Tóm lược chương
Chân sư DK tổng kết Định luật Hy Sinh qua ba ý tưởng lớn: thứ nhất, Lữ Khách Vĩnh Cửu — tức chân thần — tự nguyện "chết về mặt huyền bí" bằng cách nhập vào hình tướng để nâng đỡ các sự sống thấp hơn; thứ hai, hành động đó phản chiếu sự hy sinh của Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế, những Đấng vĩ đại này cũng chịu sự chi phối của các Định luật Linh hồn trong thời kỳ biểu hiện, dù không bị ràng buộc bởi các định luật của thế giới tự nhiên; thứ ba, cái chết huyền bí đó tạo ra tiến trình hợp nhất vĩ đại, tương tự hình ảnh chiếc lá rơi xuống và hòa nhập với mặt đất — từ bản thể đi vào trạng thái đang trở thành, từ hợp nhất đi vào đa…
Commentary Laws of the Soul 21
Tóm Tắt
Ba ý tưởng chính của Định luật Hy Sinh (Luật Một)
Chân sư DK tổng kết Định luật Hy Sinh qua ba ý tưởng lớn: thứ nhất, Lữ Khách Vĩnh Cửu — tức chân thần — tự nguyện "chết về mặt huyền bí" bằng cách nhập vào hình tướng để nâng đỡ các sự sống thấp hơn; thứ hai, hành động đó phản chiếu sự hy sinh của Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế, những Đấng vĩ đại này cũng chịu sự chi phối của các Định luật Linh hồn trong thời kỳ biểu hiện, dù không bị ràng buộc bởi các định luật của thế giới tự nhiên; thứ ba, cái chết huyền bí đó tạo ra tiến trình hợp nhất vĩ đại, tương tự hình ảnh chiếc lá rơi xuống và hòa nhập với mặt đất — từ bản thể đi vào trạng thái đang trở thành, từ hợp nhất đi vào đa nguyên.
Hai ý tưởng chính của Định luật Xung Động Từ Tính (Luật Hai)
Định luật Xung Động Từ Tính, hay Định luật Kết Hợp Phân Cực, gắn liền với dấu hiệu Thiên Bình và mang hai ý tưởng cốt lõi: thứ nhất, sức hút từ tính của cực cao kéo cực thấp đi lên — được tượng trưng qua hình ảnh Đức Christ treo giữa trời và đất tại cuộc Đóng Đinh; thứ hai, sự cân bằng các mãnh lực đã được thuần thục, biểu trưng bởi hình ảnh chiếc cân của Thiên Bình và ba cây thập giá trên đồi Golgotha. Thầy MDR lưu ý rằng dấu hiệu Thiên Bình cũng liên quan đến con đường thứ hai trong Con đường Tiến Hóa Cao Siêu — con đường của huyền thuật từ tính — và suy đoán rằng Thiên Bình, cùng với Song Ngư, có thể là một trong những dấu hiệu hoàng đạo của Đức Christ Maitreya, vì Ngài là Thái tử Hòa Bình và liên quan đến Đấng Tinh thần Hòa Bình.
Ý tưởng chính của Định luật Phụng Sự (Luật Ba)
Trong Định luật Phụng Sự, vị đệ tử vừa trải qua cái chết huyền bí (Luật Một) vừa đạt được sự cân bằng giữa các cực (Luật Hai), và nhờ đó trở nên có từ tính và sức rung động mạnh mẽ đến mức phụng sự thông qua việc biểu hiện bản thể thực sự của mình — không phải qua cố gắng hay hành động có chủ ý, mà qua sự bức xạ tự nhiên của những gì mình thực sự là. Thầy MDR nhấn mạnh rằng các Định luật Linh hồn này chỉ vận hành một cách hữu thức đối với những ai đang xây dựng antahkarana và tu tập Khoa học Hợp Nhất, chứ không áp dụng một cách hữu thức cho người phàm ngã còn tập trung vào bản thân.
Định luật Đẩy Lùi (Luật Bốn) và Thiên Thần với Thanh Kiếm Lửa
Chính khi Định luật Đẩy Lùi bắt đầu phát huy tác dụng, vị đệ tử mới nhận biết sự hiện diện của Thiên Thần cầm Thanh Kiếm Lửa đứng trước cổng điểm đạo. Thầy MDR đề xuất rằng những lần chúng ta cố gắng thâm nhập vào các cõi cao hơn mà không thành công có thể chính là do hành động ngăn cản của thiên thần này — chúng ta bị đẩy lùi vì rung động chưa đủ cao. Bài kệ cổ được xướng trong tiền phòng của các Ngôi Đền tóm tắt toàn bộ hành trình của Chân Thần-trong-sự-mở-rộng: "Ngài đã chết. Ngài bước vào cuộc tranh đấu. Ngài học con đường phụng sự. Ngài đứng trước cánh cửa" — và cuối cùng Ngài tiến vào trong ánh sáng với đôi mắt mở rộng, tự mình tiếp nhận thanh kiếm từ tay thiên thần và trở thành người canh giữ Thánh Địa.
Mối tương quan giữa năm Định luật Linh hồn và các cõi Tam Nguyên Tinh Thần
Thầy MDR chỉ ra mối tương quan có hệ thống giữa các lớp cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã và các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần: lớp cánh hoa ngoài cùng (thứ ba) tương ứng với thượng trí, lớp thứ hai tương ứng với Bồ đề, và lớp cánh hoa hi sinh tương ứng với cõi atma. Thầy cũng liên kết cặp Định luật: Định luật Đẩy Lùi với Định luật Hy Sinh, và Định luật Tiến Bộ Nhóm (hay Định luật Nâng Cao) với Định luật Xung Động Từ Tính — khi nhân loại tiếp xúc với cực cao hơn của mình, tức các sự sống và ánh sáng cao hơn, sẽ tự nhiên có sự nâng cao cho phương diện thấp hơn. Tiếp theo sẽ là Định luật Đáp Ứng Mở Rộng, có liên quan đến Định luật Phụng Sự, cả hai đều chịu ảnh hưởng của cung ba.
Suy tư về bản chất của thời gian, không gian và điểm vô thứ nguyên
Thầy MDR chia sẻ suy tư cá nhân về bản chất của thời gian và không gian: nếu mỗi đơn vị thời gian và không gian đều là một lượng ngày càng nhỏ đến vô cùng, thì liệu chúng có thực sự tồn tại như những đơn vị đo lường không, hay chúng chỉ là những lượng cực kỳ nhỏ đến mức có thể gọi là "bất khả bỏ qua tối hậu." Thầy kết nối điều này với ý niệm về Hiện Tại Vĩnh Cửu — rằng trong tầm nhìn của chân thần, có thể không hề có sự chuyển động trong thời gian hay không gian theo nghĩa tuyệt đối. Thầy dự định trao đổi vấn đề toán học này với người bạn thân từ thời thơ ấu, hiện sống tại Berlin, người mà Thầy nhận định có cung ba rõ nét.
Luật Tiến Bộ Nhóm và dấu hiệu Ma Kết — chủ đề kế tiếp
Thầy MDR thông báo rằng nội dung phần tiếp theo — Webinar số 22 — sẽ bắt đầu từ trang 174 của cuốn Tâm Lý Học Nội Môn II, với chủ đề Định luật Tiến Bộ Nhóm, còn gọi là Định luật Nâng Cao. Thầy nhận xét rằng điều thú vị là định luật này lại được cai quản bởi dấu hiệu Ma Kết thay vì Bảo Bình — dù Bảo Bình mới là dấu hiệu của nhóm — và điều này sẽ được khảo sát kỹ trong buổi học kế tiếp.
The Law of the Soul 21
[1] We have studied [2] an interesting sequence of Laws. In Law One, we find that three major ideas emerge:
[1] Chúng ta đã nghiên cứu [2] một chuỗi Định luật thú vị. Trong Định luật Một, chúng ta thấy ba ý tưởng chính xuất hiện:
[3] First of all, that the Eternal Pilgrim, of his own free will and accord, chose “occultly” to die [4] and took a body or series of bodies in order to raise or elevate the lives of the form nature which he embodied. [5] In the process of so doing, he himself “died”, [6] in the sense that, for a free soul, death and the taking of a form and the consequent immersion of the life in the form, are synonymous terms.
[3] Trước hết, Người Hành Hương Vĩnh Cửu, do chính ý chí tự do và sự lựa chọn của mình, đã “theo nghĩa huyền bí” chọn chết [4] và khoác lấy một thể hay một loạt các thể nhằm nâng cao hay thăng hoa những sự sống thuộc bản chất hình tướng mà Ngài thể hiện. [5] Trong tiến trình làm như vậy, chính Ngài “đã chết”, [6] theo nghĩa rằng đối với một linh hồn tự do, cái chết và việc khoác lấy một hình tướng, cùng sự chìm đắm tiếp theo của sự sống trong hình tướng, là những thuật ngữ đồng nghĩa.
[7] Secondly, that in so doing, the soul is recapitulating on a small scale what the solar Logos and the planetary Logos have likewise done, and are doing. [8] These great Lives come under the rule of the laws of the soul during the period of manifestations, even though they are not governed or controlled by the laws of the natural world, as we call it. [9] Their consciousness remains unidentified [10] with the world of phenomena, [11] though ours is identified with it until such time that we come under the rule of the higher laws. [12] By the occult “death” of these great Lives, all lesser lives can live and are proffered opportunity.
[7] Thứ hai, khi làm như vậy, linh hồn đang tái diễn trên quy mô nhỏ những gì Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế cũng đã làm và đang làm. [8] Những Sự Sống Vĩ Đại này chịu sự chi phối của các định luật của linh hồn trong thời kỳ biểu hiện, mặc dù Các Ngài không bị chi phối hay kiểm soát bởi các định luật của thế giới tự nhiên, như chúng ta gọi nó. [9] Tâm thức của Các Ngài vẫn không đồng hóa [10] với thế giới hiện tượng, [11] mặc dù tâm thức của chúng ta đồng hóa với thế giới ấy cho đến khi chúng ta chịu sự chi phối của các định luật cao hơn. [12] Nhờ “cái chết” huyền bí của những Sự Sống Vĩ Đại này, mọi sự sống thấp hơn đều có thể sống và được ban cho cơ hội.
[Page 173] Thirdly, that [13] through death, a great at-one-ing process is carried forward. [14] In the “fall of a leaf” and its consequent identification with the soil on which it falls, we have a tiny illustration of this great and eternal process of at-one-ing, through becoming and dying as a result of becoming.
[Page 173] Thứ ba, [13] thông qua cái chết, một tiến trình hợp nhất vĩ đại được xúc tiến. [14] Trong “chiếc lá rơi” và sự đồng hóa tiếp theo của nó với đất mà nó rơi xuống, chúng ta có một minh họa nhỏ bé về tiến trình hợp nhất vĩ đại và vĩnh cửu này, thông qua sự trở thành và cái chết như kết quả của sự trở thành.
[15] In Law Two, the sacrificing unit [16] —again freely and by choice—comes under the influence of the method whereby this death is brought about. [17] By the impact of the pairs of opposites and through his being “pendent” ‘twixt the two, [18] he knows the outer darkness as Christ knew it finally at the Crucifixion, where He hung, symbolically [19] pendent ‘twixt heaven and earth, and through the potency of His own inner vibration and magnetism, [20] has drawn and will draw all men to Himself. [21] This is the first great idea emerging. [22] The second emerging idea [23] concerns the balancing of the forces which have been mastered. [24] The symbol of the scales is here appropriate, and, of this truth, the three Crosses on Mount Golgotha are also symbols. [25] Libra governs this law, [26] and certain forces from that constellation can be sensed when the soul consciousness comes under the influence of the law. [27] These forces [28] are quiescent where the personality is concerned; their effect does not register, even though necessarily present.
[15] Trong Định luật Hai, đơn vị hi sinh [16] —một lần nữa, một cách tự do và do lựa chọn—chịu ảnh hưởng của phương pháp mà qua đó cái chết này được tạo ra. [17] Qua tác động của các cặp đối cực và qua việc y “treo lơ lửng” giữa hai cực, [18] y biết bóng tối bên ngoài như Đức Christ cuối cùng đã biết nó tại cuộc Đóng Đinh, nơi Ngài treo, theo nghĩa biểu tượng, [19] lơ lửng giữa trời và đất, và thông qua quyền năng của rung động cùng từ điện nội tại của chính Ngài, [20] đã thu hút và sẽ thu hút mọi người đến với chính Ngài. [21] Đây là ý tưởng lớn đầu tiên xuất hiện. [22] Ý tưởng thứ hai xuất hiện [23] liên quan đến việc quân bình các mãnh lực đã được chế ngự. [24] Biểu tượng của chiếc cân thích hợp ở đây, và ba Thập Giá trên Núi Golgotha cũng là những biểu tượng của chân lý này. [25] Thiên Bình cai quản định luật này, [26] và một số mãnh lực từ chòm sao đó có thể được cảm nhận khi tâm thức linh hồn chịu ảnh hưởng của định luật. [27] Những mãnh lực này [28] ở trạng thái tiềm tĩnh khi liên quan đến phàm ngã; ảnh hưởng của chúng không được ghi nhận, mặc dù tất yếu vẫn hiện diện.
