Chapter 5
|
It was no use; last night I made all my preparations and concentrated on seeing myself in a mirror, but this morning I remember absolutely nothing. I went to sleep almost as soon as my head touched the pillow, for I suppose I was tired after all the concentration on my report yesterday, and it seemed only a very short time before I awoke this morning, bright and early, after a dreamless night’s rest. Yes, not even a dream disturbed my slumbers and I must say I am disappointed, though possibly I was expecting too much. In an hour’s time my Indian friend will be here and perhaps he will explain why I failed last night in such a dismal fashion. |
Thật vô ích; tối qua tôi đã chuẩn bị mọi thứ và tập trung nhìn thấy mình trong gương, nhưng sáng nay tôi hoàn toàn không nhớ gì cả. Tôi ngủ thiếp đi gần như ngay khi đầu vừa chạm gối, vì tôi cho rằng rốt cuộc mình đã mệt sau tất cả sự tập trung vào bản tường trình hôm qua, và dường như chỉ một lát rất ngắn sau là tôi đã thức dậy sáng nay, tỉnh táo và sớm sủa, sau một giấc ngủ không mộng mị. Đúng vậy, đến cả một giấc mơ cũng không quấy rầy giấc ngủ của tôi, và tôi phải nói rằng tôi thất vọng, dù có lẽ tôi đã mong đợi quá nhiều. Chỉ một giờ nữa người bạn Ấn Độ của tôi sẽ đến đây, và có lẽ ông sẽ giải thích vì sao tối qua tôi lại thất bại một cách thảm hại như thế. |
|
Just at 11 o’clock, as I was looking through my notes uncertain as to what he would think about them, he opened the door. Obviously he knew that I was a little excited, wondering whether I had failed to remember a lot about my astral journey, for his eyes twinkled as he asked me if my report was ready. He never seems to laugh, though his eyes often smile, and there is no doubt at all about his having a very highly developed sense of humour. |
Đúng 11 giờ, khi tôi đang xem lại các ghi chép của mình mà không biết ông sẽ nghĩ gì về chúng, ông mở cửa bước vào. Rõ ràng ông biết rằng tôi hơi kích động, tự hỏi liệu mình có quên mất nhiều điều trong chuyến du hành cảm dục hay không, vì mắt ông ánh lên vẻ vui khi hỏi tôi bản tường trình đã sẵn sàng chưa. Ông dường như không bao giờ cười thành tiếng, dù đôi mắt ông thường mỉm cười, và hoàn toàn không còn nghi ngờ gì nữa rằng ông có một ý thức khôi hài phát triển rất cao. |
|
Having read my notes, he complimented me on having remembered so much and said that for a first attempt it was distinctly above the average. I asked him if I had forgotten much, to which he replied that I had certainly failed to notice quite a lot when we were under the sea; also, I had not remembered much of what transpired when we were trying to help the young fighter pilot immediately after he had been shot down; these omissions were unimportant, the main thing being that I had proved for myself it is possible to remember what is done outside the body, and the perfecting of the “bringing through” process of the business was now only a matter of time and concentration. |
Sau khi đọc các ghi chép của tôi, ông khen tôi đã nhớ được nhiều như vậy và nói rằng đối với lần thử đầu tiên thì điều đó rõ ràng là trên mức trung bình. Tôi hỏi ông liệu tôi có quên nhiều không, và ông đáp rằng chắc chắn tôi đã không để ý đến khá nhiều điều khi chúng tôi ở dưới biển; ngoài ra, tôi cũng không nhớ được bao nhiêu về những gì đã diễn ra khi chúng tôi cố giúp viên phi công chiến đấu trẻ ngay sau khi anh ta bị bắn rơi; những thiếu sót ấy không quan trọng, điều chính yếu là tôi đã tự chứng minh cho mình thấy rằng có thể nhớ được những gì được làm bên ngoài thể xác, và việc hoàn thiện tiến trình “mang qua” này giờ đây chỉ còn là vấn đề thời gian và sự tập trung. |
|
“But why couldn’t I remember anything this morning?” |
“Nhưng tại sao sáng nay tôi lại không thể nhớ được gì?” |
|
He smiled as he pointed out that I must not expect to be successful all at once, and that I must be prepared for my disappointments; yet if I were determined to succeed, he would help me in every way possible. He continued: “Your adventures of the night before last have made my task of describing the astral plane to you much easier than it was before, for now you know from experience something of what I have endeavoured to explain to you in mere words. You have therefore learnt the first lesson in what we call occult wisdom, which is that you must never believe in a credulous way anything that you are told. You must not disbelieve it either, for that would be foolish. The only method to adopt is to accept as a possibility the things that you are told; then, to set about finding out the way to prove those things for yourself. |
Ông mỉm cười khi chỉ ra rằng tôi không được mong đợi thành công ngay lập tức, và rằng tôi phải sẵn sàng đón nhận những thất vọng của mình; tuy nhiên, nếu tôi quyết tâm thành công, ông sẽ giúp tôi bằng mọi cách có thể. Ông tiếp tục: “Những cuộc phiêu lưu của anh vào đêm hôm kia đã khiến nhiệm vụ mô tả cõi cảm dục cho anh của tôi trở nên dễ dàng hơn nhiều so với trước đây, vì giờ đây từ kinh nghiệm trực tiếp anh đã biết phần nào điều mà tôi đã cố gắng giải thích cho anh chỉ bằng lời nói. Vì vậy anh đã học được bài học đầu tiên trong điều mà chúng tôi gọi là minh triết huyền bí, đó là anh không bao giờ được tin một cách nhẹ dạ bất cứ điều gì người ta nói với anh. Anh cũng không được không tin điều đó, vì như thế là ngu xuẩn. Phương pháp duy nhất nên áp dụng là chấp nhận như một khả thể những điều người ta nói với anh; rồi bắt tay vào tìm ra cách để tự mình chứng minh những điều ấy. |
|
“Now what have we proved so far? That is where I wish to begin. You have proved that it is possible to have experiences apart from your physical body. You have proved that death is not what you thought it was, for you have seen your brother Charles and you know that he is very much alive indeed, though invisible to you whilst you are functioning in your physical body; you have talked to him, and this should be sufficient proof that he exists in a region where you can follow him at stated times. You are aware that although Charles still knows very little of astral plane conditions, you could not honestly say he was suffering, nor that his life was a miserable one and something from which a man would naturally shrink. You therefore have taken one step towards getting rid of the fear of death, the fear which makes such a deep impression on so many men living in the world. Even from your present knowledge you know that death is not the tragedy it is so often called and that in some cases it might easily be considered not only a relief, but a great blessing. You have seen for yourself that existence after death is to a great extent governed by the type of life lived in the world—you can appreciate that those who are artistically inclined or interested in one or other of the specific branches of art such as music, painting, literature or philosophy, or even those whose special interest is travel, are well catered for after death. On the other hand you can also appreciate that those whose lives here are purely material, whose amusements and interests depend on the physical body, who primarily are drawn to sport, to good living, to forms of business which have as their goal the making of money, are going to find time hanging heavily on their hands after death, until they realise that they can develop new interests.” |
“Bây giờ cho đến nay chúng ta đã chứng minh được điều gì? Đó là điểm tôi muốn bắt đầu. Anh đã chứng minh rằng có thể có những kinh nghiệm tách biệt khỏi thể xác của mình. Anh đã chứng minh rằng cái chết không phải là điều anh từng nghĩ, vì anh đã gặp em trai anh là Charles và anh biết rằng nó quả thực vẫn sống rất rõ ràng, dù vô hình đối với anh khi anh đang hoạt động trong thể xác hồng trần; anh đã nói chuyện với nó, và như thế hẳn phải đủ để chứng minh rằng nó tồn tại trong một vùng mà anh có thể theo đến vào những thời điểm nhất định. Anh biết rằng mặc dù Charles vẫn còn biết rất ít về các điều kiện của cõi cảm dục, anh cũng không thể thành thật mà nói rằng nó đang đau khổ, hay rằng đời sống của nó là khốn khổ và là điều mà một người tự nhiên sẽ phải co rút lại trước đó. Vì vậy anh đã tiến một bước hướng tới việc loại bỏ nỗi sợ chết, nỗi sợ gây ấn tượng sâu đậm đến thế nơi rất nhiều người đang sống trên thế gian. Ngay từ hiểu biết hiện tại của mình, anh đã biết rằng cái chết không phải là bi kịch như người ta thường gọi, và trong một số trường hợp nó hoàn toàn có thể được xem không chỉ là một sự giải thoát mà còn là một phúc lành lớn lao. Anh đã tự mình thấy rằng sự tồn tại sau khi chết phần lớn được chi phối bởi loại đời sống đã sống trên thế gian—anh có thể hiểu rằng những ai có thiên hướng nghệ thuật hoặc quan tâm đến một hay một số ngành nghệ thuật chuyên biệt như âm nhạc, hội họa, văn chương hay triết học, hoặc ngay cả những ai đặc biệt thích du lịch, đều được đáp ứng rất tốt sau khi chết. Mặt khác, anh cũng có thể hiểu rằng những ai có đời sống ở đây hoàn toàn vật chất, những thú vui và mối quan tâm của họ lệ thuộc vào thể xác hồng trần, những người trước hết bị lôi cuốn vào thể thao, vào ăn ngon sống kỹ, vào những hình thức kinh doanh lấy việc kiếm tiền làm mục tiêu, sẽ thấy thời gian đè nặng lên tay mình sau khi chết, cho đến khi họ nhận ra rằng họ có thể phát triển những mối quan tâm mới.” |
|
I asked, “How can one develop new interests after death?” |
Tôi hỏi: “Làm sao người ta có thể phát triển những mối quan tâm mới sau khi chết?” |
|
“In the same way as you could have developed them during your lifetime, had you possessed sufficient leisure and the money to provide fees for the necessary tuition. At the astral level, although you have not yet seen them for yourself, schools exist, because of the great need of training permanent inhabitants of that world in those interests which they lack, for the life that is before them. These schools serve a dual purpose; they not only teach pupils all about conditions at the astral level and how best they can employ the conditions ruling there for their pleasure, and education, but also provide courses of instruction in all the various matters for which physical plane conditions are not essential for carrying them out. |
“Cũng theo cách mà anh có thể đã phát triển chúng trong suốt đời mình, nếu anh có đủ thời giờ nhàn rỗi và tiền bạc để trả học phí cho sự huấn luyện cần thiết. Ở cấp độ cảm dục, dù anh chưa tự mình thấy chúng, vẫn có các trường học tồn tại, vì nhu cầu rất lớn phải huấn luyện những cư dân thường trú của thế giới ấy trong những mối quan tâm mà họ còn thiếu, cho đời sống đang ở trước mặt họ. Những trường này phục vụ một mục đích kép; chúng không chỉ dạy học viên mọi điều về các điều kiện ở cấp độ cảm dục và cách tốt nhất để họ có thể sử dụng những điều kiện chi phối ở đó cho niềm vui và sự giáo dục của mình, mà còn cung cấp các khóa giảng dạy về mọi vấn đề khác nhau mà các điều kiện của cõi hồng trần không phải là thiết yếu để thực hiện. |
|
“Most of the true musicians, artists, philosophers and those who were teachers or professors in the physical world obtain great joy from passing on some of their knowledge and experience to those who are lacking in it but who are sufficiently interested to want to learn. The absence of the time factor—the absence of the necessity to sleep eight hours out of the twenty four—again helps considerably. If experts in their particular subjects give even as little as three or four hours a day to training new students, the time given is in no way a hardship, for they still have the remaining twenty hours out of each day for their own devices.In actual practice, it works out that many of these ex-teachers and specialists in their particular arts obtain so much pleasure from moulding new material into form, that they attach themselves quite voluntarily to these schools and often spend more than half their time at the astral level teaching others the rudiments of their arts, or in some cases helping those who have already developed some proficiency to become adepts under the concentrated tuition that is available in the astral world. |
“Phần lớn những nhạc sĩ, nghệ sĩ, triết gia chân chính và những người từng là giáo viên hay giáo sư trong thế giới hồng trần đều có niềm hoan hỉ lớn lao khi truyền lại một phần tri thức và kinh nghiệm của mình cho những ai còn thiếu nhưng đủ quan tâm để muốn học. Sự vắng mặt của yếu tố thời gian—sự vắng mặt của nhu cầu phải ngủ tám giờ trong số hai mươi bốn giờ—lại càng giúp ích đáng kể. Nếu các chuyên gia trong lĩnh vực riêng của mình chỉ dành ra ít đến ba hay bốn giờ mỗi ngày để huấn luyện các đạo sinh mới, thì thời gian ấy hoàn toàn không phải là một gánh nặng, vì họ vẫn còn hai mươi giờ còn lại của mỗi ngày cho những việc riêng của mình. Trong thực tế, kết quả là nhiều cựu giáo viên và chuyên gia trong các nghệ thuật riêng của họ nhận được quá nhiều niềm vui từ việc nắn tạo chất liệu mới thành hình tướng, đến nỗi họ hoàn toàn tự nguyện gắn bó với các trường này và thường dành hơn nửa thời gian của mình ở cấp độ cảm dục để dạy người khác những điều sơ đẳng trong nghệ thuật của họ, hoặc trong một số trường hợp giúp những ai đã phát triển được một mức thành thạo nào đó trở thành chân sư dưới sự huấn luyện tập trung hiện có trong thế giới cảm dục. |
|
“Not only do these schools play a tremendous part in the life of the astral world, but they undoubtedly influence the future lives of their pupils. If, at the astral level, a man has developed a love of any of the arts or sciences, in his next life at the physical level he is born with the desire to continue that study, and so we find children showing at an early age an enthusiastic aptitude for one thing or another, which perhaps is not in any way a characteristic of their parents. Such leanings towards an art should always be encouraged. Parents often argue that this enthusiasm should be discouraged, as they themselves have managed to lead successful lives without such dabbling. This is a great mistake, however, and if the parents perceived that the craving of the child is a perfectly natural one, that it is really only anxious to carry on with the training which was begun during its last astral carefree life, they would probably realise that such cravings should be encouraged and not squashed, as so often they are. Both in this world and the next we are all the time progressing and making our future lives happier and fuller. |
“Không những các trường này đóng một vai trò to lớn trong đời sống của thế giới cảm dục, mà chắc chắn chúng còn ảnh hưởng đến những kiếp sống tương lai của học viên. Nếu ở cấp độ cảm dục, một người đã phát triển tình yêu đối với bất kỳ nghệ thuật hay khoa học nào, thì trong kiếp sau ở cấp độ hồng trần, y sinh ra với khát vọng tiếp tục việc học ấy, và vì thế chúng ta thấy trẻ em từ rất sớm đã bộc lộ một năng khiếu đầy nhiệt tình đối với điều này hay điều kia, điều có lẽ hoàn toàn không phải là đặc tính của cha mẹ chúng. Những thiên hướng như thế đối với một nghệ thuật luôn luôn nên được khuyến khích. Cha mẹ thường lập luận rằng sự nhiệt tình này nên bị ngăn lại, vì chính họ đã xoay xở để sống thành công mà không cần những sự đụng chạm như thế. Tuy nhiên, đó là một sai lầm lớn, và nếu cha mẹ nhận ra rằng sự thôi thúc của đứa trẻ là hoàn toàn tự nhiên, rằng thực ra nó chỉ mong tiếp tục sự huấn luyện đã bắt đầu trong đời sống cảm dục vô ưu cuối cùng của nó, thì có lẽ họ sẽ hiểu rằng những thôi thúc như thế nên được khuyến khích chứ không nên bị dập tắt như quá thường xảy ra. Cả trong thế giới này lẫn thế giới kế tiếp, chúng ta luôn luôn tiến bộ và làm cho những kiếp sống tương lai của mình hạnh phúc hơn và viên mãn hơn. |
|
“The permanent inhabitants find out these schools in different ways and always at a stage when they are of most use. When they first realise that they are living in the astral world, it is quite useless to mention such things to them, for they will at once assure you that they have no desire to go to school again. They want to enjoy themselves. For the first few months the opportunity of travelling round the world and seeing all the countries they had not had the chance of visiting whilst they were in this world usually satisfies them. |
“Những cư dân thường trú tìm ra các trường này bằng nhiều cách khác nhau và luôn luôn ở vào giai đoạn mà chúng hữu ích nhất cho họ. Khi họ lần đầu nhận ra rằng mình đang sống trong thế giới cảm dục, thì việc nhắc đến những điều như thế với họ là hoàn toàn vô ích, vì họ sẽ lập tức quả quyết với anh rằng họ không hề muốn đi học lại. Họ muốn vui chơi. Trong vài tháng đầu, cơ hội đi vòng quanh thế giới và nhìn thấy tất cả những xứ sở mà họ chưa có dịp thăm viếng khi còn ở thế giới này thường làm họ thỏa mãn. |
|
“You will remember that Roy Chapman, your brother’s friend, admitted that at times he felt bored. He had done all these things; he had made a few friends of course and enjoyed taking them out to dinners and shows, to picnics and the like, but that palls after a time. Roy was a keen golfer in his lifetime, but golf is not the interesting game in the astral world that it is here. Such a man as Roy will certainly tire of all the things that he has been doing for the last six months or so, and when he does, he will not hesitate to express his boredom to others whom he meets in that world. Then one day someone to whom he has been introduced will mention to him the opportunity that exists there for increasing one’s knowledge or developing along a particular line of art or study. He will not be enthusiastic at first, but he soon will realise that learning something entirely new will fill in the long hours; eventually his interest will be aroused, and yet another will have passed from the stage of materialist to the life that makes our sojourn at the astral level all too short. |
“Anh hẳn còn nhớ Roy Chapman, bạn của em trai anh, đã thừa nhận rằng đôi khi anh ta cảm thấy chán. Anh ta đã làm tất cả những điều ấy; dĩ nhiên anh ta đã kết được vài người bạn và thích đưa họ đi ăn tối, đi xem biểu diễn, đi dã ngoại và những việc tương tự, nhưng sau một thời gian thì những điều đó cũng trở nên nhạt nhẽo. Roy từng là một người mê chơi gôn khi còn sống, nhưng gôn không phải là trò chơi thú vị trong thế giới cảm dục như ở đây. Một người như Roy chắc chắn sẽ chán tất cả những điều anh ta đã làm trong khoảng sáu tháng vừa qua, và khi điều đó xảy ra, anh ta sẽ không ngần ngại bày tỏ sự chán chường của mình với những người khác mà anh ta gặp trong thế giới ấy. Rồi một ngày kia, một người nào đó mà anh ta được giới thiệu sẽ nhắc với anh ta về cơ hội hiện có ở đó để gia tăng tri thức của mình hoặc phát triển theo một đường hướng nghệ thuật hay học tập nào đó. Lúc đầu anh ta sẽ không nhiệt tình, nhưng chẳng bao lâu anh ta sẽ nhận ra rằng học một điều gì hoàn toàn mới sẽ lấp đầy những giờ dài; cuối cùng mối quan tâm của anh ta sẽ được khơi dậy, và lại thêm một người nữa đã chuyển từ giai đoạn duy vật sang đời sống khiến thời gian lưu trú của chúng ta ở cấp độ cảm dục trở nên quá ngắn ngủi. |
|
“There are others to whom these new interests have no appeal. They are usually the old married couples, who have developed a taste for domestic life. All they have ever aspired to was to have a home, a garden and to live a quiet life amongst their friends. They liked to listen to the radio, have a television set and such things. Their happiness is dependent upon being together. They can carry on this type of life at the astral level, without any difficulty whatever. If the man dies first, he wanders round looking miserable and lonely at the hours when his wife is awake, and is there to meet her as soon as she gets out of her body at the time when she falls asleep. To suggest to such a man that there are schools where he can learn something is usually a waste of time; he scorns the idea, all he wants is a comfortable home with his partner. He sets to to find out the ways and means of living in such a way as he and his wife will enjoy when reunited. He learns that it is simplicity itself to have a house and garden exactly in accordance with his own pet ideas, merely by expressing a desire for such in thought. He finds the most beautiful spot available, and when his wife comes over they build their dream house and furnish it exactly as they would have loved to do in the world had they had the necessary means to do so. Now a thought produces just the things they desire, and frequently they think of wonderful labour saving appliances. Sometimes these are seen by business men who make notes of them and in their next life they invent similar things. This old couple has an ultra-modern stereo set and they create in thought the required number of servants to do their bidding. They create a garden with any form of flower or fruit in it that they would like—for here there is no limitation of climate. They entertain their friends, they enjoy showing off their inventions and live very happily in the astral plane. Frequently they link up with pets they have had on earth, or adopt others. |
“Có những người khác mà những mối quan tâm mới này không hấp dẫn được họ. Đó thường là những cặp vợ chồng già đã phát triển sở thích đối với đời sống gia đình. Tất cả những gì họ từng khát vọng chỉ là có một mái nhà, một khu vườn và sống một đời yên tĩnh giữa bạn bè. Họ thích nghe radio, có một máy truyền hình và những thứ tương tự. Hạnh phúc của họ tùy thuộc vào việc được ở bên nhau. Họ có thể tiếp tục kiểu sống này ở cấp độ cảm dục mà không gặp bất kỳ khó khăn nào. Nếu người chồng chết trước, ông ta đi lang thang với vẻ buồn bã và cô đơn vào những giờ người vợ còn thức, và có mặt để đón bà ngay khi bà ra khỏi thể xác vào lúc bà chìm vào giấc ngủ. Gợi ý với một người như thế rằng có những trường học nơi ông ta có thể học điều gì đó thường là phí công; ông ta khinh thường ý tưởng ấy, tất cả những gì ông ta muốn là một mái nhà tiện nghi với người bạn đời của mình. Ông ta bắt tay tìm hiểu những cách thức và phương tiện để sống theo cách mà ông ta và vợ mình sẽ thích khi đoàn tụ. Ông ta học được rằng việc có một ngôi nhà và khu vườn hoàn toàn đúng với những ý tưởng riêng yêu thích của mình là điều đơn giản vô cùng, chỉ bằng cách biểu lộ mong muốn ấy trong tư tưởng. Ông ta tìm ra nơi đẹp nhất có thể có, và khi vợ ông sang đến, họ xây ngôi nhà mơ ước của mình và trang bị nó đúng như cách họ từng mong muốn làm ở thế gian nếu họ có đủ phương tiện. Giờ đây một ý nghĩ tạo ra chính những thứ họ mong muốn, và thường họ nghĩ ra những thiết bị tiết kiệm lao động tuyệt vời. Đôi khi những thứ này được các doanh nhân nhìn thấy, họ ghi chép lại, và trong kiếp sau họ phát minh ra những thứ tương tự. Cặp vợ chồng già này có một bộ âm thanh nổi cực kỳ hiện đại và họ tạo ra trong tư tưởng số lượng người hầu cần thiết để làm theo ý mình. Họ tạo ra một khu vườn với bất kỳ loại hoa hay trái nào họ thích—vì ở đây không có giới hạn khí hậu. Họ tiếp đãi bạn bè, thích khoe những phát minh của mình và sống rất hạnh phúc trong cõi cảm dục. Họ cũng thường nối lại liên hệ với những con vật cưng từng có trên Trái Đất, hoặc nhận nuôi những con khác. |
|
“The blissful state of the elderly couple just described is not as general as might be supposed. Men and women marry for various reasons; sometimes it is physical attraction which draws them together, sometimes wealth; even loneliness plays its part in the linking up of individuals. It is very seldom that we see what we would describe as an ideal pair—two people whose outlook on life dovetails, whose standing in evolution is similar, each having sufficient intelligence to be able to enter into the problems of the other. Such unions are rare and, occultly, are not to be greatly desired as it is a good thing for an evolved man to be attracted in some particular way to a less evolved partner. |
“Trạng thái chí phúc của cặp vợ chồng già vừa được mô tả không phổ biến như người ta có thể tưởng. Những người nam và nữ kết hôn vì nhiều lý do khác nhau; đôi khi là sự hấp dẫn thể xác kéo họ đến với nhau, đôi khi là của cải; ngay cả sự cô đơn cũng đóng vai trò trong việc liên kết các cá nhân. Rất hiếm khi chúng ta thấy điều mà mình có thể mô tả là một cặp lý tưởng—hai người có cái nhìn về cuộc sống ăn khớp với nhau, có vị trí trong tiến hoá tương tự nhau, mỗi người đều có đủ trí tuệ để có thể đi vào những vấn đề của người kia. Những sự kết hợp như thế rất hiếm và, xét theo huyền bí học, cũng không phải là điều quá đáng mong muốn, vì việc một người tiến hoá hơn bị thu hút theo một cách đặc biệt nào đó đối với một người bạn đời kém tiến hoá hơn là điều tốt. |
|
“When one hears such a remark as: ‘What a pity John married Mary, so unsuited, don’t you think?’ one must realise that if the speaker had more experience he would know that both these young people are destined to benefit considerably from the few years they spend together. The immediate outcome of such an apparently unsuitable union is invariably a series of difficulties for both parties; there is always a clash of interests. Possibly the man was originally drawn to the woman through her physical attractions. After a time that ‘draw’ becomes less (though it is unlikely that it would cease to function altogether); then the two people are thrown back on companionship as the only bond to hold them together; but companionship is not easy when the tastes and desires of two individuals are dissimilar. In the case where the man is the more evolved of the two, his interests lie in books, in music, in the serious side of life, whereas the woman wants to go to any place of amusement where her friends of the moment are going. A clash of ideas results and there are many arguments and disagreements. If there are no children sometimes the marriage breaks up, solely on account of the incompatibility of temperaments; but it is a great pity when this happens because it is through the inequality of the two people concerned that much knowledge and experience can be gained. The man has to learn a method of meeting his partner half way. When he ponders over ways and means of doing this, he realises that he must start by raising his wife’s interests towards his educational level—at the same time making sure that she does not realise what he is endeavouring to do, or she will immediately develop an inferiority complex. He must learn to be patient when, through her inexperience, she presses for things he knows to be unwise or unnecessary. Knowing that to do so is wrong, sometimes he must give way in order that she may see the results of the mistake which has been made. The woman will not always wish to be led, even when subconsciously she realises that her partner in life is wiser than she. If two such people can spend a lifetime together, the benefits to both are great indeed, for one will have had the advantage of a superior intelligence and a greater experience to guide her and develop her character, whereas the other has had to learn the value of patience, of tact, of the necessity to see things from another’s point of view—a view which through lack of experience must be more limited than his own. |
“Khi người ta nghe một nhận xét như: ‘Thật tiếc là John lại cưới Mary, không hợp chút nào, anh không nghĩ thế sao?’ thì phải hiểu rằng nếu người nói có nhiều kinh nghiệm hơn, y sẽ biết rằng cả hai người trẻ này đều được định sẵn sẽ hưởng lợi đáng kể từ vài năm họ sống cùng nhau. Kết quả tức thời của một sự kết hợp có vẻ không thích hợp như thế luôn luôn là một chuỗi khó khăn cho cả hai bên; lúc nào cũng có sự xung đột về mối quan tâm. Có thể ban đầu người đàn ông bị thu hút bởi người phụ nữ qua sức hấp dẫn thể xác của bà. Sau một thời gian, sức “hút” ấy giảm bớt đi (dù khó có thể hoàn toàn chấm dứt hoạt động); rồi hai người bị đẩy trở lại với tình bạn đồng hành như mối dây duy nhất giữ họ lại với nhau; nhưng tình bạn đồng hành không dễ dàng khi thị hiếu và ham muốn của hai cá nhân khác nhau. Trong trường hợp người đàn ông là người tiến hoá hơn trong hai người, các mối quan tâm của ông nằm ở sách vở, âm nhạc, ở mặt nghiêm túc của cuộc sống, trong khi người phụ nữ lại muốn đi đến bất kỳ nơi giải trí nào mà bạn bè nhất thời của bà đang đến. Kết quả là xung đột ý tưởng và có nhiều tranh cãi, bất đồng. Nếu không có con cái, đôi khi cuộc hôn nhân tan vỡ chỉ vì tính khí không tương hợp; nhưng đó là điều rất đáng tiếc khi xảy ra, vì chính qua sự không ngang bằng của hai người liên hệ mà nhiều tri thức và kinh nghiệm có thể được thu nhận. Người đàn ông phải học một phương pháp gặp người bạn đời của mình ở điểm giữa. Khi ông suy nghĩ về cách thức để làm điều này, ông nhận ra rằng mình phải bắt đầu bằng cách nâng các mối quan tâm của vợ lên gần trình độ giáo dục của mình—đồng thời phải chắc chắn rằng bà không nhận ra điều ông đang cố làm, nếu không bà sẽ lập tức phát triển mặc cảm tự ti. Ông phải học kiên nhẫn khi, do thiếu kinh nghiệm, bà thúc ép những điều mà ông biết là không khôn ngoan hoặc không cần thiết. Biết rằng làm như thế là sai, đôi khi ông vẫn phải nhượng bộ để bà có thể thấy kết quả của sai lầm đã được tạo ra. Người phụ nữ không phải lúc nào cũng muốn được dẫn dắt, ngay cả khi trong tiềm thức bà nhận ra rằng người bạn đời của mình khôn ngoan hơn mình. Nếu hai người như thế có thể sống cùng nhau suốt một đời, lợi ích cho cả hai quả thực rất lớn, vì một người sẽ có được lợi thế của trí tuệ cao hơn và kinh nghiệm lớn hơn để hướng dẫn mình và phát triển tính cách của mình, trong khi người kia đã phải học giá trị của sự kiên nhẫn, của sự khéo léo, của nhu cầu phải nhìn sự việc từ quan điểm của người khác—một quan điểm mà do thiếu kinh nghiệm, tất nhiên phải hạn hẹp hơn quan điểm của chính ông. |
|
“After death such people do not necessarily carry on their lives together; the man probably feels that he wishes to spend his time with greater minds than his own, whereas the woman, who for many earthly years has been forced to live at high pressure endeavouring to produce a standard which was always something of an effort for her, now wishes to sit back and take things easy for a time. Usually, after a short period of relative inactivity, she finds that the seeds sown during her lifetime have now brought forth a strong desire to continue the development already begun. She finds that she no longer derives complete satisfaction from the artificial enjoyments she once longed for and bullied her unresponsive husband to provide for her. Her mental appetite has been whetted and she finds it is impossible for her to go back to the standards which were natural to her at the time of her marriage on the physical plane. She will tell you that she did not have a particularly happy life but, now that it is over, she will be glad that Fate decreed that the experience should have been hers. |
“Sau khi chết, những người như thế không nhất thiết tiếp tục sống cùng nhau; người đàn ông có lẽ cảm thấy rằng ông muốn dành thời gian của mình với những trí tuệ lớn hơn trí tuệ của chính mình, trong khi người phụ nữ, người trong nhiều năm ở trần thế đã bị buộc phải sống trong áp lực cao để cố tạo ra một tiêu chuẩn vốn luôn là điều gì đó khá gắng gượng đối với bà, giờ đây lại muốn ngồi lại và thư thả một thời gian. Thông thường, sau một giai đoạn ngắn tương đối bất động, bà nhận ra rằng những hạt giống đã gieo trong suốt đời mình nay đã sinh ra một khát vọng mạnh mẽ muốn tiếp tục sự phát triển đã bắt đầu. Bà thấy rằng mình không còn rút ra được sự thỏa mãn trọn vẹn từ những thú vui nhân tạo mà trước kia bà từng khao khát và ép buộc người chồng ít đáp ứng của mình phải cung cấp cho bà. Khẩu vị trí tuệ của bà đã được khơi dậy và bà thấy rằng mình không thể quay trở lại những tiêu chuẩn vốn là tự nhiên đối với mình vào thời điểm kết hôn trên cõi hồng trần. Bà sẽ nói với anh rằng bà đã không có một đời sống đặc biệt hạnh phúc nhưng, giờ khi nó đã qua, bà sẽ vui vì Số Mệnh đã định rằng kinh nghiệm ấy thuộc về bà. |
|
“It often happens that two people who have lived together for a whole lifetime do not contact each other again, either after death or in future lives. Each has served the other, both have benefited by being brought together for a period of time, but their outlook on life is too different for either to be naturally attracted to the other. In such an instance it is possible that the man had lived at least fifty to a hundred lives more than the woman; naturally his understanding of the vast “plan” would be greater than hers, his reservoir of knowledge (that accumulation of experience from past lives) would be greater than hers and in every way he could be regarded as a superior being. But do not forget that a hundred lives previous to this one he was in the same place as his wife of the moment, and he probably benefitted from having been forced to spend a lifetime with someone much more highly developed than himself. |
“Thường xảy ra việc hai người đã sống với nhau suốt cả một đời lại không tiếp xúc với nhau nữa, hoặc sau khi chết hoặc trong những kiếp tương lai. Mỗi người đã phụng sự người kia, cả hai đều đã hưởng lợi khi được đưa đến với nhau trong một khoảng thời gian, nhưng cái nhìn của họ về cuộc sống quá khác biệt để một trong hai tự nhiên bị thu hút về phía người kia. Trong một trường hợp như thế, có thể người đàn ông đã sống nhiều hơn người phụ nữ ít nhất từ năm mươi đến một trăm kiếp; dĩ nhiên sự thấu hiểu của ông về “Thiên Cơ” bao la sẽ lớn hơn của bà, kho tri thức của ông (sự tích lũy kinh nghiệm từ các kiếp quá khứ) sẽ lớn hơn của bà, và về mọi phương diện ông có thể được xem là một hữu thể cao hơn. Nhưng đừng quên rằng một trăm kiếp trước kiếp này, ông cũng ở đúng vị trí như người vợ hiện thời của mình, và có lẽ ông đã hưởng lợi từ việc bị buộc phải sống trọn một đời với một người phát triển cao hơn mình rất nhiều. |
|
“You have probably heard it said that every person has what is known as a soul mate and that you should always be on the lookout for such a person. It is quite true that soul mates exist, for originally when the life force is sent out by Divine Power, the force emerges into life as twin forms, one male, one female. Both these forms evolve quite separately, each having its quota of lives in male and female bodies, but on special occasions, when a great work has to be done, these two entities are sometimes brought together, because the inspiration of the one enables the other to carry out the gigantic task which has to be accomplished. A great man who has achieved his goal has often said that he could never have done it without the help, the advice and the strengthening power of his wife. This need not mean that they were soul mates, but it may mean just that, and when this is so the two people seem to act as one great unit; they not only think the same thoughts but they feel instinctively what is right for both of them. It is of course the perfect blending of the positive and negative, of the male and female in nature. It would not be a good thing for us always to have lives with our soul mates, for under such circumstances we should tend to grow very selfish; we would never learn to see things from the others’ points of view; to deal with opposite ideas; to give way in order to achieve something rather than to stand firm and produce nothing. |
“Có lẽ anh đã từng nghe nói rằng mỗi người đều có cái gọi là một bạn đồng hành linh hồn, và rằng anh luôn luôn nên tìm kiếm một người như thế. Hoàn toàn đúng là những bạn đồng hành linh hồn có tồn tại, vì nguyên thủy khi mãnh lực sự sống được Quyền Năng thiêng liêng phóng ra, mãnh lực ấy xuất hiện vào sự sống như hai hình tướng song sinh, một nam, một nữ. Cả hai hình tướng này tiến hoá hoàn toàn riêng biệt, mỗi hình tướng có phần kiếp sống của mình trong các thể nam và nữ, nhưng vào những dịp đặc biệt, khi một công việc lớn lao phải được thực hiện, hai thực thể này đôi khi được đưa lại với nhau, vì cảm hứng của người này giúp người kia thực hiện nhiệm vụ khổng lồ cần phải hoàn thành. Một vĩ nhân đã đạt được mục tiêu của mình thường nói rằng ông không bao giờ có thể làm được điều đó nếu không có sự giúp đỡ, lời khuyên và sức mạnh nâng đỡ của vợ mình. Điều này không nhất thiết có nghĩa rằng họ là bạn đồng hành linh hồn, nhưng cũng có thể đúng là như vậy, và khi điều này xảy ra thì hai người dường như hoạt động như một đơn vị lớn lao duy nhất; họ không chỉ nghĩ cùng những tư tưởng mà còn bản năng cảm nhận điều gì là đúng cho cả hai. Dĩ nhiên đó là sự hòa trộn hoàn hảo của dương và âm, của nam và nữ trong bản chất. Sẽ không phải là điều tốt nếu chúng ta luôn luôn có những kiếp sống với bạn đồng hành linh hồn của mình, vì trong những hoàn cảnh như thế chúng ta sẽ có khuynh hướng trở nên rất ích kỷ; chúng ta sẽ không bao giờ học được cách nhìn sự việc từ quan điểm của người khác; cách đề cập đến những ý tưởng đối nghịch; cách nhường bước để đạt được điều gì đó thay vì đứng vững và không tạo ra gì cả. |
|
“These illustrations give you some small idea of the way in which egos are assisted along their evolutionary journey. It is through difficulties such as having to live with individuals who do not synchronise in every way that we learn true tolerance. A pleasant and peaceful life is not necessarily the best life. We progress most quickly along the evolutionary path through suffering and what often seem hard and ruthless methods. Each life is a day in the school of evolution and, if we are to carry out the purpose of which we were sent into incarnation, we cannot afford to waste any opportunities. |
“Những minh họa này cho anh một ý niệm nhỏ về cách các chân ngã được trợ giúp trên hành trình tiến hoá của mình. Chính qua những khó khăn như phải sống với những cá nhân không đồng bộ với mình về mọi mặt mà chúng ta học được lòng khoan dung chân chính. Một đời sống dễ chịu và yên bình không nhất thiết là đời sống tốt nhất. Chúng ta tiến bộ nhanh nhất trên con đường tiến hoá qua đau khổ và qua những phương pháp thường có vẻ khắc nghiệt và tàn nhẫn. Mỗi kiếp sống là một ngày trong trường học của tiến hoá, và nếu chúng ta muốn thực hiện mục đích vì đó mà mình được gửi vào lâm phàm, chúng ta không thể để lãng phí bất kỳ cơ hội nào. |
|
“Tomorrow I shall tell you a few facts about the non-human inhabitants of the astral plane, after which I shall take you for another astral journey so that you may see for yourself that astral human beings conform to what may be described as the normal reactions covering the individual concerned in the physical plane.” |
“Ngày mai tôi sẽ kể cho anh vài sự kiện về những cư dân phi nhân loại của cõi cảm dục, sau đó tôi sẽ đưa anh đi một chuyến du hành cảm dục khác để anh có thể tự mình thấy rằng những con người cảm dục tuân theo điều có thể được mô tả là những phản ứng bình thường bao trùm cá nhân liên hệ trên cõi hồng trần.” |
Chapter 6
|
The prospect of being taken on another astral journey by my Indian teacher has made me quite excited, and thinking about what may happen has taken away some of the disappointment I feel in not yet having achieved any results when alone. Last night I concentrated on seeing myself lying on my bed, as I certainly did the night I was helped. When I woke this morning I felt well rested, I remembered it had taken me a long time to go to sleep, but of what had happened to me after I lost consciousness, I could recall absolutely nothing. I must find out how this business of bringing things through can be accomplished. I know it is no use worrying about not being able to learn the tricks of the trade at once, for worrying more often hinders than helps. I suppose the only thing I can do is to persevere with this concentration which I am told is so important a part of the proceedings, until I make some small beginning from which to work. |
