Hành Trình Một Linh hồn – Chương 1-4

📘 Sách: Hành Trình Của Một Linh hồn (Song Ngữ) – Tác giả: Peter Richelieu

Chapter 1

“I have not come to convert you to any new faith, any new philosophy. I have not been sent to you by him who is my Master to provide answers to the questions which puzzle you at present. The only way in which I can do this is to tell you about the fundamental facts of life in the hope that this will give you a foundation of knowledge through which you can build up a philosophy of your own. I shall also assist you in gaining practical experience through which you can prove things for yourself. Much of what I say will sound unusual to you but, in many lives, I have studied much and had proof of which has convinced me that certain facts are true. I have no desire that you accept what I say as facts or truth, for you can only do so when you get to know such things within your own consciousness.

“Tôi không đến để cải đạo anh sang một đức tin mới nào, một triết lý mới nào. Tôi không được Đấng là Chân sư của tôi gửi đến với anh để cung cấp những câu trả lời cho các câu hỏi hiện đang làm anh bối rối. Cách duy nhất để tôi có thể làm điều đó là nói với anh về những sự kiện căn bản của đời sống với hy vọng rằng điều này sẽ cho anh một nền tảng tri thức, nhờ đó anh có thể xây dựng nên một triết lý của riêng mình. Tôi cũng sẽ giúp anh đạt được kinh nghiệm thực tiễn, nhờ đó anh có thể tự mình chứng minh mọi điều. Phần lớn những gì tôi nói sẽ nghe có vẻ lạ lùng đối với anh, nhưng qua nhiều kiếp sống, tôi đã học hỏi nhiều và đã có những bằng chứng khiến tôi xác tín rằng một số sự kiện là chân thật. Tôi không hề mong anh chấp nhận những gì tôi nói như là sự kiện hay chân lý, vì anh chỉ có thể làm như vậy khi anh biết những điều ấy trong chính tâm thức của mình.

“There is an old saying of the Lord Buddha, Who founded the religion which bears His name, which illustrates my point. One day one of His disciples came to Him and said: ‘Lord, whom shall I believe? One man telleth me this and another that, and both seem sure they are right.’ The Lord Buddha replied: ‘My son, believe not that which any man saith, not even I, the Lord Buddha, unless it appeals to your common sense. And even then do not believe it, but treat it as a reasonable hypothesis until such time as you can prove it for yourself.’

“Có một câu nói xưa của Đức Phật, Đấng đã sáng lập tôn giáo mang danh Ngài, minh họa cho điều tôi muốn nói. Một ngày kia một đệ tử của Ngài đến với Ngài và nói: ‘Bạch Phật, con nên tin ai? Người này nói với con điều này, người kia nói với con điều nọ, và cả hai dường như đều chắc chắn rằng họ đúng.’ Đức Phật đáp: ‘Con đừng tin điều mà bất kỳ ai nói, ngay cả Ta, Đức Phật, trừ phi điều đó phù hợp với lương tri của con. Và ngay cả khi ấy cũng đừng tin nó, mà hãy xem nó như một giả thuyết hợp lý cho đến khi nào con có thể tự mình chứng minh được.’

“First of all I shall give you a rough outline of the path which is called evolution and of how that indefinable thing called life is found to flow through the kingdoms of Nature.

“Trước hết tôi sẽ cho anh một phác thảo khái quát về con đường được gọi là tiến hoá và về cách điều không thể định nghĩa ấy gọi là sự sống được thấy là chảy qua các giới của Thiên Nhiên.

“Of the source of life, I can give you no idea. I do not know and I have never met anyone who did. But does that matter? All thinking men are agreed that there must be a creative power behind the Universe; whether we think of that Power as a personal God or just the power of creation does not seem to be a matter of great importance. There are many who still like to think of God as a venerable old man with a beard, an idealistic figure based on the highest that each person can imagine, but with unlimited powers and an understanding of justice that is unequalled amongst men. Who shall say that such an idea is foolish? It may satisfy many but it has no foundation in fact, for no man lives who can speak with knowledge of either the creation of the universe or of that thing which we call life.

“Về nguồn gốc của sự sống, tôi không thể cho anh một ý niệm nào. Tôi không biết và tôi chưa từng gặp ai biết cả. Nhưng điều đó có quan trọng không? Tất cả những người biết suy nghĩ đều đồng ý rằng phải có một quyền năng sáng tạo đứng sau Vũ Trụ; việc chúng ta nghĩ về Quyền Năng ấy như một Thượng đế có ngôi vị hay chỉ là quyền năng sáng tạo dường như không phải là điều quá quan trọng. Vẫn còn nhiều người thích nghĩ về Thượng đế như một ông lão đáng kính có râu, một hình tượng lý tưởng dựa trên điều cao cả nhất mà mỗi người có thể tưởng tượng ra, nhưng với quyền năng vô hạn và một sự hiểu biết về công lý không ai trong loài người sánh được. Ai dám nói rằng một ý tưởng như thế là ngu xuẩn? Nó có thể làm thỏa mãn nhiều người nhưng không có nền tảng trong sự kiện, vì không có ai đang sống có thể nói với tri thức về việc tạo thành vũ trụ hay về điều mà chúng ta gọi là sự sống.

“Although we cannot analyse life, we can contact it. Who has not seen an animal or a human, living one minute and dead the next? What has happened during that minute? Certainly something has gone out of the body which one saw in action, and left behind the still flesh which, even as one looks, seems to start to disintegrate and return to Mother Earth. So we can recognise life as a fact, although we may not be able to understand it, and certainly we cannot create it as we can so many other things in these enlightened days. The mind of man has produced many synthetic aids to nature, but not synthetic life.

“Mặc dù chúng ta không thể phân tích sự sống, chúng ta có thể tiếp xúc với nó. Ai mà chưa từng thấy một con vật hay một con người, đang sống trong phút này và chết ở phút kế tiếp? Điều gì đã xảy ra trong phút ấy? Chắc chắn có một cái gì đó đã rời khỏi thể mà người ta vừa thấy đang hoạt động, và để lại phía sau xác thịt bất động mà, ngay khi người ta nhìn, dường như đã bắt đầu phân rã và trở về với Mẹ Đất. Vì vậy chúng ta có thể nhận ra sự sống như một sự kiện, dù có thể không hiểu được nó, và chắc chắn chúng ta không thể tạo ra nó như chúng ta có thể tạo ra rất nhiều thứ khác trong những ngày giác ngộ này. Trí tuệ của con người đã tạo ra nhiều trợ cụ tổng hợp cho thiên nhiên, nhưng không tạo ra được sự sống tổng hợp.

“The world of science tells us that life is found in all the four kingdoms of nature—the mineral, vegetable, animal and human kingdoms. We do not need to be told that there is life in the animal and human kingdoms—we can see that for ourselves—but it is more difficult to credit that there is life in the mineral and vegetable kingdoms also. Reliable sources tell us that even rocks have life and that when the life-force is withdrawn from such rocks, they commence to decay; in time they crumble and return to the dust, much as a human body does, though the process takes a longer time. It is certainly easier for us to accept the fact that vegetables have life than that rocks have, for when they are withdrawn from the ground, the source of life in their case, we see for ourselves that they wither and die; in due time they become dust, as do all living things when the life-force is withdrawn.

“Thế giới khoa học cho chúng ta biết rằng sự sống được tìm thấy trong cả bốn giới của thiên nhiên—giới kim thạch, giới thực vật, giới động vật và giới nhân loại. Chúng ta không cần ai nói cho biết rằng có sự sống trong giới động vật và giới nhân loại—chúng ta có thể tự thấy điều đó—nhưng khó tin hơn rằng cũng có sự sống trong giới kim thạch và giới thực vật. Những nguồn đáng tin cậy cho biết rằng ngay cả đá cũng có sự sống và khi mãnh lực sự sống bị rút khỏi những tảng đá ấy, chúng bắt đầu mục rã; theo thời gian chúng vụn nát và trở về thành bụi, cũng như thể xác con người, dù tiến trình ấy kéo dài lâu hơn. Chắc chắn chúng ta dễ chấp nhận sự kiện rằng thực vật có sự sống hơn là đá có sự sống, vì khi chúng bị nhổ khỏi đất, nguồn sống của chúng trong trường hợp này, chúng ta tự thấy rằng chúng héo úa và chết; đến lúc thích hợp chúng trở thành bụi, như mọi sinh vật sống khi mãnh lực sự sống bị rút đi.

“Philosophers trace life still further into an additional kingdom, which they term the superhuman kingdom, for when man has conquered the human kingdom, his evolution does not come to a sudden end, but goes on upwards, ever upwards, until at last it reaches the source from which it sprang, how many countless ages before this one, no mere man has been able even to guess. They state further that life is progressive, as are all things in nature, and that the goal of life is experience; this it garners and harvests as it progresses through the kingdom of nature from the lowest form in which life is found, to the highest, which can be described as the Perfect Man, or a ‘man made perfect.’

“Các triết gia còn truy nguyên sự sống xa hơn nữa vào một giới bổ sung, mà họ gọi là giới siêu nhân loại, vì khi con người đã chinh phục giới nhân loại, sự tiến hoá của y không đột ngột chấm dứt mà tiếp tục đi lên, mãi đi lên, cho đến cuối cùng đạt tới nguồn cội từ đó nó đã phát sinh, từ biết bao thời đại vô số trước thời này, điều mà không một người phàm nào có thể đoán nổi. Họ còn nói thêm rằng sự sống là tiến bộ, như mọi sự trong thiên nhiên, và mục tiêu của sự sống là kinh nghiệm; sự sống thu lượm và gặt hái kinh nghiệm ấy khi nó tiến qua các giới của thiên nhiên từ hình thức thấp nhất nơi sự sống được tìm thấy đến hình thức cao nhất, có thể được mô tả là Con Người Hoàn Hảo, hay một ‘con người được làm cho hoàn hảo.’

“Next we must consider what is the difference between life as found in the mineral kingdom and life as we know it in the animal and human kingdoms. Its essence is undoubtedly the same for, as I have stated, the origin of all life is Divine, but how different is its expression? When life starts functioning as various minerals, it has no individuality as we understand such a thing at the human level. In the lower types of minerals the life-force, after having gained the experience it must obtain, passes into the higher forms; later it passes to the lower type of vegetable and so to the higher types of the same kingdom. All this takes many thousands of years as time is reckoned on this planet, but it is only when life passes from the vegetable to the animal kingdom that any sort of division becomes apparent. Even at this stage there is no individuality but merely a group consciousness or group soul, common to all the different animals of the same species, which works on and directs these animals from without. When the life-force passes to the human kingdom, an indwelling spirit or ego inhabits each individual body and dictates the thoughts and actions of every human being. At this stage of evolution group souls have an influence upon races—but none on individuals, who now have free will.

“Tiếp theo chúng ta phải xét xem sự khác biệt giữa sự sống như được tìm thấy trong giới kim thạch và sự sống như chúng ta biết trong giới động vật và giới nhân loại là gì. Bản chất của nó chắc chắn là như nhau, vì như tôi đã nói, nguồn gốc của mọi sự sống là thiêng liêng, nhưng sự biểu lộ của nó khác nhau biết bao? Khi sự sống bắt đầu hoạt động như các loại khoáng vật khác nhau, nó không có tính cá thể như chúng ta hiểu điều ấy ở cấp độ con người. Trong các loại khoáng vật thấp hơn, mãnh lực sự sống, sau khi đã đạt được kinh nghiệm mà nó phải có, sẽ chuyển sang các hình thức cao hơn; về sau nó chuyển sang loại thực vật thấp hơn rồi đến các loại cao hơn trong cùng giới ấy. Tất cả điều này mất nhiều ngàn năm theo cách thời gian được tính trên hành tinh này, nhưng chỉ khi sự sống chuyển từ giới thực vật sang giới động vật thì một loại phân chia nào đó mới trở nên rõ rệt. Ngay ở giai đoạn này vẫn chưa có tính cá thể mà chỉ có một tâm thức nhóm hay Hồn nhóm, chung cho mọi loài vật khác nhau cùng một giống, hoạt động và điều khiển các con vật ấy từ bên ngoài. Khi mãnh lực sự sống chuyển sang giới nhân loại, một tinh thần nội tại hay chân ngã cư ngụ trong mỗi thể cá nhân và chi phối tư tưởng cùng hành động của mỗi con người. Ở giai đoạn tiến hoá này, các hồn nhóm có ảnh hưởng lên các nhân loại—nhưng không ảnh hưởng lên các cá nhân, những người giờ đây có ý chí tự do.

“To animals man is a super-animal, just as to man a perfect man is a superman. It is unfortunate to find that this super-animal is inclined to act with cruelty to his younger brothers rather than with compassion and understanding; in fact he seems to be the main cause of the suffering they undergo. If man killed only for the purpose of obtaining food, as animals do, or because a wild animal is threatening to kill him, that might be regarded as conforming to the laws of nature, but he tortures animals by various means so that his women folk may be adorned with furs and feathers, and he kills for what he terms ‘sport’ when he practises his ‘skill’ in marksmanship, regardless of the suffering he may cause to those not so well equipped as himself. All this thoughtless cruelty brings into manifestation the emotion of fear, the most retarding of all emotions. Fear of the super-animal begins in the lowest forms of animal life and continues throughout the animal kingdom till animals contact man in domestic life, then the fear that was born in the early stages is slowly but surely replaced by love. Until this happens, the progress of animals along the evolutionary path is slow.

“Đối với loài vật, con người là một siêu-thú, cũng như đối với con người, một con người hoàn hảo là một siêu nhân. Thật đáng tiếc khi thấy rằng siêu-thú này lại có khuynh hướng hành động tàn nhẫn với những em nhỏ của mình hơn là với lòng từ bi và sự thấu hiểu; thật vậy, dường như y là nguyên nhân chính gây ra nỗi đau khổ mà chúng phải chịu. Nếu con người chỉ giết để kiếm thức ăn, như loài vật vẫn làm, hoặc vì một con thú hoang đang đe dọa giết y, thì điều đó có thể được xem là phù hợp với các định luật của thiên nhiên, nhưng y tra tấn loài vật bằng nhiều cách để phụ nữ của y có thể được trang điểm bằng lông thú và lông chim, và y giết vì điều y gọi là ‘thể thao’ khi thực hành ‘kỹ năng’ bắn súng của mình, bất kể nỗi đau khổ y có thể gây ra cho những kẻ không được trang bị tốt như y. Tất cả sự tàn nhẫn vô tâm này làm cho cảm xúc sợ hãi biểu hiện ra, cảm xúc cản trở nhất trong mọi cảm xúc. Nỗi sợ siêu-thú bắt đầu từ những hình thức thấp nhất của đời sống động vật và tiếp tục suốt khắp giới động vật cho đến khi loài vật tiếp xúc với con người trong đời sống thuần dưỡng, khi ấy nỗi sợ đã sinh ra trong các giai đoạn đầu chậm mà chắc được thay thế bằng tình thương. Cho đến khi điều này xảy ra, sự tiến bộ của loài vật trên con đường tiến hoá là chậm chạp.

“I shall trace for you the passage of the life-force through the animal kingdom. Try to imagine the life-force as constituting the water of a slowly moving canal; it is bounded on both sides by the banks of the canal, thus giving the impression of a controlled purpose. There is practically no difference in this stream when passing through the mineral and vegetable kingdoms, but there is a distinct change as it emerges from the canal into the conditions ruling in the animal kingdom.

“Tôi sẽ vạch cho anh thấy sự đi qua của mãnh lực sự sống trong giới động vật. Hãy thử hình dung mãnh lực sự sống như nước của một con kênh chảy chậm; nó được giới hạn ở cả hai bên bởi bờ kênh, do đó tạo ra ấn tượng về một mục đích được kiểm soát. Hầu như không có khác biệt nào trong dòng chảy này khi đi qua giới kim thạch và giới thực vật, nhưng có một thay đổi rõ rệt khi nó đi ra khỏi con kênh để bước vào những điều kiện chi phối trong giới động vật.

“The animal kingdom is a complex structure of different levels of evolution, from microbes and worms, through the wild animals of the jungle, to the animals which man has domesticated. In passing through the animal kingdom the life force acquires the colouration of experience. It takes form as, shall we say, myriads of tadpoles. The life force was contained in the larvæ which were produced by a frog; in due course it emerged as many thousands of tadpoles. These were born to contact life and to gain experience which will colour the water that was clear. Many tadpoles die in infancy, never reaching their destiny as frogs, and these units of water may be said to return to the soul groups scarcely coloured at all. Some become frogs, and although through lack of food or for a thousand different reasons their lives may be short, when they eventually come to an end, the units of water comprising these young frogs return to their soul groups, coloured only with the small experience of discomfort or suffering due to the cause of their deaths. Others live longer and in due course contact human life. The frog learns to fear its tormentors, to run from them, to hide when possible and avoid contact with them. In due course it dies, either by a natural death, which in the majority of cases is unlikely, by the unthinking cruelty of the human kingdom or by an attack from one of the natural enemies of frogs, such as snakes. When the units of water comprising these fragments of life return to the compartments, their experience most certainly colours the water, which when it started out was clear, with many colours expressing its sufferings in its diverse forms. The whole experience, blended together, leaves that compartment coloured with the experiences of all the units, none of which has a separate identity, all being part of the complete group soul.

“Giới động vật là một cấu trúc phức tạp gồm những cấp độ tiến hoá khác nhau, từ vi trùng và giun, qua các thú hoang trong rừng, đến những con vật mà con người đã thuần dưỡng. Khi đi qua giới động vật, mãnh lực sự sống tiếp nhận sắc thái của kinh nghiệm. Nó mang hình thức, giả sử như, vô số nòng nọc. Mãnh lực sự sống đã nằm trong những ấu trùng do một con ếch sinh ra; đến kỳ, nó xuất hiện thành nhiều ngàn nòng nọc. Chúng được sinh ra để tiếp xúc với đời sống và để thu nhận kinh nghiệm, kinh nghiệm này sẽ nhuộm màu dòng nước vốn trong suốt. Nhiều nòng nọc chết khi còn non, không bao giờ đạt đến định mệnh làm ếch, và những đơn vị nước này có thể được nói là trở về các hồn nhóm hầu như chưa bị nhuộm màu gì cả. Một số trở thành ếch, và mặc dù vì thiếu thức ăn hay vì hàng ngàn lý do khác mà đời sống của chúng có thể ngắn ngủi, khi cuối cùng chấm dứt, những đơn vị nước cấu thành các con ếch non ấy trở về các hồn nhóm của chúng, chỉ nhuốm màu bởi chút ít kinh nghiệm về khó chịu hay đau khổ do nguyên nhân cái chết của chúng. Những con khác sống lâu hơn và đến lúc tiếp xúc với đời sống con người. Con ếch học cách sợ những kẻ hành hạ nó, chạy trốn chúng, ẩn nấp khi có thể và tránh tiếp xúc với chúng. Đến lúc nó chết, hoặc bởi cái chết tự nhiên, điều trong đa số trường hợp là khó xảy ra, hoặc bởi sự tàn nhẫn vô tâm của giới nhân loại, hoặc bởi sự tấn công của một trong những kẻ thù tự nhiên của loài ếch, như rắn chẳng hạn. Khi những đơn vị nước cấu thành các mảnh sự sống này trở về các ngăn chứa, kinh nghiệm của chúng chắc chắn sẽ nhuộm màu dòng nước vốn lúc khởi đầu là trong suốt, bằng nhiều màu sắc biểu lộ những đau khổ của nó dưới các hình thức khác nhau. Toàn bộ kinh nghiệm, hòa trộn lại với nhau, để lại ngăn chứa ấy được nhuộm màu bởi kinh nghiệm của tất cả các đơn vị, không đơn vị nào có bản sắc riêng biệt, tất cả đều là phần của hồn nhóm hoàn chỉnh.

“After one or two lives at this stage of evolution, the life force with its accumulated water experiences passes to the next level. Instead of tens of thousands of tadpoles, it is divided into about ten thousand units of rats, or mice, for example. The rat is born with a fear of the human being and of its natural enemies, for is not the water coloured with the fear that was brought back from the lives lived in the earlier stage. In this series of lives fear continues to grow. In his early life the rat is taught by bitter experience to avoid man at all costs, to work by night when man is less of a terror than by day, and if he manages to live to a ripe old age it is certainly due to his cunning and mastery of methods of circumventing his natural enemies.”

“Sau một hay hai kiếp sống ở giai đoạn tiến hoá này, mãnh lực sự sống cùng với những kinh nghiệm nước đã tích lũy chuyển sang cấp độ kế tiếp. Thay vì hàng chục ngàn nòng nọc, nó được chia thành khoảng mười ngàn đơn vị chuột cống hay chuột nhắt, chẳng hạn. Con chuột sinh ra với nỗi sợ con người và những kẻ thù tự nhiên của nó, vì chẳng phải nước đã được nhuộm màu bởi nỗi sợ được mang về từ những kiếp sống ở giai đoạn trước đó sao. Trong chuỗi kiếp sống này, nỗi sợ tiếp tục tăng trưởng. Trong đời sống đầu tiên của nó, con chuột được dạy bằng kinh nghiệm cay đắng phải tránh con người bằng mọi giá, phải hoạt động ban đêm khi con người ít đáng sợ hơn ban ngày, và nếu nó sống được đến tuổi già thì chắc chắn là nhờ sự ranh mãnh và khả năng làm thất bại những kẻ thù tự nhiên của nó.”

While I was still pondering his final words, I looked up and the room was empty. I sat quite still for a while and tried to grasp the idea of what he had said, and after a time much of it came back. At first I did not consider whether I believed it or not; that did not seem to matter. It was all so new but it certainly was interesting; already, although I was tired, I began to look forward to the morrow, for I was confident he would return.

Trong khi tôi vẫn còn suy nghĩ về những lời cuối cùng của ông, tôi ngẩng lên và căn phòng trống không. Tôi ngồi yên một lúc và cố nắm bắt ý nghĩa những gì ông đã nói, và sau một thời gian thì phần lớn điều ấy trở lại với tôi. Lúc đầu tôi không nghĩ xem mình có tin hay không; điều đó dường như không quan trọng. Tất cả đều quá mới mẻ nhưng chắc chắn rất thú vị; ngay lúc ấy, dù mệt, tôi đã bắt đầu mong đến ngày mai, vì tôi tin chắc ông sẽ trở lại.

The following day I sat at my desk with my eyes on the door; I was determined I would be on the lookout to see if he opened the door or came through it. But if I expected something supernatural to happen I was disappointed, for just on 11 o’clock the door opened noiselessly in the ordinary way and he greeted me, as I should have expected him to do, just by saying:“Well, are you ready to hear more, or did I bore you yesterday?” I suppose my reply must have satisfied him, for he continued from where he left off.

Ngày hôm sau tôi ngồi tại bàn làm việc, mắt nhìn chằm chằm vào cánh cửa; tôi quyết tâm phải canh chừng để xem ông có mở cửa hay đi xuyên qua nó. Nhưng nếu tôi mong đợi một điều gì siêu nhiên xảy ra thì tôi đã thất vọng, vì đúng vào khoảng 11 giờ cánh cửa mở ra không tiếng động theo cách hoàn toàn bình thường và ông chào tôi, như lẽ ra tôi phải chờ đợi, chỉ bằng câu: “Vậy, anh đã sẵn sàng nghe thêm chưa, hay hôm qua tôi đã làm anh chán?” Tôi đoán câu trả lời của tôi hẳn đã làm ông hài lòng, vì ông tiếp tục từ chỗ đã dừng lại.

“The level of evolution of the life force reached in the wild animals is as far removed from the humble worm, as he is from the plant world. The animals themselves live by the natural law, which is ‘the survival of the strongest,’ and the keynote of the animal kingdom is self-preservation. The weaker animals are killed for food, and fear for survival colours the experiences of all such animals from the day they are born to the day they die, whether their death be a natural one or due to the exploitation of the stronger animal or a bullet from the gun of a hunter. Is it any wonder that the predominating instinct of all wild animals is fear? Fear of the stronger animals and fear of the super-animal called man.

“Cấp độ tiến hoá của mãnh lực sự sống đạt được trong các thú hoang cách xa con giun khiêm tốn cũng như nó cách xa giới thực vật. Bản thân các con vật sống theo định luật tự nhiên, tức là ‘sự sống còn của kẻ mạnh nhất,’ và chủ âm của giới động vật là tự bảo tồn. Những con vật yếu hơn bị giết để làm thức ăn, và nỗi sợ để sinh tồn nhuộm màu kinh nghiệm của tất cả những con vật ấy từ ngày chúng sinh ra cho đến ngày chúng chết, dù cái chết ấy là tự nhiên hay do bị con vật mạnh hơn khai thác hoặc do viên đạn từ súng của một thợ săn. Có gì đáng ngạc nhiên khi bản năng chi phối của mọi thú hoang là sợ hãi? Sợ những con vật mạnh hơn và sợ siêu-thú gọi là con người.

“Many lives are lived by group souls in the bodies of wild animals, because in such incarceration they learn the important lessons of self-preservation and the neccessity to work in order to survive, for the obtaining of food alone for each and every animal becomes a daily duty which can never be neglected. During the periods when food is scarce, the instinct of the animal teaches it to seek new pastures and to learn adaptability which will stand the soul in good stead when the time comes for it to emerge as a separate human entity. Maternal instinct is in evidence for the first time in this stage of the life of the group soul.

“Nhiều kiếp sống được các hồn nhóm sống qua trong thân xác thú hoang, vì trong sự giam giữ ấy chúng học được những bài học quan trọng về tự bảo tồn và sự cần thiết phải làm việc để sinh tồn, bởi việc kiếm thức ăn riêng cho từng con vật trở thành một bổn phận hằng ngày không bao giờ được sao lãng. Trong những thời kỳ thức ăn khan hiếm, bản năng của con vật dạy nó tìm kiếm đồng cỏ mới và học tính thích nghi, điều sẽ giúp hồn nhóm rất nhiều khi đến lúc nó xuất hiện như một thực thể nhân loại riêng biệt. Bản năng mẫu tử lần đầu tiên biểu lộ ở giai đoạn này trong đời sống của hồn nhóm.

“I have said enough for you to realise that the wild animals represent the top of the spiral covering the lives lived by the group soul in the animal kingdom, for when ready to progress further the group inhabits bodies that bring it into closer and closer touch with the human kingdom, to which it must pass in the fullness of time.

“Tôi đã nói đủ để anh nhận ra rằng thú hoang tượng trưng cho đỉnh của vòng xoắn bao trùm các kiếp sống mà hồn nhóm đã sống trong giới động vật, vì khi sẵn sàng tiến xa hơn, nhóm ấy cư ngụ trong những thân xác đưa nó đến gần giới nhân loại hơn nữa, giới mà theo thời gian viên mãn nó phải chuyển sang.

“In their wild state elephants, donkeys and buffaloes will fight wildly against capture by man, and when caught it is only if they are tamed by kindness that they become at all domesticated and willing to use their natural powers in the interests of human progress. Even after years of captivity they seldom become really domesticated. However in the lives which follow they are mostly born in captivity; therefore, their environment from birth teaches them to lose some of the natural fear that past lives have produced in them. The most evolved of this group are the cattle, for they are often stall fed in the winter months, and it is generally admitted that the providing of food for an animal does more to gain its confidence and eradicate its natural fear of man than anything else.

“Trong trạng thái hoang dã, voi, lừa và trâu sẽ chống lại dữ dội việc bị con người bắt giữ, và khi bị bắt thì chỉ nếu được thuần hóa bằng lòng tử tế chúng mới trở nên phần nào được thuần dưỡng và sẵn lòng dùng các năng lực tự nhiên của mình vì lợi ích của sự tiến bộ nhân loại. Ngay cả sau nhiều năm bị giam giữ, chúng cũng hiếm khi thực sự trở nên thuần dưỡng. Tuy nhiên trong những kiếp sống tiếp theo, phần lớn chúng được sinh ra trong cảnh nuôi nhốt; vì vậy, môi trường từ lúc sinh ra dạy chúng đánh mất phần nào nỗi sợ tự nhiên mà các kiếp trước đã tạo ra trong chúng. Tiến hoá nhất trong nhóm này là gia súc, vì chúng thường được nuôi trong chuồng vào những tháng mùa đông, và người ta thường thừa nhận rằng việc cung cấp thức ăn cho một con vật giúp giành được lòng tin của nó và xóa bỏ nỗi sợ tự nhiên của nó đối với con người hơn bất cứ điều gì khác.

“Slowly but surely some of this fear of the human race is obliterated and the group soul is ready to pass into its last stage in the animal world, that of the truly domesticated animals: the horse, the dog, and the cat. The group soul which in the beginning went out seeking experience in the form of approximately ten thousand tadpoles has gradually but surely divided itself into fewer and fewer parts, until in the last stages of the animal kingdom it is in two parts only—as two horses, two dogs or two cats.

“Chậm mà chắc, một phần nỗi sợ nhân loại này bị xóa bỏ và hồn nhóm sẵn sàng chuyển sang giai đoạn cuối cùng của nó trong thế giới động vật, đó là giai đoạn của những con vật thực sự được thuần dưỡng: ngựa, chó và mèo. Hồn nhóm lúc ban đầu đi ra tìm kiếm kinh nghiệm dưới hình thức khoảng mười ngàn nòng nọc đã dần dần nhưng chắc chắn tự phân chia thành ngày càng ít phần hơn, cho đến ở các giai đoạn cuối của giới động vật nó chỉ còn hai phần—như hai con ngựa, hai con chó hay hai con mèo.

“When the group soul has evolved to the stage where it is divided in half, it is in every way domesticated and has come to understand man as he really is. Now the possibility of its individualising as a separate human ego becomes a fact. How many lives still have to be lived by this group soul depends entirely on the human beings to whom these two animals are attached. If one of the two owners of these horses, dogs or cats is not an animal lover and therefore the treatment meted out to the animal is unsympathetic, or cruel, then some of the fear which in the last twenty lives has been partly eradicated, will come back again and more lives must be lived before individualisation can take place. I cannot emphasise too often or too strongly that if people realised how important it is for them to make friends of all domestic animals and do their part in making them understand man, then this, last stage would be reached much more quickly than is often the case.

“Khi hồn nhóm đã tiến hoá đến giai đoạn bị chia làm hai, nó đã được thuần dưỡng về mọi phương diện và đã hiểu con người như y thực sự là. Giờ đây khả năng biệt ngã hóa thành một chân ngã nhân loại riêng biệt trở thành một sự kiện. Còn bao nhiêu kiếp sống nữa hồn nhóm này phải trải qua hoàn toàn tùy thuộc vào những con người mà hai con vật ấy gắn bó. Nếu một trong hai người chủ của những con ngựa, chó hay mèo này không phải là người yêu loài vật và vì thế cách đối xử dành cho con vật là thiếu cảm thông hoặc tàn nhẫn, thì một phần nỗi sợ mà trong hai mươi kiếp sống cuối đã phần nào bị xóa bỏ sẽ quay trở lại và phải sống thêm nhiều kiếp nữa trước khi sự biệt ngã hóa có thể diễn ra. Tôi không thể nhấn mạnh quá thường xuyên hay quá mạnh mẽ rằng nếu người ta nhận ra việc kết bạn với tất cả các con vật nuôi trong nhà và góp phần của mình để làm cho chúng hiểu con người quan trọng đến mức nào, thì giai đoạn cuối này sẽ đạt được nhanh hơn rất nhiều so với điều thường xảy ra.

“Please understand this clearly: no group soul can individualise into a human soul until all fear of the human race has been overcome. Love is not an emotion which relates exclusively to the human kingdom, in its highest form it encompasses all nature; therefore, man’s part in animal evolution is to see that in the true sense ‘perfect love casteth out fear’ for, without understanding help, the progress of animals on the evolutionary path can be retarded for an unlimited period of time.

“Xin anh hiểu rõ điều này: không hồn nhóm nào có thể biệt ngã hóa thành một linh hồn nhân loại cho đến khi mọi nỗi sợ đối với nhân loại đã được vượt qua. Tình thương không phải là một cảm xúc chỉ liên hệ riêng với giới nhân loại, ở hình thức cao nhất của nó, nó bao trùm toàn thể thiên nhiên; vì vậy phần việc của con người trong sự tiến hoá của loài vật là bảo đảm rằng theo nghĩa chân thật, ‘tình thương hoàn hảo xua tan sợ hãi,’ vì nếu không có sự trợ giúp đầy thấu hiểu, sự tiến bộ của loài vật trên con đường tiến hoá có thể bị trì hoãn trong một thời gian vô hạn định.

“How does individualisation eventually take place? It can come about in one of two ways—through the pathway of either the heart or the head, which varies with the type of animal. It can be said that a dog most frequently passes into the human kingdom through love and/or sacrifice. Often a dog is so devoted to his master or to the family of his adoption that in an emergency his instinct of self-preservation completely deserts him and he sacrifices his life to save that of his master or a member of the family. It is not essential for the dog to have made the supreme sacrifice of its life for the group soul to individualise; when a dog has learned all the lessons it was meant to learn in the animal kingdom and when all fear of the human race has been eradicated, it would be a waste of time for the group soul to continue with more incarnations in animal form. Its destiny is then elsewhere, so a transfer to a new and more enlightened sphere of existence takes place.

“Sự biệt ngã hóa cuối cùng diễn ra như thế nào? Nó có thể xảy ra theo một trong hai cách—qua con đường của tim hoặc của đầu, tùy theo loại động vật. Có thể nói rằng chó thường đi vào giới nhân loại qua tình thương và/hoặc hi sinh. Thường khi một con chó tận tụy với chủ hay với gia đình đã nhận nuôi nó đến mức trong lúc khẩn cấp, bản năng tự bảo tồn hoàn toàn rời bỏ nó và nó hi sinh mạng sống mình để cứu chủ hay một thành viên trong gia đình. Không nhất thiết con chó phải thực hiện sự hi sinh tối thượng là mạng sống của nó thì hồn nhóm mới biệt ngã hóa; khi một con chó đã học xong mọi bài học mà nó phải học trong giới động vật và khi mọi nỗi sợ đối với nhân loại đã bị xóa sạch, thì việc hồn nhóm tiếp tục thêm những lần lâm phàm trong hình thức động vật sẽ là lãng phí thời gian. Khi ấy định mệnh của nó ở nơi khác, nên một sự chuyển dịch sang một khối cầu hiện hữu mới và giác ngộ hơn sẽ diễn ra.