[29] In Law Three, the sacrificing God and the God of the dualities [30] come under certain influences which produce more easily recognized effects. [31] By his death and by his victory over the pairs of opposites, [32] the disciple becomes so magnetic and vibrant, that he serves the race by becoming what he knows he is. [33] Immersed, physically, from the angle of the personality, in the waters of earthly existence, [34] yet at the same time he is aware—in consciousness—of other conditions, of his essential purpose in dying for other lives, [35] and aware also of the method which he must employ in achieving and attaining the releasing equilibrium. [36] When these ideas are dominant in the mind, [Page 174] he can serve his fellow men. These laws have this effect only as they emerge in the consciousness of the man who is building the antaskarana and who is proceeding with the Science of Union.
[29] Trong Định luật Ba, Thượng Đế Hi Sinh và Thượng Đế của các nhị nguyên [30] chịu một số ảnh hưởng tạo ra những hiệu quả dễ nhận biết hơn. [31] Qua cái chết của mình và qua chiến thắng đối với các cặp đối cực, [32] đệ tử trở nên từ tính và rung động mạnh đến mức y phụng sự nhân loại bằng cách trở thành điều mà y biết mình là. [33] Xét từ góc độ phàm ngã, về mặt thể chất y chìm trong những dòng nước của sự tồn tại trần thế, [34] nhưng đồng thời, trong tâm thức, y nhận biết những trạng thái khác, nhận biết Thiên Ý cốt yếu của mình trong việc chết vì những sự sống khác, [35] và cũng nhận biết phương pháp mà y phải sử dụng để đạt được trạng thái quân bình có sức giải thoát. [36] Khi những ý tưởng này chiếm ưu thế trong thể trí, [Page 174] y có thể phụng sự đồng loại. Những định luật này chỉ tạo ra hiệu quả như thế khi chúng xuất hiện trong tâm thức của người đang xây dựng antaskarana và đang tiến hành Khoa Học Hợp Nhất.
[37] It is when the fourth Law of Repulse is beginning to produce its effects that the disciple becomes aware of the Angel with the Flaming Sword, Who stands before the portal of initiation. [38] By this portent, he knows that he can now enter; [39] but, this time, not as a poor blind candidate, but as an initiate in the mysteries of the world. [40] The truth of this has been summed up for us in an ancient chant which used to be sung in the ante-chamber of the Temples. Some of the words may be roughly expressed as follows:
[37] Chính khi Định luật thứ tư của Đẩy Lùi bắt đầu tạo ra các hiệu quả của nó thì đệ tử trở nên nhận biết Thiên Thần với Thanh Gươm Rực Lửa, Đấng đứng trước cổng điểm đạo. [38] Qua dấu hiệu này, y biết rằng giờ đây mình có thể bước vào; [39] nhưng lần này, không phải như một ứng viên đáng thương và mù quáng, mà như một điểm đạo đồ trong những huyền nhiệm của thế giới. [40] Chân lý này đã được tóm lược cho chúng ta trong một bài tụng cổ xưa từng được xướng trong tiền sảnh của các Đền Thờ. Một số lời có thể được diễn đạt đại ý như sau:
“ [41] He enters free, he who has known the prison walls. [42] He passes into light with open eyes, [43] he who for eons long has groped the darkened corridor. [44] He passes on his way, he who has stood for ages before a fast closed door.
“[41] Y bước vào trong tự do, y là người đã biết những bức tường nhà tù. [42] Y bước vào ánh sáng với đôi mắt mở rộng, [43] y là người đã dò dẫm suốt nhiều thời đại trong hành lang tối tăm. [44] Y tiếp tục con đường của mình, y là người đã đứng qua nhiều thời đại trước một cánh cửa đóng chặt.
[45] He speaks with power the Word which opens wide the Gate of Life. [46] He stands before the Angel and takes away his sword, [47] releasing thus the Angel unto a higher task. He himself guards the doorway into the Holy Place.
[45] Y xướng Linh Từ bằng quyền năng, Linh Từ mở rộng Cánh Cổng Sự Sống. [46] Y đứng trước Thiên Thần và lấy đi thanh gươm của Ngài, [47] nhờ đó giải phóng Thiên Thần để đảm nhận một nhiệm vụ cao hơn. Chính y canh giữ lối vào Thánh Địa.
[48] He died. [49] He entered the strife. He learnt the way of service. He stands before the door.”
[48] Y đã chết. [49] Y đã bước vào cuộc tranh đấu. Y đã học con đường phụng sự. Y đứng trước cánh cửa.”
Bình Giảng Webinar Các Định Luật của Linh Hồn 21
Hello, friends. This is the continuation of the Light of the Soul Webinar Commentary series, and we're in number 21. The last one was actually a three-hour program, and I hope it wasn't overwhelming for you. Sometimes it seems best for me not to break the programs into one-hour programs specifically. Most of them are one- or two-hour programs, but occasionally there is a larger program. The number of megabytes—hopefully it's not outrageous; it's about 500 or so—and I thought you should be able to download it fairly easily, and you can stop it any time you want, and you know where you can pick it up. But sometimes I don't like to break certain subjects I'm about to complete at some awkward point.
Xin chào các bạn. Đây là phần tiếp theo của loạt Bình Giảng Webinar Ánh Sáng của Linh Hồn, và chúng ta đang ở chương trình số 21. Chương trình trước thực ra kéo dài ba giờ, và tôi hy vọng nó không khiến các bạn cảm thấy quá tải. Đôi khi tôi thấy tốt nhất là không nhất thiết phải chia các chương trình thành từng phần một giờ. Phần lớn kéo dài một hoặc hai giờ, nhưng thỉnh thoảng có một chương trình dài hơn. Dung lượng tính theo megabyte—hy vọng không quá lớn; vào khoảng 500 megabyte—và tôi nghĩ các bạn có thể tải xuống khá dễ dàng; các bạn có thể dừng lại bất cứ lúc nào và biết mình có thể tiếp tục từ đâu. Nhưng đôi khi tôi không muốn ngắt một số chủ đề sắp hoàn tất tại một điểm không thích hợp.
Anyway, we are finishing up the Law of Repulse. Pretty much we have completed it, and as I advised on the Makara website, under Commentaries on Commentaries, or pretty soon under the Law of Repulse Commentaries, there are about eight hours of programming that I did about a year ago, and they are on the specific stanzas that relate to the Law of Repulse. So I didn't see any reason to have to redo that, and you will be able to consult those very important stanzas and see how they relate to the soul ray that you have, and whether you are in the process of using the Law of Repulse. It does really continue even after—especially after—the third initiation and on the Path of Initiation, but DK has not given us indications, really, of what it is that is repulsed. Well, eventually, remember, the entire causal body is repulsed, so that will be the Law of Repulse at the fourth degree. But we have more modest use of this law as we attempt to approach the initiation for which we are preparing, whether it's the second degree in most cases (not necessarily in the same life), or maybe in some cases the third degree (not necessarily in the same life).
Dù sao, chúng ta đang hoàn tất Định luật Đẩy Lùi. Về cơ bản, chúng ta đã nghiên cứu xong định luật này, và như tôi đã thông báo trên trang web Makara, trong phần Bình Giảng về các Bình Giảng, hoặc sắp tới là trong phần Bình Giảng về Định luật Đẩy Lùi, có khoảng tám giờ chương trình mà tôi đã thực hiện cách đây chừng một năm, bàn về những bài kệ cụ thể liên quan đến Định luật Đẩy Lùi. Vì vậy, tôi thấy không có lý do gì phải làm lại phần ấy, và các bạn sẽ có thể tham khảo những bài kệ rất quan trọng đó để xem chúng liên hệ như thế nào với cung linh hồn của mình, cũng như xem liệu các bạn có đang trong tiến trình vận dụng Định luật Đẩy Lùi hay không. Định luật này thực sự vẫn tiếp tục tác động sau lần điểm đạo thứ ba—đặc biệt là sau lần điểm đạo ấy—và trên Con Đường Điểm Đạo, nhưng Chân sư DK thật ra chưa cho chúng ta biết điều gì bị đẩy lùi. Cuối cùng, hãy nhớ rằng toàn bộ thể nguyên nhân đều bị đẩy lùi; như vậy, đó sẽ là Định luật Đẩy Lùi ở cấp độ thứ tư. Nhưng chúng ta vận dụng định luật này ở mức độ khiêm tốn hơn khi cố gắng tiến gần đến cuộc điểm đạo mà mình đang chuẩn bị, dù trong phần lớn trường hợp đó là cấp độ thứ hai—không nhất thiết trong cùng một kiếp sống—hay có lẽ trong một số trường hợp là cấp độ thứ ba—cũng không nhất thiết trong cùng một kiếp sống.
So we have more modest possibilities in the use of this law. Nevertheless, it is something that really can help us proceed with the reversal of the wheel. Once the wheel reverses—I think initially, well before true discipleship is entered—the momentum of the counterclockwise movement continues to increase, and you want that to increase. It's moving against, as it were, frictionally, the clockwise movement. Eventually it becomes so powerful that a true and complete reversal is achieved somewhere between the middle point between the second and third initiation and the third initiation itself.
Vì vậy, chúng ta có những khả năng khiêm tốn hơn trong việc vận dụng định luật này. Tuy nhiên, đây là điều thực sự có thể giúp chúng ta tiến hành sự đảo chiều của bánh xe. Một khi bánh xe bắt đầu đảo chiều—tôi nghĩ lúc đầu điều này xảy ra khá lâu trước khi người ta bước vào địa vị đệ tử chân chính—thì động lượng của chuyển động ngược chiều kim đồng hồ tiếp tục gia tăng, và các bạn muốn nó gia tăng. Có thể nói, chuyển động ấy đang chống lại chuyển động theo chiều kim đồng hồ bằng sức ma sát. Cuối cùng, nó trở nên mạnh mẽ đến mức một sự đảo chiều chân thực và hoàn toàn được thực hiện ở đâu đó giữa điểm trung gian của lần điểm đạo thứ hai và thứ ba với chính lần điểm đạo thứ ba.
Now DK is going to elaborate here upon some of the Laws of the Soul that we have passed through.
Giờ đây, Chân sư DK sẽ trình bày chi tiết một số Định luật của Linh hồn mà chúng ta đã nghiên cứu.
[1] We have studied
[1] Chúng ta đã nghiên cứu
he says,
Ngài nói,
[2] an interesting sequence of Laws. In Law One, we find that three major ideas emerge:
[2] một chuỗi Định luật thú vị. Trong Định luật Một, chúng ta thấy ba ý tưởng chính xuất hiện:
Now, Law One, the Law of Sacrifice.
Định luật Thứ nhất là Định luật Hi Sinh.
[3] First of all, that the Eternal Pilgrim, of his own free will and accord, chose “occultly” to die
[3] Trước hết, Người Hành Hương Vĩnh Cửu, do chính ý chí tự do và sự lựa chọn của mình, đã “theo nghĩa huyền bí” chọn chết
Whenever there's the fourth ray involved—and the fourth ray does rule this particular law—there is a decision to be made. There is a descent and yet not a descent. The monad stays at home and yet descends as the Monad-in-Extension.
Bất cứ khi nào cung bốn có liên quan—và cung bốn thực sự cai quản định luật đặc biệt này—thì phải có một quyết định. Có một sự giáng hạ, nhưng đồng thời lại không phải là một sự giáng hạ. Chân thần vẫn ở nơi của mình, nhưng vẫn giáng hạ với tư cách Chân Thần-trong-sự-mở-rộng.
Of his own free will, the Eternal Pilgrim,
Bằng ý chí tự do của chính mình, Người Hành Hương Vĩnh Cửu,
who is the monad,
tức là chân thần,
chose occultly to die
đã chọn chết theo nghĩa huyền bí
[4] and took a body or series of bodies in order to raise or elevate the lives of the form nature which he embodied.
