Hành Trình Một Linh hồn – Chương 9 – Kết Thúc

📘 Sách: Hành Trình Của Một Linh hồn (Song Ngữ) – Tác giả: Peter Richelieu

Chapter 9

I had a wonderful night’s sleep; I awoke this morning at the usual hour much refreshed, but without recollection of anything having happened during the night. My list of questions is ready, and I hope Acharya will not consider it too lengthy.

Tôi đã có một giấc ngủ đêm tuyệt vời; sáng nay tôi thức dậy vào giờ thường lệ, rất sảng khoái, nhưng không nhớ gì về bất cứ điều gì đã xảy ra trong đêm. Danh sách câu hỏi của tôi đã sẵn sàng, và tôi hy vọng Acharya sẽ không cho là nó quá dài.

I was rereading my questions when the door opened and Acharya greeted me with: “There is no need to apologise for the number of your questions; I have discouraged your asking questions regularly because I knew much would become clear to you with personal experiences at the astral level, and too many interruptions do not help either the speaker or the listener. I shall do my best to answer your question in language which should clarify your difficulties.”

Tôi đang đọc lại các câu hỏi của mình thì cửa mở ra và Acharya chào tôi bằng lời: “Không cần phải xin lỗi về số lượng câu hỏi của anh; tôi đã ngăn anh đặt câu hỏi thường xuyên vì tôi biết nhiều điều sẽ trở nên sáng tỏ với anh qua những kinh nghiệm cá nhân ở cấp độ cảm dục, và quá nhiều gián đoạn cũng không giúp ích cho cả người nói lẫn người nghe. Tôi sẽ cố gắng hết sức để trả lời câu hỏi của anh bằng ngôn ngữ có thể làm sáng tỏ những khó khăn của anh.”

Q. “In your talks you have never mentioned anything about the conventional Heaven, to which the bulk of Christians are taught to aspire. Is there such a place or does it only exists in the imagination of the priests and ministers of religion who insist on its existence?”

H. “Trong các buổi nói chuyện của ông, ông chưa bao giờ nhắc đến Thiên Đàng theo quan niệm thông thường, nơi mà phần lớn tín đồ Cơ Đốc được dạy phải khát vọng hướng tới. Có nơi như vậy thật không, hay nó chỉ tồn tại trong sự tưởng tượng của các linh mục và giáo sĩ luôn khăng khăng về sự hiện hữu của nó?”

A. “There is certainly no such place as Heaven, but there is a state of consciousness which is often referred to as heaven by the people living under those conditions. Some people argue that the state of consciousness is found in the higher stages of the astral world, whereas others insist that it is found in the mental world only. Some people argue that there is a difference between that which is called Paradise and that which is called Heaven. You will remember that the Christ, speaking to the penitent thief, is reported to have said: ‘This day shalt thou be with me in Paradise.’ Paradise was the name given by the Greeks to the upper regions of the astral plane and they taught that Heaven was found in the mental world, after man had left the astral world on his journey back to the home of the soul or ego. At these higher levels some men surround themselves with the thought-forms of Seraphim and Cherubim, in strict accordance with the ancient Hebrew scriptures. It is perfectly real to them and it harms no one if they are content to think it all real, so why worry them? Many of them even make thought-forms of God or St. Peter, and nothing that you could say would convince them that they are living in a state of illusion. There will come a day when they have developed their intellect a little more, when they will begin to try to ascertain what is fact and what is illusion.

Đ. “Chắc chắn không có nơi nào như Thiên Đàng, nhưng có một trạng thái tâm thức thường được những người sống trong các điều kiện ấy gọi là thiên đàng. Có người cho rằng trạng thái tâm thức ấy được tìm thấy trong các giai đoạn cao hơn của thế giới cảm dục, trong khi những người khác khăng khăng rằng nó chỉ được tìm thấy trong cõi trí. Có người lại cho rằng có sự khác biệt giữa điều được gọi là Cực Lạc và điều được gọi là Thiên Đàng. anh sẽ nhớ rằng Đức Christ, khi nói với tên trộm biết ăn năn, được thuật lại là đã nói: ‘Hôm nay ngươi sẽ ở với ta trong Cực Lạc.’ Cực Lạc là tên mà người Hy Lạp đặt cho các vùng cao của cõi cảm dục và họ dạy rằng Thiên Đàng được tìm thấy trong cõi trí, sau khi con người đã rời thế giới cảm dục trên hành trình trở về ngôi nhà của linh hồn hay chân ngã. Ở các cấp độ cao hơn này, một số người tự bao quanh mình bằng các hình tư tưởng của Seraphim và Cherubim, hoàn toàn phù hợp với các kinh thư cổ xưa của người Hebrew. Đối với họ điều đó hoàn toàn thực, và nó không làm hại ai nếu họ bằng lòng nghĩ rằng tất cả đều là thật, vậy thì tại sao phải làm phiền họ? Nhiều người trong số họ thậm chí còn tạo ra các hình tư tưởng về Thượng đế hay Thánh Peter, và không điều gì anh có thể nói sẽ thuyết phục được họ rằng họ đang sống trong một trạng thái ảo tưởng. Sẽ đến một ngày khi họ đã phát triển trí tuệ thêm đôi chút, khi họ sẽ bắt đầu cố gắng xác định điều gì là sự kiện và điều gì là ảo tưởng.

“I notice that although you ask about the conventional heaven, you have not mentioned the conventional Hell. That of course no more exists than Heaven exists, but usually one does not find people in the astral world making thought-forms of a conventional Hell and living under such conditions, for no one is ever so self-critical as to be quite sure that Hell is the right place for him. Most of the people who live surrounded by the thought-forms of their idea of a conventional Heaven are only too happy to exist in such circumstances, as they feel they have either earned the right to be there, or have been extremely lucky to find themselves in a place for which they were not quite sure they had qualified. A conventional heaven created by people living at the mental level is quite different—though it serves the same purpose for the people concerned.”

“Tôi nhận thấy rằng tuy anh hỏi về thiên đàng theo quan niệm thông thường, anh lại không nhắc đến địa ngục theo quan niệm thông thường. Dĩ nhiên điều đó cũng không tồn tại hơn gì Thiên Đàng tồn tại, nhưng thường người ta không thấy những người trong thế giới cảm dục tạo ra các hình tư tưởng về một địa ngục thông thường rồi sống trong những điều kiện như thế, vì không ai lại tự phê phán mình đến mức hoàn toàn chắc chắn rằng địa ngục là nơi thích hợp cho mình. Phần lớn những người sống được bao quanh bởi các hình tư tưởng về ý niệm của họ đối với một thiên đàng thông thường đều quá đỗi vui vẻ khi tồn tại trong hoàn cảnh như vậy, vì họ cảm thấy hoặc là mình đã xứng đáng có quyền ở đó, hoặc là đã cực kỳ may mắn khi thấy mình ở một nơi mà họ không hoàn toàn chắc chắn là mình đủ tư cách. Một thiên đàng thông thường do những người sống ở cấp độ trí tuệ tạo ra thì hoàn toàn khác—dù nó phục vụ cùng một mục đích cho những người liên hệ.”

Q. “You said in your third talk that you would explain the difference between an animal’s life in the astral world and the life lived there by a human being. What is the difference?”

H. “Ông đã nói trong buổi nói chuyện thứ ba rằng ông sẽ giải thích sự khác biệt giữa đời sống của một con vật trong thế giới cảm dục và đời sống ở đó của một con người. Sự khác biệt là gì?”

A. “There is a considerable difference between the life of an animal in the astral world and that of a human being. In the case of the former, it seldom inhabits spheres of that world higher than the third, for the life that a man lives on the higher spheres has little interest for an animal, and only in exceptional cases does a human being take a favourite animal with him when he passes to the higher spheres. An animal certainly has a short sojourn at the astral level after each physical life has been lived, but it does not usually last for more than ten to fifteen years at the most. When the time comes for the group soul, of which the animal is a part, to reincarnate in new animal bodies, the animal entities which have been living separate existences at the astral level are again drawn back into the group soul and their separate identities at once cease to be. The group soul, when its various parts return to it, is coloured by the experiences of those several parts, and the life-force of which the group soul is made up then splits itself into sections again, each section inhabiting a new animal entity, and further experiences are gained in these new bodies. As I have explained to you previously, this goes on until the group soul is ready to individualise as a human being.

Đ. “Có một sự khác biệt đáng kể giữa đời sống của con vật trong thế giới cảm dục và đời sống của con người. Trong trường hợp thứ nhất, nó hiếm khi cư ngụ ở các khối cầu cao hơn khối cầu thứ ba của thế giới ấy, vì đời sống mà con người sống trên các khối cầu cao hơn ít có gì hấp dẫn đối với con vật, và chỉ trong những trường hợp ngoại lệ con người mới mang theo một con vật yêu thích khi y chuyển sang các khối cầu cao hơn. Chắc chắn con vật có một thời gian lưu lại ngắn ở cấp độ cảm dục sau mỗi đời sống hồng trần, nhưng thường không kéo dài quá mười đến mười lăm năm là cùng. Khi đến lúc hồn nhóm mà con vật là một phần của nó tái sinh vào những thể động vật mới, các thực thể động vật đã sống những đời sống riêng biệt ở cấp độ cảm dục lại bị hút trở về hồn nhóm và các căn tính riêng biệt của chúng lập tức chấm dứt. Hồn nhóm, khi các phần khác nhau của nó trở về, được nhuốm màu bởi những kinh nghiệm của các phần ấy, và sinh lực tạo thành hồn nhóm lại tự phân chia thành các phần, mỗi phần cư ngụ trong một thực thể động vật mới, và những kinh nghiệm mới lại được thu nhận trong các thể mới này. Như tôi đã giải thích với anh trước đây, điều này tiếp diễn cho đến khi hồn nhóm sẵn sàng biệt ngã hóa thành một con người.

“Those few years that an animal spends in the astral world are always happy—even in the very rare cases where a dog dies from a broken heart, because its master gave it away or left it with strangers when he was forced to go on a long journey; such an animal quickly finds a new home. In the astral world you never see a dog ask for food whereas you have seen for yourself many humans continue to eat and drink after death, merely because they have formed the habit of so doing. A dog or a cat only eats when it is hungry and seldom from greed. At the astral level it doesn’t get hungry, so it never asks for food. A dog of the hunting species has during its life been trained to hunt; after death it continues to do so. Its instinct is to look for its quarry and that very looking is in itself a thought, so a quarry immediately appears and the dog at once chases it. Whether it catches it or not is of little importance, for the quarry which is only a thought-form cannot be killed in the ordinary sense of the word, but the dog enjoys the chase and its life continues to be a happy one.

“Những năm ít ỏi mà một con vật trải qua trong thế giới cảm dục luôn luôn hạnh phúc—ngay cả trong những trường hợp rất hiếm khi một con chó chết vì đau lòng, bởi chủ của nó đem cho nó hoặc để nó lại với người lạ khi ông ta buộc phải đi xa lâu ngày; một con vật như thế nhanh chóng tìm được một mái nhà mới. Trong thế giới cảm dục anh không bao giờ thấy một con chó xin thức ăn, trong khi chính anh đã thấy nhiều con người tiếp tục ăn uống sau khi chết, chỉ vì họ đã hình thành thói quen làm như vậy. Chó hay mèo chỉ ăn khi đói và hiếm khi vì tham ăn. Ở cấp độ cảm dục nó không thấy đói, nên nó không bao giờ xin thức ăn. Một con chó săn trong suốt đời sống của nó đã được huấn luyện để săn; sau khi chết nó vẫn tiếp tục làm như vậy. Bản năng của nó là tìm con mồi, và chính sự tìm kiếm ấy tự nó đã là một tư tưởng, nên một con mồi lập tức xuất hiện và con chó ngay tức khắc đuổi theo. Việc nó có bắt được hay không thì ít quan trọng, vì con mồi vốn chỉ là một hình tư tưởng không thể bị giết theo nghĩa thông thường của từ ấy, nhưng con chó thích cuộc rượt đuổi và đời sống của nó tiếp tục là một đời sống hạnh phúc.

“A horse which during its lifetime has been a favourite hack of a natural lover of horses soon finds another owner with a similar love of his kind and the same routine goes on with benefit and pleasure to both horse and rider. In some cases, after a favourite animal has died, its owner in the world thinks strongly about it when he goes to sleep at night. The animal feels the ‘call’ and sometimes is able to contact its late owner and share a few hours of his company. Unfortunately this is not a desirable thing, for the horse or dog feels the loss of its late master when such a person has to return to his physical body after the sleep period is completed; therefore it is kinder that they should be allowed to attach themselves to new masters or mistresses. There are rare cases where the affection between a human being and his pets is so strong that the group soul, of which the animal is a part, is in its way linked with that human being. This can only happen towards the end of the group soul period, when it is divided into only two parts, awaiting the time for its individualisation as a human being. Because the human being has done so much for that group soul, by helping to eradicate the last vestige of fear from animals attached to him, the entire group soul, consisting of two dogs or two cats for example, has two or three consecutive lives in the same household. In this way the time when individualisation can take place is often considerably shortened. I could tell you of the authentic instances of this happening, but my time is limited.

“Một con ngựa mà trong suốt đời sống của nó là con ngựa cưỡi ưa thích của một người yêu ngựa chân thành thì sớm tìm được một người chủ khác cũng có tình yêu tương tự đối với giống loài của nó, và cùng một nếp sinh hoạt lại tiếp diễn, đem lợi ích và niềm vui cho cả ngựa lẫn người cưỡi. Trong một số trường hợp, sau khi một con vật yêu thích đã chết, chủ của nó ở thế gian nghĩ mạnh về nó khi đi ngủ vào ban đêm. Con vật cảm nhận được ‘tiếng gọi’ và đôi khi có thể tiếp xúc với người chủ cũ của nó và cùng chia sẻ vài giờ bên cạnh ông ta. Tiếc thay, điều này không phải là điều đáng mong muốn, vì ngựa hay chó sẽ cảm thấy mất mát người chủ cũ khi người ấy phải trở về thể xác sau khi thời kỳ ngủ kết thúc; vì thế sẽ nhân từ hơn nếu để chúng được gắn bó với những người chủ hay bà chủ mới. Có những trường hợp hiếm hoi mà tình cảm giữa con người và thú nuôi của y mạnh đến mức hồn nhóm mà con vật là một phần của nó, theo cách riêng của nó, được liên kết với con người ấy. Điều này chỉ có thể xảy ra vào cuối thời kỳ hồn nhóm, khi nó chỉ còn phân chia thành hai phần, chờ thời điểm biệt ngã hóa thành một con người. Bởi vì con người ấy đã làm rất nhiều cho hồn nhóm đó, bằng cách giúp xóa bỏ dấu vết cuối cùng của nỗi sợ nơi những con vật gắn bó với mình, toàn bộ hồn nhóm, chẳng hạn gồm hai con chó hay hai con mèo, sẽ có hai hoặc ba đời sống liên tiếp trong cùng một gia đình. Bằng cách này, thời điểm biệt ngã hóa có thể diễn ra thường được rút ngắn đáng kể. Tôi có thể kể cho anh những trường hợp xác thực về điều này, nhưng thời gian của tôi có hạn.

“The period that an animal spends in the astral world is too short for the conditions ruling there to influence deeply the evolution of the group soul, so when that period is over, the animals disappear from the homes to which they have attached themselves, to return to their group souls for new incarnations in the physical world, where further experience is gained.”

“Thời kỳ mà một con vật trải qua trong thế giới cảm dục quá ngắn để các điều kiện chi phối ở đó ảnh hưởng sâu sắc đến sự tiến hoá của hồn nhóm, vì vậy khi thời kỳ ấy chấm dứt, các con vật biến mất khỏi những ngôi nhà mà chúng đã gắn bó, để trở về hồn nhóm của mình cho những lần lâm phàm mới trong thế giới hồng trần, nơi kinh nghiệm mới lại được thu nhận.”

Q. “Why is it that Charles did not contact us on the second astral journey? Is it that he is no longer interested in me, owing to his new life being so very different and more thrilling than the physical one, or can he not join up with us without your assistance?”

H. “Tại sao Charles đã không tiếp xúc với chúng tôi trong chuyến đi cảm dục thứ hai? Có phải nó không còn quan tâm đến tôi nữa, vì đời sống mới của nó quá khác biệt và ly kỳ hơn đời sống hồng trần, hay là nó không thể nhập bọn với chúng tôi nếu không có sự trợ giúp của ông?”

A. “I am very pleased that you have raised these queries, for though it will take me some time to explain what you want to know, it is most necessary that you should be clear as to why opportunities of movement at the astral level vary for temporary visitors and permanent residents. Whilst physical life continues, the astral body is an auxiliary body, but it is used by you during sleeping hours for activities in the astral world. That body, composed of astral matter, has particles in it relative to all the different spheres of the astral world, and so long as you have a physical body, these particles are intermingled one with the other. You are able to travel to any sphere of the astral world up or down merely by exercising your will power, and, in accordance with the sphere to which you go, these particles of your astral body become active and make such journeys possible. To make it perfectly clear, when you are sojourning on the first sphere, the particles relative to that sphere are at that time active, but when you pass from the first sphere, for example, to the fourth, it means that the fourth sphere particles become active, whilst the particles relating to the other spheres remain dormant, so long as your activities are at that fourth sphere level.”

Đ. “Tôi rất vui vì anh đã nêu ra những thắc mắc này, vì tuy tôi sẽ mất một ít thời gian để giải thích điều anh muốn biết, nhưng điều tối cần là anh phải hiểu rõ tại sao các cơ hội di chuyển ở cấp độ cảm dục lại khác nhau giữa những người viếng thăm tạm thời và những cư dân thường trú. Chừng nào đời sống hồng trần còn tiếp diễn, thể cảm dục là một thể phụ trợ, nhưng nó được anh sử dụng trong những giờ ngủ để hoạt động trong thế giới cảm dục. Thể ấy, được cấu tạo bằng vật chất cảm dục, có trong nó những hạt tương ứng với tất cả các khối cầu khác nhau của thế giới cảm dục, và chừng nào anh còn có một thể xác, những hạt này còn xen lẫn với nhau. anh có thể đi đến bất kỳ khối cầu nào của thế giới cảm dục, lên hay xuống, chỉ bằng cách vận dụng ý chí của mình, và tùy theo khối cầu anh đến, những hạt của thể cảm dục của anh trở nên hoạt động và làm cho những chuyến đi như thế trở thành khả hữu. Để nói cho thật rõ, khi anh đang lưu lại ở khối cầu thứ nhất, những hạt tương ứng với khối cầu ấy lúc đó hoạt động, nhưng khi anh chuyển từ khối cầu thứ nhất, chẳng hạn, sang khối cầu thứ tư, điều đó có nghĩa là những hạt của khối cầu thứ tư trở nên hoạt động, trong khi những hạt liên hệ đến các khối cầu khác vẫn ở trạng thái ngủ yên, chừng nào hoạt động của anh còn ở cấp độ khối cầu thứ tư ấy.

“As long as you have a physical body, this process goes on, but when the physical body is dropped at the moment of death, the astral body, which before was a mass of revolving particles all intermingling, rearranges itself into an entirely different form. In order that you should understand this perfectly, try and visualise the astral body after death as an ovoid, like an orange, with a core and with seven separate and distinct skins surrounding that core. The core represents the permanent atom relating to all the different spheres of both the astral and the mental worlds. The seven skins are composed of matter relative to the seven different spheres that exist at the astral level, of which you now know something, and, at the moment of death, the astral body so rearranges the matter of which it is composed that the outside or densest skin is made up of atoms similar to those which you require to function on the first or densest sphere of that world. When, after a period of time, you leave the first sphere and pass to the second, you drop that outer skin, leaving the atoms relative to the second sphere of that world, which now become active, on the outside of your body. The same thing applies when you pass to higher levels. In passing, each outer skin drops away and leaves the skin beneath it, which at once becomes active and enables you to be fully conscious in the sphere to which you have passed. Now if you wish to pass down again from, let us say the fourth to the first sphere, it is necessary for a permanent resident to call upon the atoms contained within the core of the orange—the permanent atom—in order to effect that change. This requires a much greater effort of will than in the case of the temporary sojourner, for he must draw round his astral body yet again a new skin relative to the astral matter of this sphere in which he wishes to function.

“Chừng nào anh còn có một thể xác, tiến trình này vẫn tiếp diễn, nhưng khi thể xác bị bỏ lại vào lúc chết, thể cảm dục, trước đó là một khối các hạt quay tròn xen lẫn nhau, sẽ tự sắp xếp lại thành một hình thức hoàn toàn khác. Để anh có thể hiểu điều này thật trọn vẹn, hãy cố hình dung thể cảm dục sau khi chết như một hình trứng, giống quả cam, có một lõi và bảy lớp vỏ riêng biệt bao quanh lõi ấy. Lõi tượng trưng cho nguyên tử trường tồn liên hệ đến mọi khối cầu khác nhau của cả thế giới cảm dục lẫn cõi trí. Bảy lớp vỏ được cấu tạo bằng vật chất tương ứng với bảy khối cầu khác nhau hiện hữu ở cấp độ cảm dục, mà nay anh đã biết đôi chút, và vào lúc chết, thể cảm dục sắp xếp lại vật chất cấu thành nó sao cho lớp vỏ ngoài cùng hay đậm đặc nhất được tạo nên bởi những nguyên tử tương tự như những nguyên tử anh cần để hoạt động trên khối cầu thứ nhất hay đậm đặc nhất của thế giới ấy. Khi, sau một thời gian, anh rời khối cầu thứ nhất và chuyển sang khối cầu thứ hai, anh bỏ lớp vỏ ngoài ấy lại, để cho các nguyên tử tương ứng với khối cầu thứ hai của thế giới ấy, nay trở nên hoạt động, ở phía ngoài cơ thể của anh. Điều tương tự cũng áp dụng khi anh chuyển sang các cấp độ cao hơn. Mỗi khi chuyển lên, mỗi lớp vỏ ngoài lại rơi đi và để lộ lớp vỏ bên dưới, lớp này lập tức trở nên hoạt động và giúp anh hoàn toàn có tâm thức trong khối cầu mà anh đã chuyển đến. Giờ đây nếu anh muốn đi xuống trở lại, giả sử từ khối cầu thứ tư xuống khối cầu thứ nhất, thì một cư dân thường trú cần phải gọi đến những nguyên tử chứa trong lõi của quả cam—nguyên tử trường tồn—để thực hiện sự thay đổi ấy. Điều này đòi hỏi một nỗ lực ý chí lớn hơn nhiều so với trường hợp của người lưu lại tạm thời, vì y phải lại một lần nữa kéo quanh thể cảm dục của mình một lớp vỏ mới tương ứng với vật chất cảm dục của khối cầu mà y muốn hoạt động trong đó.

“Charles did not accompany us on our second astral journey because I did not invite him to do so, therefore he did not know that such a journey was contemplated. You can now realise that, had we taken Charles with us on that journey, it would have been necessary for me to explain to him in detail the machinery that would have had to be employed to enable him to get back to the first sphere where he is still living. It is not because Charles is finding life at the astral level so full that you have not seen him during the past few days, but simply that the average individual who lives in the astral world does not hanker after contacts with people living in our world, in the same way that you wished to make contact with Charles immediately after his death. You ask if Charles could join up with us without any assistance—most certainly he could, providing he thought about us sufficiently strongly to make that desire known to us. He could for example wait in your bedroom every night if he wished, for the moment when you pass out of your physical body; then he could make known to you his wish to accompany you, wherever you go. He has not shown this strong inclination, so you have not had any contact with him lately. In case you are worried, let me assure you that Charles, at the moment, is busy with a temporary attraction which he has for a member of the opposite sex, who has recently died; he is very happy showing her around and proving to her how much more he knows about conditions than she does at present. My suggestion to you is to leave him alone for the time being, as I think that later you will link up with him again for your mutual benefit.”

“Charles đã không đi cùng chúng ta trong chuyến đi cảm dục thứ hai vì tôi đã không mời nó làm như vậy, nên nó không biết rằng một chuyến đi như thế đã được dự tính. Giờ đây anh có thể nhận ra rằng, nếu chúng ta mang Charles theo trong chuyến đi ấy, tôi đã cần phải giải thích cho nó thật chi tiết bộ máy phải được sử dụng để giúp nó trở lại khối cầu thứ nhất nơi nó vẫn đang sống. Không phải vì Charles thấy đời sống ở cấp độ cảm dục quá phong phú nên anh không gặp nó trong mấy ngày qua, mà đơn giản là cá nhân trung bình sống trong thế giới cảm dục không khao khát tiếp xúc với những người đang sống trong thế giới của chúng ta, theo cùng cách mà anh đã mong muốn tiếp xúc với Charles ngay sau khi nó chết. anh hỏi liệu Charles có thể nhập bọn với chúng ta mà không cần bất kỳ sự trợ giúp nào không—chắc chắn là có, miễn là nó nghĩ về chúng ta đủ mạnh để làm cho mong muốn ấy được chúng ta biết đến. Chẳng hạn, nếu muốn, nó có thể chờ trong phòng ngủ của anh mỗi đêm vào lúc anh rời thể xác hồng trần; rồi nó có thể cho anh biết mong muốn được đi cùng anh, bất cứ nơi nào anh đi. Nó đã không biểu lộ khuynh hướng mạnh mẽ ấy, nên gần đây anh không có tiếp xúc nào với nó. Trong trường hợp anh lo lắng, hãy để tôi bảo đảm với anh rằng hiện giờ Charles đang bận với một sự hấp dẫn tạm thời mà nó dành cho một người thuộc phái đối lập vừa mới qua đời; nó rất hạnh phúc khi dẫn cô ấy đi quanh và chứng tỏ cho cô thấy nó biết về các điều kiện ở đó nhiều hơn cô hiện nay. Gợi ý của tôi với anh là hãy để nó yên trong lúc này, vì tôi nghĩ rằng sau này anh sẽ lại liên kết với nó vì lợi ích chung của cả hai.”

Q. “You have not mentioned why some people are born cripples and others blind. Others again deaf and dumb. Is there a reason?”

H. “Ông chưa nói tại sao có người sinh ra bị tàn tật còn người khác thì mù. Lại có người điếc và câm. Có lý do nào không?”

A. “There certainly is a reason, and my few remarks relating to the law of karma, or cause and effect, should have answered the question for you. It is essential for you to impress quite clearly on your mind that all such tragedies are produced entirely by the individuals concerned by their actions in previous lives, and are not due to an evil Creator who likes to see humans suffer. A child is sometimes born a cripple because in a previous life he was the cause of extreme suffering to another human being or to an animal. A man may, in a drunken rage, beat a child so cruelly that the beating produces a physical deformity, which medical science is unable to cure; this would undoubtedly cause such a man to be born a cripple in his next life and so be forced to suffer in something of the same way. People are sometimes born deaf and dumb for the reason that, in a previous life, they had been unfortunate enough to be a parent of a deaf and dumb child when, instead of making family conditions happy for such a person, the parent showed his disappointment at having a child which was abnormal by taking it out on the poor creature, who could not defend itself, thereby making life much worse for it than it need have been. Even evolved beings who know the reason for children being born cripples or abnormal in any way sometimes fail to realise that having an abnormal child is an exceedingly fine opportunity for them to make good karma, by treating it with much sympathy and understanding. You may argue that justice today is very different from justice in the past, but the unthinking actions of our past lives must be paid for, even though in those past incarnations man was less sensitive to pain than he is today and used to much more ruthless treatment. Do not forget that it is the intention which decides the amount of suffering.

Đ. “Chắc chắn là có lý do, và vài nhận xét ngắn của tôi liên quan đến định luật nghiệp quả, hay nhân và quả, lẽ ra đã trả lời câu hỏi ấy cho anh. Điều cốt yếu là anh phải khắc sâu thật rõ trong trí mình rằng mọi bi kịch như thế đều hoàn toàn do chính các cá nhân liên hệ tạo ra bởi hành động của họ trong những đời trước, chứ không phải do một Đấng Sáng Tạo ác độc thích nhìn con người đau khổ. Một đứa trẻ đôi khi sinh ra bị tàn tật vì trong một đời trước nó đã là nguyên nhân gây đau khổ tột độ cho một con người khác hay cho một con vật. Một người đàn ông có thể trong cơn say giận đánh một đứa trẻ tàn nhẫn đến mức trận đòn gây ra một dị dạng thể xác mà y học không thể chữa được; điều này chắc chắn sẽ khiến người ấy sinh ra tàn tật trong đời sau và như thế bị buộc phải chịu đau khổ theo phần nào cùng một cách. Người ta đôi khi sinh ra điếc và câm vì trong một đời trước họ đã bất hạnh là cha mẹ của một đứa trẻ điếc câm, và thay vì làm cho hoàn cảnh gia đình trở nên hạnh phúc đối với người ấy, cha mẹ lại biểu lộ sự thất vọng vì có một đứa con bất thường bằng cách trút lên sinh vật đáng thương không thể tự vệ ấy, khiến đời sống của nó tệ hơn nhiều so với mức lẽ ra phải thế. Ngay cả những hữu thể tiến hóa biết lý do tại sao trẻ em sinh ra tàn tật hay bất thường theo bất kỳ cách nào đôi khi cũng không nhận ra rằng có một đứa con bất thường là một cơ hội cực kỳ tốt đẹp để tạo nghiệp lành, bằng cách đối xử với nó bằng nhiều cảm thông và thấu hiểu. anh có thể lập luận rằng công lý ngày nay rất khác công lý trong quá khứ, nhưng những hành động thiếu suy nghĩ trong các đời quá khứ của chúng ta phải được trả giá, dù rằng trong những lần lâm phàm quá khứ ấy con người ít nhạy cảm với đau đớn hơn ngày nay và quen với sự đối xử tàn nhẫn hơn nhiều. Đừng quên rằng chính ý định quyết định mức độ đau khổ.

“Similar karmic consequences follow on emotional and mental cruelty. Quite often one sees a mother, who is a widow, putting obstacles in the way of a son marrying, merely because she selfishly wishes to keep the boy within the family circle. The parent argues that the marriage would cause inconvenience or less revenue to the family household, or that she is too delicate to be left alone, so the boy, through a sense of duty, gives up the chance of a happy marriage and selflessly devotes his life to looking after the selfish parent. He does not always realise that the parent is selfish, though it is a fact for anyone to see. The karmic result of such selfishness is that it must be considered as only fair, if in a future life this woman would fall in love with someone, only for that person to die, or be killed, before the marriage could take place. After many years recovering from this loss, this same woman finds that another individual has fallen in love with her. There appear to be no reasons why things should not work out right on this occasion, but Fate may again take a hand in the game of life, with the result that one of the contracting parties develops an incurable disease, which puts marriage out of the question. As people do not know the reason behind such happenings, they are inclined to think that the person concerned is a plaything of an unkind Creator—but such is not the case, for you cannot suffer in any way unless you yourself have produced the cause for that suffering.”

“Những hậu quả nghiệp quả tương tự cũng theo sau sự tàn nhẫn về cảm xúc và trí tuệ. Khá thường xuyên người ta thấy một người mẹ góa chồng đặt chướng ngại trên đường hôn nhân của con trai, chỉ vì bà ích kỷ muốn giữ cậu con trai trong vòng gia đình. Người mẹ viện rằng cuộc hôn nhân sẽ gây bất tiện hoặc làm giảm thu nhập của gia đình, hoặc rằng bà quá yếu đuối để bị bỏ lại một mình, nên người con trai, vì ý thức bổn phận, từ bỏ cơ hội có một cuộc hôn nhân hạnh phúc và vị tha hiến đời mình để chăm sóc người mẹ ích kỷ. Không phải lúc nào anh ta cũng nhận ra rằng cha mẹ mình ích kỷ, dù đó là một sự thật ai cũng có thể thấy. Kết quả nghiệp quả của sự ích kỷ như thế là, trong một đời tương lai, điều đó phải được xem là công bằng nếu người phụ nữ này yêu một ai đó, chỉ để rồi người ấy chết, hoặc bị giết, trước khi cuộc hôn nhân có thể diễn ra. Sau nhiều năm hồi phục từ mất mát ấy, chính người phụ nữ này lại thấy một người khác đã yêu mình. Dường như không có lý do gì khiến lần này mọi việc không thể diễn ra tốt đẹp, nhưng Số Mệnh có thể lại can dự vào trò chơi của đời sống, với kết quả là một trong hai người dự định kết hôn mắc một căn bệnh không thể chữa, khiến hôn nhân không còn là điều có thể nghĩ đến. Vì người ta không biết lý do đằng sau những sự việc như thế, họ có khuynh hướng nghĩ rằng người liên hệ là món đồ chơi của một Đấng Sáng Tạo không nhân từ—nhưng không phải vậy, vì anh không thể chịu đau khổ theo bất kỳ cách nào nếu chính anh không tạo ra nguyên nhân cho đau khổ ấy.”

Q. “Why are some people born under ‘a lucky star’ with plenty of money, good health and every seeming advantage, whereas others are born in the slums, with no natural advantages, and often with diseases inherited from their parents?”

H. “Tại sao có người sinh ra dưới ‘một ngôi sao may mắn’ với nhiều tiền bạc, sức khỏe tốt và mọi lợi thế bề ngoài, trong khi những người khác sinh ra trong khu ổ chuột, không có lợi thế tự nhiên nào, và thường còn mang bệnh di truyền từ cha mẹ?”

A. “The environment into which every man is born is made by himself in a previous incarnation, also in accordance with the law of karma. When a man is born under what you call a ‘lucky star’ with lots of money and perfect health, the world naturally feels that he has indeed been blessed by a Divine Providence—but this opportunity of an easy life is only accorded to one who deserves it. The man who is born in the slums, with many limitations and perhaps hereditary disease is considered unfortunate, but I can assure you that he too has earned what he receives. To find an instance of a man who has earned the right to be born with a ‘silver spoon in his mouth’ you have only to look amongst the poor people of the world to find examples of this kind. How often have you seen generosity displayed by an individual who is not blessed with many of this world’s goods, but nevertheless goes out of his way to assist others less fortunate than himself?’ Such a person is only too often taken advantage of by unscrupulous people. Generous actions such as these people perform earn for them the right to be born in very different circumstances in a future existence and they very seldom lose the opportunities which great wealth provides, for they continue to help their fellowmen as they did in the past, with benefit to themselves and the world. If these opportunities are wasted, then the man makes bad karma instead of good, and it would have been better for him had he been born into circumstances less favourable from a worldly point of view.

Đ. “Môi trường mà mỗi con người sinh vào là do chính y tạo ra trong một lần lâm phàm trước, cũng theo định luật nghiệp quả. Khi một người sinh ra dưới điều mà anh gọi là ‘một ngôi sao may mắn’ với nhiều tiền bạc và sức khỏe hoàn hảo, thế gian tự nhiên cảm thấy rằng y quả thật đã được một Thiên Nhiên Thiêng Liêng ban phúc—nhưng cơ hội có một đời sống dễ dàng như thế chỉ được dành cho người xứng đáng với nó. Người sinh ra trong khu ổ chuột, với nhiều hạn chế và có lẽ bệnh di truyền, được xem là bất hạnh, nhưng tôi có thể bảo đảm với anh rằng y cũng đã tự kiếm lấy điều mình nhận được. Để tìm một ví dụ về người đã xứng đáng được sinh ra ‘ngậm thìa bạc trong miệng’, anh chỉ cần nhìn vào những người nghèo trên thế giới là sẽ thấy những ví dụ như thế. Biết bao lần anh đã thấy lòng quảng đại được biểu lộ bởi một cá nhân không được ban cho nhiều của cải thế gian, nhưng vẫn sẵn lòng đi xa hơn mức bình thường để giúp đỡ những người kém may mắn hơn mình? Quá thường khi những người như thế lại bị những kẻ vô lương lợi dụng. Những hành động quảng đại như những người này thực hiện giúp họ có quyền được sinh ra trong những hoàn cảnh rất khác trong một đời sống tương lai và họ rất hiếm khi đánh mất những cơ hội mà sự giàu có lớn lao mang lại, vì họ tiếp tục giúp đồng loại như đã làm trong quá khứ, đem lợi ích cho chính mình và cho thế giới. Nếu những cơ hội ấy bị phung phí, thì người ấy tạo nghiệp xấu thay vì nghiệp tốt, và đối với y sẽ tốt hơn nếu được sinh ra trong những hoàn cảnh kém thuận lợi hơn theo quan điểm thế gian.

