Tóm lược chương
Thầy MDR bắt đầu phần bình giảng thứ hai về các Định luật của Linh hồn, tập trung vào Định luật Hi Sinh — định luật đầu tiên và nền tảng trong bảy định luật của đời sống nhóm, được trình bày trong Tâm Lý Học Nội Môn quyển 2, trang 89. Chân sư DK mô tả phần này là "khó khăn và gây tranh cãi," và Thầy MDR xác nhận điều này từ kinh nghiệm giảng dạy tại Đại học Bảy Cung, nơi Thầy quan sát các môn sinh thường cố tái định nghĩa hi sinh để loại bỏ yếu tố đau đớn khỏi khái niệm này. Sợi chỉ vàng dẫn xuyên qua mê cung của định luật này chính là tình thương nhóm, thấu hiểu nhóm, quan hệ nhóm và hành xử nhóm — bốn yếu tố này là chìa khóa cho toàn bộ…
Commentary Laws of the Soul 2
Tóm Tắt
Giới thiệu Định luật Hi Sinh và bối cảnh giảng giải
Thầy MDR bắt đầu phần bình giảng thứ hai về các Định luật của Linh hồn, tập trung vào Định luật Hi Sinh — định luật đầu tiên và nền tảng trong bảy định luật của đời sống nhóm, được trình bày trong Tâm Lý Học Nội Môn quyển 2, trang 89. Chân sư DK mô tả phần này là "khó khăn và gây tranh cãi," và Thầy MDR xác nhận điều này từ kinh nghiệm giảng dạy tại Đại học Bảy Cung, nơi Thầy quan sát các môn sinh thường cố tái định nghĩa hi sinh để loại bỏ yếu tố đau đớn khỏi khái niệm này. Sợi chỉ vàng dẫn xuyên qua mê cung của định luật này chính là tình thương nhóm, thấu hiểu nhóm, quan hệ nhóm và hành xử nhóm — bốn yếu tố này là chìa khóa cho toàn bộ các định luật linh hồn.
Biểu tượng của Định luật Hi Sinh và màu sắc hồng
Tên huyền bí của Định luật Hi Sinh là "Định luật của những ai chọn cái chết," mang năng lượng của Sao Thổ và dấu hiệu Thiên Bình, với biểu tượng là một cây thập giá hồng và một con chim vàng lơ lửng phía trên. Màu hồng biểu thị sự kết hợp giữa màu trắng của tổng hợp với màu đỏ của dục vọng, tượng trưng cho sự chuyển hoá của thể cảm dục thoát khỏi màu đỏ Hỏa tinh. Thầy MDR giải thích rằng con chim vàng là linh hồn đang bay tự do, và đây là "năng lượng cung bốn tuôn đổ tạo nên nhân tố hợp nhất" — năng lượng hòa giải các cặp đối lập, đòi hỏi sự rời bỏ cực thấp để ôm trọn cực cao.
Bài kệ về hang động và cây thập giá lật ngược
Thầy MDR trích dẫn hai giai đoạn từ Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới (tập I, trang 469): Giai đoạn IV mô tả linh hồn đi vào hang tối dài và hẹp, đầy sương mù và ảo cảm, nhìn thấy từ xa một thập giá hồng trên nền xanh với một viên kim cương trên đỉnh năm cánh; Giai đoạn V tuyên bố "Thập giá bị lật ngược; con đường trống rỗng," và vị đệ tử được lệnh "Hãy vào lại sân chơi của Đức Chúa Tể và lần này dẫn dắt các trò chơi." Thầy MDR lưu ý rằng hang tối này thuộc Con Đường Điểm Đạo, và ánh xanh ở cuối hang là màu của cung hai, hứa hẹn sự gia nhập vào giới linh hồn.
Định luật Hi Sinh và quá trình dịch chuyển phân cực
Thầy MDR giải thích rằng Định luật Hi Sinh là nền tảng dẫn suốt đến lần điểm đạo thứ tư, và sự hi sinh diễn ra trong từng cánh hoa hi sinh — cánh thứ ba trong mỗi tầng của Hoa Sen Chân Ngã: vô thức ở cánh thứ ba, có ý thức hơn ở cánh thứ sáu, và hoàn toàn có ý thức ở cánh thứ chín dành cho điểm đạo đồ dự bị của lần điểm đạo thứ ba. Hành giả đang dịch chuyển phân cực từ đồng nhất với phàm ngã sang đồng nhất với linh hồn, tức rời bỏ những năng lượng và hình tướng của hệ mặt trời trước, vốn là di sản của sự thất bại của Hành Tinh Thượng đế trên Dãy Mặt Trăng. Thầy MDR nhận xét rằng điều này là tất yếu trên Trái Đất — hành tinh có biểu tượng là thập giá trong vòng tròn — nơi mọi điều kiện đều ép buộc chúng ta vào hoàn cảnh hi sinh.
Định luật Hi Sinh trong các tôn giáo và thời đại Song Ngư
Chân sư DK khẳng định Định luật Hi Sinh đạt biểu hiện lớn nhất trong thời đại Song Ngư, và Thầy MDR liên hệ điều này với công trình vĩ đại của Đức Christ — Chưởng Giáo của Thánh Đoàn — người đã đem lý tưởng hi sinh đến với hàng tỷ người. Thầy MDR lưu ý rằng người bạn và đồng nghiệp Robert Burrell đã thực hiện các chương trình video xuất sắc về Tôn giáo Thế giới Mới, chỉ ra sự song song trong cuộc đời của nhiều đấng cứu thế đại diện cho các tôn giáo khác nhau. Gốc từ "religare" của từ "religion" có nghĩa là "gắn kết trở lại với thiên tính," và hi sinh chính là phương tiện để tái kết nối đó — từ bỏ quá khứ để hướng đến tương lai được cảm nhận qua đức tin nhiều hơn là kinh nghiệm.
Xung động của sự cho đi và bí mật của sự tha thứ
Chân sư DK định nghĩa bản chất thực của Định luật Hi Sinh là "xung động của sự cho đi" — từ đó xuất phát toàn bộ bí mật của học thuyết tha thứ tội lỗi và hợp nhất. Thầy MDR phân tích rằng sự tha thứ thực sự là khi chúng ta nhận ra bản ngã của người khác chính là bản ngã của mình — đó là một phương diện của Đấng Duy Nhất tha thứ cho một phương diện khác của cùng một Đấng Duy Nhất. Thầy MDR minh họa bằng câu chuyện Jean Valjean trong Les Misérables: hành động cho đi không điều kiện của vị linh mục đã chuyển đổi hoàn toàn cuộc đời Valjean, trong khi Javert — người không thể tiếp nhận sự tha thứ — đã tự vẫn vì không thể nắm bắt khả năng đó.
Sự tha thứ như lời khẳng định tinh thần và tính vô hạn của sự cứu chuộc
Thầy MDR đề xuất rằng sự tha thứ là lời khẳng định về sự bất khả chiến bại và vô tì vết của tinh thần trong người khác — khi ta yêu thương và tha thứ, ta nói "có điều gì đó trong bạn là hoàn hảo và đáng yêu mãi mãi." Thầy MDR suy luận về tính vô hạn của các vũ trụ trước đây: mỗi chúng sinh đang ở trong trạng thái tội lỗi hiện tại thực ra là "người tốt nghiệp của vinh quang vô số vũ trụ," và tội lỗi chỉ là trạng thái vô minh thoáng qua so với cuộc sống vĩnh cửu. Câu trích dẫn "Ta, nếu được nhấc lên, sẽ kéo tất cả mọi người đến với ta" được Thầy MDR liên kết với năng lượng cung bốn — năng lượng hợp nhất đang kéo chiều thấp của các cặp đối lập lên cao.
Sự bóp méo học thuyết hi sinh và phê bình thuyết Calvin
Chân sư DK phê phán mạnh mẽ sự bóp méo của con người đối với chân lý hi sinh, đặc biệt gọi thuyết "những người được chọn" của Calvin là "học thuyết đáng nguyền rủa" — điều hiếm khi Chân sư DK dùng ngôn ngữ mạnh như vậy. Thầy MDR nhận xét rằng Calvin có nhiều cung năm trong trí tuệ và kết luận một cách "logic" rằng Thượng đế toàn năng tiền định ai được cứu và ai bị đày, hoàn toàn phủ nhận sự nội tại của Thượng đế. Thầy MDR liên kết con số 144.000 người được cứu với ý nghĩa huyền môn trong Luận về Chánh Thuật: đó là những ai có đủ 144 cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã đã khai mở cộng với ba mật mã của phàm ngã — tức điều kiện năng lượng dẫn đến hợp nhất với các cõi cao và được tái hấp thu vào các trạng thái bất tử.
Định luật Hi Sinh và hàm ý nhóm
Chân sư DK khẳng định ý nghĩa thực của hi sinh chỉ có thể được thấu hiểu đúng đắn khi "các hàm ý nhóm được nghiên cứu cẩn thận hơn" — tức khi tính bao gồm thay thế tính cứu rỗi cá nhân. Thầy MDR kết nối điều này với sự xuất hiện của linh hồn cung hai của Hành Tinh Thượng đế: đây là thời điểm nhân loại cần thấu hiểu giá trị của Định luật Hi Sinh và tiềm năng nâng cao của nó, vì không có hi sinh thì không có tiến bộ tinh thần. Thầy MDR kết thúc bằng nhận xét cá nhân rằng Thầy đã đọc cuốn Tâm Lý Học Nội Môn lần đầu cách đây bốn mươi hai năm và vẫn tiếp tục khám phá thêm ánh sáng và thấu hiểu từ mỗi lần đọc chậm và suy ngẫm sâu.
The Law of the Soul 2
1. The Law of Sacrifice
1. Định luật Hy sinh
[1] The section upon which we now enter in our studies will be difficult and controversial. [2] The thread which will guide us out of the bewildering maze of thought into which we must perforce enter, [3] is the golden one of group love, [4] group understanding, group relations and group conduct.
[1] Phần mà giờ đây chúng ta bước vào nghiên cứu sẽ khó khăn và gây nhiều tranh luận. [2] Sợi dây sẽ dẫn chúng ta ra khỏi mê cung tư tưởng rối rắm mà chúng ta buộc phải đi vào, [3] chính là sợi dây vàng của tình thương tập thể, [4] sự thấu hiểu tập thể, các mối quan hệ tập thể và cách hành xử tập thể.
No.
Exoteric Name
Esoteric Name
Symbol
Ray Energy
1.
The Law of sacrifice
The Law of those who choose to die
A rosy Cross with a golden bird.
Outpouring fourth ray, at-one-ing energy.
Số
Tên ngoại môn
Tên nội môn
Biểu tượng
Năng lượng Cung
1.
Định luật Hy sinh
Định luật của những người chọn cái chết
Một Thập Giá màu hồng với một con chim vàng.
Năng lượng tuôn đổ của cung bốn, năng lượng hợp nhất.
[5] This law of sacrifice, which is the first of the laws to be grasped by the human intelligence, [6] and is therefore the easiest for man to understand [7] (because he is already governed by it [Page 88] and, therefore, aware of it) [8] came to its first major expression [9] during this slowly disappearing age, [10] the present age, the Piscean age. [11] This law has always been functioning and active in the world, [12] for it is one of the first of the inner subjective laws [13] to express itself consciously, and as an active ideal, in human life. [14] The theme of all the world religions has been divine sacrifice, the immolation of the cosmic Deity through, the process of universal creation, and of the world Saviors, by Their death and sacrifice as a means of salvation and eventual release and liberation. [15] Such is the blindness and such is the contaminating influence of the lower separative man, [16] that this divine law of sacrifice is wielded with the selfish intent of personal and individual salvation. [17] But the travestied truth remains the unsullied truth on its own plane, [18] and this dominant world law governs the appearing and the disappearing of universes, [19] of solar systems, of races and of nations, of world leaders and world rulers, of incarnating human beings and of revealing Sons of God.