[4] và khoác lấy một thể hay một loạt các thể nhằm nâng cao hay thăng hoa những sự sống thuộc bản chất hình tướng mà Ngài thể hiện.
And which mostly come from the previous solar system.
Và phần lớn các sự sống ấy đến từ hệ mặt trời trước.
[5] In the process of so doing, he himself “died”,
[5] Trong tiến trình làm như vậy, chính Ngài “đã chết”,
you could say, in terms of consciousness,
có thể nói là xét về mặt tâm thức,
[6] in the sense that, for a free soul, death and the taking of a form and the consequent immersion of the life in the form, are synonymous terms.
[6] theo nghĩa rằng đối với một linh hồn tự do, cái chết và việc khoác lấy một hình tướng, cùng sự chìm đắm tiếp theo của sự sống trong hình tướng, là những thuật ngữ đồng nghĩa.
Perhaps this is why DK speaks of the eternally lovely secret of death—something we little suspect in this world, but which returns to us as a familiar experience upon every cyclic departure from an incarnation. So there is the dying. So first of all, in these three major ideas for Law One—for Law One—the Eternal Pilgrim chose to die. That is the first idea. But he still has the anchor in the higher Monadic world, even as that part of himself which is the pilgrim is going forth.
Có lẽ đây là lý do Chân sư DK nói đến bí mật đáng yêu vĩnh viễn của cái chết—một điều mà chúng ta hầu như không ngờ tới trong thế giới này, nhưng lại trở về với chúng ta như một kinh nghiệm quen thuộc mỗi khi chúng ta rời khỏi một kiếp nhập thể theo chu kỳ. Như vậy, có sự chết đi. Trước hết, trong ba ý tưởng chính của Định luật Thứ nhất—của Định luật Thứ nhất—Người Hành Hương Vĩnh Cửu đã chọn chết. Đó là ý tưởng đầu tiên. Nhưng Ngài vẫn có điểm neo trong thế giới Chân thần cao siêu, ngay cả khi phần của chính Ngài vốn là người hành hương đang tiến bước ra ngoài.
[7] Secondly, that in so doing, the soul is recapitulating on a small scale what the solar Logos and the planetary Logos have likewise done, and are doing.
[7] Thứ hai, khi làm như vậy, linh hồn đang tái diễn trên quy mô nhỏ những gì Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế cũng đã làm và đang làm.
They too chose to die for the sake of redeeming lower lives. So we are reflecting—well, we're parts of them, really—and we are reflecting their choice.
Các Ngài cũng đã chọn chết để cứu chuộc những sự sống thấp hơn. Vì vậy, chúng ta đang phản ánh sự lựa chọn của Các Ngài—thật ra, chúng ta là những bộ phận của Các Ngài.
[8] These great Lives come under the rule of the laws of the soul during the period of manifestations, even though they are not governed or controlled by the laws of the natural world, as we call it.
[8] Những Sự Sống Vĩ Đại này chịu sự chi phối của các định luật của linh hồn trong thời kỳ biểu hiện, mặc dù Các Ngài không bị chi phối hay kiểm soát bởi các định luật của thế giới tự nhiên, như chúng ta gọi nó.
So this is an amazing thought: that this series of laws, this series of Laws of the Soul, extends to very high places in consciousness, and applies in a certain mode to beings who are much higher in their development than man. So that's amazing.
Đây là một tư tưởng đáng kinh ngạc: chuỗi định luật này, chuỗi Định luật của Linh hồn này, vươn đến những cấp độ rất cao trong tâm thức và, theo một cách thức nhất định, áp dụng cho các Đấng có mức phát triển cao hơn con người rất nhiều. Quả thật, điều đó thật đáng kinh ngạc.
These great Lives come under the rule of the laws of the soul.
Các Sự Sống Vĩ Đại này chịu sự cai quản của các định luật của linh hồn.
They do have their own cosmic soul on the cosmic higher mental plane, and they have their own cosmic Solar Angels as well.
Các Ngài có linh hồn vũ trụ riêng trên cõi thượng trí vũ trụ, và cũng có các Thái dương Thiên Thần vũ trụ riêng.
[9] Their consciousness remains unidentified
[9] Tâm thức của Các Ngài vẫn không đồng hóa
They don't come under the laws of the natural world, because these laws of the natural world pertain to the dense physical bodies of the Solar Logos and Planetary Logos, which for them, as for man in relation to his dense physical body, are not principles.
Các Ngài không chịu sự chi phối của những định luật thuộc thế giới tự nhiên, bởi các định luật ấy liên quan đến những thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế; đối với Các Ngài, cũng như đối với con người trong quan hệ với thể xác đậm đặc của y, những thể ấy không phải là nguyên khí.
Their consciousness remains unidentified
Tâm thức của Các Ngài vẫn không đồng hóa với
[10] with the world of phenomena,
[10] với thế giới hiện tượng,
Remember the phenomenal universe that the Buddha talked about? So the lower eighteen or twenty-one subplanes, depending on what perspective we're using—that of the Planetary Logos or the Solar Logos.
Các bạn có nhớ vũ trụ hiện tượng mà Đức Phật đã nói đến không? Đó là mười tám hoặc hai mươi mốt cõi phụ thấp, tùy theo quan điểm mà chúng ta sử dụng—quan điểm của Hành Tinh Thượng đế hay của Thái dương Thượng đế.
Their consciousness remains unidentified with the world of phenomena,
Tâm thức của Các Ngài vẫn không đồng hóa với thế giới hiện tượng,
[11] though ours is identified with it until such time that we come under the rule of the higher laws.
[11] mặc dù tâm thức của chúng ta đồng hóa với thế giới ấy cho đến khi chúng ta chịu sự chi phối của các định luật cao hơn.
And by the higher laws, what does he mean? The higher Laws of the Soul, or still higher laws?
Và khi nói đến các định luật cao hơn, Ngài muốn nói gì? Những Định luật cao hơn của Linh hồn, hay những định luật còn cao hơn nữa?
[12] By the occult “death” of these great Lives, all lesser lives can live and are proffered opportunity.
[12] Nhờ “cái chết” huyền bí của những Sự Sống Vĩ Đại này, mọi sự sống thấp hơn đều có thể sống và được ban cho cơ hội.
So sacrifice forever offers opportunity to those who are rising and are thus far of lower status in consciousness than the sacrificing one is. So we, in sacrificing, are helping not only other human beings who have yet to reach the stage of evolution that we have reached, but we are helping the still lesser lives of the lower kingdoms, who are also on their way, rising through the kingdoms. So that was the second—let's call it the second factor: imitating the Solar Logos and Planetary Logos in their higher version of the Law of Sacrifice.
Như vậy, sự hi sinh mãi mãi đem lại cơ hội cho những ai đang vươn lên và cho đến nay vẫn có địa vị tâm thức thấp hơn Đấng hi sinh. Vì vậy, khi hi sinh, chúng ta không chỉ giúp đỡ những người khác chưa đạt đến giai đoạn tiến hóa mà chúng ta đã đạt tới, mà còn giúp những sự sống thấp hơn nữa trong các giới thấp, vốn cũng đang trên đường vươn lên xuyên qua các giới. Đó là yếu tố thứ hai—hãy gọi nó như vậy: noi theo Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế trong biểu hiện cao hơn của Các Ngài về Định luật Hi Sinh.
And the third factor:
Và yếu tố thứ ba:
[13] through death, a great at-one-ing process is carried forward.
[13] thông qua cái chết, một tiến trình hợp nhất vĩ đại được xúc tiến.
We need to at-one—well, maybe it'd be better to put it this way—we need to at-one the world of the soul and the phenomenal worlds, and also the worlds of the Triad and the phenomenal worlds.
Chúng ta cần hợp nhất—có lẽ diễn đạt thế này sẽ tốt hơn—chúng ta cần hợp nhất thế giới của linh hồn với các thế giới hiện tượng, đồng thời hợp nhất các thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần với các thế giới hiện tượng.
[14] In the “fall of a leaf” and its consequent identification with the soil on which it falls, we have a tiny illustration of this great and eternal process of at-one-ing, through becoming and dying as a result of becoming.
[14] Trong “chiếc lá rơi” và sự đồng hóa tiếp theo của nó với đất mà nó rơi xuống, chúng ta có một minh họa nhỏ bé về tiến trình hợp nhất vĩ đại và vĩnh cửu này, thông qua sự trở thành và cái chết như kết quả của sự trở thành.
So this is the descent from being to becoming, and we go from oneness into multiplicity. To go from oneness into multiplicity is occultly to die—occultly to die. So, thirdly, at-one-ing.
Đây là sự giáng hạ từ Bản Thể xuống trạng thái đang trở thành, và chúng ta đi từ nhất thể vào đa thể. Đi từ nhất thể vào đa thể, theo nghĩa huyền bí, chính là chết đi—chết đi theo nghĩa huyền bí. Vì vậy, ý tưởng thứ ba là sự hợp nhất.
So we have three factors here—three major ideas for Law One. The first factor is occultly dying. The second factor is imitating the Solar Logos and Planetary Logos in their much higher expression of the Law of Sacrifice—yet nevertheless an expression of the Law of Sacrifice, probably to be considered on a cosmic level. And the third factor related to this Law of Sacrifice is that at-one-ing is achieved through this dying. So in the fall of a leaf—well, our consciousness falls into lower areas of consciousness, and we do identify with those lower areas, but we do come to ourselves, and in coming to ourselves, we raise all those with which or with whom we have hitherto been wrongly identified.
Như vậy, ở đây chúng ta có ba yếu tố—ba ý tưởng chính của Định luật Thứ nhất. Yếu tố đầu tiên là chết đi theo nghĩa huyền bí. Yếu tố thứ hai là noi theo Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế trong biểu hiện cao hơn rất nhiều của Các Ngài về Định luật Hi Sinh—tuy nhiên, đó vẫn là một biểu hiện của Định luật Hi Sinh, có lẽ phải được xem xét trên cấp độ vũ trụ. Yếu tố thứ ba liên quan đến Định luật Hi Sinh này là sự hợp nhất được thành tựu thông qua việc chết đi ấy. Vì vậy, trong sự rơi xuống của một chiếc lá—tâm thức của chúng ta cũng rơi xuống những vùng tâm thức thấp hơn, và chúng ta đồng hóa với những vùng thấp ấy; nhưng rồi chúng ta trở về với chính mình, và khi trở về với chính mình, chúng ta nâng cao tất cả những gì hoặc tất cả những ai mà trước đó chúng ta đã đồng hóa sai lầm với họ.
So this is a good summary, right? We are experiencing a good summary of the Laws of the Soul covered so far. There's continuity here, as you see.
Đây là một bản tóm lược tốt, phải không? Chúng ta đang có một bản tóm lược tốt về các Định luật của Linh hồn đã được đề cập cho đến nay. Như các bạn thấy, ở đây có sự liên tục.
[15] In Law Two, the sacrificing unit
[15] Trong Định luật Hai, đơn vị hi sinh
from Law One,
từ Định luật Thứ nhất,
[16] —again freely and by choice—comes under the influence of the method whereby this death is brought about.
[16] —một lần nữa, một cách tự do và do lựa chọn—chịu ảnh hưởng của phương pháp mà qua đó cái chết này được tạo ra.
So what is the method? You see, he's dealing here with a different approach and giving us a different perspective.
Vậy phương thức đó là gì? Các bạn thấy đấy, ở đây Ngài đang đề cập đến một cách tiếp cận khác và đem lại cho chúng ta một quan điểm khác.
[17] By the impact of the pairs of opposites and through his being “pendent” ‘twixt the two,
[17] Qua tác động của các cặp đối cực và qua việc y “treo lơ lửng” giữa hai cực,
Why? Because so far he is consciously neither soul or personality.
Tại sao? Bởi cho đến lúc này, xét về mặt hữu thức, y chưa là linh hồn cũng chưa là phàm ngã.
[18] he knows the outer darkness as Christ knew it finally at the Crucifixion, where He hung, symbolically
[18] y biết bóng tối bên ngoài như Đức Christ cuối cùng đã biết nó tại cuộc Đóng Đinh, nơi Ngài treo, theo nghĩa biểu tượng,
And of course he's using the word Christ, but it is more the initiate Jesus identified with the Christ consciousness. It is not per se the Christ who hung upon the cross; that was the Lord Maitreya overshadowing the Master Jesus who hung upon the cross. But he was fusing, of course, his consciousness with that of the Master Jesus, so in a way, through identification, he too could be thought of as hanging upon the cross.
