← Bình GIảng Thư Chân sư Gửi Các Đệ tử

119. This sentence assures FCD that he has built the antahkarana—“firmly”. To have done so suggests the third degree.

Trích nội dung chương

119. This sentence assures FCD that he has built the antahkarana—“firmly”. To have done so suggests the third degree. 119. Câu này bảo đảm với FCD rằng ông đã xây dựng antahkarana—một cách “vững chắc”. Việc đã làm được như vậy gợi ý đến bậc ba.


119. This sentence assures FCD that he has built the antahkarana—“firmly”. To have done so suggests the third degree.

119. Câu này bảo đảm với FCD rằng ông đã xây dựng antahkarana—một cách “vững chắc”. Việc đã làm được như vậy gợi ý đến bậc ba.

120. Not only is the bridge built, but it can be used, as a “way of escape” and as a channel for service.

120. Cây cầu không chỉ đã được xây dựng, mà còn có thể được sử dụng như một “lối thoát” và một kênh phụng sự.

121. FCD has flexibility. It would see he could move ‘up’ or ‘down’ the bridge and apply the energy of the spiritual triad in many areas of life. DK reminds him, however, that however he may choose to move in the utilization of the bridge, he is moving on the Great “Way”—the beginning of the Way of Higher Evolution. That “Way” is somewhat glimpsed at the third degree.

121. FCD có sự linh hoạt. Dường như ông có thể đi “lên” hoặc “xuống” cây cầu và vận dụng năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần vào nhiều lĩnh vực của đời sống. Tuy nhiên, Chân sư DK nhắc ông rằng dù ông chọn di chuyển như thế nào khi sử dụng cây cầu, ông vẫn đang tiến trên “Đường Đạo” Vĩ Đại—khởi đầu của Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Ở bậc ba, người ta phần nào thoáng thấy “Đường Đạo” ấy.

5. The sorrows of the Cross of Man have weighted thee down but not submerged or blotted out the light. The joy of resurrection lies ahead.

5. Những nỗi đau buồn của Thập Giá Con Người đã đè nặng lên em nhưng không nhấn chìm hay dập tắt ánh sáng. Sự hoan hỉ của phục sinh đang ở phía trước.

122. FCD is on the Path of the World Saviours. Those who tread this way experience “the sorrows o the Cross of Man” more acutely than will those upon other of the sacred paths.

122. FCD đang trên Con Đường của Các Đấng Cứu Thế. Những ai đi trên con đường này trải nghiệm “những khổ đau của Thập Giá Con Người” sâu sắc hơn những người đi trên các con đường thiêng liêng khác.

123. DK acknowledges the burdens which FCD has been carrying. We realize that the truly Aquarian worker (no matter what his astrological signs may be) will carry great burdens—the “burden of humanity” and the “burden of the world” being among the final burdens. (cf. EA 333)

123. Chân sư DK thừa nhận những gánh nặng mà FCD đang mang. Chúng ta nhận ra rằng người hoạt động thực sự mang tinh thần Bảo Bình (bất kể các dấu hiệu chiêm tinh của người ấy là gì) sẽ mang những gánh nặng lớn lao—“gánh nặng của nhân loại” và “gánh nặng của thế giới” nằm trong số những gánh nặng cuối cùng. (đối chiếu EA 333)

124. Though burdened in the extreme, FCD’s inner light still shines.

124. Dù phải mang gánh nặng đến cùng cực, ánh sáng bên trong của FCD vẫn toả sáng.

125. One could think of him as one who, having “been to the mountain” had descended into the “veil of tears”, carrying the burden of humanity and the world.

125. Người ta có thể nghĩ về ông như một người đã “lên núi”, rồi đi xuống “thung lũng lệ sầu”, mang gánh nặng của nhân loại và thế giới.

126. Should this be the case, the “joy of resurrection” would, indeed, lie ahead, for the fourth degree would be imminent. As we know there is a type of “resurrection” associated with the post fourth degree experience, even though it is not the more authentic resurrection of the Initiation of Resurrection, the seventh.

126. Nếu đúng như vậy, quả thực “sự hoan hỉ của phục sinh” sẽ ở phía trước, vì bậc bốn sắp đến. Như chúng ta biết, có một kiểu “phục sinh” gắn với trải nghiệm sau bậc bốn, dù đó chưa phải là sự phục sinh đích thực hơn của Cuộc Điểm Đạo Phục Sinh, lần thứ bảy.

127. Is this final sentence, then, a hint to FCD is offered concerning the initiation which he is facing. He treads the Path of the World Saviours and the “joy of resurrection lies ahead”. The referencing of the fourth degree seems clear.

127. Vậy phải chăng câu cuối này là một gợi ý dành cho FCD về cuộc điểm đạo mà ông đang đối diện? Ông đi trên Con Đường của Các Đấng Cứu Thế và “sự hoan hỉ của phục sinh đang ở phía trước”. Việc ám chỉ bậc bốn có vẻ rõ ràng.

6. Love is thy note and wisdom is thy guide. You need naught else but fire.

6. Tình thương là âm điệu của em và minh triết là người dẫn đường cho em. Em không cần gì khác ngoài lửa.

128. FCD is indeed expressing love-wisdom. He is functioning as a soul.

128. Quả thực, FCD đang biểu lộ Bác Ái – Minh Triết. Ông đang hoạt động như một linh hồn.

129. In his nature, love is primary and wisdom in is in a supportive role. The two, however, are both powerful (as he is also one of the “Friends of the Christ”). FCD is a mature soul.

129. Trong bản chất của ông, bác ái giữ vai trò chủ đạo, còn minh triết giữ vai trò hỗ trợ. Tuy nhiên, cả hai đều mạnh mẽ (vì ông cũng là một trong những “Người Bạn của Đức Christ”). FCD là một linh hồn trưởng thành.

130. One need there is—the need for fire. It is not the internal fire of soul, for this he has. It is the fire which prompts the right manifestation upon the physical plane.

130. Có một nhu cầu—nhu cầu về lửa. Đó không phải là lửa bên trong của linh hồn, vì ông đã có lửa ấy. Đó là lửa thúc đẩy sự biểu hiện đúng đắn trên cõi hồng trần.

131. There is another way in which fire may be involved; there is a certain destructive fire of will needed at the fourth degree to complete the necessary work of liberation from the causal body.

131. Lửa có thể còn liên quan theo một cách khác; ở bậc bốn, cần có một loại lửa huỷ diệt của ý chí để hoàn tất công việc cần thiết nhằm giải thoát khỏi thể nguyên nhân.

132. Thus, the fire would be useful both ‘downwards’ and ‘upwards’.

132. Như vậy, lửa sẽ hữu ích cả theo hướng “xuống dưới” lẫn “lên trên”.

133. The word, “fire” also suggests the “fire of will”, “electric fire”. It would lie beyond the solar fire of love wisdom and would be needed for the next evolutionary step.

133. Chữ “lửa” cũng gợi đến “lửa của ý chí”, “Lửa Điện”. Lửa ấy vượt trên Lửa Thái dương của Bác Ái – Minh Triết và cần thiết cho bước tiến hoá kế tiếp.

