← Bình Giảng Các Định luật của Linh hồn

Commentary Laws of the Soul 7

Tóm lược chương

Chân sư DK chỉ ra rằng phần lớn chân thần của con người trong ba hệ hành tinh Saturn, Mars và Địa Cầu thuộc cung ba – cung tích cực trí tuệ. Thầy MDR lưu ý rằng điều này không thể áp dụng cho toàn bộ hệ mặt trời, vì trong hệ mặt trời có 35 tỷ chân thần cung hai và 20 tỷ chân thần cung ba, nên cung ba không phải là đa số toàn cục. Tuyên bố này chỉ có giá trị trong bối cảnh riêng của ba hệ hành tinh hy sinh nói trên. Cung ba chân thần biểu hiện qua bảy loại tâm lý tương ứng với bảy cung: (1) Ý Chí gợi lên mục đích thiêng liêng, (2) Bác ái biểu hiện phẩm tính thiêng liêng, (3) Trí tuệ phản chiếu trực giác, (4) Xung đột tạo ra hòa hợp, (5) Tri…


Commentary Laws of the Soul 7

Tóm Tắt

Cung ba là cung Chân Thần chủ yếu trong ba hệ hành tinh Saturn, Mars và Địa Cầu

Chân sư DK chỉ ra rằng phần lớn chân thần của con người trong ba hệ hành tinh Saturn, Mars và Địa Cầu thuộc cung ba – cung tích cực trí tuệ. Thầy MDR lưu ý rằng điều này không thể áp dụng cho toàn bộ hệ mặt trời, vì trong hệ mặt trời có 35 tỷ chân thần cung hai và 20 tỷ chân thần cung ba, nên cung ba không phải là đa số toàn cục. Tuyên bố này chỉ có giá trị trong bối cảnh riêng của ba hệ hành tinh hy sinh nói trên.

Bảy loại tâm lý biểu hiện qua cung ba Chân Thần

Cung ba chân thần biểu hiện qua bảy loại tâm lý tương ứng với bảy cung: (1) Ý Chí gợi lên mục đích thiêng liêng, (2) Bác ái biểu hiện phẩm tính thiêng liêng, (3) Trí tuệ phản chiếu trực giác, (4) Xung đột tạo ra hòa hợp, (5) Tri thức hay khoa học dẫn đến tính phóng xạ, (6) Lý tưởng thiết lập mô hình thiêng liêng, (7) Nghi lễ hay tổ chức biểu hiện Thượng đế. Thầy MDR đặt câu hỏi liệu bảy loại này phản ánh các loại linh hồn hay các loại chân thần trên cõi Chân Thần, và kết luận rằng có thể cả hai – có bảy loại chân thần trên cõi Chân Thần, không chỉ ba như thường được nói đến trong tổng hợp.

Công thức cung tuyến cá nhân và khoa học tâm lý huyền môn trong tương lai

Chân sư DK giới thiệu một ngôn ngữ ký hiệu để mô tả cấu trúc cung tuyến của một cá nhân, ví dụ: chân thần cung ba, chân ngã cung bốn, phàm ngã cung bảy được viết dưới dạng công thức kết hợp chữ số La Mã và chữ số Ả Rập. Thầy MDR nhận xét rằng thầy đã dành hơn nửa cuộc đời nghiên cứu chính xác vấn đề này sau khi đọc Esoteric Psychology cách đây hơn bốn mươi năm, và công việc đó được triển khai trong các khóa học tâm lý huyền môn của Morya Federation và Đại học Seven Rays. Việc nghiên cứu công thức cung tuyến cần được kết hợp với lá số chiêm tinh, vì cùng một công thức cung tuyến sẽ biểu hiện rất khác nhau qua các lá số chiêm tinh khác nhau.

Ví dụ bất thường về thể cảm dục cung năm trong biểu đồ cung tuyến

Chân sư DK đưa ra một ví dụ biểu đồ cung tuyến bất thường gồm thể trí cung một, thể cảm dục cung năm và thể xác cung ba trong một phàm ngã cung bảy với chân ngã cung bốn. Thầy MDR lưu ý rằng thể cảm dục cung năm là hiếm gặp – trong số các đệ tử mà Chân sư DK giảng dạy, hầu như không ai có thể cảm dục cung năm, chủ yếu là cung sáu, hai hoặc một. Thầy MDR đánh giá đây là biểu đồ nặng về đường cứng, chỉ có chân ngã cung bốn mang yếu tố cân bằng, tạo ra một cá nhân trí tuệ cao, ít bị xúc cảm chi phối, có khả năng tổ chức và sáng tạo ở tầng cao hơn.

Định luật Hy Sinh không thể bị loại bỏ trên Trái Đất, Saturn và Mars

Chân sư DK khẳng định rằng Định luật Hy Sinh không thể bị loại bỏ trong bốn giới thấp trên Trái Đất, Saturn và Mars vì ba hành tinh này đặc biệt gắn với khổ đau và hy sinh. Trên phần lớn các hệ hành tinh còn lại, hy sinh và chí phúc là những thuật ngữ đồng nghĩa đối với Thái dương Thượng đế và đa số Hành Tinh Thượng đế. Thầy MDR suy luận rằng Hành Tinh Thượng đế của Địa Cầu vẫn đang trong một cuộc hy sinh mà Ngài không ưa thích, theo lời Cổ Luận, nhưng có lẽ đến nay Ngài đã thấy được phần nào kết quả của sứ mệnh cứu chuộc và điều đó mang lại sự bù đắp nào đó.

Mối liên hệ giữa hy sinh, cho đi và chí phúc

Chân sư DK dạy rằng với Thái dương Thượng đế và đa số Hành Tinh Thượng đế, hy sinh và chí phúc là đồng nghĩa. Thầy MDR triển khai suy luận: hy sinh là cho đi, cho đi là hy sinh, hy sinh là chí phúc, do đó cho đi chính là chí phúc. Thầy MDR đề xuất rằng việc cho đi tất cả những gì có thể cho một cách đúng mức, khôn ngoan và hữu ích sẽ dẫn đến sự giải thoát khỏi các giới thấp và bước vào trạng thái chí phúc, và khi trở lại thì là sự trở lại tự nguyện.

Ba trạng thái tiếp cận chí phúc: xuất thần, thăng hoa và cực điểm hy sinh

Chân sư DK mô tả ba trạng thái vượt qua khổ đau đạt được bởi những người tiến bộ trên Trái Đất: xuất thần của nhà thần bí, sự thăng hoa của điểm đạo đồ, và cực điểm thống khổ của hy sinh khi cảm xúc được nâng lên tới điểm thăng hoa. Thầy MDR liên hệ quá trình thăng hoa này với hiện tượng thăng hoa của iod trong phòng thí nghiệm hóa học, trong đó chất rắn màu tím trực tiếp chuyển thành hơi mà không qua trạng thái lỏng – gợi ý rằng cảm xúc khi được thăng hoa sẽ vươn lên cõi Bồ đề. Khi đạt điểm này, bộ máy của khổ đau và tri giác cảm giác được vượt qua, và tạm thời con người thoát lên cõi thống nhất – tức cõi Bồ đề.

Antahkarana như con đường thoát và con đường sống hàng ngày sau lần điểm đạo thứ ba

Chân sư DK giải thích rằng khi antahkarana chưa được kiến tạo hoàn chỉnh, sợi dây nhỏ của con đường đang xây dựng có thể, dưới áp lực và kích động mạnh mẽ, phóng về phía trước như một dải ánh sáng và tạm thời chạm vào ánh sáng của Chân Ngã, gây ra xuất thần và thăng hoa – nhưng không thể kiểm soát được và không duy trì. Sau lần điểm đạo thứ ba, con đường thoát này trở thành con đường sống hàng ngày; sự thoát khỏi khổ đau trở nên tự động vì trung tâm tâm thức đã ở nơi khác. Thầy MDR kể câu chuyện về Mahatma Gandhi từ chối gây tê trong ca phẫu thuật ruột thừa và vẫn trò chuyện thoải mái, xem đây như minh họa cho trung tâm tâm thức đặt ở nơi khác.

Hòa hợp, thống nhất và sự nhất thể – tiến trình từ cung bốn đến cung một

Thầy MDR đề xuất rằng hòa hợp, thống nhất và nhất thể biểu hiện một tiến trình tương ứng lần lượt với cung bốn, cung hai và cung một. Thuật ngữ Hợp Nhất Cô Lập, dù là công thức cung một, vẫn dùng từ "thống nhất" – thường là từ của cung hai – để chỉ trạng thái nhận ra sự nhất thể của tất cả. Thầy MDR lưu ý rằng không có thuật ngữ nào thực sự nắm bắt được thực tại của trạng thái mà nó đại diện, và có sự chồng lấp đáng kể giữa các thuật ngữ này.

Đêm tối của linh hồn: trải nghiệm của Đức Christ, Điểm đạo đồ Jesus và người đệ tử

Thầy MDR đọc và bình luận một đoạn từ Luận về Các Tia và Điểm Đạo (trang 198) về việc Đức Christ phủ bóng lên Chân sư Jesus trong trải nghiệm trên thập giá, và về cách một Chân sư tham dự chủ quan vào trải nghiệm của đệ tử đang được điểm đạo. Đêm tối thực sự khác với đêm tối của nhà thần bí thông thường: đó là trạng thái tối đen tuyệt đối không có ánh sáng nào từ ba cõi thấp, và đó là sự tham dự của linh hồn vào nỗi đau của toàn thể nhân loại trong sự phân cách với Thượng đế. Thầy MDR dẫn thêm đoạn từ Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới (trang 29) để phân biệt đêm tối thực sự của linh hồn – liên quan đến nỗi đau của toàn thể nhân loại – với đêm tối của phàm ngã mà các nhà thần bí thường mô tả.

Sáu kết quả của sự hiểu biết về tâm lý huyền môn và Định luật Hy Sinh

Chân sư DK liệt kê sáu điểm mà sự hiểu biết về tâm lý huyền môn và Định luật Hy Sinh sẽ giải thích: (1) ảnh hưởng của Saturn trong đời sống nhân loại, (2) sự chấm dứt phản loạn hay sự kết thúc ảnh hưởng của Mars, (3) việc kiến tạo antahkarana giải phóng con người khỏi sự chi phối của phàm ngã, (4) sự gợi lên tâm thức nhóm, (5) sự phủ nhận khổ đau và sầu muộn, (6) sự bước vào Niết Bàn và khởi đầu Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Thầy MDR gọi Saturn là hành tinh của sự lựa chọn bắt buộc và ưu tiên hóa, còn Mars là hành tinh tạo điều kiện cho sự tiến tới thống nhất thông qua sự chấm dứt phản loạn.

Vượt qua nhị nguyên qua Tam Nguyên Tinh Thần và tâm thức monad

Thầy MDR giải thích tiến trình: tiếp xúc linh hồn qua tham thiền huyền môn, rồi tiến lên tiếp xúc Tam Nguyên Tinh Thần và chân thần qua việc kiến tạo antahkarana. Khi vượt lên khỏi đơn vị hạ trí và phàm ngã xây dựng quanh nó, tâm thức nhóm trở nên chiếm ưu thế ở tầng Tam Nguyên Tinh Thần, còn tâm thức phổ quát hiện diện ở tầng chân thần. Cõi dĩ thái vũ trụ – bao gồm cõi Bồ đề, atma, cõi Chân Thần và cõi Niết Bàn – so với các cõi đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế là phi nhị nguyên, và đó là nơi khổ đau và sầu muộn bị phủ nhận vĩnh viễn.

The Law of the Soul 7

[1] A hint is here conveyed as to the prevalence of third ray Monads among the sons of men. The ray of active intelligence, expressing itself through the seven ray types, is above everything else the ray upon which the majority of human monads will, particularly, at this time, be found. [2] We shall, therefore, find the following psychological types colouring the bulk of our humanity, and the ray of active intelligence [3] expressing itself through

[1] Ở đây có một gợi ý về sự phổ biến của các chân thần cung ba trong những người con của nhân loại. Cung của trí thông tuệ linh hoạt, biểu lộ qua bảy loại cung, trên hết là cung mà phần lớn các chân thần nhân loại sẽ được nhận thấy thuộc về, đặc biệt vào thời điểm hiện nay. [2] Vì vậy, chúng ta sẽ thấy những loại hình tâm lý sau đây nhuộm màu phần lớn nhân loại chúng ta, với cung của trí thông tuệ linh hoạt [3] tự biểu lộ qua:

[4] 1. Will, evoking divine purpose.

[4] 1. Ý chí, gợi lên Thiên Ý.

[5] 2. Love, expressing divine quality.

[5] 2. Tình thương, biểu lộ phẩm tính thiêng liêng.

[6] 3. Intellect, as the reflector of the Intuition.

[6] 3. Trí tuệ, như tấm gương phản chiếu Trực Giác.

[7] 4. Conflict, producing harmony.

[7] 4. Xung đột, tạo ra sự hài hòa.

[8] 5. Knowledge or science, [9] leading to radiance.

[8] 5. Tri thức hay khoa học, [9] dẫn đến sự tỏa sáng.

[10] 6. Idealism, establishing the divine pattern.

[10] 6. Chủ nghĩa lý tưởng, thiết lập mô hình thiêng liêng.

[11] 7. Ritual or organization, manifesting Deity.

[11] 7. Nghi lễ hay tổ chức, biểu hiện Thượng đế.

