← Bình Giảng Các Định luật của Linh hồn

Commentary Laws of the Soul 3

Tóm lược chương

Chân sư DK giải thích rằng Định luật Hi Sinh bắt nguồn từ một xung động thiêng liêng phát ra từ phía trên, dẫn đến một hoạt động được tập trung và xác định rõ ràng. Thầy MDR nhận xét rằng sự tái hiện thân được thực hiện vì mục đích hi sinh để nâng đỡ những sự sống chưa được hấp thụ trong lần tổng hợp cuối cùng của giai kỳ qui nguyên trước đó. Trong các nguyên tử trường tồn còn lưu giữ những sắp xếp biểu hiện sự bất toàn, bất hòa, và mối quan hệ sai lệch, vì vậy sự tái lâm phàm trong giai đoạn nhân loại được thực hiện để nâng cao mức độ rung động của chúng. Thầy MDR lưu ý rằng trong văn bản Esoteric Psychology 2, trang 89, từ "universe" được…


Commentary Laws of the Soul 3

Tóm Tắt

Ý nghĩa của Định luật Hi Sinh và sự tái hiện thân

Chân sư DK giải thích rằng Định luật Hi Sinh bắt nguồn từ một xung động thiêng liêng phát ra từ phía trên, dẫn đến một hoạt động được tập trung và xác định rõ ràng. Thầy MDR nhận xét rằng sự tái hiện thân được thực hiện vì mục đích hi sinh để nâng đỡ những sự sống chưa được hấp thụ trong lần tổng hợp cuối cùng của giai kỳ qui nguyên trước đó. Trong các nguyên tử trường tồn còn lưu giữ những sắp xếp biểu hiện sự bất toàn, bất hòa, và mối quan hệ sai lệch, vì vậy sự tái lâm phàm trong giai đoạn nhân loại được thực hiện để nâng cao mức độ rung động của chúng.

Ý nghĩa của từ "universe" trong văn bản Alice Bailey

Thầy MDR lưu ý rằng trong văn bản Esoteric Psychology 2, trang 89, từ "universe" được dùng để chỉ hệ mặt trời, không phải toàn bộ vũ trụ theo nghĩa thông thường. Do đó, câu "Thái dương Thượng đế đã hiến dâng sự sống của mình cho universe" có nghĩa là cho hệ mặt trời của chúng ta, hoặc có thể cho thiên hà, nhưng chắc chắn không phải cho toàn thể đại vũ trụ. Thầy MDR nhấn mạnh sự cần thiết phải cẩn thận với cách hiểu thông thường về thuật ngữ này.

Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế và sự hi sinh vũ trụ

Chân sư DK mô tả rằng Thái dương Thượng đế đã hiến dâng sự sống để tạo ra các thế giới biểu hiện, và Đức Christ Vũ Trụ đã bị đóng đinh trên thập giá vật chất, mang lại cơ hội tiến hóa cho tất cả sự sống trong mọi giới. Thầy MDR giải thích rằng "Đức Christ Vũ Trụ" ở đây dường như nằm trong phạm vi của Đấng Bất Khả Tư Nghị, tức thực thể vũ trụ cục bộ, chứ không phải Thượng đế Vũ Trụ của toàn thể. Thầy MDR cũng đề xuất một cấu trúc phân tầng: Hành Tinh Thượng đế là một luân xa trong Thái dương Thượng đế, Thái dương Thượng đế là một luân xa trong Chân Linh Vũ Trụ, và Chân Linh Vũ Trụ là một luân xa trong Siêu Chân Linh Vũ Trụ, tương ứng với "Đấng Vô Danh" được đề cập trong Luận về Lửa Vũ Trụ, trang 293.

Sáu dấu hiệu tiến bộ của nhân loại nhìn lại lịch sử

Chân sư DK liệt kê sáu bằng chứng về sự tiến bộ của nhân loại khi nhìn lại lịch sử: sự gia tăng năng lực tâm thức; sự tinh tế hóa ngày càng tăng của các hình tướng trong mọi giới; sự tăng cường hoạt động hữu thức vượt qua giới hạn của thời gian; sự mở rộng nhận thức về tiến bộ từ chiều kích này sang chiều kích khác, đến mức ngày nay chúng ta nói đến trạng thái tâm thức thứ tư và có thể hình dung năm hoặc sáu chiều kích; sự kiểm soát khoa học ngày càng cao đối với các nguyên tố và mãnh lực thiên nhiên; và sự chuyển hóa từ đời sống bản năng của tâm thức giác quan sang đời sống trí tuệ và bắt đầu xuất hiện sự nhận thức trực giác. Thầy MDR lưu ý rằng trạng thái tâm thức thứ tư tương ứng với cõi Bồ đề, mà Chân sư DK gọi là "cõi của sự hợp nhất lý tính", trong khi chiều kích thứ năm và thứ sáu tương ứng với cõi atma và cõi chân thần.

Sanat Kumara, Hành Tinh Thượng đế và sự điểm đạo vũ trụ

Chân sư DK cho rằng toàn bộ sự tiến bộ của nhân loại là kết quả của hoạt động có chủ đích của một Sự sống Vĩ Đại đã tự nguyện bị đóng đinh trên Thập Giá Chủ Yếu của các tầng trời và trải qua một cuộc điểm đạo vũ trụ. Thầy MDR giải thích rằng Sanat Kumara là một sự mở rộng được phóng xuất từ Hành Tinh Thượng đế, một dạng hóa thân tập trung và mang tính cứu chuộc của ngài, và Hành Tinh Thượng đế hiện đang trải qua cuộc điểm đạo vũ trụ trong khi chờ đợi để tiến tới lần điểm đạo vũ trụ thứ hai sau khi thuần thục thể cảm dục vũ trụ. Thầy MDR cũng lưu ý rằng Hành Tinh Thượng đế của Sao Kim đã hoàn thành cuộc điểm đạo vũ trụ đặc biệt đó.

Ba mục tiêu của Hành Tinh Thượng đế và ba phương diện thiêng liêng

Chân sư DK nêu ba mục tiêu biểu lộ của Hành Tinh Thượng đế: phát triển tâm thức, tinh tế hóa các hình tướng, và tăng cường sự sống được nhận thức. Thầy MDR nhận xét rằng ba mục tiêu này tương ứng với ba phương diện thiêng liêng: phát triển tâm thức tương ứng với phương diện thứ hai; tinh tế hóa hình tướng tương ứng với phương diện thứ ba; và tăng cường sự sống được nhận thức tương ứng với phương diện thứ nhất. Thầy MDR cũng lưu ý rằng việc liệt kê phương diện tâm thức trước tiên phản ánh thiên hướng cung hai của hành tinh chúng ta và của hệ mặt trời.

Thổ tinh, hi sinh và cơ hội tiến bộ

Thầy MDR đề xuất rằng hi sinh về bản chất là sự tự nguyện chấp nhận bị giới hạn trong một thời gian và không gian nhất định, phải ở lại tại một vị trí trong khi từ bỏ các liên hệ và cơ hội mở rộng khác. Thổ tinh vừa là chủ tinh của thời gian vừa là chủ tinh của sự hi sinh mang tính giam hãm, nhưng đồng thời cũng được gọi là hành tinh của cơ hội, vì trong khi đứng vững tại vị trí của mình, người hi sinh xây dựng những năng lực đáng tin cậy qua hành động lặp đi lặp lại. Thầy MDR nhận xét rằng Sanat Kumara đã tự giới hạn mình vào một không gian rất nhỏ là bầu hành tinh của chúng ta trong hàng triệu năm, và người muốn tự làm chậm sự tiến bộ của mình chính là thông qua sự ích kỷ.

Cung bốn và Định luật Hi Sinh: mối liên hệ cốt lõi

Chân sư DK giải thích rằng cung bốn liên quan đặc biệt đến Định luật Hi Sinh, và bốn yếu tố "bốn" hội tụ tại hành tinh chúng ta: hệ hành tinh thứ tư tính từ Mặt Trời, bầu hành tinh thứ tư, giới thứ tư là giới nhân loại, và Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. Chân sư DK cũng xác nhận rằng cung bốn hiện không phải là một trong các cung đang biểu hiện, tuy nhiên trong chu kỳ lớn hơn khoảng 44.000 năm mà còn khoảng 40.000 năm nữa, nó vẫn là nhân tố kiểm soát chủ yếu trong sự tiến hóa của Trái Đất. Thầy MDR nhận xét rằng biểu tượng của Trái Đất là thập giá nằm trong vòng tròn, và hình ảnh thập giá hiện đang chiếm ưu thế còn vòng tổng hợp vẫn chưa được biểu hiện đầy đủ.

Cung bốn: xung đột, hi sinh và vẻ đẹp qua đấu tranh

Chân sư DK mô tả rằng cung bốn của xung đột, khi được áp dụng và thấu hiểu đúng đắn, sẽ mang lại sự hòa hợp và hợp nhất, và kết quả của hoạt động hòa giải này là vẻ đẹp. Vẻ đẹp đó được đạt đến qua đấu tranh, tạo ra sự sống thông qua cái chết, hòa hợp qua xung đột, và hợp nhất qua sự đa dạng và nghịch cảnh — đây là ba tên gọi thêm của cung bốn. Thầy MDR lưu ý rằng cõi thứ tư cũng được gọi là "ngọn núi nơi hình tướng chết đi" và đồng thời là cõi đầu tiên của sự sống vũ trụ, điều này phản ánh mối liên hệ mật thiết giữa cung một và cung bốn.

Các Thái dương Thiên Thần hi sinh và sự ra đời của giới nhân loại

Chân sư DK tuyên bố rằng sự hi sinh của các Thái dương Thiên Thần đã đưa giới nhân loại, giới thứ tư, vào sự tồn tại. Thầy MDR giải thích rằng các Thái dương Thiên Thần đã phải chịu đựng sự phân chia: một phần bản chất của họ bị giam hãm trong các hiện thể của chúng ta, trong khi họ vẫn tiếp tục công việc trên các cõi cao. Thầy MDR cũng phân biệt các cách thức giao tiếp khác nhau của các Thái dương Thiên Thần với nhân loại: một số nhập vào các thể xác người thực sự, một số chỉ cấy vào tia lửa của trí tuệ, và một số khác thì thúc đẩy ngọn lửa của trí tuệ từ xa. Thầy MDR ước tính những Thái dương Thiên Thần đến từ buổi đầu đã chịu đựng sự giam hãm khoảng 21 triệu năm, còn những vị đến khi nhân loại Dãy Mặt Trăng chuyển sang Dãy Địa Cầu trong giống dân phụ thứ ba của giống dân gốc thứ tư thì đã chịu đựng khoảng 10 triệu năm.

Hi sinh của Chân Thần và bản chất của sự tự phân chia

Chân sư DK mô tả những "Đấng Trở Về Niết Bàn" đã có chủ đích và hiểu biết đầy đủ khi lấy thể xác người để nâng cao các hình tướng sự sống thấp hơn tiến gần đến mục tiêu, và các Chân Thần cũng phải phục tùng Định luật Hi Sinh trong cuộc hành trình của mình. Thầy MDR giải thích rằng hi sinh luôn bao hàm sự duy trì đồng thời hai cực tương phản trong tình trạng căng thẳng, và ngay cả khi Chân Thần đi vào các cõi thấp hơn thì nó vẫn ở trên cõi chân thần như Chân Thần-trong-sự-mở-rộng. Thầy MDR nhấn mạnh rằng điểm quan trọng là chỉ có một phương diện của bản chất bị giam hãm, không phải toàn thể, và điều này đúng với cả các Thái dương Thiên Thần lẫn chính chúng ta khi hi sinh.

Sanat Kumara là Kumara thứ tư và điểm tập trung nhất tâm của hi sinh

Thầy MDR lưu ý rằng Sanat Kumara đôi khi được gọi là Kumara thứ tư, điều này gắn kết ngài với cung bốn và với sự cần thiết phải duy trì điểm tập trung nhất tâm tại vị trí hi sinh của mình. Thực thể hi sinh đứng vững giữa những lực hút cao hơn tác động lên tinh thần-linh hồn và nhu cầu thấp hơn của những sự sống mà ngài có thể giúp đỡ bằng cách đặt sự hiện diện của mình vào chỗ giam hãm của chúng. Thầy MDR đề xuất rằng để hi sinh một cách thực sự, cần phải có khả năng hoãn lại sự thỏa mãn tinh thần của bản thân, và sự nhận thức đã thay đổi rằng thời gian là không thực sẽ hỗ trợ cho điều này, như đã thấy trong trường hợp của Sanat Kumara.

Câu chuyện Hercules trong dấu hiệu Song Tử và bài học về hi sinh

Thầy MDR trích dẫn kỳ công của Hercules trong dấu hiệu Song Tử như một minh họa sống động: trên đường đi lấy những quả táo vàng, Hercules dừng lại để giải thoát Prometheus — biểu tượng của các Thái dương Thiên Thần — và sau đó lại dừng để giúp Atlas, có thể là biểu tượng của Thánh Đoàn, gánh chịu gánh nặng của thế giới. Thầy MDR nhận xét rằng chính trong hành động hi sinh đó, những quả táo vàng tự rơi vào tay Hercules, minh họa cho lời của Chân sư Morya: "Khi nào bạn trở nên kém hơn vì hi sinh?" Thầy MDR kết luận rằng con đường thực sự để làm chậm sự tiến hóa của bản thân là sự ích kỷ, không phải hi sinh.

Tính vĩnh cửu của thời gian và sự hoàn hảo của Thượng đế

Thầy MDR kết thúc bằng suy ngẫm rằng trong tiến trình vũ trụ và siêu vũ trụ, chúng ta sống trong thời gian bất tận và sẽ không bao giờ thực sự "hết thời gian" theo nghĩa tối hậu. Tất cả những gì có thể được thực hiện rốt cuộc sẽ được thực hiện, và trong một ý nghĩa huyền bí sâu xa, trong Tuyệt Đối, tất cả những gì có thể xảy ra đều đã xảy ra mãi mãi — đây là một điều bí ẩn liên quan đến sự hoàn hảo của Thượng đế. Thầy MDR xem đây là một điểm đáng chiêm nghiệm sâu sắc và lưu ý rằng nhận thức này hỗ trợ cho người hi sinh trong việc hoãn lại sự thỏa mãn tinh thần tức thời.