“The first incarnation in a human body is not necessarily passed in a body as undeveloped as the lowest type of human being on the earth, for often the new ego, through having gained much experience in its last few lives in the animal kingdom—especially one who has given up his own life for a human—has earned the right of a human body slightly more developed than the most undeveloped type found in the world.

“Lần lâm phàm đầu tiên trong một thể người không nhất thiết phải diễn ra trong một thể kém phát triển như loại người thấp nhất trên trái đất, vì thường khi chân ngã mới, do đã thu được nhiều kinh nghiệm trong vài kiếp sống cuối của nó trong giới động vật—đặc biệt là một con đã hi sinh mạng sống mình cho con người—đã xứng đáng với quyền có một thể người phát triển hơn đôi chút so với loại kém phát triển nhất được tìm thấy trên thế giới.

“A horse individualises in a way similar to that of a dog—by outstanding devotion to its master. Often one has heard of a horse making a stupendous effort when called upon to do so, only to drop down dead when the effort has been successful.

“Một con ngựa biệt ngã hóa theo cách tương tự như chó—bằng sự tận tụy nổi bật đối với chủ của nó. Người ta thường nghe kể về một con ngựa đã nỗ lực phi thường khi được yêu cầu làm như vậy, chỉ để rồi ngã gục chết khi nỗ lực ấy thành công.

“While a dog or horse passes into the human kingdom through devotion and/or sacrifice, so a cat earns the right to live as a higher entity by learning to understand man. In olden days many philosophers said that a dog and a horse earn the right to progress by devotion whereas a cat employs cunning, the first glimmering of the faculty of reason.

“Trong khi chó hay ngựa đi vào giới nhân loại qua sự tận tụy và/hoặc hi sinh, thì mèo giành được quyền sống như một thực thể cao hơn bằng cách học hiểu con người. Thời xưa nhiều triết gia nói rằng chó và ngựa giành được quyền tiến bộ bằng sự tận tụy, còn mèo thì dùng sự ranh mãnh, tia lóe đầu tiên của năng lực lý trí.”

“We can see instances of elephants who have been trained to serve man, and monkeys who have lived in the right types of zoological gardens, who obviously qualify in this respect, and in surroundings devoid of fear they have used their brains and so can be said to understand, to a limited extent, the ways of man. Animals which miss out a life as domesticated animals go into the lowest form of human body that is known in the world. On the other hand, the group souls of many highly evolved dogs miss out having to inhabit the bodies of the lowest form of human life known, and are born into bodies of a more evolved type of man—probably as members of tribes who for generations have served mankind.

“Chúng ta có thể thấy những trường hợp voi đã được huấn luyện để phụng sự con người, và khỉ đã sống trong những loại vườn bách thú thích hợp, rõ ràng đủ điều kiện về phương diện này; trong những môi trường không có sợ hãi, chúng đã dùng bộ não của mình và vì thế có thể nói là hiểu được, ở một mức độ hạn chế, những cách thức của con người. Những con vật bỏ qua một kiếp làm thú vật được thuần dưỡng sẽ đi vào loại thể xác con người thấp nhất được biết đến trên thế giới. Mặt khác, Hồn nhóm của nhiều con chó tiến hóa cao bỏ qua việc phải cư ngụ trong những thể xác của loại đời sống con người thấp nhất được biết đến, và được sinh vào những thể xác của loại người tiến hóa hơn—có lẽ như những thành viên của các bộ lạc qua nhiều thế hệ đã phụng sự nhân loại.

“Before passing on to the early lives of the human race with its tremendous differences from life in the animal kingdom, I must mention the case of the animal which individualises as a human being whilst still occupying an animal body. The transfer from the animal sphere to the human must take place when the right time comes when all fear is gone, and when the love side of the animal has been sufficiently developed. In a case where one dog, which is half a group soul, has died a natural death and where the second half of the group soul, another dog, remains alive but has no more lessons to learn, this dog becomes a human being in everything other than form. Doubtless you have come across cases where a dog in later life seemed ‘almost human,’ where it appeared to understand almost every word that was said to it and where its uncanny understanding of your thoughts and actions savoured of an intuition beyond what you imagined to be possible in an animal. Such a dog is in fact a ‘human dog;’ an animal in form, but a human in intelligence and one able to reason and make decisions for which it alone would be responsible.

“Trước khi chuyển sang những kiếp sống đầu tiên của nhân loại với những khác biệt to lớn của nó so với đời sống trong giới động vật, tôi phải đề cập đến trường hợp con vật biệt ngã hóa thành một con người trong khi vẫn còn chiếm giữ một thể động vật. Sự chuyển dịch từ lĩnh vực động vật sang nhân loại phải diễn ra khi thời điểm thích hợp đến, khi mọi sợ hãi đã biến mất, và khi phương diện bác ái của con vật đã được phát triển đầy đủ. Trong trường hợp một con chó, là một nửa của Hồn nhóm, đã chết một cách tự nhiên và nửa còn lại của Hồn nhóm, một con chó khác, vẫn còn sống nhưng không còn bài học nào để học nữa, thì con chó này trở thành một con người trong mọi phương diện ngoại trừ hình tướng. Hẳn là bạn đã từng gặp những trường hợp một con chó về cuối đời dường như ‘gần như là người,’ dường như hiểu gần như mọi lời người ta nói với nó và sự thấu hiểu kỳ lạ của nó đối với tư tưởng và hành động của bạn mang dáng dấp của một trực giác vượt quá điều bạn tưởng là có thể nơi một con vật. Thật ra, một con chó như thế là một ‘con chó-người;’ là động vật về hình tướng, nhưng là con người về trí tuệ và có khả năng lý luận cũng như đưa ra những quyết định mà chỉ riêng nó phải chịu trách nhiệm.

“The main difference between a human being and an animal is the faculty of reason—and with it the gifts of free will. A man knows the difference between right and wrong; even in his early lives as a human being he can make his own decisions, whereas an animal has to obey the laws of the animal world. An animal lives by instinct, and outside the limits of instinct it cannot think. A man can choose the evil path, even though he knows it is evil and against the progressive forces that rule the world, but an animal must ever act as its instinct compels it—for such is the Law.”

“Sự khác biệt chính giữa con người và con vật là năng lực lý trí—và cùng với nó là những ân huệ của ý chí tự do. Con người biết sự khác nhau giữa đúng và sai; ngay cả trong những kiếp đầu tiên làm người, y cũng có thể tự đưa ra quyết định của mình, trong khi con vật phải tuân theo các định luật của thế giới động vật. Con vật sống bằng bản năng, và ngoài giới hạn của bản năng, nó không thể suy nghĩ. Con người có thể chọn con đường ác, dù y biết đó là ác và đi ngược lại những mãnh lực tiến hóa cai quản thế giới, nhưng con vật thì luôn luôn phải hành động theo điều bản năng thúc ép nó—vì quy luật là như vậy.”

Once again I did not see him go, for my mind was so full of these strange ideas. I decided to write down everything I could remember of these two talks and came to the conclusion that I would make shorthand notes of all future talks.

Một lần nữa tôi đã không thấy ông ấy rời đi, vì trí tôi đầy ắp những ý tưởng kỳ lạ này. Tôi quyết định viết lại mọi điều tôi có thể nhớ được từ hai cuộc nói chuyện này và đi đến kết luận rằng tôi sẽ ghi tốc ký tất cả những cuộc nói chuyện sau này.

Chapter 2

“So you have been writing down what I have said to you; that is good.”

“Vậy là anh đã viết lại những gì tôi đã nói với anh; điều đó tốt.”

Today again I had not seen my teacher enter, for I was re-reading through the notes I had made.

Hôm nay nữa tôi lại không thấy vị thầy của mình bước vào, vì tôi đang đọc lại những ghi chép mình đã thực hiện.

“Yes,” I answered, “but how did you know what I had been doing?”

“Vâng,” tôi đáp, “nhưng làm sao ông biết tôi đã làm gì?”

“You told me so yourself last night, when you were asleep and out of your body,” he replied. “I do not propose to explain to you now how you told me last night that you had decided to keep a full record of my talks. When I have finished my visits, you will understand everything so clearly that you will be able to answer such questions yourself.”

“Chính anh đã tự nói với tôi như thế tối qua, khi anh đang ngủ và ra ngoài thể xác của mình,” ông đáp. “Bây giờ tôi không định giải thích cho anh cách mà tối qua anh đã nói với tôi rằng anh quyết định giữ một bản ghi chép đầy đủ về những cuộc nói chuyện của tôi. Khi tôi kết thúc những lần viếng thăm của mình, anh sẽ hiểu mọi sự rõ ràng đến mức chính anh sẽ có thể tự trả lời những câu hỏi như thế.”

He was enthusiastic about my decision to take notes and told me that he would be only too pleased to add to my record of the past two days. I noticed that he did not alter a single word of my script so far as the record had gone, but he spent some little time in filling in the blanks I had left when I could not remember facts exactly.

Ông rất tán thành quyết định ghi chép của tôi và nói rằng ông sẽ hết sức vui lòng bổ sung vào bản ghi chép của tôi về hai ngày vừa qua. Tôi nhận thấy rằng ông không sửa đổi một lời nào trong bản thảo của tôi ở phần đã được ghi lại, nhưng ông dành một ít thời gian để điền vào những chỗ trống tôi đã để lại khi không thể nhớ chính xác các sự kiện.

“You will remember I told you that the keynote of the animal kingdom was self-preservation. How different is the keynote of the human kingdom, for it is self-sacrifice. Although this is the important standard for any human life, there are other laws which must be understood by those who seek to discover the secrets of the evolutionary path. These are, of course, different from those governing animals and yet, for the first few lives lived by the unevolved man, he is more animal than man. Although he has shaken off his fear of man, the practices brought over from the animal kingdom, where he took what he could by virtue of his brain power or his physical strength, still persist.

“Anh sẽ nhớ rằng tôi đã nói với anh chủ âm của giới động vật là sự tự bảo tồn. Chủ âm của giới nhân loại khác biết bao, vì đó là sự hi sinh bản thân. Mặc dù đây là tiêu chuẩn quan trọng đối với bất kỳ đời sống con người nào, vẫn còn những định luật khác phải được thấu hiểu bởi những ai tìm cách khám phá các bí mật của con đường tiến hoá. Dĩ nhiên, những định luật này khác với những định luật chi phối loài vật, tuy nhiên trong vài kiếp đầu tiên của con người chưa tiến hóa, y vẫn là thú nhiều hơn là người. Dù y đã gạt bỏ nỗi sợ con người, những tập quán mang theo từ giới động vật, nơi y lấy bất cứ gì có thể bằng sức mạnh trí tuệ hay sức mạnh thể xác của mình, vẫn còn tồn tại.

“The first important law which operates in the human kingdom is the law of reincarnation. This law asserts that an ego, once individualised, returns again and again to incarnate in a human physical body until such time as he had learned, by experience in all types of surroundings, all the lessons that can be learned under physical conditions. When the life force progresses through the mineral and vegetable kingdoms, this law exists to a limited extent, but it is not very apparent. In the animal kingdom it also exists, still only to a limited extent as there are as yet no separate entities, but it unfolds itself during the period of evolution after the ego has individualised into the human kingdom.

“Định luật quan trọng đầu tiên vận hành trong giới nhân loại là định luật luân hồi. Định luật này khẳng định rằng một chân ngã, một khi đã biệt ngã hóa, sẽ trở lại hết lần này đến lần khác để nhập thể trong một thể xác hồng trần của con người cho đến khi y đã học được, qua kinh nghiệm trong mọi loại hoàn cảnh, tất cả những bài học có thể học được dưới các điều kiện hồng trần. Khi sự sống tiến triển qua giới kim thạch và giới thực vật, định luật này tồn tại ở một mức độ hạn chế, nhưng không biểu lộ rõ rệt lắm. Trong giới động vật nó cũng tồn tại, vẫn chỉ ở một mức độ hạn chế vì chưa có những thực thể riêng biệt, nhưng nó khai mở trong thời kỳ tiến hoá sau khi chân ngã đã biệt ngã hóa vào giới nhân loại.

“The second important law, which operates for humans though not for animals, is the law of karma, often referred to as the law of cause and effect. From the moment that the group soul becomes a separate ego, this Law operates. The law of karma decrees that every thought, word or action that emanates from man must produce a definite result—either good or bad—and that result must be worked out by us in our lives at the physical level. There is nothing unfair in this, for as the Christian teaching has it, ‘as you sow, so shall you reap.’

“Định luật quan trọng thứ hai, vận hành đối với con người nhưng không đối với loài vật, là định luật nghiệp quả, thường được gọi là định luật nhân quả. Từ khoảnh khắc Hồn nhóm trở thành một chân ngã riêng biệt, Định luật này bắt đầu vận hành. Định luật nghiệp quả quy định rằng mọi tư tưởng, lời nói hay hành động phát ra từ con người đều phải tạo ra một kết quả xác định—hoặc tốt hoặc xấu—và kết quả ấy phải được chúng ta giải quyết trong các kiếp sống của mình ở cấp độ hồng trần. Trong điều này không có gì là bất công, vì như giáo huấn Cơ Đốc đã nói, ‘bạn gieo gì, anh sẽ gặt nấy.’

“According to the law of karma, a selfish act on your part which causes untold misery to another soul, earns a unit of bad karma which must be paid for by your suffering from a similar action at the hand of another, either in this life or in a life to come. In like manner a kind act on your part means that a unit of good karma has been earned by you, the result of which must be either a wiping off of a unit of bad karma made by you—the good offsetting the bad—or the gift of the same amount of kindness from a different source. When a new ego starts his human lives, the number of foolish or evil actions, thoughts and words naturally far exceed those of a beneficent kind and if the law worked literally, the man would lead a life of perpetual misery and suffering, caused entirely by his own actions, thoughts and words, each producing its just result. Such a life would be intolerable and impossible to live; suicide would soon become the practice amongst young souls. A more humane method is adopted however whereby, in any one life, no man is expected to suffer more than he can stand, and the units of bad karma made by him in that life through inexperience, and which have not been paid off or negatived by similar units of good karma, are carried forward for working out in future lives. The result of this arrangement, which may be likened to a bank overdraft, is that during the first two hundred or more incarnations the man continually adds to that overdraft. But all this time he is creating what we call the voice of conscience. As that still small voice is built up by the experiences the ego gleans in his different human bodies, it does not operate appreciably for many lives.

“Theo định luật nghiệp quả, một hành động ích kỷ của anh gây nên nỗi khổ không kể xiết cho một linh hồn khác sẽ tạo ra một đơn vị nghiệp xấu, và đơn vị ấy phải được trả bằng việc anh chịu đau khổ do một hành động tương tự từ tay người khác, hoặc trong kiếp này hoặc trong một kiếp tương lai. Cũng theo cách ấy, một hành động tử tế của anh có nghĩa là anh đã tạo được một đơn vị nghiệp tốt, kết quả của nó hoặc là xóa đi một đơn vị nghiệp xấu do anh tạo ra—điều tốt hóa giải điều xấu—hoặc là món quà của một lượng tử tế tương đương từ một nguồn khác. Khi một chân ngã mới bắt đầu những kiếp sống làm người của mình, số lượng những hành động, tư tưởng và lời nói ngu xuẩn hay xấu ác dĩ nhiên vượt xa những điều thuộc loại thiện lành; và nếu định luật vận hành theo nghĩa đen, con người sẽ sống một đời khổ đau và bất hạnh liên miên, hoàn toàn do chính hành động, tư tưởng và lời nói của mình gây ra, mỗi thứ đều tạo nên kết quả công bằng của nó. Một đời sống như thế sẽ không thể chịu đựng nổi và không thể sống được; tự sát chẳng bao lâu sẽ trở thành thông lệ nơi những linh hồn trẻ. Tuy nhiên, một phương pháp nhân đạo hơn được áp dụng, theo đó trong bất kỳ một kiếp nào, không ai bị buộc phải chịu đựng nhiều hơn mức mình có thể chịu nổi, và những đơn vị nghiệp xấu do y tạo ra trong kiếp ấy vì thiếu kinh nghiệm, mà chưa được trả hết hay chưa được hóa giải bởi những đơn vị nghiệp tốt tương ứng, sẽ được chuyển sang để giải quyết trong các kiếp tương lai. Kết quả của sự sắp đặt này, có thể ví như một khoản thấu chi ngân hàng, là trong hai trăm lần nhập thể đầu tiên hoặc hơn, con người liên tục cộng thêm vào khoản thấu chi ấy. Nhưng trong suốt thời gian đó y đang tạo ra điều mà chúng ta gọi là tiếng nói lương tâm. Vì tiếng nói nhỏ nhẹ ấy được xây dựng từ những kinh nghiệm mà chân ngã thu lượm trong các thể người khác nhau của mình, nên nó không vận hành rõ rệt trong nhiều kiếp.

“Here is an example: An unevolved man, knowing little of the ways of the human but much of the ways of the animal world, desires to possess something owned by another. His animal instinct is to take that which he desires by force. If he is strong enough he tries to do so; a fight ensues resulting in the death of another human being. The laws governing man then come into force; the murderer is arrested, tried and put to death. The reservoir of knowledge, which exists at the higher mental level, notes the result of such an action and in a future life, when the same man in a different body wishes to possess something owned by another, he is warned by the voice of experience, his conscience, that if he kills his enemy, he himself will suffer the same fate at the hands of the State. In this manner, gradually, the reservoir of knowledge is built up, each major happening in the lives lived being registered for the purpose of a warning in a life to come. From this simple explanation it can easily be understood that a man who has a sensitive conscience and who listens to it, must be an old soul, for he could not have an efficient conscience unless he had much experience in the past lives in which his conscience, or reservoir of knowledge, was built up.

“Đây là một ví dụ: Một người chưa tiến hóa, biết rất ít về những cách thức của con người nhưng biết nhiều về những cách thức của thế giới động vật, mong muốn chiếm hữu một thứ thuộc về người khác. Bản năng động vật của y là dùng vũ lực để lấy điều mình ham muốn. Nếu đủ mạnh, y sẽ cố làm như vậy; một cuộc đánh nhau xảy ra dẫn đến cái chết của một con người khác. Khi ấy những định luật chi phối con người bắt đầu có hiệu lực; kẻ sát nhân bị bắt, bị xét xử và bị xử tử. Kho tri thức, vốn tồn tại ở cấp độ cõi thượng trí, ghi nhận kết quả của một hành động như thế và trong một kiếp tương lai, khi cùng người ấy trong một thể xác khác lại muốn chiếm hữu một thứ thuộc về người khác, y sẽ được cảnh báo bởi tiếng nói của kinh nghiệm, lương tâm của y, rằng nếu y giết kẻ thù của mình, chính y sẽ chịu cùng số phận dưới tay Nhà nước. Theo cách này, dần dần, kho tri thức được xây dựng nên, mỗi biến cố lớn trong các kiếp sống đã qua đều được ghi lại nhằm mục đích cảnh báo trong một kiếp tương lai. Từ lời giải thích đơn giản này, có thể dễ dàng hiểu rằng một người có lương tâm nhạy bén và biết lắng nghe nó hẳn phải là một linh hồn già, vì y không thể có một lương tâm hữu hiệu nếu không có nhiều kinh nghiệm trong các kiếp quá khứ, nơi lương tâm của y, hay kho tri thức của y, đã được xây dựng.

“For perhaps two hundred lives, each life lived produces more units of bad karma than good. Some are paid off in each life through suffering and misfortune, but the balance is transferred to the overdraft. As the ego becomes more evolved (really more experienced) common sense teaches him that evil produces trouble for himself whereas good and kind actions result in happiness and the accumulation of friends. In this manner he evolves to a stage where the number of units of bad karma made in a single life is exceeded by the number of units of good karma earned by good actions; this constitutes a very important stage in a man’s development, because from this point on, he becomes a really useful and valuable member of society. In all his future lives, before the new incarnation commences, a small percentage of his overdraft is allotted to him for paying off in that particular life, and that quota must be paid off, in addition to any units of evil karma made in the life itself. Positive acts of kindness will bring him much happiness and help him along the road.

“Trong khoảng hai trăm kiếp, mỗi kiếp sống tạo ra nhiều đơn vị nghiệp xấu hơn nghiệp tốt. Một số được trả trong mỗi kiếp qua đau khổ và bất hạnh, nhưng phần còn lại được chuyển vào khoản thấu chi. Khi chân ngã trở nên tiến hóa hơn (thật ra là nhiều kinh nghiệm hơn), lẽ thường dạy cho y rằng điều ác gây rắc rối cho chính mình, trong khi những hành động tốt và tử tế đem lại hạnh phúc và sự tích lũy anh bè. Theo cách này y tiến hóa đến một giai đoạn mà số đơn vị nghiệp xấu tạo ra trong một kiếp đơn lẻ bị vượt qua bởi số đơn vị nghiệp tốt đạt được nhờ những hành động thiện; điều này tạo thành một giai đoạn rất quan trọng trong sự phát triển của con người, bởi vì từ điểm này trở đi, y trở thành một thành viên thật sự hữu ích và có giá trị của xã hội. Trong tất cả các kiếp tương lai của y, trước khi sự nhập thể mới bắt đầu, một tỉ lệ nhỏ của khoản thấu chi ấy được phân cho y để trả trong kiếp đặc biệt đó, và phần định mức ấy phải được thanh toán, ngoài bất kỳ đơn vị nghiệp ác nào được tạo ra trong chính kiếp sống ấy. Những hành động tử tế tích cực sẽ mang lại cho y nhiều hạnh phúc và giúp y tiến bước trên đường.

“In ways such as these, all natural laws can be seen to dovetail one into another, rather like the pieces of a jigsaw puzzle. My task is to present to you the pieces of this puzzle, with which you must eventually learn to make a picture.

“Theo những cách như thế, có thể thấy mọi định luật tự nhiên đều ăn khớp với nhau, khá giống như những mảnh của một trò ghép hình. Nhiệm vụ của tôi là trình bày cho anh những mảnh ghép của bức tranh này, mà cuối cùng anh phải học cách ghép thành một hình ảnh.

“In order that you may understand how it is possible for the members of the human kingdom to gain all their necessary experience, I want you to accept the following propositions.

“Để anh có thể hiểu làm sao các thành viên của giới nhân loại có thể đạt được mọi kinh nghiệm cần thiết của mình, tôi muốn anh chấp nhận những mệnh đề sau đây.

“1. That man is an ego, or soul, and in the course of his evolution from an undeveloped state, the savage, to that of a perfect man, he has to use three vehicles of consciousness, or bodies. These are known as the mental or mind body, the astral or emotional body and the physical body; the last is the one which you and I are functioning in and which is visible to the human eye.

“1. Rằng con người là một chân ngã, hay linh hồn, và trong tiến trình tiến hoá từ một trạng thái chưa phát triển, người man dã, đến trạng thái con người hoàn hảo, y phải sử dụng ba vận cụ tâm thức, hay ba thể. Chúng được biết đến là thể trí hay thể của trí tuệ, thể cảm dục hay thể cảm xúc, và thể xác; thể sau cùng là thể mà anh và tôi đang hoạt động trong đó và có thể nhìn thấy bằng mắt người.

“2. That these three bodies are used by us when functioning in the three different states of consciousness, which are the mental plane, the astral plane and the physical plane.

“2. Rằng ba thể này được chúng ta sử dụng khi hoạt động trong ba trạng thái tâm thức khác nhau, đó là cõi trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần.

“3. That the home of the ego, around which these bodies are drawn, is the upper part of the mental world. This is known as the casual level.

“3. Rằng nơi cư ngụ của chân ngã, quanh đó các thể này được thu hút lại, là phần trên của thế giới trí tuệ. Điều này được gọi là cấp độ nguyên nhân.

“When the ego starts from the casual level for a new incarnation, he has to have one of each of these three bodies. I want you to visualise the ego as a naked man, preparing to clothe himself with his three coverings or bodies. The least dense in texture is the mental body, and this the ego draws round himself from the matter of which the mental world is constructed; this can be likened to the underclothes of a man. The type of mental body that each can get is in accordance with his mental development at the end of his last incarnation, so obviously the mental body of an unevolved man is very different from that of an evolved being, an old soul, one who has had many lives and has gained much experience. The ego next draws around himself a slightly coarser vehicle, made of the matter of the astral world. This body is, as it were, on top of or outside the mental body, and the type of the body is again in accordance with the man’s emotional development. The astral body therefore can be likened to the man’s suit of clothes. A still coarser and denser body is now required and to obtain this, a body has to be found by physical means at the physical level. In other words, a woman, with the assistance of a man, produces a child. This new physical body is also in accordance with the man’s deserts, with his karma made in previous lives. The physical body corresponds to the man’s overcoat.

“Khi chân ngã khởi hành từ cấp độ nguyên nhân cho một lần nhập thể mới, y phải có một trong mỗi loại của ba thể này. Tôi muốn anh hình dung chân ngã như một người trần truồng, đang chuẩn bị khoác lên mình ba lớp bao bọc hay ba thể. Ít đậm đặc nhất về kết cấu là thể trí, và chân ngã thu hút nó quanh mình từ vật chất mà thế giới trí tuệ được cấu tạo nên; điều này có thể ví như đồ lót của một người. Loại thể trí mà mỗi người có thể có phù hợp với sự phát triển trí tuệ của y vào cuối lần nhập thể trước, vì thế hiển nhiên thể trí của một người chưa tiến hóa rất khác với thể trí của một hữu thể tiến hóa, một linh hồn già, một người đã có nhiều kiếp sống và đã đạt được nhiều kinh nghiệm. Kế đó chân ngã thu hút quanh mình một vận cụ hơi thô hơn, được tạo nên từ vật chất của thế giới cảm dục. Thể này, có thể nói, ở trên hay bên ngoài thể trí, và loại thể ấy lại một lần nữa phù hợp với sự phát triển cảm xúc của con người. Vì vậy thể cảm dục có thể được ví như bộ quần áo của người ấy. Giờ đây cần đến một thể còn thô và đậm đặc hơn nữa, và để có được điều này, một thể phải được tìm thấy bằng phương tiện hồng trần ở cấp độ hồng trần. Nói cách khác, một người phụ nữ, với sự trợ giúp của một người đàn ông, sinh ra một đứa trẻ. Thể xác mới này cũng phù hợp với những gì con người xứng đáng nhận, với nghiệp quả mà y đã tạo trong các kiếp trước. Thể xác tương ứng với chiếc áo khoác ngoài của con người.

“So every man you see at the physical level is, as it were, wearing three bodies, each one under the other, but owing to the density of the outside body, the physical, it is impossible to see the other two. When a man dies, all that happens is that he drops his physical body—his overcoat. The man is still there, clothed in his astral and mental bodies; the astral being the denser is on the outside, the mental is under the astral. Before I explain what actually happens after death, I must tell you a little more about bodies.

“Vì thế, mỗi người mà anh thấy ở cấp độ hồng trần, có thể nói, đang mặc ba thể, thể này ở dưới thể kia, nhưng do sự đậm đặc của thể bên ngoài, tức thể xác, nên không thể nhìn thấy hai thể kia. Khi một người chết, tất cả những gì xảy ra là y bỏ lại thể xác của mình—chiếc áo khoác ngoài của y. Con người ấy vẫn còn đó, được bao bọc trong thể cảm dục và thể trí; thể cảm dục vì đậm đặc hơn nên ở bên ngoài, còn thể trí ở dưới thể cảm dục. Trước khi tôi giải thích điều gì thực sự xảy ra sau khi chết, tôi phải nói với anh thêm một chút về các thể.

“The physical body, that which we all see with our eyes, is composed of fairly dense physical matter, but there is also a less dense part of that body, called the etheric double (in ancient Egypt it was referred to as the Ka) which plays a very important part both during the lifetime and at the death of our physical vehicle. It is not a body in the ordinary sense of the word in that you cannot live in it, as you can in your physical body; you cannot even see it, unless you have developed the lowest form of clairvoyance—which is called etheric sight.

“Thể xác, tức thể mà tất cả chúng ta đều nhìn thấy bằng mắt, được cấu tạo từ vật chất hồng trần khá đậm đặc, nhưng cũng có một phần ít đậm đặc hơn của thể ấy, được gọi là bản sao dĩ thái (ở Ai Cập cổ đại nó được gọi là Ka) đóng một vai trò rất quan trọng cả trong suốt đời sống lẫn vào lúc chết của vận cụ hồng trần của chúng ta. Nó không phải là một thể theo nghĩa thông thường của từ này, ở chỗ anh không thể sống trong nó như anh có thể sống trong thể xác của mình; anh thậm chí không thể nhìn thấy nó, trừ phi anh đã phát triển hình thức thông nhãn thấp nhất—được gọi là thị giác dĩ thái.

“The matter of which this etheric body is composed also surrounds our nerves. There is a concept of electricity that the current runs not along the wire but along a coating of etheric matter which surrounds it. That is true also of the nerve action of the body; the nerve currents do not actually run along the white thread of the physical nerve, but along a coating of etheric matter which surrounds it, so that if this coating is removed from the physical nerve, we do not get any sensation. This is what happens when an anæsthetic is used. In the case of a local anæsthetic, the etheric matter which conducts the feeling is driven away a short distance from the particular nerve; the white nerve is still there, plain to see, yet when it is cut, the patient feels nothing. When a much more powerful general anæsthetic is given for a major operation, which necessitates the patient being unconscious and devoid of feeling for a considerable time, the etheric matter is driven away almost entirely from the dense body. If it is entirely driven out, then the patient dies; this is what has happened when a patient occasionally dies while under the effect of an anaesthetic. A little too much has been given and the etheric matter which has been driven out cannot get back.

“Vật chất cấu tạo nên thể dĩ thái này cũng bao quanh các dây thần kinh của chúng ta. Có một quan niệm về điện rằng dòng điện không chạy dọc theo dây dẫn mà chạy dọc theo một lớp vật chất dĩ thái bao quanh nó. Điều đó cũng đúng với hoạt động thần kinh của thể xác; các dòng thần kinh thực ra không chạy dọc theo sợi trắng của dây thần kinh hồng trần, mà chạy dọc theo một lớp vật chất dĩ thái bao quanh nó, đến nỗi nếu lớp này bị lấy khỏi dây thần kinh hồng trần, chúng ta sẽ không còn cảm giác nào nữa. Đó là điều xảy ra khi thuốc gây mê được sử dụng. Trong trường hợp gây tê cục bộ, vật chất dĩ thái dẫn truyền cảm giác bị đẩy ra xa một khoảng ngắn khỏi dây thần kinh đặc biệt ấy; dây thần kinh trắng vẫn còn đó, thấy rõ ràng, nhưng khi nó bị cắt, bệnh nhân không cảm thấy gì. Khi một loại thuốc mê toàn thân mạnh hơn nhiều được dùng cho một cuộc đại phẫu, khiến bệnh nhân phải bất tỉnh và mất cảm giác trong một thời gian đáng kể, vật chất dĩ thái bị đẩy ra gần như hoàn toàn khỏi thể đậm đặc. Nếu nó bị đẩy ra hoàn toàn, bệnh nhân sẽ chết; đó là điều đã xảy ra khi đôi khi một bệnh nhân chết dưới tác dụng của thuốc mê. Người ta đã cho hơi quá liều và vật chất dĩ thái đã bị đẩy ra không thể quay trở lại.

“This etheric matter, gossamer in texture and extremely elastic, which is such an important part of the physical body, has another function. It acts as a liaison or link between the physical and the astral bodies during sleep. When you, the ego, disconnect yourself from your physical body, lying on the bed, a cord of etheric matter attached to your astral body, with its main bulk remaining in and around the physical body, stretches out as you travel to any part of the world that you wish; however far you go this physical link with your body on the bed remains. When the time comes for the body to awaken, an S.O.S. is sent out along this etheric cord to you, wherever you are, and you must return to your physical body and re-enter it; then ‘wake up’ and carry on with your duties at this level.

“Vật chất dĩ thái này, mỏng như tơ nhện và cực kỳ co giãn, vốn là một phần quan trọng như thế của thể xác, còn có một chức năng khác. Nó hoạt động như một mối liên lạc hay chiếc cầu nối giữa thể xác và thể cảm dục trong khi ngủ. Khi anh, chân ngã, tách mình ra khỏi thể xác đang nằm trên giường, một sợi dây vật chất dĩ thái gắn với thể cảm dục của anh, với phần lớn khối lượng chính của nó vẫn còn ở trong và quanh thể xác, sẽ kéo dài ra khi anh du hành đến bất cứ nơi nào trên thế giới mà anh muốn; dù anh đi xa đến đâu, mối liên kết hồng trần này với thể xác trên giường của anh vẫn còn nguyên. Khi đến lúc thể xác thức dậy, một tín hiệu S.O.S. được gửi dọc theo sợi dây dĩ thái này đến anh, ở bất cứ nơi nào anh đang ở, và anh phải trở về thể xác của mình và nhập lại vào đó; rồi ‘thức dậy’ và tiếp tục những bổn phận của mình ở cấp độ này.

“When you go to sleep, you, the ego, slip out of your physical body at the moment when it loses consciousness; you are clothed in your astral body and living in the astral world, under astral plane conditions. You are free to go wherever you will, leaving your physical body on the bed, where it is resting and gaining strength for the next day’s work. It is only the limited physical body which requires rest, in the same way that it requires regular food and drink to sustain it in health and life; you, the ego, need no rest. In your astral body you move about quite easily and can travel to any distance. At the astral level the force of gravity does not exist, so you glide along and it makes no difference whether it is land or sea that you are crossing as you are not affected by either. The distance you can cover in the few short hours that the physical body is resting, is more or less unlimited; when I tell you that you can travel round the world in about two-and-a-half minutes it gives you some idea of the speed that can be attained.

