SRI YUKTESWAR MEMORIAL TEMPLE
ĐỀN TƯỞNG NIỆM SRI YUKTESWAR
In garden of his Puri ashram
Trong khu vườn ashram của Ngài tại Puri
1 Lit., parama, highest; hansa, swan. The white swan is mythologically represented as the vehicle or mount of Brahma the Creator. The sacred hansa, said to have the power of extracting only milk from a mixture of milk and water, is thus a symbol of spiritual discrimination.
1 Nghĩa đen, parama, cao nhất; hansa, thiên nga. Thiên nga trắng được thần thoại trình bày như vận cụ hay thú cưỡi của Brahma Đấng Sáng Tạo. Hansa thiêng liêng, được nói là có quyền năng chỉ rút lấy sữa từ hỗn hợp sữa và nước, vì thế là biểu tượng của sự phân biện tinh thần.
Ahan-sa or ’han-sa (pronounced hong-sau) is literally “I am He.” These potent Sanskrit syllables possess a vibratory connection with the incoming and the outgoing breath. Thus with his every breath man unconsciously asserts the truth of his being: I am He!
Ahan-sa hay ’han-sa (phát âm hong-sau) theo nghĩa đen là “Tôi là Ngài.” Những âm tiết Sanskrit mạnh mẽ này có một liên hệ rung động với hơi thở vào và hơi thở ra. Như vậy, với mỗi hơi thở của mình, con người vô thức khẳng định chân lý về hiện tồn của y: Tôi là Ngài!
2 They have generally evaded the difficulty by addressing me as sir.
2 Nói chung, họ đã tránh khó khăn bằng cách gọi tôi là thưa ngài.
3 That is, springing from immemorial roots, past experiences of death. This passage occurs in Patanjali’s Yoga Sutras II:9.
3 Nghĩa là phát sinh từ những căn rễ xa xưa, từ các kinh nghiệm quá khứ về cái chết. Đoạn này xuất hiện trong Yoga Sutras của Patanjali II:9.
4 Religious melas are mentioned in the ancient Mahabharata. The Chinese traveler Hieuen Tsiang has left an account of a vast Kumbha Mela held in A.D. 644 at Allahabad. Kumbha Mela is held every third year, successively, in Hardwar, Allahabad, Nasik, and Ujjain, returning to Hardwar to complete a twelve-year cycle. Each city holds Ardha (half) Kumbha in the sixth year after its Kumbha; thus Kumbha and Ardha Kumbha are held, in different cities, every three years.
4 Các mela tôn giáo được nhắc đến trong Mahabharata cổ xưa. Nhà du hành Trung Hoa Hieuen Tsiang đã để lại một tường thuật về một Kumbha Mela rộng lớn được tổ chức vào năm A.D. 644 tại Allahabad. Kumbha Mela được tổ chức mỗi ba năm một lần, lần lượt tại Hardwar, Allahabad, Nasik và Ujjain, rồi trở lại Hardwar để hoàn tất một chu kỳ mười hai năm. Mỗi thành phố tổ chức Ardha (nửa) Kumbha vào năm thứ sáu sau kỳ Kumbha của mình; như vậy Kumbha và Ardha Kumbha được tổ chức, tại các thành phố khác nhau, cứ mỗi ba năm.
Hieuen Tsiang tells us that Harsha, king of northern India, distributed to the monks and pilgrims at the Kumbha Mela the entire wealth (a five-year accumulation) of the royal treasury. When Hieuen Tsiang departed for China he refused Harsha’s parting gifts of jewels and gold; but carried away, as of greater value, 657 religious manuscripts.
Hieuen Tsiang kể với chúng ta rằng Harsha, vua miền bắc Ấn Độ, đã phân phát cho các tu sĩ và người hành hương tại Kumbha Mela toàn bộ của cải trong quốc khố, tích lũy trong năm năm. Khi Hieuen Tsiang rời đi Trung Hoa, ông từ chối các tặng vật chia tay của Harsha gồm châu báu và vàng; nhưng mang đi, như những thứ có giá trị lớn hơn, 657 bản thảo tôn giáo.
5 I was not present at the deaths of my mother, elder brother Ananta, eldest sister Roma, Master, Father, and many other beloved ones. (Father passed on in Calcutta in 1942, aged eighty-nine.)
5 Tôi đã không hiện diện khi mẹ tôi, anh cả Ananta, chị cả Roma, Chân sư, cha tôi và nhiều người thân yêu khác qua đời. (Cha tôi qua đời tại Calcutta năm 1942, hưởng thọ tám mươi chín tuổi.)
6 The hundreds of thousands of Indian sadhus are controlled by an executive committee of seven leaders, representing seven large sections of India. The present mahamandaleswar or president is Joyendra Puri. This saintly man is extremely reserved, often confining his speech to three words — Truth, Love, and Work. A sufficient conversation!
6 Hàng trăm nghìn sadhu Ấn Độ được điều hành bởi một ủy ban chấp hành gồm bảy vị lãnh đạo, đại diện cho bảy khu vực lớn của Ấn Độ. Mahamandaleswar hay chủ tịch hiện nay là Joyendra Puri. Con người thánh thiện này hết sức kín đáo, thường giới hạn lời nói của mình trong ba chữ — Chân Lý, Tình thương và Công Việc. Một cuộc trò chuyện đủ đầy!
7 A title whose literal meaning is “one who sees with his intelligence” (not having physical sight).
7 Một danh hiệu có nghĩa đen là “người thấy bằng trí thông minh của mình” (không có thị giác hồng trần).
8 There are many methods, it appears, for outwitting a tiger. An Australian explorer, Francis Birtles, has recounted that he found the Indian jungles “varied, beautiful, and safe.” His safety charm was flypaper. “Every night I spread a quantity of sheets around my camp and was never disturbed,” he explained. “The reason is psychological. The tiger is an animal of great conscious dignity. He prowls around and challenges man until he comes to the flypaper; he then slinks away. No dignified tiger would dare face a human being after squatting down upon a sticky flypaper!”
8 Có vẻ có nhiều phương pháp để đánh lừa một con hổ. Một nhà thám hiểm Úc, Francis Birtles, đã thuật lại rằng ông thấy rừng rậm Ấn Độ “đa dạng, đẹp đẽ và an toàn.” Bùa hộ mệnh của ông là giấy bắt ruồi. “Mỗi đêm tôi trải nhiều tờ quanh trại của mình và không bao giờ bị quấy rầy,” ông giải thích. “Lý do là tâm lý. Hổ là một loài vật có phẩm giá hữu thức rất lớn. Nó lảng vảng quanh đó và thách thức con người cho đến khi gặp giấy bắt ruồi; rồi nó lủi đi. Không con hổ có phẩm giá nào dám đối diện với một con người sau khi đã ngồi xổm lên một tờ giấy bắt ruồi dính!”
9 Sri Yukteswar passed at this hour — 7:00 p.m., March 9, 1936.
9 Sri Yukteswar viên tịch vào giờ này — 7 giờ tối, ngày 9 tháng Ba năm 1936.
10 Hindu funeral customs require cremation for householders; swamis and monks of other orders are not cremated, but buried. (There are occasional exceptions.) The bodies of monks are symbolically considered to have undergone cremation in the fire of wisdom at the time of taking the monastic vows.
10 Phong tục tang lễ Hindu đòi hỏi hỏa táng đối với gia chủ; các swami và tu sĩ thuộc các dòng khác không được hỏa táng, mà được chôn cất. (Thỉnh thoảng có ngoại lệ.) Thân thể của các tu sĩ được xem một cách biểu tượng là đã trải qua hỏa táng trong lửa của minh triết vào lúc thọ giới tu viện.
CHAPTER 43 — CHƯƠNG 43
The Resurrection of Sri Yukteswar — Sự Phục Sinh của Sri Yukteswar
“Lord Krishna!” The glorious form of the avatar appeared in a shimmering blaze as I sat in my room at the Regent Hotel in Bombay. Shining over the roof of a high building across the street, the ineffable vision had suddenly burst on my sight as I gazed out of my tall open third-story window.
“Đức Krishna!” Hình tướng rực rỡ của Đấng Hoá Thân hiện ra trong một quầng sáng lung linh khi tôi đang ngồi trong phòng mình tại khách sạn Regent ở Bombay. Chiếu sáng trên mái một tòa nhà cao bên kia đường, linh ảnh khôn tả ấy đột nhiên bùng hiện trước mắt tôi khi tôi nhìn ra ngoài qua khung cửa sổ mở cao ở tầng ba.
The divine figure waved to me, smiling and nodding in greeting. When I could not understand the exact message of Lord Krishna, he departed with a gesture of blessing. Wondrously uplifted, I felt that some spiritual event was presaged.
Hình tượng thiêng liêng ấy vẫy tay với tôi, mỉm cười và gật đầu chào. Khi tôi không thể hiểu chính xác thông điệp của Đức Krishna, Ngài ra đi với một cử chỉ ban phúc. Được nâng cao một cách kỳ diệu, tôi cảm thấy có một biến cố tinh thần nào đó đã được báo trước.
My Western voyage had, for the time being, been canceled. I was scheduled for several public addresses in Bombay before leaving on a return visit to Bengal.
Chuyến hải hành sang phương Tây của tôi, trong lúc ấy, đã bị hủy. Tôi được sắp lịch cho vài buổi diễn thuyết công khai tại Bombay trước khi rời đi trong một chuyến trở lại thăm Bengal.
Sitting on my bed in the Bombay hotel at three o’clock in the afternoon of June 19, 1936 — one week after the vision of Krishna — I was roused from my meditation by a beatific light. Before my open and astonished eyes, the whole room was transformed into a strange world, the sunlight transmuted into supernal splendor.
Ngồi trên giường trong khách sạn Bombay vào lúc ba giờ chiều ngày 19 tháng Sáu năm 1936 — một tuần sau linh ảnh về Krishna — tôi được đánh thức khỏi tham thiền bởi một ánh sáng phúc lạc. Trước đôi mắt mở to và kinh ngạc của tôi, cả căn phòng chuyển đổi thành một thế giới kỳ lạ, ánh mặt trời được chuyển hoá thành vẻ huy hoàng thiên thượng.
Waves of rapture engulfed me as I beheld the flesh and blood form of Sri Yukteswar!
Những làn sóng ngây ngất tràn ngập tôi khi tôi nhìn thấy hình tướng bằng xương bằng thịt của Sri Yukteswar!
“My son!” Master spoke tenderly, on his face an angel-bewitching smile.
“Con của ta!” Chân sư dịu dàng cất tiếng, trên gương mặt Ngài là một nụ cười có thể mê hoặc thiên thần.
For the first time in my life I did not kneel at his feet in greeting, but instantly advanced to gather him hungrily in my arms. Moment of moments! The anguish of past months was toll I counted weightless against the torrential bliss now descending.
Lần đầu tiên trong đời, tôi không quỳ xuống dưới chân Ngài để chào, mà lập tức tiến tới ôm ghì Ngài trong vòng tay đói khát của mình. Khoảnh khắc của mọi khoảnh khắc! Nỗi thống khổ của những tháng qua là khoản lệ phí mà tôi xem nhẹ bẫng trước dòng chí phúc cuồn cuộn giờ đây đang đổ xuống.
“Master mine, beloved of my heart, why did you leave me?” I was incoherent in an excess of joy. “Why did you let me go to the Kumbha Mela? How bitterly have I blamed myself for leaving you!”
“Chân sư của con, Đấng yêu dấu của lòng con, vì sao Ngài bỏ con?” Tôi nói không mạch lạc trong niềm vui tràn ngập. “Vì sao Ngài để con đi dự Kumbha Mela? Con đã cay đắng tự trách mình biết bao vì đã rời Ngài!”
“I did not want to interfere with your happy anticipation of seeing the pilgrimage spot where first I met Babaji. I left you only for a little while; am I not with you again?”
“Ta không muốn can thiệp vào niềm mong chờ hạnh phúc của con về việc được thấy thánh địa hành hương nơi lần đầu ta gặp Babaji. Ta rời con chỉ trong chốc lát; chẳng phải ta lại đang ở với con sao?”
“But is it you, Master, the same Lion of God? Are you wearing a body like the one I buried beneath the cruel Puri sands?”
“Nhưng có phải là Ngài không, thưa Chân sư, cũng chính Sư Tử của Thượng đế ấy? Ngài có đang khoác một thân thể giống như thân thể con đã chôn dưới lớp cát Puri nghiệt ngã không?”
“Yes, my child, I am the same. This is a flesh and blood body. Though I see it as ethereal, to your sight it is physical. From cosmic atoms I created an entirely new body, exactly like that cosmic-dream physical body which you laid beneath the dream-sands at Puri in your dream-world. I am in truth resurrected — not on earth but on an astral planet. Its inhabitants are better able than earthly humanity to meet my lofty standards. There you and your exalted loved ones shall someday come to be with me.”
“Đúng vậy, con của ta, ta vẫn là ta. Đây là một thân thể bằng xương bằng thịt. Dù ta thấy nó là dĩ thái, đối với thị giác của con nó là hồng trần. Từ các nguyên tử vũ trụ, ta đã tạo ra một thân thể hoàn toàn mới, giống hệt thân thể hồng trần trong giấc mộng vũ trụ mà con đã đặt dưới lớp cát mộng ở Puri trong thế giới mộng của con. Thật ra ta đã phục sinh — không phải trên Trái Đất mà trên một hành tinh cảm dục. Cư dân nơi ấy có khả năng hơn nhân loại trần gian trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn cao cả của ta. Một ngày kia con và những người thân yêu cao quý của con sẽ đến đó để ở cùng ta.”
“Deathless guru, tell me more!”
“Guru bất tử, xin nói cho con biết thêm!”
Master gave a quick, mirthful chuckle. “Please, dear one,” he said, “won’t you relax your hold a little?”
Chân sư bật cười nhanh, vui vẻ. “Xin con, con yêu dấu,” Ngài nói, “con có thể nới lỏng vòng tay một chút không?”
“Only a little!” I had been embracing him with an octopus grip. I could detect the same faint, fragrant, natural odor that had been characteristic of his body before. The thrilling touch of his divine flesh still persists around the inner sides of my arms and in my palms whenever I recall those glorious hours.
“Chỉ một chút thôi!” Tôi đã ôm Ngài chặt như bạch tuộc. Tôi có thể nhận ra cùng mùi hương tự nhiên thoang thoảng, thanh nhã, vốn là nét đặc trưng của thân thể Ngài trước kia. Cảm giác rung động từ sự chạm vào da thịt thiêng liêng của Ngài vẫn còn lưu lại quanh mặt trong cánh tay và trong lòng bàn tay tôi mỗi khi tôi nhớ lại những giờ phút huy hoàng ấy.
