← Bình Giảng Các Định luật của Linh hồn

Commentary Laws of the Soul 5

Tóm lược chương

Chân sư DK trình bày Định luật Hi Sinh không chỉ là xung lực cho đi, mà còn là nguyên lý cứu vớt — tìm kiếm điều có thể cứu chuộc dù trong bất kỳ điều kiện nào, kể cả trong trường hợp của Hắc đoàn, nếu còn một phần nhỏ năng lượng hướng thiện thì vẫn không hoàn toàn mất đi. Định luật này biểu lộ xuyên suốt tất cả các giới trong tự nhiên: giới kim thạch hiến tặng khoáng chất qua giới thực vật cho con người, giới thực vật hi sinh cho giới động vật và giới nhân loại qua thức ăn và dưỡng khí, còn giới nhân loại, theo Rule 6 trong Rays and the Initiations, được giới thứ năm — giới linh hồn — hấp thu theo một nghĩa sâu xa. Thầy MDR nhận xét rằng…


Commentary Laws of the Soul 5

Tóm Tắt

Định luật Hi Sinh và sự cứu rỗi xuyên suốt các giới

Chân sư DK trình bày Định luật Hi Sinh không chỉ là xung lực cho đi, mà còn là nguyên lý cứu vớt — tìm kiếm điều có thể cứu chuộc dù trong bất kỳ điều kiện nào, kể cả trong trường hợp của Hắc đoàn, nếu còn một phần nhỏ năng lượng hướng thiện thì vẫn không hoàn toàn mất đi. Định luật này biểu lộ xuyên suốt tất cả các giới trong tự nhiên: giới kim thạch hiến tặng khoáng chất qua giới thực vật cho con người, giới thực vật hi sinh cho giới động vật và giới nhân loại qua thức ăn và dưỡng khí, còn giới nhân loại, theo Rule 6 trong Rays and the Initiations, được giới thứ năm — giới linh hồn — hấp thu theo một nghĩa sâu xa. Thầy MDR nhận xét rằng giới động vật không được định là vật hi sinh về thức ăn cho giới thứ tư, mà là qua sức lao động phụng sự.

Xung lực hi sinh là bản chất thiêng liêng nơi linh hồn và chân thần

Chân sư DK phân biệt rõ xung lực hi sinh với ham muốn thông thường: đây không phải mặt cảm xúc, mà là mặt chủ động, năng động của ham muốn và là đặc tính nổi bật nhất của Thượng đế. Xung lực này điều phối Định luật Tái sinh, thúc đẩy sự sống trên cung giáng hạ tiến hoá đi vào vật chất để tạo ra sự hiện diện của Thượng đế trong nội tâm sự sống, và cuối cùng thúc đẩy con người quay lưng lại với các giá trị thấp để hướng đến những điều tinh thần. Thầy MDR nhấn mạnh rằng không thể có sự tiến bộ thực sự nào mà không có hi sinh — luôn phải từ bỏ một giá trị thấp hơn để giá trị cao hơn nảy sinh — và ví dụ người góa phụ dâng đồng xu nhỏ bé trong Kinh Thánh cho thấy sự hi sinh xuất phát từ tận đáy lòng có sức tiến hóa vượt trội hơn những khoản bố thí lớn nhưng không tốn kém gì với người cho.

Dụ ngôn Người con hoang đàng và hành trình hi sinh của mọi linh hồn

Câu chuyện Người con hoang đàng được Chân sư DK dùng như biểu tượng cho hành trình của mọi Con của Thượng đế: hi sinh tâm thức cao siêu và đặc quyền năng lượng ở các cõi cao để đi vào vật chất, rồi hi sinh sự gắn bó với các sự sống thấp khi trở về, đồng thời kéo theo chúng cùng được nâng lên trên đường về nhà của Cha. Thầy MDR liên kết hình ảnh "đàn bò đỏ của Geryon" trong kỳ công của Hercules với sự khao khát của ham muốn được nâng lên trong một chiếc chén hướng đến sự sống cao hơn, đồng thời đặt câu hỏi liệu chính xung lực Piscean — Virgoan của cung hai từ cõi chân thần mới là động lực thực sự đẩy chúng ta vào các thế giới thấp, chứ không phải ham muốn thông thường.

Định luật Hi Sinh trên các hành tinh khác nhau và ba hành tinh cung ba

Chân sư DK nêu rõ rằng xung lực hi sinh biểu lộ khác nhau trên mỗi hệ hành tinh tùy theo mục tiêu và tính cách của vị Hành Tinh Thượng đế — còn được gọi là Đấng Chúa Tể Cung — của hành tinh đó. Riêng Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Thổ là những hành tinh mà hi sinh gắn liền với đau khổ và buồn phiền, trong khi các hành tinh khác không có đặc điểm này. Thầy MDR giải thích rằng ba hành tinh này, theo một cách huyền bí khó hiểu, cấu thành phàm ngã của một Sự Sống cung ba vĩ đại — Thầy giả thuyết rằng đây có thể là Ngôi Ba trong Tam Vị của Thái dương Thượng đế, với Sao Thổ là thể trí, Sao Hỏa là thể cảm dục và Trái Đất là thể xác của vị Sự Sống đó.

Hành Tinh Thượng đế Trái Đất là "Kẻ Phản Loạn Thiêng Liêng"

Cổ Luận mô tả dòng năng lượng sống biểu lộ trong hệ hành tinh Trái Đất là "Kẻ Phản Loạn Thiêng Liêng" — một thực thể đi vào sự sống và nhận ra đó là cái chết, nhận lấy hình tướng và đau buồn khi thấy nó tối tăm, tìm cách xin phép trở về nhưng bị cự tuyệt trong im lặng, rồi cuối cùng ở lại vì tiếng kêu thống thiết từ cõi thấp: "Chúng tôi đau khổ ở đây, chúng tôi tìm ánh sáng, chúng tôi cần sự hiện diện của một vị Thượng đế bước vào." Thầy MDR đặt câu hỏi liệu Hành Tinh Thượng đế Trái Đất và các biểu hiện của Ngài trong hệ mặt trời trước có phải là các thực thể liên quan đến cuộc phản loạn được Chân sư DK nhắc đến nhưng không nêu rõ tên hành tinh, và đây là điều lý giải phần lớn những khó khăn trong hệ mặt trời này.

Sự tương đồng giữa Hành Tinh Thượng đế và người đệ tử trong bóng tối

Chân sư DK trích dẫn một đoạn song song trong Esoteric Psychology II (trang 170–171) về "Người Theo Dõi" đặt câu hỏi cách phá vỡ đường hầm của mình và không nhận được câu trả lời từ trên cao, nhưng được thôi thúc bởi một người hành hương khác từ bóng tối xuất hiện và xin được dẫn đường. Thầy MDR chỉ ra sự tương đồng sâu sắc: trong cả hai trường hợp — Hành Tinh Thượng đế lẫn người đệ tử — không phải mệnh lệnh từ trên cao mà chính tiếng kêu cứu từ phía dưới mới là điều đánh thức lòng từ bi và buộc vị hi sinh phải ở lại, ẩn giấu nỗi sợ hãi và tuyệt vọng của mình mà vẫn thốt lên những lời của niềm tin và ánh sáng để dẫn dắt những người khác.

Sự phản loạn, ma sát và đau khổ trên Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Thổ

Chân sư DK kết luận rằng chính thái độ phản loạn tạo ra đau khổ và buồn phiền — phản loạn gây ra sự xé toạc hình tướng, giống như tâm thức tinh thần chống lại sự giam cầm trong vật chất. Thầy MDR liên hệ điều này với bản chất cung một của chân thần Hành Tinh Thượng đế Trái Đất, nhận xét rằng cả Sao Hỏa lẫn Trái Đất đều có tính kháng cự mạnh mẽ đối với giới hạn — Sao Hỏa là hành tinh nhiều ma sát nhất — và đặt câu hỏi liệu cung chân thần của Sao Hỏa có phải là cung một hay không, dù chúng ta biết Sao Hỏa có cung năm ở vị trí nổi bật. Thầy MDR cũng lưu ý rằng các thiên thần (deva) tăng trưởng qua niềm vui của việc xây dựng và qua sự đánh giá cái đẹp chứ không phải qua đau khổ, trong khi giới nhân loại — có lẽ mang nhiều cung một ở cấp độ chân thần — tăng trưởng qua sự phá vỡ hình tướng và phản loạn chống lại sự giam cầm.

Sanat Kumara, bảy hành tinh thiêng liêng và cấu trúc mười hệ hành tinh

Chân sư DK nêu rằng có bảy hành tinh thiêng liêng nhưng mười hệ hành tinh (thậm chí mười hai), và trong ba trường hợp ứng với ba cung trạng thái chính, ba hành tinh cùng cấu thành phàm ngã của mỗi Sự Sống cung tương ứng. Thầy MDR phân biệt Sanat Kumara với Hành Tinh Thượng đế Trái Đất: Sanat Kumara là một xuất lộ cứu rỗi đến muộn hơn trong tiến trình hành tinh, mang vẻ kiên nhẫn của cung hai, nhưng vẫn chia sẻ tâm lý phản loạn của Hành Tinh Thượng đế vì là một xuất lộ từ vị Logos đó. Thầy MDR cũng đề xuất rằng các hành tinh Mercury, Uranus và ở mức độ nào đó Pluto có liên hệ với cung ba nhiều hơn, trong khi Jupiter liên kết với cung hai qua linh hồn, và Uranus liên kết với cung một qua chân thần — tương đồng với các cung tương ứng của Trái Đất.

Ba hành tinh biểu hiện phàm ngã của Sự sống cung ba

Chân sư DK cho biết phàm ngã của Sự sống cung ba biểu hiện qua ba hành tinh: thể trí biểu hiện qua Sao Thổ, thể cảm dục biểu hiện qua Sao Hỏa, và thể xác biểu hiện qua Trái Đất. Thầy MDR lưu ý rằng cần đọc cẩn thận: không phải Sao Thổ là thể trí của Sự sống này, mà là thể trí của Sự sống đó biểu hiện qua Sao Thổ — vì Sao Thổ tự nó cũng có đầy đủ các hiện thể riêng, kể cả các hiện thể cao. Thầy thừa nhận rằng trước đây Thầy thường phát biểu rằng Sao Thổ là thể trí của Sự sống cung ba, nhưng nay nhận thấy mối quan hệ này tinh tế hơn: các hiện thể của một Ngôi trong Tam vị Thượng Đế có thể cộng hưởng và hoạt động qua các hiện thể tương ứng của hành tinh, mà không đồng nhất với chúng.

Ba hành tinh biểu hiện của Sự sống cung hai — giả thuyết về Sao Kim, Sao Mộc và Sao Thiên Vương

Chân sư DK đề cập rằng Sao Thiên Vương, Sao Mộc và Sao Kim liên kết chặt chẽ để biểu hiện một Sự sống vĩ đại song song. Thầy MDR đề xuất đây là Sự sống cung hai, tức Ngôi Con trong Tam vị Thượng Đế Thái Dương, dựa trên lý do: Sao Kim có liên hệ mật thiết với cung hai, Sao Mộc cũng vậy, và Sao Thiên Vương nằm trong dòng Sirius, đóng vai trò dẫn truyền năng lượng Sirius cũng như phương diện thứ hai của thiên tính. Thầy nhấn mạnh đây là một giả thuyết cần kiểm chứng theo thời gian.

Định luật Hi Sinh và sự đau khổ của Trái Đất trong bối cảnh cung ba

Thầy MDR nhận xét rằng ba hành tinh — Sao Thổ, Sao Hỏa và Trái Đất — nhiều khả năng là những nơi Định luật Hi Sinh được biểu hiện nặng nề nhất, đặc biệt là Trái Đất. Thầy giải thích: vì Trái Đất được đồng hóa với phương diện thứ ba của thiên tính, nó phải liên tục điều chỉnh bản thân theo chương trình của phương diện thứ hai đang hoạt động trong hệ mặt trời chúng ta, và chính sự điều chỉnh ma sát đó là nguồn gốc của phần lớn đau khổ mà nhân loại trải nghiệm.

Giả thuyết về Ba Ngôi Thượng Đế và bảy Hành Tinh Thượng Đế

Thầy MDR đề xuất một giả thuyết: mỗi một trong ba Ngôi của Tam vị Thượng Đế Thái Dương cần đến ba Hành Tinh Thượng Đế khác để biểu hiện, qua đó đưa Nhất Nguyên của Thái Dương Thượng Đế vào tam phân rồi thất phân tương ứng với bảy hành tinh thiêng liêng. Thầy lưu ý rằng các chân thần của các hành tinh không thiêng liêng — như Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Diêm Vương — cũng hiện diện ở cõi Chân Thần và có thể cũng tham gia vào sơ đồ biểu hiện này, không chỉ riêng các hành tinh thiêng liêng. Thầy thừa nhận đây là giả thuyết và sẽ được làm sáng tỏ thêm trong các buổi tiếp theo.

The Law of the Soul 5

[1] This Law of Sacrifice and the impulse to give [2] can also be traced throughout every kingdom in nature. It is typified for us in the basic sacrifices which take place between the various kingdoms. The essential qualities of the minerals and chemicals of the earth are an instance in point. They are needed by other forms of life and are donated to man through the medium of the vegetable kingdom [3] and through the water which he drinks, [4] and thus, even in the first and densest kingdom in nature (whose consciousness is so far removed from ours) does this process of giving hold good. But the tracing of this Law of Sacrifice in the subhuman kingdoms is not possible [Page 96] here, and we must confine our attention to the world of human living and consciousness.