“Khi anh đi ngủ, anh, chân ngã, trượt ra khỏi thể xác của mình vào khoảnh khắc nó mất tâm thức; anh được bao bọc trong thể cảm dục và sống trong thế giới cảm dục, dưới những điều kiện của cõi cảm dục. anh tự do đi đến bất cứ nơi nào mình muốn, để lại thể xác trên giường, nơi nó đang nghỉ ngơi và lấy lại sức cho công việc ngày hôm sau. Chỉ có thể xác giới hạn mới cần nghỉ ngơi, cũng như nó cần thức ăn và đồ uống đều đặn để duy trì sức khỏe và sự sống; còn anh, chân ngã, thì không cần nghỉ ngơi. Trong thể cảm dục của mình, anh di chuyển khá dễ dàng và có thể đi đến bất kỳ khoảng cách nào. Ở cấp độ cảm dục, lực hấp dẫn không tồn tại, vì thế anh lướt đi và không có gì khác biệt dù anh đang băng qua đất liền hay biển cả vì anh không bị ảnh hưởng bởi cả hai. Quãng đường anh có thể đi trong vài giờ ngắn ngủi khi thể xác đang nghỉ ngơi gần như là vô hạn; khi tôi nói với anh rằng anh có thể đi vòng quanh thế giới trong khoảng hai phút rưỡi, điều đó cho anh một ý niệm nào đó về tốc độ có thể đạt được.

“The astral body, which is composed of much finer matter than the physical one, is drawn round the ego on his way down into incarnation. It fills what we call the causal body, forming an ovoid of luminous mist. But the physical body, being denser, has a very strong attraction for the astral matter, and draws this closer to it, so that we have an astral reproduction of the physical form in the centre of that ovoid, and there the astral body is just as recognisable by features as the physical body, only it is built of finer matter. When the physical body dies, there is no longer any need for the astral body to adapt itself, so the tendency is for it to remain exactly as it was at the time when the physical body ceased to exist, and not grow any larger. The reason for this is that the astral body is not a vehicle with organs, bones, flesh and blood like the physical, but rather a body of mist.

“Thể cảm dục, được cấu tạo từ vật chất tinh tế hơn nhiều so với thể xác, được thu hút quanh chân ngã trên đường đi xuống nhập thể. Nó lấp đầy điều mà chúng ta gọi là thể nguyên nhân, tạo thành một hình trứng bằng sương mù phát sáng. Nhưng thể xác, vì đậm đặc hơn, có một sức hút rất mạnh đối với vật chất cảm dục, và kéo vật chất này lại gần nó hơn, đến nỗi chúng ta có một sự tái tạo cảm dục của hình thể hồng trần ở trung tâm của hình trứng ấy, và ở đó thể cảm dục cũng có thể được nhận ra qua các nét đặc trưng giống như thể xác, chỉ khác là nó được xây dựng bằng vật chất tinh tế hơn. Khi thể xác chết, thể cảm dục không còn cần phải thích nghi nữa, nên khuynh hướng là nó giữ nguyên đúng như lúc thể xác chấm dứt tồn tại, và không lớn thêm nữa. Lý do là vì thể cảm dục không phải là một vận cụ có cơ quan, xương, thịt và máu như thể xác, mà đúng hơn là một thể bằng sương mù.

“During his lifetime a man has the opportunity of living under astral plane conditions every time his body is asleep, but in actual fact it is only the man whose standing in evolution is above the average who takes full advantage of these opportunities. The young soul, or unevolved ego, certainly gets out of his body during sleep—he cannot help doing so—but his intelligence (mental or mind body) is not sufficiently developed to furnish him with the amount of knowledge necessary before he can use all his faculties to their highest extent. Therefore he usually hangs about near his sleeping body, waiting for the call to re-enter it when it has slept long enough and wishes to wake—thus he can never become accustomed to astral plane conditions in the same way as the older ego. When a man of this type dies and no longer has a physical body, he feels that he is in a completely strange world. There are times, immediately after death, when such a man craves for the physical life which he knows, but he can do nothing to regain it—for when the etheric matter has all been withdrawn from a physical body, it cannot be put back.

“Trong suốt đời sống của mình, con người có cơ hội sống dưới những điều kiện của cõi cảm dục mỗi khi thể xác của y ngủ, nhưng trên thực tế chỉ có người có vị trí tiến hóa cao hơn mức trung bình mới tận dụng đầy đủ những cơ hội ấy. Linh hồn trẻ, hay chân ngã chưa tiến hóa, chắc chắn ra khỏi thể xác của mình trong khi ngủ—y không thể không làm như vậy—nhưng trí tuệ của y (thể trí hay thể của trí tuệ) chưa phát triển đủ để cung cấp cho y lượng tri thức cần thiết trước khi y có thể sử dụng mọi năng lực của mình đến mức cao nhất. Vì thế y thường quanh quẩn gần thể xác đang ngủ của mình, chờ tiếng gọi để nhập lại vào đó khi nó đã ngủ đủ lâu và muốn thức dậy—do đó y không bao giờ có thể quen với những điều kiện của cõi cảm dục theo cùng cách như chân ngã già hơn. Khi một người thuộc loại này chết và không còn thể xác nữa, y cảm thấy mình đang ở trong một thế giới hoàn toàn xa lạ. Có những lúc, ngay sau khi chết, một người như thế thèm khát đời sống hồng trần mà y biết, nhưng y không thể làm gì để lấy lại nó—vì khi vật chất dĩ thái đã hoàn toàn rút khỏi một thể xác, nó không thể được đưa trở lại.

“Death of the physical body is caused in numerous ways by illness: when the body finds it impossible to function properly; by old age, when the body is worn out; by accidents in which the vital parts of the body have been irretrievably damaged. In all such cases the etheric part of the physical body has been forced out of the dense part, merely because the dense body can no longer perform its proper functions, and without this body, the etheric double cannot live. At the moment of death, when the heart ceases to beat, the etheric double registers extreme fear and wraps itself round the outside of the astral body in which the man is standing, since he was forced out of the physical body at the time death took place. The etheric part of the physical body knows that the death of the denser part means also death for itself and, in its desire to continue its existence, it clings to the astral body of the man, hoping to survive longer. By an effort of will the man can easily rid himself of this encumbrance. Until he does, he is suspended between the two worlds of consciousness; he cannot function on the physical plane, for he has lost his physical body, and he cannot function properly on the astral plane, because the clinging etheric matter makes it impossible for him either to see or hear properly.

“Cái chết của thể xác xảy ra theo nhiều cách do bệnh tật: khi thể xác thấy không thể hoạt động đúng đắn; do tuổi già, khi thể xác đã hao mòn; do tai nạn trong đó những phần thiết yếu của thể xác đã bị hư hại không thể cứu vãn. Trong tất cả những trường hợp như thế, phần dĩ thái của thể xác đã bị ép ra khỏi phần đậm đặc, đơn giản vì thể đậm đặc không còn có thể thực hiện đúng các chức năng của nó nữa, và không có thể này, bản sao dĩ thái không thể sống. Vào khoảnh khắc chết, khi tim ngừng đập, bản sao dĩ thái ghi nhận một nỗi sợ hãi cực độ và quấn lấy bên ngoài thể cảm dục mà con người đang đứng trong đó, vì y đã bị ép ra khỏi thể xác vào lúc cái chết xảy ra. Phần dĩ thái của thể xác biết rằng cái chết của phần đậm đặc hơn cũng có nghĩa là cái chết của chính nó, và trong mong muốn tiếp tục tồn tại, nó bám vào thể cảm dục của con người, hy vọng sống lâu hơn. Bằng một nỗ lực ý chí, con người có thể dễ dàng loại bỏ gánh nặng này. Cho đến khi y làm như vậy, y bị treo lơ lửng giữa hai thế giới tâm thức; y không thể hoạt động trên cõi hồng trần, vì y đã mất thể xác, và y cũng không thể hoạt động đúng đắn trên cõi cảm dục, vì vật chất dĩ thái bám chặt khiến y không thể nhìn hay nghe cho rõ.

“Men who die fearing death often refuse to make the necessary effort of will, which they are told to make by friends who meet them on the other side, but hang on to the remaining particles of physical matter in the hope of continuing their physical existence, the physical life being the only one they know. It is no use fighting, of course, for sooner or later they must let go and make the effort of will that I have mentioned—resisting the inevitable only causes them to be suspended between the two worlds for a much longer time than is necessary. A man who has acquired some knowledge of the subject of death by studying cognate subjects during his lifetime, will at once shake himself free from this encumbrance and take up his life again under what I may perhaps call permanent astral conditions. I say ‘permanent’ because now that he has lost his physical body and will not get another until the time is ripe for him to reincarnate again and spend another short period of time in the physical world, he will be living under astral plane conditions during the day as well as during the night. Immediately the effort of will to get rid of the etheric double is made, the etheric matter falls away and starts to disintegrate in much the same way that the dense physical body disintegrates, but whilst it may be months or years before the disintegration of the physical body is complete, the etheric part of it, being much finer and lighter in weight, returns to dust almost immediately. Now that the physical body is no longer attached, the ego is clothed in his astral body and will function in this body as long as he remains in the astral world.

“Những người chết trong nỗi sợ cái chết thường từ chối thực hiện nỗ lực ý chí cần thiết mà những người anh gặp họ ở phía bên kia bảo họ phải làm, mà cứ bám lấy những hạt vật chất hồng trần còn sót lại với hy vọng tiếp tục sự tồn tại hồng trần của mình, vì đời sống hồng trần là đời sống duy nhất mà họ biết. Dĩ nhiên, chống cự là vô ích, vì sớm hay muộn họ cũng phải buông ra và thực hiện nỗ lực ý chí mà tôi đã đề cập—chống lại điều không thể tránh chỉ khiến họ bị treo giữa hai thế giới lâu hơn nhiều so với mức cần thiết. Một người đã có được một ít tri thức về đề tài cái chết nhờ nghiên cứu những môn liên hệ trong suốt đời mình sẽ lập tức tự giải thoát khỏi gánh nặng này và tiếp tục đời sống của mình dưới điều mà có lẽ tôi có thể gọi là những điều kiện cảm dục thường trực. Tôi nói ‘thường trực’ vì giờ đây, khi y đã mất thể xác và sẽ không có một thể khác cho đến khi thời điểm chín muồi để y lại luân hồi và trải qua một khoảng thời gian ngắn khác trong thế giới hồng trần, y sẽ sống dưới những điều kiện của cõi cảm dục cả ban ngày lẫn ban đêm. Ngay khi nỗ lực ý chí để loại bỏ bản sao dĩ thái được thực hiện, vật chất dĩ thái rơi ra và bắt đầu tan rã gần giống như cách thể xác đậm đặc tan rã, nhưng trong khi có thể phải mất nhiều tháng hay nhiều năm để sự tan rã của thể xác hoàn tất, thì phần dĩ thái của nó, vì tinh tế hơn nhiều và nhẹ hơn, gần như lập tức trở về bụi. Giờ đây khi thể xác không còn gắn liền nữa, chân ngã được bao bọc trong thể cảm dục của mình và sẽ hoạt động trong thể này chừng nào y còn ở trong thế giới cảm dục.

“The astral world is the world of emotions and illusions; it is composed of matter which is finer than any gas we know, in which are many degrees of density. The astral body is the vehicle of emotions. Emotions are brought about by vibrations of the astral matter; what are known as the higher emotions—love, gratitude, unselfishness and the like—show themselves to clairvoyant vision as vibrations of the finer matter, whilst the lower emotions—greed, envy, jealousy, selfish love (akin to passion), pride, etc.—show as vibrations of relatively much coarser—or denser—matter. As man is, prior to death, so he will be after death, minus only his physical body and without physical world limitations. His virtues and vices remain the same, but, owing to the fluidic nature of the astral body, they become forces of great good or evil. Thus a feeling of slight antagonism at the physical level becomes there sheer hate, with unpleasant results to both parties, whilst one of mild physical affection would draw out a reciprocal outpouring of love which would produce an amazing atmosphere of harmony and peace.

“Thế giới cảm dục là thế giới của cảm xúc và ảo tưởng; nó được cấu tạo từ vật chất tinh tế hơn bất kỳ chất khí nào chúng ta biết, trong đó có nhiều cấp độ đậm đặc. Thể cảm dục là vận cụ của cảm xúc. Cảm xúc được tạo ra bởi những rung động của vật chất cảm dục; những gì được gọi là cảm xúc cao hơn—bác ái, lòng biết ơn, tính vô ngã và những điều tương tự—tự biểu lộ với linh thị thông nhãn như những rung động của vật chất tinh tế hơn, trong khi những cảm xúc thấp hơn—tham lam, ganh tị, đố kỵ, tình yêu ích kỷ (gần với đam mê), kiêu ngạo, v.v.—biểu lộ như những rung động của vật chất tương đối thô hơn nhiều—hay đậm đặc hơn. Trước khi chết con người như thế nào, thì sau khi chết y cũng như thế ấy, chỉ trừ thể xác và không còn những giới hạn của thế giới hồng trần. Các đức tính và tật xấu của y vẫn y nguyên, nhưng do bản chất linh động của thể cảm dục, chúng trở thành những mãnh lực của điều thiện lớn lao hoặc điều ác lớn lao. Vì vậy, một cảm giác đối kháng nhẹ ở cấp độ hồng trần tại đó trở thành lòng căm ghét thuần túy, với những kết quả khó chịu cho cả hai bên, trong khi một tình cảm trìu mến nhẹ nhàng ở cõi hồng trần sẽ khơi ra một lần tuôn đổ tình thương đáp lại, tạo nên một bầu không khí hòa hợp và bình an đáng kinh ngạc.

As the astral world is the world of illusion, no time or labour need be used as in the physical world; everything—clothes, food, etc.—is produced by thought. Life there can be one long holiday. We can devote ourselves to whatever we really desire to do and indulge in hobbies to our hearts content. There are no limitations to prevent us acquiring more knowledge, such as insufficient time to study or the physical limitations of weak sight or a tired body—there is nothing in the astral body which can tire.

“Vì thế giới cảm dục là thế giới của ảo tưởng, nên không cần dùng thời gian hay lao động như trong thế giới hồng trần; mọi thứ—quần áo, thức ăn, v.v.—đều được tạo ra bằng tư tưởng. Đời sống ở đó có thể là một kỳ nghỉ dài bất tận. Chúng ta có thể hiến mình cho bất cứ điều gì mình thực sự muốn làm và thỏa thích theo đuổi những sở thích của mình. Không có những giới hạn ngăn cản chúng ta đạt thêm tri thức, như thiếu thời gian để học hay những giới hạn hồng trần của thị lực yếu hoặc một thể xác mệt mỏi—trong thể cảm dục không có gì có thể mệt mỏi.

“Whilst our physical bodies sleep, we function at the astral level in our bodies and there meet friends and relations who have died, so it is foolish to try to forget about these people in the daytime, for they are all around us, the only separation being the limitation of consciousness. In many ways it is a pity so few people remember what they do at night; if they did, they would be much less troubled about the state called death—and the wicked rumours circulated concerning hell and eternal damnation would have no more effect on them than the fear of the ogre in the children’s fairy book affects the adult reader. Very few people realise that in the physical world, the average man spends most of his time working in an office or in a shop or on the land, or in some occupation he would not choose had it not been necessary to earn money for food, for drink and for clothes—both for himself and those dependent on him. It is perhaps just as well that so few people do realise this, as otherwise we should all be extremely discontented; that would be a hindrance to our evolution and would produce trouble everywhere. Only a few fortunate men are able to earn their living at what they like most. A painter or a musician, even though he be left a fortune, will continue with his work because, generally, his work is part of himself and becomes a pleasure.

“Trong khi thể xác của chúng ta ngủ, chúng ta hoạt động ở cấp độ cảm dục trong các thể của mình và ở đó gặp anh bè cùng thân quyến đã qua đời, vì thế thật là ngu xuẩn nếu cố quên những người này vào ban ngày, bởi họ đều ở quanh chúng ta, sự chia cách duy nhất chỉ là giới hạn của tâm thức. Theo nhiều phương diện, thật đáng tiếc khi quá ít người nhớ được những gì họ làm vào ban đêm; nếu họ nhớ được, họ sẽ bớt lo lắng hơn nhiều về trạng thái gọi là cái chết—và những lời đồn ác độc được lan truyền về địa ngục và sự đọa đày vĩnh cửu sẽ không còn tác động lên họ hơn gì nỗi sợ quỷ dữ trong truyện cổ tích trẻ em tác động lên người lớn đọc sách. Rất ít người nhận ra rằng trong thế giới hồng trần, người trung bình dành phần lớn thời gian của mình để làm việc trong văn phòng hay cửa hàng hay trên đồng ruộng, hoặc trong một nghề nghiệp mà y sẽ không chọn nếu không cần kiếm tiền để có thức ăn, đồ uống và quần áo—cho cả bản thân lẫn những người phụ thuộc vào y. Có lẽ cũng tốt là quá ít người thật sự nhận ra điều này, vì nếu không chúng ta hẳn sẽ vô cùng bất mãn; điều đó sẽ là một chướng ngại cho sự tiến hoá của chúng ta và sẽ gây rắc rối khắp nơi. Chỉ có một số ít người may mắn mới có thể kiếm sống bằng điều mình yêu thích nhất. Một họa sĩ hay một nhạc sĩ, ngay cả khi được để lại cả một gia tài, vẫn sẽ tiếp tục công việc của mình vì nói chung công việc ấy là một phần của chính họ và trở thành một niềm vui.

“I shall give you a general outline of some of the conditions found on the astral plane. To the man who during his lifetime thought of little else but business, the next life will tend to be rather dull at first, especially if he has been in the habit of loving money for its own sake. Money is a purely physical thing and useless on the astral plane. This type of man will have to develop some other interest if he is to be really happy in the next world. If, however, a man were fond of music in his lifetime, then he will be fond of it after death and he will find many opportunities of satisfying the longings he was unable to satisfy before. If he wishes, the lover of music can spend the whole of his time listening to the finest music the world can produce. Distance is now no limitation; he may listen to an opera in London for a time, then with scarcely a minutes delay he can be listening to another performance in New York or Australia. He can meet the great musicians of the past—unless they have already reincarnated; he can see the mighty thought-forms which music on the physical plane produces in the finer matter of the astral world. Even though during his lifetime he was unable to play, he can now produce music by imagination. On the physical plane there are many people who are able to imagine beautiful passages of music, but are unable to express themselves owing to the lack of technique. On the astral plane all such people are to be envied indeed, as their natural cravings are for things not dependent on the help of purely physical plane conditions.

“Tôi sẽ cho anh một phác thảo tổng quát về một số điều kiện được tìm thấy trên cõi cảm dục. Đối với người trong suốt đời mình hầu như không nghĩ gì ngoài công việc làm ăn, đời sống kế tiếp lúc đầu sẽ có khuynh hướng khá buồn tẻ, nhất là nếu y có thói quen yêu tiền vì chính tiền. Tiền là một thứ hoàn toàn hồng trần và vô dụng trên cõi cảm dục. Loại người này sẽ phải phát triển một mối quan tâm khác nếu y muốn thật sự hạnh phúc trong thế giới kế tiếp. Tuy nhiên, nếu một người yêu âm nhạc trong suốt đời mình, thì sau khi chết y vẫn sẽ yêu âm nhạc và sẽ tìm thấy nhiều cơ hội để thỏa mãn những khát vọng mà trước đây y không thể thỏa mãn. Nếu muốn, người yêu nhạc có thể dành toàn bộ thời gian của mình để lắng nghe thứ âm nhạc tuyệt vời nhất mà thế giới có thể tạo ra. Khoảng cách giờ đây không còn là giới hạn; y có thể nghe một vở nhạc kịch ở Luân Đôn một lúc, rồi hầu như không chậm trễ một phút nào đã có thể nghe một buổi trình diễn khác ở New York hay Úc. Y có thể gặp những nhạc sĩ vĩ đại của quá khứ—trừ phi họ đã tái nhập thể; y có thể thấy những Hình tư tưởng hùng vĩ mà âm nhạc trên cõi hồng trần tạo ra trong vật chất tinh tế hơn của thế giới cảm dục. Ngay cả nếu trong suốt đời mình y không thể chơi nhạc, giờ đây y có thể tạo ra âm nhạc bằng Sự tưởng tượng. Trên cõi hồng trần có nhiều người có thể tưởng tượng ra những đoạn nhạc tuyệt đẹp, nhưng không thể biểu đạt được do thiếu kỹ thuật. Trên cõi cảm dục, tất cả những người như thế thật đáng được ganh tị, vì những khát vọng tự nhiên của họ hướng đến những điều không lệ thuộc vào sự trợ giúp của các điều kiện thuần túy hồng trần.

“For the man who is fond of art, all the masterpieces of the world are at his disposal, whether they be in art galleries or private collections. Many an art lover has long wanted to go to Rome. Think of the hours of delight for him devouring the works of art to be seen there and there alone. He may meet the artists of the past, and it must not be supposed that they lose interest in their work because they have died. Far from it, now they create beautiful thought-forms, for they have no longer to use brushes and canvas to express their art. That was their only method of expression in the physical world, but after death the thought-forms they create are just the same as pictures here, just as visible and much more beautiful. Many artists here have stated that they are always dissatisfied with their work when it is finished, even though the world applauds their genius. They often say: ‘If only I could express on canvas exactly what my imagination pictures, but never does it come exactly right.’ On the astral plane the pictures created are exactly what the artist perceives and so the creations of their imagination there are more beautiful than the finest pictures to be found in the world. Lovers of books also have a happy time, for the world’s libraries are now open to their inspection.

“Đối với người yêu nghệ thuật, mọi kiệt tác của thế giới đều nằm trong tầm sử dụng của y, dù chúng ở trong các phòng tranh hay các bộ sưu tập tư nhân. Biết bao người yêu nghệ thuật từ lâu đã muốn đến La Mã. Hãy nghĩ đến những giờ phút hoan hỉ khi y say mê thưởng lãm những tác phẩm nghệ thuật chỉ có thể thấy ở đó và chỉ ở đó. Y có thể gặp những nghệ sĩ của quá khứ, và không nên cho rằng họ mất hứng thú với công việc của mình vì họ đã chết. Hoàn toàn không phải vậy, giờ đây họ tạo ra những Hình tư tưởng đẹp đẽ, vì họ không còn phải dùng cọ và vải toan để biểu đạt nghệ thuật của mình nữa. Đó là phương pháp biểu đạt duy nhất của họ trong thế giới hồng trần, nhưng sau khi chết những Hình tư tưởng họ tạo ra cũng giống hệt như tranh ở đây, cũng hữu hình như thế và còn đẹp hơn nhiều. Nhiều nghệ sĩ ở đây đã nói rằng họ luôn luôn không hài lòng với tác phẩm của mình khi nó hoàn tất, dù thế giới có tán thưởng thiên tài của họ. Họ thường nói: ‘Giá mà tôi có thể diễn tả trên vải toan đúng như điều sự tưởng tượng của tôi hình dung, nhưng không bao giờ nó ra đúng hẳn.’ Trên cõi cảm dục, những bức tranh được tạo ra đúng y như điều nghệ sĩ tri giác được, và vì thế những sáng tạo của sự tưởng tượng của họ ở đó đẹp hơn những bức tranh đẹp nhất có thể tìm thấy trên thế giới. Những người yêu sách cũng có khoảng thời gian hạnh phúc, vì các thư viện của thế giới giờ đây mở ra cho họ khảo sát.

“As an example of what happens to a man after death, take the sort of person who lives entirely for the physical plane life. By that I do not mean anything bad or that he is a man of many vices. On the contrary he is probably an exceedingly popular man during his lifetime, always surrounded by a host of friends and generally spoken well of by all. Probably his pleasures consist of living well, attending theatres, dances, etc. and doing the thousand and one things that go to make up the life of what is termed ‘a man about town.’ Undoubtedly he is a successful businessman and considered a model husband, but all the same his life—both business and pleasure—depends on physical things, such as are only obtainable on the physical plane. There are many such people, as everyone who looks around him can see.

“Để làm ví dụ về điều xảy ra với một người sau khi chết, hãy lấy loại người sống hoàn toàn cho đời sống cõi hồng trần. Bởi điều đó tôi không có ý nói điều gì xấu hay rằng y là một người có nhiều tật xấu. Trái lại, có lẽ y là một người cực kỳ được ưa chuộng trong suốt đời mình, luôn luôn được bao quanh bởi một đám đông anh bè và nói chung được mọi người nhắc đến với thiện cảm. Có lẽ những thú vui của y gồm ăn ngon mặc đẹp, đi nhà hát, khiêu vũ, v.v., và làm hàng ngàn lẻ một điều tạo nên đời sống của cái gọi là ‘một tay ăn chơi sành điệu.’ Chắc chắn y là một doanh nhân thành công và được xem là một người chồng kiểu mẫu, nhưng dù sao đi nữa đời sống của y—cả công việc lẫn thú vui—đều phụ thuộc vào những thứ hồng trần, những thứ chỉ có thể có được trên cõi hồng trần. Có rất nhiều người như thế, như bất cứ ai nhìn quanh mình đều có thể thấy.

“After death a man of this type will probably be extremely bored and will have practically nothing to do. He will soon realise that making thought-forms of good dinners and intricate business deals becomes a very unsatisfactory method of killing time, when there are no physical results. He does not get the physical satisfaction to which he is accustomed after a good dinner with choice wines, though he can imagine and even appreciate the taste of dishes and wines which he used to have on earth. It is impossible for him to feel the same result after drinking alcohol that he felt during his lifetime, however much he may drink, and the feeling of repletion which follows a good dinner on the physical plane is entirely absent from the ‘astral’ meal. Neither does he obtain much satisfaction from a successful business deal produced in his imagination, when he is unable to use the money so made, for on the astral plane things cannot be bought or sold. He can make thought-forms of as many thousands of gold pieces as he likes, but what can he do with them? Nothing! He can be likened to a man who had been wrecked on a desert island, surrounded by treasures, invaluable to him could he transport them to a civilised country, but useless in a place where there are no buyers and nothing to be bought. The man on the desert island has one advantage over the man on the astral plane inasmuch as there is always the possibility of his being rescued; he may be able to return to his country with his newly found wealth. The ‘dead’ man has no such hope, for when he returns to this plane he comes as a child without possessions other than the experience gained in his previous lives, experience stored by his higher self in the reservoir of knowledge which, as he gradually evolves, he is more and more able to bring down to the physical level. Similar dissatisfaction is experienced from his accustomed sports. In all probability he played golf; he can still play golf if he wishes, in his new life, but he soon tires of this, for every shot he makes goes to the exact spot he has in mind at the moment of striking the ball. Every round played is a perfect round, never differing from the one before. Every putt is holed automatically, for he makes a thought-form of what he wishes to do and the fluidic astral matter immediately carries out, in form, the thought that his mind expressed. You can easily imagine how boring such a game would soon become and how different from the games played at the physical level, where one day he would play like a master and perhaps the next would be little better than a rabbit. The uncertainty was the charm of the game, and this no longer exists at the astral level.

“Sau khi chết, một người thuộc loại này có lẽ sẽ cực kỳ chán chường và hầu như không có gì để làm. Chẳng bao lâu y sẽ nhận ra rằng việc tạo ra những Hình tư tưởng về những bữa tối ngon lành và những thương vụ làm ăn phức tạp trở thành một cách giết thời gian rất không thỏa đáng, khi không có kết quả hồng trần nào. Y không có được sự thỏa mãn hồng trần mà y quen thuộc sau một bữa tối ngon với những loại rượu hảo hạng, dù y có thể tưởng tượng và thậm chí cảm nhận được hương vị của những món ăn và rượu mà trước đây y từng dùng trên trần thế. Y không thể cảm thấy cùng một kết quả sau khi uống rượu như y đã cảm thấy trong suốt đời mình, dù y có uống bao nhiêu đi nữa, và cảm giác no nê theo sau một bữa tối ngon trên cõi hồng trần hoàn toàn vắng mặt trong bữa ăn ‘cảm dục’. Y cũng không thu được nhiều thỏa mãn từ một thương vụ thành công được tạo ra trong sự tưởng tượng của mình, khi y không thể sử dụng số tiền làm ra như thế, vì trên cõi cảm dục mọi thứ không thể mua hay bán. Y có thể tạo ra những Hình tư tưởng về bao nhiêu ngàn đồng vàng tùy thích, nhưng y có thể làm gì với chúng? Không gì cả! Y có thể được ví như một người bị đắm tàu trên một hòn đảo hoang, bị bao quanh bởi những kho báu, vô giá đối với y nếu có thể mang chúng đến một xứ sở văn minh, nhưng vô dụng ở một nơi không có người mua và cũng chẳng có gì để mua. Người trên đảo hoang có một lợi thế hơn người trên cõi cảm dục ở chỗ luôn luôn có khả năng được cứu; y có thể trở về xứ sở của mình với của cải mới tìm thấy. Người ‘đã chết’ thì không có hy vọng như thế, vì khi y trở lại cõi này, y đến như một đứa trẻ không có tài sản nào khác ngoài kinh nghiệm đạt được trong các kiếp trước, kinh nghiệm được chân ngã của y cất giữ trong kho tri thức mà, khi y dần dần tiến hóa, y ngày càng có khả năng mang xuống cấp độ hồng trần nhiều hơn. Sự không thỏa mãn tương tự cũng được cảm thấy đối với những môn thể thao quen thuộc của y. Rất có thể y đã chơi gôn; y vẫn có thể chơi gôn nếu muốn, trong đời sống mới của mình, nhưng chẳng bao lâu y chán điều đó, vì mỗi cú đánh y thực hiện đều đi đúng đến chỗ mà y nghĩ tới vào lúc đánh bóng. Mỗi vòng chơi đều là một vòng hoàn hảo, không bao giờ khác với vòng trước. Mỗi cú gạt bóng đều tự động vào lỗ, vì y tạo ra một Hình tư tưởng về điều mình muốn làm và vật chất cảm dục linh động lập tức thực hiện, trong hình tướng, tư tưởng mà trí y đã biểu đạt. anh có thể dễ dàng hình dung một trò chơi như thế sẽ nhanh chóng trở nên nhàm chán biết bao và khác xa những trận đấu ở cấp độ hồng trần, nơi một ngày nọ y có thể chơi như một bậc thầy và có lẽ ngày hôm sau lại chẳng khá hơn một tay mơ. Chính sự bất định là sức hấp dẫn của trò chơi, và điều này không còn tồn tại ở cấp độ cảm dục.

“Consider the man who all his life has been taught that hellfire and eternal damnation are the portion of all who do not come up to the standard of perfection demanded. After death the difficulty of ridding himself of such thoughts causes him to go through much misery. He is continually tortured by the thought that he is being fooled, although assured that such beliefs are untrue. Until he manages to discard them he will be unable to settle down in the new life, where there is so much to be seen and to be learned.

“Hãy xét người suốt đời đã được dạy rằng lửa địa ngục và sự đọa đày vĩnh cửu là phần dành cho tất cả những ai không đạt đến tiêu chuẩn hoàn hảo được đòi hỏi. Sau khi chết, khó khăn trong việc loại bỏ những tư tưởng như thế khiến y phải trải qua nhiều đau khổ. Y liên tục bị dày vò bởi ý nghĩ rằng mình đang bị lừa dối, dù được bảo đảm rằng những niềm tin ấy là không đúng. Cho đến khi y xoá bỏ được chúng, y sẽ không thể an định trong đời sống mới, nơi có quá nhiều điều để thấy và để học.

“There are others who are miserable because, when they look back on their physical life from this higher level they realise the number of opportunities they have wasted. This reacts on them in different ways. Some are filled with remorse; others, more sensible, make up their minds not to waste their opportunities next time. Again we find a man who has been supporting a wife and a large family before his death. Probably he has not made adequate provisional for them and he worries how they will manage. This is a very natural thing, but unfortunately it is a very foolish one too. Having laid down his physical body he no longer has any further responsibility at the physical level. No worrying can bring practical help and it reacts on those left behind in a way that makes them more depressed than they need be. He is adding to their troubles instead of lessening them, and a solution of the problem only comes about when he realises that those he has left behind are separate egos each working out his or her karma, and that probably this trouble they are passing through is an opportunity to pay off some of the bad karma which has to be worked off during this particular lifetime.

“Có những người khác khổ sở vì khi nhìn lại đời sống hồng trần của mình từ cấp độ cao hơn này, họ nhận ra số cơ hội mình đã phung phí. Điều này tác động lên họ theo những cách khác nhau. Một số đầy hối hận; những người khác, khôn ngoan hơn, quyết tâm rằng lần sau họ sẽ không phung phí cơ hội của mình. Lại nữa, chúng ta thấy một người trước khi chết đã phải nuôi vợ và một gia đình đông con. Có lẽ y đã không chuẩn bị đầy đủ cho họ và y lo lắng không biết họ sẽ xoay xở ra sao. Đây là một điều rất tự nhiên, nhưng tiếc thay cũng là một điều rất ngu xuẩn. Sau khi đã đặt xuống thể xác của mình, y không còn trách nhiệm nào nữa ở cấp độ hồng trần. Không một sự lo lắng nào có thể mang lại sự giúp đỡ thực tế và nó tác động lên những người bị bỏ lại theo cách khiến họ chán nản hơn mức cần thiết. Y đang làm tăng thêm khó khăn của họ thay vì làm giảm bớt, và giải pháp cho vấn đề chỉ đến khi y nhận ra rằng những người y bỏ lại là những chân ngã riêng biệt, mỗi người đang giải quyết nghiệp quả của mình, và rằng có lẽ chính nỗi khó khăn họ đang trải qua là một cơ hội để trả bớt một phần nghiệp xấu phải được giải quyết trong kiếp sống đặc biệt này.

“There are people in this world who always make trouble for themselves, by worrying about things over which they have no control or by being pessimistic about the future—always feeling sure that the worst will happen. After death such men are the same; they continue to feel depressed and to radiate depression wherever they go. Unfortunately, people with these depressing ideas continue to flock together as they did on the physical plane and still believe what they previously believed although the lie is, as it were, before their eyes. Sooner or later men of this type are made to realise their foolishness by those who are ever on the watch for opportunities to help such sad cases; a new teacher must then fill in the gaps he has made, through taking away that which he condemned, by offering something more reasonable, more comforting—something which explains not only the present, but the past and future.

