Trích nội dung chương
the formulas as well. In other words, the compulsion to obey. The whole idea that changing your faith should be punishable by death is outrageous, but that is the way insecure people have been over many, many centuries. It's not limited necessarily to any one religion. So fanaticism, which is really impatience, I think: rather than having to take in the whole world and understanding all that's around you, you think you have the path to glory or the path to release, and so fearful are you that you force yourself and all others upon that path, so you don't have to consider the wider picture and the possible delay in achieving release from…
the formulas as well. In other words, the compulsion to obey. The whole idea that changing your faith should be punishable by death is outrageous, but that is the way insecure people have been over many, many centuries. It's not limited necessarily to any one religion. So fanaticism, which is really impatience, I think: rather than having to take in the whole world and understanding all that's around you, you think you have the path to glory or the path to release, and so fearful are you that you force yourself and all others upon that path, so you don't have to consider the wider picture and the possible delay in achieving release from your fear of life. Well, that's a little interpretation, probably telling a lot about me, but we have to look within ourselves, be attentive to our own thoughts, and find the universal within our own state of consciousness.
cả các công thức nữa. Nói cách khác, đó là sự cưỡng bách phải vâng phục. Toàn bộ ý tưởng cho rằng thay đổi tín ngưỡng phải bị trừng phạt bằng cái chết là vô cùng đáng phẫn nộ, nhưng những người bất an đã hành xử như thế suốt rất nhiều thế kỷ. Điều này không nhất thiết chỉ giới hạn trong một tôn giáo nào. Vì vậy, theo tôi, chủ nghĩa cuồng tín thực sự là sự thiếu kiên nhẫn: thay vì phải tiếp nhận toàn thể thế giới và thấu hiểu mọi điều quanh mình, các bạn nghĩ mình nắm giữ con đường đến vinh quang hay con đường giải thoát; và vì quá sợ hãi, các bạn ép buộc chính mình cùng mọi người khác đi theo con đường ấy, để khỏi phải xem xét bức tranh rộng lớn hơn và khả năng trì hoãn việc giải thoát khỏi nỗi sợ cuộc sống của mình. Đó chỉ là một cách diễn giải nhỏ, có lẽ tiết lộ khá nhiều về tôi, nhưng chúng ta phải nhìn vào bên trong mình, chú tâm đến tư tưởng của chính mình và tìm thấy cái phổ quát trong trạng thái tâm thức của mình.
These formulas of philosophy and religious theology,
Những công thức triết học và thần học tôn giáo này,
which should not be pushed too far. DK says
không nên bị đẩy đi quá xa. Chân sư DK nói:
[32] these formulas do, at the same time, veil a truth.
[32] đồng thời, những công thức này cũng che phủ một chân lý.
They've just been exaggerated—sixth ray, the ray of undue emphasis, I think it's called in some place.
Chúng chỉ bị cường điệu hóa—cung sáu, cung của sự nhấn mạnh quá mức, tôi nghĩ ở đâu đó nó được gọi như vậy.
[33] They have been presented to the consideration of man in terms of personality devotions
[33] Chúng đã được đưa ra cho con người suy xét [Page 159] dưới hình thức sự sùng tín của phàm ngã
in terms of personality devotions
dưới hình thức sùng tín của phàm ngã
[34] and of obedience to Masters and leaders, instead of service of, and obedience to, the soul in all.
[34] và sự vâng phục các Chân sư cùng những người lãnh đạo, thay vì phụng sự linh hồn trong tất cả và vâng phục linh hồn ấy.
So it's a natural misinterpretation based upon the limitations of our state of consciousness. When we outgrow identification with the lower self, we will not think that personality devotions are so important, and devotions to the personality of others. If you look at certain nations, the dear and blessed leader is put up before the people; the cult of personality is found, and everywhere the image of the leader is found, and this is a totalitarian way of limiting the consciousness of the devotee, who might otherwise be able to turn within and find the identity in all. But instead it should be the
Vì thế, đó là một cách diễn giải sai tự nhiên dựa trên những giới hạn trong trạng thái tâm thức của chúng ta. Khi vượt khỏi sự đồng hóa với phàm ngã, chúng ta sẽ không còn nghĩ rằng sự sùng tín của phàm ngã và sự sùng tín đối với phàm ngã của người khác lại quan trọng đến thế. Nếu nhìn vào một số quốc gia, các bạn sẽ thấy vị lãnh tụ thân yêu và được tôn sùng được đưa ra trước dân chúng; sự sùng bái phàm ngã xuất hiện, và hình ảnh của lãnh tụ có mặt khắp nơi. Đây là một phương thức toàn trị nhằm giới hạn tâm thức của người sùng tín, kẻ lẽ ra có thể quay vào trong và tìm thấy bản sắc trong tất cả. Nhưng thay vào đó, điều cần có phải là
service of and obedience to the soul in all.
phụng sự và vâng phục linh hồn trong tất cả mọi người.
[35] The truth is, however, steadily emerging, and must inevitably triumph.
[35] Tuy nhiên, chân lý đang dần dần xuất hiện và tất yếu phải chiến thắng.
We have to say, really: what patience it must take to be a Master of the Wisdom.
Thật sự, chúng ta phải nói rằng: để trở thành một Chân sư Minh Triết, hẳn phải cần biết bao kiên nhẫn.
[36] Once the aspirant upon the Probationary Path has a vision of this
[36] Một khi người chí nguyện trên Con Đường Dự Bị có được một tầm nhìn về điều này,
—vision of a greater, wider spiritual life—
—tầm nhìn về một đời sống tinh thần lớn lao và rộng mở hơn—
[37] (no matter how slight it may be), then the law of desire which has governed him for ages will slowly and surely give place to the Law of Repulse,
[37] dù tầm nhìn ấy có nhỏ bé đến đâu, thì định luật dục vọng vốn chi phối y qua nhiều thời đại sẽ từ từ nhưng chắc chắn nhường chỗ cho Định luật Đẩy Lùi,
because he really desires something higher. He repels a lower desire in favor of a higher desire, aspiration; he repels lower desire in favor of higher desire and aspiration.
bởi y thực sự khao khát một điều cao hơn. Y đẩy lùi một dục vọng thấp để chọn một dục vọng cao hơn, tức khát vọng; y đẩy lùi dục vọng thấp để chọn dục vọng và khát vọng cao hơn.
the Law of Repulse,
Định luật Đẩy Lùi,
[38] which will, in time, free him
[38] và theo thời gian, định luật này sẽ giải thoát y
It's the first-ray law and the law of freedom. Well, it's a Sirian law really, but it has to do, I think, with the Uranian type of impulse within our spheres, and that's the major first-ray planet. It will free him
Đây là định luật thuộc cung một và là định luật của tự do. Thật ra, đó là một định luật của Sirius, nhưng theo tôi, nó liên quan đến loại xung lực của Sao Thiên Vương bên trong các khối cầu của chúng ta, và đó là hành tinh chính thuộc cung một. Nó sẽ giải thoát y
[39] from the thralldom of not-self.
[39] khỏi ách nô lệ của phi-ngã.
So this is the importance of this law. The importance of the Law of Repulse is that it brings freedom from the not-self.
Vì vậy, đây là tầm quan trọng của định luật này. Tầm quan trọng của Định luật Đẩy Lùi là nó đem lại sự giải thoát khỏi phi-ngã.
[40] It will lead him to those discriminations
[40] Nó sẽ dẫn y đến những sự phân biện
—discrimination is keenly important at the fourth degree. The two planets of discrimination, which are Saturn and Mercury, will work to discriminate the cosmic ethers from the dense physical body of the Solar Logos and will give the determination to live within the cosmic ethers, which means the fourth degree really.
—sự phân biện có tầm quan trọng sâu sắc ở cấp độ thứ tư. Hai hành tinh của sự phân biện là Sao Thổ và Sao Thủy sẽ giúp phân biệt các dĩ thái vũ trụ với thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế, đồng thời mang lại quyết tâm sống trong các dĩ thái vũ trụ, mà thực ra chính là cấp độ thứ tư.
It will lead him to those discriminations
Nó sẽ dẫn y đến những phân biện ấy
[41] and that dispassionate attitude
[41] và thái độ điềm nhiên
—no passionate desire for the not-self—
—không còn ham muốn mãnh liệt đối với phi-ngã—
[42] which is the hallmark of the man who is on his way to liberation.
[42] vốn là dấu hiệu đặc trưng của người đang trên đường tiến tới giải thoát.
the hallmark of the man.
dấu hiệu đặc trưng của con người.
So he will really be able to tell the difference between truth and illusion, between reality and unreality—“lead us from the unreal to the real”—and the astral body will be quieted, and desire will no longer animate him in some kind of outreach towards the unreal. And therefore he is on his way to the release from suffering, which is inevitable in the phenomenal universe, the dense physical layers of the universe. It might be our universe. How much of those dense physical layers exist in other solar systems? We don't know. I think you'd have to have planets to have dense physical layers; I'm not sure you have that with respect to the Sun.
Vì vậy, y sẽ thực sự có thể phân biệt chân lý với ảo tưởng, thực tại với phi thực tại—“xin dẫn chúng con từ phi thực đến chân thực”—và thể cảm dục sẽ lắng dịu, dục vọng sẽ không còn thúc đẩy y vươn tới phi thực theo một cách nào đó. Do đó, y đang trên đường giải thoát khỏi đau khổ, vốn không thể tránh khỏi trong vũ trụ hiện tượng, tức các tầng hồng trần đậm đặc của vũ trụ. Đó có thể là vũ trụ của chúng ta. Có bao nhiêu tầng hồng trần đậm đặc như thế tồn tại trong các hệ mặt trời khác? Chúng ta không biết. Tôi nghĩ phải có các hành tinh thì mới có những tầng hồng trần đậm đặc; tôi không chắc điều đó có đúng đối với Mặt Trời hay không.
The hallmark of the man on his way to liberation.
Dấu hiệu đặc trưng của người đang trên đường tiến đến giải thoát.
[43] Let us remember, however, that a discrimination which is based upon a determination to be free,
[43] Tuy nhiên, chúng ta hãy nhớ rằng một sự phân biện dựa trên quyết tâm muốn được tự do,
so it's kind of a first-ray method, and kind of a heartless method,
thì đó phần nào là phương pháp của cung một, và cũng là một phương pháp có phần vô tình,
[44] and a dispassion which is the indication of a hard heart,
[44] và một thái độ điềm nhiên là dấu hiệu của một trái tim chai cứng,
which refuses to suffer and suffer with,
khước từ chịu đau khổ và đồng cảm với nỗi đau của người khác,
[45] will land the aspirant in the prison of a crystallized shell,
[45] sẽ đưa người chí nguyện vào nhà tù của một lớp vỏ kết tinh,
It's somewhat the attitude of the first and fifth rays combined—the so-called Prussian rays, the first, fifth and third. And I'm remembering that he talks about certain psychopathologies which can work out with the rays, and with the first- and fifth-ray types they have such an attitude of separativeness which renders them eventually untouchable in the ramparts of their own isolated state of existence. They have created such a shell of rejection around them, they can never be reached. So they
Đó phần nào là thái độ kết hợp giữa cung một và cung năm—các cung được gọi là cung Phổ, tức cung một, cung năm và cung ba. Tôi nhớ Ngài có nói về một số bệnh lý tâm thần có thể biểu hiện qua các cung; những người thuộc cung một và cung năm có một thái độ chia rẽ đến mức cuối cùng khiến họ trở nên bất khả tiếp cận sau những thành lũy của trạng thái hiện tồn cô lập của chính mình. Họ đã tạo quanh mình một lớp vỏ khước từ đến mức không ai có thể tiếp cận họ. Vì vậy, họ
will land the aspirant in the prison of a crystallized shell,
sẽ đưa người chí nguyện vào nhà tù của một lớp vỏ kết tinh,
[46] which is far harder to break than the normal prison of the life of the average selfish man.
[46] vốn còn khó phá vỡ hơn nhiều so với nhà tù thông thường của đời sống người ích kỷ trung bình. Chính
So DK speaks from experience, having seen those who have done this. And you can see that's what the members of the Black Lodge have done, have they not, using this first and fifth ray? The members of the Black Lodge have done this: made themselves untouchable and unapproachable. It's somehow the fear of contact and the fear of surrender, fear of unity really, and of the loss of the illusory self which has been cultivated over millions of years. They were after all initiates of the previous solar system. So there are all kinds of dangers on the path, and the Master warns us of what these may be. Right now maybe it's simply theory for us, but it is something we will encounter as we go along. There has to be service and obedience; there has to be a discriminative and dispassionate attitude, for the right reasons. All of these have to have the right motive. If the motive is selfish, the result is worse than conventional selfishness—when you just want something for the separated self. So this is determination to be free for oneself; this is a real wanting for the separated personal self.