“As prophets are sent on earth to help men work out their physical karma, so I have been directed by God to serve on an astral planet as a savior,” Sri Yukteswar explained. “It is called Hiranyaloka or ‘Illumined Astral Planet.’ There I am aiding advanced beings to rid themselves of astral karma and thus attain liberation from astral rebirths. The dwellers on Hiranyaloka are highly developed spiritually; all of them had acquired, in their last earth-incarnation, the meditation-given power of consciously leaving their physical bodies at death. No one can enter Hiranyaloka unless he has passed on earth beyond the state of sabikalpa samadhi into the higher state of nirbikalpa samadhi.1
“Như các tiên tri được gửi đến Trái Đất để giúp con người giải quyết nghiệp quả hồng trần của họ, thì ta đã được Thượng đế chỉ dẫn phụng sự trên một hành tinh cảm dục như một đấng cứu độ,” Sri Yukteswar giải thích. “Nó được gọi là Hiranyaloka hay ‘Hành Tinh Cảm Dục Được Soi Sáng.’ Ở đó, ta đang trợ giúp các sinh linh tiến bộ thoát khỏi nghiệp quả cảm dục và nhờ vậy đạt giải thoát khỏi những lần tái sinh cảm dục. Các cư dân của Hiranyaloka phát triển rất cao về mặt tinh thần; trong lần nhập thể cuối cùng trên Trái Đất, tất cả họ đã đạt được quyền năng do tham thiền ban cho để rời thể xác một cách có ý thức vào lúc chết. Không ai có thể vào Hiranyaloka nếu khi còn trên Trái Đất y chưa vượt qua trạng thái sabikalpa samadhi để vào trạng thái cao hơn là nirbikalpa samadhi.1
“Hiranyaloka inhabitants have already passed through the ordinary astral spheres, where nearly all beings from earth must go at death; there they destroyed many seeds of karma connected with their past actions in astral worlds. None but advanced devotees can perform such redemptive work effectively in the astral spheres.2 Then, in order to free their souls fully from all traces of astral karma, these aspirants were drawn by cosmic law to be reborn in new astral bodies on Hiranyaloka, the astral sun or heaven, where I am present to help them. There are also nearly perfect beings on Hiranyaloka who have come from the superior causal world.”
“Cư dân Hiranyaloka đã đi qua các khối cầu cảm dục thông thường, nơi gần như mọi sinh linh từ Trái Đất đều phải đến sau khi chết; tại đó họ đã tiêu hủy nhiều hạt giống nghiệp quả liên quan đến các hành động quá khứ của mình trong những thế giới cảm dục. Không ai ngoài các tín đồ tiến bộ có thể thực hiện hiệu quả công việc cứu chuộc như thế trong các khối cầu cảm dục.2 Rồi, để giải phóng linh hồn mình hoàn toàn khỏi mọi dấu vết nghiệp quả cảm dục, những người chí nguyện này được định luật vũ trụ thu hút để tái sinh trong các thể cảm dục mới trên Hiranyaloka, mặt trời hay thiên giới cảm dục, nơi ta hiện diện để giúp họ. Cũng có những sinh linh gần như hoàn hảo trên Hiranyaloka, những vị đã đến từ thế giới nguyên nhân cao hơn.”
My mind was now in such perfect attunement with my guru’s that he was conveying his word-pictures to me partly by speech and partly by thought transference. I was thus quickly receiving his idea-tabloids.
Thể trí tôi lúc này hòa điệu hoàn hảo với thể trí của guru tôi đến nỗi Ngài truyền đạt cho tôi các hình ảnh bằng lời của Ngài một phần qua ngôn từ, một phần qua chuyển dịch tư tưởng. Nhờ vậy tôi nhanh chóng tiếp nhận những viên nén ý tưởng của Ngài.
“You have read in the scriptures,” Master went on, “that God encased the human soul successively in three bodies — the idea, or causal, body; the subtle astral body, seat of man’s mental and emotional natures; and the gross physical body. On earth a man is equipped with his physical senses. An astral being works with his consciousness and feelings and a body made of lifetrons.3 A causal-bodied being remains in the blissful realm of ideas. My work is with those astral beings who are preparing to enter the causal world.”
“Con đã đọc trong kinh điển,” Chân sư tiếp tục, “rằng Thượng đế lần lượt bao bọc linh hồn con người trong ba thể — thể ý tưởng, hay thể nguyên nhân; thể cảm dục tinh vi, nơi ngự của các bản chất trí tuệ và cảm xúc của con người; và thể xác thô trược. Trên Trái Đất, con người được trang bị các giác quan hồng trần. Một sinh linh cảm dục hoạt động bằng tâm thức và cảm xúc của mình, cùng một thể được tạo bằng các sinh tử tuyến.3 Một sinh linh có thể nguyên nhân ở lại trong cõi giới phúc lạc của các ý tưởng. Công việc của ta là với những sinh linh cảm dục đang chuẩn bị bước vào thế giới nguyên nhân.”
“Adorable Master, please tell me more about the astral cosmos.” Though I had slightly relaxed my embrace at Sri Yukteswar’s request, my arms were still around him. Treasure beyond all treasures, my guru who had laughed at death to reach me!
“Chân sư tôn kính, xin nói cho con biết thêm về vũ trụ cảm dục.” Dù tôi đã nới lỏng đôi chút vòng ôm theo lời yêu cầu của Sri Yukteswar, hai cánh tay tôi vẫn quàng quanh Ngài. Kho báu vượt trên mọi kho báu, guru của tôi, Đấng đã cười trước cái chết để đến với tôi!
“There are many astral planets, teeming with astral beings,” Master began. “The inhabitants use astral planes, or masses of light, to travel from one planet to another, faster than electricity and radioactive energies.
“Có nhiều hành tinh cảm dục, đầy ắp các sinh linh cảm dục,” Chân sư bắt đầu. “Cư dân nơi đó dùng các phi cơ cảm dục, hay những khối ánh sáng, để đi từ hành tinh này sang hành tinh khác, nhanh hơn điện và các năng lượng phóng xạ.
“The astral universe, made of various subtle vibrations of light and color, is hundreds of times larger than the material cosmos. The entire physical creation hangs like a little solid basket under the huge luminous balloon of the astral sphere. Just as many physical suns and stars roam in space, so there are also countless astral solar and stellar systems. Their planets have astral suns and moons, more beautiful than the physical ones. The astral luminaries resemble the aurora borealis — the sunny astral aurora being more dazzling than the mild-rayed moon-aurora. The astral day and night are longer than those of earth.
“Vũ trụ cảm dục, được tạo bằng nhiều rung động tinh vi của ánh sáng và màu sắc, lớn hơn vũ trụ vật chất hàng trăm lần. Toàn thể cuộc sáng tạo hồng trần treo như một chiếc giỏ nhỏ rắn chắc bên dưới quả bóng sáng khổng lồ của khối cầu cảm dục. Cũng như nhiều mặt trời và ngôi sao hồng trần du hành trong không gian, cũng có vô số hệ mặt trời và hệ sao cảm dục. Các hành tinh của chúng có những mặt trời và mặt trăng cảm dục, đẹp hơn các thiên thể hồng trần. Những thiên thể phát sáng cảm dục giống như cực quang phương bắc — cực quang cảm dục thuộc về mặt trời chói lọi hơn cực quang mặt trăng có tia sáng dịu. Ngày và đêm cảm dục dài hơn ngày và đêm của Trái Đất.
“The astral world is infinitely beautiful, clean, pure, and orderly. There are no dead planets or barren lands. The terrestrial blemishes — weeds, bacteria, insects, snakes — are absent. Unlike the variable climates and seasons of the earth, the astral planets maintain the even temperature of an eternal spring, with occasional luminous white snow and rain of many-colored lights. Astral planets abound in opal lakes and bright seas and rainbow rivers.
“Thế giới cảm dục đẹp vô hạn, sạch sẽ, tinh khiết và trật tự. Không có hành tinh chết hay đất đai cằn cỗi. Những khuyết điểm địa cầu — cỏ dại, vi khuẩn, côn trùng, rắn — đều vắng mặt. Không như các khí hậu và mùa biến đổi của Trái Đất, các hành tinh cảm dục duy trì nhiệt độ điều hòa của một mùa xuân vĩnh cửu, thỉnh thoảng có tuyết trắng sáng và mưa ánh sáng nhiều màu. Các hành tinh cảm dục đầy những hồ ngọc mắt mèo, biển rực rỡ và sông cầu vồng.
“The ordinary astral universe — not the subtler astral heaven of Hiranyaloka — is peopled with millions of astral beings who have come, more or less recently, from the earth, and also with myriads of fairies, mermaids, fishes, animals, goblins, gnomes, demigods and spirits, all residing on different astral planets in accordance with karmic qualifications. Various spheric mansions or vibratory regions are provided for good and evil spirits. Good ones can travel freely, but the evil spirits are confined to limited zones. In the same way that human beings live on the surface of the earth, worms inside the soil, fish in water, and birds in air, so astral beings of different grades are assigned to suitable vibratory quarters.
“Vũ trụ cảm dục thông thường — không phải thiên giới cảm dục tinh vi hơn của Hiranyaloka — có hàng triệu sinh linh cảm dục cư trú, những vị ít nhiều mới đến từ Trái Đất, và cũng có vô số tiên nữ, người cá, cá, thú vật, yêu tinh, gnome, bán thần và tinh linh, tất cả cư ngụ trên những hành tinh cảm dục khác nhau tùy theo phẩm chất nghiệp quả. Nhiều dinh thự hình cầu hay vùng rung động khác nhau được cung cấp cho các tinh linh thiện và ác. Những vị thiện có thể đi lại tự do, nhưng các tinh linh ác bị giới hạn trong những khu vực hạn định. Cũng như con người sống trên bề mặt Trái Đất, giun trong đất, cá trong nước và chim trong không khí, những sinh linh cảm dục thuộc các cấp độ khác nhau được phân về các khu vực rung động thích hợp.
“Among the fallen dark angels, expelled from other worlds, friction and war take place with lifetronic bombs or mental mantric4 vibratory rays. These beings dwell in the gloom-drenched regions of the lower astral cosmos, working out their evil karma.
“Giữa các thiên thần bóng tối sa ngã, bị trục xuất khỏi những thế giới khác, có sự ma sát và chiến tranh bằng bom sinh tử tuyến hay các tia rung động mantric4 trí tuệ. Những sinh linh này cư ngụ trong các vùng thấm đẫm u ám của vũ trụ cảm dục thấp, đang giải quyết nghiệp quả ác của mình.
“In the vast realms above the dark astral prison, all is shining and beautiful. The astral cosmos is more naturally attuned than the earth to the divine will and plan of perfection. Every astral object is manifested primarily by the will of God, and partially by the will-call of astral beings. They possess the power of modifying or enhancing the grace and form of anything already created by the Lord. He has given His astral children the freedom and privilege of changing or improving at will the astral cosmos. On earth a solid must be transformed into liquid or other form through natural or chemical processes, but astral solids are changed into astral liquids, gases, or energy solely and instantly by the will of the inhabitants.
“Trong các cõi rộng lớn bên trên nhà tù cảm dục tối tăm, mọi sự đều sáng rỡ và đẹp đẽ. Vũ trụ cảm dục hòa điệu tự nhiên hơn Trái Đất với Ý Chí thiêng liêng và Thiên Cơ hoàn hảo. Mọi đối tượng cảm dục biểu hiện chủ yếu bởi ý chí của Thượng đế, và một phần bởi lời gọi của ý chí nơi các sinh linh cảm dục. Họ sở hữu quyền năng sửa đổi hay tăng cường vẻ duyên dáng và hình tướng của bất cứ điều gì đã được Chúa tạo ra. Ngài đã ban cho các con cái cảm dục của Ngài sự tự do và đặc quyền thay đổi hay cải thiện vũ trụ cảm dục theo ý muốn. Trên Trái Đất, một vật rắn phải được chuyển đổi thành chất lỏng hay hình thức khác qua các tiến trình tự nhiên hoặc hóa học, nhưng các chất rắn cảm dục được chuyển thành chất lỏng, khí hay năng lượng cảm dục chỉ bằng ý chí của cư dân, một cách tức thời.
“The earth is dark with warfare and murder in the sea, land, and air,” my guru continued, “but the astral realms know a happy harmony and equality. Astral beings dematerialize or materialize their forms at will. Flowers or fish or animals can metamorphose themselves, for a time, into astral men. All astral beings are free to assume any form, and can easily commune together. No fixed, definite, natural law hems them round — any astral tree, for example, can be successfully asked to produce an astral mango or other desired fruit, flower, or indeed any other object. Certain karmic restrictions are present, but there are no distinctions in the astral world about desirability of various forms. Everything is vibrant with God’s creative light.
“Trái Đất tối tăm với chiến tranh và giết chóc trên biển, trên đất và trong không trung,” guru tôi tiếp tục, “nhưng các cõi cảm dục biết đến một sự hòa hợp và bình đẳng hạnh phúc. Các sinh linh cảm dục làm tan hiện hình hay hiện hình hóa các hình tướng của mình theo ý muốn. Hoa, cá hay thú vật có thể tự biến hình, trong một thời gian, thành người cảm dục. Mọi sinh linh cảm dục đều tự do khoác bất cứ hình tướng nào, và có thể dễ dàng giao cảm với nhau. Không có định luật tự nhiên cố định, xác định nào bao quanh họ — chẳng hạn, bất cứ cây cảm dục nào cũng có thể được yêu cầu thành công để tạo ra một quả xoài cảm dục hay bất cứ trái cây, hoa, hoặc thật ra bất cứ vật nào khác được mong muốn. Có những hạn chế nghiệp quả nhất định, nhưng trong thế giới cảm dục không có sự phân biệt về tính đáng ưa của các hình tướng khác nhau. Mọi sự đều rung động bằng ánh sáng sáng tạo của Thượng đế.
“No one is born of woman; offspring are materialized by astral beings through the help of their cosmic will into specially patterned, astrally condensed forms. The recently physically disembodied being arrives in an astral family through invitation, drawn by similar mental and spiritual tendencies.
“Không ai sinh ra từ người nữ; con cái được các sinh linh cảm dục hiện hình hóa, nhờ sự trợ giúp của ý chí vũ trụ của họ, thành những hình tướng được định hình đặc biệt và ngưng tụ theo chất cảm dục. Sinh linh vừa mới rời bỏ thể xác đến trong một gia đình cảm dục qua lời mời, được thu hút bởi những khuynh hướng trí tuệ và tinh thần tương tự.
“The astral body is not subject to cold or heat or other natural conditions. The anatomy includes an astral brain, or the thousand-petaled lotus of light, and six awakened centers in the sushumna, or astral cerebrospinal axis. The heart draws cosmic energy as well as light from the astral brain, and pumps it to the astral nerves and body cells, or lifetrons. Astral beings are able to effect changes in their forms by lifetronic force and by holy mantric vibrations.
“Thể cảm dục không chịu tác động của lạnh, nóng hay các điều kiện tự nhiên khác. Cấu trúc của nó gồm một bộ não cảm dục, hay Hoa sen ánh sáng ngàn cánh, và sáu trung tâm đã thức tỉnh trong sushumna, hay trục não tủy cảm dục. Tim rút năng lượng vũ trụ cũng như ánh sáng từ bộ não cảm dục, và bơm chúng đến các dây thần kinh và tế bào của thể cảm dục, tức các sinh tử tuyến. Các sinh linh cảm dục có thể tạo ra thay đổi trong hình tướng của mình bằng mãnh lực sinh tử tuyến và bằng các rung động mantric thiêng liêng.
“In most cases the astral body is an exact counterpart of the last physical form. The face and figure of an astral person resemble those of his youth in his previous earthly sojourn. Occasionally someone, like myself, chooses to retain his old-age appearance.” Master, emanating the very essence of youth, chuckled merrily.