“It is not necessarily a great misfortune for a man to be born in humble circumstances. In such cases he has the opportunity to overcome the limitations of his environment through his own efforts. We often see such men surmount the obstacles of their birth and emerge successful, even leaders of their generations. It takes courage to do this, yet the efforts made not only improve a man’s character, but enable him to make much good karma in that incarnation. His efforts and his refusal to be deterred by those natural limitations will usually ensure that, in the life to follow, his environment will be much more favourable.”

“Không nhất thiết là một bất hạnh lớn khi một người sinh ra trong hoàn cảnh khiêm tốn. Trong những trường hợp như thế y có cơ hội vượt qua những hạn chế của môi trường bằng nỗ lực của chính mình. Chúng ta thường thấy những người như vậy vượt qua các chướng ngại của xuất thân và vươn lên thành công, thậm chí thành những nhà lãnh đạo của thế hệ mình. Làm được điều này cần có can đảm, nhưng những nỗ lực ấy không những cải thiện tính cách của con người mà còn giúp y tạo nhiều nghiệp lành trong lần lâm phàm ấy. Những nỗ lực của y và sự từ chối không để mình bị ngăn trở bởi những hạn chế tự nhiên ấy thường sẽ bảo đảm rằng trong đời sống tiếp theo, môi trường của y sẽ thuận lợi hơn nhiều.”

Q. “Can you explain why some races are born with coloured skins and others with white skins? Is a man with a white skin always more evolved than a man with a coloured skin? Is it a good thing for individuals of different races to marry? Is a white man ever reborn into a coloured race once he has inhabited a white body?”

H. “Ông có thể giải thích tại sao có những nhân loại sinh ra với da màu còn những nhân loại khác với da trắng không? Một người da trắng có luôn luôn tiến hóa hơn một người da màu không? Việc những cá nhân thuộc các nhân loại khác nhau kết hôn có phải là điều tốt không? Một người da trắng có bao giờ tái sinh vào một nhân loại da màu sau khi đã cư ngụ trong một thể da trắng không?”

A. “From a spiritual point of view there is no reason to suppose that a white skin is necessarily better than a coloured skin. The colour of a man’s skin does not denote his standing in evolution; it is usually due to the climate prevailing in the country in which he is born. The question of which nation a man will be born into is usually decided for him, though the ego is given a certain amount of choice. Before his return to physical life begins, the ego is shown the particular characteristics which he lacks and, because each nation has special characteristics of its own, expressed by practically all the members of that nation, an ego is usually born as a child of a family forming part of a nation whose predominant virtues and characteristics that ego lacks, in order that these may be built into his future structure.

Đ. “Từ quan điểm tinh thần, không có lý do gì để cho rằng da trắng nhất thiết tốt hơn da màu. Màu da của một người không biểu thị vị trí của y trong tiến hoá; nó thường là do khí hậu thịnh hành ở quốc gia nơi y sinh ra. Vấn đề một người sẽ sinh vào quốc gia nào thường được quyết định cho y, dù chân ngã được cho một mức độ lựa chọn nhất định. Trước khi sự trở lại đời sống hồng trần của y bắt đầu, chân ngã được cho thấy những đặc tính riêng mà y còn thiếu, và bởi vì mỗi quốc gia có những đặc tính đặc biệt của riêng nó, được biểu lộ bởi hầu như tất cả các thành viên của quốc gia ấy, nên một chân ngã thường sinh làm con trong một gia đình thuộc về một quốc gia mà các đức tính và đặc tính nổi trội của quốc gia đó chính là những điều chân ngã ấy còn thiếu, để những điều này có thể được xây dựng vào cấu trúc tương lai của y.

“Many thousands of years ago the parts of this planet which were principally inhabited by men were the countries where you now find the indigenous people having coloured skins. Although Australia is today a white man’s country, the aborigines of Australia were black men. In South Africa the original inhabi-tants were dark skinned people and although there are large numbers of these still living, South Africa today is controlled by the white man. All of us have in our early incarnations occupied dark skinned bodies. As civilisation advanced, the countries now known as the West became inhabited, and in order that these countries should be developed as quickly as possible, the perfected men who supervise the rise and fall of nations arranged for some of the more advanced egos in the world to be born as children of the pioneers who inhabited Western countries. Because the climate in these countries was generally much colder than the climate in the Eastern countries, the sun had less effect on the skin of all these individuals, with the result that white races came into being. Progress today emanates mostly from Western nations and, because of that, it is desirable that the most experienced men in the world, the older souls, should be born in Western bodies. Great Britain has been the strong nation for the past century or more and has therefore received her due quota of advanced egos, but now America is taking over the responsibilities of that difficult position. It is certainly not chance which decides whether a man is born an Englishman, an American, a German or a Chinese.

“Nhiều ngàn năm trước, những phần của hành tinh này chủ yếu có người cư ngụ là những quốc gia mà ngày nay anh thấy người bản địa có da màu. Mặc dù ngày nay Úc là một quốc gia của người da trắng, thổ dân Úc vốn là người da đen. Ở Nam Phi, những cư dân nguyên thủy là người da sẫm màu và mặc dù hiện vẫn còn số lượng lớn những người này sinh sống, ngày nay Nam Phi lại do người da trắng kiểm soát. Tất cả chúng ta trong những lần lâm phàm đầu tiên đều đã cư ngụ trong những thể da sẫm màu. Khi văn minh tiến bộ, những quốc gia ngày nay được gọi là phương Tây bắt đầu có người cư ngụ, và để những quốc gia này được phát triển nhanh nhất có thể, những con người hoàn thiện giám sát sự hưng suy của các quốc gia đã sắp đặt để một số chân ngã tiến bộ hơn trên thế giới được sinh làm con của những người tiên phong cư ngụ ở các quốc gia phương Tây. Bởi vì khí hậu ở những quốc gia này nói chung lạnh hơn nhiều so với khí hậu ở các quốc gia phương Đông, mặt trời ít tác động lên da của tất cả những cá nhân ấy hơn, với kết quả là các nhân loại da trắng đã hình thành. Ngày nay tiến bộ phần lớn phát xuất từ các quốc gia phương Tây và vì lý do đó, điều mong muốn là những con người giàu kinh nghiệm nhất trên thế giới, những linh hồn lâu đời hơn, nên được sinh trong các thể phương Tây. Đại Anh đã là quốc gia hùng mạnh trong hơn một thế kỷ qua và vì thế đã nhận phần chỉ tiêu xứng đáng của mình về các chân ngã tiến bộ, nhưng nay nước Mỹ đang tiếp nhận trách nhiệm của vị trí khó khăn ấy. Chắc chắn không phải ngẫu nhiên quyết định một người sinh làm người Anh, người Mỹ, người Đức hay người Trung Hoa.

“It must be obvious to you that all men with white skins are not more evolved than all men with coloured skins. Every nation in the world requires a certain number of experienced and evolved egos to lead it and help with its progress in evolution, so a certain number of old souls are always born into every nation. By this I do not mean that old souls would ever be born into bodies which we know of as Australian aborigines; it would be impossible for this to be so because they are not a nation, they are a dying race; thus the only entities which inhabit these bodies are those who were originally members of that race, but who have not advanced as quickly or progressed as far as the other original members of the race who have passed on to other races long since. Contrast India with this; in that country you find millions of unevolved beings, but you also find a large number of intellectual, advanced beings and many extremely spiritually minded men.India has always been a country whose inhabitants thought a great deal about spiritual development. Believe me, it has an ancient culture and it will also play a great part in the progress of the world in centuries to come. Obviously it is necessary for such a country to have egos born into it who can guide the destiny of its countless millions so that in future years it can play the part allotted to it.

“Hẳn anh phải thấy rõ rằng không phải mọi người da trắng đều tiến hóa hơn mọi người da màu. Mỗi quốc gia trên thế giới đều cần một số chân ngã giàu kinh nghiệm và tiến hóa để lãnh đạo và giúp đỡ sự tiến bộ trong tiến hoá của mình, vì thế một số linh hồn lâu đời luôn luôn được sinh vào mọi quốc gia. Bởi điều này tôi không có ý nói rằng các linh hồn lâu đời sẽ bao giờ sinh vào những thể mà chúng ta biết là thổ dân Úc; điều đó là không thể, vì họ không phải là một quốc gia, họ là một nhân loại đang tàn lụi; do đó những thực thể duy nhất cư ngụ trong các thể ấy là những kẻ vốn nguyên thủy là thành viên của nhân loại đó, nhưng đã không tiến bộ nhanh hay tiến xa bằng những thành viên nguyên thủy khác của nhân loại ấy, những người từ lâu đã chuyển sang các nhân loại khác. Hãy đối chiếu điều này với Ấn Độ; ở quốc gia ấy anh thấy hàng triệu hữu thể chưa tiến hóa, nhưng anh cũng thấy một số lượng lớn những hữu thể trí tuệ, tiến bộ và nhiều người cực kỳ có khuynh hướng tinh thần. Ấn Độ luôn luôn là một quốc gia mà cư dân của nó suy nghĩ rất nhiều về sự phát triển tinh thần. Hãy tin tôi, đó là một nền văn hóa cổ xưa và nó cũng sẽ đóng một vai trò lớn trong sự tiến bộ của thế giới trong những thế kỷ sắp tới. Hiển nhiên một quốc gia như thế cần có những chân ngã sinh vào đó để có thể hướng dẫn vận mệnh của vô số triệu dân của mình, để trong những năm tương lai nó có thể đóng vai trò được phân cho nó.

“Whether individuals of different races should marry is a difficult question to decide. It may sometimes happen that individuals who are born into different nations have been linked in past lives, through marriage for example. When these people meet in this life, as members of different nations, the attraction which drew them together in the past may still be as strong as before. In some cases it might be advantageous for such people to marry again; only by investigating the individual past experiences of both parties could one give an opinion that would be of value. I feel though that usually it is most undesirable for white men to marry coloured women, or the reverse, for the habits and culture of the different races do not mix well; therefore such a marriage does not work out to the advantage of either person. The result may also be that half-caste children are brought into the world and it is apparent to everyone that these suffer from the accident of their birth.

“Việc các cá nhân thuộc những nhân loại khác nhau có nên kết hôn hay không là một câu hỏi khó quyết định. Đôi khi có thể xảy ra rằng những cá nhân sinh vào các quốc gia khác nhau đã từng liên kết với nhau trong các đời trước, chẳng hạn qua hôn nhân. Khi những người này gặp nhau trong đời này, với tư cách thành viên của các quốc gia khác nhau, sức hút đã kéo họ đến với nhau trong quá khứ có thể vẫn mạnh như trước. Trong một số trường hợp, có thể có lợi cho những người như thế kết hôn lần nữa; chỉ bằng cách khảo cứu những kinh nghiệm quá khứ cá nhân của cả hai bên người ta mới có thể đưa ra một ý kiến có giá trị. Tuy nhiên tôi cảm thấy rằng thông thường điều rất không đáng mong muốn là đàn ông da trắng kết hôn với phụ nữ da màu, hay ngược lại, vì tập quán và văn hóa của các nhân loại khác nhau không hòa hợp tốt với nhau; vì thế một cuộc hôn nhân như vậy không đem lại lợi ích cho cả hai người. Kết quả cũng có thể là những đứa trẻ lai được đưa vào thế giới, và ai cũng thấy rõ rằng chúng phải chịu khổ vì tai nạn của sự sinh ra ấy.

“A man who is born in a white body does not necessarily return to earth as a member of a white population in his next incarnation. This again is a matter of karma and of many circumstances so that no general reply can be given to a question of this sort. In the case of a white man who, through a feeling of superiority, exploited other members of the human race, merely because they had coloured skins, the law of cause and effect would come into action. He would probably be forced to be born into a coloured race in his next incarnation, so that he might learn the lessons of tolerance and understanding, which he obviously lacked in his former existence.

“Một người sinh trong một thể da trắng không nhất thiết sẽ trở lại Trái Đất như một thành viên của một cộng đồng da trắng trong lần lâm phàm kế tiếp. Điều này lại là vấn đề của nghiệp quả và của nhiều hoàn cảnh, nên không thể đưa ra một câu trả lời chung cho loại câu hỏi như thế. Trong trường hợp một người da trắng, do cảm giác ưu việt, đã bóc lột những thành viên khác của nhân loại chỉ vì họ có da màu, thì định luật nhân quả sẽ đi vào hoạt động. Có lẽ y sẽ bị buộc phải sinh vào một nhân loại da màu trong lần lâm phàm kế tiếp, để y có thể học những bài học về khoan dung và thấu hiểu mà rõ ràng y đã thiếu trong đời sống trước.”

Q. “You have not said what happens to a man who commits suicide. Is such an act a great crime?”

H. “Ông chưa nói điều gì xảy ra với một người tự tử. Hành động như vậy có phải là một tội lớn không?”

A. “The taking of one’s own life is not only a crime, but is also an extremely foolish act. You do not solve your difficulties by running away from them, but merely postpone their solution for a future life. A man would argue that the circumstances which he has to face are the cause of his getting out of life, whereas they are the circumstances which have been judged necessary for his progress in evolution and he must go through them sooner or later. In exactly the same way that a child who plays truant from school will be kept back in the lower form for another term, and until he has realised that in order to qualify for a higher form he must obtain at least a minimum number of marks in all subjects, so when the man who commits suicide returns to the world in his next life, a group of circumstances will again arise, forming exactly the same obstacles and difficulties from which he now runs away. He must then face them and overcome them, for if he runs away once more, he is merely delaying his own evolution, and until he has faced and overcome these obstacles and thus learned the lessons they were meant to teach him, he cannot advance any further on the journey towards perfection. Extreme remorse usually follows an act of suicide, and within a very short time of their arrival in the astral world, the majority of suicides would give anything to undo their action. Unfortunately they cannot go back, but must wait until the time arrives for their next incarnation, and they are left in no doubt whatever that in their next life they will have to face the same difficulties again.

Đ. “Việc tự lấy đi mạng sống của mình không những là một tội lỗi mà còn là một hành động cực kỳ ngu xuẩn. anh không giải quyết những khó khăn của mình bằng cách chạy trốn khỏi chúng, mà chỉ đơn thuần hoãn việc giải quyết chúng sang một đời sống tương lai. Một người sẽ lập luận rằng những hoàn cảnh mà y phải đối diện là nguyên nhân khiến y rời bỏ cuộc đời, trong khi chính những hoàn cảnh ấy đã được xét là cần thiết cho sự tiến bộ trong tiến hoá của y và y phải đi qua chúng sớm hay muộn. Hoàn toàn giống như một đứa trẻ trốn học sẽ bị lưu lại lớp thấp thêm một học kỳ nữa, và cho đến khi nó nhận ra rằng để đủ điều kiện lên lớp cao hơn nó phải đạt ít nhất một số điểm tối thiểu ở mọi môn học, thì cũng vậy, khi người tự tử trở lại thế giới trong đời sống kế tiếp, một nhóm hoàn cảnh sẽ lại phát sinh, tạo thành đúng những chướng ngại và khó khăn mà hiện nay y đang chạy trốn. Khi ấy y phải đối diện và vượt qua chúng, vì nếu y lại chạy trốn một lần nữa, y chỉ đơn thuần trì hoãn sự tiến hoá của chính mình, và cho đến khi y đã đối diện và vượt qua những chướng ngại ấy và nhờ đó học được những bài học mà chúng nhằm dạy cho y, y không thể tiến xa hơn nữa trên hành trình hướng tới sự hoàn thiện. Sự hối hận cực độ thường theo sau hành động tự tử, và chỉ trong một thời gian rất ngắn sau khi đến thế giới cảm dục, phần lớn những người tự tử sẽ đánh đổi bất cứ điều gì để đảo ngược hành động của mình. Tiếc thay họ không thể quay lại, mà phải chờ cho đến khi thời điểm của lần lâm phàm kế tiếp đến, và họ hoàn toàn không còn nghi ngờ gì rằng trong đời sau họ sẽ phải đối diện lại cùng những khó khăn ấy.

“Because the man suffers so much from remorse and because he would give anything to get back into his physical body, even though it would mean facing up to the consequences, he often refuses to make the effort of will necessary for him to get rid of his etheric vehicle, which you will remember winds itself round the astral body at the moment of death. On account of this clinging, etheric vehicle, he is what is known as ‘earthbound’ just so long as he remains obstinate and refuses to get rid of it. Being a suicide he does not get the same sympathetic help from the astral helpers as you have seen is selflessly given to all who pass to the next world in the normal way; thus he may remain ‘earthbound’ through ignorance, being unable to function properly either in the physical or in the astral world, feeling the extreme loneliness that exists under these circumstances. After a period which seems like an eternity, he will, through a changed state of mind, draw towards him a helping hand, after which he can commence his life under astral conditions.

“Bởi vì người ấy đau khổ quá nhiều vì hối hận và bởi vì y sẽ đánh đổi bất cứ điều gì để trở lại thể xác hồng trần của mình, dù điều đó có nghĩa là phải đối diện với hậu quả, nên y thường từ chối thực hiện nỗ lực ý chí cần thiết để loại bỏ vận cụ dĩ thái của mình, mà anh sẽ nhớ là nó tự quấn quanh thể cảm dục vào lúc chết. Vì sự bám víu này vào vận cụ dĩ thái, y trở thành điều được gọi là ‘bị trói buộc vào đất’ chừng nào y còn ngoan cố và từ chối loại bỏ nó. Vì là người tự tử, y không nhận được cùng sự trợ giúp đầy cảm thông từ các trợ tá cảm dục như anh đã thấy được vị tha ban cho tất cả những ai sang thế giới bên kia theo cách bình thường; do đó y có thể vẫn ‘bị trói buộc vào đất’ vì vô minh, không thể hoạt động đúng đắn trong cả thế giới hồng trần lẫn thế giới cảm dục, cảm thấy sự cô đơn tột độ tồn tại trong những hoàn cảnh ấy. Sau một thời gian tưởng như vĩnh cửu, nhờ một trạng thái tâm thức thay đổi, y sẽ hút về phía mình một bàn tay trợ giúp, sau đó y có thể bắt đầu đời sống của mình trong các điều kiện cảm dục.

“The exceedingly unpleasant conditions ruling in that ‘no man’s land’ sometimes make a man bitter against his Creator and mankind in general, that he wanders about the place where he took his life, trying to influence other people to do the same thing. The reason for this is the awful loneliness of his present condition, and he feels that if he can persuade others to do what he has done, he will not be entirely alone in his misery. On very rare occasions he succeeds in his efforts and the karmic result of such a deed means that he must suffer greatly in the life that is to come. Suicide is never a release, only a postponement, and no circumstances in the world are so bad that a man should resort to such methods of evading them.”

“Những điều kiện cực kỳ khó chịu chi phối trong ‘vùng đất không người’ ấy đôi khi khiến một người cay đắng chống lại Đấng Sáng Tạo của mình và chống lại nhân loại nói chung, đến nỗi y lang thang quanh nơi mình đã tự kết liễu đời mình, cố ảnh hưởng những người khác làm điều tương tự. Lý do của điều này là sự cô đơn khủng khiếp trong tình trạng hiện tại của y, và y cảm thấy rằng nếu có thể thuyết phục người khác làm điều y đã làm, y sẽ không hoàn toàn cô độc trong nỗi khốn khổ của mình. Trong những dịp rất hiếm, y thành công trong nỗ lực ấy và kết quả nghiệp quả của hành vi như vậy có nghĩa là y sẽ phải chịu đau khổ lớn lao trong đời sống sắp tới. Tự tử không bao giờ là sự giải thoát, chỉ là sự trì hoãn, và không có hoàn cảnh nào trên thế giới tồi tệ đến mức con người nên dùng những phương pháp như thế để trốn tránh chúng.”

Q. “If there is a god or deity controlling our lives, why does he allow wars, particularly as the majority of mankind desire peace?”

H. “Nếu có một vị thần hay thượng đế kiểm soát đời sống của chúng ta, tại sao Ngài lại cho phép chiến tranh, nhất là khi phần lớn nhân loại mong muốn hòa bình?”

A. “Why do you suggest that wars are made, or allowed to be, by a Creator? Wars are quite definitely the result of man’s actions and his aggressive tendencies. There will be wars so long as there are separate nations in the world and while some nations wish to rule and exploit other nations. There is national karma as well as individual karma, and the groups of people who have banded themselves together as a specific nation and have interfered with the life of another nation must always bear the consequences of such actions, whether good or bad. In many cases a nation will argue that it meant well for the peoples whom it conquered, but history has usually proved that a conquered nation never quite settles down under the heel of a conqueror, nor can it evolve as quickly as when it is left alone to work out its own salvation.

Đ. “Tại sao anh lại gợi ý rằng chiến tranh được tạo ra, hay được cho phép xảy ra, bởi một Đấng Sáng Tạo? Chiến tranh hoàn toàn rõ ràng là kết quả của hành động của con người và những khuynh hướng hiếu chiến của y. Sẽ còn chiến tranh chừng nào trên thế giới còn có những quốc gia riêng biệt và chừng nào một số quốc gia còn muốn cai quản và bóc lột những quốc gia khác. Có nghiệp quả quốc gia cũng như nghiệp quả cá nhân, và những nhóm người đã liên kết với nhau thành một quốc gia cụ thể rồi can thiệp vào đời sống của một quốc gia khác thì luôn luôn phải gánh chịu hậu quả của những hành động như thế, dù tốt hay xấu. Trong nhiều trường hợp một quốc gia sẽ lập luận rằng mình có ý tốt đối với những dân tộc mà mình chinh phục, nhưng lịch sử thường đã chứng minh rằng một quốc gia bị chinh phục không bao giờ thực sự yên ổn dưới gót chân của kẻ chinh phục, cũng không thể tiến hoá nhanh bằng khi được để yên tự mình tìm lấy sự cứu rỗi.

“Wars beget wars and so it will be, until mankind realises that all members of the human race are members of the same human family, who should be treated with sympathy and understanding and be given help as a matter of course. In due time there will be no separate nations, for all men will live in harmony together, each group exchanging with others the things which the part of the world in which they live can most easily produce, together with the manufactured articles which their training has enabled them to perfect. Separate nations will then become merely states in a world nation and wise men, drawn from each group, will govern and legislate for the good of all. It is quite true that the majority of men desire peace, but unfortunately peace or war is usually decided by those who happen to be in power at the moment. The responsibility of any nation or any group of men for launching a war such as we are passing through at the moment is great indeed and it is seldom, if ever, that such a war can be justified, whatever the arguments may be that are put forward in an endeavour to prove that there was no other way out. The world will soon realise that even the nations which win modern wars lose in the end, and after a war the conditions ruling in the world are so difficult, that any advantages they seem to gain are outweighed by the post-war problems they must face. Never think that wars are desired by the powers that control Creation. These perfected men do everything in their power to lead humanity along the paths of peace and progress, but their efforts are limited, because man has been granted free will. That is his peculiar heritage as a member of the human kingdom.”

“Chiến tranh sinh ra chiến tranh và sẽ còn như vậy cho đến khi nhân loại nhận ra rằng mọi thành viên của nhân loại đều là thành viên của cùng một gia đình nhân loại, những người phải được đối xử bằng cảm thông và thấu hiểu và được giúp đỡ như một điều đương nhiên. Đến đúng lúc sẽ không còn những quốc gia riêng biệt nữa, vì mọi người sẽ cùng sống hòa hợp, mỗi nhóm trao đổi với các nhóm khác những thứ mà phần thế giới nơi họ sống có thể sản xuất dễ dàng nhất, cùng với những sản phẩm chế tạo mà sự huấn luyện của họ đã giúp họ hoàn thiện. Khi ấy các quốc gia riêng biệt sẽ chỉ còn là những bang trong một quốc gia thế giới và những người minh triết, được chọn từ mỗi nhóm, sẽ cai quản và lập pháp vì lợi ích của tất cả. Quả thật là phần lớn con người mong muốn hòa bình, nhưng tiếc thay hòa bình hay chiến tranh thường lại do những người tình cờ đang nắm quyền vào lúc đó quyết định. Trách nhiệm của bất kỳ quốc gia nào hay bất kỳ nhóm người nào trong việc phát động một cuộc chiến như cuộc chiến mà hiện nay chúng ta đang trải qua quả thật là rất lớn, và hiếm khi, nếu từng có, một cuộc chiến như vậy có thể được biện minh, bất kể những lý lẽ nào được đưa ra nhằm cố chứng minh rằng không còn lối thoát nào khác. Thế giới sẽ sớm nhận ra rằng ngay cả những quốc gia thắng trong các cuộc chiến hiện đại cuối cùng cũng thua, và sau chiến tranh những điều kiện chi phối trong thế giới khó khăn đến mức bất kỳ lợi thế nào họ dường như đạt được đều bị lấn át bởi những vấn đề hậu chiến mà họ phải đối diện. Đừng bao giờ nghĩ rằng chiến tranh là điều được mong muốn bởi những quyền lực kiểm soát Sáng Tạo. Những con người hoàn thiện này làm mọi điều trong quyền năng của mình để dẫn dắt nhân loại trên những con đường hòa bình và tiến bộ, nhưng nỗ lực của họ bị giới hạn, vì con người đã được ban cho ý chí tự do. Đó là di sản đặc thù của y với tư cách là một thành viên của giới nhân loại.”

Q. “When people are very evolved, do they automatically achieve the continuity of consciousness which enables them to remember what they must do whilst out of their bodies during sleep?”

H. “Khi con người rất tiến hóa, họ có tự động đạt được sự liên tục của tâm thức giúp họ nhớ điều mình phải làm trong khi ra ngoài thể xác lúc ngủ không?”

A. “My answer depends on what you conceive to be an evolved man. The average man has from five to six hundred incarnations in different bodies, during the time that elapses between his first to his last life as a human being, having then passed the fifth initiation and become an adept. Although about six hundred lives are usually necessary to learn all the lessons that this world has to teach, it is only during the last fifty lives or so that a man develops occultly and learns to use the faculties latent in all men, such as intuition, clairvoyance and the power consciously to get out of his body, whenever the necessity arises. For all general purposes you can assume that an evolved man has developed these faculties. But it is possible for one not so evolved to be given the opportunity of developing along this particular line, and your own case should serve to illustrate my point. You probably have more than fifty incarnations in front of you, before you reach the stage of a perfect man, but because your need was great, you have been granted special tuition and in return I hope that you will show your gratitude by passing on this knowledge to others less fortunate than yourself. If you continue to work as you are working now, you will find that your memory of what happens to you when you are out of your body becomes clearer and clearer, and your knowledge of the life beyond the grave will enable you to progress much more quickly than is usual. At the same time it will bring you much peace and contentment of mind. Do not imagine that, having been able to develop this faculty, you are different from, or superior to, many others who probably would have welcomed a similar opportunity to yours.

Đ. “Câu trả lời của tôi tùy thuộc vào điều anh quan niệm là một con người tiến hóa. Con người trung bình có từ năm trăm đến sáu trăm lần lâm phàm trong những thể khác nhau, trong khoảng thời gian trôi qua từ đời đầu tiên đến đời cuối cùng của y với tư cách một con người, khi ấy y đã vượt qua lần điểm đạo thứ năm và trở thành một chân sư. Mặc dù khoảng sáu trăm đời sống thường là cần thiết để học tất cả những bài học mà thế giới này phải dạy, chỉ trong khoảng năm mươi đời cuối cùng hay gần đó con người mới phát triển theo huyền bí học và học cách sử dụng những năng lực tiềm tàng trong mọi người, như trực giác, thông nhãn và quyền năng ra khỏi thể xác một cách có ý thức bất cứ khi nào cần thiết. Với mọi mục đích tổng quát, anh có thể giả định rằng một con người tiến hóa đã phát triển những năng lực này. Nhưng cũng có thể một người chưa tiến hóa đến thế lại được trao cơ hội phát triển theo đường lối đặc biệt này, và chính trường hợp của anh hẳn đủ để minh họa điều tôi muốn nói. Có lẽ anh còn hơn năm mươi lần lâm phàm ở phía trước trước khi đạt đến giai đoạn của một con người hoàn thiện, nhưng bởi vì nhu cầu của anh rất lớn, anh đã được ban cho sự chỉ dạy đặc biệt và đổi lại tôi hy vọng anh sẽ tỏ lòng biết ơn bằng cách truyền lại tri thức này cho những người kém may mắn hơn mình. Nếu anh tiếp tục làm việc như hiện nay, anh sẽ thấy ký ức của mình về những gì xảy ra với anh khi ra ngoài thể xác trở nên ngày càng rõ ràng hơn, và tri thức của anh về đời sống bên kia nấm mồ sẽ giúp anh tiến bộ nhanh hơn nhiều so với thông thường. Đồng thời điều đó sẽ đem lại cho anh nhiều bình an và sự mãn nguyện trong tâm trí. Đừng tưởng rằng vì đã có thể phát triển năng lực này mà anh khác biệt hay cao hơn nhiều người khác, những người có lẽ cũng sẽ hoan nghênh một cơ hội tương tự như của anh.

“Pride is always a danger, for it is often responsible for help being withdrawn from an individual with the result that such a man falls back into the Slough of Despondence.”

“Kiêu hãnh luôn luôn là một nguy cơ, vì nó thường là nguyên nhân khiến sự trợ giúp bị rút lại khỏi một cá nhân, với kết quả là người ấy lại rơi trở vào Vũng Lầy Tuyệt Vọng.”

Q. “Are we born an equal number of times as men and women or is sex just chance?”

H. “Chúng ta có sinh ra số lần bằng nhau trong thân nam và thân nữ không, hay giới tính chỉ là ngẫu nhiên?”

A. “Your last question is an easy one. No, sex is not just chance and we are not born an equal number of times as men and women. It is only possible to develop certain characteristics in female bodies and others in male bodies. By the time we reach perfection, we shall all have developed to a minimum extent all the virtues that add up to the ideal of a perfect man, and much more than a minimum in some of them. A man who develops through action naturally is a different character from one who develops through leading a saintly life and through a capacity to meditate for long periods in an endeavour to help his fellowmen. All types of perfected beings are necessary, and many are the ways taken by us to fulfill our destiny. If an individual should lack courage and the capacity to make sound decisions and to rule faithfully over his fellowmen, it would probably mean that such a person might have to be born in a male body for two or three consecutive lives, so that he would have ample opportunity for the development he needed. If on the other hand an individual lacked the instinct called maternal (or even paternal) and also was incapable of that selfless devotion and capacity to love a person, even when that love was spurned, it would probably mean that a life or two in a female body would be desirable, so that these lessons might be learned. In theory one should inhabit the same number of male and female bodies in the total number of lives which we live, but in practice it does not work out that way, for some people develop more easily in one type of body than they do in the other. In due time, when a man reaches perfection, he should have all the outstanding qualities of both sexes reasonably well developed. When you have an opportunity of meeting some of these perfected men, you will find that what I have told you is indeed true.”

Đ. “Câu hỏi cuối cùng của anh là một câu dễ. Không, giới tính không chỉ là ngẫu nhiên và chúng ta không sinh ra số lần bằng nhau trong thân nam và thân nữ. Chỉ có thể phát triển một số đặc tính nhất định trong thể nữ và những đặc tính khác trong thể nam. Vào lúc chúng ta đạt đến sự hoàn thiện, tất cả chúng ta sẽ đều đã phát triển ở mức tối thiểu mọi đức tính cộng lại thành lý tưởng của một con người hoàn hảo, và hơn mức tối thiểu ở một số đức tính trong đó. Một người phát triển qua hành động tự nhiên là một tính cách khác với người phát triển qua việc sống một đời thánh thiện và qua khả năng tham thiền lâu dài trong nỗ lực giúp đỡ đồng loại. Mọi loại hữu thể hoàn thiện đều cần thiết, và có nhiều con đường chúng ta đi để hoàn thành định mệnh của mình. Nếu một cá nhân thiếu can đảm và khả năng đưa ra những quyết định đúng đắn cũng như cai quản đồng loại của mình một cách trung tín, điều đó có lẽ sẽ có nghĩa là người ấy có thể phải sinh trong một thể nam trong hai hay ba đời liên tiếp, để có cơ hội đầy đủ cho sự phát triển mà mình cần. Mặt khác, nếu một cá nhân thiếu bản năng gọi là mẫu tính (hay thậm chí phụ tính) và cũng không có khả năng tận tụy vị tha cùng khả năng yêu thương một người ngay cả khi tình yêu ấy bị khước từ, điều đó có lẽ sẽ có nghĩa là một hay hai đời trong thể nữ là điều đáng mong muốn, để những bài học ấy có thể được học. Về lý thuyết, người ta nên cư ngụ trong số lượng thể nam và thể nữ bằng nhau trong tổng số các đời sống mà chúng ta sống, nhưng trên thực tế điều đó không diễn ra như vậy, vì có người phát triển dễ dàng hơn trong một loại thể này so với loại kia. Đến đúng lúc, khi con người đạt đến sự hoàn thiện, y phải có tất cả những phẩm tính nổi bật của cả hai giới được phát triển khá đầy đủ. Khi anh có cơ hội gặp một số con người hoàn thiện này, anh sẽ thấy rằng điều tôi đã nói với anh quả thật là đúng.”

Acharya continued: “This brings me to the end of your questions and after you have transcribed your shorthand notes and read them through, I hope you will find that the answers I have given clarify the points you have raised. If I were you I should have an early night for you must be tired, and I would not bother about concentrating before going to sleep on remembering in the morning what you did tonight. I shall not visit you again for at least a week, so you will have plenty of opportunity to experiment on your own and as I told you yesterday, if you get into any difficulty, I shall be near, to help you. Peace be with you, my son. I will leave you now.”

Acharya tiếp tục: “Điều này đưa tôi đến chỗ kết thúc các câu hỏi của anh và sau khi anh đã chép lại các ghi chú tốc ký của mình và đọc lại chúng, tôi hy vọng anh sẽ thấy rằng những câu trả lời tôi đã đưa ra làm sáng tỏ những điểm anh đã nêu lên. Nếu là anh, tôi sẽ đi ngủ sớm vì hẳn anh đã mệt, và tôi sẽ không bận tâm đến việc tập trung trước khi ngủ để sáng mai nhớ lại điều anh đã làm tối nay. Tôi sẽ không lại đến thăm anh trong ít nhất một tuần, nên anh sẽ có nhiều cơ hội để tự mình thử nghiệm và như tôi đã nói với anh hôm qua, nếu anh gặp bất kỳ khó khăn nào, tôi sẽ ở gần để giúp anh. Bình an ở cùng con, con trai của ta. Giờ tôi xin rời con.”

I could give a long description of the many incidents which took place the following week, but instead I shall summarise the highlights.

Tôi có thể kể dài dòng về nhiều sự việc đã xảy ra trong tuần kế tiếp, nhưng thay vào đó tôi sẽ tóm lược những điểm nổi bật.

On the very first night I managed to make my way to Daphne’s cottage, where I found her entertaining friends. I was introduced to and had interesting conversations with several of them on current events in the world—on which topics I found them to be very well informed. Several movie films were shown for my benefit, depicting the gardens attached to the bungalows in this valley. These gardens were much more beautiful than any I had seen before. When gardens were shown which were not laid out in any way, I saw nature spirits, tiny people who couldn’t be much more than five to six inches high judging by comparison with the flowers I knew, dancing in and out of the pictures. When they lighted on a flower, the stem gave a slight tremor as it would have if a large butterfly or bumble bee did the same thing. They are indeed perfect replicas of the fairies described in the books beloved by children of all ages—with one important difference, the complete absence of wings, and this can be understood, for logically wings are quite unnecessary at the level where these nature-spirits exist.