Viễn cảnh được vị thầy Ấn Độ của tôi đưa đi một chuyến du hành cảm dục khác đã làm tôi khá phấn khích, và việc nghĩ đến những gì có thể xảy ra đã xua đi phần nào nỗi thất vọng tôi cảm thấy vì vẫn chưa đạt được kết quả nào khi ở một mình. Tối qua tôi đã tập trung nhìn thấy mình đang nằm trên giường, đúng như tôi chắc chắn đã làm vào đêm tôi được giúp đỡ. Khi thức dậy sáng nay tôi cảm thấy được nghỉ ngơi đầy đủ, tôi nhớ rằng mình đã mất khá lâu mới ngủ được, nhưng về những gì đã xảy ra với tôi sau khi mất tâm thức thì tôi hoàn toàn không thể nhớ lại gì cả. Tôi phải tìm ra làm thế nào việc mang các sự việc qua này có thể được thực hiện. Tôi biết rằng lo lắng vì chưa thể học được ngay những mánh khóe của nghề là vô ích, vì lo lắng thường cản trở hơn là giúp ích. Tôi cho rằng điều duy nhất tôi có thể làm là kiên trì với sự tập trung mà tôi được bảo là một phần quan trọng đến thế của toàn bộ tiến trình này, cho đến khi tôi tạo được một khởi đầu nhỏ nào đó để từ đó mà tiếp tục. |
|
“It is useless feeling disappointed.” My Indian friend was standing behind me where I was writing; I had not heard him open the door. “That is what happens in so many instances. People are shown a glimpse of the truth and because they cannot at once do the things that they know are possible for others, they get discouraged and give up trying. Often people say: ‘Obviously this occult life is not for me,’ whereas all that is necessary to achieve results is a little patience and the determination to break through the wall which separates our worldly existence from the life we lead when asleep. Do not expect too much, my friend. Remember it is less than two weeks since you sat here bowed in grief, not even knowing for certain that death was the logical sequence of life. Now at least you know something, and soon you will be given the opportunity of knowing more. |
“Cảm thấy thất vọng là vô ích.” Người bạn Ấn Độ của tôi đang đứng phía sau tôi, nơi tôi đang viết; tôi đã không nghe thấy ông mở cửa. “Đó là điều xảy ra trong rất nhiều trường hợp. Người ta được cho thấy một thoáng chân lý và vì họ không thể ngay lập tức làm được những điều mà họ biết là người khác có thể làm, họ nản lòng và từ bỏ cố gắng. Người ta thường nói: ‘Rõ ràng đời sống huyền bí này không dành cho tôi,’ trong khi tất cả những gì cần thiết để đạt kết quả chỉ là một chút kiên nhẫn và quyết tâm xuyên thủng bức tường ngăn cách sự tồn tại thế tục của chúng ta với đời sống mà chúng ta sống khi ngủ. Đừng mong đợi quá nhiều, bạn tôi. Hãy nhớ rằng chưa đầy hai tuần trước anh còn ngồi đây cúi mình trong đau buồn, thậm chí không biết chắc rằng cái chết là hệ quả hợp lý của sự sống. Giờ đây ít nhất anh đã biết được đôi điều, và chẳng bao lâu nữa anh sẽ được trao cơ hội để biết nhiều hơn. |
|
“You are thinking: ‘Why do not more people know these things?’ Perhaps they have not asked for knowledge, for help, as you asked; perhaps they are quite satisfied with one of the many orthodox religions, which tell them to have faith and to believe that everything sent is the will of God. All happenings are certainly the will of God, but it is easier if we realise why such things are. It is easier if there is a logical answer to every question, also if it is made possible for each individual who takes the trouble to prove things for himself, thereby making the acceptance of statements made on a basis of faith unnecessary. Faith is always good, but knowledge is better. You must have faith whilst acquiring knowledge and whatever happens, you must never lose heart. Evolution is a slow process and can seldom be hurried, though the activities of an individual can be inspired by encouragement and by help given at the right moment. |
“Anh đang nghĩ: ‘Tại sao không có nhiều người hơn biết những điều này?’ Có lẽ họ đã không cầu xin tri thức, sự giúp đỡ, như anh đã cầu xin; có lẽ họ hoàn toàn thỏa mãn với một trong nhiều tôn giáo chính thống, những tôn giáo bảo họ phải có đức tin và tin rằng mọi điều được gửi đến đều là Ý Chí của Thượng Đế. Mọi biến cố chắc chắn đều là Ý Chí của Thượng Đế, nhưng sẽ dễ dàng hơn nếu chúng ta nhận ra vì sao những điều ấy là như vậy. Sẽ dễ dàng hơn nếu có một câu trả lời hợp lý cho mọi câu hỏi, và cũng nếu mỗi cá nhân chịu khó tự mình chứng minh các sự việc được tạo điều kiện để làm như thế, nhờ đó việc chấp nhận các phát biểu chỉ trên cơ sở đức tin trở nên không cần thiết. Đức tin luôn luôn tốt, nhưng tri thức thì tốt hơn. Anh phải có đức tin trong khi đang thu nhận tri thức và, dù điều gì xảy ra, anh cũng không bao giờ được nản chí. Tiến hoá là một tiến trình chậm chạp và hiếm khi có thể thúc ép, dù các hoạt động của một cá nhân có thể được truyền cảm hứng bằng sự khích lệ và bằng sự giúp đỡ được trao đúng lúc. |
|
“So far you have seen only a tiny sector of the astral world, the sector usually occupied by those who have recently passed from this world through the portal known as death. Once you have established yourself as an inhabitant of the astral world, you seldom visit such places, but you can go if you wish. You do from time to time, for example when you meet special friends and relations who die and so require some help from the regular inhabitants, in exactly the same way that you require help from friends living in a foreign country which you are visiting as a tourist or as a new settler. |
“Cho đến nay anh mới chỉ thấy một khu vực rất nhỏ của thế giới cảm dục, khu vực thường do những người vừa mới rời khỏi thế giới này qua cánh cổng gọi là cái chết cư ngụ. Một khi anh đã thiết lập mình như một cư dân của thế giới cảm dục, anh hiếm khi đến thăm những nơi như thế, nhưng anh có thể đi nếu muốn. Thỉnh thoảng anh vẫn đi, chẳng hạn khi anh gặp những bạn bè hay thân nhân đặc biệt chết đi và vì thế cần một số trợ giúp từ những cư dân thường trú, đúng như cách anh cần sự giúp đỡ từ những người bạn sống ở một xứ sở xa lạ mà anh đang thăm với tư cách du khách hay người định cư mới. |
|
“The astral world is divided into what are known as spheres, levels or sub-planes. It is necessary to know that such spheres exist or you will never be able to understand how the machinery of this world operates. Most teachers illustrate their point by asking their students to understand the densest sphere of the astral world as being the conditions which exist whilst standing on the ground. In this sphere there is a counterpart of everything that exists in the physical world; where there is a town or a building in the physical world, there also, in the astral matter, is the counterpart or reflection of that town or building, which you can see quite clearly when you function at the astral level in your astral body. Imagine the astral counterpart of Piccadilly Circus, London, which you visited a few nights ago, as representing the noisy lowest sphere. Then imagine a similar world, say one mile above the lowest world, to which one can transport oneself in a second’s time by an effort of will; this corresponds to the second sphere of the astral world, less dense than the first sphere, but still rather materialistic and akin to physical plane conditions. If you were existing one mile above London, you might still hear something of the roar of London’s traffic and noise that is always part of the life of a great city, but that would be only a murmur compared with the noise you hear standing on the ground floor, as it were. Now imagine a third sphere of consciousness yet another mile above the second sphere and you can visualise the probability that when you are living in the third sphere of the astral world you would be so far removed from the noise and bustle of London town, that you would not only be unaffected by its existence, but would be more or less unconscious of it. |
“Thế giới cảm dục được chia thành những gì được gọi là các khối cầu, các cấp độ hay các cõi phụ. Cần phải biết rằng những khối cầu như thế tồn tại, nếu không anh sẽ không bao giờ có thể hiểu được bộ máy của thế giới này vận hành như thế nào. Hầu hết các huấn sư minh họa quan điểm của mình bằng cách yêu cầu các đạo sinh hiểu khối cầu đậm đặc nhất của thế giới cảm dục như là những điều kiện tồn tại khi đứng trên mặt đất. Trong khối cầu này có một đối phần của mọi thứ tồn tại trong thế giới hồng trần; nơi nào có một thị trấn hay một tòa nhà trong thế giới hồng trần, thì ở đó, trong vật chất cảm dục, cũng có đối phần hay phản ảnh của thị trấn hay tòa nhà ấy, mà anh có thể thấy khá rõ khi anh hoạt động ở cấp độ cảm dục trong thể cảm dục của mình. Hãy hình dung đối phần cảm dục của Piccadilly Circus, Luân Đôn, nơi anh đã đến thăm vài đêm trước, như tượng trưng cho khối cầu thấp nhất đầy ồn ào. Rồi hãy hình dung một thế giới tương tự, chẳng hạn ở phía trên thế giới thấp nhất một dặm, nơi người ta có thể chuyển mình đến đó trong một giây bằng một nỗ lực ý chí; điều này tương ứng với khối cầu thứ hai của thế giới cảm dục, ít đậm đặc hơn khối cầu thứ nhất, nhưng vẫn còn khá duy vật và gần với các điều kiện của cõi hồng trần. Nếu anh tồn tại ở độ cao một dặm phía trên Luân Đôn, anh có thể vẫn còn nghe được phần nào tiếng gầm của giao thông Luân Đôn và tiếng ồn luôn là một phần của đời sống một thành phố lớn, nhưng đó chỉ là tiếng rì rầm so với tiếng ồn anh nghe khi đứng ở tầng trệt, có thể nói như vậy. Bây giờ hãy hình dung một khối cầu tâm thức thứ ba ở cao hơn khối cầu thứ hai thêm một dặm nữa, và anh có thể hình dung khả năng rằng khi anh sống trong khối cầu thứ ba của thế giới cảm dục, anh sẽ ở xa tiếng ồn và sự náo động của thành phố Luân Đôn đến mức không những không bị ảnh hưởng bởi sự tồn tại của nó mà còn ít nhiều không ý thức về nó. |
|
“There are seven spheres of consciousness in the astral world, each less material than the one ‘below’ it, and permanent inhabitants can spend their astral lives on any of these spheres, according to their natural desires. For example, a man may spend a few weeks on the first sphere then the next two years on the second sphere, later passing to the third or fourth, as his habits and desires become less material and more artistic, intellectual or spiritual. Thus there is never any possibility of overcrowding in this world. |
“Có bảy khối cầu tâm thức trong thế giới cảm dục, mỗi khối cầu ít vật chất hơn khối cầu ‘bên dưới’ nó, và những cư dân thường trú có thể sống đời sống cảm dục của mình trên bất kỳ khối cầu nào trong số này, tùy theo những ham muốn tự nhiên của họ. Chẳng hạn, một người có thể sống vài tuần trên khối cầu thứ nhất rồi hai năm tiếp theo trên khối cầu thứ hai, sau đó chuyển sang khối cầu thứ ba hay thứ tư, khi các thói quen và ham muốn của y trở nên bớt vật chất hơn và mang tính nghệ thuật, trí tuệ hay tinh thần hơn. Vì vậy trong thế giới này không bao giờ có khả năng quá đông đúc. |
|
“In this physical world a man’s choice of where he will live is limited. On account of his work, through which he earns the money necessary for existing here, he may be forced to live in places which he could not otherwise choose. Many parts are uninhabitable owing to climate or other difficulties. A man cannot exist comfortably at either the North or the South Pole owing to extreme cold and other limitations such as lack of sunshine and daylight at certain times of the year; he cannot live in many of the existing deserts, owing to lack of water; he cannot live in the dense jungles, for there are wild beasts which must first be exterminated before it is safe to build a house to live in. In the astral world he does not encounter these limitations. The climate is the same at the North or South Poles as anywhere else on the astral plane, there is nowhere any limitation of daylight as the light is everywhere the same for twenty four hours of every day; in the desert he does not need water for his existence; if he wishes to live in the astral counterpart of the jungles he can—there are no wild beasts to attack him, for just as a man learns he cannot harm an animal in the astral world so the animals learn that they cannot harm man. In addition, there are seven spheres of consciousness to choose from, so it is always possible to obtain the conditions required to make practicable the type of life desired, amidst surroundings which are in accordance with a man’s emotional, mental and spiritual development. Once you get a grasp of these different types of existence which make up the life which follows this one here it will be easy for you to see how all parts of the jigsaw puzzle fall perfectly into their places, and the Evolutionary Path becomes a logical sequence of events controlled by natural laws, sound in theory as well as in practice. |
“Trong thế giới hồng trần này, sự lựa chọn nơi mình sẽ sống của một người bị giới hạn. Vì công việc, nhờ đó y kiếm được số tiền cần thiết để tồn tại ở đây, y có thể bị buộc phải sống ở những nơi mà nếu không thì y đã không chọn. Nhiều vùng không thể cư trú được do khí hậu hay những khó khăn khác. Một người không thể sống thoải mái ở Bắc Cực hay Nam Cực vì quá lạnh và những giới hạn khác như thiếu ánh nắng và ánh sáng ban ngày vào những thời điểm nhất định trong năm; y không thể sống trong nhiều sa mạc hiện có vì thiếu nước; y không thể sống trong những khu rừng rậm rạp, vì có những thú dữ mà trước hết phải bị tiêu diệt thì mới an toàn để xây nhà mà ở. Trong thế giới cảm dục, y không gặp những giới hạn này. Khí hậu ở Bắc Cực hay Nam Cực cũng giống như ở bất cứ nơi nào khác trên cõi cảm dục, không nơi nào có giới hạn về ánh sáng ban ngày vì ánh sáng ở khắp nơi đều như nhau suốt hai mươi bốn giờ mỗi ngày; trong sa mạc y không cần nước để tồn tại; nếu y muốn sống trong đối phần cảm dục của các khu rừng rậm thì y có thể—không có thú dữ nào tấn công y, vì cũng như con người học được rằng mình không thể làm hại một con vật trong thế giới cảm dục thì các con vật cũng học được rằng chúng không thể làm hại con người. Thêm vào đó, có bảy khối cầu tâm thức để lựa chọn, nên luôn luôn có thể đạt được những điều kiện cần thiết để làm cho kiểu sống mong muốn trở nên khả thi, giữa những hoàn cảnh phù hợp với sự phát triển cảm xúc, trí tuệ và tinh thần của một người. Một khi anh nắm được những kiểu tồn tại khác nhau này, những kiểu tạo nên đời sống tiếp nối đời sống này ở đây, anh sẽ dễ dàng thấy được cách mọi mảnh của trò ghép hình rơi hoàn hảo vào đúng chỗ của chúng, và Con Đường Tiến Hoá trở thành một chuỗi biến cố hợp lý được kiểm soát bởi các định luật tự nhiên, vững chắc cả về lý thuyết lẫn thực hành. |
|
“All these facts are explained and taught in the schools which exist on some of the astral spheres and it is usually through these schools, which a man hears about in one way or another at the appropriate time, that the urge or desire to pass from one sphere to another is born. In these schools the astral entity is shown the way in which to transport himself from one level to another—the change being brought about through an effort of will made in a particular way; for although the matter of which an individual sphere is composed is different from the matter of which the other spheres are composed, our astral bodies include matter similar to that of all the spheres and it is only a question of making active the atoms in our bodies relative to the sphere concerned to enable us to function fully in the sphere chosen. A further point which the astral entity is taught is that a man functioning on the second sphere cannot contact or communicate with one functioning on the first sphere—nor a man on the third with one on the second. If a man living at the third level wishes for any reason to get into touch with a person living on the first level, he must again descend to the first level by an action of will, which, as I said, makes the first sphere atoms in his body become active again. The same process is applied when going ‘up’ or ‘down.’ The life expressed at the different spheres is separate and to all intents and purposes self-contained, in exactly the same way that life in England is separate and different from life in India. Both countries are part of the physical world; all spheres are part of the astral world, but they work separately and for very definite reasons. The most material part of the astral world—the densest part—is the sphere which surrounds you immediately after death, and whilst you live in this dense part of the astral world you see all the things around you that you saw when you were living in the physical world. Say you lived in London during your lifetime, it is more than probable that after death you would remain in the astral counterpart or reflection of London, merely because, to begin with, you want to remain in touch with something which you understand; you want to see people around you, and to have a perfect home where you can entertain friends as before. Then one day, perhaps a friend points out to you that life in town has few advantages in the astral world, and suggests that you see the beauties of the countryside. You can easily visualise the difference in atmosphere between an existence amongst the teeming millions which comprise a metropolis and the comparative peace of a country village, where the inhabitants are counted in dozens instead of thousands or millions. This is the second sphere which, for want of a better description, I have suggested should be thought of as being one title above the level of the first sphere, and where you would find many families happily carrying on their existence, with social intercourse and the usual things which go with the idea of the perfect country life. |
“Tất cả những sự kiện này đều được giải thích và giảng dạy trong các trường học tồn tại trên một số khối cầu cảm dục, và thường chính qua những trường này, mà một người nghe nói đến bằng cách này hay cách khác vào đúng thời điểm thích hợp, mà sự thôi thúc hay khát vọng chuyển từ khối cầu này sang khối cầu khác được sinh ra. Trong các trường này, thực thể cảm dục được chỉ cho cách tự chuyển mình từ cấp độ này sang cấp độ khác—sự thay đổi được mang lại qua một nỗ lực ý chí được thực hiện theo một cách đặc biệt; vì mặc dù vật chất cấu thành một khối cầu riêng biệt khác với vật chất cấu thành các khối cầu khác, các thể cảm dục của chúng ta bao gồm vật chất tương tự với vật chất của mọi khối cầu, và chỉ là vấn đề làm cho các nguyên tử trong thể của chúng ta tương ứng với khối cầu liên hệ trở nên hoạt động để cho phép chúng ta hoạt động trọn vẹn trong khối cầu đã chọn. Một điểm nữa mà thực thể cảm dục được dạy là một người hoạt động trên khối cầu thứ hai không thể tiếp xúc hay giao tiếp với một người hoạt động trên khối cầu thứ nhất—cũng như một người ở khối cầu thứ ba không thể với một người ở khối cầu thứ hai. Nếu một người sống ở cấp độ thứ ba vì lý do nào đó muốn tiếp xúc với một người sống ở cấp độ thứ nhất, y lại phải hạ xuống cấp độ thứ nhất bằng một hành động ý chí, điều mà như tôi đã nói, làm cho các nguyên tử của khối cầu thứ nhất trong thể y hoạt động trở lại. Cùng một tiến trình ấy được áp dụng khi đi ‘lên’ hay ‘xuống’. Đời sống được biểu lộ ở các khối cầu khác nhau là tách biệt và về mọi phương diện thực tiễn là tự khép kín, đúng như cách đời sống ở Anh tách biệt và khác với đời sống ở Ấn Độ. Cả hai quốc gia đều là một phần của thế giới hồng trần; mọi khối cầu đều là một phần của thế giới cảm dục, nhưng chúng vận hành riêng biệt và vì những lý do rất xác định. Phần vật chất nhất của thế giới cảm dục—phần đậm đặc nhất—là khối cầu bao quanh anh ngay sau khi chết, và trong khi anh sống ở phần đậm đặc này của thế giới cảm dục, anh nhìn thấy mọi thứ quanh mình mà anh đã thấy khi còn sống trong thế giới hồng trần. Giả sử trong suốt đời mình anh sống ở Luân Đôn, thì rất có thể sau khi chết anh sẽ ở lại trong đối phần hay phản ảnh cảm dục của Luân Đôn, đơn giản vì lúc đầu anh muốn vẫn giữ liên hệ với điều gì đó mà anh hiểu; anh muốn thấy người chung quanh mình, và có một mái nhà hoàn hảo nơi anh có thể tiếp đãi bạn bè như trước. Rồi một ngày kia, có lẽ một người bạn chỉ ra cho anh rằng đời sống trong thành phố có ít lợi thế trong thế giới cảm dục, và gợi ý rằng anh nên ngắm vẻ đẹp của miền quê. Anh có thể dễ dàng hình dung sự khác biệt về bầu khí giữa một sự tồn tại giữa hàng triệu người chen chúc tạo thành một đô thị lớn và sự yên bình tương đối của một làng quê, nơi cư dân được tính bằng hàng chục thay vì hàng ngàn hay hàng triệu. Đó là khối cầu thứ hai mà, vì không có cách mô tả nào tốt hơn, tôi đã gợi ý nên nghĩ đến như ở cao hơn cấp độ của khối cầu thứ nhất một bậc, và nơi anh sẽ thấy nhiều gia đình hạnh phúc tiếp tục sự tồn tại của mình, với giao tiếp xã hội và những điều thường đi kèm với ý niệm về đời sống thôn quê lý tưởng. |
|
“You can live in these spheres as long as you like. A very coarse and material type of person is happiest in the densest part of the astral world, for that part is nearest to and most like the physical world to which he is so attached, and here he continues to live a very limited existence. These are not spheres in which a developed person—a man who has some spiritual background—would be particularly happy were he forced to remain under these conditions for long. He is not so forced and, after passing through the purgatory period in which he is shown the results of the good and evil actions of this past life, the realisation of which influences his future character, he begins to feel an urge to get away from anything which is similar to the life that is over, and the revelation comes to him of the immense possibilities for interesting and profitable experiences which await him in the higher and less dense spheres of the astral world. Eventually he settles down to live his astral life surrounded by conditions which are in keeping with his actual development, this may be on the third sphere, where he meets the type of individual who is a creator—musicians, artists, scientists, etc.—or on the fourth sphere, where he can discuss world problems with men who have greater intellects than himself. |
“Anh có thể sống trong những khối cầu này bao lâu tùy thích. Một loại người rất thô nặng và duy vật thì hạnh phúc nhất ở phần đậm đặc nhất của thế giới cảm dục, vì phần ấy gần nhất và giống nhất với thế giới hồng trần mà y gắn bó đến thế, và ở đây y tiếp tục sống một đời sống rất hạn hẹp. Đây không phải là những khối cầu mà một người phát triển—một người có một nền tảng tinh thần nào đó—sẽ đặc biệt hạnh phúc nếu bị buộc phải ở lại trong những điều kiện này lâu dài. Y không bị buộc như thế, và sau khi đi qua giai đoạn luyện ngục trong đó y được cho thấy kết quả của những hành động thiện và ác của kiếp sống vừa qua, sự chứng nghiệm về điều đó ảnh hưởng đến tính cách tương lai của y, y bắt đầu cảm thấy một thôi thúc muốn rời xa bất cứ điều gì giống với đời sống đã qua, và sự mặc khải đến với y về những khả thể bao la của những kinh nghiệm thú vị và hữu ích đang chờ y trong các khối cầu cao hơn và ít đậm đặc hơn của thế giới cảm dục. Cuối cùng y ổn định để sống đời sống cảm dục của mình giữa những điều kiện phù hợp với sự phát triển thực sự của mình, có thể là trên khối cầu thứ ba, nơi y gặp loại cá nhân là người sáng tạo—nhạc sĩ, nghệ sĩ, nhà khoa học, v.v.—hoặc trên khối cầu thứ tư, nơi y có thể thảo luận các vấn đề thế giới với những người có trí tuệ lớn hơn mình. |
|
“When an astral entity of human origin reaches these spheres, he becomes aware that they are also inhabited by other entities which, he finds, are of non-human origin. It is important that you know something about these entities and their origin before you have further astral experiences, so I shall tell you something about them now. These entities comprise a parallel evolution called the deva or angel kingdom. They evolve in a similar way to the human kingdom, in that instead of individualising from the animal kingdom into the human, these entities, which previously were seen and known as insects, fish or birds, individualise into elementals, nature-spirits and devas or angels. When the time comes for a bird or fish to progress to the next stage of its development, it becomes either an elemental or a nature-spirit, according to its type in the physical world. |
“Khi một thực thể cảm dục có nguồn gốc nhân loại đạt đến những khối cầu này, y nhận ra rằng chúng cũng có những thực thể khác cư ngụ mà y thấy là có nguồn gốc phi nhân loại. Điều quan trọng là anh phải biết đôi điều về những thực thể này và nguồn gốc của chúng trước khi anh có thêm những kinh nghiệm cảm dục, vì vậy bây giờ tôi sẽ kể cho anh nghe đôi điều về chúng. Những thực thể này tạo thành một tiến hoá song song gọi là giới thiên thần hay thiên thần. Chúng tiến hoá theo cách tương tự như giới nhân loại, ở chỗ thay vì biệt ngã hóa từ giới động vật vào giới nhân loại, những thực thể này, vốn trước kia được thấy và biết đến như côn trùng, cá hay chim, lại biệt ngã hóa thành hành khí, tinh linh tự nhiên và thiên thần hay thiên thần. Khi đến lúc một con chim hay con cá tiến lên giai đoạn kế tiếp của sự phát triển của nó, nó trở thành hoặc một hành khí hoặc một tinh linh tự nhiên, tùy theo loại của nó trong thế giới hồng trần. |
|
“You will remember when I took you under the sea on your first astral journey, I showed you some of the elementals that live at the bottom of the ocean. Originally these were fish, and in their natural journey towards their goal of perfection, they have to change from fish to elementals in just the same way that dogs, cats, horses etc. change from their animal types into the unevolved types of humans that we know of in the world. Birds, for example, turn into nature spirits—fairies they are sometimes called—and both these elementals and nature spirits, after many progressive lives, reach a stage where they become what the world describes as devas or angels. |
“Anh hẳn còn nhớ khi tôi đưa anh xuống dưới biển trong chuyến du hành cảm dục đầu tiên của anh, tôi đã chỉ cho anh thấy một số hành khí sống ở đáy đại dương. Nguyên thủy chúng là cá, và trong hành trình tự nhiên hướng tới mục tiêu hoàn thiện của mình, chúng phải chuyển từ cá thành hành khí đúng như cách chó, mèo, ngựa v.v. chuyển từ loại động vật của chúng thành những loại người chưa tiến hoá mà chúng ta biết trong thế giới. Chẳng hạn, chim biến thành tinh linh tự nhiên—đôi khi chúng được gọi là tiên—và cả những hành khí lẫn tinh linh tự nhiên này, sau nhiều kiếp sống tiến bộ, đạt đến một giai đoạn mà chúng trở thành điều mà thế giới mô tả là thiên thần hay thiên thần. |
|
“Now there is a great difference between the two evolutions in that the deva evolution does not inhabit the physical world after the fish or bird has progressed to the elemental or nature spirit stage. It only inhabits the astral and mental worlds and apart from the lower elementals and very junior or unevolved types of nature spirits they do not live below the third sphere of that astral world. That is why so little is known of this evolution by people living in the physical world. They hardly contact it, as far as the ordinary individual is concerned, though human beings who have developed the dormant sense of clairvoyance can of course see these creatures even at the physical level, for there is no closed door to the clairvoyant between the astral and the physical worlds of consciousness. But as I have said, the average man has no such knowledge and usually he ridicules the stories that are circulated, concerning the existence of such entities. |
“Giờ đây có một khác biệt lớn giữa hai cuộc tiến hoá ở chỗ tiến hoá thiên thần không cư ngụ trong thế giới hồng trần sau khi cá hay chim đã tiến lên giai đoạn hành khí hay tinh linh tự nhiên. Nó chỉ cư ngụ trong các thế giới cảm dục và trí tuệ, và ngoài các hành khí thấp cùng những loại tinh linh tự nhiên rất non trẻ hay chưa tiến hoá, chúng không sống dưới khối cầu thứ ba của thế giới cảm dục ấy. Đó là lý do vì sao người sống trong thế giới hồng trần biết quá ít về cuộc tiến hoá này. Họ hầu như không tiếp xúc với nó, xét theo cá nhân bình thường, dù dĩ nhiên những con người đã phát triển giác quan tiềm ẩn của thông nhãn có thể thấy những sinh thể này ngay cả ở cấp độ hồng trần, vì đối với nhà thông nhãn không có cánh cửa khép kín nào giữa các thế giới tâm thức cảm dục và hồng trần. Nhưng như tôi đã nói, người bình thường không có tri thức như thế và thường chế giễu những câu chuyện được truyền đi về sự tồn tại của các thực thể như vậy. |
|
“It is only in undeveloped countries, where the inhabitants are nearer to nature than the average, that the ‘little people’ as fairies and nature spirits are called in Ireland, are recognised. There, although the majority of people have never seen them, the leprechauns, gnomes and elves are acknowledged to exist. To this day many farmers refuse to till a particular piece of land, which folklore maintains is used by the fairies. Many are the stories that are told, where materialistic modern owners of the land, scoffing at the old stories as rubbish and superstition, have suffered misfortune which the local inhabitants put down to their having insulted the little people. I do not propose to comment on whether these ‘bad luck’ stories are founded on fact or not, for frankly, it would be impossible to give any general opinion on the subject. Each case would have to be separately investigated, in order to ascertain the truth, and it does not happen to be my present task to make such investigations. I tell you, however, that on the astral plane these entities not only exist, but they play an important part in the life of the astral world, and after death, when you reach the third and higher spheres, you will not only see them for yourself, but will have contact with them as I shall describe. |
“Chỉ ở những xứ sở chưa phát triển, nơi cư dân gần với thiên nhiên hơn mức trung bình, thì ‘những người bé nhỏ’ như tiên và tinh linh tự nhiên được gọi ở Ireland mới được thừa nhận. Ở đó, dù đa số người dân chưa từng thấy họ, những leprechaun, gnome và elf vẫn được công nhận là có tồn tại. Cho đến ngày nay nhiều nông dân vẫn từ chối cày cấy một mảnh đất nào đó mà truyền thuyết dân gian cho rằng được các tiên sử dụng. Có rất nhiều câu chuyện được kể lại, trong đó những chủ đất hiện đại duy vật, chế nhạo các câu chuyện cổ là rác rưởi và mê tín, đã gặp bất hạnh mà cư dân địa phương quy cho việc họ đã xúc phạm những người bé nhỏ. Tôi không định bình luận xem những câu chuyện “xui xẻo” này có dựa trên sự thật hay không, vì thành thật mà nói, không thể đưa ra bất kỳ ý kiến tổng quát nào về đề tài ấy. Mỗi trường hợp sẽ phải được điều tra riêng để xác định sự thật, và việc thực hiện những cuộc điều tra như thế không phải là nhiệm vụ hiện tại của tôi. Tuy nhiên, tôi nói với anh rằng trên cõi cảm dục những thực thể này không những tồn tại mà còn đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của thế giới cảm dục, và sau khi chết, khi anh đạt đến khối cầu thứ ba và cao hơn, anh không những sẽ tự mình thấy chúng mà còn sẽ tiếp xúc với chúng như tôi sẽ mô tả. |
|
“When a man passes to the fourth sphere he would at first be impressed by the entire absence of what might be described as activity. He would meet people there of course and, if he had not already met them in his past physical life, be introduced to them in exactly the same way as people are introduced in the physical world. He would be welcomed as a man of similar interests to themselves by the permanent inhabitants of that sphere who know that he could not have progressed as far as the fourth sphere unless he had the necessary desire and qualifications to enable him to function there. Instead of physical activity he would find much mental activity, for the main interest of the inhabitants there is discussing international and evolutionary problems—discussions relating to the development of science, discussions relating to the parallel evolution of the deva kingdom with its great differences from our evolution and so on—or the formulating of theories, which they endeavour to test out. All this may sound very dull to you, but to an intellectual type of individual, it is not dull at all. Of course the people one meets vary intellectually and those who have the finest intellects—who are actually the older and more experienced souls—take the lead in the discussions, as is natural for them to do. In many cases, members of the deva kingdom join the deliberations, though intercommunication in such instances is not made through the medium of words, for although not yet living in the mental world—where everything is governed by thoughts—it is found that in the higher levels of the astral world conversations can be carried on without the actual use of words. Life is so much less material there that the possibilities of exchange of thoughts comes quite naturally and there is no question of such things being considered either marvellous or extraordinary. |
“Khi một người chuyển sang khối cầu thứ tư, lúc đầu y sẽ bị ấn tượng bởi sự vắng mặt hoàn toàn của điều có thể được mô tả là hoạt động. Dĩ nhiên y sẽ gặp người ở đó và, nếu chưa từng gặp họ trong đời sống hồng trần trước đây của mình, sẽ được giới thiệu với họ đúng như cách người ta được giới thiệu trong thế giới hồng trần. Y sẽ được những cư dân thường trú của khối cầu ấy, những người biết rằng y không thể tiến xa đến khối cầu thứ tư nếu không có khát vọng và phẩm chất cần thiết để hoạt động ở đó, chào đón như một người có những mối quan tâm tương tự họ. Thay vì hoạt động hồng trần, y sẽ thấy nhiều hoạt động trí tuệ, vì mối quan tâm chính của cư dân ở đó là thảo luận các vấn đề quốc tế và tiến hoá—những cuộc thảo luận liên quan đến sự phát triển của khoa học, những cuộc thảo luận liên quan đến cuộc tiến hoá song song của giới thiên thần với những khác biệt lớn lao của nó so với cuộc tiến hoá của chúng ta, v.v.—hoặc việc hình thành các lý thuyết mà họ cố gắng kiểm nghiệm. Tất cả điều này có thể nghe rất buồn tẻ đối với anh, nhưng đối với một loại cá nhân trí tuệ thì hoàn toàn không buồn tẻ chút nào. Dĩ nhiên những người ta gặp khác nhau về mặt trí tuệ và những người có trí tuệ tinh anh nhất—thực ra là những linh hồn già hơn và nhiều kinh nghiệm hơn—sẽ dẫn dắt các cuộc thảo luận, như điều tự nhiên họ phải làm. Trong nhiều trường hợp, các thành viên của giới thiên thần tham gia vào các cuộc nghị luận, dù trong những trường hợp như thế sự giao tiếp không được thực hiện qua trung gian của lời nói, vì mặc dù chưa sống trong thế giới trí tuệ—nơi mọi thứ được chi phối bởi tư tưởng—người ta nhận thấy rằng ở các cấp độ cao hơn của thế giới cảm dục, các cuộc trò chuyện có thể được tiến hành mà không cần thực sự dùng lời. Đời sống ở đó ít vật chất hơn rất nhiều nên khả thể trao đổi tư tưởng đến một cách hoàn toàn tự nhiên và không hề có chuyện những điều như thế bị xem là kỳ diệu hay phi thường. |
|
“You must remember that the devas who inhabit the fourth sphere of the astral world are also evolved beings—as different from the low-type elementals and nature spirits as evolved men are different from the low types of coolies met with in the physical world. The mental outlook of a deva is quite different from the mental outlook of a human; the deva is mostly interested in the processes of nature. Their lives are so mixed up with natural features—oceans, mountains, trees, flowers, rainfall and the like—that they do not seem to be the slightest bit affected by the problems of life,which interest mankind except in special cases where their assistance is desired. Although the growth or decline of nations does not touch them, the progress of plant life, the scientific research work whereby nature provides man with his physical needs, interests them greatly. There is an evolved deva in charge of each different type of tree, shrub or flower. Under these ‘controllers’ work thousand of assistants, all of whom seem to have their special duties. Where too many trees are cut down by the inroads of so-called civilisation, the deva evolution endeavours to produce new trees to take the place of those destroyed. The experiments of modern science, in such efforts as producing rain by artificial means, are matters of great interest to the deva kingdom, and in their own way they endeavour to influence man in his research activities, along the right lines. |
“Anh phải nhớ rằng các thiên thần cư ngụ ở khối cầu thứ tư của thế giới cảm dục cũng là những hữu thể tiến hoá—khác với những hành khí và tinh linh tự nhiên loại thấp cũng như những người tiến hoá khác với những loại phu khuân vác thấp kém gặp trong thế giới hồng trần. Cái nhìn trí tuệ của một thiên thần hoàn toàn khác với cái nhìn trí tuệ của một con người; thiên thần phần lớn quan tâm đến các tiến trình của thiên nhiên. Đời sống của họ gắn bó đến mức với các đặc điểm tự nhiên—đại dương, núi non, cây cối, hoa lá, mưa rơi và những thứ tương tự—đến nỗi họ dường như không hề bị ảnh hưởng chút nào bởi những vấn đề của đời sống vốn khiến nhân loại quan tâm, trừ những trường hợp đặc biệt khi sự trợ giúp của họ được mong muốn. Mặc dù sự tăng trưởng hay suy tàn của các quốc gia không chạm đến họ, sự tiến bộ của đời sống thực vật, công trình nghiên cứu khoa học nhờ đó thiên nhiên cung cấp cho con người những nhu cầu hồng trần của mình, lại khiến họ rất quan tâm. Có một thiên thần tiến hoá phụ trách mỗi loại cây, bụi cây hay hoa khác nhau. Dưới các ‘điều hành viên’ này làm việc hàng ngàn trợ tá, tất cả dường như đều có những nhiệm vụ chuyên biệt của mình. Nơi nào quá nhiều cây bị đốn hạ bởi sự xâm lấn của cái gọi là văn minh, cuộc tiến hoá thiên thần cố gắng tạo ra những cây mới để thay thế những cây đã bị phá hủy. Những thí nghiệm của khoa học hiện đại, trong những nỗ lực như tạo mưa bằng phương tiện nhân tạo, là những vấn đề rất được giới thiên thần quan tâm, và theo cách riêng của mình họ cố gắng tác động lên con người trong các hoạt động nghiên cứu của họ, theo những đường hướng đúng đắn. |
|
“The deva kingdom expresses itself through colour, and anyone who is interested in landscape gardening will see marvellous results achieved by the devas in their activities on the third and fourth spheres of the astral world. In exactly the same way that a scientific gardener in the physical world endeavours to produce flowers of different colours by judicious grafting and pollination, the deva experiments also and, as his knowledge is so much greater in that he is nearer to nature than his human counterpart, produces much more beautiful results. It is quite impossible to describe in words the beauty of the flowers produced by the deva kingdom, for there are many hundreds of colours where we only have dozens, and we have no names for these minute variations of what we call reds, blues and purples. |
“Giới thiên thần biểu lộ chính mình qua màu sắc, và bất cứ ai quan tâm đến nghệ thuật làm vườn phong cảnh sẽ thấy những kết quả kỳ diệu do các thiên thần đạt được trong các hoạt động của họ trên khối cầu thứ ba và thứ tư của thế giới cảm dục. Đúng như cách một người làm vườn khoa học trong thế giới hồng trần cố gắng tạo ra những bông hoa có màu sắc khác nhau bằng cách ghép cành và thụ phấn khéo léo, thiên thần cũng thí nghiệm, và vì tri thức của y lớn hơn rất nhiều do y gần với thiên nhiên hơn đối phần nhân loại của mình, nên tạo ra những kết quả đẹp hơn nhiều. Hoàn toàn không thể mô tả bằng lời vẻ đẹp của những bông hoa do giới thiên thần tạo ra, vì có hàng trăm màu sắc nơi chúng ta chỉ có hàng chục, và chúng ta không có tên cho những biến thể tinh vi ấy của điều chúng ta gọi là đỏ, xanh lam và tím. |
|
“The devas also seem to express themselves in sound, with a view to influencing the activities of life. We often talk about producing the right atmosphere, and what we mean by that, usually, is getting people into a harmonious frame of mind. The devas express themselves as an evolution in a much bigger way and that which is called deva music is the result. Large numbers of devas gather together in woods and dells, using weird wood instruments to produce the most beautiful sounds, always in perfect harmony. Their voices seem to be pitched much higher than human voices, but are much softer; they do not use words as we understand words. They sing mostly in huge choirs, but there are also soloists who from time to time sing by themselves, the main choir remaining silent whilst the passage is being rendered. The soloists usually perch themselves on high trees some distance from the main choir and the result is absolutely amazing to our ears. It is quite impossible to give an adequate description of these ‘concerts’ to anyone who has not heard them, but undoubtedly they produce an atmosphere which the devas say affects the whole human race. It is probably their way of expressing peace and goodwill to all men, for they certainly could never understand the differences of opinion in the world that can lead to such things as modern wars. |