September 1943- Tháng Chín 1943-

MY BROTHER AND MY CO-WORKER:

HUYNH ĐỆ VÀ NGƯỜI CỘNG SỰ CỦA TÔI:

In the following letter, some portions of letters to FCD which, for various reasons, had been deleted from his letters will be included for their explanatory value. As a member of the Jewish group, I take the responsibility of discussing these matters in the hope that there may ensue some necessary clarifications and a deeper understanding. These inclusions will be written in violet color:

Trong bức thư sau đây, một số phần trong các thư gửi FCD, vốn đã bị lược bỏ khỏi các bức thư của ông vì nhiều lý do, sẽ được đưa vào vì giá trị giải thích của chúng. Là một thành viên của nhóm Do Thái, tôi nhận trách nhiệm bàn luận những vấn đề này với hy vọng có thể đem lại một số sự làm sáng tỏ cần thiết và sự thấu hiểu sâu sắc hơn. Những phần bổ sung này sẽ được viết bằng màu tím:

I am not telling your co-disciples whether you are on this side of the separating veil or not. I am not informing them whether you have crossed the "bridge of light," to which I referred in my last communication to you. You need their [464] protective love, no matter whether you are here or there; the turmoil on the other side is so great—as great as the turmoil on the physical plane. Whether you are in the body or out of the body, you are therefore peculiarly vulnerable, because, my brother (as I have told you oft during the past years), your intense sensitivity has complicated your life problem. Your karma, your race (to which you do not belong except through physical heredity) holds you back from that complete freedom and liberation which you deeply desire. Only those who have achieved freedom can return to that group with immunity and helpfulness in their hands—the group from which they have been freed.

Tôi không cho các đệ tử đồng môn của em biết liệu em có đang ở bên này bức màn ngăn cách hay không. Tôi không cho họ biết liệu em đã vượt qua “cây cầu ánh sáng” mà Tôi đã nhắc đến trong lần trao đổi trước với em hay chưa. Em cần tình thương [464] che chở của họ, dù em ở đây hay ở đó; sự hỗn loạn ở phía bên kia lớn lao vô cùng—cũng lớn như sự hỗn loạn trên cõi hồng trần. Vì vậy, dù em đang ở trong thân thể hay ngoài thân thể, em cũng đặc biệt dễ bị tổn thương, bởi vì, huynh đệ của Tôi (như Tôi đã thường nói với em trong những năm qua), sự nhạy cảm mãnh liệt của em đã làm phức tạp vấn đề đời sống của em. Nghiệp quả của em, dân tộc của em (mà em không thuộc về, ngoại trừ qua di truyền thể xác) ngăn em đạt đến sự tự do và giải thoát hoàn toàn mà em sâu sắc mong mỏi. Chỉ những ai đã đạt được tự do mới có thể trở lại nhóm mà họ đã được giải thoát khỏi đó, với khả năng miễn nhiễm và trợ giúp trong tay.

134. Yet another year has passed between communications from the Tibetan. WWII had been ‘won’ by the Allies on the inner side of life, but approximately two more years of intense fighting on the outer level remained.

134. Lại thêm một năm trôi qua giữa các thông điệp của Chân sư Tây Tạng. Phe Đồng Minh đã “giành chiến thắng” trong Thế chiến thứ hai ở mặt bên trong của sự sống, nhưng ở bình diện bên ngoài vẫn còn khoảng hai năm chiến đấu ác liệt nữa.

135. The long transit of Saturn through the twelfth house (with a duration of about three years) continues, indicating a keynote of confinement. Saturn is also beginning its approximately one year stay in the vicinity of Chiron, conjuncting it three times. Saturn and Chiron together indicate chronic conditions which will not easily lift.

135. Cuộc quá cảnh kéo dài của Sao Thổ qua nhà mười hai (với thời gian khoảng ba năm) vẫn tiếp diễn, cho thấy chủ âm của sự giam hãm. Sao Thổ cũng đang bắt đầu thời gian lưu lại khoảng một năm ở vùng lân cận Chiron, đồng vị với thiên thể này ba lần. Sao Thổ và Chiron cùng nhau cho thấy những tình trạng dai dẳng sẽ không dễ chấm dứt.

136. There is a strong possibility that FCD could not receive mail during this period. After the war he received a number of instructions written over a few years. This interrupted communication can be seen as a result, in part, of the twelfth house transit of Saturn.

136. Rất có thể FCD đã không nhận được thư trong giai đoạn này. Sau chiến tranh, ông nhận được một số huấn thị đã được viết trong vài năm. Có thể xem sự gián đoạn liên lạc này một phần là kết quả của việc Sao Thổ quá cảnh nhà mười hai.

137. The Tibetan has His own reasons for deciding to withhold from FCD’s fellow disciples whether he is alive or ‘dead’, whether he has “crossed over the ‘bridge of light’”, mentioned in the last communication of 1942, or not. Presumably, by not revealing FCD’s state, the flow of “protective love” from his brothers would continue in greater measure.

137. Chân sư Tây Tạng có những lý do riêng khi quyết định không cho các đệ tử đồng môn của FCD biết liệu ông còn sống hay đã ‘chết’, liệu ông đã “vượt qua ‘cây cầu ánh sáng’” được nhắc đến trong lần truyền đạt cuối cùng vào năm 1942 hay chưa. Có lẽ, nhờ không tiết lộ tình trạng của FCD, dòng “tình thương che chở” từ các huynh đệ của ông sẽ tiếp tục tuôn đến nhiều hơn.

138. From DK’s words, it would seem a possibility that FCD could remain in the body, but that he might be called to the ‘other side’. He obviously continued to be in considerable physical danger.

138. Từ những lời của Chân sư DK, dường như FCD có thể vẫn ở trong thân thể, nhưng cũng có thể được gọi sang ‘bên kia’. Hiển nhiên, ông vẫn tiếp tục đối mặt với nguy hiểm đáng kể về thể chất.

139. DK speaks of the great “turmoil” on the “other side”—presumably, the astral plane. In other references He has suggested that the war on the inner planes was even fiercer than the war upon the physical plane.

139. Chân sư DK nói đến sự “hỗn loạn” lớn ở “bên kia”—có lẽ là cõi cảm dục. Ở những chỗ khác, Ngài đã gợi ý rằng cuộc chiến trên các cõi bên trong còn khốc liệt hơn cuộc chiến trên cõi hồng trần.

140. DK does not tell FCD whether he is soon to be found “in the body or out of the body”. In any case, FCD’s problem remains the same. He is vulnerable due to his over-sensitivity. It complicates his life whether than life is lived in physical incarnation or on the subtle planes.

140. Chân sư DK không cho FCD biết liệu chẳng bao lâu nữa ông sẽ “ở trong thân thể hay ngoài thân thể”. Dù thế nào, vấn đề của FCD vẫn như cũ. Ông dễ bị tổn thương do quá nhạy cảm. Điều đó khiến cuộc sống của ông thêm phức tạp, dù ông sống trong kiếp lâm phàm hồng trần hay trên các cõi vi tế.

141. DK begins to speak of the karma which holds FCD back from the complete liberation which he deeply desires. The karmic factors may or may not relate to racial factors, but racial complications are definitely related to FCD’s unachieved freedom.

141. Chân sư DK bắt đầu nói về nghiệp quả đang ngăn FCD đạt đến sự giải thoát hoàn toàn mà ông khao khát sâu xa. Các yếu tố nghiệp quả có thể liên quan hoặc không liên quan đến những yếu tố chủng tộc, nhưng những phức tạp về chủng tộc chắc chắn có liên quan đến việc FCD chưa đạt được tự do.

142. The race involved is the Hebrew race, to which FCD (like RSU) does not belong psychologically, but only through physical heredity.

142. Chủng tộc được nói đến là chủng tộc Hebrew, mà FCD (cũng như RSU) không thuộc về xét trên phương diện tâm lý, mà chỉ thuộc về qua di truyền thể chất.

143. DK is encouraging FCD to achieve a new freedom so that he may “return to that group [the Jewish people] with immunity and [with] helpfulness” in his hands. This is the beginning of an important and sensitive discussion about a type of service which FCD is uniquely fit to render—the elevation of the Jewish people.