Ngay trong đêm đầu tiên, tôi đã xoay xở tìm đường đến ngôi nhà nhỏ của Daphne, nơi tôi thấy cô đang tiếp anh bè. Tôi được giới thiệu với vài người trong số họ và đã có những cuộc trò chuyện thú vị về các biến cố hiện thời trên thế giới—những đề tài mà tôi thấy họ đều rất am hiểu. Một số phim điện ảnh được chiếu riêng cho tôi xem, mô tả các khu vườn gắn liền với những ngôi nhà nhỏ trong thung lũng này. Những khu vườn ấy đẹp hơn rất nhiều so với bất cứ khu vườn nào tôi từng thấy trước đây. Khi những khu vườn không được bố trí theo bất kỳ cách thức nào được chiếu lên, tôi thấy các tinh linh tự nhiên, những người tí hon mà nếu so với các loài hoa tôi biết thì hẳn không cao quá năm đến sáu inch, đang nhảy múa ra vào trong các hình ảnh. Khi họ đậu lên một bông hoa, cuống hoa rung nhẹ như thể một con bướm lớn hay một con ong nghệ vừa đậu xuống đó. Quả thật họ là những bản sao hoàn hảo của các nàng tiên được mô tả trong những cuốn sách được trẻ em mọi lứa tuổi yêu thích—chỉ có một khác biệt quan trọng là hoàn toàn không có cánh, và điều này có thể hiểu được, vì xét theo lô-gic thì cánh hoàn toàn không cần thiết ở cấp độ mà các tinh linh tự nhiên này hiện hữu.

On the second night I got out of my body, meaning to visit the third sphere once more, but, when I found myself hovering immediately above the bed on which my body was lying, the first thing I heard was the voice of Charles speaking to me in characteristic army dialect. He said: “It’s about time you looked me up. I’ve been here at least three times since the night when you and your Indian friend came to London with me; each time your old body was here, but you had gone. I didn’t know where you had pushed off to, so I couldn’t follow you. This time I decided to come early so as to be sure to catch you.”

Vào đêm thứ hai, tôi ra khỏi thể mình, định đến thăm lại khối cầu thứ ba, nhưng khi thấy mình đang lơ lửng ngay phía trên chiếc giường nơi thể xác tôi đang nằm, điều đầu tiên tôi nghe thấy là giọng Charles nói với tôi bằng thứ tiếng lóng quân đội rất đặc trưng của nó. Nó nói: “Đến lúc anh phải tìm tôi rồi đấy. Tôi đã đến đây ít nhất ba lần kể từ đêm anh và người anh Ấn Độ của anh cùng tôi đến Luân Đôn; lần nào cái thân xác già cỗi của anh cũng ở đây, nhưng anh thì đi mất. Tôi không biết anh đã chuồn đi đâu, nên không thể theo anh được. Lần này tôi quyết định đến sớm để chắc chắn gặp được anh.”

“My dear Charles,” I said, “I’m terribly sorry. I didn’t know you had been looking for me, for I have been exceedingly busy and very interested indeed in all that I have seen.”

“Charles thân mến của tôi,” tôi nói, “tôi thật vô cùng xin lỗi. Tôi không biết em đã tìm tôi, vì tôi bận vô cùng và thực sự rất say mê với tất cả những gì tôi đã thấy.”

“What about going up to your little turret room which I remember used to be a favourite of yours,” said Charles, “then we can have a long talk, just like old times.”

“Hay là lên căn phòng tháp nhỏ của anh, nơi tôi nhớ là trước kia anh rất thích,” Charles nói, “rồi chúng ta có thể nói chuyện lâu, như những ngày xưa.”

“Good idea, old chap, let’s go.” So we went up to my sanctum where we chatted over old days and I told him more or less everything that had happened to me up to date.

“Ý hay đấy, anh anh già, đi thôi.” Thế là chúng tôi lên chốn riêng của tôi, nơi chúng tôi chuyện trò về những ngày cũ và tôi kể cho nó nghe đại khái mọi điều đã xảy ra với tôi cho đến lúc ấy.

Charles said, “I’m damned glad you’ve been so lucky as to meet Acharya, for it worried me after I died to see how extremely depressed and miserable you were. I tried my damnedest to speak to you, but couldn’t make you hear—we had been jolly good pals in the old days, even though I always looked on you as donkey’s years older than me. I appreciate all you’ve done for me ever since the days when you started to teach me football, and gave me my first lesson in how to hold a bat. What a funny thing life is! My idea used to be more or less to have a good time and get the best out of life that I could, and possibly later to marry some nice girl and have a family. When I first met Acharya he impressed me with the fact that a man doesn’t change after death; it is the conditions under which he lives that are different, and I have found that quite true.”

Charles nói, “Tôi mừng chết đi được vì anh đã may mắn gặp Acharya, vì sau khi tôi chết, thấy anh suy sụp và khổ sở đến thế làm tôi lo lắm. Tôi đã cố hết sức để nói với anh, nhưng không làm sao khiến anh nghe được—hồi trước chúng ta thân nhau lắm, dù tôi vẫn luôn thấy anh già hơn tôi cả một quãng dài. Tôi biết ơn tất cả những gì anh đã làm cho tôi từ những ngày anh bắt đầu dạy tôi đá bóng và cho tôi bài học đầu tiên về cách cầm gậy đánh bóng. Cuộc đời thật buồn cười! Ý nghĩ của tôi trước đây đại khái là cứ vui sống và tận hưởng cuộc đời hết mức có thể, rồi có lẽ sau này cưới một cô gái tử tế nào đó và có gia đình. Khi lần đầu gặp Acharya, ông ấy làm tôi nhận ra rằng con người không thay đổi sau khi chết; chỉ có những điều kiện mà y sống trong đó là khác đi, và tôi thấy điều ấy hoàn toàn đúng.”

“Yes,” I replied, “I gathered from Acharya that you had not been exactly miserable. He said you had linked up with some girl who had recently left the world. Is that so?”

“Đúng vậy,” tôi đáp, “tôi hiểu từ Acharya rằng em không hẳn là khổ sở. Ông ấy nói em đã kết giao với một cô gái mới rời thế gian gần đây. Có đúng thế không?”

Did he blush or was I imagining it?

Nó có đỏ mặt không hay là tôi tưởng tượng?

“Yes, that’s true enough,” said Charles, “I think it passes the time to have a girl pal to wander round with. In her case I’m afraid it tickles my vanity, for she thinks I’m a hell of a fellow, just because I know a little more than she does. She didn’t have a very good time in the world so I suppose this moving around, seeing shows and going to restaurants is thrilling for a time.”

“Vâng, đúng thế,” Charles nói, “tôi thấy có một cô anh gái để đi lang thang cùng thì cũng đỡ buồn. Trong trường hợp của cô ấy, tôi e là điều đó còn vuốt ve lòng tự phụ của tôi, vì cô ấy nghĩ tôi là một tay cừ lắm, chỉ vì tôi biết nhiều hơn cô ấy một chút. Cô ấy đã không có một cuộc sống tốt đẹp ở trần gian nên tôi đoán việc đi đây đi đó, xem các buổi diễn và đến nhà hàng cũng làm cô ấy thấy thích thú trong một thời gian.”

“Oh, Charles,” I said, “there’s one thing I want to ask you. Is there any sex relationship at your level after you’ve dropped the physical body?”

“Ôi, Charles,” tôi nói, “có một điều tôi muốn hỏi em. Ở cấp độ của em, sau khi đã bỏ thể xác, có còn quan hệ giới tính không?”

This time I’m quite sure he blushed but he went on, “Well yes, there is of a kind, and I think most people indulge in it, but it’s not quite the same thing as on the physical plane. One leads up to things in the same way, and although I would probably have felt just as shy about talking of my secret love affairs had you asked me the same question before I died, I suppose I feel just a wee bit shy of talking about these things now.”

Lần này thì tôi hoàn toàn chắc chắn nó đỏ mặt, nhưng nó vẫn nói tiếp, “À, có chứ, theo một cách nào đó, và tôi nghĩ phần lớn mọi người đều có, nhưng nó không hoàn toàn giống như ở cõi hồng trần. Mọi sự cũng dẫn đến đó theo cùng một cách, và dù có lẽ tôi cũng sẽ ngượng y như thế nếu anh hỏi tôi câu này trước khi tôi chết về những chuyện tình bí mật của tôi, nhưng tôi đoán bây giờ tôi vẫn hơi ngượng một chút khi nói về những chuyện ấy.”

I said, “I didn’t mean to be personal, I’m just interested in getting as much information as I can about the differences between conditions in the physical and the astral worlds and at various levels of the latter. I told you about my coming up against Daphne on one of the higher levels, where she is already studying music. I was very much in love with Daphne when she was alive and would have asked her to marry me as soon as I was able to support a wife. Although we never experienced the physical relationship of marriage, I feel that the platonic association we shall carry on now at these higher levels will not only last through our astral existence but will be of great benefit to us in our next incarnation. What about coming along with me one night and letting me introduce you to Daphne?”

Tôi nói, “Tôi không có ý hỏi chuyện riêng tư, tôi chỉ muốn có được càng nhiều thông tin càng tốt về những khác biệt giữa các điều kiện trong thế giới hồng trần và cảm dục, cũng như ở các cấp độ khác nhau của thế giới sau. Tôi đã kể cho em nghe việc tôi gặp Daphne ở một trong những cấp độ cao hơn, nơi cô ấy hiện đang học âm nhạc. Khi còn sống, tôi đã rất yêu Daphne và hẳn đã cầu hôn cô ấy ngay khi tôi có thể nuôi nổi một người vợ. Dù chúng tôi chưa từng trải qua mối quan hệ hồng trần của hôn nhân, tôi cảm thấy rằng mối liên hệ thuần khiết mà chúng tôi sẽ tiếp tục duy trì ở các cấp độ cao hơn này không những sẽ kéo dài suốt thời kỳ tồn tại cảm dục của chúng tôi mà còn sẽ rất có ích cho chúng tôi trong lần lâm phàm kế tiếp. Em có muốn một đêm nào đó đi cùng tôi để tôi giới thiệu em với Daphne không?”

“Yes, I’d like to,” said Charles. I suggested a date for Thursday night, to which he agreed.

“Có, tôi muốn lắm,” Charles nói. Tôi đề nghị tối thứ Năm, và nó đồng ý.

Charles said he had recently made contact with our father, who had died some years previously. From his description I gathered that father was living at the second sphere. Charles described how he had found him surrounded by rose bushes—this was as I had known him in my boyhood days—he said that the last time he had seen him, father was distressed because a Scotch terrier which had attached itself to him had suddenly disappeared and he felt it had been lost. I explained to Charles what had really happened, but he showed little interest. We talked on till a peculiar feeling of restlessness came over me. I had just time to say to Charles not to forget Thursday when I woke in my bed with no remembrance of how I got there.

Charles nói rằng gần đây nó đã liên lạc được với cha chúng tôi, người đã qua đời vài năm trước. Qua lời mô tả của nó, tôi hiểu rằng cha đang sống ở khối cầu thứ hai. Charles kể rằng nó đã thấy cha giữa những bụi hồng—đó đúng là hình ảnh tôi từng biết về cha trong thời niên thiếu—nó nói lần cuối gặp cha, cha đang buồn phiền vì một con chó sục Scotch đã gắn bó với cha bỗng nhiên biến mất và cha cảm thấy nó đã bị lạc mất. Tôi giải thích cho Charles điều gì thực sự đã xảy ra, nhưng nó tỏ ra ít quan tâm. Chúng tôi tiếp tục nói chuyện cho đến khi một cảm giác bồn chồn kỳ lạ tràn đến với tôi. Tôi chỉ kịp dặn Charles đừng quên tối thứ Năm thì đã tỉnh dậy trên giường mà không nhớ mình đã về đó bằng cách nào.

It was on Wednesday night. I had a most disturbing experience—a nightmare in which Daphne took part. It seemed that Daphne and I were in a dark cave. For some reason we could not escape from a loathsome gorilla-like creature who was seated on the floor close to us, glowering at Daphne who obviously attracted it in some horrible way. I know that in my dream I wanted to protect Daphne, but the gorilla was of such a size and strength that I knew I would have no chance against it. It seemed highly amused at our efforts to escape, for it emitted wild yells and hoarse laughter as we ran hither and thither around the cave, trying to find an exit. Even in my dreams, sweat poured from my brow and I tried to think of Acharya in the hope he would come to our assistance—but nothing happened and we seemed left to our fate. After a little time the gorilla rose to its feet and advanced towards Daphne, whom it grasped with its horrible long hairy arms and commenced to drag her to the other end of the cave.

Đó là tối thứ Tư. Tôi đã có một trải nghiệm vô cùng xáo trộn—một cơn ác mộng có Daphne tham dự. Dường như Daphne và tôi đang ở trong một hang động tối tăm. Vì một lý do nào đó, chúng tôi không thể thoát khỏi một sinh vật ghê tởm giống khỉ đột đang ngồi trên nền hang gần chúng tôi, trừng trừng nhìn Daphne, người rõ ràng đã hấp dẫn nó theo một cách kinh khủng nào đó. Tôi biết rằng trong giấc mơ, tôi muốn bảo vệ Daphne, nhưng con khỉ đột quá to lớn và mạnh mẽ đến nỗi tôi biết mình không có cơ may nào chống lại nó. Nó dường như rất khoái chí trước những nỗ lực trốn thoát của chúng tôi, vì nó phát ra những tiếng tru man dại và những tràng cười khàn khàn khi chúng tôi chạy ngược chạy xuôi trong hang, cố tìm lối ra. Ngay cả trong mơ, mồ hôi cũng tuôn trên trán tôi và tôi cố nghĩ đến Acharya với hy vọng ông sẽ đến cứu giúp chúng tôi—nhưng không có gì xảy ra và dường như chúng tôi bị bỏ mặc cho số phận. Sau một lúc, con khỉ đột đứng dậy và tiến về phía Daphne, chộp lấy cô bằng đôi tay dài đầy lông ghê rợn rồi bắt đầu kéo cô về phía bên kia hang.

Daphne screamed and resisted to the best of her ability, and in desperation I hurled myself at the horrible creature and, although I had no weapon, I endeavoured to get my hands on its throat, in the hope that it would turn its attentions to me. Even now, I can still smell the fetid breath of the brute, for in the middle of the fight I awoke in my bed, sweating profusely and with the bedclothes all tangled about me. I haven’t the slightest idea what it all means. I shall check up with Daphne as soon as possible in the hope she knows something about it.

Daphne thét lên và chống cự hết sức mình, còn tôi trong tuyệt vọng lao vào sinh vật kinh khủng ấy, và dù không có vũ khí, tôi vẫn cố chụp lấy cổ nó, hy vọng nó sẽ quay sự chú ý sang tôi. Ngay cả bây giờ, tôi vẫn còn ngửi thấy hơi thở hôi thối của con quái vật, vì giữa lúc vật lộn tôi đã tỉnh dậy trên giường, mồ hôi đầm đìa và chăn màn quấn rối quanh người. Tôi không hề biết chút nào tất cả chuyện ấy có nghĩa gì. Tôi sẽ kiểm tra với Daphne sớm nhất có thể với hy vọng cô ấy biết điều gì đó về việc này.

Thursday was the night I began my career as an astral helper. This was the night on which I had arranged to take Charles to the third sphere. Charles was late, and when he arrived he was in an agitated condition because, he said, a pal of his, Bill Fletcher, had just crashed and been killed in a raid over London. He asked me to come with him and help, so we set out at once for London. Charles knew where to look for Bill, and our assistance was welcomed by three inexperienced but eager astral helpers. After about two hours hard work on the part of all of us, Bill was persuaded to make the effort of will to free himself from his etheric body, and at once became quite a different person. Charles and I took charge of him; we went with him to his home where we did what we could to prepare his young wife for the news she would receive the following morning.

Thứ Năm là đêm tôi bắt đầu sự nghiệp làm người trợ giúp cảm dục. Đó là đêm tôi đã hẹn đưa Charles đến khối cầu thứ ba. Charles đến muộn, và khi đến nơi nó đang trong trạng thái kích động vì, như nó nói, một người anh của nó là Bill Fletcher vừa bị rơi máy bay và thiệt mạng trong một cuộc không kích trên bầu trời Luân Đôn. Nó nhờ tôi đi cùng và giúp đỡ, nên chúng tôi lập tức lên đường đến Luân Đôn. Charles biết tìm Bill ở đâu, và sự giúp đỡ của chúng tôi được ba người trợ giúp cảm dục còn non kinh nghiệm nhưng đầy nhiệt tâm hoan nghênh. Sau khoảng hai giờ làm việc vất vả của tất cả chúng tôi, Bill được thuyết phục cố gắng dùng ý chí để giải thoát mình khỏi thể dĩ thái, và ngay lập tức trở thành một con người hoàn toàn khác. Charles và tôi nhận trách nhiệm với anh ta; chúng tôi đi cùng anh ta về nhà, nơi chúng tôi làm hết sức có thể để chuẩn bị cho người vợ trẻ của anh ta đón nhận tin dữ vào sáng hôm sau.

As Charles then undertook to remain with Bill, saying he knew only too well what the poor devil was suffering, I went back to the scene of the raid to see if I could be of any further assistance. An ambulance passed me, so I decided to follow it. It was driven to one of the big London hospitals and a stretcher, on which a young girl was lying, was carefully carried into the building. The same girl in her astral body was walking, in a very agitated condition, close behind the stretcher. After examination, the body of the girl was carried into one of the wards, already filled with recent casualties. Without any fuss or hurry and an efficiency at which I greatly marveled, the girl was put to bed and arrangements were made for giving her a blood transfusion. She was frantically trying to communicate with the doctors and nurses attending to her unconscious body, but after a short time she listened to what I had to say. I told her she would be all right, for intuitively I knew this was so. I told her that it would help if she became calm and watched the proceedings, at the same time using her will power to aid the efforts of the doctors and nurses. I don’t know now why I suggested this to her. I hadn’t the slightest idea whether it would help or not, but it came to me to say this, and so I did.

Vì sau đó Charles nhận ở lại với Bill, nói rằng nó quá hiểu nỗi đau mà gã tội nghiệp ấy đang chịu đựng, nên tôi quay lại nơi xảy ra cuộc không kích để xem mình còn có thể giúp gì thêm không. Một chiếc xe cứu thương đi ngang qua tôi, nên tôi quyết định đi theo. Nó chạy đến một trong những bệnh viện lớn ở Luân Đôn và một chiếc cáng, trên đó có một cô gái trẻ đang nằm, được cẩn thận khiêng vào trong tòa nhà. Chính cô gái ấy trong thể cảm dục đang đi, trong trạng thái vô cùng kích động, ngay phía sau chiếc cáng. Sau khi khám xét, thể xác của cô được đưa vào một phòng bệnh vốn đã đầy những nạn nhân mới bị thương. Không hề ồn ào hay vội vã, và với một hiệu quả khiến tôi vô cùng kinh ngạc, cô gái được đặt lên giường và việc truyền máu cho cô được sắp xếp. Cô đang cuống cuồng cố giao tiếp với các bác sĩ và y tá đang chăm sóc thể xác bất tỉnh của mình, nhưng chỉ sau một lúc ngắn cô đã lắng nghe những gì tôi nói. Tôi bảo cô rằng cô sẽ ổn thôi, vì trực giác cho tôi biết điều đó là đúng. Tôi nói với cô rằng sẽ có ích nếu cô bình tĩnh lại và quan sát mọi việc đang diễn ra, đồng thời dùng ý chí của mình để hỗ trợ những nỗ lực của các bác sĩ và y tá. Bây giờ tôi không biết vì sao mình lại gợi ý điều đó với cô. Tôi không hề biết chút nào liệu nó có giúp ích hay không, nhưng ý nghĩ ấy đến với tôi để nói ra, và tôi đã nói như vậy.

I could see quite clearly that there was a thin line of etheric matter stretched between her astral body and physical form lying on the hospital bed, so I knew that she was not dead—and was sure she could not die. I stayed talking with her for the rest of my night, and after she had told me that the house in which she lived was next door to the one that had received a direct hit and that she was very worried indeed as to the fate of her old mother, began to give her a little of the knowledge which had recently been given to me.

Tôi có thể thấy rất rõ rằng có một đường mảnh bằng vật chất dĩ thái kéo dài giữa thể cảm dục của cô và hình thể hồng trần đang nằm trên giường bệnh, nên tôi biết cô chưa chết—và chắc chắn rằng cô không thể chết. Tôi ở lại nói chuyện với cô suốt phần còn lại của đêm mình, và sau khi cô kể với tôi rằng căn nhà cô sống ở ngay cạnh căn nhà bị trúng bom trực tiếp và rằng cô vô cùng lo lắng cho số phận của người mẹ già, tôi bắt đầu truyền cho cô một ít kiến thức vừa mới được trao cho tôi.

There were other astral helpers moving about the ward and one of them whom I had not seen before, but who said his name was Jim, congratulated me on my efforts, saying that he wished there were more people with the necessary knowledge who would help in similar emergencies.

Có những người trợ giúp cảm dục khác đi lại trong phòng bệnh và một người trong số họ mà tôi chưa từng gặp trước đây, nhưng nói tên mình là Jim, đã chúc mừng tôi về những nỗ lực của tôi, nói rằng anh mong có nhiều người hơn nữa có kiến thức cần thiết để giúp đỡ trong những trường hợp khẩn cấp tương tự.

I had an experience so unique during Friday night that I must describe the night’s activities in some detail. I found Daphne in her room at the Academy. One of the first things I asked her about was her part in my nightmare—but she assured me she was not present. We decided we would try to get to the next sphere—the fourth—on our own, but were faced with the problem that neither of us had a landmark to visualise. We sat down outside and concentrated; I tried to see a mental hospital, such as Acharya had mentioned, but nothing happened. I wished we had Acharya to help us and must have made a thought-form of him because, after our next attempt had failed, I heard a chuckle behind me—and there he was. He said he would help us and give us landmarks on each sphere which we must memorise. We linked hands with him and when I opened my eyes, the scene that met them cannot adequately be described, for it was the most beautiful valley I have ever seen. It was partly wooded and the ground was covered with thick heather of the varied colours which one sees to perfection in South Africa, but soft to the touch; intermingled with this, wild flowers bloomed in profusion. Side by side I saw primroses, blue-bells, daffodils, forget-me-nots, tulips, wild roses and the most vivid red poppies that could be imagined; I’m sure no variety of wild flower was missing for the ground near and far was a veritable carpet of colours of breathtaking beauty.

Tôi đã có một trải nghiệm độc nhất vô nhị trong đêm thứ Sáu đến nỗi tôi phải mô tả các hoạt động của đêm ấy khá chi tiết. Tôi gặp Daphne trong phòng của cô tại Học viện. Một trong những điều đầu tiên tôi hỏi cô là về phần cô trong cơn ác mộng của tôi—nhưng cô quả quyết rằng cô không hề có mặt. Chúng tôi quyết định sẽ tự mình cố đến khối cầu kế tiếp—khối cầu thứ tư—nhưng vấp phải vấn đề là cả hai chúng tôi đều không có một mốc chuẩn nào để hình dung. Chúng tôi ngồi xuống bên ngoài và tập trung; tôi cố thấy một bệnh viện tâm thần, như Acharya đã nhắc đến, nhưng không có gì xảy ra. Tôi ước gì có Acharya giúp chúng tôi và hẳn đã tạo ra một Hình tư tưởng về ông, vì sau khi lần thử kế tiếp của chúng tôi thất bại, tôi nghe thấy một tiếng cười khúc khích phía sau—và ông đang ở đó. Ông nói sẽ giúp chúng tôi và cho chúng tôi những mốc chuẩn ở mỗi khối cầu mà chúng tôi phải ghi nhớ. Chúng tôi nắm tay ông và khi tôi mở mắt ra, cảnh tượng hiện ra trước mắt không thể nào mô tả cho đầy đủ được, vì đó là thung lũng đẹp nhất tôi từng thấy. Một phần có rừng cây và mặt đất phủ đầy thạch nam dày với những màu sắc đa dạng mà người ta thấy đẹp nhất ở Nam Phi, nhưng lại mềm mại khi chạm vào; xen lẫn trong đó là vô số hoa dại nở rộ. Tôi thấy sát bên nhau những bông anh thảo, chuông xanh, thủy tiên vàng, lưu ly, tulip, hồng dại và những bông anh túc đỏ rực rỡ nhất có thể tưởng tượng; tôi chắc rằng không thiếu một loại hoa dại nào vì mặt đất gần xa quả thật là một tấm thảm màu sắc đẹp đến nghẹt thở.

“I thought you would be pleased with this landmark,” said Acharya, “for it is called ‘The Fairy Glen.’ It could be described as the cradle of the deva kingdom for it is the valley to which the members of this evolution return after they have finished the particular work allotted to them. I suggest you both investigate the valley on some future occasion—quietly and unobtrusively, for the devas have their own methods of keeping away philistines amongst men. They build a thick wall of astral matter which makes it impossible for any human being to see beyond, even if they knew this place existed. Such walls serve the same purpose at this level as do brick walls in the physical world.”

“Tôi nghĩ các anh sẽ hài lòng với mốc chuẩn này,” Acharya nói, “vì nơi đây được gọi là ‘Thung Lũng Tiên.’ Có thể mô tả nó như chiếc nôi của giới thiên thần vì đây là thung lũng mà các thành viên của dòng tiến hoá này trở về sau khi hoàn tất công việc đặc thù được giao cho họ. Tôi gợi ý cả hai anh nên khảo sát thung lũng này vào một dịp nào đó trong tương lai—một cách yên lặng và kín đáo, vì các thiên thần có những phương pháp riêng để ngăn những kẻ phàm tục trong loài người tránh xa. Họ dựng nên một bức tường dày bằng vật chất cảm dục khiến bất cứ con người nào cũng không thể nhìn xuyên qua, ngay cả khi họ biết nơi này tồn tại. Những bức tường như thế ở cấp độ này phục vụ cùng một mục đích như tường gạch trong thế giới hồng trần.”

Once more we joined hands and willed ourselves to the next level—the fifth. On opening my eyes it seemed uncanny to find that we were standing on an open plain like a desert, except that there was grass in the place of sand. In the distance was a huge city, with many spires and towers, surrounded by an immense town. Above the city shone something in the nature of a sun, for it spread a glow over all the buildings which made them shine like gold. “That, my friends, is the Golden City,” said our guide, “and I advise you to visit and study it. You will find within everything that has ever been thought of or imagined as likely to be found in orthodox Heaven, so much talked of by priests and ministers attached to the Christian creed. The whole city is a huge thought-form and you will find therein thought-forms of God the Father, of Christ and his twelve disciples, and the many saints who have figured in the teachings of the Church.”

Một lần nữa chúng tôi nắm tay nhau và dùng ý chí đưa mình đến cấp độ kế tiếp—cấp độ thứ năm. Khi mở mắt ra, thật kỳ lạ khi thấy chúng tôi đang đứng trên một đồng bằng trống trải như sa mạc, ngoại trừ chỗ cát là cỏ. Ở đằng xa là một thành phố khổng lồ, với nhiều ngọn tháp và tháp nhọn, bao quanh bởi một thị trấn mênh mông. Phía trên thành phố tỏa sáng một thứ gì đó giống như mặt trời, vì nó phủ một vầng sáng lên tất cả các công trình khiến chúng lấp lánh như vàng. “Đó, các anh của tôi, là Thành Phố Vàng,” vị hướng dẫn của chúng tôi nói, “và tôi khuyên các anh nên đến thăm và nghiên cứu nó. Các anh sẽ thấy trong đó mọi thứ từng được nghĩ đến hay tưởng tượng là có thể tìm thấy trong Thiên Đàng chính thống, điều mà các linh mục và mục sư thuộc tín điều Cơ Đốc thường nói đến rất nhiều. Toàn bộ thành phố là một Hình tư tưởng khổng lồ và các anh sẽ thấy trong đó những Hình tư tưởng về Thượng đế Cha, về Đức Christ và mười hai đệ tử của Ngài, cùng nhiều vị thánh từng xuất hiện trong giáo huấn của Giáo hội.”

Again we linked hands, and willed ourselves to the sixth level. Within a second we were standing on the edge of a lake, which was surrounded by a high wall of rock. In the distance on our left was to be seen a very small opening—I wondered where it led. “Make a clear picture of this scene,” advised Acharya. “This lake is used principally by members of the human race who desire absolute silence for their particular work. There is one sect in the world which evolves entirely through meditation exercises. They are taught during their lifetime that there is this place, in rather the same way that Christians are taught that there is a place called Heaven. The small boats you see are used by the men who come here, for when they are afloat, it is impossible for one boat to be overtaken by another. This is due to some under water currents which cause the boats to drift round the entire lake; it takes twenty four hours (earth time) for a boat to return to its starting place, and the meditation exercises carried out by these people take exactly that time to complete. I saw you noticed the small opening on the left; that leads to another similar but smaller lake, also surrounded by high cliffs. This lake was produced by an individual who sojourned here. One day he was interrupted in his meditations by other human beings using the lake at the same time as himself. The thought-form he made was so strong that he produced a lake all for himself.

Một lần nữa chúng tôi nắm tay nhau và dùng ý chí đưa mình đến cấp độ thứ sáu. Chỉ trong một giây, chúng tôi đã đứng bên bờ một hồ nước được bao quanh bởi một bức tường đá cao. Ở phía xa bên trái có thể thấy một lối mở rất nhỏ—tôi tự hỏi nó dẫn đến đâu. “Hãy tạo một hình ảnh rõ ràng về cảnh này,” Acharya khuyên. “Hồ này chủ yếu được dùng bởi các thành viên của nhân loại mong muốn sự im lặng tuyệt đối cho công việc đặc thù của họ. Có một giáo phái trên thế giới tiến hoá hoàn toàn qua các bài tập tham thiền. Trong suốt đời sống của họ, họ được dạy rằng có nơi này, cũng gần giống như các tín đồ Cơ Đốc được dạy rằng có một nơi gọi là Thiên Đàng. Những chiếc thuyền nhỏ các anh thấy được dùng bởi những người đến đây, vì khi đã ở trên mặt nước, không chiếc thuyền nào có thể vượt qua chiếc khác. Điều này là do một số dòng chảy ngầm dưới nước khiến các con thuyền trôi vòng quanh toàn bộ hồ; phải mất hai mươi bốn giờ (theo thời gian Trái Đất) để một chiếc thuyền trở lại điểm xuất phát, và các bài tập tham thiền do những người này thực hiện mất đúng chừng ấy thời gian để hoàn tất. Tôi thấy các anh đã chú ý đến lối mở nhỏ bên trái; nó dẫn đến một hồ khác tương tự nhưng nhỏ hơn, cũng được bao quanh bởi những vách đá cao. Hồ này do một cá nhân từng lưu lại đây tạo ra. Một ngày nọ, y bị những người khác dùng hồ cùng lúc quấy rầy trong khi đang tham thiền. Hình tư tưởng mà y tạo ra mạnh đến nỗi y đã tạo nên một hồ riêng hoàn toàn cho mình.

“I have spoken to you here in a voice which is hardly above a whisper. Had I spoken in my usual voice you would have heard it reverberating round the lake like thunder. The people in the vicinity know about this unusual feature, and take good care never to make sound. Because of this peculiarity the lake is called ‘The Waters of Perpetual Silence.’

“Tôi đã nói với anh ở đây bằng một giọng hầu như chỉ lớn hơn tiếng thì thầm. Nếu tôi nói bằng giọng bình thường, anh hẳn đã nghe nó vang dội quanh hồ như sấm. Những người ở vùng lân cận biết đặc điểm khác thường này, và hết sức cẩn thận không bao giờ tạo ra âm thanh. Vì đặc tính ấy mà hồ được gọi là ‘Mặt Nước của Sự Im Lặng Vĩnh Cửu.’

“Now I must leave you. You should have no difficulty in returning without my assistance.”

“Bây giờ tôi phải rời các anh. Các anh sẽ không gặp khó khăn gì khi trở về mà không cần tôi trợ giúp.”

As he had surmised, Daphne and I found no difficulty in retracing our steps, but when we reached the fourth sphere and once more saw the Fairy Glen, we decided to remain there for a short time. We noticed there were signs of great activity in the valley as if some sort of ceremony were about to take place. There seemed to be thousands of inhabitants gathering in the valley. We sat down to watch; our presence was noticed by some “officials,” and when one of them moved towards us, we rather expected to be asked to go away—particularly as Acharya had warned us that members of our evolution were not always welcome here. The man who, slowly and in a dignified manner, floated towards us had a very fine intellectual head and a spiritual dignity which made us rise to our feet instinctively as he reached us. His costume was strange to us; it resembled that of a Chinese Mandarin. The colours of the long coat were exquisite, whilst the embroidery clearly portrayed many of the wild flowers that bloomed in the valley. The expression on his face did not seem to auger trouble for us, so we smiled in return, hoping that our attitude would reassure him. What followed was a little uncanny for it was a conversation conducted without a word being uttered; question and answer followed one upon the other, far more quickly than would have been possible had words been our medium of expression.

Đúng như ông đã đoán, Daphne và tôi không gặp khó khăn gì trong việc quay lại theo lối cũ, nhưng khi đến khối cầu thứ tư và lại thấy Thung Lũng Tiên, chúng tôi quyết định ở lại đó một lát. Chúng tôi nhận thấy có những dấu hiệu hoạt động lớn trong thung lũng như thể một loại nghi lễ nào đó sắp diễn ra. Dường như có hàng ngàn cư dân đang tụ tập trong thung lũng. Chúng tôi ngồi xuống quan sát; sự hiện diện của chúng tôi được một số “quan chức” chú ý, và khi một người trong số họ tiến về phía chúng tôi, chúng tôi khá ngỡ rằng sẽ bị yêu cầu rời đi—đặc biệt vì Acharya đã cảnh báo rằng các thành viên của dòng tiến hoá chúng tôi không phải lúc nào cũng được chào đón ở đây. Người đàn ông từ từ và trang nghiêm lướt về phía chúng tôi có một cái đầu trí tuệ rất đẹp và một phẩm cách tinh thần khiến chúng tôi bản năng đứng dậy khi ông đến gần. Trang phục của ông thật lạ đối với chúng tôi; nó giống như của một vị quan Mãn Thanh Trung Hoa. Màu sắc của chiếc áo dài thật tinh mỹ, còn những đường thêu rõ ràng mô tả nhiều loài hoa dại đang nở trong thung lũng. Nét mặt ông không có vẻ báo trước điều gì bất lợi cho chúng tôi, nên chúng tôi mỉm cười đáp lại, hy vọng thái độ của mình sẽ làm ông yên tâm. Điều xảy ra sau đó có phần kỳ lạ vì đó là một cuộc trò chuyện diễn ra mà không một lời nào được thốt ra; câu hỏi và câu trả lời nối tiếp nhau nhanh hơn rất nhiều so với nếu lời nói là phương tiện biểu đạt của chúng tôi.

I felt he had asked me whether he could do anything for us. I told him, merely by allowing the thought to express itself in my mind, that Daphne was a permanent inhabitant of the astral world, whereas I was still living in a physical body in the world and was here during the period when my body was sleeping. He seemed to understand perfectly, and said he had been instructed by his “Chief” to bring us to him. We intimated that we were only too willing to accompany him and at once moved towards the central arena. As we approached, I saw that the people were standing and sitting around a large open circle. Wild flowers had been strung together to keep back the crowds and I could not help comparing the beauty of that “fence” with those we see in the world. Just within the circle a dais had been erected, made entirely of great clumps of green moss with pillars at each corner, formed of intertwined flowers of every size and colour, even the awning above the dais was made of a very delicate fern, not unlike our maidenhair variety. The whole formed a most beautiful picture. The moss on the floor of the dais had been laid in such a way that there appeared to be numerous seats with shaped backs, which looked so comfortable that one immediately wished to sit down. At the front there were two large seats, almost like thrones, and, although these too were composed of moss, they were more ornate than the others.

