Hành Trình Một Linh hồn – Giới Thiệu

📘 Sách: Hành Trình Của Một Linh hồn (Song Ngữ) – Tác giả: Peter Richelieu

gi-i-thi-u-01.png

A Soul’s

Journey

Other Books from Ariel Press:

The Spiritual Life, by Evelyn Underhill

Đời Sống Tinh Thần, của Evelyn Underhill

The Betty Book, by Stewart Edward White

Cuốn Sách Betty, của Stewart Edward White

The Psychic Life, by Robert R. Leichtman, M.D.

Đời Sống Thông Linh, của Robert R. Leichtman, M.D.

Optimism, by Helen Keller

Lạc Quan, của Helen Keller

The Gospel of Wealth, by Andrew Carnegie

Phúc Âm của Sự Giàu Có, của Andrew Carnegie

The Story of God, by Carl Japikse

Câu Chuyện về Thượng đế, của Carl Japikse

The Gift of Healing, by Ambrose and Olga Worrall

Tặng Phẩm Chữa Lành, của Ambrose và Olga Worrall

The Mystical Qabalah, by Dion Fortune

Qabalah Thần Bí, của Dion Fortune

Active Meditation, by Robert R. Leichtman, M.D. & Carl Japikse

Tham Thiền Năng Động, của Robert R. Leichtman, M.D. & Carl Japikse


Peter Richelieu

Peter Richelieu

A Soul’s

Một Linh Hồn

Journey

Hành Trình

with a preface

với lời tựa

by Robert R. Leichtman, M.D.

của Robert R. Leichtman, M.D.

ARIEL PRESS

ARIEL PRESS

Atlanta

Atlanta


Giới Thiệu của Người dịch:

Hành Trình của Một Linh hồn là quyển sách trình bày giáo lý Thông Thiên Học theo hình thức những câu chuyện hấp dẫn, lôi cuốn, bao trùm các lĩnh vực khác nhau như Cấu Tạo Con Người, Sự Tiến Hoá của Vạn Vật bao gồm con người, Định luật Nhân Quả. Nhân vật chính giảng dạy là một Vị Thầy Ấn Độ, tên Acharya, dù có thật hay chỉ hư cấu, giảng dạy cho tác giả quyển sách những chân lý nền tảng của Minh Triết Thiêng Liêng, đồng thời giúp Ông thực chứng những trải nghiệm trong thế giới vô hình. Việc du hành vào các cõi cao bằng “viên thuốc thần bí” có lẽ chỉ là chi tiết hư cấu, như lời giới thiệu đã nêu ra.

Tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt trên trang web phungsutheosophia.org; nhưng để giúp các bạn có thể tham khảo bản song ngữ, chúng tôi sử dụng bản gốc tiếng Anh kết hợp với bản dịch của chúng tôi trình bày dạng đối chiếu song ngữ.

Mong rằng tác phẩm này sẽ giúp các bạn tìm thấy nguồn cảm hứng tinh thần trên con đường tu tập.

https://minhtrietmoi.com

Preface—Mở Đầu

Out-of-body travel has long been a fascinating topic for occult writers, but most books on the subject have been nothing more than travelogues exploring the author’s own rich fantasies. Peter Richelieu’s A Soul’s Journey, however, offers a great deal more than the standard fare. It is a first-hand account of travel in the various levels of the astral and mental planes.

Du hành ngoài thân xác từ lâu đã là một đề tài hấp dẫn đối với các tác giả huyền bí học, nhưng phần lớn sách viết về chủ đề này chẳng qua chỉ là những ký sự du hành thăm dò các tưởng tượng phong phú riêng của tác giả. Tuy nhiên, Hành Trình của Một Linh Hồn của Peter Richelieu còn cống hiến nhiều hơn thế rất nhiều so với loại sách thông thường. Đây là một tường thuật trực tiếp về sự du hành trong các cấp độ khác nhau của cõi cảm dục và cõi trí.

The book is written in narrative style, recounting the journeys of Henry, an Englishman living in Ceylon at the time of the second world war. The account begins with Henry grieving over the death of his brother Charles, a British soldier. His grief invokes the appearance of Acharya, a holy man from India, who lectures him about the phenomena of the inner life and events after death.

Cuốn sách được viết theo lối tự sự, kể lại những cuộc hành trình của Henry, một người Anh sống tại Tích Lan vào thời Đệ Nhị Thế Chiến. Câu chuyện bắt đầu với Henry đang đau buồn vì cái chết của em trai mình là Charles, một quân nhân Anh. Nỗi đau của anh đã gọi ra sự xuất hiện của Acharya, một thánh nhân từ Ấn Độ, người giảng cho anh về các hiện tượng của đời sống bên trong và những biến cố sau khi chết.