[12] Therefore, psychologically speaking, and [13] when greater knowledge has been gained of the energies determining the type of a man, a person, for instance, whose Monad is presumably upon the third ray, [14] his ego being on the fourth ray, [15] and his personality on the seventh ray, will be described as a Three, IV.7. [16] Within this simple formula there will be lesser differentiations and a seventh ray personality may have [17] a first ray mental body, a fifth ray astral body, [18] and a third ray [Page 102] physical body. The formula which would describe him [19] would be

[12] Vì vậy, xét về mặt tâm lý học, và [13] khi đã đạt được sự hiểu biết sâu rộng hơn về những năng lượng quyết định loại hình của một người, chẳng hạn, một người mà chân thần được giả định thuộc cung ba, [14] chân ngã của y thuộc cung bốn, [15] và phàm ngã thuộc cung bảy, sẽ được mô tả là Ba, IV.7. [16] Trong công thức đơn giản này sẽ có những biến phân nhỏ hơn, và một phàm ngã cung bảy có thể có [17] thể trí cung một, thể cảm dục cung năm, [18] và thể xác cung ba [Page 102]. Công thức mô tả y [19] sẽ là

. . . . . . . . . .1

. . . . . . . . . .1

Three, IV. 7.5

Ba, IV. 7.5

. . . . . . . . . .3

. . . . . . . . . .3

This, when interpreted, means

Khi được diễn giải, công thức này có nghĩa là

Monad… third ray.

Chân thần — cung ba.

Ego… fourth ray.

Chân ngã — cung bốn.

Personality… seventh ray.

Phàm ngã — cung bảy.

Mental body… first ray.

Thể trí — cung một.

Astral body… fifth ray.

Thể cảm dục — cung năm.

Physical bodyt… hird ray.

Thể xác — cung ba.

[20] Students may find it of value to study themselves and others in conformity with the above, [21] and to establish their personal formulas. [22] This should be done in conjunction with a consultation of their horoscopes. [23] This will be discussed more at length after we have considered the astrological implications of the rays, [24] in the succeeding volume.

[20] Các đạo sinh có thể thấy hữu ích khi nghiên cứu chính mình và những người khác theo cách trình bày ở trên, [21] và xác lập các công thức cá nhân của mình. [22] Việc này nên được thực hiện kết hợp với việc tham khảo các lá số chiêm tinh của họ. [23] Điều này sẽ được bàn luận đầy đủ hơn sau khi chúng ta xem xét những hàm ý chiêm tinh của các cung, [24] trong quyển tiếp theo.

[25] The Law of Sacrifice, therefore, can never be eliminated in our Earth scheme, as far as the human and subhuman reactions to sorrow and pain are concerned, [26] nor can it be eliminated on the planets Saturn and Mars. It [27] is relatively unknown in the other schemes. Bliss and Sacrifice are synonymous terms as far as our solar Logos is concerned, and also for the majority of the planetary Logoi. [28] This must be remembered. [29] A touch of this freedom from the limitations of pain and sorrow can be found among the more advanced sons of men on Earth, who know [30] the ecstasy of the mystic, the exaltation of the initiate, and the exquisite agony of sacrifice or of any feeling which is carried forward to the point of sublimation. [31] When this point has been reached, the mechanism of suffering and the ability to register sensuous perception is transcended, [32] and momentarily the man escapes on to the plane of unity. [33] [Page 103] Here there is no pain, no sorrow, no rebellion and no suffering. [34] When the living, vibrating antaskarana or bridge is built, this “way of escape” becomes the normal path of life. [35] Escape from pain is then automatic, for the center of consciousness is elsewhere. [36] In the cases mentioned above, and where the antaskarana is not a consummated, established fact, the tiny thread of the partially constructed “way of escape”, [37] under tremendous pressure and excitation, [38] shoots forward like a quivering band of light, and momentarily touches the light that is the Self. [39] Hence ecstasy and exaltation. [40] But it does not last, and cannot be consciously recovered until the third initiation has been taken. [41] After that the “way of escape” becomes the “way of daily livingness” (to translate inadequately the occult and ancient phrase). [42] Then pain is steadily transcended, [43] and the pairs of opposites—pleasure and pain—have no longer any hold over the disciple.

[25] Vì vậy, Định luật Hy sinh không bao giờ có thể bị loại bỏ trong hệ hành tinh Trái Đất của chúng ta, xét về những phản ứng của con người và các giới dưới nhân loại đối với sầu khổ và đau đớn, [26] cũng như không thể bị loại bỏ trên các hành tinh Sao Thổ và Sao Hỏa. Trong [27] các hệ hành tinh khác, định luật này tương đối ít được biết đến. Chí phúc và Hy sinh là những thuật ngữ đồng nghĩa đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta, và cũng như vậy đối với phần lớn các Hành Tinh Thượng đế. [28] Cần ghi nhớ điều này. [29] Một chút hương vị của sự tự do thoát khỏi những giới hạn của đau đớn và sầu khổ này có thể được tìm thấy nơi những người con tiến hóa cao hơn của nhân loại trên Trái Đất, những người biết đến [30] trạng thái xuất thần của nhà thần bí, sự thăng hoa của điểm đạo đồ, và nỗi thống khổ tuyệt diệu của sự hy sinh hoặc của bất kỳ cảm xúc nào được nâng lên đến mức thăng hoa. [31] Khi đạt đến điểm này, bộ máy đau khổ và khả năng ghi nhận nhận thức cảm giác được vượt qua, [32] và trong khoảnh khắc, con người thoát lên cõi hợp nhất. [33] [Page 103] Ở đây không có đau đớn, không có sầu khổ, không có nổi loạn và không có khổ đau. [34] Khi antahkarana hay cây cầu sống động, rung động được xây dựng, “con đường thoát ly” này trở thành con đường bình thường của đời sống. [35] Khi ấy, việc thoát khỏi đau đớn diễn ra tự động, vì trung tâm tâm thức nằm ở nơi khác. [36] Trong những trường hợp được đề cập ở trên, và khi antahkarana chưa trở thành một sự kiện hoàn tất và được xác lập, sợi dây nhỏ bé của “con đường thoát ly” mới được xây dựng một phần, [37] dưới áp lực và sự kích thích cực độ, [38] phóng tới như một dải ánh sáng rung động và trong khoảnh khắc chạm vào ánh sáng vốn là Chân Ngã. [39] Do đó có trạng thái xuất thần và sự thăng hoa. [40] Nhưng trạng thái ấy không kéo dài, và không thể được tái lập một cách hữu thức cho đến khi trải qua lần điểm đạo thứ ba. [41] Sau đó, “con đường thoát ly” trở thành “con đường sống động hằng ngày” (để dịch một cách chưa đầy đủ cụm từ huyền bí và cổ xưa ấy). [42] Khi ấy, đau đớn dần dần được vượt qua, [43] và các cặp đối cực—khoái lạc và đau đớn—không còn chi phối đệ tử nữa.

[44] All this constitutes the theme of esoteric psychology and, when rightly understood, will explain

[44] Tất cả những điều này cấu thành chủ đề của Tâm Lý Học Nội Môn và, khi được thấu hiểu đúng đắn, sẽ giải thích:

[45] 1. The Saturnian influence in human life.

[45] 1. Ảnh hưởng của Sao Thổ trong đời sống con người.

[46] 2. The cessation of rebellion, or the ending of the Martian influence.

[46] 2. Sự chấm dứt nổi loạn, hay sự kết thúc ảnh hưởng của Sao Hỏa.

[47] 3. The building of the antaskarana, which releases the man from the control of personality life.

[47] 3. Việc xây dựng antahkarana, giải thoát con người khỏi sự kiểm soát của đời sống phàm ngã.

[48] 4. The evocation [49] of the group consciousness.

[48] 4. Sự gợi lên [49] của tâm thức tập thể.

[50] 5. The consequent negation of pain and sorrow.

[50] 5. Hệ quả là sự phủ định đau đớn và sầu khổ.

[51] 6. Entrance into Nirvana, [52] and the beginning of the real Way.

[51] 6. Bước vào Niết Bàn, [52] và khởi đầu Con Đường đích thực.

The Law of Sacrifice means also

Định luật Hy sinh cũng có nghĩa là

Bình Giảng Webinar Các Định Luật của Linh Hồn số 7

Hi, everybody. We're in Laws of the Soul Webinar Commentaries number seven. We're working in the Law of Sacrifice, and we're into some very interesting ideas: that the majority of monads, of human monads, in the three schemes we've been discussing—Saturn, Mars and the Earth scheme—are on the third ray.

Chào mọi người. Chúng ta đang ở bài Bình Giảng Webinar Các Định Luật của Linh Hồn số bảy. Chúng ta đang nghiên cứu Định luật Hy sinh và đã đi vào một số ý tưởng rất thú vị: đa số các chân thần, tức các chân thần nhân loại, trong ba hệ hành tinh mà chúng ta đã bàn đến—Sao Thổ, Sao Hỏa và hệ Địa Cầu—đều thuộc cung ba.

[1] A hint is here conveyed as to the prevalence of third ray Monads among the sons of men. The ray of active intelligence, expressing itself through the seven ray types, is above everything else the ray upon which the majority of human monads will, particularly, at this time, be found.

[1] Ở đây có một gợi ý về sự phổ biến của các chân thần cung ba trong những người con của nhân loại. Cung của trí thông tuệ linh hoạt, biểu lộ qua bảy loại cung, trên hết là cung mà phần lớn các chân thần nhân loại sẽ được nhận thấy thuộc về, đặc biệt vào thời điểm hiện nay.

Now, I think he means especially with these three schemes. It can't be the majority in the solar system, because we know that there are 35 billion human monads in the solar system that are on the second ray, and 20 billion on the third. So that's not a majority. It has to be with respect to the three planets we've been discussing, which are uniquely planets of sacrifice, as we generally understand the term sacrifice. So

Giờ đây, tôi nghĩ Ngài đặc biệt muốn nói đến ba hệ hành tinh này. Đó không thể là đa số trong hệ mặt trời, vì chúng ta biết rằng trong hệ mặt trời có 35 tỷ chân thần nhân loại thuộc cung hai và 20 tỷ thuộc cung ba. Vì vậy, đó không phải là đa số. Điều này hẳn phải liên quan đến ba hành tinh mà chúng ta đã bàn đến, vốn là những hành tinh hy sinh theo một cách độc đáo, như chúng ta thường hiểu thuật ngữ hy sinh. Vì vậy,

The ray of active intelligence expressing itself through the seven ray types,

Cung thông tuệ tích cực biểu hiện qua bảy loại cung,

—and then we talked about what exactly that means: is that soul rays, or the seven Monadic types?—

—và rồi chúng ta đã bàn về ý nghĩa chính xác của điều đó: đó là các cung linh hồn hay bảy loại Chân thần?—

is above everything else the ray upon which the majority of human monads will, particularly at this time,

trên hết là cung mà đa số các chân thần nhân loại, đặc biệt vào lúc này,

—and I do think we have to clarify that, of course: particularly at this time, and in relation to the three schemes here discussed—

—và dĩ nhiên, tôi thực sự nghĩ rằng chúng ta phải làm rõ điều đó: đặc biệt vào lúc này và trong mối liên hệ với ba hệ hành tinh được bàn đến ở đây—

be found.

sẽ được nhận thấy là thuộc về.

[2] We shall, therefore, find the following psychological types colouring the bulk of our humanity, and the ray of active intelligence

[2] Vì vậy, chúng ta sẽ thấy những loại hình tâm lý sau đây nhuộm màu phần lớn nhân loại chúng ta, với cung của trí thông tuệ linh hoạt

as a Monadic ray—I want to say a Monadic ray, but let's say the Monadic ray as the Monadic ray—

với tư cách cung chân thần—tôi muốn nói là một cung chân thần, nhưng hãy nói cung Chân thần với tư cách cung Chân thần—

[3] expressing itself through

[3] tự biểu lộ qua:

[4] 1. Will, evoking divine purpose.

[4] 1. Ý chí, gợi lên Thiên Ý.

And when the will is rightly aligned, the purpose is seen and understood. So we might say that he that does the will of God shall know the divine purpose.

Và khi ý chí được chỉnh hợp đúng đắn, Thiên Ý được thấy và thấu hiểu. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng người thực hiện Ý Chí của Thượng Đế sẽ biết Thiên Ý.

[5] 2. Love, expressing divine quality.

[5] 2. Tình thương, biểu lộ phẩm tính thiêng liêng.

The particular quality of our solar system, and of our planet particularly.

Phẩm tính đặc thù của hệ mặt trời chúng ta và đặc biệt là của hành tinh chúng ta.

[6] 3. Intellect, as the reflector of the Intuition.

[6] 3. Trí tuệ, như tấm gương phản chiếu Trực Giác.

So into the intellect comes the stream of intuition; into the intellect descends the stream of intuition, and in the intellect it is formulated. Ideas are formulated into thoughts; they are abstract thoughts.

Vì vậy, dòng trực giác đi vào trí năng; dòng trực giác giáng xuống trí năng và được hình thành trong trí năng. Các ý tưởng được hình thành thành tư tưởng; chúng là những tư tưởng trừu tượng.

[7] 4. Conflict, producing harmony.

[7] 4. Xung đột, tạo ra sự hài hòa.

Notice the conflict is mentioned first. This has often been called the ray of conflict, but sometimes it's called the ray of harmony through conflict, emphasizing the end result. But here, the ray of conflict producing harmony—he turns it the other way around.

Hãy lưu ý rằng xung đột được đề cập trước tiên. Cung này thường được gọi là cung xung đột, nhưng đôi khi nó được gọi là cung hài hòa thông qua xung đột, nhấn mạnh kết quả cuối cùng. Nhưng ở đây là cung xung đột tạo ra sự hài hòa—Ngài đảo ngược cách diễn đạt.

[8] 5. Knowledge or science,

[8] 5. Tri thức hay khoa học,

It's not the same as intellect, is it? Intellect is particularly related to the third ray, and knowledge to the fifth ray. Although we should not make any truly hard and fast distinction, there tends to be that type of relationship.

