điểm đạo thực sự thái dương. Chúng ta nhận ra rằng các điểm đạo của ngưỡng cửa (tức hai lần điểm đạo đầu tiên) hoàn toàn là các điểm đạo hành tinh.

102. VSK alerts us to the thought that “this refers to the blue as the indicator of the second ray, the synthesizing ray for this solar system.”

102. VSK lưu ý chúng ta đến ý tưởng rằng “điều này ám chỉ màu xanh lam như dấu chỉ của cung hai, cung tổng hợp của hệ mặt trời này.”

103. Since the color indigo is specifically the color of synthesis, we may be justified in considering indigo the esoteric blue.

103. Vì màu chàm đặc biệt là màu của sự tổng hợp, nên có lẽ chúng ta có cơ sở để xem màu chàm là màu xanh lam huyền bí.

It must be remembered also that prior to the final two Initiations (the sixth and seventh),

Cũng phải nhớ rằng trước hai lần Điểm đạo cuối cùng (lần thứ sáu và thứ bảy),

104. We see that the eighth and ninth are not included as they are rarely taken within the confines of our planet.

104. Chúng ta thấy rằng lần thứ tám và thứ chín không được kể đến vì chúng hiếm khi được nhận trong phạm vi hành tinh của chúng ta.

the eye of the white magician, when developed, will be coloured according to the man’s ray—again esoterically understood.

con mắt của nhà huyền thuật chánh đạo, khi được phát triển, sẽ được nhuốm màu theo cung của con người—một lần nữa được hiểu một cách huyền bí.

105. The term “esoteric” (in this context) means monadic, as by the time the sixth and seventh initiations are being taken, man is truly the Monad.

105. Thuật ngữ “huyền bí” (trong ngữ cảnh này) có nghĩa là chân thần, vì vào lúc lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy được nhận, con người thực sự là Chân thần.

106. It is important to realize that the term “esoteric” is, in certain significant contexts, used to indicate the Spirit aspect or Monad. This is true, for instance, when discussing the esoteric rays of Saturn, Neptune and Uranus (c.f. EP I 420)

106. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng thuật ngữ “huyền bí”, trong một số ngữ cảnh quan trọng, được dùng để chỉ phương diện Tinh thần hay Chân thần. Điều này đúng, chẳng hạn, khi bàn về các cung huyền bí của Sao Thổ, Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương (xem EP I 420)

107. We must ask, however, whether, at this high point of evolution, the third eye is no longer blue? Or does it remain blue and also display one of the sub-shades of blue according to a man’s monadic ray?

107. Tuy nhiên, chúng ta phải hỏi liệu ở điểm tiến hoá cao này, con mắt thứ ba có còn không còn xanh lam nữa chăng? Hay nó vẫn giữ màu xanh lam và đồng thời cũng biểu lộ một trong những sắc độ phụ của xanh lam tùy theo cung chân thần của một người?

More anent this question of colour may not be communicated. According to the colour, so will be the type of energy manipulated,

Không thể truyền đạt thêm gì nữa về vấn đề màu sắc này. Theo màu sắc, loại năng lượng được thao tác cũng sẽ như vậy,

108. Knowledge of color is important in the process of manipulating certain builders which are keyed to certain colors.

108. Kiến thức về màu sắc là điều quan trọng trong tiến trình thao tác một số đấng kiến tạo nào đó vốn được điều chỉnh theo những màu sắc nhất định.

109. Is DK telling us that according to the color of a man’s monadic ray, so will be the type of energy he customarily manipulates?

109. Phải chăng Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng tùy theo màu sắc của cung chân thần của một người, loại năng lượng mà y thường thao tác cũng sẽ tương ứng như vậy?

but here it must be borne in mind that all magicians work with three types of energy:

nhưng ở đây phải ghi nhớ rằng mọi nhà huyền thuật đều làm việc với ba loại năng lượng:

110. A white magician can do many things. DK does not want us to narrow our vision of the possibilities.

110. Một nhà huyền thuật chánh đạo có thể làm được nhiều điều. Chân sư DK không muốn chúng ta thu hẹp tầm nhìn về các khả năng.

a. That which is the same as their own Ray,

a. Loại giống với cung riêng của họ,

111. Shall we consider this “Ray” the egoic ray, the monadic ray or both (used at different points in the unfoldment of the magician)?