Chân sư DK nói từ kinh nghiệm, vì Ngài đã thấy những người từng làm như vậy. Và các bạn có thể thấy đó chính là điều các thành viên của Hắc đoàn đã làm, phải không, khi sử dụng cung một và cung năm này? Các thành viên của Hắc đoàn đã làm như vậy: khiến bản thân trở nên bất khả tiếp cận và không thể đến gần. Theo một cách nào đó, đó là nỗi sợ tiếp xúc và sợ quy phục, thực ra là nỗi sợ hợp nhất và sợ mất đi cái ngã hư ảo đã được vun bồi qua hàng triệu năm. Xét cho cùng, họ là những điểm đạo đồ của hệ mặt trời trước. Vì vậy, có đủ loại nguy hiểm trên Đường Đạo, và Chân sư cảnh báo chúng ta về những nguy hiểm có thể xảy ra. Có lẽ hiện giờ đối với chúng ta, đó chỉ là lý thuyết, nhưng chúng ta sẽ gặp chúng khi tiếp tục tiến bước. Phải có sự phụng sự và vâng phục; phải có thái độ phân biện và vô dục vì những lý do đúng đắn. Tất cả những điều này đều phải có động cơ đúng đắn. Nếu động cơ là ích kỷ, kết quả sẽ tệ hơn tính ích kỷ thông thường—khi bạn chỉ muốn điều gì đó cho cái ngã chia rẽ. Như vậy, đây là quyết tâm giành tự do cho chính mình; đây thực sự là ham muốn vì cái ngã phàm ngã chia rẽ.
You kind of wonder. It does seem that those who are members of the counterforce are very much individuals, very much persons. In a way they are very much still connected with the dense elemental life, and their identity is invested in what they are on that level, and not as unified and unifying souls. That's something they're deadly afraid of, I do believe, because it seems to them to be the relinquishment of everything they've thought they've been.
Các bạn có thể tự hỏi về điều đó. Dường như những người thuộc mãnh lực đối kháng có tính cá nhân rất mạnh, rất nặng tính phàm nhân. Theo một nghĩa nào đó, họ vẫn gắn bó sâu sắc với sự sống hành khí đậm đặc, và đặt bản sắc của mình vào điều họ là ở cấp độ ấy, chứ không phải vào linh hồn hợp nhất và tạo nên sự hợp nhất. Tôi thực sự tin rằng họ vô cùng sợ hãi điều đó, bởi đối với họ, nó dường như là sự từ bỏ mọi điều mà họ vẫn tưởng mình vốn là.
And the dispassion which is an indication of a hard heart,
Và sự vô dục vốn là dấu hiệu của một trái tim chai cứng,
like feeling nothing: “I feel nothing, no matter what may happen to you or anyone else.” It reminds me of that story about Aleister Crowley, where he was on a mountaineering expedition—I guess he was very good at that sort of thing—and someone in his party was in a great deal of trouble, a life-threatening situation, and he was not moved in the slightest, nor did he lift a finger to assist. He just went on about his business, whatever he was doing, and did not come to the aid of that particular person in distress. Felt nothing—dispassion.
giống như không cảm thấy gì: “Tôi không cảm thấy gì, bất kể điều gì xảy ra với bạn hay bất kỳ ai khác.” Điều này khiến tôi nhớ đến câu chuyện về Aleister Crowley, khi ông tham gia một chuyến thám hiểm leo núi—tôi đoán ông rất giỏi việc ấy—và một người trong đoàn gặp nguy hiểm nghiêm trọng, tính mạng bị đe dọa, nhưng ông không hề xúc động chút nào, cũng không nhấc một ngón tay để trợ giúp. Ông chỉ tiếp tục công việc của mình, dù đang làm gì đi nữa, và không đến cứu người đang lâm nạn ấy. Không cảm thấy gì—vô dục.
land the aspirant in a prison of a crystallized shell which is far harder to break than the normal prison of the life of the average selfish man,
đưa người chí nguyện vào nhà tù của một lớp vỏ kết tinh, vốn khó phá vỡ hơn nhiều so với nhà tù thông thường trong đời sống của một người ích kỷ trung bình,
which time will take care of.
mà thời gian sẽ giải quyết.
[47] selfish spiritual desire is oft the major sin of so-called esotericists
[47] dục vọng tinh thần ích kỷ này thường là tội lỗi chủ yếu của những người tự xưng là nhà huyền bí học
—not really “esotericists,” because they haven't really touched the heart, which is the esoteric point.
—thực ra không phải là “nhà bí truyền học”, vì họ chưa thực sự chạm đến trái tim, vốn là điểm nội môn.
the major sin of so-called esotericists
tội lỗi chính của những người được gọi là nhà bí truyền học
[48] and must be carefully avoided.
[48] và cần được tránh né cẩn thận.
Selfish spiritual desire: desire for my own ascent, my own—my, my, my, my own—liberation. Ramakrishna's saying: all of egoism is consisting in the words “me” and “mine.”
Ham muốn tinh thần ích kỷ: ham muốn sự thăng tiến của riêng tôi, sự giải thoát của riêng—tôi, tôi, tôi, của riêng tôi. Ramakrishna nói rằng toàn bộ tính vị kỷ đều nằm trong hai từ “tôi” và “của tôi”.
[49] Therefore,
[49] Vì vậy,
It's so good.
Điều này thật hay.
[50] he who is wise will apply himself to serve and obey.
[50] người khôn ngoan sẽ chuyên tâm phụng sự và vâng lời.
DK is a master teacher; he brings the point home in the simplest way. We do want wisdom. We want wisdom for ourselves and for others. We want to be among the serving and saving forces on this planet and in this solar system, and on and on, and that requires wisdom. Obey the inner impulses of the soul; serve your brother; obey the inner impulses of the soul; listen to the still small voice; and somehow force yourself forward, no matter what. It's the progress on; we're driving forward through space. The Path of Initiation is ruled by the first and seventh rays, and those are the rays needed to have the technique, the magical technique, to free oneself from matter, from identification with matter, even though one serves within it.
Chân sư DK là một Chân sư huấn sư; Ngài làm sáng tỏ điểm cốt yếu theo cách đơn giản nhất. Chúng ta thực sự muốn có minh triết. Chúng ta muốn minh triết cho chính mình và cho những người khác. Chúng ta muốn thuộc về các mãnh lực phụng sự và cứu rỗi trên hành tinh này, trong hệ mặt trời này và xa hơn nữa, mà điều đó đòi hỏi minh triết. Hãy vâng theo những thôi thúc bên trong của linh hồn; phụng sự huynh đệ của bạn; vâng theo những thôi thúc bên trong của linh hồn; lắng nghe tiếng nói nhỏ nhẹ, tĩnh lặng; và bằng cách nào đó hãy buộc mình tiến về phía trước, bất kể điều gì xảy ra. Đó là sự tiếp tục tiến bước; chúng ta đang lao tới xuyên qua không gian. Con Đường Điểm Đạo do cung một và cung bảy cai quản, và đó là những cung cần thiết để có kỹ thuật, tức kỹ thuật huyền thuật, nhằm giải thoát bản thân khỏi vật chất và khỏi sự đồng hóa với vật chất, dù người ta vẫn phụng sự trong đó.
Then we have reached the next section in the Law of Repulse:
Giờ đây, chúng ta đã đến phần kế tiếp về Định luật Đẩy Lùi:
[51] b. THE LAW OF REPULSE UPON THE PATHS OF DISCIPLESHIP AND INITIATION
[51] b. ĐỊNH LUẬT ĐẨY LÙI TRÊN CÁC CON ĐƯỜNG ĐỆ TỬ VÀ ĐIỂM ĐẠO
What was the first one? Far up here, I'm sure. Is it worth trying to find it? Surely there must be... The Law of Repulse, and the function and quality of desire. That was the first one:
Phần đầu tiên là gì? Chắc chắn nó nằm khá xa phía trên. Có đáng để tìm không? Hẳn phải có... Định luật Đẩy Lùi, cùng chức năng và phẩm tính của dục vọng. Đó là phần đầu tiên:
the Law of Repulse and the function and quality of desire.
Định luật Đẩy Lùi cùng chức năng và phẩm tính của dục vọng.
Very interesting, as we human beings are trapped in that quality and subject to that function. And now we will move forward to the Law of Repulse as it expresses upon the Path of Discipleship and Initiation. So let's see what is said here.
Điều này rất thú vị, vì con người chúng ta bị mắc kẹt trong phẩm tính ấy và chịu sự chi phối của chức năng ấy. Giờ đây, chúng ta sẽ tiến đến Định luật Đẩy Lùi khi nó biểu hiện trên Con Đường Đệ Tử và Con Đường Điểm Đạo. Hãy xem ở đây nói gì.
Imagine speed reading at that rate of things going by. Well, I think there are ways to assimilate information equally as rapidly; it won't be involving words per se.
Hãy tưởng tượng việc đọc nhanh với tốc độ mọi thứ lướt qua như vậy. Tôi nghĩ có những cách để đồng hóa thông tin nhanh tương đương; việc đó sẽ không nhất thiết liên quan đến chính các từ ngữ.
[52] When the discriminating sense
[52] Khi ý thức phân biện
—that Saturn-Mercury sense—
—giác quan Sao Thổ–Sao Thủy ấy—
[53] (the spiritual correspondence of the sense of smell, the last of the five senses to emerge in humanity)
[53] —đối phần tinh thần của khứu giác, giác quan cuối cùng trong năm giác quan xuất hiện nơi nhân loại—đã được phát triển đầy đủ trong người chí nguyện,
and yet connected with the fourth subplane of the mental plane, and thus not with smell per se, but with taste. But anyway, when we seek to discriminate—it's interesting, the French, as they say, have “the nose.” They can smell; even the nose is enlarged in many French people, and they are the third-ray, fifth-ray civilization: fifth-ray soul, third-ray personality. The sense of discrimination is very, very strong; Saturn and Mercury are very strong. So when this, the last of the five senses to emerge... It's connected with emotional idealism; that's connected, I suppose, with spiritual discernment as the top of the five. From another point of view it might be connected with telepathy. It's hard to know what to do with those three senses that are found on the higher three levels of the mental plane, because on the mental plane all seven planes are considered fair game for man, and all of them have useful senses. But we're not given the higher senses. I suppose the common sense would be number six in a way, and the esoteric sense number seven. We're not given the higher correspondences there on the buddhic and atmic plane, and certainly we're given nothing on the Monadic plane at all, although we cannot imagine that it is devoid of senses. In fact, they're just not listed because they can't really be relevant to us at our present stage of evolution. They would be meaningless to us, I suspect.
tuy nhiên lại liên hệ với cõi phụ thứ tư của cõi trí, và do đó không liên hệ với chính khứu giác mà với vị giác. Nhưng dù sao đi nữa, khi chúng ta tìm cách phân biện—điều thú vị là người Pháp, như người ta nói, có “cái mũi” rất thính. Họ có thể ngửi thấy; thậm chí mũi của nhiều người Pháp còn lớn, và họ là một nền văn minh cung ba–cung năm: linh hồn cung năm, phàm ngã cung ba. Khả năng phân biện rất, rất mạnh; Sao Thổ và Sao Thủy cũng rất mạnh. Vì vậy, khi giác quan cuối cùng trong năm giác quan xuất hiện này... Nó liên hệ với chủ nghĩa lý tưởng cảm xúc; và tôi cho rằng điều đó liên hệ với phân biện tinh thần ở vị trí cao nhất trong năm giác quan. Theo một quan điểm khác, nó có thể liên hệ với viễn cảm. Thật khó biết phải hiểu thế nào về ba giác quan nằm trên ba cấp cao của cõi trí, bởi trên cõi trí, cả bảy cõi phụ đều được xem là phạm vi hoạt động thích hợp của con người và tất cả đều có những giác quan hữu dụng. Nhưng chúng ta không được cho biết về các giác quan cao hơn. Tôi cho rằng lương tri, theo một nghĩa nào đó, có thể là giác quan thứ sáu, còn giác quan nội môn là giác quan thứ bảy. Chúng ta không được cho biết những tương ứng cao hơn trên cõi Bồ đề và cõi atma, và chắc chắn hoàn toàn không được cho biết gì trên cõi chân thần, dù chúng ta không thể hình dung rằng cõi ấy không có giác quan. Thực ra, chúng chỉ không được liệt kê vì ở giai đoạn tiến hóa hiện nay, chúng không thực sự thích hợp với chúng ta. Tôi ngờ rằng chúng sẽ hoàn toàn vô nghĩa đối với chúng ta.