Tôi cảm thấy ông đã hỏi liệu ông có thể làm gì cho chúng tôi không. Tôi nói với ông, chỉ bằng cách để ý nghĩ tự biểu lộ trong trí tôi, rằng Daphne là một cư dân thường trú của thế giới cảm dục, còn tôi thì vẫn đang sống trong một thể xác hồng trần ở thế gian và hiện diện ở đây trong thời gian thể xác tôi đang ngủ. Ông dường như hiểu hoàn toàn, và nói rằng ông đã được “Vị Thủ Lãnh” của mình chỉ thị đưa chúng tôi đến gặp ngài. Chúng tôi cho biết rằng mình rất sẵn lòng đi theo ông và lập tức di chuyển về phía đấu trường trung tâm. Khi đến gần, tôi thấy mọi người đang đứng và ngồi quanh một vòng tròn lớn để trống. Hoa dại được kết lại với nhau để ngăn đám đông và tôi không thể không so sánh vẻ đẹp của “hàng rào” ấy với những hàng rào chúng ta thấy ở thế gian. Ngay bên trong vòng tròn, một bục cao đã được dựng lên, hoàn toàn bằng những cụm rêu xanh lớn với các cột ở mỗi góc, được tạo thành từ những bông hoa đan xen đủ mọi kích cỡ và màu sắc, ngay cả mái che phía trên bục cũng được làm bằng một loại dương xỉ rất mảnh, không khác mấy loại tóc tiên của chúng ta. Toàn bộ tạo thành một bức tranh vô cùng đẹp. Lớp rêu trên sàn bục được xếp theo cách khiến trông như có nhiều ghế ngồi với lưng ghế uốn hình, nom êm ái đến mức người ta lập tức muốn ngồi xuống. Phía trước có hai ghế lớn, gần như ngai vàng, và dù chúng cũng được làm bằng rêu, chúng vẫn cầu kỳ hơn những ghế khác.

Whilst we waited for the “Chief” to appear, our guide told us something of what was about to take place. The gist of what he said was that the crowd had gathered together to witness a graduation ceremony. He explained that when the time came for a group of nature-spirits to pass to the next stage in their evolution, which was to become devas, they had to give proof of their proficiency at one of these gatherings. Providing they satisfied a “Council of Examiners,” they were changed from nature-spirits into devas, with more responsible duties. He said that the younger egos evolved along one of three special lines of work: (1) the Power line, working through Music and Colour; (2) the guidance of the Vegetable Kingdom, which derived its change and progress from experiments made at the astral level by members of the deva evolution, and (3) work in connection with the Human Kingdom. He explained that the nature-spirits mixed quite frequently with human beings, particularly children. They often played with those who came to the astral world at an early age and taught them how to make use of the plastic astral matter, so to live their fairy stories in very truth, by changing at will so as to represent any figure of fiction for so long as required and so long as the thoughts of those taking part lasted. It was impressed on me that this sphere of the astral world is for the deva kingdom what the physical world is for the human kingdom. Between lives, birds return to this fourth sphere—the same way that animals inhabit the sixth and seventh spheres, when they are awaiting their return to the world. Birds, as well as fish, butterflies and many other winged creatures, eventually change into nature-spirits and are part of the deva evolution. They never become part of the human evolution. At this stage a group emerged from a nearby coppice. If ever I had imagined the fairy story of the “Magic Carpet” come to life, surely this was it! The group consisted of two central figures, both seated crosslegged on what can only be described as a ceremonial carpet, floating about a yard above the ground. From each front corner, strands of flowers were held in the beaks of numerous birds of every colour imaginable, and whilst these flew ahead, seemingly pulling the carpet along, the other devas taking part in the procession floated majestically on either side of it. More little birds flew backwards and forwards, dropping rose petals in the path of the procession, each bird swooping down to the ground, picking a petal with its beak from the rose bushes that grew everywhere, and at once returning to its position ahead of the procession, from where the petal was dropped. Whilst the procession slowly wended its way, the air was filled with the notes issuing from the throats of thousands of birds of all types.

Trong khi chờ “Vị Thủ Lãnh” xuất hiện, người hướng dẫn của chúng tôi kể cho chúng tôi nghe đôi điều về điều sắp diễn ra. Đại ý lời ông là đám đông đã tụ tập để chứng kiến một nghi thức tốt nghiệp. Ông giải thích rằng khi đến lúc một nhóm tinh linh tự nhiên chuyển sang giai đoạn kế tiếp trong tiến hoá của họ, tức trở thành thiên thần, họ phải chứng minh năng lực của mình tại một trong những buổi tụ họp như thế này. Nếu làm hài lòng một “Hội Đồng Khảo Thí,” họ sẽ được chuyển từ tinh linh tự nhiên thành thiên thần, với những nhiệm vụ có trách nhiệm hơn. Ông nói rằng các chân ngã trẻ hơn tiến hoá theo một trong ba đường công việc đặc biệt: (1) đường Quyền năng, hoạt động qua Âm nhạc và Màu sắc; (2) sự hướng dẫn giới thực vật, vốn nhận được sự thay đổi và tiến bộ từ các thí nghiệm do các thành viên của dòng tiến hoá thiên thần thực hiện ở cấp độ cảm dục, và (3) công việc liên hệ với giới nhân loại. Ông giải thích rằng các tinh linh tự nhiên khá thường xuyên giao tiếp với con người, đặc biệt là trẻ em. Họ thường chơi với những em đến thế giới cảm dục từ khi còn nhỏ và dạy các em cách sử dụng vật chất cảm dục dẻo để thực sự sống trong các truyện thần tiên của mình, bằng cách tùy ý biến đổi để đại diện cho bất kỳ nhân vật hư cấu nào trong chừng mực cần thiết và chừng nào tư tưởng của những người tham gia còn kéo dài. Điều được gây ấn tượng nơi tôi là khối cầu này của thế giới cảm dục đối với giới thiên thần cũng giống như thế giới hồng trần đối với giới nhân loại. Giữa các kiếp sống, chim chóc trở về khối cầu thứ tư này—cũng như loài vật cư ngụ ở các khối cầu thứ sáu và thứ bảy khi chúng đang chờ trở lại thế gian. Chim chóc, cũng như cá, bướm và nhiều sinh vật có cánh khác, cuối cùng biến đổi thành tinh linh tự nhiên và là một phần của dòng tiến hoá thiên thần. Chúng không bao giờ trở thành một phần của dòng tiến hoá nhân loại. Đến lúc này, một nhóm xuất hiện từ một lùm cây gần đó. Nếu tôi từng tưởng tượng câu chuyện thần tiên về “Tấm Thảm Thần” sống dậy, thì hẳn chính là đây! Nhóm ấy gồm hai nhân vật trung tâm, cả hai đều ngồi xếp bằng trên thứ chỉ có thể mô tả là một tấm thảm nghi lễ, lơ lửng cách mặt đất chừng một thước. Từ mỗi góc trước, những dải hoa được nhiều con chim đủ mọi màu sắc có thể tưởng tượng ngậm trong mỏ, và trong khi chúng bay phía trước, dường như kéo tấm thảm đi, thì các thiên thần khác tham gia đoàn rước lướt đi uy nghiêm ở hai bên. Nhiều chú chim nhỏ khác bay qua bay lại, thả những cánh hồng trên đường đoàn rước đi qua, mỗi con sà xuống đất, dùng mỏ nhặt một cánh hoa từ những bụi hồng mọc khắp nơi, rồi lập tức trở lại vị trí phía trước đoàn rước, từ đó cánh hoa được thả xuống. Trong khi đoàn rước chậm rãi tiến đi, không khí tràn ngập những âm điệu phát ra từ cổ họng của hàng ngàn loài chim đủ loại.

The procession reached its destination and the two central figures were escorted to the special thrones prepared for them on the dais. The first of the two figures was the “Chief” and the second was the High Priest, judging from the ceremonial robes that he wore. As the other officials took their place on the dais, our guide presented Daphne and me to the Chief who intimated that we were to seat ourselves on the platform. Daphne was offered a seat on his right hand and, I was given a seat to the immediate left of the High Priest. Before the ceremony proper commenced, some music was played by a large orchestra, composed entirely of devas; it was of an extremely cheerful and melodious character. After the orchestra had finished playing, there was silence again; even the myriads of birds uttered no sound whatever.

Đoàn rước đến nơi và hai nhân vật trung tâm được hộ tống đến những ngai đặc biệt đã chuẩn bị cho họ trên bục. Nhân vật thứ nhất trong hai người là “Vị Thủ Lãnh” và người thứ hai là Vị Thượng Tế, xét theo lễ phục mà ông mặc. Khi các quan chức khác vào vị trí trên bục, người hướng dẫn của chúng tôi giới thiệu Daphne và tôi với Vị Thủ Lãnh, ngài ra hiệu rằng chúng tôi sẽ ngồi trên bục. Daphne được mời một chỗ bên tay phải ngài và tôi được dành cho một chỗ ngay bên trái Vị Thượng Tế. Trước khi nghi lễ chính thức bắt đầu, một dàn nhạc lớn hoàn toàn gồm các thiên thần đã trình tấu một bản nhạc; tính chất của nó vô cùng vui tươi và du dương. Sau khi dàn nhạc chơi xong, lại có sự im lặng; ngay cả vô số chim chóc cũng không phát ra bất kỳ âm thanh nào.

A herald then entered the inner circle and with a small silver trumpet proclaimed the first part of the ceremony. A small group of nature-spirits came into the arena. Although no words were spoken, a question passed from the principal examiner to this group. It related to the expressions of sounds, as representing a slowly moving river, lazily passing through wooded country with tall trees on either side of the river bank. At once the group produced wind instruments and a curious sort of guitar. They commenced to play and I saw the thought-form slowly take shape, showing exactly what they were endeavouring to illustrate through sound. This was immediately followed by another order to produce music that expressed the elements. At once the instruments were changed; several drums, one set of cymbals and two other larger and quite unusual wind instruments, rather like oboes, were introduced. Again they played and it was not difficult to realise, even without looking at the thought-form so clearly outlined before us, that a storm at sea was the subject of the theme then played. One could almost hear the creaking of the stays and halyards, strained to their utmost by the force of the gale. Thunder and lightning played their part and as this group finished, the crowd stood up as a body, raising their hands to the sky, instead of clapping and cheering as we would do. That was all the first group was asked to do and I was sure the members had successfully passed their test.

Sau đó một người truyền lệnh bước vào vòng tròn bên trong và với một chiếc kèn bạc nhỏ tuyên bố phần đầu của nghi lễ. Một nhóm nhỏ tinh linh tự nhiên tiến vào đấu trường. Dù không có lời nào được nói ra, một câu hỏi được truyền từ vị giám khảo chính đến nhóm này. Nó liên quan đến sự biểu đạt bằng âm thanh, tượng trưng cho một dòng sông chảy chậm, lững lờ đi qua miền rừng cây với những hàng cây cao ở hai bên bờ. Lập tức nhóm ấy lấy ra các nhạc cụ hơi và một loại đàn ghi-ta kỳ lạ. Họ bắt đầu chơi và tôi thấy Hình tư tưởng từ từ thành hình, cho thấy chính xác điều họ đang cố minh họa qua âm thanh. Ngay sau đó là một mệnh lệnh khác yêu cầu tạo ra âm nhạc biểu đạt các nguyên tố. Lập tức các nhạc cụ được thay đổi; vài chiếc trống, một bộ chũm chọe và hai nhạc cụ hơi lớn hơn, rất khác thường, khá giống kèn oboe, được đưa vào. Họ lại chơi và không khó để nhận ra, ngay cả khi không nhìn vào Hình tư tưởng được phác họa rõ ràng trước mắt chúng tôi, rằng một cơn bão trên biển là chủ đề của bản nhạc lúc ấy. Người ta gần như có thể nghe thấy tiếng răng rắc của dây chằng và dây buồm bị sức gió giật căng đến cực độ. Sấm chớp cũng góp phần của chúng và khi nhóm này kết thúc, đám đông đồng loạt đứng dậy, giơ tay lên trời, thay vì vỗ tay reo hò như chúng ta vẫn làm. Đó là tất cả những gì nhóm đầu tiên được yêu cầu làm và tôi chắc rằng các thành viên của nhóm đã vượt qua bài thử một cách thành công.

The second group was now heralded into the circle—there were only five of them. They were asked to demonstrate the result of certain graftings, as related to both flowers and shrubs and to different kinds of fruit. The answers appeared immediately as thought-form pictures—showing very clearly the changes in size and colour. They were also asked what kinds of flowers could be grown together in one bed and which kinds meant death to one or more of the species. Then questions concerning crop rotation and why it was necessary. This second group also seemed to satisfy both examiners and crowd.

Nhóm thứ hai lúc này được truyền lệnh vào vòng tròn—chỉ có năm người. Họ được yêu cầu trình bày kết quả của một số phép ghép, liên quan đến cả hoa lẫn bụi cây và các loại trái cây khác nhau. Các câu trả lời hiện ra ngay lập tức dưới dạng những bức tranh Hình tư tưởng—cho thấy rất rõ những thay đổi về kích thước và màu sắc. Họ cũng được hỏi những loại hoa nào có thể trồng chung trong một luống và những loại nào sẽ gây chết cho một hay nhiều loài khác. Rồi đến những câu hỏi liên quan đến luân canh cây trồng và vì sao điều đó là cần thiết. Nhóm thứ hai này cũng dường như làm hài lòng cả các giám khảo lẫn đám đông.

The silver trumpet sounded again and the third group of very small nature-spirits then entered the circle and thought-forms of three human children were created by the examiners. They were typical fair-haired English children of an age between five and seven. They discussed the fairy story of Cinderella. At once they were joined by the nature-spirits who entered into the spirit of the game. They argued as to who should take the principal part and when this was settled I noticed that the nature-spirits took over the parts that children usually object to play—they became the ugly sisters, and the unpleasant father, leaving the parts of Cinderella, the Fairy Godmother and the Prince for the children. A short version of the play was enacted, but the transformation scenes covering the fairy carriage and the change of Cinderella’s clothes were much more realistic than anything that has ever been produced under physical plane conditions. I imagine the unselfishness shown by the little nature-spirits made the difference between passing or failing the test.

Chiếc kèn bạc lại vang lên và nhóm thứ ba gồm những tinh linh tự nhiên rất nhỏ bước vào vòng tròn, rồi các giám khảo tạo ra những Hình tư tưởng của ba đứa trẻ loài người. Chúng là những đứa trẻ Anh tóc vàng điển hình trong độ tuổi từ năm đến bảy. Chúng thảo luận câu chuyện thần tiên về Cô Bé Lọ Lem. Lập tức chúng được các tinh linh tự nhiên nhập cuộc cùng theo đúng tinh thần của trò chơi. Chúng tranh luận xem ai sẽ đóng vai chính và khi việc ấy được giải quyết, tôi nhận thấy các tinh linh tự nhiên nhận những vai mà trẻ em thường không thích đóng—chúng trở thành những cô chị xấu xí và người cha khó chịu, để lại vai Lọ Lem, Bà Tiên Đỡ Đầu và Hoàng tử cho bọn trẻ. Một phiên bản ngắn của vở diễn được trình bày, nhưng các cảnh biến hóa liên quan đến cỗ xe thần tiên và sự thay đổi y phục của Lọ Lem thì chân thực hơn rất nhiều so với bất cứ điều gì từng được tạo ra trong các điều kiện của cõi hồng trần. Tôi hình dung rằng chính tính vô tư của các tinh linh tự nhiên nhỏ bé ấy đã tạo nên sự khác biệt giữa việc vượt qua hay thất bại trong bài thử.

After a short interval, with cheerful music, all the members of the three groups who had been examined were called back into the arena. The herald sounded the entrance on his silver trumpet. The examiners grouped round the Chief and High Priest then drew together, as if to confer on what they had seen, and after a few moments the chief examiner stood before the Chief and obtained his consent for the nature-spirits to be promoted to deva rank.

Sau một quãng ngắn, với âm nhạc vui tươi, tất cả các thành viên của ba nhóm đã được khảo hạch được gọi trở lại đấu trường. Người truyền lệnh thổi chiếc kèn bạc báo hiệu họ tiến vào. Các giám khảo tụ lại quanh Vị Thủ Lãnh và Vị Thượng Tế, như thể để bàn bạc về những gì họ đã thấy, và sau vài phút vị giám khảo chính đứng trước Vị Thủ Lãnh và nhận được sự đồng ý của ngài cho phép các tinh linh tự nhiên được thăng lên hàng thiên thần.

The High Priest then rose to his feet, bowed to the Chief and solemnly walked into the area where the nature-spirits were standing. For the first time words were used. The High Priest, raising his hands above his head, intoned an invocation in the same unknown language I had heard in the glade on the third sphere. The herald then handed him a large sword, the blade of which shone brightly in the clear astral light. Raising it towards the sky, he uttered more words and slowly walked towards the first of the nature-spirits, who stood in one long line in front of him. He placed the sword on the head of the first and said two words which seemed to mean “God go with thee” (though why I thought this, I do not know) and as I watched, the form of the nature spirit which had appeared to be that of a little old man, changed to that of a young girl. The same thing happened to all the graduates. Some male nature-spirits became male devas, whereas others changed their sex. All the newly created bodies were young in appearance.

Vị Thượng Tế sau đó đứng dậy, cúi chào Vị Thủ Lãnh và trang nghiêm bước vào khu vực nơi các tinh linh tự nhiên đang đứng. Lần đầu tiên lời nói được sử dụng. Vị Thượng Tế, giơ hai tay lên trên đầu, xướng một lời khẩn cầu bằng chính thứ ngôn ngữ xa lạ mà tôi đã nghe trong khoảng rừng trống ở khối cầu thứ ba. Người truyền lệnh sau đó trao cho ông một thanh kiếm lớn, lưỡi kiếm sáng rực trong ánh sáng cảm dục trong trẻo. Giơ nó lên trời, ông thốt thêm những lời khác rồi chậm rãi bước đến tinh linh tự nhiên đầu tiên, đang đứng trong một hàng dài trước mặt ông. Ông đặt thanh kiếm lên đầu người đầu tiên và nói hai từ dường như có nghĩa là “Cầu Thượng đế đi cùng ngươi” (dù vì sao tôi lại nghĩ thế thì tôi không biết), và khi tôi quan sát, hình thể của tinh linh tự nhiên vốn trông như một ông già bé nhỏ đã biến thành hình thể của một thiếu nữ trẻ. Điều tương tự xảy ra với tất cả những người tốt nghiệp. Một số tinh linh tự nhiên nam trở thành thiên thần nam, trong khi những người khác đổi giới tính. Tất cả những hình thể mới được tạo ra đều có vẻ trẻ trung.

I was about to thank the Chief for the wonderful opportunity, offered to us when, without any warning, I felt my body calling me and I found myself awake in bed in Colombo.

Tôi đang định cảm tạ Vị Thủ Lãnh vì cơ hội tuyệt vời đã được ban cho chúng tôi thì, không hề có báo trước, tôi cảm thấy thể xác mình đang gọi tôi và thấy mình tỉnh dậy trên giường ở Colombo.

On the following Saturday night when I got out of my body, I found Jim, the astral helper I had met in the London hospital, waiting for me. He had come to ask for my help. He stated that he had been very impressed by the way I had handled the case of the girl—whose name was Mary—on Thursday night, and felt I could give further help. This girl had learned from a thoughtless visitor that her mother had been killed in the raid and was so upset that no one could do anything with her. As there was a young sister, Irene, aged seven, it would be a tragedy if Mary died too. I was only too glad to have this opportunity of putting into practice what I had recently learned. When we reached the ward, I saw Mary’s fever-racked body tossing on the bed, whilst the girl herself was pacing the ward, metaphorically tearing her hair. She welcomed my arrival, and as I talked soothingly to her, quieted down. I made a thought-form of a comfortable settee and whilst we sat there I gave her what help I could from the knowledge which had been given me by Acharya. I brought the conversation round to Irene and pointed out how she would suffer if both her mother and sister died. I assured Mary—with an authority I did not possess—that she could live, if she made the effort, and if she elected to do so she would still be able to contact her mother during sleep. She asked me if I would help her. I promised to do so and thus took on myself a measure of responsibility. I said I would return the following night.

Vào tối thứ Bảy tiếp theo, khi tôi ra khỏi thể mình, tôi thấy Jim, người trợ giúp cảm dục mà tôi đã gặp ở bệnh viện Luân Đôn, đang chờ tôi. Anh đến để xin tôi giúp đỡ. Anh nói rằng anh rất ấn tượng với cách tôi xử lý trường hợp cô gái—tên là Mary—vào tối thứ Năm, và cảm thấy tôi có thể giúp thêm. Cô gái này đã biết từ một vị khách vô tâm rằng mẹ cô đã thiệt mạng trong cuộc không kích và quá suy sụp đến nỗi không ai có thể làm gì được với cô. Vì còn một em gái nhỏ là Irene, bảy tuổi, nên nếu Mary cũng chết thì sẽ là một bi kịch. Tôi vô cùng vui mừng có cơ hội đem vào thực hành điều mình vừa mới học được. Khi chúng tôi đến phòng bệnh, tôi thấy thể xác bị cơn sốt hành hạ của Mary đang quằn quại trên giường, trong khi chính cô thì đi đi lại lại trong phòng, theo nghĩa bóng là vò đầu bứt tóc. Cô hoan nghênh sự xuất hiện của tôi, và khi tôi dịu dàng nói chuyện với cô, cô đã bình tĩnh lại. Tôi tạo ra một Hình tư tưởng về một chiếc ghế dài êm ái và trong khi chúng tôi ngồi đó, tôi đã giúp cô trong khả năng của mình bằng kiến thức mà Acharya đã trao cho tôi. Tôi lái câu chuyện sang Irene và chỉ ra rằng em sẽ đau khổ thế nào nếu cả mẹ lẫn chị đều chết. Tôi quả quyết với Mary—bằng một uy quyền mà tôi không hề có—rằng cô có thể sống, nếu cô cố gắng, và nếu cô chọn làm như vậy thì cô vẫn có thể tiếp xúc với mẹ mình trong lúc ngủ. Cô hỏi tôi liệu tôi có giúp cô không. Tôi hứa sẽ giúp và như thế đã tự nhận lấy một phần trách nhiệm. Tôi nói rằng tôi sẽ trở lại vào đêm hôm sau.

On the Sunday night Mary was waiting for me and was quite calm. I suggested we look for her mother. I showed her how easy it was to travel under astral conditions and soon this method of progress both interested and intrigued her. She took me to the block of flats where they lived. We found Irene in a neighbour’s flat, and by her bedside her mother was sitting, endeavouring to comfort the weeping child who could not see her. At first the mother thought Mary was dead too, but when she realized this was not the case and that she would be able to care for Irene, she calmed down. I left the three of them to chat and, after arranging to meet them there later, returned to the hospital. I watched Jim and his colleagues working, and made notes of their methods. When Mary, her mother and Irene came in, I spent the rest of my night trying to help them in the way Acharya had helped me. The mother was not a very highly evolved person—I had learned from an astral helper that it had taken two days to persuade her to make the effort of will to disconnect herself from her etheric body. At last she seemed to grasp that the link with her family was not broken and that she would still see them at night. This made her much happier. I fancy she will be quite content with first sphere conditions for some time. My last act before returning to my body was to use what will power I possessed to impress upon Irene that when she awakened she must remember something of what she had been told during her sleep.

Vào tối Chủ nhật, Mary chờ tôi và hoàn toàn bình tĩnh. Tôi gợi ý rằng chúng tôi hãy đi tìm mẹ cô. Tôi chỉ cho cô thấy việc di chuyển trong các điều kiện cảm dục dễ dàng đến thế nào và chẳng bao lâu phương thức tiến hành này vừa làm cô thích thú vừa khiến cô tò mò. Cô đưa tôi đến khu chung cư nơi họ sống. Chúng tôi thấy Irene trong căn hộ của một người hàng xóm, và bên giường em, mẹ em đang ngồi, cố an ủi đứa trẻ đang khóc mà không thể thấy bà. Lúc đầu người mẹ nghĩ rằng Mary cũng đã chết, nhưng khi bà nhận ra không phải vậy và rằng Mary sẽ có thể chăm sóc Irene, bà đã bình tĩnh lại. Tôi để ba người họ trò chuyện với nhau và, sau khi hẹn sẽ gặp lại họ ở đó sau, quay về bệnh viện. Tôi quan sát Jim và các đồng sự của anh làm việc, và ghi nhớ các phương pháp của họ. Khi Mary, mẹ cô và Irene đến, tôi dành phần còn lại của đêm mình để cố giúp họ theo cách Acharya đã giúp tôi. Người mẹ không phải là một người tiến hoá cao lắm—tôi được một người trợ giúp cảm dục cho biết rằng đã mất hai ngày mới thuyết phục được bà cố gắng dùng ý chí để tách mình khỏi thể dĩ thái. Cuối cùng bà dường như hiểu rằng mối liên hệ với gia đình mình không hề bị cắt đứt và rằng bà vẫn sẽ gặp họ vào ban đêm. Điều này làm bà vui hơn nhiều. Tôi nghĩ rằng trong một thời gian, bà sẽ hoàn toàn hài lòng với các điều kiện của khối cầu thứ nhất. Hành động cuối cùng của tôi trước khi trở về thể xác là dùng chút ý chí mình có để gây ấn tượng lên Irene rằng khi thức dậy em phải nhớ được điều gì đó trong những gì đã được nói với em trong lúc ngủ.

Chapter 10

Acharya arrived on the stroke of 11 o’clock, as I had expected he would. First of all, he asked me to give him the record of my experiences during the past week. He read through this very carefully before commencing to speak. As he read, his expression showed more and more his appreciation of my efforts so I was not at all surprised when he said: “I must really congratulate you on all that you have done during the past seven nights. My leaving you to work on your own at this early stage of your training was a gamble, but the results have proved that I was not wrong in thinking that you were ready to take over a little responsibility, even though your tuition had lasted such a relatively short time. I am indeed happy that I was chosen as an instrument to alleviate the distress which was exceedingly apparent when we first met.

Acharya đến đúng 11 giờ, như tôi đã đoán ông sẽ đến. Trước hết, ông yêu cầu tôi đưa cho ông bản ghi chép những trải nghiệm của tôi trong tuần vừa qua. Ông đọc rất cẩn thận trước khi bắt đầu nói. Trong khi đọc, nét mặt ông ngày càng biểu lộ sự trân trọng đối với những nỗ lực của tôi nên tôi hoàn toàn không ngạc nhiên khi ông nói: “Ta thực sự phải chúc mừng anh về tất cả những gì anh đã làm trong bảy đêm vừa qua. Việc ta để anh tự làm việc một mình ở giai đoạn sớm này của quá trình huấn luyện là một sự đánh cược, nhưng kết quả đã chứng minh rằng ta không sai khi nghĩ anh đã sẵn sàng nhận một chút trách nhiệm, dù việc chỉ dạy của ta cho anh mới kéo dài một thời gian tương đối ngắn. Ta thực sự vui mừng vì đã được chọn làm công cụ để làm dịu bớt nỗi khổ đau vốn biểu lộ rất rõ khi chúng ta mới gặp nhau.

“There is very little that requires comment in your experiences of last Monday night. A coloured movie film is frequently utilised by permanent inhabitants of the astral world for the purpose of displaying pictures of particular places they wish to show to their friends so that they need not burden their memories unduly with the scene they wish to show. To use the astral counterpart of a photographic film is an even simpler method and, providing the operator has brought over with him the technical knowledge, the results are identical with what a similar show would be in the world. I am satisfied that you realise it is extremely unlikely that Charles will want to leave the part of the astral plane in which he is now living for a considerable time.

“Có rất ít điều cần bình luận trong những trải nghiệm của anh vào tối thứ Hai vừa rồi. Một cuốn phim màu thường được các cư dân thường trú của thế giới cảm dục sử dụng để trình chiếu hình ảnh về những nơi đặc biệt mà họ muốn cho bạn bè mình xem, để họ khỏi phải làm nặng trí nhớ của mình quá mức với cảnh tượng muốn trình bày. Sử dụng đối phần cảm dục của một cuộn phim chụp ảnh còn là một phương pháp đơn giản hơn nữa và, miễn là người vận hành đã mang theo kiến thức kỹ thuật, thì kết quả giống hệt như một buổi chiếu tương tự ở thế gian. Ta hài lòng rằng anh nhận ra việc Charles sẽ muốn rời khỏi phần cõi cảm dục mà nó hiện đang sống trong đó trong một thời gian khá dài là điều cực kỳ khó xảy ra.

“Then there is your experience of Wednesday night, when all that you remembered took the form of a nightmare. You have already inquired from Daphne, whether she had any recollection of taking part in your dream and, she has assured you that, so far as she is aware, she did not have any part in it—and you can rest assured this statement is correct, for there are no periods in her life in the astral world when she loses consciousness and so would not be sure of what she had done. In order that you may understand my explanation of this occurrence, I want you to take your mind back to a previous talk. In it I told you that the perfected men or Masters give instruction to pupils in certain circumstances. I shall give you a very brief outline of the work of these pupils. There are two grades of pupils, one called Probationary and the other Accepted. The only difference between the two is, that once a pupil has been accepted by a Master, he is, as it were, taken on the permanent staff and utilised for this work not only in his present life but both after death and in lives that are to come. A probationary pupil is tried out, and only after he has served in that capacity for possibly several lives is he taken into the very much closer touch with the Master that one finds with accepted pupils. At no time is any compulsion used, for even the Masters have no authority to interfere with the free will which is given to every man at the moment of individualisation, but before a human being can be utilised for occult work by these great Beings, he must show that he has eradicated completely the emotion of fear from his make up and must prove that at all times he is willing to sacrifice himself in the interest of the work. It is necessary for the student to pass five astral tests—these are usually remembered by him in the form of dreams or nightmares. I have been given authority to tell you that your determination to overcome the difficulties of understanding astral plane conditions has been noticed by one of these Masters and it is possible that, in the fullness of time, you will be given the opportunity of serving the White Brotherhood, to which He belongs—this means that you will probably be taken on as a probationary pupil. The dream you had on Wednesday night was actually an astral test—through which you passed quite successfully. The test was to prove that, although obviously you were frightened by the gorilla-like creature, actually a thought-form created by the Master concerned, yet you were willing to forget yourself and if necessary make the supreme sacrifice, in order to protect what was only a thought-form of Daphne, but which was an intense reality to you. Had you refused to make an effort to save her, you would have returned to your body a little earlier than you actually did with the same memory of a nightmare but in that case you would have failed and proved to the Master, who was watching you at the time, that you were unsuitable and insufficiently advanced in evolution for the purpose he had in mind. In the course of the next few years you will probably find that you remember further dreams, these will be more astral tests, all of which you must pass before you can qualify for the work proposed for you. As a personality you know very little about such things, but the real you, the ego, knows perfectly well what is happening and he, I happen to know, is very keen indeed to make the grade and be used for the helping of humanity.

“Rồi đến trải nghiệm của anh vào tối thứ Tư, khi tất cả những gì anh nhớ được đều mang hình thức một cơn ác mộng. Anh đã hỏi Daphne xem cô ấy có nhớ gì về việc tham gia vào giấc mơ của anh không và cô ấy đã bảo đảm với anh rằng, theo như cô biết, cô không hề có phần trong đó—và anh có thể yên tâm rằng lời khẳng định ấy là đúng, vì trong đời sống của cô ở thế giới cảm dục không có những giai đoạn cô mất tâm thức nên không thể không biết mình đã làm gì. Để anh có thể hiểu lời giải thích của ta về biến cố này, ta muốn anh nhớ lại một cuộc nói chuyện trước đây. Trong đó ta đã nói với anh rằng những con người toàn thiện hay các Chân sư truyền dạy cho học trò trong một số hoàn cảnh nhất định. Ta sẽ cho anh một phác thảo rất ngắn về công việc của những học trò này. Có hai cấp học trò, một gọi là Dự Bị và một gọi là Được Chấp Nhận. Sự khác biệt duy nhất giữa hai cấp là, một khi học trò đã được một Chân sư chấp nhận, thì có thể nói là y được nhận vào đội ngũ thường trực và được sử dụng cho công việc này không chỉ trong đời hiện tại mà cả sau khi chết và trong những kiếp sống tương lai. Một học trò dự bị được thử thách, và chỉ sau khi đã phụng sự trong tư cách ấy có thể qua nhiều kiếp sống, y mới được đưa vào mối tiếp xúc gần gũi hơn rất nhiều với Chân sư, như người ta thấy nơi các học trò được chấp nhận. Không lúc nào có sự cưỡng bách được sử dụng, vì ngay cả các Chân sư cũng không có thẩm quyền can thiệp vào ý chí tự do được ban cho mỗi người vào lúc biệt ngã hóa, nhưng trước khi một con người có thể được các Đấng vĩ đại này sử dụng cho công việc huyền bí học, y phải cho thấy rằng y đã hoàn toàn diệt trừ cảm xúc sợ hãi khỏi cấu tạo của mình và phải chứng minh rằng vào mọi lúc y sẵn sàng hi sinh bản thân vì lợi ích của công việc. Đạo sinh cần phải vượt qua năm bài thử cảm dục—chúng thường được y nhớ lại dưới hình thức những giấc mơ hay ác mộng. Ta đã được trao thẩm quyền để nói với anh rằng quyết tâm của anh trong việc vượt qua những khó khăn của sự thấu hiểu các điều kiện của cõi cảm dục đã được một trong các Chân sư ấy lưu ý, và có thể rằng, theo thời gian viên mãn, anh sẽ được trao cơ hội phụng sự Huynh đệ Đoàn Chánh đạo mà Ngài thuộc về—điều này có nghĩa là có lẽ anh sẽ được nhận làm một học trò dự bị. Giấc mơ anh có vào tối thứ Tư thực ra là một bài thử cảm dục—mà anh đã vượt qua khá thành công. Bài thử nhằm chứng minh rằng, dù rõ ràng anh đã sợ hãi trước sinh vật giống khỉ đột ấy, thực ra chỉ là một Hình tư tưởng do vị Chân sư liên hệ tạo ra, nhưng anh vẫn sẵn sàng quên mình và nếu cần thì thực hiện sự hi sinh tối thượng để bảo vệ điều vốn chỉ là một Hình tư tưởng của Daphne, nhưng lại là một thực tại mãnh liệt đối với anh. Nếu anh đã từ chối nỗ lực cứu cô ấy, anh hẳn đã trở về thể xác sớm hơn một chút so với thực tế, với cùng ký ức về một cơn ác mộng, nhưng trong trường hợp đó anh đã thất bại và chứng tỏ với vị Chân sư đang quan sát anh lúc ấy rằng anh không thích hợp và chưa đủ tiến hoá cho mục đích mà Ngài đã dự định. Trong vài năm tới, có lẽ anh sẽ thấy mình nhớ thêm những giấc mơ khác; đó sẽ là những bài thử cảm dục nữa, tất cả anh đều phải vượt qua trước khi có thể đủ tư cách cho công việc được đề nghị dành cho anh. Với tư cách phàm ngã, anh biết rất ít về những điều như thế, nhưng con người thực của anh, chân ngã, biết rất rõ điều gì đang xảy ra và y, theo như tôi biết, thực sự rất tha thiết muốn đạt chuẩn và được sử dụng vào việc giúp đỡ nhân loại.

“Because of the interest you have shown in the instruction I have given you, I shall give you a rough idea of what you have to accomplish before you can qualify for this special work. You have to know how to move about quickly and effectively on all the different planes of the astral world. You have to know all about the lower astral entities, including those which have etheric bodies—such as the elementals you saw at the bottom of the sea—and must be trained so that the hypnotic effect of the eyes of such creatures has no effect on you. There is a fire test, taking the shape of a fierce forest fire which you must walk through without fear and with unhurried steps. This sounds easy but is not so easy at the time. The terrific heat, which you feel in your astral body in the same way that a physical fire of similar dimensions would be felt, is likely to terrify you and make you think that you would be destroyed if you attempted to pass through it. Once you realise that, because you are in your astral body you cannot be harmed, you calmly walk through the fire and the test has been passed. There is a water test which teaches you to travel under the sea, and you would be surprised at the number of students who fail that. They succumb to a feeling of suffocation, due entirely to imagination but which nevertheless produces fear; this drives them back to their physical bodies and they awake, realising that they have had a bad dream. You have to satisfy the Master who is interested in you that you can differentiate between a permanent inhabitant of the astral world and one who is sojourning there during a sleep period. You must prove that you have developed the sympathetic understanding which enables you to work in conjunction with the members of the deva evolution—cooperation with them is often necessary in this work. You must be able to tell the difference between a thought-form of a particular person and the man himself, for if a Master were to send you with a message to be delivered to someone living in a different sphere of the astral world from that in which he was functioning at the moment, you might be accosted by an entity who was antagonistic to that Master and who, for the purpose of deceiving you, had taken the appearance of the individual you were seeking (really a thought-form made in his likeness), you might deliver the message to this man thinking he was the real person; this might have serious repercussions on the work the Master was doing at the time. Such impersonations are very common in the astral world and you have to be trained to use certain power signs, which enable you to prove conclusively whether the person concerned is genuine or not. You have probably heard of vampires. They do exist but fortunately are uncommon. They live under similar conditions to suicides; both are earthbound, and you must know not only how to help them, but how to release them from their bondage. I think I have told you sufficient to show that you still have much to learn.