111. Chúng ta có nên xem “Cung” này là cung chân ngã, cung chân thần hay cả hai (được dùng ở những điểm khác nhau trong sự khai mở của nhà huyền thuật) không?

112. The magician manipulates energy which correlates directly with his own ray. Depending upon his level of evolution, it will be either the soul ray or monadic ray.

112. Nhà huyền thuật thao tác năng lượng tương quan trực tiếp với cung riêng của y. Tùy theo cấp độ tiến hoá của y, đó sẽ là cung linh hồn hoặc cung chân thần.

b. That which is complementary to their own type of force,

b. Loại bổ sung cho kiểu mãnh lực riêng của họ,

113. Are we dealing here with the complementary color or with the color of a ray energy which is complementary to the original ray (which is the magician’s own ray)? They are two different things.

113. Ở đây chúng ta đang bàn đến màu bổ sung hay màu của một năng lượng cung bổ sung cho cung nguyên thủy (là cung riêng của nhà huyền thuật)? Đó là hai điều khác nhau.

c. Their polar opposite,

c. Cực đối lập của họ,

114. The color of the polar opposite of a given ray, may be a represented by the complementary color to the color of the ray of the magician. But it also possible to think simply of an energy which is the polar opposite of the major ray energy of the magician.

114. Màu của cực đối lập của một cung nhất định có thể được biểu thị bằng màu bổ sung đối với màu của cung của nhà huyền thuật. Nhưng cũng có thể đơn giản nghĩ đến một năng lượng là cực đối lập của năng lượng cung chính của nhà huyền thuật.

115. Complementary rays and complementary colors have to be differentiated.

115. Các cung bổ sung và các màu sắc bổ sung phải được phân biệt.

and they work, therefore, either along the line of least resistance, or through attraction, and repulsion.

và vì thế họ làm việc hoặc theo con đường ít trở ngại nhất, hoặc thông qua hấp dẫn và đẩy lùi.

116. VSK suggests: This would be correlated then to:

116. VSK gợi ý: Khi ấy điều này sẽ tương quan với:

a. One’s own ray is the line of least resistance

a. Cung riêng của một người là con đường ít trở ngại nhất

b. The complementary ray is that which is attractive

b. Cung bổ sung là điều có tính hấp dẫn

c. And the polar opposite is that which is repulsed

c. Và cực đối lập là điều bị đẩy lùi

117. VSK suggests: There may be an example as follows:

117. VSK gợi ý: Có thể có một ví dụ như sau:

a. The blue ray works with the blue ray, there is no resistance, no difference.

a. Cung xanh lam làm việc với cung xanh lam, không có kháng lực, không có khác biệt.

b. The blue ray works with its complement (which is not the opposite, but harmonious). MDR suggests that if we consider that the rays four and six are harmonious or complementary to ray two, then the worker on the blue ray can also work with the colors representing rays four and six. Blue is a color correlated to both rays six and two. Yellow, while not the complementary color (of blue) strictly speaking, is the color of a ray complementary to the blue ray. From the angle of harmony, the colors blue and yellow work well together.

b. Cung xanh lam làm việc với phần bổ sung của nó (không phải đối lập, mà là hài hòa). MDR gợi ý rằng nếu chúng ta xem cung bốn và cung sáu là hài hòa hay bổ sung cho cung hai, thì người hoạt động trên cung xanh lam cũng có thể làm việc với các màu sắc biểu thị cung bốn và cung sáu. Xanh lam là một màu tương quan với cả cung sáu lẫn cung hai. Vàng, tuy không phải là màu bổ sung (của xanh lam) theo nghĩa chặt chẽ, lại là màu của một cung bổ sung cho cung xanh lam. Từ góc độ hòa điệu, các màu xanh lam và vàng phối hợp tốt với nhau.

c. VSK suggests: The polar opposite of the blue ray, the second ray, may well be considered to be the first ray, or red. While blue and red are not opposites exoterically, esoterically we may well consider them as such—at least in the context of this discussion.

c. VSK gợi ý: Cực đối lập của cung xanh lam, tức cung hai, rất có thể được xem là cung một, hay màu đỏ. Dù xanh lam và đỏ không đối lập theo nghĩa ngoại môn, nhưng về mặt huyền bí chúng ta hoàn toàn có thể xem chúng như vậy—ít nhất là trong ngữ cảnh của cuộc bàn luận này.