So when this last of the five senses is developed in the aspirant
Vì vậy, khi giác quan cuối cùng trong năm giác quan này phát triển nơi người chí nguyện
[54] and he knows the pairs of opposites
[54] và y biết các cặp đối cực
—and just for practical consideration, let's call this soul and personality—
—và để xem xét về mặt thực tiễn, chúng ta hãy gọi chúng là linh hồn và phàm ngã—
[55] and has gained a vision of that which is neither of them,
[55] đồng thời có được một tầm nhìn về điều không thuộc về bên nào trong hai bên,
and that would have to be in a way being itself, being or essence itself,
và theo một nghĩa nào đó, cái đó hẳn phải là chính Bản Thể, chính Bản Thể hay tinh túy,
[56] then he can pass on to the Path of Discipleship and enter
[56] thì y có thể tiến vào Con Đường Đệ Tử
—the true path of discipleship, not what we sometimes imagine as discipleship.
—Con Đường Đệ Tử chân chính, chứ không phải điều đôi khi chúng ta hình dung là địa vị đệ tử.
He knows the pairs of opposites.
Y biết các cặp đối cực.
He has a vision of substance, of essence, of being, at least a vision of it. He is not identified as it until he is an initiate, but
Y có tầm nhìn về chất liệu, tinh túy và Bản Thể, ít nhất là một tầm nhìn về chúng. Y chưa đồng hóa với Bản Thể ấy cho đến khi trở thành điểm đạo đồ, nhưng
he's gained a vision of that which is neither of them, and then he can pass on to the path of discipleship
y đã đạt được tầm nhìn về cái không phải là bất kỳ bên nào trong hai bên ấy, và bấy giờ y có thể tiến vào Con Đường Đệ Tử
[57] and enter upon the arduous task of cooperating with the spiritual laws, particularly with the Law of Repulse.
[57] và bắt đầu nhiệm vụ gian khổ là cộng tác với các định luật tinh thần, đặc biệt là Định luật Đẩy Lùi.
It is a disciplic law, and pertains as well to the initiations. So on the Path of Initiation this law would still be of use, and may be found in the destruction of the causal body, I suspect. Part of that second-ray thing about being weary with everything and disinterested and not interested in anything, and nothing really arouses one's outgoing and desire—he says it's a problem in the integration process of the second-ray type—that's all part of the Law of Repulse as well, at first unconsciously. “At first,” it says here.
Đó là một định luật dành cho đệ tử và cũng liên quan đến các cuộc điểm đạo. Vì vậy, trên Con Đường Điểm Đạo, định luật này vẫn còn hữu dụng và tôi ngờ rằng có thể thấy tác động của nó trong sự hủy diệt thể nguyên nhân. Một phần của đặc tính cung hai ấy là chán ngán mọi thứ, thờ ơ, không hứng thú với bất cứ điều gì, và không có gì thực sự khơi dậy sự hướng ngoại hay ham muốn của một người—Ngài nói đó là một vấn đề trong tiến trình tích hợp của người cung hai—tất cả những điều ấy cũng là một phần của Định luật Đẩy Lùi, lúc đầu diễn ra một cách vô thức. Ở đây nói: “Lúc đầu”.
[58] At first, he hardly recognises
[58] Lúc đầu, y hầu như không nhận ra
—what does he hardly recognize?—
—y hầu như không nhận ra điều gì?—
[59] the influence of this Law.
[59] ảnh hưởng của Định luật này.
But a growing distaste, you might say, a growing distaste for all things familiar. As he tells us in the second-ray integration formula, the usual circumstances of life and engagement with them prove to be dissatisfying. I think we've all been through that if we've reoriented ourselves. So we're really interested in these things that hardly anyone is interested in, because they're considered fanciful and unreal. We have had that kind of reorientation. We've gone through satiety—enough of that—distaste, and searching around for the next possible target for reoriented desire. We've been through that.
Nhưng có thể nói, đó là sự chán ghét ngày càng tăng đối với mọi điều quen thuộc. Như Ngài nói với chúng ta trong công thức tích hợp dành cho cung hai, những hoàn cảnh thông thường của đời sống và sự tham dự vào chúng đều tỏ ra không thỏa mãn. Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều đã trải qua điều đó nếu đã tự tái định hướng. Vì vậy, chúng ta thực sự quan tâm đến những điều mà hầu như không ai quan tâm, bởi chúng bị xem là viển vông và phi thực. Chúng ta đã trải qua kiểu tái định hướng ấy. Chúng ta đã đi qua sự bão hòa—thế là đủ rồi—sự chán ghét, rồi tìm kiếm mục tiêu khả dĩ kế tiếp cho dục vọng đã được tái định hướng. Chúng ta đã trải qua điều đó.
[60] It is as difficult for him to grasp its implications and to measure its possible effects as it would be for the average working man, with a mediocre education and a total ignorance of esotericism, to grasp the significance of such an occult truth as that expressed in the words:
[60] Đối với y, việc lĩnh hội những hàm ý của nó và đo lường các hiệu quả khả hữu cũng khó như đối với một người lao động trung bình, có trình độ giáo dục tầm thường và hoàn toàn [Page 160] không biết gì về huyền bí học, khi phải lĩnh hội ý nghĩa của một chân lý huyền bí như điều được diễn đạt trong những lời sau:
Oh, yeah—I just tried to introduce occultism this way, right?
Ồ, đúng vậy—tôi vừa thử giới thiệu huyền bí học theo cách này, phải không?
[61] “The construction of the antaskarana between higher and lower manas by the divine Agnishvatta, the solar angel, functioning through the egoic lotus, is the task to be carried forward during the contemplative stage of meditation.”
[61] “Việc xây dựng antaskarana giữa manas cao và thấp bởi Agnishvatta thiêng liêng, Thái dương Thiên Thần, hoạt động qua Hoa Sen Chân Ngã, là nhiệm vụ phải được xúc tiến trong giai đoạn chiêm ngưỡng của tham thiền.”
Well, maybe he's trying to tell us that we don't have much of an education here either. This does bring in some new ideas actually, because who is it that is constructing the antahkarana? Is it the soul-infused mentality, and thus in a way an extension of the Solar Angel? I don't think the Solar Angel per se, on its own plane, constructs the antahkarana. It has to be something where the individual from the mental plane is involved in the fact of projection and so forth. So there's still much here that we could learn.
Có lẽ Ngài đang cố nói rằng chúng ta cũng chưa được giáo dục nhiều về điều này. Thực ra, câu này đưa vào một số ý tưởng mới, bởi ai đang kiến tạo antahkarana? Có phải đó là thể trí được linh hồn thấm nhuần, và do đó, theo một nghĩa nào đó, là phần mở rộng của Thái dương Thiên Thần không? Tôi không nghĩ chính Thái dương Thiên Thần trên cõi riêng của Ngài kiến tạo antahkarana. Điều đó hẳn phải bao hàm sự tham gia của cá nhân từ cõi trí vào hoạt động phóng chiếu và những việc tương tự. Vì vậy, ở đây vẫn còn nhiều điều chúng ta có thể học hỏi.
It's interesting that Alice Bailey, in her autobiography, talks about an early lecture in Theosophy that she listened to, introducing the Ageless Wisdom, and she said it was just the worst way of introducing the subject, because it dealt always with technicalities and jargon, and people had no handle; they had no way to enter, no latch to hold, no grip. So, how we present to people who may be interested in a higher and better life: we have to use bridging forms of language. Obviously, there's nothing bridging in this example here. It is a technical piece of writing, very good for maybe people like ourselves, and even challenging for people like ourselves.
Điều thú vị là trong tự truyện của mình, Alice Bailey kể về một bài thuyết giảng ban đầu về Thông Thiên Học mà Bà từng nghe, nhằm giới thiệu Minh Triết Ngàn Đời; Bà nói đó là cách tệ nhất để giới thiệu chủ đề này, vì bài giảng luôn đề cập đến những chi tiết kỹ thuật và biệt ngữ, khiến người nghe không có điểm tựa; họ không có lối vào, không có then để nắm, không có chỗ bám. Vì vậy, khi trình bày với những người có thể quan tâm đến một đời sống cao hơn và tốt đẹp hơn, chúng ta phải sử dụng những hình thức ngôn ngữ có tác dụng bắt cầu. Rõ ràng, ví dụ ở đây không có gì mang tính bắt cầu. Đây là một đoạn văn kỹ thuật, có lẽ rất phù hợp với những người như chúng ta, nhưng ngay cả với chúng ta, nó vẫn đầy thử thách.
So the Law of Repulse is difficult: to grasp its implications is difficult. It is remote and distant from the understanding of the average disciple, and measuring up to its effects is difficult, because it's going against the grain. We live on a second-ray planet. We're not yet a sacred planet. We haven't taken the second initiation on this planet—at least the Planetary Logos has not taken the second cosmic initiation. The desire body is still very strong; desire is very strong, and hence we are attached as humanity. It's difficult to apply this Ray One law. As I said, even the first ray is somewhat warded off, somewhat rebuffed, repelled by the Solar Logos in his desire to work more along second-ray lines, so he has to choose what energies he will allow. So we can be forgiven, being part of these two Logoi for whom the second-ray energy is so important, if we are not adept at assimilating and applying the first ray. So we have to get a sense of proportion here about what's difficult. You can only imagine: just memorize this sentence and try it on one of your friends, and see what kind of look you get when you do that. And then think back to DK's statement of how difficult it is to grasp really the meaning of the Law of Repulse. But he says it's simple. Well, I don't know; I find some things in it a little bit challenging.
Vì vậy, Định luật Đẩy Lùi thật khó hiểu: nắm bắt những hàm ý của nó là điều khó khăn. Nó xa lạ và vượt khỏi sự thấu hiểu của đệ tử trung bình, còn việc đáp ứng những tác động của nó cũng khó khăn, bởi nó đi ngược lại khuynh hướng tự nhiên. Chúng ta sống trên một hành tinh cung hai. Chúng ta chưa phải là một hành tinh thiêng liêng. Hành tinh này chưa trải qua lần điểm đạo thứ hai—ít nhất Đức Hành Tinh Thượng Đế chưa trải qua lần điểm đạo vũ trụ thứ hai. Thể dục vọng vẫn rất mạnh; dục vọng vẫn rất mạnh, và vì thế nhân loại chúng ta còn bám chấp. Việc áp dụng định luật cung một này thật khó khăn. Như tôi đã nói, ngay cả cung một cũng phần nào bị Thái dương Thượng đế ngăn lại, khước từ và đẩy lùi vì Ngài muốn hoạt động nhiều hơn theo đường lối cung hai, nên Ngài phải chọn những năng lượng mà Ngài sẽ cho phép. Vì vậy, vì là một phần của hai Đấng Thượng đế mà năng lượng cung hai vô cùng quan trọng đối với Các Ngài, chúng ta có thể được tha thứ nếu chưa thành thạo trong việc đồng hóa và áp dụng cung một. Chúng ta phải có Ý thức về tỉ lệ đối với điều khó khăn này. Các bạn cứ tưởng tượng: hãy ghi nhớ câu này, thử nói nó với một người bạn rồi xem họ nhìn bạn thế nào. Sau đó, hãy nhớ lại lời Chân sư DK nói về mức độ khó khăn khi thực sự nắm bắt ý nghĩa của Định luật Đẩy Lùi. Nhưng Ngài nói nó đơn giản. Tôi thì không biết; tôi thấy một số điều trong đó có phần đầy thử thách.
[62] This statement is relatively simple to grasp intellectually by the average occult student, but is utterly meaningless to the man of the world.
[62] Phát biểu này tương đối dễ được lĩnh hội bằng trí tuệ đối với đạo sinh huyền bí học trung bình, nhưng hoàn toàn vô nghĩa đối với người thế tục.
Unfamiliar words, unfamiliar concepts.
Những từ ngữ xa lạ, những khái niệm xa lạ.
[63] The Law of Repulse is equally difficult of understanding by the disciple as he enters upon the Path.
[63] Định luật Đẩy Lùi cũng khó hiểu tương tự đối với đệ tử khi y bước vào Đường Đạo.