The Law of the Soul 3

[1] The Solar Deity who gave His life to the universe, [2] to the solar system, to the planet, and the manifested worlds consequently appeared. [3] The cosmic Deity has likewise done the same. [4] But what does this mean to us? [5] Naught, except a symbol. [6] It was His impulse, His will, His desire, [7] His incentive, His idea and purpose to appear. The creative act then took place, and the process of manifestation began its cyclic evolutionary existence. [8] The Cosmic Christ was crucified upon the cross of matter, and by that great sacrifice opportunity was offered to all evolving lives in all kingdoms of nature and in all created worlds. [9] Thus they could progress. The work, in space and time, and the stupendous march of living beings towards an at present unrealized goal, began. [10] We can [Page 90] give no reason for the choice made by Deity thus to act. [11] We do not know His ultimate purpose or plan; [12] and only aspects of His technique and method begin to appear to the illuminated mind. [13] It has been hinted by Those Who know so much more than we, [14] owing to their longer life cycle and experience, that some glimmering of that eternal and cosmic Intent is beginning to dawn in the consciousness of Those who have taken some of the higher initiations. [15] Their nature must necessarily remain incomprehensible to mankind. All that the intelligent human being can grasp as he looks back over the history of the planet (as far as modern history can give it to him) [16] is that there has been:

[1] Thái dương Thượng đế, Đấng đã hiến sự sống của Ngài cho vũ trụ, [2] cho hệ mặt trời, cho hành tinh và các thế giới biểu hiện, do đó đã xuất hiện. [3] Thượng đế Vũ Trụ cũng đã làm như vậy. [4] Nhưng điều này có ý nghĩa gì đối với chúng ta? [5] Không gì cả, ngoại trừ một biểu tượng. [6] Chính xung lực của Ngài, ý chí của Ngài, dục vọng của Ngài, [7] động lực của Ngài, ý tưởng và Thiên Ý của Ngài là xuất hiện. Bấy giờ, hành vi sáng tạo diễn ra, và tiến trình biểu hiện bắt đầu sự tồn tại tiến hóa theo chu kỳ của nó. [8] Đức Christ Vũ Trụ bị đóng đinh trên thập giá vật chất, và nhờ sự hy sinh vĩ đại ấy, cơ hội được mở ra cho mọi sự sống đang tiến hóa trong tất cả các giới của tự nhiên và trong mọi thế giới được sáng tạo. [9] Nhờ đó, chúng có thể tiến bước. Công cuộc trong không gian và thời gian, cùng cuộc tiến bước kỳ vĩ của các sinh linh hướng đến một mục tiêu mà hiện nay chưa thể chứng nghiệm, đã bắt đầu. [10] Chúng ta [Page 90] không thể đưa ra lý do vì sao Thượng đế đã lựa chọn hành động như thế. [11] Chúng ta không biết mục đích hay Thiên Cơ tối hậu của Ngài; [12] và chỉ những phương diện trong kỹ thuật và phương pháp của Ngài mới bắt đầu hiển lộ trước trí tuệ được soi sáng. [13] Các Đấng biết nhiều hơn chúng ta rất nhiều, [14] nhờ chu kỳ sống và kinh nghiệm lâu dài hơn của Các Ngài, đã gợi ý rằng một vài tia sáng mờ nhạt về Thiên Ý vĩnh cửu và vũ trụ ấy đang bắt đầu ló rạng trong tâm thức của Những Đấng đã trải qua một số cuộc điểm đạo cao hơn. [15] Bản chất của những cuộc điểm đạo ấy tất yếu vẫn không thể lĩnh hội đối với nhân loại. Tất cả những gì một con người thông tuệ có thể nắm bắt khi nhìn lại lịch sử hành tinh (trong phạm vi mà lịch sử hiện đại có thể trình bày cho y) [16] là đã có:

[17] 1. Progress in the human power to be conscious.

[17] 1. Sự tiến bộ trong khả năng có tâm thức của con người.

[18] 2. A growing and paralleling refinement of the forms of life in the various kingdoms of nature.

[18] 2. Sự tinh luyện ngày càng tăng và song hành của các hình tướng sự sống trong các giới khác nhau của tự nhiên.

[19] 3. An intensification of conscious activity, on a developing scale of rapid living, that tends constantly to transcend time as we know it.

[19] 3. Sự tăng cường hoạt động hữu thức, trên một thang mức đời sống ngày càng nhanh, vốn không ngừng có khuynh hướng vượt lên trên thời gian như chúng ta biết về nó.

[20] 4. An expanding realization of progress from one dimension to another, until today we talk in terms of a fourth dimensional state of consciousness and can grasp the fact that five or six dimensions are beautifully possible.

[20] 4. Một nhận thức ngày càng mở rộng về sự tiến bộ từ chiều kích này sang chiều kích khác, cho đến ngày nay chúng ta nói đến một trạng thái tâm thức bốn chiều và có thể nắm bắt sự kiện rằng năm hoặc sáu chiều là hoàn toàn khả hữu.

[21] 5. An increasingly scientific control of the elements in which we live, and of the forces of nature. [22] Today we talk in terms of air mastery just as five hundred years ago (when such a thing was deemed impossible) they talked in terms of the mastery of oceans. [23] We are offsetting the gravitational pull of the earth so that we can “fly into the face of the sun.”

[21] 5. Sự kiểm soát ngày càng mang tính khoa học đối với các nguyên tố mà chúng ta sống trong đó, và đối với các mãnh lực của tự nhiên. [22] Ngày nay chúng ta nói đến việc làm chủ không trung, cũng như năm trăm năm trước (khi một điều như thế bị xem là bất khả) người ta nói đến việc làm chủ đại dương. [23] Chúng ta đang hóa giải sức hút trọng lực của Trái Đất để có thể “bay thẳng vào mặt trời.”

[24] 6. From the instinctual life of sense consciousness in material forms, we have progressed to the intellectual life of self-conscious human beings and to the intuitive [Page 91] realizations of those who are beginning to function as superhuman entities.

[24] 6. Từ đời sống bản năng của tâm thức giác quan trong các hình tướng vật chất, chúng ta đã tiến đến đời sống trí tuệ của những con người có ngã thức, và đến những chứng nghiệm trực giác của những người đang bắt đầu hoạt động như các thực thể siêu nhân.

[25] All this has been brought about as the result of the determined, conditioned activity of a Great Life, [26] Which chose to make a major sacrifice and to be crucified upon the cardinal Cross of the Heavens, and thereby pass through a cosmic initiation; [27] Which, from our minor and relatively uninformed angle, stands today crucified upon the fixed Cross in the Heavens, [28] and through the medium of the mutable Cross is nevertheless producing changes in the evolutionary cycle, [29] increasing refinement of form, and that intensification of life which distinguishes His creation.

[25] Tất cả những điều này đã được tạo nên do hoạt động kiên định và định hình của một Sự Sống Vĩ Đại, [26] Đấng đã chọn thực hiện một sự hy sinh trọng đại và chịu đóng đinh trên Thập Giá Chủ Yếu của các tầng trời, qua đó trải qua một cuộc điểm đạo vũ trụ; [27] Đấng mà, từ góc nhìn nhỏ bé và tương đối thiếu hiểu biết của chúng ta, ngày nay đang chịu đóng đinh trên Thập Giá Cố Định ở các tầng trời, [28] nhưng tuy thế, qua Thập Giá Biến Đổi, đang tạo ra những biến đổi trong chu kỳ tiến hóa, [29] sự tinh luyện ngày càng tăng của hình tướng, và sự tăng cường của sự sống vốn làm nên nét đặc trưng cho công trình sáng tạo của Ngài.

[30] A study of those expressed objectives—

[30] Việc nghiên cứu những mục tiêu đã được biểu lộ ấy—

[31] 1. A development of consciousness.

[31] 1. Sự phát triển tâm thức.

[32] 2. A refining of forms.

[32] 2. Sự tinh luyện các hình tướng.

[33] 3. An intensification of realized life.

[33] 3. Sự tăng cường của sự sống được chứng nghiệm.

[34] will convey to the earnest student a meagre understanding of the lowest aspects of the divine purpose. [35] The wonder of the idea staggers human imagination. [36] If this is a statement of fact, [37] and if these ideas are but the expression of still deeper and more beautiful cosmic purposes, [38] may not the goal be realized as being far beyond human computation, [39] when its lowest expression embraces the highest intuitive and abstract concepts of which the most elevated human consciousness is capable? I commend this thought to your deep consideration.

[34] sẽ truyền đạt cho đạo sinh nghiêm túc một sự thấu hiểu ít ỏi về những phương diện thấp nhất của Thiên Ý. [35] Sự kỳ diệu của ý tưởng này khiến trí tưởng tượng của con người phải sửng sốt. [36] Nếu đây là một phát biểu về sự thật, [37] và nếu những ý tưởng này chỉ là sự biểu hiện của những Thiên Ý vũ trụ còn sâu xa và mỹ lệ hơn nữa, [38] thì chẳng phải mục tiêu ấy có thể được nhận ra là vượt xa mọi khả năng tính toán của con người hay sao, [39] khi mà biểu hiện thấp nhất của nó đã bao hàm những quan niệm trực giác và trừu tượng cao nhất mà tâm thức con người cao siêu nhất có khả năng đạt tới? Tôi đề nghị các bạn suy ngẫm sâu sắc về tư tưởng này.

[40] It will be apparent, therefore, why it is the energy of the fourth ray which is related to this Law of Sacrifice, and who in this fourth planetary scheme and in our fourth globe, [41] (the earth globe) so much emphasis is laid upon this Law of Sacrifice, “the Law of those who choose to die.” [42] The fourth ray [Page 92] of conflict (conflict with a view to eventual harmony) is at present not one of the manifesting rays, [43] yet—in the light of the larger cycle—this ray is a major controlling factor in our earth evolution [44] and in the evolution of our solar system, which is one of the fourth order. [45] The realization of this may indicate why our little planet, the Earth, is of such apparent importance in the solar system. [46] It is not simply because we choose to think so and thus feed our own arrogance, but it is so primarily because the fourth ray of conflict and this first law are—in time and space—dominating factors in the fourth kingdom in nature, the human kingdom. [47] Our planet, the fourth in the series of divine expression with which we are associated, [48] has a peculiar relation to the position of our solar system in the series of solar systems which constitute the body of expression for The One About Whom Naught May Be Said.

[40] Vì vậy, sẽ rõ tại sao chính năng lượng của cung bốn có liên hệ với Định luật Hy sinh này, và tại sao trong hệ hành tinh thứ tư này cũng như trên bầu hành tinh thứ tư của chúng ta, [41] (bầu Trái Đất) lại có sự nhấn mạnh rất lớn vào Định luật Hy sinh này, “Định luật của những người chọn cái chết.” [42] Cung bốn [Page 92] của xung đột (xung đột nhằm hướng đến sự hài hòa sau cùng) hiện nay không phải là một trong những cung đang biểu hiện, [43] tuy nhiên—dưới ánh sáng của chu kỳ lớn hơn—cung này là một yếu tố kiểm soát chủ yếu trong cuộc tiến hóa của Trái Đất chúng ta [44] và trong sự tiến hóa của hệ mặt trời chúng ta, vốn thuộc cấp thứ tư. [45] Việc nhận ra điều này có thể cho thấy tại sao hành tinh nhỏ bé của chúng ta, Trái Đất, lại có tầm quan trọng rõ rệt như thế trong hệ mặt trời. [46] Điều đó không đơn giản chỉ vì chúng ta chọn nghĩ như vậy và do đó nuôi dưỡng tính kiêu ngạo của chính mình, mà chủ yếu là vì cung bốn của xung đột và định luật thứ nhất này—trong thời gian và không gian—là những yếu tố chi phối trong giới thứ tư của tự nhiên, tức giới nhân loại. [47] Hành tinh của chúng ta, hành tinh thứ tư trong chuỗi biểu hiện thiêng liêng mà chúng ta có liên hệ, [48] có một mối quan hệ đặc biệt với vị trí của hệ mặt trời chúng ta trong chuỗi các hệ mặt trời cấu thành thể biểu hiện của Đấng Bất Khả Tư Nghị.

[49] It must never be forgotten that this fourth ray of conflict is the ray whose energies, rightly applied and understood, bring about harmony and at-one-ment. [50] The result of this harmonizing activity is beauty, [51] but it is a beauty that is achieved through struggle. [52] This produces a livingness through death, [53] a harmony through strife, [54] a Union through diversity and adversity.

[49] Không bao giờ được quên rằng cung bốn của xung đột này là cung mà các năng lượng của nó, khi được áp dụng và thấu hiểu đúng đắn, sẽ tạo nên sự hài hòa và hợp nhất. [50] Kết quả của hoạt động hài hòa hóa này là vẻ đẹp, [51] nhưng đó là một vẻ đẹp đạt được qua đấu tranh. [52] Điều này tạo nên sức sống qua cái chết, [53] sự hài hòa qua xung đột, [54] sự Hợp Nhất qua tính đa dạng và nghịch cảnh.

[55] The sacrifice of the solar angels brought the fourth kingdom in nature into being. [56] The “returning nirvanis” (as they are called in esoteric literature), with deliberation and full understanding, took human bodies in order to raise those lower forms of life nearer to the goal. [57] These were and are ourselves. [58] The “Lords of Knowledge and Compassion and of ceaseless persevering Devotion” (who are ourselves) chose to die in order that lesser lives might live, [59] and this sacrifice has made possible the evolution of the indwelling consciousness of Deity. [60] This consciousness, having worked its way through [Page 93] the subhuman kingdoms in nature, needed the activity of the solar angels [61] to make further progress possible. [62] Herein lies

[55] Sự hy sinh của các Thái dương Thiên Thần đã đưa giới thứ tư trong tự nhiên vào hiện tồn. [56] Các “nirvani trở lại” (như họ được gọi trong văn liệu huyền bí), với chủ ý và sự thấu hiểu đầy đủ, đã khoác lấy thể người nhằm nâng những hình tướng sự sống thấp hơn ấy đến gần mục tiêu hơn. [57] Họ đã là và đang là chính chúng ta. [58] Các “Chúa Tể của Tri Thức và Lòng Từ Bi và của Lòng Sùng Kính kiên trì không ngừng” (vốn là chính chúng ta) đã chọn cái chết để những sự sống thấp hơn có thể sống, [59] và sự hy sinh này đã làm cho sự tiến hóa của tâm thức Thượng đế nội tại trở nên khả hữu. [60] Tâm thức này, sau khi đã tiến bước qua [Page 93] các giới dưới nhân loại trong tự nhiên, cần đến hoạt động của các Thái dương Thiên Thần [61] để có thể tiếp tục tiến bộ. [62] Chính trong điều này có:

[63] a. Our service to God, through sacrifice and death;

[63] a. Sự phụng sự của chúng ta đối với Thượng đế, thông qua hy sinh và cái chết;

[64] b. Our service to other souls, through deliberate self-sacrificing purpose;

[64] b. Sự phụng sự của chúng ta đối với các linh hồn khác, thông qua Thiên Ý tự hy sinh có chủ đích;

[65] c. Our service to other forms of life in other kingdoms.