It is through the medium of this “all-seeing eye” that the Adept can at any moment put Himself in touch with His disciples anywhere;

Chính thông qua trung gian của “con mắt thấy tất cả” này mà chân sư có thể vào bất cứ lúc nào đặt Chính Ngài vào sự tiếp xúc với các đệ tử của Ngài ở bất cứ nơi đâu;

118. We see that well after the causal body has been destroyed, Adept has the use of the “all-seeing-eye”.

118. Chúng ta thấy rằng rất lâu sau khi thể nguyên nhân đã bị hủy diệt, chân sư vẫn sử dụng “con mắt thấy tất cả”.

119. There are a number of “All-Seeing Eyes”. The Tibetan is speaking of the “all-seeing-eye” which works within the etheric head of the magician (even if, later, that head is part of a mayavirupa).

119. Có một số “Con Mắt Thấy Tất Cả”. Chân sư Tây Tạng đang nói về “con mắt thấy tất cả” hoạt động bên trong đầu dĩ thái của nhà huyền thuật (dù về sau cái đầu ấy là một phần của mayavirupa).

120. If we wish to know how it is that the Master can contact His disciples, it is here explained. As disciples, we are always ‘under the Eye of the Master’, if and when He chooses to exercise this capacity.

120. Nếu chúng ta muốn biết bằng cách nào Chân sư có thể tiếp xúc với các đệ tử của Ngài, thì điều đó được giải thích ở đây. Là các đệ tử, chúng ta luôn ‘ở dưới Con Mắt của Chân sư’, nếu và khi Ngài chọn vận dụng năng lực này.

that He can communicate with His compeers on the planet, on the polar opposite of our planet, and on the third planet which, with ours, forms a triangle;

rằng Ngài có thể giao tiếp với các đồng đẳng của Ngài trên hành tinh, trên cực đối lập của hành tinh chúng ta, và trên hành tinh thứ ba, hành tinh cùng với hành tinh chúng ta tạo thành một tam giác;

121. Many are the capacities of the Master’s all-seeing-eye.

121. Nhiều thay là các năng lực của con mắt thấy tất cả của Chân sư.

122. He observes His disciples; He communicates with other Masters; He communicates with Masters on the polar opposite of our planet, presumably, Venus; He communicates with Masters presumably on Mars (considering Mars as the planet complementary to our planet but not its polar opposite).

122. Ngài quan sát các đệ tử của Ngài; Ngài giao tiếp với các Chân sư khác; Ngài giao tiếp với các Chân sư trên cực đối lập của hành tinh chúng ta, có lẽ là Sao Kim; Ngài giao tiếp với các Chân sư có lẽ trên Sao Hỏa (nếu xem Sao Hỏa là hành tinh bổ sung cho hành tinh chúng ta nhưng không phải cực đối lập của nó).

123. It is also likely that Mercury forms a triangle with Earth and Venus.

123. Cũng có khả năng Sao Thủy tạo thành một tam giác với Trái Đất và Sao Kim.

that He can, through the energy directed from it, control and direct the builders, and hold any thought form He may have created within His sphere of influence, and upon its intended path of service; and that through his eye by means of directed energy currents He can help and stimulate His disciples or groups of men in any place at any time.

rằng Ngài có thể, thông qua năng lượng được chỉ đạo từ đó, kiểm soát và chỉ đạo các đấng kiến tạo, và giữ bất kỳ hình tư tưởng nào mà Ngài có thể đã tạo ra trong phạm vi ảnh hưởng của Ngài, và trên con đường phụng sự đã được định cho nó; và rằng thông qua con mắt của Ngài, bằng các dòng năng lượng được chỉ đạo, Ngài có thể giúp đỡ và kích thích các đệ tử của Ngài hoặc các nhóm người nam và nữ ở bất cứ nơi nào vào bất cứ lúc nào.