Dĩ nhiên, Ngài dùng từ Đức Christ, nhưng đúng hơn đó là điểm đạo đồ Jesus đồng hóa với tâm thức Christ. Chính Đức Christ không phải là Đấng bị treo trên thập giá; đó là Đức Maitreya phủ bóng Chân sư Jesus, người bị treo trên thập giá. Nhưng dĩ nhiên, Ngài đang dung hợp tâm thức của mình với tâm thức Chân sư Jesus, nên theo một nghĩa nào đó, thông qua sự đồng hóa, người ta cũng có thể xem Ngài như đang bị treo trên thập giá.
So he knows the outer darkness as Christ knew it finally at the Crucifixion
Vì vậy, y biết đến bóng tối bên ngoài như Đức Christ cuối cùng đã biết đến nó tại Cuộc Đóng Đinh trên Thập Giá
—and especially Jesus, because in a way the Christ knows this, right?—
—và đặc biệt là Đức Jesus, bởi theo một nghĩa nào đó Đức Christ biết điều này, phải không?—
where He hung, symbolically
nơi Ngài được treo lên, theo nghĩa biểu tượng
[19] pendent ‘twixt heaven and earth, and through the potency of His own inner vibration and magnetism,
[19] lơ lửng giữa trời và đất, và thông qua quyền năng của rung động cùng từ điện nội tại của chính Ngài,
—and there we go, because we're talking about the Law of Magnetic Impulse—
—và ở đây chúng ta thấy điều đó, bởi chúng ta đang nói về Định luật Xung Động Từ Tính—
[20] has drawn and will draw all men to Himself.
[20] đã thu hút và sẽ thu hút mọi người đến với chính Ngài.
So we are speaking of the drawing power of the Law of Magnetic Impulse, or the Law of Polar Union. You can see that when you use these names—and they're long names, often enough—it does really pay to abbreviate them.
Như vậy, chúng ta đang nói về quyền năng thu hút của Định luật Xung Động Từ Tính, hay Định luật Hợp Nhất Đối Cực. Các bạn có thể thấy rằng khi sử dụng những tên gọi này—và chúng thường khá dài—thì việc viết tắt chúng thực sự hữu ích.
So
Vì vậy,
he knew finally at the Crucifixion, where He hung, symbolically
cuối cùng, Ngài đã biết điều đó tại Cuộc Đóng Đinh trên Thập Giá, nơi Ngài được treo lên, theo nghĩa biểu tượng
—it's the Christ hanging symbolically, but also Master Jesus is literally hanging there, yes, but the symbolism of 'twixt heaven and earth is clearly expressed—
—Đức Christ được treo lên theo nghĩa biểu tượng, nhưng Chân sư Jesus cũng thực sự bị treo ở đó; đúng vậy, nhưng biểu tượng về trạng thái ở giữa trời và đất được thể hiện rõ ràng—
and through the potency of His own inner vibration and magnetism has drawn all men unto Him.
và nhờ quyền năng của rung động cùng từ điện nội tại của chính Ngài, Ngài đã thu hút mọi người đến với Ngài.
And in this Law of Magnetic Impulse, through this law, the higher energies draw the lower energies towards and into themselves.
Trong Định luật Xung Động Từ Tính này, thông qua định luật ấy, các năng lượng cao thu hút những năng lượng thấp hướng về và đi vào chính chúng.
[21] This is the first great idea emerging.
[21] Đây là ý tưởng lớn đầu tiên xuất hiện.
So he's giving us here ideas emerging in these various laws, and this is in the nature of a summary. So the first idea emerging in the Law of Magnetic Impulse is the magnetic drawing upwards of the lower by the higher. That's the first great idea. These things are important to memorize, if one can.
Ở đây, Ngài đang trình bày cho chúng ta những ý tưởng xuất hiện trong các định luật khác nhau này, và phần trình bày mang tính chất tóm lược. Vì vậy, ý tưởng đầu tiên xuất hiện trong Định luật Xung Động Từ Tính là sự thu hút có tính từ điện của cái thấp lên trên bởi cái cao. Đó là ý tưởng vĩ đại đầu tiên. Nếu có thể, chúng ta nên ghi nhớ những điều này.
[22] The second emerging idea
[22] Ý tưởng thứ hai xuất hiện
is what?
là gì?
[23] concerns the balancing of the forces which have been mastered.
[23] liên quan đến việc quân bình các mãnh lực đã được chế ngự.
Remember, this is a law of Libra, the sign of the balance. So this Law of Magnetic Impulse is a law of Libra, the sign of balance.
Hãy nhớ rằng đây là một định luật của Thiên Bình, dấu hiệu của sự cân bằng. Vì vậy, Định luật Xung Động Từ Tính này là một định luật của Thiên Bình, dấu hiệu của sự cân bằng.
[24] The symbol of the scales is here appropriate, and, of this truth, the three Crosses on Mount Golgotha are also symbols.
[24] Biểu tượng của chiếc cân thích hợp ở đây, và ba Thập Giá trên Núi Golgotha cũng là những biểu tượng của chân lý này.
Because the triangle is there, and the Christ—Jesus—as the fulcrum.
Bởi tam giác hiện diện ở đó, còn Đức Christ—Đức Jesus—là điểm tựa.
[25] Libra governs this law,
[25] Thiên Bình cai quản định luật này,
And I will say that when I've thought about the astrological signs of the Christ, I would say Libra, I believe, is one of the signs of the Christ, with Pisces. The Tibetan gives two signs to each one of the great Beings: Master KH, Gemini and Pisces; I think the Buddha, Taurus and Pisces. And of course, I simply speculate that the Christ is Pisces and Libra.
Và tôi muốn nói rằng khi suy nghĩ về các dấu hiệu chiêm tinh của Đức Christ, tôi tin Thiên Bình là một trong các dấu hiệu của Đức Christ, cùng với Song Ngư. Chân sư Tây Tạng gán hai dấu hiệu cho mỗi Đấng Vĩ Đại: Chân sư KH là Song Tử và Song Ngư; tôi nghĩ Đức Phật là Kim Ngưu và Song Ngư. Và dĩ nhiên, tôi chỉ suy đoán rằng Đức Christ là Song Ngư và Thiên Bình.
[26] and certain forces from that constellation can be sensed when the soul consciousness comes under the influence of the law.
[26] và một số mãnh lực từ chòm sao đó có thể được cảm nhận khi tâm thức linh hồn chịu ảnh hưởng của định luật.
These forces are involved also in the second path on the Way of Higher Evolution, and they strengthen the path of—and it's interesting—magnetic work. So Libra is a very magnetic sign. And secondly, the balancing of the forces which have been mastered comes into the picture. When one treads the noble middle path, there's one way to tread it whereby the energies of soul and personality are balanced in the treading. There's perhaps another way to tread the noble middle path into being itself, from which the cohering forces and the fragmenting forces both emerge—fragmenting forces on the third ray and cohering forces on the second.
Các mãnh lực này cũng liên quan đến con đường thứ hai trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, và chúng củng cố con đường—điều này thật thú vị—hoạt động từ tính. Vì vậy, Thiên Bình là một dấu hiệu có tính từ rất mạnh. Thứ hai, việc cân bằng những mãnh lực đã được chế ngự cũng xuất hiện trong bức tranh. Khi một người bước trên trung đạo cao quý, có một cách bước đi trên đó mà trong đó các năng lượng của linh hồn và phàm ngã được cân bằng trong khi tiến bước. Có lẽ còn một cách khác để bước trên trung đạo cao quý, đi vào chính Bản Thể, từ đó cả các mãnh lực cố kết lẫn các mãnh lực phân mảnh đều xuất hiện—các mãnh lực phân mảnh thuộc cung ba và các mãnh lực cố kết thuộc cung hai.
So certain forces from the constellation Libra, he hints—he doesn't tell us about Libra in connection with the path of magnetic work until he describes that path in the last of his explications of the Way of Higher Evolution, found in The Rays and the Initiations. First he just talks about Gemini; later he talks about Libra. Libra is connected with Law Number Two, however.
Như vậy, Ngài gợi ý về một số mãnh lực từ chòm sao Thiên Bình—Ngài không nói cho chúng ta biết về Thiên Bình trong mối liên hệ với con đường hoạt động từ tính cho đến khi mô tả con đường ấy trong phần giải thích cuối cùng về Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, được trình bày trong Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo. Trước hết, Ngài chỉ nói về Song Tử; sau đó Ngài nói về Thiên Bình. Tuy nhiên, Thiên Bình có liên hệ với Định luật Thứ hai.
[27] These forces
[27] Những mãnh lực này
I suppose, of Libra,
tôi cho là của Thiên Bình,
[28] are quiescent where the personality is concerned; their effect does not register, even though necessarily present.
[28] ở trạng thái tiềm tĩnh khi liên quan đến phàm ngã; ảnh hưởng của chúng không được ghi nhận, mặc dù tất yếu vẫn hiện diện.
But they are not quiescent in relation to the soul. The soul actually is a great balancing force, and the soul stands at the midway point, as does the constellation Libra. So this Law of Magnetic Impulse is not easy to understand. Eventually the great polarities are merged under it, and the lower is drawn into proper relation with the higher, and the higher is evoked, and its energies descend into the lower, and the balancing occurs between the two. It's not that the lower is completely dissolved, by any means, but that an infusion—a balanced infusion of the higher energies—is sent into the lower when this law is truly working. So there will be a magnetic impulse from these higher energies once they are invoked, and it will draw the lower and the higher into a harmonious relationship.
Nhưng chúng không tĩnh lặng trong quan hệ với linh hồn. Linh hồn thực sự là một mãnh lực cân bằng vĩ đại, và linh hồn đứng tại Điểm ở giữa, cũng như chòm sao Thiên Bình. Vì vậy, Định luật Xung Động Từ Tính không dễ thấu hiểu. Cuối cùng, các đối cực lớn được dung hợp dưới tác động của định luật này; cái thấp được đưa vào mối quan hệ đúng đắn với cái cao; cái cao được gợi lên, các năng lượng của nó giáng xuống cái thấp, và sự cân bằng diễn ra giữa hai bên. Điều đó hoàn toàn không có nghĩa là cái thấp bị tan rã hoàn toàn, mà là một sự thấm nhuần—một sự thấm nhuần cân bằng của các năng lượng cao—được truyền vào cái thấp khi định luật này thực sự hoạt động. Vì vậy, khi các năng lượng cao này được khẩn cầu, chúng sẽ phát ra một xung động từ tính, đưa cái thấp và cái cao vào một mối quan hệ hài hòa.
So what do we have here, basically? We have the first great idea emerging: the drawing upward of the lower by the higher. “I, if I be lifted up, will draw all men unto me.” And this lifting up and drawing, related to Libra, is a strong reason to suspect the presence of this sign Libra in the horoscope of the Christ, Lord Maitreya. He is the Prince of Peace, after all, and he is related to the Spirit of Peace, and the great sign of peace is Libra. The second emerging idea: the balancing of the forces which have been mastered—balanced with themselves below, and especially balanced in relation to the soul.
Về cơ bản, chúng ta có gì ở đây? Chúng ta có ý tưởng vĩ đại đầu tiên xuất hiện: cái cao thu hút cái thấp lên trên. “Còn Ta, khi được nâng lên, sẽ thu hút mọi người đến với Ta.” Sự nâng lên và thu hút này, vốn liên quan đến Thiên Bình, là một lý do mạnh mẽ để nghi ngờ rằng dấu hiệu Thiên Bình hiện diện trong lá số chiêm tinh của Đức Christ, Đức Maitreya. Xét cho cùng, Ngài là Hoàng Tử Hòa Bình, có liên hệ với Đấng Tinh thần Hòa Bình, và dấu hiệu vĩ đại của hòa bình là Thiên Bình. Ý tưởng thứ hai xuất hiện là việc cân bằng những mãnh lực đã được chế ngự—cân bằng chúng với nhau ở bên dưới, và đặc biệt là cân bằng chúng trong quan hệ với linh hồn.
It's so interesting to consider that, I think, previously the claws of the scorpion were what Libra has now become. Several of the constellations were single constellations, and then became dual, and then returned to being single. I think Virgo–Leo as the Sphinx; Pisces and Aries are separate, but you can have the head of the ram and the tail of the fish here; Libra–Virgo also are dual but could be united as single. This was brought up in the discussion in Esoteric Astrology. In Esoteric Astrology, perhaps, the discussion is much more technical and has to do with energies per se. Here in Esoteric Psychology, which was written a bit earlier, we are really talking about the applications of these energies to the human psychological situation. Remember, he is telling us that there is no problem in human psychology which is not related in some way to the response—correct or inappropriate, conscious or unconscious—to the Laws of the Soul.