Well, is this the Path of Discipleship? Is this nearing—maybe as he nears the Path of Initiation it becomes easier.
Đây có phải là Con Đường Đệ Tử không? Hay khi y đến gần—có lẽ khi đến gần Con Đường Điểm Đạo, việc ấy sẽ trở nên dễ dàng hơn.
[64] He has to learn to recognise its influence; then he must himself learn to do three things:—
[64] Y phải học cách nhận biết ảnh hưởng của nó; rồi chính y phải học làm ba điều:—
It's not something that he as a personality wants to understand. As a personality he does not want this, but something within him—himself, his awakening, in his individual consciousness. He is becoming more aware of it, and this something wills the repulse to occur, and he's torn between that which he familiarly thinks himself to be and that which he's beginning to know himself to be. This is the wretchedness, the being-torn-in-two-directions process that we all pass through.
Đó không phải là điều mà y, với tư cách phàm ngã, muốn thấu hiểu. Với tư cách phàm ngã, y không muốn điều này, nhưng có một điều gì đó bên trong y—chính bản thân y, sự thức tỉnh của y trong tâm thức cá nhân—đang nhận biết nó rõ hơn; điều này muốn sự đẩy lùi diễn ra, còn y bị giằng xé giữa cái mà y quen cho rằng mình là và cái mà y bắt đầu biết mình là. Đây là nỗi thống khổ, là tiến trình bị giằng xé theo hai hướng mà tất cả chúng ta đều trải qua.
So he must learn to do three things,
Vì vậy, y phải học thực hiện ba điều,
but remember, let us continue to associate “serve and obey” with the Law of Repulse.
nhưng hãy nhớ, chúng ta hãy tiếp tục liên kết “phụng sự và vâng phục” với Định luật Đẩy Lùi.
[65] 1. Through service,
[65] 1. Thông qua phụng sự,
he has to do this,
y phải thực hiện điều này,
[66] steadily to decentralise himself and thus begin occultly to “repulse” the personality.
[66] dần dần phi tập trung vào bản thân và nhờ đó bắt đầu, theo nghĩa huyền bí, “đẩy lùi” phàm ngã.
Because—why is this? He finds his more real center outside his personality.
Bởi vì—tại sao lại như vậy? Y tìm thấy trung tâm chân thực hơn của mình bên ngoài phàm ngã.
[67] He must see to it that his motive is love for all beings, and not desire for his own release.
[67] Y phải bảo đảm rằng động cơ của mình là tình thương đối với mọi sinh linh, chứ không phải dục vọng được giải thoát cho riêng mình.
This must be a hard one at first, because, having caught the glimpse of the possibility of release, people want to go there. Just as DK says, when you become an integrated personality, nothing can prevent the integrated man from running across the bridge. It seems to be the first response, to go to that place that promises greater release. But then he must revolve upon the pedestal of light and turn the other way. He who stands within the light is blinded by its radiance and he longs to go that way, but he hears the voice of those upon the darkened way, and revolves upon the pedestal of light and helps them. So, whereas the ajna center and solar plexus center allied together would charge forward, the heart center is what keeps us attached to those who are less fortunate—the heart center keeps us attached to those who are less fortunate, and more bound by circumstances.
Lúc đầu, điều này hẳn rất khó, bởi khi thoáng thấy khả năng giải thoát, người ta muốn tiến đến đó. Như Chân sư DK nói, khi bạn trở thành một Phàm ngã tích hợp, không gì có thể ngăn con người tích hợp chạy qua cây cầu. Dường như phản ứng đầu tiên là tiến đến nơi hứa hẹn sự giải thoát lớn lao hơn. Nhưng rồi y phải xoay mình trên bệ ánh sáng và quay về hướng khác. Người đứng trong ánh sáng bị hào quang của nó làm lóa mắt và khao khát đi theo hướng ấy, nhưng y nghe tiếng nói của những người trên con đường tối tăm, nên xoay mình trên bệ ánh sáng và giúp đỡ họ. Vì vậy, trong khi trung tâm ajna liên kết với trung tâm tùng thái dương sẽ lao thẳng về phía trước, trung tâm tim giữ chúng ta gắn bó với những người kém may mắn hơn—trung tâm tim giữ chúng ta gắn bó với những người kém may mắn hơn và bị hoàn cảnh ràng buộc nhiều hơn.
So he has several things to do here if he is going to understand the Law of Repulse. Let's look at it this way: to understand the Law of Repulse, a man must do the following, and the first is decentralize himself. And I think we should say here, to remember, that service decentralizes.
Như vậy, y phải thực hiện một số điều ở đây nếu muốn thấu hiểu Định luật Đẩy Lùi. Hãy xem xét theo cách này: để thấu hiểu Định luật Đẩy Lùi, một người phải làm những điều sau, và điều đầu tiên là phi tập trung vào bản thân. Tôi nghĩ ở đây chúng ta nên nhớ rằng sự phụng sự giúp con người phi tập trung vào bản thân.
[68] 2. Through an understanding of the pairs of opposites, he begins, esoterically, to “isolate” the “noble middle path” of which the Buddha spoke.
[68] 2. Thông qua sự thấu hiểu các cặp đối cực, theo nghĩa huyền bí, y bắt đầu “cô lập” “con đường trung dung cao quý” mà Đức Phật đã nói đến.
Being still identified as the personality, he cannot suddenly be entirely a soul. This would take him to the fourth degree, and he's not there yet. So in a way you could say: render unto Caesar, the elemental life, that which is Caesar's, the third aspect, and render unto Christ that which belongs to the Christ.
Vì vẫn còn đồng hóa với phàm ngã, y không thể đột nhiên hoàn toàn trở thành linh hồn. Điều này sẽ đưa y đến cấp độ thứ tư, mà y vẫn chưa đạt tới. Vì vậy, theo một nghĩa nào đó, các bạn có thể nói: hãy trả cho Caesar, tức sự sống hành khí, những gì thuộc về Caesar, tức phương diện thứ ba, và trả cho Đức Christ những gì thuộc về Đức Christ.
Isolate the noble middle path,
Tách riêng con đường trung dung cao quý,
in a way. This is the sushumna way, in a way, eventually; it's the path of being ultimately. But from a practical perspective, it simply means giving the personality its due without overindulging it, and yet still pressing forward into the life and consciousness of the soul. It means those things. Number three—what else?
theo một nghĩa nào đó. Cuối cùng, đây là con đường sushumna; rốt cuộc, đó là con đường của Bản Thể. Nhưng từ góc độ thực tiễn, nó chỉ đơn giản có nghĩa là dành cho phàm ngã những gì thích đáng mà không nuông chiều nó quá mức, đồng thời vẫn tiếp tục tiến vào sự sống và tâm thức của linh hồn. Nó hàm ý những điều ấy. Điều thứ ba—còn gì nữa?
[69] 3. Through comprehension of the words of Christ, enjoining men to “let their light shine,”
[69] 3. Thông qua sự lĩnh hội lời Đức Christ huấn thị con người “hãy để ánh sáng của họ tỏa chiếu,”
not to hide their light under a bushel, but let the light shine forth into a dark place,
không giấu ánh sáng của họ dưới một cái thùng, mà để ánh sáng tỏa vào nơi tối tăm,
[70] he begins to construct the “path of light” which leads to the centre of life and guides him out of darkness into light, from the unreal to the real, and from death to immortality.
[70] y bắt đầu xây dựng “con đường ánh sáng” dẫn đến trung tâm của sự sống và hướng dẫn y ra khỏi bóng tối vào ánh sáng, từ cái không thực đến cái thực, và từ cái chết đến sự bất tử.
So first the path is to the soul, and this is the first part of the antahkarana; but then the path is to the Spiritual Triad and the monad, the second and, let's say, most first-ray aspect of the antahkarana. Really, the antahkarana is a triangle, as we've seen in the diagram. Yes, it's a triangle, in the earlier one, right here.
Vì vậy, trước hết con đường dẫn đến linh hồn, và đây là phần đầu tiên của antahkarana; nhưng sau đó con đường dẫn đến Tam Nguyên Tinh Thần và chân thần, tức phương diện thứ hai và, có thể nói, phương diện mang tính cung một rõ nhất của antahkarana. Thực ra, antahkarana là một tam giác, như chúng ta đã thấy trong sơ đồ. Đúng vậy, nó là một tam giác trong sơ đồ trước, ngay đây.
[Ghi chú biên tập — CẦN GHÉP HÌNH TỪ VIDEO — LOS-020-H01: sơ đồ antahkarana dạng tam giác (ba đoạn đánh số một, hai, ba) mà MDR chỉ trên màn hình; mốc tìm: “Really, the antahkarana is a triangle, as we've seen in the diagram.”]
[Ghi chú biên tập — CẦN GHÉP HÌNH TỪ VIDEO — LOS-020-H01: sơ đồ antahkarana dạng tam giác (ba đoạn đánh số một, hai, ba) mà MDR chỉ trên màn hình; mốc tìm: “Really, the antahkarana is a triangle, as we've seen in the diagram.”]
We see it: one, two, three. And this is the part of the antahkarana that I'm showing right now; that is the one for which instruction is given. But the very first part maybe corresponds to the third aspect, this to the second aspect, and this to the first aspect, with first-ray projection involved. Eventually, when the egoic lotus is destroyed, then there's only one part, isn't there? And it's the line connecting the monad with everything below.
Chúng ta thấy nó: một, hai, ba. Và đây là phần của antahkarana mà tôi đang chỉ ra lúc này; đó là phần có chỉ dẫn kiến tạo. Nhưng có lẽ phần đầu tiên tương ứng với phương diện thứ ba, phần này tương ứng với phương diện thứ hai, còn phần này tương ứng với phương diện thứ nhất, với sự phóng chiếu của cung một tham gia vào. Cuối cùng, khi Hoa Sen Chân Ngã bị hủy diệt, chỉ còn một phần thôi, phải không? Và đó là đường nối chân thần với mọi thứ bên dưới.
[71] This is the true path of the antaskarana,
[71] Đây là con đường chân thực của antaskarana,
the path of the just, perhaps.
có lẽ là con đường của người công chính.
This is the true path of the antaskarana,
Đây là con đường chân chính của antahkarana,
path of the just, the noble middle path, the path of Libra,
con đường của người công chính, con đường trung dung cao quý, con đường của Thiên Bình,
[72] which the disciple weaves from out of himself (speaking symbolically), just as the spider weaves his thread.
[72] mà đệ tử dệt từ chính mình, nói theo nghĩa biểu tượng, cũng như con nhện dệt sợi tơ của nó.
So the abstract mind is involved in this weaving, and it's our own higher thoughts and received intuitions and impulses of will. All these things are coming from the Triad, come down that first thread of light which we managed to project as we reach out from the soul-infused lower mind. It's all right here, of course, and these many technicalities are to be envisioned, but the reality is something different than we might think. It's simply a question of being sensitive to that which always surrounds us and pervades us, and sometimes we need the scaffolding of these concepts to find the method to enter that which is ever present. So we weave this bridge through our intention, through our visualization—because that helps to really create the bridge of light—through the act of projection, along with certain magical words of power, and then response will come, and the bridge will function in two directions: invocation from our point of view, and evocation from the point of view of the Triad. The Triad and the monad are evoked, and the Father rushes forth to greet the approaching son. The prodigal son is coming home, and this is all through the rising along the antahkarana; that is homecoming along the constructed bridge of light. “Let your light shine” means build the antahkarana, from this point of view. So “let your light shine” can mean many things, but in an occult sense it means to build the antahkarana. It also obviously means illumine the mind, and let emotional loveliness take the place of the usual astral attitudes, and let the etheric body shine with life and be electric and magnetic. All of these are aspects of light. Any vibration, in a way—I mean, vibration can take the form of light, but light and sound and color in a way are all equivalent. They are all a vibration; it just depends on how they are perceived.