“Các thiên thần dường như cũng biểu lộ chính mình trong âm thanh, với mục đích tác động đến các hoạt động của sự sống. Chúng ta thường nói về việc tạo ra đúng bầu khí, và điều chúng ta thường muốn nói là đưa con người vào một trạng thái tâm trí hài hòa. Các thiên thần biểu lộ chính mình như một cuộc tiến hoá theo một cách lớn lao hơn nhiều và điều được gọi là âm nhạc thiên thần là kết quả. Rất đông thiên thần tụ họp trong rừng cây và khe suối, dùng những nhạc cụ gỗ kỳ lạ để tạo ra những âm thanh đẹp nhất, luôn luôn trong sự hòa điệu hoàn hảo. Giọng của họ dường như cao hơn nhiều so với giọng người, nhưng lại mềm hơn nhiều; họ không dùng lời theo cách chúng ta hiểu lời. Họ chủ yếu hát trong những dàn hợp xướng lớn, nhưng cũng có những giọng đơn ca thỉnh thoảng tự mình cất tiếng hát, trong khi dàn hợp xướng chính giữ im lặng lúc đoạn ấy được trình bày. Những giọng đơn ca thường đậu trên những cây cao cách xa dàn hợp xướng chính một quãng và kết quả đối với tai chúng ta thật hoàn toàn kỳ diệu. Hoàn toàn không thể đưa ra một mô tả đầy đủ về những ‘buổi hòa nhạc’ này cho bất cứ ai chưa từng nghe chúng, nhưng chắc chắn chúng tạo ra một bầu khí mà các thiên thần nói là ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại. Có lẽ đó là cách họ biểu lộ hòa bình và thiện chí đối với mọi người, vì chắc chắn họ không bao giờ có thể hiểu được những khác biệt quan điểm trong thế giới có thể dẫn đến những điều như các cuộc chiến tranh hiện đại. |
|
“The deva has no possessions, as we understand possessions, nor does he need any. From his early days as a nature spirit he does not have to earn money in order to support himself and so, perhaps, he can be considered more fortunate than his human counterpart. |
“Thiên thần không có sở hữu, theo cách chúng ta hiểu về sở hữu, và y cũng không cần bất cứ thứ gì. Ngay từ những ngày đầu là một tinh linh tự nhiên, y không phải kiếm tiền để tự nuôi sống mình và vì thế, có lẽ y có thể được xem là may mắn hơn đối phần nhân loại của mình. |
|
“Although these devas do not seem to laugh or enjoy themselves in ways that we understand, they are only too willing to be friendly and helpful to men when called upon. In some ways they do not seem to be interested in human affairs at all, yet in special cases, where earthquakes or volcanic eruptions have taken place, they seem to have their special work to do, for anything to do with nature, land, sea, flora or fauna, is their world. An earthquake or volcanic eruption is a natural phenomenon affecting part of the earth’s surface. When these tragedies take place, large numbers of devas are sent to help where they can. What exactly they do, I cannot tell you, but they certainly have their part to play in the scheme of things and one day I expect we shall know more about their work than we do today. |
“Mặc dù các thiên thần này dường như không cười hay vui hưởng theo những cách mà chúng ta hiểu, họ lại hết sức sẵn lòng thân thiện và giúp đỡ con người khi được kêu gọi. Ở một số phương diện, họ dường như hoàn toàn không quan tâm đến các công việc của con người, tuy nhiên trong những trường hợp đặc biệt, khi động đất hay núi lửa phun trào xảy ra, họ dường như có công việc riêng của mình phải làm, vì bất cứ điều gì liên quan đến thiên nhiên, đất đai, biển cả, thực vật hay động vật đều là thế giới của họ. Một trận động đất hay một vụ phun trào núi lửa là một hiện tượng tự nhiên ảnh hưởng đến một phần bề mặt trái đất. Khi những thảm kịch ấy xảy ra, rất nhiều thiên thần được phái đến để giúp đỡ ở nơi nào họ có thể. Chính xác họ làm gì thì tôi không thể nói với anh, nhưng chắc chắn họ có phần việc của mình trong mô hình của vạn vật và tôi mong rằng một ngày nào đó chúng ta sẽ biết nhiều hơn về công việc của họ so với ngày nay. |
|
“They also play their part in helping with human emotions. As I have said, bodily illness is quite unknown under astral conditions, but emotional upsets, where people become extremely depressed, occur, for the astral world is the world of emotion and the astral body is our vehicle of emotional consciousness. In such cases, the devas seem to nurse depressed people back to emotional health. They soothe the people and bring them into touch with their divine music, the effect of which on one who is not very happy is very marked indeed. It is not often that one sees a really unhappy individual in the astral world, for the conditions there make it difficult to be unhappy, but there are cases where people are troubled, and the deva people then act as doctors and nurses in a very effective way. |
“Họ cũng góp phần của mình trong việc giúp đỡ các cảm xúc của con người. Như tôi đã nói, bệnh tật của thể xác hoàn toàn không được biết đến trong các điều kiện cảm dục, nhưng những xáo trộn cảm xúc, khi con người trở nên cực kỳ suy sụp, thì có xảy ra, vì thế giới cảm dục là thế giới của cảm xúc và thể cảm dục là vận cụ của tâm thức cảm xúc của chúng ta. Trong những trường hợp như vậy, các thiên thần dường như chăm sóc những người suy sụp để đưa họ trở lại tình trạng lành mạnh về cảm xúc. Họ xoa dịu con người và đưa họ tiếp xúc với âm nhạc thiêng liêng của mình, mà hiệu quả của nó đối với một người không được hạnh phúc quả thật là rất rõ rệt. Không thường khi người ta thấy một cá nhân thực sự bất hạnh trong cõi cảm dục, vì các điều kiện ở đó khiến cho việc bất hạnh trở nên khó khăn, nhưng vẫn có những trường hợp con người bị phiền não, và khi ấy dân thiên thần hành động như những bác sĩ và y tá một cách rất hiệu quả. |
|
“I have given you sufficient to think about before I take you on your second astral journey, so I shall not visit you tomorrow but shall come again in three days’ time. I am leaving another tablet with you; take it as before, when you go to bed tomorrow night—then you will certainly be asleep by 10 o’clock. I shall meet you at the moment that you go to sleep. Do not eat any meat or drink alcohol between now and then, and when you wake up in the morning, the day after tomorrow, write down immediately all that you remember. I shall help you to remember, as I did before. Today, write up your notes of this talk; tomorrow study all your notes up to date, and tomorrow evening we will journey together in our astral bodies. Expect me at 11 o’clock on the following day, when I hope you will have a full account of your experiences ready for me. I leave you now.” |
“Tôi đã cho anh đủ điều để suy nghĩ trước khi tôi đưa anh vào chuyến du hành cảm dục thứ hai, vì vậy ngày mai tôi sẽ không đến thăm anh mà sẽ trở lại sau ba ngày nữa. Tôi để lại cho anh một viên thuốc khác; hãy dùng nó như trước, khi anh đi ngủ vào tối mai—khi đó chắc chắn anh sẽ ngủ vào lúc 10 giờ. Tôi sẽ gặp anh vào đúng khoảnh khắc anh đi vào giấc ngủ. Từ nay đến lúc đó đừng ăn thịt hay uống rượu, và khi anh thức dậy vào buổi sáng, ngày mốt, hãy lập tức ghi lại tất cả những gì anh nhớ được. Tôi sẽ giúp anh nhớ lại, như tôi đã làm trước đây. Hôm nay, hãy viết lại các ghi chép của anh về cuộc nói chuyện này; ngày mai hãy học lại tất cả các ghi chép của anh cho đến nay, và tối mai chúng ta sẽ cùng du hành trong các thể cảm dục của mình. Hãy đợi tôi vào 11 giờ của ngày hôm sau, khi tôi hy vọng anh sẽ có sẵn cho tôi một bản tường thuật đầy đủ về những kinh nghiệm của anh. Giờ tôi rời anh đây.” |
|
What a morning! The weather was exceedingly warm and humid and my Indian friend had talked for longer than he usually does, though what he said has been even more interesting than it has been on the days that have gone before. He is opening up a new vision of life in the world that follows this, which, if true, certainly makes the contacting of that world even more interesting than it was before. Not only am I excited at the prospect of another astral journey, but if this trip turns out to be equally thrilling to the one I had last week, then it will be wonderful indeed. |
Thật là một buổi sáng! Thời tiết cực kỳ nóng và ẩm, và người bạn Ấn Độ của tôi đã nói lâu hơn thường lệ, mặc dù điều ông nói còn thú vị hơn cả những ngày trước. Ông đang mở ra một tầm nhìn mới về sự sống trong thế giới tiếp theo thế giới này, mà nếu là thật, thì chắc chắn khiến việc tiếp xúc với thế giới ấy còn thú vị hơn trước nữa. Tôi không chỉ háo hức trước viễn cảnh của một chuyến du hành cảm dục khác, mà nếu chuyến đi này cũng hồi hộp như chuyến tôi đã có tuần trước, thì quả thật sẽ tuyệt vời biết bao. |
|
I do not remember having seen Charles since that memorable night and somehow I have not been in any way worried about this, for now I know that he is all right. The absence of his physical presence worries me no more; I am no longer sad; I feel that at any time I can contact him if the need is great and also there is the feeling which amounts to a certainty, that he is not gone from us, that he is still very much in the land of the living. What this means to me is difficult to describe in mere words, but I am already beginning to want to talk to other people who are sad for the same reason that I was sad, to comfort them and explain something of this scheme which seems to rule the Universe. Perhaps that is one of the reasons why I have been helped, for the urge to pass on this information to others, and have the capacity for giving them proof such as my Indian friend is able to give me, is very strong within me. Possibly one day I shall be able to put my urge into effect. |
Tôi không nhớ là mình đã gặp Charles kể từ đêm đáng nhớ ấy, và bằng cách nào đó tôi hoàn toàn không lo lắng về điều này, vì giờ đây tôi biết rằng nó vẫn ổn. Sự vắng mặt của sự hiện diện hồng trần của nó không còn làm tôi bận tâm nữa; tôi không còn buồn nữa; tôi cảm thấy rằng bất cứ lúc nào tôi cũng có thể tiếp xúc với nó nếu nhu cầu đủ lớn, và cũng có cảm giác gần như là một điều chắc chắn rằng nó không rời xa chúng tôi, rằng nó vẫn còn rất thực sự ở trong cõi của người sống. Điều này có ý nghĩa gì đối với tôi thì khó mà diễn tả bằng lời lẽ thông thường, nhưng tôi đã bắt đầu muốn nói chuyện với những người khác đang buồn vì cùng lý do như tôi đã buồn, để an ủi họ và giải thích đôi điều về mô hình dường như cai quản Vũ Trụ này. Có lẽ đó là một trong những lý do khiến tôi được giúp đỡ, vì thôi thúc truyền đạt thông tin này cho người khác, và có khả năng đưa cho họ bằng chứng như người bạn Ấn Độ của tôi có thể đưa cho tôi, đang rất mạnh mẽ trong tôi. Có thể một ngày nào đó tôi sẽ thực hiện được thôi thúc ấy. |
|
The next evening I went to the cinema and as it was a thriller, it held my interest for a couple of hours. I went to bed immediately I returned and tried the trick of imagining a mirror over my bed just before I settled myself for sleep. This time I did get a little result, for at the moment of losing consciousness I remember finding myself standing in my bedroom and there, sure enough, was my body lying peacefully on the bed. I remember, distinctly, starting to open my bedroom door; even as I put my hand on the knob, I found that I was, as it were, half through the door and immediately I remembered that doors are no obstacle to the astral body, so I wandered forth. I glided down the stairs a foot or so above the steps and I recollect this because I lowered my head so as to miss the overhang at the point where the stairs turn the corner. Of course bowing my head was quite unnecessary, but it was instinctive on my part. I went through the front door and floated gently towards the harbour and sea. The next thing I remember was waking up this morning at the usual hour. I lay quite still delving deeply into my inner consciousness, but nothing more than the few details that started off my night’s rambling could I recall. Never mind, even that is something, and I am rather thrilled to find that without help I was able to retain continuity of consciousness at the moment of going to sleep and even remember the first stage of my astral journeyings. |
Tối hôm sau tôi đi xem phim và vì đó là một phim ly kỳ nên nó giữ được sự chú ý của tôi trong vài giờ. Tôi đi ngủ ngay khi trở về và thử mẹo hình dung một chiếc gương phía trên giường ngay trước khi tôi yên vị để ngủ. Lần này tôi quả thật có được một chút kết quả, vì vào lúc mất tâm thức tôi nhớ là mình thấy mình đang đứng trong phòng ngủ và ở đó, quả nhiên, là thể xác của tôi đang nằm yên bình trên giường. Tôi nhớ rõ ràng là mình bắt đầu mở cửa phòng ngủ; ngay khi đặt tay lên nắm cửa, tôi thấy mình, có thể nói như vậy, đã đi nửa người xuyên qua cánh cửa và lập tức nhớ ra rằng cửa không phải là chướng ngại đối với thể cảm dục, nên tôi đi ra ngoài. Tôi lướt xuống cầu thang cách các bậc chừng một bộ, và tôi nhớ điều này vì tôi đã cúi đầu xuống để tránh phần nhô ra ở chỗ cầu thang quẹo góc. Dĩ nhiên việc cúi đầu là hoàn toàn không cần thiết, nhưng đó là phản ứng bản năng của tôi. Tôi đi xuyên qua cửa trước và nhẹ nhàng trôi về phía bến cảng và biển. Điều tiếp theo tôi nhớ là sáng nay thức dậy vào giờ thường lệ. Tôi nằm hoàn toàn yên, đào sâu vào tâm thức bên trong của mình, nhưng ngoài vài chi tiết đã mở đầu cho cuộc lang thang ban đêm của tôi, tôi không thể nhớ thêm gì nữa. Không sao, như thế cũng đã là một điều gì đó, và tôi khá phấn khích khi thấy rằng không cần trợ giúp tôi vẫn có thể giữ được sự liên tục của tâm thức vào lúc đi vào giấc ngủ và thậm chí còn nhớ được giai đoạn đầu của những cuộc du hành cảm dục của mình. |
|
It is 9:30 p.m.; I have finished my light dinner. I am now going to take the tablet and get into bed. What will I experience this time? |
Bây giờ là 9 giờ 30 tối; tôi đã ăn xong bữa tối nhẹ. Giờ tôi sẽ uống viên thuốc và lên giường. Lần này tôi sẽ trải nghiệm điều gì? |
Chapter 7
|
This time I do not seem to have been asleep at all! When I realised this morning that I was again in my body, the remembrance of everything that had taken place was clear in my brain—just as if I had been to a theatre and had been asked to write down all the details of the play. Thus I was able to settle down with my pad and pencil and record faithfully everything that had happened. |
Lần này tôi dường như hoàn toàn không ngủ chút nào! Khi sáng nay tôi nhận ra rằng mình lại ở trong thể xác, ký ức về mọi điều đã xảy ra hiện rõ trong bộ não tôi—y như thể tôi đã đi xem kịch và được yêu cầu ghi lại mọi chi tiết của vở diễn. Vì vậy tôi có thể ngồi xuống với tập giấy và cây bút chì của mình và trung thực ghi lại mọi điều đã xảy ra. |
|
After taking the tablet, I looked at my little French clock whose hands stood at 9:42 p.m. I did not try to go to sleep, but within a few minutes I found that I had slipped out of my body and was standing at the side of the bed with my sleeping form lying there upon it. Again I looked, and it was five minutes to ten. There was no one about and I walked round my room marvelling at the simplicity of what, on the occasion of my first astral journey, had struck me as extremely complicated. I did not attempt to leave my room for I remembered quite clearly that my Indian friend had said he would be here at 10 o’clock, so I awaited his coming, quite sure that he would not let me down. Next time I looked at my clock, it was 10 o’clock; still nothing happened. Five minutes passed and I wondered whether the whole thing was going to turn out a flop. I became more and more worried as the minutes ticked away, but refused to be tempted to experiment on my own, and just as I was about to look at my clock again, I heard the now familiar voice behind me saying: “Did you think I was going to disappoint you?” |
Sau khi uống viên thuốc, tôi nhìn chiếc đồng hồ Pháp nhỏ của mình, kim chỉ 9 giờ 42 tối. Tôi không cố đi ngủ, nhưng chỉ trong vài phút tôi thấy mình đã trượt ra khỏi thể xác và đang đứng bên giường với hình hài đang ngủ của mình nằm trên đó. Tôi lại nhìn, và lúc ấy là 10 giờ kém 5. Không có ai quanh đó và tôi đi quanh phòng, kinh ngạc trước sự đơn giản của điều mà trong dịp đầu tiên du hành cảm dục đã từng khiến tôi thấy cực kỳ phức tạp. Tôi không cố rời khỏi phòng vì tôi nhớ rất rõ rằng người bạn Ấn Độ của tôi đã nói ông sẽ ở đây lúc 10 giờ, nên tôi chờ ông đến, hoàn toàn chắc chắn rằng ông sẽ không làm tôi thất vọng. Lần tiếp theo tôi nhìn đồng hồ, đã là 10 giờ; vẫn không có gì xảy ra. Năm phút trôi qua và tôi tự hỏi liệu toàn bộ chuyện này có hóa ra thất bại hay không. Tôi càng lúc càng lo lắng khi từng phút trôi đi, nhưng từ chối bị cám dỗ mà tự mình thử nghiệm, và đúng lúc tôi sắp nhìn đồng hồ lần nữa thì tôi nghe giọng nói nay đã quen thuộc phía sau mình cất lên: “Anh tưởng là tôi sẽ làm anh thất vọng sao?” |
|
My friend stated that he was late because he had been helping a particular friend of his who had died that morning. He said this man had dreaded dying and, although he had been ill for many months, he had fought death right up to the end. He explained that this was quite useless, as his time had come, and although he had probably kept life in his body for a few weeks by his extreme will power, in the end death had prevailed. The illness this man had suffered from, for months, had at last so weakened his physical body that it was impossible for the etheric matter to remain within it. He stated that he had been helping this man to get rid of his etheric vehicle, which he tried to keep with him; this being now the nearest thing to the physical life—the only life he understood. Getting the man to make the necessary effort of will to disconnect the etheric from the astral body, round which it had wound itself, had taken longer than usual. |
Bạn tôi nói rằng ông đến muộn vì ông đã giúp một người bạn đặc biệt của ông vừa qua đời sáng hôm đó. Ông nói người này đã rất sợ chết và, mặc dù đã bệnh nhiều tháng, ông ta vẫn chống lại cái chết cho đến tận cùng. Ông giải thích rằng điều đó hoàn toàn vô ích, vì thời điểm của ông ta đã đến, và mặc dù có lẽ ông ta đã giữ được sự sống trong thể xác thêm vài tuần nhờ ý chí cực mạnh, cuối cùng cái chết vẫn thắng thế. Căn bệnh mà người này chịu đựng suốt nhiều tháng cuối cùng đã làm thể xác của ông ta suy yếu đến mức chất liệu dĩ thái không thể ở lại trong đó được nữa. Ông nói rằng ông đã giúp người này loại bỏ vận cụ dĩ thái của mình, thứ mà ông ta cố giữ lại bên mình; vì đó lúc này là điều gần nhất với đời sống hồng trần—đời sống duy nhất mà ông ta hiểu. Việc khiến người ấy thực hiện nỗ lực ý chí cần thiết để tách thể dĩ thái ra khỏi thể cảm dục, quanh đó nó đã quấn lấy, đã mất nhiều thời gian hơn thường lệ. |
|
“He’s all right now,” he said, “and I have left him with some astral helpers, who will probably wish to remain—until through practical experience he learns something about the Law.” |
“Giờ ông ấy ổn rồi,” ông nói, “và tôi đã để ông ấy lại với một số trợ giúp viên cảm dục, những người có lẽ sẽ muốn ở lại—cho đến khi qua kinh nghiệm thực tế ông ấy học được đôi điều về Định luật.” |
|
I asked him what were we going to do this time; he replied that it was desirable I should first get experience of passing from the lower to the higher spheres. He took a lot of trouble in explaining to me that although he called them higher spheres, they were not actually above each other but rather all around us, being conditions of different density only. |
Tôi hỏi ông lần này chúng tôi sẽ làm gì; ông đáp rằng trước hết tôi nên có kinh nghiệm đi từ các khối cầu thấp lên các khối cầu cao hơn. Ông rất công phu giải thích cho tôi rằng mặc dù ông gọi chúng là các khối cầu cao hơn, chúng thực ra không ở phía trên nhau mà đúng hơn là ở quanh chúng ta, chỉ là những điều kiện có mật độ khác nhau. |
|
He suggested we should start our expedition from London, so we set off as we had done the last time, and in no time slowed down over what was obviously land; almost at once I recognised the huge city below us as London. The objects we passed on our way were in no way clear; I could just distinguish between land and sea—it was as if we were looking at a moving picture of scenery which was being projected on to a screen at a very quick rate. There was no effort whatsoever in moving and although it took us what seemed to be less than a minute, we did not arrive breathless in any way. |
Ông gợi ý rằng chúng tôi nên bắt đầu chuyến đi từ Luân Đôn, nên chúng tôi lên đường như lần trước, và chỉ trong chốc lát đã chậm lại phía trên một nơi rõ ràng là đất liền; gần như ngay lập tức tôi nhận ra thành phố khổng lồ bên dưới là Luân Đôn. Những vật thể chúng tôi đi qua trên đường hoàn toàn không rõ ràng; tôi chỉ có thể phân biệt giữa đất và biển—như thể chúng tôi đang nhìn một bức phim phong cảnh chuyển động được phóng lên màn ảnh với tốc độ rất nhanh. Việc di chuyển hoàn toàn không cần chút nỗ lực nào và mặc dù dường như chỉ mất chưa đến một phút, chúng tôi cũng không hề đến nơi trong tình trạng hụt hơi. |
|
We dropped down as before in Hyde Park; I was told that this was the best place to land as, although we were going to Piccadilly Circus, to land there could easily cause me to get frightened owing to the terrific traffic and the possibility of my feeling (quite erroneously) that I might get run over. If I were to get frightened in this way, my fear would be transmitted to my physical body on the bed in Colombo, which would immediately endeavour to attract its owner back to it. The fear having caused me in my astral body to return hurriedly to my natural form of consciousness, I should consequently awake with my heart thumping, probably remembering what I would describe as a beastly nightmare—one which need not resemble the actual facts at all—it might be that I had been run over, and the fright caused by such an imaginary happening could result in unruly beating of my heart, as fear generally reacts thus on the physical body. As we came to earth I saw the familiar setting I had so often seen in days gone by. It was a sunny evening and there were many people out walking. Children with their mothers or nurses were playing about as usual, and not far off I could see the constant stream of traffic, cars, taxis and buses that passed down Park Lane towards Piccadilly and Hyde Park Corner. |
Chúng tôi hạ xuống như trước ở Hyde Park; tôi được bảo rằng đây là nơi tốt nhất để đáp xuống vì, mặc dù chúng tôi sẽ đến Piccadilly Circus, nhưng đáp xuống đó có thể dễ khiến tôi sợ hãi do giao thông khủng khiếp và khả năng tôi cảm thấy (hoàn toàn sai lầm) rằng mình có thể bị cán qua. Nếu tôi sợ hãi theo cách ấy, nỗi sợ của tôi sẽ được truyền đến thể xác hồng trần đang nằm trên giường ở Colombo, và nó sẽ lập tức cố kéo chủ nhân của nó trở về. Vì nỗi sợ đã khiến tôi trong thể cảm dục vội trở về hình thức tâm thức tự nhiên của mình, nên hậu quả là tôi sẽ thức dậy với tim đập thình thịch, có lẽ nhớ lại điều mà tôi sẽ mô tả là một cơn ác mộng khủng khiếp—một cơn ác mộng chẳng cần phải giống với sự kiện thực chút nào—có thể là tôi đã bị cán qua, và nỗi kinh hoàng do một biến cố tưởng tượng như vậy gây ra có thể dẫn đến nhịp tim đập hỗn loạn, vì nỗi sợ thường phản ứng như thế lên thể xác. Khi chúng tôi xuống mặt đất, tôi thấy khung cảnh quen thuộc mà tôi đã rất thường thấy trong những ngày đã qua. Đó là một buổi chiều nắng đẹp và có nhiều người đi dạo ngoài trời. Trẻ con cùng mẹ hoặc người giữ trẻ đang chơi đùa như thường lệ, và không xa lắm tôi có thể thấy dòng giao thông liên tục, xe hơi, taxi và xe buýt chạy dọc Park Lane về phía Piccadilly và Hyde Park Corner. |
|
I suggested walking down Oxford Street, and although the pavements were crowded with late shoppers on their way home, and shop assistants just released from their day’s work, we were in no way hindered. As before, I felt the strange gossamer contact, perceptible every time I was forced to pass through a physical body, and it was quite difficult not to apologise. My friend, who did not like crowds, floated about two yards above the heads of passers by; I soon did the same and we came to earth again in Piccadilly Circus. |
Tôi đề nghị đi bộ xuống phố Oxford, và mặc dù vỉa hè đông nghịt những người mua sắm muộn đang trên đường về nhà, cùng các nhân viên cửa hàng vừa tan làm, chúng tôi hoàn toàn không bị cản trở. Như trước, tôi cảm thấy sự tiếp xúc lạ lùng mỏng như tơ nhện, có thể cảm nhận được mỗi khi tôi buộc phải đi xuyên qua một thể xác hồng trần, và thật khá khó để không xin lỗi. Bạn tôi, người không thích đám đông, lơ lửng cách đầu những người qua đường chừng hai thước; tôi chẳng bao lâu cũng làm như vậy và chúng tôi lại hạ xuống đất ở Piccadilly Circus. |
|
“Perhaps you would like to look at the scene of our last trip to London and see if you recognise any of the people in the foyer of the Trocadero?” he said. I agreed, and we strolled in. The lounge was just filling up with people waiting for friends, with waiters flitting hither and thither, taking and executing orders. I saw no one there whom I knew and no sign of either Charles or Roy Chapman; I wondered if the latter had become bored with the perpetual round of meals and drinks that did not have to be paid for, but I did not ask. My friend beckoned to me and I understood that he wished to go upstairs. I followed without question and soon we were in a corridor which had several doors leading off it. He entered one of these rooms, which turned out to be a bedroom, untenanted. We had of course gone through the door, so needed no key. |
“Có lẽ anh muốn nhìn lại nơi xảy ra chuyến đi trước của chúng ta đến Luân Đôn và xem anh có nhận ra ai trong tiền sảnh của Trocadero không?” ông nói. Tôi đồng ý, và chúng tôi thong thả bước vào. Phòng khách vừa bắt đầu đầy người đang chờ bạn bè, với những người bồi bàn thoăn thoắt đi tới đi lui, nhận và thực hiện các yêu cầu. Tôi không thấy ai ở đó mà tôi quen biết và cũng không có dấu hiệu nào của Charles hay Roy Chapman; tôi tự hỏi liệu người sau có chán cái vòng lặp bất tận của những bữa ăn và đồ uống không phải trả tiền hay chưa, nhưng tôi không hỏi. Bạn tôi ra hiệu cho tôi và tôi hiểu rằng ông muốn đi lên lầu. Tôi theo ông không thắc mắc và chẳng bao lâu chúng tôi ở trong một hành lang có nhiều cánh cửa mở ra từ đó. Ông bước vào một trong những căn phòng ấy, hóa ra là một phòng ngủ, không có người ở. Dĩ nhiên chúng tôi đã đi xuyên qua cửa nên không cần chìa khóa. |
|
“Now,” he said, “we had better be on our way. I came to this room so that we could be quiet, for I want you to realise that passing from the lowest sphere to the one less dense than this is quite a simple matter, only requiring an effort of will for it to become immediately effective. I want you to hold my hand and just wish to do what I do. You will not feel anything, but will notice that the scene around you changes gradually. The walls that seem to enclose us in this room will appear to melt, the furniture with which you are surrounded will slowly become vague and misty, and all the time you must let go, so that my will may dominate yours. Whatever happens do not be nervous for, if you panic at all you will very soon wake up in Colombo. Now are you ready?” |
“Bây giờ,” ông nói, “tốt hơn là chúng ta nên tiếp tục lên đường. Tôi đến căn phòng này để chúng ta được yên tĩnh, vì tôi muốn anh nhận ra rằng việc đi từ khối cầu thấp nhất sang khối cầu ít đậm đặc hơn khối cầu này là một việc hết sức đơn giản, chỉ cần một nỗ lực ý chí là lập tức có hiệu quả. Tôi muốn anh nắm tay tôi và chỉ cần mong muốn làm điều tôi làm. Anh sẽ không cảm thấy gì cả, nhưng sẽ nhận thấy cảnh vật quanh anh thay đổi dần dần. Những bức tường dường như đang bao kín chúng ta trong căn phòng này sẽ có vẻ tan chảy, đồ đạc quanh anh sẽ từ từ trở nên mơ hồ và mờ sương, và suốt lúc đó anh phải buông lơi, để ý chí của tôi có thể chi phối ý chí của anh. Dù điều gì xảy ra cũng đừng lo lắng, vì nếu anh hoảng sợ chút nào thì rất nhanh anh sẽ thức dậy ở Colombo. Giờ anh sẵn sàng chưa?” |
|
I replied that I was, and I experienced no fear at all, only interest. I held the hand of my friend firmly and tried my utmost to allow myself to be controlled by his will, and almost immediately the walls of the room became blurred and indistinct; the same applied to the furniture and, in less time than it takes me to record, we were standing in the open air, in a small field, and in the distance there was what looked like a typical English village. |
Tôi đáp là rồi, và tôi hoàn toàn không thấy sợ, chỉ thấy hứng thú. Tôi nắm chặt tay bạn mình và cố hết sức để cho mình được điều khiển bởi ý chí của ông, và gần như ngay lập tức các bức tường của căn phòng trở nên nhòe và không rõ; đồ đạc cũng vậy, và trong thời gian còn ngắn hơn cả lúc tôi ghi lại điều này, chúng tôi đã đứng ngoài trời, trong một cánh đồng nhỏ, và ở phía xa là thứ trông giống như một ngôi làng Anh điển hình. |
|
“Now listen,” he said, “and you will hear very distinctly a distant rumble. That is the roar of London town and it can just be heard because you are only one subplane or sphere away from what is the actual astral counterpart of the physical London you know so well. This is the second sphere of the astral world and you can see already that it is very much less material than the densest part of that world—the part to which you go immediately after death. Let us travel a little and you will see what I mean.” |
“Bây giờ hãy lắng nghe,” ông nói, “và anh sẽ nghe rất rõ một tiếng ầm xa xa. Đó là tiếng gầm của thành phố Luân Đôn và người ta chỉ vừa đủ nghe được vì anh chỉ cách một cõi phụ hay một khối cầu so với đối phần cảm dục thực sự của Luân Đôn hồng trần mà anh biết rất rõ. Đây là khối cầu thứ hai của thế giới cảm dục và anh đã có thể thấy rằng nó ít vật chất hơn rất nhiều so với phần đậm đặc nhất của thế giới ấy—phần mà anh đến ngay sau khi chết. Chúng ta hãy đi một chút và anh sẽ thấy ý tôi muốn nói.” |
|
We started off, again floating gently a yard or so above the ground, till we came to the village which I had seen in the distance. It was very much like an ordinary village, for there were shops, two cinemas, a magnificent hotel which looked much too large for the size of the village and on the outskirts there were at least three buildings which were obviously churches. All around the village, stretching far and wide into the distance, I saw the most beautiful houses. Some were small, others larger, but every one was surrounded by a colourful garden in which flowers of every sort bloomed in profusion. I saw both women and men working in those gardens, but obviously working because it was a pleasure and not because they had to. Dogs of different kinds frisked about the lawns and the voices of children could be heard as we passed by. One difference between these and similar houses in the world was the absence of garages; and I noticed that there were no cars on the streets. It was explained to me that there is no need for transport, for people can get from place to place by much easier methods, as they only have to express in thought the desire to go anywhere, and immediately they float gently from where they are to the destination to which they wish to go. |
Chúng tôi bắt đầu lên đường, lại nhẹ nhàng lơ lửng cách mặt đất chừng một thước, cho đến khi đến ngôi làng mà tôi đã thấy ở phía xa. Nó rất giống một ngôi làng bình thường, vì có các cửa hàng, hai rạp chiếu phim, một khách sạn tráng lệ trông quá lớn so với quy mô ngôi làng và ở vùng ven có ít nhất ba tòa nhà rõ ràng là nhà thờ. Chung quanh làng, trải rộng rất xa về phía chân trời, tôi thấy những ngôi nhà đẹp nhất. Có ngôi nhỏ, có ngôi lớn hơn, nhưng mỗi ngôi đều được bao quanh bởi một khu vườn đầy màu sắc, nơi đủ loại hoa nở rộ. Tôi thấy cả phụ nữ lẫn đàn ông làm việc trong những khu vườn ấy, nhưng rõ ràng là làm vì niềm vui chứ không phải vì họ buộc phải làm. Những con chó đủ loại nô đùa trên các bãi cỏ và tiếng trẻ con có thể nghe thấy khi chúng tôi đi ngang qua. Một điểm khác biệt giữa những ngôi nhà này và những ngôi nhà tương tự trong thế giới là không có ga-ra; và tôi nhận thấy trên đường phố không có xe hơi. Tôi được giải thích rằng ở đây không cần phương tiện giao thông, vì con người có thể đi từ nơi này sang nơi khác bằng những cách dễ dàng hơn nhiều, bởi họ chỉ cần biểu lộ trong tư tưởng mong muốn đi đến bất cứ đâu, và lập tức họ nhẹ nhàng trôi từ nơi mình đang ở đến nơi mình muốn đến. |
|
I asked why there were shops when money was not needed. I was told that the people who find their happiness at this level like to live a life as near as possible to what they had always imagined as ideal when alive. |
Tôi hỏi tại sao lại có cửa hàng khi không cần tiền. Tôi được bảo rằng những người tìm thấy hạnh phúc của mình ở cấp độ này thích sống một đời sống gần nhất có thể với điều mà khi còn sống họ vẫn luôn tưởng tượng là lý tưởng. |
|
“Some spend money,” my guide said, “they create it by their own imagination and they buy food which they prepare and even eat all in imagination—because that is what they wish.” |
“Một số người tiêu tiền,” người hướng dẫn của tôi nói, “họ tạo ra nó bằng chính sự tưởng tượng của mình và họ mua thức ăn mà họ chuẩn bị và thậm chí ăn hoàn toàn trong tưởng tượng—bởi vì đó là điều họ muốn.” |
|
“But surely,” I asked, “it is quite unnecessary to have shops when a thought would be sufficient to produce in one’s home what one wanted?” |
“Nhưng chắc hẳn,” tôi hỏi, “hoàn toàn không cần phải có cửa hàng khi chỉ một ý nghĩ cũng đủ tạo ra trong nhà mình điều mình muốn?” |
|
“These shops,” he replied, “have their origin in the minds of the inhabitants and none of them exists in the world, nor do the people who serve in them. Once the residents here think a thing, it becomes a fact in this world of illusion. These shops are all figments of the imagination, together with the things that are sold therein, but so long as the people want to have shops near to them, they have them, for they imagine them.” |
“Những cửa hàng này,” ông đáp, “có nguồn gốc trong trí tuệ của cư dân nơi đây và không một cái nào trong số chúng tồn tại trong thế giới, cũng như những người phục vụ trong đó. Một khi cư dân ở đây nghĩ ra một điều gì, nó trở thành một sự kiện trong thế giới ảo tưởng này. Những cửa hàng này đều là sản phẩm của sự tưởng tượng, cùng với những thứ được bán trong đó, nhưng chừng nào con người còn muốn có cửa hàng ở gần mình thì họ sẽ có chúng, vì họ tưởng tượng ra chúng.” |
|
He continued: “It is the same with churches. People like to continue their religious practices, even though after death they may have found that many of the statements made by their priests and pastors had not been entirely correct. The permanent inhabitants build these churches and ex-priests and ex-ministers of religion carry on their old vocations, drawing round them followers, just as they did in the life that has ended. Cinemas too are very popular, but whilst there is unending variety on the first sphere, it is not quite the same on the second sphere. Here, cinemas are not the astral counterparts of such places in the world, but are the creations, in thought, of the permanent inhabitants. |
Ông tiếp tục: “Nhà thờ cũng vậy. Con người thích tiếp tục các thực hành tôn giáo của mình, dù sau khi chết họ có thể đã phát hiện rằng nhiều điều do các linh mục và mục sư của họ nói ra không hoàn toàn đúng. Những cư dân thường trú xây nên các nhà thờ này và các cựu linh mục cùng cựu giáo sĩ tiếp tục nghề cũ của mình, quy tụ quanh họ những tín đồ, đúng như họ đã làm trong đời sống đã chấm dứt. Rạp chiếu phim cũng rất được ưa chuộng, nhưng trong khi ở khối cầu thứ nhất có sự đa dạng vô tận, thì ở khối cầu thứ hai lại không hoàn toàn như vậy. Ở đây, các rạp chiếu phim không phải là các đối phần cảm dục của những nơi như thế trong thế giới, mà là những sáng tạo trong tư tưởng của các cư dân thường trú. |
|
There are always ex-producers of films, or amateur producers, who create new films in their imagination, and their thought-forms are produced on the screen for all to see. These shows are in many ways better than those we see in the world and those which astral inhabitants see on the first sphere for, under astral conditions, producers can allow their imagination to run riot. There is no need to consider the cost of production here. Theatres are also popular at this level. Those who are interested in amateur theatricals as well as ex-actors and actresses produce one play after another for the benefit of their friends and acquaintances and they are able to do so quite easily, as there is no difficulty in obtaining the correct costumes, scenery or an orchestra as these things are just created in their imagination and cost nothing. |
“Luôn luôn có những cựu nhà sản xuất phim, hoặc những nhà sản xuất nghiệp dư, tạo ra các bộ phim mới trong sự tưởng tượng của họ, và các hình tư tưởng của họ được trình chiếu trên màn ảnh cho mọi người xem. Những buổi chiếu này về nhiều mặt còn hay hơn những gì chúng ta thấy trong thế giới và những gì cư dân cảm dục thấy ở khối cầu thứ nhất, vì trong các điều kiện cảm dục, các nhà sản xuất có thể để cho sự tưởng tượng của mình tung hoành. Ở đây không cần phải cân nhắc chi phí sản xuất. Nhà hát cũng được ưa chuộng ở cấp độ này. Những người quan tâm đến sân khấu nghiệp dư cũng như các cựu diễn viên nam nữ trình diễn hết vở này đến vở khác vì lợi ích của bạn bè và người quen của họ, và họ có thể làm điều đó khá dễ dàng, vì không có khó khăn gì trong việc có được trang phục đúng, cảnh trí đúng hay cả một dàn nhạc, bởi những thứ ấy chỉ được tạo ra trong sự tưởng tượng của họ và không tốn gì cả. |
|
“Some people still wish to live in hotels. Probably they are the people who have always thought it would be wonderful to live in one of the big hotels that were far too expensive for them in the world; now they can live in such hotels. That is why this hotel looks so very large compared with the size of the village. Such an hotel could not exist in an ordinary village in the world, but here it does not need to make a profit. People live in the hotel and have all the service and attention they want merely by imagining it, so they are happy—for a time.” |
“Một số người vẫn muốn sống trong khách sạn. Có lẽ họ là những người luôn nghĩ rằng sẽ thật tuyệt nếu được sống trong một trong những khách sạn lớn vốn quá đắt đỏ đối với họ trong thế giới; giờ đây họ có thể sống trong những khách sạn như thế. Đó là lý do khách sạn này trông lớn đến vậy so với quy mô ngôi làng. Một khách sạn như thế không thể tồn tại trong một ngôi làng bình thường ở thế giới, nhưng ở đây nó không cần phải sinh lợi. Con người sống trong khách sạn và có mọi sự phục vụ và chăm sóc họ muốn chỉ bằng cách tưởng tượng ra nó, nên họ hạnh phúc—trong một thời gian.” |
|
“But surely all this becomes very boring after a time?” I asked. |
“Nhưng chắc hẳn tất cả điều này sau một thời gian sẽ trở nên rất nhàm chán?” tôi hỏi. |
|
“Yes, it does,” he said, “then the people look for something more satisfying in life, as you will see, for when their particular desire is no more they are able to change to something else, and get what they want. Many people are perfectly happy with this arcadian existence, particularly those who have had rather a hard time during their earth life—such people often spend ninety per cent of their astral existence under these conditions where they have the friends, pets, beautiful houses and gardens which satisfy them, and only pass on to the mental world when they are more or less forced to do so by the urge of their egos, who wish to progress along the Path of Evolution.” |