124. Let us continue tabulating the Master’s or Adept’s use of the third eye:

124. Chúng ta hãy tiếp tục lập bảng các cách sử dụng con mắt thứ ba của Chân sư hay chân sư:

a. From the third eye the Adept directs and controls the lesser builders.

a. Từ con mắt thứ ba, chân sư chỉ đạo và kiểm soát các vị tiểu kiến tạo.

b. The Adept holds any thoughtform He has created within His sphere of influence.

b. Chân sư giữ bất kỳ hình tư tưởng nào mà Ngài đã tạo ra trong phạm vi ảnh hưởng của Ngài.

c. The Adept sends that thoughtform upon its mission of service.

c. Chân sư gửi hình tư tưởng ấy lên sứ mệnh phụng sự của nó.

d. Through the third eye the Master or Adept stimulates His disciples or any groups of men He may wish to stimulate.

d. Thông qua con mắt thứ ba, Chân sư hay chân sư kích thích các đệ tử của Ngài hoặc bất kỳ nhóm người nam và nữ nào mà Ngài muốn kích thích.

125. Perhaps we can see how the use of the faculty of imagination can, in lesser way, allow the disciples to stimulate individuals and groups related to him.

125. Có lẽ chúng ta có thể thấy cách việc sử dụng năng lực sự tưởng tượng, theo một cách nhỏ hơn, có thể cho phép các đệ tử kích thích những cá nhân và nhóm có liên hệ với y.

126. Immediately below we deal with two lines of stimulation which stimulate the pineal gland. We have to take them very seriously as much of the success of this stimulation lies in our hands.

126. Ngay bên dưới, chúng ta bàn đến hai tuyến kích thích tác động lên tuyến tùng quả. Chúng ta phải xem chúng thật nghiêm túc vì phần lớn thành công của sự kích thích này nằm trong tay chúng ta.

The pineal gland is subject to two lines of stimulation: First, that which emanates from the Ego itself via the etheric force centres.

Tuyến tùng quả chịu hai tuyến kích thích: Thứ nhất, tuyến phát ra từ chính chân ngã thông qua các trung tâm mãnh lực dĩ thái.

127. This stimulation comes via the center at the top of the head and also via the special etheric center which we are naming the third eye.

127. Sự kích thích này đến qua trung tâm ở đỉnh đầu và cũng qua trung tâm dĩ thái đặc biệt mà chúng ta đang gọi là con mắt thứ ba.

128. It would seem that the centers in the head are especially involved in the stimulation of the pineal gland, yet other centers may also be involved.

128. Dường như các trung tâm trong đầu đặc biệt liên quan đến sự kích thích tuyến tùng quả, tuy nhiên các trung tâm khác cũng có thể liên quan.

This downflow of egoic energy (the result of the awakening of the centres through meditation and spirituality of life),

Dòng tuôn xuống của năng lượng chân ngã này (kết quả của sự thức tỉnh các trung tâm thông qua tham thiền và đời sống tinh thần),

129. The more the etheric centers are awakened through meditation and spirituality of life, the greater the stimulation which can reach the pineal gland via those centers and, of course, via the Ego.

129. Các trung tâm dĩ thái càng được thức tỉnh qua tham thiền và đời sống tinh thần bao nhiêu, thì sự kích thích có thể đến tuyến tùng quả qua các trung tâm ấy và dĩ nhiên qua chân ngã càng lớn bấy nhiêu.

130. DK also seems to be saying that the awakening of the centers evokes the downflow of egoic energy.

130. Chân sư DK dường như cũng đang nói rằng sự thức tỉnh các trung tâm gợi lên dòng tuôn xuống của năng lượng chân ngã.

impinges upon the gland and in the course of years gradually increases its secretion, enlarges its form, and starts it into a new cycle of activity.

tác động lên tuyến ấy và trong tiến trình nhiều năm dần dần làm tăng sự tiết dịch của nó, làm lớn hình thể của nó, và khởi động nó vào một chu kỳ hoạt động mới.