[1] Định luật Hy sinh này và xung lực ban cho [2] cũng có thể được truy nguyên xuyên suốt mọi giới trong tự nhiên. Nó được minh họa cho chúng ta qua những sự hy sinh căn bản diễn ra giữa các giới khác nhau. Những phẩm tính thiết yếu của các khoáng chất và hóa chất của Trái Đất là một trường hợp điển hình. Các chất này cần thiết cho những hình tướng sự sống khác và được trao cho con người qua giới thực vật [3] và qua nước mà y uống, [4] và vì vậy, ngay cả trong giới thứ nhất và đậm đặc nhất của tự nhiên (mà tâm thức của nó cách xa tâm thức của chúng ta đến thế), tiến trình ban cho này vẫn vận hành. Nhưng ở đây không thể truy nguyên Định luật Hy sinh trong các giới dưới nhân loại [Page 96], và chúng ta phải giới hạn sự chú ý của mình vào thế giới của đời sống và tâm thức con người.

[5] b. THE WORK OF SALVAGE OR SALVATION

[5] b. CÔNG VIỆC CỨU VỚT HAY CỨU RỖI

[6] The Law of Sacrifice means also salvage [7] and underlies all the evolutionary processes and particularly does this emerge into clear significance in the human family. The instinct to betterment, the urge to progress (physical, emotional and intellectual), the effort to ameliorate conditions, the tendency to philanthropy which is so rapidly taking hold of the world, [8] and the sense of responsibility which does make men realize that they are their brother’s keeper, are all expressions of this sacrificial instinct. [9] This factor, though not unrecognized by modern psychology, is of far wider significance than has yet been realized. [10] This instinctual tendency is the one that itself governs the Law of Rebirth. [11] It is the expression of a still greater factor in the creative process. It is the major determining impulse which impelled the Soul of God Himself to enter into form life; [12] which impels life, upon the involutionary arc, to progress down into matter, producing thus the immanence of God. [13] It is that also which drives humanity forward into its wild struggle for material well-being. [14] It is that too which urges man eventually to turn his back upon the “world, the flesh and the devil,” [15] as the New Testament puts it, and orient himself to the things of spiritual import. [16] The prodigal son sacrificed the Father’s home [17] when he chose to wander forth into the far country. [18] He wasted and sacrificed his substance through the use he made of the experience of life on earth, until he had exhausted all his resources and there was naught left but the eventual sacrifice of what he held so dear, but had discovered to be so unsatisfying. [19] For these things of lesser values, he had sacrificed the higher values, and had to return again whence he came. [20] Such is the life story of all the [Page 97] sons of God who came into incarnation, as given to us under the symbolism of the Bible. [21] But the theme in all the world Bibles is the same.

[6] Định luật Hy sinh cũng có nghĩa là cứu vớt [7] và nằm bên dưới mọi tiến trình tiến hóa; điều này đặc biệt hiển lộ với thâm nghĩa rõ ràng trong gia đình nhân loại. Bản năng hướng tới sự cải thiện, thôi thúc tiến bộ (về thể chất, cảm xúc và trí tuệ), nỗ lực cải thiện các điều kiện, khuynh hướng từ thiện đang nhanh chóng lan rộng khắp thế giới, [8] và ý thức trách nhiệm khiến con người nhận ra rằng mình có trách nhiệm chăm lo cho huynh đệ mình, tất cả đều là những biểu hiện của bản năng hy sinh này. [9] Yếu tố này, mặc dù không phải không được tâm lý học hiện đại nhận biết, có thâm nghĩa rộng lớn hơn rất nhiều so với những gì người ta đã nhận ra cho đến nay. [10] Chính khuynh hướng bản năng này chi phối Định luật Tái Sinh. [11] Nó là sự biểu hiện của một yếu tố còn lớn hơn nữa trong tiến trình sáng tạo. Nó là xung lực quyết định chủ yếu đã thúc đẩy chính Linh hồn của Thượng đế bước vào đời sống hình tướng; [12] thúc đẩy sự sống, trên cung giáng hạ tiến hóa, tiến xuống vật chất, qua đó tạo nên tính nội tại của Thượng đế. [13] Cũng chính nó thúc đẩy nhân loại tiến về phía trước trong cuộc đấu tranh dữ dội nhằm đạt tới sự an sinh vật chất. [14] Cũng chính nó cuối cùng thôi thúc con người quay lưng lại với “thế gian, xác thịt và ma quỷ,” [15] như Tân Ước diễn đạt, và định hướng bản thân về những điều có ý nghĩa tinh thần. [16] Người con hoang đàng đã hy sinh mái nhà của Cha [17] khi y chọn ra đi lang thang đến miền đất xa xôi. [18] Y đã phung phí và hy sinh tài sản của mình qua cách y sử dụng kinh nghiệm của đời sống trên trần thế, cho đến khi y cạn kiệt mọi nguồn lực và không còn gì ngoài việc cuối cùng phải hy sinh những gì y từng xem là rất quý giá, nhưng đã khám phá ra rằng chúng hoàn toàn không đem lại sự thỏa mãn. [19] Vì những điều có giá trị thấp kém này, y đã hy sinh những giá trị cao hơn, và phải quay trở lại nơi mình đã xuất phát. [20] Đó là câu chuyện cuộc đời của tất cả các [Page 97] Con của Thượng đế đã đi vào lâm phàm, như được trình bày cho chúng ta dưới biểu tượng của Kinh Thánh. [21] Nhưng chủ đề trong tất cả các Thánh Kinh của thế giới đều giống nhau.

[22] This urge to sacrifice, to relinquish this for that, to choose one way [23] or line of conduct and thus sacrifice another way, [24] to lose in order eventually to gain, [25] —such is the underlying story of evolution. [26] This needs psychological understanding. [27] It is a governing principle of life itself, [28] and runs like a golden pattern of beauty through the dark materials of which human history is constructed. [29] When this urge to sacrifice in order to win, gain or salvage that which is deemed desirable is understood, then the whole clue to man’s unfoldment will stand revealed. [30] This tendency or urge is something different to desire, as desire is academically understood and studied today. [31] What it really connotes is the emergence of that which is most divine in man. [32] It is an aspect of desire, but it is the dynamic, active side and not the feeling, sensuous side. It is the predominant characteristic of Deity.

[22] Thôi thúc hy sinh, từ bỏ điều này để lấy điều kia, lựa chọn một con đường [23] hay một đường lối hành xử và qua đó hy sinh một con đường khác, [24] mất đi để cuối cùng đạt được, [25] —đó là câu chuyện nằm bên dưới sự tiến hóa. [26] Điều này cần được thấu hiểu về mặt tâm lý. [27] Nó là một nguyên khí chi phối chính sự sống, [28] và chạy như một hoa văn vàng mỹ lệ xuyên qua những chất liệu tối tăm cấu thành lịch sử nhân loại. [29] Khi thôi thúc hy sinh để chiến thắng, đạt được hoặc cứu vớt điều được xem là đáng mong muốn này được thấu hiểu, thì toàn bộ chìa khóa cho sự khai mở của con người sẽ hiển lộ. [30] Khuynh hướng hay thôi thúc này khác với dục vọng, theo cách dục vọng được hiểu và nghiên cứu về mặt học thuật ngày nay. [31] Điều mà nó thực sự hàm ý là sự hiển lộ của điều thiêng liêng nhất trong con người. [32] Nó là một phương diện của dục vọng, nhưng là phương diện năng động, tích cực, chứ không phải phương diện cảm xúc và cảm giác. Nó là đặc tính nổi trội của Thượng đế.

[33] It is of interest, however, for students of esotericism to note that this urge to salvage and to sacrifice in order to redeem works out in different ways in the different planetary schemes. [34] Each Ray Lord of a scheme, [35] manifesting through a planet, expresses this urge [36] in varying ways, and each expression is so different from the others that it is hard for a human being to do more than sense that method which exists on our own particular planet. [37] Initiates know that the varying psychological characteristics of the ray Lives condition most peculiarly the method of expressing sacrifice, during the course of manifestation. [38] The great stream of living energy which is manifesting itself in our Earth scheme of evolution is conditioned by a temperament, an attitude and an orientation that is that of a “Divine Rebel.” [39] It is only rebellion that produces pain and sorrow, but this rebellion is inherent and [Page 98] innate in the Deity of our planet Himself, the “One in Whom we live and move and have our being.” [40] It is, therefore, a tendency greater than the individual unit. [41] It is only possible to express this amazing truth about the planetary Life under a veil of symbology and in terms of human thought. [42] In this there is ever a risk, for men interpret all they read and hear and experience in terms of themselves.

[33] Tuy nhiên, đối với các đạo sinh huyền bí học, điều đáng lưu ý là thôi thúc cứu vớt và hy sinh nhằm cứu chuộc này biểu hiện theo những cách khác nhau trong các hệ hành tinh khác nhau. [34] Mỗi Đấng Chúa Tể Cung của một hệ hành tinh, [35] biểu hiện qua một hành tinh, biểu lộ thôi thúc này [36] theo những cách khác nhau, và mỗi biểu hiện khác biệt với những biểu hiện khác đến mức một con người khó có thể làm gì hơn ngoài việc cảm nhận phương pháp đang tồn tại trên chính hành tinh đặc thù của chúng ta. [37] Các điểm đạo đồ biết rằng những đặc tính tâm lý khác nhau của các Sự Sống cung tác động theo một cách hết sức đặc thù đến phương pháp biểu hiện sự hy sinh trong tiến trình biểu hiện. [38] Dòng năng lượng sống vĩ đại đang tự biểu hiện trong hệ tiến hóa Trái Đất của chúng ta chịu tác động bởi một khí chất, một thái độ và một định hướng của một “Đấng Nổi Loạn Thiêng Liêng.” [39] Chỉ sự nổi loạn mới tạo ra đau đớn và sầu khổ, nhưng sự nổi loạn này vốn cố hữu và [Page 98] bẩm sinh trong chính Thượng đế của hành tinh chúng ta, “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn.” [40] Vì vậy, đó là một khuynh hướng lớn hơn đơn vị cá nhân. [41] Chỉ có thể diễn đạt chân lý đáng kinh ngạc này về Sự Sống Hành tinh dưới bức màn biểu tượng và bằng các thuật ngữ của tư tưởng con người. [42] Trong việc này luôn có một nguy cơ, bởi con người diễn giải mọi điều họ đọc, nghe và trải nghiệm theo chính bản thân mình.

The Old Commentary says:

Cổ Luận nói:

[43] “He entered into life [44] and knew it to be death.

[43] “Ngài bước vào sự sống [44] và biết đó là cái chết.

[45] “He took a form and grieved to find it dark.

[45] “Ngài khoác lấy một hình tướng và đau buồn khi thấy nó tối tăm.

[46] “He drove Himself forth from the secret place and sought the place of light, and light revealed all that he sought the least.

[46] “Ngài tự thúc mình ra khỏi nơi bí mật và tìm kiếm nơi có ánh sáng, và ánh sáng đã phơi bày tất cả những gì Ngài ít muốn thấy nhất.

[47] “He craved permission to return.

[47] “Ngài khao khát được phép trở về.

[48] “He sought the Throne on high and Him who sat thereon. [49] He said ‘I sought not this. I looked for peace, for light, [50] for scope to serve, [51] to prove my love and to reveal my power. [52] Light there is none. [53] Peace is not found. [54] Let me return.’

[48] “Ngài tìm đến Thánh Ngai trên cao và Đấng ngự trên đó. [49] Ngài nói: ‘Tôi không tìm kiếm điều này. Tôi tìm kiếm sự bình an, ánh sáng, [50] phạm vi để phụng sự, [51] để chứng minh tình thương của tôi và biểu lộ quyền năng của tôi. [52] Không có ánh sáng. [53] Không tìm thấy sự bình an. [54] Xin cho tôi trở về.’

[55] But He Who sat upon the Throne turned not his head. [56] He seemed not e’en to listen nor to hear. [57] But from the lower sphere of darkness [58] and of pain a voice came forth and cried: ‘We suffer here. We seek the light. We need the glory of an entering God. [Page [59] I can find no other words except these last two to express the ancient symbol from which I am translating.] [60] Lift us to Heaven. Enter, O Lord, the tomb. Raise us into the light and make the sacrifice. [61] Break down for us the prison wall and enter into pain.’

[55] Nhưng Đấng ngự trên Thánh Ngai không ngoảnh đầu lại. [56] Dường như Ngài thậm chí không lắng nghe cũng không nghe thấy. [57] Nhưng từ khối cầu thấp của bóng tối [58] và đau khổ, một tiếng nói vang lên và kêu rằng: ‘Chúng tôi đau khổ ở đây. Chúng tôi tìm kiếm ánh sáng. Chúng tôi cần vinh quang của một Thượng đế đang đi vào. [Page [59] Tôi không thể tìm được những từ nào khác ngoài hai từ cuối này để diễn đạt biểu tượng cổ xưa mà tôi đang dịch.] [60] Hãy nâng chúng tôi lên Thiên giới. Lạy Chúa Tể, xin hãy bước vào ngôi mộ. Hãy nâng chúng tôi vào ánh sáng và thực hiện sự hy sinh. [61] Hãy phá đổ bức tường nhà tù cho chúng tôi và bước vào đau khổ.’

[62] The Lord of Life returned. [63] He liked it not, and hence the pain.”

[62] Chúa Tể của Sự Sống đã trở lại. [63] Ngài không ưa thích điều đó, và do đó có đau khổ.”