But Acharya’s instruction does not stop there. Using special techniques, he enables Henry to leave his body during the hours of sleep so that he can be taken on a guided tour of the inner, subtle planes of creation. Each night, Henry takes a tablet to ensure sleep and travels in his subtle bodies through many adventures on the subplanes of the astral and mental levels.

Nhưng sự chỉ dạy của Acharya không dừng lại ở đó. Dùng những kỹ thuật đặc biệt, ông giúp Henry rời khỏi thể xác trong những giờ ngủ để anh có thể được dẫn đi tham quan có hướng dẫn qua các cõi vi tế bên trong của tạo thành. Mỗi đêm, Henry uống một viên thuốc để bảo đảm giấc ngủ và du hành trong các thể vi tế của mình qua nhiều cuộc phiêu lưu trên các cõi phụ của các cấp độ cảm dục và trí tuệ.

First, Acharya leads Henry to visit his brother Charles to see that he is not dead, but quite alive in another dimension. After that, Henry is taught much about the rich opportunities of the inner planes for education and growth—both for the so-called “dead” and for people who can visit the inner planes while asleep.

Trước hết, Acharya dẫn Henry đi thăm em trai Charles để thấy rằng Charles không chết, mà vẫn hoàn toàn sống động trong một chiều kích khác. Sau đó, Henry được dạy rất nhiều về những cơ hội phong phú nơi các cõi bên trong cho việc giáo dục và tăng trưởng—cả đối với những người được gọi là “đã chết” lẫn những người có thể viếng thăm các cõi bên trong khi đang ngủ.

It is rare to find a book which gives any description of the inner planes except those levels closest to the physical. It should be understood that this book is not just an account of the pretty scenery we might encounter at low psychic levels. Instead, Richelieu provides us with a clear account of the hospitals and colleges of the inner planes, the great halls of knowledge and wisdom. In addition, there are interesting reports of how spirits visit the physical plane and mingle among us, usually without our awareness.

Hiếm khi tìm được một cuốn sách mô tả các cõi bên trong ngoài những cấp độ gần với cõi hồng trần nhất. Cần phải hiểu rằng cuốn sách này không chỉ là một tường thuật về những phong cảnh đẹp đẽ mà chúng ta có thể gặp ở các cấp độ thông linh thấp. Thay vào đó, Richelieu cung cấp cho chúng ta một tường thuật rõ ràng về các bệnh viện và học viện của các cõi bên trong, những đại sảnh của hiểu biết và minh triết. Ngoài ra, còn có những ghi nhận thú vị về cách các tinh thần viếng thăm cõi hồng trần và hòa lẫn giữa chúng ta, thường là không được chúng ta nhận biết.

Henry learns about the training given to people when they first arrive on the inner planes after death and observes several occult and religious ceremonies first-hand. Eventually, he is taken by Acharya to the mental plane. It is likely that this is the only book in print, outside the writings of C.W. Leadbeater—and our own books—which gives an accurate account of the uncanny experiences of dealing directly with the force of ideas, communicating telepathically, and being totally free of cloying emotions.

Henry học về sự huấn luyện dành cho những người khi họ vừa đến các cõi bên trong sau khi chết và trực tiếp quan sát nhiều nghi lễ huyền bí và tôn giáo. Cuối cùng, anh được Acharya đưa lên cõi trí. Có lẽ đây là cuốn sách duy nhất hiện còn in, ngoài các tác phẩm của C.W. Leadbeater—và các sách của chính chúng tôi—mang lại một tường thuật chính xác về những kinh nghiệm kỳ lạ khi trực tiếp xử lý mãnh lực của các ý tưởng, giao tiếp viễn cảm, và hoàn toàn thoát khỏi những cảm xúc bám dính ngột ngạt.

The use of a drug to visit the inner planes may be a bit of fiction. Aside from the fact that this would not be a standard spiritual practice, drugs simply do not provide this type of expansion of awareness. Most often, hallucinogenic drugs merely expand the mood and imagination of the user. This can lead to an exaggerated dream state where a mixture of wishes, fears, and exaggerations can occur. Some interaction with events on the low psychic planes can happen, but these experiences are hopelessly muddled with a jumble of our personal subconscious fantasies.

Việc dùng thuốc để viếng thăm các cõi bên trong có thể là một chút hư cấu. Ngoài việc đây không phải là một thực hành tinh thần tiêu chuẩn, thuốc đơn giản là không cung cấp loại mở rộng nhận biết này. Thông thường nhất, các loại thuốc gây ảo giác chỉ mở rộng tâm trạng và sự tưởng tượng của người dùng. Điều này có thể dẫn đến một trạng thái mộng tưởng bị cường điệu, nơi có thể xảy ra sự pha trộn giữa ước muốn, sợ hãi và phóng đại. Một số tương tác với các biến cố trên các cõi thông linh thấp có thể xảy ra, nhưng những kinh nghiệm ấy bị rối loạn một cách vô vọng bởi mớ hỗn độn những tưởng tượng tiềm thức cá nhân của chúng ta.