“Vì sự quan tâm mà anh đã biểu lộ đối với sự chỉ dạy tôi đã trao cho anh, tôi sẽ cho anh một ý niệm khái quát về điều anh phải hoàn thành trước khi có thể đủ tư cách cho công việc đặc biệt này. Anh phải biết cách di chuyển nhanh chóng và hữu hiệu trên tất cả các cõi khác nhau của thế giới cảm dục. Anh phải biết tất cả về các thực thể cảm dục thấp, kể cả những thực thể có thể dĩ thái—chẳng hạn như những hành khí anh đã thấy dưới đáy biển—và phải được huấn luyện sao cho hiệu ứng thôi miên từ đôi mắt của những sinh vật như thế không còn tác động lên anh. Có một bài thử bằng lửa, mang hình thức một trận cháy rừng dữ dội mà anh phải bước xuyên qua không sợ hãi và với bước chân không vội vã. Điều này nghe có vẻ dễ nhưng vào lúc ấy lại không dễ như vậy. Sức nóng khủng khiếp mà anh cảm thấy trong thể cảm dục của mình theo cùng cách như một ngọn lửa hồng trần có kích thước tương tự sẽ được cảm nhận, rất có thể sẽ làm anh kinh hãi và khiến anh nghĩ rằng mình sẽ bị hủy diệt nếu cố đi xuyên qua nó. Một khi anh nhận ra rằng vì đang ở trong thể cảm dục nên anh không thể bị tổn hại, anh sẽ bình tĩnh bước qua lửa và bài thử được vượt qua. Có một bài thử bằng nước dạy anh cách di chuyển dưới biển, và anh sẽ ngạc nhiên về số đạo sinh thất bại ở đó. Họ khuất phục trước cảm giác ngạt thở, hoàn toàn do sự tưởng tượng nhưng vẫn tạo ra sợ hãi; điều này đẩy họ trở lại thể xác hồng trần và họ tỉnh dậy, nhận ra rằng mình đã có một giấc mơ xấu. Anh phải làm cho vị Chân sư đang quan tâm đến anh hài lòng rằng anh có thể phân biệt giữa một cư dân thường trú của thế giới cảm dục và một người đang lưu lại đó trong thời gian ngủ. Anh phải chứng minh rằng anh đã phát triển được sự thấu hiểu đầy cảm thông, điều giúp anh có thể làm việc phối hợp với các thành viên của dòng tiến hoá thiên thần—sự hợp tác với họ thường là cần thiết trong công việc này. Anh phải có khả năng phân biệt giữa Hình tư tưởng của một người nào đó và chính người ấy, vì nếu một Chân sư sai anh mang một thông điệp đến cho ai đó đang sống trong một khối cầu khác của thế giới cảm dục với khối cầu mà y đang hoạt động vào lúc ấy, anh có thể bị một thực thể đối nghịch với vị Chân sư đó chặn lại, và thực thể ấy, nhằm lừa dối anh, đã mang hình dáng của người mà anh đang tìm kiếm (thực ra là một Hình tư tưởng được tạo theo hình ảnh của người ấy), anh có thể trao thông điệp cho kẻ đó vì tưởng rằng đó là người thật; điều này có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với công việc vị Chân sư đang làm lúc bấy giờ. Những sự mạo danh như thế rất phổ biến trong thế giới cảm dục và anh phải được huấn luyện để sử dụng một số dấu hiệu quyền năng nhất định, giúp anh chứng minh dứt khoát liệu người liên hệ có chân thực hay không. Có lẽ anh đã nghe nói đến ma cà rồng. Chúng quả có tồn tại nhưng may thay không phổ biến. Chúng sống trong những điều kiện tương tự như những kẻ tự tử; cả hai đều bị trói buộc vào Trái Đất, và anh không những phải biết cách giúp họ mà còn phải biết cách giải thoát họ khỏi sự nô lệ ấy. Tôi nghĩ tôi đã nói đủ để cho anh thấy rằng anh vẫn còn rất nhiều điều phải học.

“I shall now pass on to your Friday night’s adventure when you found some difficulty in passing to the higher levels without having any focal points there on which to concentrate. I was keeping in touch with you mentally, as I thought you would probably make some such attempt on one of the nights when I left you free to experiment alone. As you found out, it is quite simple to get to any part of the astral world, providing you have a special landmark to use for that purpose. I do not expect I shall find it necessary to come to your assistance again in the future. I did not give you a focal point on the seventh sphere, for there is little there that would interest you, and it is not desirable for you to come into unnecessary contact with the shells existing at that level at present.

“Bây giờ tôi sẽ chuyển sang cuộc phiêu lưu tối thứ Sáu của anh khi anh gặp đôi chút khó khăn trong việc đi lên các cấp độ cao hơn mà không có bất kỳ điểm tập trung nào ở đó để chú tâm vào. Tôi đã giữ liên lạc với anh bằng trí tuệ, vì tôi nghĩ có lẽ anh sẽ thực hiện một nỗ lực như thế vào một trong những đêm tôi để anh tự do thử nghiệm một mình. Như anh đã khám phá, việc đến bất kỳ phần nào của thế giới cảm dục đều khá đơn giản, miễn là anh có một mốc chuẩn đặc biệt để dùng cho mục đích ấy. Tôi không nghĩ rằng trong tương lai tôi sẽ còn thấy cần phải đến trợ giúp anh nữa. Tôi đã không cho anh một điểm tập trung ở khối cầu thứ bảy, vì ở đó có rất ít điều có thể làm anh quan tâm, và hiện nay anh không nên tiếp xúc không cần thiết với những vỏ thể đang tồn tại ở cấp độ ấy.”

“You were indeed very fortunate to have the opportunity of witnessing the graduation ceremony (as I note you call it) in which certain nature-spirits were changed into junior members of the deva kingdom. Nature-spirits are of course part of the deva evolution, although there is a tremendous difference between a nature-spirit and a deva. It is not possible to give you a parallel example in your evolution. Very few people, whether living in the astral or the physical world, have had the privilege of seeing what you saw the other night, and I am exceedingly glad that on your return journey from higher levels you stopped for a short time at the fourth sphere.

“Anh quả thật rất may mắn khi có cơ hội chứng kiến lễ tốt nghiệp (như tôi thấy anh gọi thế) trong đó một số tinh linh tự nhiên đã được chuyển thành những thành viên trẻ của giới thiên thần. Dĩ nhiên, các tinh linh tự nhiên là một phần của tiến hoá thiên thần, mặc dù có một sự khác biệt vô cùng lớn giữa một tinh linh tự nhiên và một thiên thần. Không thể đưa cho anh một ví dụ song song trong tiến hoá của các anh. Rất ít người, dù sống trong cõi cảm dục hay cõi hồng trần, có được đặc ân nhìn thấy điều anh đã thấy vào đêm nọ, và tôi hết sức vui mừng rằng trên hành trình trở về từ các cấp độ cao hơn, anh đã dừng lại một thời gian ngắn ở khối cầu thứ tư.

I had no hand in making the opportunity for you to put into practice some of the teaching I have been privileged to give you in your experiences on Saturday and Sunday nights, therefore I can say without hesitation that your work was not only extremely valuable, but very well done indeed. In offering to pass on some of the knowledge you have to the girl Mary, you have of course taken on certain responsibilities; also it is more than likely that the astral helper whom you refer to as Jim will ask you again to help him, whenever his organisation is overworked; this will not only give you great opportunities for service which always makes for good karma, but you will find that your interest in and understanding of your fellow human beings will increase a thousand-fold from this work. The technique you employed in connection with the girl Mary and her family was in every way correct. You must not be disappointed if Mary does not react to your tuition and prove as proficient a pupil as I have found you to be, for as I have told you repeatedly, it is the intention which matters and not the result. Your efforts to will that the child Irene should remember on awakening something of what you told her during sleep were entirely successful, and today she is feeling quite different about the loss she has sustained. I leave it to you to decide when you consider it necessary to visit the family again, for they are now your responsibility and will only be taken up by others should you fail to give them the assistance that, of your own free will, you have promised.

Tôi không hề nhúng tay vào việc tạo ra cơ hội để anh đem ra thực hành một phần giáo huấn mà tôi đã có đặc ân truyền đạt cho anh trong những trải nghiệm của anh vào tối thứ Bảy và Chủ nhật, vì thế tôi có thể nói không chút do dự rằng công việc của anh không những cực kỳ có giá trị, mà còn được thực hiện thật sự rất tốt. Khi đề nghị truyền lại một phần tri thức anh có cho cô gái Mary, dĩ nhiên anh đã nhận lấy những trách nhiệm nhất định; ngoài ra, rất có thể người phụ tá cảm dục mà anh gọi là Jim sẽ lại nhờ anh giúp y, bất cứ khi nào tổ chức của y bị quá tải; điều này không những sẽ đem lại cho anh những cơ hội phụng sự lớn lao, vốn luôn tạo nên nghiệp quả tốt, mà anh sẽ thấy rằng mối quan tâm và sự thấu hiểu của anh đối với đồng loại sẽ tăng lên gấp ngàn lần nhờ công việc này. Kỹ thuật anh đã dùng liên quan đến cô gái Mary và gia đình cô ấy là hoàn toàn đúng đắn về mọi phương diện. Anh không được thất vọng nếu Mary không đáp ứng với sự chỉ dạy của anh và không tỏ ra là một học trò thành thạo như tôi đã thấy nơi anh, vì như tôi đã nhiều lần nói với anh, điều quan trọng là ý định chứ không phải kết quả. Những nỗ lực của anh nhằm dùng ý chí để đứa trẻ Irene khi thức dậy nhớ lại được phần nào điều anh đã nói với nó trong giấc ngủ đã hoàn toàn thành công, và hôm nay nó đang cảm thấy rất khác về mất mát mà nó đã chịu đựng. Tôi để cho anh quyết định khi nào anh thấy cần phải đến thăm gia đình ấy lần nữa, vì giờ đây họ là trách nhiệm của anh và chỉ khi nào anh không trao cho họ sự trợ giúp mà do ý chí tự do của chính mình anh đã hứa, thì họ mới được những người khác tiếp nhận.

“I shall now talk to you about the mental world. I told you that after a period of time it became necessary for all of us to drop our astral bodies and leave the mental world. The period of time varies according to our stage in evolution: a man who has had about fifty lives will spend much longer in the astral world and shorter in the mental than will one who has lived five hundred lives in different bodies and in environments where he has had opportunities for intellectual pursuits. In one of my talks I compared the bodies we function in to a man dressed in underclothes, a suit of clothes and an overcoat. When death occurs at the physical level, this corresponds to dropping the overcoat (the physical body); when it occurs at the astral level, it corresponds to dropping the suit of clothes (the astral body); this leaves the man garbed in his underclothes (the mental body) and it is in this vehicle that he enters the mental world.

“Giờ đây tôi sẽ nói với anh về cõi trí. Tôi đã nói với anh rằng sau một thời gian, tất cả chúng ta đều cần phải bỏ thể cảm dục và rời cõi cảm dục. Khoảng thời gian ấy thay đổi tùy theo giai đoạn tiến hoá của chúng ta: một người đã có khoảng năm mươi kiếp sống sẽ ở trong cõi cảm dục lâu hơn nhiều và ở trong cõi trí ngắn hơn người đã sống năm trăm kiếp trong những thể xác khác nhau và trong những môi trường nơi y có cơ hội theo đuổi các hoạt động trí tuệ. Trong một bài nói chuyện của tôi, tôi đã so sánh các thể mà chúng ta hoạt động trong đó với một người mặc đồ lót, một bộ quần áo và một chiếc áo khoác ngoài. Khi cái chết xảy ra ở cấp độ hồng trần, điều này tương ứng với việc bỏ chiếc áo khoác ngoài (thể xác); khi nó xảy ra ở cấp độ cảm dục, nó tương ứng với việc bỏ bộ quần áo (thể cảm dục); như vậy người ấy còn lại trong bộ đồ lót của mình (thể trí), và chính trong vận cụ này mà y đi vào cõi trí.

“As I have said, the mental body is the first body the ego draws round him in his descent from the casual level; it is fashioned of even finer material than the astral. Actually, it is the thought-form of the individual. As you could not yet comprehend a description of this wispy, cloudy form which appears to lack all density, I shall only give you a physical comparison of the mental body of an unevolved human being, say one who has had about fifty incarnations, with that of an evolving human being, say one who has had about five hundred incarnations, by likening them to a wicker basket as seen in two stages of the making—the early stage and the more finished article. In the early stages you see a basket take shape but it has only a few strands of cane fixed to its base. Eventually all the gaps are filled in and the finished article is blended together of many hundreds of wicker strands all separate and distinct from each other but appearing at first sight to be a composite whole. Each of these strands may be thought of as representing a particular subject of mental development which has been more or less mastered by that individual.

“Như tôi đã nói, thể trí là thể đầu tiên mà chân ngã rút quanh mình trong cuộc giáng hạ từ cấp độ nguyên nhân; nó được tạo thành từ chất liệu còn tinh tế hơn cả chất liệu cảm dục. Thực ra, nó là hình tư tưởng của cá nhân. Vì anh chưa thể hiểu được một mô tả về hình thể mỏng nhẹ, mây khói này, dường như thiếu hẳn mọi độ đậm đặc, nên tôi sẽ chỉ đưa cho anh một sự so sánh hồng trần về thể trí của một con người chưa tiến hoá, giả sử một người đã có khoảng năm mươi lần lâm phàm, với thể trí của một con người đang tiến hoá, giả sử một người đã có khoảng năm trăm lần lâm phàm, bằng cách ví chúng với một chiếc giỏ mây được nhìn thấy ở hai giai đoạn chế tác—giai đoạn đầu và sản phẩm hoàn chỉnh hơn. Ở giai đoạn đầu, anh thấy chiếc giỏ thành hình nhưng mới chỉ có vài nan mây gắn vào đáy. Cuối cùng mọi khoảng trống đều được lấp đầy và sản phẩm hoàn chỉnh được kết hợp từ nhiều trăm nan mây, tất cả đều riêng biệt và khác nhau, nhưng thoạt nhìn lại có vẻ là một toàn thể hợp thành. Mỗi nan trong số này có thể được xem như tượng trưng cho một chủ đề phát triển trí tuệ riêng biệt mà cá nhân ấy đã làm chủ ít nhiều.

“When a person has finished his life in the astral world, he passes to the seventh sphere of that world; when it is time for him to move on from there, he becomes sleepy, loses consciousness, and awakens almost immediately in the mental world. When, after his physical death, a man becomes fully conscious in the astral world, his first sensation is a feeling of well-being and buoyant health. When, after his astral death, he becomes fully conscious in the mental world, his first sensation is that of profound bliss and a feeling of being at peace with mankind. In the early stages he may not even realise that he has passed to the mental plane, for he feels so contented and happy there that he is willing to let well alone for the time being. In due course he realises the change in his surroundings and once more he has to be taught, by those who wait to welcome him, the difference between the conditions under which he must now live and those relating to the world he has just left.

“Khi một người đã kết thúc đời sống của mình trong cõi cảm dục, y đi sang khối cầu thứ bảy của cõi ấy; khi đến lúc y phải rời khỏi đó, y trở nên buồn ngủ, mất tâm thức, và gần như lập tức tỉnh dậy trong cõi trí. Khi, sau cái chết hồng trần, một người trở nên hoàn toàn có tâm thức trong cõi cảm dục, cảm giác đầu tiên của y là một cảm giác an lạc và sức khỏe phơi phới. Khi, sau cái chết cảm dục, y trở nên hoàn toàn có tâm thức trong cõi trí, cảm giác đầu tiên của y là chí phúc sâu xa và cảm giác được hòa bình với nhân loại. Trong những giai đoạn đầu, y thậm chí có thể không nhận ra rằng mình đã sang cõi trí, vì y cảm thấy mãn nguyện và hạnh phúc ở đó đến nỗi tạm thời sẵn lòng cứ để mọi sự như vậy. Đến lúc thích hợp, y nhận ra sự thay đổi trong hoàn cảnh chung quanh mình, và một lần nữa y phải được dạy, bởi những người chờ đón y, về sự khác biệt giữa các điều kiện mà giờ đây y phải sống trong đó và những điều kiện thuộc về thế giới mà y vừa rời khỏi.

“The mental world is the world of thought. Thoughts are the only realities; they are things just as much as chairs and tables are things, only—in the same way that the mental body is composed of finer material than the physical—they too are composed of finer matter. It is quite impossible to do so, but if we could take any of our astral or physical matter into the world of thought, it would not exist for the people there. Such things would be more or less the same as thought-forms in the physical world; they surround us all the time but we cannot see them—although they influence our minds. My greatest difficulty in explaining to you what conditions are like in the mental world is that there are no words which enable us to describe in detail conditions of consciousness which are entirely foreign to physical plane understanding. At the mental level you do not see other people as individuals, nor as astral counterparts of physical forms, but as thought-forms of the individual concerned, and these thought-forms accord with the mental development of the individual.

“Cõi trí là thế giới của tư tưởng. Tư tưởng là những thực tại duy nhất; chúng là những vật thể cũng thật như ghế và bàn là những vật thể, chỉ khác là—cũng như thể trí được cấu thành từ chất liệu tinh tế hơn thể xác—chúng cũng được cấu thành từ vật chất tinh tế hơn. Hoàn toàn không thể làm được điều đó, nhưng nếu chúng ta có thể mang bất kỳ vật chất cảm dục hay hồng trần nào của mình vào thế giới tư tưởng, thì đối với những người ở đó nó sẽ không tồn tại. Những thứ như vậy ít nhiều cũng giống như các hình tư tưởng trong thế giới hồng trần; chúng bao quanh chúng ta mọi lúc nhưng chúng ta không thể nhìn thấy—mặc dù chúng ảnh hưởng đến thể trí của chúng ta. Khó khăn lớn nhất của tôi khi giải thích cho anh các điều kiện trong cõi trí là không có ngôn từ nào cho phép chúng ta mô tả chi tiết những trạng thái tâm thức hoàn toàn xa lạ với sự thấu hiểu của cõi hồng trần. Ở cấp độ trí tuệ, anh không thấy những người khác như các cá nhân, cũng không như những đối phần cảm dục của các hình thể hồng trần, mà như những hình tư tưởng của cá nhân liên hệ, và những hình tư tưởng này phù hợp với sự phát triển trí tuệ của cá nhân ấy.

“A man functioning at the mental level can be likened to a wireless set that both receives and transmits. The number of wavelengths which he can use in receiving and transmitting depends entirely upon the number of subjects with which such a man is familiar. He can receive on his set the thoughts of others providing he can tune-in to that particular wavelength—in other words if he has some knowledge of the subject of which the thought is composed—and he can carry on a conversation on that subject, because he himself can answer the thought-forms that he receives by transmission of his own thoughts, which would then be picked up by all other people having similar knowledge and interests.

“Một người hoạt động ở cấp độ trí tuệ có thể được ví như một máy vô tuyến vừa thu vừa phát. Số lượng bước sóng mà y có thể dùng để thu và phát hoàn toàn tùy thuộc vào số lượng chủ đề mà một người như thế quen thuộc. Y có thể thu trên máy của mình những tư tưởng của người khác miễn là y có thể bắt đúng bước sóng đặc biệt ấy—nói cách khác, nếu y có một ít tri thức về chủ đề mà tư tưởng ấy được cấu thành—và y có thể tiếp tục một cuộc trao đổi về chủ đề đó, bởi vì chính y có thể đáp lại những hình tư tưởng mà y nhận được bằng sự truyền đi những tư tưởng của riêng mình; rồi những tư tưởng ấy sẽ được tất cả những người khác có tri thức và mối quan tâm tương tự tiếp nhận.

“At the astral level you saw the intellectual giants creating beautiful music, pictures etc., and teaching others in the arts and sciences. When they pass from the astral to the mental world, they continue to help others who are treading the path which they have trod; but at the mental level their tuition takes the form of technical and theoretical lectures sent out in a perpetual stream of thought. All of these can be picked up by anyone interested in the same subject. You can only grasp as much of the thoughts as by your own intellectual activities of the past you are able to comprehend. The parts of the thoughts which are beyond your understanding do not register at all and are not picked up by you, for your receiving set is limited to your understanding; if you had never studied such subjects as mathematics or chemistry, you would not be able to respond to the thoughts of them that might be all round you, given out by people who are well versed in these particular sciences. At the mental level the life is much more interesting for an intellectual man than for one of limited intelligence. Take the case of a person who, during his lifetime, has made a study of one particular subject; here he would come in contact with other intellectuals who were masters of his subject, merely through sensing and seeing the thought-forms expressed by them there. Because he was no longer limited by an inadequate brain, he would understand quite clearly not only all the things which he understood perfectly at the physical level, but the many things which in his physical life he was only able to realise in principle and not grasp completely.

“Ở cấp độ cảm dục, anh đã thấy những vĩ nhân trí tuệ sáng tạo ra âm nhạc, tranh ảnh đẹp đẽ v.v., và dạy người khác về nghệ thuật và khoa học. Khi họ đi từ cõi cảm dục sang cõi trí, họ tiếp tục giúp đỡ những người khác đang bước trên con đường mà họ đã đi; nhưng ở cấp độ trí tuệ, sự chỉ dạy của họ mang hình thức những bài giảng kỹ thuật và lý thuyết được phát ra trong một dòng tư tưởng liên tục. Tất cả những điều này đều có thể được bất cứ ai quan tâm đến cùng chủ đề ấy tiếp nhận. Anh chỉ có thể nắm bắt được chừng nào của các tư tưởng mà nhờ những hoạt động trí tuệ của chính anh trong quá khứ, anh có khả năng hiểu được. Những phần của các tư tưởng vượt quá sự thấu hiểu của anh thì hoàn toàn không ghi nhận được và anh không tiếp nhận được, vì máy thu của anh bị giới hạn bởi sự thấu hiểu của anh; nếu anh chưa từng học những môn như toán học hay hóa học, anh sẽ không thể đáp ứng với những tư tưởng về chúng có thể đang ở khắp quanh anh, do những người tinh thông các khoa học đặc biệt ấy phát ra. Ở cấp độ trí tuệ, đời sống thú vị hơn nhiều đối với một người trí thức so với một người có trí năng hạn chế. Hãy lấy trường hợp một người trong suốt đời mình đã nghiên cứu một chủ đề đặc biệt; ở đây y sẽ tiếp xúc với những người trí thức khác là bậc thầy trong chủ đề của y, chỉ đơn giản qua việc cảm nhận và thấy những hình tư tưởng được họ biểu lộ ở đó. Bởi vì y không còn bị giới hạn bởi một bộ não bất toàn nữa, y sẽ hiểu rất rõ không những tất cả những điều mà ở cấp độ hồng trần y đã hiểu hoàn toàn, mà còn cả nhiều điều mà trong đời sống hồng trần y chỉ có thể chứng nghiệm về nguyên lý chứ không nắm bắt trọn vẹn.

“A man continues his mental development for a considerable time, not only to his great satisfaction but also to his great benefit in future lives as, through and because of the work he has done, he has earned the right to be given in his next physical incarnation a brain which will fully comprehend the knowledge which he consolidated during his stay in the mental world. When I tell you that men of highly developed intellects have been known to spend as much as two and three thousand years at the mental level, you will perhaps admit that for such people life could not be considered dull. On the other hand the time that an unevolved being spends at this level is usually very short indeed, for he has little to consolidate and certainly his life there is not nearly as pleasant or as interesting as the lives of his more intellectual brethren. He does not realise his limitations so there is no suffering whatever, even for the man of the most limited intelligence that you can visualise.

“Một người tiếp tục sự phát triển trí tuệ của mình trong một thời gian đáng kể, không những với sự mãn nguyện lớn lao mà còn với lợi ích to lớn cho các kiếp sống tương lai, vì nhờ, qua và bởi công việc y đã làm, y đã giành được quyền được ban cho trong lần lâm phàm hồng trần kế tiếp một bộ não có thể hoàn toàn hiểu được tri thức mà y đã củng cố trong thời gian lưu lại ở cõi trí. Khi tôi nói với anh rằng những người có trí tuệ phát triển cao đã được biết là ở lại cấp độ trí tuệ đến hai và ba ngàn năm, có lẽ anh sẽ thừa nhận rằng đối với những người như thế, đời sống không thể bị xem là tẻ nhạt. Mặt khác, thời gian mà một hữu thể chưa tiến hoá trải qua ở cấp độ này thường quả thật rất ngắn, vì y có rất ít điều để củng cố và chắc chắn đời sống của y ở đó không gần bằng dễ chịu hay thú vị như đời sống của những huynh đệ trí thức hơn của y. Y không nhận ra những giới hạn của mình nên hoàn toàn không có đau khổ nào, ngay cả đối với người có trí năng hạn chế nhất mà anh có thể hình dung.

When the egos who have been existing in the Golden City pass to the mental world they still have only one cardinal thought in their minds and that is their idea of Heaven. Their religious teachers have taught them that once they have been ‘received into heaven, ’ they are there forever. They are quite sure that they have been so received, for they have been living under the conditions which to them are in accordance with the promises of eternal bliss, to which they have looked forward. They expect to remain permanently in a heaven world and, because of this dominating belief, the illusion of heaven, as they have always imagined it, is created by them, in it they live, exchanging their thoughts with the thoughts of others, sent out by people who are controlled by the same illusions. Thus the whole of their mental life is lived within a gigantic thought-form. Although they are perfectly happy they do not usually benefit as much from these conditions as others who use the mental world, not only for consolidating their own mental activities but also for adding to the intellectual knowledge which they possessed before reaching that sphere of consciousness. The people who live surrounded by their idea of heaven are radiantly happy and perfectly content, so who is to say that they are worse off than others who travel by different paths.

Khi những chân ngã đã tồn tại trong Thành phố Vàng đi sang cõi trí, họ vẫn chỉ có một tư tưởng chủ yếu trong thể trí, và đó là ý niệm của họ về Thiên đường. Các huấn sư tôn giáo của họ đã dạy họ rằng một khi họ đã được ‘đón nhận vào thiên đường,’ thì họ ở đó mãi mãi. Họ hoàn toàn chắc chắn rằng mình đã được đón nhận như thế, vì họ đã sống trong những điều kiện mà đối với họ phù hợp với những lời hứa về chí phúc vĩnh cửu mà họ từng mong đợi. Họ mong sẽ ở vĩnh viễn trong một cõi thiên đường, và vì niềm tin chi phối này, ảo tưởng về thiên đường, như họ vẫn luôn hình dung, được chính họ tạo ra; trong đó họ sống, trao đổi những tư tưởng của mình với những tư tưởng của người khác, được phát ra bởi những người bị chi phối bởi cùng những ảo tưởng ấy. Như vậy toàn bộ đời sống trí tuệ của họ được sống bên trong một hình tư tưởng khổng lồ. Mặc dù họ hoàn toàn hạnh phúc, họ thường không hưởng lợi từ những điều kiện này nhiều bằng những người khác, những người sử dụng cõi trí không chỉ để củng cố các hoạt động trí tuệ của riêng mình mà còn để bổ sung vào tri thức trí tuệ mà họ đã sở hữu trước khi đạt đến khối cầu tâm thức ấy. Những người sống được bao quanh bởi ý niệm thiên đường của mình thì rạng ngời hạnh phúc và hoàn toàn mãn nguyện, vậy ai có thể nói rằng họ kém may mắn hơn những người khác đi theo những con đường khác.

“In the mental world there are again seven spheres of consciousness corresponding to those found at the astral level, but in this world there is no difficulty at all in passing from one sphere to another—whether you go up or down. In practice, however, you will find that the permanent inhabitants move about very little indeed. The average man finds his natural home, that is the sphere most suited to him and in which he will be most happy, on any of the first four spheres. Only the outstanding intellectual individuals go beyond the fourth sphere. Usually a man who passes from the astral to the mental world, aided by those helpers who meet him, finds his way almost at once to the particular sphere of consciousness that applies to his mental development, and there he stays, until the time comes for him to drop his mental body and spend a short time at the causal level, which is the permanent home of the ego.

“Trong cõi trí lại có bảy khối cầu tâm thức tương ứng với những khối cầu được thấy ở cấp độ cảm dục, nhưng trong thế giới này hoàn toàn không có khó khăn gì trong việc đi từ khối cầu này sang khối cầu khác—dù anh đi lên hay đi xuống. Tuy nhiên, trên thực tế, anh sẽ thấy rằng những cư dân thường trú di chuyển rất ít. Người trung bình tìm thấy ngôi nhà tự nhiên của mình, tức là khối cầu thích hợp nhất với y và trong đó y sẽ hạnh phúc nhất, ở một trong bốn khối cầu đầu tiên. Chỉ những cá nhân trí tuệ xuất chúng mới vượt quá khối cầu thứ tư. Thông thường, một người đi từ cõi cảm dục sang cõi trí, được những phụ tá gặp y trợ giúp, gần như ngay lập tức tìm được đường đến khối cầu tâm thức đặc biệt phù hợp với sự phát triển trí tuệ của y, và ở đó y lưu lại cho đến khi đến lúc phải bỏ thể trí và trải qua một thời gian ngắn ở cấp độ nguyên nhân, vốn là quê hương thường trú của chân ngã.

“Before I talk to you much more on this subject, I propose to take you on Wednesday night as far as the second sphere of the mental world, in order that you may get a clearer understanding of what I am now trying to tell you. You will then not only realise my present difficulties, but will probably find that if you try to report your activities on that journey, there are no adequate words to express what you saw there. I shall visit you again on Friday morning; this will leave you three nights in which to continue your experiments in the astral world, although I advise you very strongly not to set out with any specific intention tonight, but to give your brain a rest. Reserve Wednesday night for me.”

“Trước khi tôi nói với anh nhiều hơn về chủ đề này, tôi dự định vào tối thứ Tư sẽ đưa anh đi xa đến khối cầu thứ hai của cõi trí, để anh có thể có được sự thấu hiểu rõ ràng hơn về điều tôi đang cố gắng nói với anh . Khi ấy anh không những sẽ chứng nghiệm những khó khăn hiện tại của tôi, mà có lẽ còn thấy rằng nếu anh cố tường thuật các hoạt động của mình trong chuyến đi ấy, sẽ không có từ ngữ thích đáng nào để diễn tả điều anh đã thấy ở đó. Tôi sẽ lại đến thăm anh vào sáng thứ Sáu; như vậy anh sẽ có ba đêm để tiếp tục những thử nghiệm của mình trong cõi cảm dục, mặc dù tôi khuyên anh rất mạnh mẽ rằng tối nay đừng khởi hành với bất kỳ ý định cụ thể nào, mà hãy để cho bộ não được nghỉ ngơi. Hãy dành tối thứ Tư cho tôi.”

Acharya then left the room and I remained seated at my desk rather dazed with all this new information.

Rồi Acharya rời khỏi phòng và tôi vẫn ngồi lại nơi bàn viết, khá choáng váng vì tất cả những thông tin mới mẻ này.

The first night I slept peacefully and woke much refreshed—with no remembrance of anything that had taken place during the night.

Đêm đầu tiên tôi ngủ yên bình và thức dậy rất sảng khoái—không nhớ gì về bất cứ điều gì đã xảy ra trong đêm.

The following night I managed to reach Daphne quite easily. She had found no difficulty in returning to her cottage from the Fairy Glen—so presumably she has developed sufficient will power to enable her to move freely from sphere to sphere. She told me that after I had left, an unbelievably beautiful exhibition of dancing had taken place in which the devas, the nature-spirits and even the birds took part. When she made adieus to the Chief, he told her we were welcome to revisit the valley at anytime.

Đêm tiếp theo tôi đến được chỗ Daphne khá dễ dàng. Cô ấy không gặp khó khăn gì khi trở về ngôi nhà nhỏ của mình từ Fairy Glen—vì thế có lẽ cô ấy đã phát triển đủ ý chí để có thể di chuyển tự do từ khối cầu này sang khối cầu khác. Cô ấy kể với tôi rằng sau khi tôi rời đi, đã diễn ra một cuộc trình diễn vũ điệu đẹp đến khó tin, trong đó các thiên thần, các tinh linh tự nhiên và ngay cả chim chóc cũng tham gia. Khi cô ấy từ biệt Vị Thủ Lĩnh, Ngài nói rằng chúng tôi luôn được hoan nghênh trở lại thung lũng ấy bất cứ lúc nào.

I asked if she would be interested in seeing the Golden City at close quarters. As she was delighted with the idea, we there and then linked hands and reached the landmark for the fifth sphere in a very short time—having stopped en route at the Fairy Glen. The heavy gates which appeared to be made of gold were closed, but were unlocked and opened to us by an old gentleman who might have passed for the mythical St. Peter; he asked our business, we explained who we were and indicated that curiosity was the main object of our visit. He did not seem to mind this and offered a guide to show us round.

Tôi hỏi cô ấy có muốn nhìn Thành phố Vàng ở cự ly gần không. Vì cô ấy rất thích ý tưởng ấy, nên ngay lúc đó chúng tôi nắm tay nhau và đến được mốc chỉ dẫn của khối cầu thứ năm trong một thời gian rất ngắn—sau khi đã dừng lại dọc đường ở Fairy Glen. Những cánh cổng nặng nề trông như làm bằng vàng đang đóng kín, nhưng được một ông lão có thể khiến người ta liên tưởng đến Thánh Peter huyền thoại mở khóa và mở ra cho chúng tôi; ông hỏi chúng tôi đến có việc gì, chúng tôi giải thích mình là ai và cho biết sự tò mò là mục đích chính của chuyến thăm. Ông dường như không bận tâm về điều đó và đề nghị một người hướng dẫn đưa chúng tôi đi xem.

The streets seemed to be paved with pure gold; the numerous trees which lined them were laden with precious stones. These thought-forms of diamonds, emeralds, rubies, pearls, etc. were very beautiful, but the effect was rather like an unending line of Christmas trees. I noticed that there was at least one church in every street; we were taken into what the guide stated was one of the smallest Roman Catholic churches. The sanctuary was a very beautiful piece of architecture, whilst the main altar might have been carved out of a gigantic pearl; a musician who was playing the organ was no ordinary exponent of the art. The guide invited us to visit churches of other denominations. I asked whether the different denominations kept themselves separate. He told me that in the Heaven world the different sects led their separate lives and, carried out their specific teaching, but that there was never any disharmony here, for everyone realised that the truth behind all doctrines was the same and only the forms of expression were different. In reply to a question I put, he stated that here God reigned supreme and from time to time visited the Golden City; He was not seen by the ordinary inhabitants, but His voice was heard seemingly coming from the cloud which encircled Him. He stated that Christ and His twelve apostles still walked the streets, teaching and preaching to the multitude. I asked if he had not meant eleven apostles, for surely Judas would not be admitted to the Heaven world. He assured me, however, that as Judas had paid the penalty of his crime by suffering terrible remorse and creating for himself a veritable hell, his repentance had been noted and he had been allowed to rejoin his fellow disciples. We visited an amphitheatre where there must have been three thousand people gathered together, all wearing white robes, listening to a choir singing to the accompaniment of harps and a silver toned organ; they had the appearance of the angels of the scriptures, but we did not see any seated on clouds playing harps.

