← Bình Giảng Chiêm Tinh Học Nội Môn – Tổng Quan Phần II (25-41)

Esoteric-Astrology-Adventure-40

Tóm lược chương

Một Cung không chỉ đến Trái Đất qua những hành tinh vốn gắn trực tiếp với nó, mà còn qua chủ tinh ngoại môn và chủ tinh nội môn của các dấu hiệu truyền Cung ấy. Vì vậy, cung một đi qua dấu hiệu Bạch Dương, Sư Tử, Ma Kết và có thể được truyền qua Sao Thủy dù hành tinh này không được xem là mang cung một; tương tự, Sao Diêm Vương mang cung một vẫn có thể truyền cung hai qua quan hệ với dấu hiệu. Sự tương hợp giữa hành tinh và Cung giúp lý giải một số trường hợp, nhưng không phải điều kiện bắt buộc: quan hệ chủ quản giữa hành tinh với dấu hiệu mới là cơ sở của đường truyền. Cung bốn đi qua dấu hiệu Kim Ngưu, Hổ Cáp, Nhân Mã nên được truyền qua…


Esoteric-Astrology-Adventure-40

Tóm Tắt

Tóm tắt Webinar: Esoteric-Astrology-Adventure-40_edited

Các Cung truyền qua dấu hiệu và chủ tinh

Một Cung không chỉ đến Trái Đất qua những hành tinh vốn gắn trực tiếp với nó, mà còn qua chủ tinh ngoại môn và chủ tinh nội môn của các dấu hiệu truyền Cung ấy. Vì vậy, cung một đi qua dấu hiệu Bạch Dương, Sư Tử, Ma Kết và có thể được truyền qua Sao Thủy dù hành tinh này không được xem là mang cung một; tương tự, Sao Diêm Vương mang cung một vẫn có thể truyền cung hai qua quan hệ với dấu hiệu. Sự tương hợp giữa hành tinh và Cung giúp lý giải một số trường hợp, nhưng không phải điều kiện bắt buộc: quan hệ chủ quản giữa hành tinh với dấu hiệu mới là cơ sở của đường truyền.

Những liên hệ Cung và hành tinh cần phân biệt mức độ chắc chắn

Cung bốn đi qua dấu hiệu Kim Ngưu, Hổ Cáp, Nhân Mã nên được truyền qua cả Sao Kim, Vulcan, Sao Hỏa, Sao Mộc và Trái Đất, dù không phải tất cả thường được xếp là hành tinh cung bốn. Cung năm hiện biểu lộ mạnh nhất qua dấu hiệu Sư Tử, còn dấu hiệu Bảo Bình được dự kiến sẽ truyền phần lớn cung này về sau; nhận định rằng Trái Đất sẽ biểu lộ cung năm đầy đủ hơn gắn với sự chuyển dịch phân cực của Hành Tinh Thượng Đế Trái Đất. Với cung sáu, các liên hệ được đề xuất gồm Mặt Trăng và Huyền Giai Sáng Tạo thứ sáu, Sao Mộc với sức nâng đỡ đầy nhiệt tình, Sao Diêm Vương với việc cắt đứt phản ứng ở tùng thái dương; đây là những cách lý giải hoặc giả thuyết, không phải các thuộc tính Cung đã được xác lập cho từng hành tinh.

Cung bảy, biểu hiện và các trung tâm

Cung bảy đi qua dấu hiệu Bạch Dương, Cự Giải và đặc biệt là Ma Kết. Sao Hỏa tuy bốc đồng vẫn có mặt kỷ luật, Sao Thủy nối cao với thấp, còn Mặt Trăng liên quan đến chu kỳ thời gian và việc cung cấp hình tướng; đó là những cách nhận ra nét tương ứng với cung bảy. Chiêm Tinh Học Nội Môn, trang 301, đặt Mặt Trời, có thể che Vulcan, tại trung tâm đầu, Sao Thiên Vương tại trung tâm tim và Sao Hải Vương tại đáy cột sống. Liên hệ của Sao Hải Vương với ham muốn và vai trò chủ tinh huyền giai của dấu hiệu Cự Giải gợi một đường nối giữa sự ngưng tụ hình tướng với cõi hồng trần vũ trụ; Sao Thổ cũng có liên hệ với cung bảy vì cai quản cõi hồng trần vũ trụ.