[64] The same conditions which blend the Law of Sacrifice with pain and sorrow and difficulty [65] are found also on the planet Mars and on the planet Saturn. They are not found on the other planets. [66] Those who have read The Secret Doctrine and A Treatise on Cosmic Fire [67] with understanding [68] know that our Earth is not a sacred planet. However, [69] Saturn, Mars and our Earth constitute, in a curious esoteric manner, [70] the [Page 99] personality of a stupendous ray Life, Whose energy is that of the third Ray. [71] There are, as has been stated elsewhere, seven sacred planets but ten planetary schemes, [72] and in three cases, (those of the three major rays) three planets constitute the personality of each ray Life. [73] Some esoteric thinkers believe that there are twelve planets to be considered in our solar system, and there is a basis for their conclusion. [74] The personality of this third ray Life functions through the following planets:

[64] Những điều kiện tương tự, vốn kết hợp Định luật Hy sinh với đau đớn, sầu khổ và khó khăn, [65] cũng được tìm thấy trên hành tinh Sao Hỏa và hành tinh Sao Thổ. Chúng không được tìm thấy trên các hành tinh khác. [66] Những người đã đọc Giáo Lý Bí Nhiệm và Luận về Lửa Vũ Trụ [67] với sự thấu hiểu [68] đều biết rằng Trái Đất của chúng ta không phải là một hành tinh thiêng liêng. Tuy nhiên, [69] Sao Thổ, Sao Hỏa và Trái Đất của chúng ta, theo một cách huyền bí đặc biệt, cấu thành [70] [Page 99] phàm ngã của một Sự Sống cung vĩ đại, mà năng lượng của Ngài thuộc cung ba. [71] Như đã được trình bày ở nơi khác, có bảy hành tinh thiêng liêng nhưng có mười hệ hành tinh, [72] và trong ba trường hợp (tức ba cung chính), ba hành tinh cấu thành phàm ngã của mỗi Sự Sống cung. [73] Một số nhà tư tưởng huyền bí tin rằng có mười hai hành tinh cần được xem xét trong hệ mặt trời của chúng ta, và kết luận của họ có cơ sở. [74] Phàm ngã của Sự Sống cung ba này hoạt động thông qua các hành tinh sau:

[75] 1. The mental body expresses itself through the medium of the planet Saturn.

[75] 1. Thể trí biểu lộ qua hành tinh Sao Thổ.

[76] 2. The astral body expresses itself through the planet Mars.

[76] 2. Thể cảm dục biểu lộ qua hành tinh Sao Hỏa.

[77] 3. The physical body expresses itself through the planet Earth.

[77] 3. Thể xác biểu lộ qua hành tinh Trái Đất.

[78] The potency of this Life is such that He requires three complete schemes—all three closely allied and interdependent—through which to express Himself. Uranus, Jupiter and Venus are similarly allied in order to manifest or express a great Life.

[78] Quyền năng của Sự Sống này lớn đến mức Ngài cần ba hệ hành tinh hoàn chỉnh—cả ba liên kết chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau—để qua đó biểu lộ chính Ngài. Sao Thiên Vương, Sao Mộc và Sao Kim cũng liên kết với nhau theo cách tương tự để biểu hiện hoặc biểu lộ một Sự Sống Vĩ Đại.

[79] These facts constitute a tremendous mystery, and in no way negate the truth that Venus has a peculiar and intimate relation to the Earth. [80] The point here being stressed is difficult to express, but of great importance. Let me be more explicit, by means of the following statements:

[79] Những sự kiện này cấu thành một bí nhiệm vô cùng lớn lao, và hoàn toàn không phủ nhận chân lý rằng Sao Kim có một mối quan hệ đặc biệt và mật thiết với Trái Đất. [80] Điểm đang được nhấn mạnh ở đây rất khó diễn đạt, nhưng có tầm quan trọng lớn lao. Hãy để Tôi trình bày rõ ràng hơn qua những phát biểu sau đây:

Bình Giảng Webinar Các Định Luật của Linh Hồn 5

Hi everybody. We are beginning with Laws of the Soul Webinar Commentaries, Esoteric Psychology II. We're in number five, we're on page 95, and we're in the Law of Sacrifice.

Xin chào mọi người. Chúng ta bắt đầu phần Bình Giảng Webinar Các Định Luật của Linh Hồn, Tâm Lý Học Nội Môn II. Đây là phần năm, ở trang 95, và chúng ta đang nghiên cứu Định luật Hy sinh.

DK gives a lot of attention to each one of these laws in this particular book. The section is well over 100 pages in the book, so it's a most significant study for us. We will go on in this fifth section now.

Trong quyển sách này, Chân sư DK dành nhiều sự chú ý cho từng định luật. Phần này dài hơn 100 trang, nên đây là một nghiên cứu vô cùng quan trọng đối với chúng ta. Bây giờ, chúng ta sẽ tiếp tục phần thứ năm này.

[1] This Law of Sacrifice and the impulse to give

[1] Định luật Hy sinh này và xung lực ban cho

—remember, the impulse of giving is the major theme of the Law of Sacrifice—

—hãy nhớ rằng xung lực trao tặng là chủ đề chính của Định luật Hy sinh—

[2] can also be traced throughout every kingdom in nature. It is typified for us in the basic sacrifices which take place between the various kingdoms. The essential qualities of the minerals and chemicals of the earth are an instance in point. They are needed by other forms of life and are donated to man through the medium of the vegetable kingdom

[2] cũng có thể được truy nguyên xuyên suốt mọi giới trong tự nhiên. Nó được minh họa cho chúng ta qua những sự hy sinh căn bản diễn ra giữa các giới khác nhau. Những phẩm tính thiết yếu của các khoáng chất và hóa chất của Trái Đất là một trường hợp điển hình. Các chất này cần thiết cho những hình tướng sự sống khác và được trao cho con người qua giới thực vật

which, of course, absorbs them.

vì giới này hấp thụ chúng.

They are donated to man through the medium of the vegetable kingdom

Giới thực vật hiến tặng chúng cho con người

[3] and through the water which he drinks,

[3] và qua nước mà y uống,

in which the minerals may be dissolved,

trong đó các khoáng vật có thể hòa tan,

[4] and thus, even in the first and densest kingdom in nature (whose consciousness is so far removed from ours) does this process of giving hold good. But the tracing of this Law of Sacrifice in the subhuman kingdoms is not possible here, and we must confine our attention to the world of human living and consciousness.

[4] và vì vậy, ngay cả trong giới thứ nhất và đậm đặc nhất của tự nhiên (mà tâm thức của nó cách xa tâm thức của chúng ta đến thế), tiến trình ban cho này vẫn vận hành. Nhưng ở đây không thể truy nguyên Định luật Hy sinh trong các giới dưới nhân loại [Page 96], và chúng ta phải giới hạn sự chú ý của mình vào thế giới của đời sống và tâm thức con người.

Of course, we can understand that the plant life sacrifices itself to the animal kingdom and to the human kingdom in terms of food, essentially, and helps to provide the oxygen which can be breathed and can sustain those forms of life. The animal kingdom is not meant to be sacrificed to the fourth kingdom in terms of food, but in terms of labor, yes. And there is a strange sense also in which the human kingdom is sacrificed to the fifth kingdom, the kingdom of souls. We're told in Rule 6 in The Rays and the Initiations that the fifth feeds upon the fourth, especially upon all that is of value produced by the fourth, all that is the higher product of the fourth.

Chúng ta có thể hiểu rằng về căn bản, sự sống thực vật hy sinh chính mình để làm thức ăn cho giới động vật và giới nhân loại, đồng thời giúp cung cấp dưỡng khí mà các hình thái sự sống ấy có thể hít thở và nhờ đó duy trì sự sống. Giới động vật không được định để hy sinh làm thức ăn cho giới thứ tư, nhưng có thể phụng sự bằng sức lao động. Theo một ý nghĩa kỳ lạ, giới nhân loại cũng hy sinh cho giới thứ năm, giới linh hồn. Trong Quy luật 6 của Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo, chúng ta được dạy rằng giới thứ năm nuôi dưỡng mình bằng giới thứ tư, đặc biệt bằng mọi điều có giá trị do giới thứ tư tạo ra, tức mọi sản phẩm cao siêu của giới này.

We come to a new section now, and this is

Bây giờ chúng ta đến một phần mới:

[5] b. THE WORK OF SALVAGE OR SALVATION

[5] b. CÔNG VIỆC CỨU VỚT HAY CỨU RỖI

—generally taking something in an apparently unusable condition and finding a way to use and redeem it, finding a way to use and redeem the apparently useless.

—nói chung là tiếp nhận một điều dường như không còn sử dụng được rồi tìm cách sử dụng và cứu chuộc nó, tức tìm cách sử dụng và cứu chuộc điều dường như vô dụng.

[6] The Law of Sacrifice means also salvage

[6] Định luật Hy sinh cũng có nghĩa là cứu vớt

—to find that which is redeemable, regardless of the condition. Even in the case of the Black Lodge, if there is any slight tendency or energy in the energy system of such individuals which is redeemable and which tends towards the good, then they are not totally lost, we are told, and some effort is made to build upon that which is still redeemable. So it

—tìm kiếm điều có thể cứu chuộc, bất kể tình trạng của nó. Ngay cả trong trường hợp Hắc đoàn, nếu hệ thống năng lượng của những cá nhân ấy còn bất kỳ khuynh hướng hay năng lượng nhỏ bé nào có thể cứu chuộc và hướng đến điều thiện, thì chúng ta được dạy rằng họ chưa hoàn toàn mất hết, và người ta sẽ nỗ lực xây dựng dựa trên điều vẫn còn có thể cứu chuộc ấy.

means also salvage

cũng hàm ý sự cứu vớt

[7] and underlies all the evolutionary processes and particularly does this emerge into clear significance in the human family. The instinct to betterment, the urge to progress (physical, emotional and intellectual), the effort to ameliorate conditions, the tendency to philanthropy which is so rapidly taking hold of the world,

[7] và nằm bên dưới mọi tiến trình tiến hóa; điều này đặc biệt hiển lộ với thâm nghĩa rõ ràng trong gia đình nhân loại. Bản năng hướng tới sự cải thiện, thôi thúc tiến bộ (về thể chất, cảm xúc và trí tuệ), nỗ lực cải thiện các điều kiện, khuynh hướng từ thiện đang nhanh chóng lan rộng khắp thế giới,

—and this, we know, is a blending of the second aspect of divinity and the third aspect of divinity—

—và chúng ta biết rằng đây là sự hòa trộn phương diện thứ hai với phương diện thứ ba của thiên tính—

[8] and the sense of responsibility which does make men realise that they are their brother’s keeper,

[8] và ý thức trách nhiệm khiến con người nhận ra rằng mình có trách nhiệm chăm lo cho huynh đệ mình, tất cả đều là những biểu hiện của bản năng hy sinh này.

Of course, Cain was asked where his brother was. He had killed his brother. Of course, there's an occult meaning to all that in terms of the chakras—probably the relationship between the head center and the solar plexus center, between Vulcan and Mars. But Cain answered, "Am I my brother's keeper?" And the answer here given by DK is yes. All these are expressions of this sacrificial instinct.

Cain đã được hỏi em mình ở đâu. Ông đã giết em mình. Tất nhiên, mọi điều ấy mang một ý nghĩa huyền bí liên quan đến các luân xa—có lẽ là mối quan hệ giữa trung tâm đầu và trung tâm tùng thái dương, giữa Vulcan và Sao Hỏa. Nhưng Cain trả lời: “Tôi có phải là người chăm nom em tôi không?” Câu trả lời mà Chân sư DK đưa ra ở đây là có. Tất cả những điều này đều biểu hiện bản năng hy sinh.

In other words, we rise to higher quality through sacrifice. We give up something for a general improvement in our vibrational state. This is all a question of values and of what lower values can be sacrificed for the emergence of higher values.

Nói cách khác, chúng ta vươn lên một phẩm tính cao hơn nhờ hy sinh. Chúng ta từ bỏ một điều gì đó để cải thiện tổng thể trạng thái rung động của mình. Tất cả đều là vấn đề về các giá trị và về những giá trị thấp nào có thể hy sinh để các giá trị cao hơn xuất hiện.

[9] This factor, though not unrecognised by modern psychology, is of far wider significance than has yet been realised.

[9] Yếu tố này, mặc dù không phải không được tâm lý học hiện đại nhận biết, có thâm nghĩa rộng lớn hơn rất nhiều so với những gì người ta đã nhận ra cho đến nay.

This sacrificial tendency towards betterment—because there is no betterment unless something lower is sacrificed for something higher. So, a sacrificial tendency towards betterment, if we can call it that.

Đây là khuynh hướng hy sinh hướng đến sự cải thiện—bởi không thể có sự cải thiện nếu không hy sinh điều thấp cho điều cao. Vì vậy, chúng ta có thể gọi nó là khuynh hướng hy sinh hướng đến sự cải thiện.

We have been dealing with the idea of being one's brother's keeper. All these are expressions of the sacrificial instinct because one has to give up the tendencies of one's lunar vehicles in order to achieve group consciousness. So the sense of responsibility, philanthropy, ameliorating conditions—all these tend towards group consciousness, which is the great factor in all these laws of the soul.

Chúng ta đang bàn đến ý tưởng làm người chăm nom huynh đệ mình. Tất cả những điều này đều biểu hiện bản năng hy sinh, bởi người ta phải từ bỏ các khuynh hướng của những vận cụ thái âm để đạt được tâm thức tập thể. Vì vậy, ý thức trách nhiệm, hoạt động thiện nguyện và việc cải thiện hoàn cảnh đều hướng đến tâm thức tập thể, vốn là yếu tố lớn lao trong tất cả các định luật của linh hồn.