The remarkable experiences of Henry are due to the presence and power of his guide, Acharya. The unusual clarity and the extensive nature of Henry’s visits to the inner planes is extraordinary. It is very likely that these events were planned as a revelation, not just to Henry, but to many others who were compelled to deal with so many sudden deaths during World War II, when this book first appeared.

Những kinh nghiệm đáng chú ý của Henry là nhờ sự hiện diện và quyền năng của vị hướng đạo của anh, Acharya. Sự sáng tỏ khác thường và tính chất rộng lớn trong những lần Henry viếng thăm các cõi bên trong là điều phi thường. Rất có thể những biến cố này đã được hoạch định như một sự mặc khải, không chỉ cho Henry, mà còn cho nhiều người khác đã bị buộc phải đối diện với quá nhiều cái chết đột ngột trong Đệ Nhị Thế Chiến, khi cuốn sách này lần đầu xuất hiện.

But this is not a book on how to leave the body and travel on the inner planes. It is a rare and unusually precise account of the nature and activities of the inner life.

Nhưng đây không phải là một cuốn sách dạy cách rời thân xác và du hành trên các cõi bên trong. Đây là một tường thuật hiếm có và chính xác khác thường về bản chất và các hoạt động của đời sống bên trong.

Far from describing the heaven worlds as places of “rest” and “peace,” which is silly, A Soul’s Journey leads us into a realm of tremendous activity, healing, and teaching. The book emphasizes the fact that we all have a rich life on the inner planes, whether or not we can visit them consciously, as a result of having finer bodies made of the subtle matter of these inner realms. Thus, it is possible to be taught and healed on these inner levels, even while still in the physical body. Richelieu opens to us many new possibilities for extending the range of our education and experience while our physical body sleeps.

Khác xa với việc mô tả các cõi thiên đường như những nơi “nghỉ ngơi” và “bình an,” điều vốn ngớ ngẩn, Hành Trình của Một Linh Hồn dẫn chúng ta vào một lĩnh vực của hoạt động mãnh liệt, chữa lành và giáo huấn. Cuốn sách nhấn mạnh sự kiện rằng tất cả chúng ta đều có một đời sống phong phú trên các cõi bên trong, dù chúng ta có thể viếng thăm chúng một cách hữu thức hay không, do kết quả của việc có những thể tinh tế hơn được tạo thành từ vật chất vi tế của các cõi bên trong này. Vì thế, có thể được dạy dỗ và chữa lành trên những cấp độ bên trong ấy, ngay cả khi vẫn còn ở trong thể xác. Richelieu mở ra cho chúng ta nhiều khả thể mới để mở rộng phạm vi giáo dục và kinh nghiệm của mình trong khi thể xác đang ngủ.

One of the most important messages for all of us to learn is that we have an existence on the inner side of life right now, not just after we die. We are all endowed with the potential to tap the higher dimensions of life, even while in the physical.

Một trong những thông điệp quan trọng nhất để tất cả chúng ta học được là chúng ta có một sự hiện hữu ở mặt bên trong của đời sống ngay lúc này, chứ không chỉ sau khi chết. Tất cả chúng ta đều được phú cho tiềm năng tiếp xúc với các chiều kích cao hơn của đời sống, ngay cả khi còn ở cõi hồng trần.

Reading A Soul’s Journey helps give us fresh insight into this dynamic principle. Even though most of us are not likely to have vivid conscious memories of what transpires on the inner planes while we are asleep, as Henry did, we do tend to bring through the wisdom we gain into our waking hours as nudges, insights, and new awareness. It is valuable to learn as much about this process as possible. Richelieu also leaves us with much to ponder on regarding the influences of the higher dimensions on our activities here in the physical plane.

Việc đọc Hành Trình của Một Linh Hồn giúp mang lại cho chúng ta một linh thị mới mẻ về nguyên lý năng động này. Dù phần lớn chúng ta khó có thể có những ký ức hữu thức sống động về những gì diễn ra trên các cõi bên trong khi đang ngủ, như Henry đã có, chúng ta vẫn có khuynh hướng mang minh triết mình đạt được vào những giờ thức giấc dưới dạng những thôi thúc, linh cảm và nhận biết mới. Việc học biết càng nhiều càng tốt về tiến trình này là điều có giá trị. Richelieu cũng để lại cho chúng ta nhiều điều đáng suy ngẫm liên quan đến những ảnh hưởng của các chiều kích cao hơn lên các hoạt động của chúng ta nơi đây trên cõi hồng trần.

In fact, A Soul’s Journey is really everyone’s odyssey.

Thật vậy, Hành Trình của Một Linh Hồn thực sự là cuộc phiêu lưu của mọi người.

—Robert R. Leichtman, M.D.

—Robert R. Leichtman, M.D.