131. DK is informing us that it is precisely egoic energy which stimulates and activates the pineal gland and increases its secretions.

131. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng chính năng lượng chân ngã kích thích và hoạt hóa tuyến tùng quả, đồng thời làm tăng các chất tiết của nó.

132. Thus, we may conclude, that without the proper kind of meditation, there will be no such stimulation of that gland. Here DK is dealing with the physiological effects of occult meditation.

132. Vì vậy, chúng ta có thể kết luận rằng nếu không có loại tham thiền thích hợp, sẽ không có sự kích thích như thế đối với tuyến ấy. Ở đây Chân sư DK đang bàn đến các tác động sinh lý của tham thiền huyền bí học.

133. The new cycle of activity of the pineal gland follows upon a long period of relative atrophy which began in Atlantean days.

133. Chu kỳ hoạt động mới của tuyến tùng quả tiếp theo sau một thời kỳ dài tương đối teo thoái đã bắt đầu từ thời Atlantis.

The second line of stimulation affecting the pineal gland is that which is the consequence of the discipline of the physical body, and its subjugation to the laws of spiritual unfoldment.

Đường kích thích thứ hai tác động lên tuyến tùng là điều phát sinh từ sự kỷ luật của thể xác, và sự quy phục của nó trước các định luật của sự khai mở tinh thần.

134. The disciple-magician must not only work ‘from above’ but ‘from below’.

134. Đệ tử-nhà huyền thuật không chỉ phải hoạt động “từ trên xuống” mà còn “từ dưới lên”.

135. Not only occult meditation but physical discipline is required. What we do with the energies of our physical-etheric body are thus crucial to the development of the third eye.

135. Không chỉ cần tham thiền huyền bí học mà còn cần cả kỷ luật hồng trần. Điều chúng ta làm với các năng lượng của thể hồng trần-dĩ thái của mình vì thế có tính quyết định đối với sự phát triển của con mắt thứ ba.

As the disciple lives a regulated life,

Khi đệ tử sống một đời sống điều độ,

136. Presumably coming under the influence or the star “Regulus”…

136. Có lẽ đang chịu ảnh hưởng của ngôi sao “Regulus”…

avoids meat, nicotine and alcohol, and practises continence, the pineal gland becomes no longer atrophied, but resumes its earlier activity.

tránh thịt, nicotine và rượu, và thực hành tiết dục, thì tuyến tùng không còn bị teo nữa, mà phục hồi hoạt động trước kia của nó.

137. There are many arguments for and against vegetarianism, for and against continence for and against the consumption of alcoholic beverages. (The drinking of wine is a well-established part of the Christian tradition, for instance.) Its ceremonial use is found in other religions as well.

137. Có nhiều lập luận ủng hộ và phản đối việc ăn chay, ủng hộ và phản đối sự tiết dục, ủng hộ và phản đối việc dùng đồ uống có cồn. (Chẳng hạn, việc uống rượu vang là một phần đã được xác lập vững chắc trong truyền thống Cơ Đốc giáo.) Việc sử dụng có tính nghi lễ của nó cũng được thấy trong các tôn giáo khác.

138. Some even think that smoking offers no obstacle to the unfoldment of the higher spiritual powers. This little paragraph, however, says something quite different in no uncertain terms.

138. Một số người thậm chí còn nghĩ rằng hút thuốc không tạo ra chướng ngại nào cho sự khai mở các quyền năng tinh thần cao hơn. Tuy nhiên, đoạn ngắn này lại nói một điều hoàn toàn khác, bằng những lời lẽ hết sức dứt khoát.

More cannot here be given but enough has been indicated to give the student food for thought.

Ở đây không thể nói thêm nữa, nhưng đã chỉ ra đủ để cho đạo sinh nhiều điều đáng suy ngẫm.

139. Indeed the question of developing the pineal gland concerns food and its consumption to no small extent.

139. Thật vậy, vấn đề phát triển tuyến tùng liên quan đến thực phẩm và việc tiêu thụ thực phẩm ở một mức độ không nhỏ.

140. Hour by hour, day by day, practices are followed which either develop the pineal gland or contribute to its abiding atrophy. It is well to have these processes well in mind as we live our normal life. Fewer mistakes (with retarding consequences) will be made.