Thật thú vị khi xét rằng, theo tôi, trước kia những chiếc càng của bọ cạp chính là phần nay đã trở thành Thiên Bình. Một số chòm sao từng là những chòm sao đơn, rồi trở thành kép, sau đó lại trở về trạng thái đơn. Tôi nghĩ đến Xử Nữ–Sư Tử như Nhân Sư; Song Ngư và Bạch Dương tách biệt, nhưng ở đây có thể có đầu cừu đực và đuôi cá; Thiên Bình–Xử Nữ cũng là kép nhưng có thể hợp nhất thành một. Điều này đã được nêu lên trong phần thảo luận của Chiêm Tinh Học Nội Môn. Có lẽ trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, phần thảo luận mang tính kỹ thuật hơn nhiều và đề cập đến chính các năng lượng. Còn ở đây, trong Tâm Lý Học Nội Môn, vốn được viết sớm hơn đôi chút, chúng ta thực sự đang nói đến việc áp dụng những năng lượng này vào hoàn cảnh tâm lý của con người. Hãy nhớ rằng Ngài đang nói với chúng ta rằng không có vấn đề nào trong tâm lý con người lại không liên hệ theo một cách nào đó với sự đáp ứng—đúng đắn hoặc không thích hợp, hữu thức hoặc vô thức—đối với các Định luật của Linh hồn.
And then the three crosses are also a triangle relating to Libra, and I guess to the Christ's task of balancing the unrepentant with the repentant.
Và ba thập giá cũng tạo thành một tam giác liên hệ với Thiên Bình, và theo tôi, với nhiệm vụ của Đức Christ là tạo sự cân bằng giữa người không hối cải và người biết hối cải.
Now Law Three. This is the Law of Service, and we really are getting a different perspective on these. I'm glad I delayed talking about them until after the Law of Repulse was completed, and did not do it all in one fell swoop.
Bây giờ đến Định luật Thứ Ba. Đây là Định luật Phụng sự, và chúng ta thực sự đang có một góc nhìn khác về các định luật này. Tôi vui vì đã hoãn việc bàn về chúng cho đến sau khi hoàn tất Định luật Đẩy Lùi, thay vì làm tất cả trong một lần.
[29] In Law Three, the sacrificing God and the God of the dualities
[29] Trong Định luật Ba, Thượng Đế Hi Sinh và Thượng Đế của các nhị nguyên
So the sacrificing God—we are the God, we are the monad: the monad in a state of sacrifice, and the monad between the dualities. It's really the Monad-in-Extension which is between the dualities.
Vậy Thượng đế hi sinh—chúng ta là Thượng đế, chúng ta là chân thần: chân thần trong trạng thái hi sinh, và chân thần ở giữa các nhị nguyên. Thực ra, chính Chân Thần-trong-sự-mở-rộng ở giữa các nhị nguyên.
[30] come under certain influences which produce more easily recognised effects.
[30] chịu một số ảnh hưởng tạo ra những hiệu quả dễ nhận biết hơn.
Everything about the third ray is more easily recognized than the effects or the state of the first ray and the second ray. So the third ray, as the ray of manifestation, is more easily recognized in its effects than the life of the second or first ray, which are occult. I mean, the two at the top of the seven are occult when considered in relation to the five from the atmic plane on down, in the world of Brahma. So Saturn and the third ray rule the five lower planes, and they are more easily recognized in effects, whereas the first and second rays remain more subtle in their essential nature and more difficult to divine. Of course, the word divine is that which is used with the monad, and also with the lower plane. To divine something is to detect its presence, and it's a very subtle presence at that.
Mọi điều thuộc cung ba đều dễ nhận biết hơn các hiệu quả hoặc trạng thái của cung một và cung hai. Vì vậy, cung ba, với tư cách là cung biểu hiện, dễ được nhận biết qua các hiệu quả của nó hơn sự sống của cung hai hoặc cung một, vốn mang tính huyền bí. Ý tôi là hai cung đứng đầu trong bảy cung mang tính huyền bí khi được xét trong tương quan với năm cung từ cõi atma trở xuống, trong thế giới của Brahma. Vì vậy, Sao Thổ và cung ba cai quản năm cõi thấp, và chúng dễ được nhận biết hơn qua các hiệu quả, trong khi cung một và cung hai vẫn tinh tế hơn trong bản chất cốt yếu và khó cảm nhận bằng trực giác hơn. Dĩ nhiên, từ “thiêng liêng” được dùng với chân thần và cũng với cõi thấp. Cảm nhận một điều bằng trực giác là phát hiện sự hiện diện của nó, và đó lại là một sự hiện diện vô cùng tinh tế.
[31] By his death and by his victory over the pairs of opposites,
[31] Qua cái chết của mình và qua chiến thắng đối với các cặp đối cực,
See how he blends all this together. This is Law One,
Hãy xem Ngài hòa quyện tất cả những điều này với nhau như thế nào. Đây là Định luật Thứ Nhất,
and by his victory over the pairs of opposites,
và nhờ chiến thắng của y đối với các cặp đối cực,
uniting them in harmony—Law Two—
hợp nhất chúng trong sự hài hòa—Định luật Thứ Hai—
[32] the disciple becomes so magnetic and vibrant, that he serves the race by becoming what he knows he is.
[32] đệ tử trở nên từ tính và rung động mạnh đến mức y phụng sự nhân loại bằng cách trở thành điều mà y biết mình là.
This is such an important statement. He serves the race by becoming or demonstrating what he is. So his service is a natural, radiant expression of what he really is. So he serves by being, let us say, and he has removed many of the obstacles which have been veiling or blocking the radiation of that being. So service is not a trying or a deliberate activity, but an allowing of what one is spiritually to emerge with effect into the lower planes.
Đây là một phát biểu vô cùng quan trọng. Y phụng sự nhân loại bằng cách trở thành hoặc biểu lộ điều mà y vốn là. Vì vậy, sự phụng sự của y là biểu hiện tự nhiên và tỏa rạng của bản thể đích thực nơi y. Có thể nói, y phụng sự bằng cách hiện tồn, và y đã loại bỏ nhiều chướng ngại từng che phủ hoặc ngăn chặn sự tỏa chiếu của bản thể ấy. Do đó, phụng sự không phải là một hoạt động gắng sức hoặc có chủ ý, mà là để cho điều mình vốn là về mặt tinh thần hiển lộ một cách hữu hiệu vào các cõi thấp.
[33] Immersed, physically, from the angle of the personality, in the waters of earthly existence,
[33] Xét từ góc độ phàm ngã, về mặt thể chất y chìm trong những dòng nước của sự tồn tại trần thế,
Remember, water is matter. So working on the eighteen lower subplanes is immersion into matter.
Hãy nhớ rằng nước là vật chất. Vì vậy, hoạt động trên mười tám cõi phụ thấp chính là chìm vào vật chất.
[34] yet at the same time he is aware—in consciousness—of other conditions, of his essential purpose in dying for other lives,
[34] nhưng đồng thời, trong tâm thức, y nhận biết những trạng thái khác, nhận biết Thiên Ý cốt yếu của mình trong việc chết vì những sự sống khác,
And this is ultimately his Monadic purpose. The monad is a great sacrifice, and when you think about it, Sanat Kumara is the Great Sacrifice for our planet, and the monad is, in a way, within him, and is microcosmically the great sacrifice for every unit. When we look up to our Father in Heaven, we are first contacting the monad, an aspect of Sanat Kumara, the Great Sacrifice—first to contact our monad as the great sacrifice, or to contact ourselves as the monad. It's not that the monad is different from what we are.
Và sau rốt, đây là thiên ý Chân thần của y. Chân thần là một sự hi sinh vĩ đại, và khi suy ngẫm về điều đó, Đức Sanat Kumara là Đấng Hi Sinh Vĩ Đại của hành tinh chúng ta; theo một cách nào đó, chân thần ở bên trong Ngài và, trên quy mô tiểu thiên địa, là sự hi sinh vĩ đại cho mỗi đơn vị. Khi ngước nhìn Cha của chúng ta trên Thiên Đàng, trước hết chúng ta tiếp xúc với chân thần, một phương diện của Đức Sanat Kumara, Đấng Hi Sinh Vĩ Đại—trước hết là tiếp xúc với chân thần của chúng ta như sự hi sinh vĩ đại, hoặc tiếp xúc với chính mình trong tư cách chân thần. Không phải chân thần khác với điều chúng ta vốn là.
Yet at the same time, he is aware in consciousness of other conditions of his essential purpose,
Tuy đồng thời, trong tâm thức, y vẫn nhận biết những trạng thái khác thuộc thiên ý cốt yếu của mình,
—so his essence is of being; being is of essence; essence relates to being, unto the monad—
—vì vậy, bản chất cốt yếu của y thuộc về Bản Thể; Bản Thể thuộc về bản chất cốt yếu; bản chất cốt yếu liên hệ với Bản Thể, với chân thần—
in dying for other lives,
khi chết vì những sự sống khác,
[35] and aware also of the method which he must employ in achieving and attaining the releasing equilibrium.
[35] và cũng nhận biết phương pháp mà y phải sử dụng để đạt được trạng thái quân bình có sức giải thoát.
So the Law of Polar Union, or the Law of Magnetic Impulse, is all about achieving and attaining the releasing equilibrium. Harmony does release. This we see with the analogy from music that I sometimes use: when a chord is sung out of tune, it doesn't fly; when a chord is sung perfectly in tune, some great quality is released. And I suppose when we fulfill our purpose exactly, under the fourth ray we achieve a kind of perfection which is equivalent to death, and we are released. So DK often tells us of the relation of the fourth ray to the death process. One of its names is “the Mountain whereon Form dies” (EP I, tr. 71), and one finds one is released from the form of the dense physical vehicle of the Solar Logos and into the cosmic ethers. This is the death process, and it comes through perfection. The fourth ray and Libra are related in ways that we don't yet understand, but they certainly are related. So harmony and perfection bring a kind of releasing death, releasing from the dense physical vehicle of the Solar Logos into his cosmic etheric vehicle.
Vì vậy, Định luật Hợp Nhất Các Cực, hay Định luật Xung Động Từ Tính, hoàn toàn đề cập đến việc thành tựu và đạt tới trạng thái cân bằng mang lại giải thoát. Sự hài hòa quả thực đem lại giải thoát. Chúng ta thấy điều này qua phép tương đồng với âm nhạc mà đôi khi tôi sử dụng: khi một hợp âm được xướng sai âm, nó không thể bay lên; khi một hợp âm được xướng hoàn toàn đúng âm, một phẩm tính vĩ đại nào đó được giải phóng. Và tôi cho rằng khi hoàn thành chính xác thiên ý của mình, dưới cung bốn, chúng ta đạt được một dạng hoàn thiện tương đương với cái chết và được giải thoát. Vì vậy, Chân sư DK thường nói với chúng ta về mối liên hệ giữa cung bốn và tiến trình chết. Một trong các tên gọi của cung này là “Ngọn Núi nơi Hình Tướng chết” (Tâm Lý Học Nội Môn I, tr. 71), và người ta thấy mình được giải thoát khỏi hình tướng của vận cụ hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế để đi vào các dĩ thái vũ trụ. Đây là tiến trình chết, và nó đến thông qua sự hoàn thiện. Cung bốn và Thiên Bình liên hệ với nhau theo những cách mà chúng ta chưa thấu hiểu, nhưng chắc chắn chúng có liên hệ. Vì vậy, sự hài hòa và hoàn thiện đem lại một dạng cái chết giải thoát, giải thoát chúng ta khỏi vận cụ hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế để đi vào vận cụ dĩ thái vũ trụ của Ngài.
[36] When these ideas are dominant in the mind, he can serve his fellow men. These laws have this effect only as they emerge in the consciousness of the man who is building the antaskarana and who is proceeding with the Science of Union.
[36] Khi những ý tưởng này chiếm ưu thế trong thể trí, [Page 174] y có thể phụng sự đồng loại. Những định luật này chỉ tạo ra hiệu quả như thế khi chúng xuất hiện trong tâm thức của người đang xây dựng antaskarana và đang tiến hành Khoa Học Hợp Nhất.
And so these laws really do not apply, except unconsciously, to the personally centered man. So these laws have to be dominant in the mind, and so there must be consciousness of them. It's not that we are supposed to simply be driven by them. We are to work cooperatively with these laws.