2011

2011

 



Foreword—LỜI NÓI ĐẦU

In spite of the fact that I am no writer and claim no gifts or experience in that direction, this book is given to the world without apology, for I am carrying out orders from those who must be obeyed.

Mặc dù tôi không phải là nhà văn và cũng không nhận mình có năng khiếu hay kinh nghiệm theo hướng đó, cuốn sách này vẫn được trao cho thế giới mà không cần lời xin lỗi nào, vì tôi đang thi hành mệnh lệnh từ những Đấng phải được vâng phục.

The part of the book which will hold the interest of the largest number of readers is that which begins at Chapter Four. For those people who have no recollection of their life and activities during sleep, even this part will contain many completely new ideas. As many of these call for explanation, readers are advised to avoid the temptation of skimming quickly through the preliminary chapters in order to reach this one more quickly! These introductory chapters, which are written in the form of talks by a Hindu guru, are so filled with vital information that they hold the key not only to what follows in the book but to what happens to all of us at one time or another. Those who read them slowly and carefully and who refer to them often will glean the most general information and acquire the best groundwork for the appreciation of the story which follows.

Phần của cuốn sách sẽ giữ được sự quan tâm của số đông độc giả nhất là phần bắt đầu từ Chương Bốn. Đối với những người không có ký ức nào về đời sống và hoạt động của mình trong khi ngủ, ngay cả phần này cũng sẽ chứa đựng nhiều ý tưởng hoàn toàn mới. Vì nhiều ý tưởng trong số đó cần được giải thích, độc giả được khuyên nên tránh cám dỗ lướt nhanh qua các chương mở đầu để đến phần ấy sớm hơn! Những chương nhập đề này, được viết dưới hình thức những bài nói chuyện của một đạo sư Ấn giáo, chứa đầy thông tin thiết yếu đến mức chúng nắm giữ chìa khóa không chỉ cho những gì tiếp theo trong sách mà còn cho những gì xảy ra với tất cả chúng ta vào lúc này hay lúc khác. Những ai đọc chúng chậm rãi và cẩn thận, và thường xuyên tham chiếu lại chúng, sẽ thu lượm được nhiều thông tin tổng quát nhất và có được nền tảng tốt nhất để thưởng thức câu chuyện tiếp theo.

In writing down my experiences I have added no embellishments. If these experiences help a few of you

Khi ghi lại những kinh nghiệm của mình, tôi không thêm vào bất kỳ sự tô điểm nào. Nếu những kinh nghiệm này giúp được một vài bạn

Dedicated to

Dâng tặng

all those who seek

tất cả những ai tìm kiếm

As a man casts off old clothes and puts on new ones,

Như con người bỏ đi áo cũ và mặc vào áo mới,

so the embodied self, casting off

thì bản ngã nhập thể, sau khi bỏ đi

old bodies proceeds to other and new ones.

những thân xác cũ, sẽ đi vào những thân xác khác và mới.

Bhagavad Gita

Bhagavad Gita

XVII

XVII

V

V

to understand the scheme of life and so be comforted, if they give you an insight into the nature of evolution and provide you with a reason for making friends of animals—they will not have been written in vain.

thấu hiểu hệ thống của đời sống và nhờ đó được an ủi, nếu chúng cho bạn một cái nhìn thấu suốt vào bản chất của tiến hoá và cung cấp cho bạn một lý do để kết bạn với loài vật—thì chúng sẽ không được viết ra một cách vô ích.

—Peter Richelieu

—Peter Richelieu

 



Prologue— Dẫn nhập

It was the 7th of July 1941, and I was still brooding over a cable I had received from the War Office in London three days before, telling me that Charles, my dear young brother, had been killed in action over England. He was only twenty-three; more than a year before he had joined the R.A.F. and qualified as a pilot. Of course we were proud of him—who would not want to join the R.A.F. if he were twenty one years of age, fit as a fiddle and eager to do his bit for the old country? Naturally we knew that the life of a pilot was precarious, but somehow it did not seem that anything could happen to him. People are often like that with those they love, and Charles and I had always been closer to each other than ordinary brothers although there was a difference of ten years in our ages.

Đó là ngày 7 tháng 7 năm 1941, và tôi vẫn còn đang trầm tư về bức điện tín tôi nhận được từ Bộ Chiến tranh ở Luân Đôn ba ngày trước, báo cho tôi biết rằng Charles, người em trai trẻ thân yêu của tôi, đã tử trận trên bầu trời nước Anh. Nó mới chỉ hai mươi ba tuổi; hơn một năm trước nó đã gia nhập R.A.F. và đủ tiêu chuẩn làm phi công. Dĩ nhiên chúng tôi tự hào về nó—ai lại không muốn gia nhập R.A.F. nếu ở tuổi hai mươi mốt, khỏe mạnh sung sức và háo hức góp phần cho tổ quốc già nua? Đương nhiên chúng tôi biết rằng đời sống của một phi công là bấp bênh, nhưng bằng cách nào đó dường như không thể có chuyện gì xảy ra với nó. Người ta thường như thế đối với những người mình yêu thương, và Charles với tôi lúc nào cũng gần gũi nhau hơn những anh em bình thường mặc dù tuổi tác chúng tôi chênh nhau mười năm.