Những con đường dường như được lát bằng vàng ròng; vô số cây cối dọc hai bên đường trĩu nặng đá quý. Những hình tư tưởng của kim cương, ngọc lục bảo, hồng ngọc, ngọc trai v.v. này rất đẹp, nhưng hiệu quả tạo ra hơi giống một hàng cây Giáng sinh kéo dài vô tận. Tôi nhận thấy rằng ít nhất mỗi con đường đều có một nhà thờ; chúng tôi được đưa vào nơi mà người hướng dẫn nói là một trong những nhà thờ Công giáo La Mã nhỏ nhất. Cung thánh là một công trình kiến trúc rất đẹp, còn bàn thờ chính thì có thể tưởng như được chạm khắc từ một viên ngọc trai khổng lồ; một nhạc công đang chơi đàn organ không phải là một nghệ sĩ tầm thường. Người hướng dẫn mời chúng tôi đi thăm các nhà thờ của những giáo phái khác. Tôi hỏi liệu các giáo phái khác nhau có sống tách biệt với nhau không. Ông nói với tôi rằng trong cõi Thiên đường, các giáo phái khác nhau sống đời sống riêng của mình và thực hành giáo huấn riêng của mình, nhưng ở đây không bao giờ có bất hòa, vì mọi người đều nhận ra rằng chân lý đằng sau mọi giáo lý là như nhau và chỉ có các hình thức biểu đạt là khác nhau. Đáp lại một câu hỏi của tôi, ông nói rằng ở đây Thượng đế ngự trị tối cao và thỉnh thoảng viếng thăm Thành phố Vàng; Ngài không được những cư dân bình thường nhìn thấy, nhưng tiếng nói của Ngài được nghe như thể phát ra từ đám mây bao quanh Ngài. Ông nói rằng Đức Christ và mười hai tông đồ của Ngài vẫn đi trên các đường phố, giảng dạy và thuyết giáo cho đám đông. Tôi hỏi có phải ông muốn nói là mười một tông đồ không, vì hẳn Judas sẽ không được nhận vào cõi Thiên đường. Tuy nhiên, ông quả quyết rằng vì Judas đã trả giá cho tội lỗi của mình bằng sự hối hận khủng khiếp và đã tạo ra cho mình một địa ngục thực sự, nên sự ăn năn của y đã được ghi nhận và y đã được phép trở lại với các đệ tử đồng môn của mình. Chúng tôi đến thăm một hí trường nơi hẳn phải có ba ngàn người tụ họp, tất cả đều mặc áo choàng trắng, lắng nghe một ca đoàn hát với tiếng đàn hạc và một cây đàn organ âm sắc bạc đệm theo; họ có dáng vẻ của các thiên thần trong Kinh Thánh, nhưng chúng tôi không thấy ai ngồi trên mây chơi đàn hạc.

We returned to Daphne’s cottage where we discussed our experiences and later I met some more of her friends.

Chúng tôi trở về ngôi nhà nhỏ của Daphne, nơi chúng tôi bàn luận về những trải nghiệm của mình, và sau đó tôi gặp thêm vài người bạn của cô ấy.

On Wednesday evening I was waiting for Acharya when he arrived in my room on the stroke of 10 p.m. Greeting me with “If you are ready, let’s be on our way,” we started off.

Tối thứ Tư tôi đang chờ Acharya thì ông đến phòng tôi đúng 10 giờ đêm. Chào tôi bằng câu: “Nếu anh đã sẵn sàng, chúng ta lên đường thôi,” chúng tôi bắt đầu đi.

We travelled by the same route as before, via the village on the second sphere, the Academy on the third, the Fairy Glen on the fourth, the Golden City on the fifth and the lake on the sixth. At this last spot I had time to see that two of the little boats were in use, one on the opposite side of the lake, and the second near the opening to the small lake. I had to look for some time before I could see any motion at all, so slowly did they move. This is indeed an ideal spot for a man desiring solitude. As I had not yet visited the seventh sphere and had no focal point on which to concentrate, Acharya told me to hold his hand. When our surroundings became clear again I saw we were standing on the highest point of a range of mountains which Acharya stated was called “World’s View”—from here people would take a look at the surrounding world which must last them until their next incarnation. Although the countryside was reasonably well wooded with plenty of flowers in bloom, there were no buildings anywhere and the surroundings had a bleak appearance. I was told that a number of ascetics and holy men spend a large part of their lives under these conditions; I felt pleased that mysticism was not the line which appealed to me. I noticed two people who looked like a man and a woman gently floating along a valley. Upon asking Acharya who they were, he replied: “Let us go and see.” We floated towards them. When we reached them they did not slow their progress, which was little faster than a walking pace, and when Acharya spoke to them they made no reply. I too put a question to the woman who turned her face in my direction but looked through me without uttering a word; her eyes had a blank stare and the face expressed no animation. They floated along on a route which appeared to be circular. My guide told me these were shells left behind by two individuals who had passed to the mental world. Acharya now explained that in order to travel to the mental world we must leave our astral vehicles behind. To ensure that they were properly looked after and not taken possession of by astral entities, he proposed to leave them in the charge of two of his friends whom he could trust. He concentrated deeply and after about a minute told me they were on their way. Almost at once two European men of highly intellectual and spiritual appearance floated towards us. After greetings had been exchanged, Acharya told them what he wished them to do. I was then told to lie flat on my back with my hands folded beneath my head; Acharya took up a similar attitude but allowed his right hand to rest on my forehead. He told me to relax and to endeavour to make my mind a blank.

Chúng tôi đi theo cùng lộ trình như trước, qua ngôi làng ở khối cầu thứ hai, Học viện ở khối cầu thứ ba, Fairy Glen ở khối cầu thứ tư, Thành phố Vàng ở khối cầu thứ năm và hồ ở khối cầu thứ sáu. Ở nơi cuối cùng này tôi có thời gian để thấy rằng có hai chiếc thuyền nhỏ đang được sử dụng, một chiếc ở phía đối diện của hồ, và chiếc thứ hai gần lối mở vào hồ nhỏ. Tôi phải nhìn một lúc lâu mới thấy được chút chuyển động nào, chúng di chuyển chậm đến thế. Đây quả thật là một nơi lý tưởng cho một người mong muốn cô tịch. Vì tôi chưa từng đến khối cầu thứ bảy và không có điểm tập trung nhất tâm nào để tập trung vào, Acharya bảo tôi nắm tay ông. Khi khung cảnh quanh chúng tôi lại trở nên rõ ràng, tôi thấy chúng tôi đang đứng trên điểm cao nhất của một dãy núi mà Acharya nói được gọi là “World’s View”—từ đây người ta sẽ nhìn ngắm thế giới chung quanh, và điều đó phải đủ cho họ cho đến lần lâm phàm kế tiếp. Mặc dù miền quê có khá nhiều cây cối và nhiều hoa đang nở, nhưng không có công trình nào ở bất cứ đâu và khung cảnh có vẻ hoang vắng. Tôi được cho biết rằng một số nhà khổ hạnh và thánh nhân sống phần lớn cuộc đời mình trong những điều kiện như thế; tôi cảm thấy hài lòng rằng thần bí học không phải là đường lối hấp dẫn tôi. Tôi nhận thấy hai người trông như một nam và một nữ đang nhẹ nhàng trôi dọc theo một thung lũng. Khi hỏi Acharya họ là ai, ông đáp: “Chúng ta hãy đi xem.” Chúng tôi trôi về phía họ. Khi đến nơi, họ không hề chậm lại, tốc độ của họ chỉ nhỉnh hơn bước đi bộ một chút, và khi Acharya nói với họ thì họ không trả lời. Tôi cũng hỏi người phụ nữ một câu; cô quay mặt về phía tôi nhưng nhìn xuyên qua tôi mà không thốt một lời nào; mắt cô nhìn trống rỗng và gương mặt không biểu lộ sinh khí gì. Họ trôi theo một lộ trình dường như là hình tròn. Người hướng dẫn của tôi nói với tôi rằng đây là những vỏ thể bị bỏ lại bởi hai cá nhân đã đi sang cõi trí. Lúc này Acharya giải thích rằng để đi đến cõi trí, chúng tôi phải bỏ lại các vận cụ cảm dục của mình. Để bảo đảm chúng được trông nom cẩn thận và không bị các thực thể cảm dục chiếm hữu, ông dự định giao chúng cho hai người bạn của ông mà ông có thể tin cậy. Ông tập trung sâu sắc và khoảng một phút sau bảo tôi rằng họ đang trên đường đến. Gần như ngay lập tức, hai người đàn ông châu Âu có vẻ ngoài rất trí tuệ và tinh thần trôi về phía chúng tôi. Sau khi chào hỏi, Acharya nói với họ điều ông muốn họ làm. Rồi tôi được bảo nằm ngửa, hai tay gập dưới đầu; Acharya cũng nằm theo tư thế tương tự nhưng để bàn tay phải của ông trên trán tôi. Ông bảo tôi thư giãn và cố làm cho thể trí mình trống rỗng.

As Acharya predicted, I am finding it almost impossible to describe in words what the mental world is like. It seemed as if two or three minutes elapsed from the time I was told to relax until I realised that Acharya was talking to me, although he was not using words nor making any sounds whatever. I opened my eyes and found that an amazing stillness prevailed; we seemed to be suspended in space, but we were surrounded by all sorts of misty objects, which might or might not have been buildings, landscapes or people. Some of these objects were coloured, but nothing seemed to be very distinct; all of them, even the forms which might have been men, seemed to be changing all the time. I did not actually see them with my eyes, but sensed them in a way which was quite different from anything I had experienced before. I could see the thought-forms that were floating behind me as well as I could see those which were in front of me, thus I did not find it necessary to turn round and face a particular picture in order to see what it was like. It was all very uncanny, and I would perhaps have felt a trifle frightened had I not been in such excellent company. All this time Acharya was sending out thoughts to me, which I received just as clearly as if he had been speaking, and it was obvious that he had received my replies as soon as I had expressed them in my mind. He told me that this was the lowest sphere of the mental world and that it was inhabited mostly by entities of a very low mental development. He pointed out the thought-forms of several people who were living at this level. They were wispy creatures without any apparent solidity; many could hardly be described as concrete forms at all, for they were little more than smoke or cloud that appeared to take human form, but owing to its lack of density did not retain the same outline for any length of time. I have seen similar shapes take form when watching smoke coming from a fire, which almost instantly vanish up the chimney. Under these mental plane conditions Acharya appeared to be a much bigger person than in either the astral or physical worlds, and he appeared clearer cut and much more solid in form than any of the other entities whose forms floated across my vision. His appearance in these surroundings enabled me to appreciate his comparison of the mental body of a man low in evolution, and that of one more evolved, to a wicker basket in the making and the same when completed.

Đúng như Acharya đã dự đoán, tôi thấy gần như không thể diễn tả bằng lời cõi trí giống như thế nào. Dường như hai hay ba phút đã trôi qua từ lúc tôi được bảo thư giãn cho đến khi tôi nhận ra rằng Acharya đang nói với tôi, mặc dù ông không dùng lời và cũng không phát ra bất kỳ âm thanh nào. Tôi mở mắt ra và thấy một sự tĩnh lặng kỳ lạ đang ngự trị; chúng tôi dường như lơ lửng trong không gian, nhưng chung quanh chúng tôi là đủ loại vật thể mờ sương, có thể là hoặc không là các tòa nhà, phong cảnh hay con người. Một số vật thể này có màu sắc, nhưng không gì có vẻ thật rõ rệt; tất cả chúng, ngay cả những hình thể có thể là người, dường như luôn luôn thay đổi. Tôi không thực sự thấy chúng bằng mắt, mà cảm nhận chúng theo một cách hoàn toàn khác với bất cứ điều gì tôi từng trải qua trước đây. Tôi có thể thấy những hình tư tưởng trôi phía sau mình cũng rõ như những hình ở phía trước, vì thế tôi không thấy cần phải quay lại đối diện với một hình ảnh nào đó để xem nó ra sao. Tất cả đều rất kỳ lạ, và có lẽ tôi đã cảm thấy hơi sợ nếu tôi không ở trong một sự đồng hành tuyệt vời đến thế. Suốt thời gian ấy Acharya gửi đến tôi những tư tưởng mà tôi tiếp nhận rõ ràng như thể ông đang nói, và hiển nhiên là ông đã nhận được những câu trả lời của tôi ngay khi tôi biểu đạt chúng trong thể trí mình. Ông nói với tôi rằng đây là khối cầu thấp nhất của cõi trí và phần lớn cư dân ở đây là những thực thể có sự phát triển trí tuệ rất thấp. Ông chỉ cho tôi những hình tư tưởng của vài người đang sống ở cấp độ này. Họ là những sinh thể mỏng nhẹ không có vẻ gì là rắn chắc; nhiều hình hầu như không thể được mô tả là những hình thể cụ thể, vì chúng chẳng hơn gì khói hay mây dường như mang hình người, nhưng do thiếu độ đậm đặc nên không giữ được cùng một đường nét trong bất kỳ khoảng thời gian nào. Tôi đã từng thấy những hình dạng tương tự thành hình khi nhìn khói bốc ra từ lửa, rồi gần như tức khắc tan biến lên ống khói. Trong những điều kiện của cõi trí này, Acharya hiện ra như một người lớn hơn nhiều so với trong cõi cảm dục hay cõi hồng trần, và hình thể của ông hiện ra rõ nét và rắn chắc hơn nhiều so với bất kỳ thực thể nào khác có hình thể trôi ngang qua tầm nhìn của tôi. Diện mạo của ông trong khung cảnh này khiến tôi hiểu được sự so sánh của ông giữa thể trí của một người tiến hoá thấp và của một người tiến hoá hơn với một chiếc giỏ mây đang được đan và chiếc giỏ ấy khi đã hoàn tất.

Acharya told me to come close to him; he placed his hand on my shoulder—although I felt no touch—and said we were now passing to the second sphere. Without any sense of movement such as I had previously experienced, the scene changed in the same way as it does on a cinema screen. Our new surroundings were not very different from those we had left, with the exception that the forms which floated about had a clearer outline.

Acharya bảo tôi đến gần ông; ông đặt tay lên vai tôi—mặc dù tôi không cảm thấy sự chạm nào—và nói rằng giờ đây chúng tôi đang sang khối cầu thứ hai. Không có cảm giác chuyển động như tôi từng trải qua trước đó, cảnh tượng thay đổi theo cùng cách như trên màn ảnh chiếu phim. Khung cảnh mới của chúng tôi không khác lắm so với nơi vừa rời đi, ngoại trừ các hình thể trôi nổi có đường nét rõ ràng hơn.

Acharya asked me to choose a subject on which I would like to have a discussion with one of the permanent inhabitants, and told me to send out thought-forms into the ether asking anyone who was interested in this subject to get in touch with me. Without thinking very much, I chose the subject of comparative religions. Immediately, through the medium of thought-forms, the reply came back in the form of a query as to what religion I belonged to. My thought passed back that I was a Roman Catholic, though not a strict one. The thought which returned was that all religions had their uses, in that they enabled people who could not stand alone to have something on which to lean, and in most cases they acted as a guide in the decisions which they had to make during their lifetimes. He stated that each religion had been started for a specific purpose, but that basically the truths of all were the same.

Acharya bảo tôi chọn một chủ đề mà tôi muốn thảo luận với một trong những cư dân thường trú, và bảo tôi phát ra những hình tư tưởng vào dĩ thái, hỏi bất cứ ai quan tâm đến chủ đề ấy hãy liên lạc với tôi. Không suy nghĩ nhiều, tôi chọn chủ đề tôn giáo so sánh. Ngay lập tức, qua trung gian của các hình tư tưởng, câu trả lời quay lại dưới dạng một câu hỏi rằng tôi thuộc tôn giáo nào. Tư tưởng của tôi đáp lại rằng tôi là người Công giáo La Mã, dù không quá nghiêm ngặt. Tư tưởng quay trở lại là rằng mọi tôn giáo đều có công dụng của chúng, ở chỗ chúng giúp những người không thể tự đứng vững có một cái gì đó để nương tựa, và trong phần lớn trường hợp chúng đóng vai trò như một người hướng dẫn trong những quyết định mà họ phải đưa ra trong suốt đời sống của mình. Y nói rằng mỗi tôn giáo đều được khởi xướng vì một mục đích riêng, nhưng về căn bản chân lý của tất cả đều như nhau.

This thought asserted that the keynote of the Christian religion was love, and in accordance with its philosophy man could only evolve through loving his fellow man and by being tolerant of other men’s opinions and actions. The religion started by the Lord Buddha was just as fine a philosophy as that preached by the Christ—the keynote of Buddhism was wisdom, and according to its teachings the most important thing in life is to act according to the law of karma through which men suffered or received bene-fits according to their actions, thoughts or words. The tendency of this religion is to eliminate emotion. The great religion known as Hinduism, which was revived by Shri Krishna nearly two thousand years ago, had as its keynote cleanliness and orderly conduct—its orthodox members carried out special ablutions at stated intervals. Islam, founded by Mahomet, has its keynote courage—its followers certainly did not lack that particular virtue. Zoroastrianism, the religion of the Parsees, had gradually been evolved through the many incarnations of Zoroaster. Fire was its sacred symbol and as fire has always been considered a purifier, the keynote of this religion is purity. Members even went so far as to say that fire must not be desecrated to light a cigarette or a pipe. He criticised proselytising in any form and urged me never to try to change a man’s faith unless I were perfectly sure that man was seeking for something new and had lost interest in the religion into which he had been born. He said he could never understand an atheist, for no one could be sure that there were neither past nor future lives, but he sympathised with agnostics who were honest people, and only too willing to be convinced if arguments could be found to satisfy them. The pity was that they did not realise that most religious doctrines which concern non-physical conditions could never be proved by physical plane experiment.

Tư tưởng này khẳng định rằng chủ âm của tôn giáo Cơ Đốc là tình thương, và theo triết lý của nó, con người chỉ có thể tiến hoá bằng cách yêu thương đồng loại và bằng cách khoan dung đối với ý kiến và hành động của người khác. Tôn giáo do Đức Chúa Phật khởi xướng cũng là một triết lý cao đẹp không kém triết lý do Đức Christ giảng dạy—chủ âm của Phật giáo là minh triết, và theo giáo huấn của nó, điều quan trọng nhất trong đời sống là hành động theo định luật nghiệp quả qua đó con người chịu đau khổ hay nhận được lợi ích tùy theo hành động, tư tưởng hay lời nói của mình. Khuynh hướng của tôn giáo này là loại bỏ cảm xúc. Tôn giáo lớn được biết đến là Ấn Độ giáo, được Shri Krishna phục hưng gần hai ngàn năm trước, có chủ âm là sự thanh sạchhành xử có trật tự—các tín đồ chính thống của nó thực hiện những nghi thức tắm gội đặc biệt vào những thời điểm nhất định. Hồi giáo, do Mahomet sáng lập, có chủ âm là dũng cảm—những tín đồ của nó chắc chắn không thiếu đức tính đặc biệt ấy. Hỏa giáo, tôn giáo của người Parsees, đã dần dần được tiến hoá qua nhiều lần lâm phàm của Zoroaster. Lửa là biểu tượng thiêng liêng của nó, và vì lửa từ lâu vẫn được xem là một chất thanh tẩy, nên chủ âm của tôn giáo này là sự thanh khiết. Các tín đồ thậm chí còn đi xa đến mức nói rằng lửa không được xúc phạm bằng cách dùng để châm thuốc lá hay tẩu. Y phê phán việc cải đạo dưới bất kỳ hình thức nào và khuyên tôi đừng bao giờ cố thay đổi đức tin của một người trừ phi tôi hoàn toàn chắc chắn rằng người ấy đang tìm kiếm một điều gì mới và đã mất hứng thú với tôn giáo mà mình sinh ra trong đó. Y nói rằng y không bao giờ có thể hiểu được một người vô thần, vì không ai có thể chắc chắn rằng không có những kiếp sống quá khứ hay tương lai, nhưng y cảm thông với những người bất khả tri là những người chân thành, và quá sẵn lòng để được thuyết phục nếu có thể tìm ra những lập luận làm họ thỏa mãn. Điều đáng tiếc là họ không nhận ra rằng phần lớn các giáo lý tôn giáo liên quan đến những điều kiện phi hồng trần thì không bao giờ có thể được chứng minh bằng thí nghiệm của cõi hồng trần.

I would have liked to have carried on with other subjects, but my guide told me to end the conversation, as I had had sufficient for one night and probably much more than I could retain in physical consciousness.

Tôi muốn tiếp tục với những chủ đề khác, nhưng người hướng dẫn của tôi bảo tôi kết thúc cuộc trò chuyện, vì tôi đã có đủ cho một đêm và có lẽ còn nhiều hơn mức tôi có thể giữ lại trong tâm thức hồng trần.

I asked if there was no music at this level. Acharya replied by asking which was my favourite symphony. I said I thought it was Beethoven’s Choral Symphony, the Ninth. He said: “Make a thought-form of the movement you like best and you will probably have a surprise.”

Tôi hỏi ở cấp độ này có âm nhạc không. Acharya đáp lại bằng cách hỏi bản giao hưởng nào tôi thích nhất. Tôi nói tôi nghĩ đó là Bản Giao Hưởng Hợp Xướng số Chín của Beethoven. Ông nói: “Hãy tạo một hình tư tưởng về chương nhạc mà anh thích nhất và có lẽ anh sẽ ngạc nhiên.”

Naturally I thought of the beautiful choral movement and, even as I thought, I heard the music which I loved so well seemingly coming from all around us. I listened, enthralled, until it finished with the final notes of that beautiful work. I do not think I shall ever forget this—the performance was finer in every way than anything that could be imagined under world conditions; the purity of the voices, and the perfection of the playing were beyond anything I had ever conceived as possible.

Dĩ nhiên tôi nghĩ đến chương hợp xướng tuyệt đẹp ấy và ngay khi tôi nghĩ đến, tôi nghe thấy bản nhạc mà tôi yêu thích đến thế dường như vang lên từ khắp quanh chúng tôi. Tôi lắng nghe, say mê, cho đến khi nó kết thúc bằng những nốt cuối cùng của tác phẩm tuyệt đẹp ấy. Tôi không nghĩ mình sẽ bao giờ quên được điều này—buổi trình diễn ấy vượt trội về mọi phương diện so với bất cứ điều gì có thể tưởng tượng được trong điều kiện thế gian; sự tinh khiết của các giọng hát và sự hoàn hảo của phần trình tấu vượt xa bất cứ điều gì tôi từng nghĩ là có thể.

Acharya told me it was no use trying to remember any focal point, as it would be quite impossible for me to visit the mental world again at my present stage of development. We set about our return journey in the same way as when we came, and after a moment I seemed to wake up in my astral body, still lying in the position in which I had left it, with the two astral helpers “on guard.” Both smiled at the consternation on my face, but I still felt exceedingly bewildered by what I had seen. They took leave of us both by bowing politely and moving into the distance. Shortly after, I woke in my bedroom to find that it was 3:15 a.m. I got up and recorded what was still clear in my mind.

Acharya bảo tôi rằng không ích gì khi cố nhớ bất kỳ điểm tập trung nhất tâm nào, vì ở giai đoạn phát triển hiện tại tôi hoàn toàn không thể tự mình đến lại cõi trí. Chúng tôi bắt đầu hành trình trở về theo cùng cách như khi đến, và sau một lát tôi dường như tỉnh dậy trong thể cảm dục của mình, vẫn nằm ở tư thế tôi đã rời nó, với hai người phụ tá cảm dục “đứng gác.” Cả hai mỉm cười trước vẻ bàng hoàng trên mặt tôi, nhưng tôi vẫn hết sức hoang mang vì những gì mình đã thấy. Họ từ biệt cả hai chúng tôi bằng cách cúi chào lịch sự rồi đi xa dần. Không lâu sau đó, tôi tỉnh dậy trong phòng ngủ và thấy lúc ấy là 3 giờ 15 sáng. Tôi ngồi dậy và ghi lại những gì vẫn còn rõ trong thể trí mình.

On the following night before going to sleep, I decided that I would see how Mary was progressing but, when I got out of my body, I found Charles in my room. He had no plans to suggest, so I asked him if he would care to come with me to the London hospital ward—thinking the experience would be helpful for him. He agreed and we set off. Reaching the ward, we found Mary wide awake. I tentatively suggested to Charles that until she was out of her body, we might go to the third sphere and visit Daphne—the proposition had no interest for him at all, so we wandered round the wards till, on our next visit, we found Mary had gone to sleep and disconnected herself from her body.

Đêm hôm sau, trước khi đi ngủ, tôi quyết định sẽ xem Mary tiến triển ra sao nhưng khi ra khỏi thể xác, tôi thấy Charles ở trong phòng mình. Nó không đề nghị kế hoạch nào, nên tôi hỏi nó có muốn đi cùng tôi đến khu bệnh viện ở Luân Đôn không—nghĩ rằng trải nghiệm ấy sẽ hữu ích cho nó. Nó đồng ý và chúng tôi lên đường. Đến khu bệnh viện, chúng tôi thấy Mary đang thức hoàn toàn. Tôi dè dặt gợi ý với Charles rằng cho đến khi cô ấy ra khỏi thể xác, chúng tôi có thể lên khối cầu thứ ba thăm Daphne—đề nghị ấy hoàn toàn không hấp dẫn nó, nên chúng tôi đi lang thang quanh các phòng bệnh cho đến lần quay lại sau, chúng tôi thấy Mary đã ngủ và đã tách khỏi thể xác của mình.

Mary told me that things had been much better for her since she had seen me last and that Irene had remembered more than she did of what I had said on that occasion. Mary was spending her nights in her old home with her mother and sister, but did not remember much of what took place. I gave her as many hints as I could, taking my own case as a guide. I told her if at any time in the future she wished for my help, to think strongly about me, and I would endeavour to respond.

Mary nói với tôi rằng mọi việc đã khá hơn nhiều đối với cô ấy kể từ lần cuối cô ấy gặp tôi và rằng Irene nhớ được nhiều hơn cô ấy về những gì tôi đã nói trong dịp ấy. Mary dành các đêm của mình ở ngôi nhà cũ với mẹ và em gái, nhưng không nhớ được nhiều về những gì đã diễn ra. Tôi cho cô ấy nhiều gợi ý nhất có thể, lấy trường hợp của chính mình làm hướng dẫn. Tôi bảo cô ấy rằng nếu bất cứ lúc nào trong tương lai cô ấy cần sự giúp đỡ của tôi, hãy nghĩ mạnh đến tôi, và tôi sẽ cố gắng đáp ứng.

Charles’s only comment on the incident was that Mary was a very pretty girl! He suggested putting in the rest of the night by taking me for a “flip,” as he had always looked forward to showing me that in one thing at least he had much more experience than I had. I agreed, whereupon he produced a thought-form of a two-seater Pussmoth type of plane, in which he piloted me all over Australia explaining the mechanism of the plane by the way. While I was still over that continent I felt the now familiar call and leaving the plane in full flight found myself back in my body in Colombo.

Lời bình luận duy nhất của Charles về sự việc ấy là Mary là một cô gái rất xinh! Nó đề nghị dùng phần còn lại của đêm để đưa tôi đi “lượn một vòng,” vì nó luôn mong được cho tôi thấy rằng ít nhất trong một việc, nó có nhiều kinh nghiệm hơn tôi rất nhiều. Tôi đồng ý, và nó tạo ra một hình tư tưởng của một chiếc máy bay hai chỗ kiểu Pussmoth, trong đó nó lái đưa tôi bay khắp nước Úc, tiện thể giải thích luôn cơ cấu của chiếc máy bay. Khi tôi vẫn còn ở trên lục địa ấy, tôi cảm thấy tiếng gọi quen thuộc và rời chiếc máy bay đang bay hết tốc lực để thấy mình trở lại trong thể xác ở Colombo.

Chapter 11

Acharya arrived ten minutes earlier than usual, whilst I was still finishing my breakfast. It had taken me a considerable time to type out the details of what had happened during the week and I had not dared either to shave or have my bath before finishing that work, in case my memory of last night’s activities dimmed and part of it would be lost. He did not seem to mind that I was not quite ready for him; he apologised for being early, seated himself upon the carpet in his usual place and asked if he might read through the notes that I had made. I handed him the typed pages which contained the details of my experiences since he had visited me on Monday last and I asked him why he wanted to see them, adding that I was quite sure he was well aware of what I had been doing.

Acharya đến sớm hơn thường lệ mười phút, khi tôi vẫn còn đang ăn sáng dở. Tôi đã mất khá nhiều thời gian để đánh máy chi tiết những gì đã xảy ra trong tuần và tôi không dám cạo râu hay tắm trước khi hoàn tất công việc ấy, vì sợ ký ức về các hoạt động đêm qua sẽ mờ đi và một phần của nó sẽ bị mất. Ông dường như không bận tâm việc tôi chưa hoàn toàn sẵn sàng cho ông; ông xin lỗi vì đến sớm, ngồi xuống tấm thảm ở chỗ quen thuộc của mình và hỏi liệu ông có thể đọc qua những ghi chép tôi đã làm không. Tôi đưa cho ông những trang đánh máy chứa chi tiết các trải nghiệm của tôi kể từ khi ông đến thăm tôi vào thứ Hai tuần trước và hỏi ông tại sao ông muốn xem chúng, thêm rằng tôi hoàn toàn chắc chắn ông biết rất rõ tôi đã làm gì.

He replied: “Yes, I have kept in touch with you for I have been given permission to link up with you mentally during the period in which I am responsible for your tuition. After that the link between your mental body and mine will immediately be broken, for we are not allowed to look into other people’s minds, except in very special circumstances, similar to those which have applied to our association during the past two weeks. Every man is responsible to himself and to his Creator for what he does, and as you know, he is rewarded or has to suffer in accordance with the thoughts expressed and the deeds enacted. I asked to read through your notes because I want to know how much you remember of what you have done—without reading your record, I do not know that.

Ông đáp: “Đúng vậy, tôi đã giữ liên lạc với anh vì tôi đã được phép chỉnh hợp với anh về mặt trí tuệ trong khoảng thời gian tôi chịu trách nhiệm về việc chỉ dạy anh. Sau đó, mối liên kết giữa thể trí của anh và thể trí của tôi sẽ lập tức bị cắt đứt, vì chúng tôi không được phép nhìn vào thể trí của người khác, trừ trong những hoàn cảnh rất đặc biệt, tương tự như những hoàn cảnh đã áp dụng cho mối liên hệ của chúng ta trong hai tuần qua. Mỗi người đều chịu trách nhiệm trước chính mình và trước Đấng Sáng Tạo của mình về những gì y làm, và như anh biết, y được tưởng thưởng hoặc phải chịu đau khổ tùy theo những tư tưởng được biểu lộ và những hành động được thực hiện. Tôi xin đọc các ghi chép của anh vì tôi muốn biết anh nhớ được bao nhiêu về những gì anh đã làm—nếu không đọc bản ghi của anh , tôi không biết được điều đó.

He carefully read through to the end and continued: “Your report concerning Tuesday night is quite good, for you remembered most of what took place during your visit to the Golden City. You missed out one rather important matter, however, for you have not mentioned that your guide took you to the outskirts of the city and pointed out to you a gathering that was listening to the thought-form they had created, representing Christ speaking to them. Both you and Daphne listened for a short time to what was said. You remarked to your guide that all that Christ was saying had already been recorded in the different gospels of the New Testament. That in itself should have been sufficient proof to you that it was not the great Being, who was known on earth as Christ, who was speaking, but merely the expression of that founder of the Christian faith that was part of the thoughts and minds of His most faithful followers. I am sure that had Christ himself been speaking—and He does live and is still in control of the spiritual development of this planet—the impression of what he said would not so easily have been erased from your memory. Ask Daphne about the incident, when next you see her. She will certainly have remembered it.

Ông cẩn thận đọc đến cuối rồi tiếp tục: “Bản tường thuật của anh về tối thứ Ba khá tốt, vì anh nhớ được phần lớn những gì đã xảy ra trong chuyến thăm Thành phố Vàng. Tuy nhiên, anh đã bỏ sót một việc khá quan trọng, vì anh không nhắc đến việc người hướng dẫn đã đưa anh ra vùng ngoại ô thành phố và chỉ cho anh một đám đông đang lắng nghe hình tư tưởng mà họ đã tạo ra, tượng trưng cho Đức Christ đang nói với họ. Cả anh lẫn Daphne đều đã lắng nghe một lúc điều được nói ra. anh đã nhận xét với người hướng dẫn rằng tất cả những gì Đức Christ đang nói đều đã được ghi lại trong các sách Phúc Âm khác nhau của Tân Ước. Chỉ riêng điều đó thôi lẽ ra đã phải là bằng chứng đủ cho anh rằng không phải Hữu thể vĩ đại được biết trên trần gian là Đức Christ đang nói, mà chỉ là sự biểu lộ của Đấng sáng lập đức tin Cơ Đốc vốn là một phần trong tư tưởng và thể trí của những tín đồ trung thành nhất của Ngài. Tôi chắc chắn rằng nếu chính Đức Christ đang nói—và Ngài quả thật đang sống và vẫn còn kiểm soát sự phát triển tinh thần của hành tinh này—thì ấn tượng về điều Ngài nói đã không dễ dàng bị xóa khỏi ký ức của anh đến thế. Hãy hỏi Daphne về sự việc ấy khi lần tới anh gặp cô ấy. Chắc chắn cô ấy sẽ nhớ điều đó.

“I am pleased with your description of Wednesday night’s experiment, for it is better than I expected. I warned you of the difficulties you would experience in finding words to express mental activities, but I think that all who read your records will understand a little of what you have tried to describe. I am certainly satisfied that you have grasped most of what I tried to tell you in my last talk.

“Tôi hài lòng với mô tả của anh về cuộc thử nghiệm tối thứ Tư, vì nó tốt hơn tôi mong đợi. Tôi đã cảnh báo anh về những khó khăn anh sẽ gặp khi tìm từ ngữ để diễn tả các hoạt động trí tuệ, nhưng tôi nghĩ rằng tất cả những ai đọc ghi chép của anh sẽ hiểu được phần nào điều anh đã cố mô tả. Chắc chắn tôi hài lòng rằng anh đã nắm được phần lớn những gì tôi đã cố nói với anh trong buổi nói chuyện trước.

“Your peregrinations of last night need little comment from me. They have their value though, for you now understand that you have to consider the outlook of other people and to a great extent fit in with them, in the astral as on the physical plane. I am quite sure that your protégée Mary will be calling for you again in the very near future, and I know that you will endeavour to assist her with the many problems which she will have to face. It will be excellent experience for you.

“Những chuyến lang du đêm qua của anh không cần tôi bình luận nhiều. Tuy vậy, chúng có giá trị của chúng, vì giờ đây anh hiểu rằng anh phải xét đến quan điểm của người khác và ở mức độ lớn phải thích ứng với họ, trong cõi cảm dục cũng như trên cõi hồng trần. Tôi hoàn toàn chắc chắn rằng cô học trò được anh bảo trợ là Mary sẽ lại gọi anh trong một tương lai rất gần, và tôi biết rằng anh sẽ cố gắng giúp cô ấy đối diện với nhiều vấn đề mà cô ấy sẽ phải đương đầu. Đó sẽ là kinh nghiệm tuyệt vời cho anh.

“Today, in my last talk, I shall first tell you about ‘the third death’ and what happens to the ego after he has dropped his remaining vehicle of consciousness, which we call the mental body, and lives for a period clothed in the only permanent vehicle he possesses—the causal body; I want you to listen very carefully to this, for many students seem to find it difficult to appreciate this information.

“Hôm nay, trong buổi nói chuyện cuối cùng của tôi, trước hết tôi sẽ nói với anh về ‘cái chết thứ ba’ và điều xảy ra với chân ngã sau khi y đã bỏ vận cụ tâm thức còn lại của mình, cái mà chúng ta gọi là thể trí, và sống một thời gian được khoác trong vận cụ thường tồn duy nhất mà y sở hữu—thể nguyên nhân; tôi muốn anh lắng nghe điều này thật cẩn thận, vì nhiều đạo sinh dường như thấy khó lĩnh hội thông tin này.

“The third death is very similar to the passing from the astral to the mental world, for the man just gradually loses consciousness and, having slipped out of the mental body, finds that he is in his causal body. The causal body is so called because it only functions on what is called the causal level, formed by the sixth and seventh spheres of the mental world. It is known as man’s permanent vehicle because he has had it since he individualised out of the animal kingdom and became a separate human entity.