This is the sacrificial instinct with which, as souls, we are endowed, just as the instinct towards acquisition is native to the lunar vehicles. Inherent selfishness—the so-called original sin, we might say—is the sin of selfishness inherent in the lunar vehicles. So

Đây là bản năng hy sinh mà chúng ta, với tư cách linh hồn, vốn được phú cho, cũng như bản năng chiếm hữu vốn có trong các vận cụ thái âm. Tính ích kỷ cố hữu—cái gọi là nguyên tội—chính là tội ích kỷ vốn có trong các vận cụ thái âm.

This factor,

Yếu tố này,

the sacrificial instinct,

tức bản năng hy sinh,

though not unrecognised by modern psychology, is of far wider significance than has yet been realised.

dù tâm lý học hiện đại không phải là không nhận biết, vẫn mang thâm nghĩa rộng lớn hơn rất nhiều so với mức người ta đã nhận ra.

This is instilled in us from the very highest sources, the source itself. It is inherent in the monad.

Điều này được gieo vào chúng ta từ những cội nguồn cao cả nhất, từ chính Cội Nguồn. Nó vốn có trong chân thần.

[10] This instinctual tendency is the one that itself governs the Law of Rebirth.

[10] Chính khuynh hướng bản năng này chi phối Định luật Tái Sinh.

—constantly to uplift and redeem and improve the condition of the lesser lives. So it's the elevation of vibration.

—không ngừng nâng cao, cứu chuộc và cải thiện tình trạng của những sự sống thấp hơn. Vì vậy, đây là sự nâng cao rung động.

[11] It is the expression of a still greater factor in the creative process. It is the major determining impulse which impelled the Soul of God Himself to enter into form life;

[11] Nó là sự biểu hiện của một yếu tố còn lớn hơn nữa trong tiến trình sáng tạo. Nó là xung lực quyết định chủ yếu đã thúc đẩy chính Linh hồn của Thượng đế bước vào đời sống hình tướng;

we might say, the pervading of form life by the consciousness of God. It is the determining impulse

chúng ta có thể nói đó là việc tâm thức của Thượng đế thấm nhuần đời sống hình tướng. Chính xung lực quyết định này

[12] which impels life, upon the involutionary arc, to progress down into matter, producing thus the immanence of God.

[12] thúc đẩy sự sống, trên cung giáng hạ tiến hóa, tiến xuống vật chất, qua đó tạo nên tính nội tại của Thượng đế.

And this is the first part of the descent of the monad, but also, before that, the descent of the third aspect of divinity and the second aspect of divinity. The sacrificial instinct, the instinct of giving, the instinct of making sacred:

Đây là phần đầu tiên trong sự giáng xuống của chân thần, nhưng trước đó còn có sự giáng xuống của phương diện thứ ba và phương diện thứ hai của thiên tính. Đó là bản năng hy sinh, bản năng trao tặng, bản năng làm cho trở nên thiêng liêng:

[13] It is that also which drives humanity forward into its wild struggle for material well-being.

[13] Cũng chính nó thúc đẩy nhân loại tiến về phía trước trong cuộc đấu tranh dữ dội nhằm đạt tới sự an sinh vật chất.

And let us say that this is sensed as an improvement in the quality of life over conditions as they were before—stark, difficult, inhospitable.

Chúng ta có thể nói rằng điều này được cảm nhận như một sự cải thiện phẩm chất đời sống so với những hoàn cảnh trước kia vốn khắc nghiệt, khó khăn và không thuận lợi.

[14] It is that too which urges man eventually to turn his back upon the “world, the flesh and the devil,”

[14] Cũng chính nó cuối cùng thôi thúc con người quay lưng lại với “thế gian, xác thịt và ma quỷ,”

the three aspects of divinity,

ba phương diện của thiên tính,

[15] as the New Testament puts it, and orient himself to the things of spiritual import.

[15] như Tân Ước diễn đạt, và định hướng bản thân về những điều có ý nghĩa tinh thần.

So there is an involutionary descent of consciousness into matter, much at the expense of consciousness, but for the general upliftment of matter, this general infusion of a higher aspect into a lower aspect.

Vì vậy, có một sự giáng xuống của tâm thức vào vật chất trên cung giáng hạ tiến hóa, khiến tâm thức phải trả giá rất nhiều, nhưng nhằm nâng cao vật chất nói chung; đó là sự thấm nhuần tổng quát của một phương diện cao vào một phương diện thấp.

[16] The prodigal son sacrificed the Father’s home

[16] Người con hoang đàng đã hy sinh mái nhà của Cha

indeed,

thật vậy,

[17] when he chose to wander forth into the far country.

[17] khi y chọn ra đi lang thang đến miền đất xa xôi.

Now this, we could say, is a sacrificial gesture.

Chúng ta có thể nói đây là một hành động hy sinh.

[18] He wasted and sacrificed his substance through the use he made of the experience of life on earth, until he had exhausted all his resources and there was naught left but the eventual sacrifice of what he held so dear, but had discovered to be so unsatisfying.

[18] Y đã phung phí và hy sinh tài sản của mình qua cách y sử dụng kinh nghiệm của đời sống trên trần thế, cho đến khi y cạn kiệt mọi nguồn lực và không còn gì ngoài việc cuối cùng phải hy sinh những gì y từng xem là rất quý giá, nhưng đã khám phá ra rằng chúng hoàn toàn không đem lại sự thỏa mãn.

This is the story of every one of us. We sacrifice our high consciousness and the energy prerogatives of the higher planes in order to redeem the lower lives, and then we sacrifice our attachment to those lower lives, returning, and as we return, lifting them as well, on the way to the Father's home.

Đây là câu chuyện của mỗi người chúng ta. Chúng ta hy sinh tâm thức cao và những đặc quyền năng lượng của các cõi cao để cứu chuộc những sự sống thấp hơn; rồi chúng ta hy sinh sự quyến luyến đối với những sự sống thấp ấy để trở về, đồng thời nâng chúng lên trên đường trở về mái nhà của Cha.

The red cattle of Geryon in the Labors of Hercules—the red cattle, prompted always by desire, but uplifted in a chalice towards a higher type of life. So some things were considered to be extremely dissatisfying. And did we really long for these things? Was it desire that drove us into the lower worlds, or was it the high Piscean, Virgoan, second ray sacrificial urge from the Monadic plane?

Đàn bò đỏ của Geryon trong kỳ công của Hercules—đàn bò đỏ luôn bị dục vọng thúc đẩy nhưng được nâng lên trong một chiếc chén hướng đến một loại sự sống cao hơn. Vì vậy, một số điều được xem là cực kỳ không thỏa mãn. Chúng ta có thật sự khao khát những điều ấy không? Phải chăng dục vọng đã thúc đẩy chúng ta tiến vào các cõi thấp, hay đó là thôi thúc hy sinh cao cả của Song Ngư, Xử Nữ và cung hai, phát xuất từ cõi Chân thần?

[19] For these things of lesser values, he had sacrificed the higher values, and had to return again whence he came.

[19] Vì những điều có giá trị thấp kém này, y đã hy sinh những giá trị cao hơn, và phải quay trở lại nơi mình đã xuất phát.

So we have here, in a way, the law of Monadic return.

Theo một nghĩa nào đó, ở đây chúng ta có định luật trở về của Chân thần.

[20] Such is the life story of all the sons of God who came into incarnation, as given to us under the symbolism of the Bible

[20] Đó là câu chuyện cuộc đời của tất cả các [Page 97] Con của Thượng đế đã đi vào lâm phàm, như được trình bày cho chúng ta dưới biểu tượng của Kinh Thánh.

—in the Prodigal Son—

—trong câu chuyện Người Con Hoang Đàng—

[21] But the theme in all the world Bibles is the same.

[21] Nhưng chủ đề trong tất cả các Thánh Kinh của thế giới đều giống nhau.

So we are involved in a sacrificial pilgrimage, sacrificing the high for the low, and then again the low for the high, all in the attempt to make all aspects of life sacred, correspondent with divine purpose. We could say, could they not work their way up without the sacrifice? Well, I suppose, in a way, given the nature of life, they could. After all, man in other chains and in other solar systems works his way into the higher world slowly, without the intervention of the Solar Angels. And yet, millions of years of pain are saved because of the giving of these higher beings. I suppose that once we are in that state of realizing the unity, the inseparability of all lives, there is a deep spiritual longing to see an enhancement of that unity and its realization on the part of many lives who do not yet realize it, bringing them nearer to the goal through a divine intervention.

Vì vậy, chúng ta tham gia một cuộc hành hương hy sinh: hy sinh điều cao cho điều thấp, rồi lại hy sinh điều thấp cho điều cao, tất cả nhằm làm cho mọi phương diện của sự sống trở nên thiêng liêng và tương ứng với Thiên Ý. Chúng ta có thể hỏi rằng liệu những sự sống ấy có thể tự vươn lên mà không cần sự hy sinh hay không. Tôi cho rằng, theo một nghĩa nào đó và xét theo bản chất sự sống, họ có thể làm được. Xét cho cùng, con người trong các Dãy khác và những hệ mặt trời khác vẫn chậm rãi tiến vào thế giới cao hơn mà không có sự can thiệp của các Thái dương Thiên Thần. Tuy nhiên, sự trao tặng của những Đấng cao cả này đã giúp họ tránh được hàng triệu năm đau khổ. Tôi cho rằng một khi đạt đến trạng thái nhận biết sự hợp nhất và tính bất khả phân ly của mọi sự sống, chúng ta sẽ có một niềm khao khát tinh thần sâu sắc muốn thấy sự hợp nhất ấy được tăng cường và được nhiều sự sống chưa nhận ra nó chứng nghiệm, đưa họ đến gần mục tiêu hơn nhờ một sự can thiệp thiêng liêng.

We have sometimes been talking about sacrifice through divine intervention. It's the story of the Solar Angels, of Sanat Kumara, of our Planetary Logos, and of the World Savior. Whoever that World Savior might be, there is a deliberate act of intervention in the lives of those who otherwise would suffer longer in their ignorant and hampered condition.

Đôi khi chúng ta đã bàn đến sự hy sinh qua sự can thiệp thiêng liêng. Đó là câu chuyện của các Thái dương Thiên Thần, Đức Sanat Kumara, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta và Đấng Cứu Thế. Dù Đấng Cứu Thế ấy là ai, vẫn có một hành động can thiệp có chủ ý vào đời sống của những người mà nếu không có sự can thiệp ấy sẽ phải chịu khổ lâu hơn trong tình trạng vô minh và bị cản trở.

So we have to begin to understand the beauty of sacrifice. The beauty of sacrifice. This must impress itself upon us as we study. And this form of relinquishment must be understood in terms of even understanding the bliss of sacrifice, because of the nature of the energy of love. It is a loving gesture which contributes to the unification of all that the sacrificing one touches.

Chúng ta phải bắt đầu thấu hiểu vẻ đẹp của sự hy sinh. Vẻ đẹp của sự hy sinh phải in sâu vào chúng ta trong khi nghiên cứu. Hình thức từ bỏ này cần được thấu hiểu, thậm chí theo ý nghĩa chứng nghiệm chí phúc của sự hy sinh, do bản chất của năng lượng bác ái. Đó là một hành động đầy bác ái, góp phần hợp nhất mọi điều mà người hy sinh tiếp xúc.

So I suppose there comes a time in our evolution when we are actually looking for the next sacrifice that we can possibly make, rather than the next acquisition. We actually learn that sacrifice is spiritual. We learn that sacrifice is spiritual, and that the grasping of spiritual delights guarantees a delay in their acquisition. This is a great reversal of the attitude of the personality, and something that we have to get used to, and it does really begin to dawn upon us. One just gets flickers, glimmers of what must be the sacrificial consciousness of the Christ and of the Masters. How can we give more? How can we sacrifice more to elevate the lower lives? And we are, of course, relatively then the lower lives. So how can we, the sacrificing ones, give more, and more, and even more, so that life in lesser expression can rise?

Tôi cho rằng trong tiến trình tiến hóa của chúng ta sẽ đến lúc chúng ta thực sự tìm kiếm sự hy sinh kế tiếp mà mình có thể thực hiện, thay vì điều kế tiếp có thể chiếm hữu. Chúng ta thật sự học được rằng hy sinh mang tính tinh thần, và việc bám giữ những niềm vui tinh thần bảo đảm rằng chúng ta sẽ chậm đạt được chúng. Đây là sự đảo ngược lớn lao trong thái độ của phàm ngã, là điều chúng ta phải làm quen và rồi sẽ thật sự bắt đầu nhận ra. Người ta chỉ thoáng thấy vài tia sáng về tâm thức hy sinh của Đức Christ và các Chân sư. Làm thế nào chúng ta có thể trao tặng nhiều hơn? Làm thế nào chúng ta có thể hy sinh nhiều hơn để nâng cao những sự sống thấp? Khi ấy, dĩ nhiên, chính chúng ta cũng tương đối là những sự sống thấp hơn. Vậy làm thế nào chúng ta, những người hy sinh, có thể trao tặng ngày càng nhiều hơn nữa để sự sống trong những biểu hiện thấp hơn có thể vươn lên?

There really is only one being in all of the apparent others. So we can't say "in the other forms of life"; there really is no other, but there is an apparent other that we must deal with when we are subject to the world illusion. So, as Master Morya says, when indeed have you ever become less through sacrifice? The instinct, or the impulse—impulse, really—towards giving. And this it is that controls the life of the soul, and even more the life of the monad. The monad is a being with consciousness on its own plane, and the soul is the monad with consciousness in a relatively hampered condition compared to the Monadic plane. The impulse towards giving. I hope that can sink deeply into the consciousness of all of us.