“Đúng vậy,” ông nói, “rồi con người tìm kiếm điều gì đó thỏa mãn hơn trong đời sống, như anh sẽ thấy, vì khi ham muốn riêng của họ không còn nữa, họ có thể đổi sang điều khác, và có được điều họ muốn. Nhiều người hoàn toàn hạnh phúc với sự tồn tại kiểu đồng quê thanh bình này, đặc biệt là những người đã có một đời sống trần thế khá vất vả—những người như thế thường trải qua chín mươi phần trăm sự tồn tại cảm dục của họ trong các điều kiện này, nơi họ có bạn bè, thú cưng, những ngôi nhà đẹp và khu vườn đẹp làm họ thỏa mãn, và chỉ chuyển sang thế giới trí tuệ khi ít nhiều bị thôi thúc phải làm như vậy bởi xung lực của các chân ngã của họ, những chân ngã muốn tiến bước trên Con Đường tiến hoá.” |
|
My guide now told me to hold his hand again and join with him in willing to pass from this second sphere to the third. I did as I was told; at once the scene that surrounded us started to dim and gradually gave place to a new one. Our surroundings were now quite different, for we were standing in an open space, surrounded by what appeared to be dozens of small woods or coppices. If you can imagine a gigantic park with trees everywhere, with glades and dells intermingled with the clumps of trees, it will help you to visualise the scenery. There is nothing quite like it in our world, but I should imagine that from above it would appear as if one were over a gigantic Sherwood Forest. In many cases the open spaces were several square acres in extent, varying from a glade measuring perhaps three acres to open spaces covering what I would estimate to be a fifty-acre field. All these glades were very picturesque, as everywhere there were flowering shrubs, while daffodils and forget-me-nots bloomed in profusion in the green grass. There were no houses to be seen at first, but later I saw odd houses, very large ones too, resembling the huge Halls or Manor Houses that one finds in England and which in the old days were inhabited by the rich aristocrats or squires of the county in which they were found. |
Người hướng dẫn của tôi lúc này bảo tôi lại nắm tay ông và cùng ông nhất tâm muốn đi từ khối cầu thứ hai sang khối cầu thứ ba. Tôi làm theo lời ông; lập tức cảnh vật quanh chúng tôi bắt đầu mờ đi và dần nhường chỗ cho một cảnh mới. Chung quanh chúng tôi giờ hoàn toàn khác, vì chúng tôi đang đứng trong một khoảng trống, được bao quanh bởi những gì trông như hàng chục khu rừng nhỏ hay lùm cây. Nếu anh có thể hình dung một công viên khổng lồ với cây cối khắp nơi, với những khoảng trống và thung lũng nhỏ xen lẫn các cụm cây, điều đó sẽ giúp anh hình dung phong cảnh này. Không có gì hoàn toàn giống nó trong thế giới của chúng ta, nhưng tôi tưởng tượng rằng nhìn từ trên cao nó sẽ giống như đang ở trên một khu rừng Sherwood khổng lồ. Trong nhiều trường hợp, các khoảng trống rộng đến vài mẫu vuông, thay đổi từ một khoảng trống chừng ba mẫu đến những khoảng đất trống mà tôi ước lượng rộng bằng một cánh đồng năm mươi mẫu. Tất cả những khoảng trống này đều rất nên thơ, vì khắp nơi đều có những bụi hoa đang nở, trong khi hoa thủy tiên vàng và hoa lưu ly nở rộ trên thảm cỏ xanh. Lúc đầu không thấy nhà cửa nào, nhưng sau đó tôi thấy lác đác vài ngôi nhà, lại còn rất lớn, giống những Đại Sảnh hay Trang Viên khổng lồ mà người ta thấy ở Anh và ngày xưa là nơi ở của các quý tộc giàu có hay các địa chủ trong vùng. |
|
We glided along and I saw that in many of these open spaces groups were congregated. We approached one of these groups and found that there were perhaps a hundred people watching an artist painting a picture on a canvas that measured about fifty by thirty feet. They were obviously enthralled by what they were watching for no one took any notice of us as we joined the group. The artist was not using brushes, but he had in his hand a long stick resembling a fishing rod and as he pointed the stick at different parts of the canvas, a picture appeared, first in rough outline then later in detail. As he painted, the artist spoke from time to time, explaining what he was creating. He made quite clear the impression that he wished those watching to have and on one occasion, he rubbed out part of the painting—I cannot use any other word for, as he pointed the stick, a portion of the picture was erased—and explained that his previous thought-form had not been sufficiently detailed to get the effect he wanted. Again he seemed to concentrate, the rod moved up, down and across; a new detail which blended in with the rest of the painting immediately took form, and the second attempt at once emphasised the point he had made a minute or so before. I could not understand much of what the painter was talking about for it was couched in technical terms only comprehensible to a brother artist. I was told that the artist was one of the great painters of the past. My guide stated that an artist would paint because the urge which made him do so, when in the world, continues after death. He does not have to use brushes and paint at this level, because he is able to express himself in colour merely by projecting the thought. The fluidic astral matter answers to the thought-form and the picture appears, as if by magic, as the thought develops. Although the canvas was huge compared with the pictures we have in our galleries in the world, it was in no way cumbersome to create a picture of that size at the astral level, when merely by concentrating on a particular part of the canvas, the picture within the mind of the artist came to life. I cannot describe the glorious colours of which that picture was composed, for we have no words to describe the many in-between colours that were used. When I mention that I saw at least thirty different shades of a colour, which if I described any of them I would have to call “red,” you will realise how impossible it is to give anything but a very incomplete description of what I saw quite clearly. My guide explained that many of the great painters of the past who were still at the astral level, lived in this sphere and that they spent their lives creating, in the form of pictures, the ideas with which their minds were filled. At the same time, the artists taught any, who cared to watch and listen to them, the methods adopted in making pictures. I was told that it took only a few hours to create one of those huge pictures and it often happened that the artist, having finished one, started at once to create another. |
Chúng tôi lướt đi và tôi thấy rằng trong nhiều khoảng trống ấy có các nhóm người đang tụ tập. Chúng tôi đến gần một nhóm như vậy và thấy có lẽ khoảng một trăm người đang xem một họa sĩ vẽ một bức tranh trên tấm toan rộng chừng năm mươi nhân ba mươi bộ. Rõ ràng họ bị cuốn hút bởi điều họ đang xem vì không ai để ý đến chúng tôi khi chúng tôi nhập vào nhóm. Họa sĩ không dùng cọ, mà cầm trong tay một cây gậy dài giống cần câu, và khi ông chĩa cây gậy vào những phần khác nhau của tấm toan, một bức tranh hiện ra, trước hết là những nét phác thô rồi sau đó là chi tiết. Trong khi vẽ, thỉnh thoảng họa sĩ lại nói, giải thích điều ông đang sáng tạo. Ông làm cho người xem hoàn toàn rõ ấn tượng mà ông muốn họ có, và có một lần ông xóa đi một phần bức tranh—tôi không thể dùng từ nào khác vì khi ông chĩa cây gậy, một phần bức tranh bị xóa mất—và giải thích rằng hình tư tưởng trước đó của ông chưa đủ chi tiết để tạo ra hiệu quả ông muốn. Ông lại dường như tập trung, cây gậy di chuyển lên, xuống và ngang; một chi tiết mới hòa hợp với phần còn lại của bức tranh lập tức thành hình, và lần thử thứ hai ngay lập tức nhấn mạnh điểm ông đã nêu ra chừng một phút trước. Tôi không thể hiểu nhiều điều người họa sĩ đang nói vì nó được diễn đạt bằng những thuật ngữ kỹ thuật chỉ một họa sĩ đồng môn mới hiểu được. Tôi được bảo rằng người họa sĩ ấy là một trong những danh họa vĩ đại của quá khứ. Người hướng dẫn của tôi nói rằng một họa sĩ sẽ vẽ vì thôi thúc khiến ông làm như vậy khi còn ở thế giới vẫn tiếp tục sau khi chết. Ở cấp độ này ông không cần dùng cọ và sơn, vì ông có thể biểu lộ chính mình bằng màu sắc chỉ bằng cách phóng chiếu tư tưởng. Chất liệu cảm dục linh động đáp ứng với hình tư tưởng và bức tranh hiện ra, như thể bằng huyền thuật, khi tư tưởng phát triển. Mặc dù tấm toan rất lớn so với những bức tranh chúng ta có trong các phòng tranh ở thế giới, việc tạo ra một bức tranh cỡ ấy ở cấp độ cảm dục hoàn toàn không cồng kềnh chút nào, khi chỉ bằng cách tập trung vào một phần nhất định của tấm toan, bức tranh trong trí tuệ của người họa sĩ đã sống dậy. Tôi không thể mô tả những màu sắc huy hoàng cấu thành bức tranh ấy, vì chúng ta không có từ ngữ để mô tả vô số màu trung gian đã được dùng. Khi tôi nói rằng tôi đã thấy ít nhất ba mươi sắc độ khác nhau của một màu mà nếu phải mô tả bất kỳ sắc độ nào trong số đó tôi cũng sẽ phải gọi là “đỏ”, anh sẽ hiểu việc chỉ có thể đưa ra một mô tả rất không đầy đủ về điều tôi đã thấy rõ đến mức nào. Người hướng dẫn của tôi giải thích rằng nhiều danh họa vĩ đại của quá khứ vẫn còn ở cấp độ cảm dục sống trong khối cầu này và họ dành đời mình để sáng tạo, dưới hình thức tranh ảnh, những ý tưởng mà trí tuệ họ chứa đầy. Đồng thời, các họa sĩ dạy cho bất kỳ ai muốn xem và nghe họ những phương pháp được dùng để tạo nên tranh. Tôi được bảo rằng chỉ mất vài giờ để tạo ra một trong những bức tranh khổng lồ ấy và thường xảy ra việc người họa sĩ vừa hoàn thành một bức là lập tức bắt đầu sáng tạo bức khác. |
|
“But does the first one fade, once the artist has withdrawn his attention from the canvas?” I asked. |
“Nhưng bức đầu tiên có mờ đi không, một khi người họa sĩ đã rút sự chú ý của mình khỏi tấm toan?” tôi hỏi. |
|
“No,” replied my friend, “it remains just as you see it now, so long as anyone is looking at it. You see, once a picture is created in astral matter, that picture remains static for anyone to see, so long as a single thought is concentrated on it. When all thought is withdrawn from it, then it gradually disintegrates into the main astral atmosphere and is lost forever, or until a new thought creates it again as a new picture.” |
“Không,” bạn tôi đáp, “nó vẫn y như anh thấy bây giờ, chừng nào còn có ai đó đang nhìn nó. Anh thấy đấy, một khi một bức tranh đã được tạo ra trong chất liệu cảm dục, bức tranh ấy vẫn đứng yên cho bất cứ ai nhìn thấy, chừng nào còn có một tư tưởng duy nhất tập trung vào nó. Khi mọi tư tưởng đều rút khỏi nó, thì nó dần dần tan rã vào bầu khí quyển cảm dục chung và mất đi mãi mãi, hoặc cho đến khi một tư tưởng mới lại tạo ra nó như một bức tranh mới.” |
|
I watched until the picture was finished, fascinated by the skill of the creator and the results achieved. When the artist had moved away and was talking to some of the crowd who had been sitting round watching him, I saw that several of the other watchers, obviously students of art, started to create something similar for themselves, taking the master picture (if I may call it that) as their pattern. I still watched and saw immediately the tremendous difference between their efforts and those of the great painter. It was explained to me that the reason for such a great difference was the lack of knowledge of the student compared with the knowledge of the master. The students were unable to express in clear thought what they wanted to appear on the canvas, so the results were decidedly amateurish. Obviously the canvas would only exhibit what they were able to express in thought, and I saw very clearly why that was so. Even in the picture galleries of this world, if one looks at a picture it often happens that one is able to feel something of what the artist has endeavoured to express. Such feeling is emphasised a thousand times at the astral level, and looking at the great painting I knew without any shadow of doubt what this artist wished to express in colour and form. |
Tôi quan sát cho đến khi bức tranh hoàn thành, bị cuốn hút bởi kỹ năng của người sáng tạo và những kết quả đạt được. Khi người họa sĩ bước đi và đang nói chuyện với vài người trong đám đông đã ngồi quanh xem ông, tôi thấy rằng một số người xem khác, rõ ràng là các học viên mỹ thuật, bắt đầu tự tạo ra một cái gì đó tương tự cho chính mình, lấy bức tranh của bậc thầy (nếu tôi có thể gọi như vậy) làm mô hình. Tôi vẫn tiếp tục quan sát và lập tức thấy sự khác biệt to lớn giữa nỗ lực của họ và của vị danh họa. Tôi được giải thích rằng lý do của sự khác biệt lớn như vậy là sự thiếu tri thức của học viên so với tri thức của bậc thầy. Các học viên không thể biểu đạt bằng tư tưởng rõ ràng điều họ muốn hiện ra trên tấm toan, nên kết quả rõ ràng là rất nghiệp dư. Hiển nhiên tấm toan chỉ có thể biểu lộ điều họ có thể diễn đạt trong tư tưởng, và tôi thấy rất rõ vì sao lại như vậy. Ngay cả trong các phòng tranh của thế giới này, nếu người ta nhìn một bức tranh thì thường xảy ra việc người ta có thể cảm nhận được phần nào điều mà người họa sĩ đã cố biểu đạt. Cảm nhận ấy được nhấn mạnh lên gấp ngàn lần ở cấp độ cảm dục, và khi nhìn bức tranh lớn ấy tôi biết không chút nghi ngờ nào điều mà người họa sĩ này muốn biểu đạt bằng màu sắc và hình tướng. |
|
We moved off and saw many groups surrounding individuals doing similar work, but as the country was slightly undulating, it was practically impossible to see any two of them at one time. In one of the valleys where a slowly moving stream trickled along, there was a group seated on its bank, seemingly doing nothing. As we approached, however, I realised that this group was not watching a creative artist, but was producing sounds resembling a beautiful symphony played by one of our world famous orchestras. I did not hear anything until we got quite close to the group; then I found that the surrounding air was filled with the most beautiful music I had ever heard. In the centre of the group was a man whose face seemed familiar to me, yet I knew that I had never met him in real life. I asked my guide who he was and he whispered: “That is the celebrated Johann Strauss.” At that moment he was demonstrating how the sound of trickling water can be expressed in music. I remembered that it was Strauss who had composed the “Blue Danube” and this music seemed to have much of the lilt found in that hackneyed but beautiful waltz. It was even more beautiful still, I should say. |
Chúng tôi đi tiếp và thấy nhiều nhóm vây quanh những cá nhân đang làm công việc tương tự, nhưng vì địa hình hơi gợn sóng nên hầu như không thể nhìn thấy hai nhóm cùng một lúc. Trong một thung lũng nơi một con suối chảy chậm róc rách, có một nhóm ngồi trên bờ dường như chẳng làm gì cả. Tuy nhiên khi chúng tôi đến gần, tôi nhận ra rằng nhóm này không xem một nghệ sĩ sáng tạo, mà đang tạo ra những âm thanh giống như một bản giao hưởng tuyệt đẹp do một trong những dàn nhạc nổi tiếng thế giới của chúng ta trình diễn. Tôi không nghe thấy gì cho đến khi chúng tôi đến khá gần nhóm; rồi tôi thấy không khí chung quanh tràn ngập thứ âm nhạc đẹp nhất mà tôi từng nghe. Ở trung tâm nhóm là một người đàn ông có khuôn mặt dường như quen thuộc với tôi, nhưng tôi biết rằng mình chưa bao giờ gặp ông ngoài đời thực. Tôi hỏi người hướng dẫn của mình ông ấy là ai và ông thì thầm: “Đó là Johann Strauss lừng danh.” Đúng lúc ấy ông đang trình bày cách âm thanh của nước chảy róc rách có thể được biểu đạt trong âm nhạc. Tôi nhớ rằng chính Strauss đã sáng tác bản “Blue Danube” và âm nhạc này dường như mang nhiều nhịp lướt của bản valse quen thuộc nhưng đẹp đẽ ấy. Tôi phải nói rằng nó còn đẹp hơn nữa. |
|
Whilst I stood enthralled, I saw on the opposite bank of the stream what appeared to be ethereal figures, who in some way were part of the symphonic poem that I heard. My friend told me to look at these new people for: “These are members of that parallel evolution I have told you about, the deva kingdom,” he said. |
Trong khi tôi đứng say mê, tôi thấy ở bờ đối diện con suối những hình thể dường như dĩ thái, bằng cách nào đó là một phần của bài thơ giao hưởng mà tôi đang nghe. Bạn tôi bảo tôi nhìn những người mới này vì: “Đây là những thành viên của đường tiến hoá song song mà tôi đã nói với anh, giới thiên thần,” ông nói. |
|
“But what are they doing?” I asked. “And why do they look different from the crowds that are on our side of the stream?” |
“Nhưng họ đang làm gì?” tôi hỏi. “Và tại sao họ trông khác với đám đông ở phía bờ bên này của chúng ta?” |
|
It was explained that they looked different because they were indeed different. They are more ethereal, because, being part of a different evolution, their bodies are different and, although made of astral matter, are at the same time less concrete than our astral bodies. I was told that these were some of the music devas, those beings who live and express themselves through sound, and that they were helping the composer who was seated on our side of the stream, to express himself as he wished to do. Just how they helped I cannot say for they never spoke, but seemed to concentrate on the creator of the music and, through their thoughts, enabled him to express in more and more detail what he endeavoured to create in sound. Volume of sound was there and every note clearly heard, but I found that when we passed from the group to a distance of perhaps fifty yards, nothing was to be heard at all. |
Tôi được giải thích rằng họ trông khác vì quả thật họ khác. Họ dĩ thái hơn, vì là một phần của một đường tiến hoá khác, các thể của họ khác và, mặc dù được tạo bằng chất liệu cảm dục, đồng thời lại ít cụ thể hơn các thể cảm dục của chúng ta. Tôi được bảo rằng đây là một số thiên thần âm nhạc, những hữu thể sống và biểu lộ chính mình qua âm thanh, và rằng họ đang giúp nhà soạn nhạc ngồi ở phía bờ bên này của chúng tôi biểu đạt chính mình như ông muốn. Họ giúp như thế nào thì tôi không thể nói, vì họ không bao giờ nói, mà dường như tập trung vào người sáng tạo âm nhạc và, qua tư tưởng của họ, giúp ông biểu đạt ngày càng chi tiết hơn điều ông cố tạo ra trong âm thanh. Âm lượng âm thanh thì có đó và từng nốt đều nghe rõ, nhưng tôi thấy rằng khi chúng tôi rời nhóm ra xa chừng năm mươi thước thì hoàn toàn không còn nghe thấy gì nữa. |
|
It is difficult to describe these members of the deva kingdom in words that are understandable. Their forms were beautiful, but as they moved they seemed to vaporise, when they became still again they were once more quite definite in shape. I think I can describe it best by saying that the bodies seemed to be made of mist, which only held together in a concrete way when the individuals remained more or less still. We went over to the opposite bank, but as we approached these people they seemed to glide away, rather like shy animals. They had no fear of us, but did not invite contact at all and I felt that if we approached them with the intent to communicate with them (how that would be done I had no idea then) they would have vanished into thin air. My Indian friend said that this impression was in a way fairly accurate. |
Thật khó mô tả những thành viên này của giới thiên thần bằng những lời có thể hiểu được. Hình thể của họ đẹp, nhưng khi họ di chuyển họ dường như hóa thành hơi, còn khi họ đứng yên trở lại thì hình dáng lại khá rõ rệt. Tôi nghĩ có thể mô tả hay nhất bằng cách nói rằng các thể ấy dường như được làm bằng sương mù, chỉ kết lại một cách cụ thể khi các cá nhân đứng tương đối yên. Chúng tôi đi sang bờ đối diện, nhưng khi đến gần những người này họ dường như lướt đi, khá giống những con vật nhút nhát. Họ không sợ chúng tôi, nhưng hoàn toàn không mời gọi sự tiếp xúc và tôi cảm thấy rằng nếu chúng tôi đến gần họ với ý định giao tiếp với họ (lúc ấy tôi không hề biết điều đó sẽ được thực hiện ra sao) thì họ sẽ tan biến vào không khí loãng. Người bạn Ấn Độ của tôi nói rằng ấn tượng ấy theo một cách nào đó là khá chính xác. |
|
On my guide beckoning me to follow him, we moved on. Soon I saw that he was making for one of the large buildings, which I had taken to be a huge Manor House. As we drew nearer I saw that the arch-itecture was very beautiful indeed and deep French windows overlooked the surrounding countryside. Spacious lawns gradually sloped away from the house, which was situated on the top of a rise. Flowers and flowering shrubs bloomed on all sides and in the distance, perhaps ten miles away; the sea could be seen if one looked carefully. It was a delightful spot; I wondered who lived here and for what purpose. We came down to earth on the terrace and entered the wide doors that led into a spacious hall, furnished as I would have expected it to be, but with one remarkable difference—that in the hall there were actually small trees and plants, principally roses I noticed, blooming indoors with the roots growing through the floor. There was no artificiality in this—in fact one felt one was in an indoor garden and the result to the eye was very pleasing indeed. |
Khi người hướng dẫn ra hiệu cho tôi theo ông, chúng tôi đi tiếp. Chẳng bao lâu tôi thấy ông đang hướng đến một trong những tòa nhà lớn mà tôi đã tưởng là một Trang Viên khổng lồ. Khi đến gần hơn tôi thấy kiến trúc thật sự rất đẹp và những cửa sổ kiểu Pháp sâu nhìn ra vùng quê chung quanh. Những bãi cỏ rộng rãi thoai thoải trải ra từ ngôi nhà, vốn nằm trên đỉnh một gò cao. Hoa và bụi hoa nở khắp mọi phía và ở phía xa, có lẽ cách mười dặm, có thể thấy biển nếu nhìn kỹ. Đó là một nơi thật thú vị; tôi tự hỏi ai sống ở đây và vì mục đích gì. Chúng tôi hạ xuống mặt đất trên sân hiên và bước vào những cánh cửa rộng dẫn vào một đại sảnh rộng rãi, được bài trí đúng như tôi chờ đợi, nhưng có một điểm khác thường đáng chú ý—rằng trong đại sảnh thực sự có những cây nhỏ và cây cảnh, chủ yếu là hoa hồng tôi nhận thấy, đang nở trong nhà với rễ mọc xuyên qua sàn. Điều này không hề giả tạo—thật ra người ta có cảm giác như đang ở trong một khu vườn trong nhà và hiệu quả đối với mắt quả thật rất dễ chịu. |
|
No one seemed to be about and there were no sounds of occupation, but my guide immediately led me to one of the doors that opened from the hall and as the door opened sounds of music met my ear. There was only one occupant of the room, and he was playing a grand piano in a way which showed that he was no mean exponent of the art. He took no notice of us but continued to play and we listened, fascinated by the power of the musician over his instrument. There were a few very inviting easy chairs in which we sat down, and perhaps for a quarter of an hour the playing continued. As time passed, I seemed to recognise a similarity in this music to the Chopin Preludes, and in a whisper to my friend I asked who the musician was. |
Dường như không có ai quanh đó và cũng không có âm thanh của sự sinh hoạt, nhưng người hướng dẫn của tôi lập tức dẫn tôi đến một trong những cánh cửa mở ra từ đại sảnh và khi cánh cửa mở ra, âm thanh của âm nhạc chạm vào tai tôi. Trong phòng chỉ có một người, và ông đang chơi một cây đại dương cầm theo cách cho thấy ông không phải là một nghệ sĩ tầm thường. Ông không để ý gì đến chúng tôi mà tiếp tục chơi và chúng tôi lắng nghe, bị cuốn hút bởi quyền năng của nhạc sĩ đối với nhạc cụ của mình. Có vài chiếc ghế bành rất mời gọi và chúng tôi ngồi xuống, và có lẽ trong khoảng mười lăm phút tiếng đàn vẫn tiếp tục. Khi thời gian trôi qua, tôi dường như nhận ra một nét tương đồng trong âm nhạc này với những bản Prelude của Chopin, và tôi thì thầm hỏi bạn mình người nhạc sĩ ấy là ai. |
|
“Do not you recognise him?” he replied. “That is the famous Chopin, who is still expressing his great soul through the medium of sound, in exactly the same way as he used to do when he was alive. You will notice, though, that he does not look delicate here, for when he was in the world, he suffered much and for a great part of his lifetime he was not a fit man. Now all that is changed; here fatigue cannot trouble him and he produces more and more beautiful music. At times, he allows other musicians to hear. At this level there are concerts all the time, thus there is never any difficulty in attending these functions, if you are really interested and are able to appreciate the beauty in nature that the musician is endeavouring to express in sound.” |
“Anh không nhận ra ông ấy sao?” ông đáp. “Đó là Chopin nổi tiếng, người vẫn đang biểu đạt linh hồn vĩ đại của mình qua môi trường âm thanh, đúng y như ông từng làm khi còn sống. Tuy nhiên anh sẽ nhận thấy rằng ở đây ông không có vẻ yếu ớt, vì khi còn ở thế giới, ông đã chịu nhiều đau khổ và trong phần lớn cuộc đời ông không phải là một người khỏe mạnh. Giờ đây tất cả điều đó đã thay đổi; ở đây mệt mỏi không thể làm phiền ông và ông tạo ra ngày càng nhiều âm nhạc đẹp hơn. Đôi khi ông cho phép các nhạc sĩ khác đến nghe. Ở cấp độ này luôn luôn có các buổi hòa nhạc, vì thế không bao giờ khó khăn trong việc tham dự những sinh hoạt ấy, nếu anh thật sự quan tâm và có thể cảm nhận vẻ đẹp trong thiên nhiên mà người nhạc sĩ đang cố biểu đạt bằng âm thanh.” |
|
I looked at the performer more closely and found that I was unable to recognise any resemblance to likenesses of the great musician which I had seen, but my memory of these was vague and probably I had not studied them very carefully. He stopped playing after a time and turned round to us, in no way perturbed or annoyed by our presence. He assumed that we were music lovers, so explained to us what he had been trying to express and although he used some technical terms, I was fascinated by what he said. He emphasised that in his opinion every sound was a description of either colour or movement. Progressions and blending of chords were sound pictures of beautiful gardens, and where cadenzas appeared one should immediately “feel” the presence of a slowly moving stream, perhaps between two perfectly laid out gardens, and try to see the picture that the musician was endeavouring to express. I, who considered myself musical, at once realised how little I knew of the true art, and resolved that after death I would be one of those people who took up the study of music in a big way. It is unfortunate that, in the world, these masters of music are in most cases entirely outside the scope and opportunity of the average man who has to earn a living. |
Tôi nhìn người biểu diễn kỹ hơn và thấy rằng mình không thể nhận ra nét giống nào với những chân dung của vị nhạc sĩ vĩ đại mà tôi từng thấy, nhưng ký ức của tôi về chúng khá mơ hồ và có lẽ tôi đã không quan sát chúng thật cẩn thận. Sau một lúc ông ngừng chơi và quay lại phía chúng tôi, hoàn toàn không bối rối hay khó chịu vì sự hiện diện của chúng tôi. Ông cho rằng chúng tôi là những người yêu nhạc, nên giải thích cho chúng tôi điều ông đã cố biểu đạt và mặc dù ông dùng vài thuật ngữ kỹ thuật, tôi vẫn bị cuốn hút bởi điều ông nói. Ông nhấn mạnh rằng theo ý kiến của ông, mọi âm thanh đều là một sự mô tả hoặc màu sắc hoặc chuyển động. Những tiến trình và sự hòa trộn của các hợp âm là những bức tranh âm thanh về những khu vườn đẹp, và nơi nào có những đoạn cadenza xuất hiện thì người ta phải lập tức “cảm thấy” sự hiện diện của một con suối chảy chậm, có lẽ giữa hai khu vườn được bố trí hoàn hảo, và cố nhìn thấy bức tranh mà người nhạc sĩ đang cố biểu đạt. Tôi, người vẫn tự cho mình là có năng khiếu âm nhạc, lập tức nhận ra mình biết quá ít về nghệ thuật chân chính, và quyết tâm rằng sau khi chết tôi sẽ là một trong những người theo đuổi việc học âm nhạc một cách lớn lao. Thật đáng tiếc là trong thế giới, những bậc thầy âm nhạc này trong hầu hết các trường hợp hoàn toàn nằm ngoài tầm với và cơ hội của người bình thường phải kiếm sống. |
|
We left as we had come, without any official leave taking and, as we withdrew, Chopin turned towards his piano and recommenced to play. As we closed the door, we were again in the passage; no sound whatever came through the door. There was only the sound of birds, many of which in diverse colours flitted about, not only in the garden, but indoors also. My friend told me that this huge place was one of the great art schools which exist at this level of the astral world, and that hundreds of the permanent inhabitants of this world spend most of their time learning something of the art in which they are particularly interested. I was told that tuition was always available for all the great masters are willing to teach those who are anxious to learn, and that the opportunity is there at all times for there is no night or day and fatigue does not enter into one’s calculations. |
Chúng tôi rời đi như lúc đến, không có một lời từ biệt chính thức nào, và khi chúng tôi lui ra, Chopin quay lại cây đàn và bắt đầu chơi trở lại. Khi chúng tôi khép cửa lại, chúng tôi lại ở trong hành lang; hoàn toàn không có âm thanh nào lọt qua cánh cửa. Chỉ có tiếng chim, rất nhiều con với đủ màu sắc bay lượn, không chỉ trong vườn mà cả trong nhà nữa. Bạn tôi nói với tôi rằng nơi rộng lớn này là một trong những trường nghệ thuật lớn tồn tại ở cấp độ này của thế giới cảm dục, và rằng hàng trăm cư dân thường trú của thế giới này dành phần lớn thời gian của họ để học một điều gì đó về nghệ thuật mà họ đặc biệt quan tâm. Tôi được bảo rằng việc giảng dạy luôn sẵn có vì tất cả các bậc thầy lớn đều sẵn lòng dạy những ai tha thiết muốn học, và rằng cơ hội ấy luôn luôn có đó vì không có ngày hay đêm và mệt mỏi không đi vào sự tính toán của người ta. |
|
“But surely,” I asked, “people do not carry on studying and practicing day and night, week after week, month after month and year after year in this way?” |
“Nhưng chắc hẳn,” tôi hỏi, “con người không thể cứ tiếp tục học và thực hành ngày đêm, tuần này qua tuần khác, tháng này qua tháng khác và năm này qua năm khác theo cách ấy chứ?” |
|
“Yes, they do, and as I have told you, they do not get tired nor does time hang heavily when they are interested and enthralled in what they are doing. If you analyse your reactions at the physical level, you will find that time never drags when you are doing what you want to do. Usually fatigue enters in and you have to stop, even though you are enjoying what you are doing, but here that does not apply as no one gets tired and there is no time as we understand that term; you do not have to get home for dinner, you have no wife waiting for you and you have no duties or responsibilities in any way. Those limitations just do not exist at the astral level, so the man or the woman carries on with the work or relaxation that he or she desires, without any thought of how much time can be devoted to that particular form of study or enjoyment.” |
“Có, họ làm như vậy, và như tôi đã nói với anh, họ không mệt và thời gian cũng không trở nên nặng nề khi họ quan tâm và bị cuốn hút vào điều họ đang làm. Nếu anh phân tích các phản ứng của mình ở cấp độ hồng trần, anh sẽ thấy rằng thời gian không bao giờ lê thê khi anh đang làm điều anh muốn làm. Thông thường mệt mỏi xen vào và anh phải dừng lại, dù anh đang thích thú với điều mình làm, nhưng ở đây điều đó không áp dụng vì không ai mệt và không có thời gian theo cách chúng ta hiểu thuật ngữ ấy; anh không phải về nhà ăn tối, không có vợ chờ anh và anh cũng không có bổn phận hay trách nhiệm gì cả. Những giới hạn ấy đơn giản là không tồn tại ở cấp độ cảm dục, nên người nam hay người nữ tiếp tục công việc hay sự thư giãn mà y mong muốn, không hề nghĩ đến việc có thể dành bao nhiêu thời gian cho hình thức học tập hay hưởng thụ đặc biệt ấy.” |
|
My guide then told me that he had a little work to do, and politely asked my permission to leave me for a short while. |
Người hướng dẫn của tôi sau đó nói rằng ông có một chút việc phải làm, và lịch sự xin phép tôi để ông rời tôi trong chốc lát. |
|
“Go where you will,” he said, “no one will interfere with you and I suggest you wander in and out of different rooms, for I can assure you, you will not meet with any hostile reception. This building is very like similar ones which exist here and it will be well worth while for you to see more of what is done in such places. I shall return when I have finished my private work and I do not think you will be bored whilst I am away.” |
“Anh cứ đi đâu tùy ý,” ông nói, “không ai quấy rầy anh đâu và tôi gợi ý anh hãy đi vào đi ra các phòng khác nhau, vì tôi có thể bảo đảm với anh rằng anh sẽ không gặp bất kỳ sự tiếp đón thù nghịch nào. Tòa nhà này rất giống những tòa nhà tương tự tồn tại ở đây và sẽ rất đáng để anh thấy thêm những gì được thực hiện ở những nơi như thế. Tôi sẽ trở lại khi xong việc riêng và tôi không nghĩ anh sẽ chán trong lúc tôi vắng mặt.” |
|
From the outside I had seen that the building had at least three storeys so I decided that I would explore a little, as he suggested. To start with I went into some of the lower rooms. In one I found a sculptor with a class of pupils, explaining how a particular curve could be obtained. I stood awhile listening to his discourse and some of his pupils, without speaking, smiled at me as I listened, obviously not objecting in the least to my presence. In another room, a quartet was practicing; in another a single violinist was going over and over a particular passage, with a score of music in front of him. It was very similar to an academy such as I had seen in the world, but with the great difference that there was no fuss or hurry and that all forms of art were represented, also it was very noticeable that the people concerned, although quite seriously studying, were so obviously happy and not tense in any way, like the students I saw the last time in the Royal Academy of Music in England. |
Từ bên ngoài tôi đã thấy tòa nhà có ít nhất ba tầng nên tôi quyết định sẽ thăm dò một chút, như ông gợi ý. Trước hết tôi đi vào vài căn phòng ở tầng dưới. Trong một phòng tôi thấy một nhà điêu khắc cùng một lớp học trò, đang giải thích cách có thể tạo được một đường cong nhất định. Tôi đứng nghe một lúc bài giảng của ông và vài học trò của ông, không nói gì, mỉm cười với tôi khi tôi lắng nghe, rõ ràng hoàn toàn không phản đối sự hiện diện của tôi. Trong một phòng khác, một tứ tấu đang tập; trong một phòng khác nữa, một nghệ sĩ violon đơn độc đang lặp đi lặp lại một đoạn nhạc nhất định, với bản tổng phổ đặt trước mặt. Nó rất giống một học viện như tôi từng thấy trong thế giới, nhưng có sự khác biệt lớn là không có sự tất bật hay vội vã và mọi loại hình nghệ thuật đều hiện diện; cũng rất dễ nhận thấy rằng những người liên hệ, dù đang học rất nghiêm túc, lại rõ ràng hạnh phúc và không hề căng thẳng, như những học viên mà tôi đã thấy lần trước ở Học viện Âm nhạc Hoàng gia tại Anh. |
|
Later I wandered upstairs and here I had a very pleasant surprise. As I opened a door (and I noted with interest that here one did open a door and did not go through it as one would with physical doors) and went into one of these rooms, I saw a girl seated on a settee near to an open grand piano. She had a piece of music in her hand, which she was studying. As I entered she looked up and at once I knew her, for she was Daphne Hillier whom I had last seen in England in 1935, when I met her at a golf club. The man who was my opponent that day knew her intimately; he introduced us and we soon got into conversation. I saw her many times during my leave and we got to know each other extremely well. I had thought several times of asking her to marry me for I imagined I was in love with her, but somehow I did not. For a reason, I did not feel that I had yet enough money to marry on; also I wanted to get to the top of my profession before I accepted the responsibility of a wife. I returned to Ceylon and for two years we corresponded regularly; then it all ended by her contracting pneumonia and, to my great regret, her mother wrote to me to say that she had died. I wrote a letter of sympathy and gradually lost touch with the family. And now, there was Daphne before me, seemingly very much alive and looking just the same as when I had seen her last but with an even happier expression—in fact her whole face radiated joy and contentment, and some of the joy, I flattered myself, was at seeing me. |
Sau đó tôi đi lang thang lên lầu và ở đây tôi có một ngạc nhiên rất dễ chịu. Khi tôi mở một cánh cửa (và tôi ghi nhận với thích thú rằng ở đây người ta thực sự mở cửa chứ không đi xuyên qua như với những cánh cửa hồng trần) và bước vào một căn phòng, tôi thấy một cô gái ngồi trên ghế dài gần một cây đại dương cầm đang mở nắp. Cô cầm trong tay một bản nhạc mà cô đang xem. Khi tôi bước vào cô ngẩng lên và lập tức tôi nhận ra cô, vì đó là Daphne Hillier mà tôi gặp lần cuối ở Anh vào năm 1935, khi tôi gặp cô tại một câu lạc bộ golf. Người đàn ông là đối thủ của tôi hôm ấy quen cô rất thân; anh ta giới thiệu chúng tôi và chẳng bao lâu chúng tôi bắt đầu trò chuyện. Tôi gặp cô nhiều lần trong kỳ nghỉ của mình và chúng tôi trở nên rất hiểu nhau. Tôi đã nhiều lần nghĩ đến việc cầu hôn cô vì tôi tưởng rằng mình yêu cô, nhưng bằng cách nào đó tôi đã không làm vậy. Vì một lý do nào đó, tôi cảm thấy mình chưa có đủ tiền để kết hôn; ngoài ra tôi còn muốn đạt đến đỉnh cao nghề nghiệp trước khi nhận trách nhiệm có một người vợ. Tôi trở lại Tích Lan và trong hai năm chúng tôi thư từ đều đặn; rồi tất cả chấm dứt khi cô mắc bệnh viêm phổi và, khiến tôi vô cùng tiếc thương, mẹ cô viết thư cho tôi báo rằng cô đã qua đời. Tôi viết một lá thư chia buồn và dần dần mất liên lạc với gia đình. Và giờ đây, Daphne đang ở trước mặt tôi, dường như rất sống động và trông y hệt như lần cuối tôi gặp cô nhưng với một nét mặt còn hạnh phúc hơn nữa—thật ra toàn bộ khuôn mặt cô tỏa ra niềm vui và sự mãn nguyện, và một phần niềm vui ấy, tôi tự cho phép mình nghĩ vậy, là vì thấy tôi. |
|
“Daphne, my dear, is it really you?” |
“Daphne, em yêu quý, thật sự là em sao?” |
|
“Yes, it is I,” she said, “but what are you doing here? You haven’t left the old world yet, I know, so what has brought you here?” |
“Vâng, chính em đây,” cô nói, “nhưng anh đang làm gì ở đây? Em biết anh vẫn chưa rời thế giới cũ, vậy điều gì đã đưa anh đến đây?” |
|
I tried to explain to her something of what had happened and why I was here. She said she was surprised to see me because, although most people who are evolved at all wander on the astral plane during the time that their bodies are asleep and recuperating for the following day, yet it is not common for living people to visit the third sphere of the astral world. In most cases they do not know how to get there, and very few know of the existence of these different levels. |
Tôi cố giải thích cho cô đôi điều về những gì đã xảy ra và vì sao tôi ở đây. Cô nói cô ngạc nhiên khi thấy tôi vì, mặc dù hầu hết mọi người nếu có tiến hoá chút nào đều lang thang trên cõi cảm dục trong lúc thể xác họ ngủ và hồi phục cho ngày hôm sau, nhưng người đang sống đến thăm khối cầu thứ ba của thế giới cảm dục thì không phải là chuyện thường. Trong hầu hết các trường hợp họ không biết cách đến đó, và rất ít người biết đến sự tồn tại của những cấp độ khác nhau này. |
|
“But darling,” she said, “now you are here, you will be able to come again and we must see lots of each other in the future; there is much that I can show you. Although you never asked me to marry you when I was alive, I knew that you loved me, and I love you too.” |
“Nhưng anh yêu,” nàng nói, “giờ anh đã ở đây, anh sẽ có thể lại đến nữa, và về sau chúng ta phải gặp nhau thật nhiều; có nhiều điều em có thể chỉ cho anh. Dù khi em còn sống anh chưa từng ngỏ lời cầu hôn em, em biết anh yêu em, và em cũng yêu anh.” |
|
I then realised that it had not seemed strange at all for her to address me as “darling,” for I had so often called her that in the old days and she me, and although all that was several years ago, it came back in a flash and I felt again the same draw towards her, the same thrill at being in her company as I had felt in those old days. |
Khi ấy tôi chợt nhận ra rằng việc nàng gọi tôi là “anh yêu” hoàn toàn không có gì lạ, vì ngày xưa tôi vẫn thường gọi nàng như thế và nàng cũng gọi tôi như vậy; và tuy tất cả chuyện ấy đã cách đây nhiều năm, nó trở lại trong một thoáng, và tôi lại cảm thấy cùng một sức hút hướng về nàng, cùng một niềm rung động khi ở bên nàng như tôi đã cảm thấy trong những ngày xưa ấy. |
|