[5] Định luật Hy sinh này là định luật đầu tiên trong các định luật mà trí tuệ con người có thể nắm bắt, [6] và do đó là định luật dễ hiểu nhất đối với con người [7] (bởi y đã chịu sự chi phối của nó [Page 88] và vì thế có ý thức về nó); [8] định luật này đạt đến biểu hiện lớn đầu tiên [9] trong thời đại đang từ từ biến mất này, [10] tức thời đại hiện nay, Thời đại Song Ngư. [11] Định luật này luôn luôn vận hành và hoạt động trong thế giới, [12] vì nó là một trong những định luật nội tại chủ quan đầu tiên [13] biểu hiện một cách hữu thức và như một lý tưởng tích cực trong đời sống con người. [14] Chủ đề của tất cả các tôn giáo thế giới là sự hy sinh thiêng liêng, sự hiến tế của Thượng đế Vũ Trụ thông qua tiến trình sáng tạo vũ trụ, và sự hiến tế của các Đấng Cứu Thế, qua cái chết và sự hy sinh của Các Ngài như một phương tiện để cứu rỗi, cuối cùng dẫn đến giải thoát và tự do. [15] Sự mù quáng và ảnh hưởng ô nhiễm của phàm nhân thấp kém và chia rẽ lớn đến mức [16] định luật hy sinh thiêng liêng này được vận dụng với ý định ích kỷ nhằm đạt được sự cứu rỗi cá nhân và riêng rẽ. [17] Nhưng chân lý bị xuyên tạc ấy vẫn là chân lý tinh tuyền trên cõi riêng của nó, [18] và định luật thế giới chi phối này cai quản sự xuất hiện và biến mất của các vũ trụ, [19] các hệ mặt trời, các nhân loại và các quốc gia, các nhà lãnh đạo và những người cai trị thế giới, những con người đang lâm phàm và những Con của Thượng đế đang mặc khải.
[20] Let us see if we can interpret or define the true significance of this law, which is in reality the expression of a divine impulse, leading to a defined activity, with its consequent and subsequent results and effects. [21] It was this aspect of sacrifice which led to the creation of the worlds and to the manifestation of the divine Creator.
[20] Chúng ta hãy xem liệu có thể diễn giải hoặc định nghĩa thâm nghĩa đích thực của định luật này hay không; trên thực tế, nó là sự biểu hiện của một xung lực thiêng liêng, dẫn đến một hoạt động xác định, cùng những kết quả và tác động kéo theo và tiếp sau đó. [21] Chính phương diện hy sinh này đã dẫn đến việc sáng tạo các thế giới và sự biểu hiện của Đấng Sáng Tạo thiêng liêng.
[21b] It might help to a better understanding of the Law of Sacrifice if it were expressed through synonymous words and terms.
[21b] Có lẽ sẽ giúp chúng ta thấu hiểu Định luật Hy sinh rõ hơn nếu diễn đạt nó bằng những từ và thuật ngữ đồng nghĩa.
[21c] a. THE SIGNIFICANCE OF THE LAW OF SACRIFICE
[21c] a. THÂM NGHĨA CỦA ĐỊNH LUẬT HY SINH
[22] It means the impulse of giving. [23] The whole secret of the doctrines of “the forgiveness of sins” and of the “at-onement” lies hid in this simple phrase. [24] It is the basis of the Christian doctrine of love and sacrifice. [25] Hence the emphasis [Page 89] laid, in the Piscean Age and through the influence of Christianity, upon just these two things, — forgiveness and atonement. [26] That man, as usual, distorted and misinterpreted the teaching and the truth, and that it fell, as does all else at present, under the glamour and illusion of the astral plane, [27] plus the Piscean influence, is true. Man’s thought dominated and distorted the ideal and produced [28] such a damnable doctrine as the elect of God, the chosen of the Lord, or the sole people to benefit by the sacrifice and death of the great Son of God, [29] and who pass, due to the merits of that vicarious death, into a state of bliss in heaven, simply because of an emotional choice, which ignores millions of those who have made no such choice, nor had the opportunity to do so. [30] The symbolic activity of the great Teacher of Nazareth will be properly understood and its significance will be properly appreciated only when group implications are more carefully studied, [31] the meaning of sacrifice and of death come into their rightful place [32] in the human consciousness, and the law of giving, [33] with all that that entails, is correctly understood and applied. Those who thus sacrifice are:
[22] Nó có nghĩa là xung lực ban cho. [23] Toàn bộ bí mật của các giáo lý về “sự tha thứ tội lỗi” và về “sự hợp nhất” đều ẩn chứa trong cụm từ đơn giản này. [24] Nó là nền tảng của giáo lý Cơ Đốc giáo về tình thương và sự hy sinh. [25] Do đó, trong Thời đại Song Ngư và dưới ảnh hưởng của Cơ Đốc giáo, [Page 89] người ta đã đặc biệt nhấn mạnh chính hai điều này—sự tha thứ và sự hợp nhất. [26] Quả thật, như thường lệ, con người đã xuyên tạc và diễn giải sai giáo lý cùng chân lý, và cũng như mọi điều khác hiện nay, giáo lý ấy rơi dưới ảnh hưởng của ảo cảm và ảo tưởng của cõi cảm dục, [27] cộng thêm ảnh hưởng Song Ngư. Tư tưởng của con người đã chi phối và xuyên tạc lý tưởng ấy, đồng thời tạo ra [28] một giáo lý đáng nguyền rủa như quan niệm về những người được Thượng đế tuyển chọn, những người được Chúa lựa chọn, hoặc một dân tộc duy nhất được hưởng lợi từ sự hy sinh và cái chết của Con vĩ đại của Thượng đế, [29] và nhờ công đức của cái chết thay thế ấy mà bước vào trạng thái chí phúc trên thiên đường, chỉ đơn giản do một sự lựa chọn cảm xúc—một lựa chọn phớt lờ hàng triệu người chưa từng đưa ra lựa chọn như vậy, cũng như chưa từng có cơ hội để làm điều đó. [30] Hoạt động mang tính biểu tượng của vị Huấn Sư vĩ đại thành Nazareth sẽ chỉ được thấu hiểu đúng đắn và thâm nghĩa của nó chỉ được đánh giá đúng mức khi những hàm ý đối với tập thể được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn, [31] khi ý nghĩa của sự hy sinh và cái chết có được vị trí đúng đắn của chúng [32] trong tâm thức con người, và khi định luật ban cho, [33] cùng tất cả những gì mà định luật ấy bao hàm, được thấu hiểu và áp dụng đúng đắn. Những người hy sinh như thế là:
Bình Giảng Webinar 2 Các Định Luật của Linh Hồn
Hello friends, today is the 25th of September, 2013, and we are working on a new section. It is an extensive section from Esoteric Psychology, and it is what we call the Laws of the Soul Webinar Commentaries. We have done the introduction so far, and I stopped at the Law of Sacrifice, which is the very first and foundational law of the seven laws of group life. So let us undertake this work together and see what we discover in terms of the new set of laws by which we must live when we are transiting out of identification with the personality into identification as the soul.
Xin chào các bạn, hôm nay là ngày 25 tháng 9 năm 2013, và chúng ta đang nghiên cứu một phần mới. Đây là một phần dài trong Tâm Lý Học Nội Môn, được chúng ta gọi là Các Bình Giảng Webinar về Các Định Luật của Linh Hồn. Cho đến nay, chúng ta đã hoàn tất phần dẫn nhập, và tôi dừng lại ở Định luật Hy Sinh, định luật đầu tiên và nền tảng trong bảy định luật của đời sống tập thể. Vậy chúng ta hãy cùng đảm nhận công việc này và xem mình khám phá được điều gì về hệ thống định luật mới mà chúng ta phải sống theo khi chuyển từ sự đồng hóa với phàm ngã sang sự đồng hóa với tư cách linh hồn.
[1] The section upon which we now enter in our studies will be difficult and controversial.
[1] Phần mà giờ đây chúng ta bước vào nghiên cứu sẽ khó khăn và gây nhiều tranh luận.
I can attest to that. So many disciples abhor the idea of sacrifice. Actually, it is true—it's quite amazing, but they do; we do. There's something in us that does not want to give up our prerogatives as personalities.
Tôi có thể xác nhận điều đó. Rất nhiều đệ tử ghê sợ ý tưởng hy sinh. Thật vậy, điều này khá đáng kinh ngạc, nhưng họ quả thực như thế; chúng ta cũng vậy. Có một điều gì đó trong chúng ta không muốn từ bỏ những đặc quyền của mình với tư cách phàm ngã.
[2] The thread which will guide us out of the bewildering maze of thought into which we must perforce enter,
[2] Sợi dây sẽ dẫn chúng ta ra khỏi mê cung tư tưởng rối rắm mà chúng ta buộc phải đi vào,
—you can understand DK's service here in guiding us through this maze, because he has the acuity to do it—
—các bạn có thể thấu hiểu sự phụng sự của Chân sư DK khi Ngài dẫn dắt chúng ta xuyên qua mê cung này, bởi Ngài có sự tinh tường để làm điều đó—
[3] is the golden one of group love,
[3] chính là sợi dây vàng của tình thương tập thể,
This will always be found as the key to all of these laws, the ever-present key to these laws:
Điều này luôn được nhận thấy là chìa khóa của tất cả các định luật ấy, chìa khóa luôn hiện diện của chúng:
[4] group understanding, group relations and group conduct.
[4] sự thấu hiểu tập thể, các mối quan hệ tập thể và cách hành xử tập thể.
These are indeed the laws of group life, and that is the way they were discussed in A Treatise on Cosmic Fire, where this section, like so many anticipatory sections, was first undertaken. It's quite astonishing how many seeds Master DK planted in this large book written for initiates, and then he unfolded them: the white magic seed, the esoteric astrological seed, the esoteric psychological seed. Was there anything on healing? There certainly was plenty on initiation. The unfoldments came later in larger books than the original presentation of the subject in Cosmic Fire, and in books in which he spoke more to the disciple at our level of understanding than to the initiate per se.
Đây thực sự là các định luật của đời sống tập thể, và chúng đã được bàn đến theo cách ấy trong Luận về Lửa Vũ Trụ, nơi phần này, cũng như rất nhiều phần có tính báo trước khác, lần đầu tiên được trình bày. Thật đáng kinh ngạc khi thấy Chân sư DK đã gieo biết bao hạt giống trong quyển sách lớn viết cho các điểm đạo đồ này, rồi sau đó Ngài khai mở chúng: hạt giống Chánh Thuật, hạt giống chiêm tinh học nội môn, hạt giống tâm lý học nội môn. Có điều gì về trị liệu không? Chắc chắn có rất nhiều điều về điểm đạo. Những nội dung khai triển xuất hiện về sau trong các quyển sách lớn hơn phần trình bày ban đầu về chủ đề ấy trong Luận về Lửa Vũ Trụ, và trong những sách mà Ngài nói với đệ tử ở cấp độ thấu hiểu của chúng ta nhiều hơn là với chính điểm đạo đồ.
So the exoteric name of this law is the Law of Sacrifice, and the esoteric name is The Law of those who choose to die. We see the element of Saturn, of Libra, involved here. The symbol is a rosy Cross with a golden bird. The sixth ray energy has been involved in the rose color. The golden bird is the soul, and the golden bird is, I think, above the rosy cross. I think what we have to do is find that particular tabulation in which all of these are listed. Yes, so actually here we have a fuller elaboration, a little bit more about the symbol.
Tên ngoại môn của định luật này là Định luật Hy Sinh, còn tên nội môn là Định luật của những người chọn cái chết. Ở đây, chúng ta thấy có sự tham dự của yếu tố Sao Thổ và Thiên Bình. Biểu tượng là một Thập Giá màu hồng với một con chim vàng. Năng lượng cung sáu tham dự vào màu hồng. Con chim vàng là linh hồn, và tôi nghĩ nó ở phía trên thập giá màu hồng. Tôi nghĩ điều chúng ta phải làm là tìm bảng liệt kê tất cả những điều này. Vâng, ở đây thực ra chúng ta có phần trình bày đầy đủ hơn, với thêm đôi chút về biểu tượng.
No.
Exoteric Name
Esoteric Name
Symbol
...ray Energy
1.
The Law of Sacrifice
The Law of Those Who Choose to Die
A Rosy Cross with a Golden Bird
Outpouring Fourth ray Energy. At-oning Factor.
2.
The Law of Magnetic Impulse
The Law of Polar Union
Two fiery balls and a triangle
Radiatory Energy. Second ray
3.
The Law of Service
The Law of Water and the Fishes
A Pitcher of Water on the Head of a Man
Outgoing Energy of the Sixth ray
4.
The Law of Repulse
The Law of All Destroying Angels
An Angel with a Flaming Sword
Rejecting Energy of the First ray. Dispersing Factor
5.
Law of Group Progress
Law of Elevation
The Mountain and the Goat
Progressive Energy. Seventh ray. Evolving Factor.
6.
Law of Expansive Response
(Name not Given)
Flaming Rosy Sun
Expansive Energy. Third ray. Expansive Factor
7.
Law of the Lower Four
Law of Etheric Union
A Male and Female Form Placed Back-to-Back
Fiery Energy. Fifth ray. Vitalizing Factor
Số
Tên ngoại môn
Tên nội môn
Biểu tượng
Năng lượng Cung
1.