Vì vậy, những định luật này thực sự không áp dụng cho người tập trung vào phàm ngã, ngoại trừ một cách vô thức. Những định luật này phải chiếm ưu thế trong thể trí, nên con người phải có ý thức về chúng. Không phải chúng ta chỉ để cho chúng thúc đẩy mình. Chúng ta phải hợp tác với các định luật này.
Then he can serve his fellow men.
Bấy giờ y có thể phụng sự đồng loại.
So he's willing to descend, and he understands he's achieving harmony between the poles of his nature and an equilibrium between them, that he's being drawn into his higher sphere even as he is descending into the lower sphere. And I think that should be said: Law One has to do with the descent, and Law Two with being lifted up into harmony with the higher pole of his nature, which at this point is the soul. So he is moving in two directions simultaneously, and he's being drawn into the Christ nature even as he is descending below into the stifling, suffocating, Scorpionic nature—Scorpio; it's sacrificial, and it's death by suffocation. But he maintains a dual consciousness. The man wielding these first two laws maintains a dual consciousness. He realizes what he is and releases what he is into the lower worlds, and this is his service. So he dies, he ascends and maintains the harmony between the higher and the lower poles, and then under the third he makes manifest radiantly that which he is, and improves the life of all.
Vì vậy, y sẵn lòng giáng xuống, và y hiểu rằng mình đang đạt được sự hài hòa giữa các cực trong bản chất của mình cùng trạng thái cân bằng giữa chúng; y đang được thu hút vào khối cầu cao hơn ngay trong khi giáng xuống khối cầu thấp hơn. Và tôi nghĩ cần nói rõ điều này: Định luật Thứ Nhất liên quan đến sự giáng xuống, còn Định luật Thứ Hai liên quan đến việc được nâng lên để hài hòa với cực cao hơn trong bản chất của y, mà vào lúc này là linh hồn. Vì vậy, y đồng thời chuyển động theo hai hướng, và được thu hút vào bản chất Christ ngay trong khi giáng xuống bản chất Hổ Cáp ngột ngạt, nghẹt thở ở bên dưới—đó là Hổ Cáp; điều này mang tính hi sinh và là cái chết do ngạt thở. Nhưng y duy trì một tâm thức kép. Người vận dụng hai định luật đầu tiên này duy trì một tâm thức kép. Y nhận ra điều mình vốn là và giải phóng điều ấy vào các cõi thấp; đó chính là sự phụng sự của y. Vì vậy, y chết, thăng lên và duy trì sự hài hòa giữa các cực cao và thấp; rồi dưới định luật thứ ba, y biểu hiện một cách tỏa rạng điều mình vốn là và cải thiện sự sống của tất cả.
You can understand how a book could be written on each one of these laws, and probably one day will be. Master DK has given so many seeds to be grown and nurtured in these various books, and in future times of the new esoteric schools, when the esoteric doctrine receives the attention it deserves, all of this will be rightly amplified and brought into application in our normal daily living. And I suppose this will be done by those who have a lot of the manifesting rays in their nature, the third and the seventh, because they do manage to find the method of application.
Các bạn có thể hiểu vì sao người ta có thể viết cả một cuốn sách về từng định luật này, và có lẽ một ngày nào đó điều ấy sẽ được thực hiện. Chân sư DK đã ban cho rất nhiều hạt giống để được vun trồng và nuôi dưỡng trong các cuốn sách này; và trong tương lai, tại những trường nội môn mới, khi giáo lý nội môn nhận được sự quan tâm xứng đáng, tất cả những điều này sẽ được khai triển đúng đắn và đưa vào áp dụng trong đời sống thường nhật của chúng ta. Tôi cho rằng những người mang nhiều cung biểu hiện trong bản chất của họ—cung ba và cung bảy—sẽ thực hiện điều này, bởi họ thực sự tìm được phương pháp áp dụng.
[37] It is when the fourth Law of Repulse is beginning to produce its effects that the disciple becomes aware of the Angel with the Flaming Sword, Who stands before the portal of initiation.
[37] Chính khi Định luật thứ tư của Đẩy Lùi bắt đầu tạo ra các hiệu quả của nó thì đệ tử trở nên nhận biết Thiên Thần với Thanh Gươm Rực Lửa, Đấng đứng trước cổng điểm đạo.
Maybe we could say that the sense of not quite penetrating the higher worlds is due to the rebuffing action of the angel with the flaming sword. We may not realize that this is happening, but we attempt our penetrations, and perhaps we are weighed in the balances and found wanting, and until our vibration is equal to that which we seek to penetrate, we cannot gain access. We are rebuffed because our vibration is too low. Maybe that's happening more often than we think. So we become aware of this angel guarding the gates of heaven or paradise—and by that we don't mean the usual astral versions of those words, but we mean that which is found on the higher mental plane and beyond.
Có lẽ chúng ta có thể nói rằng cảm giác chưa thể hoàn toàn thâm nhập các cõi cao là do tác động đẩy lùi của thiên thần cầm thanh gươm rực lửa. Có thể chúng ta không nhận ra điều này đang xảy ra, nhưng chúng ta cố gắng thâm nhập; có lẽ chúng ta được cân trên bàn cân và bị xét là chưa đủ, và cho đến khi rung động của chúng ta ngang bằng với rung động của cõi mình muốn thâm nhập, chúng ta không thể tiến vào. Chúng ta bị đẩy lùi vì rung động của mình quá thấp. Có lẽ điều ấy xảy ra thường xuyên hơn chúng ta nghĩ. Vì vậy, chúng ta bắt đầu nhận biết thiên thần đang canh giữ các cánh cổng của thiên đàng hay cõi cực lạc—và qua những từ này, chúng ta không hàm ý các phiên bản cảm dục thông thường, mà muốn nói đến điều được tìm thấy trên Cõi thượng trí và xa hơn nữa.
[38] By this portent, he knows that he can now enter;
[38] Qua dấu hiệu này, y biết rằng giờ đây mình có thể bước vào;
maybe when he truly becomes aware of the angel. And look in Glamour: A World Problem for this discussion of the Angel and the Dweller. But at least we're told we really catch the first glimpse of the Angel and the Dweller at the third initiation—in their entirety, I think. Maybe we see a little bit of each in the previous initiations. Sometimes I joke and say about the Dweller, well, you see a fang here and a claw there, but not the whole monstrosity. But of course, maybe by the time we're catching that glimpse, the Dweller is looking more like our own personality, and maybe many of the lower manifestations of the Dweller have been lived through karmically.
có lẽ là khi y thực sự nhận biết thiên thần. Và hãy xem Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới để đọc phần thảo luận về Thiên Thần và Kẻ Chận Ngõ. Nhưng ít nhất chúng ta được cho biết rằng tại lần điểm đạo thứ ba, chúng ta thực sự thoáng thấy lần đầu toàn thể Thiên Thần và Kẻ Chận Ngõ—tôi nghĩ là trong toàn bộ hình dạng của họ. Có lẽ trong các lần điểm đạo trước, chúng ta đã thấy một phần nhỏ của mỗi bên. Đôi khi tôi nói đùa về Kẻ Chận Ngõ rằng chúng ta thấy một chiếc nanh ở đây và một chiếc vuốt ở kia, nhưng không thấy toàn bộ quái vật. Tuy nhiên, dĩ nhiên, có lẽ vào lúc chúng ta thoáng thấy nó, Kẻ Chận Ngõ đã trông giống phàm ngã của chính mình hơn, và có lẽ nhiều biểu hiện thấp của Kẻ Chận Ngõ đã được trải qua theo nghiệp quả.
Anyway, he knows that there is an entry possible now, when he sufficiently jettisons the stages of his rocket which are too heavy to enter. There's an analogy there: as the stages of the rocket fall away, the payload rises higher and higher—the analogy from rocketry. This time he knows he can enter,
Dù sao đi nữa, y biết rằng giờ đây có thể bước vào, khi y loại bỏ đầy đủ những tầng tên lửa quá nặng không thể đi vào. Ở đây có một phép tương đồng: khi các tầng tên lửa rơi đi, tải trọng được nâng lên ngày càng cao—đó là phép tương đồng từ ngành tên lửa. Lần này y biết mình có thể bước vào,
[39] but, this time, not as a poor blind candidate, but as an initiate in the mysteries of the world.
[39] nhưng lần này, không phải như một ứng viên đáng thương và mù quáng, mà như một điểm đạo đồ trong những huyền nhiệm của thế giới.
At one point, after the third initiation, maybe this is possible, and maybe this is really the fifth degree. So at some of the higher initiations, DK tells us, we enter with eyes wide open, and this is not the case, of course, with some of the earlier initiations. Well, we can look that up in the books. I'm not sure that I can find it immediately—“enters eyes open.” Well, let's see:
Có lẽ sau lần điểm đạo thứ ba, vào một thời điểm nào đó, điều này trở nên khả hữu; và có lẽ đây thực sự là cấp độ thứ năm. Chân sư DK nói với chúng ta rằng tại một số lần điểm đạo cao hơn, chúng ta bước vào với đôi mắt mở rộng, và dĩ nhiên điều này không xảy ra trong một số lần điểm đạo trước đó. Chúng ta có thể tra cứu điều ấy trong các sách. Tôi không chắc mình có thể tìm thấy ngay—“bước vào với đôi mắt mở”. Hãy xem:
[41] He enters free, he who has known the prison walls.
[41] Y bước vào trong tự do, y là người đã biết những bức tường nhà tù.
Oh, well, we're getting there.
Ồ, chúng ta sắp đến đó rồi.
[42] He passes into light with open eyes,
[42] Y bước vào ánh sáng với đôi mắt mở rộng,
Well, we're just about at that point, aren't we? So these are the higher initiations we're talking about. Remember that the Law of Repulse does not really become terribly effective until after the third degree. Then, and in earnest, it becomes a law of the Spiritual Triad, conditioning the consciousness and energy system of the candidate for life within the Spiritual Triad.
Chúng ta gần như đã đến điểm đó rồi, phải không? Vì vậy, chúng ta đang nói về những lần điểm đạo cao hơn. Hãy nhớ rằng Định luật Đẩy Lùi chỉ thực sự trở nên vô cùng hữu hiệu sau cấp độ thứ ba. Bấy giờ, nó bắt đầu hoạt động mạnh mẽ như một định luật của Tam Nguyên Tinh Thần, tác động lên tâm thức và hệ thống năng lượng của ứng viên để chuẩn bị cho sự sống bên trong Tam Nguyên Tinh Thần.
[40] The truth of this has been summed up for us in an ancient chant which used to be sung in the ante-chamber of the Temples. Some of the words may be roughly expressed as follows:
[40] Chân lý này đã được tóm lược cho chúng ta trong một bài tụng cổ xưa từng được xướng trong tiền sảnh của các Đền Thờ. Một số lời có thể được diễn đạt đại ý như sau:
Well, DK certainly knows the inner truth of these ancient sounds and songs and chants. It must be frustrating to try to convey to us, in our very limited language, what he more deeply knows. At the same time, he knows we know so little, and the compassion that he has must be abundant in trying to give us at least something of this inner truth. Sung—notice, sung in the antechamber of the temple. There's a hint for all Masons. And of course, in the Masonic lodge, music was used. Mozart was a Mason; he was composing music for the Masonic lodge.
Chắc chắn Chân sư DK biết chân lý bên trong của những âm thanh, bài ca và bài tụng cổ xưa này. Hẳn Ngài cảm thấy khó khăn khi cố gắng truyền đạt cho chúng ta, bằng ngôn ngữ vô cùng hạn chế của mình, những điều Ngài biết sâu sắc hơn. Đồng thời, Ngài biết chúng ta hiểu biết quá ít, và lòng từ bi dồi dào của Ngài hẳn đã thúc đẩy Ngài cố gắng trao cho chúng ta ít nhất một phần chân lý nội tại này. Được xướng—hãy lưu ý, được xướng trong tiền sảnh của đền thờ. Đây là một gợi ý dành cho tất cả các hội viên Tam Điểm. Và dĩ nhiên, âm nhạc từng được sử dụng trong hội quán Tam Điểm. Mozart là một hội viên Tam Điểm; ông đã sáng tác nhạc cho hội quán Tam Điểm.
He enters free who has known the prison walls. He passes into light with open eyes.
Người đã biết những bức tường ngục tù bước vào trong tự do. Y bước vào ánh sáng với đôi mắt mở.
These are the higher initiations.
Đây là những lần điểm đạo cao hơn.
[43] he who for aeons long has groped the darkened corridor.
[43] y là người đã dò dẫm suốt nhiều thời đại trong hành lang tối tăm.
Plato's allegory of the cave, right?