143. Chân sư DK đang khuyến khích FCD đạt đến một sự tự do mới để ông có thể “trở lại với nhóm ấy [dân tộc Do Thái], mang theo khả năng miễn nhiễm và [khả năng] trợ giúp”. Đây là khởi đầu của một cuộc thảo luận quan trọng và nhạy cảm về một loại hình phụng sự mà FCD đặc biệt thích hợp để thực hiện—nâng cao dân tộc Do Thái.

144. DK is suggesting that FCD must free himself completely from the Jewish group if he is to be in a position which can really help them.

144. Chân sư DK đang gợi ý rằng FCD phải hoàn toàn giải phóng mình khỏi nhóm Do Thái nếu ông muốn ở vào một vị thế có thể thực sự giúp đỡ họ.

145. It must be said that, as the possibility for this type of service begins to present itself to FCD, transiting Chiron (indicating the Master, the healer and the guide) is returning to the cusp of the fourth house of the chart, indicating one’s individual heredity, including one’s racial heredity. It would seem that FCD is being prepared to face some deep-seated issues within the psyche of humanity, within the psyche of the Jewish people, and within his own psyche (all indicated by the fourth house).

145. Cần nói rằng, khi khả năng thực hiện loại hình phụng sự này bắt đầu mở ra trước FCD, Chiron quá cảnh (biểu thị Chân sư, người chữa lành và người hướng đạo) đang trở lại đỉnh nhà 4 của lá số, biểu thị di truyền cá nhân, bao gồm cả di truyền chủng tộc. Dường như FCD đang được chuẩn bị để đối diện với một số vấn đề ăn sâu trong tâm hồn nhân loại, trong tâm hồn dân tộc Do Thái và trong chính tâm hồn ông (tất cả đều do nhà 4 biểu thị).

146. The timing of this Chiron transit is really interesting in view of DK’s reminder to FCD of the interview which took place in his Master’s (KH’s) Ashram, and which focussed on what DK has called in other writings the “Jewish Problem”, and how FCD would assist with its solution. The fourth house represents deep-seated issues at the ‘bottom’ of the aura which remain to be redeemed, whether the aura of the individual or of humanity. Surely issues which touch on the ‘hereditary relationship’ between the first and second solar systems would come in this category.

146. Thời điểm diễn ra lần quá cảnh này của Chiron thực sự thú vị khi xét đến việc Chân sư DK nhắc FCD nhớ về cuộc hội kiến đã diễn ra trong ashram của Chân sư của ông (Chân sư KH), tập trung vào điều mà trong những tác phẩm khác Chân sư DK gọi là “Vấn đề Do Thái”, và cách FCD sẽ góp phần giải quyết vấn đề ấy. Nhà 4 biểu thị những vấn đề ăn sâu ở ‘đáy’ hào quang còn cần được cứu chuộc, dù đó là hào quang của cá nhân hay của nhân loại. Chắc chắn những vấn đề liên quan đến ‘mối quan hệ di truyền’ giữa hệ mặt trời thứ nhất và thứ hai sẽ thuộc phạm trù này.

I have for you a suggestion. I will not call it an order, for no Master ever gives commands, and in any case you belong to the Ashram of K.H. and will have received your instructions direct from Him. He feels as I do, that in the pressure and anxiety and in your psychic participation in the fate of your country and in your sensitive reaction to racial strain, the import of His conversation with you a year ago may not have registered adequately. It has been difficult for you and well-nigh impossible to concentrate on planning. I am therefore going to summarise for you what He then said. The group protection accorded you (greater than perhaps you realise) enables me to reach you more easily at this time than can any other member of the Hierarchy. I can find and reach you with a minimum expenditure of force.

Tôi có một đề nghị dành cho em. Tôi sẽ không gọi đó là mệnh lệnh, vì không Chân sư nào từng ra lệnh, và dù sao em cũng thuộc về ashram của Chân sư KH và hẳn đã trực tiếp nhận được huấn thị từ Ngài. Ngài cũng cảm thấy như Tôi rằng, giữa áp lực và lo âu, giữa sự tham dự về mặt thông linh của em vào vận mệnh đất nước và phản ứng nhạy cảm của em trước những căng thẳng của nhân loại, có thể em chưa lĩnh hội đầy đủ ý nghĩa cuộc trò chuyện của Ngài với em một năm trước. Đối với em, việc tập trung lập kế hoạch đã trở nên khó khăn và gần như bất khả thi. Vì vậy, Tôi sẽ tóm lược cho em những gì Ngài đã nói khi ấy. Sự che chở của nhóm dành cho em (lớn hơn có lẽ em nhận biết) cho phép Tôi tiếp cận em vào lúc này dễ dàng hơn bất kỳ thành viên nào khác của Thánh đoàn. Tôi có thể tìm thấy và tiếp cận em với mức tiêu hao mãnh lực tối thiểu.

147. A general principle is enunciated: “no Master ever gives commands”. Master DK has reiterated this point on several occasions. At times, when reading the Agni Yoga books, one feels that a first ray Master is more likely to do so. Still the statement has been clearly made.

147. Một nguyên tắc chung được nêu rõ: “không Chân sư nào từng ra lệnh”. Chân sư DK đã nhắc lại điểm này nhiều lần. Đôi khi, khi đọc các sách Agni Yoga, người ta có cảm giác một Chân sư cung một có nhiều khả năng làm như vậy hơn. Tuy nhiên, lời khẳng định ấy đã được nêu ra rõ ràng.

148. Another principle emerges: no Master has the right to direct the activity of a chela if that chela ‘belongs’ to another Master. Temporarily, a number of disciples have been ‘handed over’ to Master DK for instruction, but we find DK always respecting the ashramic origin of such disciples. Because, in the case of FCD, He is dealing with a very advanced disciple (whom he regards almost more as a brother than a student), He is unusually careful not to interfere with direction which may come from the chela’s actual Master—Master KH (Who is DK’s Master as well).

148. Một nguyên tắc khác xuất hiện: không Chân sư nào có quyền chỉ đạo hoạt động của một đệ tử nếu đệ tử ấy ‘thuộc về’ một Chân sư khác. Một số đệ tử đã tạm thời được ‘giao’ cho Chân sư DK để được huấn luyện, nhưng chúng ta thấy Chân sư DK luôn tôn trọng nguồn gốc ashram của những đệ tử ấy. Trong trường hợp FCD, vì Ngài đang làm việc với một đệ tử rất tiến bộ (người mà Ngài gần như xem là một huynh đệ hơn là một môn sinh), nên Ngài đặc biệt thận trọng để không can thiệp vào sự chỉ dẫn có thể đến từ Chân sư thực sự của người đệ tử ấy—Chân sư KH (cũng là Chân sư của Chân sư DK).

149. FCD is still in the midst of great strain, pressure and anxiety. He is participating psychically in the fate of Italy, and is psychically experiencing the “racial strain” through which the Jewish people are passing.

149. FCD vẫn đang ở giữa những căng thẳng, áp lực và lo âu lớn lao. Ông đang tham dự một cách thông linh vào vận mệnh của nước Ý, và đang trải nghiệm một cách thông linh sự “căng thẳng chủng tộc” mà dân tộc Do Thái đang trải qua.

150. Something of importance has transpired about a year before this instruction—an important interview in Master KH’s Ashram. In this interview possible plans for FCD’s future service were discussed. What is really interesting is that, apparently, the conversation was, at least vaguely, registered by FCD. DK and KH feel, however, that the “import” of the conversation may not have registered sufficiently. Master DK, therefore, undertakes to refresh FCD’s memory so that the full value of that ashramic interview may be extracted.