Định luật Hy sinh
Định luật của Những Người Chọn Cái Chết
Một Thập Giá màu hồng với một Con Chim Vàng
Năng lượng tuôn đổ của cung bốn. Yếu tố hợp nhất.
2.
Định luật Xung Động Từ Tính
Định luật Hợp Nhất Phân Cực
Hai Quả Cầu Rực Lửa và một Tam Giác
Năng lượng Bức xạ. Cung hai.
3.
Định luật Phụng sự
Định luật của Nước và Cá
Một Bình Nước trên Đầu một Người
Năng lượng Hướng Ngoại của cung sáu.
4.
Định luật Đẩy Lùi
Định luật của các Thiên Thần Hủy Diệt Tất Cả
Một Thiên Thần với Thanh Gươm Rực Lửa
Năng lượng Khước Từ của cung một. Yếu tố Phân Tán.
5.
Định luật Tiến Bộ Tập Thể
Định luật Nâng Cao
Ngọn Núi và Con Dê
Năng lượng Tiến Triển. Cung bảy. Yếu tố Tiến hóa.
6.
Định luật Đáp Ứng Mở Rộng
(Không cho biết tên)
Mặt Trời Hồng Rực Lửa
Năng lượng Mở Rộng. Cung ba. Yếu tố Mở Rộng.
7.
Định luật của Bốn Thấp
Định luật Hợp Nhất Dĩ Thái
Một Hình Tướng Nam và một Hình Tướng Nữ Đặt Lưng Vào Nhau
Năng lượng Rực Lửa. Cung năm. Yếu tố Tiếp Sinh Lực.
It says A rosy cross, with a bird hovering above it. So it simply says here a rosy Cross with a golden bird.
Đoạn ấy nói: Một thập giá màu hồng, với một con chim lượn phía trên. Ở đây chỉ đơn giản nói rằng: một Thập Giá màu hồng với một con chim vàng.
So it's a golden bird hovering above it, And the life has become a rosy cross. The quality of white—of synthesis, of inclusiveness of all colors—has been added to the red of desire, and the result has been the creation of the color rose, which indicates the transmutation of the astral body rather than its addiction to the Martian color red. So a new type of aspiration is now included in the life, and it leaves the lower worlds of form behind. And this is called "the outpouring fourth ray at-one-ing factor."
Đó là một con chim vàng lượn phía trên, còn sự sống đã trở thành một thập giá màu hồng. Phẩm tính của màu trắng—của sự tổng hợp, của tính bao gồm mọi màu sắc—đã được thêm vào màu đỏ của dục vọng, và kết quả là sự hình thành màu hồng, biểu thị sự chuyển hóa thể cảm dục thay vì việc nó nghiện màu đỏ của Sao Hỏa. Vì vậy, một loại khát vọng mới nay được đưa vào đời sống, và nó bỏ lại phía sau các cõi thấp của hình tướng. Điều này được gọi là “yếu tố hợp nhất tuôn đổ của cung bốn”.
"The outpouring fourth ray at-one-ing factor": the fourth ray is the ray of at-one-ment, and here we have a very externalizing type of energy which can reconcile the opposites and bring them into unity. Of course there will necessarily be a sacrifice when this is done, because the pairs of opposites do pull naturally in opposite directions, and one will have to leave the identification with the lower of the pairs of opposites and embrace the higher. There will be a rending process involved here, and eventually the two will be united by the one who stands steadfast at the midway point. So one has to endure this rending process and has to leave behind, at least temporarily, the lower of the pairs of opposites, until it is redeemed, in favor of including the higher of the pairs of opposites.
“Yếu tố hợp nhất tuôn đổ của cung bốn”: cung bốn là cung hợp nhất, và ở đây chúng ta có một loại năng lượng mang tính ngoại hiện rất mạnh, có thể dung hòa các đối cực và đưa chúng vào sự hợp nhất. Dĩ nhiên, khi điều này diễn ra, nhất thiết sẽ có sự hy sinh, bởi các cặp đối cực tự nhiên kéo theo những hướng đối nghịch, và con người sẽ phải từ bỏ sự đồng hóa với cực thấp của cặp đối cực để ôm lấy cực cao. Ở đây sẽ có một tiến trình xé rời, và cuối cùng cả hai sẽ được hợp nhất bởi người đứng vững tại Điểm ở giữa. Vì thế, người ta phải chịu đựng tiến trình xé rời này và ít nhất phải tạm thời bỏ lại cực thấp của cặp đối cực, cho đến khi nó được cứu chuộc, để lựa chọn việc bao gồm cực cao của cặp đối cực.
So once the emotional nature is transmuted, once we have begun to give up our addiction to matter, to form, the beautiful color rose characterizes the nature; we become a brother of the rosy cross. Eventually we overturn that cross of sacrifice and emerge into the radiance of full life, as we are told in one of the Old Commentaries: "the cross is overturned." Maybe I can find that for us. I think it's important. "The cross is overturned." There's a couple of them.
Một khi bản chất cảm xúc được chuyển hóa, một khi chúng ta bắt đầu từ bỏ sự nghiện ngập vật chất và hình tướng, màu hồng mỹ lệ sẽ đặc trưng cho bản chất ấy; chúng ta trở thành một huynh đệ của thập giá màu hồng. Cuối cùng, chúng ta lật ngược thập giá hy sinh đó và bước vào vẻ rực rỡ của sự sống viên mãn, như được nói trong một bản Cổ Luận: “thập giá bị lật ngược”. Có lẽ tôi có thể tìm đoạn ấy cho chúng ta. Tôi nghĩ nó quan trọng. “Thập giá bị lật ngược.” Có vài đoạn như thế.
Stage IV.
Giai đoạn IV.
Into the dark the life proceeds. A different voice seems to sound forth. “Enter the cave and find your own; walk in the dark and on your head carry a lighted lamp.” The cave is dark and lonely; cold is it and a place of many sounds and voices. The voices of the many sons of God, left playing on the playground of the Lord, make their appeal for light. The cave is long and narrow. The air is full of fog. The sound of running water meets the rushing sound of wind, and frequent roll of thunder.
Sự sống tiến vào bóng tối. Một tiếng nói khác dường như vang lên. “Hãy vào hang động và tìm những gì thuộc về ngươi; hãy bước đi trong bóng tối và mang trên đầu một ngọn đèn cháy sáng.” Hang động tối tăm và cô quạnh; nơi ấy lạnh lẽo, đầy những âm thanh và tiếng nói. Tiếng nói của nhiều người con của Thượng đế, còn đang vui chơi trên sân chơi của Chúa Tể, cất lời khẩn cầu ánh sáng. Hang động dài và hẹp. Không khí đầy sương mù. Tiếng nước chảy hòa cùng tiếng gió cuồn cuộn, và sấm thường xuyên vang rền.
Far off, dim and most vaguely seen, appears an oval opening, its colour blue. Stretched athwart this space of blue, a rosy cross is seen, and at the centre of the cross, where four arms meet, a rose. Upon the upper limb, a vibrant diamond shines, within a star five-pointed.
Xa xa, lờ mờ và hết sức mơ hồ, xuất hiện một cửa hang hình bầu dục, màu xanh lam. Vắt ngang khoảng không xanh lam này là một thập giá màu hồng, và tại tâm thập giá, nơi bốn cánh gặp nhau, là một đóa hồng. Trên cánh phía trên, một viên kim cương rung động tỏa sáng bên trong một ngôi sao năm cánh.
The living soul drives forward towards the cross which bars his way to life, revealed and known.
Linh hồn sống động tiến về phía thập giá đang chặn đường y đến với sự sống đã hiển lộ và được nhận biết.
Not yet the cross is mounted and, therefore, left behind. But onward goes the living soul, eyes fixed upon the cross, ears open to the wailing cries of all his brother souls.
Thập giá vẫn chưa được bước lên và do đó chưa bị bỏ lại phía sau. Nhưng linh hồn sống động vẫn tiến bước, mắt chăm chú vào thập giá, tai rộng mở trước tiếng than khóc của tất cả các linh hồn huynh đệ của y.
Stage V.
Giai đoạn V.
Out into radiant life and light! The cave is left behind; the cross is overturned; the way stands clear. The word sounds clear within the head and not within the heart. “Enter again the playground of the Lord and this time lead the games.” The way upon the second tier of stairs stands barred, this by the soul’s own act. No longer red desire governs all the life, but now the clear blue flame burns strong. Upon the bottom step of the barred way he turns back and passes down the stairs on to the playground, meeting dead shells built in an earlier stage, stepping upon forms discarded and destroyed, and holding forth the hands of helpfulness. Upon his shoulder sits the bird of peace; upon his feet the sandals of the messenger. DINA I, 469
Tiến ra sự sống và ánh sáng rực rỡ! Hang động bị bỏ lại phía sau; thập giá bị lật ngược; con đường trở nên quang đãng. Linh từ vang rõ trong đầu chứ không phải trong tim. “Hãy trở lại sân chơi của Chúa Tể, và lần này hãy dẫn dắt các cuộc chơi.” Lối lên tầng thang thứ hai bị chặn lại do chính hành động của linh hồn. Dục vọng đỏ không còn chi phối toàn bộ đời sống, mà giờ đây ngọn lửa xanh lam trong trẻo bùng cháy mạnh mẽ. Trên bậc thấp nhất của con đường bị chặn, y quay lại, bước xuống cầu thang để vào sân chơi, gặp những lớp vỏ chết được tạo ra ở một giai đoạn trước, giẫm lên những hình tướng đã bị loại bỏ và phá hủy, đồng thời giang đôi tay trợ giúp. Trên vai y đậu con chim hòa bình; dưới chân y là đôi dép của sứ giả. DINA I, 469
Out into radiant life and light! The cave is left behind; the cross is overturned; the way stands clear. The word sounds clear within the head and not within the heart. “Enter again the playground of the Lord and this time lead the games.”
Tiến ra sự sống và ánh sáng rực rỡ! Hang động bị bỏ lại phía sau; thập giá bị lật ngược; con đường trở nên quang đãng. Linh từ vang rõ trong đầu chứ không phải trong tim. “Hãy trở lại sân chơi của Chúa Tể, và lần này hãy dẫn dắt các cuộc chơi.”
He's gone through that long and narrow tunnel. Here it is. He has to pass through this difficult cave before the crucifixion.
Y đã đi xuyên qua đường hầm dài và hẹp ấy. Chính là đây. Y phải đi qua hang động khó khăn này trước cuộc đóng đinh trên thập giá.
Into the dark the life proceeds.
Sự sống tiến vào bóng tối.
The life is the pilgrim, the monad, the Monad-in-Extension as the jiva.
Sự sống là người hành hương, chân thần, Chân Thần-trong-sự-mở-rộng với tư cách sinh linh cá thể.
Into the dark the life proceeds.
Sự sống tiến vào bóng tối.
A different voice seems to sound forth. “Enter the cave and find your own; walk in the dark and on your head carry a lighted lamp.” The cave is dark and lonely; cold is it and a place of many sounds and voices.
Một tiếng nói khác dường như vang lên. “Hãy vào hang động và tìm những gì thuộc về ngươi; hãy bước đi trong bóng tối và mang trên đầu một ngọn đèn cháy sáng.” Hang động tối tăm và cô quạnh; nơi ấy lạnh lẽo, đầy những âm thanh và tiếng nói.
The clear cold light: the substance is turning cold. We are no longer heated; we no longer have the power to heat the substance into a state of excitation. Rather, we are cold to it, and it relapses into a cold state which allows us to concentrate within our soul nature and not be distracted by the Martian heat of substance.
Ánh sáng trong trẻo và lạnh lẽo: chất liệu đang trở nên lạnh. Chúng ta không còn bị nung nóng; chúng ta không còn khả năng nung chất liệu đến trạng thái kích động. Trái lại, chúng ta lạnh nhạt với nó, và nó trở lại trạng thái lạnh, cho phép chúng ta tập trung trong bản chất linh hồn của mình mà không bị sức nóng Sao Hỏa của chất liệu làm xao lãng.
The voices of the many sons of God, left playing on the playground of the Lord, make their appeal for light.
Tiếng nói của nhiều người con của Thượng đế, còn đang vui chơi trên sân chơi của Chúa Tể, cất lời khẩn cầu ánh sáng.
That's on the green field. We'll have to go over there sometime; it's a marvelous stanza.
Điều đó diễn ra trên cánh đồng xanh. Một lúc nào đó chúng ta sẽ phải đến đó; đây là một bài kệ tuyệt diệu.
The cave is long and narrow.
Hang động dài và hẹp.
It takes a while to make the passage.