Vì vậy, trí trừu tượng tham gia vào việc đan dệt này, cùng với những tư tưởng cao siêu, những trực giác tiếp nhận được và những xung động ý chí của chính chúng ta. Tất cả những điều này đều đến từ Tam Nguyên Tinh Thần, đi xuống theo sợi ánh sáng đầu tiên mà chúng ta đã phóng chiếu được khi vươn ra từ hạ trí được linh hồn thấm nhuần. Dĩ nhiên, tất cả đều ở ngay đây, và chúng ta cần hình dung nhiều chi tiết kỹ thuật này, nhưng thực tại lại khác với những gì chúng ta có thể nghĩ. Đó đơn giản là vấn đề nhạy cảm với cái luôn bao quanh và thấm nhuần chúng ta; đôi khi chúng ta cần giàn giáo của những khái niệm này để tìm ra phương pháp bước vào cái luôn hiện diện. Vì vậy, chúng ta đan dệt cây cầu này bằng ý định, bằng sự hình dung của mình—vì điều đó thực sự giúp tạo nên cây cầu ánh sáng—bằng hành động phóng chiếu, cùng với một số Quyền năng từ huyền thuật; rồi sự đáp ứng sẽ đến, và cây cầu sẽ vận hành theo hai chiều: khẩn cầu theo quan điểm của chúng ta và gợi lên theo quan điểm của Tam Nguyên Tinh Thần. Tam Nguyên Tinh Thần và chân thần được gợi lên, còn Đức Cha lao tới đón người con đang đến gần. Người con hoang đàng đang trở về nhà, và tất cả diễn ra qua sự thăng lên dọc theo antahkarana; đó là cuộc hồi hương theo cây cầu ánh sáng đã được kiến tạo. Theo quan điểm này, “Hãy để ánh sáng của bạn tỏa chiếu” có nghĩa là xây dựng antahkarana. Vì vậy, “hãy để ánh sáng của bạn tỏa chiếu” có thể mang nhiều ý nghĩa, nhưng theo nghĩa huyền môn, nó có nghĩa là xây dựng antahkarana. Hiển nhiên, nó cũng có nghĩa là soi sáng thể trí, để vẻ đẹp cảm xúc thay thế những thái độ cảm dục thông thường, và để thể dĩ thái tỏa sáng với sự sống, trở nên có điện tính và từ tính. Tất cả những điều này đều là các phương diện của ánh sáng. Theo một nghĩa nào đó, bất kỳ rung động nào—ý tôi là, rung động có thể mang hình thức ánh sáng, nhưng ánh sáng, âm thanh và màu sắc, theo một nghĩa nào đó, đều tương đương. Tất cả đều là rung động; chỉ tùy thuộc vào cách người ta nhận biết chúng.
[73] Service, an understanding of the Way, and the building of the true line of escape—
[73] Phụng sự, sự thấu hiểu Đường Đạo, và việc xây dựng đường thoát chân thực—
not escape for selfish purposes, but escape to be recharged, and to bring back into the world the treasures which are found above. Maybe the angel with the flaming sword and the dragon are similar: they're guarding a treasure, and you have to pass them by a certain vibrational achievement in order to enter the treasure house, and then you have to be able to bring the treasure down. Maybe there's something about Jack and the Beanstalk here, where a great beanstalk grows up into heaven, where lives the giant—great and powerful forces—and one goes down the beanstalk carrying the treasure from the giant. Is the giant happy? Were the gods happy when Prometheus stole fire? Is there a revenge of the gods upon those who bring down the treasures from heaven? Well, that's built into the mythology of many civilizations and cultures, so maybe there is.
không phải thoát ly vì những mục đích ích kỷ, mà là thoát ly để được nạp lại năng lượng và mang về thế gian những kho báu tìm thấy ở cõi trên. Có lẽ thiên thần cầm thanh kiếm rực lửa và con rồng cũng tương tự nhau: họ đang canh giữ một kho báu, và bạn phải vượt qua họ bằng một thành tựu rung động nhất định để bước vào kho tàng, rồi bạn phải có khả năng mang kho báu ấy xuống. Có lẽ ở đây có điều gì đó liên quan đến Jack và Cây Đậu Thần, trong đó một cây đậu khổng lồ vươn lên cõi trời, nơi người khổng lồ cư ngụ—những mãnh lực vĩ đại và hùng mạnh—rồi người ta trèo xuống cây đậu, mang theo kho báu của người khổng lồ. Người khổng lồ có vui không? Các vị thần có vui khi Prometheus đánh cắp lửa không? Liệu các vị thần có báo thù những người mang kho báu từ cõi trời xuống chăng? Điều đó đã ăn sâu vào thần thoại của nhiều nền văn minh và văn hóa, nên có lẽ là có.
[74] that is the task to be carried forward upon the Path of Discipleship.
[74] đó là nhiệm vụ phải được xúc tiến trên Con Đường Đệ Tử.
Service, and understanding of the way—the way being the antahkarana, and the way, the path, in the Paths of Discipleship and of Initiation—and the building of the true line of escape into the higher worlds, where the higher dimensions can be touched and the higher energies accessed, and they can be brought into connection with the lower worlds. This is what we need to regenerate the lower worlds.
Phụng sự và thấu hiểu con đường—con đường là antahkarana, đồng thời là con đường, Đường Đạo, trong Con Đường Đệ Tử và Con Đường Điểm Đạo—cùng với việc xây dựng con đường thoát ly đích thực vào các cõi cao, nơi chúng ta có thể tiếp xúc với những chiều kích cao hơn và tiếp cận các năng lượng cao hơn, rồi đưa chúng vào mối liên hệ với các cõi thấp. Đây là điều chúng ta cần để tái sinh các cõi thấp.
that is the task to be carried forward upon the path of discipleship.
đó là nhiệm vụ cần được tiếp tục trên Con Đường Đệ Tử.
[75] Such is the object set before all the students of the esoteric sciences at this time,—
[75] Đây là mục tiêu được đặt trước tất cả các đạo sinh của các khoa học huyền bí vào lúc này,—
We're studying the arts and sciences. Art is the ability to do well what science reveals—maybe I'll just say that art is the ability to do well and intuitively that which science reveals as factual.
Chúng ta đang nghiên cứu các nghệ thuật và khoa học. Nghệ thuật là khả năng thực hiện tốt điều mà khoa học mặc khải—có lẽ tôi chỉ nên nói rằng nghệ thuật là khả năng thực hiện tốt và bằng trực giác điều mà khoa học mặc khải là sự thật.
So such is the object set before all the students of the esoteric sciences at this time,
Vì vậy, đó là mục tiêu được đặt ra trước tất cả các đạo sinh của những môn khoa học huyền bí vào lúc này,
[76] provided they desire it enough,
[76] miễn là họ đủ khao khát nó,
Notice the intensification of desire is needed; this is aspiration. Desiring something high enough, something high and sufficiently so, is aspiration,
Hãy lưu ý rằng cần tăng cường dục vọng; đây chính là khát vọng. Khát khao một điều đủ cao cả, một điều cao cả và với mức độ đầy đủ, chính là khát vọng,
[77] and can train themselves to work selflessly for their fellow men.
[77] và có thể tự đào luyện mình [Page 161] để làm việc vô ngã cho đồng loại.
So: keen desire, aspiration and selfless service, and then this task will be achieved. We will serve; we will understand the way that leads to the three divine aspects, and will bring greater illumination to humanity, and will set them upon the proper path of the reversed wheel, and we'll be able to help reverse that wheel, or help them reverse it for themselves; and then the building of the true line of escape from the worlds in which our consciousness has been enthralled, captivated. We use things in a reverse manner. You say, “Oh, you look enthralling,” or “Oh, you look so glamorous,” as if this is a great compliment, but what it means is that the lower energies, the beauty of the lower energies, are so strong that they lure you in, and you find yourself imprisoned by ancient magnetisms. So I guess we don't have a magazine yet called “Enthrall,” do we? We do have one called “Glamour.” I don't think we have one called “Illusion,” do we? It wouldn't be very attractive. Somehow glamour is interestingly still attractive to a great many people.
Vì vậy: lòng khao khát mãnh liệt, khát vọng và sự phụng sự vô ngã; khi ấy nhiệm vụ này sẽ được hoàn thành. Chúng ta sẽ phụng sự; chúng ta sẽ thấu hiểu con đường dẫn đến ba phương diện thiêng liêng, sẽ đem lại sự soi sáng lớn lao hơn cho nhân loại, sẽ đặt họ lên con đường thích hợp của bánh xe đảo chiều, và chúng ta sẽ có thể giúp đảo chiều bánh xe ấy, hoặc giúp họ tự đảo chiều nó; rồi sẽ xây dựng con đường thoát ly đích thực khỏi những cõi mà tâm thức chúng ta từng bị mê hoặc, cuốn hút. Chúng ta sử dụng sự vật theo nghĩa ngược lại. Bạn nói: “Ồ, trông bạn thật quyến rũ,” hoặc “Ồ, trông bạn thật lộng lẫy,” như thể đó là một lời khen lớn lao; nhưng thực ra điều đó có nghĩa là các năng lượng thấp, vẻ đẹp của các năng lượng thấp, mạnh đến mức dụ bạn vào, và bạn thấy mình bị giam cầm bởi những từ điện cổ xưa. Vậy tôi đoán chúng ta chưa có tạp chí nào mang tên “Mê Hoặc,” phải không? Chúng ta có một tạp chí mang tên “Ảo Cảm.” Tôi không nghĩ chúng ta có tạp chí nào mang tên “Ảo Tưởng,” phải không? Nó sẽ không hấp dẫn lắm. Bằng cách nào đó, ảo cảm vẫn có sức hấp dẫn kỳ lạ đối với rất nhiều người.
Provided they desire it enough and can train themselves to work selflessly for their fellow men,
Miễn là họ đủ khao khát mục tiêu ấy và có thể tự rèn luyện để phụng sự đồng loại một cách vô ngã,
and you see this in Mother Teresa. You see this in Father Damien; you saw it in Albert Schweitzer; you see it in the Dalai Lama. You see some of the selfless workers. You also see those who hold high office and rob their countries of billions of dollars, or whatever their currency may be. You see those who enrich themselves at the expense of others. That's hardly selfless. It's all about fear, really.
và bạn thấy điều này nơi Mẹ Teresa. Bạn thấy điều này nơi Cha Damien; bạn đã thấy nó nơi Albert Schweitzer; bạn thấy nó nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma. Bạn thấy một số người phụng sự vô ngã. Bạn cũng thấy những người giữ chức vụ cao nhưng cướp đoạt hàng tỷ đô-la của đất nước họ, hoặc bất kỳ loại tiền tệ nào của họ. Bạn thấy những người làm giàu cho mình bằng tổn thất của người khác. Điều đó hoàn toàn không vô ngã. Thực ra, tất cả đều liên quan đến nỗi sợ hãi.
[78] As they succeed in doing this and approximate ever more closely to that which is not the pairs of opposites (and thus achieve “the Central Way”),
[78] Khi họ thành công trong việc này và ngày càng tiến gần hơn đến điều không phải là một trong hai cực đối lập, và nhờ đó đạt được “Con Đường Trung Tâm,”
which is eventually the way of pure being or of the essence. It's not division; it's not attraction. Division can belong to the Divine Separator on the third ray, attraction to the second ray, but the way between is the way of homogeneity, the way of recognized essence, the way of recognized substance.
mà cuối cùng là con đường của Bản Thể thuần khiết hay của tinh chất. Đó không phải là phân chia; cũng không phải là hấp dẫn. Sự phân chia có thể thuộc về Đấng Phân Cách Thiêng Liêng trên cung ba, còn sự hấp dẫn thuộc cung hai; nhưng con đường ở giữa là con đường đồng nhất, con đường của tinh chất được nhận biết, con đường của chất liệu được nhận biết.
[79] steadily the Law of Repulse begins to swing into operation.
[79] thì Định luật Đẩy Lùi dần dần bắt đầu vận hành.
So, because really the Law of Repulse is of the spirit—is of the spirit, which is being, essence, substance, reality, oneness, all these words. It's neither the attraction of things for each other, or the separation of things from each other, but it is that of which all things are composed.
Vì thực ra Định luật Đẩy Lùi thuộc về tinh thần—thuộc về tinh thần, tức Bản Thể, tinh chất, chất liệu, thực tại, tính duy nhất, cùng tất cả những từ này. Nó không phải là sự hấp dẫn giữa các sự vật, cũng không phải sự phân cách các sự vật khỏi nhau, mà là cái cấu thành mọi sự vật.
So this object before all of us: reviewing this, this is our task—to serve, to understand the way, and, while in the world, to be in the world yet not of the world, and to build the true line of escape. This is our task, and we can do it if we have sufficient aspiration, keen enough, if we work selflessly for our fellow men; or we cannot accomplish these three things: effective service, showing the way, and escaping into the higher worlds and coming back with the great treasures for the amelioration of conditions below. It's related to the three great demands, I think, in Rule Two and Three, is it, of the fourteen rules.