140. Từng giờ, từng ngày, người ta theo đuổi những thực hành hoặc phát triển tuyến tùng hoặc góp phần vào tình trạng teo tóp kéo dài của nó. Thật tốt khi ghi nhớ rõ những tiến trình này trong tâm trí khi chúng ta sống đời sống bình thường của mình. Khi ấy sẽ phạm ít sai lầm hơn (với những hậu quả làm chậm trễ).

In meditation, by the sounding of the word,

Trong tham thiền, bằng việc xướng linh từ,

141. In this case, the Sacred Word.

141. Trong trường hợp này, là Linh từ Thiêng Liêng.

the student awakens response in the major head centre,

đạo sinh đánh thức sự đáp ứng trong trung tâm đầu chính yếu,

142. The thousand-petalled lotus…

142. Hoa sen ngàn cánh…

causes reciprocal vibration between it and the physical head centre,

gây ra rung động hỗ tương giữa nó và trung tâm đầu hồng trần,

143. In this context the pineal gland.

143. Trong ngữ cảnh này là tuyến tùng.

and gradually co-ordinates the forces in the head.

và dần dần phốihợp các mãnh lực trong đầu.

144. These will be all forces—etheric and physical.

144. Đó sẽ là tất cả các mãnh lực—dĩ thái và hồng trần.

145. Let us register the importance of the sounding of the Sacred Word in the development of the pineal gland.

145. Hãy ghi nhận tầm quan trọng của việc xướng Linh từ Thiêng Liêng trong sự phát triển của tuyến tùng.

Through the practice of the power of visualisation, the third eye is developed.

Thông qua việc thực hành năng lực sự hình dung, con mắt thứ ba được phát triển.

146. Here is one of the most practical pieces of advice.

146. Đây là một trong những lời khuyên thực tiễn nhất.

147. Through occult meditation (promoting contact with the Ego on its own plane) and visualization, the pineal gland is lifted from its state of atrophy.

147. Thông qua tham thiền huyền bí học (thúc đẩy sự tiếp xúc với chân ngã trên cõi riêng của nó) và sự hình dung, tuyến tùng được nâng lên khỏi trạng thái teo tóp của nó.

The forms visualised, and the ideas and abstractions which are, in the process, mentally clothed and vehicled, are pictured a few inches from the third eye.

Các hình tướng được hình dung, và các ý tưởng cùng các trừu tượng vốn, trong tiến trình ấy, được khoác lấy hình thức trí tuệ và được mang chuyên chở, được hình dung cách con mắt thứ ba vài inch.

148. Knowledge of this position is of real value to the meditator who is intent on results.

148. Sự hiểu biết về vị trí này có giá trị thực sự đối với người hành thiền đang nhắm đến kết quả.

149. The third eye, we realize, is rather recessed within the head. This point of visualization is place forward from the third eye’s actual location, surrounding the pineal gland, more towards the front of the head.

149. Chúng ta nhận ra rằng con mắt thứ ba nằm khá sâu bên trong đầu. Điểm hình dung này được đặt về phía trước vị trí thực sự của con mắt thứ ba, bao quanh tuyến tùng, hướng nhiều hơn về phía trước đầu.

It is the knowledge of this which causes the Eastern yogi to speak of “concentration upon the tip of the nose.” Behind this misleading phrase a great truth is veiled.

Chính sự hiểu biết điều này khiến yogi phương Đông nói về “sự tập trung vào chóp mũi”. Đằng sau cụm từ gây hiểu lầm này có che giấu một chân lý lớn lao.

150. We see how occult blinds work and how difficult they are to penetrate. Their true meaning is so obvious—once explained!

150. Chúng ta thấy các bức màn che huyền bí học vận hành như thế nào và việc xuyên thủng chúng khó khăn ra sao. Ý nghĩa thật của chúng trở nên quá hiển nhiên—một khi đã được giải thích!

In proceeding with the “Rules for Magic,” we will take up those concerned with the second set, which deal with the form-building impulses, and those attractive tendencies which are the basis of physical plane manifestation.