“This is wonderful,” I said, “and it certainly will not be my fault if I do not see a great deal of you in the future. Perhaps you will be able to help me in this, for I do not know whether I could get here on my own, even though it all seemed so easy this time when I had a guide to help.” I told her about my efforts in the recent past and how, apart from my first astral journey, I had not yet been able to bring anything through, even though I had tried very hard to do so. |
“Thật tuyệt vời,” tôi nói, “và chắc chắn sẽ không phải lỗi của tôi nếu về sau tôi không được gặp em thật nhiều. Có lẽ em sẽ có thể giúp tôi trong việc này, vì tôi không biết liệu tôi có thể tự mình đến được đây hay không, dù lần này mọi sự dường như rất dễ khi tôi có người hướng dẫn giúp đỡ.” Tôi kể cho nàng nghe về những nỗ lực của tôi trong thời gian gần đây và việc, ngoài chuyến du hành cảm dục đầu tiên của tôi ra, tôi vẫn chưa thể mang được điều gì trở về, mặc dù tôi đã cố gắng hết sức để làm như vậy. |
|
“In future I shall want to remember what we say and do. I wonder if I shall be able to do that.” |
“Về sau tôi sẽ muốn nhớ những gì chúng ta nói và làm. Tôi tự hỏi không biết mình có làm được điều đó không.” |
|
As I said these words my Indian friend came into the room. “So you have found each other,” he said, “I thought you would if I left you long enough. It is just as well that you have found Daphne, for she can be of great assistance to you and through your love for each other, many things may now be possible that were difficult before. For one thing you will have a definite contact at this level, which you can concentrate upon as soon as you get out of your body at the moment of falling asleep. Your thinking of Daphne will immediately make itself known to her, for thought is a very powerful thing, and concentrated thought is not bound by different levels of matter, so Daphne—if she will allow me to call her by that name—will know quite definitely when you concentrate your thoughts on her, in just the same way as people know that you want them when you ring them up on the telephone. Daphne cannot easily come to meet you, when you get out of your physical body and are on the lowest or first sphere of this world, but she can be your contact for passing from that first sphere to the third sphere, where you are now, in exactly the same way that holding my hand acted as a contact for you when I told you to will that you passed first from the lowest to the second and later on from the second to the third sphere. You will find that by the exercise of your will, plus having a contact who knows the ropes, there will be no difficulty at all.” |
Khi tôi vừa nói những lời ấy, người bạn Ấn Độ của tôi bước vào phòng. “Vậy là hai người đã tìm thấy nhau,” ông nói, “tôi nghĩ là hai người sẽ làm được nếu tôi để hai người đủ lâu. Thật là tốt khi anh đã tìm thấy Daphne, vì cô ấy có thể giúp ích rất nhiều cho anh, và nhờ tình yêu giữa hai người, giờ đây nhiều điều có thể trở nên khả thi mà trước kia còn khó khăn. Trước hết, anh sẽ có một tiếp xúc xác định ở cấp độ này, điều mà anh có thể tập trung vào ngay khi ra khỏi thể xác vào lúc chìm vào giấc ngủ. Việc anh nghĩ đến Daphne sẽ lập tức được nàng biết đến, vì tư tưởng là một điều rất mãnh liệt, và tư tưởng tập trung không bị ràng buộc bởi những cấp độ vật chất khác nhau; vì thế Daphne—nếu cô ấy cho phép tôi gọi bằng tên ấy—sẽ biết rất rõ khi nào anh tập trung tư tưởng vào cô ấy, cũng giống hệt như người ta biết anh muốn gặp họ khi anh gọi điện thoại cho họ. Daphne không dễ đến đón anh khi anh ra khỏi thể xác hồng trần và đang ở khối cầu thấp nhất hay khối cầu thứ nhất của thế giới này, nhưng cô ấy có thể là mối tiếp xúc của anh để đi từ khối cầu thứ nhất sang khối cầu thứ ba, nơi anh đang ở lúc này, cũng đúng như việc nắm tay tôi đã là một tiếp xúc cho anh khi tôi bảo anh dùng ý chí để đi trước hết từ khối cầu thấp nhất lên khối cầu thứ hai và sau đó từ khối cầu thứ hai lên khối cầu thứ ba. Anh sẽ thấy rằng bằng cách vận dụng ý chí, cộng với việc có một tiếp xúc biết rõ đường đi nước bước, sẽ hoàn toàn không có khó khăn gì.” |
|
He continued: “You see, you do not know very much about the law of karma yet, the law that to a great extent makes your contacts and gives you the opportunities which are so important to your evolution. This law of karma or law of cause and effect as it is usually called in Christian countries, deals with every word, thought and action of yours at the physical level. The mere fact of your having given affection at that level to Daphne and of her having returned that affection, even though it did not come to the natural fruition of what the world calls marriage, means that you two have a link with each other, which sooner or later you must work out. There is a great deal to be said for the state of being in love, for whilst a person is in that state or even imagines himself to be in that state, he wants to give and for a short period does not seek to get anything in return for what he gives. Expressed differently he exudes something that can be said to be the highest he can offer. That giving is a cause which must produce an effect; in other words, the law of karma must work its natural way. A real exchange of love makes an ideal partnership for progress in anything, for each one is only too willing and anxious to help the other in any way possible, so I welcome this contact of yours and I do not mind admitting that I hoped you would make it. I could not bring you here deliberately, for that would have been interfering with the natural working out of the law of karma I mentioned. Presumably it was your fate to meet again under these different conditions, and it is now up to you both to take advantage of the force of circumstances that has made this linking up possible. |
Ông tiếp tục: “Anh thấy đấy, anh vẫn chưa biết nhiều về định luật nghiệp quả, định luật phần lớn tạo nên các tiếp xúc của anh và đem đến cho anh những cơ hội rất quan trọng đối với sự tiến hoá của anh. Định luật nghiệp quả này, hay định luật nhân quả như người ta thường gọi ở các nước Cơ Đốc giáo, chi phối mọi lời nói, tư tưởng và hành động của anh ở cấp độ hồng trần. Chỉ riêng sự kiện anh đã trao tình cảm cho Daphne ở cấp độ ấy và nàng đã đáp lại tình cảm đó, dù nó không đi đến kết quả tự nhiên mà thế gian gọi là hôn nhân, cũng có nghĩa là hai người có một mối liên kết với nhau, mà sớm hay muộn hai người cũng phải giải quyết. Có rất nhiều điều có thể nói về trạng thái đang yêu, vì khi một người ở trong trạng thái ấy, hay ngay cả chỉ tưởng rằng mình ở trong trạng thái ấy, y muốn cho đi và trong một thời gian ngắn không tìm cách nhận lại điều gì để đổi lấy những gì mình cho đi. Nói cách khác, y toả ra một cái gì đó có thể gọi là điều cao nhất mà y có thể hiến dâng. Sự cho đi ấy là một nguyên nhân tất phải sinh ra một kết quả; nói cách khác, định luật nghiệp quả phải vận hành theo cách tự nhiên của nó. Một sự trao đổi tình yêu chân thật tạo nên một sự cộng tác lý tưởng cho sự tiến bộ trong bất cứ việc gì, vì mỗi người đều quá sẵn lòng và tha thiết giúp người kia bằng mọi cách có thể; vì vậy tôi hoan nghênh tiếp xúc này của anh, và tôi không ngại thừa nhận rằng tôi đã hy vọng anh sẽ tạo được nó. Tôi không thể cố ý đưa anh đến đây, vì như thế sẽ là can thiệp vào sự vận hành tự nhiên của định luật nghiệp quả mà tôi vừa nói đến. Có lẽ số phận của hai người là gặp lại nhau trong những điều kiện khác biệt này, và giờ đây tùy ở cả hai người tận dụng mãnh lực của hoàn cảnh đã làm cho sự liên kết này trở nên khả hữu. |
|
“How fascinating is the working of God, of Fate. Had Charles not been killed, you would not have been so miserable that I was detailed to come and help you. Now, through your efforts to understand something of the evolutionary plan, you have been allowed to meet again a person whom you thought you had lost forever—or lost for the remainder of your physical life. |
“Công việc của Thượng đế, của Số Mệnh, thật kỳ diệu biết bao. Nếu Charles không bị giết, anh đã không đau khổ đến mức tôi được giao đến giúp anh. Giờ đây, nhờ những nỗ lực của anh nhằm thấu hiểu đôi điều về Thiên Cơ tiến hoá, anh đã được phép gặp lại một người mà anh tưởng mình đã mất vĩnh viễn—hay mất đi trong phần đời hồng trần còn lại của mình. |
|
“I cannot guarantee that on a morning following a joint astral plane expedition you will always recall all your experiences, for the development of a perfect memory, covering what you do when you are out of your physical body, requires much practice and so far you are only a very young pupil. I shall help you to remember what you have seen tonight and when you write out your report of the night’s happenings, you will realise how important it is to bring back into the physical brain cells the result of your wanderings; you will probably make a great effort in the future, which will gradually enable you to have the continuity of consciousness that is so essential. The mere fact that you have found someone in the astral world whom you were fond of in the physical world will encourage you to make herculean efforts to overcome your limitations. Daphne can help you a great deal, too, for having lived at this level for some years, she knows the power of thought; she knows too what can be done at the astral level and what cannot be done there. If you continue your efforts to remember what you do whilst out of your physical body at night, you will be able to carry on a second existence as it were, a life which you lead only when your physical body is asleep.” |
“Tôi không thể bảo đảm rằng vào buổi sáng sau một chuyến du hành chung trên cõi cảm dục, anh sẽ luôn nhớ lại được mọi kinh nghiệm của mình, vì sự phát triển một ký ức hoàn hảo, bao quát những gì anh làm khi ra khỏi thể xác hồng trần, đòi hỏi rất nhiều thực hành, và cho đến nay anh vẫn chỉ là một học trò còn rất trẻ. Tôi sẽ giúp anh nhớ những gì anh đã thấy đêm nay, và khi anh viết ra bản tường trình về những việc xảy ra trong đêm, anh sẽ nhận ra việc mang kết quả của những cuộc du hành ấy trở lại các tế bào não hồng trần quan trọng đến mức nào; có lẽ về sau anh sẽ nỗ lực rất lớn, điều sẽ dần dần giúp anh có được sự liên tục của tâm thức vốn hết sức thiết yếu. Chỉ riêng việc anh đã tìm thấy trong thế giới cảm dục một người mà anh từng yêu mến trong thế giới hồng trần cũng sẽ khuyến khích anh thực hiện những nỗ lực phi thường để vượt qua các giới hạn của mình. Daphne cũng có thể giúp anh rất nhiều, vì đã sống ở cấp độ này trong vài năm, nàng biết quyền năng của tư tưởng; nàng cũng biết điều gì có thể làm được ở cấp độ cảm dục và điều gì không thể làm được ở đó. Nếu anh tiếp tục nỗ lực nhớ lại những gì mình làm khi ra khỏi thể xác hồng trần vào ban đêm, anh sẽ có thể tiếp tục một sự tồn tại thứ hai, có thể nói như vậy, một đời sống mà anh chỉ sống khi thể xác hồng trần của anh đang ngủ.” |
|
Daphne then took up the conversation by turning to my friend: “But Acharya,” she said, “as you say, I can be of great use to Henry now; why was I not able to link up with him before? I tried so hard after I came to this plane, but even in the early days, when I was living on the first sphere of this world, I did not seem to be able to make any impression on him.” |
Lúc ấy Daphne tiếp lời bằng cách quay sang bạn tôi: “Nhưng Acharya,” nàng nói, “như ông nói, giờ đây tôi có thể rất hữu ích cho Henry; vậy tại sao trước đây tôi lại không thể liên kết với anh ấy? Tôi đã cố gắng rất nhiều sau khi đến cõi này, nhưng ngay cả trong những ngày đầu, khi tôi sống ở khối cầu thứ nhất của thế giới này, dường như tôi vẫn không thể gây được bất kỳ ảnh hưởng nào lên anh ấy.” |
|
Before he could answer, I interrupted and said: “Look here you two, do you know each other? You called my friend Acharya and he has never even told me his name, though I have seen so much of him the last few days. Is your name Acharya?” |
Trước khi ông kịp trả lời, tôi chen vào và nói: “Này hai người, hai người biết nhau sao? Cô gọi bạn tôi là Acharya, trong khi ông ấy chưa từng nói cho tôi biết tên mình, mặc dù mấy ngày qua tôi đã gặp ông ấy rất nhiều. Tên ông là Acharya sao?” |
|
“Yes and no,” my Indian friend replied. “It is certainly part of my name, and I am usually called that, by those who have contact with me at this level. It is good enough for our purpose, so you too may call me by that name if you wish, but you soon realise that the names by which people are known in the world, at any rate the surnames, are not so important after all. You, Daphne, could not get in touch with Henry—do you, Henry, realise that this is the first time that I have mentioned your name?—because he was not yet awake in the occult or spiritual sense. Consequently, he did not remember anything of what he had done out of his body, apart from stray dreams that were extremely muddled and incomplete; therefore when next he left his body, he had no concentrated plan in thought of what he wished to do. You talked to him, I know, but as you say, he did not seem as interested as when you talked to him in the physical world; when you expected him to remember what you had talked about a few nights previously, he seemed vague and dull. That was because he was not awake; it required some great tragedy, such as the death of his well-loved brother Charles, to make him clamour for light, for occult knowledge; there had to be a crisis, for through this, the urge to know is born—what a man really wants he can get, providing he is willing and eager to work. “Knock and it shall be opened to you, seek and ye shall find,” said the great Master, the Christ, and those words are literally true. But now we must get on, for I have more to show you before it is time for you to return to your body; perhaps you, Daphne, would care to come with us?” |
“Vừa đúng vừa không,” người bạn Ấn Độ của tôi đáp. “Đó chắc chắn là một phần tên tôi, và những người có tiếp xúc với tôi ở cấp độ này thường gọi tôi như vậy. Nó đủ dùng cho mục đích của chúng ta, nên anh cũng có thể gọi tôi bằng tên ấy nếu muốn; nhưng anh sẽ sớm nhận ra rằng những cái tên mà người ta được biết đến trong thế gian, ít nhất là họ, rốt cuộc không quan trọng đến thế. Còn cô, Daphne, cô không thể tiếp xúc được với Henry—Henry này, anh có nhận ra đây là lần đầu tiên tôi nhắc đến tên anh không?—bởi vì anh ấy vẫn chưa thức tỉnh theo nghĩa huyền bí hay tinh thần. Do đó, anh ấy không nhớ được gì về những gì mình đã làm khi ra khỏi thể xác, ngoài những giấc mơ rời rạc cực kỳ lộn xộn và không trọn vẹn; vì vậy, lần kế tiếp khi rời thể xác, anh ấy không có một kế hoạch tư tưởng tập trung về điều mình muốn làm. Tôi biết cô đã nói chuyện với anh ấy, nhưng như cô nói, anh ấy dường như không hứng thú như khi cô nói chuyện với anh ấy trong thế giới hồng trần; khi cô mong anh ấy nhớ lại điều hai người đã nói với nhau vài đêm trước, anh ấy lại tỏ ra mơ hồ và đờ đẫn. Đó là vì anh ấy chưa thức tỉnh; cần phải có một bi kịch lớn nào đó, như cái chết của người em trai Charles mà anh ấy rất yêu quý, mới khiến anh ấy kêu gào đòi ánh sáng, đòi tri thức huyền bí; phải có một cơn khủng hoảng, vì chính qua đó mà thôi thúc muốn biết được sinh ra—điều gì một người thật sự muốn, y có thể đạt được, miễn là y sẵn lòng và tha thiết làm việc. ‘Hãy gõ cửa thì cửa sẽ mở cho các ngươi, hãy tìm thì các ngươi sẽ thấy,’ vị Chân sư vĩ đại, Đức Christ, đã nói như vậy, và những lời ấy đúng theo nghĩa đen. Nhưng giờ chúng ta phải đi tiếp, vì tôi còn nhiều điều để chỉ cho hai người trước khi đến lúc anh phải trở về thể xác; có lẽ cô, Daphne, muốn đi cùng chúng tôi chăng?” |
|
“I would indeed,” said Daphne, “for I know that with your knowledge and help I can go to places which I cannot yet visit with my limited knowledge.” |
“Dĩ nhiên là muốn,” Daphne nói, “vì tôi biết rằng với tri thức và sự giúp đỡ của ông, tôi có thể đến những nơi mà với hiểu biết hạn hẹp của mình tôi chưa thể viếng thăm.” |
|
“First have a look at your watch,” Acharya said to me, “and see how much time has elapsed since you left your body.” |
“Trước hết hãy nhìn đồng hồ của anh,” Acharya nói với tôi, “và xem từ lúc anh rời thể xác đến nay đã trôi qua bao nhiêu thời gian.” |
|
I looked, and found that the face of my watch was strangely blurred. I tried to imagine what the time would be and each time I thought, the hands of my watch changed to synchronise with my thought. “I’m afraid I don’t know,” I replied, “for my watch seems to change the hour with each thought that passes through my head.” |
Tôi nhìn, và thấy mặt đồng hồ của mình mờ nhòe một cách kỳ lạ. Tôi cố hình dung xem bây giờ là mấy giờ, và mỗi lần tôi nghĩ như vậy, kim đồng hồ lại đổi theo để đồng bộ với ý nghĩ của tôi. “E rằng tôi không biết,” tôi đáp, “vì đồng hồ của tôi dường như đổi giờ theo từng ý nghĩ thoáng qua trong đầu tôi.” |
|
“That is quite true,” went on Acharya, “for you see, you are looking not at an astral watch, but at the watch that you have imagined on your wrist. You are used to wearing a watch, so you automatically raise your wrist every time you want to know the hour; the mere fact that you expect to find a watch on your wrist, makes a watch appear on your wrist, for this is the world of illusion and what you think at the moment is for the moment. Now wait here and I will go and ascertain the exact time so far as we are concerned, for we are only interested in the time that exists in the place where your body is lying and to know when you are likely to have to return to that body. The time that rules in other parts of the world is of no interest to you in this case.” As he finished speaking, he seemed to vanish into thin air. I had hardly recovered from my surprise, when he was back again, standing beside me. He continued. “I returned to your body, sleeping in your bedroom in Colombo, and the watch on your wrist there says 11:30.” |
“Đúng là như vậy,” Acharya tiếp tục, “vì anh thấy đấy, anh đang nhìn không phải một chiếc đồng hồ cảm dục, mà là chiếc đồng hồ anh đã hình dung trên cổ tay mình. Anh quen đeo đồng hồ, nên mỗi khi muốn biết giờ anh tự động đưa cổ tay lên; chỉ riêng việc anh chờ đợi thấy một chiếc đồng hồ trên cổ tay mình đã khiến một chiếc đồng hồ xuất hiện ở đó, vì đây là thế giới của ảo tưởng, và điều anh nghĩ trong khoảnh khắc thì hiện hữu trong khoảnh khắc ấy. Giờ hãy chờ ở đây, tôi sẽ đi xác định thời gian chính xác theo như trường hợp của chúng ta, vì chúng ta chỉ quan tâm đến thời gian tồn tại ở nơi thể xác anh đang nằm và biết khi nào anh có thể phải trở về với thể xác ấy. Thời gian chi phối ở những nơi khác trên thế giới không có gì đáng quan tâm với anh trong trường hợp này.” Vừa dứt lời, ông dường như tan biến vào không khí. Tôi còn chưa hết ngạc nhiên thì ông đã trở lại, đứng bên cạnh tôi. Ông nói tiếp: “Tôi đã trở về chỗ thể xác anh đang ngủ trong phòng ngủ của anh ở Colombo, và chiếc đồng hồ trên cổ tay anh ở đó chỉ 11 giờ 30.” |
|
“But surely my watch must have stopped,” I said, “for we seem to have been on the astral plane for hours and not just for an hour and a half.” |
“Nhưng chắc hẳn đồng hồ của tôi đã ngừng chạy,” tôi nói, “vì dường như chúng ta đã ở trên cõi cảm dục hàng giờ chứ không chỉ một tiếng rưỡi.” |
|
Acharya continued, “You will soon realise that time seems different at the astral level from what you are used to at the physical level. It is quite true that only one-and-a half hours have elapsed since you emerged from your physical body and we started our tour, and you will appreciate even more what I say when, tomorrow, you write down your experiences and realise what you accomplished in just one-and-a-half-hours of physical plane time. You must have had experience in your physical life when you awakened at 6 o’clock in the morning and realised that you had not to get up for at least another hour. You turned over, went to sleep again and had a long complicated dream that, in time, seemed to take a whole day. Then you awoke and your clock told you that you had only been asleep for twenty minutes. What I have told you is an astral fact, which you must remember, for time does not exist at this level.” |
Acharya tiếp tục: “Anh sẽ sớm nhận ra rằng thời gian ở cấp độ cảm dục dường như khác với điều anh quen thuộc ở cấp độ hồng trần. Quả thật chỉ mới một tiếng rưỡi trôi qua kể từ khi anh ra khỏi thể xác hồng trần và chúng ta bắt đầu chuyến đi, và ngày mai khi anh viết lại các kinh nghiệm của mình rồi nhận ra anh đã hoàn thành được những gì chỉ trong một tiếng rưỡi thời gian cõi hồng trần, anh sẽ càng thấu hiểu hơn điều tôi nói. Hẳn trong đời sống hồng trần anh đã từng có kinh nghiệm thức dậy lúc 6 giờ sáng và nhận ra rằng mình chưa phải dậy trong ít nhất một giờ nữa. Anh trở mình, ngủ lại và có một giấc mơ dài, phức tạp, mà về mặt thời gian dường như kéo dài cả một ngày. Rồi anh thức dậy và đồng hồ cho anh biết rằng anh mới chỉ ngủ thêm có hai mươi phút. Điều tôi vừa nói với anh là một sự kiện cảm dục mà anh phải nhớ, vì thời gian không tồn tại ở cấp độ này.” |
|
We then left Daphne’s workroom and were again in the passage. We floated down the stairs into the main hall and into the garden. No one seemed to be about, though we passed one man who was going into the Academy to carry on with his studies, for he had a case under his arm that looked as if it contained a flute. He smiled as he passed, but did not speak. |
Sau đó chúng tôi rời phòng làm việc của Daphne và lại ở ngoài hành lang. Chúng tôi lơ lửng xuống cầu thang, vào đại sảnh chính rồi ra khu vườn. Dường như không có ai quanh đó, dù chúng tôi có đi ngang qua một người đàn ông đang vào Học Viện để tiếp tục việc học của ông, vì ông kẹp dưới cánh tay một chiếc hộp trông như đựng sáo. Ông mỉm cười khi đi ngang qua, nhưng không nói gì. |
|
Acharya said that he wanted to take us to hear a special symphony concert which the deva kingdom was giving in the deep forest, in a remote part of the astral world where humans seldom penetrate. He told us that he had obtained permission for me and for him to attend and that he had no doubt that there would be no objection to Daphne coming along also, particularly as she was devoting a great part of her astral existence to the study of music. He explained that this concert would be quite different from any we had heard before, because its object was to produce beautiful music, but its specific purpose was building up a vortex of power that could be utilised for influencing a particularly important conference which was taking place in the physical world at the moment. He did not say what the conference was, but intimated that it had to do with the war and that the decisions which were made at this conference would have a great bearing on the eventual result of the war; also the date when once again the world would have stopped fighting and would have decided to try and settle its differences by negotiation instead of through the medium of arms and munitions. He explained that such force could be built up in two ways, through deep concentration and through sound. This blending of chords, brought about by means of each individual taking part in the proceedings concentrating deeply on the purpose to be achieved, built up a vortex of power which, when transmitted to the venue of the meeting through the medium of thought, actually influenced the people taking part in the conference. He gave as an example a group of people who were all irritable, some angry and all more or less worked up: before opening such a meeting the chairman arranged for everyone to be served with a drink and to be allowed to smoke; at the same time he made sure that each had a comfortable chair, with the room warmed if it were cold to a temperature at which people felt relaxed. The meeting opened, the chairman perhaps started the proceedings by telling a good story, a second round of drinks was served and then the serious details of the agenda were tackled. What was the result? The people there, who a short time previously were feeling irritable and ready to disagree with each other, developed a camaraderie that made sensible discussion possible and the work of the chairman easy. In just the same way, but to a much greater degree, the force generated by such an effort as the deva kingdom was to make that night could be used to affect a group of men whose great influence could sway the destinies of countless millions of human beings. What they decided would indeed influence future humanity, so the work was certainly worthwhile. |
Acharya nói rằng ông muốn đưa chúng tôi đi nghe một buổi hòa nhạc giao hưởng đặc biệt do giới thiên thần trình diễn trong khu rừng sâu, ở một vùng xa xôi của thế giới cảm dục mà con người hiếm khi thâm nhập được. Ông cho biết ông đã xin phép cho tôi và ông đến dự, và ông không nghi ngờ gì rằng cũng sẽ không có ai phản đối việc Daphne đi cùng, nhất là vì nàng đang dành phần lớn đời sống cảm dục của mình cho việc nghiên cứu âm nhạc. Ông giải thích rằng buổi hòa nhạc này sẽ hoàn toàn khác với bất kỳ buổi nào chúng tôi từng nghe trước đây, vì mục đích của nó là tạo ra âm nhạc tuyệt đẹp, nhưng chủ đích đặc biệt của nó là xây dựng một xoáy lực có thể được sử dụng để gây ảnh hưởng lên một hội nghị đặc biệt quan trọng đang diễn ra trong thế giới hồng trần vào lúc ấy. Ông không nói hội nghị đó là gì, nhưng ám chỉ rằng nó có liên quan đến chiến tranh và rằng những quyết định được đưa ra tại hội nghị này sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả cuối cùng của cuộc chiến; đồng thời cũng ảnh hưởng đến ngày mà một lần nữa thế giới sẽ ngừng chiến đấu và quyết định thử giải quyết những bất đồng của mình bằng thương lượng thay vì bằng vũ khí và đạn dược. Ông giải thích rằng mãnh lực như vậy có thể được xây dựng theo hai cách: qua sự tập trung sâu sắc và qua âm thanh. Sự hòa trộn các hợp âm này, được tạo nên nhờ mỗi cá nhân tham gia nghi lễ đều tập trung sâu sắc vào mục đích cần đạt, đã xây dựng nên một xoáy lực mà khi được truyền đến nơi họp bằng phương tiện tư tưởng, thực sự gây ảnh hưởng lên những người tham dự hội nghị. Ông nêu ví dụ về một nhóm người đều đang bực bội, vài người tức giận và tất cả ít nhiều đều bị kích động: trước khi khai mạc một cuộc họp như vậy, chủ tọa sắp xếp để mọi người được mời đồ uống và được phép hút thuốc; đồng thời ông bảo đảm mỗi người đều có một chiếc ghế thoải mái, và nếu trời lạnh thì căn phòng được sưởi đến một nhiệt độ khiến người ta cảm thấy thư giãn. Cuộc họp bắt đầu, có lẽ chủ tọa mở đầu bằng một câu chuyện vui, một vòng đồ uống thứ hai được phục vụ, rồi sau đó những chi tiết nghiêm túc trong chương trình nghị sự mới được đem ra bàn. Kết quả là gì? Những người có mặt ở đó, chỉ ít lâu trước còn bực bội và sẵn sàng bất đồng với nhau, đã phát triển một tinh thần thân hữu khiến cuộc thảo luận hợp lý trở nên khả thi và công việc của chủ tọa trở nên dễ dàng. Cũng theo cách ấy, nhưng ở mức độ lớn hơn nhiều, mãnh lực được tạo ra bởi một nỗ lực như nỗ lực mà giới thiên thần sẽ thực hiện đêm đó có thể được dùng để tác động lên một nhóm những người nam có ảnh hưởng lớn, những người có thể làm nghiêng số phận của vô số triệu con người. Điều họ quyết định quả thật sẽ ảnh hưởng đến nhân loại tương lai, nên công việc ấy chắc chắn là đáng làm. |
|
Without further preamble we then set off into the distance, floating about five yards above the ground and travelling at a speed of about fifty miles an hour. This part of the astral world did not seem to be occupied by human beings; I cannot remember passing any individuals or groups of people, as we sped upon our way. I noticed that the country was exceedingly beautiful and that from time to time we passed buildings, either near or in the distance, that appeared to be similar to the Academy which we had left a short time previously. There was a profusion of flowers everywhere and numerous trees studded the countryside. Here and there I saw dense wooded patches of country, but we were travelling too quickly to notice anything significant about them. I think Acharya did most of the talking and as far as I remembered he described the country through which we were passing, but my mind was so full with the wonders of my journey and what was still in store for me, that I cannot remember anything particular to record. |
Không nói thêm lời nào, chúng tôi liền lên đường vào phía xa, lơ lửng cách mặt đất chừng năm thước và di chuyển với tốc độ khoảng năm mươi dặm một giờ. Phần này của thế giới cảm dục dường như không có con người cư ngụ; tôi không nhớ đã đi ngang qua bất kỳ cá nhân hay nhóm người nào khi chúng tôi lao đi trên đường. Tôi nhận thấy vùng đất này đẹp lạ thường và thỉnh thoảng chúng tôi đi qua những tòa nhà, hoặc ở gần hoặc ở xa, trông có vẻ tương tự như Học Viện mà chúng tôi vừa rời đi không lâu trước đó. Hoa nở khắp nơi và vô số cây cối điểm xuyết khắp miền quê. Chỗ này chỗ kia tôi thấy những khoảng rừng rậm dày đặc, nhưng chúng tôi đi quá nhanh nên không thể nhận ra điều gì đáng kể về chúng. Tôi nghĩ Acharya nói phần lớn thời gian, và theo như tôi nhớ thì ông mô tả vùng đất mà chúng tôi đang đi qua, nhưng tâm trí tôi đầy ắp những điều kỳ diệu của chuyến đi và những gì còn chờ đợi phía trước, đến nỗi tôi không thể nhớ được điều gì đặc biệt để ghi lại. |
|
After travelling for what seemed like ten to fifteen minutes, I saw ahead of us what appeared to be a dense forest and I remember Acharya pointing out this landmark when we approached it, as the end of our journey. We did not however come to earth at the beginning of the forest, but floated some few feet above the tops of the trees for perhaps three or four miles, then—our progress having slowed down to something approaching a walking pace—Acharya led us through an opening in the trees, where I observed there was a most beautiful open glade in the form of a rough circle the diameter of which was possibly fifty yards. |
Sau khi di chuyển chừng mười đến mười lăm phút theo cảm giác, tôi thấy phía trước chúng tôi một khu vực trông như một cánh rừng rậm, và tôi nhớ Acharya đã chỉ cho chúng tôi mốc này khi chúng tôi đến gần, như là điểm cuối của hành trình. Tuy nhiên, chúng tôi không hạ xuống đất ở đầu rừng, mà lơ lửng cách ngọn cây vài bộ trong khoảng ba hay bốn dặm; rồi—khi tốc độ của chúng tôi chậm lại gần như tốc độ đi bộ—Acharya dẫn chúng tôi xuyên qua một khoảng trống giữa các cây, nơi tôi thấy có một bãi trống tuyệt đẹp, hình gần tròn, đường kính có lẽ khoảng năm mươi thước. |
|
As we came to earth, there was no sign of activity, nor could I see anyone or anything moving in the open space before us. We were led to a huge tree, the roots of which gave us most comfortable seats, and were told to sit down and remain quiet. |
Khi chúng tôi hạ xuống đất, không có dấu hiệu hoạt động nào, và tôi cũng không thấy ai hay vật gì chuyển động trong khoảng trống trước mặt. Chúng tôi được dẫn đến một cây cổ thụ khổng lồ, những rễ cây của nó tạo cho chúng tôi những chỗ ngồi rất thoải mái, và được bảo ngồi xuống, giữ im lặng. |
|
It is perhaps opportune that I mention my impression of the light in this open space or glade. We were surrounded by dense trees, like an Indian jungle, whose tops seemed to branch out, so that the space at the top was very much smaller than the circle on the edge of which we sat. As I have mentioned, on the astral plane the light is bluish grey, much clearer than the most perfect moonlight, but it has not the bright, direct effect that sunlight gives. Visualise this glade as being perfectly light in its entirety; if a rabbit had run across the open circle no one could have missed seeing it, until it had run into the thickness of the jungle. We therefore had perfect vision of everything that took place, and at the same time were surrounded by dense forest into which little or no light penetrated. |
Có lẽ đây là lúc thích hợp để tôi nói đến ấn tượng của mình về ánh sáng trong khoảng trống hay bãi cỏ này. Chúng tôi được bao quanh bởi những cây rậm rạp, như trong một khu rừng Ấn Độ, ngọn cây dường như xòe ra, khiến khoảng không phía trên nhỏ hơn rất nhiều so với vòng tròn ở rìa mà chúng tôi đang ngồi. Như tôi đã nói, trên cõi cảm dục ánh sáng có màu xám xanh, trong trẻo hơn ánh trăng hoàn hảo nhất, nhưng không có hiệu quả sáng rực, trực tiếp như ánh mặt trời. Hãy hình dung bãi trống này được chiếu sáng hoàn toàn ở mọi nơi; nếu một con thỏ chạy ngang qua vòng tròn trống trải ấy thì không ai có thể không nhìn thấy nó, cho đến khi nó chạy vào chỗ rừng rậm. Vì vậy chúng tôi có tầm nhìn hoàn hảo đối với mọi điều diễn ra, đồng thời lại được bao quanh bởi khu rừng dày đặc mà rất ít hoặc hầu như không có ánh sáng xuyên vào. |
|
After sitting there for some minutes, I noticed a group of little men—like dwarfs—emerge from the forest on my extreme left, where they seated themselves crosslegged in a semicircle. As far as I can remember there were about ten of them and each one carried with him an instrument which looked like a cross between a kettledrum and a tom-tom. I noticed they were dressed in little brown suits, with tiny shoes and caps made of a vivid green material, far brighter than the foliage of the trees. Their features appeared to be those of middle-aged men, varying from forty to seventy years of age, judging by earth standards. |
Sau khi ngồi đó vài phút, tôi nhận thấy một nhóm những người tí hon—giống như người lùn—từ trong rừng xuất hiện ở phía ngoài cùng bên trái của tôi, rồi ngồi xếp bằng thành hình bán nguyệt. Theo như tôi nhớ thì có khoảng mười người, và mỗi người mang theo một nhạc cụ trông như lai giữa trống kettledrum và trống tom-tom. Tôi nhận thấy họ mặc những bộ đồ nâu nhỏ, với giày nhỏ và mũ nhỏ làm bằng một chất liệu xanh lục rực rỡ, sáng hơn nhiều so với lá cây. Nét mặt của họ trông như những người đàn ông trung niên, độ tuổi từ bốn mươi đến bảy mươi nếu xét theo tiêu chuẩn Trái Đất. |
|
Those of you who have seen Walt Disney’s film of Snow White and the Seven Dwarfs will have quite a good idea of the appearance of these little men. They did not speak or make any sound. |
Những ai đã xem bộ phim Snow White and the Seven Dwarfs của Walt Disney sẽ có một hình dung khá rõ về diện mạo của những người tí hon này. Họ không nói và cũng không phát ra âm thanh nào. |
|
Soon afterwards a group of much taller people emerged from the forest, both male and female—an entirely different race. They appeared to be nearer to the human type, but were definitely ethereal in appearance. The female members of this group were girls whose ages might have been from eighteen to twenty five; all had long hair either hanging free or tied with a blue or green ribbon. Both men and women were absolutely silent. This group numbered perhaps thirty-five in all and they carried with them instruments, obviously of a musical character, but slightly different from the violins, cellos, clarinets and flutes which we see in a western world orchestra. They did not sit down, but ranged themselves so that those with the same type of instrument were more or less together, whilst all formed a compact group, standing perhaps about twenty yards away from the first group of little men. |
Không lâu sau đó, một nhóm người cao hơn nhiều xuất hiện từ trong rừng, cả nam lẫn nữ—một nhân loại hoàn toàn khác. Họ có vẻ gần với kiểu người hơn, nhưng diện mạo rõ ràng là dĩ thái. Các thành viên nữ trong nhóm này là những cô gái có lẽ từ mười tám đến hai mươi lăm tuổi; tất cả đều có mái tóc dài hoặc buông xõa hoặc buộc bằng dải ruy băng xanh lam hay xanh lục. Cả nam lẫn nữ đều tuyệt đối im lặng. Nhóm này có lẽ khoảng ba mươi lăm người tất cả, và họ mang theo những nhạc cụ rõ ràng có tính chất âm nhạc, nhưng hơi khác với violon, cello, clarinet và sáo mà chúng ta thấy trong một dàn nhạc phương Tây. Họ không ngồi xuống, mà đứng thành hàng sao cho những người có cùng loại nhạc cụ đứng gần nhau ít nhiều, trong khi tất cả hợp thành một nhóm gọn, đứng cách nhóm người tí hon đầu tiên chừng hai mươi thước. |
|
There did not seem to be a breath of wind, yet the top branches of the huge trees moved very slightly. An amazing silence prevailed for perhaps two minutes, then all at once the little men started to use their drums. Almost simultaneously they began to chant in very low voices, which blended with the background of the drums, without taking away from the beauty of the notes which came from the mouths of the little men. Obviously it was a spiritual chant or mantra, for the very air was permeated with the outpouring of force, which quite definitely they were endeavouring to create. After perhaps six verses of this chant, the second group, or main orchestra, commenced to play. It is quite impossible to describe the beauty of the music played, which blended perfectly with the background of chanting and gentle drumming. The volume was not great, but it held one enthralled by its purity and beauty. What was being played was a symphony, for it had separate and distinct movements, with a main theme which was repeated from time to time. Two complete movements had been played and the orchestra was in the middle of the third movement when, suddenly, what seemed to be a human voice of astounding beauty rang out on the air. It seemed to come from above and immediately I looked upwards. At first I could see nothing and no one; after some time Acharya directed my attention to a distant tree on the opposite side of the glade and there at the very top I saw what appeared to be a young girl of great beauty, sitting on the branches with her hair floating behind her, taking the solo part in the most beautiful symphony of sound. She was a pure soprano, her voice had no great volume but the purity of each note sung tore my heart strings so that I wanted to weep. |
Dường như không có một làn gió nào, vậy mà những cành cao của các cây lớn khẽ lay động. Một sự im lặng kỳ lạ bao trùm trong khoảng hai phút, rồi đột nhiên những người tí hon bắt đầu sử dụng trống của họ. Gần như đồng thời, họ bắt đầu tụng bằng những giọng rất trầm, hòa vào nền trống mà không làm mất đi vẻ đẹp của những âm điệu phát ra từ miệng họ. Rõ ràng đó là một bài tụng hay mantram tinh thần, vì chính không khí cũng thấm đẫm lần tuôn đổ của mãnh lực mà họ rõ ràng đang cố tạo ra. Sau chừng sáu đoạn tụng như vậy, nhóm thứ hai, hay dàn nhạc chính, bắt đầu chơi. Hoàn toàn không thể mô tả vẻ đẹp của âm nhạc được trình diễn, hòa quyện hoàn hảo với nền tụng và tiếng trống nhẹ nhàng. Âm lượng không lớn, nhưng giữ người nghe trong trạng thái mê say bởi sự tinh khiết và vẻ đẹp của nó. Điều đang được trình diễn là một bản giao hưởng, vì nó có những chương riêng biệt, rõ ràng, với một chủ đề chính được lặp lại từng lúc. Hai chương trọn vẹn đã được chơi xong và dàn nhạc đang ở giữa chương thứ ba thì đột nhiên một giọng người dường như có vẻ đẹp kinh ngạc vang lên trong không trung. Nó dường như đến từ phía trên, và tôi lập tức ngước nhìn lên. Lúc đầu tôi không thấy gì và cũng không thấy ai; một lúc sau Acharya hướng sự chú ý của tôi đến một cái cây ở xa phía đối diện bãi trống, và ở tận ngọn cây tôi thấy một hình dáng như một thiếu nữ tuyệt đẹp, ngồi trên cành với mái tóc bay phía sau, đang đảm nhận phần độc tấu trong bản giao hưởng âm thanh đẹp nhất. Đó là một giọng soprano thuần khiết; giọng nàng không có âm lượng lớn, nhưng sự tinh khiết của từng nốt hát ra làm rung đứt những dây lòng tôi đến mức tôi muốn khóc. |
|
This went on for perhaps ten minutes, the orchestra playing a few bars, then the girl coming in with an unaccompanied solo, later passing to the ordinary method of singing in company with the orchestra, gradually building up the power for which the music was being played. A fourth movement which seemed to embody the spirit of the three which had preceded it—and entirely orchestral—closed the performance. The symphony simply faded away and suddenly one realised that the silence, which had been so noticeable, surrounded us once again. I looked at the top of the tree where the singer had been—she was no longer there; the groups comprising the orchestra and the little men remained where they were, the members of the orchestra now seated on the ground. Out of the forest an old, old man appeared, he had a flowing beard and was dressed in ceremonial robes. He walked slowly and sedately to the centre of the open glade and raising his hands in supplication to some form of deity started what seemed to be an invocation, for the two groups of players bowed their heads and listened to the words he uttered. I did not understand a word of what he said, yet I knew that it was a prayer, asking that the work which had just been completed should be successful. It was also an effort of will, for every member of both groups was concentrating to his or her utmost that the purpose might be fulfilled. It all ended quite suddenly and, silently, the old man vanished into the jungle; then the groups of players rose from their sitting position and, moving down the glade, disappeared from our vision. I was so affected by what I had heard that I did not want to move and it came as rather a shock to me when Acharya said: |