Nó không giống với trí năng, phải không? Trí năng đặc biệt liên quan đến cung ba, còn tri thức liên quan đến cung năm. Mặc dù chúng ta không nên tạo ra bất kỳ sự phân biệt thật sự cứng nhắc nào, nhưng thường có loại quan hệ đó.

Knowledge or science

Tri thức hoặc khoa học

[9] leading to radiance.

[9] dẫn đến sự tỏa sáng.

—the way of bringing the radiatory potential of matter forward, so bringing into expression the radiatory potential of matter by means of knowledge.

—phương cách đưa tiềm năng bức xạ của vật chất ra phía trước, tức là dùng tri thức để đưa tiềm năng bức xạ của vật chất vào biểu hiện.

[10] 6. Idealism, establishing the divine pattern.

[10] 6. Chủ nghĩa lý tưởng, thiết lập mô hình thiêng liêng.

It connects with the divine pattern on the Monadic plane, and it works at bringing that pattern through into different fields. It works hard; its vision is ultimately the vision of the divine pattern. The vision in the higher types of those upon the sixth ray is the vision of the divine pattern.

Nó kết nối với mô hình thiêng liêng trên cõi chân thần và hoạt động để đưa mô hình ấy vào những lĩnh vực khác nhau. Nó hoạt động tích cực; tầm nhìn tối hậu của nó là tầm nhìn về mô hình thiêng liêng. Tầm nhìn nơi những người cung sáu thuộc loại cao là tầm nhìn về mô hình thiêng liêng.

[11] 7. Ritual or organisation, manifesting Deity.

[11] 7. Nghi lễ hay tổ chức, biểu hiện Thượng đế.

That's straightforward.

Điều đó rất rõ ràng.

Now the question is, are we speaking of—well, we're certainly speaking of soul types, that's for sure. We're speaking of soul types through which the third ray monad expresses, but we might also be speaking of Monadic types on the Monadic plane through which the major Monadic ray expresses. So that is something else to consider: that there are seven Monadic types, not just three—three in essence, three in synthesis, and maybe three, perhaps, upon the Logoic plane. The monad does not cease to exist upon the Monadic plane, but the Monadic vehicle is no longer a hindrance. We don't know when that Monadic vehicle is destroyed, but we do know that the Christ and the Buddha have a focus on the Logoic plane, and any unit of life leaving the cosmic physical plane has to be considered a monad in departure, even if the Monadic vehicle is not there, and even if they lose touch, either permanently or for a time, with the cosmic physical plane. So there are seven Monadic types on the Monadic plane, and there are also seven soul types. In any case, the third ray monad—and maybe we can consider it the major ray—expresses through either one of those.

Giờ đây, câu hỏi là chúng ta đang nói đến—chúng ta chắc chắn đang nói đến các loại linh hồn, điều đó là chắc chắn. Chúng ta đang nói đến các loại linh hồn mà qua đó chân thần cung ba biểu hiện, nhưng chúng ta cũng có thể đang nói đến các loại Chân thần trên cõi chân thần mà qua đó cung Chân thần chính biểu hiện. Vì vậy, đó là một điều khác cần xem xét: có bảy loại Chân thần, chứ không chỉ ba—ba về bản chất, ba trong sự tổng hợp và có lẽ là ba trên cõi Thượng đế. Chân thần không ngừng tồn tại trên cõi chân thần, nhưng hiện thể chân thần không còn là một trở ngại. Chúng ta không biết khi nào hiện thể chân thần ấy bị hủy diệt, nhưng chúng ta biết rằng Đức Christ và Đức Phật có một tiêu điểm trên cõi Thượng đế, và bất kỳ đơn vị sự sống nào rời khỏi cõi hồng trần vũ trụ đều phải được xem là một chân thần đang ra đi, ngay cả khi hiện thể chân thần không còn ở đó và ngay cả khi họ mất liên hệ, vĩnh viễn hoặc tạm thời, với cõi hồng trần vũ trụ. Vì vậy, có bảy loại Chân thần trên cõi chân thần và cũng có bảy loại linh hồn. Dù thế nào, chân thần cung ba—và có lẽ chúng ta có thể xem đó là cung chính—biểu hiện qua một trong hai loại ấy.

[12] Therefore, psychologically speaking,

[12] Vì vậy, xét về mặt tâm lý học, và

We'll see, when he uses the word "psyche"—the word psyche does suggest the soul, and the soul level. Of course, there is also a type of Monadic psychology, and we are introduced somewhat to it in this book, Esoteric Psychology, although it remains an esoteric factor, because DK doesn't really say, "Now we're dealing with Monadic psychology." But if you do study the Blessed Ones carefully, you realize we're talking about the monad in incarnation on its pilgrimage. We're not simply speaking of the soul—though in a way the soul is the monad plus the presence of the angel, of the Angel of the Presence, and that type of consciousness fusing with the consciousness of the human being, or monad. The human being is a monad. He even uses the word "people" to describe monads of certain types. So human being equals person equals monad. It's a different kind of equivalence. We just have to understand that the monad is really all there is—the One is all there is—and whatever field of expression we may be focused upon, it is the monad that is expressing, and the monad that is sensitive and receiving.

Chúng ta sẽ thấy rằng khi Ngài dùng từ “tâm hồn”—từ tâm hồn quả thật gợi đến linh hồn và cấp độ linh hồn. Dĩ nhiên, cũng có một loại tâm lý học chân thần, và chúng ta được giới thiệu phần nào về nó trong sách này, Tâm Lý Học Nội Môn, mặc dù nó vẫn là một yếu tố huyền bí, vì Chân sư DK không thực sự nói: “Giờ đây chúng ta đang bàn đến tâm lý học chân thần.” Nhưng nếu nghiên cứu kỹ các Đấng Chân Phúc, bạn nhận ra rằng chúng ta đang nói về chân thần đang lâm phàm trên hành trình hành hương của mình. Chúng ta không chỉ nói về linh hồn—mặc dù theo một cách nào đó, linh hồn là chân thần cộng với sự hiện diện của thiên thần, tức Thiên Thần của Hiện Diện, và loại tâm thức ấy dung hợp với tâm thức của con người, hay chân thần. Con người là một chân thần. Ngài thậm chí còn dùng từ “người” để mô tả các chân thần thuộc một số loại nhất định. Vì vậy, con người tương đương với cá nhân, tương đương với chân thần. Đó là một loại tương đương khác. Chúng ta chỉ cần hiểu rằng chân thần thật sự là tất cả những gì hiện hữu—Đấng Duy Nhất là tất cả những gì hiện hữu—và dù chúng ta có thể tập trung vào lĩnh vực biểu hiện nào, chính chân thần đang biểu hiện, nhạy cảm và tiếp nhận.

Therefore, psychologically speaking,

Vì vậy, xét về mặt tâm lý,

[13] when greater knowledge has been gained of the energies determining the type of a man, a person, for instance, whose Monad is presumably upon the third ray,

[13] khi đã đạt được sự hiểu biết sâu rộng hơn về những năng lượng quyết định loại hình của một người, chẳng hạn, một người mà chân thần được giả định thuộc cung ba,

He uses the word "presumably" because it's so hard to tell. It is the X factor. It is the unknown factor. In the majority of cases, in these three schemes—

Ngài dùng từ “được cho là” vì rất khó xác định. Đó là nhân tố X. Đó là nhân tố chưa được biết. Trong phần lớn trường hợp, trong ba hệ hành tinh này—

his ego

chân ngã của y

—and notice he doesn't capitalize the word ego, but he does mean on the higher mental plane. He rarely uses the term ego to represent the personality. That is more the use of modern psychology, talking about the ego. We have to specify "lower ego" when we want to mean the person, or the personality, or the isolated individual. Normally the term ego, whether capitalized or not capitalized, is meaning something higher, and if it is capitalized, it generally means something even higher, some sort of triadal identity. And maybe when all the letters are capitalized, it can even mean the monad itself in its Monadic egg, auric egg—ego, egg.

—và hãy lưu ý rằng Ngài không viết hoa từ chân ngã, nhưng Ngài quả thật muốn nói đến chân ngã trên cõi thượng trí. Ngài hiếm khi dùng thuật ngữ chân ngã để chỉ phàm ngã. Đó chủ yếu là cách dùng của tâm lý học hiện đại khi nói về cái tôi. Chúng ta phải nói rõ “phàm ngã” khi muốn chỉ cá nhân, phàm ngã hay cá thể cô lập. Thông thường, thuật ngữ chân ngã, dù có viết hoa hay không, đều hàm ý một điều gì đó cao hơn; và nếu được viết hoa, nó thường hàm ý một điều gì đó còn cao hơn nữa, một dạng bản sắc tam nguyên. Và có lẽ khi toàn bộ các chữ đều được viết hoa, nó thậm chí có thể chỉ chính chân thần trong noãn chân thần, noãn hào quang của nó—chân ngã, quả trứng.

a person, for instance, whose Monad is presumably upon the third ray,

chẳng hạn một người có Chân thần được cho là thuộc cung ba,

[14] his ego being on the fourth ray,

[14] chân ngã của y thuộc cung bốn,

—we're talking about the future now; not so many of these—

—giờ đây chúng ta đang nói về tương lai; chưa có nhiều người như thế—

[15] and his personality on the seventh ray, will be described as a

[15] và phàm ngã thuộc cung bảy, sẽ được mô tả là Ba, IV.7.

and then we spell out the word "three," and then we use the Roman numeral four, and then the Arabic numeral seven to describe the personality. So here we have a language of delineation for the future and emerging science, the science of esoteric psychology.

và rồi chúng ta viết bằng chữ từ “ba”, tiếp theo dùng số La Mã bốn, rồi số Ả Rập bảy để mô tả phàm ngã. Vì vậy, ở đây chúng ta có một ngôn ngữ phân định dành cho khoa học tương lai đang xuất hiện, tức Tâm Lý Học Nội Môn.

It will be a long time. There will be many monads on the third ray passing through our particular schemes, and on our Earth scheme, but not so many fourth ray souls yet—but coming in. So this will be the terminology; this will be the formula by which we describe such people. And when a Master looks at such a formula, He knows somewhat what to expect, depending upon the stage of evolution at which the individual, the unit of consciousness, finds himself.

Sẽ còn rất lâu nữa. Sẽ có nhiều chân thần cung ba đi qua các hệ hành tinh đặc thù của chúng ta và qua hệ Địa Cầu, nhưng hiện chưa có nhiều linh hồn cung bốn—dù họ đang xuất hiện. Vì vậy, đây sẽ là thuật ngữ; đây sẽ là công thức để chúng ta mô tả những người như thế. Và khi một Chân sư nhìn vào công thức ấy, Ngài phần nào biết điều gì có thể xảy ra, tùy theo giai đoạn tiến hóa mà cá nhân, tức đơn vị tâm thức, đang ở đó.

[16] Within this simple formula there will be lesser differentiations and a seventh ray personality may have

[16] Trong công thức đơn giản này sẽ có những biến phân nhỏ hơn, và một phàm ngã cung bảy có thể có

for instance,

chẳng hạn,

[17] a first ray mental body, a fifth ray astral body,

[17] thể trí cung một, thể cảm dục cung năm,

Ha, ha! He's throwing one in there, isn't he? Because of all of his students—maybe depending upon the stage of human history in which he was teaching—none of them had the fifth ray astral body; only astral bodies on the sixth, second and first rays.

Ha, ha! Ngài đưa vào đây một trường hợp đặc biệt, phải không? Bởi trong số tất cả các môn sinh của Ngài—có lẽ tùy vào giai đoạn lịch sử nhân loại mà Ngài giảng dạy—không ai có thể cảm dục cung năm; họ chỉ có thể cảm dục thuộc cung sáu, cung hai và cung một.

[18] and a third ray physical body. The formula which would describe him

[18] và thể xác cung ba [Page 102]. Công thức mô tả y

then,

sẽ

[19] would be

[19] sẽ là

as follows: the written word "three," then the Roman numeral four, then seven, and we have to see whether we can get this in here, possibly. I am used to seeing a ray chart differently arranged, and when it says "symbol" here in the book, or on the CD, it made me think that perhaps there's something missing that is in the book. I don't have the book handy with me right now. But anyway, DK goes on to interpret this, and it is an unusual chart, not only for the fourth ray soul, or ego, which is certainly possible, but for the fifth ray astral body.

như sau: từ “ba” được viết bằng chữ, rồi số La Mã bốn, rồi số bảy, và chúng ta phải xem liệu có thể đưa hình này vào đây không. Tôi đã quen nhìn biểu đồ cung được sắp xếp khác đi, và khi sách hoặc đĩa ghi “biểu tượng” ở đây, điều đó khiến tôi nghĩ rằng có lẽ sách có một thứ gì đó đang bị thiếu. Hiện giờ tôi không có sẵn cuốn sách bên mình. Nhưng dù sao, Chân sư DK tiếp tục diễn giải điều này, và đây là một biểu đồ khác thường, không chỉ vì linh hồn hay chân ngã cung bốn—điều chắc chắn có thể xảy ra—mà còn vì thể cảm dục cung năm.

Look at this—whoa! This is a very hard line chart. Only the ego is on the soft line, and all else on the hard line. So somehow this fourth ray must bring in the balancing factor. There will be a highly intelligent individual here, in control of the astral body, and capable of great activity upon the physical plane, a real organizer, but maybe organizing in beauty, for the sake of creative intelligence. A ray chart can mean many things, depending on the stage of evolution of the individual—whether he can access all of these energies or not—and on the astrological chart at the particular time, as that will be a great modifying factor. There are many modifying factors.