“Có những người trong thế giới này luôn tự gây rắc rối cho mình, bằng cách lo lắng về những điều họ không kiểm soát được hoặc bi quan về tương lai—luôn luôn chắc rằng điều tệ nhất sẽ xảy ra. Sau khi chết, những người như thế vẫn y như vậy; họ tiếp tục cảm thấy chán nản và phát tỏa sự chán nản ở bất cứ nơi nào họ đi. Tiếc thay, những người có những ý tưởng u ám này vẫn tiếp tục tụ tập với nhau như họ đã làm trên cõi hồng trần và vẫn tin điều họ đã tin trước đây dù, có thể nói, sự dối trá đang ở ngay trước mắt họ. Sớm hay muộn những người thuộc loại này sẽ được làm cho nhận ra sự ngu xuẩn của mình bởi những người luôn luôn canh chừng các cơ hội để giúp đỡ những trường hợp đáng buồn như thế; khi đó một huấn sư mới phải lấp đầy những khoảng trống mà y đã tạo ra, bằng cách lấy đi điều mà y đã lên án, rồi đưa ra một điều gì đó hợp lý hơn, an ủi hơn—một điều giải thích không chỉ hiện tại mà cả quá khứ và tương lai.

“Never spurn an idea because it is strange to you; rather listen to all sides of the question and draw your own conclusions. Your mind may temporarily become chaotic, but out of the chaos you may find light, the light which will set your feet upon the path that ultimately will lead you to knowledge, and on to the wisdom of the perfect man. Get rid of the idea of reward or punishment. There is no reward, no punishment, but there is result, there is cause and effect, and the Law acts just as much in higher worlds as it acts down here on the physical plane. As we live now and as we are now, so shall we be on the other side of death, and our life there will be conditioned by the thoughts with which we have surrounded ourselves down here. So let us take an intelligent interest in higher things, science, art, music, literature and the beauties of nature, in fact anything which is not purely physical, and in the next world we shall have a happy life and be in a position to enjoy opportunities which would be useless to us had we not prepared ourselves by our life here.”

“Đừng bao giờ khinh suất gạt bỏ một ý tưởng chỉ vì nó xa lạ với anh; đúng hơn, hãy lắng nghe mọi phía của vấn đề và tự rút ra kết luận của mình. Trí anh có thể tạm thời trở nên hỗn loạn, nhưng từ sự hỗn loạn ấy anh có thể tìm thấy ánh sáng, ánh sáng sẽ đặt chân anh lên con đường mà cuối cùng sẽ dẫn anh đến tri thức, rồi tiến tới minh triết của con người hoàn hảo. Hãy loại bỏ ý tưởng về phần thưởng hay sự trừng phạt. Không có phần thưởng, không có sự trừng phạt, nhưng có kết quả, có nhân và quả, và Định luật tác động ở các thế giới cao cũng nhiều như nó tác động ở đây trên cõi hồng trần. Chúng ta sống thế nào bây giờ và chúng ta là gì bây giờ, thì ở phía bên kia cái chết chúng ta cũng sẽ như thế, và đời sống của chúng ta ở đó sẽ được định hình bởi những tư tưởng mà chúng ta đã tự bao quanh mình ở đây. Vậy nên hãy quan tâm một cách thông minh đến những điều cao hơn, khoa học, nghệ thuật, âm nhạc, văn chương và những vẻ đẹp của thiên nhiên, thật ra là bất cứ điều gì không thuần túy hồng trần, và trong thế giới kế tiếp chúng ta sẽ có một đời sống hạnh phúc và ở vào vị thế có thể tận hưởng những cơ hội vốn sẽ vô ích đối với chúng ta nếu chúng ta không tự chuẩn bị bằng đời sống của mình ở đây.”

Chapter 3

“Yesterday I began to give you a brief outline of conditions as they exist on the astral plane—and I shall continue with this today.

“Hôm qua tôi đã bắt đầu cho anh một phác thảo ngắn gọn về những điều kiện như chúng tồn tại trên cõi cảm dục—và hôm nay tôi sẽ tiếp tục điều đó.

“The theory of the great church of Rome, stated very roughly and briefly, is that after death the hopelessly wicked drop into an eternal hell immediately; whilst the very great saints go at once to heaven. The ordinary man, neither very good nor very bad, needs a long or short stay in an intermediate condition—called Purgatory—in which his faults are eliminated. As I have told you there is no such thing as an eternal hell; there could not be, if for no other reason than that a finite cause can never produce an infinite result—and those who pass to the astral plane with the fear of this in their minds, go through a difficult beginning stage. There is a little more foundation for the statement about the very great saints, for there is a condition called the heaven world and it is quite possible that a very few great saints glide rapidly through the intermediate world, the astral, and pass directly to the mental world there to continue their evolution. For the very large majority of people the question of going to either heaven or hell does not arise; their mode of progress is by passing through two conditions, the lower of which is known as purgatory and it is with purgatory that I wish to begin today.

“Lý thuyết của đại giáo hội La Mã, được trình bày rất sơ lược và ngắn gọn, là sau khi chết những kẻ ác vô phương cứu chữa lập tức rơi vào một địa ngục vĩnh cửu; còn những vị thánh rất cao cả thì đi ngay lên thiên đường. Người bình thường, không quá tốt cũng không quá xấu, cần một thời gian lưu lại dài hay ngắn trong một trạng thái trung gian—gọi là Luyện ngục—trong đó những lỗi lầm của y được loại bỏ. Như tôi đã nói với anh, không có cái gọi là địa ngục vĩnh cửu; điều đó không thể có, nếu không vì lý do nào khác thì cũng vì một nguyên nhân hữu hạn không bao giờ có thể tạo ra một kết quả vô hạn—và những ai đi sang cõi cảm dục với nỗi sợ này trong trí mình sẽ trải qua một giai đoạn khởi đầu khó khăn. Có phần cơ sở hơn một chút cho lời khẳng định về những vị thánh rất cao cả, vì có một trạng thái gọi là cõi thượng thiên và hoàn toàn có thể là một số rất ít vị thánh cao cả lướt nhanh qua thế giới trung gian, tức cõi cảm dục, và đi thẳng đến thế giới trí tuệ để tiếp tục tiến hoá của mình. Đối với đại đa số con người, vấn đề đi lên thiên đường hay xuống địa ngục không đặt ra; phương thức tiến triển của họ là đi qua hai trạng thái, trạng thái thấp hơn được gọi là luyện ngục, và chính với luyện ngục mà hôm nay tôi muốn bắt đầu.

“The Roman Catholic doctrine of purgatory as an intermediate condition in which faults are eliminated by a rather painful process—symbolised by burning in fire—has a great deal of truth in it but it is entirely deprived of its dignity by the ridiculous theory of indulgences, the suggestion that man can buy himself out of this inconvenient stage without learning the lessons for which that stage exists. There is of course no possibility of such a thing; no number of thousands of pounds could make the slightest difference to what happens to a man after death. Money may help him to circumvent the laws of the physical plane during his lifetime, but after he has left this world, money has lost its value and such expenditure by friends and relations remaining in the world, so far as he personally is concerned, is wasted. It has always seemed to me a ridiculous thing to suggest that money can divert a law of nature. You cannot divert the law of gravity by offering it money, nor can you turn aside the law of divine justice by bribing it with candles, prayer and offerings.

“Giáo lý Công giáo La Mã về luyện ngục như một trạng thái trung gian trong đó những lỗi lầm được loại bỏ bằng một tiến trình khá đau đớn—được tượng trưng bằng việc bị thiêu trong lửa—chứa đựng rất nhiều chân lý, nhưng hoàn toàn bị tước mất phẩm giá bởi lý thuyết lố bịch về ân xá, tức gợi ý rằng con người có thể mua để thoát khỏi giai đoạn bất tiện này mà không cần học những bài học mà giai đoạn ấy tồn tại để dạy. Dĩ nhiên không hề có khả năng nào cho điều như thế; không một số tiền hàng ngàn bảng nào có thể tạo ra chút khác biệt nhỏ nhất đối với điều xảy ra cho một người sau khi chết. Tiền có thể giúp y lách các định luật của cõi hồng trần trong suốt đời mình, nhưng sau khi y đã rời khỏi thế giới này, tiền mất hết giá trị và những chi tiêu như thế của anh bè cùng thân quyến còn ở lại thế gian, xét theo phương diện cá nhân của y, là lãng phí. Đối với tôi, việc gợi ý rằng tiền có thể chuyển hướng một định luật của thiên nhiên luôn luôn là một điều lố bịch. anh không thể chuyển hướng định luật hấp dẫn bằng cách đưa tiền cho nó, cũng không thể làm chệch đi định luật công lý thiêng liêng bằng cách hối lộ nó bằng nến, lời cầu nguyện và lễ vật.

“This purgatory as it is called, not at all inaptly because it is a state of consciousness where a great deal of refinement and improvement takes place, is in the lower planes of the astral world—that part into which man passed almost immediately after death. It is the region where a man is purged of the blinding lower desires which would keep him indefinitely bound to his desire body. Evolution requires that he move on to higher regions; in order that he may do this, he passes through spheres where he is made to suffer in the same way that he has made other people suffer in his physical life—through dishonesty, cruelty and so on. Through time and suffering he learns the importance of honesty, justice, tolerance etc., and, having accomplished this, moves on. In his next incarnation he will be born free from sin—although the tendency to succumb to the same desires is still there—and every evil act he commits in that life will be one of free will. A man will continue in this way until he has learned by bitter purgative experiences that he must practise tolerance and do good to others regardless of how he is treated in return. Certain eternal laws have been established and we must try to understand them as such. If there were no laws of nature, we should soon be in a chaotic condition, with nothing on which we could depend; but there are laws of nature and these laws are the expression of the Divine Will.

“Luyện ngục này, như nó được gọi, không phải là một tên gọi không thích hợp chút nào vì đó là một trạng thái tâm thức nơi diễn ra rất nhiều sự tinh luyện và cải thiện, nằm trong các cõi thấp của thế giới cảm dục—phần mà con người đi vào gần như ngay sau khi chết. Đó là khu vực nơi con người được thanh lọc khỏi những ham muốn thấp hèn làm mù quáng, những thứ sẽ giữ y bị trói buộc vô thời hạn vào thể ham muốn của mình. Tiến hoá đòi hỏi y phải tiến lên những khu vực cao hơn; để có thể làm được điều này, y đi qua những khối cầu nơi y bị làm cho phải chịu đau khổ theo đúng cách mà y đã khiến người khác đau khổ trong đời sống hồng trần của mình—qua sự bất lương, tàn nhẫn, v.v. Qua thời gian và đau khổ, y học được tầm quan trọng của sự trung thực, công bằng, khoan dung, v.v., và sau khi hoàn thành điều này, y tiến lên. Trong lần nhập thể kế tiếp, y sẽ được sinh ra không có tội lỗi—mặc dù khuynh hướng sa vào những ham muốn cũ vẫn còn đó—và mọi hành động xấu mà y phạm trong kiếp ấy sẽ là hành động của ý chí tự do. Con người sẽ tiếp tục như thế cho đến khi y học được qua những kinh nghiệm thanh tẩy cay đắng rằng y phải thực hành sự khoan dung và làm điều tốt cho người khác bất kể mình được đối xử ra sao để đáp lại. Một số định luật vĩnh cửu đã được thiết lập và chúng ta phải cố gắng thấu hiểu chúng như thế. Nếu không có các định luật của thiên nhiên, chẳng bao lâu chúng ta sẽ ở trong một tình trạng hỗn loạn, không có gì để có thể nương tựa; nhưng có những định luật của thiên nhiên, và những định luật này là sự biểu lộ của Ý Chí thiêng liêng.

“I shall try to explain what happens in purgatory by giving you some examples. The example which is always given first, because it is the most easily comprehended, is the case of the man who has yielded, in excess, to the curse of drink—the drunkard. We all of us know what this drink curse can be; we know of so many cases where a man has wrecked his life, starved his wife and children and even committed crimes innumerable, simply and solely to gratify his craving for the sensation that drink produces. If a man drank only to quench his thirst, then he would have no desire for drink after death—for thirst, like hunger, is unknown in the astral world—but the origin of the desire is not thirst, it is the craving for a certain pleasurable sensation. After death the same craving which drove him in his lifetime to such terrible lengths will be stronger than ever, but now that he has lost his physical body there will be no possibility of satisfying it. Desire does not belong to the physical body only, or even principally; it belongs to and is one of the functions of the desire vehicle. The other names of the “astral plane” are the “desire plane” and the “emotional plane” and in this plane desires and emotions are undiluted; the full force of a desire now tears at a man who, in his physical body, has only felt about a hundredth part of the strength of real desire. No one can deny that this is suffering, but also no one can say that the man is being punished. All that has happened is that the law of cause and effect has come into operation and he is now reaping as he sowed; he is now feeling the result of his actions during his lifetime—but he is not being punished. He has set up in himself a desire and so he suffers; the time during which the suffering lasts may well seem to him an eternity, though in reality it may be only a few days, a few weeks or a few months. To a certain very limited extent he can gratify his desire in imagination. He can make thought-forms of drink and imagine he is drinking. He can even imagine the taste of the liquid, but he cannot produce the result, the sensation for which he drank during his lifetime. The nearest that he can get to this sensation is to go to places where people are drinking and suck up, as it were, the fumes of the alcohol, which gives him a very limited amount of satisfaction. He does not get much, but it is something and the best that he can get, now that his physical body is no more.

“Tôi sẽ cố gắng giải thích điều gì xảy ra trong luyện ngục bằng cách đưa ra cho anh vài ví dụ. Ví dụ luôn được nêu ra trước tiên, vì dễ hiểu nhất, là trường hợp của người đã buông mình quá mức cho lời nguyền của rượu chè—kẻ say sưa. Tất cả chúng ta đều biết lời nguyền rượu chè này có thể là gì; chúng ta biết rất nhiều trường hợp trong đó một người đã phá hủy đời mình, để vợ con đói khổ và thậm chí phạm vô số tội ác, chỉ và duy nhất để thỏa mãn cơn thèm khát cảm giác mà rượu tạo ra. Nếu một người uống chỉ để giải khát, thì sau khi chết y sẽ không còn ham muốn rượu nữa—vì khát, cũng như đói, là điều không có trong cõi cảm dục—nhưng nguồn gốc của ham muốn ấy không phải là cơn khát, mà là sự thèm muốn một cảm giác khoái lạc nào đó. Sau khi chết, chính sự thèm muốn đã thúc đẩy y trong đời sống đến những cực đoan khủng khiếp như thế sẽ còn mạnh hơn bao giờ hết, nhưng giờ đây vì đã mất thể xác nên sẽ không có cách nào thỏa mãn nó. Ham muốn không chỉ thuộc về thể xác, hay thậm chí chủ yếu thuộc về thể xác; nó thuộc về và là một trong những chức năng của vận cụ ham muốn. Những tên gọi khác của “cõi cảm dục” là “cõi ham muốn” và “cõi cảm xúc”, và trong cõi này các ham muốn và cảm xúc không bị pha loãng; toàn bộ mãnh lực của một ham muốn giờ đây giày vò một người mà khi còn trong thể xác chỉ cảm thấy khoảng một phần trăm sức mạnh của ham muốn thực sự. Không ai có thể phủ nhận rằng đây là đau khổ, nhưng cũng không ai có thể nói rằng người ấy đang bị trừng phạt. Tất cả những gì đã xảy ra là định luật nhân quả đã bắt đầu vận hành và giờ đây y đang gặt điều mình đã gieo; giờ đây y đang cảm nhận kết quả của các hành động của mình trong suốt đời sống—nhưng y không bị trừng phạt. Y đã tạo nên trong chính mình một ham muốn và vì thế y đau khổ; khoảng thời gian mà nỗi đau ấy kéo dài rất có thể dường như là vĩnh cửu đối với y, dù trên thực tế có thể chỉ là vài ngày, vài tuần hay vài tháng. Trong một mức độ rất hạn chế, y có thể thỏa mãn ham muốn của mình bằng sự tưởng tượng. Y có thể tạo ra các Hình tư tưởng về rượu và tưởng tượng rằng mình đang uống. Y thậm chí còn có thể tưởng tượng ra mùi vị của chất lỏng ấy, nhưng y không thể tạo ra kết quả, cái cảm giác mà vì nó y đã uống khi còn sống. Điều gần nhất mà y có thể đạt tới cảm giác ấy là đến những nơi người ta đang uống rượu và hút lấy, có thể nói như vậy, hơi rượu bốc lên, điều này đem lại cho y một mức thỏa mãn rất hạn chế. Y không nhận được bao nhiêu, nhưng đó vẫn là một cái gì đó và là điều tốt nhất y có thể có được, giờ đây khi thể xác của y không còn nữa.

“So here we have the case of a man who, if he related his experiences, would certainly say that he was thrown into hell indeed. Not eternal of course, but quite long enough and sufficiently painful whilst it lasted, to make him think of that period as an eternity. The trouble is that no one can really help such a man; that is to say, in the sense of preventing this experience from happening. The only thing that can be done is to explain carefully to him what is happening and the reason for it all, and tell him that the only way out is to get rid of the desire, for until it has worked itself out or been got rid of, the suffering must continue.Sooner or later he realises this and so that stage of his purgatory ends.

“Vậy ở đây chúng ta có trường hợp của một người mà nếu kể lại những kinh nghiệm của mình, chắc chắn sẽ nói rằng quả thật y đã bị ném vào địa ngục. Dĩ nhiên không phải vĩnh cửu, nhưng cũng đủ lâu và đủ đau đớn trong khi nó kéo dài để khiến y nghĩ về giai đoạn ấy như một cõi vĩnh hằng. Điều khó là không ai thực sự có thể giúp một người như thế; nghĩa là, theo nghĩa ngăn không cho kinh nghiệm này xảy ra. Điều duy nhất có thể làm là giải thích cẩn thận cho y điều gì đang xảy ra và lý do của toàn bộ việc ấy, rồi nói với y rằng lối thoát duy nhất là loại bỏ ham muốn đó, vì chừng nào nó chưa tự tiêu tan hoặc chưa được loại bỏ thì đau khổ vẫn phải tiếp diễn. Sớm hay muộn y cũng nhận ra điều này, và như thế giai đoạn ấy của luyện ngục của y chấm dứt.

“Next, take the case of a miser who hoards his gold on earth and secretes it so that he alone knows where it may be found. Think of the pleasure he derived, whilst living, from visiting the venue of his hoard and gathering up the gold pieces or notes, letting them slip from his fingers one by one, to fall again on the heap which he has made. Picture his crying out in his joy, ‘All mine, all mine, and no one shall touch it but me.’ Then think what such a man’s feelings would be when he saw from the astral level the hoard discovered, and probably spent recklessly by those who were fortunate enough to find it. He could do nothing, although doubtless he did hang round the hiding place for a considerable time after death. He may have tried to influence the searchers to go elsewhere; no doubt he did all in his power to put them off the scent, but he would know no method of communicating with them, except when they were asleep and temporarily at his level. In most cases they would remember nothing of such conversations and so be uninfluenced by his efforts. Once again, no one is punishing that man, nevertheless he is suffering from the uncontrolled emotions of covetousness and greed. He must get away from purely physical things if he is to find happiness.

“Tiếp theo, hãy lấy trường hợp của một kẻ hà tiện tích trữ vàng bạc trên trần thế và giấu kín đến mức chỉ một mình y biết nơi có thể tìm thấy nó. Hãy nghĩ đến niềm vui mà y có được khi còn sống từ việc đến nơi cất giấu kho báu của mình và gom những đồng tiền vàng hay giấy bạc lên, để chúng trượt qua các ngón tay từng cái một rồi lại rơi xuống đống mà y đã tạo nên. Hãy hình dung y reo lên trong niềm vui: ‘Tất cả là của ta, tất cả là của ta, và không ai được chạm vào nó ngoài ta.’ Rồi hãy nghĩ xem cảm xúc của một người như thế sẽ ra sao khi từ cấp độ cảm dục y thấy kho báu ấy bị phát hiện, và có lẽ bị tiêu xài phung phí bởi những kẻ may mắn tìm được nó. Y không thể làm gì cả, mặc dù chắc chắn y đã lảng vảng quanh chỗ giấu ấy trong một thời gian khá lâu sau khi chết. Có thể y đã cố ảnh hưởng để những người tìm kiếm đi nơi khác; hẳn y đã làm mọi điều trong khả năng để đánh lạc hướng họ, nhưng y sẽ không biết cách nào để giao tiếp với họ, ngoại trừ khi họ đang ngủ và tạm thời ở cùng cấp độ với y. Trong đa số trường hợp, họ sẽ chẳng nhớ gì về những cuộc trò chuyện như thế và vì vậy không bị ảnh hưởng bởi các nỗ lực của y. Một lần nữa, không ai đang trừng phạt người ấy, tuy nhiên y đang đau khổ vì những cảm xúc không được kiểm soát của lòng tham muốnlòng tham lam. Y phải rời xa những sự vật thuần hồng trần nếu muốn tìm được hạnh phúc.

“Another very common case is that of the extremely jealous man who thinks he is in love with someone, whilst in reality all he wants is to possess that individual, body and soul, for his own personal gratification. Surely a man who really loved would be thankful to see the object of his love receive admiration and attention from others, but the jealous man is not. Having been jealous during his lifetime, he remains jealous after death, torturing himself indefinitely and uselessly by constantly watching the approaches of others to the object of his supposed love, hating those other people and trying in every way to influence them, but finding his efforts useless. No one is punishing such people for being jealous; they are simply reaping the results of their own foolishness through the uncontrollable operation of the law of karma—or the law of cause and effect. The only way that anyone can help them is by the intellectual method of giving them advice, trying to show them how foolishly they are acting, and by explaining to them that all that is required for them to obtain peace is that they should eliminate the selfishness from their love and should realise that no one can own another’s ego, body and soul, however much he may wish to do so.

“Một trường hợp rất thường gặp khác là người cực kỳ ghen tuông, kẻ nghĩ rằng mình đang yêu ai đó, trong khi thực ra tất cả điều y muốn chỉ là chiếm hữu cá nhân ấy, cả thể xác lẫn linh hồn, để thỏa mãn riêng cho mình. Chắc chắn một người thật sự yêu thương sẽ vui mừng khi thấy đối tượng mình yêu nhận được sự ngưỡng mộ và quan tâm từ người khác, nhưng người ghen tuông thì không. Đã ghen tuông trong suốt đời sống, sau khi chết y vẫn còn ghen tuông, tự hành hạ mình vô hạn và vô ích bằng cách liên tục theo dõi những người khác đến gần đối tượng của cái gọi là tình yêu của mình, căm ghét những người ấy và cố ảnh hưởng họ bằng mọi cách, nhưng thấy rằng mọi nỗ lực của mình đều vô dụng. Không ai trừng phạt những người như thế vì ghen tuông; họ chỉ đơn giản đang gặt lấy kết quả của chính sự ngu xuẩn của mình qua sự vận hành không thể ngăn cản của luật karma—hay định luật nhân quả. Cách duy nhất mà bất cứ ai có thể giúp họ là bằng phương pháp trí tuệ, tức là cho họ lời khuyên, cố chỉ cho họ thấy họ đang hành động ngu xuẩn đến mức nào, và giải thích cho họ rằng tất cả điều cần thiết để họ đạt được bình an là họ phải loại bỏ tính ích kỷ khỏi tình yêu của mình và phải nhận ra rằng không ai có thể sở hữu chân ngã, thể xác và linh hồn của người khác, dù y có mong muốn điều đó đến đâu đi nữa.

“One other example and then I am finished with purgatory. A business man once ruined one of his competitors and when criticised by some of his friends, said that harsh treatment was good in business, that he had learnt the hard way and that the lesson would not be wasted on his competitor in the long run. Sure enough, after some years had elapsed, the broken man did rise again—in fact he became a much more successful man than the one who had ruined him in his early life. The ruthless man often quoted this as proof of how right he had been—that ruthless treatment of a competitor was in reality a blessing in disguise. He thought no more about the incident during his lifetime.

“Thêm một ví dụ nữa rồi tôi sẽ kết thúc phần nói về luyện ngục. Có lần một doanh nhân đã làm phá sản một đối thủ cạnh tranh của mình, và khi bị vài người anh chỉ trích, ông nói rằng cách đối xử khắc nghiệt là điều tốt trong kinh doanh, rằng ông đã học bằng con đường cay đắng và bài học ấy về lâu dài sẽ không bị uổng phí đối với đối thủ của ông. Quả nhiên, sau vài năm trôi qua, người bị đánh gục ấy đã đứng dậy trở lại—thật ra ông ta còn trở nên thành công hơn nhiều so với người đã hủy hoại mình trong buổi đầu đời. Người tàn nhẫn ấy thường viện dẫn điều này như bằng chứng cho thấy mình đã đúng biết bao—rằng cách đối xử tàn nhẫn với một đối thủ cạnh tranh thực ra là một phúc lành trá hình. Trong suốt đời sống, ông không nghĩ gì thêm về sự việc ấy.

“How different it all appeared when the whole story was shown to him in what is called purgatory. There he saw the little man, after he was ruined, return to his home where he told his wife of his misfortune. It was also shown how this man’s son, who was starting his career at the University, had to give up that career and take the first job offered to him—that of a humble clerk. The father started again and, as I have said, in due time became a rich man, but that was too late to help the son: What of him? He was bitter at the trick Fate had played on him, so instead of settling down in his new sphere of activity and making the best of it, he became mixed up with bad companions, tried to make money quickly by dishonest means and finally landed in prison, which broke his mother’s heart and caused her death. The whole story, now seen in its full perspective, is a major tragedy, and you can easily imagine the suffering of that ruthless business man when he realised that the result of his greed, so thoughtless at the time, caused not only the temporary ruin of a small competitor but also the death of one woman and the ruin of a young man’s career.

“Mọi sự hiện ra khác biết bao khi toàn bộ câu chuyện được cho ông thấy trong cái gọi là luyện ngục. Ở đó ông thấy người đàn ông nhỏ bé ấy, sau khi bị phá sản, trở về nhà và kể cho vợ nghe về tai họa của mình. Người ta cũng cho thấy rằng con trai của người ấy, đang bắt đầu sự nghiệp ở đại học, đã phải từ bỏ con đường đó và nhận công việc đầu tiên được trao cho mình—một chân thư ký tầm thường. Người cha bắt đầu lại và, như tôi đã nói, đến đúng lúc đã trở thành một người giàu có, nhưng như thế đã quá muộn để giúp người con trai: còn nó thì sao? Nó cay đắng vì trò đùa mà Số phận đã giáng xuống mình, nên thay vì an phận trong lĩnh vực hoạt động mới và cố gắng làm tốt nhất có thể, nó lại dính vào anh xấu, tìm cách kiếm tiền thật nhanh bằng những phương tiện bất lương và cuối cùng vào tù, điều này làm tan nát trái tim mẹ nó và gây ra cái chết của bà. Toàn bộ câu chuyện, giờ đây được nhìn thấy trong đầy đủ viễn cảnh của nó, là một bi kịch lớn, và anh có thể dễ dàng hình dung nỗi đau khổ của người doanh nhân tàn nhẫn ấy khi ông nhận ra rằng kết quả của lòng tham lam của mình, vốn lúc đó quá vô tâm, không chỉ gây ra sự phá sản tạm thời của một đối thủ nhỏ mà còn gây ra cái chết của một người phụ nữ và sự hủy hoại sự nghiệp của một thanh niên.

“On the other side, we see the full and complete results of all our actions; few of us do not suffer in the seeing and register a vow that in future we shall act differently. The change in outlook towards such things is what purgatory is meant to produce and once our outlook is changed, our experiences in purgatory are at an end. By learning these lessons thoroughly, we can ensure that after future lives our passing through the lower part of the astral world will be little delayed by experiences similar to those I have related. We have to learn a lesson once only and if our characters change thereby we avoid much trouble and temporary misery in the future.

“Ở phía bên kia, chúng ta thấy đầy đủ và trọn vẹn kết quả của mọi hành động của mình; ít ai trong chúng ta không đau khổ khi nhìn thấy và không ghi nhận một lời thề rằng trong tương lai chúng ta sẽ hành động khác đi. Sự thay đổi trong cách nhìn đối với những điều như thế chính là điều mà luyện ngục nhằm tạo ra, và một khi cách nhìn của chúng ta đã thay đổi thì các kinh nghiệm của chúng ta trong luyện ngục cũng chấm dứt. Bằng cách học những bài học này một cách thấu đáo, chúng ta có thể bảo đảm rằng sau những kiếp sống tương lai, việc đi qua phần thấp của cõi cảm dục sẽ ít bị trì hoãn bởi những kinh nghiệm tương tự như những điều tôi đã kể. Chúng ta chỉ phải học một bài học một lần mà thôi, và nếu tính cách của chúng ta nhờ đó mà thay đổi, chúng ta sẽ tránh được rất nhiều phiền toái và đau khổ tạm thời trong tương lai.

“Just as the astral experiences of the average man and the man below average standard are in accordance with the types of lives they have lived on earth, so those of the intellectual man, the man above the average, are also in accordance with his mode of living. Such men pass more quickly through the lower to the higher levels of the astral world where they are not only able to continue any experimental work in which they were interested, but can gather students with similar tastes round them. Such gatherings are to be seen frequently; the scientists with his group of students, the mathematician with his smaller group, both find the astral world a much more suitable plane in which to work than the physical world, for four dimensional space can now be studied with opportunities of experimenting. The artist has his group of pupils trying to imitate his skill, as also does the musician, and now the latter is happy indeed for he has the opportunity of listening not only to the world’s music but to the music of nature from that of the sea and the wind to the music of the spheres—for there is a music of the spheres, there is an ordered song as the planets move through their mighty curves in space. There is music and colour connected with all the vast cosmic world, but as yet we understand the glory of the cosmic life as little as the crawling ant understands our life, with its many activities. A musician may meet the great angels of music, for there are angels who live for music, who express themselves in and by music, to whom music is what speech is to us. You will hear more about their activities later.

“Cũng như những kinh nghiệm cảm dục của người trung bình và người dưới mức trung bình phù hợp với loại đời sống mà họ đã sống trên trần thế, thì những kinh nghiệm của người trí thức, người trên mức trung bình, cũng phù hợp với lối sống của y. Những người như thế đi nhanh hơn từ các cấp thấp lên các cấp cao của cõi cảm dục, nơi họ không chỉ có thể tiếp tục bất cứ công trình thực nghiệm nào mà họ quan tâm, mà còn có thể quy tụ quanh mình những đạo sinh có cùng sở thích. Những cuộc tụ họp như thế thường thấy; nhà khoa học với nhóm đạo sinh của mình, nhà toán học với nhóm nhỏ hơn của mình, cả hai đều thấy cõi cảm dục là một cõi thích hợp hơn nhiều để làm việc so với cõi hồng trần, vì không gian bốn chiều giờ đây có thể được nghiên cứu cùng với những cơ hội thực nghiệm. Người nghệ sĩ có nhóm học trò của mình đang cố bắt chước kỹ năng của ông, cũng như nhạc sĩ cũng vậy, và giờ đây người sau quả thật hạnh phúc vì có cơ hội lắng nghe không chỉ âm nhạc của thế giới mà còn âm nhạc của thiên nhiên, từ âm nhạc của biển và gió đến âm nhạc của các thiên cầu—vì quả thật có một âm nhạc của các thiên cầu, có một khúc ca có trật tự khi các hành tinh chuyển động theo những đường cong hùng vĩ của chúng trong không gian. Có âm nhạc và màu sắc gắn liền với toàn bộ thế giới vũ trụ bao la, nhưng cho đến nay chúng ta hiểu vinh quang của sự sống vũ trụ cũng ít như con kiến bò hiểu đời sống của chúng ta với vô số hoạt động của nó. Một nhạc sĩ có thể gặp các thiên thần vĩ đại của âm nhạc, vì có những thiên thần sống vì âm nhạc, biểu lộ chính mình trong và bằng âm nhạc, đối với họ âm nhạc là điều mà lời nói là đối với chúng ta. Về sau anh sẽ nghe thêm về các hoạt động của họ.

“For the spiritually minded man, the man who has meditated deeply on higher things, there waits an infinity of bliss. During his lifetime he has had to rely on faith and his own reasoning powers; now he can prove the truth of many of the theories which he has studied in the world, and one can but faintly imagine the joy and peace that this knowledge will bring to such a man; he has been struggling in darkness and now, to a certain extent, he has found the light.

“Đối với người có tâm trí tinh thần, người đã tham thiền sâu xa về những điều cao cả, thì một vô hạn chí phúc đang chờ đợi. Trong suốt đời sống, y đã phải dựa vào đức tin và năng lực lý luận của chính mình; giờ đây y có thể chứng minh chân lý của nhiều lý thuyết mà y đã nghiên cứu trong thế gian, và người ta chỉ có thể mơ hồ hình dung niềm vui và sự bình an mà tri thức này sẽ mang đến cho một người như thế; y đã vật lộn trong bóng tối và giờ đây, ở một mức độ nào đó, y đã tìm thấy ánh sáng.

“The philanthropist who during his lifetime has had one thought, one object in view—the helping of his fellow men—has perhaps the greatest opportunity of all, for now he is free to devote the whole of his time to helping and comforting those who require his services. If he takes up the special work of helping those who have just passed over, he will find work for every minute of his astral life. During war time the need for this work is great, for the ignorant are many and the helpers are few. Much good karma is then earned by those who have fitted themselves for such work and who seize this golden opportunity.

“Nhà từ thiện, người mà trong suốt đời sống chỉ có một ý nghĩ, một mục tiêu trước mắt—giúp đỡ đồng loại của mình—có lẽ có cơ hội lớn nhất trong tất cả, vì giờ đây y được tự do hiến trọn thời gian của mình để giúp đỡ và an ủi những ai cần đến sự phụng sự của y. Nếu y đảm nhận công việc đặc biệt là giúp những người vừa mới qua đời, y sẽ thấy có việc cho từng phút trong đời sống cảm dục của mình. Trong thời chiến, nhu cầu đối với công việc này rất lớn, vì người vô minh thì nhiều mà người trợ giúp thì ít. Khi ấy, nhiều nghiệp lành được tạo ra bởi những ai đã chuẩn bị mình cho công việc như thế và nắm lấy cơ hội vàng này.