Khi tiếp tục với “Các Quy Luật về Huyền Thuật”, chúng ta sẽ xét đến những quy luật thuộc bộ thứ hai, bàn đến những xung lực kiến tạo hình tướng, và những khuynh hướng hấp dẫn vốn là nền tảng của sự biểu hiện trên cõi hồng trần.

151. DK is informing us that the attractive tendencies of the astral body are the basis of physical plane manifestation. Desire is a great materializing force. When desires are strong enough, physical forms necessarily arise.

151. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng các khuynh hướng hấp dẫn của thể cảm dục là nền tảng của sự biểu hiện trên cõi hồng trần. Dục vọng là một mãnh lực hiện hình lớn lao. Khi các dục vọng đủ mạnh, các hình tướng hồng trần tất yếu phát sinh.

152. Upon the astral plane, as well, powerful form-building impulses originate. Imagination serves desire as one ‘out-pictures’ the objects of desire.

152. Trên cõi cảm dục cũng vậy, những xung lực kiến tạo hình tướng mạnh mẽ phát sinh. Sự tưởng tượng phục vụ dục vọng khi người ta “vẽ ra bên ngoài” các đối tượng của dục vọng.

We have considered certain rules which deal with the work of the solar Angel, who (in all true magical work of any kind), is the active agent.

Chúng ta đã xét đến một số quy luật bàn đến công việc của Thái dương Thiên Thần, Đấng mà (trong mọi công việc huyền thuật chân chính thuộc bất kỳ loại nào), là tác nhân hoạt động.

153. This must never be forgotten. White magic does not originate within the human personality or with the magician in the lower three worlds. The magician and his personality are only the conduit through which it can be brought into expression.

153. Điều này không bao giờ được quên. Chánh Thuật không khởi nguồn trong phàm ngã con người hay nơi nhà huyền thuật trong ba cõi thấp. Nhà huyền thuật và phàm ngã của y chỉ là ống dẫn qua đó nó có thể được đưa vào biểu hiện.

We have [Page 1013] considered the rules whereby He constructs a thought form upon the mental plane, or that germ body which will (through accretion and vibratory sound), take to itself other forms.

Chúng ta đã [Page 1013] xét đến các quy luật nhờ đó Ngài kiến tạo một Hình tư tưởng trên cõi trí, hay thể mầm đó, thể sẽ (thông qua sự bồi đắp và âm thanh rung động) thu hút về cho chính nó những hình tướng khác.

154. Notice from the capitalization of the word, “He”, we are speaking of the Solar Angel as the true Magician.

154. Hãy lưu ý từ việc viết hoa chữ “Ngài” rằng chúng ta đang nói về Thái dương Thiên Thần như Nhà Huyền Thuật đích thực.

155. The process of actual construction begins upon the lower mental plane even though the impulse to construct originates from the higher mental plane.

155. Tiến trình kiến tạo thực sự bắt đầu trên cõi hạ trí mặc dù xung lực kiến tạo bắt nguồn từ Cõi thượng trí.

156. The thoughtform which must grow and eventually precipitate may, when it is on the lower mental plane, be considered a “germ body”.

156. Hình tư tưởng phải tăng trưởng và cuối cùng ngưng tụ có thể, khi ở trên cõi hạ trí, được xem như một “thể mầm”.

157. The thoughtform gathers matter to itself (mental, astral, etheric and eventually dense physical matter).

157. Hình tư tưởng thu hút vật chất về cho chính nó (vật chất trí tuệ, cảm dục, dĩ thái và cuối cùng là vật chất hồng trần đậm đặc).

158. But it also grows and is enhanced by the application of vibratory sound. When we seek to augment the efficacy of any thoughtform we may create, we must understand the role which applied vibration plays in this process.

158. Nhưng nó cũng tăng trưởng và được tăng cường nhờ việc áp dụng âm thanh rung động. Khi chúng ta tìm cách gia tăng hiệu lực của bất kỳ hình tư tưởng nào mình có thể tạo ra, chúng ta phải hiểu vai trò mà rung động được áp dụng giữ trong tiến trình này.

Scroll to Top