Hãy nhìn xem—ôi! Đây là một biểu đồ có tuyến cứng rất mạnh. Chỉ chân ngã nằm trên tuyến mềm, còn tất cả những yếu tố khác đều nằm trên tuyến cứng. Vì vậy, bằng cách nào đó cung bốn này phải đưa yếu tố quân bình vào. Ở đây sẽ có một cá nhân cực kỳ thông minh, kiểm soát thể cảm dục và có khả năng hoạt động mạnh mẽ trên cõi hồng trần, một nhà tổ chức thực thụ, nhưng có lẽ tổ chức trong vẻ đẹp, vì mục đích của sự thông tuệ sáng tạo. Một biểu đồ cung có thể mang nhiều ý nghĩa, tùy theo giai đoạn tiến hóa của cá nhân—liệu y có thể tiếp cận tất cả các năng lượng này hay không—và tùy theo lá số chiêm tinh vào thời điểm cụ thể, vì đó sẽ là một yếu tố điều chỉnh lớn. Có nhiều yếu tố điều chỉnh.

Let's see what DK says about this. You see how he put this in? This is unusual, and it is here to show that it is possible to have such an astral body. He talks sometimes about the third ray astral body. I think there's also a sample chart with the seventh ray astral body. But it seems to me that some sort of issue concerning balance would be needed. It looks like perhaps a very creative chart, but the emotional body would not be engaged so much. It would be a higher type of creativity. Usually there would be detachment from emotional states, I would imagine, and the ability to mentalize them, to understand them knowledgeably, with the fifth ray astral body and so many hard line rays.

Hãy xem Chân sư DK nói gì về điều này. Bạn thấy Ngài đưa nó vào như thế nào chứ? Điều này thật khác thường và được đưa vào đây để cho thấy rằng có thể có một thể cảm dục như thế. Đôi khi Ngài nói về thể cảm dục cung ba. Tôi nghĩ cũng có một biểu đồ mẫu với thể cảm dục cung bảy. Nhưng theo tôi, dường như cần có một vấn đề nào đó liên quan đến sự quân bình. Đây có lẽ là một biểu đồ rất sáng tạo, nhưng thể cảm xúc sẽ không tham dự nhiều. Đó sẽ là một loại sáng tạo cao hơn. Tôi hình dung rằng thường sẽ có sự tách rời khỏi các trạng thái cảm xúc cùng khả năng trí tuệ hóa chúng, thấu hiểu chúng bằng tri thức, nhờ thể cảm dục cung năm và rất nhiều cung thuộc tuyến cứng.

[20] Students may find it of value to study themselves and others in conformity with the above,

[20] Các đạo sinh có thể thấy hữu ích khi nghiên cứu chính mình và những người khác theo cách trình bày ở trên,

I can tell you I've spent more than half my life doing precisely that. Stimulated forty-some years ago by reading Esoteric Psychology, I got right into this and wondered whether it would be possible to create ray charts for people that would be useful in helping them with their spiritual process, and also with their living in their world, in the normal world. So

Tôi có thể nói với các bạn rằng tôi đã dành hơn nửa đời mình để làm chính xác điều đó. Được khơi động cách đây hơn bốn mươi năm khi đọc Tâm Lý Học Nội Môn, tôi lập tức đi sâu vào lĩnh vực này và tự hỏi liệu có thể tạo ra các biểu đồ cung cho mọi người, hữu ích trong việc trợ giúp tiến trình tinh thần của họ cũng như đời sống của họ trong thế giới bình thường hay không. Vì vậy,

students may find it of value to study themselves and others in conformity with the above,

các đạo sinh có thể thấy việc nghiên cứu bản thân và người khác theo những điều trên là hữu ích,

and in our esoteric psychology courses, in the Great Quest aspect of the Morya Federation, we do exactly that, and we have done that in esoteric psychology courses taught in person in many places on the globe through the University of Seven Rays. Now we have the possibility of teaching over the net, which certainly saves the gasoline.

và trong các khóa Tâm Lý Học Nội Môn của chúng tôi, thuộc phương diện Đại Truy Tầm của Liên đoàn Morya, chúng tôi làm chính xác điều đó; và chúng tôi cũng đã làm như vậy trong các khóa Tâm Lý Học Nội Môn được giảng dạy trực tiếp tại nhiều nơi trên địa cầu thông qua Đại học Bảy Cung. Giờ đây, chúng tôi có khả năng giảng dạy qua mạng, điều chắc chắn giúp tiết kiệm xăng.

Students will find it of value to study themselves and others in conformity with the above,

Các đạo sinh sẽ thấy việc nghiên cứu bản thân và người khác theo những điều trên là hữu ích,

[21] and to establish their personal formulae.

[21] và xác lập các công thức cá nhân của mình.

Personal ray formulae.

Các công thức cung cá nhân.

[22] This should be done in conjunction with a consultation of their horoscopes.

[22] Việc này nên được thực hiện kết hợp với việc tham khảo các lá số chiêm tinh của họ.

Absolutely, because the same ray chart will express very differently through different horoscopes, and very identical horoscopes will express differently depending on the ray chart, which could be quite different.

Hoàn toàn đúng, bởi cùng một biểu đồ cung sẽ biểu hiện rất khác qua những lá số chiêm tinh khác nhau, và những lá số chiêm tinh rất giống nhau sẽ biểu hiện khác nhau tùy theo biểu đồ cung, vốn có thể hoàn toàn khác biệt.

[23] This will be discussed more at length after we have considered the astrological implications of the rays,

[23] Điều này sẽ được bàn luận đầy đủ hơn sau khi chúng ta xem xét những hàm ý chiêm tinh của các cung,

We have the advantage of the spherical study, because we have already been presented with what DK was going to present later, when he wrote this. This was written in, I suppose, the earlier middle thirties, and the astrology maybe in the middle-later thirties and early forties. So we've been given the connections, and now so much of what he said earlier can be related to what he said later. So we can study in a manner that is more relational than would have been possible. It would be a more linear study in those early days, when the entirety of the teaching he intended to give had not yet been given. So

Chúng ta có lợi thế của việc nghiên cứu theo hình cầu, bởi chúng ta đã được trình bày những điều mà Chân sư DK sẽ trình bày sau này, khi Ngài viết đoạn này. Tôi cho rằng đoạn này được viết vào đầu hoặc giữa thập niên ba mươi, còn phần chiêm tinh có lẽ vào khoảng giữa đến cuối thập niên ba mươi và đầu thập niên bốn mươi. Vì vậy, chúng ta đã được trao các mối liên hệ, và giờ đây rất nhiều điều Ngài nói trước kia có thể được liên hệ với những điều Ngài nói về sau. Do đó, chúng ta có thể nghiên cứu theo một cách mang tính liên hệ hơn so với điều từng có thể thực hiện. Trong những ngày đầu ấy, việc nghiên cứu hẳn mang tính tuyến tính hơn, khi toàn bộ giáo huấn mà Ngài dự định truyền đạt vẫn chưa được trao. Vì vậy,

this will be discussed more at length after we have considered the astrological implications of the rays,

điều này sẽ được bàn đến dài hơn sau khi chúng ta xem xét các hàm ý chiêm tinh của các cung,

[24] in the succeeding volume.

[24] trong quyển tiếp theo.

You can imagine what it has been for Master DK to translate so much of this, which he probably learned in some sort of Eastern mode—although he had two European incarnations, he tells us. But he had the advanced astrology of the Eastern teaching, and it had to be translated into Western form for the Western mind to assimilate.

Bạn có thể hình dung Chân sư DK đã phải làm những gì để chuyển dịch quá nhiều nội dung này, vốn có lẽ Ngài đã học theo một phương thức Đông phương nào đó—mặc dù Ngài cho chúng ta biết rằng Ngài từng có hai kiếp sống ở châu Âu. Nhưng Ngài có kiến thức chiêm tinh cao cấp của giáo huấn Đông phương, và kiến thức ấy phải được chuyển sang hình thức Tây phương để thể trí Tây phương có thể đồng hóa.

[25] The Law of Sacrifice, therefore, can never be eliminated in our Earth scheme, as far as the human and subhuman reactions to sorrow and pain are concerned,

[25] Vì vậy, Định luật Hy sinh không bao giờ có thể bị loại bỏ trong hệ hành tinh Trái Đất của chúng ta, xét về những phản ứng của con người và các giới dưới nhân loại đối với sầu khổ và đau đớn,

It can be eliminated in the superhuman response. It can be eliminated in the superhuman response, but apparently our Planetary Logos suffers and is in the midst of a sacrifice which He likes not. Maybe by now He likes it more. We've been talking a long time—we've been talking of ages ago, when, as the Old Commentary said, He returned and He liked it not. But probably He has seen somewhat of the fruit of His labors, and the redemptive mission has been carried through, and that must bring some compensation—though who can tell, when you're speculating about the consciousness of the Planetary Logos? Anyway, we anthropomorphize a little bit, we analogize, we project.

Nó có thể được loại bỏ trong sự đáp ứng siêu nhân loại. Nó có thể được loại bỏ trong sự đáp ứng siêu nhân loại, nhưng rõ ràng Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đang chịu đau khổ và ở giữa một cuộc hy sinh mà Ngài không ưa thích. Có lẽ đến nay Ngài đã ưa thích nó hơn. Chúng ta đã nói về một thời kỳ rất xa xưa—chúng ta đang nói đến nhiều thời đại trước, khi Cổ Luận nói rằng Ngài trở lại và không ưa thích điều đó. Nhưng có lẽ Ngài đã phần nào thấy được thành quả lao động của Ngài, và sứ mệnh cứu chuộc đã được thực hiện; điều đó hẳn phải mang lại phần nào sự đền bù—mặc dù ai có thể nói được khi bạn đang suy đoán về tâm thức của Đức Hành Tinh Thượng Đế? Dù sao, chúng ta nhân hình hóa một chút, dùng phép tương đồng và phóng chiếu.

So it can never be eliminated in terms of the four lower kingdoms. Interestingly enough, the number four again, right? So note the number four, and its relation to the fourth ray, and the Law of Sacrifice ruled by the fourth ray. So four is in many ways—along with two, but I'll just say four here—four is the number of suffering. And you can see that even physically on the faces of the people who have powerful fourth ray: corrugated forehead, the worried look. "Am I giving it sufficiently? Oh, my life is strange and wonderful." So,

Vì vậy, xét theo bốn giới thấp, nó không bao giờ có thể bị loại bỏ. Thật thú vị, lại là số bốn, phải không? Vì vậy, hãy lưu ý số bốn, mối liên hệ của nó với cung bốn và Định luật Hy sinh do cung bốn cai quản. Do đó, theo nhiều cách—cùng với số hai, nhưng ở đây tôi chỉ nói đến số bốn—bốn là con số của đau khổ. Và bạn thậm chí có thể nhìn thấy điều đó về mặt thể chất trên khuôn mặt của những người có cung bốn mạnh: trán nhăn nheo, vẻ lo âu. “Tôi đã trao hiến đủ chưa? Ôi, cuộc đời tôi thật lạ lùng và kỳ diệu.” Vì vậy,

as far as the human and subhuman reactions to sorrow and pain are concerned,

xét về các phản ứng của nhân loại và các giới dưới nhân loại trước nỗi buồn và đau đớn,

it cannot be eliminated from our Earth, at least not yet. We're too much in the throes of that friction in which we try to reconcile the energies of the previous and the present solar system.

nó không thể bị loại bỏ khỏi Trái Đất chúng ta, ít nhất là chưa thể. Chúng ta vẫn còn quá chìm trong sự giằng co của ma sát mà qua đó chúng ta cố gắng hòa giải các năng lượng của hệ mặt trời trước với hệ mặt trời hiện tại.

[26] nor can it be eliminated on the planets Saturn and Mars.

[26] cũng như không thể bị loại bỏ trên các hành tinh Sao Thổ và Sao Hỏa. Trong

But we are not told of the nature of the Saturnian school. We are told something of the nature of the Martian school for warriors and destroyers, and I suppose suffering is involved in that—like the gladiatorial schools in Rome, which were very, very hard, and if people did not make the grade, they simply died among their own. Forget about being in the arena and dying as a result of the opponent; one's fellow students could easily kill one in some of the predecessory combats to see who was worthy to actually enter the arena.

Nhưng chúng ta không được cho biết về bản chất của trường học Sao Thổ. Chúng ta được cho biết đôi chút về bản chất của trường học Sao Hỏa dành cho các chiến binh và những kẻ hủy diệt, và tôi cho rằng đau khổ có liên quan đến điều đó—giống như các trường đấu sĩ ở La Mã, vốn vô cùng khắc nghiệt; nếu người ta không đạt tiêu chuẩn, họ đơn giản chết giữa những người đồng môn. Chưa cần nói đến việc vào đấu trường rồi chết dưới tay đối thủ; các môn sinh đồng môn có thể dễ dàng giết một người trong một số cuộc giao đấu sơ tuyển để xem ai xứng đáng thật sự bước vào đấu trường.

So this suffering, this sorrow, this pain, this loss, this incompleteness, this division,

Vì vậy, sự đau khổ này, nỗi buồn này, sự đau đớn này, sự mất mát này, tình trạng bất toàn này, sự chia rẽ này,

[27] is relatively unknown in the other schemes. Bliss and Sacrifice are synonymous terms as far as our solar Logos is concerned, and also for the majority of the planetary Logoi.

[27] các hệ hành tinh khác, định luật này tương đối ít được biết đến. Chí phúc và Hy sinh là những thuật ngữ đồng nghĩa đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta, và cũng như vậy đối với phần lớn các Hành Tinh Thượng đế.

And maybe one day for the Earth too—one day for the Planetary Logos of the Earth, the Earth scheme.

Và có lẽ một ngày nào đó cũng sẽ như vậy đối với Trái Đất—một ngày nào đó đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất, của hệ Địa Cầu.

[28] This must be remembered.

[28] Cần ghi nhớ điều này.