Phải mất một thời gian mới đi xuyên qua được.
The air is full of fog.
Không khí đầy sương mù.
There are still glamours here; there are still misperceptions. We are still subject to all the illusions and glamours which present themselves, and we find that before the cross is overturned,
Ở đây vẫn còn những ảo cảm; vẫn còn những nhận thức sai lầm. Chúng ta vẫn chịu sự chi phối của mọi ảo tưởng và ảo cảm tự trình hiện, và nhận thấy rằng trước khi thập giá bị lật ngược,
The sound of running water meets the rushing sound of wind, and frequent roll of thunder.
Tiếng nước chảy hòa cùng tiếng gió cuồn cuộn, và sấm thường xuyên vang rền.
It's a long cave, and it's on the Path of Initiation, really.
Đó là một hang động dài, và thực sự nằm trên Con Đường Điểm Đạo.
Far off, dim and most vaguely seen, appears an oval opening, its colour blue.
Xa xa, lờ mờ và hết sức mơ hồ, xuất hiện một cửa hang hình bầu dục, màu xanh lam.
The blue of the second ray, and into the world of soul, promising entry into the kingdom of souls.
Đó là màu xanh lam của cung hai, dẫn vào thế giới linh hồn và hứa hẹn lối vào giới linh hồn.
Stretched athwart this space of blue, a rosy cross is seen, and at the centre of the cross, where four arms meet, a rose. Upon the upper limb, a vibrant diamond shines, within a star five-pointed.
Vắt ngang khoảng không xanh lam này là một thập giá màu hồng, và tại tâm thập giá, nơi bốn cánh gặp nhau, là một đóa hồng. Trên cánh phía trên, một viên kim cương rung động tỏa sáng bên trong một ngôi sao năm cánh.
And this is the promise of liberation into mastership once the cross is overturned. We pass through; we ourselves are the cross, and we transit through that stage, owning the "empty nail-marked hands" which can no longer grasp for ourselves. We will explore these commentaries—they are marvelous—and we want to have a better idea about some of the symbology here.
Đây là lời hứa về sự giải thoát để đạt đến địa vị Chân sư một khi thập giá bị lật ngược. Chúng ta đi xuyên qua; chính chúng ta là thập giá, và chúng ta chuyển qua giai đoạn ấy, sở hữu “đôi bàn tay trống rỗng mang dấu đinh” không còn có thể nắm giữ điều gì cho mình. Chúng ta sẽ khảo sát những lời bình giảng này—chúng thật tuyệt diệu—và chúng ta muốn hiểu rõ hơn một số biểu tượng ở đây.
But anyway, the rosy cross is involved in this sacrifice, and when we enter the stage of crucifixion, we are in a stage of sacrifice of all that has been familiar in the three lower worlds, and all that has pertained in a way to the number four as it relates to matter, or to the four lower elemental groups—we can say the mental elementals, astral, etheric and dense physical elementals. And one day the golden bird will fly free, liberated really, having the quality of the Solar Angels after the fourth initiation.
Thập giá màu hồng có liên quan đến sự hy sinh này, và khi bước vào giai đoạn đóng đinh trên thập giá, chúng ta ở trong giai đoạn hy sinh mọi điều quen thuộc thuộc ba cõi thấp, cũng như mọi điều có liên hệ theo một cách nào đó với số bốn xét trong tương quan với vật chất, hoặc với bốn nhóm hành khí thấp—có thể nói là các hành khí trí tuệ, cảm dục, dĩ thái và hồng trần đậm đặc. Một ngày kia, con chim vàng sẽ tự do tung cánh, thực sự được giải thoát và mang phẩm tính của các Thái dương Thiên Thần sau lần điểm đạo thứ tư.
The path of sacrifice is foundational, and it leads all the way to the fourth initiation. So it's outpouring upon every true aspirant and disciple who has caught the vision. It's the energy of yoga, in a way; it's the at-one-ing energy, outpouring upon him who seeks at-one-ment with the higher of the pairs of opposites, which he has at first dimly been able to envision or touch. And then there is the relinquishment of all that has hitherto held him, but then the reclaiming of that lower field once there is polarization within the higher. We are shifting our polarization, really, as we operate according to the Law of Sacrifice. Our point of tension is ever rising, and the worlds which we contain are becoming higher and lower at the same time.
Con đường hy sinh mang tính nền tảng và dẫn thẳng đến lần điểm đạo thứ tư. Vì thế, nó tuôn đổ trên mọi người chí nguyện và đệ tử chân chính đã nắm bắt được tầm nhìn. Theo một nghĩa nào đó, đây là năng lượng yoga; nó là năng lượng hợp nhất, tuôn đổ trên người tìm kiếm sự hợp nhất với cực cao của cặp đối cực mà thoạt đầu y chỉ có thể mơ hồ hình dung hoặc chạm đến. Sau đó là sự từ bỏ mọi điều từ trước đến nay đã kìm giữ y, nhưng rồi y lại tiếp nhận lĩnh vực thấp ấy một khi đã phân cực trong lĩnh vực cao. Khi hoạt động theo Định luật Hy Sinh, chúng ta thực sự đang chuyển đổi sự phân cực của mình. Điểm tập trung nhất tâm của chúng ta không ngừng dâng cao, còn những thế giới mà chúng ta bao hàm đồng thời trở nên cao hơn và thấp hơn.
So we choose to die from the worlds of form which had captivated us and with which we were enthralled—which really means to be imprisoned—and we enter the focus within the sacrifice petals of the soul, that focus being a willing, loving sacrifice at all times for the sake of group love, group understanding, group relations and group conduct. I think we should just list these, because they are so important: group love, group understanding, group relations and group conduct.
Chúng ta chọn chết đối với các thế giới hình tướng từng mê hoặc và giam hãm mình, rồi bước vào tiêu điểm trong các cánh hoa hy sinh của linh hồn; tiêu điểm ấy là sự hy sinh tự nguyện và đầy tình thương vào mọi lúc vì tình thương tập thể, sự thấu hiểu tập thể, các mối quan hệ tập thể và cách hành xử tập thể. Tôi nghĩ chúng ta nên liệt kê những điều này vì chúng rất quan trọng: tình thương tập thể, sự thấu hiểu tập thể, các mối quan hệ tập thể và cách hành xử tập thể.
These four are the touchstone to the laws of the soul which we are now considering. And he promises us that it will be difficult, and we will be entering a bewildering maze of thought, and also there will be controversy about it, differences of opinion. I've taught this section a number of times in the esoteric psychology classes of the University of the Seven Rays, and it's amazing to me to watch the students try to redefine sacrifice so that no pain is left in it, so that the implications of what sacrifice really means to the form are somehow overlooked. And we escape with gentle platitudes—"sacrifice means to make sacred"—as if that making sacred involved no relinquishment, no detachment, no rending, no pain. It is the nature of the fourth kingdom, the human kingdom, to avoid pain at all costs, really, I think. It is our particular bias, so to speak—"a hatred of causing pain amounting to moral cowardice," as we are told, one of the liabilities of the fourth ray. So that liability extends to the fourth kingdom as well.
Bốn điều này là tiêu chuẩn kiểm nghiệm các định luật của linh hồn mà chúng ta đang xem xét. Ngài báo trước rằng việc này sẽ khó khăn, rằng chúng ta sẽ bước vào một mê cung tư tưởng rối rắm, và cũng sẽ có tranh luận, có những khác biệt quan điểm. Tôi đã nhiều lần giảng phần này trong các lớp tâm lý học nội môn của Đại học Bảy Cung, và thật đáng kinh ngạc khi quan sát các môn sinh cố định nghĩa lại sự hy sinh sao cho nó không còn chút đau đớn nào, khiến những hàm ý về ý nghĩa thực sự của sự hy sinh đối với hình tướng bằng cách nào đó bị bỏ qua. Chúng ta thoát ra bằng những lời sáo rỗng dịu dàng—“hy sinh có nghĩa là làm cho thiêng liêng”—như thể việc làm cho thiêng liêng ấy không bao hàm sự từ bỏ, tách rời, xé rời hay đau đớn. Tôi nghĩ bản chất của giới thứ tư, giới nhân loại, là tránh đau đớn bằng mọi giá. Có thể nói đó là thiên kiến đặc thù của chúng ta—“sự căm ghét việc gây đau đớn đến mức trở thành hèn nhát về đạo đức”, như chúng ta được dạy, một trong những nhược điểm của cung bốn. Vì thế, nhược điểm ấy cũng mở rộng đến giới thứ tư.
[5] This law of sacrifice, which is the first of the laws to be grasped by the human intelligence,
[5] Định luật Hy sinh này là định luật đầu tiên trong các định luật mà trí tuệ con người có thể nắm bắt,
—the higher laws are perhaps more difficult to grasp—
—các định luật cao hơn có lẽ khó nắm bắt hơn—
[6] and is therefore the easiest for man to understand
[6] và do đó là định luật dễ hiểu nhất đối với con người
—though I haven't really seen that that is the case, to tell you the truth—
—mặc dù thành thật mà nói, tôi chưa thực sự thấy điều đó đúng—
[7] (because he is already governed by it and, therefore, aware of it)
[7] (bởi y đã chịu sự chi phối của nó [Page 88] và vì thế có ý thức về nó);
Let's just say he is forced to sacrifice in every sacrifice petal, which is the third of each tier. So there's quite an unconscious sacrifice going on in the third petal, rather more conscious in the sixth, and then completely conscious sacrifice in the ninth petal, which gives to the probationary initiate the third initiation. Even in relation to the eighth petal we are told "the utter sacrifice of all forever." So this is easiest, he says, because we are already—and I want to say perforce—governed by it. We have no say in the matter. The conditions on our planet, the symbol of which is the cross encircled, force us into sacrificial conditions, so we can become true adjudicators between the pairs of opposites and leave behind the remnants of the previous solar system with which we are still identified, and which we have to rip ourselves away from, detach from. And in that disengagement from the energies and forms of the previous solar system comes what we call sacrifice, because we are giving up our identification and our engagement with a dimension of life which needs to be outgrown, and probably should have been outgrown long before this, were it not for what we have learned is the failure of our Planetary Logos on the Moon Chain—and therefore the failure of all of us, and I'm sure some of us were there.
Y buộc phải hy sinh trong mỗi cánh hoa hy sinh, vốn là cánh thứ ba của mỗi tầng. Vì thế, trong cánh hoa thứ ba diễn ra sự hy sinh khá vô thức; trong cánh thứ sáu, sự hy sinh có ý thức hơn nhiều; và trong cánh thứ chín, sự hy sinh hoàn toàn có ý thức, nhờ đó điểm đạo đồ dự bị đạt lần điểm đạo thứ ba. Ngay cả đối với cánh hoa thứ tám, chúng ta cũng được dạy về “sự hy sinh tuyệt đối mọi sự mãi mãi”. Ngài nói đây là điều dễ nhất vì chúng ta đã buộc phải chịu sự chi phối của nó. Chúng ta không có quyền lựa chọn trong vấn đề này. Những điều kiện trên hành tinh chúng ta, với biểu tượng là thập giá nằm trong vòng tròn, ép chúng ta vào các hoàn cảnh hy sinh để có thể trở thành những người phân xử chân chính giữa các cặp đối cực, đồng thời bỏ lại những tàn dư của hệ mặt trời trước mà chúng ta vẫn còn đồng hóa với chúng và phải tự xé mình ra, tách rời khỏi chúng. Trong sự tháo gỡ khỏi các năng lượng và hình tướng của hệ mặt trời trước xuất hiện điều chúng ta gọi là hy sinh, bởi chúng ta đang từ bỏ sự đồng hóa và can dự của mình với một chiều kích sự sống cần phải được vượt qua, và có lẽ lẽ ra đã phải được vượt qua từ lâu, nếu không vì điều mà chúng ta biết là thất bại của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta trên Dãy Mặt Trăng—và do đó là thất bại của tất cả chúng ta; tôi chắc rằng một số người trong chúng ta đã có mặt ở đó.
Anyway, we are already governed by it. This law
Chúng ta đã chịu sự chi phối của nó. Định luật này
[8] came to its first major expression
[8] định luật này đạt đến biểu hiện lớn đầu tiên
—not that it wasn't expressed before that, because the very nature of our planet demands it—
—không phải trước đó nó chưa từng biểu hiện, bởi chính bản chất hành tinh chúng ta đòi hỏi điều ấy—
[9] during this slowly disappearing age,
[9] trong thời đại đang từ từ biến mất này,
—since 1625—
—kể từ năm 1625—
[10] the present age, the Piscean age.
[10] tức thời đại hiện nay, Thời đại Song Ngư.