Đúng là dụ ngôn hang động của Plato, phải không?
[44] He passes on his way, he who has stood for ages before a fast closed door.
[44] Y tiếp tục con đường của mình, y là người đã đứng qua nhiều thời đại trước một cánh cửa đóng chặt.
I wonder—if we say higher initiations, eyes open, let's just see. We're told here that we're about to call it blindness, and “The above paragraph is far beyond the comprehension of the average student, but will be comprehended by those whose eyes are open to be blinded.” (RI, tr. 199) Well, I suppose there is a blinding that happens when we come in contact with Shamballa, is there not? “Opened”—and there's “opened,” taking the high—and “having his eyes partially opened, he now seeks to tread that Path.” (Glamour, tr. 47) Well, there is some place; I can't find it at the moment—hopefully not a reference imagined. But I do believe, and I think this is reflected also in Masonic work, that there is a time when the hoodwink, or the blindfold, is not used in the higher degrees.
Tôi tự hỏi—nếu chúng ta nói những lần điểm đạo cao hơn, đôi mắt mở, hãy xem thử. Ở đây chúng ta được cho biết rằng điều ấy sắp được gọi là sự mù lòa, và “Đoạn văn trên vượt xa khả năng lĩnh hội của đạo sinh trung bình, nhưng những người có đôi mắt mở để bị làm cho lóa mù sẽ thấu hiểu nó.” (Điểm Đạo trong Nhân Loại và Thái Dương, tr. 199) Có lẽ quả thực có một sự lóa mù xảy ra khi chúng ta tiếp xúc với Shamballa, phải không? “Đã mở”—và ở đây có từ “đã mở”, theo nghĩa cao—và “sau khi đôi mắt y đã mở một phần, giờ đây y tìm cách bước trên Đường Đạo ấy.” (Ảo Cảm, tr. 47) Hẳn có một đoạn nào đó; lúc này tôi không thể tìm thấy—hy vọng đó không phải là một tham chiếu do tôi tưởng tượng ra. Nhưng tôi thực sự tin, và tôi nghĩ điều này cũng được phản ánh trong công việc Tam Điểm, rằng đến một lúc nào đó, chiếc mũ trùm mắt hay khăn bịt mắt không còn được sử dụng ở các cấp độ cao hơn.
He enters free who has known the prison walls. He passes into light with open eyes, who for aeons long has groped the darkened corridors.
Người đã biết những bức tường ngục tù bước vào trong tự do. Y bước vào ánh sáng với đôi mắt mở, y, người đã dò dẫm suốt nhiều đại kiếp trong những hành lang tối tăm.
In other words, he has used the power of touch and not the power of sight. Why grope your way along when you can see the Tibetan mass?
Nói cách khác, y đã sử dụng quyền năng xúc giác chứ không phải quyền năng thị giác. Tại sao phải dò dẫm tiến bước khi bạn có thể nhìn thấy Chân sư Tây Tạng?
He passes on his way he who has stood for ages before a fast closed door,
Người đã đứng trước một cánh cửa đóng chặt suốt nhiều thời đại tiếp tục bước đi trên con đường của mình,
the door of initiation. These are probably Atlantean times. Just imagine being able to bring these things forward as they used to be, and imagine what has been lost over the many, many millennia, when we were again caused to grope, when once perhaps we had seen but misused the seeing.
cánh cửa điểm đạo. Có lẽ đây là thời Atlantis. Hãy hình dung việc có thể phục hồi những điều này như chúng từng tồn tại, và hãy hình dung những gì đã mất đi qua vô số thiên niên kỷ, khi chúng ta lại bị buộc phải dò dẫm, dù có lẽ trước kia chúng ta từng thấy nhưng đã lạm dụng khả năng thấy ấy.
[45] He speaks with power the Word which opens wide the Gate of Life.
[45] Y xướng Linh Từ bằng quyền năng, Linh Từ mở rộng Cánh Cổng Sự Sống.
We're talking now of the higher ethers, because life begins in the cosmic ethers, in the cosmic etheric planes.
Giờ đây chúng ta đang nói về các dĩ thái cao, bởi sự sống bắt đầu trong các dĩ thái vũ trụ, trên các cõi dĩ thái vũ trụ.
[46] He stands before the Angel and takes away his sword,
[46] Y đứng trước Thiên Thần và lấy đi thanh gươm của Ngài,
I can think that in the new Masonry this would be very useful—the Masonry of higher degrees.
Tôi nghĩ điều này sẽ rất hữu ích trong hệ thống Tam Điểm mới—hệ thống Tam Điểm của các cấp độ cao hơn.
He takes away his sword,
Y lấy đi thanh gươm của Ngài,
[47] releasing thus the Angel unto a higher task. He himself guards the doorway into the Holy Place.
[47] nhờ đó giải phóng Thiên Thần để đảm nhận một nhiệm vụ cao hơn. Chính y canh giữ lối vào Thánh Địa.
And he becomes then the Tyler of the lodge, removing the flaming sword from the possession of the angel—angel Tyler—and then assumes new responsibilities, to be the guardian, because he is now capable of understanding that higher vibration, and must guard the place into which he has entered from those who would prematurely seek to enter.
Và bấy giờ y trở thành Người Gác Cửa của hội quán, lấy thanh gươm rực lửa khỏi tay thiên thần—Thiên Thần Gác Cửa—rồi đảm nhận những trách nhiệm mới, trở thành người bảo vệ, bởi giờ đây y có khả năng thấu hiểu rung động cao hơn ấy và phải bảo vệ nơi mình đã bước vào khỏi những người muốn tiến vào quá sớm.
[48] He died.
[48] Y đã chết.
This is a big summary.
Đây là một phần tổng kết lớn.
He died,
Y đã chết,
[49] He entered the strife. He learnt the way of service. He stands before the door.”
[49] Y đã bước vào cuộc tranh đấu. Y đã học con đường phụng sự. Y đứng trước cánh cửa.”
This summarizes the entire pilgrimage of the Monad-in-Extension. He descended into the lower worlds, which are filled with the strife between the poles above and the poles below. He learnt, through this sacrifice and through the dual pole, that he is the radiant self, and was able to harmonize his lower self with the higher, and thus be filled with the higher energy, which he then allowed to radiate forth, and use his intelligence to express it upon the way of service. And this led him to the door, because the more one serves and obeys, the closer one is led to the great door into life. The two initiations of the threshold are doors which anticipate the entry into life, but really, until the third degree, and really the fourth degree, we do not enter into life per se.
Điều này tổng kết toàn bộ cuộc hành hương của Chân Thần-trong-sự-mở-rộng. Y giáng xuống các cõi thấp, vốn đầy rẫy xung đột giữa các cực bên trên và các cực bên dưới. Thông qua sự hi sinh này và thông qua hai cực, y học được rằng mình là bản ngã tỏa rạng; y có thể làm hài hòa phàm ngã với chân ngã, nhờ đó được tràn đầy năng lượng cao hơn, rồi để năng lượng ấy tỏa ra và dùng trí thông minh của mình để biểu hiện nó trên con đường phụng sự. Điều này dẫn y đến cánh cửa, bởi một người càng phụng sự và tuân phục, y càng được dẫn đến gần cánh cửa vĩ đại đi vào sự sống. Hai lần điểm đạo nơi ngưỡng cửa là những cánh cửa báo trước việc bước vào sự sống, nhưng thực ra, cho đến cấp độ thứ ba, và đúng hơn là cấp độ thứ tư, chúng ta vẫn chưa thực sự bước vào chính sự sống.
Well, this has been a very useful, I think, summary of these laws. He has not yet included the Law of Group Progress, which allies itself with the Law of Magnetic Impulse. Their relations are very important: the Law of Repulse with the Law of Sacrifice; the Law of Group Progress, or the Law of Elevation, the fifth law, with the Law of Magnetic Impulse, or Polar Union. Think about elevation and polar union. When we come into relationship with the higher of our poles, and when humanity comes into relationship with the higher of its poles—those higher lives and lights—there is automatically, for the lower aspect, an elevation.
Tôi nghĩ đây là một phần tổng kết rất hữu ích về các định luật này. Ngài chưa bao gồm Định luật Tiến Bộ Nhóm, vốn liên kết với Định luật Xung Động Từ Tính. Các mối liên hệ giữa chúng rất quan trọng: Định luật Đẩy Lùi với Định luật Hi Sinh; Định luật Tiến Bộ Nhóm, hay Định luật Nâng Cao, tức định luật thứ năm, với Định luật Xung Động Từ Tính, hay Hợp Nhất Các Cực. Hãy suy ngẫm về sự nâng cao và sự hợp nhất các cực. Khi chúng ta đi vào mối liên hệ với cực cao hơn của mình, và khi nhân loại đi vào mối liên hệ với cực cao hơn của nó—những sự sống và ánh sáng cao hơn ấy—thì phương diện thấp tự động được nâng cao.
And then comes the Law of Expansive Response, which we will enter into, and its relationship to the Law of Service, both in a sense ruled by the third ray. It's obvious that the third or outer tier of petals in the Egoic Lotus corresponds to the third or lowest aspect of the Spiritual Triad, which is the higher mind; that the second tier of petals is corresponding with Buddhi; and the first tier of petals, the sacrifice petals, is corresponding with the atmic plane. And right now we have sort of the sheath of the soul when we're dealing with the causal body. The Spiritual Triad is the true Ego, is the true soul—or it's really more the higher soul than what we call a soul, when that Triad is, as it were, forced to express through the causal body and cannot express directly via the antahkarana. But eventually the scales fall from our eyes, and the lower sheaths are no more veils—scales and veils, think of that.
Và rồi đến Định luật Đáp Ứng Mở Rộng, mà chúng ta sẽ đi sâu vào, cùng mối quan hệ của nó với Định luật Phụng sự; theo một ý nghĩa nào đó, cả hai đều do cung ba cai quản. Hiển nhiên là tầng cánh hoa thứ ba, tức tầng ngoài cùng của Hoa Sen Chân Ngã, tương ứng với phương diện thứ ba, hay thấp nhất, của Tam Nguyên Tinh Thần, tức thượng trí; tầng cánh hoa thứ hai tương ứng với Bồ đề; còn tầng cánh hoa thứ nhất, tức các cánh hoa hi sinh, tương ứng với cõi atma. Và ngay lúc này, khi đề cập đến thể nguyên nhân, chúng ta đang có một loại lớp vỏ của linh hồn. Tam Nguyên Tinh Thần là Chân ngã đích thực, là linh hồn đích thực—hay thật ra, đó là linh hồn cao siêu hơn điều mà chúng ta gọi là linh hồn, khi Tam Nguyên ấy dường như bị buộc phải biểu lộ qua thể nguyên nhân và không thể biểu lộ trực tiếp qua antahkarana. Nhưng cuối cùng, những lớp vảy rơi khỏi mắt chúng ta, và các lớp vỏ thấp không còn là những bức màn—lớp vảy và bức màn, hãy suy ngẫm về điều đó.
We, the true and inner monad, the true point of being-consciousness—I mean, soul is everywhere, really; it's not just on the higher mental plane. Soul is awareness; soul is the one consciousness. So we are that dimensionless point of being-consciousness. I want to say that because I want to include the word dimensionless. We are a dimensionless point—all real points—of being-consciousness. And of course, when you think that we have no dimension, and that all points are superimposed upon each other and are really one point, and there is no dimension of space, then finally we will find that time is a dimension which does not essentially exist—maybe at the eighth initiation, right?—does not essentially exist. We will find that in a way there are no previous times or future times. And of course these are great mysteries, and have to dawn upon us with increasing light, but within the Eternal Now we will discover that maybe there has never been any movement in time at all. We talk about movement through space, but if there is no space, there is no movement; and we talk about movement over time, but we may realize that the idea of eternal duration negates this reality of movement over time.