So the impulse of giving is the impulse leading to bliss. That's what we're being told. To those who give all, all shall be given, all desires satisfied, and bliss will be the result. So the implication is: give everything you can, in right measure, wisely, helpfully—not just a dump, you know, unloading the information dump, which some of us teachers have been accused of offering our students. But the right type of giving, giving all that may be rightfully given—this leads to bliss, and I suppose becomes bliss itself. From the giving comes the bliss. Let's try it sometimes. Then surely, if you do try it, you'll disappear from this planet, or this particular level, and if you return, it will be voluntary. So to give all is to find release from the obligations of the lower spheres and to enter into the state of bliss. But then one wants to continue to give all, so one may return. Anyway,

Vì vậy, xung lực trao hiến là xung lực dẫn đến chí phúc. Đó là điều chúng ta đang được chỉ dạy. Với những người trao hiến tất cả, tất cả sẽ được ban cho, mọi dục vọng sẽ được thỏa mãn và chí phúc sẽ là kết quả. Vì vậy, hàm ý là: hãy trao hiến mọi thứ bạn có thể, theo mức độ đúng đắn, một cách minh triết và hữu ích—chứ không chỉ trút đổ, bạn biết đấy, trút cả đống thông tin xuống, điều mà một số giảng viên chúng tôi từng bị cáo buộc là đã làm với các môn sinh. Nhưng loại trao hiến đúng đắn, trao hiến tất cả những gì có thể trao một cách chính đáng—điều này dẫn đến chí phúc và tôi cho rằng tự nó trở thành chí phúc. Từ sự trao hiến phát sinh chí phúc. Đôi khi hãy thử làm điều đó. Khi ấy, chắc chắn nếu bạn thật sự thử, bạn sẽ biến mất khỏi hành tinh này hoặc khỏi cấp độ cụ thể này; và nếu trở lại, đó sẽ là sự tự nguyện. Vì vậy, trao hiến tất cả là tìm thấy sự giải thoát khỏi các nghĩa vụ của những khối cầu thấp và bước vào trạng thái chí phúc. Nhưng rồi người ta muốn tiếp tục trao hiến tất cả, nên người ta có thể trở lại. Dù sao,

Bliss and Sacrifice are synonymous terms as far as our solar Logos is concerned, and also for the majority of the planetary Logoi.

Chí phúc và Hy sinh là những thuật ngữ đồng nghĩa đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta, và cũng đối với đa số các Hành Tinh Thượng đế.

Does he mean every other planetary Logos other than the Logoi of Saturn, Mars and Earth, or are there some for whom bliss and sacrifice are not yet synonymous terms? But we could well remember this, could we not—that bliss is giving? Sacrifice is giving, giving is sacrifice, and sacrifice is bliss. Ergo, giving is bliss.

Ngài có muốn nói mọi Hành Tinh Thượng đế khác ngoài các Thượng đế của Sao Thổ, Sao Hỏa và Trái Đất không, hay vẫn có một số Đấng mà đối với Các Ngài, chí phúc và hy sinh chưa phải là những thuật ngữ đồng nghĩa? Nhưng chúng ta rất nên ghi nhớ điều này, phải không—rằng chí phúc là trao hiến? Hy sinh là trao hiến, trao hiến là hy sinh và hy sinh là chí phúc. Do đó, trao hiến là chí phúc.

This must be remembered.

Cần ghi nhớ điều này.

[29] A touch of this freedom from the limitations of pain and sorrow can be found among the more advanced sons of men on Earth, who know

[29] Một chút hương vị của sự tự do thoát khỏi những giới hạn của đau đớn và sầu khổ này có thể được tìm thấy nơi những người con tiến hóa cao hơn của nhân loại trên Trái Đất, những người biết đến

this combination:

sự kết hợp này:

[30] the ecstasy of the mystic, the exaltation of the initiate, and the exquisite agony of sacrifice or of any feeling which is carried forward to the point of sublimation.

[30] trạng thái xuất thần của nhà thần bí, sự thăng hoa của điểm đạo đồ, và nỗi thống khổ tuyệt diệu của sự hy sinh hoặc của bất kỳ cảm xúc nào được nâng lên đến mức thăng hoa.

This is a very occult statement, and again it invites us to practice the ecstasy. I suppose one can lose oneself in ecstasy. It's a heightened feeling state, a happiness beyond compare—a heightened feeling state, a happiness beyond compare. We could say that in ecstasy things cannot get any better. It's a bit like bliss in that respect, but I think lower and less controlled than bliss. Ecstasy seems to have something of this element of potential loss of control, or lack of relation to the surroundings.

Đây là một phát biểu rất huyền bí, và một lần nữa nó mời gọi chúng ta thực hành trạng thái xuất thần. Tôi cho rằng người ta có thể đánh mất chính mình trong trạng thái xuất thần. Đó là một trạng thái cảm xúc được nâng cao, một niềm hạnh phúc vô song—một trạng thái cảm xúc được nâng cao, một niềm hạnh phúc vô song. Chúng ta có thể nói rằng trong trạng thái xuất thần, mọi sự không thể tốt đẹp hơn nữa. Về phương diện ấy, nó hơi giống chí phúc, nhưng tôi nghĩ nó thấp hơn và ít được kiểm soát hơn chí phúc. Trạng thái xuất thần dường như có phần nào yếu tố có thể mất kiểm soát hoặc thiếu liên hệ với môi trường xung quanh.

The exaltation—rising to the highest point: “Let the Forces come together. Let them mount to the High Place, and from that lofty eminence, let the soul look out upon a world destroyed.” (EP II, tr. 84) So there is the rising to the peak of one's present energy system, we could say—the rising to the peak or summit of one's present energy system. And then, does this look to inviting

Sự thăng hoa—vươn lên điểm cao nhất: “Hãy để các Mãnh Lực hội tụ. Hãy để chúng tiến lên Nơi Cao, và từ đỉnh cao vời vợi ấy, hãy để linh hồn nhìn ra một thế giới đã bị hủy diệt.” (EP II, tr. 84) Vì vậy, có sự vươn lên đỉnh cao của hệ thống năng lượng hiện tại của một người, chúng ta có thể nói như vậy—sự vươn lên đỉnh cao hoặc đỉnh điểm của hệ thống năng lượng hiện tại của một người. Và rồi, điều này có vẻ như mời gọi

the exquisite agony of sacrifice or of any feeling which is carried forward to the point of sublimation?

nỗi thống khổ tinh tế của sự hy sinh hoặc của bất kỳ cảm xúc nào được nâng đến mức thăng hoa?

It then is no longer itself and turns into something altogether more beautiful. It is no longer itself and turns into something much higher and more beautiful. But are we willing to go through the exquisite agony—this moment of agony as we seize the cup? All of us will seize it at some point and then find ourselves translated into another state altogether, beyond the three lower worlds. Transfiguration still relates to the mental plane, but not translation; that relates to the buddhic plane. And we can think that this exquisite agony of sacrifice has some connection to Buddhi. The exquisite agony of sacrifice may have some connection with the buddhic consciousness.

Khi ấy, nó không còn là chính nó nữa mà chuyển thành một điều hoàn toàn đẹp đẽ hơn. Nó không còn là chính nó nữa mà chuyển thành một điều cao hơn và đẹp đẽ hơn rất nhiều. Nhưng chúng ta có sẵn lòng trải qua nỗi thống khổ tinh tế—khoảnh khắc thống khổ này khi chúng ta nắm lấy chiếc cốc không? Tất cả chúng ta vào một lúc nào đó sẽ nắm lấy nó, rồi thấy mình được chuyển sang một trạng thái hoàn toàn khác, vượt ngoài ba cõi thấp. Biến hình vẫn liên quan đến cõi trí, nhưng sự chuyển sang một trạng thái khác thì không; điều đó liên quan đến cõi Bồ đề. Và chúng ta có thể nghĩ rằng nỗi thống khổ tinh tế của sự hy sinh này có một mối liên hệ nào đó với Bồ đề. Nỗi thống khổ tinh tế của sự hy sinh có thể có mối liên hệ nào đó với tâm thức Bồ đề.

the ecstasy of the mystic, the exaltation of the initiate

trạng thái xuất thần của nhà thần bí, sự thăng hoa của điểm đạo đồ

—all beyond the fourth kingdom and the lower kingdoms—

—tất cả đều vượt ngoài giới thứ tư và các giới thấp—

and the exquisite agony of sacrifice or of any feeling which is carried forward to the point of sublimation.

và nỗi thống khổ tinh tế của sự hy sinh hoặc của bất kỳ cảm xúc nào được nâng đến mức thăng hoa.

One is reminded of the sublimation of iodine in the chem lab. You put the flame under it and it doesn't turn into a liquid. It's interesting. It moves from the solid state into the vaporous state. So you see iodine, a chemical with a violet color—interesting, its antiseptic qualities in relation to the color violet, which is a purificatory color—rise into a vapor. It becomes sublimated. So our feelings, perhaps—well, they rise toward the buddhic plane, we might say.

Người ta nhớ đến sự thăng hoa của iốt trong phòng thí nghiệm hóa học. Bạn đặt ngọn lửa bên dưới nó và nó không chuyển thành chất lỏng. Điều đó thật thú vị. Nó chuyển từ trạng thái rắn sang trạng thái hơi. Vì vậy, bạn thấy iốt, một hóa chất có màu tím—thật thú vị khi phẩm tính sát khuẩn của nó liên quan đến màu tím, vốn là một màu thanh lọc—bay lên thành hơi. Nó được thăng hoa. Vì vậy, có lẽ các cảm xúc của chúng ta—chúng ta có thể nói rằng chúng vươn lên cõi Bồ đề.

[31] When this point has been reached, the mechanism of suffering and the ability to register sensuous perception is transcended,

[31] Khi đạt đến điểm này, bộ máy đau khổ và khả năng ghi nhận nhận thức cảm giác được vượt qua,

Sensuous perception—presumably astral perception, and the perception mediated by the lower senses of the physical plane. That is transcended

Nhận thức giác quan—có lẽ là nhận thức cảm dục và nhận thức được truyền qua các giác quan thấp của cõi hồng trần. Điều đó được siêu vượt

[32] and momentarily the man escapes on to the plane of unity.

[32] và trong khoảnh khắc, con người thoát lên cõi hợp nhất.

Indeed, so yes, we are speaking of Buddhi, aren't we? We are speaking of escape to the buddhic plane—the plane of unity, arising through harmony. Sometimes you could say the Monadic plane is the plane of unity. It is the plane of perceived oneness, if unity is oneness. When you think about the word unity, it seems to suggest that the many still exist but are in a harmonized and unified state. They realize not just their harmony, not just their agreeability with each other and their mutual enforcement, but they realize that, though apparently different, they are all one thing. So, harmony, unity, oneness. That's the progression: harmony, unity, oneness. And in some ways we can look at that as a progression from the fourth ray to the second ray and thence to the first ray—though there is much appreciation of oneness in the second ray as well. But we're given the formula Isolated Unity to appreciate the oneness of things, and it is a first ray formula.

Quả thật, đúng vậy, chúng ta đang nói về Bồ đề, phải không? Chúng ta đang nói về việc thoát lên cõi Bồ đề—cõi hợp nhất, phát sinh qua sự hài hòa. Đôi khi bạn có thể nói cõi chân thần là cõi hợp nhất. Đó là cõi của tính nhất thể được nhận biết, nếu hợp nhất là nhất thể. Khi suy nghĩ về từ hợp nhất, dường như nó gợi ý rằng cái đa thể vẫn tồn tại nhưng ở trong trạng thái hài hòa và hợp nhất. Chúng không chỉ nhận ra sự hài hòa của mình, không chỉ nhận ra sự tương hợp và sự củng cố lẫn nhau, mà còn nhận ra rằng dù có vẻ khác biệt, tất cả chúng đều là một. Vì vậy: hài hòa, hợp nhất, nhất thể. Đó là tiến trình: hài hòa, hợp nhất, nhất thể. Và theo một số cách, chúng ta có thể xem đó là sự tiến triển từ cung bốn đến cung hai, rồi từ đó đến cung một—mặc dù cung hai cũng có sự thấu hiểu sâu sắc về tính nhất thể. Nhưng chúng ta được trao công thức Hợp Nhất Cô Lập để nhận biết tính nhất thể của vạn vật, và đó là một công thức cung một.

So there's lots of overlap between these two terms. No term necessarily captures the reality of the state which it represents. So there is the overlap between unity and oneness—Isolated Unity: unity, usually a second ray word, but found in a first ray technique which reveals oneness. We realize the oneness of the whole. I suppose there's a state when all of the apparent difference fades out and one literally and only sees the One everywhere he turns. And it, for a moment, blots out all form—“hiding all difference, blotting out all form.” (RI, tr. 22) as we are informed in Rule 11 of the Rays and Initiations.

Vì vậy, hai thuật ngữ này có nhiều phần chồng lấn. Không thuật ngữ nào nhất thiết nắm bắt được thực tại của trạng thái mà nó đại diện. Do đó, có sự chồng lấn giữa hợp nhất và nhất thể—Hợp Nhất Cô Lập: hợp nhất thường là một từ thuộc cung hai, nhưng lại được tìm thấy trong một kỹ thuật cung một làm hiển lộ nhất thể. Chúng ta nhận ra tính nhất thể của toàn thể. Tôi cho rằng có một trạng thái trong đó mọi khác biệt bề ngoài đều mờ đi và người ta theo nghĩa đen chỉ thấy Đấng Duy Nhất ở mọi nơi mình nhìn đến. Và trong một khoảnh khắc, điều đó xóa nhòa mọi hình tướng—“che khuất mọi khác biệt, xóa nhòa mọi hình tướng.” (RI, tr. 22) như chúng ta được cho biết trong Quy luật 11 của Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo.