“Therefore I say to you, seek knowledge, not that you may help yourself alone, but that by this knowledge you may be able to assist your brother in distress; also that you may take your share in this great scheme of evolution and be, what every thinking man should be, a guide and a helper to the ignorant.”

“Vì vậy tôi nói với anh, hãy tìm kiếm tri thức, không phải để chỉ giúp riêng mình, mà để nhờ tri thức này anh có thể trợ giúp huynh đệ của mình trong cơn khốn khó; và cũng để anh có thể góp phần của mình vào hệ thống tiến hoá vĩ đại này và trở thành, như mọi người biết suy nghĩ đều nên trở thành, một người hướng dẫn và một người trợ giúp cho kẻ vô minh.”

“Today brings me to one of the most pleasant parts of my description of the astral world, for I must now talk about children, and after all do not children really make a world? It is only necessary to spend Christmas with a family that is without children to realise what a difference their happy voices and romping games make to this greatest of all festivals; nothing seems the same, the house appears to be dead and the world empty of true happiness. Children’s laughter is the most wonderful thing in the world, the one thing most missed by those who have worshipped at its shrine in the past, when they find that the time is gone by and that the revellers of the nursery have been submerged into the huge cauldron of adult humanity. It is as if children are the only really natural beings in the human world—the only people who understand enjoyment.

“Hôm nay đưa tôi đến một trong những phần dễ chịu nhất trong phần mô tả của tôi về cõi cảm dục, vì giờ đây tôi phải nói về trẻ em, và rốt cuộc chẳng phải trẻ em thực sự tạo nên một thế giới hay sao? Chỉ cần trải qua lễ Giáng Sinh với một gia đình không có trẻ em là đủ để nhận ra tiếng cười vui vẻ và những trò chơi nô đùa của chúng tạo nên sự khác biệt lớn đến thế nào cho ngày hội lớn nhất trong mọi ngày hội này; dường như không gì còn như cũ, ngôi nhà có vẻ như đã chết và thế giới trống rỗng niềm hạnh phúc chân thật. Tiếng cười của trẻ em là điều kỳ diệu nhất trên đời, là điều bị nhớ nhung nhất bởi những ai trước kia đã tôn thờ nơi đền thờ ấy, khi họ nhận ra rằng thời gian ấy đã qua và những kẻ vui đùa trong phòng trẻ đã bị nhấn chìm vào chiếc vạc khổng lồ của nhân loại trưởng thành. Dường như trẻ em là những hữu thể thực sự tự nhiên duy nhất trong thế giới loài người—những người duy nhất hiểu được niềm vui.

“The explanation of this lies in the fact that having so recently returned to earth they are as yet so near to the truly glorious life of the heaven world that they still retain some touch with life at its highest, life that is one with the nature kingdom, the land of fairies, the land of beauties untold and undreamed of by the material beings we all seem to become when we grow up and are tarred with the brush of convention and “respectability.” A condition analagous to this is to be seen in the animal kingdom. Even lion cubs are delightful as babies; when they are born, they have no fear for they have just come from the astral world where fear does not exist for them. After some months, or even a year or so, their instinct—which is part of the group soul to which they belong—filters through, then fear and antagonism for the human race comes into force and no longer can they be considered as safe pets.

“Sự giải thích cho điều này nằm ở chỗ vì chúng vừa mới trở lại trần thế nên chúng vẫn còn gần với đời sống thật sự huy hoàng của cõi thiên đường đến mức vẫn giữ được đôi chút tiếp xúc với đời sống ở mức cao nhất của nó, đời sống hợp nhất với giới tự nhiên, xứ sở của các tiên nữ, xứ sở của những vẻ đẹp không thể kể xiết và không thể mơ tới đối với những hữu thể vật chất mà dường như tất cả chúng ta đều trở thành khi lớn lên và bị quét lớp hắc ín của tập tục và “sự đứng đắn” lên mình. Một trạng thái tương tự như thế có thể thấy trong giới động vật. Ngay cả sư tử con cũng thật đáng yêu khi còn bé; khi mới sinh, chúng không có sợ hãi vì chúng vừa từ cõi cảm dục đến, nơi đối với chúng không có sợ hãi. Sau vài tháng, hay thậm chí khoảng một năm, bản năng của chúng—vốn là một phần của Hồn nhóm mà chúng thuộc về—thấm dần qua, rồi nỗi sợ và sự đối kháng đối với nhân loại bắt đầu có hiệu lực, và chúng không còn có thể được xem là thú cưng an toàn nữa.

“It is usually considered that nothing is quite so sad as for a child to be cut off at any stage of its career, but especially at the time when it is emerging from babyhood into what is described as the ‘interesting stage’ at about three years old. The period when a child ceases to be a child is not determined by age; some lose their childish ways as soon as they enter school, others remain children till well into their teens. The death of a child must always seem unnecessary to those who have not grasped at least the elementary theory of evolution, for it is very natural that they should wonder why parents have to suffer in this way, and what the use is of a life which ends so soon after it has begun. Students of evolution, however, realise that a child is an individual who has descended to this physical plane to obtain experience—to work out its destiny. If it dies young, it gains little experience and it will not take long to assimilate this after leaving the physical world, thus it is more likely that the child who has died young will be the sooner back to live another life. It does not follow that it would lose anything or suffer in any way from this early death. If the average person would only take the little trouble necessary to gain this knowledge, how much happier the world would be.

“Người ta thường cho rằng không gì buồn bằng việc một đứa trẻ bị cắt đứt đời sống của nó ở bất cứ giai đoạn nào, nhưng đặc biệt là vào lúc nó đang từ thời kỳ sơ sinh bước vào cái được gọi là ‘giai đoạn thú vị’ vào khoảng ba tuổi. Thời kỳ khi một đứa trẻ thôi không còn là trẻ con không được quyết định bởi tuổi tác; có đứa mất đi những nét trẻ thơ ngay khi vào trường, có đứa vẫn còn là trẻ con mãi đến tận tuổi thiếu niên. Cái chết của một đứa trẻ luôn phải có vẻ vô nghĩa đối với những ai chưa nắm được dù chỉ là lý thuyết sơ đẳng về tiến hoá, vì việc họ tự hỏi tại sao cha mẹ phải đau khổ theo cách này, và ích lợi gì của một đời sống kết thúc quá sớm sau khi vừa bắt đầu, là điều rất tự nhiên. Tuy nhiên, những đạo sinh của tiến hoá nhận ra rằng một đứa trẻ là một cá nhân đã giáng xuống cõi hồng trần này để thu nhận kinh nghiệm—để thực hiện định mệnh của nó. Nếu nó chết sớm, nó thu được ít kinh nghiệm và sẽ không mất nhiều thời gian để đồng hóa điều này sau khi rời cõi hồng trần; do đó rất có thể đứa trẻ chết sớm sẽ sớm trở lại để sống một đời khác. Điều đó không có nghĩa là nó mất mát điều gì hay chịu đau khổ theo bất cứ cách nào vì cái chết sớm ấy. Nếu người trung bình chỉ chịu bỏ chút công sức nhỏ cần thiết để đạt được tri thức này, thế giới sẽ hạnh phúc hơn biết bao.

“When a baby is about to pass to the next world, the ceremony of baptism should always be performed. This rite makes the child a member of a holy brotherhood, surrounds it with a certain definite protection and starts it along a certain line of vibrations and influences which prevent harm from coming near it.

“Khi một em bé sắp đi sang thế giới kế tiếp, nghi thức rửa tội luôn luôn nên được thực hiện. Nghi lễ này làm cho đứa trẻ trở thành một thành viên của một huynh đệ đoàn thiêng liêng, bao bọc nó bằng một sự bảo vệ xác định nào đó và khởi đầu cho nó trên một đường rung động và ảnh hưởng nhất định, ngăn không cho tổn hại đến gần nó.

“When children reach the astral world they have a wonderfully happy life, because of the absence of restrictions. They never lack attention for there are always numbers of mothers that have passed over who are willing and eager to care for a child that has died when a baby. They have the same maternal feelings when living at the astral level as they had when living in the physical world. Poverty, lack of food, suffering from cold—such things have no place in the thoughts of the astral mother. Sleep is no longer a necessity, so there is plenty of time to give to any child she adopts. Apart from the pleasure of seeing that it is cared for and amused, she can commence the child’s education, introducing it to the beauties of this world in their many forms. Such teaching may leave its mark on the child and may cause it to turn to the artistic side of life in its next incarnation. As well as foster mothers, who are always available, there is a vast army of astral helpers also ready to pilot a newcomer through the early stages of his new life.

“Khi trẻ em đến cõi cảm dục, chúng có một đời sống kỳ diệu và hạnh phúc, vì không có những hạn chế. Chúng không bao giờ thiếu sự chăm sóc vì luôn luôn có vô số những người mẹ đã qua đời sẵn lòng và tha thiết chăm nom một đứa trẻ chết khi còn là em bé. Họ có cùng những tình cảm mẫu tử khi sống ở cấp độ cảm dục như khi sống trong cõi hồng trần. Nghèo đói, thiếu thức ăn, chịu rét—những điều như thế không có chỗ trong ý nghĩ của người mẹ cảm dục. Giấc ngủ không còn là điều cần thiết nữa, nên có rất nhiều thời gian để dành cho bất cứ đứa trẻ nào bà nhận nuôi. Ngoài niềm vui khi thấy nó được chăm sóc và được vui chơi, bà có thể bắt đầu việc giáo dục đứa trẻ, giới thiệu cho nó những vẻ đẹp của thế giới này dưới nhiều hình thức. Sự dạy dỗ như thế có thể để lại dấu ấn trên đứa trẻ và có thể khiến nó hướng về phương diện nghệ thuật của đời sống trong lần nhập thể kế tiếp. Ngoài những bà mẹ nuôi, những người luôn luôn sẵn có, còn có cả một đạo quân rộng lớn những người trợ giúp cảm dục cũng sẵn sàng dìu dắt một người mới đến qua những giai đoạn đầu của đời sống mới của nó.

“Like the adult, the child is unchanged by passing to this new world. There are always many who are only too anxious to help him at his games and there are also the nature spirits, who play a great part in children’s games on the astral plane. Think of the imaginative child surrounding himself, still in imagination, with the wonders of the kingdoms described in his fairy books. In this astral world the child will not have to rely on make believe. Once a thing is imagined, it is there plain for him to see, for the matter of the astral world is moulded by thought, and just as long as the child imagines a thing so will the thing be there. Instead of sitting in an old washtub with a pair of walking sticks for oars, the child who wants to row on the river has only to think of the river, only to imagine the boat and the oars, and they are there for his use. The child who loves to imitate the heroes of fiction has only to think strongly of himself as the hero and he immediately becomes his idea of what that character should be. The plastic astral body is moulded into that very shape and so for the time being, the child absolutely becomes what he is trying to imagine. He becomes Hermes with the winged shoes or Jason in charge of the Argo or Robin Hood, the hero of Sherwood Forest. Whatever he thinks of, he becomes and when he gets tired of that impersonation, he has only to think of someone else and the plastic astral body obeys his commands. It is a wonderful education for a child, this living amongst the characters of his imagination, since he learns much by this method that would be impossible under physical plane conditions.

“Cũng như người trưởng thành, đứa trẻ không thay đổi khi đi sang thế giới mới này. Luôn luôn có nhiều người quá đỗi sẵn lòng giúp nó trong các trò chơi của nó, và cũng có cả những tinh linh tự nhiên, những hữu thể đóng một vai trò lớn trong các trò chơi của trẻ em trên cõi cảm dục. Hãy nghĩ đến đứa trẻ giàu tưởng tượng vẫn còn bao quanh mình, trong sự tưởng tượng, bằng những điều kỳ diệu của các vương quốc được mô tả trong những cuốn sách thần tiên của nó. Trong cõi cảm dục này, đứa trẻ sẽ không phải dựa vào sự giả vờ tưởng tượng nữa. Một khi điều gì được tưởng tượng ra, nó hiện diện rõ ràng để nó nhìn thấy, vì vật chất của cõi cảm dục được nắn bởi tư tưởng, và chừng nào đứa trẻ còn tưởng tượng một điều gì thì điều ấy sẽ còn ở đó. Thay vì ngồi trong một cái chậu tắm cũ với đôi gậy làm mái chèo, đứa trẻ muốn chèo thuyền trên sông chỉ cần nghĩ đến con sông, chỉ cần tưởng tượng ra con thuyền và mái chèo, là chúng hiện ra để nó sử dụng. Đứa trẻ thích bắt chước các anh hùng trong truyện chỉ cần nghĩ mạnh mẽ về mình như là vị anh hùng ấy, và ngay lập tức nó trở thành ý niệm của nó về nhân vật đó phải như thế nào. Thể cảm dục linh động được nắn thành chính hình dạng ấy, và vì vậy trong lúc đó, đứa trẻ tuyệt đối trở thành điều nó đang cố tưởng tượng. Nó trở thành Hermes với đôi giày có cánh, hay Jason chỉ huy con tàu Argo, hay Robin Hood, vị anh hùng của rừng Sherwood. Bất cứ điều gì nó nghĩ đến, nó đều trở thành, và khi mệt với sự nhập vai ấy, nó chỉ cần nghĩ đến một người khác và thể cảm dục linh động liền tuân theo mệnh lệnh của nó. Đây là một nền giáo dục kỳ diệu cho trẻ em, việc sống giữa những nhân vật của sự tưởng tượng của mình, vì bằng phương pháp này nó học được nhiều điều mà trong các điều kiện của cõi hồng trần là điều không thể.

“We all know the child who is continually asking questions. How often have we found ourselves up against a stumbling block, because it is impossible to give an answer that may be understood by the listener who has only a child’s undeveloped brain and elementary intellect. Sometimes we even go so far as to scold the child and try to discourage him from questioning. We do not want to hinder his progress, we just feel that now and again our answers are so inadequate that it would be better for the question to remain unanswered rather than to give a wrong impression. When the astral plane conditions can be made use of, all that is changed. He can be shown the answer to his question by making an image to float before his eyes. A living model (for it is living so long as our thought is concentrated upon it) is a great improvement on a wordy discourse.

“Tất cả chúng ta đều biết đứa trẻ luôn luôn đặt câu hỏi. Biết bao lần chúng ta thấy mình vấp phải một trở ngại, vì không thể đưa ra một câu trả lời mà người nghe, với bộ não chưa phát triển của trẻ con và trí tuệ sơ đẳng, có thể hiểu được. Đôi khi chúng ta thậm chí còn đi xa đến mức quở trách đứa trẻ và cố làm cho nó nản lòng trong việc đặt câu hỏi. Chúng ta không muốn cản trở sự tiến bộ của nó, chỉ là đôi khi chúng ta cảm thấy câu trả lời của mình quá không đầy đủ đến nỗi tốt hơn là để câu hỏi không được trả lời còn hơn tạo ra một ấn tượng sai lầm. Khi các điều kiện của cõi cảm dục có thể được sử dụng, tất cả điều đó thay đổi. Người ta có thể cho nó thấy câu trả lời cho câu hỏi của nó bằng cách tạo ra một hình ảnh lơ lửng trước mắt nó. Một mô hình sống động (vì nó sống chừng nào tư tưởng của chúng ta còn tập trung vào nó) là một sự cải thiện lớn so với một bài diễn giải dài dòng bằng lời.

“It may be asked: ‘Do the children not miss their fathers and mothers, friends and playmates?’ No, they do not and for this reason. Everyone when asleep spends these hours in the same world as the child who is dead. The fathers and mothers who mourn because they think they have lost a child, find that the same child is visible to them again the moment they sleep and are out of their physical bodies; they are able to talk to the child and he to them, to play with him, to continue his education and so on. They are able, practically, to carry on from where they left off on earth, but the pity of it is that these self-same parents remember nothing about this when they wake up in the morning. The child after death is invisible to the average parent—to all who have not developed clairvoyance—whereas the parents are never invisible to the child. He can always see them (the astral counterparts of their physical bodies) and often when parents are mourning over the death of a child, the one who is dead is standing by their side, trying in every way possible to communicate with them. To the child, the parents seem to be very dull and stupid at such times, for the child cannot realise that although he can see them, they cannot see him.

“Người ta có thể hỏi: ‘Trẻ em có nhớ cha mẹ, anh bè và anh chơi của chúng không?’ Không, chúng không nhớ, và vì lý do này. Mọi người khi ngủ đều trải qua những giờ ấy trong cùng một thế giới với đứa trẻ đã chết. Những người cha người mẹ than khóc vì nghĩ rằng mình đã mất con, thấy rằng chính đứa trẻ ấy lại hiện ra với họ ngay khi họ ngủ và ra khỏi thể xác; họ có thể nói chuyện với đứa trẻ và nó với họ, chơi với nó, tiếp tục việc giáo dục nó, v.v. Trên thực tế, họ có thể tiếp tục từ nơi họ đã dừng lại trên trần thế, nhưng điều đáng tiếc là chính những bậc cha mẹ ấy lại không nhớ gì về điều này khi thức dậy vào buổi sáng. Sau khi chết, đứa trẻ là vô hình đối với cha mẹ trung bình—đối với tất cả những ai chưa phát triển thông nhãn—trong khi cha mẹ không bao giờ vô hình đối với đứa trẻ. Nó luôn luôn có thể thấy họ (các đối phần cảm dục của thể xác họ), và thường khi cha mẹ đang than khóc vì cái chết của con, thì đứa trẻ đã chết ấy đang đứng bên cạnh họ, cố giao tiếp với họ bằng mọi cách có thể. Đối với đứa trẻ, cha mẹ dường như rất đờ đẫn và ngu ngốc vào những lúc như thế, vì đứa trẻ không thể nhận ra rằng mặc dù nó có thể thấy họ, họ lại không thể thấy nó.

“An oft repeated question is: ‘Do children grow when they are living in the astral world?’ This question is always difficult to answer, because if the child is asked, it usually answers: ‘Yes, I have grown quite a lot.’ As I have told you, the astral body does not grow after death, for though the child develops mentally and learns more, the body actually remains as it was when the child died. Growth is only necessary at the physical level; after a person is born, the body grows gradually until it attains full stature, unless the subject dies, when physical growth automatically ceases. As there is now no physical body to which the astral body need adapt itself, it too ceases to grow. When the child says it has grown, it means the child ‘thinks’ it has grown: the plastic astral body immediately responds to that thought and for a time is bigger, but as soon as the thought is dropped, the body returns to its actual or usual size. There is nothing mysterious about this; it is only the working of the laws of nature, and higher matter responds to those laws as well as the lower variety.

“Một câu hỏi thường được lặp đi lặp lại là: ‘Trẻ em có lớn lên khi sống trong cõi cảm dục không?’ Câu hỏi này luôn khó trả lời, vì nếu hỏi đứa trẻ, nó thường trả lời: ‘Có, cháu lớn lên nhiều lắm rồi.’ Như tôi đã nói với anh, thể cảm dục không lớn lên sau khi chết, vì dù đứa trẻ phát triển về trí tuệ và học hỏi thêm, thể ấy thực ra vẫn giữ nguyên như khi đứa trẻ chết. Sự tăng trưởng chỉ cần thiết ở cấp độ hồng trần; sau khi một người được sinh ra, thể xác lớn dần cho đến khi đạt tầm vóc đầy đủ, trừ khi đương sự chết, lúc đó sự tăng trưởng hồng trần tự động chấm dứt. Vì giờ đây không còn thể xác để thể cảm dục phải thích nghi theo, nên nó cũng ngừng lớn lên. Khi đứa trẻ nói rằng nó đã lớn lên, điều đó có nghĩa là đứa trẻ ‘nghĩ’ rằng nó đã lớn lên: thể cảm dục linh động lập tức đáp ứng với tư tưởng ấy và trong một thời gian trở nên lớn hơn, nhưng ngay khi tư tưởng ấy được buông bỏ, thể lại trở về kích thước thực sự hay thông thường của nó. Không có gì bí ẩn trong điều này; đó chỉ là sự vận hành của các định luật của bản chất, và vật chất cao hơn cũng đáp ứng với những định luật ấy không kém gì loại thấp hơn.

“I once saw a most interesting example of how this works for different people, in a case where a man and his wife died together in a motor accident. Ten years previous to that date they had lost a young daughter aged five. The man, who had studied occultism, expected to see his daughter looking just the same as when she was alive, so greeted her by picking her up in his arms in the same way as he used to do when he came home from his office. The wife, however, not having studied these matters in any way, naturally added up the years that had passed since the child died and expected to see a girl of fifteen years of age waiting to greet her on the other side. She was not disappointed; she saw the tall girl with the attractive face and eyes that she had so often imagined her daughter would grow into and exclaimed as she greeted her: ‘Haven’t you grown! Why, you’re nearly a woman now.’

“Tôi đã từng thấy một ví dụ hết sức thú vị về cách điều này vận hành đối với những người khác nhau, trong trường hợp một người đàn ông và vợ ông chết cùng nhau trong một tai nạn xe hơi. Mười năm trước thời điểm đó họ đã mất một cô con gái nhỏ năm tuổi. Người chồng, vì đã nghiên cứu huyền bí học, nên mong đợi sẽ thấy con gái mình trông y hệt như khi nó còn sống, vì thế ông chào đón nó bằng cách bế nó lên tay theo đúng cách ông vẫn thường làm khi đi làm về. Tuy nhiên, người vợ, vì hoàn toàn chưa từng nghiên cứu những vấn đề này, nên tự nhiên cộng số năm đã trôi qua kể từ khi đứa trẻ chết và mong đợi sẽ thấy một thiếu nữ mười lăm tuổi đang chờ chào mình ở phía bên kia. Bà đã không thất vọng; bà thấy một thiếu nữ cao lớn với khuôn mặt và đôi mắt duyên dáng mà bà đã nhiều lần tưởng tượng con gái mình sẽ lớn lên thành như thế, và khi chào đón nó bà kêu lên: ‘Con lớn quá rồi! Sao, giờ con gần thành thiếu nữ rồi.’

“The husband, knowing something of the peculiarities of the astral plastic matter, was not at all surprised and did not spoil her pleasure by explaining to his wife that what she was really seeing was a thought-form made by herself, within which was housed the ego of their daughter whom they had not seen, except during sleep, for the past ten years. This example shows that although it is a fact that people do not grow in size on the astral plane, yet to those who cannot subscribe to this fact or find it difficult to understand, their illusions prove quite satisfactory and no one is harmed by them.

“Người chồng, vì biết đôi điều về những đặc tính của vật chất cảm dục linh động, nên hoàn toàn không ngạc nhiên và không làm hỏng niềm vui của vợ bằng cách giải thích cho bà rằng điều bà thực sự đang thấy là một Hình tư tưởng do chính bà tạo ra, bên trong đó là chân ngã của cô con gái họ, người mà họ đã không thấy, ngoại trừ trong giấc ngủ, suốt mười năm qua. Ví dụ này cho thấy rằng mặc dù đúng là con người không lớn lên về kích thước trên cõi cảm dục, nhưng đối với những ai không thể chấp nhận sự thật này hoặc thấy khó hiểu nó, thì những ảo tưởng của họ vẫn tỏ ra hoàn toàn thỏa đáng và không ai bị tổn hại vì chúng.

“Before finishing my remarks on the life of children in the astral level, let me give you one example to show how the early death of a child can and usually does benefit that child considerably. Two people who were married but in poor circumstances longed for a child. In due time a son was born to them who lived for just two years. The parents were frantic with grief at his loss and nothing and no one seemed to be able to console them. Life which before had seemed to be nearly perfect, was now empty and desolate, and the atmosphere of their home was depressing in the extreme. In time they felt the loss less keenly but the wound was still there, and each made it worse for the other by treating the subject as a closed one, never to be mentioned—which only meant that they both brooded all the more in their inner hearts. The one thing they had both loved, the child whose future they had planned, had been taken from them and great was their grief, great their feeling of frustration, that they should be treated thus by a creator who was said to be beneficent.

“Trước khi kết thúc những nhận xét của tôi về đời sống của trẻ em ở cấp độ cảm dục, hãy để tôi đưa ra cho anh một ví dụ để cho thấy cái chết sớm của một đứa trẻ có thể và thường thực sự đem lại lợi ích đáng kể cho đứa trẻ ấy như thế nào. Hai người đã kết hôn nhưng hoàn cảnh nghèo khó rất mong có con. Đến đúng lúc, một đứa con trai được sinh ra cho họ và chỉ sống được đúng hai năm. Cha mẹ nó điên cuồng vì đau buồn trước sự mất mát ấy và dường như không điều gì, không ai có thể an ủi họ. Đời sống trước kia dường như gần như hoàn hảo, giờ đây trở nên trống rỗng và hoang vắng, và bầu không khí trong ngôi nhà của họ buồn thảm đến cực độ. Theo thời gian họ cảm thấy nỗi mất mát bớt nhói buốt hơn, nhưng vết thương vẫn còn đó, và mỗi người lại làm cho người kia đau hơn bằng cách coi đề tài ấy là điều cấm nhắc đến, không bao giờ được nói ra—điều đó chỉ có nghĩa là cả hai càng âm thầm ủ rũ hơn trong lòng. Điều duy nhất mà cả hai cùng yêu thương, đứa trẻ mà tương lai của nó họ đã hoạch định, đã bị lấy khỏi họ, và nỗi đau của họ thật lớn, cảm giác thất vọng của họ thật sâu, khi họ bị đối xử như thế bởi một đấng sáng tạo được nói là nhân từ.

“This sorrow acted in different ways on the two people: whilst the woman carried on her household duties and prayed that one day she might conceive another child, the man threw himself wholeheartedly into his business, feeling quite rightly that hard work would take his mind off his great sorrow. Five years after the death of the first child, the woman produced another son and their joy was complete. As it happened the new son was the same ego who had been taken from them five years ago. Through the hard work which the sorrowing father had put into his business the material resources of the family were now flourishing, so when the time came for the second child to be educated, the man was in a position to give him a first class education—five years earlier the money would not have been available for this.

“Nỗi buồn này tác động theo những cách khác nhau lên hai người: trong khi người phụ nữ tiếp tục công việc nội trợ và cầu nguyện rằng một ngày nào đó mình có thể thụ thai một đứa trẻ khác, thì người đàn ông dốc toàn tâm toàn ý vào công việc kinh doanh của mình, hoàn toàn đúng khi cảm thấy rằng lao động chăm chỉ sẽ giúp tâm trí mình rời khỏi nỗi buồn lớn lao ấy. Năm năm sau cái chết của đứa con đầu, người phụ nữ sinh thêm một con trai nữa và niềm vui của họ trọn vẹn. Tình cờ thay, đứa con trai mới chính là cùng một chân ngã đã bị lấy khỏi họ năm năm trước. Nhờ công việc chăm chỉ mà người cha đau buồn đã dồn vào việc kinh doanh, các nguồn lực vật chất của gia đình giờ đây đang hưng thịnh, nên khi đến lúc đứa con thứ hai cần được giáo dục, người đàn ông đã ở vào vị thế có thể cho nó một nền giáo dục hạng nhất—năm năm trước thì số tiền ấy chưa thể có được cho việc này.

“The net result of this seemingly useless death was that firstly the husband and wife paid off quite a number of units of karma, through their suffering, and secondly the child who had earned the right to be given a good education by actions in his previous life, had to be withdrawn from the first body, kept waiting five years for the second body and then reborn to the same family. The child ego did not suffer at all by these occurrences; he gained much by the opportunities available to him in his second body. Being born a few years later is nothing in the scheme of evolution, but often a few years make all the difference to the conditions ruling in a particular family on the physical plane, which can have far reaching effects on egos born into such environment.

“Kết quả ròng của cái chết tưởng như vô ích này là, thứ nhất, hai vợ chồng đã trả được khá nhiều đơn vị nghiệp quả qua sự đau khổ của mình, và thứ hai, đứa trẻ đã kiếm được quyền được hưởng một nền giáo dục tốt bằng những hành động trong kiếp trước của nó, đã phải được rút khỏi thể đầu tiên, chờ năm năm cho thể thứ hai, rồi tái sinh vào chính gia đình ấy. Chân ngã của đứa trẻ hoàn toàn không đau khổ vì những biến cố này; nó được lợi rất nhiều nhờ những cơ hội dành cho nó trong thể thứ hai. Được sinh ra muộn hơn vài năm không là gì trong hệ thống tiến hoá, nhưng thường chỉ vài năm cũng tạo nên toàn bộ sự khác biệt đối với những điều kiện chi phối một gia đình cụ thể trên cõi hồng trần, điều này có thể có những ảnh hưởng sâu rộng lên các chân ngã sinh vào môi trường như thế.

“To sum up. Generally it is necessary for a man to return to the home of the ego, which is at the higher mental level, only if he has lived a life in the physical world for an average length of time. To get there he must pass through the astral world, live his life there, then drop his astral body and in his mental body consolidate at the mental level all the mental experiences and intellectual efforts that took place in his last life. This being done, his mental body is also dropped and he does not get new mental and astral vehicles until the time comes for him to incarnate again. I mention this now so that you may realise that a short life on the physical plane often means that the child, having little or no experience to consolidate after such a short physical existence, returns to the astral plane only, for a few years, and is then given a new physical body retaining the same astral and mental bodies which it had drawn round itself prior to the recent short life on the physical plane.

“Tóm lại. Nói chung, một người chỉ cần trở về ngôi nhà của chân ngã, vốn ở cấp độ thượng trí, nếu y đã sống một đời trong cõi hồng trần với độ dài trung bình. Để đến đó, y phải đi qua cõi cảm dục, sống đời sống của mình ở đó, rồi bỏ thể cảm dục và trong thể trí của mình củng cố ở cấp độ trí tuệ tất cả những kinh nghiệm trí tuệ và những nỗ lực trí thức đã diễn ra trong đời sống cuối cùng của y. Khi việc này hoàn tất, thể trí của y cũng được bỏ đi và y không nhận được các vận cụ trí tuệ và cảm dục mới cho đến khi đến lúc y lại nhập thể. Tôi nhắc điều này bây giờ để anh có thể nhận ra rằng một đời sống ngắn ngủi trên cõi hồng trần thường có nghĩa là đứa trẻ, vì có ít hoặc không có kinh nghiệm nào để củng cố sau một sự tồn tại hồng trần ngắn ngủi như thế, chỉ trở lại cõi cảm dục trong vài năm, rồi được ban cho một thể xác mới trong khi vẫn giữ nguyên các thể cảm dục và trí tuệ mà nó đã thu hút quanh mình trước đời sống ngắn ngủi vừa qua trên cõi hồng trần.

“As you are beginning to appreciate, evolution is a slow process; we would understand it more easily if we could see the scheme as a whole instead of the small part most of us get a glimpse of whilst living at the physical level.

“Như anh đang bắt đầu nhận ra, tiến hoá là một tiến trình chậm; chúng ta sẽ hiểu nó dễ hơn nếu có thể thấy toàn bộ hệ thống thay vì chỉ phần nhỏ mà đa số chúng ta thoáng thấy trong khi sống ở cấp độ hồng trần.

“There is much that I shall have to teach you about life at the astral level; and I shall give you an opportunity of asking as many questions as you like concerning the points on which you are not quite clear. Before I go on, however, I propose to try out an experiment, with which I think you will be only too anxious to cooperate. Last night I received permission from my Master, who is one of the great adepts or perfected men who help to govern this planet, to give you the opportunity of seeing for yourself some of the conditions about which I have been talking the last few days. It was my Master who sent me to you in the first place.

“Còn nhiều điều tôi sẽ phải dạy anh về đời sống ở cấp độ cảm dục; và tôi sẽ cho anh cơ hội đặt bao nhiêu câu hỏi tùy thích về những điểm mà anh chưa thật rõ. Tuy nhiên, trước khi tiếp tục, tôi dự định thử một thí nghiệm mà tôi nghĩ anh sẽ hết sức sẵn lòng hợp tác. Đêm qua tôi đã nhận được sự cho phép từ Chân sư của tôi, một trong những chân sư vĩ đại hay những con người toàn thiện giúp cai quản hành tinh này, để cho anh cơ hội tự mình thấy một số điều kiện mà tôi đã nói đến trong mấy ngày qua. Chính Chân sư của tôi là Đấng đã phái tôi đến với anh ngay từ đầu.

“What I propose is that you shall yourself go on an astral journey and, if you will do exactly what I tell you, I think I can help you to remember much of that which you see and do during the time you are out of your body. Tomorrow morning therefore I shall not visit you as I usually do. You can spend the morning reading all the notes you made of my talks during the past six days. Refresh your memory on every detail possible, for you will need to remember a great deal of what I have told you if you are to benefit from the opportunity I propose to give you, in the hope that it will make many things which are now not clear, easier for you to understand.

“Điều tôi dự định là chính anh sẽ thực hiện một cuộc du hành cảm dục, và nếu anh làm đúng chính xác những gì tôi bảo, tôi nghĩ tôi có thể giúp anh nhớ được nhiều điều trong những gì anh thấy và làm trong thời gian ở ngoài thể xác. Vì vậy sáng mai tôi sẽ không đến thăm anh như thường lệ. anh có thể dành buổi sáng để đọc tất cả những ghi chép anh đã viết về các cuộc nói chuyện của tôi trong sáu ngày qua. Hãy làm mới ký ức của anh về mọi chi tiết có thể, vì anh sẽ cần nhớ rất nhiều điều tôi đã nói nếu muốn hưởng lợi từ cơ hội mà tôi định trao cho anh, với hy vọng rằng nó sẽ làm cho nhiều điều hiện nay chưa rõ trở nên dễ hiểu hơn đối với anh.

“You must eat no meat today or tomorrow nor touch alcohol. I know you usually eat very little meat and seldom drink very much, but even a little alcohol will add to my difficulties, for it will be my job to impress on your brain cells, on your return to your physical body, the necessity for you to remember what you have been doing out of your body. It may not necessarily be completely successful but we shall try, and since my Master has agreed to the scheme, I have no doubt that He will help me to carry it out.Tomorrow evening you must have your last meal at 7 o’clock; go to your room after dinner and be ready for bed at 9:45 p.m. I have here a tablet which you must take when you go to bed, as it will ensure that you are asleep by 10 o’clock, at which time I shall arrive. Before settling yourself for sleep, try to imagine what you look like lying on your bed. The simplest method of doing this is for you to imagine that, immediately above your bed, where the ceiling is, there is a huge mirror. Were this so, what would you see in that mirror after you got to bed? That is the picture I wish you to have in mind as you fall asleep, for that is what you will see immediately after you disconnect yourself from your physical body.