Chúng ta, chân thần đích thực và nội tại, điểm Bản Thể-tâm thức đích thực—ý tôi là, linh hồn thật sự hiện diện khắp nơi; nó không chỉ ở cõi thượng trí. Linh hồn là sự nhận biết; linh hồn là tâm thức duy nhất. Vì vậy, chúng ta là điểm Bản Thể-tâm thức không có chiều kích ấy. Tôi muốn nói như vậy vì tôi muốn đưa vào cụm từ “không có chiều kích”. Chúng ta là một điểm không có chiều kích—mọi điểm đích thực đều như vậy—của Bản Thể-tâm thức. Và dĩ nhiên, khi các bạn nghĩ rằng chúng ta không có chiều kích, rằng mọi điểm đều chồng khít lên nhau và thật sự là một điểm duy nhất, đồng thời không có chiều kích không gian, thì cuối cùng chúng ta sẽ thấy rằng thời gian là một chiều kích vốn không tồn tại về bản chất—có lẽ ở lần điểm đạo thứ tám, phải không?—vốn không tồn tại về bản chất. Chúng ta sẽ thấy rằng, theo một cách nào đó, không có thời gian quá khứ hay tương lai. Và dĩ nhiên, đây là những huyền nhiệm lớn lao, phải dần bừng sáng trong chúng ta với ánh sáng ngày càng gia tăng; nhưng trong Hiện Tại Vĩnh Cửu, có lẽ chúng ta sẽ khám phá rằng chưa từng có bất kỳ chuyển động nào trong thời gian. Chúng ta nói về chuyển động xuyên qua không gian, nhưng nếu không có không gian thì không có chuyển động; và chúng ta nói về chuyển động theo thời gian, nhưng có thể chúng ta sẽ nhận ra rằng ý tưởng về sự trường tồn vĩnh cửu phủ định thực tại của chuyển động theo thời gian này.
What I've been trying to work on is the idea of some kind of ultimate infinitesimal, which is in a sense so small as to be virtually dimensionless—smaller than any possible unit of space or unit of time. When you add them all together—well, one of my mathematical friends says you may get a one, and I wonder if you'll get anything at all. If you add together all the ever-lessenings, an infinitude of ever-lessenings, will you get anything? Will there be any quantity whatsoever? Excuse me for going off on the third ray here, but will an infinitude of ever-lessenings amount to any quantity at all? This is something that I'd like to establish in my own mind, and I suppose I will have to consult my mathematical genius friend who lives in Berlin. Maybe I'm kind of reminiscing here, but we met each other when we were six or seven years old, and he's definitely on the third ray, and we ended up, in the later part of our life, both moving to Europe. How did this happen? I don't know. I'm trying to help him understand something of the second ray, and I think that he is correcting my mistakes upon the third. So I'll have to give him a call with respect to this particular question.
Điều tôi đang cố gắng nghiên cứu là ý tưởng về một loại đại lượng vô cùng bé tối hậu, theo một nghĩa nào đó nhỏ đến mức hầu như không có chiều kích—nhỏ hơn bất kỳ đơn vị không gian hay đơn vị thời gian nào có thể có. Khi cộng tất cả chúng lại—một người bạn toán học của tôi nói rằng các bạn có thể thu được một đơn vị, còn tôi tự hỏi liệu các bạn có thu được gì hay không. Nếu cộng tất cả những đại lượng không ngừng thu nhỏ lại, một tập hợp vô hạn những đại lượng không ngừng thu nhỏ lại, liệu các bạn có thu được gì không? Liệu có bất kỳ đại lượng nào hay không? Xin thứ lỗi vì tôi đã đi lạc sang cung ba ở đây, nhưng liệu một tập hợp vô hạn những đại lượng không ngừng thu nhỏ lại có tạo thành bất kỳ đại lượng nào không? Đây là điều tôi muốn xác lập trong thể trí mình, và có lẽ tôi sẽ phải tham khảo ý kiến người bạn thiên tài toán học đang sống tại Berlin. Có lẽ tôi đang hơi hồi tưởng, nhưng chúng tôi gặp nhau khi mới sáu hay bảy tuổi, và ông ấy chắc chắn thuộc cung ba; rồi đến giai đoạn sau của cuộc đời, cả hai chúng tôi đều chuyển đến châu Âu. Điều này đã xảy ra như thế nào? Tôi không biết. Tôi đang cố giúp ông ấy thấu hiểu phần nào về cung hai, và tôi nghĩ ông ấy đang sửa những sai lầm của tôi liên quan đến cung ba. Vì vậy, tôi sẽ phải gọi cho ông ấy về câu hỏi cụ thể này.
Are there any units of time whatsoever? That is what I'm really asking myself. Or is every unit of time an ever-lessening, an ultimate infinitesimal, and is every unit of space an ever-lessening? So much so that—oh, forgive me for this—are ever-lessenings really what I call ultimate negligibilities? So I'll have UN, ultimate negligibilities—no, that's universes; ULN and ULNs, ultimate negligibilities. It's a nice word. So are ever-lessenings really ultimate negligibilities? In other words, are there actually units of time and space, or are they so small, forever, as to be negligible—negligible? And all of this is the attempt to see whether “all here, all now, forever” is operable, and how that will seem to the consciousness.
Có bất kỳ đơn vị thời gian nào hay không? Đó là điều tôi thật sự đang tự hỏi. Hay mỗi đơn vị thời gian đều là một đại lượng không ngừng thu nhỏ lại, một đại lượng vô cùng bé tối hậu, và mỗi đơn vị không gian cũng là một đại lượng không ngừng thu nhỏ lại? Đến mức—ồ, xin thứ lỗi cho tôi về điều này—liệu những đại lượng không ngừng thu nhỏ lại có thật sự là điều tôi gọi là những đại lượng tối hậu có thể bỏ qua không? Vậy tôi sẽ dùng từ viết tắt UN, những đại lượng tối hậu có thể bỏ qua—không, đó là các vũ trụ; vậy là ULN và ULNs, những đại lượng tối hậu có thể bỏ qua. Đó là một cụm từ hay. Vậy những đại lượng không ngừng thu nhỏ lại có thật sự là những đại lượng tối hậu có thể bỏ qua không? Nói cách khác, có thực sự tồn tại các đơn vị thời gian và không gian hay chúng vĩnh viễn nhỏ đến mức có thể bỏ qua—có thể bỏ qua? Và tất cả những điều này là nỗ lực nhằm xem xét liệu “tất cả ở đây, tất cả ngay bây giờ, mãi mãi” có vận hành được hay không, và điều đó sẽ hiện ra với tâm thức như thế nào.
Well, the monad knows these things, and we who are in a state of immersion do not remember. And so we're trying to remember, which is part of our union of the poles. We are seeking first to be drawn into harmony with our higher pole, the soul, and then, as soul-infused personalities, under the Law of Polar Union, to be drawn into harmony with our still higher pole, the monad, and eventually to be retracted, no longer in extension, into that higher monad, and perhaps realize this at the sixth initiation. These Laws of the Soul, of course, do not pertain to the sixth initiation, at least in the way they're given to us, but they can be used on the Path of Initiation in ways that the Tibetan said it would do you no good to know, or you couldn't know them anyway. And if the Laws of the Soul in a higher version can be used by the Planetary Logos and the Solar Logos, then surely they have applicability far beyond our initiatory status.
Chân thần biết những điều này, còn chúng ta, những người đang ở trong trạng thái chìm ngập, thì không nhớ. Vì vậy, chúng ta đang cố gắng nhớ lại, và đó là một phần trong sự hợp nhất các cực của chúng ta. Trước hết, chúng ta tìm cách được thu hút vào sự hòa hợp với cực cao hơn của mình là linh hồn; rồi, với tư cách những phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, dưới Định luật Hợp Nhất Phân Cực, chúng ta được thu hút vào sự hòa hợp với cực còn cao hơn nữa của mình là chân thần; và cuối cùng được thu hồi, không còn ở trong trạng thái mở rộng, vào chân thần cao hơn ấy, và có lẽ chứng nghiệm điều này ở lần điểm đạo thứ sáu. Dĩ nhiên, các Định luật của Linh hồn này không liên quan đến lần điểm đạo thứ sáu, ít nhất theo cách chúng được truyền đạt cho chúng ta; nhưng chúng có thể được sử dụng trên Con Đường Điểm Đạo theo những cách mà Chân sư Tây Tạng nói rằng việc biết đến cũng chẳng ích gì cho các bạn, hoặc dù sao các bạn cũng không thể biết được. Và nếu các Định luật của Linh hồn, ở một phiên bản cao hơn, có thể được Đức Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế sử dụng, thì chắc chắn chúng có khả năng ứng dụng vượt xa địa vị điểm đạo của chúng ta.
Well, those of you who know me know what I've done here. I've gone on a little third ray fugue, because I realized that this is a unit of work which should be kept unto itself, and that we're about ready to begin the Law of Group Progress, and I don't really want to mix the two. So these Laws of the Soul lead us to realization, where this very simple, this very terse description of our Monadic pilgrimage becomes true in our consciousness:
Những ai trong các bạn biết tôi đều biết tôi vừa làm gì ở đây. Tôi đã thực hiện một đoạn biến tấu nhỏ theo cung ba, vì tôi nhận ra rằng đây là một đơn vị công việc cần được giữ riêng biệt, và chúng ta sắp bắt đầu Định luật Tiến Bộ Tập Thể, nên tôi thật sự không muốn trộn lẫn hai phần này. Vì vậy, các Định luật của Linh hồn này dẫn chúng ta đến sự chứng nghiệm, nơi lời mô tả hết sức giản dị và cô đọng này về cuộc hành hương chân thần của chúng ta trở thành chân thực trong tâm thức:
He died
Ngài đã chết
and we realize it.
và chúng ta chứng nghiệm điều đó.
He entered the strife
Ngài đã bước vào cuộc tranh đấu
and we realize it.
và chúng ta chứng nghiệm điều đó.
He learned the way of service
Ngài đã học con đường phụng sự
and we wake up to it.
và chúng ta thức tỉnh trước điều đó.
He stands before the door
Ngài đứng trước cánh cửa
and we realize this. And actually he passes right through the door with eyes wide open, which is what we long to do as we receive what could be called, in an important reflection in our life, more light in Masonry.
và chúng ta chứng nghiệm điều này. Thật ra, Ngài đi thẳng qua cánh cửa với đôi mắt mở rộng, và đó là điều chúng ta khát khao thực hiện khi tiếp nhận điều có thể được gọi là nhiều ánh sáng hơn trong Hội Tam Điểm, như một phản chiếu quan trọng trong đời sống chúng ta.
Friends, that's it. This will be the end of Light of the Soul Webinar Commentary number 21—am I doing it again? I hope I'm not doing it again. This is Esoteric Psychology II, page 174. And we're going to begin Laws of the Soul Webinar Commentary number 22, Esoteric Psychology II, page 174, and we're going to begin with the Law of Group Progress, something so important in the Aquarian Age, and strangely ruled by Capricorn—as it's called the Law of Elevation as well—instead of by Aquarius. You would think that, Aquarius being the group sign, we would have the Law of Group Progress ruled by Aquarius, but no, it is not so.
Các bạn, đến đây là hết. Đây sẽ là phần kết của Bình Giảng Webinar Ánh Sáng của Linh Hồn số 21—tôi lại nhầm nữa sao? Tôi hy vọng mình không lại nhầm nữa. Đây là Tâm Lý Học Nội Môn II, trang 174. Và chúng ta sẽ bắt đầu Bình Giảng Webinar Các Định Luật của Linh Hồn số 22, Tâm Lý Học Nội Môn II, trang 174; chúng ta sẽ bắt đầu với Định luật Tiến Bộ Tập Thể, một điều vô cùng quan trọng trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, nhưng lạ thay lại do Ma Kết cai quản—vì nó cũng được gọi là Định luật Nâng Cao—thay vì do Bảo Bình cai quản. Các bạn hẳn sẽ nghĩ rằng vì Bảo Bình là dấu hiệu tập thể nên Định luật Tiến Bộ Tập Thể sẽ do Bảo Bình cai quản, nhưng không, không phải vậy.
So we will go on to that in just a few minutes. I hope you've been able to live through my third ray fugue. A fugue is a flight, right? “Le petit fugue”—the little flights into other modes of thought. In my own life, it's the blending of the second and third ray which has to be done. We all discover at a certain point what blendings are required of us. So, very good. We'll start on number 22, and if I am mistaken, I'll let you know which one we're starting on very shortly. See you soon.
Vì vậy, chỉ vài phút nữa chúng ta sẽ tiếp tục với phần đó. Tôi hy vọng các bạn đã có thể chịu đựng được đoạn biến tấu cung ba của tôi. Một khúc biến tấu là một chuyến bay, phải không? “Chuyến bay nhỏ”—những chuyến bay ngắn vào các phương thức tư duy khác. Trong đời sống của chính tôi, sự hòa trộn cung hai và cung ba là điều phải được thực hiện. Đến một thời điểm nhất định, tất cả chúng ta đều khám phá ra mình cần thực hiện những sự hòa trộn nào. Tốt lắm. Chúng ta sẽ bắt đầu số 22, và nếu tôi nhầm, tôi sẽ sớm cho các bạn biết chúng ta đang bắt đầu số nào. Hẹn sớm gặp lại.