Chiêm Tinh Học Nội Môn và việc điều chỉnh quan niệm

Chân sư DK nói chiêm tinh học mới đòi hỏi nhiều công việc đối chiếu và điều chỉnh tư tưởng trước khi có thể thay thế chiêm tinh học đang thịnh hành trong thực hành. Chiêm tinh học cổ điển cung cấp kiến thức nền hữu ích, nhưng những quan niệm quá cụ thể của nó cũng có thể cản trở việc tiếp nhận cách nhìn nội môn. Theo nhận định riêng của Thầy MDR, ngay cả người nắm khá vững lý thuyết nội môn vẫn có thể gặp khó khăn khi áp dụng nó để giúp một người cụ thể; cách diễn giải lấy linh hồn làm trọng tâm cũng không phù hợp như nhau với mọi giai đoạn phát triển. Liên hệ cá nhân giữa Sao Thủy ở Thiên Đỉnh trong lá số của Thầy MDR và sở thích đối chiếu các quan hệ là một quan sát riêng, không phải nguyên tắc chung của giáo lý.

Năm khoa học hợp thành chiêm tinh học mới

Chân sư DK nêu năm thành phần: Khoa học về các Cung, Khoa học Diễn giải Nội môn, Khoa học về các Tam giác, Khoa học về các Trung tâm và Khoa học về Định mệnh. Các Cung cần được nghiên cứu cùng những yếu tố chiêm tinh để hiểu linh hồn biểu lộ qua phàm ngã; diễn giải nội môn quan tâm đến sự tăng trưởng tâm thức hơn là kết quả hình tướng tự thân. Tam giác biểu thị ba phương diện trong mỗi thực thể, với trọng tâm luân chuyển theo các chu kỳ, còn việc nghiên cứu các trung tâm cho biết năng lượng nào đang được kích hoạt ở một giai đoạn phát triển. Cách hình dung mọi trung tâm đều có thể biểu lộ cả bảy Cung nhưng nhấn mạnh một số Cung hơn những Cung khác được đề xuất như một nguyên tắc đối chiếu rộng hơn.

Các trung tâm từ con người đến những thực thể lớn

Sự phát triển của con người có thể được xem qua trạng thái, chức năng và quan hệ giữa các luân xa, kể cả hậu quả của việc một trung tâm được nhấn mạnh quá mức hoặc quá ít. Một tam giác được nêu cho giai đoạn con người tinh thần đến lần điểm đạo thứ ba là Sao Mộc với tim, Sao Thổ với cổ họng và Vulcan với bảy trung tâm đầu. Theo phép tương đồng được đề xuất, các dịch chuyển từ trung tâm xương cùng lên cổ họng, từ tùng thái dương lên tim và từ đáy cột sống lên đỉnh đầu cũng diễn ra ở những thực thể lớn hơn. Việc xác định các trung tâm ấy trong một chòm sao, một quốc gia hay một Thượng đế Vũ Trụ vẫn là vấn đề rất rộng, không thể coi các phép gán tương ứng là đã được chứng minh.

Khoa học về Định mệnh và hướng đi của linh hồn

Khoa học về Định mệnh dựa trên bốn khoa học trước và hỏi một kiếp sống đang đưa linh hồn đến thành tựu nào, thay vì chỉ dự báo trải nghiệm dễ chịu hay khó chịu. Cung phàm ngã, cung linh hồn, các tam giác hoàng đạo, hành tinh, nhân loại và các trung tâm cùng góp phần tạo nên một hướng phát triển chung; cung linh hồn còn gợi quỹ đạo qua nhiều kiếp. Dấu hiệu mọc và các chủ tinh của nó đặc biệt quan trọng. Một hướng nghiên cứu khác xem dấu hiệu mặt trời, dấu hiệu mọc và điểm đối diện dấu hiệu mặt trời như “ba Mặt Trời”; điểm cuối được gọi là điểm Chân Thần theo một góc nhìn, và Stephen Pugh là người sớm nhấn mạnh mô hình này.

Lá số tiến trình như mầm của dự báo nội môn

Theo Chân sư DK, lá số tiến trình cá nhân là mầm phôi của Khoa học về Định mệnh, nhưng việc xác định đầy đủ các tương quan và xây dựng kiểu lá số mới vẫn còn ở phía trước. Những phương pháp đang dùng gồm tiến trình một ngày ứng với một năm, nhật cung tiến trình, phép dịch chuyển toàn lá số xấp xỉ một độ mỗi năm và việc xét các hành tinh quá cảnh; mỗi phương pháp có cách tính và phạm vi hữu ích riêng. Tiến trình lùi và phép dịch chuyển ngược thời gian cũng đáng khảo sát, với giả thuyết rằng một số tiếp xúc của chúng có thể khơi lại cộng hưởng nghiệp quả. Khối lượng dữ liệu rất lớn vừa tạo nguy cơ tìm thấy tương quan để biện hộ cho bất kỳ kết luận nào, vừa đặt ra nhu cầu kiểm chứng bằng nghiên cứu chiêm tinh cẩn trọng và công cụ máy tính.