[65] c. Sự phụng sự của chúng ta đối với các hình tướng sự sống khác trong những giới khác.

Bình Giảng Laws of the Soul Webinar Commentary 3

Hi everybody, we are beginning with Laws of the Soul Webinar Commentary number 3, page 89. I'd like to backtrack just a little bit. This is where I left off.

Xin chào mọi người, chúng ta bắt đầu phần Bình Giảng Webinar Các Định Luật của Linh Hồn số 3, trang 89. Tôi muốn quay lại một chút. Đây là chỗ tôi đã dừng lại.

Let us see if we can interpret or define the true significance of this law, which is in reality the expression of a divine impulse,

Hãy xem liệu chúng ta có thể diễn giải hoặc xác định thâm nghĩa đích thực của định luật này hay không; trên thực tế, nó là biểu hiện của một xung động thiêng liêng,

—it's coming from above and not below—

—đến từ bên trên chứ không phải bên dưới—

leading to a defined activity,

dẫn đến một hoạt động xác định,

—a focused, Saturnian, specific piece of work—

—một công việc cụ thể, tập trung, mang tính chất Sao Thổ—

with its consequent and subsequent results and effects. It was this aspect of sacrifice which led to the creation of the worlds and to the manifestation of the divine Creator.

cùng những kết quả và tác động tất yếu tiếp theo. Chính phương diện hi sinh này đã dẫn đến sự sáng tạo các thế giới và sự biểu hiện của Đấng Sáng Tạo thiêng liêng.

Here we can speak of a Planetary Logos or a Solar Logos. We really can't know anything about the reappearance of the universe endlessly, but we may know something about local creators, such as our Planetary Logos or, systemically, our Solar Logos. And it seems that the reincarnational theme, the theme of re-embodiment, is undertaken for the sake of sacrifice, for the sake of uplifting those who were left behind in the previous final synthesis. Short of the universal pralaya, it seems to me that there will always be certain forms of life, certain groupings of energies, certain units of consciousness, which are not absorbed because not fit for the final synthesis. And the rebirth is undertaken for their sake. It's obvious in the case of the human being that there are all manner of arrangements within the permanent atoms, within the karmic content of the permanent atoms, which express imperfection, disharmony, incorrect relationship, and reincarnation is undertaken, in the human stage, to raise their level of vibration.

Ở đây, chúng ta có thể nói về một Hành Tinh Thượng đế hoặc một Thái dương Thượng đế. Chúng ta thực sự không thể biết gì về sự tái xuất hiện bất tận của vũ trụ, nhưng có thể biết đôi chút về các đấng sáng tạo địa phương, chẳng hạn như Hành Tinh Thượng đế của chúng ta hoặc, xét trên bình diện hệ thống, Thái dương Thượng đế của chúng ta. Dường như chủ đề tái sinh, chủ đề tái nhập thể, được đảm nhận vì mục đích hi sinh, nhằm nâng cao những ai bị bỏ lại trong cuộc tổng hợp cuối cùng trước đó. Nếu chưa đến Giai kỳ qui nguyên của vũ trụ, theo tôi, sẽ luôn có một số hình thức sự sống, một số nhóm năng lượng và một số đơn vị tâm thức không được hấp thu vì chưa thích hợp với cuộc tổng hợp cuối cùng. Sự tái sinh được đảm nhận vì họ. Trong trường hợp con người, rõ ràng bên trong các Nguyên tử trường tồn, trong nội dung nghiệp quả của các Nguyên tử trường tồn, có đủ loại cấu trúc biểu hiện sự bất toàn, bất hòa và quan hệ sai lệch; ở giai đoạn nhân loại, việc tái sinh được đảm nhận để nâng cao mức rung động của chúng.

Now that is where we had come to when there was a failure to record, and then we went into the significance of the Law of Sacrifice and into the idea of the impulse of giving. And there I did, in fact, discuss the meanings with relative fullness. Forgiveness and atonement, or at-one-ment: these are the keys of the Christian faith. And in a way it is a very high faith when understood in terms of the second aspect of divinity and not the sixth, because after all, it is aligned with the principal ray emerging into manifestation on our planet, the second ray, and also the soul ray of the Solar Logos—and maybe at length and finally it will be even the Monadic ray of our Solar Logos. As I've said, that Monadic ray may be the fourth—this is hypothesized by the astrologer Stephen Pugh, and I think there's something to be said for it. If it's the fourth, fifth, sixth or seventh, any Monadic ray cannot remain as such, but must be resolved into one, two or three, and that fits with our Solar Logos as well. And as it is a heart center within a Cosmic Logos, the chances are that the resolution on the Monadic level will be onto the second ray. Unconquerability.

Đó là chỗ chúng ta đã đi đến khi việc ghi âm gặp sự cố, rồi chúng ta bàn đến thâm nghĩa của Định luật Hi sinh và ý tưởng về xung động cho đi. Quả thực, ở đó tôi đã thảo luận các ý nghĩa tương đối đầy đủ. Sự tha thứ và chuộc tội, hay sự hợp nhất: đó là những chìa khóa của đức tin Cơ Đốc. Theo một nghĩa nào đó, đây là một đức tin rất cao khi được thấu hiểu theo phương diện thứ hai của thiên tính chứ không phải phương diện thứ sáu, bởi rốt cuộc, nó chỉnh hợp với cung chính đang xuất hiện trong sự biểu hiện trên hành tinh chúng ta, tức cung hai, và cũng với cung linh hồn của Thái dương Thượng đế—và có lẽ cuối cùng, sau một thời gian dài, thậm chí nó sẽ là cung chân thần của Thái dương Thượng đế chúng ta. Như tôi đã nói, cung chân thần ấy có thể là cung bốn—đây là giả thuyết của nhà chiêm tinh Stephen Pugh, và tôi nghĩ giả thuyết này có phần hợp lý. Nếu đó là cung bốn, năm, sáu hoặc bảy, thì bất kỳ cung chân thần nào cũng không thể mãi giữ nguyên như thế mà phải được quy về cung một, hai hoặc ba; điều này cũng phù hợp với Thái dương Thượng đế của chúng ta. Và vì Ngài là một trung tâm tim bên trong một Thượng đế Vũ Trụ, rất có thể sự quy hợp trên cấp độ chân thần sẽ hướng về cung hai. Tính bất khả chinh phục.

Now we can go on—ponderously, I realize. He certainly did blast this idea of the damnable doctrine of the elect, and the idea that through simply an emotional choice one might be saved whereas all others would be damned, expressing the incredible dualistic spell which hovers over the consciousness of humanity. So we're entering into number three here, and

Chúng ta có thể tiếp tục, dù tôi nhận ra rằng tiến độ khá nặng nề. Chắc chắn Ngài đã đả phá mạnh mẽ ý tưởng về giáo lý đáng nguyền rủa của những người được tuyển chọn, cũng như ý tưởng cho rằng chỉ nhờ một lựa chọn cảm xúc mà một người có thể được cứu rỗi, trong khi tất cả những người khác đều bị đày đọa; ý tưởng ấy biểu hiện sự mê hoặc nhị nguyên khó tin đang bao phủ tâm thức nhân loại. Chúng ta bước vào mục số ba:

the meaning of sacrifice and of death come into their rightful place in the human consciousness, and the law of giving, with all that that entails, is correctly understood and applied. Those who thus sacrifice are:

ý nghĩa của sự hi sinh và cái chết chiếm đúng vị trí của chúng trong tâm thức nhân loại, còn định luật cho đi, cùng tất cả những gì nó bao hàm, được thấu hiểu và áp dụng đúng đắn. Những Đấng hi sinh như thế là:

—the law of giving. I think we can say that there is no elevation without giving. There is no elevation and no release without giving. So we go on.

—định luật cho đi. Tôi nghĩ chúng ta có thể nói rằng không có sự nâng cao nào nếu không cho đi. Không có sự nâng cao và giải thoát nào nếu không cho đi. Chúng ta tiếp tục.

[1] The Solar Deity who gave His life to the universe,

[1] Thái dương Thượng đế, Đấng đã hiến sự sống của Ngài cho vũ trụ,

Notice this. This tells us so importantly how the word "universe" is used. So this is not the grand entirety. Universe means solar system, and this is Esoteric Psychology 2, page 89. We have to be careful, so careful, about our usual understanding of the term "universe," which means the grand entirety of cosmos. So universe means solar system. So let's continue.

Hãy lưu ý điều này. Nó cho chúng ta biết một cách hết sức quan trọng từ “vũ trụ” được sử dụng như thế nào. Vì vậy, đây không phải là toàn thể bao la. Vũ trụ có nghĩa là hệ mặt trời, và đây là Tâm Lý Học Nội Môn 2, trang 89. Chúng ta phải hết sức thận trọng với cách hiểu thông thường của mình về thuật ngữ “vũ trụ”, vốn có nghĩa là toàn thể bao la của vũ trụ. Ở đây, vũ trụ có nghĩa là hệ mặt trời. Chúng ta tiếp tục.

The Solar Deity,

Thái Dương Thượng Đế,

—we presume that to be the Solar Logos—

—chúng ta cho rằng đó là Thái dương Thượng đế—

who gave His life to the universe,

Đấng đã hiến dâng sự sống của Ngài cho vũ trụ,

—our local system; maybe it even means galaxy, but I think it's much more local—

—hệ thống địa phương của chúng ta; có lẽ nó thậm chí có nghĩa là thiên hà, nhưng tôi nghĩ phạm vi của nó địa phương hơn nhiều—

[2] to the solar system, to the planet, and the manifested worlds consequently appeared.

[2] cho hệ mặt trời, cho hành tinh và các thế giới biểu hiện, do đó đã xuất hiện.

So the manifested worlds of our system, as we're speaking of, of our solar system, and not of all manifested worlds.

Đó là các thế giới biểu hiện thuộc hệ thống mà chúng ta đang nói đến, tức hệ mặt trời của chúng ta, chứ không phải mọi thế giới biểu hiện.

[3] The cosmic Deity has likewise done the same.

[3] Thượng đế Vũ Trụ cũng đã làm như vậy.

—whoever that is, whatever that is—

—dù đó là bất kỳ Đấng nào hay bất kỳ điều gì—

[4] But what does this mean to us?

[4] Nhưng điều này có ý nghĩa gì đối với chúng ta?

—even to the Tibetan, even to the Masters, really. What does it mean?

—thực ra, ngay cả đối với Chân sư Tây Tạng và các Chân sư. Nó có ý nghĩa gì?

[5] Naught, except a symbol.

[5] Không gì cả, ngoại trừ một biểu tượng.

Are we talking about the Cosmic Logos here, or are we actually talking about the Deity of the entirety of cosmos? If so, then indeed we are simply dealing with a symbol, really—something that we understand to be taking place according to the Law of Analogy.

Ở đây, chúng ta đang nói về Thượng đế Vũ Trụ, hay thực sự đang nói về Thượng đế của toàn thể vũ trụ? Nếu là trường hợp sau, thì quả thực chúng ta chỉ đang đề cập đến một biểu tượng—một điều mà chúng ta hiểu là đang diễn ra theo định luật tương đồng.

[6] It was His impulse, His will, His desire,

[6] Chính xung lực của Ngài, ý chí của Ngài, dục vọng của Ngài,

—using the personal pronoun in the masculine sense only for want of something better—

—đại từ nhân xưng giống đực chỉ được dùng vì không có cách diễn đạt nào tốt hơn—

[7] His incentive, His idea and purpose to appear. The creative act then took place, and the process of manifestation began its cyclic evolutionary existence.

[7] động lực của Ngài, ý tưởng và Thiên Ý của Ngài là xuất hiện. Bấy giờ, hành vi sáng tạo diễn ra, và tiến trình biểu hiện bắt đầu sự tồn tại tiến hóa theo chu kỳ của nó.

It's hard to believe that he's talking about the highest Logos, the Universal Logos. I call it the Universal Logos when I use the term "universe" to indicate the grand entirety.

Thật khó tin rằng Ngài đang nói về Thượng đế cao nhất, tức Thượng đế Vũ Trụ. Tôi gọi đó là Thượng đế Vũ Trụ khi dùng thuật ngữ “vũ trụ” để chỉ toàn thể bao la.

[8] The Cosmic Christ was crucified upon the cross of matter, and by that great sacrifice opportunity was offered to all evolving lives in all kingdoms of nature and in all created worlds.

[8] Đức Christ Vũ Trụ bị đóng đinh trên thập giá vật chất, và nhờ sự hy sinh vĩ đại ấy, cơ hội được mở ra cho mọi sự sống đang tiến hóa trong tất cả các giới của tự nhiên và trong mọi thế giới được sáng tạo.

To me this sounds as if we are still within the confines of the One About Whom Naught May Be Said, who is our local cosmic Deity, or super-cosmic. I sometimes call the being in whom our Solar Logos is a chakra the Cosmic Logos, and the one in whom the Cosmic Logos is a chakra the Super-Cosmic Logos—or, as DK tells us, the Unknown (Cosmic Fire, 293). Thus, for the sake of those who were where they were when the last cosmic pralaya came in—when I say "cosmic," I mean locally cosmic—they could be lifted further by the crucifixion of the Cosmic Christ. So let's just say that that crucifixion offered opportunity to all who had reached only a certain point of development when the last pertinent pralaya was activated.

Theo tôi, điều này nghe như thể chúng ta vẫn ở trong phạm vi của Đấng Bất Khả Tư Nghị, Đấng là Thượng đế vũ trụ địa phương hoặc siêu vũ trụ của chúng ta. Đôi khi tôi gọi Sinh Mệnh mà trong Ngài Thái dương Thượng đế của chúng ta là một luân xa là Thượng đế Vũ Trụ, còn Đấng mà trong Ngài Thượng đế Vũ Trụ là một luân xa thì tôi gọi là Thượng đế Siêu Vũ Trụ—hay như Chân sư DK nói với chúng ta, Đấng Bất Khả Tri (Lửa Vũ Trụ, 293). Vì vậy, nhằm nâng cao những ai đã ở tại trình độ của họ khi Giai kỳ qui nguyên vũ trụ gần nhất diễn ra—khi nói “vũ trụ”, tôi muốn nói ở quy mô vũ trụ địa phương—sự đóng đinh của Đức Christ Vũ Trụ có thể nâng họ lên cao hơn. Chúng ta có thể nói rằng sự đóng đinh ấy đã trao cơ hội cho tất cả những ai mới chỉ đạt đến một trình độ phát triển nhất định khi Giai kỳ qui nguyên thích hợp gần nhất bắt đầu.

[9] Thus they could progress. The work, in space and time, and the stupendous march of living beings towards an at present unrealised goal, began.