So since 1625—and check Esoteric Psychology 1, page 26—
Vậy là từ năm 1625—hãy kiểm tra Tâm Lý Học Nội Môn 1, trang 26—
[11] This law has always been functioning and active in the world,
[11] Định luật này luôn luôn vận hành và hoạt động trong thế giới,
It really is—different things occur to me here, but I would say—the painful substitution of the greater for the lesser. Of course, we're attracted to the lesser for a long time. There are people who have been in prison for a long time, and when, maybe after thirty or forty years, they're offered their freedom, they commit a crime in order to get right back in to what they are used to. That for them has become their home, and they are afraid of the greater outer world. So they like the confinement, and it often is the case with human beings in general. So it has been functioning and active in the world.
Thực sự là vậy. Điều nảy ra trong trí tôi ở đây là sự thay thế đau đớn cái nhỏ bé bằng cái lớn lao. Dĩ nhiên, chúng ta bị thu hút bởi cái nhỏ bé trong một thời gian dài. Có những người đã ở tù rất lâu, và khi sau ba mươi hoặc bốn mươi năm họ được trao tự do, họ lại phạm tội để lập tức trở về nơi mình đã quen thuộc. Đối với họ, nơi đó đã trở thành mái nhà, và họ sợ thế giới rộng lớn hơn ở bên ngoài. Vì thế, họ ưa thích sự giam hãm, và điều này thường cũng đúng với con người nói chung. Do đó, định luật ấy vẫn luôn vận hành và hoạt động trong thế gian.
Our particular planet is the scene whereon the energies of the previous solar system particularly are being redeemed and transformed into a vibration which accords with the intended vibration of this second solar system. So we live on a planet of transmutation, where there's an elevation of ancient vibration until it accords with the intended present vibration. In a way, we're not even alive when we're working within these three lower worlds, which are vestigial in a certain respect. So, this law has always been functioning and active in our world,
Hành tinh đặc thù của chúng ta là nơi các năng lượng của hệ mặt trời trước đang được đặc biệt cứu chuộc và chuyển đổi thành một rung động phù hợp với rung động dự định của hệ mặt trời thứ hai này. Vì vậy, chúng ta sống trên một hành tinh chuyển hóa, nơi rung động cổ xưa được nâng cao cho đến khi phù hợp với rung động dự định hiện nay. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta thậm chí chưa thật sự sống khi hoạt động trong ba cõi thấp vốn, theo một phương diện nào đó, chỉ là tàn tích. Vì vậy, định luật này luôn vận hành và hoạt động trong thế giới của chúng ta,
[12] for it is one of the first of the inner subjective laws
[12] vì nó là một trong những định luật nội tại chủ quan đầu tiên
—that's what we're studying here, the inner subjective laws, not the laws of nature per se—
—đó là điều chúng ta đang nghiên cứu ở đây: các định luật chủ quan bên trong, chứ không phải chính các định luật tự nhiên—
[13] to express itself consciously, and as an active ideal, in human life.
[13] biểu hiện một cách hữu thức và như một lý tưởng tích cực trong đời sống con người.
In other words, humanity began striving for sacrifice very much under the teaching of the Christ. And maybe, of course, before this it was the case with those who understood what initiation was, but on such a wide scale it was not the case.
Nói cách khác, nhân loại bắt đầu nỗ lực hướng đến sự hy sinh, phần lớn dưới giáo huấn của Đức Christ. Dĩ nhiên, có lẽ trước đó điều này đã đúng với những người thấu hiểu điểm đạo là gì, nhưng chưa diễn ra trên quy mô rộng lớn như thế.
[14] The theme of all the world religions has been divine sacrifice, the immolation of the cosmic Deity through, the process of universal creation, and of the world Saviours, by Their death and sacrifice as a means of salvation and eventual release and liberation.
[14] Chủ đề của tất cả các tôn giáo thế giới là sự hy sinh thiêng liêng, sự hiến tế của Thượng đế Vũ Trụ thông qua tiến trình sáng tạo vũ trụ, và sự hiến tế của các Đấng Cứu Thế, qua cái chết và sự hy sinh của Các Ngài như một phương tiện để cứu rỗi, cuối cùng dẫn đến giải thoát và tự do.
So many world religions have had this, but perhaps never so focally as in the Christian dispensation, due to the monumental efforts of the Head of the Hierarchy, the Christ, to bring this way of release to the masses of men, masses of human beings. And now millions upon millions—billions, in fact—upon our planet embrace to a greater or lesser extent this will to sacrifice, this ideal of sacrifice as a desirable type of behavior leading to a desirable goal, because the great Lord, the Christ, set the example for all of us. I guess as we go along we'll realize in greater depth always what a tremendous World Teacher he has been and is. There are teachers along all the different rays, but the major ray is the second in our solar system, and even in terms of the emerging second ray soul of our planet. And so he has exemplified the expression of that ray for us within the three lower worlds, which are so attractive, out of habit, to the human consciousness.
Nhiều tôn giáo thế giới đã có chủ đề này, nhưng có lẽ chưa bao giờ tập trung mạnh mẽ như trong thiên định Kitô giáo, nhờ những nỗ lực phi thường của Đức Christ, Đấng Đứng Đầu Thánh đoàn, nhằm mang con đường giải thoát này đến với đại chúng nhân loại. Hiện nay, hàng triệu triệu người—thực ra là hàng tỷ người—trên hành tinh chúng ta tiếp nhận ở mức độ nhiều hay ít ý chí hy sinh này, lý tưởng hy sinh này như một loại hành vi đáng mong muốn dẫn đến một mục tiêu đáng mong muốn, bởi Chúa Tể Vĩ Đại, Đức Christ, đã nêu gương cho tất cả chúng ta. Tôi cho rằng khi tiếp tục, chúng ta sẽ ngày càng nhận ra sâu sắc hơn Ngài đã và đang là một Đức Chưởng Giáo phi thường đến mức nào. Có những huấn sư thuộc tất cả các cung khác nhau, nhưng cung chủ yếu trong hệ mặt trời của chúng ta là cung hai, kể cả xét về linh hồn cung hai đang xuất lộ của hành tinh chúng ta. Vì thế, Ngài đã nêu gương cho chúng ta về sự biểu hiện của cung ấy trong ba cõi thấp, những cõi vốn do thói quen mà rất hấp dẫn đối với tâm thức nhân loại.
So we've had a number of these world saviors, and usually the process is the same. My friend and colleague Robert Burrell has done some marvelous video programs on the New World Religion, and he has shown the parallelism in the life of a number of the saviors who are representative of the various world religions, and how through their sacrifice redemption did occur. I think the Christ is simply the epitome of that tendency which has been operative for millions of years. So in order to bind ourselves again to divinity—which is the meaning, really, of religare, religion—sacrifice is required: relinquishment of the past in favor of an uncertain but highly desirable future, sensed as much through faith as through experience. Well, it's really sensed more through faith, because the experience is not there. But those who do the will of God shall know, and we have to submit ourselves to the sacrifice in order to know of its benefits. So the idea has been with us a long time, but now, at the time of the emergence of the second ray soul of our Planetary Logos, there is a great importance for humanity to understand the value of the Law of Sacrifice and its elevatory potentials. Really, without the sacrifice there is no spiritual progress.
Chúng ta đã có nhiều Đấng Cứu Thế như vậy, và tiến trình thường giống nhau. Bạn tôi và cũng là đồng nghiệp, Robert Burrell, đã thực hiện một số chương trình video tuyệt diệu về Tôn Giáo Thế Giới Mới, trong đó ông cho thấy những điểm tương đồng trong đời sống của nhiều Đấng Cứu Thế đại diện cho các tôn giáo thế giới khác nhau, và cách sự cứu chuộc đã diễn ra nhờ sự hy sinh của Các Ngài. Tôi nghĩ Đức Christ đơn giản là hiện thân tột đỉnh của khuynh hướng đã vận hành hàng triệu năm ấy. Vì thế, để lại gắn kết mình với thiên tính—đó thực sự là ý nghĩa của tôn giáo—cần phải có sự hy sinh: từ bỏ quá khứ để hướng đến một tương lai bất định nhưng hết sức đáng mong muốn, được cảm nhận qua đức tin nhiều như qua kinh nghiệm. Thực ra, nó được cảm nhận qua đức tin nhiều hơn, bởi kinh nghiệm chưa hiện hữu. Nhưng những ai thực hiện Ý Chí của Thượng Đế sẽ biết, và chúng ta phải thuận theo sự hy sinh để biết được lợi ích của nó. Ý tưởng này đã ở cùng chúng ta từ lâu, nhưng hiện nay, vào thời điểm linh hồn cung hai của Hành Tinh Thượng đế đang xuất lộ, điều hết sức quan trọng là nhân loại phải thấu hiểu giá trị và những tiềm năng nâng cao của Định luật Hy Sinh. Quả thật, không có hy sinh thì không có tiến bộ tinh thần.
[15] Such is the blindness and such is the contaminating influence of the lower separative man,
[15] Sự mù quáng và ảnh hưởng ô nhiễm của phàm nhân thấp kém và chia rẽ lớn đến mức
—the egoistic mind—
—thể trí vị kỷ—
[16] that this divine law of sacrifice is wielded with the selfish intent of personal and individual salvation.
[16] định luật hy sinh thiêng liêng này được vận dụng với ý định ích kỷ nhằm đạt được sự cứu rỗi cá nhân và riêng rẽ.
Its application for many, what should we say, remains egocentric. And the sacrifice is pursued for one's own sake and not for the sake of others.
Đối với nhiều người, việc áp dụng nó vẫn mang tính quy ngã. Họ theo đuổi sự hy sinh vì chính mình chứ không phải vì người khác.
[17] But the travestied truth remains the unsullied truth on its own plane,
[17] Nhưng chân lý bị xuyên tạc ấy vẫn là chân lý tinh tuyền trên cõi riêng của nó,
—which we assume must be at least the plane of the soul—
—mà chúng ta giả định ít nhất phải là cõi của linh hồn—
[18] and this dominant world law governs the appearing and the disappearing of universes,
[18] và định luật thế giới chi phối này cai quản sự xuất hiện và biến mất của các vũ trụ,
It all depends what he means by "universe." Does he mean a galaxy, or the universal entirety? There's quite a philosophical question there about whether each universe comes into expression on the basis of a law of sacrifice. That could be explored, because after all, what is there remaining to redeem? And sacrifice is a redemptive law; the Law of Sacrifice is redemptive. After a final universal pralaya, is there anything left to redeem, or is not all gathered into the Absolute on a completely equal basis, with no remnants requiring redemption? But if the word "universe" means something smaller, then always there will be energies and forms left behind by the varying in-gathering syntheses. And they will be, in a way, expelled from those syntheses because they were unworthy of absorption. Then, in that case, the reappearing of a universe, meaning a lesser whole, could be for the sake of those units that were left expelled.
Tất cả tùy thuộc vào ý Ngài muốn nói gì qua “vũ trụ”. Ngài có muốn nói một thiên hà hay toàn thể vũ trụ không? Ở đây có một câu hỏi triết học đáng kể về việc liệu mỗi vũ trụ có đi vào biểu hiện dựa trên một định luật hy sinh hay không. Điều đó có thể được khảo sát, bởi rốt cuộc còn lại gì để cứu chuộc? Hy sinh là một định luật cứu chuộc; Định luật Hy Sinh mang tính cứu chuộc. Sau một Giai kỳ qui nguyên phổ quát cuối cùng, có còn gì để cứu chuộc không, hay tất cả đều được quy tụ vào Tuyệt Đối trên cơ sở hoàn toàn bình đẳng, không còn tàn dư nào cần cứu chuộc? Nhưng nếu từ “vũ trụ” có nghĩa là một điều gì nhỏ hơn, thì luôn có những năng lượng và hình tướng bị bỏ lại bởi các tổng hợp quy tụ khác nhau. Theo một nghĩa nào đó, chúng sẽ bị trục xuất khỏi những tổng hợp ấy vì không xứng đáng được hấp thu. Trong trường hợp đó, sự tái xuất hiện của một vũ trụ, nghĩa là một toàn thể nhỏ hơn, có thể nhằm phục vụ những đơn vị đã bị bỏ lại bên ngoài.
But the travestied truth—which is selfish and egocentric, intent on one's own salvation—you think about the flagellants: they whip themselves to mortify the flesh for their own salvation. What good could whipping oneself do for others? When a man climbed on a pillar and stayed there with his arm outstretched for years and years and years, until his arm froze and withered in its place, he may have mortified the flesh, but what good would it do for a larger group? What was his motive? I think he was still very self-centered. It's harder, oftentimes, to live for others than it is to mortify oneself for them, or even to die for them.