Lửa đi qua các tam giác và vai trò của cung chân thần

Luận về Lửa Vũ Trụ mô tả các tam giác cần được nối kết, rồi được lửa truyền từ điểm này sang điểm khác cho đến khi toàn tam giác được tiếp sinh lực và chất liệu của con người dần được chuyển hoá. Trình tự hình học của sự đi lên ấy phụ thuộc vào Cung; cách diễn giải ở đây xác định đó chủ yếu là cung chân thần, dù đoạn trích không gọi tên Cung một cách tường minh. Theo suy luận riêng được rút ra từ Luận về Lửa Vũ Trụ, tri thức thường đi trước, bác ái theo sau và ý chí khó phát triển nhất xét theo trình tự chung; tuy nhiên Chân Thần cung ba thuận về tri thức, cung hai thuận về bác ái, còn cung một thuận về ý chí. Mức cân bằng giữa ba điểm của một tam giác có thể liên quan đến sự sẵn sàng điểm đạo; việc công bố thông tin về các Cung quá sớm cũng mang nguy cơ bị sử dụng sai khi các tương quan được hiểu rõ hơn.

Những tam giác đầu trong tiến trình phát triển

Tam giác prana gồm trung tâm gần xương bả vai, trung tâm gần cơ hoành và luân xa lá lách, không nên nhầm trung tâm thứ nhất với tim hoặc trung tâm thứ hai với tùng thái dương. Một cách đối chiếu đề xuất lần lượt gắn ba điểm ấy với cung một, cung hai và cung ba; trình tự kích hoạt chung bắt đầu ở luân xa lá lách, nhưng có thể biến đổi theo cung chân thần. Khi con người chịu chi phối từ cõi cảm dục, tam giác được nêu là đáy cột sống, tùng thái dương và tim; khi chịu chi phối từ cõi trí, đó là đáy cột sống, tim và cổ họng. Thứ tự xét theo Cung không nhất thiết trùng với thứ tự xét theo vị trí hoặc trung tâm nổi bật trong một giai đoạn: ở giai đoạn chịu chi phối từ cõi trí, cổ họng được nhấn mạnh nhất dù đáy cột sống có liên hệ rõ với cung một.

Tam giác trung tâm ở người tiến hóa cao

Ở người được chân ngã kiểm soát, tam giác tim, cổ họng và đầu có thể được xét theo các cung đi qua từng trung tâm: tim gắn với cung hai, cổ họng với cung ba, còn các trung tâm ý chí ở đầu với cung một. Trong cách xét này, tim giữ vai trò nâng đỡ thường trực, trong khi cổ họng ngày càng được nhấn mạnh.

Tim và cổ họng trong hai lần điểm đạo đầu

Ở lần điểm đạo thứ nhất, tim được nhấn mạnh theo một phương diện, đồng thời cổ họng có mối liên hệ đặc biệt với trung tâm xương cùng. Ở lần điểm đạo thứ hai, cổ họng nổi bật trong sự phát triển trí tuệ tinh thần và một dạng soi sáng trí tuệ; tim cũng được kích thích khi năng lượng từ tùng thái dương được nâng lên tim. Vì vậy, cả tim lẫn cổ họng đều dự phần trong hai lần điểm đạo, dù trọng tâm là xem xét sự tiến triển của các ngọn lửa theo cung chân thần.

Giới hạn của phép quy chiếu theo cung

Việc gắn một cung với trung tâm tương ứng là cách nhìn tương đối an toàn ở mức khái quát, nhưng không áp dụng nguyên xi cho mọi giai đoạn. Trong tam giác thứ hai được nhắc đến, trung tâm đáy cột sống chưa thể được cung một kích thích tối đa vì điểm tiến hoá lúc ấy chưa cho phép. Dẫu vậy, trung tâm này vẫn có liên hệ xác định với cung một và nâng đỡ toàn bộ lĩnh vực vật chất.

Các cách đọc khác về tim và những trung tâm đầu

Theo cách quy chiếu thông thường, tim thuộc cung hai, cổ họng thuộc cung ba và bảy trung tâm đầu thuộc cung một. Một cách lý giải khác được đề xuất là tim, với vai trò nền tảng sinh lực dĩ thái, có thể tương ứng với vị trí cung ba dù thông thường không được xếp như vậy; bảy trung tâm đầu khi ấy có thể biểu hiện theo đường cung hai, gắn với mối liên hệ khác thường giữa Vulcan và trái tim của Mặt Trời. Hai hoa sen nhiều cánh sẽ hợp thành tổ hợp cung một. Các cách đọc này khác nhau tùy việc xét cấp độ của trung tâm hay cung đi qua các luân xa.