“Trong đa số trường hợp, thể cảm dục là đối phần chính xác của hình tướng hồng trần cuối cùng. Gương mặt và vóc dáng của một người cảm dục giống với thời thanh xuân của y trong lần lưu trú trên Trái Đất trước đó. Thỉnh thoảng có người, như ta, chọn giữ lại dáng vẻ tuổi già.” Chân sư, đang phát ra chính tinh chất của tuổi trẻ, cười khúc khích vui vẻ.
“Unlike the spacial, three-dimensional physical world cognized only by the five senses, the astral spheres are visible to the all-inclusive sixth sense — intuition,” Sri Yukteswar went on. “By sheer intuitional feeling, all astral beings see, hear, smell, taste, and touch. They possess three eyes, two of which are partly closed. The third and chief astral eye, vertically placed on the forehead, is open. Astral beings have all the outer sensory organs — ears, eyes, nose, tongue, and skin — but they employ the intuitional sense to experience sensations through any part of the body; they can see through the ear, or nose, or skin. They are able to hear through the eyes or tongue, and can taste through the ears or skin, and so forth.5
“Không như thế giới hồng trần có không gian ba chiều, chỉ được nhận biết bằng năm giác quan, các khối cầu cảm dục có thể thấy được bằng giác quan thứ sáu bao gồm tất cả — trực giác,” Sri Yukteswar tiếp tục. “Chỉ bằng cảm nhận trực giác thuần túy, mọi sinh linh cảm dục đều thấy, nghe, ngửi, nếm và chạm. Họ có ba mắt, hai trong số đó khép một phần. Con mắt cảm dục thứ ba và chính yếu, đặt thẳng đứng trên trán, thì mở. Các sinh linh cảm dục có mọi cơ quan giác quan bên ngoài — tai, mắt, mũi, lưỡi và da — nhưng họ dùng giác quan trực giác để trải nghiệm các cảm giác qua bất cứ phần nào của thể; họ có thể thấy qua tai, mũi hay da. Họ có thể nghe qua mắt hay lưỡi, và có thể nếm qua tai hay da, vân vân.5
“Man’s physical body is exposed to countless dangers, and is easily hurt or maimed; the ethereal astral body may occasionally be cut or bruised but is healed at once by mere willing.”
“Thể xác của con người phơi mình trước vô số nguy hiểm, và dễ bị thương hoặc tàn tật; thể cảm dục dĩ thái đôi khi có thể bị cắt hay bầm dập nhưng được chữa lành ngay lập tức chỉ bằng ý chí.”
“Gurudeva, are all astral persons beautiful?”
“Gurudeva, tất cả người cảm dục đều đẹp sao?”
“Beauty in the astral world is known to be a spiritual quality, and not an outward conformation,” Sri Yukteswar replied. “Astral beings therefore attach little importance to facial features. They have the privilege, however, of costuming themselves at will with new, colorful, astrally materialized bodies. Just as worldly men don new array for gala events, so astral beings find occasions to bedeck themselves in specially designed forms.
“Vẻ đẹp trong thế giới cảm dục được biết là một phẩm tính tinh thần, chứ không phải một cấu tạo bên ngoài,” Sri Yukteswar đáp. “Vì vậy các sinh linh cảm dục ít coi trọng các đường nét gương mặt. Tuy nhiên, họ có đặc quyền tự khoác lên mình, theo ý muốn, những thể mới nhiều màu sắc được hiện hình hóa bằng chất cảm dục. Cũng như người thế gian mặc trang phục mới trong các dịp lễ hội, các sinh linh cảm dục cũng tìm thấy những dịp để trang hoàng mình trong các hình tướng được thiết kế đặc biệt.
“Joyous astral festivities on the higher astral planets like Hiranyaloka take place when a being is liberated from the astral world through spiritual advancement, and is therefore ready to enter the heaven of the causal world. On such occasions the Invisible Heavenly Father, and the saints who are merged in Him, materialize Themselves into bodies of Their own choice and join the astral celebration. In order to please His beloved devotee, the Lord takes any desired form. If the devotee worshiped through devotion, he sees God as the Divine Mother. To Jesus, the Father-aspect of the Infinite One was appealing beyond other conceptions. The individuality with which the Creator has endowed each of His creatures makes every conceivable and inconceivable demand on the Lord’s versatility!” My guru and I laughed happily together.
“Những lễ hội cảm dục hân hoan trên các hành tinh cảm dục cao như Hiranyaloka diễn ra khi một sinh linh được giải thoát khỏi thế giới cảm dục nhờ sự tiến bộ tinh thần, và do đó sẵn sàng bước vào thiên giới của thế giới nguyên nhân. Trong những dịp như vậy, Cha Thiên Thượng Vô Hình, và các thánh nhân đã hòa nhập trong Ngài, hiện hình hóa chính Các Ngài thành những thân thể do Các Ngài chọn và tham dự lễ mừng cảm dục. Để làm vui lòng tín đồ yêu dấu của Ngài, Chúa khoác bất cứ hình tướng nào được mong muốn. Nếu tín đồ thờ phụng qua lòng sùng tín, y thấy Thượng đế như Mẹ Thiêng Liêng. Đối với Đức Jesus, Phương diện Cha của Đấng Vô Hạn hấp dẫn hơn mọi quan niệm khác. Tính cá thể mà Đấng Sáng Tạo đã phú cho mỗi tạo vật của Ngài đặt ra mọi đòi hỏi có thể quan niệm và không thể quan niệm đối với khả năng biến hóa của Chúa!” Guru tôi và tôi cùng cười vui vẻ.
“Friends of other lives easily recognize one another in the astral world,” Sri Yukteswar went on in his beautiful, flutelike voice. “Rejoicing at the immortality of friendship, they realize the indestructibility of love, often doubted at the time of the sad, delusive partings of earthly life.
“Bạn bè từ những đời khác dễ dàng nhận ra nhau trong thế giới cảm dục,” Sri Yukteswar tiếp tục bằng giọng nói đẹp như tiếng sáo của Ngài. “Vui mừng trước sự bất tử của tình bạn, họ nhận ra tính bất hoại của tình thương, điều thường bị nghi ngờ vào lúc chia ly buồn đau và lừa dối của đời sống trần gian.
“The intuition of astral beings pierces through the veil and observes human activities on earth, but man cannot view the astral world unless his sixth sense is somewhat developed. Thousands of earth-dwellers have momentarily glimpsed an astral being or an astral world.6
“Trực giác của các sinh linh cảm dục xuyên qua bức màn và quan sát các hoạt động của con người trên Trái Đất, nhưng con người không thể nhìn thấy thế giới cảm dục trừ phi giác quan thứ sáu của y đã phát triển phần nào. Hàng nghìn cư dân Trái Đất đã thoáng thấy trong chốc lát một sinh linh cảm dục hay một thế giới cảm dục.6
“The advanced beings on Hiranyaloka remain mostly awake in ecstasy during the long astral day and night, helping to work out intricate problems of cosmic government and the redemption of prodigal sons, earthbound souls. When the Hiranyaloka beings sleep, they have occasional dreamlike astral visions. Their minds are usually engrossed in the conscious state of highest nirbikalpa bliss.
“Các sinh linh tiến bộ trên Hiranyaloka phần lớn vẫn thức tỉnh trong trạng thái xuất thần suốt ngày và đêm cảm dục dài, trợ giúp giải quyết những vấn đề phức tạp của sự cai quản vũ trụ và sự cứu chuộc những người con hoang đàng, các linh hồn bị ràng buộc với Trái Đất. Khi các sinh linh Hiranyaloka ngủ, họ thỉnh thoảng có những linh ảnh cảm dục giống như mộng. Thể trí của họ thường đắm chìm trong trạng thái hữu thức của chí phúc nirbikalpa cao nhất.
“Inhabitants in all parts of the astral worlds are still subject to mental agonies. The sensitive minds of the higher beings on planets like Hiranyaloka feel keen pain if any mistake is made in conduct or perception of truth. These advanced beings endeavor to attune their every act and thought with the perfection of spiritual law.
“Cư dân trong mọi phần của các thế giới cảm dục vẫn còn chịu các thống khổ trí tuệ. Thể trí nhạy cảm của các sinh linh cao hơn trên những hành tinh như Hiranyaloka cảm thấy đau đớn sâu sắc nếu có bất cứ sai lầm nào trong hành vi hay trong tri giác về chân lý. Những sinh linh tiến bộ này nỗ lực hòa điệu mọi hành động và tư tưởng của họ với sự hoàn hảo của định luật tinh thần.
“Communication among the astral inhabitants is held entirely by astral telepathy and television; there is none of the confusion and misunderstanding of the written and spoken word which earth-dwellers must endure. Just as persons on the cinema screen appear to move and act through a series of light pictures, and do not actually breathe, so the astral beings walk and work as intelligently guided and coordinated images of light, without the necessity of drawing power from oxygen. Man depends upon solids, liquids, gases, and energy for sustenance; astral beings sustain themselves principally by cosmic light.”
“Sự giao tiếp giữa các cư dân cảm dục hoàn toàn được thực hiện bằng viễn cảm và truyền hình cảm dục; không có sự lẫn lộn và hiểu lầm của chữ viết và lời nói mà cư dân Trái Đất phải chịu đựng. Cũng như những người trên màn ảnh điện ảnh dường như di chuyển và hành động qua một chuỗi hình ảnh ánh sáng, và thật ra không thở, các sinh linh cảm dục cũng đi lại và làm việc như những hình ảnh ánh sáng được hướng dẫn và phối hợp một cách thông minh, không cần rút quyền năng từ oxy. Con người tùy thuộc vào chất rắn, chất lỏng, khí và năng lượng để nuôi sống; các sinh linh cảm dục tự nuôi mình chủ yếu bằng ánh sáng vũ trụ.”
“Master mine, do astral beings eat anything?” I was drinking in his marvelous elucidations with the receptivity of all my faculties — mind, heart, soul. Superconscious perceptions of truth are permanently real and changeless, while fleeting sense experiences and impressions are never more than temporarily or relatively true, and soon lose in memory all their vividness. My guru’s words were so penetratingly imprinted on the parchment of my being that at any time, by transferring my mind to the superconscious state, I can clearly relive the divine experience.
“Chân sư của con, các sinh linh cảm dục có ăn gì không?” Tôi đang uống lấy những giải thích kỳ diệu của Ngài bằng sự tiếp nhận của mọi quan năng nơi tôi — thể trí, trái tim, linh hồn. Các tri giác siêu thức về chân lý là thực tại vĩnh viễn và bất biến, trong khi các kinh nghiệm và ấn tượng giác quan thoáng qua không bao giờ hơn được chân lý tạm thời hay tương đối, và chẳng bao lâu mất hết sự sống động trong ký ức. Lời của guru tôi được in sâu đến mức xuyên thấu trên tấm da của hiện tồn nơi tôi, đến nỗi bất cứ lúc nào, bằng cách chuyển thể trí mình vào trạng thái siêu thức, tôi có thể sống lại rõ ràng kinh nghiệm thiêng liêng ấy.
“Luminous raylike vegetables abound in the astral soils,” he answered. “The astral beings consume vegetables, and drink a nectar flowing from glorious fountains of light and from astral brooks and rivers. Just as invisible images of persons on the earth can be dug out of the ether and made visible by a television apparatus, later being dismissed again into space, so the God-created, unseen astral blueprints of vegetables and plants floating in the ether are precipitated on an astral planet by the will of its inhabitants. In the same way, from the wildest fancy of these beings, whole gardens of fragrant flowers are materialized, returning later to the etheric invisibility. Although dwellers on the heavenly planets like Hiranyaloka are almost freed from any necessity of eating, still higher is the unconditioned existence of almost completely liberated souls in the causal world, who eat nothing save the manna of bliss.
“Các loại rau giống như tia sáng đầy dẫy trong đất cảm dục,” Ngài đáp. “Các sinh linh cảm dục dùng rau, và uống một thứ mật hoa chảy từ những đài phun ánh sáng huy hoàng, cũng như từ các suối và sông cảm dục. Cũng như những hình ảnh vô hình của những người trên Trái Đất có thể được đào ra từ dĩ thái và làm cho thấy được bằng một thiết bị truyền hình, rồi sau đó lại được đưa trở vào không gian, thì các bản thiết kế cảm dục vô hình do Thượng đế tạo ra của rau và cây cỏ đang trôi nổi trong dĩ thái cũng được ngưng tụ trên một hành tinh cảm dục bởi ý chí của cư dân nơi ấy. Cũng theo cách đó, từ trí tưởng tượng phóng túng nhất của các sinh linh này, toàn bộ những khu vườn hoa thơm được hiện hình hóa, rồi sau đó trở lại sự vô hình dĩ thái. Dù cư dân trên các hành tinh thiên giới như Hiranyaloka gần như được giải thoát khỏi mọi nhu cầu ăn uống, cao hơn nữa vẫn là sự hiện tồn vô điều kiện của các linh hồn gần như hoàn toàn giải thoát trong thế giới nguyên nhân, những vị không ăn gì ngoài manna của chí phúc.
“The earth-liberated astral being meets a multitude of relatives, fathers, mothers, wives, husbands, and friends, acquired during different incarnations on earth,7 as they appear from time to time in various parts of the astral realms. He is therefore at a loss to understand whom to love especially; he learns in this way to give a divine and equal love to all, as children and individualized expressions of God. Though the outward appearance of loved ones may have changed, more or less according to the development of new qualities in the latest life of any particular soul, the astral being employs his unerring intuition to recognize all those once dear to him in other planes of existence, and to welcome them to their new astral home. Because every atom in creation is inextinguishably dowered with individuality,8 an astral friend will be recognized no matter what costume he may don, even as on earth an actor’s identity is discoverable by close observation despite any disguise.
“Sinh linh cảm dục đã giải thoát khỏi Trái Đất gặp vô số thân nhân, cha, mẹ, vợ, chồng và bạn bè, tích lũy qua những lần nhập thể khác nhau trên Trái Đất,7 khi họ lần lượt xuất hiện ở nhiều phần khác nhau của các cõi cảm dục. Vì vậy y bối rối không biết phải đặc biệt thương yêu ai; bằng cách này y học trao ban một tình thương thiêng liêng và bình đẳng cho tất cả, như những người con và những biểu hiện được biệt ngã hóa của Thượng đế. Dù vẻ ngoài của những người thân yêu có thể đã thay đổi ít nhiều tùy theo sự phát triển của những phẩm tính mới trong đời sống gần nhất của bất cứ linh hồn cụ thể nào, sinh linh cảm dục dùng trực giác không sai lầm của mình để nhận ra tất cả những người từng thân yêu với y trên các cõi hiện tồn khác, và chào đón họ vào ngôi nhà cảm dục mới của họ. Vì mỗi nguyên tử trong cuộc sáng tạo đều được phú cho tính cá thể một cách không thể dập tắt,8 một người bạn cảm dục sẽ được nhận ra bất kể y khoác trang phục nào, cũng như trên Trái Đất, căn tính của một diễn viên có thể được khám phá bằng quan sát kỹ lưỡng dù có bất cứ hóa trang nào.