[33] Here there is no pain, no sorrow, no rebellion and no suffering.

[33] [Page 103] Ở đây không có đau đớn, không có sầu khổ, không có nổi loạn và không có khổ đau.

All these terms are equivalent, and represent the psychology of our Planetary Logos, and that of Saturn and Mars to some extent. We don't know to what extent.

Tất cả các thuật ngữ này đều tương đương và đại diện cho trạng thái tâm lý của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, cũng như của Sao Thổ và Sao Hỏa ở một mức độ nào đó. Chúng ta không biết mức độ ấy là bao nhiêu.

Here there is no pain, no sorrow, no rebellion, no suffering

Ở đây không có đau đớn, không có buồn khổ, không có phản kháng, không có đau khổ

because there is no division. All of these factors describe undesirable states in the human consciousness—well, rebellion is not necessarily—at least let's say that nobody invites these states. Maybe more rebellion than anything else, but very few people consciously invite, if they have a choice, suffering, sorrow or pain into their life. But when the unity is achieved in higher states of consciousness than the state pertaining to the fourth kingdom, all of these disappear.

bởi vì không có sự chia rẽ. Tất cả những yếu tố này mô tả các trạng thái không đáng mong muốn trong tâm thức con người—dù sự phản kháng không nhất thiết như vậy—ít nhất hãy nói rằng không ai mời gọi những trạng thái này. Có lẽ người ta mời gọi sự phản kháng nhiều hơn bất kỳ điều gì khác, nhưng rất ít người có ý thức mời gọi đau khổ, buồn khổ hoặc đau đớn đi vào đời mình nếu họ có quyền lựa chọn. Nhưng khi sự hợp nhất đạt được trong các trạng thái tâm thức cao hơn trạng thái thuộc về giới thứ tư, tất cả những điều này đều biến mất.

[34] When the living, vibrating antaskarana or bridge is built, this “way of escape” becomes the normal path of life.

[34] Khi antahkarana hay cây cầu sống động, rung động được xây dựng, “con đường thoát ly” này trở thành con đường bình thường của đời sống.

This is no longer the occasional mystical escape from the astral plane to the buddhic plane, which is not under one's control, but the way of escape is now a scientifically controlled path, and we can escape at will.

Đây không còn là sự thoát ly thần bí thỉnh thoảng xảy ra từ cõi cảm dục lên cõi Bồ đề, vốn không nằm dưới sự kiểm soát của một người; giờ đây, con đường thoát ly là một con đường được kiểm soát một cách khoa học, và chúng ta có thể thoát ly theo ý muốn.

[35] Escape from pain is then automatic, for the centre of consciousness is elsewhere.

[35] Khi ấy, việc thoát khỏi đau đớn diễn ra tự động, vì trung tâm tâm thức nằm ở nơi khác.

Kind of wonder. I'm told a story—it may not be a true story, but the astrology looks true. Mahatma Gandhi was having an appendectomy, and he refused to have the anesthetic. Normally you'd be knocked out of your body and completely unconscious, or there could be a local anesthetic. He refused all of that, and it is said that he chatted amiably with reporters while this was going on. Stories become exaggerated in the telling, but the idea is pretty clear: his center of consciousness was elsewhere.

Điều này khiến người ta phần nào kinh ngạc. Tôi từng nghe một câu chuyện—có thể không phải là câu chuyện có thật, nhưng chiêm tinh của nó có vẻ đúng. Mahatma Gandhi đang được phẫu thuật cắt ruột thừa và ông từ chối dùng thuốc gây mê. Thông thường, bạn sẽ bị làm cho bất tỉnh, như thể bị đánh bật khỏi thân thể và hoàn toàn mất ý thức, hoặc có thể dùng thuốc gây tê cục bộ. Ông từ chối tất cả những điều đó, và người ta kể rằng ông vẫn trò chuyện thân mật với các phóng viên trong khi ca phẫu thuật diễn ra. Những câu chuyện thường trở nên phóng đại khi được kể lại, nhưng ý tưởng khá rõ ràng: trung tâm tâm thức của ông ở nơi khác.

[36] In the cases mentioned above, and where the antaskarana is not a consummated, established fact, the tiny thread of the partially constructed “way of escape”,

[36] Trong những trường hợp được đề cập ở trên, và khi antahkarana chưa trở thành một sự kiện hoàn tất và được xác lập, sợi dây nhỏ bé của “con đường thoát ly” mới được xây dựng một phần,

or antahkarana,

hay antahkarana,

[37] under tremendous pressure and excitation,

[37] dưới áp lực và sự kích thích cực độ,

and we would say, as a result of intense emotion. DK has said that sometimes the ancient words and formulas can come into the consciousness of the individual when they are in an intensely emotional state, and then we would recapture the old knowledges which have been lost to us. So sometimes

và chúng ta sẽ nói rằng đó là kết quả của cảm xúc mãnh liệt. Chân sư DK từng nói rằng đôi khi các linh từ và công thức cổ xưa có thể đi vào tâm thức của một cá nhân khi y ở trong trạng thái cảm xúc mãnh liệt, và khi ấy chúng ta sẽ tìm lại được những tri thức cổ xưa đã mất. Vì vậy, đôi khi

this tiny thread

sợi dây nhỏ bé này

—thread of light, thread of matter of some kind—

—sợi dây ánh sáng, sợi dây bằng một loại vật chất nào đó—

of the partially constructed way of escape under tremendous pressure and excitation,

của con đường thoát ly mới được xây dựng một phần, dưới áp lực và sự kích động khủng khiếp,

in an intense emotion, or a highly exalted emotional state,

trong một cảm xúc mãnh liệt hoặc một trạng thái cảm xúc vô cùng thăng hoa,

[38] shoots forward like a quivering band of light, and momentarily touches the light that is the Self.

[38] phóng tới như một dải ánh sáng rung động và trong khoảnh khắc chạm vào ánh sáng vốn là Chân Ngã.

And what does it touch? Is this what is the self? Is this the soul, or is this actually the truer self, the monad? But it is not under control, really. And he says,

Và nó chạm vào điều gì? Đây có phải là Bản Ngã không? Đây là linh hồn, hay thật sự là Bản Ngã chân thực hơn, tức chân thần? Nhưng điều này thật sự không nằm dưới sự kiểm soát. Và Ngài nói,

[39] Hence ecstasy and exaltation.

[39] Do đó có trạng thái xuất thần và sự thăng hoa.

But unpredictable, really; it just suddenly happens. One these days wants to lay a scientific approach to these possibilities, so that one can enter the state of blissful abstraction at will—not as an escape but as a strengthening, perhaps a way of reminding oneself what's really happening—and then return, reinforced, strengthened, to the difficulties of our frictional world. So

Nhưng thật sự không thể dự đoán; nó chỉ đột nhiên xảy ra. Ngày nay, người ta muốn áp dụng một phương pháp khoa học vào những khả năng này để có thể bước vào trạng thái trừu xuất đầy chí phúc theo ý muốn—không phải như một sự trốn chạy mà có lẽ như một cách củng cố, một cách nhắc nhở bản thân về điều thực sự đang diễn ra—rồi trở lại, được gia cố và tăng cường sức mạnh, để đối diện với những khó khăn của thế giới ma sát này. Vì vậy,

this tiny thread shoots forward like a quivering band of light and momentarily touches the light that is the Self.

sợi dây nhỏ bé này lao vút về phía trước như một dải ánh sáng rung động và trong khoảnh khắc chạm vào ánh sáng vốn là Bản Ngã.

Sometimes we're told the soul is light. Is the monad also light? Maybe the universe is light. Maybe the universe itself is nothing but a point of light.

Đôi khi chúng ta được cho biết rằng linh hồn là ánh sáng. Chân thần cũng là ánh sáng chăng? Có lẽ vũ trụ là ánh sáng. Có lẽ bản thân vũ trụ không gì khác hơn một điểm ánh sáng.

Hence ecstasy and exaltation,

Do đó có trạng thái xuất thần và sự thăng hoa,

very temporary.

rất tạm thời.

[40] But it does not last, and cannot be consciously recovered until the third initiation has been taken.

[40] Nhưng trạng thái ấy không kéo dài, và không thể được tái lập một cách hữu thức cho đến khi trải qua lần điểm đạo thứ ba.

And we say by that time—let's say the soul, as a center on the higher mental plane, can be bypassed, as DK uses that word elsewhere, advising how this is to be done through the antahkarana technique which he has given us. Of course, there was one disciple who had rather successfully bypassed the soul and had the abstract mind and concrete mind well related, but I guess the concrete mind was not sufficiently soul-infused, because DK was advising this individual to reclaim the powers of her loving soul. So there was some balancing that had to be done. So there are mystical ecstasies, and even exaltations. Again, it's hard to discriminate between those two words. The word exaltation has more structure in it, I think, than ecstasy. One possibly can become lost in ecstasy, but when exalted, one knows one's position, I suppose.

Và chúng ta nói rằng đến lúc ấy—hãy nói linh hồn, với tư cách một trung tâm trên cõi thượng trí, có thể được vượt qua, như Chân sư DK dùng từ ấy ở nơi khác khi chỉ dẫn cách thực hiện điều này thông qua kỹ thuật antahkarana mà Ngài đã trao cho chúng ta. Dĩ nhiên, có một nữ đệ tử đã vượt qua linh hồn khá thành công và có trí trừu tượng cùng trí cụ thể liên hệ tốt với nhau, nhưng tôi cho rằng trí cụ thể chưa được linh hồn thấm nhuần đầy đủ, vì Chân sư DK khuyên người này khôi phục các quyền năng của linh hồn đầy tình thương của bà. Vì vậy, cần phải thực hiện một sự quân bình nào đó. Do đó, có những trạng thái xuất thần thần bí và thậm chí cả những trạng thái thăng hoa. Một lần nữa, rất khó phân biện hai từ này. Tôi nghĩ từ thăng hoa có cấu trúc nhiều hơn trạng thái xuất thần. Người ta có thể đánh mất mình trong trạng thái xuất thần, nhưng khi được nâng lên trạng thái thăng hoa, tôi cho rằng người ta biết vị trí của mình.

But it does not last and cannot be consciously recovered until the third initiation has been taken.

Nhưng trạng thái ấy không kéo dài và không thể được khôi phục một cách hữu thức cho đến khi trải qua lần điểm đạo thứ ba.

[41] After that the “way of escape” becomes the “way of daily livingness” (to translate inadequately the occult and ancient phrase).

[41] Sau đó, “con đường thoát ly” trở thành “con đường sống động hằng ngày” (để dịch một cách chưa đầy đủ cụm từ huyền bí và cổ xưa ấy).

Of course, this does not mean that one lives entirely in an abstracted state of consciousness: "He who faces towards the light and stands within its radiance is blinded to the issues of the world of man; he passes on the"—whatever way—"towards the great Centre of Absorption"—maybe the lighted way. So it's talking about the Pratyeka versus the bodhisattvic attitude. But no, it's not a question of escaping and having no more concern for the world of illusion, because the world of illusion really is nothing other, essentially, than the world of reality, if we could learn that subtle method of translating appearance and illusion into perceived reality. So

Dĩ nhiên, điều này không có nghĩa là một người sống hoàn toàn trong trạng thái tâm thức trừu xuất: “Người hướng về ánh sáng và đứng trong sự tỏa chiếu của nó sẽ mù lòa trước các vấn đề của thế giới con người; y tiếp tục đi trên”—bất kể con đường nào—“hướng đến Trung Tâm Hấp Thu Vĩ Đại”—có lẽ là Con Đường được Soi Sáng. Vì vậy, đoạn này nói về thái độ của Độc Giác Phật đối lập với thái độ Bồ Tát. Nhưng không, đây không phải là vấn đề trốn thoát và không còn quan tâm đến thế giới ảo tưởng, bởi về bản chất, thế giới ảo tưởng thật sự không gì khác hơn thế giới thực tại, nếu chúng ta có thể học phương pháp tinh tế để chuyển sắc tướng và ảo tưởng thành thực tại được nhận biết. Vì vậy,

after that the way of escape becomes the way of daily livingness, to translate inadequately the occult and ancient phrase.

sau đó, con đường thoát ly trở thành con đường sống động hằng ngày, nếu dịch một cách bất toàn cụm từ huyền bí và cổ xưa ấy.

[42] Then pain is steadily transcended,

[42] Khi ấy, đau đớn dần dần được vượt qua,

we could say beyond the third degree,

chúng ta có thể nói là sau cấp độ thứ ba,

[43] and the pairs of opposites—pleasure and pain—have no longer any hold over the disciple.

[43] và các cặp đối cực—khoái lạc và đau đớn—không còn chi phối đệ tử nữa.

At least their alternation has no hold, one would say—their alternation has no hold; no longer pendant between the pairs of opposites. If pleasure sublimated is bliss, then the disciple is in that extrapolated, pleasurable state. Is there such a word? I don't know, but I'll pretend that there is.

Ít nhất, người ta có thể nói rằng sự luân phiên của chúng không còn nắm giữ y—sự luân phiên của chúng không còn nắm giữ y; y không còn treo lơ lửng giữa các cặp đối cực. Nếu lạc thú được thăng hoa là chí phúc, thì đệ tử ở trong trạng thái lạc thú được nâng cao ấy. Có một từ như vậy không? Tôi không biết, nhưng tôi sẽ giả vờ rằng có.

Simultaneously I'm remembering the yogi sage Ramana Maharshi. His outer form was dying, I think, of throat cancer, and one of his disciples surreptitiously touched him and became at that moment ecstatic with bliss, and Ramana Maharshi is reputed to have said, "Ah, you scoundrel, now you know my secret"—as if, despite what was happening in the outer form, the bliss consciousness was always present. So that's certainly pleasure to the nth degree, but there is no inconsistent oscillation between pleasure and pain, but a sustained bliss, even in the face of what would normally cause most people to say, "I'm in a state of pain," and would preoccupy their attention. Nothing pulls the attention of the ecstatic, exalted, blissful initiate away from his focus in that world—at least he can have it at will.