Thật ra, chỉ có một Sinh Mệnh duy nhất trong tất cả những kẻ dường như là khác. Vì vậy, chúng ta không thể nói “trong các hình thái sự sống khác”; thật ra không có kẻ nào khác, nhưng có một kẻ khác bề ngoài mà chúng ta phải đề cập đến khi còn chịu sự chi phối của ảo tưởng thế gian. Như Chân sư Morya nói, có bao giờ các bạn trở nên kém hơn do hy sinh không? Đó là bản năng, hay đúng hơn là xung lực trao tặng. Chính điều này kiểm soát đời sống của linh hồn, và thậm chí còn kiểm soát đời sống của chân thần nhiều hơn. Chân thần là một Sinh Mệnh có tâm thức trên cõi riêng của mình, còn linh hồn là chân thần có tâm thức trong một tình trạng tương đối bị hạn chế so với cõi Chân thần. Xung lực trao tặng—tôi hy vọng điều này có thể thấm sâu vào tâm thức của tất cả chúng ta.

[22] This urge to sacrifice, to relinquish this for that, to choose one way

[22] Thôi thúc hy sinh, từ bỏ điều này để lấy điều kia, lựa chọn một con đường

—notice how Saturn is involved in choice, always involved in processes of choice—

—hãy lưu ý Sao Thổ liên quan đến sự lựa chọn như thế nào; nó luôn liên quan đến các tiến trình lựa chọn—

[23] or line of conduct and thus sacrifice another way,

[23] hay một đường lối hành xử và qua đó hy sinh một con đường khác,

because having it all is not yet possible in this fragmented world.

bởi trong thế giới phân mảnh này, việc có được mọi thứ vẫn chưa khả thi.

[24] to lose in order eventually to gain,

[24] mất đi để cuối cùng đạt được,

—that's the death process, and the eighth house process, Scorpio—

—đó là tiến trình chết, tiến trình của nhà tám và Hổ Cáp—

[25] —such is the underlying story of evolution.

[25] —đó là câu chuyện nằm bên dưới sự tiến hóa.

The urge to sacrifice, to give up, to relinquish this for that. As long as we are in a dualistic world—let's say that this process is necessary in a dualistic and fragmented world, which confines our perceptions to specific things. We're living through this, and this is the way we have to operate. Perhaps once we have a vast holistic consciousness and are infused in all the things we perceive—well, even then, sacrifice would be operative, because we would descend into the world where that type of holistic perception is not possible, and we would take on vehicles and circumstances in which fragmentation still existed. But anyway,

Thôi thúc hy sinh, buông bỏ, từ bỏ điều này vì điều kia. Chừng nào còn sống trong một thế giới nhị nguyên và phân mảnh, vốn giới hạn nhận thức của chúng ta vào những điều cụ thể, tiến trình này vẫn cần thiết. Chúng ta đang sống qua tiến trình ấy và phải hành động theo cách này. Có lẽ một khi có được tâm thức toàn thể rộng lớn và thấm nhập mọi điều mình nhận thức, sự hy sinh vẫn sẽ vận hành, bởi chúng ta sẽ giáng xuống thế giới nơi loại nhận thức toàn thể ấy không thể có được, đồng thời khoác lấy những vận cụ và hoàn cảnh trong đó sự phân mảnh vẫn tồn tại.

this urge to sacrifice, to relinquish this for that, to choose one way or line of conduct and thus sacrifice another way, to lose in order eventually to gain,

thôi thúc hy sinh này, từ bỏ điều này vì điều kia, chọn một con đường hoặc đường lối hành động và do đó hy sinh một con đường khác, mất đi để cuối cùng đạt được,

As a matter of fact, a man must lose his life to find it, right? Didn't Scorpio St. Paul say that? A man must lose his life in order to find it.

Thật ra, một người phải mất sự sống của mình để tìm thấy nó, phải không? Chẳng phải Thánh Paul mang tính Hổ Cáp đã nói như vậy sao? Một người phải mất sự sống của mình để tìm thấy nó.

Such is the underlying story of evolution.

Đó là câu chuyện nền tảng của sự tiến hóa.

And if we were really brave about our spiritual work, we would say, "What is my next sacrifice?"—not only to better myself, but to better all those whose lives my life touches. What is my next sacrifice? Probably few of us are inclined to speak to ourselves that way, but it would be an interesting process. What can I now relinquish in order that there be greater abundance for those who have lost, whom I serve—and incidentally, it will happen, of course, also for myself?

Nếu thật sự can đảm trong công việc tinh thần, chúng ta sẽ hỏi: “Sự hy sinh kế tiếp của tôi là gì?”—không chỉ để cải thiện bản thân mà còn để cải thiện tất cả những người có đời sống được đời sống của tôi chạm đến. Sự hy sinh kế tiếp của tôi là gì? Có lẽ ít người trong chúng ta có khuynh hướng tự nói với mình như thế, nhưng đó sẽ là một tiến trình thú vị. Bây giờ tôi có thể từ bỏ điều gì để những người đã mất mát mà tôi phụng sự có được sự phong phú lớn lao hơn—và dĩ nhiên, điều đó cũng sẽ ngẫu nhiên xảy ra cho chính tôi?

Such is the underlying story of evolution.

Đó là câu chuyện nền tảng của sự tiến hóa.

[26] This needs psychological understanding.

[26] Điều này cần được thấu hiểu về mặt tâm lý.

—because it's such a reversal of the usual attitude—

—bởi nó đảo ngược hoàn toàn thái độ thông thường—

[27] It is a governing principle of life itself,

[27] Nó là một nguyên khí chi phối chính sự sống,

or of pure being, of the identity of God itself, we could say,

hay Bản Thể thuần túy, chính bản sắc của Thượng đế, chúng ta có thể nói như vậy,

[28] and runs like a golden pattern of beauty through the dark materials of which human history is constructed.

[28] và chạy như một hoa văn vàng mỹ lệ xuyên qua những chất liệu tối tăm cấu thành lịch sử nhân loại.

The moments of sacrifice which bring progress—without those moments, we would be stuck in acquisition and in selfishness, and we would remain attached to the lower worlds.

Đó là những khoảnh khắc hy sinh đem lại tiến bộ—nếu không có chúng, chúng ta sẽ mắc kẹt trong sự chiếm hữu và ích kỷ, đồng thời vẫn quyến luyến các cõi thấp.

[29] When this urge to sacrifice in order to win, gain or salvage that which is deemed desirable is understood, then the whole clue to man’s unfoldment will stand revealed.

[29] Khi thôi thúc hy sinh để chiến thắng, đạt được hoặc cứu vớt điều được xem là đáng mong muốn này được thấu hiểu, thì toàn bộ chìa khóa cho sự khai mở của con người sẽ hiển lộ.

There are so many things along the way that we have to let drop from our hands. Sometimes we have outgrown what we let drop from our hands, but at other times the desire to hold on still exists, and yet, in the face of that desire, we still let that something drop from our hands. When you let drop from your hands something that, at the moment, you still hold dear, then that is a real sacrifice. It's something that is really needed for the welfare of some aspect of yourself.

Trên đường đi, có rất nhiều điều chúng ta phải buông khỏi tay mình. Đôi khi chúng ta đã vượt qua điều mình buông bỏ, nhưng vào những lúc khác, ước muốn níu giữ vẫn còn tồn tại; tuy nhiên, bất chấp ước muốn ấy, chúng ta vẫn buông nó khỏi tay. Khi các bạn buông khỏi tay một điều mà lúc ấy mình vẫn trân quý, đó mới là sự hy sinh thật sự. Đó là điều thật sự cần thiết cho phúc lợi của một phương diện nào đó trong chính bạn.

One is reminded of the widow's mite. Really, anything we give is a mite. But the Christ said in the temple, she hath given all she hath; others have given far more, but they did not give from the very depths of themselves, and it cost them relatively nothing, and therefore their progress was relatively small. One can imagine that that particular widow of long ago is far advanced on the path at this time, having done what was so estimable in the eyes of the great teacher. So,

Điều này khiến người ta nhớ đến đồng tiền nhỏ của bà góa. Thật ra, bất cứ điều gì chúng ta trao tặng cũng chỉ là một đồng tiền nhỏ. Nhưng Đức Christ đã nói trong đền thờ rằng bà đã trao tặng tất cả những gì mình có; những người khác trao tặng nhiều hơn rất nhiều, nhưng họ không trao tặng từ tận chiều sâu bản thân, và điều ấy hầu như không khiến họ phải trả giá gì, nên sự tiến bộ của họ tương đối nhỏ. Người ta có thể hình dung rằng bà góa sống từ thuở xa xưa ấy giờ đây đã tiến rất xa trên Đường Đạo, sau khi thực hiện điều vô cùng đáng quý dưới mắt vị Huấn sư vĩ đại.

when this urge to sacrifice in order to win, gain or salvage that which is deemed desirable is understood, then the whole clue to man’s unfoldment will stand revealed.

khi người ta thấu hiểu thôi thúc hy sinh nhằm chinh phục, đạt được hoặc cứu vớt điều được xem là đáng mong muốn, thì toàn bộ chìa khóa cho sự khai mở của con người sẽ hiển lộ.

And I guess we can ask ourselves at any moment, "What am I hanging on to"—such English!—"what am I hanging on to which, released, would benefit others and myself?" This is something that one has to take into one's own deep consideration, and one may find, of course, that it's not material objectivity, it's not relinquishments at all, but can be certain attitudes, certain tendencies of thought, certain perceptions. We're all attached to certain things which, if relinquished, could bring an inflow of energy of a much higher value. But it's for each one of us to discover what that might be.

Tôi cho rằng bất kỳ lúc nào chúng ta cũng có thể tự hỏi: “Tôi đang bám giữ điều gì mà nếu buông bỏ sẽ mang lại lợi ích cho người khác và chính mình?” Mỗi người phải suy xét sâu sắc điều này và có thể nhận ra rằng đó không phải là vật thể vật chất hay sự từ bỏ vật chất, mà có thể là một số thái độ, khuynh hướng tư tưởng hoặc nhận thức nhất định. Tất cả chúng ta đều quyến luyến một số điều mà nếu từ bỏ, chúng ta có thể đón nhận một luồng năng lượng có giá trị cao hơn rất nhiều. Nhưng mỗi người chúng ta phải tự khám phá điều ấy có thể là gì.

[30] This tendency or urge is something different to desire, as desire is academically understood and studied today.

[30] Khuynh hướng hay thôi thúc này khác với dục vọng, theo cách dục vọng được hiểu và nghiên cứu về mặt học thuật ngày nay.

I think he's saying here already that the soul has its desires, and so does the monad. We cannot really drop desire, but we can make it, as Master Morya says, goal-fit. Marvelous books, those Agni Yoga books. I remember I discovered them really about 35 years ago, 36 years ago. I was just entranced, and they made my commute to New York City—two hours in each direction, every weekday—tolerable. Agni Yoga goes a long way when you are riding a train, a bus, a subway, and you are walking through the crowded streets, listening. So this tendency, or this urge to sacrifice, coming from a very deep and high place within ourselves, is something different from desire as academically understood.

Tôi nghĩ ở đây Ngài đã nói rằng linh hồn có những dục vọng của nó, và chân thần cũng vậy. Chúng ta không thể thật sự loại bỏ dục vọng, nhưng có thể làm cho nó phù hợp với mục tiêu, như Chân sư Morya nói. Những quyển sách Agni Yoga ấy thật tuyệt vời. Tôi nhớ mình đã khám phá chúng khoảng 35 hay 36 năm trước. Tôi hoàn toàn say mê chúng, và chúng khiến hành trình đi làm hằng ngày đến Thành phố New York—mỗi chiều hai giờ, vào mọi ngày trong tuần—trở nên dễ chịu. Agni Yoga giúp ích rất nhiều khi các bạn đi tàu hỏa, xe buýt, tàu điện ngầm và vừa lắng nghe vừa đi qua những đường phố đông đúc. Vì vậy, khuynh hướng hay thôi thúc hy sinh phát xuất từ một nơi rất sâu xa và cao cả trong chúng ta khác với dục vọng theo cách hiểu học thuật.

[31] What it really connotes is the emergence of that which is most divine in man.

[31] Điều mà nó thực sự hàm ý là sự hiển lộ của điều thiêng liêng nhất trong con người.

The spirit. We should be aware of that—of that which is to give of itself until all things become itself, or recognize themselves as itself.

Đó là tinh thần. Chúng ta nên nhận biết điều ấy—điều tự trao tặng chính mình cho đến khi mọi vật trở thành chính nó, hay nhận ra bản thân là chính nó.

[32] It is an aspect of desire, but it is the dynamic, active side and not the feeling, sensuous side. It is the predominant characteristic of Deity.

[32] Nó là một phương diện của dục vọng, nhưng là phương diện năng động, tích cực, chứ không phải phương diện cảm xúc và cảm giác. Nó là đặc tính nổi trội của Thượng đế.

Let's say that Deity realizes itself as disunited from the whole, and it is sacrifice which will reunite the whole—giving up all that which makes us perceive in a lesser way, for the onset of higher perceptions. So what is it that keeps my consciousness in ignorance, keeps me confined to customary assessments, customary perceptions and understandings? Can I sacrifice those mindsets, those attitudes of desire and mind? Can I sacrifice my habits? Can I relinquish? Notice that DK does not abandon the idea of relinquishment. As I say, so many of us may try to sugarcoat the idea of sacrifice, so that it becomes palatable to the frightened personality, frightened in the face of what it might have to relinquish, and then one never has to face the removal of that which the grasping hands still seek to grasp.