“The span of life in the astral world is much longer than on earth. A normal advanced astral being’s average life period is from five hundred to one thousand years, measured in accordance with earthly standards of time. As certain redwood trees outlive most trees by millenniums, or as some yogis live several hundred years though most men die before the age of sixty, so some astral beings live much longer than the usual span of astral existence. Visitors to the astral world dwell there for a longer or shorter period in accordance with the weight of their physical karma, which draws them back to earth within a specified time.
“Tuổi thọ trong thế giới cảm dục dài hơn trên Trái Đất rất nhiều. Thời gian sống trung bình của một sinh linh cảm dục tiến bộ bình thường là từ năm trăm đến một nghìn năm, đo theo tiêu chuẩn thời gian trần gian. Như một số cây gỗ đỏ sống lâu hơn phần lớn cây cối hàng thiên niên kỷ, hay như một số yogi sống vài trăm năm dù đa số người chết trước tuổi sáu mươi, một số sinh linh cảm dục cũng sống lâu hơn nhiều so với khoảng thời gian thông thường của sự hiện tồn cảm dục. Khách đến thế giới cảm dục cư trú ở đó trong thời gian dài hay ngắn tùy theo sức nặng của nghiệp quả hồng trần của họ, vốn kéo họ trở lại Trái Đất trong một thời hạn xác định.
“The astral being does not have to contend painfully with death at the time of shedding his luminous body. Many of these beings nevertheless feel slightly nervous at the thought of dropping their astral form for the subtler causal one. The astral world is free from unwilling death, disease, and old age. These three dreads are the curse of earth, where man has allowed his consciousness to identify itself almost wholly with a frail physical body requiring constant aid from air, food, and sleep in order to exist at all.
“Sinh linh cảm dục không phải đau đớn chống chọi với cái chết vào lúc rũ bỏ thể sáng của mình. Tuy vậy, nhiều sinh linh trong số này vẫn cảm thấy hơi hồi hộp khi nghĩ đến việc bỏ hình tướng cảm dục của mình để nhận hình tướng nguyên nhân tinh vi hơn. Thế giới cảm dục không có cái chết ngoài ý muốn, bệnh tật và tuổi già. Ba nỗi sợ này là lời nguyền của Trái Đất, nơi con người đã để tâm thức mình đồng hoá gần như hoàn toàn với một thể xác mong manh, cần sự trợ giúp thường xuyên của không khí, thức ăn và giấc ngủ mới có thể hiện tồn.
“Physical death is attended by the disappearance of breath and the disintegration of fleshly cells. Astral death consists of the dispersement of lifetrons, those manifest units of energy which constitute the life of astral beings. At physical death a being loses his consciousness of flesh and becomes aware of his subtle body in the astral world. Experiencing astral death in due time, a being thus passes from the consciousness of astral birth and death to that of physical birth and death. These recurrent cycles of astral and physical encasement are the ineluctable destiny of all unenlightened beings. Scriptural definitions of heaven and hell sometimes stir man’s deeper-than-subconscious memories of his long series of experiences in the blithesome astral and disappointing terrestrial worlds.”
“Cái chết hồng trần đi kèm với sự biến mất của hơi thở và sự tan rã của các tế bào xác thịt. Cái chết cảm dục gồm sự phân tán của các sinh tử tuyến, những đơn vị năng lượng biểu hiện cấu thành sự sống của các sinh linh cảm dục. Khi chết hồng trần, một sinh linh mất tâm thức về xác thịt và nhận biết thể tinh vi của mình trong thế giới cảm dục. Khi đến lúc trải nghiệm cái chết cảm dục, một sinh linh như vậy chuyển từ tâm thức về sinh và tử cảm dục sang tâm thức về sinh và tử hồng trần. Những chu kỳ lặp đi lặp lại của sự bao bọc cảm dục và hồng trần này là định mệnh không thể tránh khỏi của mọi sinh linh chưa giác ngộ. Các định nghĩa trong kinh điển về thiên đường và địa ngục đôi khi khuấy động những ký ức sâu hơn tiềm thức nơi con người về chuỗi dài kinh nghiệm của y trong các thế giới cảm dục vui tươi và địa cầu đáng thất vọng.”
“Beloved Master,” I asked, “will you please describe more in detail the difference between rebirth on the earth and in the astral and causal spheres?”
“Chân sư yêu dấu,” tôi hỏi, “xin Ngài mô tả chi tiết hơn sự khác biệt giữa tái sinh trên Trái Đất và trong các khối cầu cảm dục cùng nguyên nhân?”
“Man as an individualized soul is essentially causal-bodied,” my guru explained. “That body is a matrix of the thirty-five ideas required by God as the basic or causal thought forces from which He later formed the subtle astral body of nineteen elements and the gross physical body of sixteen elements.
“Con người như một linh hồn được biệt ngã hóa về bản chất là mang thể nguyên nhân,” guru tôi giải thích. “Thể ấy là một khuôn mẫu gồm ba mươi lăm ý tưởng mà Thượng đế cần như những mãnh lực tư tưởng căn bản hay nguyên nhân, từ đó về sau Ngài tạo nên thể cảm dục tinh vi gồm mười chín yếu tố và thể xác thô trược gồm mười sáu yếu tố.
“The nineteen elements of the astral body are mental, emotional, and lifetronic. The nineteen components are intelligence; ego; feeling; mind (sense-consciousness); five instruments of knowledge, the subtle counterparts of the senses of sight, hearing, smell, taste, touch; five instruments of action, the mental correspondence for the executive abilities to procreate, excrete, talk, walk, and exercise manual skill; and five instruments of life force, those empowered to perform the crystallizing, assimilating, eliminating, metabolizing, and circulating functions of the body. This subtle astral encasement of nineteen elements survives the death of the physical body, which is made of sixteen gross chemical elements.
“Mười chín yếu tố của thể cảm dục là trí tuệ, cảm xúc và sinh tử tuyến. Mười chín thành phần là trí thông minh; chân ngã; cảm xúc; thể trí (tâm thức giác quan); năm công cụ của tri thức, những đối phần tinh vi của các giác quan thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm; năm công cụ của hành động, tương ứng trí tuệ với các năng lực thực thi việc sinh sản, bài tiết, nói, đi và vận dụng kỹ năng bằng tay; và năm công cụ của sinh lực, những công cụ được trao quyền để thực hiện các chức năng kết tinh, đồng hóa, đào thải, chuyển hóa và tuần hoàn của thể. Lớp bao bọc cảm dục tinh vi gồm mười chín yếu tố này tồn tại sau cái chết của thể xác, vốn được tạo bằng mười sáu yếu tố hóa học thô.
“God thought out different ideas within Himself and projected them into dreams. Lady Cosmic Dream thus sprang out decorated in all her colossal endless ornaments of relativity.
“Thượng đế tư duy ra những ý tưởng khác nhau trong chính Ngài và phóng chiếu chúng thành các giấc mộng. Phu Nhân Mộng Vũ Trụ vì thế xuất hiện, được trang điểm bằng toàn bộ những món trang sức tương đối khổng lồ và vô tận của bà.
“In thirty-five thought categories of the causal body, God elaborated all the complexities of man’s nineteen astral and sixteen physical counterparts. By condensation of vibratory forces, first subtle, then gross, He produced man’s astral body and finally his physical form. According to the law of relativity, by which the Prime Simplicity has become the bewildering manifold, the causal cosmos and causal body are different from the astral cosmos and astral body; the physical cosmos and physical body are likewise characteristically at variance with the other forms of creation.
“Trong ba mươi lăm phạm trù tư tưởng của thể nguyên nhân, Thượng đế khai triển mọi phức tạp của mười chín đối phần cảm dục và mười sáu đối phần hồng trần của con người. Bằng sự ngưng tụ của các mãnh lực rung động, trước hết tinh vi, rồi đến thô trược, Ngài tạo ra thể cảm dục của con người và cuối cùng hình tướng hồng trần của y. Theo định luật tương đối, nhờ đó Sự Đơn Nhất Nguyên Thủy đã trở thành cái đa tạp gây choáng ngợp, vũ trụ nguyên nhân và thể nguyên nhân khác với vũ trụ cảm dục và thể cảm dục; vũ trụ hồng trần và thể xác cũng tương tự khác biệt về đặc tính với các hình thức sáng tạo khác.
“The fleshly body is made of the fixed, objectified dreams of the Creator. The dualities are ever present on earth: disease and health, pain and pleasure, loss and gain. Human beings find limitation and resistance in three-dimensional matter. When man’s desire to live is severely shaken by disease or other causes, death arrives; the heavy overcoat of the flesh is temporarily shed. The soul, however, remains encased in the astral and causal bodies.9 The cohesive force by which all three bodies are held together is desire. The power of unfulfilled desires is the root of all of man’s slavery.
“Thân xác được tạo bằng những giấc mộng cố định và khách thể hóa của Đấng Sáng Tạo. Các nhị nguyên luôn hiện diện trên Trái Đất: bệnh tật và sức khỏe, đau đớn và khoái lạc, mất mát và đạt được. Con người gặp giới hạn và sức kháng cự trong vật chất ba chiều. Khi dục vọng sống của con người bị lay động nghiêm trọng bởi bệnh tật hay các nguyên nhân khác, cái chết đến; chiếc áo khoác nặng nề của xác thịt tạm thời được cởi bỏ. Tuy nhiên, linh hồn vẫn được bao bọc trong các thể cảm dục và nguyên nhân.9 Mãnh lực cố kết nhờ đó cả ba thể được giữ lại với nhau là dục vọng. Quyền năng của những dục vọng chưa được thỏa mãn là căn rễ của mọi sự nô lệ của con người.
“Physical desires are rooted in egotism and sense pleasures. The compulsion or temptation of sensory experience is more powerful than the desire-force connected with astral attachments or causal perceptions.
“Các dục vọng hồng trần bắt rễ trong tính vị kỷ và các khoái lạc giác quan. Sự cưỡng bách hay cám dỗ của kinh nghiệm giác quan mạnh hơn mãnh lực dục vọng liên quan đến các quyến luyến cảm dục hay các tri giác nguyên nhân.
“Astral desires center around enjoyment in terms of vibration. Astral beings enjoy the ethereal music of the spheres and are entranced by the sight of all creation as exhaustless expressions of changing light. The astral beings also smell, taste, and touch light. Astral desires are thus connected with an astral being’s power to precipitate all objects and experiences as forms of light or as condensed thoughts or dreams.
“Các dục vọng cảm dục xoay quanh sự hưởng thụ dưới dạng rung động. Các sinh linh cảm dục vui hưởng âm nhạc dĩ thái của các khối cầu và say mê trước cảnh tượng toàn thể cuộc sáng tạo như những biểu hiện vô tận của ánh sáng biến đổi. Các sinh linh cảm dục cũng ngửi, nếm và chạm vào ánh sáng. Vì thế, các dục vọng cảm dục liên quan đến quyền năng của một sinh linh cảm dục trong việc ngưng tụ mọi đối tượng và kinh nghiệm thành các hình tướng ánh sáng, hoặc thành các tư tưởng hay giấc mộng cô đặc.
“Causal desires are fulfilled by perception only. The nearly-free beings who are encased only in the causal body see the whole universe as realizations of the dream-ideas of God; they can materialize anything and everything in sheer thought. Causal beings therefore consider the enjoyment of physical sensations or astral delights as gross and suffocating to the soul’s fine sensibilities. Causal beings work out their desires by materializing them instantly.10 Those who find themselves covered only by the delicate veil of the causal body can bring universes into manifestation even as the Creator. Because all creation is made of the cosmic dream-texture, the soul thinly clothed in the causal has vast realizations of power.
“Các dục vọng nguyên nhân được hoàn thành chỉ bằng tri giác. Những sinh linh gần như tự do, chỉ còn được bao bọc trong thể nguyên nhân, thấy toàn thể vũ trụ như những chứng nghiệm của các ý tưởng-mộng của Thượng đế; họ có thể hiện hình hóa bất cứ điều gì và mọi điều trong tư tưởng thuần túy. Vì vậy, các sinh linh nguyên nhân xem sự hưởng thụ các cảm giác hồng trần hay các niềm vui cảm dục là thô trược và làm nghẹt thở đối với các cảm thụ tinh tế của linh hồn. Các sinh linh nguyên nhân giải quyết các dục vọng của mình bằng cách hiện hình hóa chúng tức khắc.10 Những vị thấy mình chỉ được phủ bởi bức màn mỏng manh của thể nguyên nhân có thể đưa các vũ trụ vào biểu hiện giống như Đấng Sáng Tạo. Vì mọi cuộc sáng tạo đều được làm bằng kết cấu mộng vũ trụ, linh hồn khoác lớp áo mỏng của nguyên nhân có những chứng nghiệm bao la về quyền năng.
“A soul, being invisible by nature, can be distinguished only by the presence of its body or bodies. The mere presence of a body signifies that its existence is made possible by unfulfilled desires.11
“Một linh hồn, vốn vô hình theo bản chất, chỉ có thể được phân biệt nhờ sự hiện diện của thể hay các thể của nó. Chỉ riêng sự hiện diện của một thể đã biểu thị rằng sự hiện tồn của nó được làm cho khả hữu bởi các dục vọng chưa được thỏa mãn.11
“So long as the soul of man is encased in one, two, or three body-containers, sealed tightly with the corks of ignorance and desires, he cannot merge with the sea of Spirit. When the gross physical receptacle is destroyed by the hammer of death, the other two coverings — astral and causal — still remain to prevent the soul from consciously joining the Omnipresent Life. When desirelessness is attained through wisdom, its power disintegrates the two remaining vessels. The tiny human soul emerges, free at last; it is one with the Measureless Amplitude.”
“Bao lâu linh hồn con người còn được bao bọc trong một, hai hay ba vật chứa là các thể, bị niêm chặt bằng những nút bần của vô minh và dục vọng, y không thể hòa nhập với biển Tinh Thần. Khi bình chứa hồng trần thô trược bị phá hủy bởi chiếc búa của cái chết, hai lớp bao còn lại — cảm dục và nguyên nhân — vẫn tồn tại để ngăn linh hồn hợp nhất một cách có ý thức với Sự sống Toàn Hiện. Khi đạt đến vô dục nhờ minh triết, quyền năng của nó làm tan rã hai bình chứa còn lại. Linh hồn con người nhỏ bé hiện ra, cuối cùng tự do; nó là một với Sự Bao La Vô Lượng.”
I asked my divine guru to shed further light on the high and mysterious causal world.
Tôi xin guru thiêng liêng của mình soi sáng thêm về thế giới nguyên nhân cao cả và huyền nhiệm.
“The causal world is indescribably subtle,” he replied. “In order to understand it, one would have to possess such tremendous powers of concentration that he could close his eyes and visualize the astral cosmos and the physical cosmos in all their vastness — the luminous balloon with the solid basket — as existing in ideas only. If by this superhuman concentration one succeeded in converting or resolving the two cosmoses with all their complexities into sheer ideas, he would then reach the causal world and stand on the borderline of fusion between mind and matter. There one perceives all created things — solids, liquids, gases, electricity, energy, all beings, gods, men, animals, plants, bacteria — as forms of consciousness, just as a man can close his eyes and realize that he exists, even though his body is invisible to his physical eyes and is present only as an idea.