Vì vậy, khi ôn lại mục tiêu đặt ra trước tất cả chúng ta, đây là nhiệm vụ của chúng ta—phụng sự, thấu hiểu con đường, và khi đang ở trong thế gian, vẫn sống trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian, đồng thời xây dựng con đường thoát ly đích thực. Đây là nhiệm vụ của chúng ta, và chúng ta có thể thực hiện nếu có khát vọng đủ mạnh mẽ, đủ mãnh liệt, nếu chúng ta phụng sự đồng loại một cách vô ngã; nếu không, chúng ta không thể hoàn thành ba điều này: phụng sự hữu hiệu, chỉ ra con đường, thoát vào các cõi cao rồi trở về với những kho báu vĩ đại nhằm cải thiện các tình trạng bên dưới. Tôi nghĩ điều này liên hệ với ba đòi hỏi lớn trong Quy luật Hai và Ba, phải vậy không, của mười bốn quy luật.
As they succeed in doing this and approximate ever more closely to that which is not the pairs of opposites
Khi thành công trong việc này và ngày càng tiến gần hơn đến cái không thuộc các cặp đối cực
—neither cohesion nor separation—
—không phải cố kết cũng không phải phân cách—
and thus achieve the central way,
và nhờ đó đạt được Con Đường Trung Tâm,
steadily the Law of Repulse begins to swing into operation,
Định luật Đẩy Lùi dần dần bắt đầu vận hành,
and we tend to look to the right and the left, to the right and left, and say with the ancient Brahmins, or Vedantists, “neti, neti”—not this, not that; not to the right, not to the left—but the central way, which leads to reality.
và chúng ta có khuynh hướng nhìn sang phải rồi sang trái, sang phải và sang trái, và nói như những người Bà-la-môn hoặc những người theo Vedanta thời xưa: “không phải cái này, không phải cái kia”—không sang phải, không sang trái—mà là Con Đường Trung Tâm dẫn đến thực tại.
[80] When the third initiation is taken, this law will begin to hold the dominant place
[80] Khi lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận, định luật này sẽ bắt đầu giữ vị trí chủ đạo trong việc cai quản đời sống.
So even though it's active on the Path of Discipleship before this, it becomes very active, active at first on the Path of Discipleship and then increasingly active on the Path of Initiation, leading to the fourth initiation, at which point we repulse and burn the entire causal body. So it begins to hold the dominant place in life, and these people may feel warm in heart and so forth, but their intentions are remote from the intentions of the average man, and are aimed at polarization within the worlds where being means something. Who is to know what is the inner life of the Dalai Lama? We see his active expression and service. Towards what is he really striving? It's a life of great sacrifice and service. You can see that when they asked him what he would like, he said, well, more meditation—to meditate—because this for him is the way of deeper penetration, and yet his life calls him outward all the time. I suppose the sign Cancer calls towards the masses, and Libra, which is his rising sign, I believe, calls towards Shamballa.
Vì vậy, mặc dù đã hoạt động trên Con Đường Đệ Tử trước thời điểm này, nó trở nên rất tích cực—thoạt đầu tích cực trên Con Đường Đệ Tử, rồi ngày càng tích cực trên Con Đường Điểm Đạo—dẫn đến lần điểm đạo thứ tư, khi chúng ta đẩy lùi và thiêu hủy toàn bộ thể nguyên nhân. Vì thế, nó bắt đầu giữ địa vị chi phối trong đời sống; những người này có thể cảm thấy nồng ấm trong tâm và vân vân, nhưng ý định của họ khác xa ý định của người bình thường, và hướng đến sự phân cực trong những cõi mà Bản Thể mang một ý nghĩa nào đó. Ai có thể biết đời sống nội tâm của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra sao? Chúng ta thấy biểu hiện tích cực và sự phụng sự của Ngài. Ngài thực sự đang nỗ lực hướng đến điều gì? Đó là một đời sống hy sinh và phụng sự lớn lao. Bạn có thể thấy điều đó khi người ta hỏi Ngài mong muốn điều gì, Ngài nói rằng muốn tham thiền nhiều hơn—tham thiền—bởi đối với Ngài, đây là con đường thâm nhập sâu sắc hơn, thế nhưng cuộc đời luôn kêu gọi Ngài hướng ra bên ngoài. Tôi cho rằng dấu hiệu Cự Giải kêu gọi hướng đến quần chúng, còn Thiên Bình, mà tôi tin là dấu hiệu mọc của Ngài, kêu gọi hướng đến Shamballa.
[81] The word “repulse” has an unfortunate connotation in many minds,
[81] Từ “đẩy lùi” mang một hàm ý không may mắn trong nhiều tâm trí,
not unlike the second of the great Invocations: “Let the Lords of Liberation issue forth” (Externalisation) and “Let Light and Love and Power and Death fulfil the purpose of the Coming One.” (Externalisation) People are not so eager to embrace the word “death.”
không khác lời thứ hai trong các Đại Khấn Nguyện: “Cầu xin các Đấng Giải Thoát tiến ra” (Sự Hiển Lộ) và “Cầu xin Ánh sáng, Tình thương, Quyền năng và Cái Chết hoàn thành thiên ý của Đấng Đang Đến.” (Sự Hiển Lộ) Người ta không mấy háo hức đón nhận từ “cái chết.”
The word repulse has an unfortunate connotation in many minds,
Từ đẩy lùi mang một hàm ý đáng tiếc trong tâm trí nhiều người,
[82] and this revulsion against the word itself indicates man’s innately spiritual bias.
[82] và chính sự ác cảm đối với từ này cho thấy khuynh hướng tinh thần vốn có của con người.
And by “spiritual” we mean unitive, cohesive. In this context it means unitive, cohesive, even loving.
Và khi nói “tinh thần”, chúng ta muốn nói đến sự hợp nhất, cố kết. Trong bối cảnh này, nó mang nghĩa hợp nhất, cố kết, thậm chí bác ái.
[83] Repulsion, the desire to repudiate, and repulsive attitudes, words and deeds evoke in our minds all that is unpleasant to contemplate.
[83] Sự đẩy lùi, dục vọng khước từ, cùng những thái độ, lời nói và hành động gây phản cảm gợi lên trong trí chúng ta mọi điều khó chịu khi suy ngẫm.
Pleasantness has to do with unity and harmony, and of course repulsion is going to drive apart all those things which would otherwise be joined in union, be joined in harmony.
Sự dễ chịu liên quan đến tính hợp nhất và hài hòa; dĩ nhiên, sự đẩy lùi sẽ xua cách xa nhau tất cả những gì lẽ ra được kết hợp trong hợp nhất và hài hòa.
[84] Yet, spiritually considered
[84] Tuy nhiên, xét về mặt tinh thần
—I suppose from the point of view of the Spiritual Triad—
—tôi cho là theo quan điểm của Tam Nguyên Tinh Thần—
[85] and scientifically viewed,
[85] và nhìn theo quan điểm khoa học,
from the true knowledge of occultism,
từ tri thức chân chính về huyền bí học,
[86] the word “repulse” indicates simply “an attitude towards that which is not desirable.”
[86] từ “đẩy lùi” đơn giản chỉ biểu thị “một thái độ đối với điều không đáng mong muốn.”
So if we can take away the connotation and all the emotions associated—sort of the Camelman acid conditioning to the word “repulse”—we will see that it indicates an attitude towards that which is not desirable. And what is not desirable depends upon the point on the ladder of evolution on which the individual stands, so that which is not desirable is changing all the time.
Vì vậy, nếu có thể loại bỏ hàm ý cùng mọi cảm xúc liên quan—một dạng tác động liên tưởng axit kiểu Camelman gắn với từ “đẩy lùi”—chúng ta sẽ thấy nó biểu thị một thái độ đối với điều không đáng mong muốn. Và điều gì không đáng mong muốn tùy thuộc vào bậc thang tiến hóa nơi cá nhân đang đứng, nên điều không đáng mong muốn luôn thay đổi.
[87] This, in its turn (as we seek to determine that which is desirable) calls into activity the virtues of discrimination,
[87] Đến lượt nó, khi chúng ta tìm cách xác định điều gì là đáng mong muốn, điều này đưa vào hoạt động các đức tính phân biện,
—mentality, right?—
—trí tuệ, phải không?—
[88] dispassion,
[88] điềm nhiên và
—emotionality—
—cảm xúc—
[89] discipline
[89] kỷ luật
—physicality—
—thể chất—
[90] in the disciple’s life,
[90] trong đời sống của đệ tử, cũng như quyền năng phi tập trung vào bản thân.
So let's give them their proper allocation. This, discrimination, is in the mind; dispassion in relation to the astral vehicle; and discipline—although the word “discipline” can stretch across the whole gamut—in relation to the etheric-physical body. So we repulse what is undesirable because we are satiated by it. We have seen what it can give, and what it can give is less than that which is awakening within us and giving us visions of higher possibilities. Then we try to turn to that which is desirable. It will be in the interior life: the mental discrimination, emotional dispassion, physical disciplines, and also decentralization. So right there you see how these four D's are related in relation to the personality: discrimination in relation to the mind, dispassion in relation to the astral vehicle, discipline for the physical vehicle, and decentralization for the personality—finding a different center altogether than the personal center that one had held. And oftentimes the other three—discrimination, dispassion and discipline—assist with this fourth task of decentralization.
Vì vậy, hãy phân bổ chúng cho đúng. Sự phân biện thuộc thể trí; vô dục liên quan đến vận cụ cảm dục; còn kỷ luật—dù từ “kỷ luật” có thể trải rộng trên toàn bộ phạm vi—liên quan đến thể dĩ thái-hồng trần. Vì vậy, chúng ta đẩy lùi điều không đáng mong muốn vì đã chán ngấy nó. Chúng ta đã thấy nó có thể đem lại điều gì, và điều nó có thể đem lại kém hơn cái đang thức tỉnh bên trong chúng ta và cho chúng ta những linh ảnh về các khả năng cao siêu hơn. Khi ấy, chúng ta cố gắng hướng đến điều đáng mong muốn. Điều đó sẽ nằm trong đời sống nội tâm: sự phân biện trí tuệ, vô dục cảm xúc, các kỷ luật thể chất, và cả sự phi tập trung vào bản thân. Ngay tại đây, bạn thấy bốn phẩm tính này liên hệ với phàm ngã như thế nào: phân biện liên quan đến thể trí, vô dục liên quan đến vận cụ cảm dục, kỷ luật dành cho vận cụ hồng trần, và phi tập trung vào bản thân dành cho phàm ngã—tìm một trung tâm hoàn toàn khác với trung tâm cá nhân mà người ta từng duy trì. Và thường thì ba phẩm tính kia—phân biện, vô dục và kỷ luật—hỗ trợ nhiệm vụ thứ tư này là phi tập trung vào bản thân.
I wonder how many D's we could begin to pile up here. It seems to be, in general, the whole process—it's obvious, isn't it?—and that's a word that's commonly used to encourage certain keynotes to be developed: the summation word is detachment. And it was one of those keywords for Alice Bailey herself; it is always a keyword somehow for a second-ray type, second-ray soul type. So the summation word is detachment.
Tôi tự hỏi chúng ta còn có thể chồng chất bao nhiêu từ bắt đầu bằng cùng một chữ ở đây. Nhìn chung, dường như đó là toàn bộ tiến trình—điều này hiển nhiên, phải không?—và đó là một từ thường được dùng để khuyến khích phát triển một số chủ âm nhất định: từ tổng kết là tách rời. Và đó là một trong những từ khóa dành cho chính Alice Bailey; bằng cách nào đó, nó luôn là từ khóa đối với người cung hai, kiểu linh hồn cung hai. Vì vậy, từ tổng kết là tách rời.
[91] These words indicate the urge to devaluate the unreal and the undesirable,
[91] Những từ này chỉ ra thôi thúc hạ giá trị cái không thực và điều không đáng mong muốn,
There's another D word, right? It's really good, because value has to do with what you desire. So remove desire from the unreal and the undesirable,
Lại thêm một từ bắt đầu bằng cùng chữ ấy, phải không? Nó thực sự rất thích hợp, bởi giá trị liên quan đến điều bạn ham muốn. Vì vậy, hãy loại bỏ dục vọng đối với điều không thực và không đáng mong muốn,
[92] to discipline the lower nature till those choices are readily and easily made
[92] kỷ luật bản chất thấp cho đến khi những lựa chọn
—well, all aspects of the lower nature, but the physical vehicle very much so, at least in the beginning—
—tất cả các phương diện của bản chất thấp, nhưng đặc biệt là vận cụ hồng trần, ít nhất vào lúc ban đầu—
[93] which lead to the discarding of that which imprisons or impedes the soul.