“Cái chết thứ ba rất giống với sự chuyển từ cõi cảm dục sang cõi trí, vì người ấy chỉ dần dần mất tâm thức và, sau khi trượt ra khỏi thể trí, thấy rằng mình đang ở trong thể nguyên nhân. Thể nguyên nhân được gọi như vậy vì nó chỉ hoạt động trên cái được gọi là cấp độ nguyên nhân, được tạo thành bởi khối cầu thứ sáu và thứ bảy của cõi trí. Nó được biết là vận cụ thường tồn của con người vì y đã có nó từ khi y biệt ngã hóa ra khỏi giới động vật và trở thành một thực thể nhân loại riêng biệt.

“The causal level is the natural home of the ego, and here he remains during the periods which we call incarnations, when part of himself is manifesting at lower levels of consciousness and gaining the experiences necessary to free the ego from having to be born again and again in different physical bodies.

“Cấp độ nguyên nhân là quê hương tự nhiên của chân ngã, và ở đây y lưu lại trong những giai đoạn mà chúng ta gọi là các lần lâm phàm, khi một phần của chính y đang biểu hiện ở các cấp độ tâm thức thấp hơn và thu thập những kinh nghiệm cần thiết để giải thoát chân ngã khỏi việc phải sinh ra hết lần này đến lần khác trong những thể xác hồng trần khác nhau.

“The causal body changes every life merely by the addition to it of the experience the man has accumulated during his last incarnation: for this reason we sometimes refer to it as the ‘reservoir of knowledge.’ An evolved man can tap this reservoir at will and draw down to the physical level the experiences of his past lives: this enables him to avoid having to learn certain things every time he has a new physical brain, for, in itself, the brain has no memory of past experiences. For this reason an evolved man has a great advantage over his less evolved brother—but each of us will be in the same position when we reach these stages of development. The most important lesson for us to learn is that it is only through our own efforts that progress can be made.

“Thể nguyên nhân thay đổi qua mỗi kiếp sống chỉ bằng sự bổ sung vào nó kinh nghiệm mà con người đã tích lũy trong lần lâm phàm cuối cùng của mình: vì lý do này đôi khi chúng ta gọi nó là ‘kho chứa tri thức.’ Một người tiến hoá có thể khai thác kho chứa này theo ý muốn và kéo xuống cấp độ hồng trần những kinh nghiệm của các kiếp sống quá khứ: điều này giúp y khỏi phải học lại một số điều mỗi khi có một bộ não hồng trần mới, vì tự thân bộ não không có ký ức về những kinh nghiệm quá khứ. Vì lý do này, một người tiến hoá có lợi thế lớn so với huynh đệ kém tiến hoá hơn của mình—nhưng mỗi chúng ta rồi cũng sẽ ở cùng vị trí ấy khi đạt đến những giai đoạn phát triển đó. Bài học quan trọng nhất để chúng ta học là chỉ qua những nỗ lực của chính mình mà sự tiến bộ mới có thể đạt được.

“More attention would be given to these matters were they better understood and more generally taught by those people who profess to be helpers of mankind. Few of us are able to conceive the fact that the personality discernible at the physical level is but a tiny part of the real man—the ego—yet this ego, or individuality, overshadows and guides that personality to the best of his ability, within the limits allowed by the free will which is granted to all men when they have reached the standard of the human entity.

“Người ta sẽ chú ý nhiều hơn đến những vấn đề này nếu chúng được hiểu rõ hơn và được giảng dạy rộng rãi hơn bởi những người tự xưng là những người trợ giúp nhân loại. Ít người trong chúng ta có thể hình dung được sự kiện rằng phàm ngã có thể nhận thấy ở cấp độ hồng trần chỉ là một phần rất nhỏ của con người thực—chân ngã—thế nhưng chân ngã này, hay cá thể tính, phủ bóng và hướng dẫn phàm ngã ấy theo khả năng tốt nhất của y, trong những giới hạn được cho phép bởi ý chí tự do vốn được ban cho mọi người khi họ đã đạt đến tiêu chuẩn của thực thể nhân loại.

“At the causal level past, present and future are in reality one. Let me give you a physical plane example to illustrate this. Imagine for a moment a river, that twists and turns every few hundred yards. A man stationed on the deck of a river steamer, puffing its way on the journey it must accomplish, can see only that stretch of river in which the steamer is sailing at the moment. The stretch that exists beyond the bend to its rear, which it has already traversed, is unseen by him, and likewise, the course of the river beyond the curve to which the steamer is now being guided is also unseen. Let us suppose that another man is taking the same route in a helicopter; he would see the whole course of the river in one long sweep, the parts at the rear of the steamer and the parts well ahead of its present position being equally clear to his vision. To this man the scenery that the steamer has passed is just as visible as the scenery which meets the eyes of the passengers at the present moment, or that such people will see in the near future. To him there is no past and no future; all is indeed the present. The unevolved and the evolved man resemble the passenger on the steamer as compared to the one on the helicopter.

“Ở cấp độ nguyên nhân, quá khứ, hiện tại và tương lai thật ra là một. Hãy để tôi đưa cho anh một ví dụ ở cõi hồng trần để minh họa điều này. Hãy tưởng tượng trong chốc lát một con sông uốn khúc quanh co mỗi vài trăm thước. Một người đứng trên boong một chiếc tàu hơi nước trên sông, phì phò tiến đi trong hành trình nó phải hoàn tất, chỉ có thể thấy đoạn sông mà chiếc tàu đang đi trên đó vào lúc ấy. Đoạn sông nằm ngoài khúc quanh phía sau nó, nơi nó đã đi qua rồi, thì y không thấy được, và tương tự, dòng sông vượt quá khúc quanh mà chiếc tàu hiện đang được lái tới cũng không thấy được. Giả sử một người khác đi cùng tuyến đường ấy bằng trực thăng; y sẽ thấy toàn bộ dòng sông trong một tầm quét dài, những đoạn phía sau chiếc tàu và những đoạn ở rất xa phía trước vị trí hiện tại của nó đều hiện rõ như nhau trước tầm nhìn của y. Đối với người này, phong cảnh mà chiếc tàu đã đi qua cũng hiển hiện như phong cảnh đang đập vào mắt hành khách lúc này, hay phong cảnh mà những người ấy sẽ thấy trong tương lai gần. Đối với y không có quá khứ và không có tương lai; quả thật tất cả đều là hiện tại. Người chưa tiến hoá và người tiến hoá giống như hành khách trên tàu so với người trên trực thăng.

“At the causal level the ego is shown a full record of his past life in a series of pictures, rather as episodes on a film-strip projector. These pictures show him exactly where he failed in his past life and where he excelled. They also show what his next life is intended to do for him and what changes in his character must be achieved before further progress can be made. The unevolved man sees all this, but owing to his limited intelligence does not grasp its significance in the way it is understood by the intellectual person. He is like the steamer passenger. On the other hand the evolved man, like the man travelling in the helicopter, sees immediately why he made the mistakes in his past life and not only the results of these errors. He determines that he will not fail in the same way in his next life. So the lessons he learnt from these pictures of the past life are built into the structure of his permanent atom—that reservoir of knowledge which contains the essence of his experiences in his past lives—and when the time comes, in a future life, for him to make decisions on similar problems, the voice of conscience, which is the warning sent to him by the ego speaking from the plane on which his reservoir of knowledge exists, ensures that similar mistakes are not made a second time. He realises why it is desirable for him to be born next time into a particular group of people or nation, because through such a birth he can obtain the environment that he needs; for this reason there is never any lack of cooperation on his part, when he is shown his future life. He knows only too well that the life arranged for him is the one which is best suited to ensure his greatest progress. To attain this in the shortest possible time is what every ego desires.

“Ở cấp độ nguyên nhân, chân ngã được cho thấy một hồ sơ đầy đủ về kiếp sống quá khứ của y trong một loạt hình ảnh, khá giống như các cảnh trên máy chiếu phim cuộn. Những hình ảnh này cho y thấy chính xác chỗ nào y đã thất bại trong kiếp sống quá khứ và chỗ nào y đã vượt trội. Chúng cũng cho thấy kiếp sống kế tiếp của y được dự định sẽ làm gì cho y và những thay đổi nào trong tính cách của y phải đạt được trước khi có thể tiến bộ thêm. Người chưa tiến hoá thấy tất cả điều này, nhưng do trí năng hạn chế nên không nắm được thâm nghĩa của nó theo cách mà người trí thức hiểu được. Y giống như hành khách trên tàu. Mặt khác, người tiến hoá, giống như người đi bằng trực thăng, thấy ngay lập tức vì sao y đã phạm những sai lầm trong kiếp sống quá khứ chứ không chỉ thấy kết quả của những sai lầm ấy. Y quyết tâm rằng trong kiếp sống kế tiếp mình sẽ không thất bại theo cùng cách ấy. Vì vậy những bài học y học được từ những hình ảnh của kiếp sống quá khứ được xây dựng vào cấu trúc của Nguyên tử trường tồn của y—kho chứa tri thức ấy, vốn chứa tinh túy của những kinh nghiệm trong các kiếp sống quá khứ của y—và khi đến lúc, trong một kiếp sống tương lai, y phải quyết định về những vấn đề tương tự, tiếng nói lương tâm, vốn là lời cảnh báo được chân ngã gửi đến cho y từ cõi nơi kho chứa tri thức của y tồn tại, sẽ bảo đảm rằng những sai lầm tương tự không bị lặp lại lần thứ hai. Y nhận ra vì sao điều đáng mong muốn là lần tới mình được sinh vào một nhóm người hay một quốc gia nhất định, bởi vì qua một sự sinh ra như thế y có thể có được môi trường mà mình cần; vì lý do này, về phần mình y không bao giờ thiếu sự hợp tác khi được cho thấy kiếp sống tương lai của mình. Y biết quá rõ rằng kiếp sống được sắp xếp cho y là kiếp sống thích hợp nhất để bảo đảm sự tiến bộ lớn nhất của y. Đạt được điều này trong thời gian ngắn nhất có thể là điều mà mọi chân ngã đều mong muốn.

“Although we all enjoy our time lived at the egoic level, we have to leave it again in obedience to the law of evolution. We all want to leave when our time comes, for we feel within us the desire for further expression and experience; we know that progress in our evolution can only be achieved through countless lives, lived in the physical world. We realise that we cannot respond fully to the vibrations ruling at the causal level, until we have evolved to a stage where it is no longer necessary for us to be reborn again. That time comes when we have learnt all the lessons which life at the physical level can teach us and then our attention is drawn to other spheres of activity, far beyond the physical or astral levels. Egos who have reached this stage of perfect manhood sometimes decide, of their own volition, to remain in touch with the lower planes of consciousness, merely because of their great love of the human race and their desire to help mankind in its evolution. It is well that there are such great souls, for otherwise the progress of humanity would be much slower than it is at present.

“Mặc dù tất cả chúng ta đều hưởng thời gian sống ở cấp độ chân ngã, chúng ta vẫn phải rời nó một lần nữa để tuân theo định luật tiến hoá. Tất cả chúng ta đều muốn rời đi khi thời điểm đến, vì chúng ta cảm thấy trong mình khát vọng được biểu lộ và trải nghiệm thêm; chúng ta biết rằng sự tiến bộ trong tiến hoá của mình chỉ có thể đạt được qua vô số kiếp sống trong thế giới hồng trần. Chúng ta nhận ra rằng mình không thể đáp ứng trọn vẹn với những rung động chi phối ở cấp độ nguyên nhân cho đến khi đã tiến hoá đến một giai đoạn mà việc tái sinh không còn cần thiết nữa. Thời điểm ấy đến khi chúng ta đã học xong mọi bài học mà đời sống ở cấp độ hồng trần có thể dạy cho chúng ta, và khi ấy sự chú ý của chúng ta được hướng đến những khối cầu hoạt động khác, vượt xa các cấp độ hồng trần hay cảm dục. Những chân ngã đã đạt đến giai đoạn nhân tính hoàn hảo này đôi khi tự nguyện quyết định vẫn giữ liên hệ với các cõi tâm thức thấp hơn, chỉ vì tình thương lớn lao của họ đối với nhân loại và khát vọng giúp nhân loại trong tiến hoá của mình. Thật tốt là có những linh hồn vĩ đại như thế, vì nếu không, sự tiến bộ của nhân loại sẽ chậm hơn hiện nay rất nhiều.”

“My description of the method of descent into rebirth should now not be difficult for you to understand, if you remember my previous analogy. The naked ego must clothe himself once again—in other words obtain three new bodies through which he can function on the planes of consciousness applicable to them: The first body he must obtain is made of mental matter (his underclothes) and to achieve this he turns his attention to his permanent atom in which, as you will remember, he has retained molecules corresponding to all the spheres which exist at the mental level. Taking the mental atom, he vivifies it and begins to draw around it other mental atoms from the matter which exists at the mental level, in the same way that a crystal, dropped into a solution, will cause other crystals to form around it. The matter that is drawn round him takes the form of his last mental body—the one he dropped at the end of his sojourn at the mental level—with one small difference; it is a better mental vehicle of consciousness than the last one, because it includes in it the result of his mental efforts in his past incarnation. He returns to this new life with a mental body that contains all the knowledge which he has built up in all his past lives, but still has no knowledge at all concerning the subjects he has so far neglected to study. This shows why some men in the world differ so greatly from others; their intellects are different because they possess different grades of mental bodies. Therefore a man who is the possessor of a fine intellect, acquired through experience in many lives, should never take advantage of one who has less experience than himself—his task is to help not to hinder all his younger brothers.

“Giờ đây, mô tả của tôi về phương pháp giáng xuống để tái sinh hẳn không khó cho anh thấu hiểu, nếu anh nhớ phép loại suy trước đây của tôi. Chân ngã trần trụi phải khoác lại y phục một lần nữa—nói cách khác, phải có được ba thể mới để y có thể hoạt động trên các cõi tâm thức thích hợp với chúng: thể thứ nhất y phải có được được tạo bằng vật chất trí tuệ (đồ lót của y), và để đạt được điều này y hướng sự chú ý đến nguyên tử trường tồn của mình, trong đó, như anh sẽ nhớ, y đã giữ lại các phân tử tương ứng với mọi khối cầu hiện hữu ở cấp độ trí tuệ. Lấy nguyên tử trí tuệ ấy, y tiếp sinh lực cho nó và bắt đầu hút quanh nó những nguyên tử trí tuệ khác từ vật chất hiện hữu ở cấp độ trí tuệ, cũng như một tinh thể, khi được thả vào một dung dịch, sẽ khiến các tinh thể khác hình thành quanh nó. Vật chất được hút quanh y mang hình dạng của thể trí cuối cùng của y—thể mà y đã bỏ lại vào cuối thời gian lưu trú của mình ở cấp độ trí tuệ—với một khác biệt nhỏ; đó là một vận cụ tâm thức trí tuệ tốt hơn thể trước, vì nó bao gồm kết quả những nỗ lực trí tuệ của y trong lần lâm phàm trước. Y trở lại sự sống mới này với một thể trí chứa đựng toàn bộ tri thức mà y đã xây dựng trong tất cả các kiếp quá khứ, nhưng vẫn hoàn toàn không có tri thức nào về những chủ đề mà cho đến nay y đã bỏ bê không học. Điều này cho thấy vì sao một số người trong thế giới khác biệt quá lớn với những người khác; trí năng của họ khác nhau vì họ sở hữu những cấp độ thể trí khác nhau. Vì thế, một người sở hữu một trí năng tinh tế, có được nhờ kinh nghiệm qua nhiều kiếp sống, không bao giờ nên lợi dụng người có ít kinh nghiệm hơn mình—nhiệm vụ của y là giúp đỡ chứ không phải cản trở tất cả những người em trẻ hơn của mình.

“After creating for himself a new mental body, he goes a step further. He turns his attention to the astral atom and vivifies that. It at once gathers round itself other astral matter of exactly the same kind that he had in his last astral body, at the time when he dropped it. This means that all the emotional progress he made in his last life is included in the new astral body (his suit of clothes) which will serve him for this new existence. This new body contains within it the results of the work he did during the years he lived under the astral plane conditions; for example if he had studied music deeply he will have an urge, in his next physical life, to take up music either as a profession or as a relaxation, and the development of musical talent will be very easy for him. The new astral body is much more sensitive than the old one; that is to say, it is able to register emotions more strongly than its predecessor.

“Sau khi tạo cho mình một thể trí mới, y tiến thêm một bước. Y hướng sự chú ý đến nguyên tử cảm dục và tiếp sinh lực cho nó. Lập tức nó tập hợp quanh mình vật chất cảm dục khác đúng cùng loại mà y đã có trong thể cảm dục cuối cùng của mình vào lúc y bỏ nó lại. Điều này có nghĩa là toàn bộ tiến bộ cảm xúc mà y đã đạt được trong kiếp sống trước đều được bao gồm trong thể cảm dục mới (bộ quần áo của y), thể sẽ phục vụ y trong kiếp hiện hữu mới này. Thể mới này chứa trong nó kết quả công việc y đã làm trong những năm y sống dưới các điều kiện của cõi cảm dục; chẳng hạn nếu y đã học nhạc một cách sâu sắc thì trong kiếp sống hồng trần kế tiếp y sẽ có một thôi thúc muốn theo đuổi âm nhạc hoặc như một nghề nghiệp hoặc như một sự thư giãn, và việc phát triển tài năng âm nhạc sẽ rất dễ dàng đối với y. Thể cảm dục mới nhạy cảm hơn nhiều so với thể cũ; nghĩa là nó có thể ghi nhận cảm xúc mạnh hơn thể tiền nhiệm của nó.

“He must next have a physical body (his overcoat). This is acquired through the medium of being born in the normal way into a family in the world. The body is not necessarily a better type than that of the previous incarnation—much depends on the lessons which have to be learned in the new life, and the body given is the one needed at the moment. The first decision to be made is what changes in the character have to be accomplished. The answer to this decides various matters, the first of which is into which nation an ego will be born—for every nation has outstanding qualities. As you are British, I shall take your nation as an example of this. Devotion to duty is perhaps the most outstanding quality of the British character. If the ego coming into incarnation has, in his previous lives, refused to face up to difficulties—he might even have been so cowardly as to have committed suicide in one of his former lives—he obviously lacks the qualities that are so strongly a part of the British nation, so a life as a member of that group of families would undoubtedly build into the character of that individual what he needs at the moment, and at the end of that life his character will have altered considerably. When the nation in which the ego is to be born has been decided upon, it becomes necessary for a suitable family in that nation to be chosen—this is an intricate matter demanding much attention to detail and is one which is never left to chance. Although there might be dozens of families which could give him the environment he needs, it might be impossible for him to be considered for many of these because his actions in the past may have been such that he has not deserved the privilege of being born into such desirable circumstances. A family must be chosen through which he will come into contact with some of the personal links he has made in the past. Links are made through love, hate, marriage, parentage, being the father of an illegitimate child, deserting a woman in trouble and so on, and any karma made in these ways must be worked out. The question of heredity is another decision which has to be made and consideration is given as to whether the ego deserves health or must suffer from diseases; whether he is to be plain or handsome; the type of brain he deserves. The personal suitability of the parents receives consideration, the type of parents and the suitability of their marriage partnerships; whether the ego is to be born to a mother who wants a child and will therefore do all in her power to give him a suitable start in life; to parents who will treat him as a separate ego, considering his aptitudes, when a child, such as can be revealed by an urge to study music—which he may have acquired during his last astral visit; to those who will frustrate him by paying no attention to such urges and interfere with his movements even when he is grown up; to people who will show tolerance in regard to religion or to those who will not.

“Tiếp theo y phải có một thể xác (áo khoác ngoài của y). Thể này có được qua trung gian việc được sinh ra theo cách bình thường vào một gia đình trong thế giới. Thể ấy không nhất thiết là một kiểu tốt hơn thể của lần lâm phàm trước—nhiều điều tùy thuộc vào những bài học phải được học trong kiếp sống mới, và thể được ban cho là thể cần thiết vào lúc đó. Quyết định đầu tiên phải được đưa ra là những thay đổi nào trong tính cách cần phải được hoàn thành. Câu trả lời cho điều này quyết định nhiều vấn đề khác nhau, trước hết là chân ngã sẽ sinh vào quốc gia nào—vì mỗi quốc gia đều có những phẩm tính nổi bật. Vì anh là người Anh, tôi sẽ lấy quốc gia của anh làm ví dụ cho điều này. Tận tụy với bổn phận có lẽ là phẩm tính nổi bật nhất của tính cách người Anh. Nếu chân ngã đang lâm phàm, trong các kiếp trước của mình, đã từ chối đối diện với khó khăn—thậm chí có thể đã hèn nhát đến mức tự sát trong một kiếp trước nào đó—thì hiển nhiên y thiếu những phẩm tính vốn là phần rất mạnh mẽ của quốc gia Anh, vì vậy một kiếp sống như một thành viên của nhóm gia đình ấy chắc chắn sẽ xây dựng vào tính cách của cá nhân đó điều mà y cần vào lúc ấy, và vào cuối kiếp sống đó tính cách của y sẽ thay đổi đáng kể. Khi quốc gia mà chân ngã sẽ sinh vào đã được quyết định, thì cần phải chọn một gia đình thích hợp trong quốc gia ấy—đây là một vấn đề phức tạp đòi hỏi nhiều chú ý đến chi tiết và không bao giờ bị phó mặc cho ngẫu nhiên. Mặc dù có thể có hàng chục gia đình có thể cho y môi trường mà y cần, nhưng có thể y không thể được xét đến trong nhiều gia đình ấy vì những hành động của y trong quá khứ có thể đã khiến y không xứng đáng với đặc ân được sinh vào những hoàn cảnh đáng mong muốn như vậy. Phải chọn một gia đình qua đó y sẽ tiếp xúc với một số liên kết cá nhân mà y đã tạo ra trong quá khứ. Các liên kết được tạo ra qua tình yêu, thù ghét, hôn nhân, quan hệ cha mẹ con cái, làm cha của một đứa con ngoài giá thú, bỏ rơi một người phụ nữ đang hoạn nạn, v.v., và bất kỳ nghiệp quả nào được tạo ra theo những cách ấy đều phải được giải quyết. Vấn đề di truyền là một quyết định khác phải được đưa ra, và người ta cân nhắc xem chân ngã có xứng đáng được khỏe mạnh hay phải chịu bệnh tật; y sẽ bình thường hay đẹp đẽ; kiểu bộ não mà y xứng đáng có. Sự thích hợp cá nhân của cha mẹ được xem xét, kiểu cha mẹ và sự thích hợp của quan hệ hôn phối của họ; liệu chân ngã sẽ được sinh ra với một người mẹ muốn có con và do đó sẽ làm mọi điều trong khả năng của mình để cho y một khởi đầu thích hợp trong đời; với cha mẹ sẽ đối xử với y như một chân ngã riêng biệt, lưu ý đến các năng khiếu của y khi còn là một đứa trẻ, chẳng hạn như có thể được bộc lộ qua một thôi thúc học nhạc—điều mà y có thể đã đạt được trong chuyến viếng thăm cảm dục cuối cùng của mình; hay với những người sẽ làm y thất vọng vì không chú ý gì đến những thôi thúc như thế và can thiệp vào các hoạt động của y ngay cả khi y đã trưởng thành; với những người sẽ tỏ ra khoan dung về tôn giáo hay với những người sẽ không như vậy.

“These arrangements having been made, and a suitable astrological moment chosen, the child is born. It is now the task of the ego to overcome any obstacles of birth and environment with which he has been faced; sometimes men who have ultimately been leaders of nations have been born into poor and frustrating homes. The man who succeeds in overcoming the obstacles put in his path will make certain of associating with a family of high principles in desirable circumstances when his case is again considered for a further life in the physical world.

“Khi những sắp đặt này đã được thực hiện, và một thời điểm chiêm tinh thích hợp đã được chọn, đứa trẻ được sinh ra. Giờ đây nhiệm vụ của chân ngã là vượt qua bất kỳ chướng ngại nào của sự sinh ra và môi trường mà y phải đối diện; đôi khi những người cuối cùng đã trở thành lãnh tụ quốc gia lại được sinh ra trong những gia đình nghèo khó và gây thất vọng. Người nào thành công trong việc vượt qua những chướng ngại đặt trên đường mình sẽ chắc chắn được kết hợp với một gia đình có nguyên tắc cao trong những hoàn cảnh đáng mong muốn khi trường hợp của y lại được xét đến cho một kiếp sống nữa trong thế giới hồng trần.

“Before concluding I must touch on the vital subject of child upbringing. From what I have told you, you can realise that an ego can be much helped or hindered in his evolution by the attitude which his parents adopt to this subject. There are relatively so few people who have focused their attention upon the needs of children that it is now becoming difficult to find families suitable for the task of guiding advanced egos in their journeys.

“Trước khi kết thúc tôi phải đề cập đến chủ đề thiết yếu là việc nuôi dạy trẻ em. Từ những gì tôi đã nói với anh , anh có thể chứng nghiệm rằng một chân ngã có thể được giúp đỡ rất nhiều hoặc bị cản trở trong tiến hoá của mình bởi thái độ mà cha mẹ y áp dụng đối với chủ đề này. Có tương đối quá ít người đã tập trung sự chú ý vào các nhu cầu của trẻ em đến nỗi hiện nay ngày càng khó tìm được những gia đình thích hợp cho nhiệm vụ hướng dẫn các chân ngã tiến bộ trong những hành trình của họ.

“In order that you may realise the extreme importance of the upbringing of children, I shall first mention a few of the salient facts concerning human development. The development of man is divided into seven-year periods, each marked by the appearance of a new power or quality. These steps are intimately associated with the developmental activities of the ductless glands in the physical body. What is termed “birth” is indeed only the birth of the visible physical body which comes to its high state of efficiency in a shorter time than do the invisible bodies of the ego. The physical fœtus is enclosed in the protecting womb of the mother during gestation; in like manner the subtle vehicles—the etheric, astral and mental bodies of which I have endeavoured to give you some small degree of understanding in these talks—are enclosed in protecting envelopes of ether, desire stuff and mind stuff within the womb of the Universe, or Nature, until such time as they are sufficiently mature to withstand the conditions of the world. Physical development in the womb cannot be hastened so, in like manner, no attempt should be made to hasten the development of the non-physical bodies whilst still protected in the womb of nature—this must just be allowed to proceed, under suitable child guidance. Therefore parents must be prepared to be guides, counselors and friends of their children till they reach the age of twenty-one years, at which time their mental bodies are in the condition to take over; then, in order that the child may become a self-confident adult, all parental control must cease. Thereafter a parent should only proffer advice if this is asked for, on account of his greater experience. To keep an adult attached to parental ‘apron strings’ as is frequently done on one pretext or another by selfish parents is damaging to both child and parent.

“Để anh có thể chứng nghiệm tầm quan trọng cực độ của việc nuôi dạy trẻ em, trước hết tôi sẽ nêu ra một vài sự kiện nổi bật liên quan đến sự phát triển của con người. Sự phát triển của con người được chia thành các giai đoạn bảy năm, mỗi giai đoạn được đánh dấu bằng sự xuất hiện của một quyền năng hay phẩm tính mới. Những bước này gắn bó mật thiết với các hoạt động phát triển của các tuyến không ống trong thể xác. Điều được gọi là “sinh ra” thật ra chỉ là sự sinh ra của thể xác hữu hình, thể đạt đến trạng thái hiệu quả cao của nó trong thời gian ngắn hơn các thể vô hình của chân ngã. Thai nhi hồng trần được bao bọc trong tử cung bảo vệ của người mẹ trong thời kỳ thai nghén; cũng vậy, các vận cụ vi tế—thể dĩ thái, thể cảm dục và thể trí mà trong những cuộc nói chuyện này tôi đã cố gắng đem lại cho anh một mức độ hiểu biết nào đó—được bao bọc trong những lớp vỏ bảo vệ bằng dĩ thái, chất liệu dục vọng và chất liệu trí tuệ trong tử cung của Vũ trụ, hay Thiên nhiên, cho đến khi chúng đủ trưởng thành để chịu đựng các điều kiện của thế giới. Sự phát triển hồng trần trong tử cung không thể bị thúc ép; cũng vậy, không nên có bất kỳ nỗ lực nào nhằm thúc đẩy sự phát triển của các thể phi hồng trần khi chúng vẫn còn được bảo vệ trong tử cung của thiên nhiên—điều này chỉ nên được để cho tiến triển dưới sự hướng dẫn trẻ em thích hợp. Vì thế cha mẹ phải sẵn sàng làm người hướng dẫn, cố vấn và anh hữu của con cái mình cho đến khi chúng đạt tuổi hai mươi mốt, lúc mà các thể trí của chúng ở trong tình trạng có thể đảm nhận; rồi, để đứa trẻ có thể trở thành một người trưởng thành tự tin, mọi sự kiểm soát của cha mẹ phải chấm dứt. Sau đó, cha mẹ chỉ nên đưa ra lời khuyên nếu điều này được yêu cầu, do kinh nghiệm lớn hơn của mình. Giữ một người trưởng thành bị ràng buộc vào ‘dây tạp dề’ của cha mẹ như thường được làm dưới cớ này hay cớ khác bởi những cha mẹ ích kỷ là điều gây tổn hại cho cả con lẫn cha mẹ.

“The first three septennial periods of man’s development are marked by the birth, or coming to completion, of the etheric body at the age of seven years, the time of the second dentition, the astral or desire body at fourteen years, the time of puberty, whilst the mental body which completes the man does not come into full activity till the age of twenty-one. In the newborn child only the negative qualities of these bodies are active and, before it can make full use of its different vehicles, the positive qualities of each must be ripened. During the first seven years of life, the forces operating along the negative pole of the ether are active; thus children of this age have clairvoyance of the same negative character as mediums. This is the reason why it is quite normal for young children to have playmates invisible to grown-ups. Later, in the same way, the forces working in the desire body give only a passive capacity for feeling until the positive qualities develop; although emotions are freely displayed at this time, they are of a fleeting quality, never lasting. The years between fourteen and twenty-one, when the desire nature is boisterous and uncontrolled, are perhaps the most difficult years for parents to deal with, for they must learn to practise the utmost tolerance and understanding at this time. Children are extremely sensitive to the forces working along the negative pole of the mind; this is the reason why they are so extremely imitative and teachable and must be understandingly dealt with till the positive qualities take over. As soon as this happens the ego is ready and eager to stand alone, and must be allowed to do so. He will make mistakes, we have all done so, it is one of the most important ways in which we learn our lessons.

“Ba giai đoạn bảy năm đầu tiên trong sự phát triển của con người được đánh dấu bởi sự sinh ra, hay hoàn tất, của thể dĩ thái ở tuổi bảy, thời kỳ thay răng lần thứ hai, của thể cảm dục hay thể dục vọng ở tuổi mười bốn, thời kỳ dậy thì, trong khi thể trí hoàn tất con người thì không đi vào hoạt động đầy đủ cho đến tuổi hai mươi mốt. Ở đứa trẻ mới sinh chỉ có các phẩm tính âm của những thể này là hoạt động, và trước khi nó có thể sử dụng đầy đủ các vận cụ khác nhau của mình, các phẩm tính dương của mỗi thể phải được làm cho chín muồi. Trong bảy năm đầu đời, các mãnh lực hoạt động dọc theo cực âm của dĩ thái là hoạt động; vì thế trẻ em ở tuổi này có thông nhãn mang cùng tính chất âm như các đồng tử. Đây là lý do vì sao việc trẻ nhỏ có những anh chơi vô hình đối với người lớn là hoàn toàn bình thường. Về sau, cũng theo cách ấy, các mãnh lực hoạt động trong thể dục vọng chỉ đem lại một khả năng cảm nhận thụ động cho đến khi các phẩm tính dương phát triển; mặc dù cảm xúc được biểu lộ tự do vào thời kỳ này, chúng có phẩm tính thoáng qua, không bao giờ kéo dài. Những năm từ mười bốn đến hai mươi mốt, khi bản chất dục vọng sôi nổi và không được kiểm soát, có lẽ là những năm khó xử lý nhất đối với cha mẹ, vì vào lúc này họ phải học cách thực hành sự khoan dung và thấu hiểu cao độ nhất. Trẻ em cực kỳ nhạy cảm với các mãnh lực hoạt động dọc theo cực âm của trí tuệ; đây là lý do vì sao chúng rất bắt chước và dễ dạy đến thế, và phải được đối xử với sự thấu hiểu cho đến khi các phẩm tính dương tiếp quản. Ngay khi điều này xảy ra, chân ngã đã sẵn sàng và háo hức đứng một mình, và phải được phép làm như vậy. Y sẽ phạm sai lầm, tất cả chúng ta đều đã như thế, đó là một trong những cách quan trọng nhất để chúng ta học các bài học của mình.

“In the early days of man’s appearance on earth he received little assistance from his parents who themselves had insufficient experience in evolution to give help to others, but in these later days conditions are so different that parentcraft should be regarded as a science which it is necessary for all to study. The parents who practise planned parenthood and have only two or three children to care for, who have the necessary time to study and are prepared to do so are able to equip themselves with the knowledge through which they can become suitable guides for children.Parents must realise that children are not playthings given to them to do with what they will, but they are fellow beings who have been entrusted to their care and guidance by the powers-that-be. The suitability of the guidance given to these fellow beings is one of the most important tasks humanity is given to perform; under the law of karma parents will be held responsible for the manner in which they carry out this work and their own journey along the evolutionary path will be hastened or retarded accordingly.

“Trong những ngày đầu con người xuất hiện trên trái đất, y nhận được rất ít sự trợ giúp từ cha mẹ, những người bản thân họ có quá ít kinh nghiệm trong tiến hoá để giúp đỡ người khác, nhưng trong những ngày sau này các điều kiện đã khác đến mức việc làm cha mẹ nên được xem như một khoa học mà mọi người đều cần nghiên cứu. Những cha mẹ thực hành việc làm cha mẹ có kế hoạch và chỉ có hai hay ba con để chăm sóc, có thời gian cần thiết để học hỏi và sẵn sàng làm như vậy, có thể trang bị cho mình tri thức nhờ đó họ có thể trở thành những người hướng dẫn thích hợp cho trẻ em. Cha mẹ phải chứng nghiệm rằng trẻ em không phải là đồ chơi được ban cho họ để muốn làm gì thì làm, mà là những đồng loại đã được giao phó cho sự chăm sóc và hướng dẫn của họ bởi các quyền lực đang cai quản. Sự thích hợp của sự hướng dẫn được trao cho những đồng loại này là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất mà nhân loại được giao thực hiện; dưới định luật nghiệp quả, cha mẹ sẽ bị quy trách nhiệm về cách thức họ thực hiện công việc này và hành trình riêng của họ trên con đường tiến hoá sẽ được thúc đẩy hay làm chậm lại tương ứng.

“All normal girls look forward to marriage, having a home of their own and children; this is good, because it is of primary importance that a small child should be reared in a household where it is loved and wanted. To be successful and efficient wives, however, girls should, before marriage, give attention to such subjects as household management and domestic routine; the spending of money so as to get the best value for it; the selection, preparation and cooking of nutritious foodstuffs; they should understand the importance of sufficient rest and sleep; the benefits to be derived from fresh air and sunlight and the importance of both physical and mental culture. But in order to be successful mothers, they require to study still more deeply, for they should begin to delve into some of the mysteries of Nature. In this study they should not be alone, for family responsibilities should be shared equally between fathers and mothers. Each has a part to play and a contribution to make in the upbringing of children. Wise parentcraft can only be practiced by parents who have made at least some study of human development and who are willing to make some personal sacrifices. Adequately to perform the tasks allotted to them, parents must be prepared to teach by their own example, because there is nothing in the world so imitative as a child—in fact imitation is its main method of growth—so they must train themselves never to do anything they would be unwilling to see copied.