Chúng ta có thể nói rằng Thượng đế nhận ra chính mình đang tách rời khỏi toàn thể, và sự hy sinh sẽ tái hợp toàn thể—từ bỏ mọi điều khiến chúng ta nhận thức theo cách thấp hơn để những nhận thức cao hơn xuất hiện. Vậy điều gì giữ tâm thức tôi trong vô minh, giam hãm tôi trong những đánh giá, nhận thức và hiểu biết theo thói quen? Tôi có thể hy sinh những định kiến ấy, những thái độ dục vọng và trí tuệ ấy không? Tôi có thể hy sinh các thói quen của mình không? Tôi có thể từ bỏ không? Hãy lưu ý rằng Chân sư DK không loại bỏ ý tưởng từ bỏ. Nhiều người trong chúng ta có thể cố làm dịu ý tưởng hy sinh để nó trở nên dễ chấp nhận đối với phàm ngã đang sợ hãi trước những gì mình có thể phải từ bỏ; như thế, người ta không bao giờ phải đối diện với việc loại bỏ điều mà đôi tay tham cầu vẫn tìm cách nắm giữ.

When you look upon a great individual, any great life, the status is achieved through sacrifice. So spiritual status is achieved through sacrifice, and those who are lowly, and yet should be higher, have not sacrificed. Of course, life itself forces us to sacrifice. The Divine Plan forces sacrifice in every sacrifice petal, but the voluntary sacrifice is far more powerful for progress. So again, as the Christ said, he who would be first, let him be last. The first shall be last. Of course, it's also an astrological, zodiacal statement about the union of the end of the cycle and the beginning of the cycle. But he who would be first among you, let him serve. So let the one humble himself who would be first. The one who gives most shall be highest. That is the amazing truth.

Khi nhìn vào bất kỳ cá nhân vĩ đại hay sự sống vĩ đại nào, chúng ta thấy địa vị ấy đạt được nhờ hy sinh. Vì vậy, địa vị tinh thần đạt được nhờ hy sinh, còn những người thấp kém nhưng đáng lẽ phải ở vị trí cao hơn là những người chưa hy sinh. Dĩ nhiên, chính sự sống buộc chúng ta phải hy sinh. Thiên Cơ buộc phải có sự hy sinh trong mỗi cánh hoa hi sinh, nhưng sự hy sinh tự nguyện có sức mạnh thúc đẩy tiến bộ lớn hơn rất nhiều. Như Đức Christ đã nói, ai muốn đứng đầu thì hãy đứng cuối. Người đứng đầu sẽ thành người đứng cuối. Dĩ nhiên, đây cũng là một tuyên bố chiêm tinh và hoàng đạo về sự hợp nhất giữa cuối chu kỳ với đầu chu kỳ. Nhưng ai muốn đứng đầu trong các bạn thì hãy phụng sự. Vì vậy, người muốn đứng đầu hãy hạ mình xuống. Người trao tặng nhiều nhất sẽ ở địa vị cao nhất. Đó là chân lý kỳ diệu.

And that's something we really have to bring into our consciousness, because which one of us could not give more? If we were giving all we had, we wouldn't be where we are now. And on the way to renunciation and crucifixion and elevation, we shall certainly give all we have to give. It's just a question of timing. When will it be? We might as well get into the habit of giving, following the impulse of giving. That is the touchstone. That is the golden key to understanding the nature of sacrifice. This foundational law really lies at the center of the sacrifice, and at the center of every other law. There must always be this line of sacrifice running through all the other laws. It's like the number one, which is divisible into all the other numbers. The point finds its way into every other point. So sacrifice is our keynote. It has been our keynote without our understanding it. Now it needs to be our conscious keynote.

Chúng ta thật sự phải đưa điều ấy vào tâm thức, bởi ai trong chúng ta lại không thể trao tặng nhiều hơn? Nếu đang trao tặng tất cả những gì mình có, chúng ta đã không ở nơi hiện tại. Trên đường tiến đến Sự từ bỏ, đóng đinh trên thập giá và thăng cao, chắc chắn chúng ta sẽ trao tặng tất cả những gì mình có thể trao tặng. Đây chỉ là vấn đề thời điểm. Khi nào điều đó sẽ xảy ra? Chúng ta nên tập thói quen trao tặng và đi theo xung lực trao tặng. Đó là đá thử vàng, là chiếc chìa khóa vàng để thấu hiểu bản chất của sự hy sinh. Định luật nền tảng này thật sự nằm ở trung tâm của sự hy sinh và trung tâm của mọi định luật khác. Luôn phải có đường dây hy sinh này chạy xuyên qua tất cả những định luật khác. Nó giống như số một, vốn có thể chia hết mọi số khác. Điểm ấy tìm đường đi vào mọi điểm khác. Vì vậy, hy sinh là chủ âm của chúng ta. Nó đã là chủ âm của chúng ta dù chúng ta chưa thấu hiểu. Bây giờ, nó cần trở thành chủ âm hữu thức của chúng ta.

[33] It is of interest, however, for students of esotericism to note that this urge to salvage and to sacrifice in order to redeem works out in different ways in the different planetary schemes.

[33] Tuy nhiên, đối với các đạo sinh huyền bí học, điều đáng lưu ý là thôi thúc cứu vớt và hy sinh nhằm cứu chuộc này biểu hiện theo những cách khác nhau trong các hệ hành tinh khác nhau.

It would be mostly those who are students of esotericism who would be interested in such things. You talk to the average person about relinquishing and say, "It's quite different on Venus, quite different on Uranus than it is here," and they might think that your mind had departed. So

Phần lớn những người quan tâm đến các vấn đề như thế sẽ là môn sinh huyền bí học. Nếu các bạn nói với một người bình thường về sự từ bỏ rằng: “Trên Sao Kim, điều đó rất khác; trên Sao Thiên Vương, nó cũng rất khác so với nơi đây,” họ có thể nghĩ rằng thể trí của bạn không còn bình thường.

it works out in different ways in different planetary schemes

nó biểu hiện theo những cách khác nhau trong các hệ hành tinh khác nhau

according to the objectives of a particular Planetary Logos and the laws operative in any of those schemes.

tùy theo mục tiêu của một Hành Tinh Thượng đế cụ thể và những định luật đang vận hành trong mỗi hệ ấy.

[34] Each Ray Lord of a scheme,

[34] Mỗi Đấng Chúa Tể Cung của một hệ hành tinh,

Notice how a Ray Lord and a Planetary Logos are pretty well connected, are they not? Sometimes we might think that a Ray Lord is other than a Planetary Logos, and indeed, there are many Ray Lords who are. A ray as a being can be disconnected from any particular manifestation, but the Logos of a planet is known as a Ray Lord. So let's note that: a Planetary Logos is known as a Ray Lord. So

Hãy lưu ý Chúa Tể Cung và Hành Tinh Thượng đế liên hệ mật thiết như thế nào. Đôi khi chúng ta có thể nghĩ Chúa Tể Cung không phải là Hành Tinh Thượng đế, và thật vậy, có nhiều Chúa Tể Cung không phải là Hành Tinh Thượng đế. Một cung với tư cách Sinh Mệnh có thể không liên hệ với bất kỳ biểu hiện cụ thể nào, nhưng Thượng đế của một hành tinh được gọi là Chúa Tể Cung. Vì vậy, hãy lưu ý rằng Hành Tinh Thượng đế được gọi là Chúa Tể Cung.

each Ray Lord of a scheme

mỗi Chúa Tể Cung của một hệ hành tinh

[35] manifesting through a planet, expresses this urge

[35] biểu hiện qua một hành tinh, biểu lộ thôi thúc này

this urge to sacrifice,

tức thôi thúc hy sinh,

[36] in varying ways, and each expression is so different from the others that it is hard for a human being to do more than sense that method which exists on our own particular planet.

[36] theo những cách khác nhau, và mỗi biểu hiện khác biệt với những biểu hiện khác đến mức một con người khó có thể làm gì hơn ngoài việc cảm nhận phương pháp đang tồn tại trên chính hành tinh đặc thù của chúng ta.

Sacrifice is hard enough to understand even here—hard to understand even on our planet, let alone others.

Ngay tại đây, sự hy sinh cũng đã đủ khó thấu hiểu—khó thấu hiểu ngay trên hành tinh của chúng ta, huống chi trên những hành tinh khác.

[37] Initiates know that the varying psychological characteristics of the ray Lives condition most peculiarly the method of expressing sacrifice, during the course of manifestation.

[37] Các điểm đạo đồ biết rằng những đặc tính tâm lý khác nhau của các Sự Sống cung tác động theo một cách hết sức đặc thù đến phương pháp biểu hiện sự hy sinh trong tiến trình biểu hiện.

Rather deep subject, and I'm not sure that we can penetrate into that. When we think about sacrifice in Saturn, we know something about it, but the Saturnian method is pretty close to our own, because Saturn, Mars and the Earth are intimately related as expressions of a great third ray entity. We might say sacrifice in relation to Saturn is pretty much "not this but that." Sacrifice in relation to Mars has to do with self-immolation. Sacrifice in relation to the Earth—well, maybe we'll learn more. There's something about uniting, at-one-ing the pairs of opposites, possibly.

Đây là một chủ đề khá sâu sắc, và tôi không chắc chúng ta có thể thâm nhập vào đó. Khi nghĩ về sự hy sinh trên Sao Thổ, chúng ta biết đôi chút về nó, nhưng phương pháp của Sao Thổ khá gần với phương pháp của chúng ta, bởi Sao Thổ, Sao Hỏa và Trái Đất có quan hệ mật thiết như những biểu hiện của một Thực Thể cung ba vĩ đại. Chúng ta có thể nói sự hy sinh liên quan đến Sao Thổ phần lớn là “không phải điều này mà là điều kia”. Sự hy sinh liên quan đến Sao Hỏa gắn với việc tự thiêu mình. Còn sự hy sinh liên quan đến Trái Đất thì có lẽ chúng ta sẽ tìm hiểu thêm. Có thể nó liên quan đến việc hợp nhất, làm cho các cặp đối cực trở thành một.

Here is where we begin to understand the depth of knowledge of Master DK and of Masters who have access to the records. Their consciousness has extended beyond the processes of our planet, and they take deep interest in how the other planets are related to our own. So

Ở đây, chúng ta bắt đầu thấu hiểu chiều sâu tri thức của Chân sư DK và các Chân sư có quyền tiếp cận những hồ sơ. Tâm thức của Các Ngài đã mở rộng vượt ngoài những tiến trình của hành tinh chúng ta, và Các Ngài hết sức quan tâm đến cách các hành tinh khác liên hệ với hành tinh của chúng ta.

the varying psychological characteristics of the ray Lives condition most peculiarly the method of expressing sacrifice during the course of manifestation,

những đặc tính tâm lý khác nhau của các Sự Sống cung tác động theo một cách đặc biệt nhất đến phương pháp biểu hiện sự hy sinh trong suốt tiến trình biểu hiện,

but all do express sacrifice in one way or another.

nhưng tất cả đều biểu hiện sự hy sinh theo cách này hay cách khác.

[38] The great stream of living energy which is manifesting itself in our Earth scheme of evolution is conditioned by a temperament, an attitude and an orientation that is that of a “Divine Rebel.”

[38] Dòng năng lượng sống vĩ đại đang tự biểu hiện trong hệ tiến hóa Trái Đất của chúng ta chịu tác động bởi một khí chất, một thái độ và một định hướng của một “Đấng Nổi Loạn Thiêng Liêng.”

One might almost think we were speaking of Mars in this respect. We have to remember here that the Monadic ray of our Planetary Logos is the first, and it does not inherently brook restraint. The first ray and the sixth ray are those that do not brook or tolerate that which attempts to hold them in some sort of suppressed condition, in some condition of non-expression.

Theo phương diện này, người ta gần như có thể nghĩ rằng chúng ta đang nói về Sao Hỏa. Ở đây, chúng ta phải nhớ rằng cung chân thần của Hành Tinh Thượng đế chúng ta là cung một, vốn không chấp nhận sự kiềm chế. Cung một và cung sáu không chấp nhận hay dung thứ bất cứ điều gì cố giữ chúng trong một tình trạng bị áp chế hay không được biểu hiện.

The great stream of living energy which is manifesting itself in our Earth scheme,

Dòng năng lượng sống vĩ đại đang biểu hiện trong hệ Địa Cầu của chúng ta,

the energy of our Planetary Logos,

tức năng lượng của Hành Tinh Thượng đế chúng ta,

is conditioned by a temperament, an attitude, and an orientation as that of a divine rebel,

chịu tác động của một khí chất, thái độ và định hướng thuộc về một kẻ nổi loạn thiêng liêng,

and perhaps there was a rebellion, we were told, in the previous solar system, and you almost think that it was our Earth entity—our Earth Logos and His expressions—which were involved in that rebellion. So we can ask, were the Planetary Logos of the Earth and His expressions in the last solar system involved in the rebellion within that system? Is that the way it happened? DK is very oblique about this rebellion which occurred, and he doesn't tell us what planet, but we can pretty well connect the idea of the divine rebel with an earlier rebellion against a higher law, which accounts for so much difficulty in this system and perhaps has paved the way for the karmic circumstance of our particular Planetary Logos.

và có lẽ, như chúng ta được dạy, đã từng xảy ra một cuộc nổi loạn trong hệ mặt trời trước. Người ta gần như nghĩ rằng Thực Thể Địa Cầu của chúng ta—Thượng đế Địa Cầu và những biểu hiện của Ngài—đã tham gia cuộc nổi loạn ấy. Vì vậy, chúng ta có thể hỏi: Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất cùng các biểu hiện của Ngài trong hệ mặt trời trước có tham gia cuộc nổi loạn trong hệ ấy không? Đó có phải là điều đã xảy ra không? Chân sư DK nói rất hàm súc về cuộc nổi loạn này và không cho chúng ta biết đó là hành tinh nào, nhưng chúng ta có thể liên hệ khá rõ ý tưởng về kẻ nổi loạn thiêng liêng với một cuộc nổi loạn trước kia chống lại định luật cao hơn. Điều này giải thích rất nhiều khó khăn trong hệ hiện tại và có lẽ đã mở đường cho hoàn cảnh nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế chúng ta.