[93] dẫn đến việc loại bỏ điều giam hãm hay cản trở linh hồn được thực hiện một cách sẵn sàng và dễ dàng.
A lot of D's here. So we finally reject, we finally throw away. This is a Plutonic act: to discard is a Plutonic act—eject, reject, cast out of one's system, discard. We cannot carry with us the poison of the ages. We have to throw it back out for regeneration, and that will increase the power of our system as a regenerator of negative energies, and we will be able to deal with all that has been rejected in a redemptive manner.
Ở đây có rất nhiều từ bắt đầu bằng cùng một chữ. Vì vậy, cuối cùng chúng ta khước từ, cuối cùng chúng ta vứt bỏ. Đây là một hành động thuộc Sao Diêm Vương: loại bỏ là một hành động thuộc Sao Diêm Vương—tống ra, khước từ, đẩy ra khỏi hệ thống của mình, loại bỏ. Chúng ta không thể mang theo chất độc của các thời đại. Chúng ta phải thải nó trở lại để được tái sinh, và điều đó sẽ gia tăng quyền năng của hệ thống chúng ta với tư cách một tác nhân tái sinh các năng lượng tiêu cực; khi ấy, chúng ta sẽ có thể xử lý tất cả những gì đã bị khước từ theo cách cứu chuộc.
[94] The major concepts are the definitely and carefully chosen way or procedure
[94] Những khái niệm chủ yếu là con đường hay phương thức được lựa chọn một cách rõ ràng và cẩn thận
—the way of detachment—
—con đường tách rời—
[95] which will free the soul
[95] để giải thoát linh hồn
—there's that Uranian first-ray impulse—
—đó là xung động cung một thuộc Sao Thiên Vương—
[96] from the world of forms
[96] khỏi thế giới hình tướng
—namely the dense physical vehicle of the Solar Logos, eventually, at the fourth degree—
—cụ thể là vận cụ hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế, cuối cùng, ở cấp độ thứ tư—
[97] and identify it, first of all, with itself
[97] và trước hết đồng hóa nó với chính nó
—the consciousness identified. “IDFD”: identified with a dimension in which consciousness knows itself as it is all the time and is not deluded by objectivities.
—tâm thức được đồng hóa. “Đồng hóa với một chiều kích”: đồng hóa với một chiều kích trong đó tâm thức luôn biết chính nó đúng như nó vốn là và không bị các thực tại khách quan làm mê lầm.
So it will free the soul.
Vì vậy, nó sẽ giải thoát linh hồn.
The major concepts are the definitely and carefully chosen
Những khái niệm chính là con đường hay phương thức được lựa chọn dứt khoát và cẩn thận
—carefully chosen; well, there you go, I mean, that's Saturn and Libra—
—được lựa chọn cẩn thận; điều đó chính là Sao Thổ và Thiên Bình—
way or procedure which will free the soul from the world of forms and identify it first of all
sẽ giải thoát linh hồn khỏi thế giới hình tướng và trước hết đồng hóa nó
—not ultimately, but first of all—
—không phải sau cùng, mà trước hết—
with itself:
với chính nó:
consciousness identified as consciousness; then consciousness identified with the deeper source, being; then consciousness identified as being—that comes later.
tâm thức được đồng hóa với tư cách tâm thức; rồi tâm thức được đồng hóa với nguồn cội sâu xa hơn, tức Bản Thể; sau đó tâm thức được đồng hóa với tư cách Bản Thể—điều đó đến sau.
[98] (thus freeing it from the world illusion), and then with the world of souls, which is the consciousness of the Oversoul.
[98] —nhờ đó giải thoát nó khỏi ảo tưởng thế gian—rồi với thế giới của các linh hồn, vốn là tâm thức của Đại Hồn.
So one knows oneself as the Oversoul. Emerson wrote about that. And this is the soul of the Great Life in whom we live and move and have our being, and of many lives greater than we are along the way. It's not an immediate leap into flawless identification with the consciousness of the Planetary Logos. It's a slow process, and ever greater spheres of consciousness are entered, and these are in a sense the consciousness of greater composite beings. They are entered, and eventually we enter into the consciousness of the Planetary Logos itself. But of course, that's not the end; that's just the beginning.
Vì vậy, người ta biết mình là đại hồn. Emerson đã viết về điều đó. Và đây là linh hồn của Sự Sống Vĩ Đại mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn, cũng như linh hồn của nhiều sự sống lớn lao hơn chúng ta trên đường tiến bước. Đây không phải là một bước nhảy tức thời vào sự đồng hóa hoàn hảo với tâm thức của Đức Hành Tinh Thượng Đế. Đó là một tiến trình chậm rãi, trong đó chúng ta bước vào những khối cầu tâm thức ngày càng lớn lao hơn; theo một nghĩa nào đó, đây là tâm thức của những Sinh Mệnh tổng hợp lớn lao hơn. Chúng ta bước vào các khối cầu ấy và cuối cùng bước vào chính tâm thức của Đức Hành Tinh Thượng Đế. Nhưng dĩ nhiên, đó không phải là điểm kết thúc; đó chỉ là khởi đầu.
So freedom through the Law of Repulse, and through discrimination, dispassion, discipline, decentralization and detachment—these five D's I have memorized, although sometimes putting them in the wrong place. But detachment is the overall process, and one even has to detach from the causal body, in which one can focus when one decentralizes from the personality. But one has continually to decentralize along the way and find that one is not that which is the causal body at all; one is the life itself, one is the pure being within various spheres. And then one continues to detach from those spheres and finds eventually, I suppose, that the sphere of the universe is the last containment. But although it's been done endless times—endless times—it's still a process for us in time and space, at this time and in this space.
Vì vậy, tự do đạt được qua Định luật Đẩy Lùi, qua phân biện, vô dục, kỷ luật, phi tập trung vào bản thân và tách rời—tôi đã ghi nhớ năm phẩm tính này, dù đôi khi đặt chúng sai chỗ. Nhưng tách rời là tiến trình bao quát, và người ta thậm chí phải tách rời khỏi thể nguyên nhân, nơi người ta có thể tập trung khi phi tập trung khỏi phàm ngã. Nhưng trên đường tiến bước, người ta phải liên tục phi tập trung và nhận ra rằng mình hoàn toàn không phải là thể nguyên nhân; người ta là chính sự sống, là Bản Thể thuần khiết trong nhiều khối cầu khác nhau. Rồi người ta tiếp tục tách rời khỏi những khối cầu ấy và cuối cùng nhận ra, tôi cho là vậy, rằng khối cầu vũ trụ là giới hạn bao chứa cuối cùng. Nhưng mặc dù điều này đã được thực hiện vô số lần—vô số lần—đối với chúng ta, vào lúc này và trong không gian này, nó vẫn là một tiến trình trong thời gian và không gian.
Endless recurrence: I read that Nietzsche drove himself quite mad with the idea of eternal recurrence, but his view of it was that in every universe the recurrence would be exact, and so there would be an exact repetition. And I think what was being missed there was the principle of unrepeatability. After all, you never run out of possibilities in the infinite possibility. The Great Absolute is infinite in possibility, so there's no need for any moment in time-space to repeat any other with exactitude—the law of unrepeatability, we might call it. So endless recurrence in terms of cyclically appearing universes forever? Yes. But in terms of the sameness of any slightest moment? No. Sameness exists only in essence, and difference, at least to consciousness, exists in the configuration of the various parts of any universe. A little fugue into philosophy there.
Sự tái diễn vô tận: tôi từng đọc rằng Nietzsche đã khiến mình gần như phát điên vì ý tưởng về sự tái diễn vĩnh cửu, nhưng quan điểm của ông là trong mỗi vũ trụ, sự tái diễn sẽ hoàn toàn chính xác, nên sẽ có sự lặp lại y hệt. Và tôi nghĩ điều bị bỏ sót ở đây là nguyên khí không thể lặp lại. Xét cho cùng, những khả năng trong tiềm năng vô hạn không bao giờ cạn kiệt. Đấng Tuyệt Đối Vĩ Đại có tiềm năng vô hạn, nên không cần bất kỳ khoảnh khắc nào trong thời-không phải lặp lại chính xác một khoảnh khắc khác—chúng ta có thể gọi đây là định luật không thể lặp lại. Vậy sự tái diễn vô tận theo nghĩa các vũ trụ xuất hiện theo chu kỳ mãi mãi thì sao? Có. Nhưng theo nghĩa bất kỳ khoảnh khắc nhỏ bé nào cũng giống hệt nhau thì sao? Không. Sự tương đồng chỉ tồn tại trong tinh chất, còn sự khác biệt—ít nhất đối với tâm thức—tồn tại trong cách sắp đặt các thành phần khác nhau của bất kỳ vũ trụ nào. Đó là một khúc chuyển nhỏ sang triết học.
[99] There is no need to enlarge here upon the technique whereby this choice is to be made.
[99] Ở đây không cần nói rộng thêm về kỹ thuật nhờ đó sự lựa chọn này phải được thực hiện.
So here we have “carefully chosen.” I think I want to emphasize those words: a carefully chosen way to tread. We are always choosing where we put our next step, whether it goes straight forward, or rises, or descends, or deviates in some way, or whether it goes backwards. We do have the cube of space here: forward, backward, left, right, up, down. The next step is our choice.
Vì vậy, ở đây chúng ta có cụm “được lựa chọn cẩn thận.” Tôi nghĩ mình muốn nhấn mạnh những từ ấy: một con đường tiến bước được lựa chọn cẩn thận. Chúng ta luôn lựa chọn nơi đặt bước chân kế tiếp, liệu nó đi thẳng về phía trước, đi lên, đi xuống, lệch theo một hướng nào đó hay đi lùi. Ở đây chúng ta thực sự có khối lập phương không gian: trước, sau, trái, phải, trên, dưới. Bước kế tiếp là sự lựa chọn của chúng ta.
There's no need to enlarge upon the technique whereby this choice is made,
Không cần bàn rộng về kỹ thuật thực hiện sự lựa chọn này,
we might say in time—“TAS,” time and space. Oh, that's a good one, wouldn't you think? TAS, time and space, a nice abbreviation. So in time and space there are six possible choices—up, down, left, right, forward, backward—and our way is forward and up, I would say, and not backward and down. And if we know the way between the pairs of opposites, it will be neither to the left nor to the right.
chúng ta có thể nói là trong thời gian—“thời-không,” thời gian và không gian. Ồ, đó là một cách gọi hay, bạn không nghĩ vậy sao? Thời-không, thời gian và không gian, một cách viết tắt thú vị. Vì vậy, trong thời gian và không gian có sáu lựa chọn khả hữu—trên, dưới, trái, phải, trước, sau—và tôi cho rằng con đường của chúng ta là tiến về phía trước và đi lên, chứ không phải lùi lại và đi xuống. Và nếu biết con đường giữa các cặp đối cực, chúng ta sẽ không đi sang trái cũng không sang phải.
[100] The way of discrimination, the method of dispassion and the discipline of the life have been made plain and clear by the teachings of the past two thousand years,
[100] Con đường phân biện, phương pháp điềm nhiên và kỷ luật đời sống đã được làm cho minh bạch và rõ ràng bởi giáo huấn của hai nghìn năm qua,
So we do realize the Tibetan is giving us something quite new,
Vì vậy, chúng ta thực sự nhận ra rằng Chân sư Tây Tạng đang trao cho chúng ta một điều hoàn toàn mới,
[101] and through the many books written to emphasise the teaching of the Christ and of the Buddha.
[101] và qua nhiều sách được viết nhằm nhấn mạnh giáo huấn của Đức Christ và Đức Phật.
So these are the things which are clear to us now—clear to us, not new, but still essential.
Vì vậy, đây là những điều hiện đã rõ ràng đối với chúng ta—rõ ràng, không mới, nhưng vẫn thiết yếu.
[102] Through a right understanding of these, right choice can be made,
[102] Thông qua sự thấu hiểu đúng đắn những điều này, sự lựa chọn đúng đắn có thể được thực hiện,
at every moment, if we don't allow ourselves simply to be guided by our instincts—and even that in a way is a choice, to a self-conscious individual.
trong mọi khoảnh khắc, nếu chúng ta không để mình chỉ đơn thuần chịu sự dẫn dắt của bản năng—và ngay cả điều đó, theo một nghĩa nào đó, cũng là một lựa chọn đối với một cá nhân có ngã thức.