Nhưng chân lý bị xuyên tạc—vị kỷ và quy ngã, nhắm đến sự cứu rỗi của chính mình—khiến ta nghĩ đến những người tự hành xác: họ quất roi vào mình để khổ chế xác thịt nhằm cứu rỗi bản thân. Việc tự quất roi có thể mang lại ích lợi gì cho người khác? Khi một người trèo lên cột và ở đó với cánh tay giơ ra suốt nhiều năm, cho đến khi cánh tay cứng lại và teo đi tại chỗ, y có thể đã khổ chế xác thịt, nhưng điều đó có ích gì cho một tập thể lớn hơn? Động cơ của y là gì? Tôi nghĩ y vẫn hết sức tập trung vào bản thân. Thường thì sống vì người khác còn khó hơn khổ chế bản thân vì họ, thậm chí còn khó hơn chết vì họ.
But the travestied truth remains the unsullied truth on its own plane, and this dominant world law
Nhưng chân lý bị xuyên tạc vẫn là chân lý tinh khiết trên cõi riêng của nó, và định luật thế giới chủ đạo này
—and we see this happening all the time now: involuntary sacrifice for the most part, and increasingly voluntary as the stage of initiation increases—
—và hiện nay chúng ta luôn thấy điều này diễn ra: phần lớn là hy sinh không tự nguyện, rồi ngày càng trở nên tự nguyện khi giai đoạn điểm đạo tăng tiến—
governs the appearing and disappearing of universes,
chi phối sự xuất hiện và biến mất của các vũ trụ,
[19] of solar systems, of races and of nations, of world leaders and world rulers, of incarnating human beings and of revealing Sons of God.
[19] các hệ mặt trời, các nhân loại và các quốc gia, các nhà lãnh đạo và những người cai trị thế giới, những con người đang lâm phàm và những Con của Thượng đế đang mặc khải.
In other words, why reappear? And we say, for the sake of those left behind and their redemption, which means inclusion into the glorious synthesis. But that's the question. And one day maybe I'll have the onerous task of debating this with HPB sometime. She says pralaya enters and everything is as it is, even in the state of incompletion. But one wonders, regarding the universal pralaya—of which there have been countless, if one must count in time—whether those pralayas have ever left anything behind at all, because there is no outside to the Absolute. Everything has to be absorbed within it at the final universal pralaya. So it looks to me like a universal redemption, with nothing left behind. So I think of the emergence of a new universe as a great creative potential—the emergence of the universe as a great creative potential and a great act of joyous creativity, rather than as necessarily a redemptive act, because there has to be something to redeem. Now let's move on. I'm just pondering these things, you see. Maybe when we read normally, we read quickly, and we do not read in depth, or ponderously. Here, I suppose, we're proceeding in a rather ponderous manner.
Nói cách khác, tại sao lại xuất hiện? Chúng ta trả lời rằng vì những người bị bỏ lại phía sau và sự cứu chuộc của họ, nghĩa là đưa họ vào sự tổng hợp huy hoàng. Nhưng đó chính là câu hỏi. Có lẽ một ngày nào đó tôi sẽ nhận nhiệm vụ nặng nề là tranh luận điều này với Bà HPB. Bà nói Giai kỳ qui nguyên bắt đầu và mọi sự vẫn như cũ, ngay cả trong trạng thái chưa hoàn tất. Nhưng người ta tự hỏi, đối với Giai kỳ qui nguyên phổ quát—vốn đã xảy ra vô số lần nếu phải tính theo thời gian—liệu những Giai kỳ qui nguyên ấy có từng bỏ lại điều gì không, bởi bên ngoài Tuyệt Đối không có gì cả. Tất cả phải được hấp thu vào đó trong Giai kỳ qui nguyên phổ quát cuối cùng. Vì vậy, đối với tôi, nó giống như một sự cứu chuộc phổ quát, không bỏ lại gì cả. Do đó, tôi nghĩ sự xuất lộ của một vũ trụ mới là một tiềm năng sáng tạo vĩ đại và một hành động sáng tạo đầy hoan hỉ, chứ không nhất thiết là một hành động cứu chuộc, bởi muốn cứu chuộc thì phải có điều gì đó để cứu chuộc. Tôi chỉ đang suy ngẫm những điều này. Có lẽ khi đọc theo cách thông thường, chúng ta đọc nhanh, không đọc sâu hay suy ngẫm kỹ lưỡng. Ở đây, tôi cho rằng chúng ta đang tiến hành theo một cách khá chậm rãi và nặng tính suy ngẫm.
[20] Let us see if we can interpret or define the true significance of this law, which is in reality the expression of a divine impulse, leading to a defined activity, with its consequent and subsequent results and effects.
[20] Chúng ta hãy xem liệu có thể diễn giải hoặc định nghĩa thâm nghĩa đích thực của định luật này hay không; trên thực tế, nó là sự biểu hiện của một xung lực thiêng liêng, dẫn đến một hoạt động xác định, cùng những kết quả và tác động kéo theo và tiếp sau đó.
So the main thing to gather out of this is that sacrifice is divine and divinely impulsed.
Điều chủ yếu cần lĩnh hội từ đây là sự hy sinh mang tính thiêng liêng và do xung động thiêng liêng thúc đẩy.
[21] It was this aspect of sacrifice which led to the creation of the worlds and to the manifestation of the divine Creator.
[21] Chính phương diện hy sinh này đã dẫn đến việc sáng tạo các thế giới và sự biểu hiện của Đấng Sáng Tạo thiêng liêng.
And maybe here we are speaking more locally of our Planetary Logos and Solar Logos, perhaps. This is
Có lẽ ở đây chúng ta đang nói trong phạm vi cục bộ hơn về Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế. Đây là
[21b] It might help to a better understanding of the Law of Sacrifice if it were expressed through synonymous words and terms.
[21b] Có lẽ sẽ giúp chúng ta thấu hiểu Định luật Hy sinh rõ hơn nếu diễn đạt nó bằng những từ và thuật ngữ đồng nghĩa.
[21c] a. THE SIGNIFICANCE OF THE LAW OF SACRIFICE
[21c] a. THÂM NGHĨA CỦA ĐỊNH LUẬT HY SINH
[22] This is the impulse of giving.
[22] Nó có nghĩa là xung lực ban cho.
Christ said it is better to give than to receive. The amazing thing is that the abundance of life and all of its riches and qualities comes to those who give. Every Master knows, then, that "to those who give all, all is given." This is the fundamental law, and the Masters are precisely those who have given all that may be given within the three lower worlds, and have therefore been elevated into the higher worlds. This impulse of giving comes from the soul and from our focus as a soul upon the higher mental plane. It is not a lunar impulse; it does not come from our unconscious retrogressive nature, which has to be redeemed. It is a selfless impulse, and it comes from those who recognize that the self of others is their own very self.
Đức Christ nói rằng cho thì có phúc hơn nhận. Điều đáng kinh ngạc là sự sung mãn của sự sống cùng mọi kho tàng và phẩm tính của nó đến với những người ban tặng. Mọi Chân sư đều biết rằng “những ai ban tặng tất cả sẽ được ban cho tất cả”. Đây là định luật nền tảng, và các Chân sư chính là những Đấng đã ban tặng mọi điều có thể ban tặng trong ba cõi thấp, do đó được nâng lên các cõi cao. Xung động ban tặng này đến từ linh hồn và từ tiêu điểm của chúng ta với tư cách linh hồn trên Cõi thượng trí. Nó không phải là một xung động thái âm; nó không đến từ bản chất thoái hóa vô thức cần được cứu chuộc của chúng ta. Đây là một xung động vô ngã, đến từ những người nhận ra rằng bản ngã của người khác chính là bản ngã của họ.
[23] The whole secret of the doctrines of “the forgiveness of sins” and of the “at-onement” lies hid in this simple phrase.
[23] Toàn bộ bí mật của các giáo lý về “sự tha thứ tội lỗi” và về “sự hợp nhất” đều ẩn chứa trong cụm từ đơn giản này.
I think that we forgive when we understand the identity of ourselves with others. It is the one self forgiving the one self, an aspect of the one self forgiving another aspect of the same self. In other words, as we forgive others, we are forgiving ourselves simultaneously. So through our giving comes the forgiveness of sins. Some people have emphasized this kind of play on words: the soul is "for giving," or the soul is for the purpose of giving, or the spirit within us loves nothing more than to give itself until all become itself. It is the giving of everything that we have which inclines others to rise into the realization that they are the very self from out of which we are giving. So through the giving comes the forgiveness of our sins.
Tôi nghĩ rằng chúng ta tha thứ khi thấu hiểu sự đồng nhất giữa mình với người khác. Đó là bản ngã duy nhất tha thứ cho bản ngã duy nhất, một phương diện của bản ngã duy nhất tha thứ cho một phương diện khác của cùng bản ngã ấy. Nói cách khác, khi tha thứ cho người khác, chúng ta đồng thời tha thứ cho chính mình. Vì vậy, qua sự ban tặng của chúng ta xuất hiện sự tha thứ tội lỗi. Một số người nhấn mạnh lối chơi chữ này: linh hồn hiện hữu “để ban tặng”, hay linh hồn hiện hữu nhằm mục đích ban tặng, hoặc tinh thần bên trong chúng ta không yêu thích điều gì hơn việc ban tặng chính mình cho đến khi tất cả trở thành chính nó. Chính việc ban tặng mọi điều mình có khiến người khác vươn lên nhận ra rằng họ chính là bản ngã mà từ đó chúng ta đang ban tặng. Vì thế, qua sự ban tặng xuất hiện sự tha thứ tội lỗi của chúng ta.
We also realize the impermanent nature of sin, and the fact that sin is the briefest of states compared to the glory of eternal life. It is a passing stage of ignorance, and of the activities coming from that ignorance, and this stage can be dissolved by the outpouring of divine love. "I, if I be lifted up, will draw all men unto me."
Chúng ta cũng nhận ra bản chất vô thường của tội lỗi và thực tế rằng, so với vẻ huy hoàng của sự sống vĩnh cửu, tội lỗi chỉ là một trạng thái hết sức ngắn ngủi. Nó là một giai đoạn vô minh thoáng qua, cùng những hoạt động phát sinh từ sự vô minh ấy, và giai đoạn này có thể tan biến nhờ sự tuôn đổ của tình thương thiêng liêng. “Còn Ta, khi được nâng lên, sẽ kéo mọi người đến với Ta.”
I'm reminded of the conversion of Jean Valjean in Les Misérables. He had gotten out of prison, and he was a great cynic about the evils of human nature, and he was given a little refuge by a kindly priest, and he stole the silver candlestick. It was one of a pair. He stole it and he ran away. He figured he'd sell it and he would get a start, because he had no money. But the authorities caught him—you probably know this, because I think some of you have seen the movie. The authorities caught him, and he was going to be thrown back in prison, but the priest said, "Ah, my son, why did you not take the other? I gave you both." It was a lie, but it was a redemptive lie, and Valjean was so overcome by the forgiveness, the givingness of the priest, that his life changed ever afterwards from that point, and he became a man for giving and a great positive force within his community. He was always pursued by his shadow, Javert, who could not understand forgiveness, and when he himself was forgiven by Valjean in a very powerful way, he couldn't take it in. He committed suicide. He could not grasp the possibility of such forgiveness.
Tôi nhớ đến sự cải hóa của Jean Valjean trong Những Người Khốn Khổ. Ông vừa ra tù và là một người hết sức hoài nghi về những điều xấu xa trong bản chất con người. Một linh mục nhân hậu đã cho ông nơi trú ngụ, nhưng ông lấy trộm một chân nến bạc trong một đôi rồi bỏ chạy. Ông định bán nó để tạo dựng lại cuộc đời vì không có tiền. Nhưng nhà chức trách bắt được ông—có lẽ các bạn biết chuyện này vì tôi nghĩ một số bạn đã xem phim. Ông sắp bị tống trở lại nhà tù, nhưng vị linh mục nói: “Con trai ta, tại sao con không lấy chiếc còn lại? Ta đã cho con cả hai.” Đó là một lời nói dối, nhưng là lời nói dối có sức cứu chuộc. Valjean xúc động sâu sắc trước sự tha thứ và tinh thần ban tặng của vị linh mục đến mức từ đó cuộc đời ông hoàn toàn thay đổi; ông trở thành một người luôn ban tặng và một mãnh lực tích cực lớn lao trong cộng đồng. Bóng tối của ông, Javert, luôn truy đuổi ông và không thể thấu hiểu sự tha thứ. Khi chính Javert được Valjean tha thứ theo một cách hết sức mạnh mẽ, ông không thể tiếp nhận điều đó. Ông tự sát. Ông không thể nắm bắt khả năng tồn tại của sự tha thứ như thế.