“Thế giới nguyên nhân tinh vi đến mức không thể mô tả,” Ngài đáp. “Để thấu hiểu nó, người ta phải sở hữu những quyền năng tập trung lớn lao đến nỗi y có thể nhắm mắt và hình dung vũ trụ cảm dục cùng vũ trụ hồng trần trong toàn bộ sự rộng lớn của chúng — quả bóng sáng với chiếc giỏ rắn chắc — như chỉ hiện tồn trong các ý tưởng. Nếu bằng sự tập trung siêu nhân này, y thành công trong việc chuyển đổi hay hóa giải hai vũ trụ với mọi phức tạp của chúng thành các ý tưởng thuần túy, bấy giờ y sẽ đạt đến thế giới nguyên nhân và đứng trên đường ranh của sự dung hợp giữa thể trí và vật chất. Ở đó, người ta tri giác mọi sự vật được tạo ra — chất rắn, chất lỏng, khí, điện, năng lượng, mọi sinh linh, các thần, con người, thú vật, cây cối, vi khuẩn — như các hình thức của tâm thức, cũng như một người có thể nhắm mắt và nhận ra rằng y hiện tồn, dù thân thể y vô hình đối với đôi mắt hồng trần của y và chỉ hiện diện như một ý tưởng.
“Whatever a human being can do in fancy, a causal being can do in reality. The most colossal imaginative human intelligence is able, in mind only, to range from one extreme of thought to another, to skip mentally from planet to planet, or tumble endlessly down a pit of eternity, or soar rocketlike into the galaxied canopy, or scintillate like a searchlight over milky ways and the starry spaces. But beings in the causal world have a much greater freedom, and can effortlessly manifest their thoughts into instant objectivity, without any material or astral obstruction or karmic limitation.
“Bất cứ điều gì một con người có thể làm trong tưởng tượng, một sinh linh nguyên nhân có thể làm trong thực tại. Trí thông minh tưởng tượng khổng lồ nhất của con người chỉ có thể, trong thể trí, đi từ cực điểm tư tưởng này sang cực điểm khác, nhảy bằng trí từ hành tinh này sang hành tinh khác, hoặc rơi nhào vô tận xuống một vực thẳm vĩnh cửu, hoặc bay vút như hỏa tiễn vào vòm trời đầy thiên hà, hoặc lóe sáng như đèn pha trên những dải ngân hà và các không gian đầy sao. Nhưng các sinh linh trong thế giới nguyên nhân có một tự do lớn hơn nhiều, và có thể dễ dàng biểu hiện các tư tưởng của họ thành khách quan tính tức thời, không có bất cứ chướng ngại vật chất hay cảm dục nào, cũng không có hạn chế nghiệp quả.
“Causal beings realize that the physical cosmos is not primarily constructed of electrons, nor is the astral cosmos basically composed of lifetrons — both in reality are created from the minutest particles of God-thought, chopped and divided by maya, the law of relativity that apparently intervenes to separate creation from its Creator.
“Các sinh linh nguyên nhân nhận ra rằng vũ trụ hồng trần không chủ yếu được xây dựng bằng electron, và vũ trụ cảm dục cũng không căn bản được cấu tạo bằng các sinh tử tuyến — thật ra cả hai đều được tạo ra từ những hạt nhỏ nhất của tư tưởng Thượng đế, bị băm nhỏ và phân chia bởi maya, định luật tương đối dường như can thiệp để tách cuộc sáng tạo khỏi Đấng Sáng Tạo của nó.
“Souls in the causal world recognize one another as individualized points of joyous Spirit; their thought-things are the only objects that surround them. Causal beings see the difference between their bodies and thoughts to be merely ideas. As a man, closing his eyes, can visualize a dazzling white light or a faint blue haze, so causal beings by thought alone are able to see, hear, smell, taste, touch; they create anything, or dissolve it, by the power of cosmic mind.
“Các linh hồn trong thế giới nguyên nhân nhận ra nhau như những điểm cá thể hóa của Tinh Thần hoan hỉ; các sự vật tư tưởng của họ là những đối tượng duy nhất bao quanh họ. Các sinh linh nguyên nhân thấy sự khác biệt giữa thể và tư tưởng của mình chỉ là các ý tưởng. Cũng như một người, khi nhắm mắt, có thể hình dung một ánh sáng trắng chói lọi hay một màn sương xanh nhạt, các sinh linh nguyên nhân chỉ bằng tư tưởng cũng có thể thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm; họ tạo ra bất cứ điều gì, hoặc làm tan biến nó, bằng quyền năng của trí vũ trụ.
“Both death and rebirth in the causal world are in thought. Causal-bodied beings feast only on the ambrosia of eternally new knowledge. They drink from the springs of peace, roam on the trackless soil of perceptions, swim in the ocean-endlessness of bliss. Lo! see their bright thought-bodies zoom past trillions of Spirit-created planets, fresh bubbles of universes, wisdom-stars, spectral dreams of golden nebulae on the skyey bosom of Infinity!
“Cả cái chết lẫn tái sinh trong thế giới nguyên nhân đều ở trong tư tưởng. Các sinh linh mang thể nguyên nhân chỉ dự tiệc bằng cam lộ của tri thức vĩnh viễn mới mẻ. Họ uống từ các suối nguồn bình an, rong chơi trên mảnh đất không lối mòn của các tri giác, bơi trong đại dương vô tận của chí phúc. Kìa! hãy xem các thể tư tưởng sáng rỡ của họ lao vút qua hàng nghìn tỷ hành tinh do Tinh Thần tạo ra, những bọt vũ trụ mới mẻ, những ngôi sao minh triết, những giấc mộng quang phổ của tinh vân vàng trên bầu ngực thiên không của Vô Hạn!
“Many beings remain for thousands of years in the causal cosmos. By deeper ecstasies the freed soul then withdraws itself from the little causal body and puts on the vastness of the causal cosmos. All the separate eddies of ideas, particularized waves of power, love, will, joy, peace, intuition, calmness, self-control, and concentration melt into the ever-joyous Sea of Bliss. No longer does the soul have to experience its joy as an individualized wave of consciousness, but is merged in the One Cosmic Ocean, with all its waves — eternal laughter, thrills, throbs.
“Nhiều sinh linh lưu lại hàng ngàn năm trong vũ trụ nguyên nhân. Qua những trạng thái xuất thần sâu xa hơn, linh hồn đã giải thoát bấy giờ rút mình khỏi thể nguyên nhân nhỏ bé và khoác lấy sự bao la của vũ trụ nguyên nhân. Tất cả những xoáy riêng rẽ của ý tưởng, những làn sóng đặc thù của quyền năng, tình thương, ý chí, hoan hỉ, bình an, trực giác, tĩnh lặng, tự chủ và định trí đều tan vào Biển Chí Phúc hằng hoan hỉ. Linh hồn không còn phải kinh nghiệm niềm vui của mình như một làn sóng tâm thức đã biệt ngã hóa, mà hòa nhập vào Đại Dương Vũ Trụ Duy Nhất, cùng tất cả những làn sóng của nó — tiếng cười vĩnh cửu, những rung cảm, những nhịp đập.
“When a soul is out of the cocoon of the three bodies it escapes forever from the law of relativity and becomes the ineffable Ever-Existent.12 Behold the butterfly of Omnipresence, its wings etched with stars and moons and suns! The soul expanded into Spirit remains alone in the region of lightless light, darkless dark, thoughtless thought, intoxicated with its ecstasy of joy in God’s dream of cosmic creation.”
“Khi một linh hồn thoát khỏi cái kén của ba thể, nó vĩnh viễn thoát khỏi định luật tương đối và trở thành Đấng Hằng Hữu bất khả ngôn.12 Hãy chiêm ngưỡng con bướm của Toàn Hiện, đôi cánh nó được khắc bằng các vì sao, mặt trăng và mặt trời! Linh hồn mở rộng vào Tinh thần vẫn ở một mình trong miền ánh sáng không ánh sáng, bóng tối không bóng tối, tư tưởng không tư tưởng, say sưa trong trạng thái xuất thần hoan hỉ của nó trong giấc mơ sáng tạo vũ trụ của Thượng đế.”
“A free soul!” I ejaculated in awe.
“Một linh hồn tự do!” Tôi thốt lên trong kính sợ.
“When a soul finally gets out of the three jars of bodily delusions,” Master continued, “it becomes one with the Infinite without any loss of individuality. Christ had won this final freedom even before he was born as Jesus. In three stages of his past, symbolized in his earth-life as the three days of his experience of death and resurrection, he had attained the power to fully arise in Spirit.
“Khi một linh hồn cuối cùng thoát ra khỏi ba chiếc bình của những ảo tưởng thân xác,” Chân sư tiếp tục, “nó trở nên hợp nhất với Vô Biên mà không mất chút cá tính nào. Đức Christ đã đạt được sự tự do tối hậu này ngay cả trước khi Ngài sinh ra với tư cách là Đức Jesus. Trong ba giai đoạn quá khứ của Ngài, được biểu tượng trong đời sống trần gian của Ngài như ba ngày kinh nghiệm về cái chết và sự phục sinh, Ngài đã đạt được quyền năng trỗi dậy trọn vẹn trong Tinh thần.
“The undeveloped man must undergo countless earthly and astral and causal incarnations in order to emerge from his three bodies. A master who achieves this final freedom may elect to return to earth as a prophet to bring other human beings back to God, or like myself he may choose to reside in the astral cosmos. There a savior assumes some of the burden of the inhabitants’ karma13 and thus helps them to terminate their cycle of reincarnation in the astral cosmos and go on permanently to the causal spheres. Or a freed soul may enter the causal world to aid its beings to shorten their span in the causal body and thus attain the Absolute Freedom.”
“Con người chưa phát triển phải trải qua vô số lần nhập thể trên cõi trần, cõi cảm dục và cõi nguyên nhân để thoát ra khỏi ba thể của mình. Một chân sư đạt được sự tự do tối hậu này có thể chọn trở lại Trái Đất như một vị tiên tri để đưa những con người khác trở về với Thượng đế, hoặc như tôi, Ngài có thể chọn cư ngụ trong vũ trụ cảm dục. Ở đó, một đấng cứu độ gánh lấy một phần gánh nặng nghiệp quả13 của cư dân, và nhờ vậy giúp họ chấm dứt chu kỳ tái sinh trong vũ trụ cảm dục để vĩnh viễn đi vào các khối cầu nguyên nhân. Hoặc một linh hồn đã giải thoát có thể đi vào thế giới nguyên nhân để trợ giúp các sinh linh nơi đó rút ngắn thời gian của họ trong thể nguyên nhân, và nhờ vậy đạt được Tự Do Tuyệt Đối.”
“Resurrected One, I want to know more about the karma which forces souls to return to the three worlds.” I could listen forever, I thought, to my omniscient Master. Never in his earth-life had I been able at one time to assimilate so much of his wisdom. Now for the first time I was receiving a clear, definite insight into the enigmatic interspaces on the checkerboard of life and death.
“Đấng Phục Sinh, con muốn biết thêm về nghiệp quả buộc các linh hồn phải trở lại ba cõi giới.” Tôi nghĩ rằng mình có thể lắng nghe mãi mãi Chân sư toàn tri của mình. Chưa bao giờ trong đời sống trần gian của Ngài, tôi có thể cùng một lúc tiếp nhận nhiều minh triết của Ngài đến thế. Giờ đây, lần đầu tiên, tôi đang nhận được một cái nhìn sáng rõ, xác định về những khoảng trống bí ẩn trên bàn cờ của sự sống và cái chết.
“The physical karma or desires of man must be completely worked out before his continued stay in astral worlds becomes possible,” my guru elucidated in his thrilling voice. “Two kinds of beings live in the astral spheres. Those who still have earthly karma to dispose of and who must therefore reinhabit a gross physical body in order to pay their karmic debts could be classified, after physical death, as temporary visitors to the astral world rather than as established residents.
“Nghiệp quả hồng trần hay các dục vọng của con người phải được giải quyết hoàn toàn trước khi y có thể tiếp tục lưu lại trong các thế giới cảm dục,” vị đạo sư của tôi giải thích bằng giọng nói đầy rung cảm. “Có hai loại sinh linh sống trong các khối cầu cảm dục. Những vị vẫn còn nghiệp quả trần gian cần thanh toán, và do đó phải tái cư ngụ trong một thể xác thô trọng để trả các món nợ nghiệp quả của mình, sau cái chết hồng trần có thể được xếp vào hạng những khách viếng tạm thời của thế giới cảm dục hơn là những cư dân đã định cư.
“Beings with unredeemed earthly karma are not permitted after astral death to go to the high causal sphere of cosmic ideas, but must shuttle to and fro from the physical and astral worlds only, conscious successively of their physical body of sixteen gross elements, and of their astral body of nineteen subtle elements. After each loss of his physical body, however, an undeveloped being from the earth remains for the most part in the deep stupor of the death-sleep and is hardly conscious of the beautiful astral sphere. After the astral rest, such a man returns to the material plane for further lessons, gradually accustoming himself, through repeated journeys, to the worlds of subtle astral texture.
“Những sinh linh còn nghiệp quả trần gian chưa chuộc xong, sau cái chết cảm dục, không được phép đi đến khối cầu nguyên nhân cao của các ý tưởng vũ trụ, mà chỉ phải qua lại giữa các thế giới hồng trần và cảm dục, lần lượt có ý thức về thể xác gồm mười sáu nguyên tố thô trọng và thể cảm dục gồm mười chín nguyên tố tinh tế của họ. Tuy nhiên, sau mỗi lần mất thể xác, một sinh linh chưa phát triển từ Trái Đất phần lớn vẫn ở trong trạng thái mê man sâu của giấc ngủ tử vong và hầu như không có ý thức về khối cầu cảm dục đẹp đẽ. Sau thời gian nghỉ ngơi cảm dục, con người như thế trở lại cõi vật chất để học thêm các bài học, dần dần làm quen, qua những chuyến đi lặp đi lặp lại, với các thế giới có chất liệu cảm dục tinh tế.
“Normal or long-established residents of the astral universe, on the other hand, are those who, freed forever from all material longings, need return no more to the gross vibrations of earth. Such beings have only astral and causal karma to work out. At astral death these beings pass to the infinitely finer and more delicate causal world. At the end of a certain span, determined by cosmic law, these advanced beings then return to Hiranyaloka or a similar high astral planet, reborn in a new astral body to work out their unredeemed astral karma.
“Trái lại, những cư dân bình thường hoặc đã cư trú lâu dài trong vũ trụ cảm dục là những vị, đã vĩnh viễn giải thoát khỏi mọi khát vọng vật chất, không cần trở lại các rung động thô trọng của Trái Đất nữa. Những sinh linh như thế chỉ còn nghiệp quả cảm dục và nguyên nhân để giải quyết. Khi chết ở cõi cảm dục, các sinh linh này đi vào thế giới nguyên nhân tinh vi và thanh nhã vô cùng hơn. Vào cuối một khoảng thời gian nhất định do định luật vũ trụ ấn định, những sinh linh tiến hóa này bấy giờ trở lại Hiranyaloka hoặc một hành tinh cảm dục cao tương tự, tái sinh trong một thể cảm dục mới để giải quyết nghiệp quả cảm dục chưa chuộc xong của họ.