[39] It is only rebellion that produces pain and sorrow, but this rebellion is inherent and innate in the Deity of our planet Himself, the “One in Whom we live and move and have our being.”

[39] Chỉ sự nổi loạn mới tạo ra đau đớn và sầu khổ, nhưng sự nổi loạn này vốn cố hữu và [Page 98] bẩm sinh trong chính Thượng đế của hành tinh chúng ta, “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn.”

Let's say that true acquiescence does not cause pain. The devas are acquiescent, and they do not grow through pain so much as we do. They grow through the joy of what they build themselves into, through appreciation of beauty, through participation in form. They grow in different ways. We, the human family—which I think has a great deal of first ray in it, maybe on the Monadic level—shatter the forms and rebel against containment. You kind of wonder, though, whether the spirit itself, when faced with confinement in form, does not automatically turn rebellious—at least the spirit of the monads which are human in nature. In general, I would think this would be true of spirit no matter what. So

Chúng ta có thể nói rằng sự thuận phục chân chính không gây đau đớn. Các thiên thần thuận phục và không trưởng thành qua đau đớn nhiều như chúng ta. Họ trưởng thành qua sự hoan hỉ trước những gì mình kiến tạo thành, qua việc thưởng thức vẻ đẹp và tham dự vào hình tướng. Họ trưởng thành theo những cách khác. Chúng ta, gia đình nhân loại—mà tôi nghĩ có rất nhiều cung một, có lẽ trên cấp độ Chân thần—phá vỡ các hình tướng và nổi loạn chống lại sự giam hãm. Tuy nhiên, người ta có thể tự hỏi liệu chính tinh thần, khi đối diện với việc bị giam hãm trong hình tướng, có tự động trở nên nổi loạn hay không—ít nhất là tinh thần của những chân thần mang bản chất con người. Nói chung, tôi nghĩ điều này đúng đối với tinh thần trong mọi trường hợp.

it is only rebellion that produces pain and sorrow

chỉ sự nổi loạn mới tạo ra đau đớn và sầu khổ

because rebellion causes a rending process. You see, pain and sorrow relate to a rending and tearing process, and rebellion against confining form causes a tearing, a rending of that form. If we're perfectly content in the circumstances in which we find ourselves and do not push against the limits, push against the boundaries, we avoid friction. So let's say that rebellion and friction are inseparable.

bởi sự nổi loạn gây nên một tiến trình xé rách. Đau đớn và sầu khổ liên quan đến tiến trình phân tách và xé rách, còn sự nổi loạn chống lại hình tướng giam hãm gây ra việc xé rách hình tướng ấy. Nếu hoàn toàn mãn nguyện với hoàn cảnh hiện tại và không chống lại các giới hạn hay ranh giới, chúng ta sẽ tránh được ma sát. Vì vậy, có thể nói sự nổi loạn và ma sát không thể tách rời.

And that's why I also think that Mars has a strong quality there of resistance as well. It is one of the most frictional planets. It asserts itself against limits. It appears that our Planetary Logos does too. I kind of wonder whether the Monadic ray of both of them is not the first. We know that the Monadic ray of the Earth is the first, and we understand that the fifth ray is very highly placed in Mars. It's really more of an orange planet. But five has to resolve to something, doesn't it? Because we cannot have a Monadic ray on the Rays of Attribute, ultimately. So I wonder if it doesn't resolve to the first ray in this school for warriors, the school which trains destroyers, as we are told. The first ray has to be somewhere—maybe in its soul nature. If it was in its Monadic nature too, it would be extremely destructive. But we're not given to know entirely those higher ray combinations. So

Đó cũng là lý do tôi nghĩ Sao Hỏa có phẩm tính kháng cự mạnh mẽ. Đây là một trong những hành tinh có nhiều ma sát nhất. Nó tự khẳng định chống lại các giới hạn. Dường như Hành Tinh Thượng đế của chúng ta cũng làm như vậy. Tôi tự hỏi liệu cung chân thần của cả hai có phải là cung một hay không. Chúng ta biết cung chân thần của Trái Đất là cung một, và hiểu rằng cung năm giữ vị trí rất cao trên Sao Hỏa. Thật ra, đó là một hành tinh mang sắc cam nhiều hơn. Nhưng cung năm phải quy nguyên về một điều gì đó, phải không? Bởi cuối cùng, cung chân thần không thể thuộc Các cung thuộc tính. Vì vậy, tôi tự hỏi liệu trong trường đào tạo các chiến binh này—trường đào tạo những người hủy diệt như chúng ta được dạy—nó có quy nguyên về cung một hay không. Cung một phải hiện diện ở đâu đó—có lẽ trong bản chất linh hồn của nó. Nếu cung này cũng hiện diện trong bản chất chân thần, nó sẽ có sức hủy diệt cực độ. Nhưng chúng ta không được biết đầy đủ những tổ hợp cung cao hơn ấy.

it is only rebellion that produces pain and sorrow. But this rebellion is inherent and innate in the Deity of our planet.

chỉ sự nổi loạn mới tạo ra đau đớn và sầu khổ. Nhưng cuộc nổi loạn này vốn cố hữu và bẩm sinh trong Thượng đế của hành tinh chúng ta.

By that I assume we mean our planetary scheme—

Tôi cho rằng qua điều ấy, chúng ta muốn nói đến hệ hành tinh của mình—

the One in Whom we live and move and have our being.

Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn.

—not just our Globe Lord, not just our Chain Lord, but our planetary scheme.

—chứ không chỉ Chúa Tể Bầu hành tinh hay Chúa Tể Dãy của chúng ta, mà là toàn bộ hệ hành tinh.

[40] It is, therefore, a tendency greater than the individual unit.

[40] Vì vậy, đó là một khuynh hướng lớn hơn đơn vị cá nhân.

And we might say that we all, as earthlings, are imbued with this tendency towards rebellion.

Chúng ta có thể nói rằng tất cả chúng ta, với tư cách cư dân Trái Đất, đều thấm nhuần khuynh hướng nổi loạn này.

[41] It is only possible to express this amazing truth about the planetary Life under a veil of symbology and in terms of human thought.

[41] Chỉ có thể diễn đạt chân lý đáng kinh ngạc này về Sự Sống Hành tinh dưới bức màn biểu tượng và bằng các thuật ngữ của tư tưởng con người.

The deeper truth is far more than we can grasp, really.

Chân lý sâu xa hơn thật sự vượt xa điều chúng ta có thể lĩnh hội.

[42] In this there is ever a risk, for men interpret all they read and hear and experience in terms of themselves.

[42] Trong việc này luôn có một nguy cơ, bởi con người diễn giải mọi điều họ đọc, nghe và trải nghiệm theo chính bản thân mình.

So this is anthropomorphism—seeing all other forms in terms of the human form, seeing all processes in terms of what's transpiring with us, because what else do we have as a reference point? We understand something about what's happening to ourselves, and we don't understand how different it might be elsewhere. So this projection of our own psychology and our own process upon the processes found elsewhere, in other beings, is a great limitation. I'm sure there are parallels, but there are some powerful differences which we may not comprehend at all—not yet.

Đây là thuyết nhân hình—nhìn mọi hình thái khác theo hình thái con người, nhìn mọi tiến trình theo những gì đang xảy ra với chúng ta, bởi chúng ta còn điểm quy chiếu nào khác? Chúng ta hiểu đôi chút về những gì xảy ra với chính mình nhưng không hiểu ở nơi khác chúng có thể khác biệt đến mức nào. Vì vậy, việc phóng chiếu tâm lý và tiến trình của mình lên những tiến trình ở nơi khác, trong các Sinh Mệnh khác, là một hạn chế lớn lao. Tôi chắc chắn có những điểm tương đồng, nhưng cũng có một số khác biệt mạnh mẽ mà chúng ta có thể hoàn toàn chưa lĩnh hội được.

So anyway, he seems to be relating sacrifice, pain, sorrow and rebellion. I suppose it is this attitude of the rebel that makes us want to return as the prodigal son, feeling that our inner nature has suffered a great indignity in its confinement. "Even the servants in my father's house have more than I have, and I am the son," he was saying to himself. Is it rebellion that makes the monad go forth sacrificially into the lower worlds? It's more difficult to understand rebellion at that level than it is in terms of the prodigal son returning. Against what are we rebelling? We certainly all feel confinement to some extent, and we're probably not willing to tolerate that forever, which is the reason we are taking pains with our spiritual studies and esoteric meditation—to scientifically work our way out of this condition of spirit restraint and return to a much freer condition where our own will, the will of being, the will of spirit, will have its sway and will not be imposed upon.

Dường như Ngài đang liên hệ sự hy sinh, đau đớn, sầu khổ và nổi loạn. Tôi cho rằng chính thái độ nổi loạn khiến chúng ta muốn trở về như người con hoang đàng, cảm thấy bản chất bên trong của mình đã chịu một sự sỉ nhục lớn lao khi bị giam hãm. Y tự nhủ: “Ngay cả những người hầu trong nhà cha ta cũng có nhiều hơn ta, trong khi ta là con của người.” Có phải sự nổi loạn khiến chân thần hy sinh tiến vào các cõi thấp không? Sự nổi loạn trên cấp độ ấy khó thấu hiểu hơn sự nổi loạn liên quan đến việc người con hoang đàng trở về. Chúng ta đang nổi loạn chống lại điều gì? Chắc chắn tất cả chúng ta đều cảm thấy bị giam hãm ở mức độ nào đó và có lẽ không sẵn lòng dung thứ điều ấy mãi mãi. Đó là lý do chúng ta chuyên tâm nghiên cứu tinh thần và tham thiền huyền bí—để thoát khỏi tình trạng tinh thần bị kiềm chế này bằng phương pháp khoa học và trở về một tình trạng tự do hơn nhiều, nơi ý chí riêng của chúng ta, ý chí của Bản Thể và ý chí của tinh thần sẽ ngự trị mà không chịu sự áp đặt.

Really, the true spirit, the true being, than which there is no other, has no other to impose anything upon it. So the natural condition of the spirit is one of untrammeled will, a will which cannot be resisted because there's none other to resist. But in our very confined conditions in the lower worlds, we will not tolerate, we will not brook the apparent confinements, and so we attempt to throw them off, and we have a revolution. Rebellion leads to revolution.

Thật ra, tinh thần chân chính, Bản Thể chân chính, ngoài đó không có gì khác, cũng không có kẻ nào khác để áp đặt bất cứ điều gì lên nó. Vì vậy, trạng thái tự nhiên của tinh thần là ý chí không bị trói buộc, một ý chí không thể bị chống lại vì không có kẻ nào khác để chống lại. Nhưng trong tình trạng hết sức giam hãm của chúng ta trong các cõi thấp, chúng ta sẽ không dung thứ hay chấp nhận những sự giam hãm bề ngoài ấy; vì vậy, chúng ta cố gắng rũ bỏ chúng và tạo nên một cuộc cách mạng. Sự nổi loạn dẫn đến cách mạng.

So now let us study what the Old Commentary says about our Planetary Logos, the divine rebel. And this is in solar systemic terms.

Bây giờ, chúng ta hãy nghiên cứu điều Cổ Luận nói về Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, Kẻ Nổi Loạn Thiêng Liêng. Điều này được trình bày bằng các thuật ngữ của hệ mặt trời.

[43] “He entered into life

[43] “Ngài bước vào sự sống

—presumably the life of the cosmic physical plane—

—có lẽ là sự sống của cõi hồng trần vũ trụ—

[44] and knew it to be death.

[44] và biết đó là cái chết.

The life of the cosmic physical plane, because after all, there is much more to the life of a Planetary Logos than can be found on the cosmic physical plane, which is density from His point of view. He knew it to be the death of His consciousness, and death to the scope for expression of His abilities that He could enjoy on other and less hampered planes. He entered into density.

Đó là sự sống của cõi hồng trần vũ trụ, bởi xét cho cùng, sự sống của một Hành Tinh Thượng đế còn rộng lớn hơn rất nhiều những gì có thể tìm thấy trên cõi hồng trần vũ trụ, vốn là sự đậm đặc theo quan điểm của Ngài. Ngài biết đó là sự chết đối với tâm thức của Ngài và là sự chết đối với phạm vi biểu hiện những năng lực mà Ngài có thể vui hưởng trên các cõi khác ít bị hạn chế hơn. Ngài tiến vào sự đậm đặc.

[45] “He took a form and grieved to find it dark.

[45] “Ngài khoác lấy một hình tướng và đau buồn khi thấy nó tối tăm.

Of what nature is planetary Logoic grief? Is this simply an anthropomorphic statement helping us relate what the great Logos experiences to what we experience? It is the case that when one goes forth to assist, one finds more difficult circumstances than one may have imagined.

Nỗi đau buồn của Hành Tinh Thượng đế mang bản chất gì? Phải chăng đây chỉ là một phát biểu nhân hình hóa nhằm giúp chúng ta liên hệ điều vị Thượng đế vĩ đại trải nghiệm với điều chúng ta trải nghiệm? Quả thật, khi một người tiến ra để trợ giúp, y sẽ gặp những hoàn cảnh khó khăn hơn mức mình có thể tưởng tượng.