[9] Nhờ đó, chúng có thể tiến bước. Công cuộc trong không gian và thời gian, cùng cuộc tiến bước kỳ vĩ của các sinh linh hướng đến một mục tiêu mà hiện nay chưa thể chứng nghiệm, đã bắt đầu.

We have, even with respect to the Solar Logos and the beings entailed within further reaches of his existence, an unrealized goal. We know maybe a little something about it. We even have an unrealized planetary goal. We certainly have an unrealized goal for the Cosmic Logos, of whom our Sun is a heart center, and certainly an unrealized goal within that great cosmic entity that we know, or call at least, the One About Whom Naught May Be Said. What is the goal? Human beings cannot realize it, and we do wonder to what extent the Masters realize it as well.

Ngay cả đối với Thái dương Thượng đế và các sinh linh nằm trong những phạm vi xa hơn của sự hiện tồn của Ngài, chúng ta vẫn có một mục tiêu chưa được chứng nghiệm. Có lẽ chúng ta biết đôi chút về mục tiêu đó. Chúng ta thậm chí có một mục tiêu hành tinh chưa được chứng nghiệm. Chắc chắn chúng ta có một mục tiêu chưa được chứng nghiệm đối với Thượng đế Vũ Trụ, mà Mặt Trời của chúng ta là một trung tâm tim trong Ngài, và hẳn nhiên có một mục tiêu chưa được chứng nghiệm bên trong Thực Thể vũ trụ vĩ đại mà chúng ta biết đến, hoặc ít nhất gọi là Đấng Bất Khả Tư Nghị. Mục tiêu ấy là gì? Con người không thể chứng nghiệm nó, và chúng ta cũng tự hỏi các Chân sư chứng nghiệm được nó đến mức nào.

[10] We can give no reason for the choice made by Deity thus to act.

[10] Chúng ta [Page 90] không thể đưa ra lý do vì sao Thượng đế đã lựa chọn hành động như thế.

—thus to create the worlds, let us say—except that the Law of Sacrifice is operative.

—có thể nói là lựa chọn sáng tạo các thế giới—ngoại trừ việc Định luật Hi sinh đang vận hành.

[11] We do not know His ultimate purpose or plan;

[11] Chúng ta không biết mục đích hay Thiên Cơ tối hậu của Ngài;

—even of the Solar Logos. Of course we do not. And as the name of our Planetary Logos is not fully known even by the Masters, his ultimate purpose can only be known in a general way. So

—ngay cả mục đích hoặc Thiên Cơ của Thái dương Thượng đế. Dĩ nhiên chúng ta không biết. Và vì ngay cả các Chân sư cũng chưa biết đầy đủ danh xưng của Hành Tinh Thượng đế chúng ta, nên mục đích tối hậu của Ngài chỉ có thể được biết một cách khái quát.

we do not know His ultimate purpose or plan;

chúng ta không biết mục đích hay Thiên Cơ tối hậu của Ngài;

[12] and only aspects of His technique and method begin to appear to the illuminated mind.

[12] và chỉ những phương diện trong kỹ thuật và phương pháp của Ngài mới bắt đầu hiển lộ trước trí tuệ được soi sáng.

—we might say, and this after the third initiation, and only dimly.

—chúng ta có thể nói là sau lần điểm đạo thứ ba, và chỉ xuất hiện lờ mờ.

[13] It has been hinted by Those Who know so much more than we,

[13] Các Đấng biết nhiều hơn chúng ta rất nhiều,

—and maybe DK is speaking relatively here—

—và có lẽ ở đây Chân sư DK đang nói theo nghĩa tương đối—

[14] owing to their longer life cycle and experience, that some glimmering of that eternal and cosmic Intent is beginning to dawn in the consciousness of Those who have taken some of the higher initiations.

[14] nhờ chu kỳ sống và kinh nghiệm lâu dài hơn của Các Ngài, đã gợi ý rằng một vài tia sáng mờ nhạt về Thiên Ý vĩnh cửu và vũ trụ ấy đang bắt đầu ló rạng trong tâm thức của Những Đấng đã trải qua một số cuộc điểm đạo cao hơn.

So in this case Master DK is speaking of that of which he himself is not certain, because the glimmer only begins to appear in higher initiates than he is. So what will be the destiny of our Solar Logos? I think that's what we're talking about primarily here. And how did it start here?

Trong trường hợp này, Chân sư DK đang nói về điều mà chính Ngài cũng không chắc chắn, vì tia sáng ấy chỉ bắt đầu xuất hiện nơi các điểm đạo đồ cao hơn Ngài. Vậy vận mệnh của Thái dương Thượng đế chúng ta sẽ là gì? Tôi nghĩ đó là điều chủ yếu được nói đến ở đây. Và đoạn này bắt đầu như thế nào?

The Solar Deity who gave His life to the universe, to the solar system, to the planet, and the manifested worlds consequently appeared.

Thái Dương Thượng Đế, Đấng đã hiến dâng sự sống của Ngài cho vũ trụ, cho hệ mặt trời, cho hành tinh, và do đó các thế giới biểu hiện đã xuất hiện.

So we're talking about some local Logoi, of whom our Solar Logos is one, and he is a cosmic being.

Chúng ta đang nói về một số Thượng đế địa phương, trong đó Thái dương Thượng đế của chúng ta là một vị, và Ngài là một Sinh Mệnh vũ trụ.

[15] Their nature must necessarily remain incomprehensible to mankind. All that the intelligent human being can grasp as he looks back over the history of the planet (as far as modern history can give it to him)

[15] Bản chất của những cuộc điểm đạo ấy tất yếu vẫn không thể lĩnh hội đối với nhân loại. Tất cả những gì một con người thông tuệ có thể nắm bắt khi nhìn lại lịch sử hành tinh (trong phạm vi mà lịch sử hiện đại có thể trình bày cho y)

—and, let us say, the history as given in The Secret Doctrine as well—

—và cả lịch sử được trình bày trong Giáo Lý Bí Nhiệm—

[16] is that there has been:

[16] là đã có:

[17] 1. Progress in the human power to be conscious.

[17] 1. Sự tiến bộ trong khả năng có tâm thức của con người.

We realize that we are somewhat more sensitive, so it seems, than some of the average types of the previous root races.

Dường như chúng ta nhạy cảm hơn đôi chút so với một số kiểu người trung bình thuộc các Giống dân gốc trước kia.

[18] 2. A growing and paralleling refinement of the forms of life in the various kingdoms of nature.

[18] 2. Sự tinh luyện ngày càng tăng và song hành của các hình tướng sự sống trong các giới khác nhau của tự nhiên.

I guess we can wonder about the mineral kingdom. Maybe we don't know so much about that, but maybe radioactivity was not present in the way it is now, and the escape of the mineral monad through some transitional form into the next kingdom was not possible in those earlier days. When we look at some of the fossils of the plant kingdom, we realize that indeed there is a greater refinement in that kingdom. And certainly when we look at the stupendous but rather crude forms of the animals of ancient times, we sense there has been refinement. And so it has been, I believe, with mankind generally. We cannot speak of the guides of the race who incarnated in those forms, because they had an altogether different psyche. So as we look back over our history—and certainly The Secret Doctrine is, as far as I'm concerned, the unparalleled history book of the development of humanity—the power to be conscious is increasing, the refinement is increasing, and

Tôi cho rằng chúng ta có thể tự hỏi về giới kim thạch. Có lẽ chúng ta không biết nhiều về điều đó, nhưng có thể tính phóng xạ khi ấy không hiện diện như hiện nay, và sự thoát ra của chân thần kim thạch qua một hình thức chuyển tiếp để bước vào giới kế tiếp chưa thể xảy ra trong những thời kỳ trước. Khi xem một số hóa thạch của giới thực vật, chúng ta nhận ra rằng quả thực giới ấy đã trở nên tinh luyện hơn. Và chắc chắn khi nhìn vào những hình thể phi thường nhưng khá thô sơ của các loài vật thời cổ, chúng ta cảm nhận rằng đã có sự tinh luyện. Tôi tin rằng điều tương tự cũng xảy ra với nhân loại nói chung. Chúng ta không thể nói đến những vị hướng đạo của nhân loại đã nhập thể trong các hình tướng ấy, vì họ có một tâm lý hoàn toàn khác. Khi nhìn lại lịch sử của mình—và theo tôi, Giáo Lý Bí Nhiệm chắc chắn là cuốn sử vô song về sự phát triển của nhân loại—năng lực có tâm thức đang gia tăng, sự tinh luyện đang gia tăng, và

[19] 3. An intensification of conscious activity, on a developing scale of rapid living, that tends constantly to transcend time as we know it.

[19] 3. Sự tăng cường hoạt động hữu thức, trên một thang mức đời sống ngày càng nhanh, vốn không ngừng có khuynh hướng vượt lên trên thời gian như chúng ta biết về nó.

He always, or most often, includes a disclaimer: "time as we know it," time as it is known on the lower planes. In other words, somehow, in some sense, there is in higher beings a sense of time which is pertinent to their stage of consciousness, but it is not the same sense of time as we have—time as we know it, very limited by the sense of constant sequences of perceptions. So: intensification of conscious activity, the tendency to transcend time and to be less the prisoner of time—to be less the prisoner of time, and not to be subject to time as such a limitation as heretofore. And then what else?

Ngài luôn luôn, hoặc thường xuyên nhất, kèm theo một lời giới hạn: “thời gian như chúng ta biết về nó”, tức thời gian được biết trên các cõi thấp. Nói cách khác, theo một phương cách và ý nghĩa nào đó, các Đấng cao hơn có một ý thức về thời gian thích hợp với giai đoạn tâm thức của Các Ngài, nhưng nó không giống ý thức về thời gian của chúng ta—thời gian như chúng ta biết về nó, vốn bị giới hạn rất nhiều bởi cảm thức về những chuỗi tri giác liên tục. Như vậy, đó là sự tăng cường hoạt động hữu thức, khuynh hướng vượt qua thời gian và bớt làm tù nhân của thời gian—không còn chịu sự hạn chế của thời gian nhiều như trước. Còn gì nữa?

[20] 4. An expanding realisation of progress from one dimension to another, until today we talk in terms of a fourth dimensional state of consciousness and can grasp the fact that five or six dimensions are beautifully possible.

[20] 4. Một nhận thức ngày càng mở rộng về sự tiến bộ từ chiều kích này sang chiều kích khác, cho đến ngày nay chúng ta nói đến một trạng thái tâm thức bốn chiều và có thể nắm bắt sự kiện rằng năm hoặc sáu chiều là hoàn toàn khả hữu.

This means one thing to the mathematicians and physicists, and another to the occultist who speaks of dimensions—who speaks of planes as dimensions. So the fifth and sixth dimensions are, in this case, those of the atmic and Monadic planes, and the fourth dimensional state is particularly that of the plane of harmony, or beauty, or of rational unity. I'm remembering him using that fascinating phrase to describe the consciousness of the buddhic plane: the plane of rational unity.

Điều này có một ý nghĩa đối với các nhà toán học và vật lý học, nhưng lại có ý nghĩa khác đối với nhà huyền bí học khi nói về các chiều kích—khi nói về các cõi như những chiều kích. Trong trường hợp này, chiều kích thứ năm và thứ sáu là các chiều kích của cõi atma và cõi chân thần, còn trạng thái bốn chiều đặc biệt là trạng thái của cõi hài hòa, mỹ lệ hoặc hợp nhất hữu lý. Tôi nhớ Ngài đã dùng cụm từ hấp dẫn ấy để mô tả tâm thức của cõi Bồ đề: cõi hợp nhất hữu lý.

So there's also an expanding realization of progress from one dimension to another. This is if we look back over history and compare where humanity was at former times to where it is now. We have growing power to be conscious, growing refinement, growing ability to transcend time, progress from one dimension to another, and

Cũng có sự chứng nghiệm ngày càng mở rộng về tiến bộ từ chiều kích này sang chiều kích khác. Điều này hiển hiện khi chúng ta nhìn lại lịch sử và so sánh vị trí của nhân loại trong những thời kỳ trước với vị trí hiện nay. Chúng ta có năng lực có tâm thức ngày càng tăng, sự tinh luyện ngày càng tăng, khả năng vượt qua thời gian ngày càng lớn, sự tiến bộ từ chiều kích này sang chiều kích khác, và

[21] 5. An increasingly scientific control of the elements in which we live, and of the forces of nature.

[21] 5. Sự kiểm soát ngày càng mang tính khoa học đối với các nguyên tố mà chúng ta sống trong đó, và đối với các mãnh lực của tự nhiên.

Of course the Atlanteans had that too, but that knowledge was retracted or removed from their memory, and in time the ways of control were forgotten.

Dĩ nhiên, người Atlantis cũng có khả năng ấy, nhưng tri thức đó đã bị thu hồi hoặc xóa khỏi ký ức của họ, và theo thời gian, những phương thức kiểm soát đã bị lãng quên.

[22] Today we talk in terms of air mastery just as five hundred years ago (when such a thing was deemed impossible) they talked in terms of the mastery of oceans.

[22] Ngày nay chúng ta nói đến việc làm chủ không trung, cũng như năm trăm năm trước (khi một điều như thế bị xem là bất khả) người ta nói đến việc làm chủ đại dương.

So mastery, control of the elements: this is another way in which we have improved. But obviously he's not considering the Atlantean times, because there was, with their so-called airships, or vimanas as they were called, a mastery of the air. We're talking about relatively modern times.

Khả năng làm chủ và kiểm soát các nguyên tố là một phương diện khác mà chúng ta đã tiến bộ. Nhưng rõ ràng Ngài không xét đến thời Atlantis, vì khi ấy người ta đã làm chủ không trung bằng những khí thuyền, hay những phi thuyền như chúng được gọi. Ở đây, chúng ta đang nói đến thời kỳ tương đối hiện đại.

[23] We are offsetting the gravitational pull of the earth so that we can “fly into the face of the sun.”

[23] Chúng ta đang hóa giải sức hút trọng lực của Trái Đất để có thể “bay thẳng vào mặt trời.”

—and we might say, reach the soul dimension. So we are not speaking here of Atlantean vimanas. HPB in her Secret Doctrine discusses the use of these flying machines and how they were the possession of the highly advanced types in the Atlantean periods, including the sorcerers and those who were reinforcing the value of form and matter.

—và chúng ta có thể nói là đạt đến chiều kích linh hồn. Vì vậy, ở đây chúng ta không nói về những phi thuyền Atlantis. Trong Giáo Lý Bí Nhiệm, Bà HPB bàn về việc sử dụng các phi hành khí này và việc chúng thuộc quyền sở hữu của những kiểu người tiến bộ cao độ trong thời Atlantis, bao gồm các phù thủy và những người đang củng cố giá trị của hình tướng và vật chất.