I remembered the first time he proudly told us he had downed his first enemy plane. The initial shock from the news of Charles’s death was severe, and now, for the first time in my life, I felt bitter against the Powers that Be, the beneficent Creator who is talked of so glibly. How could He be beneficent if He allowed the innocent to be killed?

Tôi nhớ lần đầu tiên nó hãnh diện kể với chúng tôi rằng nó đã bắn rơi chiếc máy bay địch đầu tiên. Cú sốc ban đầu từ tin Charles chết thật dữ dội, và giờ đây, lần đầu tiên trong đời, tôi cảm thấy cay đắng đối với các Quyền Lực Tối Cao, đối với Đấng Sáng Tạo từ bi mà người ta vẫn nói đến một cách quá dễ dàng. Làm sao Ngài có thể từ bi nếu Ngài cho phép người vô tội bị giết?

I had been brought up a Catholic, not a very strict one perhaps, and I had taken many things for granted, in the way Christians do. Religion was part of one’s life and, on certain days, time had to be given to it; at other times one did not think very much about what was expected of a Christian, a follower of Christ. Now I thought about these things for the first time, and I did not feel that I wanted to go to church—certainly not to a priest. I did not want to pray; why should I? God had taken away from me the dearest thing I possessed in the world, and although I did not curse God, I certainly came very near to hating Him. A friend had told me that Charles was well out of this war, that the next world was most certainly a better place than this one at the moment, and that I should be thankful. But I was not thankful; I had so much looked forward to see his cheery face and hear his hearty laugh at his next leave—which we had arranged to spend together. Now the future was a blank.

Tôi được nuôi dạy như một người Công giáo, có lẽ không quá nghiêm khắc, và tôi đã mặc nhiên chấp nhận nhiều điều, theo cách những người Kitô hữu vẫn làm. Tôn giáo là một phần của đời sống, và vào những ngày nhất định, người ta phải dành thời gian cho nó; vào những lúc khác, người ta không nghĩ nhiều lắm về điều được mong đợi nơi một người Kitô hữu, một người theo Đức Christ. Giờ đây tôi nghĩ về những điều ấy lần đầu tiên, và tôi không cảm thấy mình muốn đến nhà thờ—chắc chắn không phải đến gặp một linh mục. Tôi không muốn cầu nguyện; tại sao tôi phải làm thế? Thượng đế đã lấy khỏi tôi điều thân yêu nhất mà tôi có trên đời, và mặc dù tôi không nguyền rủa Thượng đế, tôi quả thật đã rất gần với việc căm ghét Ngài. Một người bạn đã bảo tôi rằng Charles đã thoát khỏi cuộc chiến này một cách tốt đẹp, rằng thế giới bên kia chắc chắn là một nơi tốt đẹp hơn nơi này vào lúc hiện tại, và rằng tôi nên biết ơn. Nhưng tôi không biết ơn; tôi đã mong chờ biết bao được nhìn thấy gương mặt vui tươi của nó và nghe tiếng cười sảng khoái của nó trong kỳ nghỉ phép tới—kỳ nghỉ mà chúng tôi đã sắp xếp để ở cùng nhau. Giờ đây tương lai chỉ là một khoảng trống.

It was in just this mood that I sat on the never-to-be-forgotten morning a few weeks ago—the day he came. Although now, judging from the change which has taken place in me, it seems as if it could all have taken place in a former existence, yet I can remember every detail, and shall until I die. I shall try to tell the story just as it happened, but if the recording seems to be disjointed you must forgive me, for I have never tried to write a story before and only do so now because I want others to be comforted, even as I was comforted.

Chính trong tâm trạng ấy mà tôi ngồi vào buổi sáng không thể nào quên được cách đây vài tuần—ngày ông ấy đến. Mặc dù giờ đây, xét theo sự thay đổi đã diễn ra trong tôi, dường như tất cả có thể đã xảy ra trong một kiếp sống trước, nhưng tôi vẫn nhớ từng chi tiết, và sẽ còn nhớ cho đến khi chết. Tôi sẽ cố kể lại câu chuyện đúng như nó đã xảy ra, nhưng nếu việc ghi chép có vẻ rời rạc thì bạn phải tha thứ cho tôi, vì tôi chưa từng thử viết một câu chuyện nào trước đây và giờ chỉ làm vậy vì tôi muốn những người khác cũng được an ủi, như chính tôi đã được an ủi.

About 11 o’clock on that morning there was a knock at the door, and my servant told me that there was a man in the hall who wished to see me.