Đồng thời, tôi nhớ đến hiền triết yoga Ramana Maharshi. Hình tướng bên ngoài của ông đang chết dần, tôi nghĩ là vì ung thư cổ họng, và một đệ tử của ông đã lén chạm vào ông rồi ngay lúc đó rơi vào trạng thái xuất thần đầy chí phúc; người ta kể rằng Ramana Maharshi đã nói: “À, tên láu cá này, giờ thì anh đã biết bí mật của ta”—như thể bất chấp những gì đang xảy ra trong hình tướng bên ngoài, tâm thức chí phúc luôn hiện diện. Vì vậy, đó chắc chắn là lạc thú ở mức độ cao nhất, nhưng không có sự dao động bất nhất giữa lạc thú và đau đớn, mà là một trạng thái chí phúc bền vững, ngay cả khi đối diện với điều vốn thường khiến hầu hết mọi người nói: “Tôi đang ở trong trạng thái đau đớn,” và khiến sự chú ý của họ bị chiếm trọn. Không điều gì kéo sự chú ý của điểm đạo đồ đang xuất thần, thăng hoa và chí phúc ra khỏi tiêu điểm của y trong thế giới ấy—ít nhất y có thể đạt được trạng thái đó theo ý muốn.

Of course, you look at the Master Jesus upon the cross, and obviously there was great suffering. But you also wonder, in the statement "My God, my God, why hast Thou forsaken me?"—"the robe, the robe of my strength no longer serves"? Did DK talk about that? Are those agonized statements, or are they blissful statements?

Dĩ nhiên, bạn nhìn Đức Jesus trên thập giá và rõ ràng là có sự đau khổ lớn lao. Nhưng bạn cũng tự hỏi, trong lời tuyên bố “Thượng Đế của con, Thượng Đế của con, sao Ngài lìa bỏ con?”—“chiếc áo, chiếc áo sức mạnh của tôi không còn phụng sự nữa”? Chân sư DK có nói về điều đó không? Đó là những lời tuyên bố thống khổ hay chí phúc?

“The robe, the robe, the beautiful robe of my strength no longer serves” (EA, tr. 315)

“Chiếc áo, chiếc áo, chiếc áo đẹp đẽ của sức mạnh tôi không còn phụng sự nữa” (EA, tr. 315)

So the outer form no longer serves to occupy the consciousness, because the consciousness is inwardly focused: "My God, my Solar Angel, why hast Thou forsaken me?" It's always the question of the revealing of the inner spirit, the inner fire, the blissful being. And there's another phrase embodying the central mystery, but it has never yet been given out—whether spoken by the initiate Jesus as he was taking the fourth initiation. This is quite an extraordinary idea: that what mankind interpreted as the agony of Jesus upon the cross may have been blissful realizations. Of course, he also experienced, says the Tibetan, the dark night of the soul upon the cross, a much higher version of the dark night which most mystics experience. He understood the agony of humanity and its distance from the truth, the whole human condition.

Vì vậy, hình tướng bên ngoài không còn dùng để chiếm giữ tâm thức, bởi tâm thức tập trung vào bên trong: “Thượng Đế của con, Thái dương Thiên Thần của con, sao Ngài lìa bỏ con?” Đó luôn là vấn đề làm hiển lộ tinh thần bên trong, ngọn lửa bên trong, Bản Thể chí phúc. Và còn một cụm từ khác thể hiện huyền nhiệm trung tâm, nhưng chưa bao giờ được truyền ra—dù nó được điểm đạo đồ Jesus thốt lên khi Ngài trải qua lần điểm đạo thứ tư. Đây là một ý tưởng phi thường: điều mà nhân loại diễn giải là nỗi thống khổ của Đức Jesus trên thập giá có thể là những chứng nghiệm chí phúc. Dĩ nhiên, Chân sư Tây Tạng nói rằng Ngài cũng trải nghiệm đêm tối của linh hồn trên thập giá, một phiên bản cao hơn rất nhiều của đêm tối mà phần lớn các nhà thần bí trải qua. Ngài thấu hiểu nỗi thống khổ của nhân loại, khoảng cách của nhân loại với chân lý và toàn bộ thân phận con người.

What is it said? "Dawned upon his soul." Here it is, from The Rays and the Initiations:

Đoạn ấy nói thế nào? “Bừng sáng trong linh hồn Ngài.” Đây rồi, từ Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo:

At the highest point of this consummated knowledge, and at the moment of His complete surrender to the necessary sacrifice of His life to the fulfilling of the Plan, suddenly a great expansion of consciousness took place. The significance, the intention, the purpose of it all, and the extent of the divine Idea as it existed in the mind of the “Father,” dawned on His soul (not on His mind, but on His soul). (RI, tr. 289)

Ở điểm cao nhất của tri thức hoàn mãn này, và vào khoảnh khắc Ngài hoàn toàn quy phục sự hy sinh cần thiết của sự sống Ngài để hoàn thành Thiên Cơ, một sự mở rộng tâm thức lớn lao đột nhiên diễn ra. Thâm nghĩa, ý định, Thiên Ý của tất cả những điều ấy, cùng phạm vi của Ý tưởng thiêng liêng như nó hiện hữu trong trí của “Đức Cha”, đã bừng sáng trong linh hồn Ngài (không phải trong thể trí Ngài, mà trong linh hồn Ngài). (RI, tr. 289)

But this is the Christ seeing this. So I think it is the Christ. Here it is in The Reappearance of the Christ also:

Nhưng đây là Đức Christ đang thấy điều này. Vì vậy, tôi nghĩ đó là Đức Christ. Đoạn này cũng có trong Sự Tái Lâm của Đức Christ:

dawned upon His soul—not on His mind, (Reappearance, tr. 26)

bừng sáng trong linh hồn Ngài—không phải trong thể trí Ngài, (Sự Tái Lâm, tr. 26)

This is the Gethsemane experience, so it's different from that of the Master Jesus. The Master Jesus—the dark night. Here it is; it's about blindness:

Đây là trải nghiệm tại Vườn Gethsemane, vì vậy nó khác với trải nghiệm của Chân sư Jesus. Chân sư Jesus—đêm tối. Đây rồi; đoạn này nói về sự mù lòa:

For the initiate, this blindness is still more esoteric; there remains for him absolutely no light whatsoever—no earth light nor any light within the three worlds at all. There is only blackness. To this the mystic has given the name “the dark night of the soul.” The true dark night (of which the mystic’s dark night is only a dim reflection, to speak paradoxically) marks a very exalted state of Being and stage of development. It was into the blackness and darkness that Christ penetrated

Đối với điểm đạo đồ, sự mù lòa này còn huyền bí hơn nữa; đối với y, tuyệt đối không còn bất kỳ ánh sáng nào—không có ánh sáng trần gian, cũng không có bất kỳ ánh sáng nào trong ba cõi thấp. Chỉ có bóng tối. Nhà thần bí đã gọi điều này là “đêm tối của linh hồn”. Đêm tối đích thực (mà đêm tối của nhà thần bí chỉ là một phản ảnh mờ nhạt, nói một cách nghịch lý) đánh dấu một trạng thái Bản Thể vô cùng cao cả và một giai đoạn phát triển. Đức Christ đã thâm nhập vào cảnh tối tăm và u ám ấy

—well, He too—

—vâng, cả Ngài nữa—

as He overshadowed one of His Masters,

khi Ngài phủ bóng một trong các Chân sư của Ngài,

certainly the Arhat Jesus at this point,

chắc chắn là vị La Hán Jesus vào thời điểm này,

the Master Jesus upon the Cross. This will strike a new note for many, and can only now be revealed. It is concerned with the facility with which a Master participates in the experience, subjectively realised, of the disciples whom He has prepared for initiation. It relates also to the still higher identification of the Christ with those initiates who are taking the fourth and fifth initiations, such as the Master Jesus in the experience referred to above. (RI, tr. 198)

tức Chân sư Jesus trên Thập Giá. Điều này sẽ xướng lên một âm điệu mới đối với nhiều người, và chỉ đến nay mới có thể được tiết lộ. Nó liên quan đến khả năng một Chân sư tham dự vào trải nghiệm mà các đệ tử do Ngài chuẩn bị cho điểm đạo chứng nghiệm về mặt nội tại. Nó cũng liên quan đến sự đồng hóa còn cao hơn nữa của Đức Christ với những điểm đạo đồ đang trải qua lần điểm đạo thứ tư và thứ năm, chẳng hạn như Chân sư Jesus trong trải nghiệm được đề cập ở trên. (RI, tr. 198)

I had something of the idea there, but the true dark night—of course, there is another place where he talks about the agony that was perceived, humanity's condition as the Master Jesus, or the Initiate Jesus, at that time understood the condition of humanity. But I don't think I can find that right now. It is there, and I want to go looking—of course, that's my nature, to want to go looking—but I'll have to sacrifice that right now and relinquish my tendency to go off on a tangent, and I might leave that to you, or to later. I might do it... Oh well, I'm really quite hopeless—I did it anyway. Here it is; it's about the dark night of the soul:

Ở đó tôi đã phần nào nắm được ý tưởng, nhưng đêm tối đích thực—dĩ nhiên, còn một đoạn khác nói về nỗi thống khổ được cảm nhận, về tình trạng của nhân loại mà Chân sư Jesus, hay Điểm đạo đồ Jesus, lúc ấy đã thấu hiểu. Nhưng tôi không nghĩ mình có thể tìm ra đoạn đó ngay lúc này. Nó ở đó, và tôi muốn đi tìm—dĩ nhiên, bản chất của tôi là muốn đi tìm—nhưng lúc này tôi sẽ phải hy sinh điều đó và từ bỏ khuynh hướng đi chệch sang vấn đề khác; tôi có thể để việc ấy cho các bạn, hoặc để sau. Có lẽ tôi sẽ tìm... Ôi thôi, tôi thực sự hết cách với mình rồi—dù sao tôi cũng đã tìm. Đây rồi; đoạn này nói về đêm tối của linh hồn:

The world tension increases and will increase; anxiety grows and there is no sign of its immediate lessening;

Sự căng thẳng của thế giới đang gia tăng và sẽ tiếp tục gia tăng; nỗi lo âu ngày càng lớn và không có dấu hiệu nào cho thấy nó sẽ sớm thuyên giảm;

this is in Discipleship in the New Age—

đoạn này nằm trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới—

the darkest hour of human life is upon us and it frequently brings to the earnest disciple the experience—terrible yet beautiful—to which has been given the name of the “dark night of the soul.” This dark night takes different forms and different degrees of intensity, according to the ray, the type and the point in evolution of the disciple. From it you cannot escape. But one error emerges if careful thought is given to this dark night as pictured by the mystics down the ages. Their emphasis has, in the past, been laid upon the suffering which the personality experiences and the agony through which the personality goes. But in reality and from the angle of the facts, that is not the true dark night. The real “dark night” is that of the soul as it participates in the pain of humanity as a whole, in the agony of humanity’s separation from God (a separation based upon illusion but not on actuality) and upon the desperation of humanity’s reaching forth towards what appears to be an unresponsive God. Personality pain, agony and desperation are very different things and are not concerned with the totality of pain and suffering to which mankind is subjected. (DINA II, tr. 29)

giờ phút đen tối nhất của đời sống nhân loại đang bao trùm chúng ta, và nó thường đem lại cho người đệ tử nghiêm túc trải nghiệm—khủng khiếp nhưng đẹp đẽ—mang tên “đêm tối của linh hồn”. Đêm tối này mang những hình thức và mức độ mãnh liệt khác nhau, tùy theo cung, loại người và điểm tiến hoá của đệ tử. Bạn không thể thoát khỏi nó. Nhưng một sai lầm sẽ lộ rõ nếu suy ngẫm kỹ về đêm tối này như các nhà thần bí qua các thời đại đã mô tả. Trong quá khứ, họ nhấn mạnh vào nỗi đau khổ mà phàm ngã trải qua và nỗi thống khổ mà phàm ngã phải chịu đựng. Nhưng trên thực tế và xét theo sự thật, đó không phải là đêm tối đích thực. “Đêm tối” thực sự là đêm tối của linh hồn khi nó dự phần vào nỗi đau của toàn thể nhân loại, vào nỗi thống khổ do nhân loại xa cách Thượng đế (một sự xa cách dựa trên ảo tưởng chứ không có thật), và vào nỗi tuyệt vọng khi nhân loại vươn tới một Thượng đế dường như không đáp ứng. Nỗi đau, sự thống khổ và tuyệt vọng của phàm ngã là những điều rất khác, không liên quan đến toàn thể nỗi đau và sự khổ mà nhân loại phải chịu. (DINA II, tr. 29)

And I think I might have conflated this and brought the other reference to the Master Jesus into the picture. I'm not sure whether the Master Jesus is here concerned, and I just have to see what I did. No, I didn't include him—if I did, excuse me; there would be no reference. Anyway, I found the necessary reference.

Và tôi nghĩ có lẽ mình đã trộn lẫn điều này với đoạn tham chiếu kia về Chân sư Jesus. Tôi không chắc Chân sư Jesus có liên quan ở đây hay không, và tôi phải xem lại mình đã làm gì. Không, tôi không đưa Ngài vào—nếu có, xin thứ lỗi cho tôi; sẽ không có đoạn tham chiếu nào cả. Dù sao đi nữa, tôi đã tìm thấy đoạn tham chiếu cần thiết.