[24] 6. From the instinctual life of sense consciousness in material forms, we have progressed to the intellectual life of self-conscious human beings and to the intuitive realisations of those who are beginning to function as superhuman entities.

[24] 6. Từ đời sống bản năng của tâm thức giác quan trong các hình tướng vật chất, chúng ta đã tiến đến đời sống trí tuệ của những con người có ngã thức, và đến những chứng nghiệm trực giác của những người đang bắt đầu hoạt động như các thực thể siêu nhân.

Maybe we should list these. This has been the progress of man: power to be conscious; growing refinement; power to transcend time; progress from one dimension to another; control and mastery of the elements in which we habitually live; and then from instinct to intellectual and dawning intuitional life. This has been the progress that we have succeeded in historically over our long evolutionary period. And those in Atlantis who had these powers were of the advanced type. They were not the true Atlanteans. They were there largely for purposes of service, or they may have been initiates of a previous solar system who were there more to prey upon and use the relatively emotional humanity of the period.

Có lẽ chúng ta nên liệt kê những điều này. Đây là sự tiến bộ của con người: năng lực có tâm thức; sự tinh luyện ngày càng tăng; năng lực vượt qua thời gian; tiến bộ từ chiều kích này sang chiều kích khác; kiểm soát và làm chủ các nguyên tố mà chúng ta thường sống trong đó; rồi từ đời sống bản năng tiến đến đời sống trí tuệ và đời sống trực giác đang ló rạng. Đây là sự tiến bộ mà chúng ta đã đạt được trong lịch sử, xuyên suốt thời kỳ tiến hoá lâu dài. Những người ở Atlantis sở hữu các quyền năng này đều thuộc kiểu người tiến bộ. Họ không phải là người Atlantis đích thực. Họ hiện diện ở đó phần lớn vì mục đích phụng sự, hoặc có thể là những điểm đạo đồ của một hệ mặt trời trước kia, hiện diện ở đó chủ yếu để săn đuổi và lợi dụng nhân loại tương đối thiên về cảm xúc của thời kỳ ấy.

[25] All this has been brought about as the result of the determined, conditioned activity of a Great Life,

[25] Tất cả những điều này đã được tạo nên do hoạt động kiên định và định hình của một Sự Sống Vĩ Đại,

So our progress is the will of a Great Life in whom we live and move and have our being.

Sự tiến bộ của chúng ta là ý chí của một Sự Sống Vĩ Đại mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn.

a Great Life,

một Sự Sống Vĩ Đại,

—in whom we live and move and have our being—

—mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn—

[26] Which chose to make a major sacrifice and to be crucified upon the cardinal Cross of the Heavens, and thereby pass through a cosmic initiation;

[26] Đấng đã chọn thực hiện một sự hy sinh trọng đại và chịu đóng đinh trên Thập Giá Chủ Yếu của các tầng trời, qua đó trải qua một cuộc điểm đạo vũ trụ;

And we speak here of Sanat Kumara, or really of our Planetary Logos, of whom Sanat Kumara seems to be an emanated extension focused in certain worlds—a kind of incarnation of our Planetary Logos. I think he has many incarnations. I think in a way every planetary scheme is a kind of incarnation of our Planetary Logos, but we particularly deal with Sanat Kumara and his relationship to the humanity of our globe and of our chain. It is an extension of himself by our Planetary Logos in a very focal and redemptive way, and we call this extension Sanat Kumara. So all of our progress is not our own; it's driven forward by a great being who has a certain will, a certain purpose, will, plan, to which we at first involuntarily respond, and eventually respond in a conscious and cooperative manner.

Ở đây, chúng ta nói về Đức Sanat Kumara, hay thực sự là Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, mà Đức Sanat Kumara dường như là một phần mở rộng xuất lộ của Ngài, tập trung trong một số thế giới—một dạng nhập thể của Hành Tinh Thượng đế chúng ta. Tôi nghĩ Ngài có nhiều lần nhập thể. Theo một nghĩa nào đó, tôi nghĩ mỗi hệ hành tinh là một dạng nhập thể của Hành Tinh Thượng đế, nhưng chúng ta đặc biệt đề cập đến Đức Sanat Kumara và mối quan hệ của Ngài với nhân loại trên bầu hành tinh và Dãy của chúng ta. Đức Sanat Kumara là phần mở rộng của Hành Tinh Thượng đế chúng ta theo một cách hết sức tập trung và cứu chuộc, và chúng ta gọi phần mở rộng này là Đức Sanat Kumara. Vì vậy, không phải mọi tiến bộ của chúng ta đều do chính mình tạo nên; nó được thúc đẩy bởi một Đấng vĩ đại có một ý chí, một mục đích và Thiên Cơ nhất định mà lúc đầu chúng ta đáp ứng một cách vô thức, rồi cuối cùng đáp ứng một cách hữu thức và hợp tác.

So all this has been brought about as the result of the determined, conditioned activity of a Great Life, Which chose to make a major sacrifice and to be crucified upon the cardinal Cross of the Heavens,

Tất cả những điều này đã được tạo nên do hoạt động kiên định và có định hướng của một Sự Sống Vĩ Đại, Đấng đã chọn thực hiện một sự hi sinh lớn lao và chịu đóng đinh trên Thập Giá Chủ Yếu của Thiên Giới,

—indeed, upon which our Planetary Logos, Sanat Kumara, is crucified. Now our Planetary Logos is taking a cosmic initiation and is lined up, once he masters his cosmic astral vehicle, to take the second cosmic initiation. Obviously the Logos of Venus has already taken that particular initiation.

—quả thực, đó là thập giá mà Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, Đức Sanat Kumara, chịu đóng đinh trên đó. Hành Tinh Thượng đế hiện đang trải qua một cuộc điểm đạo vũ trụ và, một khi làm chủ vận cụ cảm dục vũ trụ của Ngài, Ngài sẽ tiến đến lần điểm đạo vũ trụ thứ hai. Rõ ràng Thượng đế của Sao Kim đã trải qua cuộc điểm đạo đặc biệt ấy.

passed through a cosmic initiation;

trải qua một cuộc điểm đạo vũ trụ;

[27] Which, from our minor and relatively uninformed angle, stands today crucified upon the fixed Cross in the Heavens,

[27] Đấng mà, từ góc nhìn nhỏ bé và tương đối thiếu hiểu biết của chúng ta, ngày nay đang chịu đóng đinh trên Thập Giá Cố Định ở các tầng trời,

It is a sentence which continues, and this is about this Great Life, which

Đây là một câu còn tiếp tục, nói về Sự Sống Vĩ Đại này, Đấng mà

from our minor and relatively uninformed angle stands crucified upon the fixed Cross in the Heavens

theo góc nhìn nhỏ bé và tương đối thiếu hiểu biết của chúng ta, đang chịu đóng đinh trên Thập Giá Cố Định trong Thiên Giới

[28] and through the medium of the mutable Cross is nevertheless producing changes in the evolutionary cycle,

[28] nhưng tuy thế, qua Thập Giá Biến Đổi, đang tạo ra những biến đổi trong chu kỳ tiến hóa,

—the Fixed Cross of the soul and the Mutable Cross of matter-form—

—Thập Giá Cố Định của linh hồn và Thập Giá Biến đổi của vật chất-hình tướng—

[29] increasing refinement of form, and that intensification of life which distinguishes His creation.

[29] sự tinh luyện ngày càng tăng của hình tướng, và sự tăng cường của sự sống vốn làm nên nét đặc trưng cho công trình sáng tạo của Ngài.

I think DK is telling us that we do not know much about the Cardinal Cross, nor can we assess the activities which occur upon it, but at least from our angle this Great Life is influencing our soul development, and our evolutionary cycle is working in that way. So we have quite an uninformed idea of his particular work, even though he is really crucified upon the cosmic Cardinal Cross. How far that cross extends—well, the Cardinal Cross must be an operative idea within the boundaries of the One About Whom Naught May Be Said, in whom the signs of the zodiac are portions of his heart-in-the-head center. So there will be other zodiacs in other cosmic systems, but our particular zodiac, with its Cardinal, Fixed and Mutable Crosses, at least applies within the boundaries of the One About Whom Naught May Be Said, in whom our zodiac of constellations plays the role of the twelve petals in the heart-in-the-head center of the One About Whom Naught May Be Said.

Tôi nghĩ Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng chúng ta không biết nhiều về Thập Giá Chủ Yếu, cũng không thể đánh giá những hoạt động diễn ra trên đó; nhưng ít nhất theo góc nhìn của chúng ta, Sự Sống Vĩ Đại này đang ảnh hưởng đến sự phát triển linh hồn của chúng ta, và chu kỳ tiến hoá của chúng ta đang vận hành theo cách ấy. Vì vậy, chúng ta có một ý niệm khá thiếu hiểu biết về công việc đặc thù của Ngài, dù thực ra Ngài đang chịu đóng đinh trên Thập Giá Chủ Yếu vũ trụ. Thập giá ấy mở rộng đến đâu? Thập Giá Chủ Yếu hẳn phải là một ý tưởng đang vận hành trong phạm vi của Đấng Bất Khả Tư Nghị, mà trong Ngài các dấu hiệu hoàng đạo là những bộ phận của trung tâm tim-trong-đầu của Ngài. Sẽ có các hoàng đạo khác trong những hệ thống vũ trụ khác, nhưng hoàng đạo đặc thù của chúng ta, với các Thập Giá Chủ Yếu, Cố Định và Biến đổi, ít nhất cũng áp dụng trong phạm vi của Đấng Bất Khả Tư Nghị, mà trong Ngài hoàng đạo gồm các chòm sao của chúng ta đóng vai trò mười hai cánh hoa trong trung tâm tim-trong-đầu của Đấng Bất Khả Tư Nghị.

[30] A study of those expressed objectives—

[30] Việc nghiên cứu những mục tiêu đã được biểu lộ ấy—

—presumably at this time of our Planetary Logos, in whom we live and move and have our being—

—có lẽ là các mục tiêu hiện nay của Hành Tinh Thượng đế, mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn—

[31] 1. A development of consciousness.

[31] 1. Sự phát triển tâm thức.

[32] 2. A refining of forms.

[32] 2. Sự tinh luyện các hình tướng.

[33] 3. An intensification of realised life.

[33] 3. Sự tăng cường của sự sống được chứng nghiệm.

So we have here the second aspect of divinity;

Ở đây, chúng ta có phương diện thứ hai của thiên tính;

a refining of forms,

sự tinh luyện các hình tướng,

—the third aspect of divinity;

—phương diện thứ ba của thiên tính;

an intensification of realised life,

sự tăng cường sự sống đã được chứng nghiệm,

—the first aspect of divinity. It's interesting how the consciousness development is listed as the first objective, giving the sort of second aspect bias of our planet and also of our solar system; then the refinement of forms through which consciousness can function, because the more refined the forms, the greater and more sensitive the consciousness; and an intensification of realized life—equivalent to the opening of the central fire, the influence of the central fire and of the jewel in the lotus, the central core of each entity, the central chakra. Just as we have in each chakra a central jewel, so there is in each living being, who is after all a chakra, a central living fire, which under some circumstances can be called a jewel. So

—phương diện thứ nhất của thiên tính. Thật thú vị khi sự phát triển tâm thức được liệt kê là mục tiêu đầu tiên, cho thấy khuynh hướng thiên về phương diện thứ hai của hành tinh chúng ta và cả hệ mặt trời; tiếp đến là sự tinh luyện các hình tướng mà qua đó tâm thức có thể hoạt động, bởi hình tướng càng tinh luyện thì tâm thức càng lớn lao và nhạy cảm; cuối cùng là sự tăng cường sự sống đã được chứng nghiệm—tương đương với việc khai mở ngọn lửa trung tâm, ảnh hưởng của ngọn lửa trung tâm và viên ngọc trong hoa sen, tức phần cốt lõi trung tâm của mỗi Thực Thể, luân xa trung tâm. Cũng như mỗi luân xa có một viên ngọc trung tâm, trong mỗi sinh linh—vốn xét cho cùng là một luân xa—cũng có một ngọn lửa sống trung tâm mà trong một số hoàn cảnh có thể được gọi là viên ngọc.

a study of those expressed objectives

việc nghiên cứu những mục tiêu đã được biểu hiện ấy

[34] will convey to the earnest student a meagre understanding of the lowest aspects of the divine purpose.

[34] sẽ truyền đạt cho đạo sinh nghiêm túc một sự thấu hiểu ít ỏi về những phương diện thấp nhất của Thiên Ý.

Meagre. It's basically light, love and power—that's one way to put it. It's conscious sensitivity, refinement of forms, and the penetration of the life aspect into the consciousness and into the form, so that it may be realized by the consciousnesses which are still immersed within form.

Thật ít ỏi. Về cơ bản, đó là ánh sáng, tình thương và quyền năng—đó là một cách diễn đạt. Đó là sự nhạy cảm hữu thức, sự tinh luyện các hình tướng và sự thâm nhập của phương diện sự sống vào tâm thức và hình tướng, để các tâm thức vẫn còn chìm đắm trong hình tướng có thể chứng nghiệm nó.

[35] The wonder of the idea staggers human imagination.

[35] Sự kỳ diệu của ý tưởng này khiến trí tưởng tượng của con người phải sửng sốt.

—certainly to a consciousness like Master DK's. He might have just said "staggers the imagination," but he knows there are imaginations which are not staggered. So these are great, wide-reaching objectives of great creators undertaking incarnation for redemptive purposes, and thereby confining themselves, thereby limiting themselves, to certain rings-pass-not which otherwise they might easily transcend. But whenever sacrifice is involved, there's a limitation of scope, a temporary limitation of scope. So when conscious sacrifice takes place, there is a conscious limitation of scope for the sacrificing entity—in other words, contacts which otherwise might be made, fresh impulses which might be registered and assimilated: these are temporarily foregone.

—chắc chắn là đối với một tâm thức như tâm thức của Chân sư DK. Ngài có thể chỉ nói rằng nó “khiến sự tưởng tượng phải choáng ngợp”, nhưng Ngài biết có những năng lực tưởng tượng không bị choáng ngợp. Đây là những mục tiêu vĩ đại và sâu rộng của các đấng sáng tạo vĩ đại, những Đấng đảm nhận việc nhập thể vì mục đích cứu chuộc, qua đó tự giam hãm và tự giới hạn mình trong một số vòng-giới-hạn mà nếu không, Các Ngài có thể dễ dàng vượt qua. Nhưng bất cứ khi nào có sự hi sinh, phạm vi đều bị giới hạn—một sự giới hạn tạm thời về phạm vi. Khi sự hi sinh hữu thức diễn ra, phạm vi của Thực Thể hi sinh bị giới hạn một cách hữu thức; nói cách khác, những tiếp xúc vốn có thể được thực hiện và những xung động mới vốn có thể được ghi nhận và đồng hóa sẽ tạm thời bị từ bỏ.