“Hôm nay và ngày mai anh không được ăn thịt cũng không được đụng đến rượu. Tôi biết anh thường ăn rất ít thịt và hiếm khi uống nhiều, nhưng ngay cả một chút rượu cũng sẽ làm tăng khó khăn cho tôi, vì nhiệm vụ của tôi sẽ là ghi khắc lên các tế bào não của anh, khi anh trở về thể xác, sự cần thiết phải nhớ những gì anh đã làm ngoài thể xác. Điều đó có thể không nhất thiết hoàn toàn thành công nhưng chúng ta sẽ thử, và vì Chân sư của tôi đã đồng ý với kế hoạch này, tôi không nghi ngờ gì rằng Ngài sẽ giúp tôi thực hiện nó. Tối mai anh phải ăn bữa cuối cùng lúc 7 giờ; sau bữa tối hãy vào phòng và sẵn sàng đi ngủ lúc 9 giờ 45 tối. Tôi có ở đây một viên thuốc mà anh phải uống khi đi ngủ, vì nó sẽ bảo đảm rằng anh ngủ vào lúc 10 giờ, khi ấy tôi sẽ đến. Trước khi yên vị để ngủ, hãy cố hình dung anh trông như thế nào khi đang nằm trên giường. Phương pháp đơn giản nhất để làm điều này là hãy tưởng tượng rằng ngay phía trên giường anh, nơi có trần nhà, là một tấm gương khổng lồ. Nếu quả thật như vậy, sau khi lên giường anh sẽ thấy gì trong tấm gương ấy? Đó là hình ảnh mà tôi muốn anh giữ trong tâm trí khi chìm vào giấc ngủ, vì đó là điều anh sẽ thấy ngay sau khi tách mình khỏi thể xác.

“At first you may be so surprised at seeing what appears to be you lying on the bed (whereas the real you is looking at that physical body) that instinctively you become somewhat frightened and the result of that fear would be a hurried return to the body on the bed and you would wake up again. I am warning you beforehand what to expect, as I wish to avoid this. Although you get out of your body every night, you do not remember anything about this because you are not conscious of getting out; now I am trying to arrange that there will be no break of consciousness at all between your falling asleep and realising your detachment from your physical body. I shall try to help you to retain that continuity of consciousness, right from the moment of your falling asleep to the moment of your return to your body in the morning. Then you will have no difficulty in remembering and being able to describe in detail all you have done in your astral body during the hours when your physical body remained lying on the bed. Without this continuity of consciousness, you would remember little or nothing of such doings, only bringing back a fragment of one or more happenings, which you would probably describe as a dream. Most peoples’ dreams are fragments of what they have been doing during their sleep which the brain cells often distort. It is never easy to remember every detail correctly and it takes years of study, concentration and practice to achieve anything like perfect results. That is why I cannot guarantee that you will remember everything, even when helped by my Master; if perchance you are entirely successful you must not be disappointed if you find, as undoubtedly you will, that on future occasions, when you wake up, you are unable to bring through anything at all.

“Lúc đầu anh có thể quá ngạc nhiên khi thấy cái dường như là anh đang nằm trên giường (trong khi con người thật của anh đang nhìn thể xác ấy) đến mức theo bản năng anh trở nên hơi sợ hãi, và kết quả của nỗi sợ ấy sẽ là một sự trở về vội vã vào thể trên giường và anh sẽ tỉnh dậy lần nữa. Tôi báo trước cho anh biết điều gì sẽ xảy ra, vì tôi muốn tránh điều này. Mặc dù đêm nào anh cũng ra khỏi thể xác, anh không nhớ gì về điều đó vì anh không có ý thức về việc ra khỏi thể; giờ đây tôi đang cố sắp xếp để sẽ không có sự gián đoạn tâm thức nào giữa lúc anh chìm vào giấc ngủ và lúc chứng nghiệm sự tách rời khỏi thể xác của mình. Tôi sẽ cố giúp anh giữ được sự liên tục tâm thức ấy, từ chính khoảnh khắc anh chìm vào giấc ngủ cho đến khoảnh khắc anh trở về thể xác vào buổi sáng. Khi đó anh sẽ không gặp khó khăn gì trong việc nhớ và có thể mô tả chi tiết tất cả những gì anh đã làm trong thể cảm dục của mình trong những giờ mà thể xác vẫn nằm trên giường. Nếu không có sự liên tục tâm thức này, anh sẽ nhớ rất ít hoặc không nhớ gì về những việc như thế, chỉ mang về một mảnh vụn của một hay nhiều sự việc, mà có lẽ anh sẽ mô tả như một giấc mơ. Phần lớn những giấc mơ của con người là những mảnh vụn của những gì họ đã làm trong khi ngủ mà các tế bào não thường bóp méo. Không bao giờ dễ nhớ đúng mọi chi tiết, và phải mất nhiều năm học tập, tập trung và thực hành mới đạt được điều gì gần như kết quả hoàn hảo. Đó là lý do tôi không thể bảo đảm rằng anh sẽ nhớ mọi thứ, ngay cả khi được Chân sư của tôi giúp đỡ; nếu tình cờ anh quả thật hoàn toàn thành công thì anh cũng đừng thất vọng nếu thấy rằng, như chắc chắn sẽ thế, trong những dịp sau này khi thức dậy anh lại không thể mang qua được bất cứ điều gì cả.

“Now I will leave you until we meet tomorrow night. The day after tomorrow I shall not see you either, because I wish you to write down all you can remember of your astral experiences. We shall discuss these when I see you again in the flesh in three days time, at the usual hour. Have faith in yourself, and all will be well.”

“Giờ đây tôi sẽ rời anh cho đến khi chúng ta gặp nhau vào tối mai. Ngày kia tôi cũng sẽ không gặp anh, vì tôi muốn anh viết ra tất cả những gì anh có thể nhớ về các kinh nghiệm cảm dục của mình. Chúng ta sẽ thảo luận về chúng khi tôi gặp lại anh trong xác thân sau ba ngày nữa, vào giờ thường lệ. Hãy tin vào chính mình, và mọi sự sẽ ổn.”

Chapter 4

Part of my instructions were that I should write down everything I could remember about last night’s happenings. This sounds simpler than it proved to be, for I can tell you at once that the experiment was successful in every way. I do not know if I have remembered everything that happened—I expect my teacher will tell me that today—but I have remembered so much that I have had to marshal my thoughts very carefully to get it written down. It was a dark moonless night; I went to bed at 9:45 p.m. as I had been instructed, took the tablet which had been given to me and concentrated on imagining what I would see in a mirror above my bed. I have a little French clock which stands beside my bed; it is a great treasure of mine, for it cost a small fortune when I bought it as an impecunious undergraduate at Cambridge. It chimes both the quarters and the hours with a soft silvery note that has never either stopped or interfered with my sleeping. I had heard it strike a quarter to ten, for then I had taken my tablet. It was just when I heard the first silvery chime starting to herald in the four quarters preceding the striking of ten o’clock, that I seemed to feel something quite unusual going on in my body. Something inside it seemed as if it were loose and I felt what I can only describe as a sliding movement, which I suppose was really myself slipping out of my physical body, for before the clock had started to record its ten strokes, I found myself suspended in space and looking at my body lying on the bed, exactly as I was told I would do—only I was not standing on the floor but perhaps a foot above it (it was really later when I realised this had been so). When I became aware of existing apart from my body, my heart seemed to palpitate, but I cannot say I was exactly frightened and I certainly did not have any desire to rush back. To say I was surprised is putting it mildly; I was excited. I was thrilled, there was a semblance of fear also, a fear of the unknown, a fear of the unusual.

Một phần trong chỉ dẫn của tôi là tôi phải viết ra mọi điều mình có thể nhớ về những sự việc xảy ra đêm qua. Điều này nghe có vẻ đơn giản hơn thực tế rất nhiều, vì tôi có thể nói ngay với bạn rằng thí nghiệm đã thành công về mọi phương diện. Tôi không biết mình có nhớ hết mọi điều đã xảy ra hay không—hôm nay chắc vị thầy của tôi sẽ nói cho tôi biết điều đó—nhưng tôi đã nhớ được quá nhiều đến nỗi phải sắp xếp tư tưởng của mình thật cẩn thận mới viết ra được. Đó là một đêm tối không trăng; tôi đi ngủ lúc 9 giờ 45 tối như đã được chỉ dẫn, uống viên thuốc đã được đưa cho tôi và tập trung hình dung điều mình sẽ thấy trong một tấm gương phía trên giường. Tôi có một chiếc đồng hồ nhỏ kiểu Pháp đặt cạnh giường; đó là một báu vật đối với tôi, vì nó đã tốn một gia tài nhỏ khi tôi mua nó hồi còn là một sinh viên nghèo ở Cambridge. Nó điểm cả từng khắc lẫn từng giờ bằng một âm điệu bạc mềm mại chưa bao giờ ngừng lại hay làm cản trở giấc ngủ của tôi. Tôi đã nghe nó điểm một khắc trước mười giờ, vì lúc ấy tôi đã uống viên thuốc. Chính vào lúc tôi nghe tiếng chuông bạc đầu tiên bắt đầu báo hiệu bốn tiếng khắc trước khi điểm mười giờ, tôi dường như cảm thấy có điều gì đó rất khác thường đang diễn ra trong thể mình. Có cái gì đó bên trong dường như lỏng ra và tôi cảm thấy một chuyển động mà tôi chỉ có thể mô tả là trượt đi, điều mà tôi cho rằng thực ra là chính tôi đang trượt ra khỏi thể xác, vì trước khi đồng hồ bắt đầu điểm mười tiếng, tôi thấy mình lơ lửng trong không gian và nhìn thể mình nằm trên giường, đúng như tôi đã được bảo là sẽ thấy—chỉ có điều tôi không đứng trên sàn mà có lẽ cao hơn nó chừng một bộ (thực ra phải về sau tôi mới nhận ra điều này). Khi tôi ý thức được rằng mình đang tồn tại tách biệt khỏi thể xác, tim tôi dường như đập mạnh, nhưng tôi không thể nói là mình thực sự sợ hãi, và chắc chắn tôi không hề có ham muốn lao trở lại. Nói rằng tôi ngạc nhiên thì còn quá nhẹ; tôi phấn khích. Tôi rúng động, cũng có một dáng vẻ sợ hãi, một nỗi sợ cái chưa biết, một nỗi sợ cái khác thường.

To my astonishment it was as light as day! This was my first realisation of the light which rules everywhere and all the time at the astral level and although I hardly noticed its character at the time, I found later that it is a blue-grey light; if you can imagine what a room looks like just after dawn is breaking—only much lighter—it will give you some idea of the appearance of my room. I heard a merry laugh behind me, which oddly enough did not startle me at all. I turned round, and there was Charles looking exactly the same as when I had seen him last. Obviously he was enjoying my surprise and my incredulous expression, and his face was wreathed in smiles with all the jolly old wrinkles that I knew so well showing as in the days that were gone. Automatically I clasped him by the hand; at once I felt that his handclasp was as firm and as real as it used to be. My Indian friend, whom I had not noticed before but who was also in the room, said: “Yes, he is real all right, as I told you, and because you are using at the moment the same type of body as he is using, he naturally is as real to you as you are to him.”

Tôi kinh ngạc thấy sáng như ban ngày! Đây là sự chứng nghiệm đầu tiên của tôi về ánh sáng ngự trị khắp nơi và mọi lúc ở cấp độ cảm dục, và mặc dù lúc ấy tôi hầu như không để ý đến tính chất của nó, về sau tôi nhận ra đó là một thứ ánh sáng xanh xám; nếu bạn có thể hình dung một căn phòng trông như thế nào ngay sau lúc bình minh vừa ló—chỉ sáng hơn nhiều—thì điều đó sẽ cho bạn một ý niệm nào đó về diện mạo căn phòng của tôi. Tôi nghe một tiếng cười vui vẻ phía sau mình, điều kỳ lạ là hoàn toàn không làm tôi giật mình. Tôi quay lại, và Charles đang đứng đó trông y hệt như lần cuối tôi gặp nó. Rõ ràng nó đang thích thú với sự ngạc nhiên và vẻ không tin nổi của tôi, và khuôn mặt nó rạng đầy nụ cười với tất cả những nếp nhăn vui tươi quen thuộc mà tôi biết quá rõ hiện lên như trong những ngày đã qua. Theo phản xạ tôi nắm lấy tay nó; ngay lập tức tôi cảm thấy cái bắt tay của nó chắc chắn và thật như xưa. Người bạn Ấn Độ của tôi, mà trước đó tôi không để ý nhưng cũng đang ở trong phòng, nói: “Đúng vậy, nó hoàn toàn là thật, như tôi đã nói với anh, và vì lúc này anh đang dùng cùng một loại thể như nó đang dùng, nên dĩ nhiên nó thật đối với anh cũng như anh thật đối với nó.”

My joy at seeing Charles was so great that I suppose I spent quite a minute or two shaking him by the hand, putting my hands on his shoulders and altogether satisfying myself that he was really there—“in the flesh” I should have described it. I found it difficult to appreciate that although the astral body looks like the physical so far as features are concerned, yet it is not in any way physical and has no flesh, bones or tissues. However, Charles was real enough for me and I started asking him a thousand and one questions, such as one does with a person one loves and whom one has not seen for some time. I wanted to know how he was, what he was doing, was he happy etc., and when he could get a word in edgeways, he quietly said:

Niềm vui của tôi khi gặp lại Charles lớn đến nỗi tôi nghĩ mình đã mất đến một hai phút chỉ để bắt tay nó, đặt tay lên vai nó và nói chung là tự làm cho mình thỏa mãn rằng nó thực sự đang ở đó—“bằng xương bằng thịt” hẳn tôi đã mô tả như thế. Tôi thấy khó mà hiểu được rằng mặc dù thể cảm dục trông giống thể xác về các nét mặt, nhưng nó hoàn toàn không phải là hồng trần và không có thịt, xương hay mô. Tuy nhiên, Charles đủ thật đối với tôi, và tôi bắt đầu hỏi nó hàng ngàn lẻ một câu, như người ta vẫn làm với một người mình yêu quý mà đã lâu không gặp. Tôi muốn biết nó ra sao, nó đang làm gì, nó có hạnh phúc không, v.v., và khi chen được một lời vào, nó bình thản nói:

“Don’t you worry, I’m all right and having a good time, as you will see for yourself.” I commented on his still wearing uniform.

“Anh đừng lo, em ổn cả và đang có khoảng thời gian rất vui, như anh sẽ tự thấy.” Tôi nhận xét rằng nó vẫn mặc quân phục.

“Oh, am I?” he replied, and went on to say that he had not thought about what he was wearing. My Indian friend then explained that I saw Charles dressed in his uniform because that was what he was wearing the last time I had seen him and so I, unknowingly, had made a thought-form of him dressed in his uniform, and the plastic astral matter had immediately responded to my thought. He told me also that even if Charles had thought about what he was wearing before seeing me, I should not have seen him dressed in the type of clothing he had imagined, unless he had mentioned it to me. I would always see him dressed as I imagined he would be.

“Ồ, em thế à?” nó đáp, rồi nói tiếp rằng nó đã không nghĩ gì về việc mình đang mặc gì. Người bạn Ấn Độ của tôi khi ấy giải thích rằng tôi thấy Charles mặc quân phục vì đó là thứ nó mặc lần cuối tôi gặp nó, và vì thế tôi đã vô tình tạo ra một Hình tư tưởng về nó trong quân phục, và vật chất cảm dục linh động lập tức đáp ứng với tư tưởng của tôi. Ông cũng nói với tôi rằng ngay cả nếu Charles đã nghĩ về việc mình mặc gì trước khi gặp tôi, tôi cũng sẽ không thấy nó mặc loại y phục mà nó đã tưởng tượng, trừ phi nó nói điều đó với tôi. Tôi sẽ luôn luôn thấy nó mặc như tôi tưởng tượng nó sẽ mặc.

My Indian friend then asked me what I would like to do. Charles suggested that we start with an astral dinner and asked me if I would like to go to the Trocadero Grill, which was a favourite haunt of ours when we were in England together. Naturally I said “Yes,” wondering how it would be managed; but having seen Charles alive—very much alive in fact—I felt that nothing was impossible.

Người bạn Ấn Độ của tôi sau đó hỏi tôi muốn làm gì. Charles gợi ý rằng chúng tôi nên bắt đầu bằng một bữa tối cảm dục và hỏi tôi có muốn đến Trocadero Grill không, nơi từng là chốn lui tới ưa thích của chúng tôi khi còn ở Anh cùng nhau. Dĩ nhiên tôi nói “Có”, tự hỏi việc ấy sẽ được thực hiện ra sao; nhưng sau khi đã thấy Charles sống—thật ra là rất sống—tôi cảm thấy không gì là không thể.

“Come along then, let’s go,” said Charles and began to leave the room. I went to open the door and Charles immediately started pulling my leg about it. He explained that I would have to get accustomed to going through doors on the astral plane without bothering to open them and, although it seemed strange, I found that this was so, for the door offered no obstacle to my passage. As my bedroom is on the first floor; I started going down the stairs in the usual way. I noticed that Charles, who was ahead of me, did not use the steps at all, but just floated down, a foot or so above them—and I found I could do the same. This floating about was certainly a strange sensation at first, but the absence of the force of gravity, to which we are so accustomed at the physical level, soon proved a great advantage and one which one gets used to very quickly.

“Vậy thì đi nào,” Charles nói và bắt đầu rời phòng. Tôi đi mở cửa và Charles lập tức bắt đầu trêu chọc tôi về chuyện đó. Nó giải thích rằng tôi sẽ phải quen với việc đi xuyên qua cửa trên cõi cảm dục mà không cần bận tâm mở chúng, và mặc dù điều đó có vẻ lạ, tôi thấy quả đúng như vậy, vì cánh cửa không hề cản trở bước đi của tôi. Vì phòng ngủ của tôi ở tầng trên; tôi bắt đầu đi xuống cầu thang theo cách thông thường. Tôi nhận thấy Charles, đang ở phía trước tôi, hoàn toàn không dùng các bậc thang mà chỉ lơ lửng đi xuống, cách chúng chừng một bộ—và tôi thấy mình cũng có thể làm như vậy. Cảm giác lơ lửng này lúc đầu quả thật rất lạ, nhưng sự vắng mặt của lực hấp dẫn, điều mà chúng ta quá quen thuộc ở cấp độ hồng trần, chẳng bao lâu đã tỏ ra là một lợi thế lớn và là điều người ta quen rất nhanh.

We set out at what seemed a pretty fast pace. I kept close to Charles and my Indian friend was on the other side of me. I asked Charles how he knew the way to England, to which he replied that you soon get used to finding your way about. We passed over the harbour, travelling about ten yards above the sea. I looked round and saw the lights of Colombo fading in the distance, then for a few seconds we did not seem to be passing anything at all. It was difficult to distinguish the actual places that we passed, for almost as soon as they came into view on the horizon, we had passed them. Apart from this fact the sense of amazing speed was hardly noticeable for there was no headwind such as one notices at high speeds in the physical world. There did not seem to be any resistance at all and I found later that there is none, for the astral matter is so fine in texture that passing through it at what must be terrific speed, compared with what we are used to here, makes no difference at all.

Chúng tôi lên đường với một tốc độ có vẻ khá nhanh. Tôi bám sát Charles và người bạn Ấn Độ của tôi ở phía bên kia. Tôi hỏi Charles làm sao nó biết đường đến nước Anh, và nó đáp rằng chẳng bao lâu người ta sẽ quen với việc tìm đường. Chúng tôi đi qua cảng, di chuyển cách mặt biển chừng mười thước. Tôi nhìn quanh và thấy những ánh đèn của Colombo mờ dần ở phía xa, rồi trong vài giây chúng tôi dường như không đi qua nơi nào cả. Thật khó phân biệt những nơi thực sự chúng tôi đi qua, vì hầu như ngay khi chúng hiện ra ở đường chân trời thì chúng tôi đã vượt qua rồi. Ngoài điều đó ra, cảm giác tốc độ kinh ngạc hầu như không đáng kể vì không có luồng gió ngược như người ta nhận thấy ở tốc độ cao trong cõi hồng trần. Dường như hoàn toàn không có sức cản nào, và về sau tôi nhận ra là quả thật không có, vì vật chất cảm dục quá mịn về cấu trúc đến nỗi việc đi xuyên qua nó với tốc độ hẳn phải là khủng khiếp so với điều chúng ta quen ở đây, hoàn toàn không tạo ra khác biệt nào.

In about the same time that it has taken me to describe this journey, we came to land, which Charles informed me was “Old England.” He told me that we had taken more or less a straight course, for naturally it was unnecessary to make any deviations, as land or sea made no difference to travel under astral conditions. When we reached England, which I recognized when we slowed down over Dover, I became fascinated with the ease with which we moved. It is difficult to describe in ordinary language, but if you can imagine what it would be like if you were able to travel at any speed you wished, merely by expressing a thought to that effect, that should give you some idea of the process. We had gone up higher as we approached the land and now we floated some yards above the tallest houses over London.

Trong khoảng thời gian gần bằng thời gian tôi dùng để mô tả cuộc hành trình này, chúng tôi đã đến đất liền, nơi Charles cho tôi biết là “nước Anh già.” Nó nói rằng chúng tôi đã đi theo một đường gần như thẳng, vì dĩ nhiên không cần phải vòng tránh gì cả, bởi đất liền hay biển cả đều không tạo ra khác biệt nào đối với việc di chuyển trong các điều kiện cảm dục. Khi đến nước Anh, điều tôi nhận ra khi chúng tôi chậm lại trên Dover, tôi bị mê hoặc bởi sự dễ dàng mà chúng tôi di chuyển. Thật khó mô tả bằng ngôn ngữ thông thường, nhưng nếu bạn có thể hình dung sẽ như thế nào nếu bạn có thể đi với bất cứ tốc độ nào mình muốn chỉ bằng cách biểu lộ một tư tưởng theo hướng ấy, thì điều đó sẽ cho bạn một ý niệm nào đó về tiến trình này. Chúng tôi đã lên cao hơn khi đến gần đất liền và giờ đây lơ lửng cách những ngôi nhà cao nhất trên Luân Đôn vài thước.

We had left Ceylon shortly after 10 p.m.—which was 5:30 p.m. in England. We came down to street level when we were over Hyde Park. I knew it was still daylight for no lights were showing, but the light of the astral world was just the same here as in the East, where it was night time. I commented on this and was told that as the astral body never requires rest, there is neither night nor day at the astral level. This was one of the first interesting points of difference between the two worlds which made an impression on me. Charles suggested that I might like to go along Oxford and Regent Streets, to see how it felt to walk in my astral body. To be walking along Oxford Street where I had not been since 1939, just before the outbreak of war, was indeed intriguing. The street was thronged with people, as one would expect it to be at this time of day; although the pavements were crowded, this did not seem to make any difference to us because we actually walked through people in their physical bodies who were travelling in the opposite direction. It is not strictly correct to say that we were unaware of walking through them, for we felt as if we were passing through a small cloud of mist when we did so; for a moment we were enveloped in it, then we were through it and everything around us was clear. The mist did not in any way impede our progress, but we did feel it, and in a similar way when we came into contact with other people using their astral bodies, we felt them to a slight extent though they did not in any way hinder us. In the world I have often seen a person shudder and in a joking way say that someone was walking over his grave. I know now that this sensation must have been caused by a physical body coming into contact with an astral entity which, although the astral matter is too fine in texture to interfere with the physical body passing through it, leaves a slight impression.

Chúng tôi rời Ceylon ngay sau 10 giờ đêm—tức là 5 giờ 30 chiều ở Anh. Chúng tôi hạ xuống ngang mặt đường khi ở trên công viên Hyde Park. Tôi biết lúc ấy trời vẫn còn sáng vì chưa thấy đèn nào bật, nhưng ánh sáng của cõi cảm dục ở đây vẫn y hệt như ở phương Đông, nơi khi ấy đang là ban đêm. Tôi nhận xét về điều này và được cho biết rằng vì thể cảm dục không bao giờ cần nghỉ ngơi, nên ở cấp độ cảm dục không có đêm cũng không có ngày. Đây là một trong những điểm khác biệt thú vị đầu tiên giữa hai thế giới đã gây ấn tượng nơi tôi. Charles gợi ý rằng có lẽ tôi muốn đi dọc phố Oxford và phố Regent để xem cảm giác bước đi trong thể cảm dục của mình ra sao. Được đi dọc phố Oxford, nơi tôi chưa đặt chân tới từ năm 1939, ngay trước khi chiến tranh bùng nổ, quả thật rất hấp dẫn. Đường phố đông nghịt người, đúng như người ta chờ đợi vào giờ ấy; tuy vỉa hè chật kín, điều đó dường như chẳng tạo khác biệt gì đối với chúng tôi vì thực sự chúng tôi đi xuyên qua những người trong thể xác đang đi ngược chiều. Nói cho thật chính xác thì không thể bảo rằng chúng tôi không biết mình đang đi xuyên qua họ, vì mỗi lần như vậy chúng tôi cảm thấy như đang đi qua một đám sương nhỏ; trong chốc lát chúng tôi bị bao phủ trong đó, rồi đi xuyên qua và mọi thứ quanh mình lại rõ ràng. Làn sương ấy hoàn toàn không cản trở bước tiến của chúng tôi, nhưng chúng tôi quả có cảm thấy nó; và cũng tương tự như vậy, khi tiếp xúc với những người khác đang dùng thể cảm dục của họ, chúng tôi cũng cảm thấy họ ở một mức độ nhẹ, dù họ không hề cản trở chúng tôi. Trong đời thường tôi thường thấy một người rùng mình rồi đùa rằng có ai đó đang đi qua mộ của ông ta. Giờ đây tôi biết cảm giác ấy hẳn do một thể xác tiếp xúc với một thực thể cảm dục gây ra; dù vật chất cảm dục quá tinh tế nên không cản trở thể xác đi xuyên qua nó, nó vẫn để lại một ấn tượng nhẹ.

I thought that my Indian friend must look rather unusual in these surroundings in his Eastern clothes, so mentioned this to him. He replied: “I do not suppose you know that I have changed my clothes; if you will look at me now, you will see that I am dressed in a similar way to the Europeans we see around us.” I did look, and it was so. His turban was no longer there and, as his skin was almost as white as ours, he looked very much like one of the Indian students who are so often seen in London. Because he mentioned it, I saw him as he had imagined himself. He explained that one soon gets used to changing one’s clothes, as circumstances make such changes desirable; the plastic astral body immediately obeys the thought, even as it is made.

Tôi nghĩ người bạn Ấn Độ của tôi hẳn trông khá khác thường trong khung cảnh này với y phục phương Đông, nên tôi nói điều đó với anh. Anh đáp: “Có lẽ anh không biết rằng tôi đã thay quần áo; nếu anh nhìn tôi bây giờ, anh sẽ thấy tôi ăn mặc giống như những người Âu châu mà ta đang thấy quanh mình.” Tôi nhìn lại, và quả đúng như vậy. Chiếc khăn xếp của anh không còn nữa và, vì da anh gần như trắng như chúng tôi, anh trông rất giống một trong những sinh viên Ấn Độ thường thấy ở Luân Đôn. Vì anh nhắc đến điều đó, tôi nhìn thấy anh đúng như cách anh đã hình dung về mình. Anh giải thích rằng người ta sớm quen với việc thay đổi y phục, vì hoàn cảnh khiến những thay đổi như thế trở nên đáng mong muốn; thể cảm dục linh động lập tức tuân theo tư tưởng, ngay khi tư tưởng ấy vừa hình thành.

I said I would like to stroll into Selfridges, which we were passing at that moment. No one objected, so we went in and I made my way to the book stall. I have always been attracted by books and picking up one of the new ones, I turned over its pages. As I did so, I noticed that there was no gap in the shelf from which I took it and on enquiring why this was so, I was told that what I was holding in my hand was a thought-form of the book I was interested in, the physical one on the shelf not having been moved at all. It was an amazing sensation! I wandered round the huge empty shop, for naturally at that time of evening it was closed to the public, and I heard quite plainly the clocks in a nearby department chiming the hour of six o’clock. What a lot had happened in the half-hour that had elapsed since I got out of my physical body six thousand miles away. My companions seemed highly amused at the interest I was showing in things, but Charles obviously enjoyed the unique position of guide, exactly as we all enjoy showing a friend round a new country as we so often do in the “mysterious East” where we meet most of the big incoming liners bringing friends from home on their first visit.

Tôi nói rằng tôi muốn tản bộ vào Selfridges, nơi chúng tôi đang đi ngang qua lúc ấy. Không ai phản đối, nên chúng tôi bước vào và tôi đi thẳng tới quầy sách. Tôi vốn luôn bị sách hấp dẫn, và khi cầm lên một cuốn mới, tôi lật các trang của nó. Khi làm vậy, tôi nhận thấy trên giá không hề có chỗ trống nơi tôi đã lấy cuốn sách ấy, và khi hỏi tại sao lại như vậy, tôi được cho biết rằng thứ tôi đang cầm trong tay là một Hình tư tưởng của cuốn sách mà tôi quan tâm, còn cuốn sách hồng trần trên giá thì hoàn toàn chưa hề bị xê dịch. Đó là một cảm giác thật kỳ diệu! Tôi đi quanh cửa hàng rộng lớn trống vắng, vì dĩ nhiên vào giờ tối ấy cửa hàng đã đóng cửa với công chúng, và tôi nghe rất rõ những chiếc đồng hồ ở một khu gần đó điểm sáu giờ. Biết bao điều đã xảy ra trong nửa giờ trôi qua kể từ lúc tôi rời thể xác của mình ở nơi cách đó sáu ngàn dặm. Các bạn đồng hành của tôi dường như rất thích thú trước sự quan tâm mà tôi dành cho mọi thứ, nhưng rõ ràng Charles rất thích thú với vị thế độc đáo của một người hướng dẫn, đúng như tất cả chúng ta đều thích dẫn một người bạn đi quanh một xứ sở mới, như chúng ta vẫn thường làm ở “phương Đông huyền bí”, nơi chúng ta thường gặp những tàu viễn dương lớn chở bạn bè từ quê nhà đến thăm lần đầu.

Charles said he wanted to show me some of the damage that had been done to London through the raids. He took me to various places, such as St. Pauls, where it was very obvious what Londoners had suffered from these dreadful bombings. It was necessary to travel above the main buildings of the city to see the damage properly, but in our astral bodies that proved no difficulty at all. As we were walking along a street, Charles said: “Come on,” and immediately floated over the heads of the stream of traffic. I found it quite easy to follow, as immediately I expressed in thought a wish to do the same, I found myself side by side with Charles floating gracefully and easily over the crowded metropolis of London. He suggested that we have a look at our old home in Warwickshire, which I had not seen for many years, and in what seemed a few seconds only, Charles had steered me to the right spot. I asked him how he knew his way about so easily, having only lived under astral plane conditions for such a relatively short to time. He told me that he had made many friends on the other side who had been only too glad to put him wise to the different conditions, and besides this his training as a pilot in the R.A.F. had taught him quite a lot about going to places as the crow flies.

Charles nói rằng nó muốn cho tôi thấy một phần thiệt hại mà các cuộc oanh tạc đã gây ra cho Luân Đôn. Nó đưa tôi đến nhiều nơi, như nhà thờ St. Paul, nơi người ta có thể thấy rất rõ dân Luân Đôn đã phải chịu đựng gì từ những trận ném bom khủng khiếp ấy. Muốn thấy rõ thiệt hại thì cần phải đi lên trên các tòa nhà chính của thành phố, nhưng trong thể cảm dục của chúng tôi điều đó hoàn toàn không khó. Khi chúng tôi đang đi dọc một con phố, Charles nói: “Đi nào,” rồi lập tức lướt lên trên đầu dòng xe cộ. Tôi thấy việc theo nó thật dễ dàng, vì ngay khi tôi bày tỏ trong tư tưởng ước muốn làm như thế, tôi đã thấy mình bay song song với Charles, nhẹ nhàng và dễ dàng trên đô thị Luân Đôn đông đúc. Nó gợi ý rằng chúng tôi nên ghé nhìn ngôi nhà cũ ở Warwickshire, nơi tôi đã không thấy suốt nhiều năm, và chỉ trong vài giây như có vẻ thế, Charles đã đưa tôi tới đúng chỗ. Tôi hỏi nó làm sao nó biết đường dễ dàng đến vậy, dù mới chỉ sống trong điều kiện cõi cảm dục một thời gian tương đối ngắn. Nó bảo tôi rằng nó đã kết bạn với nhiều người ở bên kia, những người rất sẵn lòng chỉ cho nó biết các điều kiện khác nhau, và ngoài ra việc được huấn luyện làm phi công trong R.A.F. cũng đã dạy nó khá nhiều về cách đi đến nơi theo đường chim bay.

Seeing the river Avon winding its way through the lovely Warwickshire countryside was pleasant, and soon we came down to earth near the spot where our former home stood. How well I knew the old place, even though, since I had seen it last, many small houses had sprung up in the immediate neighbourhood. The house still looked the same, even the two lawns in front and behind seemed much as they had been when Charles and I played on them as youngsters. I wondered who lived there now, for after my father died, it had been sold, because my mother was not left sufficient money to keep up the place, and I, the elder son, had settled in the East. I walked inside, for by this time I was beginning to realise that a closed door made no difference, and saw strange people occupying the rooms we had loved in the old days. I suppose it was very foolish, but they seemed to me to be intruders and, with different furniture around, the atmosphere of the house had quite changed.