150. Một điều quan trọng đã diễn ra khoảng một năm trước huấn thị này—một cuộc hội kiến quan trọng trong ashram của Chân sư KH. Trong cuộc hội kiến ấy, những kế hoạch khả dĩ cho công việc phụng sự tương lai của FCD đã được thảo luận. Điều thực sự thú vị là dường như FCD đã ghi nhận cuộc trò chuyện, ít nhất cũng một cách mơ hồ. Tuy nhiên, Chân sư DK và Chân sư KH cảm thấy rằng có thể ông chưa ghi nhận đầy đủ “ý nghĩa” của cuộc trò chuyện. Vì vậy, Chân sư DK đảm nhận việc khơi lại ký ức của FCD để ông có thể thu nhận trọn vẹn giá trị của cuộc hội kiến trong ashram ấy.

151. Yet another principle emerges: not only is FCD benefiting from the “group protection” of his fellow disciples, but that protection opens an avenue of contact to him of which Master DK may avail Himself when He attempts to contact FCD. We, therefore, learn something important about the way in which positive group relations (specifically, the energies of love) enhance the possibility of subtle communication.

151. Lại xuất hiện một nguyên tắc nữa: FCD không chỉ được hưởng lợi từ “sự che chở của nhóm” do các đệ tử đồng môn dành cho ông, mà sự che chở ấy còn mở ra một con đường tiếp xúc với ông mà Chân sư DK có thể tận dụng khi Ngài tìm cách liên lạc với FCD. Vì vậy, chúng ta học được một điều quan trọng về cách những mối quan hệ nhóm tích cực (cụ thể là các năng lượng tình thương) gia tăng khả năng giao tiếp vi tế.

152. Since the protecting group members are members of Master DK’s group, this fact enables Him to contact FCD with greater ease than might any other Master, including, presumably, Master KH. We note that the Masters must ever consider the workings of the Law of Economy.

152. Vì những thành viên nhóm đang che chở cho ông là thành viên trong nhóm của Chân sư DK, nên điều này giúp Ngài liên lạc với FCD dễ dàng hơn bất kỳ Chân sư nào khác, có lẽ kể cả Chân sư KH. Chúng ta lưu ý rằng các Chân sư phải luôn cân nhắc sự vận hành của Định luật Tiết Kiệm.

153. If we search the progressed and directed horoscope for about a year before this September, 1943, instruction, we shall find an interesting conjunction between transiting Chiron (the Master) and solar arc directed Chiron, both in the thirteenth degree of Leo. A couple of months before that, transiting Chiron was crossing the progressed Ascendant in Leo. All this is accentuated by a solar eclipse on solar arc directed Chiron less than two weeks before transiting Chiron conjuncted it. One could see how, under such aspects, an interview in the Master’s Ashram could occur. Leo (the fifth sign), as well, represents the Master (an initiate of the fifth degree).

153. Nếu khảo sát lá số chiêm tinh tiến trình và lá số có các điểm được dịch chuyển theo cung cho thời điểm khoảng một năm trước huấn thị tháng Chín năm 1943 này, chúng ta sẽ thấy một đồng vị thú vị giữa Chiron quá cảnh (Chân sư) và Chiron nhật cung tiến trình, cả hai đều ở độ thứ mười ba của Sư Tử. Vài tháng trước đó, Chiron quá cảnh đang đi qua Điểm mọc tiến trình trong Sư Tử. Tất cả những điều này càng nổi bật hơn do một nhật thực tại vị trí Chiron nhật cung tiến trình, diễn ra chưa đầy hai tuần trước khi Chiron quá cảnh đồng vị với vị trí ấy. Có thể thấy rằng dưới những góc hợp như vậy, một cuộc hội kiến trong ashram của Chân sư có thể diễn ra. Sư Tử (dấu hiệu thứ năm) cũng biểu thị Chân sư (một điểm đạo đồ cấp thứ năm).

154. Depending upon when the interview actually occurred, we also see transiting Jupiter (the second ray sacred planet) crossing both natal and progressed Chiron (the Master) and the natal Cancer Ascendant at about the time that transiting Chiron would have been conjuncted to the progressed Ascendant. Thus, several powerful indications combine to indicate the second ray Master KH’s increasingly vivid presence in FCD’s life, and, in general, the greater proximity of the life of Hierarchy.

154. Tùy theo thời điểm cuộc hội kiến thực sự diễn ra, chúng ta còn thấy Sao Mộc quá cảnh (hành tinh thiêng liêng cung hai) đi qua cả Chiron bản mệnh lẫn Chiron tiến trình (Chân sư), cùng Điểm mọc Cự Giải bản mệnh, vào khoảng thời gian Chiron quá cảnh đồng vị với Điểm mọc tiến trình. Như vậy, nhiều dấu hiệu mạnh mẽ kết hợp lại cho thấy sự hiện diện ngày càng rõ nét của Chân sư cung hai KH trong cuộc đời FCD và, nói chung, sự gần gũi hơn với sự sống của Thánh đoàn.

Your Master, K.H., asked you at that time if you were ready to begin work in preparation for a definite assignment upon the Path of World Saviours. Assignment after assignment in connection with groups, nations, races and increasingly large units is ever the mode of developing a world Saviour until the time comes when he can make a world impact and achieve a measure of world salvaging. Many times in the past, I have pointed out to you that you were on that most difficult path of service. K.H. desired to find out if you were prepared to accept your first major assignment upon that Way. When you assented and told Him that you would do what you could but that you had no inner confidence in yourself, owing to the pressures of the time which appeared to you to have a definitely disintegrating effect on your [465] vehicles, He reassured you and told you that the potent inner unfoldment of your love nature and your complete decentralisation were a vital protection. He also informed you that—at the stage of spiritual development which you had attained—the aura of His Ashram and the aura of mine would act as a shield, and that the resources of both Ashrams were behind you. This, my brother, you know well, and to this fused efficiency you can testify.

Khi ấy, Chân sư của em, Chân sư KH, đã hỏi em liệu em có sẵn sàng bắt đầu công việc chuẩn bị cho một nhiệm vụ xác định trên Con Đường của các Đấng Cứu Thế hay không. Hết nhiệm vụ này đến nhiệm vụ khác liên quan đến các nhóm, các quốc gia, các giống dân và những đơn vị ngày càng lớn luôn là phương thức phát triển một Đấng Cứu Thế, cho đến lúc Ngài có thể tạo ảnh hưởng trên toàn thế giới và thực hiện việc cứu độ thế gian ở một mức độ nào đó. Nhiều lần trong quá khứ, Tôi đã chỉ cho em thấy rằng em đang ở trên con đường phụng sự khó khăn nhất ấy. Chân sư KH muốn biết liệu em đã sẵn sàng tiếp nhận nhiệm vụ lớn đầu tiên trên Con Đường ấy hay chưa. Khi em đồng ý và thưa với Ngài rằng em sẽ làm những gì có thể, nhưng trong lòng không tự tin vì những áp lực của thời cuộc mà em cảm thấy rõ ràng đang gây tác động phân rã lên các [465] hiện thể của mình, Ngài đã trấn an em và nói rằng sự khai mở nội tâm mạnh mẽ của bản chất bác ái nơi em cùng sự phi tập trung hoàn toàn vào bản thân là một sự bảo vệ thiết yếu. Ngài cũng cho em biết rằng—ở giai đoạn phát triển tinh thần mà em đã đạt tới—hào quang ashram của Ngài và hào quang ashram của Tôi sẽ hoạt động như một tấm khiên, và nguồn lực của cả hai ashram đều ở phía sau hỗ trợ em. Huynh đệ của Tôi, em biết rõ điều này và có thể làm chứng cho hiệu lực dung hợp ấy....