“My son, you may now comprehend more fully that I am resurrected by divine decree,” Sri Yukteswar continued, “as a savior of astrally reincarnating souls coming back from the causal sphere, in particular, rather than of those astral beings who are coming up from the earth. Those from the earth, if they still retain vestiges of material karma, do not rise to the very high astral planets like Hiranyaloka.
“Con của ta, giờ đây con có thể thấu hiểu đầy đủ hơn rằng ta được phục sinh theo sắc lệnh thiêng liêng,” Sri Yukteswar tiếp tục, “như một đấng cứu độ các linh hồn tái sinh ở cõi cảm dục trở về từ khối cầu nguyên nhân, đặc biệt hơn là của những sinh linh cảm dục đang đi lên từ Trái Đất. Những vị từ Trái Đất, nếu họ vẫn còn giữ các dấu vết nghiệp quả vật chất, thì không vươn lên các hành tinh cảm dục rất cao như Hiranyaloka.
“Just as most people on earth have not learned through meditation-acquired vision to appreciate the superior joys and advantages of astral life and thus, after death, desire to return to the limited, imperfect pleasures of earth, so many astral beings, during the normal disintegration of their astral bodies, fail to picture the advanced state of spiritual joy in the causal world and, dwelling on thoughts of the more gross and gaudy astral happiness, yearn to revisit the astral paradise. Heavy astral karma must be redeemed by such beings before they can achieve after astral death an unbroken stay in the causal thought-world, so thinly partitioned from the Creator.
“Cũng như phần lớn người trên Trái Đất chưa học được, qua tầm nhìn đạt được nhờ tham thiền, cách trân trọng những niềm vui và ưu thế cao hơn của đời sống cảm dục, và vì thế sau khi chết lại mong muốn trở về những thú vui giới hạn, bất toàn của Trái Đất, thì nhiều sinh linh cảm dục, trong sự tan rã bình thường của thể cảm dục mình, cũng không hình dung được trạng thái tiến hóa của niềm hoan hỉ tinh thần trong thế giới nguyên nhân; họ lưu luyến những tư tưởng về hạnh phúc cảm dục thô trọng và rực rỡ hơn, và khao khát trở lại thiên đường cảm dục. Nghiệp quả cảm dục nặng nề phải được những sinh linh như thế chuộc xong trước khi họ có thể đạt được, sau cái chết cảm dục, một thời gian lưu trú không gián đoạn trong thế giới-tư tưởng nguyên nhân, vốn chỉ cách Đấng Sáng Tạo bằng một màn ngăn rất mỏng.
“Only when a being has no further desires for experiences in the pleasing-to-the-eye astral cosmos, and cannot be tempted to go back there, does he remain in the causal world. Completing there the work of redeeming all causal karma or seeds of past desires, the confined soul thrusts out the last of the three corks of ignorance and, emerging from the final jar of the causal body, commingles with the Eternal.
“Chỉ khi một sinh linh không còn thêm dục vọng nào đối với các kinh nghiệm trong vũ trụ cảm dục đẹp mắt, và không thể bị cám dỗ quay trở lại đó, y mới lưu lại trong thế giới nguyên nhân. Khi hoàn tất ở đó công việc chuộc tất cả nghiệp quả nguyên nhân hay các hạt giống của dục vọng quá khứ, linh hồn bị giam giữ đẩy bật chiếc nút vô minh cuối cùng trong ba nút, và, thoát ra khỏi chiếc bình cuối cùng là thể nguyên nhân, hòa lẫn với Đấng Vĩnh Cửu.
“Now do you understand?” Master smiled so enchantingly!
“Bây giờ con đã hiểu chưa?” Chân sư mỉm cười quyến rũ biết bao!
“Yes, through your grace. I am speechless with joy and gratitude.”
“Vâng, nhờ ân điển của Ngài. Con không nói nên lời vì hoan hỉ và tri ân.”
Never from song or story had I ever received such inspiring knowledge. Though the Hindu scriptures refer to the causal and astral worlds and to man’s three bodies, how remote and meaningless those pages compared with the warm authenticity of my resurrected Master! For him indeed existed not a single “undiscover’d country from whose bourn no traveller returns”!14
Chưa bao giờ từ ca khúc hay truyện kể tôi từng nhận được tri thức đầy cảm hứng đến thế. Dù kinh điển Ấn giáo có nói đến các thế giới nguyên nhân và cảm dục, và đến ba thể của con người, những trang ấy xa xôi và vô nghĩa biết bao so với tính xác thực ấm áp của Chân sư phục sinh của tôi! Đối với Ngài, quả thật không hề tồn tại một “xứ sở chưa được khám phá nào, từ bờ cõi ấy chẳng lữ khách nào trở về”!14
“The interpenetration of man’s three bodies is expressed in many ways through his threefold nature,” my great guru went on. “In the wakeful state on earth a human being is conscious more or less of his three vehicles. When he is sensuously intent on tasting, smelling, touching, listening, or seeing, he is working principally through his physical body. Visualizing or willing, he is working mainly through his astral body. His causal being finds expression when man is thinking or diving deep in introspection or meditation; the cosmical thoughts of genius come to the man who habitually contacts his causal body. In this sense an individual may be classified broadly as ‘a material man,’ ‘an energetic man,’ or ‘an intellectual man.’
“Sự thẩm thấu lẫn nhau của ba thể con người được biểu lộ bằng nhiều cách qua bản chất tam phân của y,” vị đạo sư vĩ đại của tôi tiếp tục. “Trong trạng thái thức trên Trái Đất, một con người ít nhiều có ý thức về ba vận cụ của mình. Khi y chú tâm theo giác quan vào việc nếm, ngửi, chạm, nghe hay thấy, y chủ yếu hoạt động qua thể xác. Khi hình dung hay vận dụng ý chí, y chủ yếu hoạt động qua thể cảm dục. Bản thể nguyên nhân của y biểu lộ khi con người đang suy nghĩ hoặc lặn sâu vào nội quan hay tham thiền; những tư tưởng vũ trụ của thiên tài đến với người thường xuyên tiếp xúc với thể nguyên nhân của mình. Theo nghĩa này, một cá nhân có thể được phân loại rộng rãi là ‘con người vật chất,’ ‘con người năng động,’ hoặc ‘con người trí thức.’
“A man identifies himself about sixteen hours daily with his physical vehicle. Then he sleeps; if he dreams, he remains in his astral body, effortlessly creating any object even as do the astral beings. If man’s sleep be deep and dreamless, for several hours he is able to transfer his consciousness, or sense of I-ness, to the causal body; such sleep is revivifying. A dreamer is contacting his astral and not his causal body; his sleep is not fully refreshing.”
“Một người đồng hóa mình khoảng mười sáu giờ mỗi ngày với vận cụ hồng trần của mình. Rồi y ngủ; nếu y mơ, y vẫn ở trong thể cảm dục của mình, dễ dàng tạo ra bất cứ đối tượng nào, giống như các sinh linh cảm dục. Nếu giấc ngủ của con người sâu và không mộng, trong vài giờ y có thể chuyển dịch tâm thức của mình, hay cảm thức về cái tôi, sang thể nguyên nhân; giấc ngủ như thế đem lại sinh lực mới. Người mộng đang tiếp xúc với thể cảm dục chứ không phải thể nguyên nhân của mình; giấc ngủ của y không hoàn toàn làm tươi mới.”
I had been lovingly observing Sri Yukteswar while he gave his wondrous exposition.
Tôi đã trìu mến quan sát Sri Yukteswar khi Ngài trình bày phần giảng giải kỳ diệu của mình.
“Angelic Guru,” I said, “your body looks exactly as it did when last I wept over it in the Puri ashram.”
“Đạo sư thiên thần,” tôi nói, “thân thể của Ngài trông đúng hệt như khi con khóc bên nó lần cuối trong ashram ở Puri.”
“Oh, yes, my new body is a perfect copy of the old one. I materialize or dematerialize this form any time at will, much more frequently than I did while on earth. By quick dematerialization, I now travel instantly by light express from planet to planet or, indeed, from astral to causal or to physical cosmos.” My divine guru smiled. “Though you move about so fast these days, I had no difficulty in finding you at Bombay!”
“Ồ, đúng vậy, thân thể mới của ta là một bản sao hoàn hảo của thân thể cũ. Ta hiện hình hoặc phi hiện hình hình tướng này bất cứ lúc nào theo ý muốn, thường xuyên hơn nhiều so với khi còn ở Trái Đất. Nhờ phi hiện hình nhanh chóng, giờ đây ta du hành tức khắc bằng tốc hành ánh sáng từ hành tinh này sang hành tinh khác, hoặc thật ra, từ vũ trụ cảm dục sang vũ trụ nguyên nhân hay hồng trần.” Vị đạo sư thiêng liêng của tôi mỉm cười. “Dù những ngày này con di chuyển rất nhanh, ta vẫn không khó khăn gì trong việc tìm thấy con ở Bombay!”
“O Master, I was grieving so deeply about your death!”
“Ôi Chân sư, con đã đau buồn sâu sắc biết bao về cái chết của Ngài!”
“Ah, wherein did I die? Isn’t there some contradiction?” Sri Yukteswar’s eyes were twinkling with love and amusement.
“À, ta đã chết ở đâu? Chẳng phải có chút mâu thuẫn nào sao?” Đôi mắt Sri Yukteswar lấp lánh tình thương và nét vui đùa.
“You were only dreaming on earth; on that earth you saw my dream-body,” he went on. “Later you buried that dream-image. Now my finer fleshly body — which you behold and are even now embracing rather closely! — is resurrected on another finer dream-planet of God. Someday that finer dream-body and finer dream-planet will pass away; they too are not forever. All dream-bubbles must eventually burst at a final wakeful touch. Differentiate, my son Yogananda, between dreams and Reality!”
“Con chỉ đang mơ trên Trái Đất; trên Trái Đất ấy con đã thấy thân-thể-mộng của ta,” Ngài tiếp tục. “Về sau con chôn cất hình ảnh-mộng ấy. Giờ đây thân xác tinh tế hơn của ta — mà con đang nhìn thấy và ngay cả lúc này đang ôm khá chặt! — đã phục sinh trên một hành tinh-mộng khác, tinh tế hơn, của Thượng đế. Một ngày kia thân-thể-mộng tinh tế hơn ấy và hành tinh-mộng tinh tế hơn ấy sẽ qua đi; chúng cũng không tồn tại mãi mãi. Tất cả bong bóng-mộng cuối cùng đều phải vỡ tan khi chạm vào trạng thái tỉnh thức tối hậu. Con của ta, Yogananda, hãy phân biệt giữa những giấc mơ và Thực Tại!”
This idea of Vedantic15 resurrection struck me with wonder. I was ashamed that I had pitied Master when I had seen his lifeless body at Puri. I comprehended at last that my guru had always been fully awake in God, perceiving his own life and passing on earth, and his present resurrection, as nothing more than relativities of divine ideas in the cosmic dream.
Ý tưởng phục sinh theo Vedanta15 này khiến tôi kinh ngạc. Tôi hổ thẹn vì đã thương xót Chân sư khi nhìn thấy thân thể vô sinh khí của Ngài ở Puri. Cuối cùng tôi thấu hiểu rằng vị đạo sư của tôi luôn luôn hoàn toàn thức tỉnh trong Thượng đế, nhận biết đời sống của chính Ngài, sự ra đi của Ngài trên Trái Đất, và sự phục sinh hiện tại của Ngài, chỉ như những tính tương đối của các ý tưởng thiêng liêng trong giấc mộng vũ trụ.
“I have now told you, Yogananda, the truths of my life, death, and resurrection. Grieve not for me; rather broadcast everywhere the story of my resurrection from the God-dreamed earth of men to another God-dreamed planet of astrally garbed souls! New hope will be infused into the hearts of misery-mad, death-fearing dreamers of the world.”
“Giờ đây ta đã nói với con, Yogananda, những chân lý về đời sống, cái chết và sự phục sinh của ta. Đừng đau buồn cho ta; thay vào đó, hãy truyền đi khắp nơi câu chuyện về sự phục sinh của ta từ Trái Đất được Thượng đế mơ thấy của loài người đến một hành tinh khác cũng được Thượng đế mơ thấy, của những linh hồn khoác áo cảm dục! Niềm hy vọng mới sẽ được thấm nhuần vào trái tim của những kẻ mộng trong thế gian, điên cuồng vì khổ đau và sợ hãi cái chết.”
“Yes, Master!” How willingly would I share with others my joy at his resurrection!
“Vâng, thưa Chân sư!” Tôi sẽ sẵn lòng biết bao khi chia sẻ với người khác niềm hoan hỉ của mình trước sự phục sinh của Ngài!
“On earth my standards were uncomfortably high, unsuited to the natures of most men. Often I scolded you more than I should have. You passed my test; your love shone through the clouds of all reprimands.” He added tenderly, “I have also come today to tell you: Never again shall I wear the stern gaze of censure. I shall scold you no more.”
“Trên Trái Đất, các tiêu chuẩn của ta cao đến mức gây khó chịu, không phù hợp với bản chất của phần lớn con người. Ta thường quở trách con nhiều hơn mức cần thiết. Con đã vượt qua thử thách của ta; tình thương của con đã tỏa sáng xuyên qua những đám mây của mọi lời khiển trách.” Ngài dịu dàng nói thêm, “Hôm nay ta cũng đến để nói với con: Ta sẽ không bao giờ lại mang ánh nhìn nghiêm khắc của sự phê phán nữa. Ta sẽ không quở trách con nữa.”
How much I had missed the chastisements of my great guru! Each one had been a guardian angel of protection.
Tôi đã nhớ biết bao những lời quở trách của vị đạo sư vĩ đại của mình! Mỗi lời đều từng là một thiên thần hộ vệ bảo vệ tôi.
“Dearest Master! Rebuke me a million times — do scold me now!”
“Chân sư kính yêu nhất! Xin hãy khiển trách con một triệu lần — xin hãy quở trách con ngay bây giờ!”
“I shall chide you no more.” His divine voice was grave, yet with an undercurrent of laughter. “You and I shall smile together, so long as our two forms appear different in the maya-dream of God. Finally we shall merge as one in the Cosmic Beloved; our smiles shall be His smile, our unified song of joy vibrating throughout eternity to be broadcast to God-tuned souls!”
“Ta sẽ không trách mắng con nữa.” Giọng nói thiêng liêng của Ngài trang nghiêm, nhưng có một dòng cười ngầm bên dưới. “Con và ta sẽ cùng mỉm cười, bao lâu hai hình tướng của chúng ta còn hiện ra khác biệt trong giấc-mộng maya của Thượng đế. Cuối cùng chúng ta sẽ hòa nhập làm một trong Đấng Yêu Dấu Vũ Trụ; những nụ cười của chúng ta sẽ là nụ cười của Ngài, khúc ca hoan hỉ hợp nhất của chúng ta rung động suốt vĩnh cửu để truyền đến những linh hồn đã hòa điệu với Thượng đế!”
Sri Yukteswar gave me light on certain matters which I cannot reveal here. During the two hours that he spent with me in the Bombay hotel room he answered my every question. A number of world prophecies uttered by him that June day in 1936 have already come to pass.