Nhìn thấy dòng sông Avon uốn lượn qua miền quê Warwickshire xinh đẹp thật dễ chịu, và chẳng bao lâu chúng tôi hạ xuống gần nơi ngôi nhà cũ của chúng tôi từng đứng. Tôi biết rõ nơi cũ ấy biết bao, dù từ lần cuối tôi thấy nó, nhiều ngôi nhà nhỏ đã mọc lên trong vùng lân cận ngay đó. Ngôi nhà vẫn trông như xưa, ngay cả hai bãi cỏ trước và sau dường như cũng gần như lúc Charles và tôi còn nhỏ chơi đùa trên đó. Tôi tự hỏi giờ ai đang sống ở đó, vì sau khi cha tôi qua đời, ngôi nhà đã được bán đi, bởi mẹ tôi không còn đủ tiền để duy trì nơi ấy, còn tôi, người con trai cả, thì đã định cư ở phương Đông. Tôi bước vào trong, vì đến lúc này tôi bắt đầu nhận ra rằng một cánh cửa đóng kín chẳng tạo khác biệt gì, và tôi thấy những người xa lạ đang ở trong những căn phòng mà chúng tôi từng yêu quý thuở xưa. Có lẽ điều đó thật ngớ ngẩn, nhưng đối với tôi họ dường như là những kẻ xâm nhập, và với đồ đạc khác đi, bầu không khí của ngôi nhà đã hoàn toàn thay đổi.

We did not stay very long, but soon returned to London. It was certainly very thrilling to stand in the centre of Piccadilly Circus where the flower girls used to be in the days of peace, but without the figure of Eros which had been removed to avoid damage. The crowds were still there and the buses and taxis continued on their normal rounds, the only obvious difference was the number of men and women in uniform. In fact there seemed to be more people in uniform than in civilian clothes, which brought home to me that England was not only a country at war, but a country where every able bodied man and woman was expected to take his or her part in the defence of their beloved land.

Chúng tôi không ở lại lâu, mà sớm quay về Luân Đôn. Quả thật rất hồi hộp khi đứng giữa trung tâm Piccadilly Circus, nơi các cô bán hoa từng đứng trong những ngày hòa bình, nhưng không còn bức tượng Eros vì nó đã được dời đi để tránh hư hại. Đám đông vẫn còn đó và xe buýt cùng taxi vẫn tiếp tục các lộ trình bình thường, khác biệt rõ rệt duy nhất là số lượng những người nam và nữ mặc quân phục. Thật ra dường như số người mặc quân phục còn nhiều hơn người mặc thường phục, điều đó khiến tôi thấm thía rằng nước Anh không chỉ là một quốc gia đang chiến tranh, mà còn là một quốc gia nơi mọi người nam và nữ khỏe mạnh đều được mong đợi góp phần vào việc bảo vệ mảnh đất yêu dấu của họ.

It was nearly 7 o’clock when Charles suggested that we have dinner at the Trocadero Grill. We walked into the foyer, where we found that most of the small tables round the wall were already occupied. My Indian friend then said that he would leave me in Charles’s care whilst we had dinner as he had other work to do, and he would join us later. Assuring me that Charles was well able to introduce me to this type of amusement on the astral plane, and with a cordial: “Have a good dinner,” he left us.

Gần 7 giờ thì Charles gợi ý rằng chúng tôi nên ăn tối tại Trocadero Grill. Chúng tôi bước vào tiền sảnh, nơi thấy rằng hầu hết các bàn nhỏ quanh tường đều đã có người ngồi. Khi ấy người bạn Ấn Độ của tôi nói rằng anh sẽ để tôi lại cho Charles chăm nom trong lúc chúng tôi dùng bữa vì anh còn công việc khác phải làm, và anh sẽ nhập lại với chúng tôi sau. Trấn an tôi rằng Charles hoàn toàn có thể giới thiệu cho tôi kiểu giải trí này trên cõi cảm dục, và với một câu thân tình: “Chúc ăn tối ngon miệng,” anh rời chúng tôi.

Charles explained one of the very important points which must be understood when having an astral meal or drinks in a restaurant which existed in reality at the physical level, as compared with doing the same thing in a restaurant that had been created by ourselves through the medium of imagination or thought. He said that it was always unwise to sit down at a table which actually existed at the physical level for, as we were invisible, people who came in and saw the vacant table but who did not see us, would naturally take possession of it, which would be slightly inconvenient. When they sat down they would not feel our presence but the same sort of thing would occur to us as when we passed “through” the crowds on the streets. When a physical person sat on the chair that was occupied by you in your astral body you naturally expected to feel something, and although there was no resultant unpleasant feeling, it was not entirely pleasant. It could be avoided, he said, by producing in thought a table for one’s own party in a space where, physically, no table stood. He did so right away, in the foyer of the Trocadero, and asked me to sit down.

Charles giải thích một trong những điểm rất quan trọng phải hiểu khi dùng một bữa ăn hay đồ uống cảm dục trong một nhà hàng thực sự tồn tại ở cấp độ hồng trần, so với việc làm điều tương tự trong một nhà hàng do chính chúng tôi tạo ra qua trung gian của sự tưởng tượng hay tư tưởng. Nó nói rằng luôn luôn là điều không khôn ngoan nếu ngồi xuống một chiếc bàn thực sự tồn tại ở cấp độ hồng trần, vì do chúng tôi vô hình, những người bước vào thấy chiếc bàn trống mà không thấy chúng tôi, dĩ nhiên sẽ chiếm lấy nó, điều đó sẽ hơi bất tiện. Khi họ ngồi xuống, họ sẽ không cảm thấy sự hiện diện của chúng tôi nhưng với chúng tôi sẽ xảy ra điều tương tự như khi chúng tôi đi “xuyên qua” đám đông ngoài phố. Khi một người hồng trần ngồi lên chiếc ghế đang do anh chiếm trong thể cảm dục của mình, dĩ nhiên anh sẽ chờ đợi cảm thấy một điều gì đó, và dù không có cảm giác khó chịu nào phát sinh, nó cũng không hoàn toàn dễ chịu. Nó nói có thể tránh điều này bằng cách tạo trong tư tưởng một chiếc bàn cho nhóm của mình ở một khoảng trống mà về mặt hồng trần không có bàn nào đứng đó. Nó làm ngay điều ấy trong tiền sảnh Trocadero và mời tôi ngồi xuống.

He told me that, by thought also, he would produce a waiter who would appear to us exactly the same as the other waiters we saw moving about on their normal business, but that this waiter would not be seen by the physical occupants of the foyer. He did this, and at once I saw a waiter approaching our table who asked us what we would drink, in just the same way that we would have expected had we been there as ordinary members of the physical world. Charles ordered a dry sherry and a whisky and soda, for Charles told me that my having been prohibited alcohol for the two days prior to this experiment did not apply here. I was supplied with my drink and Charles with his, and the taste to me was exactly what I had expected it to be. I was told that, had I never tasted whisky in the world, I would not have been able to appreciate the taste of it at the astral level, though I should undoubtedly have tasted in the astral liquid what I presumed to be the taste of whisky.

Nó bảo tôi rằng, cũng bằng tư tưởng, nó sẽ tạo ra một người bồi bàn hiện ra với chúng tôi hoàn toàn giống như những người bồi bàn khác mà chúng tôi thấy đang đi lại làm công việc thường lệ, nhưng người bồi bàn này sẽ không bị những người hồng trần trong tiền sảnh nhìn thấy. Nó làm như vậy, và lập tức tôi thấy một người bồi bàn tiến đến bàn chúng tôi hỏi chúng tôi muốn uống gì, đúng hệt như điều chúng tôi chờ đợi nếu có mặt ở đó như những thành viên bình thường của thế giới hồng trần. Charles gọi một ly sherry khô và một ly whisky pha soda, vì Charles bảo tôi rằng việc tôi bị cấm rượu trong hai ngày trước cuộc thử nghiệm này không áp dụng ở đây. Tôi được mang đồ uống của mình và Charles cũng có phần của nó, và mùi vị đối với tôi đúng hệt như tôi chờ đợi. Tôi được cho biết rằng nếu tôi chưa từng nếm whisky trong đời thường, tôi sẽ không thể thưởng thức mùi vị của nó ở cấp độ cảm dục, dù chắc chắn tôi vẫn sẽ nếm trong chất lỏng cảm dục cái mà tôi cho là mùi vị của whisky.

Charles told me that one day when my Indian friend was instructing him in these things, he asked him to have a drink. He ordered a glass of water, telling Charles that it would be useless for him to order whisky, sherry or vodka as he had never tasted them in his present physical life, so not being able to imagine the taste of these drinks, all the pleasure would be lost. The same thing applies to smoking. My Indian friend never smoked, so even if offered a cigarette at the astral level he always refused it as, not knowing the pleasure derived from a cigarette, he would not have enjoyed making a thought-form of drawing in smoke and blowing it out again. That sounded quite logical and I felt glad that I had the experience of drinking and smoking, for I enjoy both of these simple pleasures.

Charles kể rằng một hôm khi người bạn Ấn Độ của tôi đang chỉ dạy nó những điều này, anh mời nó uống gì đó. Anh gọi một ly nước, bảo Charles rằng nó sẽ vô ích nếu anh gọi whisky, sherry hay vodka vì trong đời sống hồng trần hiện tại anh chưa từng nếm chúng, nên không thể hình dung mùi vị của các thức uống ấy, và như vậy mọi khoái thú sẽ mất hết. Điều tương tự cũng áp dụng với việc hút thuốc. Người bạn Ấn Độ của tôi chưa bao giờ hút thuốc, nên ngay cả nếu được mời một điếu thuốc ở cấp độ cảm dục anh cũng luôn từ chối, vì không biết khoái thú do điếu thuốc mang lại, anh sẽ không thích thú gì khi tạo ra một Hình tư tưởng về việc hít khói vào rồi lại thổi ra. Điều đó nghe thật hợp lý và tôi thấy mừng vì mình có kinh nghiệm uống rượu và hút thuốc, vì tôi thích cả hai thú vui đơn giản ấy.

We sipped our drinks and watched the people. We could even hear the buzz of conversation all around us and this bore out the point which had been made, that every physical sound has its astral counterpart and, as it were, sounds a note which can be heard by those using the astral body.

Chúng tôi nhấp đồ uống và quan sát mọi người. Chúng tôi thậm chí còn nghe được tiếng rì rầm chuyện trò khắp quanh mình, và điều này xác nhận điểm đã được nêu ra, rằng mọi âm thanh hồng trần đều có đối phần cảm dục của nó và, có thể nói như vậy, xướng lên một âm điệu mà những ai đang dùng thể cảm dục đều có thể nghe thấy.

Looking at the various types of people who were constantly coming and going, I should not have realised that at that moment England was fighting with her back to the wall, for her very existence. They all seemed to be enjoying life, and there was plenty of laughter intermingled with the chatter which continued without a break.

Nhìn những kiểu người khác nhau liên tục đến rồi đi, tôi hẳn đã không nhận ra rằng ngay lúc ấy nước Anh đang chiến đấu trong thế cùng đường vì chính sự tồn tại của mình. Tất cả họ dường như đều đang tận hưởng cuộc sống, và có rất nhiều tiếng cười xen lẫn trong tiếng chuyện trò không ngớt.

Charles called out to a young man dressed in airforce uniform who had just arrived; they greeted each other with much enthusiasm. Charles brought him over to our table and introduced him as Roy Chapman, a pilot who had been killed in the Battle of Britain the previous autumn. He was a good type, and when I asked him how he liked living under astral world conditions, his reply was enlightening: “It’s all right,” he said, “but boring after a time. At first of course it’s rather nice being able to get everything you want without paying for it, but the novelty wears off and frankly, I would far rather still be with the old squadron.”

Charles gọi một thanh niên mặc quân phục không quân vừa mới đến; họ chào nhau hết sức nồng nhiệt. Charles đưa anh ta đến bàn chúng tôi và giới thiệu anh là Roy Chapman, một phi công đã tử trận trong Trận chiến nước Anh vào mùa thu năm trước. Anh là một mẫu người tốt, và khi tôi hỏi anh thấy sống trong điều kiện của thế giới cảm dục ra sao, câu trả lời của anh thật soi sáng: “Cũng được,” anh nói, “nhưng chán sau một thời gian. Lúc đầu dĩ nhiên khá thú vị vì có thể có mọi thứ mình muốn mà không phải trả tiền, nhưng cái mới lạ rồi cũng mất đi, và thành thật mà nói, tôi thích được ở lại với phi đội cũ hơn nhiều.”

I thought it a unique opportunity for finding out things, so I asked him what he did with his time. He replied that he did more or less what the spirit moved him to do, and went on to say that, at the moment, he was waiting for a girl he knew, to meet him for dinner. I asked if the girl was dead or alive. He said: “Oh, dead of course; if you still want to use that old fashioned expression. It’s useless making dates with people still living in the world, as just when you are in the middle of something interesting, they have to go back to their bodies.”

Tôi nghĩ đây là một cơ hội độc nhất để tìm hiểu mọi việc, nên tôi hỏi anh dùng thời gian của mình vào việc gì. Anh đáp rằng anh làm ít nhiều theo điều mà tinh thần thúc đẩy anh làm, rồi nói thêm rằng lúc này anh đang chờ một cô gái quen biết đến gặp để ăn tối. Tôi hỏi cô gái ấy đã chết hay còn sống. Anh nói: “Ồ, chết rồi chứ; nếu ông vẫn muốn dùng cái cách nói cổ lỗ ấy. Hẹn hò với những người còn sống trong đời thường thì vô ích, vì đúng lúc ông đang ở giữa một chuyện thú vị thì họ lại phải quay về thể xác của họ.”

In the few minutes that were left before his girl friend arrived, I gathered from him that he had tried all the usual games and found them pretty boring. To play golf for example (and he had been a low handicap man before he was killed) was pretty futile, when all you had to do was imagine that you had a birdie or an eagle for the thing to be an established fact. There was no such thing as competition, as you only had to make a thought-form of beating your opponent for it to happen. The same applied to billiards. There was no fun in making a big break when you could always do it at will. The element of chance was lacking, which took away the charm from all games of skill. I saw that, and realised that my Indian friend was indeed right when he said that life on the astral plane could be boring for those whose interests were entirely dependent on physical plane conditions. I asked Roy whether he had been fond of music or art during his lifetime, to which he replied that he had not. He had done a spot of dancing, and liked music now and then, but he could not say that he had ever given it much serious thought. I supposed that when eventually he got tired of meeting friends and living on the fringe of the physical plane life he would find something else to interest him, or life would in time become boring in the extreme. His girl friend arrived about this time and he certainly knew how to pick them. She was beautiful, really beautiful, and they made a perfect couple as they wandered down the stairs towards the Grill Room, where presumably they had arranged to have dinner. I told Charles that I would have loved to ask him what his impressions had been when he was first thrown into astral conditions. Charles replied that he did not think he would have wanted to talk about that very much. “None of us does, you know.” I wondered why, but I did not like to ask just then.

Trong vài phút còn lại trước khi bạn gái anh đến, tôi biết được từ anh rằng anh đã thử mọi trò tiêu khiển thông thường và thấy chúng khá chán. Chẳng hạn chơi golf (và trước khi chết anh là một tay có handicap thấp) thì khá vô nghĩa, vì tất cả những gì anh phải làm chỉ là hình dung rằng mình có một birdie hay một eagle là điều đó lập tức thành sự thật. Không hề có chuyện thi đấu, vì anh chỉ cần tạo một Hình tư tưởng về việc thắng đối thủ là nó xảy ra. Điều tương tự cũng áp dụng với bi-da. Không có gì vui trong việc tạo một cú ghi điểm lớn khi anh luôn có thể làm điều đó theo ý muốn. Yếu tố ngẫu nhiên không có, và điều đó lấy mất sức hấp dẫn của mọi trò chơi đòi hỏi kỹ năng. Tôi hiểu điều ấy, và nhận ra rằng người bạn Ấn Độ của tôi quả thật đúng khi nói rằng đời sống trên cõi cảm dục có thể chán ngắt đối với những ai mà sở thích hoàn toàn lệ thuộc vào các điều kiện của cõi hồng trần. Tôi hỏi Roy liệu trong đời anh có yêu thích âm nhạc hay nghệ thuật không, anh đáp là không. Anh có nhảy nhót đôi chút, và thỉnh thoảng thích âm nhạc, nhưng không thể nói rằng anh từng suy nghĩ nghiêm túc nhiều về chúng. Tôi cho rằng khi cuối cùng anh chán việc gặp bạn bè và sống ở rìa đời sống cõi hồng trần, anh sẽ tìm thấy điều gì khác khiến mình quan tâm, nếu không thì theo thời gian cuộc sống sẽ trở nên cực kỳ buồn chán. Bạn gái anh đến vào khoảng lúc ấy, và quả thật anh biết chọn người. Cô rất đẹp, thật sự rất đẹp, và họ thành một đôi hoàn hảo khi cùng đi xuống cầu thang về phía phòng Grill, nơi có lẽ họ đã hẹn ăn tối. Tôi nói với Charles rằng tôi rất muốn hỏi anh ta những ấn tượng của anh khi lần đầu bị ném vào điều kiện cảm dục. Charles đáp rằng nó không nghĩ anh ta muốn nói nhiều về chuyện đó. “Không ai trong chúng ta muốn cả, anh biết đấy.” Tôi tự hỏi tại sao, nhưng lúc ấy tôi không muốn hỏi thêm.

We went then down into the Grill Room and, choosing a spot near a corner where there was no table, Charles made a thought-form of one for us. A waiter arrived almost as we sat down and asked us what we would eat. Charles told me to order anything I fancied; I must say I was not exactly hungry, but the unique experience made me order a Sole à la Bonne Femme, Chicken Maryland to follow, then a Peche Melba and a cup of black coffee. Charles ordered two Bristol Cream sherries and a bottle of Chambertin 1933, this being a year which he said he knew will be good. I asked if these drinks were actually on the wine list in wartime, to which Charles replied that he did not know, but that in any case it didn’t matter, for on the astral plane you got whatever you ordered whether it was procurable at the physical level or not. I enjoyed my dinner, the cooking being, of course as perfect as I had imagined it would be. I just could not get over my sitting (seemingly) in the Trocadero, having a perfectly normal dinner with old Charles, surrounded by just the types of people I knew would be there on almost any night of the week.

Sau đó chúng tôi đi xuống phòng Grill và, chọn một chỗ gần góc nơi không có bàn nào, Charles tạo một Hình tư tưởng về chiếc bàn cho chúng tôi. Một người bồi bàn đến gần như ngay lúc chúng tôi ngồi xuống và hỏi chúng tôi muốn ăn gì. Charles bảo tôi gọi bất cứ thứ gì tôi thích; phải nói rằng tôi không thật sự đói, nhưng trải nghiệm độc đáo ấy khiến tôi gọi món cá Sole à la Bonne Femme, tiếp theo là Chicken Maryland, rồi một món Peche Melba và một tách cà phê đen. Charles gọi hai ly sherry Bristol Cream và một chai Chambertin 1933, vì nó nói đó là một năm mà nó biết sẽ ngon. Tôi hỏi liệu những thức uống ấy có thực sự có trong danh mục rượu thời chiến không, Charles đáp rằng nó không biết, nhưng dù sao điều đó cũng không quan trọng, vì trên cõi cảm dục anh có được bất cứ thứ gì mình gọi, dù nó có thể kiếm được ở cấp độ hồng trần hay không. Tôi thưởng thức bữa tối của mình, và dĩ nhiên món ăn hoàn hảo đúng như tôi đã hình dung. Tôi thật không thể vượt qua được cảm giác mình đang ngồi (dường như thế) trong Trocadero, dùng một bữa tối hoàn toàn bình thường với Charles thân yêu, xung quanh là đúng những kiểu người mà tôi biết hầu như đêm nào trong tuần cũng có mặt ở đó.

Just then I caught sight of an old pal whom I had not seen for years. The last time we met was on board ship in 1935 when I was returning to Ceylon from my home leave and he to Malaya. I strolled over to him, leaving Charles at our table. My friend, in a party of four was obviously enjoying himself since he was holding forth the way that he always did. I tapped him on the shoulder and said: “What on earth are you doing here?” But he took no notice of me at all and continued with his story—and he certainly was in good form for I could hear every word he said and his companions were in fits of laughter. I found it quite impossible to make any impression on him, so in disgust I turned back to my table, where I found Charles highly amused at my discomfort.

Đúng lúc ấy tôi chợt thấy một người bạn cũ mà tôi đã không gặp suốt nhiều năm. Lần cuối chúng tôi gặp nhau là trên tàu năm 1935 khi tôi từ kỳ nghỉ ở quê nhà trở về Ceylon còn anh ta đi Malaya. Tôi đi dạo đến chỗ anh ta, để Charles lại ở bàn chúng tôi. Người bạn tôi, trong một nhóm bốn người, rõ ràng đang rất vui vì anh ta đang thao thao bất tuyệt theo đúng kiểu thường lệ. Tôi vỗ vai anh ta và nói: “Trời đất, anh làm gì ở đây vậy?” Nhưng anh ta hoàn toàn không để ý đến tôi mà tiếp tục câu chuyện của mình—và quả thật anh ta đang rất hứng vì tôi nghe được từng lời anh ta nói và các bạn đồng hành của anh ta cười nghiêng ngả. Tôi thấy hoàn toàn không thể gây được chút ấn tượng nào nơi anh ta, nên bực bội quay về bàn mình, nơi tôi thấy Charles rất thích thú trước sự lúng túng của tôi.

“How the devil could I tell whether he was real or unreal?” I asked.

“Làm sao quỷ thần ơi tôi biết được anh ta là thật hay không thật?” tôi hỏi.

Charles replied that he was amused at my use of the words “real” and “unreal” for they just do not exist here. He explained that at first it was difficult to tell, but there was a difference; the astral body which we saw was not clearly outlined in the case of a man using his physical body, whereas that of a permanent resident in the astral world, also of a man functioning at the astral level during sleep, had a much clearer outline. There was another difference to be noted and that was the faint silken cord of etheric matter which was also attached to those who were temporary visitors, who never seemed to be quite as much alive as the permanent inhabitants; you soon got used to judging, apart from the silken cord which was not easy to see. He asked me to compare Roy Chapman with the other diners in the Grill Room. There certainly was a difference, for the outline of Roy’s body was more clearly defined than that of the others. The reason for this may be that when the astral body is being used as a permanent vehicle, the ego inhabiting it has no dual existence, as it has when the man is still living at the physical level.

Charles đáp rằng nó buồn cười trước cách tôi dùng các từ “thật” và “không thật”, vì ở đây những từ ấy đơn giản là không tồn tại. Nó giải thích rằng lúc đầu rất khó phân biệt, nhưng có một khác biệt; thể cảm dục mà chúng tôi thấy không có đường nét rõ ràng trong trường hợp một người đang dùng thể xác, trong khi thể của một cư dân thường trú trong thế giới cảm dục, cũng như của một người đang hoạt động ở cấp độ cảm dục trong lúc ngủ, lại có đường nét rõ hơn nhiều. Còn một khác biệt khác cần lưu ý, đó là sợi dây mảnh bằng chất liệu dĩ thái cũng gắn với những người là khách tạm thời; họ dường như không bao giờ sống động bằng những cư dân thường trú; rồi người ta sẽ sớm quen với việc phán đoán, ngoài sợi dây mảnh ấy vốn không dễ thấy. Nó bảo tôi so sánh Roy Chapman với những thực khách khác trong phòng Grill. Quả thật có khác biệt, vì đường nét của thể Roy quả thật rõ ràng hơn những người khác. Lý do có thể là khi thể cảm dục được dùng như một vận cụ thường trú, chân ngã cư ngụ trong đó không có sự tồn tại kép như khi con người vẫn còn sống ở cấp độ hồng trần.

Our dinner came to an end and as I sipped my liqueur brandy, I saw that a cabaret turn was about to begin. I realised the importance of people living under the strain of total war being taken out of themselves, when possible. There certainly did not seem to be any sign of war in the scene round about us, but one could see the strain behind the apparent enjoyment of the moment, for those present all realised that the future was terribly insecure and that anything might happen to them or their loved ones at any moment. The cabaret included a sort of dance by some very lightly clothed damsels, and during the dance they made use of every bit of space that existed between the tables of the diners. That took in the place where our astral table was situated, and again I experienced the strange sensation caused by individuals in their physical bodies passing through one’s astral body.

Bữa tối của chúng tôi kết thúc và khi tôi nhấp ly rượu mạnh mùi của mình, tôi thấy một tiết mục ca-ba-rê sắp bắt đầu. Tôi nhận ra tầm quan trọng của việc giúp những người đang sống dưới sức ép của chiến tranh toàn diện được tạm quên mình đi, khi có thể. Quả thật dường như không có dấu hiệu chiến tranh nào trong cảnh tượng quanh chúng tôi, nhưng người ta có thể thấy sự căng thẳng ẩn sau niềm vui bề ngoài của khoảnh khắc, vì tất cả những người có mặt đều hiểu rằng tương lai vô cùng bấp bênh và bất cứ điều gì cũng có thể xảy đến với họ hay người thân của họ bất cứ lúc nào. Tiết mục ca-ba-rê gồm một điệu múa nào đó của vài cô gái ăn mặc rất mỏng manh, và trong lúc múa họ sử dụng mọi khoảng trống giữa các bàn của thực khách. Điều đó bao gồm cả chỗ chiếc bàn cảm dục của chúng tôi đang đặt, và một lần nữa tôi trải nghiệm cảm giác kỳ lạ do những cá nhân trong thể xác đi xuyên qua thể cảm dục của mình gây nên.

After the cabaret Charles suggested taking me to a little night club of which he had been a member before he was shot down. I do not even remember in what street the club was situated, but I know it was between Leicester Square and Soho. The same procedure was adopted there as at the Trocadero; a table was created by Charles for our comfort, and drinks were ordered from a waiter, who presumably was also created by the imagination of my brother.

Sau tiết mục ca-ba-rê, Charles gợi ý đưa tôi đến một câu lạc bộ đêm nhỏ mà trước khi bị bắn rơi nó từng là hội viên. Tôi thậm chí không nhớ câu lạc bộ ấy nằm ở phố nào, nhưng tôi biết nó ở giữa Leicester Square và Soho. Ở đó cũng áp dụng cùng một thủ tục như tại Trocadero; Charles tạo ra một chiếc bàn cho chúng tôi dùng, và đồ uống được gọi từ một người bồi bàn, mà có lẽ cũng do sự tưởng tượng của Huynh đệ của Tôi tạo ra.

It must have been about 10 o’clock by English time when the atmosphere changed without warning.The night club was crowded, there were members of the forces and a fair sprinkling of civilians also. Suddenly the sirens, denoting a raid of enemy aircraft, sounded. It was an interesting experience to see the ordered way in which everyone moved and the entire lack of panic which prevailed as all the occupants of the club hurried to the shelters situated in all sorts of strange places, apart from the tubes which played such an important part in the safety of the Londoner during air raids. We went out of the club and walked down Piccadilly. By that time it was dark, but to us the light was the same blue-grey light as when we started from Ceylon. Already we could hear the bombs dropping, also the “ack-ack” guns that seemed to rend the air each moment. Then there was a lull and one heard the roar of fighter aircraft of one of the home squadrons going into action.

Hẳn lúc ấy khoảng 10 giờ theo giờ Anh thì bầu không khí đột ngột thay đổi không báo trước. Câu lạc bộ đêm đông nghịt, có các quân nhân và cũng có khá nhiều thường dân. Bỗng nhiên còi báo động, báo hiệu một cuộc không kích của máy bay địch, vang lên. Thật là một trải nghiệm thú vị khi thấy cách mọi người di chuyển có trật tự và hoàn toàn không hề hoảng loạn, trong khi tất cả những người trong câu lạc bộ vội vã đến các hầm trú ẩn đặt ở đủ mọi nơi kỳ lạ, ngoài hệ thống tàu điện ngầm vốn đóng vai trò rất quan trọng trong sự an toàn của dân Luân Đôn trong các cuộc không kích. Chúng tôi ra khỏi câu lạc bộ và đi dọc Piccadilly. Lúc ấy trời đã tối, nhưng đối với chúng tôi ánh sáng vẫn là thứ ánh sáng xanh xám như khi chúng tôi khởi hành từ Ceylon. Chúng tôi đã nghe tiếng bom rơi, cùng cả tiếng pháo phòng không “ack-ack” dường như xé toạc không khí từng lúc. Rồi có một khoảng lặng, và người ta nghe tiếng gầm của máy bay tiêm kích từ một trong các phi đội quốc nội lao vào chiến đấu.

It was about this time that I found my Indian friend was with us again. He suggested that we go to see if we could help. I did not know then what he meant, but I followed all the same; we immediately soared above the buildings and found ourselves hovering above London, with enemy bombers and British fighters all round us I noticed that Charles was no longer with us and mentioned this, wondering if he had missed us in any way. I was told that he always disappeared when “dogfights” were taking place, as the memory of his being shot down a short time ago was still too vivid in his mind.

Khoảng lúc ấy tôi nhận ra người bạn Ấn Độ của tôi lại ở cùng chúng tôi. Anh gợi ý rằng chúng tôi nên đi xem có thể giúp gì không. Khi ấy tôi chưa biết anh muốn nói gì, nhưng vẫn đi theo; chúng tôi lập tức vút lên trên các tòa nhà và thấy mình lơ lửng trên Luân Đôn, xung quanh là máy bay ném bom địch và tiêm kích Anh. Tôi nhận thấy Charles không còn ở với chúng tôi nữa và nhắc đến điều này, tự hỏi không biết có phải nó đã lạc chúng tôi theo cách nào đó không. Tôi được cho biết rằng nó luôn biến mất khi những trận “không chiến quần vòng” diễn ra, vì ký ức về việc bị bắn rơi cách đây không lâu vẫn còn quá sống động trong tâm trí nó.

“We will probably see him later,” my Indian friend told me, but as a matter of fact I did not see him afterwards, although it is only now that I realise this.

“Có lẽ sau này ta sẽ gặp lại nó,” người bạn Ấn Độ của tôi nói với tôi, nhưng thực ra tôi không gặp lại nó nữa, dù chỉ đến bây giờ tôi mới nhận ra điều đó.

We glided about amidst the inferno that was raging, the bombs and machine guns being audible the whole time. For the first time I saw what the life of a fighter pilot actually was, and realised that some of the irresponsible actions indulged in by them between their jobs in the air were only the natural results of the strain at which they were forced to live whilst on duty. I could now very well understand why they felt that the old saying of “Eat, drink and be merry, for tomorrow we die” referred very definitely to them, and who can blame them if they sought relaxation in every form, during the brief periods they were at liberty to enjoy themselves? My Indian friend tailed onto a particular fighter which seemed to be in the thick of the fight taking place at the moment, as if he knew what was going to happen, and within a few seconds a sudden burst of machine-gun fire sent this machine hurtling to the ground. We followed at the same speed as the plane which was twisting and turning on its way to earth and I saw flames appearing from the engine, which gradually enveloped the whole aircraft. With a sickening crash the plane reached the ground and the pilot was thrown from his cockpit amidst the wreckage. For a few moments it was a veritable inferno, and although the ambulance arrived almost at once, it was obvious that nothing could be done for the unfortunate pilot.

Chúng tôi lướt đi giữa địa ngục đang bùng cháy, tiếng bom và súng máy vang lên suốt thời gian ấy. Lần đầu tiên tôi thấy đời sống của một phi công tiêm kích thực sự là gì, và nhận ra rằng một số hành động bốc đồng mà họ buông mình vào giữa những lần làm nhiệm vụ trên không chỉ là kết quả tự nhiên của sức ép mà họ buộc phải sống dưới đó khi đang thi hành nhiệm vụ. Giờ đây tôi hoàn toàn có thể hiểu tại sao họ cảm thấy câu ngạn ngữ xưa “Hãy ăn, hãy uống và hãy vui, vì ngày mai ta chết” quả thật áp dụng rất rõ cho họ, và ai có thể trách họ nếu họ tìm sự thư giãn dưới mọi hình thức trong những khoảng thời gian ngắn ngủi được tự do vui chơi? Người bạn Ấn Độ của tôi bám theo một chiếc tiêm kích cụ thể dường như đang ở ngay giữa trận chiến lúc ấy, như thể anh biết điều gì sắp xảy ra, và chỉ trong vài giây một loạt đạn súng máy bất ngờ đã khiến chiếc máy bay ấy lao xuống đất. Chúng tôi theo với cùng tốc độ như chiếc máy bay đang xoắn lượn trên đường rơi xuống, và tôi thấy lửa bùng ra từ động cơ rồi dần bao trùm toàn bộ phi cơ. Với một tiếng va chạm ghê rợn, chiếc máy bay chạm đất và viên phi công bị hất khỏi buồng lái giữa đống đổ nát. Trong vài khoảnh khắc đó quả là một địa ngục thực sự, và dù xe cứu thương đến gần như ngay lập tức, rõ ràng không thể làm gì cho viên phi công bất hạnh ấy.

“Now you will see how those who have knowledge can help,” said my Indian friend, and as we came to rest on the ground we saw that, although the body of the airman was terribly burnt and hardly recognisable as a human being, the real man in his astral body (presumably) was standing by the body on the ground, looking frightened and intensely miserable. When my guide went up and spoke to him he did not seem to hear or take any notice. I saw what looked like a cloak of dense matter attempting to wind itself round the astral form that was standing before us. It appeared rather like a thick elastic material and almost completely surrounded the clear cut astral form—this winding process took only a few seconds to complete. It seemed as if what I can only describe as a wraith came from the physical body lying on the ground and was magnetically attracted to the man standing near by. I was told later that is exactly what it was, and the explanation given to me is that the etheric double, which is forced out of the physical body at the moment of death, winds itself round the astral body in its effort to retain some form of life, for the death of the physical body means also the death of the etheric double which is part of the body.