155. We see how important the interview had been, for at that time FCD was offered the possibility of preparing for “a definite assignment upon the Path of World Saviours”. It would seem that such an assignment could only be offered to one who had attained the third degree.

155. Chúng ta thấy cuộc hội kiến ấy quan trọng đến mức nào, vì khi đó FCD được trao cơ hội chuẩn bị cho “một nhiệm vụ xác định trên Con Đường của các Đấng Cứu Thế”. Dường như một nhiệm vụ như vậy chỉ có thể được trao cho người đã đạt đến cấp điểm đạo thứ ba.

156. DK generalizes on the procedure through which assignments of ever-expanding scope and deepening difficulty are given to the one who is treading this “most difficult path of service”. Eventually, the chela on this path can make a “world impact and achieve a measure of world salvaging”. It would appear that FCD (after following the necessary training) would be poised to make such an impact at the racial level.

156. Chân sư DK khái quát về tiến trình trao những nhiệm vụ có phạm vi ngày càng mở rộng và độ khó ngày càng tăng cho người đang bước trên “con đường phụng sự khó khăn nhất” này. Cuối cùng, người đệ tử trên con đường ấy có thể tạo một “ảnh hưởng trên toàn thế giới và thực hiện được một mức độ cứu độ thế gian”. Dường như FCD (sau khi trải qua sự huấn luyện cần thiết) sẽ sẵn sàng tạo một ảnh hưởng như vậy ở cấp độ chủng tộc.

157. It could be said with some confidence that not all second ray disciples tread the Path of World Saviours. Most disciples end their incarnational career in the sign Aquarius as a World Serve; it is far rarer to end in Pisces as a World Saviour. We could not say with certainty whether this was to be FCD’s last necessary incarnation, but there is a possibility.

157. Có thể nói với một mức độ tin chắc rằng không phải mọi đệ tử cung hai đều bước trên Con Đường của các Đấng Cứu Thế. Phần lớn đệ tử kết thúc hành trình lâm phàm của mình trong dấu hiệu Bảo Bình với tư cách một Người Phụng Sự Thế Gian; hiếm hơn nhiều là kết thúc trong Song Ngư với tư cách một Đấng Cứu Thế. Chúng ta không thể nói chắc liệu đây có phải là kiếp lâm phàm cần thiết cuối cùng của FCD hay không, nhưng có khả năng ấy.

158. He died on August 23, 1974, we are not told at what time. A time of 8:00 pm California time has been reported (but this cannot be confirmed). If the time were before 1:00 pm in Italy, the Sun would still be in Leo and conjunct Regulus. The fifth sign Leo is one which is intimately related to Mastership, the fifth degree. The fourth degree (for which it is hypothesized he was being prepared, perhaps for the present incarnation) and fifth degree are often taken in the same life or in two consecutive lives. We can see how death (possibly at the last degree of Leo) could prepare the way for an incarnation in which Mastership could be achieved (whether or not the fourth degree had been passed in the present incarnation).

158. Ông qua đời ngày 23 tháng Tám năm 1974; chúng ta không được cho biết vào giờ nào. Có thông tin cho rằng đó là lúc 8 giờ tối theo giờ California (nhưng điều này không thể xác nhận). Nếu thời điểm ấy là trước 1 giờ chiều tại Ý, Mặt Trời vẫn còn ở trong Sư Tử và đồng vị với Regulus. Dấu hiệu thứ năm, Sư Tử, có liên hệ mật thiết với quả vị Chân sư, cấp điểm đạo thứ năm. Cấp điểm đạo thứ tư (mà theo giả thuyết, ông đang được chuẩn bị để đạt tới, có lẽ ngay trong kiếp hiện tại) và cấp điểm đạo thứ năm thường được đạt đến trong cùng một kiếp sống hoặc trong hai kiếp liên tiếp. Chúng ta có thể thấy cái chết (có thể ở độ cuối của Sư Tử) có thể dọn đường cho một kiếp lâm phàm mà trong đó quả vị Chân sư có thể được thành tựu (dù ông đã vượt qua cấp điểm đạo thứ tư trong kiếp hiện tại hay chưa).

159. The point of the ashramic interview was to determine whether FCD was willing to accept this first assignment on the Path of World Saviours, and if so, to give him some instruction on how to proceed.

159. Mục đích của cuộc hội kiến trong ashram là xác định liệu FCD có sẵn lòng chấp nhận nhiệm vụ đầu tiên này trên Con Đường của các Đấng Cứu Thế hay không, và nếu có, trao cho ông một số chỉ dẫn về cách tiến hành.

160. FCD was willing but lacked confidence in himself due to the “disintegrating effect” which the “pressures of the times” had had on his vehicles.

160. FCD sẵn lòng nhưng thiếu tự tin do “tác động phân rã” mà những “áp lực của thời cuộc” đã gây ra trên các hiện thể của ông.

161. KH assured FCD that the potent inner unfoldment of his love nature and his complete decentralisation offered him vital protection, and that he need not feel uncertain. It is interesting to understand that which a Master considers to be a disciple’s protection when that disciple is engaged in very difficult service. In this case, at lease, love and decentralization are two qualities most useful in ensuring that the server is not overcome by glamor and illusion.

161. Chân sư KH bảo đảm với FCD rằng sự khai mở mạnh mẽ bên trong bản chất bác ái của ông cùng sự phi tập trung hoàn toàn vào bản thân đem lại cho ông sự che chở thiết yếu, và ông không cần cảm thấy bất an. Thật thú vị khi thấu hiểu điều mà một Chân sư xem là sự che chở cho một đệ tử khi người ấy đang đảm nhận công việc phụng sự vô cùng khó khăn. Ít nhất trong trường hợp này, tình thương và sự phi tập trung vào bản thân là hai phẩm tính hữu ích nhất để bảo đảm rằng người phụng sự không bị ảo cảm và ảo tưởng lấn át.

162. We also learn something about ashramic protection. The combined auras of Master DK’s and Master KH’s Ashrams shield FCD and would continue to do so. It is clear that FCD has already (presumably through the war, especially) experienced the “fused efficiency” of this protection.

162. Chúng ta cũng học được đôi điều về sự che chở của ashram. Hào quang kết hợp của ashram Chân sư DK và ashram Chân sư KH che chở FCD và sẽ tiếp tục làm như vậy. Rõ ràng FCD đã trải nghiệm “hiệu quả hợp nhất” của sự che chở này (có lẽ đặc biệt trong suốt chiến tranh).

KH then proceeded to tell you that the Jewish race, by means of the fires of purification, would (at the end of the war and prior to 1945) be ready for instruction and for that teaching which , as a race, they have never had and which, when given them, they will at first resent. For this resentment, all workers among the Jews must be ready. This teaching must be brought to them by one who loves them greatly, who is of their race and, at the same time, not of their race, who has suffered so deeply that naught can again touch him to any drastic extent and one also who has the power of the Hierarchy back of him.

Sau đó, Chân sư KH tiếp tục nói với em rằng, nhờ những ngọn lửa thanh luyện, dân tộc Do Thái sẽ (vào cuối cuộc chiến và trước năm 1945) sẵn sàng tiếp nhận sự chỉ dạy và giáo huấn mà, với tư cách một dân tộc, họ chưa từng có, và khi được trao cho họ, lúc đầu họ sẽ phẫn uất. Mọi người hoạt động trong cộng đồng Do Thái đều phải sẵn sàng đón nhận sự phẫn uất này. Người mang giáo huấn này đến cho họ phải là người yêu thương họ sâu sắc, thuộc về dân tộc họ mà đồng thời cũng không thuộc về dân tộc họ, đã chịu đau khổ sâu sắc đến mức không điều gì có thể lại tác động nghiêm trọng đến người ấy, và cũng là người có quyền năng của Thánh đoàn hậu thuẫn.