Khoảng 11 giờ sáng hôm đó có tiếng gõ cửa, và người hầu của tôi nói với tôi rằng có một người đàn ông ở ngoài sảnh muốn gặp tôi.

“What sort of man?” I asked.

“Người như thế nào?” tôi hỏi.

His reply was: “A strange man, master; I think perhaps he come to beg.” I told the boy to go down and enquire what this man wanted and to come back to let me know. On his return he said that the man had a message which could only be given to me, so with some irritation I told him to bring the man up.

Nó đáp: “Một người lạ, thưa ông chủ; con nghĩ có lẽ ông ta đến xin ăn.” Tôi bảo thằng bé xuống hỏi xem người ấy muốn gì rồi quay lại cho tôi biết. Khi trở lại, nó nói rằng người ấy có một thông điệp chỉ có thể trao cho riêng tôi, nên với chút bực bội tôi bảo nó đưa người ấy lên.

Even though I have seen this man very often since then, I still find it difficult to describe him—but I shall do my best. He was tall, slim, about forty-five years of age and wore a beard. He was unmistakably a native of Northern India, though his skin was almost as white as mine. He was dressed in a simple Indian costume made of material so indiscriminate in colour that at first sight one might have thought it was dirty, but on closer inspection one saw that it was spotlessly clean. His feet were encased in sandals and he wore a turban.

Dù từ đó đến nay tôi đã gặp người này rất nhiều lần, tôi vẫn thấy khó mô tả ông—nhưng tôi sẽ cố hết sức. Ông cao, mảnh khảnh, khoảng bốn mươi lăm tuổi và để râu. Rõ ràng ông là người bản xứ miền Bắc Ấn Độ, dù da ông gần như trắng như da tôi. Ông mặc một bộ y phục Ấn Độ đơn giản bằng thứ vải có màu sắc nhạt nhòa đến mức thoạt nhìn người ta có thể tưởng là bẩn, nhưng nhìn kỹ thì thấy nó sạch không tì vết. Chân ông đi dép xăng-đan và ông đội khăn xếp.

I told the boy to go, and asked my visitor to sit down. He sat down, not on the chair that I had indicated but crosslegged on the carpet. It was then that I noticed the benevolent expression of his eyes, which seemed to contain the wisdom of the ages. So far he had not spoken.

Tôi bảo thằng bé lui ra, rồi mời vị khách ngồi xuống. Ông ngồi xuống, không phải trên chiếc ghế tôi đã chỉ mà xếp bằng trên tấm thảm. Chính lúc đó tôi nhận thấy vẻ từ hòa trong đôi mắt ông, dường như chứa đựng minh triết của các thời đại. Cho đến lúc ấy ông vẫn chưa nói gì.

“Well,” I said, “what can I do for you?”

“Vậy,” tôi nói, “tôi có thể làm gì cho ông?”

He seemed surprised at the question, and took a few seconds to answer it. “You sent for me,” he said.

Ông có vẻ ngạc nhiên trước câu hỏi ấy, và mất vài giây mới trả lời. “Chính anh đã gọi tôi đến,” ông nói.

This was too much for me, so I replied: “What on earth do you mean? I’ve never set eyes on you before. So am I likely to have sent for you? Come on, tell me what you want, for I have work to do.”

Điều đó thật quá sức chịu đựng đối với tôi, nên tôi đáp: “Ông nói cái quái gì vậy? Tôi chưa từng nhìn thấy ông trước đây. Thế thì làm sao tôi lại có thể gọi ông đến? Nào, nói đi, ông muốn gì, vì tôi còn có việc phải làm.”

“You sent for me,” he repeated, and I suppose the surprise I felt must have been evident in my expression for he smiled and continued: “Have you not just lost your brother? Is not it true that you have been asking many questions of a hidden Providence, whom you accuse of being instrumental in taking your brother from you? Have not you said many times: ‘Why should such things be? Why should he be taken and not others? What is the use of believing in a god, when you cannot ask him questions and get from him the answers to those questions which mean so much to you.’ For the last three nights, when you have slept, you have dreamt that you have been talking to your brother. You have been talking to him; you have asked these questions and many others during these hours of fitful sleep. I am the answer to these questions. I am the messenger who has been sent to make these things clear to you, for did not Christ say: ‘Ask and it shall be given to you; knock and it shall be opened unto you.’ You have asked—you have knocked, and it now rests with you whether you still wish to have the answers you have so often clamoured for.”