Right choice can be made
Người ta có thể lựa chọn đúng đắn
[103] and that which should not be cherished or desired can be “repulsed”.
[103] và điều không nên được nuôi dưỡng hay mong muốn có thể [Page 162] bị “đẩy lùi”.
So we see—I think this is very important—how much the factor of choice is involved in the Law of Repulse.
Vì vậy, tôi nghĩ điều này rất quan trọng: chúng ta thấy yếu tố lựa chọn tham gia sâu sắc đến mức nào vào Định luật Đẩy Lùi.
[104] Many an earnest student (such as those who will read this Treatise) has found it of advantage to write down for himself his own personal understanding of the four words:—
[104] Nhiều đạo sinh nghiêm túc, như những người sẽ đọc Luận Khảo này, đã nhận thấy hữu ích khi tự viết ra sự thấu hiểu cá nhân của mình về bốn từ sau:—
[105] 1. Discrimination,
[105] 1. Phân biện,
[106] 2. Dispassion,
[106] 2. Điềm nhiên,
[107] 3. Discipline,
[107] 3. Kỷ luật,
[108] 4. Decentralisation.
[108] 4. Phi tập trung vào bản thân.
We know the levels to which they are assigned, and finally detachment. So rather than offer—well, I've been kind of offering my own view of these things—but let each of us pause and define these words for ourselves. Your definition is the right definition for you. It's not like going on a search for what the best minds have said about these things, or what Master DK says. Just pause at this moment: discrimination between what and what? Dispassion in relation to what? Discipline over what? Decentralization from what? And define, according to your best concentrated thought, what they mean for you, and the manner in which you may be applying them, if you are applying them.
Chúng ta biết các cấp độ được phân cho chúng, và cuối cùng là tách rời. Vì vậy, thay vì đưa ra—dù tôi cũng đã phần nào trình bày quan điểm riêng về những điều này—mỗi chúng ta hãy dừng lại và tự định nghĩa những từ ấy. Định nghĩa của bạn là định nghĩa đúng đối với bạn. Đây không phải là việc đi tìm xem những trí tuệ xuất sắc nhất đã nói gì về những điều này, hoặc Chân sư DK nói gì. Ngay lúc này, hãy dừng lại: phân biện giữa điều gì với điều gì? Vô dục đối với điều gì? Kỷ luật điều gì? Phi tập trung khỏi điều gì? Và bằng tư tưởng tập trung tốt nhất của mình, hãy xác định chúng có ý nghĩa gì đối với bạn và cách bạn có thể đang áp dụng chúng, nếu quả thật bạn đang áp dụng.
[109] One page given to each definition should suffice, if it embodies truly one’s highest thought.
[109] Một trang dành cho mỗi định nghĩa là đủ, nếu nó thực sự thể hiện tư tưởng cao nhất của một người.
Well, this is no simple sentence, we see. I think I'd like to pull this in for the members of the Morya Federation University of the Seven Rays; this would be an important thing to do. Simple things can build the bridge to higher consciousness and more empowered being, empowered action, and identification with being. One page. Maybe DK encouraged the students he had under training in his groups to do these things; perhaps it was so.
Chúng ta thấy đây không phải là một câu đơn giản. Tôi nghĩ mình muốn đưa điều này vào chương trình dành cho các thành viên của Đại học Bảy Cung thuộc Liên đoàn Morya; đây sẽ là một việc quan trọng cần làm. Những điều đơn giản có thể xây dựng cây cầu dẫn đến tâm thức cao hơn, đến trạng thái hiện tồn và hành động mạnh mẽ hơn, cũng như sự đồng hóa với Bản Thể. Một trang. Có lẽ Chân sư DK đã khuyến khích các đạo sinh mà Ngài huấn luyện trong các nhóm của Ngài thực hiện những điều này; có lẽ đúng là như vậy.
[110] Students will realise that as they practice these four virtues,
[110] Các đạo sinh sẽ nhận ra rằng khi thực hành bốn đức tính này,
“virtues”—they are called strengths; vir, strength—
“đức tính”—chúng được gọi là những sức mạnh; sức mạnh, sức mạnh—
[111] the prime characteristics of a disciple, they are thereby automatically calling into play the Law of Repulse,
[111] vốn là những đặc điểm chủ yếu của một đệ tử, họ nhờ đó tự động đưa Định luật Đẩy Lùi vào hoạt động,
So no mystery here: the practice of these four is a type of practice of the Law of Repulse,
Vì vậy, ở đây không có gì bí ẩn: việc thực hành bốn điều này là một hình thức thực hành Định luật Đẩy Lùi,
[112] which, upon the Path of Initiation, brings revelation and realisation.
[112] định luật mà trên Con Đường Điểm Đạo đem lại sự mặc khải và chứng nghiệm.
Realization is a very high state, for the fifth plane of the atmic plane, counting downward; revelation is a more general term, I think.
Chứng nghiệm là một trạng thái rất cao, liên quan đến cõi phụ thứ năm của cõi atma, tính từ trên xuống; tôi nghĩ mặc khải là một thuật ngữ tổng quát hơn.
[113] The expression of this law upon the Path of Initiation is too advanced for those who are not yet versed in the basic discriminations, and who are still far from being dispassionate.
[113] Sự biểu hiện của định luật này trên Con Đường Điểm Đạo quá cao đối với những người chưa thông thạo các sự phân biện căn bản và vẫn còn rất xa trạng thái điềm nhiên.
Yeah, but it's intriguing, isn't it? What is one repulsing upon the Path of Initiation, and who is the one repulsing? It strikes me that states of lesser, though spiritual, identification are repulsed in favor of states of greater spiritual identification. This is just a generalization, but it strikes me. There's the good and the still better and the still better, and so forth. So lesser states of unity are repulsed for greater states of unity, and there are higher and higher samadhis, as we are told.
Vâng, nhưng điều đó thật hấp dẫn, phải không? Trên Con Đường Điểm Đạo, người ta đẩy lùi điều gì, và ai là người đẩy lùi? Tôi có cảm tưởng rằng những trạng thái đồng hóa tinh thần thấp hơn bị đẩy lùi để nhường chỗ cho những trạng thái đồng hóa tinh thần cao hơn. Đây chỉ là một nhận định khái quát, nhưng tôi có cảm tưởng như vậy. Có điều tốt, rồi điều tốt hơn nữa, rồi điều còn tốt hơn nữa, v.v. Vì vậy, những trạng thái hợp nhất thấp hơn bị đẩy lùi để nhường chỗ cho những trạng thái hợp nhất cao hơn, và như chúng ta được cho biết, có những trạng thái samadhi ngày càng cao hơn.
Have you seen that picture? It's an old one, of course, because Ramakrishna died in the nineteenth century, but it's a picture of Ramakrishna. His physical body is being held up by his disciples; he's in a state of samadhi. He looks very happy, very blissful, we might say. So these are the great teachers, and they are in this state; they've worked their way into these states. Even Socrates—he has to have been an initiate—entered what was called his rapt state. Maybe not samadhi, but Socrates entered what was called “rapt,” and we have to say it's very close to the word “rapture,” where one is lifted up into a higher state altogether—not the grossly materialized version of the Rapture in the fundamentalist Christian sense, where you're driving your car and suddenly no one's driving the car because you've been raptured up into heaven and so forth. A lot of car accidents that way.
Các bạn đã thấy bức ảnh ấy chưa? Dĩ nhiên, đó là một bức ảnh cũ vì Ramakrishna qua đời vào thế kỷ mười chín, nhưng đó là ảnh của Ramakrishna. Các đệ tử đang đỡ thể xác của ông; ông đang ở trong trạng thái samadhi. Ông trông rất hạnh phúc, rất chí phúc, chúng ta có thể nói như vậy. Đó là những huấn sư vĩ đại, và họ ở trong trạng thái này; họ đã tự rèn luyện để đạt tới những trạng thái ấy. Ngay cả Socrates—ông hẳn phải là một điểm đạo đồ—cũng từng bước vào trạng thái được gọi là xuất thần. Có lẽ không phải samadhi, nhưng Socrates đã bước vào trạng thái được gọi là “xuất thần”, một từ rất gần với “niềm hoan lạc xuất thần”, trong đó người ta được nâng lên một trạng thái hoàn toàn cao hơn—không phải phiên bản vật chất hóa thô thiển của sự thăng thiên theo quan niệm Kitô giáo chính thống cực đoan, trong đó bạn đang lái xe thì đột nhiên không còn ai lái nữa vì bạn đã được đưa lên thiên đường, v.v. Theo cách ấy sẽ có rất nhiều tai nạn xe hơi.
[114] Is there need therefore to enlarge upon this law as it works out in the life of the initiate?
[114] Vì vậy, có cần nói rộng thêm về định luật này khi nó biểu hiện trong đời sống của điểm đạo đồ hay không?
He says,
Ngài nói:
[115] I think not.
[115] Tôi nghĩ là không.
But of course, maybe in his next presentation he may bring something of it.
Nhưng dĩ nhiên, có lẽ trong lần trình bày kế tiếp, Ngài có thể đề cập đôi điều về nó.
[116] The disciple seeks to achieve, without passion, pain or suffering, the distinction which lies between:
[116] Đệ tử tìm cách đạt được, không có đam mê, đau đớn hay khổ đau, sự phân biệt nằm giữa:
So in other words, divorced from common astral reaction, he seeks to achieve the distinction—so really staying in the illumined, discriminating mind.
Nói cách khác, tách khỏi phản ứng cảm dục thông thường, y tìm cách đạt được khả năng phân biệt—nghĩa là thực sự duy trì trong thể trí đã được soi sáng và có năng lực phân biện.
[117] 1. Right and wrong,
[117] 1. Đúng và sai,
These are large categories.
Đây là những phạm trù rộng lớn.
[118] 2. Good and evil,
[118] 2. Thiện và ác,
large categories;
những phạm trù rộng lớn;
[119] 3. Light and dark, spiritually understood,
[119] 3. Ánh sáng và bóng tối, được hiểu theo nghĩa tinh thần,
and darkness in a way is more blinding light, from a certain point of view;
và theo một cách nào đó, từ một quan điểm nhất định, bóng tối là ánh sáng còn chói lòa hơn;
[120] 4. Prison and liberty,
[120] 4. Nhà tù và tự do,
It's a bit of a Saturn-Pluto versus Uranus—the lower expressions of Saturn, Pluto, and even Neptune, for addiction;
Điều này hơi giống sự đối lập giữa Sao Thổ–Sao Diêm Vương và Sao Thiên Vương—những biểu hiện thấp của Sao Thổ, Sao Diêm Vương, và thậm chí Sao Hải Vương trong trường hợp nghiện ngập;
[121] 5. Love and hate,
[121] 5. Tình thương và thù ghét,
[122] 6. Introversion and extraversion. We do well to ponder on this duality
[122] 6. Hướng nội và hướng ngoại. Chúng ta nên suy ngẫm về nhị nguyên này.
The ray expression can be much modified depending on whether introversion or extraversion is obtaining. “Extraversion”—how does he spell it? X... Oh, there's the R missing: extraversion.
Biểu hiện của cung có thể biến đổi rất nhiều tùy theo khuynh hướng hướng nội hay hướng ngoại đang chiếm ưu thế. “Hướng ngoại”—Ngài viết từ ấy thế nào? Có chữ cái bị thiếu: hướng ngoại.
[123] 7. Truth and falsehood,
[123] 7. Chân lý và giả dối,
Of course, he's not always putting the good thing first, is he? Quite a bit he's putting the good thing first. Introversion and extraversion: you cannot say one's better than the other. Right, good, light—but prison is the bad thing—love, truth.
Dĩ nhiên, không phải lúc nào Ngài cũng đặt điều tốt lên trước, phải không? Khá nhiều lần Ngài đặt điều tốt lên trước. Hướng nội và hướng ngoại: chúng ta không thể nói cái này tốt hơn cái kia. Đúng, thiện, ánh sáng—nhưng ngục tù lại là điều xấu—tình thương, chân lý.
[124] 8. Mystical and occult knowledge,
[124] 8. Tri thức thần bí và huyền bí,
Occult knowledge would have to be the higher in this case: mystical knowledge based on a profound sense of duality and the merging of the poles, and occult knowledge based on identification.
Trong trường hợp này, tri thức huyền bí hẳn phải cao hơn: tri thức thần bí dựa trên ý thức sâu sắc về nhị nguyên và sự hòa nhập của hai cực, còn tri thức huyền bí dựa trên sự đồng hóa.