163. The Jews suffered intensely during World War II, as did millions of others who passed through the fires of the global Holocaust.

163. Người Do Thái đã chịu đau khổ dữ dội trong Thế chiến thứ hai, cũng như hàng triệu người khác đã trải qua những ngọn lửa của cuộc đại thảm sát toàn cầu.

164. It is always hard for humanity to see and understand from a Shamballic perspective, but the Chohan, Master KH, a member of Shamballa (because He is a Chohan) informed FCD that the “fires of purification” would have prepared the Jewish race for an important teaching at the end of the war, and even prior to 1945—the year when the war ended. Thus, the teaching intended for the Jewish people was to begin reaching them before the end of the war.

164. Nhân loại luôn khó nhìn nhận và thấu hiểu từ quan điểm Shamballa, nhưng Đức Chohan, Chân sư KH, một thành viên của Shamballa (vì Ngài là một Chohan), đã cho FCD biết rằng những “ngọn lửa thanh luyện” sẽ chuẩn bị cho dân tộc Do Thái tiếp nhận một giáo huấn quan trọng vào cuối cuộc chiến, và thậm chí trước năm 1945—năm chiến tranh kết thúc. Như vậy, giáo huấn dành cho dân tộc Do Thái sẽ bắt đầu đến với họ trước khi chiến tranh kết thúc.

165. The teaching now intended has never been given to them in any concerted way. Perhaps the Kabbalah (in which FCD was deeply interested) had supplied a few spiritual hints. The new teaching, however, would emanate from the enlightened perspective of the Trans-Himalayan Lodge and would surely bring forth the centrality of the Christ, the Lord Maitreya, by whatever name He might be described (for instance, the “Coming One”).

165. Giáo huấn hiện đang được dự định này chưa từng được trao cho họ một cách có phối hợp. Có lẽ Kabbalah (mà FCD vô cùng quan tâm) đã cung cấp một vài gợi mở về tinh thần. Tuy nhiên, giáo huấn mới sẽ xuất phát từ quan điểm giác ngộ của Thánh đoàn bên kia dãy Himalaya và chắc chắn sẽ làm nổi bật vai trò trung tâm của Đức Christ, Đức Maitreya, dù Ngài được gọi bằng danh xưng nào (chẳng hạn, “Đấng Đang Đến”).

166. Naturally, then, given the prevailing consciousness of victimization within the Jewish group (especially in the wake of a terrible war), this teaching would be resented. Resentment is a solar plexus reaction, and we remember, that, according to Master DK, the Jews (correlated as a group with the third and seventh rays—cf. EXH 89) represent the solar plexus of humanity.

166. Do đó, đương nhiên, với tâm thức cho rằng mình là nạn nhân đang phổ biến trong nhóm Do Thái (đặc biệt sau một cuộc chiến khủng khiếp), giáo huấn này sẽ gặp phải sự phẫn uất. Phẫn uất là một phản ứng của tùng thái dương, và chúng ta nhớ rằng, theo Chân sư DK, người Do Thái (xét như một nhóm có tương quan với cung ba và cung bảy—xem EXH 89) đại diện cho tùng thái dương của nhân loại.

167. The inevitable resentment is related to a well-known persecution complex (which, itself, is based upon insufficient self-knowledge). The race, as a whole, does not know where it has been and what it has done. It feels wronged by others and by the blows of fate, little realizing the nature and purpose of the retributive karma it has earned.

167. Sự phẫn uất không thể tránh khỏi ấy có liên quan đến một phức cảm bị bức hại vốn được biết đến rộng rãi (mà bản thân nó dựa trên sự thiếu hiểu biết về chính mình). Xét trên tổng thể, dân tộc này không biết mình đã từng ở đâu và đã làm những gì. Họ cảm thấy mình chịu bất công từ người khác và từ những đòn giáng của số phận, mà ít nhận ra bản chất và mục đích của nghiệp quả báo ứng do chính mình tạo ra.

168. On a personal note (and having been raised as a Jew within the Jewish thoughtform) I must concur with Master KH’s prognostication, though, today, the situation is somewhat better among many progressive Jews who are not of the orthodox persuasion. There are many Jews today, even inside Israel, who represent the best of the Jewish consciousness and who are more than open to the spiritual perspectives of the Trans-Himalayan Lodge. There has been a tremendous revolution in consciousness beginning in the mid-1960s and thousands of Jews have been swept along in the great wave towards enlightenment. Generalization is always a danger.

168. Về mặt cá nhân (và là người được nuôi dạy như một người Do Thái trong hình tư tưởng Do Thái), tôi phải đồng ý với tiên đoán của Chân sư KH, dù ngày nay tình hình có phần tốt hơn trong số nhiều người Do Thái tiến bộ không theo quan điểm chính thống. Ngày nay có nhiều người Do Thái, ngay cả bên trong Israel, đại diện cho những gì tốt đẹp nhất trong tâm thức Do Thái và vô cùng cởi mở với các quan điểm tinh thần của Thánh đoàn bên kia dãy Himalaya. Một cuộc cách mạng lớn lao về tâm thức đã bắt đầu từ giữa thập niên 1960, và hàng nghìn người Do Thái đã cuốn theo làn sóng lớn hướng đến giác ngộ. Khái quát hóa luôn là một mối nguy.

169. Master KH’s logic proceeds. There are very few who are qualified to bring a new message to the Jewish group. The requirements are high. Such a one

169. Lập luận của Chân sư KH tiếp tục. Rất ít người đủ tư cách mang một thông điệp mới đến cho nhóm Do Thái. Những yêu cầu đặt ra rất cao. Một người như vậy

a. must love the Jewish people

a. phải yêu thương dân tộc Do Thái

b. must be one of their race and yet not of their race

b. phải thuộc về dân tộc họ mà đồng thời cũng không thuộc về dân tộc họ

c. must have suffered so deeply that naught can again touch him to any drastic extent

c. phải từng chịu đau khổ sâu sắc đến mức không điều gì có thể lại tác động nghiêm trọng đến người ấy

d. and must be supported by the Hierarchy

d. và phải có sự hỗ trợ của Thánh đoàn

170. It must have been apparent to FCD how closely he fulfilled the requirements. When an assignment is offered on the Path of World Saviours, it could, of course, be refused. But fate, the soul and the Master combine forces to engineer such an opportunity, and I would judge that refusal is rare indeed.

170. Hẳn FCD đã thấy rõ mình đáp ứng sát những yêu cầu ấy đến mức nào. Khi một nhiệm vụ được trao trên Con Đường của các Đấng Cứu Thế, dĩ nhiên người nhận có thể từ chối. Nhưng số phận, linh hồn và Chân sư kết hợp các mãnh lực để tạo nên một cơ hội như vậy, và tôi cho rằng việc từ chối quả thực hiếm xảy ra.

All these requirement are met by you and you can – from the standpoint of your present life position and during your next immediate incarnation – act as the Teacher of the new dispensation for the Jews; you can, at least, give them that instruction which, during the next one hundred years, will change their point of view and attitude of life. Thereby you will salvage thousands; thereby you will begin your chosen task and fulfil your self-determined destiny; thereby you will list off the shoulders of many disciples the burden of this peculiar phase of world salvage – for the Jews need salvaging. I do not refer to physical conditions which ever engross the attention of the Jew, oft to the exclusion of the spiritual values.