Việc này tiếp diễn chừng mười phút; dàn nhạc chơi vài ô nhịp, rồi cô gái cất lên một đoạn độc tấu không đệm, sau đó chuyển sang cách hát thông thường cùng với dàn nhạc, dần dần xây dựng mãnh lực mà âm nhạc đang được trình diễn để tạo ra. Một chương thứ tư, dường như hàm chứa tinh thần của ba chương trước đó—và hoàn toàn do dàn nhạc trình diễn—đã khép lại buổi biểu diễn. Bản giao hưởng đơn giản mờ dần đi, và đột nhiên người ta nhận ra rằng sự im lặng, vốn đã rất rõ rệt, lại một lần nữa bao quanh chúng tôi. Tôi nhìn lên ngọn cây nơi người ca sĩ đã ngồi—nàng không còn ở đó nữa; các nhóm hợp thành dàn nhạc và những người tí hon vẫn ở nguyên chỗ cũ, các thành viên dàn nhạc lúc này đã ngồi xuống đất. Từ trong rừng xuất hiện một ông lão rất, rất già, râu dài buông xuống và mặc lễ phục. Ông chậm rãi, điềm đạm bước đến giữa bãi trống, rồi giơ tay lên trong tư thế khẩn cầu một hình thức Thượng đế nào đó và bắt đầu điều dường như là một lời khẩn cầu, vì hai nhóm nhạc công đều cúi đầu và lắng nghe những lời ông thốt ra. Tôi không hiểu một lời nào ông nói, nhưng tôi biết đó là một lời cầu nguyện, xin cho công việc vừa hoàn tất được thành công. Đó cũng là một nỗ lực của ý chí, vì mọi thành viên của cả hai nhóm đều đang tập trung hết mức để mục đích ấy được hoàn thành. Mọi việc kết thúc khá đột ngột, và trong im lặng, ông lão biến mất vào rừng; rồi các nhóm nhạc công đứng dậy khỏi chỗ ngồi và di chuyển dọc theo bãi trống, khuất khỏi tầm mắt chúng tôi. Tôi bị tác động quá mạnh bởi những gì mình đã nghe đến nỗi không muốn cử động, và tôi khá sửng sốt khi Acharya nói: |
|
“Well, that is all for tonight. I shall be most interested to know how much detail you remember in the morning.” |
“Vậy là hết cho đêm nay. Tôi sẽ rất muốn biết sáng mai anh còn nhớ được bao nhiêu chi tiết.” |
|
I was still rather in a daze when we stood up and, floating through the opening in the trees, began our homeward journey. Acharya gave us some idea of the purport of the ceremony we had just witnessed, but I am not very clear as to what he said, for my mind was still in a whirl and I was thinking about the wonderful spiritual influence which had seemed to be the outstanding part of the concert from beginning to end. I remember though that he described the different performers; he said that the little men were nature spirits, whereas the orchestra was composed of members of the deva kingdom, which is a parallel evolution to our human kingdom; the latter were similar in development in their scheme of evolution to Daphne and myself in the human kingdom. The soloist was in a different category for she was a very advanced deva and equal in that evolution to an exceedingly advanced individual in our evolution. The old man could be described as a priest, for he was dedicated to the priestly functions of that evolution and evolved through them, in a way very similar to that which happens in the human kingdom. |
Tôi vẫn còn khá ngây ngất khi chúng tôi đứng dậy và lơ lửng qua khoảng trống giữa các cây, bắt đầu hành trình trở về. Acharya cho chúng tôi biết đôi điều về ý nghĩa của nghi lễ mà chúng tôi vừa chứng kiến, nhưng tôi không nhớ thật rõ ông đã nói gì, vì tâm trí tôi vẫn còn quay cuồng và tôi đang nghĩ về ảnh hưởng tinh thần kỳ diệu dường như là phần nổi bật nhất của buổi hòa nhạc từ đầu đến cuối. Tuy vậy, tôi nhớ ông có mô tả những người biểu diễn khác nhau; ông nói những người tí hon là các tinh linh tự nhiên, còn dàn nhạc thì gồm các thành viên của giới thiên thần, một đường tiến hoá song song với giới nhân loại của chúng ta; những vị sau này có mức phát triển trong hệ hành tinh tiến hoá của họ tương tự như Daphne và tôi trong giới nhân loại. Người độc tấu thuộc một loại khác, vì nàng là một thiên thần rất tiến bộ và tương đương trong đường tiến hoá ấy với một cá nhân cực kỳ tiến bộ trong đường tiến hoá của chúng ta. Ông lão có thể được mô tả như một tư tế, vì ông hiến mình cho các chức năng tư tế của đường tiến hoá ấy và tiến hoá qua chúng, theo một cách rất tương tự với điều xảy ra trong giới nhân loại. |
|
In due time we came to the Academy and stopped on the lawn just in front of the entrance because Acharya said it was necessary for me to retain a clear picture of this building in my mind for future occasions. I asked Daphne how I could find her again, presuming that I was able to get as far as this building by my own efforts. Acharya replied for her that I could usually be sure of finding Daphne in the same room that she had occupied when I first met her for, as there is no overcrowding in the astral world, most people can retain a particular working place for themselves. He however suggested to Daphne that she should show me the little cottage where she lived. Daphne was delighted at the suggestion, and asked us to come and see it. She led the way by floating over the top of the Academy, when to my surprise I saw what looked like a miniature “Garden City” nestling in a valley about half a mile in the rear of the huge building. The houses, though small, were spread out, so that each little cottage had at least an acre of ground. It was quite apparent that each occupant had designed not only his cottage but his garden, in accordance with his own particular type of temperament and taste, and the result was exceedingly beautiful. There were cottages which might have been transplanted from any of the beautiful rural districts of England; others reminiscent of small villas in the South of France; others, purely Italian in type; whilst I noticed at least two built to resemble Eastern temples. Acharya noticed that I was interested in the different architectural types, so pointed out two cottages with domes similar to many Mohammedan temples I had seen. He said they were owned by people who were particularly interested in having a room with perfect acoustic properties. |
Đến lúc thích hợp, chúng tôi trở lại Học Viện và dừng trên bãi cỏ ngay trước lối vào vì Acharya nói rằng tôi cần giữ một hình ảnh rõ ràng về tòa nhà này trong tâm trí cho những dịp sau. Tôi hỏi Daphne làm sao tôi có thể tìm lại nàng, giả sử tôi có thể tự mình đến được tòa nhà này. Acharya trả lời thay nàng rằng tôi thường có thể chắc chắn tìm thấy Daphne trong chính căn phòng mà nàng đã ở khi tôi gặp nàng lần đầu, vì trong thế giới cảm dục không có tình trạng quá đông đúc, nên phần lớn mọi người có thể giữ cho mình một nơi làm việc riêng biệt. Tuy nhiên, ông gợi ý với Daphne rằng nàng nên cho tôi xem ngôi nhà nhỏ nơi nàng sống. Daphne rất vui với đề nghị ấy và mời chúng tôi đến xem. Nàng dẫn đường bằng cách lơ lửng qua phía trên Học Viện, và tôi ngạc nhiên khi thấy một thứ trông như một “Thành phố Vườn” thu nhỏ nép mình trong một thung lũng cách phía sau tòa nhà khổng lồ chừng nửa dặm. Những ngôi nhà tuy nhỏ nhưng được bố trí cách xa nhau, đến mức mỗi ngôi nhà nhỏ đều có ít nhất một mẫu đất. Rõ ràng mỗi người cư ngụ không chỉ thiết kế ngôi nhà mà cả khu vườn của mình, phù hợp với loại khí chất và sở thích riêng, và kết quả thật đẹp lạ thường. Có những ngôi nhà nhỏ dường như được mang đến từ bất kỳ miền quê xinh đẹp nào của nước Anh; những ngôi khác gợi nhớ những biệt thự nhỏ ở miền Nam nước Pháp; những ngôi khác nữa hoàn toàn theo kiểu Ý; trong khi tôi nhận thấy ít nhất hai ngôi được xây giống các đền thờ phương Đông. Acharya nhận thấy tôi quan tâm đến các kiểu kiến trúc khác nhau, nên chỉ cho tôi hai ngôi nhà nhỏ có mái vòm giống nhiều đền Hồi giáo mà tôi từng thấy. Ông nói chúng thuộc về những người đặc biệt quan tâm đến việc có một căn phòng với đặc tính âm học hoàn hảo. |
|
Although I could have gone on gazing at this most wonderful sight, I sensed that Daphne was anxious to show us her home so, with her leading the way, we walked along a rustic path for perhaps two hundred yards. She led us through a gate into a garden, which was a veritable blaze of colour. The cottage itself could only be described as a dream house; the design appealed to me immediately. In front of the porch there was a little lawn, in the middle of which grew a shade tree with several wicket chairs arranged under its spreading branches—they looked so comfortable and attractive with their bright cretonne cushions. Immediately I was struck by the advantage in the astral world, in that as there was no danger of rain or robbers such things can be left outside for an indefinite period. |
Dù tôi có thể tiếp tục ngắm nhìn cảnh tượng tuyệt vời này lâu hơn nữa, tôi cảm thấy Daphne đang nóng lòng muốn cho chúng tôi xem nhà nàng, nên với nàng dẫn đường, chúng tôi đi dọc theo một lối mòn mộc mạc chừng hai trăm thước. Nàng dẫn chúng tôi qua một cánh cổng vào khu vườn, nơi thật sự rực cháy màu sắc. Bản thân ngôi nhà nhỏ chỉ có thể được mô tả như một ngôi nhà trong mơ; kiểu thiết kế ấy lập tức hấp dẫn tôi. Trước hiên có một bãi cỏ nhỏ, giữa bãi mọc một cây bóng mát với vài chiếc ghế mây đặt dưới những cành xòe rộng—chúng trông thật thoải mái và hấp dẫn với những chiếc đệm cretonne sáng màu. Tôi lập tức nhận ra một ưu thế của thế giới cảm dục, đó là vì không có nguy cơ mưa hay trộm cướp nên những thứ như vậy có thể để ngoài trời vô thời hạn. |
|
We went into the cottage and Daphne showed us first of all the largest of the four rooms that the cottage contained; it was furnished as a lounge with upholstered settees and easy chairs, occasional tables, other small chairs and a baby grand piano in the corner. There was no sign of ostentation but it was obvious that personal ideas of the owner had been given full rein, which in the world is often impossible, owing to the cost of things that we would dearly like to have. Here there was no such limitation and it was obvious from looking at this room that the owner was a person of artistic tastes, but with no desire for show in any form. There were several large windows, stretching almost the full length of the lounge, and the clear astral light which came through them brought out the beautiful blending of the colours in the tapestry that covered the chairs and settees and the colours of the Persian carpet that blended so harmoniously with the tapestry, upholstery and curtains. I realised that perfection was very easy to obtain at this level, if one had the right ideas. In the world one might search for years and then not find a Persian carpet that blended so perfectly with the other colours used in the decoration of the room. The walls, which were an ivory colour, were bare but for a couple of etchings and one or two delightful water colours. It was a room in which one wanted to sit; it looked like a home and not a room for show. From just walking through the rooms, you realised the type of occupant who lived there, and I could well understand Daphne wanting to show us her home. |
Chúng tôi vào nhà và trước hết Daphne cho chúng tôi xem căn lớn nhất trong bốn phòng của ngôi nhà; nó được bày như một phòng khách với những ghế sofa bọc nệm và ghế bành êm, bàn nhỏ, những ghế nhỏ khác và một cây đại dương cầm baby grand ở góc phòng. Không có dấu hiệu phô trương nào, nhưng rõ ràng những ý tưởng cá nhân của chủ nhân đã được tự do thể hiện trọn vẹn, điều mà trong thế gian thường là không thể vì giá thành của những thứ mà ta rất muốn có. Ở đây không có giới hạn như vậy, và chỉ cần nhìn căn phòng này cũng thấy chủ nhân là một người có gu nghệ thuật, nhưng không hề có ham muốn phô bày dưới bất kỳ hình thức nào. Có vài cửa sổ lớn kéo dài gần suốt chiều dài phòng khách, và ánh sáng cảm dục trong trẻo chiếu qua chúng làm nổi bật sự hòa phối tuyệt đẹp của các màu sắc trong tấm thảm phủ ghế và sofa, cũng như màu sắc của tấm thảm Ba Tư hòa hợp đến thế với tấm phủ, nệm ghế và rèm cửa. Tôi nhận ra rằng ở cấp độ này, sự hoàn hảo rất dễ đạt được nếu người ta có những ý tưởng đúng đắn. Trong thế gian, người ta có thể tìm kiếm nhiều năm mà vẫn không tìm được một tấm thảm Ba Tư hòa hợp hoàn hảo đến vậy với những màu sắc khác dùng trong việc trang trí căn phòng. Những bức tường màu ngà gần như để trống, chỉ có vài bức khắc và một hai bức màu nước duyên dáng. Đó là một căn phòng khiến người ta muốn ngồi lại; nó trông như một mái nhà chứ không phải một căn phòng để trưng bày. Chỉ cần đi qua các phòng, người ta đã nhận ra kiểu người cư ngụ ở đó, và tôi hoàn toàn hiểu được vì sao Daphne muốn cho chúng tôi xem nhà nàng. |
|
The second largest room was furnished as a bedroom, a very typical woman’s bedroom, with a divan in one corner and all the other details of furniture which one usually finds in a perfectly furnished room of this type. I was surprised that a bedroom should be necessary in the astral world, where sleep is not part of the ordinary routine of life. Daphne explained that, however, by asking me whether there were not occasions when I felt a desire to relax in a reclining position, merely to think or to read. I had to admit this was so, and Daphne told me that she spent very many happy hours relaxing on her divan, thinking, reading and making plans for the future. |
Căn lớn thứ hai được bày như một phòng ngủ, một phòng ngủ rất điển hình của phụ nữ, với một chiếc divan ở góc phòng và tất cả những chi tiết nội thất khác mà người ta thường thấy trong một căn phòng loại này được bài trí hoàn hảo. Tôi ngạc nhiên rằng một phòng ngủ lại cần thiết trong thế giới cảm dục, nơi giấc ngủ không phải là một phần của nếp sống thường nhật. Tuy nhiên, Daphne giải thích điều đó bằng cách hỏi tôi liệu có những lúc tôi cảm thấy muốn thư giãn trong tư thế ngả lưng, chỉ để suy nghĩ hay đọc sách hay không. Tôi phải thừa nhận là có, và Daphne nói với tôi rằng nàng đã trải qua rất nhiều giờ hạnh phúc khi thư giãn trên chiếc divan của mình, suy nghĩ, đọc sách và lập kế hoạch cho tương lai. |
|
The remaining two rooms turned out to be a library and a kitchen. The library was furnished with the same comfort and artistic taste as the other two rooms, bookcases filled with books all bound in beautiful Russian leather completely covered two sides of the room. The mere look of the volumes invited one to sit down and peruse their contents. The kitchen was furnished with all modern appliances and although I had imagined a kitchen would be unnecessary here, Daphne said she still enjoyed making snacks for parties. Acharya again remarked that habits die very slowly in human beings and usually many years of existence in the astral world passed before these habits were entirely eradicated and forgotten. |
Hai phòng còn lại hóa ra là một thư viện và một nhà bếp. Thư viện được bài trí với cùng sự tiện nghi và gu nghệ thuật như hai phòng kia; những giá sách đầy ắp sách bọc da Nga tuyệt đẹp phủ kín hoàn toàn hai mặt tường của căn phòng. Chỉ riêng vẻ ngoài của các cuốn sách cũng đã mời gọi người ta ngồi xuống và đọc nội dung của chúng. Nhà bếp được trang bị mọi thiết bị hiện đại, và dù tôi từng nghĩ một nhà bếp ở đây là không cần thiết, Daphne nói nàng vẫn thích làm những món ăn nhẹ cho các buổi tiệc. Acharya lại nhận xét rằng các thói quen chết đi rất chậm nơi con người, và thường phải qua nhiều năm tồn tại trong thế giới cảm dục thì những thói quen ấy mới hoàn toàn bị xóa bỏ và quên đi. |
|
I should have liked to remain here for a much longer time, but I could see Acharya was beginning to feel that the time was ripe for us to be on our way. I made one last request and that was to spend a few minutes in the garden. It was very delightful wandering among the flower beds, testing the scent of particular flowers and finding in each case that it was exactly the same as those flowers in the world, but perhaps a little more pronounced. Acharya commented on this point by saying that I should only be able to recognise a particular scent if I knew what to expect; for example if there were a flower which I had never seen before and whose scent was unfamiliar to me, I would only smell what I imagined the scent to be, judging entirely from its appearance, whereas the real scent might be quite different from my imagination. |
Tôi muốn ở lại đây lâu hơn nhiều, nhưng tôi thấy Acharya bắt đầu cảm thấy đã đến lúc chúng tôi phải lên đường. Tôi đưa ra một yêu cầu cuối cùng, đó là được ở lại vài phút trong vườn. Thật thú vị khi đi dạo giữa các luống hoa, thử mùi hương của từng loài hoa và nhận thấy trong mỗi trường hợp nó hoàn toàn giống như những bông hoa ấy trong thế gian, nhưng có lẽ đậm hơn đôi chút. Acharya bình luận về điểm này rằng tôi chỉ có thể nhận ra một mùi hương nhất định nếu tôi biết mình chờ đợi điều gì; chẳng hạn, nếu có một bông hoa mà tôi chưa từng thấy trước đây và mùi hương của nó xa lạ với tôi, tôi sẽ chỉ ngửi thấy điều mà tôi tưởng tượng mùi hương ấy phải là, hoàn toàn phán đoán từ vẻ ngoài của nó, trong khi mùi hương thật có thể hoàn toàn khác với sự tưởng tượng của tôi. |
|
Daphne saw us to the gate, where we wished her au revoir. I assured her that I would most certainly return to visit her, if I were able to find my way. We floated into the air again over the top of the Academy building, coming to earth once more at the foot of the rise on which the building stood. Acharya again told me to impress the outline of the building on my imagination so that I could make a perfect thought-form of it at any time that I was trying to reach it. This I did. Acharya then told me that it was time to return to my physical body in Colombo and that the machinery necessary to effect this transfer was the same as we used when reaching this sphere of the astral world. He told me not to worry about it, but, simply to make an effort of will and endeavour to make a thought-form of the lawn outside my bungalow in Colombo. He held my hand as he had done previously, but he told me that this was merely to give me confidence and was quite unnecessary. I started to concentrate with all my might, and as I did so, I noticed that my surroundings immediately became blurred, and although there was no actual wind resistance noticeable, I had the feeling that I was moving through space. Instinctively I closed my eyes, holding the thought-form of my garden in mind, and after perhaps a few seconds, the feeling of movement seemed to cease. On opening my eyes, I saw Acharya standing beside me on my own lawn outside my bungalow in Colombo, smiling at my obvious surprise. We immediately entered the bungalow through the locked front door, went up the stairs and through the door of my bedroom. It no longer amazed me that neither of these doors offered any resistance. Sure enough my body, which I had left so many hours previously, was still lying asleep on the bed, but it seemed to show some slight signs of restlessness, which Acharya explained was the normal reaction of a body when the time approached for awakening. He said I would awake in a very short time and emphasised the necessity for me to sit down and record immediately the details of the happenings of the night that had passed. He placed his hand just above the top of the head on my body and appeared to concentrate upon the brain cells—so that they should give me the necessary assistance in remembering. I do not remember saying goodbye to Acharya, nor have I any recollection of his leaving the room, for within a few seconds I felt the urge to return to my body very strongly within me and, with the slithering movement which I had noticed on a previous occasion, I slipped into it again and at once was wide awake. |
Daphne tiễn chúng tôi ra cổng, nơi chúng tôi chúc nàng au revoir. Tôi bảo đảm với nàng rằng chắc chắn tôi sẽ trở lại thăm nàng, nếu tôi có thể tìm được đường. Chúng tôi lại lơ lửng lên không trung phía trên Học Viện, rồi hạ xuống đất một lần nữa ở chân dốc nơi tòa nhà tọa lạc. Acharya lại bảo tôi in đậm đường nét của tòa nhà vào sự tưởng tượng của mình để tôi có thể tạo ra một Hình tư tưởng hoàn hảo về nó bất cứ lúc nào tôi cố gắng đến đó. Tôi đã làm như vậy. Sau đó Acharya bảo tôi đã đến lúc trở về thể xác hồng trần của mình ở Colombo và rằng bộ máy cần thiết để thực hiện sự chuyển dịch này cũng giống như khi chúng tôi đến khối cầu này của thế giới cảm dục. Ông bảo tôi đừng lo lắng về điều đó, mà chỉ cần thực hiện một nỗ lực của ý chí và cố tạo ra một Hình tư tưởng về bãi cỏ bên ngoài bungalow của tôi ở Colombo. Ông nắm tay tôi như trước đó đã làm, nhưng bảo rằng việc này chỉ để cho tôi thêm tự tin và thực ra là không cần thiết. Tôi bắt đầu tập trung với tất cả sức lực của mình, và khi làm vậy, tôi nhận thấy ngay lập tức khung cảnh xung quanh trở nên mờ nhòe, và dù không có sức cản gió thực sự nào đáng nhận thấy, tôi vẫn có cảm giác mình đang di chuyển trong không gian. Theo bản năng tôi nhắm mắt lại, giữ Hình tư tưởng về khu vườn của mình trong tâm trí, và chỉ sau vài giây, cảm giác chuyển động dường như chấm dứt. Khi mở mắt ra, tôi thấy Acharya đứng bên cạnh tôi trên chính bãi cỏ của tôi bên ngoài bungalow ở Colombo, mỉm cười trước sự ngạc nhiên quá rõ của tôi. Chúng tôi lập tức đi vào bungalow qua cánh cửa trước đang khóa, lên cầu thang và qua cửa phòng ngủ của tôi. Tôi không còn ngạc nhiên nữa khi cả hai cánh cửa ấy đều không gây ra chút cản trở nào. Quả nhiên thể xác của tôi, mà tôi đã bỏ lại từ nhiều giờ trước, vẫn đang nằm ngủ trên giường, nhưng dường như có vài dấu hiệu bồn chồn nhẹ, điều mà Acharya giải thích là phản ứng bình thường của một thể xác khi thời điểm thức dậy đang đến gần. Ông nói tôi sẽ thức dậy trong một thời gian rất ngắn nữa và nhấn mạnh sự cần thiết là tôi phải ngồi xuống và ghi lại ngay những chi tiết của các sự việc đã xảy ra trong đêm vừa qua. Ông đặt tay ngay phía trên đỉnh đầu của thể xác tôi và dường như tập trung vào các tế bào não—để chúng có thể cho tôi sự trợ giúp cần thiết trong việc ghi nhớ. Tôi không nhớ đã chào tạm biệt Acharya, cũng không có ký ức nào về việc ông rời khỏi phòng, vì chỉ trong vài giây tôi cảm thấy thôi thúc trở về thể xác rất mạnh mẽ trong mình, và với chuyển động trượt mà tôi đã nhận thấy trong một dịp trước, tôi lại trượt vào đó và lập tức hoàn toàn tỉnh táo. |
|
Thank heaven, the memory of the night’s happening was still with me, so I immediately got out of bed, put on a dressing gown and moved over to my desk to commence the record of my journey. It was a quarter to six, and I found it necessary to switch on the electric light, as it was not light enough here for me either to write or use my typewriter. The report has taken a considerable time to complete, but as I had carefully arranged beforehand that I was not to be interrupted, I was able to finish it in peace and without any outside distractions. |
Tạ ơn trời, ký ức về những việc xảy ra trong đêm vẫn còn nguyên với tôi, nên tôi lập tức ra khỏi giường, khoác áo choàng và đi đến bàn làm việc để bắt đầu ghi chép chuyến đi của mình. Lúc ấy là năm giờ bốn mươi lăm, và tôi thấy cần phải bật đèn điện, vì ở đây chưa đủ sáng để tôi viết hay dùng máy đánh chữ. Bản tường trình này đã mất khá nhiều thời gian để hoàn thành, nhưng vì tôi đã cẩn thận sắp xếp từ trước để không bị ai quấy rầy, nên tôi có thể hoàn tất nó trong yên tĩnh và không có bất kỳ xao lãng nào từ bên ngoài. |
|
Having breakfasted, I read through my report to make sure I had not forgotten anything. Tonight I mean to make an attempt on my own to get back to the third sphere using the Academy where Daphne works for my landmark. |
Sau khi ăn sáng, tôi đọc lại bản tường trình của mình để chắc rằng tôi không quên điều gì. Tối nay tôi định tự mình thử quay lại khối cầu thứ ba, dùng Học Viện nơi Daphne làm việc làm mốc. |
|
I am really excited this time, for I have something to report. Not that I accomplished anything very wonderful but at least I had some success. After returning from a walk, I felt physically tired and gradually prepared for bed. I read for a few minutes after getting into bed, then turned out the light and settled myself for sleep. I still remember so clearly what my body looks like lying on the bed that it was no longer necessary for me to visualise myself in a hypothetical mirror, as I had been taught to do in the early days. I don’t remember slipping out of my body, but sure enough, there I was in my room, with my body lying on the bed, as I had seen it on previous occasions. I went out of my room through the door, down the stairs and out of the front door on to the lawn where Acharya and I had stood not so many hours previously. It could only have been about half past ten, for there were still people about, walking and driving along the road; I realised that what I was seeing was the astral counterpart of the cars and of those people, and that I was actually on the lowest or first sphere of the astral world. |
Lần này tôi thật sự phấn khích, vì tôi có điều để báo cáo. Không phải là tôi đã làm được điều gì quá kỳ diệu, nhưng ít nhất tôi cũng đã có chút thành công. Sau khi đi dạo về, tôi cảm thấy mệt về thể xác và dần dần chuẩn bị đi ngủ. Tôi đọc vài phút sau khi lên giường, rồi tắt đèn và yên vị để ngủ. Tôi vẫn còn nhớ rất rõ thể xác của mình trông như thế nào khi nằm trên giường, nên tôi không còn cần phải hình dung mình trong một tấm gương giả định như đã được dạy làm trong những ngày đầu nữa. Tôi không nhớ mình đã trượt ra khỏi thể xác như thế nào, nhưng quả nhiên, tôi đã ở trong phòng mình, với thể xác nằm trên giường, như tôi đã thấy trong những dịp trước. Tôi đi ra khỏi phòng qua cửa, xuống cầu thang và ra cửa trước đến bãi cỏ nơi Acharya và tôi đã đứng cách đó không bao nhiêu giờ. Lúc ấy chỉ có thể vào khoảng mười giờ rưỡi, vì vẫn còn người qua lại, đi bộ và lái xe dọc theo con đường; tôi nhận ra rằng điều tôi đang thấy là đối phần cảm dục của những chiếc xe và của những người ấy, và rằng tôi thực sự đang ở khối cầu thấp nhất hay khối cầu thứ nhất của thế giới cảm dục. |
|
Now to make my attempt to get away from that first sphere, up to the third sphere where Daphne is living. Now to concentrate the whole of my effort of will and make a thought-form of the Academy, which Acharya made me visualise so carefully early this morning. I closed my eyes and used every ounce of will power that I possess and, sure enough, the feeling of movement without any wind resistance was the same. I kept the thought-form of the Academy very clearly in my mind, willing myself to reach the spot; and all at once I seemed to feel the sensation of movement had ceased and I opened my eyes. Thank heaven, I’d done it! There stood the Academy on the top of the hill, just as I had seen it last night. My excitement was almost too great to bear. In fact I must have lost control of my faculties entirely; for suddenly everything around me including the Academy became blurred, and the next thing that I remember was waking up in bed in my physical body in Colombo, with my heart beating thirteen to the dozen. |
Giờ thì thử nỗ lực rời khỏi khối cầu thứ nhất ấy để lên khối cầu thứ ba nơi Daphne đang sống. Giờ thì tập trung toàn bộ nỗ lực ý chí của mình và tạo ra một Hình tư tưởng về Học Viện mà Acharya đã bắt tôi hình dung cẩn thận vào sáng sớm nay. Tôi nhắm mắt lại và dùng từng chút quyền năng ý chí mà mình có, và quả nhiên cảm giác chuyển động mà không có sức cản gió vẫn y như thế. Tôi giữ Hình tư tưởng về Học Viện thật rõ trong tâm trí, dùng ý chí buộc mình đến đúng nơi ấy; và đột nhiên tôi dường như cảm thấy cảm giác chuyển động đã chấm dứt nên mở mắt ra. Tạ ơn trời, tôi đã làm được! Học Viện đứng đó trên đỉnh đồi, đúng như tôi đã thấy đêm qua. Sự phấn khích của tôi gần như quá sức chịu đựng. Thật ra hẳn tôi đã hoàn toàn mất kiểm soát các năng lực của mình; vì đột nhiên mọi thứ xung quanh tôi, kể cả Học Viện, đều trở nên mờ nhòe, và điều tiếp theo tôi nhớ là mình tỉnh dậy trên giường trong thể xác hồng trần ở Colombo, tim đập thình thịch. |
|
Oh God, I’ve messed it up entirely! I got there—I actually reached the place where I wanted to be and through my excitement and lack of control I’m back again where I started, wide awake. I must have lain awake for at least two hours, cursing my stupidity and lack of control, then I seemed to settle down again and become sleepy. I decided to have another try and this time to keep control of my faculties so that I would not return to my physical body before it had had its normal quota of sleep. |
Ôi trời, tôi đã làm hỏng hết cả rồi! Tôi đã đến đó—tôi thực sự đã đến nơi mình muốn đến—và vì quá phấn khích cùng thiếu tự chủ, tôi lại quay về đúng chỗ mình bắt đầu, hoàn toàn tỉnh táo. Hẳn tôi đã nằm thức ít nhất hai giờ, nguyền rủa sự ngu ngốc và thiếu tự chủ của mình, rồi dường như tôi lại dịu xuống và buồn ngủ. Tôi quyết định thử lại một lần nữa, và lần này sẽ giữ quyền kiểm soát các năng lực của mình để không trở về thể xác hồng trần trước khi nó có đủ phần giấc ngủ bình thường. |
|
Once again I concentrated on getting out of my body, at the same time I kept before me the thought-form of the Academy building. This time my exit from my body was a little different from the first occasion. I have no recollection whatsoever of standing in my bedroom, as I did earlier in the night, but to my amazement and great joy I found myself on the same spot from which I was so ruthlessly dragged when I lost control, a few hours before. This time I remembered that control was necessary and somehow forced myself to remain calm. I know that I sat down on the grass making no effort at all to go near the Academy, but just concentrated deeply on steadying my heart beats and remaining cool and collected. |
Một lần nữa tôi tập trung vào việc ra khỏi thể xác, đồng thời giữ trước mắt mình Hình tư tưởng về tòa nhà Học Viện. Lần này việc ra khỏi thể xác của tôi hơi khác lần đầu. Tôi hoàn toàn không nhớ gì về việc đứng trong phòng ngủ của mình như trước đó trong đêm, mà thật kinh ngạc và vui sướng, tôi thấy mình ở đúng nơi mà vài giờ trước tôi đã bị kéo đi một cách tàn nhẫn khi mất kiểm soát. Lần này tôi nhớ rằng cần phải giữ tự chủ và bằng cách nào đó buộc mình phải bình tĩnh. Tôi biết mình đã ngồi xuống cỏ, hoàn toàn không cố đến gần Học Viện, mà chỉ tập trung sâu sắc vào việc làm nhịp tim ổn định và giữ cho mình điềm tĩnh, vững vàng. |
|
Then I rose to my feet and floated up to the main entrance of the building, up the stairs and to the door of the room which I remembered so clearly had been occupied by Daphne the previous night. This time I realised that there was no possibility of going through the door in the same way that one does on the physical plane, for this building was composed of astral matter and therefore a door here was an obstacle to one’s progress, as I also was in astral matter. I knocked on the door and waited, but there was no response. Once again I knocked, wondering whether the noise I made was insufficient for the occupant to hear, but again complete silence reigned and the door did not open. After a little time I carefully turned the handle and shyly peeped in. I need not have worried for there was no one there. I recognised the room though as the one where I had met Daphne the previous night, so without further preamble, I closed the door again, floated down the stairs and out of the front door. Rising in the air I passed over the roof-top and proceeded on my way, in the hope that Daphne would be at her cottage. I came to earth before I reached the garden city and had another look at its beautiful setting. It was indeed rather like a glimpse of Paradise. No wonder that I had wanted to remain looking at it for a longer period last night. There were even more types of cottages than I had realised, and I absolutely thrilled at the picture set out before me and only wished that I had been an artist, so that perhaps, after returning to my body, I could have reproduced some semblance of what I now saw in such detail. |
Rồi tôi đứng dậy và lơ lửng lên lối vào chính của tòa nhà, lên cầu thang và đến cánh cửa của căn phòng mà tôi nhớ rất rõ là Daphne đã ở đêm trước. Lần này tôi nhận ra rằng không thể nào đi xuyên qua cửa theo cách người ta làm trên cõi hồng trần, vì tòa nhà này được cấu tạo bằng vật chất cảm dục và do đó một cánh cửa ở đây là một chướng ngại đối với sự tiến bước của người ta, cũng như chính tôi cũng đang ở trong vật chất cảm dục. Tôi gõ cửa và chờ, nhưng không có đáp ứng. Một lần nữa tôi lại gõ, tự hỏi không biết tiếng động mình tạo ra có quá nhỏ để người trong phòng nghe thấy hay không, nhưng một lần nữa sự im lặng hoàn toàn vẫn ngự trị và cánh cửa không mở. Sau một lúc, tôi cẩn thận xoay nắm cửa và rụt rè nhìn vào. Tôi không cần phải lo, vì không có ai ở đó. Tuy vậy tôi nhận ra căn phòng ấy chính là nơi tôi đã gặp Daphne đêm trước, nên không chần chừ thêm nữa, tôi lại đóng cửa, lơ lửng xuống cầu thang và ra cửa trước. Bay lên không trung, tôi vượt qua mái nhà và tiếp tục đi, hy vọng rằng Daphne sẽ ở ngôi nhà nhỏ của nàng. Tôi hạ xuống đất trước khi đến khu thành phố vườn và lại ngắm nhìn khung cảnh tuyệt đẹp của nó. Quả thật nó giống như một thoáng nhìn thấy Thiên Đàng. Không lạ gì đêm qua tôi đã muốn đứng ngắm nó lâu hơn. Có còn nhiều kiểu nhà nhỏ hơn cả điều tôi đã nhận ra, và tôi thực sự rung động trước bức tranh bày ra trước mắt mình, chỉ ước gì mình là một họa sĩ để có lẽ, sau khi trở về thể xác, tôi có thể tái hiện được phần nào hình ảnh mà lúc này tôi đang thấy chi tiết đến thế. |
|
The garden city occupied an undulating valley and on all sides the ground gradually sloped upwards until it reached a row of hills, plainly visible in the distance. I gazed my fill at the beautiful gardens, which could only exist in a world where there were no limitations of labour or wealth. There was much to be said for the cultivation of imagination in our physical plane existence, for although daydreaming did not produce any practical results whilst we were alive, yet the faculty of being able to imagine in detail most certainly came into its own in the astral world. Here one only had to be able to visualise a thing and think strongly about it for the thought to become at once an established fact, a fact which remained just as long as, through thought, one wished the idea to continue. Happy people indeed and the thought passed through my mind that, now I knew a little more of what might be in store for me, I would not fret if I were told that soon it would be my turn to leave the physical world; what I had seen and knew made me realise that it is always possible for people who have left the world to be happy, if they really desire happiness. My last thought before an unforeseen interruption occurred was, how easy it was to form a picture in one’s mind of almost every occupant of the bungalows. In the physical world it would be wrong to judge a man from his garden, for probably he has had little or nothing to do with its creation. Here no gardeners are necessary, each garden was the creation of the owner and from it one could make a very good guess as to the outstanding characteristics of the individual. I wished I might have the opportunity of putting my theory to the test. |
Thành phố vườn ấy nằm trong một thung lũng lượn sóng, và ở mọi phía mặt đất dần dần dốc lên cho đến khi chạm tới một dãy đồi, hiện rõ ở phía xa. Tôi tha hồ ngắm nhìn những khu vườn tuyệt đẹp, những khu vườn chỉ có thể tồn tại trong một thế giới không có những giới hạn về lao động hay của cải. Có rất nhiều điều đáng nói về việc vun bồi sự tưởng tượng trong đời sống cõi hồng trần của chúng ta, vì tuy mộng tưởng ban ngày không tạo ra kết quả thực tiễn nào khi chúng ta còn sống, nhưng năng lực có thể hình dung chi tiết chắc chắn phát huy trọn vẹn giá trị của nó trong cõi cảm dục. Ở đây, người ta chỉ cần có khả năng hình dung một điều gì đó và nghĩ mạnh mẽ về nó là hình tư tưởng ấy lập tức trở thành một sự kiện đã được xác lập, một sự kiện tồn tại đúng chừng nào, nhờ tư tưởng, người ta còn muốn ý tưởng ấy tiếp tục. Quả thật là những con người hạnh phúc, và một ý nghĩ thoáng qua trong tâm trí tôi rằng, giờ đây khi tôi đã biết thêm đôi chút về điều có thể đang chờ đợi mình, tôi sẽ không lo lắng nếu được báo rằng chẳng bao lâu nữa sẽ đến lượt tôi rời bỏ thế giới hồng trần; những gì tôi đã thấy và đã biết khiến tôi chứng nghiệm rằng những người đã rời thế gian luôn có thể hạnh phúc, nếu họ thật sự mong muốn hạnh phúc. Ý nghĩ cuối cùng của tôi trước khi có một sự gián đoạn bất ngờ xảy ra là, thật dễ dàng biết bao để hình thành trong tâm trí một bức tranh về gần như mọi người cư ngụ trong các ngôi nhà gỗ ấy. Trong thế giới hồng trần, sẽ là sai lầm nếu phán đoán một người qua khu vườn của ông, vì có lẽ ông ít hoặc hoàn toàn không dính dáng gì đến việc tạo dựng nó. Ở đây không cần người làm vườn; mỗi khu vườn đều là sáng tạo của chủ nhân, và từ đó người ta có thể đoán khá đúng những đặc tính nổi bật của cá nhân ấy. Tôi ước gì mình có cơ hội đem lý thuyết đó ra thử nghiệm. |
|
Just then my attention was drawn to a figure in white, running towards me along the rustic path, a figure that was shouting as she ran. It was Daphne, of course, and she was obviously very excited. |
Đúng lúc ấy, sự chú ý của tôi bị thu hút bởi một dáng người mặc trắng đang chạy về phía tôi dọc theo con đường mộc mạc, một dáng người vừa chạy vừa gọi lớn. Dĩ nhiên đó là Daphne, và rõ ràng nàng đang vô cùng xúc động. |
|
“You’ve got here, Henry, I’m so glad. I’ve been trying to help you so much during the past few hours and I thought my efforts had been useless. Some time ago I felt once that you were near me and I was almost sure that you had managed to get through the veil, but the impression gradually faded and I had given up hope, when once more I felt that you were in the vicinity. I had to come to this spot, I don’t know why, and when I saw you standing here, in a reverie but really here, I think my heart stopped beating for a moment for sheer joy.” |
“Anh đã đến được đây rồi, Henry, em mừng quá. Trong mấy giờ vừa qua em đã cố gắng giúp anh rất nhiều và em tưởng những nỗ lực của mình đều vô ích. Cách đây một lúc em đã một lần cảm thấy anh ở gần em và em gần như chắc chắn rằng anh đã xoay xở để xuyên qua bức màn, nhưng ấn tượng ấy dần dần phai đi và em đã hết hy vọng, thì một lần nữa em lại cảm thấy anh ở trong vùng lân cận. Em phải đến chỗ này, em không biết tại sao, và khi em thấy anh đứng đây, đang mơ màng nhưng thật sự ở đây, em nghĩ tim em đã ngừng đập trong một khoảnh khắc vì niềm vui quá lớn.” |
|
I looked at the graceful figure before me. She seemed just a slip of a girl, dressed in a muslin frock that showed off her girlish figure in the most enchanting lines, and I marveled at her beauty. Her dark brown hair with golden tints running through it made a perfect frame for the animated expression on her beautiful face, the eyes of which showed a love so pure that few men see it in the world. Everything that was decent in me seemed to come to the surface and I felt the age old desire to protect, to hold and to keep, which is the true feeling of a man for his chosen mate. I had no desire to speak, but gently though firmly took her in my arms and reverently pressed my kisses on her face and hair. There was no passion in my embrace. There seemed no room for passion, but there was a deep seated desire to come into closer touch with this child of my dreams, a desire to know her better and if possible to add to the happiness that she already had. She returned my kisses, not at all surprised at what I had done. For a moment her eyes filled with tears—tears which at once I tried to kiss away, almost before they had appeared. Then she hid her face as we turned and with my arm around her waist, slowly strolled in the direction of her cottage. |