It's interesting how Saturn is the lord of time and the lord of sacrifice—Saturn is the lord of time and of confining sacrifice. So for a limited time and within a limited space, sacrifice occurs. So many of us would like to have certain contacts to help us grow and relate to a larger context, but we find ourselves perforce confined for a certain time to a certain space, to a certain duty or activity, a certain function. We can't fulfill all functions simultaneously, and the correct fulfillment of any function represents the sacrifice, inasmuch as we cannot be fulfilling other and higher functions simultaneously. So time and space are involved in the idea of sacrifice. And in the great sacrifice, our Planetary Logos, Sanat Kumara, has limited himself to a very small space, our particular globe, for a certain duration—perhaps until the Judgment Day—and beginning, I think—well, can we say beginning at the individualization of man? But maybe beginning earlier. In fact, it's a span of some millions of years, in order to elevate the lives on this particular planet more rapidly than otherwise might be the case. And so this voluntary confinement to reduced opportunity is sacrificial, and we rebel against it, really, because the spirit wants everything and is everything. Voluntary confinement for a period of time in which reduced opportunity is experienced is sacrifice.

Thật thú vị khi Sao Thổ là chúa tể của thời gian và chúa tể của sự hi sinh—Sao Thổ là chúa tể của thời gian và của sự hi sinh mang tính giới hạn. Sự hi sinh diễn ra trong một khoảng thời gian và không gian giới hạn. Nhiều người trong chúng ta muốn có một số tiếp xúc để giúp mình phát triển và liên hệ với một bối cảnh rộng lớn hơn, nhưng lại thấy mình buộc phải bị giới hạn trong một thời gian nhất định, tại một không gian nhất định, với một bổn phận, hoạt động hoặc chức năng nhất định. Chúng ta không thể đồng thời hoàn thành mọi chức năng, và việc hoàn thành đúng đắn bất kỳ chức năng nào cũng tiêu biểu cho sự hi sinh, vì chúng ta không thể đồng thời thực hiện những chức năng khác và cao hơn. Vì vậy, thời gian và không gian đều liên quan đến ý tưởng hi sinh. Trong cuộc hi sinh vĩ đại, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, Đức Sanat Kumara, đã tự giới hạn mình trong một không gian rất nhỏ, tức bầu hành tinh đặc thù của chúng ta, trong một khoảng thời gian nhất định—có lẽ cho đến Ngày Phán Xét—và bắt đầu, theo tôi... liệu chúng ta có thể nói là bắt đầu từ lúc con người biệt ngã hóa hay không? Nhưng có lẽ nó bắt đầu sớm hơn. Thực ra, đó là một khoảng thời gian kéo dài nhiều triệu năm nhằm nâng cao các sự sống trên hành tinh đặc thù này nhanh hơn so với tiến trình thông thường. Vì vậy, sự tự nguyện giam mình trong những cơ hội bị thu hẹp này mang tính hi sinh, và chúng ta thực sự phản kháng nó, vì tinh thần muốn có mọi thứ và chính là mọi thứ. Sự tự nguyện giam mình trong một khoảng thời gian mà người ta phải trải nghiệm những cơ hội bị thu hẹp chính là sự hi sinh.

There are probably many definitions, and what I would suggest is that each of us determine certain definitions which are most impressive to our method of thinking. We have to define sacrifice for ourselves, because we have to pass through it. And I think whenever we have the opportunity for exposure to Jupiterian enhancements, which will make the consciousness grow and the sense of self expand, and yet are faced with our duty, our function, a post—a post is an implanted locus; we must remain at our post, at our spot, at our point—and forego many spiritual incentives offered in this multi-dimensional universe, then we feel what sacrifice is. It's the difference between remaining fixed at a point, with limited possibilities of contact, and contrasting that with expanding into a much greater field where all kinds of new contacts are possible. So in another sense we could say that sacrifice is a deferral of the new. Same old thing: we have to go over and over these recurrent types of duties, but we can refine our approach to them, refine our skill in action. And strangely enough, Saturn, who keeps us fixed at our post, is also called the planet of opportunity, because we build our abilities and therefore can progress all the faster and with greater certainty while we are in possession of these reliable abilities built by repetitive action while standing at our post. So "he shall stand until the last weary pilgrim finds his way home," at least among the pilgrims who are within the range of his redemptive intention.

Có lẽ có nhiều định nghĩa, và điều tôi đề nghị là mỗi người chúng ta nên xác định một số định nghĩa gây ấn tượng mạnh nhất đối với phương thức tư duy của mình. Chúng ta phải tự định nghĩa sự hi sinh, vì chính mình phải trải qua nó. Tôi nghĩ rằng bất cứ khi nào chúng ta có cơ hội tiếp xúc với những sự mở rộng mang tính Sao Mộc, vốn sẽ làm tâm thức phát triển và ý thức về bản ngã mở rộng, nhưng đồng thời lại phải đối diện với bổn phận, chức năng và cương vị của mình—một cương vị là một vị trí đã được thiết lập; chúng ta phải ở lại cương vị, vị trí và điểm của mình—và phải từ bỏ nhiều động lực tinh thần được trao cho trong vũ trụ đa chiều này, thì chúng ta cảm nhận được sự hi sinh là gì. Đó là sự khác biệt giữa việc đứng cố định tại một điểm với những khả năng tiếp xúc hạn chế và việc mở rộng vào một lĩnh vực lớn hơn nhiều, nơi có thể có đủ loại tiếp xúc mới. Theo một nghĩa khác, chúng ta có thể nói rằng hi sinh là trì hoãn cái mới. Vẫn cùng những điều cũ: chúng ta phải lặp đi lặp lại các loại bổn phận thường xuyên tái diễn này, nhưng có thể tinh luyện cách tiếp cận và kỹ năng hành động của mình. Điều kỳ lạ là Sao Thổ, hành tinh giữ chúng ta cố định tại cương vị, cũng được gọi là hành tinh của cơ hội, vì chúng ta xây dựng các khả năng của mình và nhờ đó có thể tiến bộ nhanh hơn nhiều và chắc chắn hơn khi sở hữu những khả năng đáng tin cậy được xây dựng bằng hành động lặp đi lặp lại trong lúc giữ vững cương vị. Vì vậy, “Ngài sẽ đứng đó cho đến khi người hành hương mệt mỏi cuối cùng tìm được đường trở về nhà”, ít nhất là trong số những người hành hương nằm trong phạm vi ý định cứu chuộc của Ngài.

[36] If this is a statement of fact,

[36] Nếu đây là một phát biểu về sự thật,

—that we can get some meagre understanding of divine purpose by thinking of consciousness, refinement and life, the intensification of realized life (it has to be conscious, of course)—so if this is a statement of fact,

—rằng chúng ta có thể đạt được sự thấu hiểu ít ỏi nào đó về Thiên Ý bằng cách suy ngẫm về tâm thức, sự tinh luyện và sự sống, tức sự tăng cường sự sống đã được chứng nghiệm, dĩ nhiên nó phải mang tính hữu thức—thì nếu đây là một phát biểu về sự thật,

[37] and if these ideas are but the expression of still deeper and more beautiful cosmic purposes,

[37] và nếu những ý tưởng này chỉ là sự biểu hiện của những Thiên Ý vũ trụ còn sâu xa và mỹ lệ hơn nữa,

—remember all the laws on Sirius, which we don't know, and of which our three cosmic laws are simply lower expressions—

—hãy nhớ đến tất cả các định luật trên Sirius mà chúng ta không biết, và ba định luật vũ trụ của chúng ta chỉ là những biểu hiện thấp của chúng—

[38] may not the goal be realised as being far beyond human computation,

[38] thì chẳng phải mục tiêu ấy có thể được nhận ra là vượt xa mọi khả năng tính toán của con người hay sao,

—bringing in the mathematicians and the astrologers here with their computations—

—ở đây có nhắc đến các nhà toán học và chiêm tinh học cùng những phép tính của họ—

[39] when its lowest expression embraces the highest intuitive and abstract concepts of which the most elevated human consciousness is capable? I commend this thought to your deep consideration.

[39] khi mà biểu hiện thấp nhất của nó đã bao hàm những quan niệm trực giác và trừu tượng cao nhất mà tâm thức con người cao siêu nhất có khả năng đạt tới? Tôi đề nghị các bạn suy ngẫm sâu sắc về tư tưởng này.

And there will be then the sense of relativity. What is it really that a man can accomplish or can perceive? There are limitations, and the lowest of the purposes are the highest of our possible achievements. And he's talking about the most elevated human consciousness. Does he include the Masters? Because Masters, in a way, are still human beings. So he's giving us a sense of perspective here. There are still deeper and more beautiful cosmic purposes, and on and on it will go. As we move into an understanding of the galaxy in which we are playing our part, greater and greater cosmic purposes will appear within the context of this galaxy and beyond. So really there is a chain of hierarchy, and we are being upheld by those who know and see so much more, just as we are upholding those who need to see what we can see. We have to understand our limitations.

Khi ấy sẽ xuất hiện ý thức về tính tương đối. Thực sự một người có thể hoàn thành hoặc tri giác điều gì? Có những giới hạn, và những mục đích thấp nhất lại là những thành tựu cao nhất mà chúng ta có thể đạt được. Ngài đang nói về tâm thức cao siêu nhất của con người. Liệu Ngài có bao gồm các Chân sư không? Vì theo một nghĩa nào đó, các Chân sư vẫn là con người. Ngài đang mang lại cho chúng ta một ý thức về viễn cảnh. Vẫn còn những mục đích vũ trụ sâu xa và mỹ lệ hơn nữa, và điều này sẽ tiếp tục mãi. Khi tiến đến sự thấu hiểu về thiên hà mà trong đó chúng ta đang đảm nhận vai trò của mình, những mục đích vũ trụ ngày càng lớn lao hơn sẽ xuất hiện trong bối cảnh của thiên hà này và xa hơn nữa. Quả thực có một chuỗi thứ bậc, và chúng ta được nâng đỡ bởi những Đấng biết và thấy nhiều hơn chúng ta rất nhiều, cũng như chúng ta đang nâng đỡ những ai cần thấy điều mà mình có thể thấy. Chúng ta phải thấu hiểu các giới hạn của mình.

And of course, speaking of limitations fits very well with the study of the Law of Sacrifice. The Law of Sacrifice, through temporary limitation—or let's say through voluntary submission to temporary limitation—brings about rapid advancement once the limitation is lived through. So those who are in the midst of sacrifice seem to be retarded in their progress, but when released from the sacrifice and given the benefit of all they have learned, they make very rapid progress. We might look at the life of the Christ, as much as we can understand of it, which is really very little, which has been a huge demonstration of sacrifice. And we have to remember that the Christ is the most rapidly evolving of all the Earth humanity. So sacrifice is related to rapid evolution. The Christ, who is the great example of sacrificial living, is also the most rapidly evolving human being amongst Earth humanity. So it gives one pause, doesn't it?

Dĩ nhiên, việc nói về những giới hạn rất phù hợp với sự nghiên cứu Định luật Hi sinh. Thông qua sự giới hạn tạm thời—hay có thể nói là thông qua sự tự nguyện phục tùng giới hạn tạm thời—Định luật Hi sinh tạo ra sự tiến bộ nhanh chóng một khi người ta đã sống trọn qua giới hạn ấy. Vì vậy, những người đang ở giữa sự hi sinh dường như bị trì hoãn trong tiến trình của mình, nhưng khi được giải thoát khỏi sự hi sinh và nhận được lợi ích từ tất cả những gì đã học, họ tiến bộ rất nhanh. Chúng ta có thể xem xét cuộc đời của Đức Christ trong phạm vi mình có thể thấu hiểu, vốn thực ra rất ít; đó là một minh chứng phi thường về sự hi sinh. Chúng ta phải nhớ rằng Đức Christ là Đấng tiến hoá nhanh nhất trong toàn thể nhân loại Trái Đất. Vì vậy, sự hi sinh có liên hệ với sự tiến hoá nhanh chóng. Đức Christ, Đấng nêu tấm gương vĩ đại về đời sống hi sinh, cũng là con người tiến hoá nhanh nhất trong nhân loại Trái Đất. Điều ấy khiến người ta phải dừng lại suy ngẫm, phải không?

We sometimes look at the labor in Gemini of Hercules. He was on his way to get those golden apples, but here is Prometheus crying out in pain, and so he apparently stops his progress to free Prometheus, who is a symbol of the Solar Angels, so they can return to their place. And then he's on his way to the golden apples when he sees Atlas, who may be the symbol of the Spiritual Hierarchy, upholding the burden of the world, and he stops his apparent progress in order to help Atlas bear the burden of the world. And lo and behold, the golden apples fall into his hand, coincident with that sacrifice. So Master Morya's words, "When have you ever become less through sacrifice?" are really something to ponder when we are in the midst of submitting to confined conditions which apparently offer little scope for the kinds of growth towards which we might aspire, towards which we yearn. But if we fulfill our Saturn in this respect, then the great advantages offered in a trans-Saturnian world will be ours the more rapidly. The way to slow oneself down, surely, is through selfishness.

Đôi khi chúng ta xem xét kỳ công của Hercules trong Song Tử. Ông đang trên đường đi lấy những quả táo vàng, nhưng Prometheus đang kêu la đau đớn, nên dường như ông dừng bước tiến để giải thoát Prometheus, biểu tượng của các Thái dương Thiên Thần, để họ có thể trở về vị trí của mình. Sau đó, ông tiếp tục đi tìm những quả táo vàng thì nhìn thấy Atlas, vị có thể là biểu tượng của Thánh Đoàn, đang gánh vác trọng trách của thế giới; ông dừng bước tiến bề ngoài của mình để giúp Atlas mang gánh nặng thế gian. Và thật bất ngờ, những quả táo vàng rơi vào tay ông, đồng thời với sự hi sinh ấy. Vì vậy, lời của Chân sư Morya: “Có bao giờ bạn trở nên kém hơn do hi sinh hay không?” thực sự là điều đáng suy ngẫm khi chúng ta đang phục tùng những điều kiện giới hạn, vốn bề ngoài dường như chỉ mang lại rất ít phạm vi cho kiểu phát triển mà mình khát vọng và mong mỏi. Nhưng nếu hoàn thành Sao Thổ của mình về phương diện này, những lợi thế lớn lao được ban cho trong một thế giới vượt ngoài Sao Thổ sẽ đến với chúng ta nhanh chóng hơn. Chắc chắn con đường làm chậm chính mình là tính ích kỷ.