Em đáp ứng tất cả những yêu cầu này, và từ vị thế hiện tại của em trong cuộc sống cũng như trong kiếp nhập thể kế tiếp ngay sau đây, em có thể đảm nhiệm vai trò Huấn sư của thời kỳ mới dành cho người Do Thái; ít nhất, em có thể trao cho họ sự chỉ dạy sẽ làm thay đổi quan điểm và thái độ sống của họ trong một trăm năm tới. Nhờ đó, em sẽ cứu vớt hàng nghìn người; nhờ đó, em sẽ bắt đầu nhiệm vụ mình đã chọn và hoàn thành vận mệnh do chính mình quyết định; nhờ đó, em sẽ nhấc khỏi vai nhiều đệ tử gánh nặng của giai đoạn đặc thù này trong công cuộc cứu vớt thế giới—vì người Do Thái cần được cứu vớt. Tôi không nói đến những điều kiện hồng trần vốn luôn thu hút toàn bộ sự chú ý của người Do Thái, thường đến mức loại trừ các giá trị tinh thần.

171. Master DK states the obvious: FCD meets the requirements.

171. Chân sư DK nêu điều hiển nhiên: FCD đáp ứng các yêu cầu.

172. The plan (of Masters KH and DK, and of FCD as a soul) are that he can, both presently and in his next immediate incarnation, “act as the Teacher of the new dispensation for the Jews.

172. Kế hoạch của các Chân sư KH và DK, cùng của FCD với tư cách một linh hồn, là ông có thể, cả trong hiện tại lẫn trong kiếp nhập thể kế tiếp ngay sau đây, “đảm nhiệm vai trò Huấn sư của thời kỳ mới dành cho người Do Thái.

173. It will be an impactful teaching which “during the next one hundred years” “will change their point of view and attitude of life”. This was written in 1943, and so the years around 2040 are envisioned. The needed instruction can be given in the present incarnation (which ended for FCD in 1974), but also in the succeeding incarnation. We cannot know, but perhaps FCD has been reborn and is now in preparation to do exactly that.

173. Đó sẽ là một giáo huấn có ảnh hưởng mạnh mẽ, “trong một trăm năm tới” “sẽ làm thay đổi quan điểm và thái độ sống của họ”. Những lời này được viết vào năm 1943, vì vậy thời điểm được hình dung là những năm quanh 2040. Sự chỉ dạy cần thiết có thể được trao trong kiếp nhập thể hiện tại (đã kết thúc đối với FCD vào năm 1974), nhưng cũng có thể trong kiếp nhập thể tiếp theo. Chúng ta không thể biết, nhưng có lẽ FCD đã tái sinh và hiện đang chuẩn bị để thực hiện chính điều đó.

174. To be faced with such a prospect would be breathtaking for any mature disciple. An opportunity for great service with a significant world impact is offered, and with the offering, the price to be paid is easily apparent.

174. Đứng trước một viễn cảnh như vậy hẳn sẽ khiến bất kỳ đệ tử trưởng thành nào cũng phải choáng ngợp. Một cơ hội phụng sự lớn lao, có ảnh hưởng đáng kể đến thế giới, đang được trao ra, và cùng với cơ hội ấy, cái giá phải trả cũng hiện rõ.

175. FCD was told that he was in a position to “salvage thousands”. If he follows Master KH’s advice, he will begin his “chosen task” and his “self-determined destiny”. What is important to note is that this “opportunity” is not being forced upon him by his Master or Master DK, but rather, is to be self-chosen and self-determined. It seems a pre-incarnational ‘contract’ has been made, and it is FCD, as a soul, that is intent upon this work. The Masters are merely refreshing his memory.

175. FCD được cho biết rằng ông có khả năng “cứu vớt hàng nghìn người”. Nếu làm theo lời khuyên của Chân sư KH, ông sẽ bắt đầu “nhiệm vụ đã chọn” và “vận mệnh do chính mình quyết định”. Điều quan trọng cần lưu ý là “cơ hội” này không phải điều Chân sư của ông hay Chân sư DK áp đặt lên ông, mà phải do chính ông lựa chọn và quyết định. Dường như một ‘giao ước’ trước khi nhập thể đã được lập ra, và chính FCD, với tư cách một linh hồn, quyết tâm thực hiện công việc này. Các Chân sư chỉ đang nhắc lại để ông nhớ.

176. The Jewish Problem is, in the annals of humanity, a heavy one with deep implications concerning the relations between the Moon-chain and the Earth-chain, and the first solar system and the second (i.e., our solar system). Many disciples struggle under the weight of this problem, and FCD is being presented the opportunity to lift that weight off the shoulders of a number of his fellow disciples.

176. Trong lịch sử nhân loại, Vấn đề Do Thái là một vấn đề nặng nề, với những hàm ý sâu xa liên quan đến các mối quan hệ giữa Dãy Mặt Trăng và Dãy Địa Cầu, giữa hệ mặt trời thứ nhất và hệ mặt trời thứ hai (tức hệ mặt trời của chúng ta). Nhiều đệ tử đang chật vật dưới sức nặng của vấn đề này, và FCD đang được trao cơ hội nhấc gánh nặng ấy khỏi vai một số đệ tử đồng môn của ông.

177. Solving the “Jewish Problem” (a problem far deeper than any normal member of that race can possibly suspect) is what is called “a peculiar phase of world salvage”. DK tells us that the Jews need salvaging. They need saving (not as the fundamentalist Christian might think, but in a far deeper, psychological sense).

177. Giải quyết “Vấn đề Do Thái” (một vấn đề sâu xa hơn rất nhiều so với điều bất kỳ thành viên bình thường nào của dân tộc ấy có thể ngờ tới) chính là điều được gọi là “một giai đoạn đặc thù trong công cuộc cứu vớt thế giới”. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng người Do Thái cần được cứu vớt. Họ cần được cứu rỗi (không theo cách một tín đồ Cơ Đốc giáo theo chủ nghĩa chính thống có thể nghĩ, mà theo một ý nghĩa tâm lý sâu xa hơn nhiều).

178. The salvaging required has nothing to do with physical conditions. These, the Jews have always been able to manage, due to their close ties to the first and third rays and to the practical, material signs Capricorn (the personality sign of the Jews) and to Virgo (their soul sign). Their attention is already focussed on material matters and in them they have always succeeded, often to the detriment of the higher spiritual values, we are told.

178. Sự cứu vớt cần thiết không liên quan đến những điều kiện hồng trần. Người Do Thái luôn có thể xoay xở được những điều kiện này, nhờ mối liên hệ chặt chẽ của họ với cung một và cung ba, cũng như với những dấu hiệu thực tế, thiên về vật chất là Ma Kết (dấu hiệu phàm ngã của người Do Thái) và Xử Nữ (dấu hiệu linh hồn của họ). Sự chú ý của họ vốn đã tập trung vào các vấn đề vật chất, và họ luôn thành công trong những lĩnh vực ấy, thường gây tổn hại cho các giá trị tinh thần cao hơn, như chúng ta được cho biết.

I have said enough here to enable you again to resume your active position as a pledged initiate-disciple (a position which your co-disciples have ever recognised as yours), and I have shown you definitely how valuable has been to you the last immediate experience.

Ở đây, Tôi đã nói đủ để giúp em trở lại vị trí hoạt động của một điểm đạo đồ-đệ tử đã cam kết (vị trí mà các đệ tử đồng môn vẫn luôn công nhận là của em), và Tôi đã chỉ rõ trải nghiệm gần đây nhất quý giá đối với em biết bao.

179. FCD has been through experiences of tremendous difficulty during the war. He has been somewhat overcome by conditions and circumstance, as DK has been describing. This letter, with its potent reminder, is written in order to strengthen him and help him get “back on track”.