I remember reading about the first night that Father Damien experienced on Molokai Island. I think it was a moment of realization for him. I can't remember where I read it. I was studying him from the point of view of his horoscope and of the fourth degree. Interesting how powerful Vulcan was and his chart needed to be for what he did. He was a Capricorn person—the third degree—with Taurus and Vulcan pointing to the fourth, ruled by the fourth ray, as Taurus brings in the fourth ray. So I was studying that, and he had quite a grief-filled first night on that island, realizing he was indeed sacrificing everything he had for those who had contracted leprosy and were banished to that particular Hawaiian island to be rid of them, to get them away from others so others would not be contaminated by them. As we see in the Bible, the phrase "unclean, unclean" is used with respect to leprosy—untouchables, really, in terms of the normal human conception. So there he was, giving up everything he had achieved in terms of, let's say, being a rich young man, a third degree initiate, I suspect, and having many things open to him.

Tôi nhớ đã đọc về đêm đầu tiên Cha Damien trải qua trên đảo Molokai. Tôi nghĩ đó là khoảnh khắc nhận thức đối với ông. Tôi không nhớ mình đã đọc điều ấy ở đâu. Tôi nghiên cứu ông từ góc độ lá số chiêm tinh và lần điểm đạo thứ tư. Thật thú vị khi thấy Vulcan hùng mạnh đến mức nào và lá số của ông phải như thế nào để ông thực hiện được điều mình đã làm. Ông là người Ma Kết—lần điểm đạo thứ ba—với Kim Ngưu và Vulcan hướng đến lần điểm đạo thứ tư, do cung bốn cai quản, vì Kim Ngưu đưa cung bốn vào. Tôi đã nghiên cứu điều ấy, và ông trải qua đêm đầu tiên đầy đau buồn trên hòn đảo này khi nhận ra mình thật sự đang hy sinh mọi điều mình có cho những người mắc bệnh phong và bị lưu đày đến hòn đảo Hawaii ấy để người ta loại bỏ họ, tách họ khỏi những người khác hầu tránh lây nhiễm. Như chúng ta thấy trong Kinh Thánh, cụm từ “ô uế, ô uế” được dùng liên quan đến bệnh phong—thật ra họ là những người không thể chạm đến theo quan niệm thông thường của con người. Ông đã ở đó, từ bỏ mọi điều mình đạt được với tư cách, chúng ta có thể nói, một thanh niên giàu có, một điểm đạo đồ bậc ba như tôi phỏng đoán, người có nhiều cơ hội rộng mở trước mắt.

It's a bit like Albert Schweitzer. He had all of Europe open to him as a musician, a builder of great organs with all the multiple keyboards, a theologian, a recognized philosopher—he had everything. But he went to Lambaréné. This is a movement towards the fourth degree, wouldn't you say?

Điều này hơi giống Albert Schweitzer. Với tư cách nhạc sĩ, người chế tạo những đại phong cầm có nhiều bàn phím, nhà thần học và triết gia được công nhận, cả châu Âu đã rộng mở trước ông—ông có mọi thứ. Nhưng ông đã đến Lambaréné. Các bạn có cho rằng đây là một bước tiến đến lần điểm đạo thứ tư không?

[46] “He drove Himself forth from the secret place and sought the place of light, and light revealed all that he sought the least.

[46] “Ngài tự thúc mình ra khỏi nơi bí mật và tìm kiếm nơi có ánh sáng, và ánh sáng đã phơi bày tất cả những gì Ngài ít muốn thấy nhất.

He came forth from His soul nature into incarnation. The secret place is often the place of the soul. He came forth into incarnation and found it dark. He left the realm of the cosmic soul, and the light that was inherent in the cosmic soul revealed not what He had sought, but extreme confinement and tamas—extreme confinement and tamas, inertia and non-responsiveness. One goes forth to help and save and serve and realizes that the sphere into which one has entered to bring help, service and saviorship just doesn't respond. So this is something one has to live through, and one has to find the ways to ensure that some response will be forthcoming, and that may take a lot of work.

Ngài xuất phát từ bản chất linh hồn của mình để lâm phàm. Nơi bí mật thường là nơi của linh hồn. Ngài lâm phàm và thấy nơi ấy tối tăm. Ngài rời cõi của linh hồn vũ trụ, và ánh sáng vốn có trong linh hồn vũ trụ không làm hiển lộ điều Ngài tìm kiếm, mà chỉ cho thấy sự giam hãm cùng cực và tamas—sự giam hãm cùng cực và tamas, tính trì trệ và không đáp ứng. Một người tiến ra để trợ giúp, cứu độ và phụng sự, rồi nhận ra rằng khối cầu mà mình đã bước vào để mang đến sự trợ giúp, phụng sự và cứu độ hoàn toàn không đáp ứng. Đây là điều người ta phải trải qua, và người ta phải tìm cách bảo đảm rằng sẽ có một sự đáp ứng nào đó; điều ấy có thể đòi hỏi rất nhiều công sức.

[47] “He craved permission to return.

[47] “Ngài khao khát được phép trở về.

Every being has to ask permission of his superior. It's all a hierarchy in the universe. So we can just say this is a hierarchical universe.

Mọi Sinh Mệnh đều phải xin phép Đấng cao hơn mình. Toàn thể vũ trụ là một hệ thống thứ bậc. Có thể nói đây là một vũ trụ có thứ bậc.

[48] “He sought the Throne on high and Him who sat thereon.

[48] “Ngài tìm đến Thánh Ngai trên cao và Đấng ngự trên đó.

And who would this be relative to a Planetary Logos? So this would be a Solar Logos.

Đấng này là ai trong tương quan với một Hành Tinh Thượng đế? Đó hẳn là một Thái dương Thượng đế.

[49] He said ‘I sought not this. I looked for peace, for light,

[49] Ngài nói: ‘Tôi không tìm kiếm điều này. Tôi tìm kiếm sự bình an, ánh sáng,

Like so many, if we take it down to our own level, we may think that the sphere into which we are moving sacrificially is far less handicapped than we discover it to be. So

Nếu đưa điều này xuống cấp độ của chính mình, giống như nhiều người khác, chúng ta có thể nghĩ rằng khối cầu mà mình đang bước vào bằng sự hi sinh ít bị hạn chế hơn rất nhiều so với điều ta khám phá sau đó.

I looked for peace,

Ta tìm kiếm sự bình an,

not for friction,

chứ không phải sự ma sát,

for light,

ánh sáng,

not for darkness,

chứ không phải bóng tối,

[50] for scope to serve,

[50] phạm vi để phụng sự,

and everything hampers me,

nhưng mọi thứ đều cản trở ta,

[51] to prove my love and to reveal my power.

[51] để chứng minh tình thương của tôi và biểu lộ quyền năng của tôi.

But none of that. Let's say the environment resists that revelation, that love, and all is hampered and non-receptive.

Nhưng không điều nào trong số đó xảy ra. Có thể nói rằng môi trường chống lại sự mặc khải ấy, chống lại tình thương ấy, và mọi sự đều bị cản trở, không có khả năng tiếp nhận.

[52] Light there is none.

[52] Không có ánh sáng.

Not on the cosmic physical plane, especially in the densest levels of the cosmic physical plane, the lower twenty-one systemic subplanes.

Không có ánh sáng trên cõi hồng trần vũ trụ, đặc biệt tại các cấp độ đậm đặc nhất của cõi hồng trần vũ trụ, tức hai mươi mốt cõi phụ thấp của hệ thống.

Light there is none.

Không có ánh sáng.

[53] Peace is not found.

[53] Không tìm thấy sự bình an.

—because there is a cacophony of inharmonious, dissonant, warring energies. Straight to the point, right?—

—bởi ở đó có sự hỗn tạp ầm ĩ của những năng lượng bất hòa, nghịch âm và xung chiến. Thật thẳng vào trọng tâm—

[54] Let me return.’

[54] Xin cho tôi trở về.’

He who has set his hand to the plow and seeks to return is not worthy to enter the earth—the great teaching that Christ gave on the human level; it seems also to apply. I wonder who would know this planetary psychology? How does any writer—unless, of course, the writer is the Planetary Logos Himself in some way—how would any writer know what is in the psyche of the Planetary Logos? What would be the dissatisfaction? What would be the sense of rebellion? Would there be the desire to return? We have to stay with those questions, because we just don't know how anyone writing the Old Commentary would get into the psyche of the Planetary Logos.

Người đã đặt tay vào cày mà còn tìm cách quay lại thì không xứng đáng bước vào cõi trần—giáo huấn vĩ đại mà Đức Christ đã ban truyền ở cấp độ nhân loại dường như cũng áp dụng tại đây. Tôi tự hỏi ai có thể biết tâm lý hành tinh này? Làm sao một tác giả—trừ phi dĩ nhiên, theo cách nào đó, tác giả chính là Hành Tinh Thượng đế—có thể biết những gì nằm trong tâm hồn của Hành Tinh Thượng đế? Sự bất mãn ấy sẽ là gì? Cảm thức nổi loạn ấy sẽ ra sao? Liệu có ước muốn trở về hay không? Chúng ta phải ở lại với những câu hỏi ấy, bởi chúng ta hoàn toàn không biết làm thế nào bất kỳ ai viết Cổ Luận lại có thể thâm nhập vào tâm hồn của Hành Tinh Thượng đế.

Light there is none. Peace is not found. Let me return.

Không có ánh sáng. Không tìm thấy sự bình an. Hãy để ta trở về.

[55] But He Who sat upon the Throne turned not his head.

[55] Nhưng Đấng ngự trên Thánh Ngai không ngoảnh đầu lại.

It comes right back to the one who pleaded for escape.

Điều ấy quay trở lại ngay với Đấng đã cầu xin được thoát khỏi nơi này.

[56] He seemed not e’en to listen nor to hear.

[56] Dường như Ngài thậm chí không lắng nghe cũng không nghe thấy.

There's no discussion here with the great Solar Logos about what the planetary duty may be. And sometimes, when someone might go forth on a human mission that we have sent them upon, and they say, "I really want to go back. I don't want this mission," could we adopt this attitude of letting them hear their own statement, and not simply engaging in any form of persuasion, any form of dialogue?

Ở đây không có cuộc thảo luận nào với Thái dương Thượng đế vĩ đại về bổn phận hành tinh có thể là gì. Đôi khi, một người có thể lên đường thực hiện một sứ mệnh nhân loại mà chúng ta giao cho họ, rồi nói: “Tôi thật sự muốn trở về. Tôi không muốn sứ mệnh này.” Liệu chúng ta có thể giữ thái độ để họ tự nghe lời tuyên bố của mình, thay vì lập tức dùng bất kỳ hình thức thuyết phục hay đối thoại nào không?

He seemed not e’en to listen nor to hear.

Ngài dường như thậm chí không lắng nghe cũng không nghe thấy.

[57] But from the lower sphere of darkness

[57] Nhưng từ khối cầu thấp của bóng tối

—this is exactly like the sixth ray. This is so interesting. I'll show you this in a minute—

—điều này hoàn toàn giống cung sáu. Thật thú vị. Tôi sẽ trình bày cho các bạn ngay sau đây—

But from the lower sphere of darkness

Nhưng từ khối cầu thấp của bóng tối

[58] and of pain a voice came forth and cried: ‘We suffer here. We seek the light. We need the glory of an entering God.

[58] và đau khổ, một tiếng nói vang lên và kêu rằng: ‘Chúng tôi đau khổ ở đây. Chúng tôi tìm kiếm ánh sáng. Chúng tôi cần vinh quang của một Thượng đế đang đi vào. [Page

And DK says,

Và Chân sư DK nói:

[59] [I can find no other words except these last two to express the ancient symbol from which I am translating.]

[59] Tôi không thể tìm được những từ nào khác ngoài hai từ cuối này để diễn đạt biểu tượng cổ xưa mà tôi đang dịch.]

[60] Lift us to Heaven. Enter, O Lord, the tomb. Raise us into the light and make the sacrifice.

[60] Hãy nâng chúng tôi lên Thiên giới. Lạy Chúa Tể, xin hãy bước vào ngôi mộ. Hãy nâng chúng tôi vào ánh sáng và thực hiện sự hy sinh.

Make the sacrifice.

Hãy thực hiện sự hi sinh.

[61] Break down for us the prison wall and enter into pain.’

[61] Hãy phá đổ bức tường nhà tù cho chúng tôi và bước vào đau khổ.’

Very appealing prospect! And here is sacrifice on the level of the Planetary Logos. And we try to convince ourselves that there's no problem with sacrifice, that it's not necessarily painful. You also hear this kind of New Age-ism: "Pain is inevitable; suffering is optional." Maybe not. We human beings will do so much—we have this hatred of pain, being a fourth ray kingdom. We do so much to make the hard sacrifice, the sacrifice places of life, seem less hard, seem more tolerable, simply seem easier. But maybe it just isn't that way.

Một viễn cảnh thật hấp dẫn! Đây là sự hi sinh ở cấp độ Hành Tinh Thượng đế. Chúng ta cố thuyết phục bản thân rằng sự hi sinh không có vấn đề gì và không nhất thiết phải đau đớn. Các bạn cũng nghe kiểu tư tưởng Kỷ Nguyên Mới này: “Đau đớn là điều không thể tránh khỏi; khổ đau là điều có thể lựa chọn.” Có lẽ không phải vậy. Con người chúng ta sẽ làm rất nhiều điều—chúng ta có lòng căm ghét đau đớn vì là một giới thuộc cung bốn. Chúng ta làm rất nhiều điều để khiến sự hi sinh gian khó, những nơi chốn hi sinh trong đời sống, có vẻ bớt gian khó, dễ chịu hơn và đơn giản là dễ dàng hơn. Nhưng có lẽ sự thật không phải như vậy.

We need the glory of an entering God.

Chúng con cần vinh quang của một Thượng đế đang tiến vào.

Make the sacrifice. Raise us into light. Break down for us the prison wall.

Hãy thực hiện sự hi sinh. Xin nâng chúng con vào ánh sáng. Xin phá đổ bức tường nhà tù cho chúng con.