[40] It will be apparent, therefore, why it is the energy of the fourth ray which is related to this Law of Sacrifice, and who in this fourth planetary scheme and in our fourth globe,

[40] Vì vậy, sẽ rõ tại sao chính năng lượng của cung bốn có liên hệ với Định luật Hy sinh này, và tại sao trong hệ hành tinh thứ tư này cũng như trên bầu hành tinh thứ tư của chúng ta,

And who is it—or is it "why"? I think this must be "why":

Là “ai”—hay là “tại sao”? Tôi nghĩ chỗ này phải là “tại sao”:

and why in this fourth planetary scheme and in our fourth globe,

và tại sao trong hệ hành tinh thứ tư này và trên bầu hành tinh thứ tư của chúng ta,

[41] (the earth globe) so much emphasis is laid upon this Law of Sacrifice, “the Law of those who choose to die.”

[41] (bầu Trái Đất) lại có sự nhấn mạnh rất lớn vào Định luật Hy sinh này, “Định luật của những người chọn cái chết.”

Is it apparent to us why this is the case? Perhaps: the relinquishing of the lower in the attempt to harmonize with and respond to the higher of the pairs of opposites. Maybe we will understand something of the struggle of sacrifice. Certainly the fourth ray depicts the struggle of the one who sacrifices, torn between what is desired and the call of duty to remain at one's apparently limiting post. We'll see if we can be clearer about why it should be obvious that the Law of Sacrifice is ruled by the fourth ray.

Đối với chúng ta, lý do của điều này đã rõ ràng chưa? Có lẽ là sự từ bỏ điều thấp để cố gắng hòa hợp và đáp ứng với phần cao của các cặp đối cực. Có lẽ chúng ta sẽ thấu hiểu đôi chút về cuộc đấu tranh của sự hi sinh. Chắc chắn cung bốn mô tả cuộc đấu tranh của người hi sinh, bị giằng xé giữa điều mình mong muốn và tiếng gọi của bổn phận phải ở lại cương vị có vẻ giới hạn của mình. Chúng ta sẽ xem liệu có thể làm sáng tỏ hơn lý do tại sao Định luật Hi sinh hiển nhiên chịu sự cai quản của cung bốn hay không.

[42] The fourth ray of conflict (conflict with a view to eventual harmony) is at present not one of the manifesting rays,

[42] Cung bốn [Page 92] của xung đột (xung đột nhằm hướng đến sự hài hòa sau cùng) hiện nay không phải là một trong những cung đang biểu hiện,

So we might say that fourth ray souls are out of incarnation,

Chúng ta có thể nói rằng các linh hồn cung bốn hiện không lâm phàm,

[43] yet—in the light of the larger cycle—this ray is a major controlling factor in our earth evolution

[43] tuy nhiên—dưới ánh sáng của chu kỳ lớn hơn—cung này là một yếu tố kiểm soát chủ yếu trong cuộc tiến hóa của Trái Đất chúng ta

—even this larger cycle, a perhaps 44,000-year cycle, of which about 40,000 years remain. And since we're dealing with our fourth globe and fourth chain, and this planetary scheme which is fourth from the Sun, and dealing with the fourth kingdom of nature and the fourth Creative Hierarchy—and this Law of Sacrifice is so important to the monads, the Lords of ceaseless and persevering Devotion—we can see the relationship of the fourth ray to all the kinds of circumstances in which we are involved, and in durations that are longer than this 40,000-plus-year cycle, because humanity has been under the influence of the fourth ray for millions of years.

—ngay cả chu kỳ lớn hơn này, có lẽ là một chu kỳ 44.000 năm, trong đó còn lại khoảng 40.000 năm. Và vì chúng ta đang đề cập đến bầu hành tinh thứ tư và Dãy Thứ Tư, hệ hành tinh thứ tư tính từ Mặt Trời, giới thứ tư của tự nhiên và Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư—cũng như việc Định luật Hi sinh này rất quan trọng đối với các chân thần, các Chúa Tể của lòng Sùng tín không ngừng và bền bỉ—chúng ta có thể thấy mối quan hệ của cung bốn với mọi loại hoàn cảnh mà mình đang dự phần, cũng như với những khoảng thời gian dài hơn chu kỳ hơn 40.000 năm này, bởi nhân loại đã chịu ảnh hưởng của cung bốn trong hàng triệu năm.

yet—in the light of the larger cycle—this ray is a major controlling factor in our earth evolution

tuy nhiên—dưới ánh sáng của chu kỳ lớn hơn—cung này là một yếu tố kiểm soát chính trong cuộc tiến hoá trên Trái Đất của chúng ta

—because we remember the symbol of Earth is the cross enclosed in the circle. And right now, of course, I think we experience it largely as the cross, but the enclosure, the synthesis, the way that the competing energies and polarities come together in a circle, has yet to be completely demonstrated. So

—bởi chúng ta nhớ rằng biểu tượng của Trái Đất là thập giá nằm trong vòng tròn. Hiện nay, dĩ nhiên, tôi nghĩ phần lớn chúng ta trải nghiệm nó như thập giá; nhưng sự bao bọc, sự tổng hợp, cách những năng lượng và cực tính cạnh tranh hội tụ trong một vòng tròn, vẫn chưa được biểu hiện trọn vẹn.

this ray is a major controlling factor in our earth evolution

cung này là một yếu tố kiểm soát chính trong cuộc tiến hoá trên Trái Đất của chúng ta

[44] and in the evolution of our solar system, which is one of the fourth order.

[44] và trong sự tiến hóa của hệ mặt trời chúng ta, vốn thuộc cấp thứ tư.

—and it is an astral-buddhic solar system. And we have a very strong devic, buddhic presence in our solar system, much stronger than the presence of those monads who are the monads of men.

—và đó là một hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề. Chúng ta có sự hiện diện thiên thần và Bồ đề rất mạnh trong hệ mặt trời, mạnh hơn nhiều so với sự hiện diện của những chân thần vốn là chân thần con người.

[45] The realisation of this may indicate why our little planet, the Earth, is of such apparent importance in the solar system.

[45] Việc nhận ra điều này có thể cho thấy tại sao hành tinh nhỏ bé của chúng ta, Trái Đất, lại có tầm quan trọng rõ rệt như thế trong hệ mặt trời.

We can say that so many fours come together and emphasize our planet as a place where solar systemic conflict is being resolved gradually. So just as our Planetary Logos has a great battle upon our globe and within our chain, the Solar Logos is undergoing, on his own and higher turn of the spiral, a battle within our planetary scheme—all of this intending to bring about a condition of harmonization which as yet eludes us. And so we submit to the conflict of detaching ourselves from a lower pole and attaching to a higher, in order that we and all may progress. So sacrifice is accompanied by conflict; hence the fourth ray is important in relation to this law.

Chúng ta có thể nói rằng rất nhiều yếu tố số bốn hội tụ và nhấn mạnh hành tinh chúng ta như một nơi mà xung đột trong hệ mặt trời đang dần được hóa giải. Cũng như Hành Tinh Thượng đế của chúng ta tiến hành một trận chiến lớn trên bầu hành tinh và bên trong Dãy của chúng ta, Thái dương Thượng đế cũng đang trải qua một trận chiến trong hệ hành tinh này, trên vòng xoắn ốc riêng và cao hơn của Ngài—tất cả nhằm tạo nên một trạng thái hài hòa mà hiện nay chúng ta vẫn chưa đạt được. Vì vậy, chúng ta phục tùng cuộc xung đột của việc tách mình khỏi một cực thấp và gắn mình với một cực cao hơn, để mình và tất cả đều có thể tiến bộ. Do đó, sự hi sinh đi kèm xung đột; vì thế cung bốn rất quan trọng trong mối liên hệ với định luật này.

So the realisation of this may indicate why our little planet, the Earth, is of such apparent importance in our solar system.

Việc chứng nghiệm điều này có thể cho thấy tại sao hành tinh nhỏ bé của chúng ta, Trái Đất, lại có tầm quan trọng bề ngoài lớn lao đến thế trong hệ mặt trời.

We're in the middle of a great struggle, and we are preoccupied by the struggle, and perhaps to a higher type of vision there would be some importance to what's going on on the Earth with respect to our Solar Logos, but not the kind of overwhelming importance we attach to it, because we are so close and so embroiled in the conflict.

Chúng ta đang ở giữa một cuộc đấu tranh lớn và bị cuộc đấu tranh ấy chi phối. Có lẽ đối với một kiểu tầm nhìn cao hơn, những gì đang diễn ra trên Trái Đất có một tầm quan trọng nào đó đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta, nhưng không có tầm quan trọng áp đảo như chúng ta gán cho nó, bởi chúng ta ở quá gần và vướng mắc quá sâu vào cuộc xung đột.

[46] It is not simply because we choose to think so and thus feed our own arrogance, but it is so primarily because the fourth ray of conflict and this first law are—in time and space—dominating factors in the fourth kingdom in nature, the human kingdom.

[46] Điều đó không đơn giản chỉ vì chúng ta chọn nghĩ như vậy và do đó nuôi dưỡng tính kiêu ngạo của chính mình, mà chủ yếu là vì cung bốn của xung đột và định luật thứ nhất này—trong thời gian và không gian—là những yếu tố chi phối trong giới thứ tư của tự nhiên, tức giới nhân loại.

In other words, how can we become graduates of our planetary process and adjudicators between the pairs of opposites if we do not struggle between them? So we're learning something about the pulls and counter-pulls of the pairs of opposites, about the second aspect and the third, about the present solar system and the previous one, about our particular chain and the previous, or Moon, Chain. We are torn between material and spiritual tendencies, which is the life of the fourth ray—torn between material and spiritual tendencies, the life of the fourth ray.

Nói cách khác, làm sao chúng ta có thể tốt nghiệp tiến trình hành tinh và trở thành những người phân xử giữa các cặp đối cực nếu không đấu tranh giữa chúng? Chúng ta đang học đôi chút về sức kéo và sức kéo ngược của các cặp đối cực, về phương diện thứ hai và thứ ba, về hệ mặt trời hiện tại và hệ trước, về Dãy đặc thù của chúng ta và Dãy trước đó, tức Dãy Mặt Trăng. Chúng ta bị giằng xé giữa các khuynh hướng vật chất và tinh thần, vốn là đời sống của cung bốn—bị giằng xé giữa các khuynh hướng vật chất và tinh thần, đời sống của cung bốn.

[47] Our planet, the fourth in the series of divine expression with which we are associated,

[47] Hành tinh của chúng ta, hành tinh thứ tư trong chuỗi biểu hiện thiêng liêng mà chúng ta có liên hệ,

—the fourth major one, anyway, from the Sun—

—dù sao cũng là hành tinh chính thứ tư tính từ Mặt Trời—

[48] has a peculiar relation to the position of our solar system in the series of solar systems which constitute the body of expression for The One About Whom Naught May Be Said.

[48] có một mối quan hệ đặc biệt với vị trí của hệ mặt trời chúng ta trong chuỗi các hệ mặt trời cấu thành thể biểu hiện của Đấng Bất Khả Tư Nghị.

We have to be careful here. We are fourth, and our Solar Logos expresses through a system which is a heart center in the Cosmic Logos. So the fours line up: the heart center is the fourth center, just as our Earth is fourth from the Sun. So

Chúng ta phải thận trọng ở đây. Chúng ta đứng thứ tư, và Thái dương Thượng đế biểu hiện qua một hệ thống vốn là trung tâm tim trong Thượng đế Vũ Trụ. Vì vậy, những yếu tố số bốn chỉnh hợp với nhau: trung tâm tim là trung tâm thứ tư, cũng như Trái Đất của chúng ta là hành tinh thứ tư tính từ Mặt Trời.

our planet, the fourth in a series of divine expression with which we are associated, has a peculiar relation to the position of our solar system in the series of solar systems which constitute the expression of the One About Whom Naught May Be Said,

hành tinh của chúng ta, hành tinh thứ tư trong chuỗi biểu hiện thiêng liêng mà chúng ta có liên hệ, có một mối quan hệ đặc thù với vị trí của hệ mặt trời chúng ta trong chuỗi các hệ mặt trời hợp thành thể biểu hiện của Đấng Bất Khả Tư Nghị,

—the body of expression. We have to see: are we speaking of a Cosmic Logos or of the Super-Cosmic Logos? The system of our local Cosmic Logos may well be—I've been hypothesizing—a solar plexus center within the One About Whom Naught May Be Said, but within the Cosmic Logos our Sun is in the position of a fourth entity, a heart center. So you sometimes wonder about the destiny of the Earth and its second ray, whether it might one day fulfill a more second ray function than presently it does. The functions remain the same, and the different entities move through them—just like, let's say, the office of president remains the same, and the different entities move through that office, rising as they become qualified.

—thể biểu lộ. Chúng ta phải xem xét: chúng ta đang nói về một Thượng đế Vũ Trụ hay Thượng đế Siêu Vũ Trụ? Tôi đã giả định rằng hệ thống của Thượng đế Vũ Trụ địa phương của chúng ta rất có thể là một trung tâm tùng thái dương bên trong Đấng Bất Khả Tư Nghị, nhưng bên trong Thượng đế Vũ Trụ, Mặt Trời của chúng ta ở vị trí của một thực thể thứ tư, tức một trung tâm tim. Vì vậy, đôi khi các bạn tự hỏi về thiên mệnh của Trái Đất và cung hai của nó, liệu một ngày nào đó nó có thể thực hiện một chức năng thuộc cung hai nhiều hơn hiện nay hay không. Các chức năng vẫn giữ nguyên, còn những thực thể khác nhau lần lượt đảm nhận chúng—giống như chức vụ tổng thống vẫn giữ nguyên, còn những thực thể khác nhau lần lượt đảm nhận chức vụ ấy và thăng tiến khi họ trở nên đủ tư cách.

He does really emphasize here the fourth ray of conflict, and he says it is with the intention of achieving harmony, but he really puts the conflict first, so the thought of conflict is emphasized first.

Ở đây, Ngài thực sự nhấn mạnh cung bốn của xung đột, và Ngài nói rằng cung này có chủ đích đạt đến sự hài hòa; nhưng Ngài thực sự đặt xung đột lên trước, nên tư tưởng về xung đột được nhấn mạnh trước tiên.

[49] It must never be forgotten that this fourth ray of conflict is the ray whose energies, rightly applied and understood, bring about harmony and at-one-ment.

[49] Không bao giờ được quên rằng cung bốn của xung đột này là cung mà các năng lượng của nó, khi được áp dụng và thấu hiểu đúng đắn, sẽ tạo nên sự hài hòa và hợp nhất.

This is the goal, and we're told about the higher aspects of the fourth ray being those of harmony and the lower aspects of the fourth ray being those of conflict. Is there sacrifice without conflict? Let's put it like this: to sacrifice is to place oneself in an inescapably conflicted situation, because one is opposing a natural pull towards that which is lower, and maintaining a painful point of tension in resistance to the lower pulls. Of course, the higher pulls help maintain that point of tension. So eventually the harmonizing will come about.