So when we forgive others, there are no others really to forgive. One is forgiving the ignorance of the one self in a state of emanation which is immersed in ignorance, in density, and by that very act—not of punishing but of declaring a faith in the internal self of the one to be forgiven—that internal self rises closer to a state of identification with the one self. I mean, as I somewhat joked to myself, why worry about losing anything? We've already lost, or become detached from, infinitudinous universes. Where is universe ten in a series of universes? I can't count from the beginningless beginning, but you can count from the present, ten backwards. Do you remember anything? You've lost it all. You've given it all up. Are you grasping onto the values of that particular universe and all the things you held dear when you were immersed within that universe? Hardly. We've had loss after loss after loss.
Khi chúng ta tha thứ cho người khác, thực ra không có người khác nào để tha thứ. Người ta đang tha thứ cho sự vô minh của bản ngã duy nhất trong một trạng thái xuất lộ chìm ngập trong vô minh và sự đậm đặc. Nhờ chính hành động ấy—không phải trừng phạt, mà tuyên bố niềm tin vào bản ngã bên trong của người cần được tha thứ—bản ngã bên trong đó tiến gần hơn đến trạng thái đồng hóa với bản ngã duy nhất. Như tôi đã phần nào đùa với chính mình, tại sao phải lo lắng về việc mất bất cứ điều gì? Chúng ta đã mất hoặc tách rời khỏi vô số vũ trụ. Vũ trụ thứ mười trong một chuỗi vũ trụ hiện ở đâu? Tôi không thể đếm từ khởi đầu vô thủy, nhưng các bạn có thể đếm lùi mười vũ trụ từ hiện tại. Các bạn có nhớ gì không? Các bạn đã mất tất cả. Các bạn đã từ bỏ tất cả. Các bạn có còn bám vào những giá trị của vũ trụ cụ thể ấy và mọi điều từng quý trọng khi chìm đắm trong vũ trụ ấy không? Hầu như không. Chúng ta đã trải qua hết mất mát này đến mất mát khác.
So when you look at a slight expression of ignorance in a fellow emanation, we have to realize its very passing nature, and that everyone who appears to be ignorant now in his emanated state is a graduate of the glory of infinitudinous universes. If you look at anything, you find everything. If you look at anyone, you find everyone. So who is it that is in this state of ignorant sin at the moment? It's one who has been gloriously released ever and ever and ever, infinitudinously. So we have to have deep respect for those who are mired in sin, because who are they anyway? They're the one self in a rather dense state of emanation, waiting for retraction—and the outpouring energy of the fourth ray, in this case, in a way drawing up the lower of the pairs of opposites. "I, if I be lifted up, will draw all men unto me." That is what lifts up these immersed emanations to reclaim their own true identity.
Vì vậy, khi nhìn thấy một biểu hiện nhỏ của vô minh trong một xuất lộ đồng loại, chúng ta phải nhận ra bản chất vô cùng thoáng qua của nó, và rằng mọi người hiện có vẻ vô minh trong trạng thái xuất lộ đều từng tốt nghiệp từ vẻ huy hoàng của vô số vũ trụ. Nếu nhìn vào bất cứ điều gì, các bạn sẽ thấy mọi sự. Nếu nhìn vào bất cứ ai, các bạn sẽ thấy mọi người. Vậy ai đang ở trong trạng thái tội lỗi vô minh này vào lúc hiện tại? Đó là người đã được giải thoát huy hoàng hết lần này đến lần khác, đến vô tận. Vì thế, chúng ta phải có lòng tôn trọng sâu sắc đối với những người đang sa lầy trong tội lỗi, bởi rốt cuộc họ là ai? Họ là bản ngã duy nhất trong một trạng thái xuất lộ khá đậm đặc, đang chờ được thu hồi—và năng lượng tuôn đổ của cung bốn, trong trường hợp này, theo một nghĩa nào đó đang kéo cực thấp của cặp đối cực lên. “Còn Ta, khi được nâng lên, sẽ kéo mọi người đến với Ta.” Chính điều ấy nâng các xuất lộ đang chìm ngập này lên để chúng giành lại bản sắc chân chính của mình.
It's one thing to talk about it, and when the sin committed touches you and you feel offended by it and hurt by it and all that, it's difficult to enter the philosophical mode and to see things more as they really are, and to say, "This is the self acting in ignorance, but you are the graduate. You are the successful released consciousness of infinitudinous universes. What have I to hold against you? The you I think I'm talking to doesn't even exist. It's just a perception. The one being who is ever perfect and sinless is what exists." So will I outpour this energy which says, "I believe in you, I affirm the being in you. I give you my recognition of your true being, which is sinless, and in that giving may you rise into that state"? Do we do that, or do we just say, "I have a grudge, I'm going to hold this against you, I will seek my revenge"? It takes a long time to outgrow the tendency towards revenge, because the revenging one does not realize that the one upon whom he is wreaking vengeance is his very self. So, the whole secret of the doctrines of the forgiveness of sins and the atonement lies hid in this simple phrase, the impulse of giving.
Nói về điều này là một chuyện; nhưng khi tội lỗi đã phạm chạm đến các bạn, khiến các bạn cảm thấy bị xúc phạm và tổn thương, thì thật khó bước vào trạng thái triết học, nhìn sự việc đúng hơn với bản chất thực của nó và nói: “Đây là bản ngã đang hành động trong vô minh, nhưng bạn là người đã tốt nghiệp. Bạn là tâm thức thành công và được giải thoát của vô số vũ trụ. Tôi có thể oán trách bạn điều gì? Cái ‘bạn’ mà tôi nghĩ mình đang nói chuyện cùng thậm chí không tồn tại. Đó chỉ là một nhận thức. Điều thực sự tồn tại là Đấng Duy Nhất luôn hoàn hảo và vô tội.” Vậy tôi có tuôn đổ năng lượng nói rằng: “Tôi tin ở bạn, tôi khẳng định Bản Thể trong bạn. Tôi trao cho bạn sự công nhận của tôi đối với Bản Thể chân chính và vô tội của bạn, và nhờ sự ban tặng ấy, cầu mong bạn vươn lên trạng thái đó” hay không? Chúng ta làm như vậy, hay chỉ nói: “Tôi ôm mối oán hận, tôi sẽ ghi nhớ điều này để chống lại bạn, tôi sẽ tìm cách báo thù”? Phải mất rất lâu mới vượt qua được khuynh hướng báo thù, bởi kẻ báo thù không nhận ra rằng người mà y đang trút sự trả thù lên chính là bản ngã của y. Vì thế, toàn bộ bí quyết của các giáo lý về sự tha thứ tội lỗi và sự hợp nhất ẩn trong cụm từ đơn giản này, xung động ban tặng.
[24] It is the basis of the Christian doctrine of love and sacrifice.
[24] Nó là nền tảng của giáo lý Cơ Đốc giáo về tình thương và sự hy sinh.
We can say that as we relinquish attachment to the third aspect of divinity, we, through forgiveness, rise into the field of the second aspect of divinity and live by its laws, the laws of the soul.
Có thể nói rằng khi từ bỏ sự gắn bó với phương diện thứ ba của thiên tính, nhờ sự tha thứ, chúng ta vươn lên lĩnh vực của phương diện thứ hai của thiên tính và sống theo các định luật của nó, tức các định luật của linh hồn.
[25] Hence the emphasis laid, in the Piscean Age and through the influence of Christianity, upon just these two things, — forgiveness and atonement.
[25] Do đó, trong Thời đại Song Ngư và dưới ảnh hưởng của Cơ Đốc giáo, [Page 89] người ta đã đặc biệt nhấn mạnh chính hai điều này—sự tha thứ và sự hợp nhất.
Sometimes it's spelled like "atonement," but by now we should realize that when the apparent word "atonement" is written, we have to think of it as "at-one-ment." And our forgiving attitude brings about at-one-ment in the one forgiven and in ourselves. Forgiveness is the affirmation of the incomparable majesty of the spirit within, the unconquerability of the spirit, the stainlessness of the spirit. And when that is affirmed in others, they have the power then to overcome their egoism and all of the expressions of lower activity to which that egoism leads. So in forgiving, we are giving an affirmation of the spirit. So in forgiving, we affirm the spirit and strengthen its power over attachment to lower life. And that is what love does. When you love someone, you say, "I see something in you that is perfect, ever, eternally lovable. I affirm that, and you can affirm that, and you can rise above all of your sins."
Đến lúc này, chúng ta nên nhận ra rằng khi từ “chuộc tội” xuất hiện, phải nghĩ về nó như “hợp nhất”. Thái độ tha thứ của chúng ta tạo ra sự hợp nhất trong người được tha thứ và trong chính chúng ta. Sự tha thứ là lời khẳng định về vẻ uy nghi vô song của tinh thần bên trong, về tính bất khả chiến bại và sự tinh khiết không tì vết của tinh thần. Khi điều đó được khẳng định nơi người khác, họ sẽ có quyền năng vượt qua tính vị kỷ và mọi biểu hiện hoạt động thấp kém mà tính vị kỷ ấy dẫn đến. Vì vậy, khi tha thứ, chúng ta đang trao tặng một lời khẳng định về tinh thần. Trong sự tha thứ, chúng ta khẳng định tinh thần và củng cố quyền năng của nó đối với sự gắn bó vào đời sống thấp. Đó là điều tình thương thực hiện. Khi yêu một người, các bạn nói: “Tôi thấy trong bạn một điều hoàn hảo, mãi mãi và đời đời đáng yêu. Tôi khẳng định điều đó; bạn cũng có thể khẳng định điều đó và vươn lên trên mọi tội lỗi của mình.”
What did the Christ say? Something to this effect: that even if your sins be as black as night, I will wash them clean—something to that effect. You can be involved in the deepest type of sin; you are the spirit, and redemption is always possible, even to those who have journeyed so far into the land of distances as to be members of the Black Lodge. In the end, there has to be universal redemption. To me, as I think about it, it seems to have happened all the time. "Nothing left after the universal pralaya" is how I say it to myself, and no continuation of progress from universe to universe, because since we've had infinitudinous universes, every universe would always be infinitely evolved, if you can follow that. Because every universe, even a googolplexian ago, a view-ago, universes ago, has been preceded by infinitude. And so every universe, by definition, is infinitely involved, infinitely evolved. And what is the meaning of that? Anyway, we know it is not infinitely evolved—that it's simply a singularity, a one, infinitely distanced from the infinity of infinities. So I don't look to evolution between universes, from universe to universe. I look for the completion of the creative project of any universe, and then the reemergence of yet another with another creative theme.
Đức Christ đã nói gì? Đại ý rằng ngay cả khi tội lỗi của các bạn đen như đêm tối, Ngài cũng sẽ rửa chúng sạch sẽ. Các bạn có thể vướng vào loại tội lỗi sâu xa nhất; nhưng các bạn là tinh thần, và sự cứu chuộc luôn khả thi, ngay cả đối với những người đã đi quá xa vào miền xa cách đến mức trở thành thành viên Hắc đoàn. Cuối cùng phải có sự cứu chuộc phổ quát. Khi suy nghĩ về điều đó, đối với tôi dường như điều ấy vẫn luôn xảy ra. Tôi tự nói: “Không còn gì sau Giai kỳ qui nguyên phổ quát”, và không có sự tiếp tục tiến bộ từ vũ trụ này sang vũ trụ khác, bởi vì nếu đã có vô số vũ trụ thì mỗi vũ trụ luôn phải tiến hóa vô hạn, nếu các bạn có thể theo kịp lập luận ấy. Bởi mỗi vũ trụ, ngay cả một vũ trụ cách đây vô số vũ trụ không thể hình dung, đều có sự vô hạn đi trước nó. Vì vậy, theo định nghĩa, mỗi vũ trụ đều giáng hạ tiến hóa vô hạn và tiến hóa vô hạn. Điều đó có nghĩa gì? Dù sao, chúng ta biết nó không tiến hóa vô hạn—nó chỉ là một điểm đơn nhất, một đơn vị, cách vô hạn của các vô hạn một khoảng vô hạn. Vì thế, tôi không tìm kiếm sự tiến hóa giữa các vũ trụ, từ vũ trụ này đến vũ trụ khác. Tôi tìm kiếm sự hoàn tất dự án sáng tạo của mỗi vũ trụ, rồi sự tái xuất lộ của một vũ trụ khác với một chủ đề sáng tạo khác.