So at least we come to understand that even here on our Earth, which is the planet of releasing sorrow and purifying pain, there are states beyond the consciousness of the fourth kingdom in nature which are ecstatic, exalted, blissful, and in which an escape from pain as usually understood, and from sorrow and suffering, can be achieved. The building of the antahkarana helps to achieve this. It is the way of escape, and after the third degree it becomes the way of daily livingness.

Vì vậy, ít nhất chúng ta cũng hiểu rằng ngay tại Trái Đất của chúng ta, hành tinh giải phóng nỗi buồn và thanh luyện nỗi đau, vẫn có những trạng thái vượt ngoài tâm thức của giới thứ tư trong tự nhiên; đó là những trạng thái xuất thần, cao cả và chí phúc, trong đó người ta có thể thoát khỏi nỗi đau theo nghĩa thông thường, cũng như khỏi nỗi buồn và sự khổ. Việc xây dựng antahkarana giúp đạt được điều này. Đó là con đường giải thoát, và sau lần điểm đạo thứ ba, nó trở thành lối sống hằng ngày.

[44] All this constitutes the theme of esoteric psychology and, when rightly understood, will explain

[44] Tất cả những điều này cấu thành chủ đề của Tâm Lý Học Nội Môn và, khi được thấu hiểu đúng đắn, sẽ giải thích:

what?

điều gì?

[45] 1. The Saturnian influence in human life.

[45] 1. Ảnh hưởng của Sao Thổ trong đời sống con người.

The God of opportunity, and sometimes the deity who brings disaster—that's how it's sometimes understood—but also the necessity to detach from lower enthrallments. We might say that Saturn opposes enthrallments. Take the word glamour: "You look so glamorous"—it's become a positive word. "Oh, you look enthralling"—it's become a positive word, and we do not realize the imprisoning implied.

Vị Thượng đế của cơ hội, và đôi khi là vị thần mang đến tai họa—đôi khi người ta hiểu như vậy—nhưng cũng là sự cần thiết phải tách rời khỏi những mê lực thấp kém. Chúng ta có thể nói rằng Sao Thổ chống lại các mê lực. Hãy lấy từ ảo cảm: “Trông bạn thật quyến rũ”—nó đã trở thành một từ mang nghĩa tích cực. “Ồ, trông bạn thật mê hoặc”—nó đã trở thành một cách nói tích cực, và chúng ta không nhận ra hàm ý giam hãm trong đó.

[46] 2. The cessation of rebellion, or the ending of the Martian influence.

[46] 2. Sự chấm dứt nổi loạn, hay sự kết thúc ảnh hưởng của Sao Hỏa.

There we go: both planets have this factor of rebellion related to them, our Planetary Logos and the Planetary Logos of Mars. And may it be—I'm not sure—can it be that Mars also has the first ray monad, even as the Earth does? I've thought of the Martian monad as being primarily the fifth ray, relating it in some sense then to Mercury. They both have a lot to do with the number five—Mars with the five senses and the five of the concrete mind, and Mercury so connected with the five. But for Mercury, I feel that the transition from that fifth ray monad is on to the major third ray monad. For Mars, I think it could be different—simply speculation—but I think it could be the first ray. Time will tell. Certainly it is the school for destroyers, the school for warriors.

Đây rồi: cả hai hành tinh đều có yếu tố nổi loạn liên quan đến mình, tức Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và Đức Hành Tinh Thượng Đế của Sao Hỏa. Và liệu có thể—tôi không chắc—Sao Hỏa cũng có chân thần cung một, giống như Trái Đất chăng? Tôi từng nghĩ chân thần của Sao Hỏa chủ yếu thuộc cung năm, do đó theo một ý nghĩa nào đó có liên hệ với Sao Thủy. Cả hai đều có nhiều liên hệ với số năm—Sao Hỏa liên hệ với năm giác quan và yếu tố năm của trí cụ thể, còn Sao Thủy cũng gắn bó mật thiết với số năm. Nhưng đối với Sao Thủy, tôi cảm thấy sự chuyển tiếp từ chân thần cung năm ấy hướng đến chân thần cung ba chủ yếu. Đối với Sao Hỏa, tôi nghĩ có thể khác—đây chỉ là suy đoán—nhưng tôi nghĩ đó có thể là cung một. Thời gian sẽ trả lời. Chắc chắn đó là trường học dành cho những người hủy diệt, trường học dành cho các chiến binh.

The cessation of rebellion or the ending of the Martian influence,

Sự chấm dứt nổi loạn hay sự kết thúc ảnh hưởng của Sao Hỏa,

we would say, as it influences Earth.

chúng ta có thể nói là ảnh hưởng của nó đối với Trái Đất.

[47] 3. The building of the antaskarana, which releases the man from the control of personality life.

[47] 3. Việc xây dựng antahkarana, giải thoát con người khỏi sự kiểm soát của đời sống phàm ngã.

So the ancient domination of the personality is ended at the third degree. So we might say that the true usefulness, the true achievement of the use of the antahkarana, comes in at the third degree, when the ancient domination of the personality is ended, overcome.

Vì vậy, sự thống trị lâu đời của phàm ngã chấm dứt ở lần điểm đạo thứ ba. Do đó, chúng ta có thể nói rằng công dụng đích thực, thành tựu đích thực của việc sử dụng antahkarana, xuất hiện ở lần điểm đạo thứ ba, khi sự thống trị lâu đời của phàm ngã chấm dứt và bị khắc phục.

[48] 4. The evocation

[48] 4. Sự gợi lên

along that antahkarana

dọc theo antahkarana ấy

[49] of the group consciousness.

[49] của tâm thức tập thể.

[50] 5. The consequent negation of pain and sorrow.

[50] 5. Hệ quả là sự phủ định đau đớn và sầu khổ.

[51] 6. Entrance into Nirvana,

[51] 6. Bước vào Niết Bàn,

—the Atmic plane is sometimes called the Nirvanic plane—

—cõi atma đôi khi được gọi là cõi Niết Bàn—

[52] and the beginning of the real Way.

[52] và khởi đầu Con Đường đích thực.

And this real Way is the Way of Higher Evolution—these six stages. Yes, and this is the theme of esoteric psychology. We are the monad. We are on a planet where it is necessary for us to choose between competing values, some closer to one of the pairs of opposites or the other, and we can't have both. So what can we call Saturn, in a way? Let's call it the planet of forced choice. Sometimes you have to take a test where they say—"Oh, but I relate to both of these." "No, choose the one you relate to the most." And that's an agonizing decision, but you have to prioritize. So in a way, Saturn is also a planet of prioritization.

Và Con Đường đích thực này là Con đường Tiến Hóa Cao Siêu—gồm sáu giai đoạn này. Đúng vậy, và đây là chủ đề của Tâm Lý Học Nội Môn. Chúng ta là chân thần. Chúng ta đang ở trên một hành tinh nơi mình phải lựa chọn giữa những giá trị cạnh tranh nhau, một số gần với cực này hơn, một số gần với cực kia hơn trong các cặp đối cực, và chúng ta không thể có cả hai. Vậy theo một nghĩa nào đó, chúng ta có thể gọi Sao Thổ là gì? Hãy gọi nó là hành tinh của sự lựa chọn bắt buộc. Đôi khi bạn phải làm một bài kiểm tra mà người ta nói rằng—“Ồ, nhưng tôi thấy mình phù hợp với cả hai điều này.” “Không, hãy chọn điều mà bạn thấy mình phù hợp nhất.” Và đó là một quyết định đau đớn, nhưng bạn phải xác định điều ưu tiên. Vì vậy, theo một nghĩa nào đó, Sao Thổ cũng là hành tinh của sự xác lập thứ tự ưu tiên.

And then we will cease our rebellion once we start moving towards unity. Mars is not a very unifying planet, but it certainly facilitates the move towards unity. So we end our rebellious state because we can do something about entering a higher state of unity, because we're taught how to do that. One of the methods is contacting the soul in occult meditation; another method, more advanced, is contacting the Spiritual Triad and monad through the building of the antahkarana. And one rises out of the mental unit and the personality built around it, and one rises into the realm where group consciousness prevails—and this is especially the Spiritual Triad—and we can say that universal consciousness prevails on the level of the monad. And then, rising into these worlds which are beyond duality, we have the negation of pain and sorrow in worlds beyond duality. Really, duality is a very ingrained factor in our universe, but there are temporary states on this ascent to the One—temporary states at the point where duality is temporarily negated. So there is the consequent negation of pain and sorrow in the higher worlds of the cosmic etheric plane, which, compared to the dense physical levels of the Planetary and Solar Logos, are non-dual. And entering into Nirvana—what can we call it? Bliss, ecstasy, exaltation, exquisite agony, sublimated. These are the states that lie ahead when we transcend the Earth, Mars, Saturn state of consciousness.

Và rồi chúng ta sẽ chấm dứt sự nổi loạn khi bắt đầu tiến về phía hợp nhất. Sao Hỏa không phải là một hành tinh có tính hợp nhất cao, nhưng chắc chắn nó tạo điều kiện cho sự chuyển dịch hướng đến hợp nhất. Vì vậy, chúng ta chấm dứt trạng thái nổi loạn bởi mình có thể làm điều gì đó để tiến nhập một trạng thái hợp nhất cao hơn, vì chúng ta được dạy cách thực hiện điều đó. Một trong các phương pháp là tiếp xúc với linh hồn trong tham thiền huyền môn; một phương pháp khác cao cấp hơn là tiếp xúc với Tam Nguyên Tinh Thần và chân thần thông qua việc xây dựng antahkarana. Người ta vươn lên khỏi đơn vị hạ trí và phàm ngã được xây dựng quanh nó, rồi tiến vào lĩnh vực nơi tâm thức nhóm chiếm ưu thế—và điều này đặc biệt liên quan đến Tam Nguyên Tinh Thần—còn chúng ta có thể nói rằng tâm thức vũ trụ chiếm ưu thế ở cấp độ chân thần. Và rồi, khi vươn lên những thế giới vượt ngoài Nhị nguyên này, chúng ta đạt đến sự phủ định nỗi đau và nỗi buồn trong những thế giới vượt ngoài Nhị nguyên. Thực ra, Nhị nguyên là một yếu tố ăn sâu trong vũ trụ của chúng ta, nhưng trên đường thăng tiến hướng đến Đấng Duy Nhất có những trạng thái tạm thời—những trạng thái tại điểm mà Nhị nguyên tạm thời bị phủ định. Vì vậy, trong các thế giới cao của cõi dĩ thái vũ trụ có sự phủ định nỗi đau và nỗi buồn theo sau đó; so với các cấp độ hồng trần đậm đặc của Đức Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế, các thế giới này không có Nhị nguyên. Và khi tiến nhập Niết Bàn—chúng ta có thể gọi đó là gì? Chí phúc, xuất thần, siêu thăng, nỗi thống khổ tinh tế đã được thăng hoa. Đó là những trạng thái đang chờ đợi phía trước khi chúng ta siêu việt trạng thái tâm thức của Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Thổ.

This is such an important law, and I think there is an inner repulsion against studying it, lest by studying it we might have to do it. And if we still have identification as a personality, we won't want to do it—at least the personality desire body won't want to do it—although the higher will will will to do it.

Đây là một định luật vô cùng quan trọng, và tôi nghĩ trong chúng ta có một sự chống đối bên trong đối với việc nghiên cứu nó, vì e rằng nghiên cứu nó rồi thì chúng ta có thể phải thực hành. Và nếu vẫn đồng hóa với phàm ngã, chúng ta sẽ không muốn làm điều đó—ít nhất thể dục vọng của phàm ngã sẽ không muốn—mặc dù ý chí cao siêu sẽ quyết tâm thực hiện.

So I think that's enough for the moment, because we're just about to enter into a new section concerning the relinquishment of gain. These are rather long chapters and deserve our very focused attention. So this will be a major series of programs on an important consideration for all disciples—the Laws of the Soul, the laws of group life. So this will be the end of Laws of the Soul Webinar Commentaries number seven, EP II, page 103, and we will be beginning with Laws of the Soul Webinar Commentaries number eight, EP II, page 103.

Vì vậy, tôi nghĩ lúc này như thế là đủ, bởi chúng ta sắp bước vào một phần mới liên quan đến việc từ bỏ lợi ích thu được. Đây là những chương khá dài và xứng đáng nhận được sự chú tâm cao độ của chúng ta. Do đó, đây sẽ là một loạt chương trình lớn về một vấn đề quan trọng đối với mọi đệ tử—Các Định Luật của Linh Hồn, các định luật của đời sống nhóm. Đến đây kết thúc phần Bình Giảng Webinar Các Định Luật của Linh Hồn số bảy, EP II, trang 103; và chúng ta sẽ bắt đầu phần Bình Giảng Webinar Các Định Luật của Linh Hồn số tám, EP II, trang 103.

Lots to consider, because if we could learn, in all of the little processes of life, to act in conformity with the Law of Sacrifice, then indeed there would be elevation and release, the transcendence of duality, the transcendence of pain and sorrow, suffering and so forth. And certainly the Buddha taught this, and the Christ in His own way taught this, although He insisted that His disciples would have to go through the agony to emerge on the other side.

Có rất nhiều điều cần suy ngẫm, bởi nếu trong mọi tiến trình nhỏ bé của đời sống, chúng ta có thể học cách hành động phù hợp với Định luật Hy Sinh, thì quả thực sẽ có sự nâng cao và giải thoát, sự siêu việt Nhị nguyên, sự siêu việt nỗi đau và nỗi buồn, sự khổ, v.v. Và chắc chắn Đức Phật đã dạy điều này, còn Đức Christ cũng dạy điều này theo cách riêng của Ngài, mặc dù Ngài nhấn mạnh rằng các đệ tử của Ngài phải trải qua nỗi thống khổ để bước ra ở phía bên kia.

We'll see you soon.

Hẹn sớm gặp lại các bạn.