“Chính anh đã gọi tôi đến,” ông lặp lại, và tôi đoán sự ngạc nhiên tôi cảm thấy hẳn đã lộ rõ trên nét mặt vì ông mỉm cười rồi tiếp tục: “Chẳng phải anh vừa mất em trai đó sao? Chẳng phải đúng là anh đã đặt ra nhiều câu hỏi với một Thiên Ý ẩn kín, Đấng mà anh buộc tội là đã góp phần lấy em trai anh khỏi anh sao? Chẳng phải anh đã nhiều lần nói: ‘Tại sao những điều như thế lại phải xảy ra? Tại sao nó bị lấy đi mà không phải những người khác? Tin vào một vị thần có ích gì, khi anh không thể hỏi Ngài và nhận từ Ngài những câu trả lời cho những câu hỏi có ý nghĩa quá lớn đối với anh.’ Trong ba đêm vừa qua, khi anh ngủ, anh đã mơ rằng mình đang nói chuyện với em trai. Anh đã nói chuyện với nó; anh đã hỏi những câu hỏi này và nhiều câu hỏi khác trong những giờ ngủ chập chờn ấy. Tôi là câu trả lời cho những câu hỏi đó. Tôi là sứ giả đã được gửi đến để làm sáng tỏ những điều này cho anh, vì chẳng phải Đức Christ đã nói: ‘Hãy xin thì sẽ được ban cho; hãy gõ thì sẽ mở cho.’ Anh đã xin—anh đã gõ, và giờ đây tùy nơi anh liệu anh còn muốn có những câu trả lời mà anh đã nhiều lần kêu đòi hay không.”

“Of course I want to hear the answers to my questions,” I said, “but who are you and how do I know that you can tell me what I want to know? Surely you are a man the same as I, alive and in the flesh, yet you talk of knowing my brother, of talking to him, of hearing me ask the very questions that I have asked. Is this magic, or am I dreaming? Convince me, if you can. You’ll find me a good listener, not very credulous I’m afraid, but as you seem to know so much about me already, I’ll listen to what you have to say.”

“Dĩ nhiên tôi muốn nghe câu trả lời cho những câu hỏi của mình,” tôi nói, “nhưng ông là ai và làm sao tôi biết ông có thể nói cho tôi điều tôi muốn biết? Chắc chắn ông cũng là một người như tôi, đang sống và bằng xương bằng thịt, thế mà ông lại nói như biết Huynh đệ của Tôi, nói chuyện với nó, nghe tôi hỏi chính những câu hỏi mà tôi đã hỏi. Đây là huyền thuật, hay tôi đang mơ? Hãy thuyết phục tôi, nếu ông có thể. Ông sẽ thấy tôi là một người biết lắng nghe, e rằng không quá cả tin, nhưng vì ông dường như đã biết quá nhiều về tôi rồi, tôi sẽ nghe điều ông muốn nói.”

Then he said: “I am afraid it will take some time to make you understand, but if you are willing to spare the time, I will come to you for an hour or two most days, until my story is concluded. I cannot promise that you will be convinced by all I have to tell you, but I can promise that at least you will be happier than you are now, so for that reason alone, perhaps the time will not entirely be wasted. Is 11 o’clock each morning suitable for you?”

Rồi ông nói: “Tôi e rằng sẽ cần một thời gian để làm cho anh hiểu, nhưng nếu anh sẵn lòng dành thời gian, tôi sẽ đến gặp anh một hoặc hai giờ vào hầu hết các ngày, cho đến khi câu chuyện của tôi kết thúc. Tôi không thể hứa rằng anh sẽ bị thuyết phục bởi tất cả những gì tôi phải nói với anh, nhưng tôi có thể hứa rằng ít nhất anh sẽ hạnh phúc hơn bây giờ, nên chỉ riêng vì lý do đó thôi, có lẽ thời gian ấy cũng sẽ không hoàn toàn bị lãng phí. Mỗi sáng lúc 11 giờ có thuận tiện cho anh không?”

I said: “Yes, oh yes,” rather wondering what I had let myself in for, but at the same time feeling that I could get rid of him after the first day, if I found there was a catch in the thing.

Tôi nói: “Vâng, ô vâng,” vừa tự hỏi không biết mình đã dính vào chuyện gì, nhưng đồng thời lại cảm thấy rằng tôi có thể tống khứ ông sau ngày đầu tiên, nếu tôi thấy trong chuyện này có điều gì mờ ám.

I looked up to carry on the conversation, but he had gone. There was no one there, although I had not heard the door open or shut. I began to wonder if I had dreamt it all or whether my brain had become a little deranged, owing to worry and lack of sleep. I even sent for my servant and asked him if he really had brought a man up to see me; when he said he had, I asked if he had seen him go, but he said he had not and resolutely denied that anyone could have left my room and gone out by the front door without his seeing him. That did not help and I still wondered if it had been a dream, for somehow the statement of the boy that he had brought the man to me seemed unreal. I decided to wait for the morrow: 11 o’clock was the time he had fixed, and I was certainly going to be in my room at that hour, to see whether he came or not.