Sri Yukteswar ban cho tôi ánh sáng về một số vấn đề mà tôi không thể tiết lộ ở đây. Trong hai giờ Ngài ở với tôi trong căn phòng khách sạn tại Bombay, Ngài trả lời mọi câu hỏi của tôi. Một số lời tiên tri về thế giới do Ngài thốt ra vào ngày tháng Sáu năm 1936 ấy đã trở thành sự thật.
“I leave you now, beloved one!” At these words I felt Master melting away within my encircling arms.
“Giờ ta rời con, hỡi người yêu dấu!” Nghe những lời này, tôi cảm thấy Chân sư tan biến trong vòng tay đang ôm lấy Ngài của tôi.
“My child,” his voice rang out, vibrating into my very soul-firmament, “whenever you enter the door of nirbikalpa samadhi and call on me, I shall come to you in flesh and blood, even as today.”
“Con của ta,” giọng Ngài vang lên, rung động vào tận bầu trời-linh hồn của tôi, “bất cứ khi nào con bước vào cánh cửa của nirbikalpa samadhi và kêu gọi ta, ta sẽ đến với con bằng xương bằng thịt, đúng như hôm nay.”
With this celestial promise Sri Yukteswar vanished from my sight. A cloud-voice repeated in musical thunder: “Tell all! Whosoever knows by nirbikalpa realization that your earth is a dream of God can come to the finer dream-created planet of Hiranyaloka, and there find me resurrected in a body exactly like my earthly one. Yogananda, tell all!”
Với lời hứa thiên thượng này, Sri Yukteswar biến mất khỏi tầm nhìn của tôi. Một giọng-nói-mây lặp lại trong tiếng sấm nhạc: “Hãy nói cho tất cả! Bất cứ ai biết, nhờ chứng nghiệm nirbikalpa, rằng Trái Đất của con là một giấc mơ của Thượng đế, đều có thể đến hành tinh tinh tế hơn, được tạo ra bằng mộng, là Hiranyaloka, và ở đó tìm thấy ta đã phục sinh trong một thân thể đúng hệt thân thể trần gian của ta. Yogananda, hãy nói cho tất cả!”
Gone was the sorrow of parting. The pity and grief for his death, long robber of my peace, now fled in stark shame. Bliss poured forth like a fountain through endless, newly opened soul pores. Anciently clogged with disuse, they now widened in purity at the driving flood of ecstasy. My former incarnations appeared before my inward eye in motion-picturelike sequence. Good and bad karma of the past was dissolved in the cosmic light shed around me by Master’s divine visit.
Nỗi buồn chia ly đã tan biến. Lòng thương xót và đau buồn vì cái chết của Ngài, kẻ cướp đoạt sự bình an của tôi từ lâu, giờ đây chạy trốn trong hổ thẹn trần trụi. Chí phúc tuôn trào như suối qua vô tận những lỗ chân lông linh hồn vừa mới mở. Xưa kia bị bít kín vì không dùng đến, giờ đây chúng mở rộng trong sự tinh khiết trước dòng lũ cuốn của trạng thái xuất thần. Những lần nhập thể trước kia của tôi hiện ra trước con mắt bên trong theo chuỗi như phim ảnh. Nghiệp quả thiện và ác của quá khứ tan biến trong ánh sáng vũ trụ mà cuộc viếng thăm thiêng liêng của Chân sư tỏa quanh tôi.
In this chapter of my autobiography I have obeyed my guru’s behest and spread the glad tidings, though they confound once more an incurious generation. Groveling, man knows well; despair is seldom alien; yet these are perversities, no part of man’s true lot. The day he wills, he is set on the path to freedom. Too long has he hearkened to the dank pessimism of his “dust-thou-art” counselors, heedless of the unconquerable soul.
Trong chương tự truyện này, tôi đã tuân theo lệnh truyền của vị đạo sư mình và truyền bá tin vui, dù tin ấy một lần nữa làm bối rối một thế hệ thiếu tò mò. Con người biết rõ sự quỵ lụy; tuyệt vọng hiếm khi xa lạ; tuy nhiên, những điều này là những lệch lạc, không phải phần thuộc về số phận chân thật của con người. Ngày y muốn, y được đặt trên con đường dẫn đến tự do. Quá lâu rồi y đã lắng nghe chủ nghĩa bi quan ẩm mốc của những cố vấn “ngươi-là-bụi-đất” của mình, mà không chú ý đến linh hồn bất khả chiến bại.
I was not the only one privileged to behold the Resurrected Guru.
Tôi không phải là người duy nhất có đặc ân được nhìn thấy Đạo sư Phục Sinh.
One of Sri Yukteswar’s chelas was an aged woman, affectionately known as Ma (Mother), whose home was close to the Puri hermitage. Master had often stopped to chat with her during his morning walk. On the evening of March 16, 1936, Ma arrived at the ashram and asked to see her guru.
Một trong các chela của Sri Yukteswar là một phụ nữ lớn tuổi, được trìu mến gọi là Ma (Mẹ), nhà bà ở gần ẩn viện Puri. Chân sư thường dừng lại trò chuyện với bà trong cuộc đi dạo buổi sáng của Ngài. Vào tối ngày 16 tháng Ba năm 1936, Ma đến ashram và xin gặp vị đạo sư của bà.
“Why, Master died a week ago!” Swami Sebananda, now in charge of the Puri hermitage, looked at her sadly.
“Ôi, Chân sư đã qua đời một tuần trước rồi!” Swami Sebananda, lúc ấy đang phụ trách ẩn viện Puri, buồn bã nhìn bà.
“That’s impossible!” she protested with a smile.
“Điều đó không thể nào!” bà phản đối với một nụ cười.
“No.” Sebananda recounted details of the burial. “Come,” he said, “I will take you to the front garden to his grave.”
“Không.” Sebananda kể lại các chi tiết về việc an táng. “Hãy đến,” ông nói, “tôi sẽ đưa bà ra vườn trước, đến mộ của Ngài.”
Ma shook her head. “There is no grave for him! This morning at ten o’clock he passed in his usual walk before my door! I talked to him for several minutes in the bright outdoors.
Ma lắc đầu. “Không có ngôi mộ nào cho Ngài cả! Sáng nay lúc mười giờ, Ngài đi qua trước cửa nhà tôi trong cuộc đi dạo thường lệ! Tôi đã nói chuyện với Ngài vài phút ngoài trời sáng rõ.
“‘Come this evening to the ashram,’ he said.
“‘Tối nay hãy đến ashram,’ Ngài nói.
“I am here! Blessings pour on this old gray head! The deathless guru wanted me to understand in what transcendent body he visited me this morning!”
“Tôi đã đến đây! Phúc lành tuôn xuống mái đầu bạc già nua này! Vị đạo sư bất tử muốn tôi thấu hiểu Ngài đã viếng thăm tôi sáng nay trong thân thể siêu việt nào!”
The astounded Sebananda knelt before her.
Sebananda kinh ngạc quỳ xuống trước bà.
“Ma,” he said, “what a weight of grief you lift from my heart! He is risen!”
“Ma,” ông nói, “bà đã nhấc khỏi trái tim tôi một gánh nặng đau buồn biết bao! Ngài đã phục sinh!”
1 In sabikalpa samadhi the devotee has attained realization of his oneness with Spirit but cannot maintain his cosmic consciousness except in the immobile trance state. By continuous meditation he reaches the superior state of nirbikalpa samadhi, in which he may move freely in the world without any loss of God-perception.
1 Trong sabikalpa samadhi, người sùng tín đã đạt chứng nghiệm về sự hợp nhất của mình với Tinh thần nhưng không thể duy trì tâm thức vũ trụ của mình ngoại trừ trong trạng thái xuất thần bất động. Nhờ tham thiền liên tục, y đạt đến trạng thái cao hơn của nirbikalpa samadhi, trong đó y có thể tự do di chuyển trong thế gian mà không mất sự nhận biết Thượng đế.
In nirbikalpa samadhi the yogi dissolves the last vestiges of his material or earthly karma. Nevertheless, he may still have certain astral and causal karma to work out, and therefore takes astral and then causal reembodiments on high-vibrational spheres.
Trong nirbikalpa samadhi, vị yogi làm tan biến những dấu vết cuối cùng của nghiệp quả vật chất hay trần gian của mình. Tuy nhiên, y vẫn có thể còn một số nghiệp quả cảm dục và nguyên nhân cần giải quyết, và vì thế nhận các lần tái nhập thể cảm dục rồi nguyên nhân trên những khối cầu có rung động cao.
2 Because most persons, enjoying the beauty of the astral worlds, do not see any necessity for strenuous spiritual effort.
2 Bởi vì phần lớn người, khi tận hưởng vẻ đẹp của các thế giới cảm dục, không thấy có nhu cầu nào đối với nỗ lực tinh thần nghiêm ngặt.
3 Sri Yukteswar used the word prana; I have translated it as lifetrons. The Hindu scriptures refer not only to the anu, “atom,” and to the paramanu, “beyond the atom,” finer electronic energies, but also to prana, “creative lifetronic force.” Atoms and electrons are blind forces; prana is inherently intelligent. The pranic lifetrons in the spermatozoa and ova, for instance, guide the development of the embryo according to a karmic design.
3 Sri Yukteswar dùng từ prana; tôi đã dịch nó là các sinh lực tử. Kinh điển Ấn giáo không chỉ nói đến anu, “nguyên tử,” và paramanu, “vượt ngoài nguyên tử,” tức các năng lượng điện tử tinh vi hơn, mà còn nói đến prana, “mãnh lực sinh lực tử sáng tạo.” Nguyên tử và điện tử là những mãnh lực mù quáng; prana vốn có trí tuệ nội tại. Chẳng hạn, các sinh lực tử prana trong tinh trùng và trứng hướng dẫn sự phát triển của phôi thai theo một thiết kế nghiệp quả.
4 Adjective of mantra, chanted seed-sounds discharged by the mental gun of concentration. The Puranas (ancient shastras or treatises) describe these mantric wars between devas and asuras (gods and demons). An asura once tried to slay a deva with a potent chant. Because of mispronunciation the mental bomb acted as a boomerang and killed the demon.
4 Tính từ của mantra, những âm thanh-hạt giống được xướng lên, phóng ra bởi khẩu súng trí tuệ của sự định trí. Các Purana (các shastra cổ hay khảo luận) mô tả những cuộc chiến mantric này giữa các deva và asura (chư thần và ma quỷ). Một asura từng cố giết một deva bằng một câu xướng mạnh mẽ. Vì phát âm sai, quả bom trí tuệ hoạt động như một vật ném quay lại và giết chết con quỷ.
5 Examples of such powers are not wanting even on earth, as in the case of Helen Keller and other rare beings.
5 Những ví dụ về các quyền năng như thế không thiếu ngay cả trên Trái Đất, như trong trường hợp Helen Keller và những sinh linh hiếm có khác.
6 On earth pure-minded children are sometimes able to see the graceful astral bodies of fairies. Through drugs or intoxicating drink, whose use is forbidden by all scriptures, a man may so derange his consciousness that he perceives the hideous forms in astral hells.
6 Trên Trái Đất, trẻ em có trí thanh khiết đôi khi có thể nhìn thấy các thể cảm dục duyên dáng của tiên nữ. Qua ma túy hoặc rượu say, việc sử dụng chúng bị mọi kinh điển cấm đoán, một người có thể làm rối loạn tâm thức mình đến mức y nhận thấy các hình tướng ghê tởm trong các địa ngục cảm dục.
7 Lord Buddha was once asked why a man should love all persons equally. “Because,” the great teacher replied, “in the very numerous and varied life-spans of each man, every other being has at one time or another been dear to him.”
7 Đức Phật từng được hỏi vì sao một người nên yêu thương tất cả mọi người một cách bình đẳng. “Bởi vì,” vị huấn sư vĩ đại đáp, “trong những vòng đời rất nhiều và rất khác nhau của mỗi người, mọi sinh linh khác vào lúc này hay lúc khác đều từng thân yêu với y.”
8 The eight elemental qualities that enter into all created life, from atom to man, are earth, water, fire, air, ether, sensory mind (manas), intelligence (buddhi), and individuality or ego (ahamkara). (Cf. Bhagavad Gita VII:4.)
8 Tám phẩm tính hành khí đi vào mọi sự sống được tạo thành, từ nguyên tử đến con người, là đất, nước, lửa, khí, dĩ thái, thể trí cảm giác (manas), trí tuệ (buddhi), và cá tính hay chân ngã (ahamkara). (So sánh Bhagavad Gita VII:4.)
9 “Body” signifies any soul encasement, whether gross or subtle. The three bodies are cages for the Bird of Paradise.
9 “Thể” biểu thị bất cứ lớp vỏ bọc nào của linh hồn, dù thô trọng hay tinh tế. Ba thể là những chiếc lồng cho Chim Thiên Đường.
10 Even as Babaji helped Lahiri Mahasaya to rid himself of a subconscious desire from some past life for a palace, as described in chapter 34.
10 Cũng như Babaji đã giúp Lahiri Mahasaya thoát khỏi một dục vọng tiềm thức từ một đời quá khứ nào đó đối với một cung điện, như đã mô tả trong chương 34.
11 “And he said unto them, Wheresoever the body is, thither will the eagles be gathered together.” — Luke 17:37. Wherever the soul is encased in the physical body or in the astral body or in the causal body, there the eagles of desires — which prey on human sense weaknesses, or on astral and causal attachments — will also gather to keep the soul a prisoner.
11 “Và Ngài phán với họ: Thân thể ở đâu, chim ưng sẽ tụ lại đó.” — Luke 17:37. Bất cứ nơi nào linh hồn bị bao bọc trong thể xác, hay trong thể cảm dục, hay trong thể nguyên nhân, ở đó những chim ưng của dục vọng — vốn rình mồi trên các yếu đuối giác quan của con người, hoặc trên những chấp trước cảm dục và nguyên nhân — cũng sẽ tụ lại để giữ linh hồn làm tù nhân.
12 “Him that overcometh will I make a pillar in the temple of my God, and he shall go no more out (i.e., shall reincarnate no more)….To him that overcometh will I grant to sit with me in my throne, even as I also overcame, and am set down with my Father in his throne.” — Revelation 3:12, 21.
12 “Kẻ nào thắng, Ta sẽ làm cho y thành một cột trụ trong đền thờ Thượng đế của Ta, và y sẽ không ra ngoài nữa (tức là sẽ không tái sinh nữa)….Kẻ nào thắng, Ta sẽ cho ngồi với Ta trên ngai của Ta, như chính Ta cũng đã thắng và ngồi với Cha Ta trên ngai của Ngài.” — Revelation 3:12, 21.
13 Sri Yukteswar was signifying that, even as in his earthly incarnation he had occasionally assumed the weight of disease to lighten his disciples’ karma, so in the astral world his mission as a savior enabled him to take on certain astral karma of dwellers on Hiranyaloka, and thus hasten their evolution into the higher causal world.
13 Sri Yukteswar muốn nói rằng, cũng như trong lần nhập thể trần gian của Ngài, đôi khi Ngài đã gánh lấy sức nặng của bệnh tật để làm nhẹ nghiệp quả của các đệ tử, thì trong thế giới cảm dục, sứ mệnh đấng cứu độ của Ngài khiến Ngài có thể nhận lấy một số nghiệp quả cảm dục nhất định của những cư dân trên Hiranyaloka, và nhờ vậy thúc đẩy sự tiến hóa của họ vào thế giới nguyên nhân cao hơn.