“Bây giờ anh sẽ thấy những người có tri thức có thể giúp như thế nào,” người bạn Ấn Độ của tôi nói, và khi chúng tôi dừng lại trên mặt đất, chúng tôi thấy rằng dù thể xác của người phi công bị cháy khủng khiếp và hầu như không còn nhận ra là một con người, con người thật của anh trong thể cảm dục của mình (có lẽ vậy) đang đứng cạnh thể xác trên mặt đất, trông hoảng sợ và vô cùng đau khổ. Khi người hướng dẫn của tôi bước tới nói chuyện với anh, anh dường như không nghe thấy cũng không chú ý. Tôi thấy một thứ giống như chiếc áo choàng bằng vật chất đậm đặc đang cố quấn lấy hình thể cảm dục đang đứng trước mặt chúng tôi. Nó trông khá giống một chất liệu đàn hồi dày và gần như bao trùm hoàn toàn hình thể cảm dục rõ nét ấy—quá trình quấn này chỉ mất vài giây để hoàn tất. Dường như cái mà tôi chỉ có thể mô tả như một bóng ma xuất ra từ thể xác đang nằm trên mặt đất và bị hút bằng từ tính về phía người đang đứng gần đó. Sau này tôi được cho biết đó chính xác là như vậy, và lời giải thích dành cho tôi là bản sao dĩ thái, vốn bị ép ra khỏi thể xác vào lúc chết, tự quấn quanh thể cảm dục trong nỗ lực giữ lại một dạng sự sống nào đó, vì cái chết của thể xác cũng có nghĩa là cái chết của bản sao dĩ thái vốn là một phần của thể.

My Indian friend then made a determined effort to get rid of the fear that had taken hold of the man, for I could hear him being told that there was nothing to be frightened of and that all would be well. The boy—for he was very young—seemed to be fascinated by the actions that were taking place all around him at the physical level. He saw the ambulance men, after putting out the remnants of the fire which had raged among what was left of his fighter plane, pick up the body that was once his and reverently carry it to the waiting ambulance. I saw the boy flinch from time to time, as bombs seemed to burst near us. He wanted to follow his body, but my friend dissuaded him, talking all the time in a soothing voice, trying to make him realise that his troubles were over. Some permanent inhabitants of the astral world who were present, and easily distinguishable from the ambulance people and those who were helping at the physical level, came up to us and asked if we needed help. My friend told them to go and see to the others, as he would remain and see to our “case.”

Sau đó người bạn Ấn Độ của tôi cố gắng dứt khoát xua tan nỗi sợ đã bám lấy người ấy, vì tôi nghe anh nói với người ấy rằng chẳng có gì phải sợ và mọi sự rồi sẽ ổn. Cậu bé—vì cậu còn rất trẻ—dường như bị mê hoặc bởi những hành động đang diễn ra quanh mình ở cấp độ hồng trần. Cậu thấy những người cứu thương, sau khi dập tắt phần lửa còn sót lại đang cháy giữa những gì còn lại của chiếc tiêm kích của cậu, nhấc lên thể xác từng là của cậu và kính cẩn đưa nó vào xe cứu thương đang chờ. Tôi thấy cậu bé thỉnh thoảng co rúm lại khi bom dường như nổ gần chúng tôi. Cậu muốn đi theo thể xác của mình, nhưng bạn tôi can ngăn, vừa nói liên tục bằng giọng dịu dàng, cố làm cho cậu hiểu rằng mọi khổ nạn của cậu đã chấm dứt. Một số cư dân thường trú của thế giới cảm dục có mặt ở đó, và dễ dàng phân biệt với những người cứu thương cùng những người đang trợ giúp ở cấp độ hồng trần, bước đến chỗ chúng tôi và hỏi có cần giúp không. Bạn tôi bảo họ đi chăm lo cho những người khác, vì anh sẽ ở lại xử lý “trường hợp” của chúng tôi.

I did not hear every word that my friend was saying, but after some time I saw that a glimmer of understanding seemed to appear on the boy’s face, whereupon the clinging matter which had partly enveloped him, started to disconnect and fall to the ground. It was explained that this was effected by the boy being told to make an effort of will to disconnect himself from it. After a little time it all dropped to the ground and seemed to evaporate into smoke and dust. Later I was told that it disintegrates very quickly, because the etheric matter of which it is formed is relatively very fine, compared with the dense part of the physical body. The boy then seemed to come to life. He sat on the ground, put his head in his hands and sobbed hysterically. My friend let him do this for a time for, as he explained, the boy’s emotional or astral body had undergone a very severe strain and the normal reactions must take place. The boy seemed to think that he had in some way failed, and even then did not seem to realise that he was dead and forever out of that hell which he had known.

Tôi không nghe được từng lời bạn tôi nói, nhưng sau một lúc tôi thấy một tia hiểu biết dường như xuất hiện trên gương mặt cậu bé, và khi ấy lớp vật chất bám dính đã bao phủ cậu một phần bắt đầu tách ra và rơi xuống đất. Tôi được giải thích rằng điều này được thực hiện bằng cách bảo cậu bé cố gắng dùng ý chí để tách mình ra khỏi nó. Sau một lúc, tất cả rơi xuống đất và dường như tan thành khói bụi. Về sau tôi được cho biết rằng nó tan rã rất nhanh, vì vật chất dĩ thái cấu thành nó tương đối rất tinh tế so với phần đậm đặc của thể xác. Khi ấy cậu bé dường như sống lại. Cậu ngồi xuống đất, ôm đầu trong hai tay và nức nở dữ dội. Bạn tôi để cậu làm như vậy một lúc vì, như anh giải thích, thể cảm xúc hay thể cảm dục của cậu đã chịu một sức ép rất nặng và những phản ứng bình thường phải diễn ra. Cậu bé dường như nghĩ rằng bằng cách nào đó mình đã thất bại, và ngay cả lúc ấy vẫn không nhận ra rằng mình đã chết và vĩnh viễn thoát khỏi địa ngục mà cậu từng biết.

“Come with me and we’ll talk about this,” said my friend as he took him by the arm and, without the boy seeming to notice it, we swiftly moved from the scene; within a few seconds we were far away and in the country.

“Đi với tôi, rồi chúng ta sẽ nói về chuyện này,” bạn tôi nói khi nắm tay cậu, và không để cậu dường như nhận ra điều đó, chúng tôi nhanh chóng rời khỏi hiện trường; chỉ trong vài giây chúng tôi đã ở rất xa và ngoài vùng quê.

My friend took him to a lovely spot near a wood, where there was a little stream wending its way down to the great river beneath, on the bank of which we sat down in a silence that was heaven after the inferno we had recently left. My friend started to talk, thus gradually breaking down the remaining sensation of fear and horror, whilst the boy listened to a very brief explanation of what had taken place. At first he would not believe that he was dead and kept on saying:

Bạn tôi đưa cậu đến một nơi tuyệt đẹp gần một khu rừng, nơi có một con suối nhỏ uốn mình chảy xuống con sông lớn phía dưới, bên bờ sông ấy chúng tôi ngồi xuống trong một sự im lặng như thiên đường sau địa ngục mà chúng tôi vừa rời khỏi. Bạn tôi bắt đầu nói chuyện, nhờ đó dần dần phá tan cảm giác sợ hãi và kinh hoàng còn sót lại, trong khi cậu bé lắng nghe một lời giải thích rất ngắn gọn về điều đã xảy ra. Lúc đầu cậu không chịu tin rằng mình đã chết và cứ nói mãi:

“How can I be dead, when I feel so much alive?” We then asked him where he lived and he told us.

“Làm sao cháu có thể chết được, khi cháu cảm thấy mình sống động đến thế?” Sau đó chúng tôi hỏi cậu sống ở đâu và cậu cho biết.

“Come along then, we’ll go and see if your father and mother are asleep yet.” The boy could not understand what all this was about, but he pointed out the house where his family lived, which was beyond Finchley, and there we found the family had just retired to bed, but as yet were not asleep. The boy did not seem to realise that strangers were walking about his house and gazing at his parents, and my friend continued talking to him so as to distract his attention from what would otherwise have seemed very strange to him. After a time first his father and then his mother fell asleep and as they slipped out of their bodies, they seemed overjoyed at seeing their son. My friend started to tell them what had happened and tried to prepare them for the news that they would receive on the morrow. At first, naturally, they were horrified at what had happened, but when they realised that their son was in no way lost to them, and that they would be able to see and contact him whenever they were asleep and out of their bodies, much of the grief which had hit them like a hammer blow passed away.

“Vậy thì đi nào, ta sẽ đến xem cha mẹ cháu đã ngủ chưa.” Cậu bé không hiểu tất cả chuyện này là gì, nhưng cậu chỉ ngôi nhà nơi gia đình mình sống, ở phía ngoài Finchley, và tại đó chúng tôi thấy gia đình vừa mới lên giường nhưng vẫn chưa ngủ. Cậu bé dường như không nhận ra rằng những người lạ đang đi lại trong nhà mình và nhìn cha mẹ mình, còn bạn tôi tiếp tục nói chuyện với cậu để đánh lạc hướng sự chú ý của cậu khỏi điều lẽ ra sẽ có vẻ rất kỳ lạ đối với cậu. Sau một lúc, trước tiên cha cậu rồi đến mẹ cậu ngủ thiếp đi, và khi họ rời khỏi thể xác của mình, họ dường như vui mừng khôn xiết khi thấy con trai. Bạn tôi bắt đầu kể cho họ điều đã xảy ra và cố chuẩn bị cho họ đón nhận tin tức mà họ sẽ nhận được vào ngày hôm sau. Lúc đầu, dĩ nhiên, họ kinh hoàng trước điều đã xảy ra, nhưng khi nhận ra rằng con trai họ hoàn toàn không mất đi đối với họ, và rằng họ sẽ có thể gặp và tiếp xúc với cậu bất cứ khi nào họ ngủ và ra khỏi thể xác, phần lớn nỗi đau giáng xuống họ như một nhát búa đã tan đi.

It is a great pity that people do not remember what they have seen and been told when out of their bodies, but usually they remember nothing. I can now understand though, why so many people have a feeling before bad news is received, of an accident, or a death in the family. It is because they have been told about it on the astral plane and the following morning some slight remembrance of this has been brought back into the waking consciousness of the individual.

Thật đáng tiếc biết bao khi con người không nhớ những gì họ đã thấy và được nghe khi ra khỏi thể xác, nhưng thường thì họ chẳng nhớ gì cả. Tuy vậy giờ đây tôi có thể hiểu tại sao rất nhiều người lại có một cảm giác trước khi tin dữ đến, về một tai nạn, hay một cái chết trong gia đình. Đó là vì họ đã được báo cho biết điều ấy trên cõi cảm dục, và sáng hôm sau một ký ức mờ nhạt nào đó về việc này đã được mang trở lại vào tâm thức thức tỉnh của cá nhân.

After spending some time with them, explaining as much as possible of what death really means, my friend suggested that the boy go with him, so that he might introduce him to a woman who was already working at the astral level and who would be only too willing to show him how to adapt himself to living under these changed conditions. We then left the boy’s mother and father, who still remained seated in their astral house, talking over what they had been told. They were not a very evolved couple, so they did not wander far from their bodies, which were lying peacefully asleep on their beds, blissfully ignorant of what their owners would have to face when they woke in the morning. My Indian friend then stood quite still for a moment and uttered what sounded like a peculiar note. It was not a whistle but it was similar to that. Immediately afterwards a woman of about thirty-five years of age came up to us (out of the mist, as it were) in answer to the summons. My friend explained that to get into touch with some one at the astral level, one had to think strongly of that person and if the matter were very urgent, to help that thought, one also sounded the “true note” of that individual. I gathered that every person has what is known as a true note, which is different from the note of anyone else, and sounding that note helped in urgent cases to bring the person needed to a particular spot in the shortest time. The person called hears the note and is magnetically drawn to the caller. The woman who answered his call was one of the many “astral helpers,” as they are called, who have dedicated themselves to the helping of those who pass from the physical world, through the process of what we call death, and I can now fully realise how necessary and wonderful is such work. Without these volunteers, not only would it take those who die much longer to get rid of that clinging etheric double—for before doing this their life at the astral level cannot properly commence—but also the advantage of having someone to instruct them in the different ruling conditions, can be easily understood. This woman was soon put into possession of all the facts of our “case”and with a sympathetic understanding that soon put the boy at his ease, took him away to begin his astral education. I was assured that this always happens. No one is ever left to find things out for himself, always someone is detailed to perform this necessary task; in this way a newcomer soon begins to find his feet and enters into the new life that must take the place of the old one, now behind him.

Sau khi ở với họ một thời gian, giải thích càng nhiều càng tốt về điều cái chết thực sự có nghĩa là gì, bạn tôi gợi ý rằng cậu bé nên đi với anh để anh có thể giới thiệu cậu với một người phụ nữ vốn đã làm việc ở cấp độ cảm dục và sẽ rất sẵn lòng chỉ cho cậu cách thích nghi với việc sống trong những điều kiện đã thay đổi này. Sau đó chúng tôi rời cha mẹ cậu bé, họ vẫn còn ngồi trong ngôi nhà cảm dục của mình, bàn bạc với nhau về những gì đã được nói cho biết. Họ không phải là một cặp vợ chồng rất tiến hóa, nên họ không đi xa khỏi thể xác của mình, đang nằm ngủ yên trên giường, hoàn toàn không hay biết điều mà chủ nhân của chúng sẽ phải đối diện khi thức dậy vào buổi sáng. Khi ấy người bạn Ấn Độ của tôi đứng yên lặng một lúc và phát ra một âm điệu nghe như rất kỳ lạ. Đó không phải là tiếng huýt sáo nhưng khá giống như vậy. Ngay sau đó một người phụ nữ khoảng ba mươi lăm tuổi bước đến chỗ chúng tôi (như thể từ trong sương mù hiện ra) để đáp lại lời triệu gọi. Bạn tôi giải thích rằng để tiếp xúc với một ai đó ở cấp độ cảm dục, người ta phải nghĩ mạnh mẽ về người ấy và nếu việc đó rất khẩn cấp thì để trợ giúp cho tư tưởng ấy, người ta còn phải xướng “âm điệu chân thực” của cá nhân đó. Tôi hiểu rằng mỗi người đều có cái gọi là âm điệu chân thực, khác với âm điệu của bất kỳ ai khác, và việc xướng âm điệu ấy trong trường hợp khẩn cấp giúp đưa người cần thiết đến một nơi nhất định trong thời gian ngắn nhất. Người được gọi nghe thấy âm điệu ấy và bị hút bằng từ tính về phía người gọi. Người phụ nữ đáp lại tiếng gọi của anh là một trong nhiều “người trợ giúp cảm dục”, như họ được gọi, những người đã hiến mình cho việc giúp đỡ những ai rời khỏi thế giới hồng trần qua tiến trình mà chúng ta gọi là cái chết, và giờ đây tôi hoàn toàn nhận ra công việc ấy cần thiết và kỳ diệu biết bao. Nếu không có những người tình nguyện này, không những những người chết sẽ mất nhiều thời gian hơn để thoát khỏi bản sao dĩ thái bám dính ấy—vì trước khi làm được điều này, đời sống của họ ở cấp độ cảm dục không thể thực sự bắt đầu—mà lợi ích của việc có ai đó chỉ dạy họ về những điều kiện chi phối khác nhau cũng rất dễ hiểu. Người phụ nữ này nhanh chóng được cho biết đầy đủ mọi sự kiện của “trường hợp” của chúng tôi và, với một sự cảm thông đầy thấu hiểu sớm khiến cậu bé thấy yên tâm, đã đưa cậu đi để bắt đầu sự giáo dục cảm dục của cậu. Tôi được bảo đảm rằng điều này luôn luôn xảy ra. Không ai bao giờ bị bỏ mặc để tự mình tìm hiểu mọi thứ; luôn luôn có người được chỉ định thực hiện nhiệm vụ cần thiết này; nhờ vậy một người mới đến sớm bắt đầu đứng vững và bước vào đời sống mới phải thay thế đời sống cũ, nay đã ở phía sau y.

My friend then asked me what time it was and on looking at a nearby clock, I saw that the hands pointed to 2 o’clock. This meant that four hours had elapsed since the air raid sirens had sounded, therefore it must be 6:30 a.m. in Ceylon. He said that we had only a little over one hour left as I should have to get back into my body again at 8 o’clock in Colombo. He suggested that he should introduce me to other ways of life that can be lived at the astral level by those who are not bound by the desire for things which have only a physical background. He therefore told me to keep near him and started off again. We floated over the sea with no land in sight anywhere. He asked me if I had ever been interested in knowing what was under the water and I admitted frankly that I had never thought much about it. My guide then said that at the astral level one could come into contact with entities which belonged to a parallel evolution; that fish and birds for example, did not progress through the human kingdom on their journey to perfection, but travelled along another and quite different line, the deva or angel evolution. Before reaching the standard represented by a deva, however, they had to evolve through many stages comprising elementals, nature spirits and the like, and that if I wanted to understand something of this evolution, I had better start at the bottom and get to know them in their right sequence.

Sau đó bạn tôi hỏi tôi mấy giờ rồi và khi nhìn vào một chiếc đồng hồ gần đó, tôi thấy kim chỉ 2 giờ. Điều này có nghĩa là bốn giờ đã trôi qua kể từ khi còi báo động không kích vang lên, vậy hẳn lúc ấy là 6 giờ 30 sáng ở Ceylon. Anh nói rằng chúng tôi chỉ còn hơn một giờ nữa vì tôi sẽ phải trở lại thể xác của mình lúc 8 giờ ở Colombo. Anh gợi ý rằng anh nên giới thiệu cho tôi những lối sống khác có thể được sống ở cấp độ cảm dục bởi những người không bị trói buộc bởi ham muốn đối với những thứ chỉ có bối cảnh hồng trần. Vì vậy anh bảo tôi ở gần anh rồi lại lên đường. Chúng tôi lướt trên biển mà không thấy đất liền ở đâu cả. Anh hỏi tôi liệu tôi có bao giờ quan tâm đến việc biết dưới nước có gì không và tôi thành thật thú nhận rằng mình chưa từng nghĩ nhiều về điều đó. Khi ấy người hướng dẫn của tôi nói rằng ở cấp độ cảm dục người ta có thể tiếp xúc với những thực thể thuộc về một đường tiến hoá song song; chẳng hạn cá và chim không tiến qua giới nhân loại trên hành trình đi đến hoàn thiện, mà đi theo một đường khác hẳn, tức đường tiến hoá của thiên thần hay thiên sứ. Tuy nhiên, trước khi đạt đến tiêu chuẩn được biểu hiện bởi một thiên thần, chúng phải tiến hoá qua nhiều giai đoạn gồm hành khí, tinh linh tự nhiên và những loại tương tự, và rằng nếu tôi muốn hiểu đôi điều về đường tiến hoá này, tốt hơn hết tôi nên bắt đầu từ dưới cùng và làm quen với chúng theo đúng trình tự.

He proposed to take me under water and warned me that whatever happened, I must not become frightened, otherwise it would mean that I would at once return to my physical body and remember nothing of what I had seen and done during the night. He reiterated the necessity of getting rid of fear in all things connected with life outside the physical conditions, and asked me if I felt I could face up to things. I have always been the type of individual who likes to try out everything once, so I expressed my willingness to go with him. I was told to realise that going below the water could not in any way affect me in my astral body, for that body did not need to breathe, so whether one were above or below the water mattered not at all.

Anh đề nghị đưa tôi xuống dưới nước và cảnh báo rằng dù có chuyện gì xảy ra, tôi cũng không được sợ hãi, nếu không điều đó sẽ có nghĩa là tôi lập tức trở về thể xác và không nhớ gì về những gì mình đã thấy và làm trong đêm. Anh nhấn mạnh lại sự cần thiết phải loại bỏ sợ hãi trong mọi điều liên quan đến đời sống bên ngoài các điều kiện hồng trần, và hỏi tôi có cảm thấy mình có thể đối mặt với mọi việc không. Tôi vốn luôn là kiểu người thích thử mọi thứ một lần, nên tôi bày tỏ sự sẵn lòng đi cùng anh. Tôi được bảo rằng phải nhận ra việc đi xuống dưới nước hoàn toàn không thể ảnh hưởng gì đến tôi trong thể cảm dục, vì thể ấy không cần thở, nên ở trên hay dưới nước đều không thành vấn đề.

We came down on the water and although the sea appeared to be quite rough on the surface, it made no difference to us. The feel of water was little different from that of land. There was no suggestion of variation in temperature and as we gradually submerged, doing it very slowly so as to ensure my not becoming nervous, I felt no disagreeable sensation at all. As my head went below the waves, I was glad to note that the light did not change. It was still the same blue-grey light to which I was becoming accustomed. All round me were moving creatures which I recognised as fish, though not in the quantities I should have expected. As we went lower, the number of fish became less, and those I saw were considerably larger and moved much more slowly than those on the surface. There were also great hulks of what looked like floating rocks, but on coming closer I saw that they had phosphorescent eyes, betokening life of some sort. My guide explained that these entities were indeed alive, that they were at the stage of passing from the fish kingdom to that of the elemental, that such things never contacted the surface, nor did they ever see human beings, as they existed in depths far below where they could be caught in the nets of fishermen.

Chúng tôi hạ xuống mặt nước và dù biển trên bề mặt có vẻ khá động, điều đó cũng chẳng tạo khác biệt gì với chúng tôi. Cảm giác của nước chỉ khác đất liền rất ít. Không hề có dấu hiệu thay đổi nhiệt độ nào và khi chúng tôi dần dần chìm xuống, làm điều đó rất chậm để bảo đảm tôi không trở nên lo lắng, tôi không hề cảm thấy khó chịu chút nào. Khi đầu tôi chìm xuống dưới sóng, tôi mừng nhận thấy ánh sáng không thay đổi. Nó vẫn là thứ ánh sáng xanh xám mà tôi đang dần quen. Chung quanh tôi là những sinh vật đang di chuyển mà tôi nhận ra là cá, dù không nhiều như tôi chờ đợi. Khi chúng tôi xuống sâu hơn, số lượng cá ít dần, và những con tôi thấy lớn hơn đáng kể và di chuyển chậm hơn nhiều so với những con ở gần mặt nước. Cũng có những khối lớn trông như đá nổi, nhưng khi đến gần hơn tôi thấy chúng có đôi mắt phát quang, biểu lộ một dạng sự sống nào đó. Người hướng dẫn của tôi giải thích rằng những thực thể ấy quả thật đang sống, rằng chúng đang ở giai đoạn chuyển từ giới cá sang giới hành khí, rằng những thứ như vậy không bao giờ tiếp xúc với mặt nước, cũng không bao giờ thấy con người, vì chúng tồn tại ở những độ sâu rất xa bên dưới nơi chúng có thể bị mắc vào lưới của ngư dân.

After a very short time, as we understand time, we reached the bottom of the sea, where we trod solid earth again; not that it seemed like earth for it was rocky and undulating. But what a sight met my eyes! The whole of the sea bottom was a garden; there were flowering shrubs, sea flowers of many kinds and rocks that glistened with a thousand different colours. Here and there I saw caves which were not dark, but certainly less light than outside and into one of them I was taken. It was the home of one of the sea elementals that abound at the bottom of the ocean. At first I shrank from looking at this entity, which was the size of a half-grown elephant and whose eyes shone in the gloom of the cave with a phosphorescent light that seemed to be almost magnetic. I was told that these creatures did indeed lure their food to them in the shape of sea animals and fish, by the magnetism in their eyes; I felt the magnetic draw and for a moment became a little afraid, but my Indian friend, who was never far from me, assured me that it could not harm me and that I need have no fear. The creature we were looking at was obviously aware of our presence; I was told that what we saw was its astral body.

Chỉ sau một thời gian rất ngắn, theo cách chúng ta hiểu về thời gian, chúng tôi chạm đến đáy biển, nơi chúng tôi lại bước trên nền đất rắn; dù nó không giống đất vì đầy đá và lượn sóng. Nhưng một cảnh tượng biết bao hiện ra trước mắt tôi! Toàn bộ đáy biển là một khu vườn; có những bụi cây ra hoa, những bông hoa biển đủ loại và những tảng đá lấp lánh với hàng ngàn màu sắc khác nhau. Đây đó tôi thấy những hang động không tối, nhưng chắc chắn ít sáng hơn bên ngoài, và tôi được đưa vào một hang. Đó là nơi ở của một trong những hành khí biển rất nhiều ở đáy đại dương. Lúc đầu tôi co lại không muốn nhìn thực thể này, có kích thước bằng nửa con voi trưởng thành và đôi mắt nó sáng lên trong bóng mờ của hang với một thứ ánh sáng phát quang dường như gần như có từ tính. Tôi được cho biết rằng những sinh vật này quả thật dụ thức ăn đến với chúng dưới hình thức các loài vật biển và cá bằng từ tính trong mắt chúng; tôi cảm thấy sức hút từ tính ấy và trong chốc lát hơi sợ, nhưng người bạn Ấn Độ của tôi, không bao giờ ở xa tôi, trấn an rằng nó không thể làm hại tôi và tôi không cần sợ. Sinh vật mà chúng tôi đang nhìn rõ ràng biết có sự hiện diện của chúng tôi; tôi được cho biết rằng điều chúng tôi thấy là thể cảm dục của nó.

We went out of the cave and, as I was once again drinking my fill of the beauties that surrounded me, I heard a dull, throbbing noise which seemed, in a way, to resemble music. We stood still as it came closer and soon I saw a company of about twenty strange creatures, neither fish, animal nor human. They had the heads of human beings in that their features resembled humans, but their bodies were entirely wrapped in what looked like floating seaweed though much more beautiful than anything I had ever seen before. As they floated along just above the bottom of the ocean, they sang a song, while some played a weird pipe instrument which emitted a wailing sound reminiscent of the wind. The result was very beautiful and I was told that they were some of the sea spirits, who inhabit all deep waters. I could have listened to their music for a very long time, for it had a sort of refrain which kept on coming and going, the notes being indistinct as individual notes, but more or less blended together into a harmonious whole. It was indeed a sea symphony of which I wanted to hear more. I was told that I could easily do so another time if I wished, but that it was now time for us to be on our way.

Chúng tôi ra khỏi hang và, khi tôi lại một lần nữa đang uống no đầy vẻ đẹp quanh mình, tôi nghe một âm thanh trầm, rung nhịp, theo một cách nào đó giống âm nhạc. Chúng tôi đứng yên khi nó đến gần hơn và chẳng bao lâu tôi thấy một đoàn khoảng hai mươi sinh vật kỳ lạ, không phải cá, không phải thú, cũng không phải người. Họ có đầu người theo nghĩa là các nét mặt giống con người, nhưng thân thể họ hoàn toàn được bao bọc trong thứ trông như rong biển trôi nổi, dù đẹp hơn nhiều bất cứ thứ gì tôi từng thấy trước đây. Khi họ lướt đi ngay trên đáy đại dương, họ hát một bài ca, trong khi vài người thổi một nhạc cụ giống ống sáo kỳ lạ phát ra âm thanh ai oán gợi nhớ tiếng gió. Kết quả thật rất đẹp và tôi được cho biết họ là một số tinh linh biển, cư ngụ trong mọi vùng nước sâu. Tôi có thể đã lắng nghe âm nhạc của họ rất lâu, vì nó có một điệp khúc cứ đến rồi đi, các nốt không rõ ràng như những nốt riêng lẻ mà ít nhiều hòa lẫn thành một tổng thể hài hòa. Quả thật đó là một bản giao hưởng biển mà tôi muốn nghe thêm nữa. Tôi được bảo rằng một dịp khác tôi hoàn toàn có thể làm vậy nếu muốn, nhưng giờ đã đến lúc chúng tôi phải lên đường.

I kept close to my guide; we soon emerged on to the surface of the sea and, without any effort whatsoever, rose into the air and continued our journey. Once more we travelled at what must have been a terrific pace, judged by earthly standards, although there was actually no feeling of speed, for within a minute we seemed to slow down and I saw we were over Colombo harbour; a moment later we were floating through the bedroom window in my bungalow which I had left less than ten hours ago.

Tôi bám sát người hướng dẫn của mình; chẳng bao lâu chúng tôi nổi lên mặt biển và, không cần chút nỗ lực nào, bay lên không trung rồi tiếp tục hành trình. Một lần nữa chúng tôi di chuyển với tốc độ hẳn là khủng khiếp nếu xét theo tiêu chuẩn trần thế, dù thực ra không hề có cảm giác tốc độ, vì chỉ trong vòng một phút chúng tôi dường như chậm lại và tôi thấy mình đang ở trên cảng Colombo; một lát sau chúng tôi lướt qua cửa sổ phòng ngủ trong bungalow của tôi, nơi tôi đã rời đi chưa đầy mười giờ trước.

There sure enough was my body apparently still asleep on the bed but even as we stood looking at it, I noticed that it moved and turned from one side on to its back. My guide pointed this out to me and explained that, subconsciously, it was beginning to realise that the time had nearly arrived for it to wake up again, that within a few minutes an S.O.S. would be sent out and, even if I were ten thousand miles away, I should have to return immediately, as this summons meant that the physical body had had its proper quota of sleep and wished to take up its work in the world again.

Quả nhiên thể xác của tôi vẫn dường như đang ngủ trên giường nhưng ngay khi chúng tôi đứng nhìn nó, tôi nhận thấy nó cử động và xoay từ nghiêng sang nằm ngửa. Người hướng dẫn của tôi chỉ điều đó cho tôi và giải thích rằng, trong tiềm thức, nó đang bắt đầu nhận ra rằng thời điểm thức dậy gần đến, rằng chỉ trong vài phút nữa một tín hiệu S.O.S. sẽ được phát ra và, ngay cả nếu tôi ở cách đó mười ngàn dặm, tôi cũng sẽ phải trở về ngay lập tức, vì lời triệu gọi này có nghĩa là thể xác đã có đủ phần ngủ cần thiết và muốn lại đảm nhận công việc của nó trong đời thường.

I asked how it was possible to ensure that the body would always remain asleep for a specified number of hours. He replied that it was difficult to ensure this, but that with much training and concentration it was possible so to discipline the body that it acted according to one’s will, but this I gathered took much time and training to do properly. I asked if the tablet I had taken before going to bed the previous night had had anything to do with it, and was told that in this case it had. The tablet was a special kind of sleeping draught made from a secret formula which not only ensured the person going to sleep almost immediately, but also made certain that the body remained asleep for a period of ten hours, unless awakened by some extraordinary amount of noise or on being touched by an outside agency. It was impressed upon me that if I wished to experiment with such matters as bringing back into the physical consciousness what I had been doing whilst out of my body, it was essential that I trained my domestic staff never to wake me or make any noise near my bedroom during the period that I wished to remain asleep.

Tôi hỏi làm sao có thể bảo đảm rằng thể xác sẽ luôn ngủ trong một số giờ xác định. Anh đáp rằng điều này khó bảo đảm, nhưng với nhiều huấn luyện và tập trung, có thể kỷ luật thể xác đến mức nó hành động theo ý chí của mình, dù tôi hiểu rằng việc này đòi hỏi rất nhiều thời gian và huấn luyện mới làm đúng được. Tôi hỏi liệu viên thuốc tôi đã uống trước khi đi ngủ đêm trước có liên quan gì đến việc ấy không, và được cho biết rằng trong trường hợp này thì có. Viên thuốc ấy là một loại thuốc ngủ đặc biệt làm từ một công thức bí mật, không những bảo đảm người dùng gần như ngủ ngay lập tức, mà còn chắc chắn rằng thể xác sẽ ngủ suốt mười giờ, trừ phi bị đánh thức bởi một tiếng động bất thường nào đó hoặc do bị một tác nhân bên ngoài chạm vào. Người ta nhấn mạnh với tôi rằng nếu tôi muốn thử nghiệm những vấn đề như mang trở lại vào tâm thức hồng trần những gì mình đã làm khi ra khỏi thể xác, điều cốt yếu là tôi phải huấn luyện gia nhân của mình tuyệt đối không đánh thức tôi hay gây tiếng động nào gần phòng ngủ trong khoảng thời gian tôi muốn tiếp tục ngủ.

My Indian friend then told me that it was time for me to return to my body and that he would endeavour to impress upon the brain cells of that body the necessity for remembering what had transpired during the night so that there should be no actual break of consciousness at the moment of awakening. He told me to set to, as soon as I was conscious in my physical body, and make notes of what I had done during the night and that immediately I had bathed and eaten, I should waste no time in writing down in detail all that I remembered.

Sau đó người bạn Ấn Độ của tôi bảo rằng đã đến lúc tôi phải trở về thể xác và anh sẽ cố gắng gây ấn tượng lên các tế bào não của thể ấy về sự cần thiết phải nhớ những gì đã diễn ra trong đêm để không có sự gián đoạn tâm thức thực sự nào vào lúc thức dậy. Anh bảo tôi phải bắt tay ngay vào việc, ngay khi có tâm thức trong thể xác hồng trần của mình, và ghi chú những gì tôi đã làm trong đêm, và rằng ngay sau khi tắm rửa và ăn uống xong, tôi không được lãng phí thời gian mà phải viết lại chi tiết tất cả những gì mình nhớ.

Almost as soon as my guide had finished speaking, I felt myself gradually sliding into my body again and I woke without having any break of consciousness, as he had hoped. I sat up in bed, drew towards me a pad and pencil that I had placed beside my bed and started to make notes of all that had happened during the night. It was fortunate that I was told to make notes immediately, for I found that even with the headings that I had made, it was difficult to remember exactly what had happened, when, later on, I wrote out my report in full. However, I shall see how faithful my memory has been when I show this record to my visitor tomorrow, for he said he would come then to continue his talks.

Hầu như ngay khi người hướng dẫn của tôi vừa dứt lời, tôi cảm thấy mình dần dần trượt vào thể xác trở lại, và tôi tỉnh dậy mà không hề có bất kỳ sự gián đoạn tâm thức nào, đúng như ông đã hy vọng. Tôi ngồi bật dậy trên giường, kéo về phía mình một tập giấy và cây bút chì mà tôi đã đặt bên cạnh giường, rồi bắt đầu ghi chép những điều đã xảy ra trong đêm. Thật may là tôi đã được bảo phải ghi chép ngay lập tức, vì tôi nhận ra rằng ngay cả với những đề mục mình đã ghi ra, về sau khi viết đầy đủ bản tường trình, tôi vẫn khó nhớ chính xác điều gì đã xảy ra và xảy ra khi nào. Tuy nhiên, ngày mai khi tôi đưa bản ghi này cho vị khách của mình xem, tôi sẽ biết trí nhớ của mình trung thực đến mức nào, vì ông nói rằng khi ấy ông sẽ đến để tiếp tục các cuộc nói chuyện của mình.

Leave a Comment

Scroll to Top