Tôi ngẩng lên để tiếp tục câu chuyện, nhưng ông đã biến mất. Không còn ai ở đó, mặc dù tôi không hề nghe tiếng cửa mở hay đóng. Tôi bắt đầu tự hỏi liệu mình có mơ hết mọi chuyện không, hay bộ não tôi đã hơi rối loạn vì lo âu và thiếu ngủ. Tôi thậm chí còn gọi người hầu đến và hỏi nó xem có thật nó đã dẫn một người đàn ông lên gặp tôi không; khi nó nói là có, tôi hỏi nó có thấy người ấy đi ra không, nhưng nó bảo là không và quả quyết phủ nhận rằng có ai có thể rời phòng tôi rồi đi ra cửa trước mà nó không nhìn thấy. Điều đó chẳng giúp ích gì và tôi vẫn tự hỏi liệu đó có phải là một giấc mơ không, vì bằng cách nào đó lời khẳng định của thằng bé rằng nó đã đưa người ấy đến gặp tôi nghe thật không thực. Tôi quyết định chờ đến ngày mai: 11 giờ là giờ ông đã định, và chắc chắn tôi sẽ ở trong phòng mình vào giờ đó để xem ông có đến hay không.

Oddly enough I slept that night as I had not slept since I had received that fateful cable; when I woke in the morning, I seemed to have been talking to Charles and telling him about my visitor. In my dreaming Charles did not seem to be at all surprised, and I woke with a certainty that my Indian friend would turn up as arranged. I decided I would ask him as soon as he arrived how he had managed to go without being seen or heard.

Lạ thay, đêm đó tôi ngủ ngon như chưa từng ngủ kể từ khi nhận bức điện định mệnh ấy; khi thức dậy vào buổi sáng, tôi có cảm giác như mình đã nói chuyện với Charles và kể cho nó nghe về vị khách của tôi. Trong giấc mơ, Charles dường như không hề ngạc nhiên chút nào, và tôi thức dậy với một sự chắc chắn rằng người bạn Ấn Độ của tôi sẽ đến đúng như đã hẹn. Tôi quyết định sẽ hỏi ông ngay khi ông đến rằng ông đã làm cách nào để đi mà không ai thấy hay nghe.

I suppose my door must have been ajar, for just on 11 o’clock a pleasant voice at my elbow said: “Well, do you still want those questions answered?” I had not heard him come, but in a strange way was so reassured by his presence that I replied: “Certainly, I am ready.” Without any more casual conversation he sat down on the floor, I leant back in my chair, and he started to tell me the most amazing story I have ever heard—a story that even now I cannot fully understand, but one which rang true from the first word, a story which I feel will ring true for others who may read it.

Tôi đoán cửa phòng tôi hẳn đã hé mở, vì đúng vào khoảng 11 giờ, một giọng nói dễ chịu bên cạnh tôi cất lên: “Vậy, anh vẫn còn muốn những câu hỏi ấy được trả lời chứ?” Tôi đã không nghe thấy ông bước vào, nhưng một cách kỳ lạ lại cảm thấy được trấn an đến mức tôi đáp: “Chắc chắn rồi, tôi đã sẵn sàng.” Không thêm lời xã giao nào nữa, ông ngồi xuống sàn, tôi ngả người ra ghế, và ông bắt đầu kể cho tôi câu chuyện kỳ diệu nhất mà tôi từng nghe—một câu chuyện mà ngay cả bây giờ tôi vẫn chưa thể hoàn toàn hiểu hết, nhưng là câu chuyện đã vang lên như chân lý ngay từ lời đầu tiên, một câu chuyện mà tôi cảm thấy sẽ cũng vang lên như chân lý đối với những người khác có thể đọc nó.

During all the days which followed, we had little conversation. He came, just as he had done the first day; sometimes he talked for an hour, sometimes longer, and when he had finished for the morning, he put the palms of his hands together in Eastern fashion and went away. I rather think he sensed when I had had enough, when my brain, reeling with strange facts, had reached a stage at which it could take in no more, for I noticed that he sometimes finished suddenly and without a word of farewell left the room, to return the following morning when, without any fresh introduction, he started to speak as if he had just finished the sentence with which his previous day’s discourse was completed.

Trong suốt những ngày sau đó, chúng tôi ít trò chuyện. Ông đến, đúng như ngày đầu tiên; đôi khi ông nói trong một giờ, đôi khi lâu hơn, và khi kết thúc cho buổi sáng, ông chắp hai lòng bàn tay theo lối phương Đông rồi ra đi. Tôi khá chắc rằng ông cảm nhận được khi nào tôi đã nghe đủ, khi nào bộ não tôi, quay cuồng vì những sự kiện lạ lùng, đã đến mức không thể tiếp nhận thêm nữa, vì tôi nhận thấy đôi khi ông kết thúc đột ngột và không một lời từ biệt rời khỏi phòng, để rồi sáng hôm sau trở lại và, không cần lời dẫn nhập mới nào, ông bắt đầu nói như thể vừa mới kết thúc câu mà bài giảng hôm trước của ông đã dừng lại.


Leave a Comment

Scroll to Top