14 Hamlet (Act III, Scene 1).
14 Hamlet (Hồi III, Cảnh 1).
15 Life and death as relativities of thought only. Vedanta points out that God is the only Reality; all creation or separate existence is maya or illusion. This philosophy of monism received its highest expression in the Upanishad commentaries of Shankara.
15 Sự sống và cái chết chỉ như những tính tương đối của tư tưởng. Vedanta chỉ ra rằng Thượng đế là Thực Tại duy nhất; mọi sáng tạo hay tồn tại riêng rẽ đều là maya hay ảo tưởng. Triết lý nhất nguyên này đạt đến biểu hiện cao nhất trong các luận giải Upanishad của Shankara.
CHAPTER 44 — CHƯƠNG 44
With Mahatma Gandhi at Wardha — Cùng Mahatma Gandhi tại Wardha
“Welcome to Wardha!” Mahadev Desai, secretary to Mahatma Gandhi, greeted Miss Bletsch, Mr. Wright, and me with these cordial words and the gift of wreaths of khaddar (homespun cotton). Our little group had just arrived at the station in Wardha on an early morning in August, glad to leave the dust and heat of the train. Consigning our luggage to a bullock cart, we entered an open motorcar with Mr. Desai and his companions: Babasaheb Deshmukh and Dr. Pingale. A short drive over the muddy country roads brought us to “Maganvadi,” the ashram of India’s political saint.
“Chào mừng đến Wardha!” Mahadev Desai, thư ký của Mahatma Gandhi, chào Miss Bletsch, Mr. Wright và tôi bằng những lời thân ái này cùng món quà là các vòng hoa bằng khaddar (vải bông tự dệt). Nhóm nhỏ của chúng tôi vừa đến ga Wardha vào một buổi sáng sớm tháng Tám, vui mừng rời khỏi bụi và hơi nóng của tàu. Gửi hành lý lên một xe bò, chúng tôi bước vào một chiếc xe hơi mui trần cùng Mr. Desai và các bạn đồng hành của ông: Babasaheb Deshmukh và Dr. Pingale. Một chuyến đi ngắn qua những con đường quê lầy lội đưa chúng tôi đến “Maganvadi,” ashram của vị thánh chính trị Ấn Độ.
Mr. Desai led us at once to the writing room where, cross-legged, sat Mahatma Gandhi. Pen in one hand and a scrap of paper in the other, on his face a vast, winning, warmhearted smile!
Mr. Desai lập tức dẫn chúng tôi đến phòng viết, nơi Mahatma Gandhi đang ngồi xếp bằng. Một tay cầm bút, tay kia cầm mảnh giấy, trên gương mặt ông là một nụ cười bao la, thu phục lòng người và ấm áp!
“Welcome!” he scribbled in Hindi; it was a Monday, his weekly day of silence.
“Chào mừng!” ông viết nguệch ngoạc bằng tiếng Hindi; hôm ấy là thứ Hai, ngày im lặng hằng tuần của ông.
Though this was our first meeting, we beamed on each other affectionately. In 1925 Mahatma Gandhi had honored the Ranchi school by a visit, and had inscribed in its guest book a gracious tribute.
Dù đây là lần gặp gỡ đầu tiên của chúng tôi, chúng tôi mỉm cười rạng rỡ với nhau đầy trìu mến. Năm 1925, Mahatma Gandhi đã vinh danh trường Ranchi bằng một chuyến viếng thăm, và đã ghi trong sổ khách một lời tri ân duyên dáng.
The tiny 100-pound saint radiated physical, mental, and spiritual health. His soft brown eyes shone with intelligence, sincerity, and discrimination; this statesman has matched wits and emerged the victor in a thousand legal, social, and political battles. No other leader in the world has attained the secure niche in the hearts of his people that Gandhi occupies for India’s unlettered millions. Their spontaneous tribute is his famous title — Mahatma, “great soul.”1 For them alone Gandhi confines his attire to the widely cartooned loincloth, symbol of his oneness with the downtrodden masses who can afford no more.
Vị thánh nhỏ bé nặng một trăm pao tỏa ra sức khỏe hồng trần, trí tuệ và tinh thần. Đôi mắt nâu dịu của ông sáng lên với trí thông minh, sự chân thành và phân biện; vị chính khách này đã so tài trí tuệ và nổi lên như người chiến thắng trong hàng ngàn trận chiến pháp lý, xã hội và chính trị. Không nhà lãnh đạo nào khác trên thế giới đạt được vị trí vững chắc trong trái tim dân tộc mình như Gandhi chiếm giữ đối với hàng triệu người Ấn Độ không biết chữ. Sự tôn vinh tự phát của họ là danh hiệu nổi tiếng của ông — Mahatma, “đại hồn.”1 Chỉ vì họ mà Gandhi giới hạn y phục của mình vào chiếc khố đã được biếm họa rộng rãi, biểu tượng cho sự hợp nhất của ông với quần chúng bị áp bức, những người không đủ khả năng có hơn thế.
“The ashram residents are wholly at your disposal; please call on them for any service.” With characteristic courtesy, the Mahatma handed me this hastily written note as Mr. Desai led our party from the writing room toward the guest house.
“Các cư dân ashram hoàn toàn tùy ông sử dụng; xin hãy gọi họ cho bất cứ sự phụng sự nào.” Với phép lịch sự đặc trưng, Mahatma trao cho tôi mảnh giấy viết vội này khi Mr. Desai dẫn nhóm chúng tôi rời phòng viết đi về phía nhà khách.
Our guide led us through orchards and flowering fields to a tile-roofed building with latticed windows. A front-yard well, twenty-five feet across, was used, Mr. Desai said, for watering stock; nearby stood a revolving cement wheel for threshing rice. Each of our small bedrooms proved to contain only the irreducible minimum — a bed, handmade of rope. The whitewashed kitchen boasted a faucet in one corner and a fire pit for cooking in another. Simple Arcadian sounds reached our ears — the cries of crows and sparrows, the lowing of cattle, and the rap of chisels being used to chip stones.
Người hướng dẫn đưa chúng tôi qua các vườn cây ăn trái và những cánh đồng hoa đến một tòa nhà mái ngói có cửa sổ mắt cáo. Mr. Desai nói rằng một giếng ở sân trước, đường kính hai mươi lăm bộ, được dùng để cho gia súc uống nước; gần đó có một bánh xe xi măng quay dùng để tuốt lúa. Mỗi phòng ngủ nhỏ của chúng tôi hóa ra chỉ chứa mức tối thiểu không thể giảm hơn — một chiếc giường, làm thủ công bằng dây thừng. Căn bếp quét vôi trắng có một vòi nước ở một góc và một hố lửa để nấu ăn ở góc khác. Những âm thanh đồng quê giản dị vọng đến tai chúng tôi — tiếng quạ và chim sẻ kêu, tiếng bò rống, và tiếng đục gõ để đẽo đá.
Observing Mr. Wright’s travel diary, Mr. Desai opened it and wrote on a page a list of Satyagraha2 vows taken by all of the Mahatma’s earnest followers (satyagrahis):
Nhìn thấy nhật ký du hành của Mr. Wright, Mr. Desai mở ra và viết trên một trang danh sách các lời nguyện Satyagraha2 mà tất cả những người theo Mahatma một cách chân thành (satyagrahi) đều giữ:
“Nonviolence; Truth; Non-Stealing; Celibacy; Non-Possession; Body Labor; Control of the Palate; Fearlessness; Equal Respect for all Religions; Swadeshi (use of home manufactures); Freedom from Untouchability. These eleven should be observed as vows in a spirit of humility.”
“Bất bạo động; Chân lý; Không trộm cắp; Độc thân; Không sở hữu; Lao động thân thể; Kiểm soát khẩu vị; Không sợ hãi; Tôn trọng bình đẳng mọi tôn giáo; Swadeshi (dùng sản phẩm trong nước); Tự do khỏi sự bất khả tiếp xúc. Mười một điều này nên được tuân giữ như các lời nguyện trong tinh thần khiêm nhường.”
(Gandhi himself signed this page on the following day, giving the date also — August 27, 1935.)
(Chính Gandhi đã ký trang này vào ngày hôm sau, đồng thời ghi cả ngày tháng — 27 tháng Tám, 1935.)
Two hours after our arrival my companions and I were summoned to lunch. The Mahatma was already seated under the arcade of the ashram porch, across the courtyard from his study. About twenty-five barefooted satyagrahis were squatting before brass cups and plates. A community chorus of prayer; then a meal served from large brass pots containing chapatis (whole-wheat unleavened bread) sprinkled with ghee; talsari (boiled and diced vegetables), and a lemon jam.
Hai giờ sau khi đến, các bạn đồng hành của tôi và tôi được gọi đi ăn trưa. Mahatma đã ngồi sẵn dưới dãy vòm của hiên ashram, bên kia sân đối diện phòng làm việc của ông. Khoảng hai mươi lăm satyagrahi chân trần đang ngồi xổm trước các chén và đĩa bằng đồng thau. Một hợp xướng cầu nguyện chung; rồi bữa ăn được dọn từ những nồi đồng thau lớn chứa chapati (bánh mì không men làm bằng lúa mì nguyên cám) rưới ghee; talsari (rau luộc thái hạt lựu), và mứt chanh.
The Mahatma ate chapatis, boiled beets, some raw vegetables, and oranges. On the side of his plate was a large lump of very bitter neem leaves, a notable blood cleanser. With a spoon he separated a portion and placed it on my dish. I bolted it down with water, remembering childhood days when Mother had forced me to swallow the unpleasant dose. Gandhi, however, was eating the neem paste bit by bit without distaste.
Mahatma ăn chapati, củ dền luộc, vài loại rau sống và cam. Bên cạnh đĩa của ông là một cục lớn lá neem rất đắng, một chất thanh lọc máu nổi tiếng. Bằng một chiếc muỗng, ông tách một phần và đặt lên đĩa tôi. Tôi nuốt vội với nước, nhớ lại những ngày thơ ấu khi Mẹ buộc tôi phải nuốt liều thuốc khó chịu ấy. Tuy nhiên, Gandhi đang ăn từng chút bột neem mà không hề khó chịu.
In this trifling incident I noted the Mahatma’s ability to detach his mind from the senses at will. I recalled a much-publicized appendectomy performed on him some years ago. Refusing anesthetics, the saint had chatted cheerfully with his devotees throughout the operation, his calm smile revealing his unawareness of pain.
Trong sự việc nhỏ nhặt này, tôi nhận thấy khả năng của Mahatma tách rời thể trí khỏi các giác quan theo ý muốn. Tôi nhớ lại một ca mổ ruột thừa được quảng bá rộng rãi đã thực hiện trên ông vài năm trước. Từ chối thuốc mê, vị thánh đã vui vẻ trò chuyện với các tín đồ suốt cuộc phẫu thuật, nụ cười bình thản của ông cho thấy ông không biết đến đau đớn.
The afternoon brought me an opportunity for a chat with Gandhi’s noted disciple, daughter of an English admiral, Miss Madeleine Slade, now called Mira Behn.3 Her strong, calm face lit with enthusiasm as she told me, in flawless Hindi, of her daily activities.
Buổi chiều đem đến cho tôi cơ hội trò chuyện với đệ tử nổi tiếng của Gandhi, con gái của một đô đốc Anh, Miss Madeleine Slade, nay gọi là Mira Behn.3 Gương mặt mạnh mẽ, bình thản của bà sáng lên với nhiệt tình khi bà kể cho tôi, bằng tiếng Hindi hoàn hảo, về các hoạt động hằng ngày của mình.
“Rural reconstruction work is rewarding! A group of us go every morning at five o’clock to serve the nearby villagers and teach them simple hygiene. We make it a point to clean their latrines and thatched mud huts. The villagers are illiterate; they cannot be educated except by example!” She laughed gaily.
“Công việc tái thiết nông thôn thật đáng công! Một nhóm chúng tôi mỗi sáng đi lúc năm giờ để phụng sự dân làng gần đó và dạy họ vệ sinh đơn giản. Chúng tôi xem việc dọn sạch nhà xí và những túp lều bùn mái tranh của họ là điều phải làm. Dân làng không biết chữ; họ không thể được giáo dục ngoại trừ bằng gương mẫu!” Bà cười vui vẻ.
I looked in admiration at this highborn Englishwoman whose true Christian humility enables her to do the scavengering work usually performed only by “untouchables.”
Tôi nhìn với lòng ngưỡng mộ người phụ nữ Anh thuộc dòng dõi cao quý này, người mà sự khiêm nhường Kitô giáo chân thật khiến bà có thể làm công việc dọn rác thường chỉ do những người “bất khả tiếp xúc” thực hiện.
“I came to India in 1925,” she told me. “In this land I feel that I have ‘come back home.’ Now I would never be willing to return to my old life and old interests.”
“Tôi đến Ấn Độ năm 1925,” bà nói với tôi. “Trên mảnh đất này, tôi cảm thấy mình đã ‘trở về nhà.’ Giờ đây tôi sẽ không bao giờ sẵn lòng quay lại đời sống cũ và những mối quan tâm cũ của mình.”
We discussed America for a while. “I am always pleased and amazed,” she said, “to see the deep interest in spiritual subjects shown by many of the Americans who visit India.”4
Chúng tôi thảo luận về Hoa Kỳ một lúc. “Tôi luôn hài lòng và kinh ngạc,” bà nói, “khi thấy sự quan tâm sâu sắc đối với các chủ đề tinh thần nơi nhiều người Mỹ viếng thăm Ấn Độ.”4
Mira Behn’s hands were soon busy at a charka (spinning wheel). Owing to the Mahatma’s efforts, charkas are now omnipresent in rural India.
Đôi tay Mira Behn chẳng bao lâu đã bận rộn bên một charka (guồng quay sợi). Nhờ những nỗ lực của Mahatma, charka giờ đây hiện diện khắp nơi ở nông thôn Ấn Độ.
Gandhi has sound economic and cultural reasons for encouraging the revival of cottage industries, but he does not counsel a fanatical repudiation of all modern progress. Machinery, trains, automobiles, the telegraph have played important parts in his own colossal life! Fifty years of public service, in prison and out, wrestling daily with practical details and harsh realities in the political world, have only increased his balance, open-mindedness, sanity, and humorous appreciation of the quaint human spectacle.
Gandhi có những lý do kinh tế và văn hóa vững chắc để khuyến khích sự phục hưng các nghề thủ công tại gia, nhưng ông không khuyên một sự bác bỏ cuồng tín đối với mọi tiến bộ hiện đại. Máy móc, tàu hỏa, ô tô, điện tín đã đóng những vai trò quan trọng trong chính đời sống khổng lồ của ông! Năm mươi năm phụng sự công chúng, trong tù và ngoài tù, hằng ngày vật lộn với các chi tiết thực tiễn và những thực tại khắc nghiệt trong thế giới chính trị, chỉ làm tăng thêm sự quân bình, cởi mở, lành mạnh và khả năng thưởng thức hài hước của ông trước màn trình diễn kỳ lạ của con người.