Tôi nhìn dáng hình duyên dáng trước mặt mình. Nàng trông chỉ như một thiếu nữ mảnh mai, mặc chiếc váy muslin làm nổi bật vóc dáng thiếu nữ của nàng bằng những đường nét quyến rũ nhất, và tôi kinh ngạc trước vẻ đẹp của nàng. Mái tóc nâu sẫm với những ánh vàng óng xen trong đó tạo thành một khung hoàn hảo cho nét sinh động trên gương mặt xinh đẹp của nàng, đôi mắt biểu lộ một tình yêu trong sáng đến mức hiếm có người nam nào được thấy trên đời. Mọi điều đoan chính trong tôi dường như đều trỗi dậy, và tôi cảm thấy khát vọng muôn thuở muốn che chở, muốn ôm giữ và gìn giữ, vốn là cảm xúc chân thật của một người nam đối với người bạn đời mình đã chọn. Tôi không muốn nói gì, nhưng dịu dàng mà vững chắc ôm nàng vào vòng tay và kính cẩn đặt những nụ hôn lên mặt và tóc nàng. Không có đam mê trong vòng ôm của tôi. Dường như không có chỗ cho đam mê, nhưng có một ước muốn sâu xa được đến gần hơn với đứa con của những giấc mơ tôi, một ước muốn được hiểu nàng hơn và nếu có thể thì làm tăng thêm hạnh phúc mà nàng vốn đã có. Nàng đáp lại những nụ hôn của tôi, hoàn toàn không ngạc nhiên về điều tôi đã làm. Trong một khoảnh khắc, mắt nàng ngập lệ—những giọt lệ mà tôi lập tức cố hôn cho tan đi, gần như trước cả khi chúng xuất hiện. Rồi nàng giấu mặt khi chúng tôi quay đi, và với cánh tay tôi ôm quanh eo nàng, chúng tôi chậm rãi dạo bước về phía ngôi nhà nhỏ của nàng. |
|
When we got there I led her into the lounge and up to the piano. |
Khi đến nơi, tôi đưa nàng vào phòng khách và đến bên cây đàn piano. |
|
“Play to me, darling,” I said, “I feel the need for music just at the moment.” I pulled up a chair and seated myself beside her. She played—what I cannot remember, but I know it was something that depicted joy. I leaned back, closed my eyes in sheer ecstasy and for a few moments realised the peace that passed understanding which, once felt, makes any other sensation empty and imperfect. |
“Chơi cho anh nghe đi, em yêu,” tôi nói, “lúc này anh cảm thấy cần âm nhạc.” Tôi kéo một chiếc ghế lại và ngồi xuống bên cạnh nàng. Nàng chơi—chơi bản gì thì tôi không nhớ, nhưng tôi biết đó là một khúc nhạc diễn tả niềm vui. Tôi ngả người ra sau, nhắm mắt lại trong niềm ngây ngất thuần túy, và trong vài khoảnh khắc đã chứng nghiệm sự bình an vượt ngoài mọi thấu hiểu, mà một khi đã cảm nhận thì mọi cảm giác khác đều trở nên trống rỗng và bất toàn. |
|
I don’t know how long we talked, but I remember I told her all about my misery after Charles was killed and how Acharya came to me, also my experiences up to the evening before, when with his help I met her again. We decided that although we were divided by the two of us living at different levels of consciousness, which made an ordinary life together impossible, we would create a life together, with things as they were, and prove that death was in no sense a barrier either to progress or happiness. We both felt sure that our regard for each other must enable me to pierce the veil whenever necessary and that I would come to her, even though she could not come to me. |
Tôi không biết chúng tôi đã nói chuyện bao lâu, nhưng tôi nhớ mình đã kể cho nàng nghe tất cả về nỗi khổ đau của tôi sau khi Charles bị giết, và về việc Acharya đã đến với tôi, cũng như những kinh nghiệm của tôi cho đến tối hôm trước, khi với sự giúp đỡ của ông tôi lại gặp nàng. Chúng tôi quyết định rằng tuy bị chia cách vì cả hai sống ở những cấp độ tâm thức khác nhau, khiến một đời sống chung bình thường là điều không thể, nhưng chúng tôi sẽ cùng tạo dựng một đời sống chung trong hoàn cảnh hiện tại, và chứng minh rằng cái chết tuyệt nhiên không phải là một rào cản đối với sự tiến bộ hay hạnh phúc. Cả hai chúng tôi đều tin chắc rằng tình cảm dành cho nhau phải giúp tôi xuyên qua bức màn bất cứ khi nào cần thiết, và rằng tôi sẽ đến với nàng, dù nàng không thể đến với tôi. |
|
She told me something of the people who lived in the valley. Many of them were friends of hers, whom she wanted me to meet. She explained that people at this level linked up together, where their interests were similar, but that there was no marriage in the ordinary sense of the word. People there were known by names, but they were Christian names or nicknames, never surnames. She gave me instances of some of them, mentioning that one girl who was always smiling and happy was known as Sunbeam. Another who always dressed in blue was called Bluebell, whilst a man who made his life there one long effort at helping other people was known as the Doctor. I said I would look forward to meeting these friends of hers, but how would they take to me, to one who could not belong in the ordinary sense of the word? |
Nàng kể cho tôi nghe đôi điều về những người sống trong thung lũng. Nhiều người trong số họ là bạn của nàng, những người nàng muốn tôi gặp. Nàng giải thích rằng những người ở cấp độ này liên kết với nhau khi mối quan tâm của họ tương đồng, nhưng ở đó không có hôn nhân theo nghĩa thông thường của từ này. Người ta được biết đến bằng tên riêng hoặc biệt danh, chứ không bao giờ bằng họ. Nàng nêu vài ví dụ, nói rằng một cô gái lúc nào cũng tươi cười và vui vẻ được gọi là Sunbeam. Một người khác luôn mặc màu xanh thì được gọi là Bluebell, còn một người nam biến đời sống của mình ở đó thành một nỗ lực lâu dài để giúp đỡ người khác thì được gọi là Doctor. Tôi nói rằng tôi mong được gặp những người bạn ấy của nàng, nhưng họ sẽ đón nhận tôi thế nào, một người không thể thuộc về nơi ấy theo nghĩa thông thường? |
|
“You will see,” she said, “at this level you only see the nice side of people, for there are few petty jealousies such as we have in the world; everyone can have whatever the other person has, if he or she wants it, merely by making a thought-form to that effect, so any striving to live up to the standards of others is unnecessary. People here become themselves and you will soon realise, when you know them as they really are, that the old saying ‘there is so much good in the worst of us and so much bad in the best of us’ is proved to be very true.” |
“Rồi anh sẽ thấy,” nàng nói, “ở cấp độ này anh chỉ thấy mặt tốt đẹp của con người, vì ở đây có rất ít những ganh tị nhỏ nhen như chúng ta có trong thế gian; ai cũng có thể có bất cứ điều gì người khác có, nếu người ấy muốn, chỉ bằng cách tạo ra một hình tư tưởng theo hướng đó, nên mọi cố gắng sống cho bằng tiêu chuẩn của người khác đều không cần thiết. Ở đây con người trở thành chính mình, và anh sẽ sớm nhận ra, khi anh biết họ như họ thật sự là, rằng câu nói xưa ‘trong kẻ tệ nhất của chúng ta có rất nhiều điều tốt, và trong người tốt nhất của chúng ta có rất nhiều điều xấu’ quả thật rất đúng.” |
|
I hadn’t the slightest idea how long all this conversation had taken, but I remember I began to feel a stirring within me which told me quite plainly that my body had had its quota of sleep; I had just time to bid Daphne goodbye when without further warning the walls of the room in which we were sitting seemed to melt into a mist which instantly evaporated, and again I felt that sensation of moving through space. At once I was awake in my body in Colombo; there was no halfway break on this occasion—I didn’t find myself in my bedroom with my body lying on the bed in front of me; I was wide awake and looking at my watch. I saw that it was 7 o’clock and the sun was shining into my room. At once I got out of bed, almost rushed to my desk to start my report of the night’s happenings, and now I have finished. It is 10 a.m. and I have just time to shave, bathe and have some breakfast before I may expect Acharya. I wonder what his reaction will be to all I have to show him. Will he be pleased at the progress his pupil has made, or will he tell me that this is just a flash in the pan—that it is unlikely I shall be able to travel alone in the future, and that much more hard work and study are necessary before I can wander without guidance. I shall know very soon. The picture of Daphne is still very real. Perhaps I missed my happiness by not marrying her in England when I had the chance. I don’t know, but I have no regrets. I feel that perhaps there is a future before us which is infinitely more fascinating and beautiful than anything that could have been our lot in the world. |
Tôi hoàn toàn không biết cuộc trò chuyện ấy đã kéo dài bao lâu, nhưng tôi nhớ mình bắt đầu cảm thấy một sự lay động bên trong báo cho tôi khá rõ rằng thể xác tôi đã ngủ đủ phần của nó; tôi chỉ vừa kịp từ biệt Daphne thì không có thêm báo trước nào nữa, những bức tường của căn phòng nơi chúng tôi đang ngồi dường như tan thành sương mù rồi lập tức bốc hơi mất, và một lần nữa tôi lại cảm thấy cảm giác đang di chuyển xuyên không gian. Ngay lập tức tôi tỉnh dậy trong thể xác của mình ở Colombo; lần này không có giai đoạn trung gian—tôi không thấy mình ở trong phòng ngủ với thể xác nằm trên giường trước mặt; tôi hoàn toàn tỉnh táo và đang nhìn đồng hồ. Tôi thấy lúc đó là 7 giờ và mặt trời đang chiếu vào phòng. Lập tức tôi ra khỏi giường, gần như lao đến bàn viết để bắt đầu bản tường trình về những việc xảy ra trong đêm, và giờ đây tôi đã viết xong. Bây giờ là 10 giờ sáng và tôi chỉ vừa đủ thời gian để cạo râu, tắm rửa và ăn sáng trước khi có thể đón Acharya. Tôi tự hỏi ông sẽ phản ứng thế nào trước tất cả những gì tôi phải cho ông xem. Liệu ông có hài lòng về sự tiến bộ mà học trò ông đã đạt được, hay ông sẽ bảo tôi rằng đây chỉ là một tia chớp lóe lên rồi tắt—that it is unlikely I shall be able to travel alone in the future, and that much more hard work and study are necessary before I can wander without guidance. Tôi sẽ biết rất sớm. Hình ảnh của Daphne vẫn còn rất thật. Có lẽ tôi đã bỏ lỡ hạnh phúc của mình khi không cưới nàng ở Anh lúc tôi có cơ hội. Tôi không biết, nhưng tôi không hối tiếc. Tôi cảm thấy có lẽ trước mặt chúng tôi là một tương lai hấp dẫn và đẹp đẽ hơn vô cùng bất cứ điều gì có thể đã là số phận của chúng tôi trong thế gian. |
Chapter 8
|
It must have been about 11 o’clock, and for the last ten minutes I had been sitting at my desk reading over the notes I had made of last night’s happenings, when suddenly the pleasant voice that I know so well broke into my reverie. |
Chắc lúc đó vào khoảng 11 giờ, và trong mười phút cuối tôi đã ngồi ở bàn đọc lại những ghi chép mình đã viết về các sự việc xảy ra đêm qua, thì đột nhiên giọng nói dễ chịu mà tôi biết rất rõ cắt ngang dòng mơ màng của tôi. |
|
“Well, Henry, my friend, so you have accomplished something worthwhile at last. Now perhaps you will admit that you have been able to prove for yourself those things which I told you in my early talks were facts to me.” It was Acharya who had entered my room in his usual unobtrusive manner. |
“Nào, Henry, bạn tôi, vậy là cuối cùng anh cũng đã làm được một điều đáng giá. Giờ đây có lẽ anh sẽ thừa nhận rằng anh đã có thể tự mình chứng minh những điều mà trong các cuộc nói chuyện đầu tiên tôi đã bảo anh là những sự kiện đối với tôi.” Đó là Acharya, người đã bước vào phòng tôi theo cách kín đáo thường lệ của ông. |
|
“Yes, Acharya, I am bound to admit that I am beginning to realise that even the things you have told me about in past talks and which I have not yet been able to prove conclusively are undoubtedly provable with more experience. I suppose you are well aware of what happened last night and it is not necessary for me to hand you my report, but I would like you to read it, so that you may check up and see if I have forgotten anything of importance.” |
“Vâng, Acharya, tôi buộc phải thừa nhận rằng tôi đang bắt đầu chứng nghiệm rằng ngay cả những điều ông đã kể cho tôi trong các cuộc nói chuyện trước đây mà tôi vẫn chưa thể chứng minh dứt khoát, thì chắc chắn cũng có thể được chứng minh với nhiều kinh nghiệm hơn. Tôi cho rằng hẳn ông đã biết rõ điều gì đã xảy ra đêm qua và tôi không cần phải đưa ông bản tường trình của mình, nhưng tôi muốn ông đọc nó, để ông có thể kiểm tra và xem liệu tôi có quên điều gì quan trọng không.” |
|
Acharya replied that he was only too willing to read my report, and that he wished also to see the record of the second astral journey which we took together. He added he would talk about them for a little while, before passing on to more tuition. After finishing these records, his face showed his appreciation of my efforts—he was obviously extremely pleased that I had been able to put into actual practice some of the tuition he had so patiently given me during the past week or two. I told him how much I was in his debt for his unselfish and much needed help, but he assured me that I need not feel in any way indebted to him, for cases like mine were his particular job in life and that he was well rewarded if those he taught benefitted from that teaching in a real and practical way. |
Acharya đáp rằng ông rất sẵn lòng đọc bản tường trình của tôi, và ông cũng muốn xem ghi chép về chuyến du hành cảm dục thứ hai mà chúng tôi đã cùng thực hiện. Ông nói thêm rằng ông sẽ bàn về chúng một lúc trước khi chuyển sang phần huấn luyện khác. Sau khi đọc xong những ghi chép ấy, nét mặt ông cho thấy sự đánh giá cao đối với nỗ lực của tôi—rõ ràng ông hết sức hài lòng vì tôi đã có thể đem vào thực hành thực tế một số điều huấn luyện mà ông đã kiên nhẫn truyền dạy cho tôi trong một hai tuần qua. Tôi nói với ông rằng tôi mang ơn ông biết bao vì sự giúp đỡ vô tư và rất cần thiết ấy, nhưng ông bảo đảm với tôi rằng tôi không cần cảm thấy mắc nợ ông theo bất cứ cách nào, vì những trường hợp như tôi là công việc riêng của ông trong đời, và ông đã được đền đáp xứng đáng nếu những người ông dạy thật sự và thực tiễn được lợi ích từ sự dạy dỗ ấy. |
|
He then started to comment on the past two nights and I listened most attentively. This is what he said: “I must first explain why I took you to the third sphere of the astral world via London; as you know this was quite unnecessary. My reason for it was to make you realise that any town in the world which you might go to in your astral body, looks the same as the physical town you are familiar with, though what you see is not physical, but the astral counterpart of the physical places as they exist on the first sphere of the astral world. In future it will be better to start your journeying from Colombo. You will find it just as easy to get up to spheres higher than the third, which is where you made contact with Daphne, as the same machinery operates, but to do that it is necessary to have a particular place on each sphere, which you visualise in thought and to which your astral body will be transported in the course of a few seconds of time as you know it here. |
Sau đó ông bắt đầu bình luận về hai đêm vừa qua và tôi lắng nghe hết sức chăm chú. Đây là điều ông nói: “Trước hết tôi phải giải thích vì sao tôi đã đưa anh đến khối cầu thứ ba của cõi cảm dục qua ngả Luân Đôn; như anh biết, điều đó hoàn toàn không cần thiết. Lý do của tôi là để khiến anh nhận ra rằng bất cứ thành phố nào trên thế giới mà anh có thể đến trong thể cảm dục của mình đều trông giống như thành phố hồng trần mà anh quen thuộc, mặc dù điều anh thấy không phải là hồng trần, mà là đối phần cảm dục của những nơi chốn hồng trần như chúng hiện hữu trên khối cầu thứ nhất của cõi cảm dục. Trong tương lai, tốt hơn anh nên bắt đầu những chuyến du hành của mình từ Colombo. Anh sẽ thấy việc đi lên những khối cầu cao hơn khối cầu thứ ba, là nơi anh đã tiếp xúc với Daphne, cũng dễ dàng như vậy, vì cùng một bộ máy vận hành; nhưng để làm được điều đó, cần phải có một nơi chốn đặc biệt trên mỗi khối cầu, nơi mà anh hình dung trong tư tưởng và thể cảm dục của anh sẽ được chuyển đến đó chỉ trong vài giây theo cách anh biết về thời gian ở đây. |
|
“I expected that you might possibly become a little afraid when your surroundings became blurred and you felt a sense of movement; I must congratulate you on not having experienced an initial failure, which I have noticed sometimes happens to my pupils. They become frightened, and almost simultaneously awaken in their physical bodies, with beating hearts produced by their fear. Actually you have experienced this, for last night you returned to your physical body for a time without having any intention of doing so, when your excitement got the better of you whilst making your attempt to reach Daphne without any assistance from me. |
“Tôi đã nghĩ rằng có thể anh sẽ hơi sợ khi khung cảnh chung quanh trở nên mờ nhòe và anh cảm thấy một cảm giác chuyển động; tôi phải chúc mừng anh vì đã không trải qua một thất bại ban đầu, điều mà đôi khi tôi thấy xảy ra với các học trò của mình. Họ trở nên sợ hãi, và gần như đồng thời tỉnh dậy trong thể xác hồng trần, tim đập mạnh vì nỗi sợ ấy. Thật ra anh đã trải qua điều này, vì đêm qua anh đã trở về thể xác hồng trần một lúc mà không hề có ý định làm vậy, khi sự xúc động lấn át anh trong lúc anh cố gắng đến với Daphne mà không có sự trợ giúp của tôi. |
|
“It is unnecessary for me to say anything much concerning the second sphere of the astral world, for it is very like the first, only less crowded and less noisy. In the two spheres nearest to the physical world, the permanent inhabitants live more or less the type of life that has always appealed to them in the physical world. In most cases such people do not remain there for the whole of their astral existence. There are exceptions who are so attached to the material existence, that they have no desire to progress to the higher spheres of the astral world—but they are forced to do so after a period that might run into two or even three hundred years, at which time the ego urges the vehicle he is occupying to pass through the ‘second death’ to the mental world. This method of progress is not the usual one and it would not be yours when the time comes for you to pass into the astral world. You have already realised from seeing the activities of but a few people who live on the third sphere that the life there would appeal to you considerably more than a round of visits to restaurants, theatres, or cinemas. |
“Tôi không cần nói nhiều về khối cầu thứ hai của cõi cảm dục, vì nó rất giống khối cầu thứ nhất, chỉ ít đông đúc và ít ồn ào hơn. Trong hai khối cầu gần thế giới hồng trần nhất, những cư dân thường trú sống ít nhiều kiểu đời sống vốn luôn hấp dẫn họ trong thế giới hồng trần. Trong phần lớn trường hợp, những người như thế không ở đó suốt toàn bộ đời sống cảm dục của họ. Có những ngoại lệ quá gắn bó với đời sống vật chất đến nỗi họ không muốn tiến lên các khối cầu cao hơn của cõi cảm dục—nhưng họ bị buộc phải làm như vậy sau một thời kỳ có thể kéo dài đến hai trăm hay thậm chí ba trăm năm, vào lúc đó chân ngã thúc đẩy vận cụ mà y đang chiếm dụng đi qua ‘cái chết thứ hai’ để sang cõi trí. Phương pháp tiến bộ này không phải là thông thường và sẽ không phải là cách của anh khi đến lúc anh bước vào cõi cảm dục. Anh đã nhận ra, chỉ từ việc thấy hoạt động của một số ít người sống trên khối cầu thứ ba, rằng đời sống ở đó sẽ hấp dẫn anh hơn nhiều so với một vòng thăm viếng các nhà hàng, nhà hát hay rạp chiếu bóng. |
|
“I was able to show you both artists and musicians at work in the third sphere, but you must realise that this sphere is not limited to artists or musicians and it would have been quite easy for me to show you great engineers, craftsmen devoted to some particular trade, in fact every type of individual whose consuming interest in life is not bound up with purely material amusements or pursuits. |
“Tôi đã có thể cho anh thấy cả các nghệ sĩ lẫn nhạc sĩ đang làm việc trên khối cầu thứ ba, nhưng anh phải hiểu rằng khối cầu này không chỉ giới hạn ở nghệ sĩ hay nhạc sĩ, và tôi hoàn toàn có thể cho anh thấy những kỹ sư lớn, những người thợ thủ công tận tụy với một nghề riêng biệt, thật ra là mọi loại cá nhân mà mối quan tâm cháy bỏng trong đời không gắn chặt với những thú vui hay theo đuổi thuần túy vật chất. |
|
“When you were listening to the music played by the group under Johann Strauss, you saw a few members of that parallel evolution called the deva kingdom. When you have had experience of spheres higher than the third, you will find that not only are they much more numerous there but that they cooperate more and more with members of the human evolution the further we get away from the material life. You may think that their existence is preferable to ours; that you would prefer to evolve from fish, butterflies and birds into the stage of elemental, nature spirits and eventually to a stage of deva such as you saw comprised the orchestra that performed in the wood. We cannot change our evolution, except in very exceptional circumstances. |
“Khi anh lắng nghe âm nhạc do nhóm dưới sự dẫn dắt của Johann Strauss trình diễn, anh đã thấy một vài thành viên của đường tiến hoá song song ấy gọi là giới thiên thần. Khi anh có kinh nghiệm về những khối cầu cao hơn khối cầu thứ ba, anh sẽ thấy không những họ đông hơn nhiều ở đó mà họ còn hợp tác ngày càng nhiều với các thành viên của tiến hoá nhân loại khi chúng ta càng rời xa đời sống vật chất. Anh có thể nghĩ rằng sự hiện hữu của họ đáng ưa thích hơn của chúng ta; rằng anh muốn tiến hoá từ cá, bướm và chim đến giai đoạn hành khí, tinh linh tự nhiên và cuối cùng đến một giai đoạn thiên thần như những vị mà anh thấy hợp thành dàn nhạc biểu diễn trong khu rừng. Chúng ta không thể thay đổi đường tiến hoá của mình, trừ trong những hoàn cảnh rất ngoại lệ. |
|
“You probably wondered why I spent so much time at the Academy showing you the work that goes on in buildings of this kind. I did so for two reasons; the first reason was that you should realise that this was but one of the many schools which exist in the astral world, where people can get tuition in the particular art in which they are interested—tuition which enables them to be born in their next life with a desire to continue to study along these lines, so that a few of them at least can become great Masters of their art and help the physical world to progress in both culture and learning. My second reason you must have guessed for yourself. Through your having a clear picture of that Academy in your mind after you had returned to your physical body in Colombo, you were able to get back to that spot quite easily and without any stupendous effort; from there you were able to contact Daphne and continue your astral plane experiences. Do not forget this for the future. Pinpoint a certain building or view in your mind and you can then use that pinpointed picture as a thought-form on which to concentrate, when you desire to go to that particular sphere of consciousness. |
“Có lẽ anh đã tự hỏi vì sao tôi dành nhiều thời gian ở Học viện để cho anh thấy công việc diễn ra trong những tòa nhà loại này. Tôi làm vậy vì hai lý do; lý do thứ nhất là để anh nhận ra rằng đây chỉ là một trong nhiều trường học tồn tại trong cõi cảm dục, nơi người ta có thể được huấn luyện về nghệ thuật riêng mà họ quan tâm—sự huấn luyện giúp họ được sinh ra trong kiếp sau với một khát vọng tiếp tục học hỏi theo những đường hướng ấy, để ít nhất một số người trong họ có thể trở thành những bậc đại Chân sư trong nghệ thuật của mình và giúp thế giới hồng trần tiến bộ cả về văn hóa lẫn học thuật. Lý do thứ hai hẳn anh đã tự đoán ra. Nhờ anh có một hình ảnh rõ ràng về Học viện ấy trong tâm trí sau khi anh trở về thể xác hồng trần ở Colombo, anh đã có thể quay lại chỗ đó khá dễ dàng và không cần một nỗ lực phi thường nào; từ đó anh đã có thể tiếp xúc với Daphne và tiếp tục những kinh nghiệm cõi cảm dục của mình. Đừng quên điều này trong tương lai. Hãy ghim chặt một tòa nhà hay một quang cảnh nhất định trong tâm trí anh, rồi anh có thể dùng hình ảnh đã được ghim chặt ấy như một hình tư tưởng để tập trung vào, khi anh muốn đi đến khối cầu tâm thức đặc biệt đó. |
|
“I hope that you have realized very pertinently the necessity of knowing the way in which time affects your sojourn at the astral level. I went into detail over this important point, so that you should understand how to investigate, should the occasion arise. |
“Tôi hy vọng anh đã nhận ra rất rõ sự cần thiết phải biết cách thời gian tác động đến thời gian lưu trú của anh ở cấp độ cảm dục. Tôi đã đi vào chi tiết về điểm quan trọng này để anh hiểu cách khảo sát, nếu có dịp phát sinh. |
|
“Our journey to the part of the astral world where the ceremony was being held requires no comment. You will remember that after we arrived there and seated ourselves on the roots of one of the trees at the edge of the open space, I warned you to be as quiet as possible. The reason was that although the members of the deva kingdom do not really object to any human seeing them at their work, they do not like interruptions of any sort.You will have noticed the intensity of purpose that prevailed throughout the whole cere-mony. The little men or gnomes, who came out of the forest in the early stages and started the proceedings with their chanting and beating of drums, are on a much lower level of evolution than both you and the members of the orchestra. One thing though must have been apparent, that all of them seemed to be concentrating with their whole strength on the work in hand. There was no levity or chatter such as one is used to at a concert in the world, immediately prior to the performance. It is this remarkable difference that I wish to impress upon you, for if you are to understand the members of the deva evolution and, I trust, in due time work in conjunction with them, you must realise that life is a very serious business to them and levity does not usually enter into the proceedings. Not that they are unable to laugh; they are indeed extremely happy people who seem to enjoy the simple pleasures of nature but they do not allow outside influences in any way to disturb the perfection of the work to which they set their hands. |
“Chuyến đi của chúng ta đến phần cõi cảm dục nơi buổi lễ đang được cử hành không cần bình luận gì. Anh sẽ nhớ rằng sau khi chúng ta đến đó và ngồi trên rễ của một trong những cây ở rìa khoảng đất trống, tôi đã cảnh báo anh phải yên lặng hết mức có thể. Lý do là vì tuy các thành viên của giới thiên thần thật ra không phản đối việc con người nhìn thấy họ đang làm việc, nhưng họ không thích bất cứ sự gián đoạn nào. Hẳn anh đã nhận thấy cường độ mục đích bao trùm toàn bộ buổi lễ. Những người nhỏ bé hay thần lùn, xuất hiện từ khu rừng trong giai đoạn đầu và bắt đầu nghi thức bằng tiếng tụng niệm và tiếng trống, ở một cấp độ tiến hoá thấp hơn rất nhiều so với cả anh lẫn các thành viên của dàn nhạc. Tuy nhiên, có một điều hẳn phải rõ ràng, đó là tất cả họ dường như đều đang tập trung toàn bộ sức lực vào công việc trước mắt. Không có sự bông đùa hay chuyện trò như người ta thường thấy ở một buổi hòa nhạc trong thế gian ngay trước khi biểu diễn. Chính sự khác biệt đáng chú ý này tôi muốn gây ấn tượng nơi anh, vì nếu anh muốn hiểu các thành viên của tiến hoá thiên thần và, tôi hy vọng, đến lúc thích hợp sẽ làm việc phối hợp với họ, thì anh phải nhận ra rằng đối với họ đời sống là một công việc rất nghiêm túc và sự bông đùa thường không xen vào các hoạt động ấy. Không phải là họ không thể cười; thật ra họ là những con người vô cùng hạnh phúc, dường như rất vui với những thú vui đơn sơ của thiên nhiên, nhưng họ không để cho những ảnh hưởng bên ngoài làm xáo trộn theo bất cứ cách nào sự hoàn hảo của công việc mà họ đã đặt tay vào. |
|
“In order that you may understand what follows, I must digress for a few moments. You have probably heard of initiates, masters and adepts in our evolution. These terms occur in occult books, but little has been written about them. Briefly I can tell you this much for the moment. As man evolves along the road that is set before him, he is actually under the control and guidance of a group of adepts, who are perfected man, but who were as you are, countless thousands of years ago. These men have finished the course of lives to be lived at the physical level, for they have learnt all the lessons that the physical world has to teach. Because of their developed love for humanity as a whole, they have elected to remain (at some sacrifice to themselves, as you may understand later on) in connection with this planet, to help it on and to assist in its development. These adepts are sometimes referred to as masters, because some of them take pupils, men living in the world and not yet perfect in any sense of the word, to help them with the work that has to be done. These pupils are given many opportunities of development which are not open to mankind in general, but you may be sure that they have earned these opportunities, and it is not in any way a question of favouritism that they have been picked out from the bulk of humanity for this special work. It is hard work and usually means that such men have to give up many of the things they would do in the world, in order to devote themselves exclusively to learning how they can help humanity, without receiving any material benefit in return for that work. It is selfless service that they offer, and their only reward is that they are allowed to contact personally, in sleep when using their astral bodies, these perfected men whom they have agreed to serve. |
“Để anh có thể hiểu điều tiếp theo, tôi phải tạm lạc đề trong vài phút. Có lẽ anh đã nghe nói đến các điểm đạo đồ, các chân sư và các adept trong tiến hoá của chúng ta. Những thuật ngữ này xuất hiện trong các sách huyền bí học, nhưng rất ít được viết về chúng. Tóm lược, lúc này tôi có thể nói với anh chừng này. Khi con người tiến hoá trên con đường đặt ra trước mặt mình, thật ra y đang ở dưới sự kiểm soát và hướng dẫn của một nhóm các chân sư, là những con người đã hoàn thiện, nhưng vô số ngàn năm trước họ cũng từng như anh bây giờ. Những người này đã hoàn tất chuỗi đời sống phải sống ở cấp độ hồng trần, vì họ đã học xong mọi bài học mà thế giới hồng trần phải dạy. Do tình thương đã phát triển của họ đối với toàn thể nhân loại, họ đã chọn ở lại (với một sự hi sinh nào đó cho chính họ, như sau này anh có thể hiểu) trong liên hệ với hành tinh này, để giúp nó tiến lên và hỗ trợ sự phát triển của nó. Những chân sư này đôi khi được gọi là các chân sư, vì một số trong họ nhận học trò, những người đang sống trong thế gian và chưa hoàn thiện theo bất cứ nghĩa nào, để giúp họ trong công việc phải làm. Những học trò này được trao nhiều cơ hội phát triển mà nhân loại nói chung không có, nhưng anh có thể chắc rằng họ đã xứng đáng với những cơ hội ấy, và việc họ được chọn ra khỏi khối đông nhân loại cho công việc đặc biệt này tuyệt nhiên không phải là chuyện thiên vị. Đó là công việc nặng nhọc và thường có nghĩa là những người như thế phải từ bỏ nhiều điều họ vốn sẽ làm trong thế gian, để chuyên tâm học cách họ có thể giúp nhân loại mà không nhận bất cứ lợi ích vật chất nào đổi lại cho công việc ấy. Điều họ dâng hiến là sự phụng sự vô ngã, và phần thưởng duy nhất của họ là được phép tiếp xúc đích thân, trong giấc ngủ khi dùng thể cảm dục, với những con người hoàn thiện mà họ đã đồng ý phụng sự. |
|
“Such pupils, after many lives of work and special training, are prepared for the Initiation ceremonies. These ceremonies give them powers that make them different from the ordinary run of human beings. They teach a man how to read other men’s minds, for by the time that such a man has developed to this state, he will never use that power for anything other than to help a fellow human being. He is taught how to have continuity of consciousness at all levels—as I am teaching you to have continuity of consciousness at the astral and physical levels only; that is something which is difficult for you to understand as yet. Such men can, if necessary, work what the world calls miracles, but this is never done, except on the instructions of one of the adepts who help to govern the planet. There are five stages of initiation and only when the fifth is reached is a man perfect and free from the necessity of being born again into the physical world. Sometimes the lives of initiates are extended, so that a man lives long beyond the normal span, but this is only done for special purposes or because that man is needed in a particular country in the world, to wield an influence which may make a difference to future generations. |
“Những học trò như thế, sau nhiều kiếp sống làm việc và được huấn luyện đặc biệt, được chuẩn bị cho các lễ điểm đạo. Những nghi lễ này ban cho họ những quyền năng khiến họ khác với số đông người bình thường. Chúng dạy một người cách đọc tâm trí của người khác, vì đến lúc một người đã phát triển đến trạng thái ấy, y sẽ không bao giờ dùng quyền năng đó cho bất cứ điều gì ngoài việc giúp một đồng loại. Y được dạy cách có sự liên tục của tâm thức ở mọi cấp độ—cũng như tôi đang dạy anh có sự liên tục của tâm thức chỉ ở các cấp độ cảm dục và hồng trần; đó là điều hiện giờ anh còn khó hiểu. Những người như thế, nếu cần, có thể làm điều mà thế gian gọi là phép lạ, nhưng điều này không bao giờ được thực hiện, trừ theo chỉ thị của một trong các chân sư giúp cai quản hành tinh. Có năm giai đoạn điểm đạo, và chỉ khi đạt đến giai đoạn thứ năm thì một người mới hoàn thiện và thoát khỏi sự cần thiết phải tái sinh vào thế giới hồng trần. Đôi khi đời sống của các điểm đạo đồ được kéo dài, để một người sống lâu hơn nhiều so với tuổi thọ bình thường, nhưng điều này chỉ được làm vì những mục đích đặc biệt hoặc vì người ấy cần thiết ở một quốc gia nào đó trên thế giới, để vận dụng một ảnh hưởng có thể tạo nên khác biệt cho các thế hệ tương lai. |
|
“During the deva ceremony at which you were present, you noticed that the young girl who took the solo part in the symphony remained at the top of one of the tall trees on the edge of the glade and did not at any time approach the members of the orchestra or come down to the ground. There is a reason for this. These girls are trained especially for the work they do; they live apart from the main body of the deva people and are in fact dedicated to their particular work. For this they have to develop extremely sensitive bodies, and minds that can attune themselves to the particular object which is being carried out. This girl, for instance, is a highly evolved being; she is an initiate in her evolution and so has knowledge and powers, far greater than the average type of deva whom you will meet from time to time. |
“Trong buổi lễ thiên thần mà anh hiện diện, anh nhận thấy cô gái trẻ đảm nhận phần độc tấu trong bản giao hưởng vẫn ở trên ngọn một cây cao nơi rìa khoảng trống và không lúc nào đến gần các thành viên của dàn nhạc hay xuống mặt đất. Có một lý do cho điều này. Những cô gái ấy được huấn luyện đặc biệt cho công việc họ làm; họ sống tách biệt khỏi khối chính của dân thiên thần và thật ra được hiến dâng cho công việc riêng của mình. Vì thế họ phải phát triển những thể cực kỳ nhạy cảm, và những trí tuệ có thể chỉnh hợp với mục tiêu đặc biệt đang được thực hiện. Chẳng hạn cô gái này là một hữu thể tiến hoá rất cao; cô là một điểm đạo đồ trong đường tiến hoá của mình và do đó có tri thức và quyền năng lớn hơn rất nhiều so với loại thiên thần trung bình mà thỉnh thoảng anh sẽ gặp. |
|
“Then there was the priest who completed the ceremony and invoked the Beings who control the universe, to help the work that was being done. He too was a highly evolved being, but nothing near an initiate and probably not even a pupil of one of the perfected men. His calling was that of a priest, who has been taught to gather up the force that has been generated by the concentrated music and the concentrated thoughts of those present and to transmit it through the power of thought to the meeting being held in the physical world. You may perhaps not believe that such things are possible and there is no necessity for you to do so, but to say ‘such things cannot be’ is just as foolish as believing only because someone else has assured you that such and such a thing is true. |
“Rồi còn vị tư tế đã hoàn tất buổi lễ và khẩn cầu các Hữu thể cai quản vũ trụ giúp cho công việc đang được thực hiện. Ông ấy cũng là một hữu thể tiến hoá cao, nhưng chưa hề gần mức một điểm đạo đồ và có lẽ thậm chí chưa phải là học trò của một trong những con người hoàn thiện. Thiên chức của ông là một tư tế, người đã được dạy cách thu gom mãnh lực được tạo ra bởi âm nhạc tập trung và tư tưởng tập trung của những người hiện diện, rồi truyền nó bằng quyền năng của tư tưởng đến cuộc họp đang diễn ra trong thế giới hồng trần. Có lẽ anh sẽ không tin rằng những điều như thế là có thể, và anh không cần phải tin, nhưng nói rằng ‘những điều như thế không thể có’ thì cũng ngu xuẩn chẳng kém gì tin chỉ vì có người khác bảo đảm với anh rằng điều này điều kia là thật. |
|
“I welcomed the opportunity Daphne gave us of seeing her little cottage for I knew that at certain times she would not be occupying her room at the Academy. Also I was glad for you to see that there were many people living in the valley where Daphne’s cottage is, for I want you to meet and talk to some of those people. Your story, and the efforts you are making to live a life apart from your body whilst still living in the world, will not only be interesting to some of them, but it will help them also. Some are not as evolved as you are and have not had, in past lives, the opportunities for progress which you had, and which have led to your being given special tuition in this life. Because you have been privileged to be taught, you too must be willing and anxious to pass on any knowledge that you have to others. Your intention of publishing the gist of my talks with you and your wanderings out of your body as a book is a good thing, but that will only help others who are still living in the world. What I tell you now, and in future talks, is not for your ears alone, but for the ears of anyone who is interested enough to want to understand. When you are told things that have to be kept secret, it is usually because the possession of such knowledge would enable men to do harm to others, if such knowledge were used for selfish purposes, but I can assure you that you are never left in doubt about such matters at the stage in development when that type of knowledge may be given to you. |
“Tôi hoan nghênh cơ hội mà Daphne đã cho chúng ta để thấy ngôi nhà nhỏ của nàng, vì tôi biết rằng vào những lúc nhất định nàng sẽ không ở trong phòng tại Học viện. Tôi cũng vui vì anh được thấy rằng có nhiều người sống trong thung lũng nơi ngôi nhà nhỏ của Daphne tọa lạc, vì tôi muốn anh gặp và nói chuyện với một số người trong họ. Câu chuyện của anh, và những nỗ lực anh đang thực hiện để sống một đời sống tách khỏi thể xác trong khi vẫn còn sống trong thế gian, sẽ không chỉ làm một số người trong họ quan tâm mà còn giúp họ nữa. Một số người không tiến hoá bằng anh và trong các kiếp trước đã không có những cơ hội tiến bộ mà anh đã có, những cơ hội đã dẫn đến việc anh được trao sự huấn luyện đặc biệt trong kiếp này. Bởi vì anh đã có đặc ân được dạy dỗ, anh cũng phải sẵn lòng và tha thiết truyền lại cho người khác bất cứ tri thức nào anh có. Ý định của anh là xuất bản phần cốt yếu của những cuộc nói chuyện giữa tôi với anh và những chuyến du hành ra khỏi thể xác của anh thành một cuốn sách là điều tốt, nhưng điều đó sẽ chỉ giúp những người vẫn còn sống trong thế gian. Điều tôi nói với anh bây giờ, và trong các cuộc nói chuyện tương lai, không chỉ dành cho tai anh, mà cho tai của bất cứ ai đủ quan tâm để muốn thấu hiểu. Khi người ta được cho biết những điều phải giữ bí mật, thường là vì việc sở hữu tri thức như thế sẽ cho phép con người làm hại người khác nếu tri thức ấy bị dùng cho những mục đích ích kỷ, nhưng tôi có thể bảo đảm với anh rằng anh sẽ không bao giờ bị để trong nghi ngờ về những vấn đề như thế ở giai đoạn phát triển khi loại tri thức đó có thể được trao cho anh. |
|