“Mọi cô gái bình thường đều mong chờ hôn nhân, có một mái ấm riêng và con cái; điều này là tốt, vì điều tối quan trọng là một đứa trẻ nhỏ phải được nuôi dưỡng trong một gia đình nơi nó được yêu thương và được mong muốn. Tuy nhiên, để trở thành những người vợ thành công và hữu hiệu, trước khi kết hôn các cô gái nên chú ý đến những chủ đề như quản lý gia đình và nề nếp nội trợ; chi tiêu tiền bạc sao cho đạt giá trị tốt nhất; chọn lựa, chuẩn bị và nấu nướng các thực phẩm bổ dưỡng; họ nên hiểu tầm quan trọng của sự nghỉ ngơi và giấc ngủ đầy đủ; những lợi ích có được từ không khí trong lành và ánh nắng mặt trời, và tầm quan trọng của cả việc trau dồi hồng trần lẫn trí tuệ. Nhưng để trở thành những người mẹ thành công, họ cần nghiên cứu còn sâu hơn nữa, vì họ nên bắt đầu đào sâu vào một số huyền nhiệm của Thiên nhiên. Trong việc học này họ không nên đơn độc, vì trách nhiệm gia đình phải được chia sẻ bình đẳng giữa cha và mẹ. Mỗi người đều có một vai trò phải đảm nhận và một đóng góp phải thực hiện trong việc nuôi dạy con cái. Nghệ thuật làm cha mẹ minh triết chỉ có thể được thực hành bởi những cha mẹ đã ít nhất có nghiên cứu nào đó về sự phát triển của con người và sẵn sàng thực hiện một số hy sinh cá nhân. Để thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ được giao cho mình, cha mẹ phải sẵn sàng dạy dỗ bằng chính tấm gương của mình, bởi vì trên thế giới không có gì bắt chước nhiều như một đứa trẻ—thật vậy, sự bắt chước là phương pháp tăng trưởng chính của nó—vì thế họ phải tự rèn luyện để không bao giờ làm bất cứ điều gì mà họ không muốn thấy bị sao chép.

“In the guiding of the emotional development of a child there are two subjects which should be freely discussed in the home from the child’s earliest years—one is sex and the other is religion. In their preparation for parenthood parents will have studied biology as affecting the plant, animal and human kingdoms; hence, they should have no difficulty in telling quite small children the principles of reproduction of the different kingdoms, as suited to their years and understanding. For the very young they can make up fascinating fairy stories dealing with the plant kingdom. They can show the child the pistillate flowers, which they will liken to girls, and the staminate flowers, which they will liken to boys, they can show them the pollen in the anthers of the flowers and the pollen baskets on the legs of bees.

“Trong việc hướng dẫn sự phát triển cảm xúc của một đứa trẻ có hai chủ đề nên được thảo luận tự do trong gia đình từ những năm đầu tiên của đứa trẻ—một là giới tính và một là tôn giáo. Trong sự chuẩn bị cho vai trò làm cha mẹ, cha mẹ sẽ đã nghiên cứu sinh học liên quan đến giới thực vật, giới động vật và giới nhân loại; vì thế, họ không nên gặp khó khăn gì trong việc nói cho những đứa trẻ còn rất nhỏ biết các nguyên lý sinh sản của những giới khác nhau, phù hợp với tuổi tác và sự thấu hiểu của chúng. Đối với trẻ rất nhỏ, họ có thể bịa ra những truyện thần tiên hấp dẫn liên quan đến giới thực vật. Họ có thể chỉ cho đứa trẻ những bông hoa cái, mà họ sẽ ví như các bé gái, và những bông hoa đực, mà họ sẽ ví như các bé trai; họ có thể chỉ cho chúng phấn hoa trong các bao phấn của hoa và các giỏ phấn trên chân ong.

“In the same way religion can be dealt with in an ordinary manner. No child can be expected to understand the doctrines and dogmas of the different religions; the consideration of that can wait till he has reached the age of thinking for himself. Religious instruction applicable to the age we are living in, and the one soon to come, is to be found in the life and teachings of Christ during His earthly sojourn in the body of Jesus, in that of the Lord Buddha and the other Founders of Religions. If we all knew and appreciated nothing else, we should have splendid patterns to live up to. Therefore let the teaching of religion to the young be that of the great dramas of the lives of these Teachers—lives which were sublime lessons of the possibilities of man. As with sex instruction this must be presented in a form suitable to the stage of understanding of the child—from a Bible, from stories written in more simple language and above all from parental example. If parents know and put into practice the Sermon on the Mount their children will exhibit those ‘patterns of reaction to life’ which will serve as a solid foundation of the understanding of Universal Love and Universal Brotherhood.

“Cũng theo cách ấy, tôn giáo có thể được đề cập đến một cách bình thường. Không thể mong đợi một đứa trẻ hiểu được các giáo lý và tín điều của những tôn giáo khác nhau; việc xem xét điều đó có thể chờ cho đến khi nó đạt đến tuổi tự suy nghĩ. Sự giáo huấn tôn giáo thích hợp với thời đại chúng ta đang sống, và thời đại sắp đến, được tìm thấy trong cuộc đời và giáo huấn của Đức Christ trong thời gian Ngài lưu lại trên trần thế trong thể của Đức Jesus, trong cuộc đời của Đức Phật và các Đấng Sáng Lập Tôn Giáo khác. Nếu tất cả chúng ta không biết và không trân trọng gì khác ngoài điều đó, chúng ta cũng đã có những mô hình tuyệt vời để sống theo. Vì thế, hãy để việc dạy tôn giáo cho người trẻ là việc dạy về những vở kịch lớn lao trong cuộc đời của các Huấn sư này—những cuộc đời là những bài học siêu tuyệt về các khả năng của con người. Cũng như với giáo dục giới tính, điều này phải được trình bày dưới một hình thức thích hợp với giai đoạn thấu hiểu của đứa trẻ—từ Kinh Thánh, từ những câu chuyện được viết bằng ngôn ngữ đơn giản hơn, và trên hết là từ tấm gương của cha mẹ. Nếu cha mẹ biết và thực hành Bài Giảng trên Núi, con cái họ sẽ biểu lộ những ‘mô hình phản ứng với cuộc sống’ sẽ làm nền tảng vững chắc cho sự thấu hiểu về Tình Thương Phổ Quát và Huynh Đệ Phổ Quát.

“The parents who have acquired tolerance and understanding, through schooling themselves to see through the eyes of their children, approach things from their standpoint, touch with their fingers, question with their minds, will, when their task of child education is finished, be in the very best position for getting to know themselves and for helping their fellow men tolerantly and wisely, which should be their task at this period of their own development—a task which can in its turn bring into being the positive qualities of their own spiritual make-up.

“Những cha mẹ đã đạt được sự khoan dung và thấu hiểu, bằng cách tự rèn luyện để nhìn qua đôi mắt của con cái mình, tiếp cận sự vật từ quan điểm của chúng, chạm bằng ngón tay của chúng, đặt câu hỏi bằng trí tuệ của chúng, thì khi nhiệm vụ giáo dục con cái của họ kết thúc, sẽ ở vào vị thế tốt nhất để tự biết mình và để giúp đỡ đồng loại của mình một cách khoan dung và minh triết, điều vốn nên là nhiệm vụ của họ trong giai đoạn này của sự phát triển riêng của họ—một nhiệm vụ mà đến lượt nó có thể làm phát sinh các phẩm tính dương của cấu tạo tinh thần riêng của họ.

“I have been able to give you only a very brief outline of the importance of parental guidance and example in child education—in the time at my disposal I am unable to go more deeply into the question of methods for such education. All I can do is to point out that the need for this has at no time been greater or more urgent than it is in the world today. If parents continue to shirk their responsibilities, if they are unwilling to sacrifice their ‘pleasures’ in order to take up the task of parentcraft, and if there continue to be as many broken homes as there now are, in which the love and understanding necessary for this task are no longer present, then consideration will have to be given to the question of whether upbringing of children—in age groups—in institutions by trained and understanding people might perhaps be the wisest solution of the problem. It would seem as if this is at least a field of enquiry which will have to be explored. Naturally there are arguments which can be brought forward in defence of both systems, but if the considered decision is in favour of home training, then some steps must surely be taken towards fostering wise and instructed parentcraft.

“Tôi chỉ có thể cho anh một phác thảo rất ngắn gọn về tầm quan trọng của sự hướng dẫn và tấm gương của cha mẹ trong việc giáo dục trẻ em—trong thời gian tôi có, tôi không thể đi sâu hơn vào vấn đề các phương pháp cho sự giáo dục ấy. Tất cả những gì tôi có thể làm là chỉ ra rằng nhu cầu về điều này chưa bao giờ lớn hơn hay cấp bách hơn trong thế giới ngày nay. Nếu cha mẹ tiếp tục trốn tránh trách nhiệm của mình, nếu họ không sẵn lòng hy sinh những ‘thú vui’ của mình để đảm nhận nhiệm vụ làm cha mẹ, và nếu tiếp tục có nhiều gia đình tan vỡ như hiện nay, trong đó tình thương và sự thấu hiểu cần thiết cho nhiệm vụ này không còn hiện diện nữa, thì sẽ phải xem xét đến vấn đề liệu việc nuôi dạy trẻ em—theo nhóm tuổi—trong các cơ sở do những người được đào luyện và có sự thấu hiểu đảm trách có lẽ có phải là giải pháp minh triết nhất cho vấn đề hay không. Có vẻ như đây ít nhất là một lĩnh vực khảo cứu sẽ phải được thăm dò. Dĩ nhiên có những lập luận có thể được đưa ra để bảo vệ cả hai hệ thống, nhưng nếu quyết định sau khi cân nhắc là nghiêng về việc huấn luyện tại gia đình, thì chắc chắn phải có một số bước được thực hiện nhằm nuôi dưỡng nghệ thuật làm cha mẹ minh triết và có hiểu biết.

“I am satisfied that you know that we are not in the world by accident. You have realised that countless lives at the physical level are necessary if we are to gain sufficient experience to free us from the necessity of continuous births and deaths. You have proved for yourself that death, which is feared by so many people in the world, is a mere passing from one state of consciousness to another and that this passing should never be dreaded by anyone, even though it is sometimes preceded by a certain amount of physical pain. You are aware that the inequalities of life are not caused through a Divine Creator favouring some and not others, but that the inequalities are due to the different stages at which men stand at the moment on their journey towards perfection, or are produced by unwise actions on the part of such individuals in their past lives. I am sure you now realise that no work you do at this level is ever wasted, for at the end of each incarnation you carry your sheaves with you, to become part of the permanent atom, which is your reservoir of knowledge.

“Tôi hài lòng rằng anh biết chúng ta không ở trong thế giới này một cách ngẫu nhiên. anh đã chứng nghiệm rằng vô số kiếp sống ở cấp độ hồng trần là cần thiết nếu chúng ta muốn đạt đủ kinh nghiệm để giải thoát mình khỏi sự cần thiết của những lần sinh và tử liên tục. anh đã tự chứng minh rằng cái chết, điều bị quá nhiều người trong thế giới sợ hãi, chỉ là một sự chuyển từ trạng thái tâm thức này sang trạng thái khác và rằng sự chuyển tiếp này không bao giờ nên bị ai sợ hãi, dù đôi khi nó có thể được đi trước bởi một mức độ đau đớn hồng trần nào đó. anh biết rằng những bất bình đẳng của cuộc sống không phải do một Đấng Sáng Tạo thiêng liêng ưu ái người này mà không ưu ái người khác, mà những bất bình đẳng ấy là do những giai đoạn khác nhau mà con người đang đứng vào lúc này trên hành trình hướng đến sự hoàn thiện, hoặc được tạo ra bởi những hành động thiếu minh triết của chính những cá nhân ấy trong các kiếp trước. Tôi chắc rằng giờ đây anh chứng nghiệm rằng không công việc nào anh làm ở cấp độ này là bị phí uổng, vì vào cuối mỗi lần lâm phàm anh mang những bó lúa của mình theo, để trở thành một phần của nguyên tử trường tồn, vốn là kho chứa tri thức của anh.

“After I leave you today, you will once more be the sole arbiter of your destiny. I hope that you will continue to follow up the link that has been re-made between you and Daphne, for you can help her in many things and she can help you. You are both destined to work together in a future life and the more you come to understand each other now, the more progress will be made when the time comes for you to live your lives together under physical plane conditions. It is just possible that before you pass over to the next world you may come across someone living at this level to whom you may feel attracted, and whom you may even want to marry. If this does happen, explain to Daphne what you contemplate doing, for deception has its repercussions, even in a case where one person is living in the astral world and the other in the physical world. Deception is always unwise, for it creates difficulties, which may take lives to eradicate completely.

“Sau khi tôi rời anh hôm nay, một lần nữa anh sẽ là người phân xử duy nhất cho định mệnh của mình. Tôi hy vọng rằng anh sẽ tiếp tục theo đuổi mối liên kết đã được tái lập giữa anh và Daphne, vì anh có thể giúp cô ấy trong nhiều việc và cô ấy có thể giúp anh. Hai anh đều được định sẵn sẽ cùng làm việc với nhau trong một kiếp sống tương lai, và càng đi đến chỗ thấu hiểu nhau ngay bây giờ, thì càng có nhiều tiến bộ được thực hiện khi đến lúc hai anh sống cuộc đời mình cùng nhau dưới các điều kiện của cõi hồng trần. Hoàn toàn có thể là trước khi anh qua sang thế giới kế tiếp, anh có thể gặp một người nào đó đang sống ở cấp độ này mà anh có thể cảm thấy bị thu hút, và thậm chí có thể muốn kết hôn. Nếu điều này xảy ra, hãy giải thích cho Daphne điều anh dự định làm, vì sự lừa dối có những phản ứng dội lại của nó, ngay cả trong trường hợp một người đang sống trong thế giới cảm dục còn người kia trong thế giới hồng trần. Sự lừa dối luôn luôn là thiếu minh triết, vì nó tạo ra những khó khăn có thể phải mất nhiều kiếp sống mới hoàn toàn xóa bỏ được.

“I do not think you will find that Charles will trouble you much more. As you happen to be an older ego than he is, it would be difficult for him to follow you along the road that you imagine to be the most suitable for him, but you can still help him and you will probably link up with him in a future life, as love creates a very strong link. Do not forget the responsibilities you have taken upon yourself with Mary, for although I do not think that they will be in any way arduous, yet they must not be neglected, for you accepted the opportunity. The astral helper whom you call Jim can be of great use to you and you to him, so cultivate his friendship whenever the opportunity offers. Remember that the knowledge which has been given to you has not been given for your use solely. You have a responsibility to others less fortunate than yourself and I sincerely trust that you will never forget this. All true knowledge should be shared, not kept for the special benefit of the possessor, and I can assure you that you will not only be the happier for sharing your knowledge with others, but they also will benefit from your assistance. You may find that many to whom you offer this bread of knowledge do not wish to eat it. Such people are not yet ready for the knowledge you offer, but that should not stop you from giving them the opportunity of listening to what you have to say.

“Tôi không nghĩ anh sẽ thấy Charles làm phiền anh nhiều hơn nữa. Vì anh tình cờ là một chân ngã già hơn nó, nên sẽ khó cho nó theo anh trên con đường mà anh tưởng tượng là thích hợp nhất cho nó, nhưng anh vẫn có thể giúp nó và có lẽ anh sẽ liên kết lại với nó trong một kiếp sống tương lai, vì tình thương tạo ra một liên kết rất mạnh. Đừng quên những trách nhiệm anh đã nhận lấy với Mary, vì mặc dù tôi không nghĩ rằng chúng sẽ nặng nề theo bất kỳ cách nào, nhưng chúng không được bị bỏ bê, vì anh đã chấp nhận cơ hội ấy. Người trợ giúp cảm dục mà anh gọi là Jim có thể rất hữu ích cho anh và anh cũng vậy đối với anh ấy, vì thế hãy vun bồi tình anh của anh ấy bất cứ khi nào có cơ hội. Hãy nhớ rằng tri thức đã được trao cho anh không chỉ được trao cho riêng anh sử dụng. anh có một trách nhiệm đối với những người khác kém may mắn hơn anh và tôi chân thành tin rằng anh sẽ không bao giờ quên điều này. Mọi tri thức chân chính đều nên được chia sẻ, không nên giữ lại vì lợi ích đặc biệt của người sở hữu, và tôi có thể bảo đảm với anh rằng anh không những sẽ hạnh phúc hơn khi chia sẻ tri thức của mình với người khác, mà họ cũng sẽ được lợi từ sự trợ giúp của anh. anh có thể thấy rằng nhiều người mà anh trao cho bánh mì tri thức này lại không muốn ăn nó. Những người như thế chưa sẵn sàng cho tri thức anh trao, nhưng điều đó không nên ngăn anh cho họ cơ hội lắng nghe điều anh phải nói.

“It is now time for me to bid you farewell. This does not mean that we shall never meet again, for the link that has been made between us during these last weeks will have its inevitable result. A link once made is seldom entirely broken. After I leave you I shall no longer know what you are doing, as I have been permitted to know during this short period in order to help me with your tuition, but I have no doubt that the progress you have made will be maintained. If, in the future, you find that you need me at any time, make a very strong thought-form to represent me and send out your desire for contact into the surrounding ether. I may not be in a position to answer your call immediately, but you may be very sure that I have received it, and I shall contact you as soon as the work I have on hand permits me to do so. I have greatly appreciated the understanding you have displayed on the occasions when my words have appeared to criticise you and others in the world. Believe me, that was not my intention.

“Giờ đây đã đến lúc tôi phải từ biệt anh. Điều này không có nghĩa là chúng ta sẽ không bao giờ gặp lại, vì mối liên kết đã được tạo ra giữa chúng ta trong những tuần vừa qua sẽ có kết quả tất yếu của nó. Một liên kết một khi đã được tạo ra thì hiếm khi bị cắt đứt hoàn toàn. Sau khi tôi rời anh , tôi sẽ không còn biết anh đang làm gì nữa, như tôi đã được phép biết trong thời gian ngắn này để giúp tôi trong việc hướng dẫn anh , nhưng tôi không nghi ngờ gì rằng sự tiến bộ anh đã đạt được sẽ được duy trì. Nếu trong tương lai, anh thấy rằng anh cần tôi vào bất kỳ lúc nào, hãy tạo một Hình tư tưởng thật mạnh để biểu hiện tôi và phóng ra dục vọng tiếp xúc của anh vào dĩ thái chung quanh. Có thể tôi sẽ không ở trong vị thế để đáp lại lời gọi của anh ngay lập tức, nhưng anh có thể hoàn toàn chắc chắn rằng tôi đã nhận được nó, và tôi sẽ tiếp xúc với anh ngay khi công việc tôi đang có trong tay cho phép tôi làm như vậy. Tôi rất trân trọng sự thấu hiểu mà anh đã biểu lộ trong những dịp lời nói của tôi dường như chỉ trích anh và những người khác trong thế giới. Hãy tin tôi, đó không phải là ý định của tôi.

“One of the great philosophers once said. ‘Whenever the pupil is ready, the Master is always there.’ That is very true for, whatever your difficulties you never stand entirely alone. They do not desert those who work on their behalf. Your efforts have brought you into touch with some of the great beings who endeavour to guide our footsteps along the paths most suitable for our progress. Your reaction to their help has made it possible for you to be brought into closer contact with them. They know our limitations and our difficulties. They only wait our desire to permit their help, for that assistance to be at once at our disposal.

“Một trong những triết gia vĩ đại đã từng nói: ‘Bất cứ khi nào người đệ tử đã sẵn sàng, Chân sư luôn luôn ở đó.’ Điều đó rất đúng, vì dù khó khăn của anh là gì, anh không bao giờ hoàn toàn đứng một mình. Các Ngài không bỏ rơi những ai hoạt động thay mặt Các Ngài. Những nỗ lực của anh đã đưa anh vào tiếp xúc với một số hữu thể vĩ đại đang cố gắng hướng dẫn bước chân chúng ta trên những con đường thích hợp nhất cho sự tiến bộ của chúng ta. Phản ứng của anh đối với sự trợ giúp của Các Ngài đã khiến cho anh có thể được đưa vào tiếp xúc gần gũi hơn với Các Ngài. Các Ngài biết những giới hạn và khó khăn của chúng ta. Các Ngài chỉ chờ dục vọng của chúng ta cho phép sự trợ giúp của Các Ngài, để sự trợ giúp ấy lập tức sẵn sàng cho chúng ta sử dụng.

“May the Peace which they so patiently work for be with you and all who seek to lighten the burden of mankind. Farewell, until in God’s good time we meet again.”

“Nguyện cho sự Bình An mà Các Ngài kiên nhẫn hoạt động vì nó ở cùng anh và tất cả những ai tìm cách làm nhẹ gánh nặng của nhân loại. Từ biệt, cho đến khi trong thời điểm tốt lành của Thượng đế chúng ta gặp lại nhau.”

Epilogue—Lời Kết

A month has passed since I finished transcribing the notes I made covering Acharya’s last talk, and even now I find it difficult to realise that he will not be visiting me again. I had come to look forward to those daily meetings in a way I would not have believed possible two months ago: I am exceedingly happy to find that I can remember each morning quite a lot of what I have been doing during the night, for at first I wondered if my capacity for bringing things through would disappear after the mental link I had with Acharya had been broken. A few nights ago, when I visited Daphne, I asked her about the parts I had forgotten of our visit to the Golden City. As Acharya had so rightly surmised, she remembered the incident of Christ appearing to address the gathering as clearly as she did the rest of what we did that night. I have therefore decided that on the nights I experiment with Daphne, I shall check up with her afterwards. I have already made friends with several of the people living in the same valley as Daphne, who certainly do not seem to object to my turning up from time to time, even though at the moment I cannot become a permanent member of their community.

Đã một tháng trôi qua kể từ khi tôi hoàn tất việc chép lại các ghi chú tôi đã thực hiện bao quát buổi nói chuyện cuối cùng của Acharya, và ngay cả bây giờ tôi vẫn thấy khó chứng nghiệm rằng ông sẽ không đến thăm tôi nữa. Tôi đã bắt đầu mong chờ những cuộc gặp gỡ hằng ngày ấy theo một cách mà hai tháng trước tôi không thể tin là có thể: tôi vô cùng vui mừng khi thấy rằng mỗi buổi sáng tôi có thể nhớ lại khá nhiều điều mình đã làm trong đêm, vì lúc đầu tôi tự hỏi liệu khả năng mang mọi thứ xuyên qua của mình có biến mất sau khi mối liên kết trí tuệ tôi có với Acharya bị cắt đứt hay không. Vài đêm trước, khi tôi đến thăm Daphne, tôi hỏi cô ấy về những phần tôi đã quên trong chuyến viếng thăm Thành phố Vàng của chúng tôi. Như Acharya đã suy đoán rất đúng, cô ấy nhớ sự việc Đức Christ xuất hiện để nói chuyện với hội chúng rõ ràng như cô ấy nhớ phần còn lại của những gì chúng tôi đã làm đêm đó. Vì thế tôi đã quyết định rằng vào những đêm tôi thử nghiệm với Daphne, sau đó tôi sẽ kiểm tra lại với cô ấy. Tôi đã kết bạn với vài người sống trong cùng thung lũng với Daphne, những người chắc chắn dường như không phản đối việc tôi thỉnh thoảng xuất hiện, dù hiện tại tôi chưa thể trở thành một thành viên thường trực của cộng đồng họ.

Two nights ago I decided to pay a visit on my own to the sixth sphere, because for a long time I had felt a wish to take a trip in one of the little boats which were moored on the banks of the lake. On arrival I found that there were two not in use, the third being used by a solitary voyager who had traversed nearly half the distance round the circuit. I took one of the remaining boats, and having released it from its moorings, it set its course, without any effort on my part, around the lake in an anti-clockwise direction and was never more than fifty yards from the bank at any time, just as I had been told it would do.

Hai đêm trước tôi quyết định tự mình đến thăm khối cầu thứ sáu, vì từ lâu tôi đã cảm thấy muốn đi một chuyến trên một trong những chiếc thuyền nhỏ được neo trên bờ hồ. Khi đến nơi tôi thấy có hai chiếc không được dùng, chiếc thứ ba đang được một lữ khách đơn độc sử dụng, người đã đi gần nửa quãng đường quanh vòng hồ. Tôi lấy một trong những chiếc thuyền còn lại, và sau khi tháo nó khỏi chỗ neo, nó tự định hướng, không cần bất kỳ nỗ lực nào từ phía tôi, quanh hồ theo chiều ngược kim đồng hồ và không lúc nào cách bờ quá năm mươi thước, đúng như tôi đã được bảo là nó sẽ làm.

I endeavoured to practise meditation and found that, although I had never had much success in the world along these lines, the conditions ruling at this level of the astral world made things much easier. I tried to impress the idea of Peace upon the men who at this time are guiding the destinies of their respective nations—it seemed to me just as important for our enemies to want peace, as ourselves. I may never know whether my efforts did any good, but at least I employed the power of thought, which produces such amazing results at these higher levels. At the end of about eight hours I felt the urge to return and, without any seeming action on my part, was immediately forced to leave the boat and return to the physical plane. I have since wondered what happened to the boat, whether it is still drifting round the lake or if the current ceases to have any effect on it once its course is completed.

Tôi cố gắng thực hành tham thiền và nhận thấy rằng, mặc dù ở thế giới tôi chưa bao giờ thành công nhiều theo hướng này, các điều kiện chi phối ở cấp độ này của thế giới cảm dục khiến mọi việc dễ dàng hơn nhiều. Tôi cố gắng gây ấn tượng ý tưởng về Bình An lên những người hiện đang hướng dẫn vận mệnh của các quốc gia tương ứng của họ—đối với tôi dường như việc kẻ thù của chúng ta muốn hòa bình cũng quan trọng như chính chúng ta vậy. Có thể tôi sẽ không bao giờ biết liệu những nỗ lực của mình có đem lại ích lợi nào không, nhưng ít nhất tôi đã sử dụng quyền năng của tư tưởng, thứ tạo ra những kết quả kỳ diệu như thế ở các cấp độ cao hơn này. Vào cuối khoảng tám giờ tôi cảm thấy thôi thúc phải trở về và, dường như không có hành động nào từ phía tôi, tôi lập tức bị buộc phải rời thuyền và trở lại cõi hồng trần. Từ đó tôi đã tự hỏi chuyện gì đã xảy ra với chiếc thuyền, liệu nó vẫn đang trôi quanh hồ hay dòng chảy không còn tác động gì lên nó nữa một khi hành trình của nó đã hoàn tất.

I have seen Mary several times during the past month, for Acharya’s prophesy that she would call for me again in the near future came true within a fortnight from the last time I had seen her in hospital. I did my best to give Mary the advice she needed, and fortunately the child Irene was present during most of our discussion. She is a much more sensitive person than Mary, so I feel it is likely that she will remember much of what I said and will be able to repeat it to Mary when she wakes in the morning.

Tôi đã gặp Mary vài lần trong tháng qua, vì lời tiên báo của Acharya rằng cô ấy sẽ lại gọi tôi trong tương lai gần đã thành sự thật trong vòng hai tuần kể từ lần cuối tôi gặp cô ấy ở bệnh viện. Tôi đã cố hết sức để cho Mary lời khuyên cô ấy cần, và may thay đứa trẻ Irene đã hiện diện trong phần lớn cuộc thảo luận của chúng tôi. Nó là một người nhạy cảm hơn Mary nhiều, nên tôi cảm thấy có khả năng nó sẽ nhớ được nhiều điều tôi đã nói và có thể lặp lại cho Mary khi cô ấy thức dậy vào buổi sáng.

I was commandeered one night by Jim, to help him with some more casualties. This work is most fascinating, and although I imagined that the procedure in dealing with cases where young men were thrown out of their bodies so abruptly would always be the same, I find that the technique varies with every individual. I am gradually learning what to do and have told Jim that he can call on me whenever they are shorthanded. I feel this is another way to show my appreciation of the help that has been given me, and I welcome it as every other opportunity which comes along.

Một đêm nọ tôi được Jim điều động để giúp anh ấy với thêm một số thương vong. Công việc này vô cùng hấp dẫn, và mặc dù tôi đã tưởng rằng thủ tục xử lý những trường hợp các thanh niên bị quăng ra khỏi thể của họ đột ngột như thế lúc nào cũng sẽ giống nhau, tôi thấy rằng kỹ thuật thay đổi theo từng cá nhân. Tôi đang dần dần học được phải làm gì và đã nói với Jim rằng anh ấy có thể gọi tôi bất cứ khi nào họ thiếu người. Tôi cảm thấy đây là một cách khác để bày tỏ sự trân trọng của mình đối với sự trợ giúp đã được trao cho tôi, và tôi hoan nghênh nó như mọi cơ hội khác xuất hiện.

I have not seen Charles again and have no means of getting in touch with him apart from sending him S.O.S. if necessity arose. Presumably he is carrying on with his normal life in the astral world and I sincerely hope that not only will he be happy there, but that as time goes on I shall be able to be of some assistance to him. It is interesting that the cause of my extreme misery which culminated in the visit of Acharya now seems to be less important to me than other links I have made. It shows how a little knowledge can change the complexion of one’s outlook completely.

Tôi chưa gặp lại Charles và không có phương tiện nào để liên lạc với nó ngoài việc gửi cho nó S.O.S. nếu có nhu cầu phát sinh. Có lẽ nó đang tiếp tục cuộc sống bình thường của mình trong thế giới cảm dục và tôi chân thành hy vọng rằng không những nó sẽ hạnh phúc ở đó, mà theo thời gian tôi cũng sẽ có thể giúp ích phần nào cho nó. Thật thú vị khi nguyên nhân của nỗi khổ sở tột độ của tôi, vốn lên đến đỉnh điểm trong chuyến viếng thăm của Acharya, giờ đây dường như kém quan trọng đối với tôi hơn những liên kết khác mà tôi đã tạo ra. Điều đó cho thấy chỉ một ít tri thức cũng có thể thay đổi hoàn toàn sắc thái của cái nhìn của một người.

This dual existence of mine keeps me very busy and very interested indeed. Sometimes I feel that the life I live apart from my body is indeed the real one and that my life in the world is not nearly so important. I must guard against this, otherwise I shall become a dreamer and may lose sight of the importance of learning the lessons this life has to teach me.

Sự hiện hữu kép này của tôi khiến tôi rất bận rộn và thực sự rất hứng thú. Đôi khi tôi cảm thấy rằng cuộc sống tôi sống tách khỏi thể xác của mình mới thật sự là cuộc sống thực, và rằng cuộc sống của tôi trong thế giới không quan trọng gần bằng. Tôi phải đề phòng điều này, nếu không tôi sẽ trở thành một kẻ mộng mơ và có thể đánh mất tầm quan trọng của việc học những bài học mà kiếp sống này phải dạy tôi.

It is quite impossible for me to express my gratitude to the great Beings who govern this planet. The whole scheme of government seems so logical that each step we take would appear to be the natural conclusion of the one before it, and it is difficult to imagine how things could be otherwise. What I cannot understand is why the information which has been given to me is not more generally known in the world. I often long to see my friend Acharya, but I have fought against my desire to send out a call. What a wonderful life that man leads! I sometimes wonder whether one day I shall be able to be used for similar purposes. If my desire ever becomes a fact, I hope I shall serve the Master, whomsoever he may be, as faithfully as Acharya is doing. I have not forgotten that I have been told to share any knowledge I acquire with others, and in this way show my appreciation of the help that has been given to me. I shall continue to record my experiences, and if I find that they are of interest to others I shall certainly consider publishing a sequel.

Tôi hoàn toàn không thể diễn tả lòng biết ơn của mình đối với các Hữu thể vĩ đại cai quản hành tinh này. Toàn bộ hệ thống cai quản dường như hợp lý đến mức mỗi bước chúng ta đi có vẻ như là kết luận tự nhiên của bước trước đó, và thật khó hình dung mọi sự có thể khác đi như thế nào. Điều tôi không thể hiểu là vì sao thông tin đã được trao cho tôi lại không được biết đến rộng rãi hơn trong thế giới. Tôi thường khao khát được gặp người bạn Acharya của mình, nhưng tôi đã chống lại dục vọng phát ra một lời gọi. Người ấy sống một cuộc đời kỳ diệu biết bao! Đôi khi tôi tự hỏi liệu một ngày nào đó tôi có thể được sử dụng cho những mục đích tương tự hay không. Nếu dục vọng của tôi có bao giờ trở thành sự thật, tôi hy vọng mình sẽ phụng sự Chân sư, bất kể Ngài là ai, một cách trung thành như Acharya đang làm. Tôi không quên rằng tôi đã được bảo phải chia sẻ bất kỳ tri thức nào mình đạt được với người khác, và bằng cách này bày tỏ sự trân trọng của mình đối với sự trợ giúp đã được trao cho tôi. Tôi sẽ tiếp tục ghi lại những kinh nghiệm của mình, và nếu tôi thấy rằng chúng có ích cho người khác, tôi chắc chắn sẽ cân nhắc việc xuất bản một phần tiếp theo.

My task of recording the strange things which have happened to me during the past weeks is now completed. Whether those who read this record will accept these happenings as true or otherwise, is not my affair. I am satisfied that by recording them, my duty is done. I feel quite sure that those who have ears to hear, will benefit therefrom.

Nhiệm vụ ghi lại những điều kỳ lạ đã xảy ra với tôi trong những tuần qua giờ đây đã hoàn tất. Việc những ai đọc bản ghi này có chấp nhận những sự việc ấy là thật hay không không phải là việc của tôi. Tôi hài lòng rằng bằng cách ghi lại chúng, bổn phận của tôi đã được hoàn thành. Tôi cảm thấy hoàn toàn chắc chắn rằng những ai có tai để nghe sẽ được lợi từ đó.

Let us not forget the promise given to us by the greatest of all Masters when He said: “Be of good cheer for those who guard the destinies of the World do not sleep.”

Chúng ta đừng quên lời hứa đã được ban cho chúng ta bởi vị Chân sư vĩ đại nhất trong tất cả khi Ngài nói: “Hãy vững lòng vì những Đấng canh giữ vận mệnh của Thế Gian không ngủ.”

ORDERING

ĐẶT MUA

Additional copies of A Soul’s Journey may be ordered for $19 each, plus $6 for postage ($8 postage for two or more books), from Ariel Press. If ordered in quantities of 5 or more copies, the cost per book is $15 plus $8 shipping. When ordered in quantities of 10 or more copies, the cost per book is $12 plus $10 shipping.

Có thể đặt thêm các bản của Hành Trình của Một Linh Hồn với giá 19 đô-la mỗi cuốn, cộng 6 đô-la tiền bưu phí (8 đô-la bưu phí cho hai cuốn trở lên), từ Ariel Press. Nếu đặt số lượng từ 5 cuốn trở lên, giá mỗi cuốn là 15 đô-la cộng 8 đô-la phí vận chuyển. Khi đặt số lượng từ 10 cuốn trở lên, giá mỗi cuốn là 12 đô-la cộng 10 đô-la phí vận chuyển.

This book is also available in ebook format, suitable for reading on an iPad, a Kindle, or a similar device. The cost of ordering it as an ebook is $13.

Cuốn sách này cũng có sẵn ở định dạng ebook, thích hợp để đọc trên iPad, Kindle, hoặc thiết bị tương tự. Giá đặt mua dưới dạng ebook là 13 đô-la.

To order, send a check or money order to Ariel Press, 88 North Gate Station Drive, #106, Marble Hill, GA 30148. Or send your order by email to lig201@lightariel.com and charge it to a major credit card. We also accept payment by PayPal. Orders may be phoned in to (770) 894-4226 Tuesday or Wednesday from 12 to 5.

Để đặt mua, gửi séc hoặc phiếu chuyển tiền đến Ariel Press, 88 North Gate Station Drive, #106, Marble Hill, GA 30148. Hoặc gửi đơn đặt hàng của bạn qua email đến lig201@lightariel.com và thanh toán bằng thẻ tín dụng thông dụng. Chúng tôi cũng chấp nhận thanh toán qua PayPal. Có thể gọi điện đặt hàng đến số (770) 894-4226 vào thứ Ba hoặc thứ Tư từ 12 giờ đến 5 giờ.

O

O

THER TITLES OF INTEREST

CÁC TỰA SÁCH KHÁC ĐÁNG QUAN TÂM

THE PSYCHIC LIFE

ĐỜI SỐNG THÔNG LINH

Seeing Beyond the Mundane

Nhìn Vượt Qua Cái Tầm Thường

by Robert R. Leichtman, M.D.

của Robert R. Leichtman, M.D.

$19

19 đô-la

THE STORY OF GOD

CÂU CHUYỆN VỀ THƯỢNG ĐẾ

What To Say When Asked, “Who Is God?”

Nói Gì Khi Được Hỏi, “Thượng đế Là Ai?”

by Carl Japikse

của Carl Japikse

$18

18 đô-la

Leave a Comment

Scroll to Top