Đây là mục tiêu, và chúng ta được cho biết rằng các phương diện cao của cung bốn là sự hài hòa, còn các phương diện thấp của cung bốn là xung đột. Có sự hi sinh nào mà không có xung đột không? Có thể diễn đạt như sau: hi sinh là đặt bản thân vào một tình thế xung đột không thể tránh khỏi, bởi người ta đang chống lại sức hút tự nhiên hướng về những gì thấp kém, đồng thời duy trì một điểm tập trung nhất tâm đầy đau đớn để kháng cự những sức hút thấp kém. Dĩ nhiên, những sức hút cao siêu giúp duy trì điểm tập trung nhất tâm ấy. Vì vậy, cuối cùng sự hài hòa hóa sẽ diễn ra.

[50] The result of this harmonising activity is beauty,

[50] Kết quả của hoạt động hài hòa hóa này là vẻ đẹp,

—that which is naturally attractive and magnetic, drawing the entity towards itself—

—điều vốn hấp dẫn và có từ tính một cách tự nhiên, thu hút thực thể về phía mình—

[51] but it is a beauty that is achieved through struggle.

[51] nhưng đó là một vẻ đẹp đạt được qua đấu tranh.

That is the fourth ray: beauty has to be earned through struggle, as the fourth ray achieves beauty. There's also the second ray type of achievement of beauty, but we're told of the second ray that it agonizes towards the goal. So struggle and agony are found in both of these middle rays, the fourth and the second. So without struggle, no harmonious beauty. And the creative artist, I think, contends, let us say, with many forces within his nature which are dissonant, in order to arrange them in such a manner that harmony and beauty may be the result.

Đó là cung bốn: vẻ đẹp phải được giành lấy qua đấu tranh, vì cung bốn đạt đến vẻ đẹp theo cách ấy. Cũng có phương thức đạt đến vẻ đẹp của người cung hai, nhưng chúng ta được cho biết rằng cung hai tiến đến mục tiêu trong thống khổ. Vì vậy, cả đấu tranh lẫn thống khổ đều hiện diện trong hai cung ở giữa này, cung bốn và cung hai. Không có đấu tranh thì không có vẻ đẹp hài hòa. Tôi nghĩ rằng nghệ sĩ sáng tạo phải vật lộn với nhiều mãnh lực bất hòa bên trong bản chất của mình để sắp xếp chúng sao cho kết quả có thể là sự hài hòa và vẻ đẹp.

[52] This produces a livingness through death,

[52] Điều này tạo nên sức sống qua cái chết,

—dissonance must die, and lesser relationships must give way, fade out—

—sự bất hòa phải chết đi, và những mối quan hệ thấp kém hơn phải nhường chỗ, phai tàn—

[53] a harmony through strife,

[53] sự hài hòa qua xung đột,

—that we're familiar with—

—điều mà chúng ta đã quen thuộc—

[54] a Union through diversity and adversity.

[54] sự Hợp Nhất qua tính đa dạng và nghịch cảnh.

—the adversity of the diverse. Whenever you're attempting to bring together many and diverse energies, some of them will be adverse to each other, and one has to find the right arrangement which will allow them to adjust to each other and fall into harmonious relationship. So in some ways this is the ray of mutual adjustment leading to harmonious relationship. There is an engagement where the conflicts are worked out and common ground is found, and the dissonant elements are de-emphasized, and a new type of cooperative relationship is based upon points held in common. There's always going to be something the two entities share, and upon that sharing they can build.

—nghịch cảnh do sự đa dạng gây nên. Bất cứ khi nào các bạn cố gắng quy tụ nhiều năng lượng đa dạng, một số năng lượng sẽ đối nghịch với nhau, và người ta phải tìm ra cách sắp xếp đúng đắn để chúng có thể điều chỉnh lẫn nhau và đi vào mối quan hệ hài hòa. Vì thế, theo một vài phương diện, đây là cung của sự điều chỉnh lẫn nhau dẫn đến mối quan hệ hài hòa. Có một sự tương tác trong đó các xung đột được giải quyết, điểm tương đồng được tìm thấy, các yếu tố bất hòa giảm bớt vai trò nổi bật, và một kiểu quan hệ hợp tác mới được xây dựng trên những điểm chung. Luôn có điều gì đó mà hai thực thể cùng chia sẻ, và họ có thể xây dựng trên nền tảng của sự chia sẻ ấy.

So what have we been speaking of here? The fourth ray of conflict will bring harmony. Now we have a very conflicted global situation at the moment, but it has been the history of humanity, the fourth kingdom, to progress through great strife and through the death of the form. We can say livingness through death: the form is killed in conflict, but the consciousness becomes more exquisitely alive through the sacrifice of the form through conflict. So the first ray and the fourth ray are intimately related, and this has a lot to do with the fourth plane, which interestingly enough is the first plane of livingness—the fourth plane is the first plane of cosmic livingness—and it is also called the mountain whereon form dies. So death gives place to livingness; death of the form gives place to livingness. I think the struggling creator understands this: many things have to die in order for a truly living product to emerge. So this is the ray of livingness through death, of harmony through strife, and of union through diversity and adversity—three additional names of the ray of harmony through conflict.

Chúng ta vừa nói về điều gì ở đây? Cung bốn của xung đột sẽ mang lại sự hài hòa. Hiện nay, chúng ta đang có một tình trạng toàn cầu đầy xung đột, nhưng lịch sử của nhân loại, giới thứ tư, vốn là tiến bộ qua tranh đấu lớn lao và qua cái chết của hình tướng. Chúng ta có thể nói đó là sức sống qua cái chết: hình tướng bị hủy diệt trong xung đột, nhưng tâm thức trở nên sống động tinh tế hơn qua sự hi sinh hình tướng trong xung đột. Vì vậy, cung một và cung bốn liên hệ mật thiết với nhau, và điều này có liên quan nhiều đến cõi thứ tư, vốn thật thú vị lại là cõi đầu tiên của sức sống—cõi thứ tư là cõi đầu tiên của sức sống vũ trụ—và cũng được gọi là ngọn núi nơi hình tướng chết đi. Vì vậy, cái chết nhường chỗ cho sức sống; cái chết của hình tướng nhường chỗ cho sức sống. Tôi nghĩ người sáng tạo đang đấu tranh hiểu được điều này: nhiều thứ phải chết đi để một sản phẩm thực sự sống động có thể xuất hiện. Vì vậy, đây là cung của sức sống qua cái chết, của sự hài hòa qua tranh đấu và của sự hợp nhất qua tính đa dạng cùng nghịch cảnh—ba danh xưng bổ sung của cung hài hòa qua xung đột.

[55] The sacrifice of the solar angels brought the fourth kingdom in nature into being.

[55] Sự hy sinh của các Thái dương Thiên Thần đã đưa giới thứ tư trong tự nhiên vào hiện tồn.

So they divided their presence and their consciousness, thus creating a point of tension. They still had work to do on their own high plane—and DK warned us not always to be importuning our angel, and to leave it free to do what it must do also—but it extended a fragment of itself into what became our vehicle, the heart center of the descending monad, and thus had to endure the tension of being within a foreign land, within us, and within itself simultaneously. There was this rending process. Sacrifice always involves counter-poles, usually between something higher and something lower. So the Solar Angels had their own high state achieved, and yet they submitted themselves to a lower level of vibration, and certainly to a great confinement over millions of years—maybe not as long as the confinement endured by Sanat Kumara, but still a substantial confinement: some of them from the very first, maybe twenty-one million years so far; others submitting themselves to confinement when the Moon Chain humanity came into the Earth Chain in the third subrace of the fourth root race, and thus involving some—I don't know—ten million years, perhaps. It's a long time to be divided in two. It's a long time to have a lower sphere of obligation while still attempting, as one can, to pursue one's ongoing elevatory objectives. And yet the work with the human being is, after all, part of the growth of the Solar Angel. That is why they are not purely avataric, descending to a lower space with no benefit to themselves.

Các Ngài đã phân chia sự hiện diện và tâm thức của mình, qua đó tạo nên một điểm tập trung nhất tâm. Các Ngài vẫn còn công việc phải làm trên cõi cao của mình—và Chân sư DK đã cảnh báo chúng ta không nên luôn quấy rầy thiên thần của mình mà phải để vị ấy tự do làm những điều cũng cần phải làm—nhưng vị ấy đã mở rộng một phần của mình vào nơi trở thành vận cụ của chúng ta, trung tâm tim của chân thần đang giáng hạ, và do đó phải chịu đựng sự căng thẳng vì đồng thời hiện diện trong một vùng đất xa lạ, bên trong chúng ta và bên trong chính mình. Đây là một tiến trình xé đôi. Sự hi sinh luôn liên quan đến các cực đối nghịch, thường là giữa một điều cao hơn và một điều thấp hơn. Các Thái dương Thiên Thần đã đạt được trạng thái cao của riêng mình, thế nhưng các Ngài vẫn đặt mình dưới một cấp độ rung động thấp hơn và chắc chắn chịu một sự giam hãm lớn lao suốt hàng triệu năm—có lẽ không lâu bằng sự giam hãm mà Đức Sanat Kumara đã chịu đựng, nhưng vẫn là một thời gian đáng kể: một số vị đã chịu như vậy ngay từ ban đầu, có lẽ đến nay khoảng hai mươi mốt triệu năm; những vị khác tự đặt mình vào sự giam hãm khi nhân loại của Dãy Mặt Trăng tiến vào Dãy Địa Cầu trong giống dân phụ thứ ba của Giống dân gốc thứ tư, và như vậy có lẽ kéo dài khoảng mười triệu năm. Bị phân chia làm hai trong một thời gian như thế quả là rất lâu. Việc có một phạm vi trách nhiệm thấp hơn trong khi vẫn cố gắng theo đuổi những mục tiêu thăng tiến liên tục của mình, trong khả năng có thể, cũng kéo dài rất lâu. Tuy nhiên, xét cho cùng, công việc với con người là một phần trong sự tăng trưởng của Thái dương Thiên Thần. Đó là lý do các Ngài không hoàn toàn có tính chất hóa thân, giáng xuống một không gian thấp hơn mà bản thân không nhận được lợi ích nào.

[56] The “returning nirvanis” (as they are called in esoteric literature), with deliberation and full understanding, took human bodies in order to raise those lower forms of life nearer to the goal.

[56] Các “nirvani trở lại” (như họ được gọi trong văn liệu huyền bí), với chủ ý và sự thấu hiểu đầy đủ, đã khoác lấy thể người nhằm nâng những hình tướng sự sống thấp hơn ấy đến gần mục tiêu hơn.

This is literal in a sense. Some of them literally took human bodies as their vehicle and were entirely present within those—what's it called—huge tabernacles of clay, and ill-favored at that; in other words, not the most beautiful type of presentation as we consider beauty presently. So some of them took human bodies in order to raise those lower forms of life nearer to the goal. Others simply implanted the spark of mind. Others, in a more detached manner, fanned the flame of mentality, and so the human being could emerge slowly into the human stage. There are a number of different ways of engagement by the Solar Angels with humanity. So, in order to raise those lower forms of life nearer to the goal.

Theo một ý nghĩa nào đó, điều này có tính chất trực nghĩa. Một số vị thực sự tiếp nhận những thân thể con người làm vận cụ của mình và hiện diện hoàn toàn bên trong những—gọi là gì nhỉ—nhà tạm khổng lồ bằng đất sét ấy, mà lại còn có hình dạng xấu xí; nói cách khác, đó không phải kiểu biểu hiện đẹp đẽ nhất theo quan niệm hiện nay của chúng ta về vẻ đẹp. Vì vậy, một số vị đã tiếp nhận những thân thể con người nhằm nâng các hình tướng sự sống thấp kém ấy đến gần mục tiêu hơn. Những vị khác chỉ gieo vào đó tia lửa của trí tuệ. Những vị khác nữa, theo một cách tách rời hơn, đã quạt bùng ngọn lửa trí tuệ, nhờ đó con người có thể từ từ tiến vào giai đoạn nhân loại. Có nhiều cách tương tác khác nhau giữa các Thái dương Thiên Thần và nhân loại. nhằm nâng các hình tướng sự sống thấp kém ấy đến gần mục tiêu hơn.

[57] These were and are ourselves.

[57] Họ đã là và đang là chính chúng ta.

Now I assume he means by that that these lower forms, or the being-consciousness within those forms, were ourselves. DK is speaking identificatorily here. Obviously he's not a part of Earth humanity; much more Moon Chain humanity, though not apparently first solar system humanity. Some place he seems to say that, because he talks about those of the first solar system being much different than we are. So these lower forms of life, who were in a way the monad embodied in animal man, were and are ourselves—at least Earth humanity, though not the other types of humanity. Although DK is identifying here: he's a Master of Wisdom, he's on the Path of Earth Service, he is identifying closely—that great power of identification which is the capability of those upon that first path.

Tôi cho rằng qua câu này, Ngài muốn nói rằng các hình tướng thấp kém ấy, hay tâm thức hiện tồn bên trong các hình tướng ấy, đã từng là chính chúng ta. Ở đây, Chân sư DK đang phát biểu trên cơ sở đồng hóa. Hiển nhiên, Ngài không thuộc nhân loại Dãy Địa Cầu; Ngài gần với nhân loại Dãy Mặt Trăng hơn nhiều, mặc dù dường như không thuộc nhân loại của hệ mặt trời thứ nhất. Ở một chỗ nào đó, dường như Ngài nói như vậy, bởi Ngài đề cập đến những vị thuộc hệ mặt trời thứ nhất rất khác chúng ta. Vì thế, những hình tướng sự sống thấp kém này, vốn theo một nghĩa nào đó là chân thần nhập thể trong người thú, đã từng và hiện vẫn là chính chúng ta—ít nhất là nhân loại Dãy Địa Cầu, dù không phải những kiểu nhân loại khác. Tuy nhiên, Chân sư DK đang đồng hóa ở đây: Ngài là một Chân sư Minh Triết, đang ở trên Con Đường Phụng Sự Địa Cầu, và Ngài đồng hóa một cách sâu sắc—đó là quyền năng đồng hóa vĩ đại vốn là năng lực của những vị trên con đường thứ nhất ấy.

[58] The “Lords of Knowledge and Compassion and of ceaseless persevering Devotion” (who are ourselves) chose to die in order that lesser lives might live,

[58] Các “Chúa Tể của Tri Thức và Lòng Từ Bi và của Lòng Sùng Kính kiên trì không ngừng” (vốn là chính chúng ta) đã chọn cái chết để những sự sống thấp hơn có thể sống,