“This brings me to the end of your record covering the second astral journey, and I must congratulate you on the details you were able to bring through. Your determination to remember was the reason for your success and if you will only realise that will power is, to a great extent, the open-sesame to most of your difficulties, you will continue to have success in the future. |
“Điều này đưa tôi đến chỗ kết thúc bản ghi chép của anh về chuyến du hành cảm dục thứ hai, và tôi phải chúc mừng anh về những chi tiết mà anh đã có thể mang về. Quyết tâm ghi nhớ của anh là lý do thành công của anh, và nếu anh chỉ cần nhận ra rằng ý chí, ở một mức độ lớn, là câu thần chú mở cửa cho phần lớn những khó khăn của anh, thì anh sẽ tiếp tục thành công trong tương lai. |
|
“The only important detail that you did not seem to remember, and which you probably did not realise at the time, was that during the ceremony in the open glade, there were several hundred members of the deva kingdom floating gently—more or less hovering—immediately above the open clearing and perhaps some fifteen to twenty feet above the tops of the trees surrounding the glade. They were not merely spectators or a congregation, such as we see in a big church in the world, but they were most certainly active participants in the ceremony through whose efforts, mainly, the necessary force, of which I have spoken, was generated. It would have been interesting if you had seen them, for you would have noticed that at the end of the invocation made by the bearded priest, they seemed to gather up the force for good that had been generated and immediately afterwards moved off in a compact body, presumably to ensure its achieving the desired results. Do not let this lapse on your part worry you in the least, for I can assure you that you have done very well indeed. |
“Chi tiết quan trọng duy nhất mà dường như anh không nhớ, và có lẽ lúc đó anh không nhận ra, là trong buổi lễ ở khoảng trống ngoài trời, có vài trăm thành viên của giới thiên thần đang nhẹ nhàng trôi nổi—ít nhiều lơ lửng—ngay phía trên khoảng đất trống và có lẽ cao hơn ngọn những cây bao quanh khoảng trống chừng mười lăm đến hai mươi bộ. Họ không chỉ là khán giả hay một hội chúng, như chúng ta thấy trong một nhà thờ lớn ở thế gian, mà chắc chắn là những người tham dự tích cực trong buổi lễ, nhờ nỗ lực của họ là chính mà mãnh lực cần thiết, điều tôi đã nói đến, được tạo ra. Sẽ rất thú vị nếu anh thấy họ, vì anh hẳn đã nhận ra rằng vào cuối lời khẩn cầu do vị tư tế râu dài thực hiện, họ dường như thu gom mãnh lực thiện đã được tạo ra và ngay sau đó di chuyển đi thành một khối chặt chẽ, có lẽ để bảo đảm cho nó đạt được những kết quả mong muốn. Đừng để sự thiếu sót này về phần anh làm anh bận tâm chút nào, vì tôi có thể bảo đảm với anh rằng anh đã làm rất tốt. |
|
“The urge you felt to try things out for yourself, the following night, was quite a natural one, and whenever similar urges impress you in the future, always act upon them immediately. The urge comes from the ego, which is you, and the ego is only too willing for you to progress in knowledge of this kind. Activities on higher levels than the physical are much more interesting to an ego than the artificial amusements and the normal routine activities that we have to go through in the physical world. The ego of course realises that our physical plane lives are necessary for his progress in evolution; but the goal of this ambition is always the same—for man to emancipate himself and to learn as quickly as possible the lessons that our countless lives are meant to teach us. By doing so he will all the sooner be free from the necessity of being reborn again, and be able to take up a different and much more interesting existence, such as is only possible for someone who has learnt all the lessons that have to be learnt through the medium of physical existence. |
“Thúc đẩy mà anh cảm thấy muốn tự mình thử nghiệm vào đêm hôm sau là điều hoàn toàn tự nhiên, và bất cứ khi nào những thúc đẩy tương tự gây ấn tượng nơi anh trong tương lai, hãy luôn hành động theo chúng ngay lập tức. Thúc đẩy ấy đến từ chân ngã, tức là chính anh, và chân ngã rất sẵn lòng để anh tiến bộ trong loại tri thức này. Những hoạt động ở các cấp độ cao hơn hồng trần thú vị đối với chân ngã hơn nhiều so với những trò giải trí nhân tạo và những hoạt động thường nhật bình thường mà chúng ta phải trải qua trong thế giới hồng trần. Dĩ nhiên chân ngã nhận ra rằng những đời sống cõi hồng trần của chúng ta là cần thiết cho sự tiến hoá của y; nhưng mục tiêu của khát vọng này luôn luôn như nhau—để con người tự giải phóng mình và học càng nhanh càng tốt những bài học mà vô số kiếp sống của chúng ta nhằm dạy cho chúng ta. Làm như vậy, y sẽ sớm thoát khỏi sự cần thiết phải tái sinh lần nữa, và có thể đảm nhận một sự hiện hữu khác và thú vị hơn nhiều, điều chỉ có thể đối với người đã học xong mọi bài học phải học qua trung gian của sự hiện hữu hồng trần. |
|
“You can see for yourself how much easier it is for me to explain things now, as you have a fairly good idea of the life that people live on the first, second and third spheres of the world next to this. The third sphere, as you have seen, provides most of the schools for training students in the different arts, and very soon I shall show you the fourth sphere which is really a continuation of the third. The first and second spheres form one stage, the third and fourth the second stage, the fifth and sixth the third stage, and the seventh sphere is the frontier between the astral and the mental worlds. |
“Anh có thể tự thấy việc giải thích mọi điều giờ đây đối với tôi dễ hơn biết bao, vì anh đã có một ý niệm khá tốt về đời sống mà người ta sống trên các khối cầu thứ nhất, thứ hai và thứ ba của thế giới kế cận thế giới này. Khối cầu thứ ba, như anh đã thấy, cung cấp phần lớn các trường học để huấn luyện đạo sinh trong các nghệ thuật khác nhau, và rất sớm tôi sẽ cho anh thấy khối cầu thứ tư, thật ra là sự tiếp nối của khối cầu thứ ba. Khối cầu thứ nhất và thứ hai tạo thành một giai đoạn, khối cầu thứ ba và thứ tư là giai đoạn thứ hai, khối cầu thứ năm và thứ sáu là giai đoạn thứ ba, còn khối cầu thứ bảy là biên giới giữa cõi cảm dục và cõi trí. |
|
“On the fourth sphere we find many musicians and artists, who work alone and do not wish to teach or perhaps have finished teaching for the time being. We find doctors doing research work. A number of new remedies to fight sickness and disease are discovered at the astral level. Many groups of research students get together and exchange ideas; although they do not have any physical guinea pigs to work upon, their theories are in due time perfected and impregnated upon the minds and brain cells of doctors doing similar work in the physical world. If you were to ask any medical man engaged in research in this world, whether he had at any time awakened in the morning with the germ of an idea—which possibly would take him months to perfect and put into practice, but which eventually became one of the new advances in medical science—he would probably admit that such was the case. There are buildings, both large and small, which seem to be what we would describe as mental hospitals. Although astral life makes it possible for any normal human being to be completely happy, there are still large numbers of people who cry for the moon and want the impossible. They worry, as they worried in life, and a form of mental neurosis is the usual result. The astral body not only includes a counterpart of the human brain, but it also includes within itself a mental vehicle, commonly referred to as the mind. A man can be troubled by his mind after death; remorse for hasty actions and words in his past life, which he now realises can never be entirely obliterated, cause him a certain amount of suffering, intense or otherwise, according to the sensitivity of the individual. Such cases are often treated by doctors who specialise in mental troubles, with great benefit to both doctor and patient. |
“Trên khối cầu thứ tư chúng ta thấy nhiều nhạc sĩ và nghệ sĩ làm việc một mình và không muốn dạy, hoặc có lẽ tạm thời đã ngừng dạy. Chúng ta thấy các bác sĩ làm công việc nghiên cứu. Một số phương thuốc mới để chống bệnh tật được khám phá ở cấp độ cảm dục. Nhiều nhóm đạo sinh nghiên cứu tụ họp lại và trao đổi ý tưởng; tuy họ không có những con chuột bạch hồng trần để làm việc, nhưng các lý thuyết của họ đến lúc thích hợp được hoàn thiện và in dấu lên trí tuệ và tế bào não của các bác sĩ đang làm công việc tương tự trong thế giới hồng trần. Nếu anh hỏi bất cứ thầy thuốc nào đang làm nghiên cứu trong thế giới này xem có khi nào ông thức dậy vào buổi sáng với mầm mống của một ý tưởng—một ý tưởng có thể phải mất nhiều tháng để hoàn thiện và đem vào thực hành, nhưng cuối cùng lại trở thành một trong những bước tiến mới của khoa học y học—thì có lẽ ông sẽ thừa nhận rằng đúng là như vậy. Có những tòa nhà, cả lớn lẫn nhỏ, dường như là điều chúng ta sẽ mô tả như bệnh viện tâm thần. Tuy đời sống cảm dục khiến bất cứ người bình thường nào cũng có thể hoàn toàn hạnh phúc, vẫn còn rất nhiều người đòi trăng trên trời và muốn điều không thể. Họ lo lắng như họ đã lo lắng khi còn sống, và một dạng rối loạn thần kinh trí tuệ thường là kết quả. Thể cảm dục không chỉ bao gồm một đối phần của bộ não con người, mà còn bao gồm trong chính nó một vận cụ trí tuệ, thường được gọi là trí tuệ. Một người có thể bị trí tuệ của mình làm khổ sau khi chết; sự hối hận về những hành động và lời nói hấp tấp trong đời sống trước của ông, mà giờ đây ông nhận ra không bao giờ có thể hoàn toàn xóa bỏ, gây cho ông một mức độ đau khổ nào đó, mãnh liệt hay không, tùy theo độ nhạy cảm của cá nhân. Những trường hợp như thế thường được điều trị bởi các bác sĩ chuyên về các rối loạn trí tuệ, đem lại lợi ích lớn cho cả bác sĩ lẫn bệnh nhân. |
|
“On the fifth and sixth spheres, you will find still more research workers, such as psychoanalysts and brain, heart and other specialists. |
“Trên khối cầu thứ năm và thứ sáu, anh sẽ thấy còn nhiều người làm nghiên cứu hơn nữa, như các nhà phân tâm học và các chuyên gia về não, tim và những ngành khác. |
|
“It is quite usual for doctors and specialists in different branches of science to live many consecutive lives in which they carry on with the same type of work; you can imagine how invaluable it is to such men to meet their confreres at the astral level, where all knowledge is pooled in the interests of humanity. There are groups of philosophers who wish to help the world in their particular way; they feel that if the trend of thought in the world were changed to more progressive lines than wars and national domination, life would be considerably more comfortable and more desirable. There are mystics who believe that mankind can best be helped by meditation along such lines as the ‘Unity of Life.’ There are other deeply religious beings who feel that man can advance only if he is attached to some religious belief or dogma; such men endeavour to produce a perfect religion by taking points of doctrine from all the great religions of the past and present and blending them into a new philosophy. The devas concern themselves deeply with all this work—as you will see for yourself in due time. |
“Việc các bác sĩ và chuyên gia trong những ngành khoa học khác nhau sống nhiều kiếp liên tiếp để tiếp tục cùng một loại công việc là điều khá thông thường; anh có thể hình dung điều đó vô giá biết bao đối với những người như thế khi được gặp các đồng nghiệp của mình ở cấp độ cảm dục, nơi mọi tri thức được gom chung vì lợi ích của nhân loại. Có những nhóm triết gia muốn giúp thế giới theo cách riêng của họ; họ cảm thấy rằng nếu xu hướng tư tưởng trong thế giới được chuyển đổi theo những đường hướng tiến bộ hơn chiến tranh và sự thống trị quốc gia, thì đời sống sẽ dễ chịu và đáng sống hơn nhiều. Có những nhà thần bí tin rằng nhân loại có thể được giúp tốt nhất bằng tham thiền theo những đường hướng như ‘Sự Hợp Nhất của Sự Sống’. Có những hữu thể sùng đạo sâu sắc khác cảm thấy rằng con người chỉ có thể tiến bộ nếu gắn bó với một tín ngưỡng hay giáo điều tôn giáo nào đó; những người như thế cố gắng tạo ra một tôn giáo hoàn hảo bằng cách lấy các điểm giáo lý từ mọi tôn giáo lớn trong quá khứ và hiện tại rồi hòa trộn chúng thành một triết lý mới. Các thiên thần quan tâm sâu sắc đến toàn bộ công việc này—như đến lúc thích hợp anh sẽ tự thấy. |
|
“On these levels world economic problems are discussed and worked upon for months and years. When certain conclusions are arrived at by these specialists, remedies are tried out by means of impressing these conclusions upon the minds of human beings living in the world who are in positions where their advice will be acted upon by nations or powerful groups of reformers, for mankind must be helped when crises in the world are too great and too serious for them to solve by their own endeavours. In periods of crisis great world leaders seem to stand on a pinnacle and shine—often a man who previously was but a humble politician or leader of a party arises and becomes a prominent figure in world politics; wisdom and leadership far above what would normally be expected of him is the result, which all can observe. When the crisis is over and his great work is finished, such a man seems to go back into his former obscurity. Such men are chosen and they are helped by one or other of the great Beings who brood over this universe for the benefit of mankind. Whilst the period of overshadowing lasts, they are indeed supermen; but when the crisis is over, this overshadow has to be withdrawn for each man has free will by right and may only be helped so far and no further. |
“Ở các cấp độ này, những vấn đề kinh tế thế giới được thảo luận và nghiên cứu trong nhiều tháng và nhiều năm. Khi các chuyên gia này đi đến những kết luận nhất định, các biện pháp khắc phục được thử nghiệm bằng cách in dấu những kết luận ấy lên trí tuệ của những người đang sống trong thế gian, những người ở vào vị trí mà lời khuyên của họ sẽ được các quốc gia hay những nhóm cải cách có thế lực thực hiện, vì nhân loại phải được giúp đỡ khi những cuộc khủng hoảng trong thế giới quá lớn và quá nghiêm trọng để họ có thể tự giải quyết bằng nỗ lực riêng. Trong những thời kỳ khủng hoảng, các nhà lãnh đạo lớn của thế giới dường như đứng trên một đỉnh cao và tỏa sáng—thường là một người trước đó chỉ là một chính trị gia khiêm tốn hay lãnh tụ của một đảng phái bỗng nổi lên và trở thành một nhân vật nổi bật trong chính trị thế giới; minh triết và khả năng lãnh đạo vượt xa điều người ta thường mong đợi nơi ông là kết quả mà ai cũng có thể quan sát. Khi khủng hoảng qua đi và công việc lớn lao của ông hoàn tất, người ấy dường như lại trở về với sự mờ nhạt trước kia. Những người như thế được chọn và họ được giúp đỡ bởi một hay một vị khác trong các Hữu thể vĩ đại đang phủ bóng lên vũ trụ này vì lợi ích của nhân loại. Trong khi thời kỳ phủ bóng còn kéo dài, họ thật sự là những siêu nhân; nhưng khi khủng hoảng qua đi, sự phủ bóng này phải được rút lại vì mỗi người có tự do ý chí theo quyền của mình và chỉ có thể được giúp đến một mức nào đó, không hơn. |
|
“On these levels there are men who are interested in the growing shortage of food for a humanity that is increasing by millions each year. Devas help with their problems by suggesting new methods of cultivation; these suggestions are put into the minds of those living in the world who are responsible for such problems in their particular regions. In this way new ideas and methods come to light and are gradually adopted by mankind. |
“Ở các cấp độ này có những người quan tâm đến tình trạng thiếu lương thực ngày càng tăng cho một nhân loại đang tăng thêm hàng triệu người mỗi năm. Các thiên thần giúp giải quyết vấn đề của họ bằng cách gợi ý những phương pháp canh tác mới; những gợi ý này được đưa vào trí tuệ của những người đang sống trong thế gian, những người chịu trách nhiệm về những vấn đề ấy trong khu vực riêng của họ. Bằng cách này, những ý tưởng và phương pháp mới được đưa ra ánh sáng và dần dần được nhân loại chấp nhận. |
|
“You will be able to attend some of the conferences which take place in these spheres and prove for yourself that what I am telling you is indeed true, but it is not likely that you will be able to remain at such conferences until conclusions are reached, for they often go on for weeks or months, calculated by your idea of time, and naturally you will have to return to your body after a few hours away from it. Great progress is often made at such conferences and suggestions are made to people living in the world, which enable humanity to advance in all its different ways. |
“Anh sẽ có thể tham dự một số hội nghị diễn ra trong các khối cầu này và tự mình chứng minh rằng điều tôi đang nói với anh quả thật là đúng, nhưng không chắc anh có thể ở lại những hội nghị ấy cho đến khi đi đến kết luận, vì chúng thường kéo dài nhiều tuần hay nhiều tháng, tính theo quan niệm thời gian của anh, và dĩ nhiên anh sẽ phải trở về thể xác sau vài giờ rời khỏi nó. Những hội nghị như thế thường đạt được tiến bộ lớn và những gợi ý được đưa ra cho những người đang sống trong thế gian, nhờ đó nhân loại có thể tiến bộ theo mọi cách khác nhau. |
|
“You probably have wondered why the world progresses much more quickly one century than another. It is not only that distances have been obliterated by air travel and such things as wireless, but simply because mankind in general is slowly but surely becoming more interested in solving existing problems, and by such solution the masses benefit. In other words, the more evolved men are becoming more and more unselfish, which proves that they, at least, have learnt some of the lessons that lives in the physical world are meant to teach us all. |
“Có lẽ anh đã tự hỏi vì sao thế giới tiến bộ nhanh hơn nhiều trong thế kỷ này so với thế kỷ khác. Không chỉ vì khoảng cách đã bị xóa bỏ bởi hàng không và những thứ như vô tuyến, mà đơn giản vì nhân loại nói chung đang chậm mà chắc ngày càng quan tâm hơn đến việc giải quyết những vấn đề hiện hữu, và nhờ sự giải quyết ấy mà quần chúng được hưởng lợi. Nói cách khác, những người tiến hoá hơn đang ngày càng trở nên vô tư hơn, điều đó chứng tỏ rằng ít nhất họ đã học được một số bài học mà những đời sống trong thế giới hồng trần nhằm dạy cho tất cả chúng ta. |
|
“It is difficult to explain the work of the deva kingdom, for the methods used are so very different from those to which you are accustomed. To understand it all, you have to remember that the deva kingdom controls to a large extent the part of life we call Nature; the seas, the winds, the use of the sun in cultivation and such things as the correct times of the year for planting different seeds, are all part of the particular domain of the devas. They join in discussions with members of our evolution, when their specific knowledge and experience can be utilised. Usually they transmit their thoughts through a mental process and not through words—but they can use the medium of speech when it is necessary for them to do so. From time to time you hear in the world of a tornado, a cyclone or an earthquake that leaves in its wake much loss of human life, devastation and thousands of homeless. You may have wondered why a beneficent Providence could allow such things to happen, but have you looked for the possible reason of such tragedies? Is it not true, that previous to such devastation, men and women have been living in those places under conditions which breed crime instead of progress? A tragedy such as I visualise could easily be the means of awakening a slothful government to its responsibilities, and often a rebuilding scheme is at once commenced, so that those who remain alive may be housed under conditions considerably more favourable than before. The devas control these cyclones and earthquakes and I know from personal experience that their pity for a humanity which, through its blindness, make such disasters necessary, is great indeed. They allocate large numbers of their people to meet those unfortunates who lose their lives through these disasters, as they pass from the physical to the astral world, do all in their power to minister to their fear and help them acclimatise themselves to their new conditions. It is the same when world wars take place and innumerable souls are slung out of their bodies by modern weapons. There are insufficient astral helpers belonging to our evolution to deal with the rate of killing that accompanies an army advancing against heavy opposition, so members of the deva evolution take their places side by side with men, to do what they can to help the many who are terrified at the moment of their passing. It is indeed true that there are times when men and angels (devas) walk in unison, each serving God to the utmost of his being. |
“Thật khó giải thích công việc của giới thiên thần, vì những phương pháp được dùng quá khác với những gì anh quen thuộc. Để hiểu toàn bộ điều đó, anh phải nhớ rằng giới thiên thần kiểm soát ở một mức độ lớn phần đời sống mà chúng ta gọi là Thiên nhiên; biển cả, gió, việc sử dụng mặt trời trong canh tác và những điều như thời điểm đúng trong năm để gieo các loại hạt khác nhau, tất cả đều thuộc lãnh vực riêng của các thiên thần. Họ tham gia thảo luận với các thành viên của tiến hoá chúng ta khi tri thức và kinh nghiệm chuyên biệt của họ có thể được sử dụng. Thông thường họ truyền đạt tư tưởng của mình qua một tiến trình trí tuệ chứ không bằng lời—nhưng họ có thể dùng phương tiện ngôn ngữ khi cần thiết. Thỉnh thoảng anh nghe trong thế gian nói đến một cơn lốc xoáy, một trận cuồng phong hay một trận động đất để lại phía sau nhiều sinh mạng con người bị mất, sự tàn phá và hàng ngàn người không nhà. Có thể anh đã tự hỏi vì sao một Thiên Ý nhân từ lại có thể cho phép những điều như thế xảy ra, nhưng anh đã tìm nguyên nhân khả dĩ của những bi kịch ấy chưa? Có phải là đúng không, rằng trước những sự tàn phá như thế, những người nam và nữ đã sống ở những nơi ấy trong những điều kiện nuôi dưỡng tội ác thay vì tiến bộ? Một bi kịch như tôi hình dung hoàn toàn có thể là phương tiện đánh thức một chính quyền trì trệ trước trách nhiệm của mình, và thường thì một kế hoạch tái thiết được khởi sự ngay, để những người còn sống có thể được cư trú trong những điều kiện thuận lợi hơn đáng kể so với trước. Các thiên thần kiểm soát những cơn cuồng phong và động đất này, và tôi biết từ kinh nghiệm cá nhân rằng lòng thương xót của họ đối với một nhân loại mà do sự mù quáng của mình đã khiến những tai họa như thế trở nên cần thiết, quả thật rất lớn. Họ phân bổ rất nhiều người của họ để đón những kẻ bất hạnh mất mạng trong các tai họa ấy khi họ đi từ thế giới hồng trần sang cõi cảm dục, làm mọi điều trong khả năng để xoa dịu nỗi sợ của họ và giúp họ thích nghi với hoàn cảnh mới. Cũng như vậy khi các cuộc chiến tranh thế giới diễn ra và vô số linh hồn bị văng ra khỏi thể xác bởi vũ khí hiện đại. Không có đủ những người trợ giúp cảm dục thuộc tiến hoá của chúng ta để đối phó với tốc độ giết chóc đi kèm một đạo quân tiến công trước sự kháng cự mạnh, nên các thành viên của tiến hoá thiên thần đứng vai kề vai với con người để làm những gì họ có thể nhằm giúp đỡ nhiều người đang kinh hoàng vào lúc lìa đời. Quả thật có những lúc con người và thiên thần bước đi đồng điệu, mỗi bên phụng sự Thượng đế bằng tất cả hữu thể của mình. |
|
“I must now tell you a little about life as it is lived on the seventh and last sphere of the astral world. The first thing that will strike you, when you visit that part, is the complete absence of buildings of any sort. There are no signs of human habitation at all, but you will find that there are permanent residents living at this level, although they do everything in their power to discourage contact when other humans approach. Such men are of the opinion that their progress in evolution can only be accomplished by resorting to complete seclusion and a life of silence. In the physical world there are holy men who live apart from humanity in out-of-the-way places at the foot of, or at the top of lonely mountains where humans seldom penetrate. These men spend their lives in meditation, fasting and living what the world would describe as an ascetic life. Such men are the same after death and in due time they make their way to the seventh sphere of the astral world, and continue their lives of meditation there. You will find men who during their earthly lives as monks or friars were members of brotherhoods which enjoyed absolute silence and a life apart from other normal human beings. These men have become so used to living within themselves, praying for long periods for the helping of mankind that after death they derive solace in continuation of the same existence that they lived for so many years on earth. There is no necessity at the astral level for any such persons to seek for a cave or build themselves houses to live in. Neither food nor accommodation is necessary to their existence, so they usually live in the open, in woods and out-of-the-way places, where they are most likely to be left alone and undisturbed. |
“Giờ đây tôi phải nói với anh đôi chút về đời sống như nó được sống trên khối cầu thứ bảy và cuối cùng của cõi cảm dục. Điều đầu tiên sẽ gây ấn tượng nơi anh khi anh viếng thăm phần đó là sự vắng mặt hoàn toàn của mọi loại công trình kiến trúc. Không hề có dấu hiệu nào của nơi cư trú con người, nhưng anh sẽ thấy rằng có những cư dân thường trú sống ở cấp độ này, dù họ làm mọi điều trong khả năng để ngăn cản sự tiếp xúc khi những con người khác đến gần. Những người như thế cho rằng sự tiến bộ trong tiến hoá của họ chỉ có thể đạt được bằng cách hoàn toàn ẩn cư và sống đời im lặng. Trong thế giới hồng trần có những thánh nhân sống tách khỏi nhân loại ở những nơi hẻo lánh dưới chân hoặc trên đỉnh những ngọn núi cô tịch mà con người hiếm khi đặt chân tới. Những người này dành đời mình cho tham thiền, nhịn ăn và sống điều mà thế gian sẽ mô tả là một đời sống khổ hạnh. Sau khi chết, những người như thế vẫn vậy và đến lúc thích hợp họ tìm đường đến khối cầu thứ bảy của cõi cảm dục, rồi tiếp tục đời sống tham thiền ở đó. Anh sẽ thấy những người mà trong đời sống trần thế, với tư cách tu sĩ hay giáo sĩ, đã là thành viên của những huynh đệ đoàn thực hành sự im lặng tuyệt đối và một đời sống tách biệt khỏi những con người bình thường khác. Những người này đã quá quen với việc sống trong nội tâm mình, cầu nguyện lâu dài cho sự trợ giúp nhân loại, đến nỗi sau khi chết họ tìm được sự an ủi trong việc tiếp tục cùng một sự hiện hữu mà họ đã sống suốt bao năm trên trái đất. Ở cấp độ cảm dục, những người như thế không cần phải tìm hang động hay xây nhà để ở. Thức ăn lẫn chỗ ở đều không cần thiết cho sự hiện hữu của họ, nên họ thường sống ngoài trời, trong rừng và những nơi hẻo lánh, nơi họ có nhiều khả năng được để yên và không bị quấy rầy. |
|
“In addition to the humans who live at this level, you will find countless numbers of highly evolved members of the deva kingdom that carry on work but have no contact whatever with the members of our evolution. |
“Ngoài những con người sống ở cấp độ này, anh sẽ thấy vô số thành viên tiến hoá rất cao của giới thiên thần đang tiếp tục công việc nhưng hoàn toàn không tiếp xúc với các thành viên của tiến hoá chúng ta. |
|
“You will also find those human beings whose sojourn at the astral level is over and who have to pass through this seventh sphere in order to reach the mental world through which they must pass on their journey back to the higher part of themselves, the ego, who has his natural habitat on the higher spheres of the mental world—called the casual level. These humans are usually accompanied to the seventh sphere by guides, who are men like themselves but more evolved and older souls; the particular work of these guides is to explain, in detail, what is meant by the second death. The journey from the astral world to the mental world is entirely painless and is merely the dropping of another sheath. The guides make it their business to eradicate any fear that might arise in the minds of these people, for although we have all travelled the same journey many times before, after each physical incarnation has been completed, yet we do not remember those previous journeys, because for each new physical incarnation we have entirely new mental, astral and physical bodies, which do not carry with them detailed memories of past lives. The passing from the astral to the mental world is something outside the control of the average individual and, when his time comes, he is forced to drop his astral body for the simple reason that he has no further experience to gain at the astral level; he must then pass to the mental world in order to consolidate the mental work that he has accomplished during his physical existence and add it to the reservoir of knowledge, contained within the permanent atom, representing all his previous lives. Having received all the necessary information that can be given to him on the subject of his passing, the man gradually falls asleep and awakes almost immediately in the mental world, having during that brief moment of sleep dropped his astral body forever. Friends meet him in the mental world in exactly the same way as friends met him when he passed from the physical to the astral world. He commences an entirely new type of life; in the case of the average man this is usually much shorter than his life in the astral world, though the duration is longer for evolved men. |
“Anh cũng sẽ thấy những con người mà thời gian lưu trú của họ ở cấp độ cảm dục đã chấm dứt và họ phải đi qua khối cầu thứ bảy này để đến cõi trí, nơi họ phải đi qua trên hành trình trở về phần cao hơn của chính mình, chân ngã, vốn có nơi cư trú tự nhiên trên các khối cầu cao của cõi trí—được gọi là cấp độ nguyên nhân. Những con người này thường được các vị hướng dẫn đưa đến khối cầu thứ bảy; đó là những người giống như họ nhưng tiến hoá hơn và là những linh hồn già dặn hơn; công việc riêng của các vị hướng dẫn này là giải thích chi tiết ý nghĩa của cái chết thứ hai. Cuộc hành trình từ cõi cảm dục sang cõi trí hoàn toàn không đau đớn và chỉ đơn thuần là việc buông bỏ thêm một lớp vỏ nữa. Các vị hướng dẫn lấy việc xóa bỏ bất cứ nỗi sợ nào có thể nảy sinh trong trí tuệ của những người này làm nhiệm vụ của mình, vì tuy tất cả chúng ta đã đi cùng một hành trình ấy nhiều lần trước đây, sau mỗi lần nhập thể hồng trần hoàn tất, nhưng chúng ta không nhớ những hành trình trước đó, bởi vì với mỗi lần nhập thể hồng trần mới, chúng ta có những thể trí, thể cảm dục và thể xác hoàn toàn mới, những thể này không mang theo những ký ức chi tiết về các kiếp trước. Việc chuyển từ cõi cảm dục sang cõi trí là điều nằm ngoài sự kiểm soát của cá nhân trung bình, và khi thời điểm của ông đến, ông bị buộc phải buông bỏ thể cảm dục của mình vì lý do đơn giản là ông không còn kinh nghiệm nào để thu nhận ở cấp độ cảm dục nữa; khi đó ông phải sang cõi trí để củng cố công việc trí tuệ mà ông đã hoàn thành trong đời sống hồng trần và thêm nó vào kho tri thức chứa trong Nguyên tử trường tồn, đại diện cho tất cả các kiếp trước của ông. Sau khi nhận được mọi thông tin cần thiết có thể được trao cho ông về việc chuyển tiếp của mình, người ấy dần dần chìm vào giấc ngủ và gần như lập tức tỉnh dậy trong cõi trí, trong khoảnh khắc ngủ ngắn ngủi ấy đã buông bỏ thể cảm dục của mình mãi mãi. Bạn bè đón ông trong cõi trí đúng như cách bạn bè đã đón ông khi ông chuyển từ thế giới hồng trần sang cõi cảm dục. Ông bắt đầu một loại đời sống hoàn toàn mới; trong trường hợp người trung bình, đời sống này thường ngắn hơn nhiều so với đời sống của ông trong cõi cảm dục, dù thời gian kéo dài hơn đối với những người tiến hoá.” |
|
“The astral body which has been left behind by the individual who has passed on takes some little time to disintegrate and return to the main mass of astral matter. During the period of disintegration, the body retains a likeness to the individual who previously occupied it. You must understand that it is only a shell, yet owing to the fluidic nature of astral matter, it can move about and to an inexperienced person seems to retain a semblance of life. I have seen people who have visited this seventh sphere during their physical plane existence, nonplussed at finding that they are unable to get into conversation with some of these shells which they find floating about. A shell is not a corpse in the sense that the physical body after death is a corpse because, although it has no connection whatsoever with the real man, the ego who has dropped it, yet it still contains a little life. Indeed, until the disintegration is complete, the shell must think of itself as a man, for it is a fragment, a shadow of the man who is gone. At spiritualistic séances we sometimes see manifestations of various sorts when, instead of the sitters getting into touch with the man himself, they only contact the shell—this can happen when the man has been dead a long time—a friend of a sitter seems to come back and talks to them, yet in various ways he does not appear to be as intellectual as he used to be; he seems to have deteriorated. That is impossible; a man does not deteriorate, he progresses on the other side of death, so whenever one comes in contact with such a case, one may be sure that it is not the real man at all but only this fragment, this shell he has left behind. Although a shell is inanimate, it is quite possible for other creatures to enter it, to take it on as a temporary body and play the part of the original man. This is often done by astral human beings who enjoy playing practical jokes, and by playful nature spirits who may take hold of one of these shells, put it on as one would an overcoat, and masquerade in it. The man masquerading inside the shell will very likely give ‘proof’ of his identity, for whatever entered the brain of the original occupant during his lifetime will have passed into the astral counterpart, and it will remain there for the use of any entity masquerading in that body. In many cases a certainty may be acquired by an investigator who is sufficiently clairvoyant to see what is behind the shell, but whoever is investigating needs to take great care, for even the shell from which the fragment of the man has disappeared can be galvanised into activity within the aura of a medium. You may come into contact with shells some time in the future; one thing you can be quite sure about is that they are in no way dangerous and can do you no harm. |
“Thể cảm dục bị cá nhân đã qua đời bỏ lại cần một thời gian ngắn để tan rã và trở về với khối vật chất cảm dục chung. Trong thời kỳ tan rã ấy, thể này vẫn giữ một sự giống nhau với cá nhân trước kia đã cư ngụ trong nó. Anh phải hiểu rằng đó chỉ là một cái vỏ, tuy nhiên do bản chất linh động của vật chất cảm dục, nó có thể di chuyển đây đó và đối với người thiếu kinh nghiệm thì dường như vẫn còn giữ một dáng vẻ của sự sống. Tôi đã thấy những người đã viếng thăm khối cầu thứ bảy này trong khi còn tồn tại ở cõi hồng trần, bối rối khi thấy mình không thể trò chuyện với một số vỏ này mà họ bắt gặp đang trôi nổi quanh đó. Một cái vỏ không phải là một tử thi theo nghĩa thể xác sau khi chết là một tử thi, bởi vì tuy nó hoàn toàn không còn liên hệ gì với con người thực sự, với chân ngã đã bỏ nó lại, nhưng nó vẫn còn chứa một ít sự sống. Thật vậy, cho đến khi sự tan rã hoàn tất, cái vỏ phải nghĩ về chính nó như một con người, vì nó là một mảnh vụn, một cái bóng của con người đã ra đi. Trong các Buổi gọi hồn của giới thần linh học, đôi khi chúng ta thấy những biểu hiện đủ loại khi, thay vì những người tham dự tiếp xúc được với chính con người ấy, họ chỉ tiếp xúc với cái vỏ—điều này có thể xảy ra khi người ấy đã chết từ lâu—một người bạn của ai đó trong nhóm dường như quay trở lại và nói chuyện với họ, tuy nhiên theo nhiều cách y không có vẻ trí tuệ như trước; y dường như đã sa sút. Điều đó là không thể; con người không sa sút, y tiến bộ ở phía bên kia của cái chết, vì thế bất cứ khi nào người ta gặp một trường hợp như vậy, người ta có thể chắc chắn rằng đó hoàn toàn không phải là con người thực sự mà chỉ là mảnh vụn này, cái vỏ này mà y đã bỏ lại. Mặc dù một cái vỏ là vô sinh khí, hoàn toàn có thể có những sinh vật khác đi vào nó, dùng nó như một thể tạm thời và đóng vai con người nguyên thủy. Điều này thường được thực hiện bởi những con người cảm dục thích đùa nghịch, và bởi những tinh linh tự nhiên tinh nghịch có thể chộp lấy một trong những cái vỏ này, khoác nó vào như người ta khoác áo choàng ngoài, rồi giả dạng trong đó. Con người giả dạng bên trong cái vỏ rất có thể sẽ đưa ra ‘bằng chứng’ về căn tính của mình, vì bất cứ điều gì đã đi vào bộ não của người cư ngụ nguyên thủy trong suốt đời sống của y đều đã chuyển sang đối phần cảm dục, và nó sẽ còn ở đó để cho bất kỳ thực thể nào giả dạng trong thể ấy sử dụng. Trong nhiều trường hợp, một nhà khảo cứu đủ thông nhãn để thấy điều gì ở phía sau cái vỏ có thể đạt được sự chắc chắn, nhưng bất cứ ai đang khảo cứu đều cần hết sức cẩn trọng, vì ngay cả cái vỏ mà mảnh vụn của con người đã rời khỏi cũng có thể bị kích hoạt thành hoạt động trong hào quang của một đồng tử. Có thể trong tương lai anh sẽ tiếp xúc với các vỏ; có một điều anh có thể hoàn toàn chắc chắn là chúng tuyệt nhiên không nguy hiểm và không thể làm hại anh. |
|
“This concludes my talk for today. You have un-doubtedly realised that it completes my very brief survey of life on the different spheres of the world next to this. I want you to prepare a list of questions for me to answer tomorrow morning. After that, when you have had several days of experimenting on your own, I shall visit you again and tell you something about life as it is lived in the mental world. I shall not be able to give you as much detail of this world as I have been able to give you about the astral world, because it is much more difficult to provide analogies of what takes place in the mental world and compare them with similar things that take place in the physical world. Life there is so very different from here, for everything has to do with thought. Here you have tables and chairs and buildings. In the astral world thoughts are the tables, chairs and buildings—in fact there is nothing there but thought—so you can well understand my difficulty. I shall probably take you on a short visit to the mental plane also, in the hope that you will be able to remember something of what you sensed rather than saw there, but I shall tell you more about this in future. |
“Đến đây kết thúc câu chuyện hôm nay của tôi. Hẳn anh đã nhận ra rằng nó hoàn tất cuộc khảo sát rất ngắn gọn của tôi về sự sống trên các khối cầu khác nhau của thế giới kế cận thế giới này. Tôi muốn anh chuẩn bị một danh sách câu hỏi để tôi trả lời vào sáng mai. Sau đó, khi anh đã có vài ngày tự mình thử nghiệm, tôi sẽ lại đến thăm anh và nói cho anh biết đôi điều về sự sống như nó được sống trong cõi trí. Tôi sẽ không thể cho anh nhiều chi tiết về thế giới này như tôi đã có thể cho anh về thế giới cảm dục, vì khó hơn nhiều để đưa ra những tương đồng về những gì diễn ra trong cõi trí và so sánh chúng với những điều tương tự diễn ra trong cõi hồng trần. Sự sống ở đó rất khác nơi đây, vì mọi sự đều liên quan đến tư tưởng. Ở đây anh có bàn ghế và nhà cửa. Trong thế giới cảm dục, các tư tưởng chính là bàn ghế và nhà cửa—thật ra ở đó không có gì ngoài tư tưởng—nên anh có thể hiểu rõ sự khó khăn của tôi. Có lẽ tôi cũng sẽ đưa anh đi thăm ngắn cõi trí, với hy vọng rằng anh sẽ có thể nhớ được phần nào những gì anh cảm nhận hơn là nhìn thấy ở đó, nhưng sau này tôi sẽ nói thêm với anh về điều này. |
|
“I shall come again tomorrow at the usual time when I hope your list of questions will be ready.” |
“Ngày mai tôi sẽ lại đến vào giờ thường lệ, khi ấy tôi hy vọng danh sách câu hỏi của anh sẽ sẵn sàng.” |