[26] That man, as usual, distorted and misinterpreted the teaching and the truth, and that it fell, as does all else at present, under the glamour and illusion of the astral plane,
[26] Quả thật, như thường lệ, con người đã xuyên tạc và diễn giải sai giáo lý cùng chân lý, và cũng như mọi điều khác hiện nay, giáo lý ấy rơi dưới ảnh hưởng của ảo cảm và ảo tưởng của cõi cảm dục,
—thus, we say, inverting it towards egoism, lower egoism, not higher ego—
—do đó, có thể nói là đảo ngược nó theo hướng vị kỷ, tính vị kỷ thấp chứ không phải chân ngã cao—
[27] plus the Piscean influence, is true. Man’s thought dominated and distorted the ideal and produced
[27] cộng thêm ảnh hưởng Song Ngư. Tư tưởng của con người đã chi phối và xuyên tạc lý tưởng ấy, đồng thời tạo ra
—and this is rare for the Tibetan—
—và điều này hiếm thấy ở Chân sư Tây Tạng—
[28] such a damnable doctrine as the elect of God, the chosen of the Lord, or the sole people to benefit by the sacrifice and death of the great Son of God,
[28] một giáo lý đáng nguyền rủa như quan niệm về những người được Thượng đế tuyển chọn, những người được Chúa lựa chọn, hoặc một dân tộc duy nhất được hưởng lợi từ sự hy sinh và cái chết của Con vĩ đại của Thượng đế,
He's weighing in here against Calvinism, with the idea that almighty God—almighty and all-merciful God—determined from the beginning who would be damned to hell forever and who would be saved, so you really can't help it, and anything that you do cannot fight against this pre-selection of who are the elect and who are not. It's such an incredibly separative doctrine. You can understand that it's operating under the law of cleavages. I do believe Calvin had a lot of fifth ray in his mind. He just said that this was logically necessary with an almighty, all-foreseeing God, but of course the immanence of God is not understood by the traditional churchman. So
Ở đây Ngài lên tiếng chống lại thuyết Calvin, với ý tưởng rằng Thượng đế toàn năng—Thượng đế toàn năng và đầy lòng thương xót—đã quyết định ngay từ đầu ai sẽ vĩnh viễn bị đày xuống địa ngục và ai sẽ được cứu, nên thực sự các bạn không thể làm gì khác, và không hành động nào của các bạn có thể chống lại sự tuyển chọn trước về những người được chọn và không được chọn. Đó là một giáo lý chia rẽ đến khó tin. Có thể hiểu rằng nó hoạt động dưới định luật phân ly. Tôi tin Calvin có nhiều cung năm trong thể trí. Ông chỉ nói rằng điều này tất yếu về mặt logic khi có một Thượng đế toàn năng và thấy trước mọi sự, nhưng dĩ nhiên, giáo sĩ truyền thống không thấu hiểu tính nội tại của Thượng đế.
man’s thought dominated and distorted the ideal and produced such a damnable doctrine as the elect of God, the chosen of the Lord,
Tư tưởng của con người đã chi phối và bóp méo lý tưởng, đồng thời tạo ra một giáo lý đáng nguyền rủa như giáo lý về những người được Thượng đế tuyển chọn, những người được Chúa Tể lựa chọn,
—as if God could possibly be so separative, and as if we were not actually aspects of God itself—or the sole people to benefit by the sacrifice and death of the great Son of God—144,000. It's not very much in a world of a billion Christians, is it? Let's just say that 144,000 only takes in a few of the billion Christians in the world. But DK has given us in TWM the true occult meaning of this so-called number of the saved. Yes, the number of the saved: those who have all petals open, all 144 of them by his method of counting, plus the three ciphers of the personality. Then we shall have the energy condition within our energy system to lead to at-one-ment with the higher worlds, and thus with reabsorption into the immortal states, and thus be saved.
—như thể Thượng đế có thể chia rẽ đến thế và như thể chúng ta không thực sự là những phương diện của chính Thượng đế—hoặc dân tộc duy nhất được hưởng lợi từ sự hy sinh và cái chết của Con Vĩ Đại của Thượng đế—144.000 người. Con số ấy chẳng đáng là bao trong một thế giới có một tỷ tín đồ Kitô giáo, phải không? Có thể nói rằng 144.000 người chỉ bao gồm một phần rất nhỏ trong hàng tỷ tín đồ Kitô giáo trên thế giới. Nhưng trong Luận về Chánh Thuật, Chân sư DK đã trao cho chúng ta ý nghĩa huyền bí chân chính của cái gọi là con số những người được cứu này. Vâng, con số những người được cứu: những người có tất cả các cánh hoa khai mở, toàn bộ 144 cánh theo cách tính của Ngài, cộng với ba số không của phàm ngã. Khi ấy, chúng ta sẽ có trạng thái năng lượng trong hệ thống năng lượng của mình để dẫn đến sự hợp nhất với các cõi cao, nhờ đó được tái hấp thu vào các trạng thái bất tử và được cứu.
And so the few—the sole people, the only people; how separative, incredibly separative—to benefit by the sacrifice and death of the great Son of God,
Và như vậy, số ít—dân tộc duy nhất, những người duy nhất; thật chia rẽ, chia rẽ đến khó tin—được hưởng lợi từ sự hy sinh và cái chết của Con Vĩ Đại của Thượng đế,
[29] and who pass, due to the merits of that vicarious death, into a state of bliss in heaven, simply because of an emotional choice, which ignores millions of those who have made no such choice, nor had the opportunity to do so.
[29] và nhờ công đức của cái chết thay thế ấy mà bước vào trạng thái chí phúc trên thiên đường, chỉ đơn giản do một sự lựa chọn cảm xúc—một lựa chọn phớt lờ hàng triệu người chưa từng đưa ra lựa chọn như vậy, cũng như chưa từng có cơ hội để làm điều đó.
—nor ever heard of it. Some of the more compassionate churchmen have reached out and said, "Look, this doesn't make sense for an all-compassionate God. There are people who have never heard of the choice to be saved or not to be saved, to believe in Jesus Christ or not to, and are they to be damned simply because they've never heard about it?" Some might say, "This is simply one of the mysteries; God's ways are inscrutable." But my answer to this is that man's mind is just limited, and that somehow we theologically come up with certain configurations that we force on others, and we believe in the iron-clad conclusions of our narrow, limited, one-pointed, set mind, as DK calls it—narrow, one-pointed, limited, set.
—thậm chí chưa từng nghe nói về điều đó. Một số giáo sĩ giàu lòng từ bi hơn đã lên tiếng: “Hãy xem, điều này không hợp lý đối với một Thượng đế đầy lòng từ bi. Có những người chưa từng nghe nói đến sự lựa chọn được cứu hay không được cứu, tin Đức Jesus Christ hay không, và chẳng lẽ họ bị đày đọa chỉ vì chưa bao giờ nghe về điều đó?” Một số người có thể nói: “Đây chỉ là một trong những huyền nhiệm; đường lối của Thượng đế là bất khả tư nghị.” Nhưng câu trả lời của tôi là thể trí con người vốn hạn hẹp, và bằng cách nào đó chúng ta đặt ra những cấu hình thần học nhất định rồi áp đặt chúng lên người khác; chúng ta tin vào những kết luận cứng nhắc của thể trí hẹp hòi, hạn hẹp, nhất tâm và cố định của mình, như Chân sư DK gọi—hẹp hòi, nhất tâm, hạn hẹp, cố định.
[30] The symbolic activity of the great Teacher of Nazareth will be properly understood and its significance will be properly appreciated only when group implications are more carefully studied,
[30] Hoạt động mang tính biểu tượng của vị Huấn Sư vĩ đại thành Nazareth sẽ chỉ được thấu hiểu đúng đắn và thâm nghĩa của nó chỉ được đánh giá đúng mức khi những hàm ý đối với tập thể được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn,
—not just the salvation of this illusory aggregation of matter we call our self. Then will
—chứ không chỉ là sự cứu rỗi tập hợp vật chất huyễn ảo mà chúng ta gọi là bản thân mình. Khi đó,
[31] the meaning of sacrifice and of death come into their rightful place
[31] khi ý nghĩa của sự hy sinh và cái chết có được vị trí đúng đắn của chúng
—when the group implications, group implications meaning here inclusiveness, will come into their rightful place—
—khi các hàm ý tập thể, mà ở đây có nghĩa là tính bao gồm, có được vị trí chính đáng—
[32] in the human consciousness, and the law of giving,
[32] trong tâm thức con người, và khi định luật ban cho,
—right giving, of course, because it's possible to give too much; right and proportionate giving, with true benefit to the recipient—
—dĩ nhiên là ban tặng đúng đắn, bởi người ta có thể ban tặng quá nhiều; sự ban tặng đúng đắn và tương xứng, thực sự mang lại lợi ích cho người tiếp nhận—
[33] with all that that entails, is correctly understood and applied.
[33] cùng tất cả những gì mà định luật ấy bao hàm, được thấu hiểu và áp dụng đúng đắn. Những người hy sinh như thế là:
So, friends, as I said, I may have gone on talking here a bit. Just to try to even things out, I'll say that this will be the end of Laws of the Soul Webinar Commentary number two, page 89—EP2, 89. It's a great book, really, and so practical for people of our kind. And this is the beginning of Laws of the Soul Webinar Commentary number three, beginning on the same page. I appreciate the opportunity, realizing it more and more, to really go slowly here. I'm one of those people that tends to talk too fast sometimes—I let my elevated Mercury get the better of me. My wife always tells me, "Stop your galloping mind—tarum, tarum, tarum." But sometimes, using the second ray, the energy of the sign Cancer, I like to just sit with things and slowly associate ideas which may be related in an illuminative manner. And then much more will come for us. As I say, I think I read this book for the first time forty-two years ago, and I'm still with it, thinking that more and more of light and understanding can be extracted from it with a careful reading, and that's basically what we're doing here together in all of these commentaries. We are carefully reading the books together. Now, you will come up with your own ideas, of course, but I'm hoping that some of what I say here will be supplementary to what you might think and will be enriching of your thought process. That would be my hope, and time will tell whether that is the case. So we'll go on then to Laws of the Soul Webinar Commentary number 3, in Esoteric Psychology 2, page 89. We'll see you as shortly as possible.
Các bạn, như tôi đã nói, có lẽ tôi đã nói hơi dài ở đây. Để cân đối mọi thứ, tôi sẽ kết thúc Bình Giảng Webinar Các Định Luật của Linh Hồn số hai tại trang 89—Tâm Lý Học Nội Môn 2, trang 89. Đây thực sự là một quyển sách tuyệt vời và hết sức thực tiễn đối với những người như chúng ta. Và đây là phần mở đầu của Bình Giảng Webinar Các Định Luật của Linh Hồn số ba, bắt đầu trên cùng trang ấy. Tôi trân trọng cơ hội được thực sự đi chậm ở đây, và ngày càng nhận thức rõ hơn về điều đó. Tôi là một trong những người đôi khi có khuynh hướng nói quá nhanh—tôi để Sao Thủy được nâng cao lấn át mình. Vợ tôi luôn bảo: “Hãy dừng thể trí đang phi nước đại của anh lại—ta-rum, ta-rum, ta-rum.” Nhưng đôi khi, nhờ sử dụng cung hai và năng lượng của dấu hiệu Cự Giải, tôi thích ngồi yên với sự việc và từ từ liên kết những ý tưởng có thể liên hệ với nhau theo cách mang lại sự soi sáng. Khi ấy, chúng ta sẽ nhận được nhiều hơn nữa. Như tôi đã nói, tôi nghĩ mình đọc quyển sách này lần đầu cách đây bốn mươi hai năm, và tôi vẫn còn gắn bó với nó, cho rằng ngày càng có thể rút ra nhiều ánh sáng và sự thấu hiểu hơn từ nó bằng cách đọc kỹ; về cơ bản, đó là điều chúng ta đang cùng nhau thực hiện trong tất cả những lời bình giảng này. Chúng ta cùng nhau đọc kỹ các quyển sách. Dĩ nhiên, các bạn sẽ hình thành những ý tưởng riêng, nhưng tôi hy vọng một phần những điều tôi nói ở đây sẽ bổ sung cho những gì các bạn có thể suy nghĩ và làm phong phú tiến trình tư tưởng của các bạn. Đó là hy vọng của tôi, và thời gian sẽ cho biết điều ấy có đúng hay không. Vậy chúng ta sẽ tiếp tục với Bình Giảng Webinar Các Định Luật của Linh Hồn số 3, trong Tâm Lý Học Nội Môn 2, trang 89. Hẹn gặp lại các bạn sớm nhất có thể.