179. FCD đã trải qua những trải nghiệm vô cùng khó khăn trong chiến tranh. Như Chân sư DK đã mô tả, ông phần nào bị các điều kiện và hoàn cảnh lấn át. Bức thư này, với lời nhắc nhở mạnh mẽ, được viết để củng cố ông và giúp ông “trở lại đúng hướng”.

180. It is here that we learn something definite about FCD’s spiritual status. He is a “pledged initiate-disciple”. DK is naming him as an “initiate”—presumably an initiate of the third degree. All initiates, we realize, are still disciples, and Master DK often calls Himself a disciple.

180. Chính tại đây, chúng ta biết được một điều xác định về địa vị tinh thần của FCD. Ông là một “đệ tử-điểm đạo đồ đã lập nguyện”. Chân sư DK gọi ông là một “điểm đạo đồ”—có lẽ là một điểm đạo đồ bậc ba. Chúng ta nhận ra rằng tất cả các điểm đạo đồ vẫn là đệ tử, và Chân sư DK thường gọi chính Ngài là một đệ tử.

181. We note as well that FCD is a pledged initiate-disciple. There are many levels on which a pledge can be given. We certainly know he is beyond the spiritual status of the normal pledged disciple, because such a disciple may not even be “accepted” in the technical sense. The use of the word “pledged”, in this context, suggests that FCD is pledged to the initiate life, and to the duties which confront the initiate once he has passed the third degree.

181. Chúng ta cũng lưu ý rằng FCD là một đệ tử-điểm đạo đồ đã lập nguyện. Có nhiều cấp độ mà người ta có thể lập nguyện. Chắc chắn chúng ta biết rằng ông đã vượt qua địa vị tinh thần của một đệ tử đã lập nguyện thông thường, vì một đệ tử như vậy thậm chí có thể chưa được “chấp nhận” theo nghĩa chuyên môn. Việc dùng từ “đã lập nguyện” trong ngữ cảnh này gợi ý rằng FCD đã lập nguyện sống đời điểm đạo đồ và thực hiện những bổn phận đặt ra trước điểm đạo đồ một khi vị ấy đã vượt qua bậc ba.

182. We will have to look for the time when the third degree may have been taken, confirmed or recapitulated (a less likely possibility). It may be that the interview in the Master’s Ashram in 1942 coincided, perhaps closely, with the attainment of that degree. We will attempt to see.

182. Chúng ta sẽ phải tìm thời điểm mà ông có thể đã đạt đến, được xác nhận, hoặc ôn lại bậc ba (khả năng cuối ít có thể xảy ra hơn). Có thể cuộc diện kiến trong ashram của Chân sư vào năm 1942 đã trùng hợp, có lẽ khá sát, với việc đạt đến bậc ấy. Chúng ta sẽ cố gắng tìm hiểu.

183. One point about initiate status is most important. A true initiate will never declare himself. Were he to do so, it would assure to the watching world that he could not be that which he claims to be. No initiate makes any claims. It is the world that must declare him. In this case, a declaration of sorts has come from FCD’s co-disciples who are in the best possible position to recognize his attainments. It is they who have recognized him as an “initiate-disciple”, and have done so, apparently, from the first.

183. Có một điểm về địa vị điểm đạo đồ hết sức quan trọng. Một điểm đạo đồ chân chính sẽ không bao giờ tự tuyên bố địa vị của mình. Nếu làm vậy, y sẽ khiến thế giới đang quan sát biết chắc rằng y không thể là người như mình tự nhận. Không điểm đạo đồ nào tự nhận điều gì. Chính thế giới phải xác nhận y. Trong trường hợp này, một sự xác nhận nào đó đã đến từ các đệ tử đồng môn của FCD, những người ở vị thế thuận lợi nhất để nhận ra các thành tựu của ông. Chính họ đã nhìn nhận ông là một “đệ tử-điểm đạo đồ”, và dường như đã làm vậy ngay từ đầu.

184. DK has tried to put FCD’s experience of suffering in context. He has been passing through the fires and has suffered intensely. DK suggests that all this is part of the initiatory experience, for which FCD should be grateful. Fortunately he has the lofty spiritual perspective to readily understand Master DK’s view on this matter.

184. Chân sư DK đã cố gắng đặt trải nghiệm đau khổ của FCD vào đúng bối cảnh. Ông đã đi qua những ngọn lửa và chịu đau khổ dữ dội. Chân sư DK gợi ý rằng tất cả những điều này là một phần của trải nghiệm điểm đạo, điều mà FCD nên biết ơn. May mắn thay, ông có nhãn quan tinh thần cao cả để dễ dàng thấu hiểu quan điểm của Chân sư DK về vấn đề này.

185. We do not, it is true, know the exact meaning of “the last immediate experience”. DK could be talking about the ashramic interview. In a larger sense, however, it could be, as suggested, the experiences of great difficulties through which FCD has been passing and which have been preparing him for his first assignment on the Path of World Saviours.

185. Quả thật, chúng ta không biết ý nghĩa chính xác của “trải nghiệm gần đây nhất”. Chân sư DK có thể đang nói đến cuộc diện kiến trong ashram. Tuy nhiên, theo nghĩa rộng hơn, như đã gợi ý, đó có thể là những trải nghiệm vô cùng khó khăn mà FCD đã và đang trải qua, và đang chuẩn bị cho ông thực hiện nhiệm vụ đầu tiên trên Con Đường của các Đấng Cứu Thế.

A.A.B. has a very clear understanding of the Jewish problem, character, and racial trends; she has learnt in the ashramic instructions to which she has applied herself, something of the esoteric history of the Jewish peoples; their place, position, background and destiny is known to her in broad and general outline and in the Ashram of K.H. where you meet freely and frequently and at other times, you should talk freely with her. There are no barriers up between you two not only because you are co-disciples in the same Ashram but because your attitude to the Jewish problem is the same and you are both aware of the point of view of K.H. and of myself. Though you are a trained disciple of K.H., you are still working in my Ashram, as I remain in close touch with world affairs in relation to their immediate working out, whilst K.H., being a Chohan, is more active in the handling of the deeper incentives and purposes, and of those matters which will not materialise until such time as the work done by me, and others associated with the Great White Lodge and of like rank and of lesser rank, is completed or at least well on the way to fruition.

A.A.B. thấu hiểu rất rõ vấn đề Do Thái, tính cách và các khuynh hướng dân tộc của họ; qua những huấn thị trong ashram mà bạn ấy đã chuyên tâm học hỏi, bạn ấy đã biết được đôi điều về lịch sử nội môn của các cộng đồng Do Thái; bạn ấy biết những nét khái quát, tổng thể về chỗ đứng, vị thế, bối cảnh và vận mệnh của họ và trong ashram của Chân sư KH, nơi em và bạn ấy gặp nhau một cách tự do và thường xuyên, cũng như vào những lúc khác, em nên trò chuyện cởi mở với bạn ấy. Không có rào cản nào giữa hai em, không chỉ vì các em là đệ tử đồng môn trong cùng một ashram, mà còn vì thái độ của các em đối với vấn đề Do Thái là như nhau, và cả hai đều biết quan điểm của Chân sư KH và của Tôi. Dù là một đệ tử đã được Chân sư KH huấn luyện, em vẫn đang làm việc trong ashram của Tôi, vì Tôi vẫn giữ liên hệ mật thiết với các vấn đề thế giới trong sự triển khai trước mắt của chúng, còn Chân sư KH, là một Đế Quân, hoạt động nhiều hơn trong việc xử lý những động lực và mục đích sâu xa hơn, cùng những vấn đề sẽ chưa hiện hình cho đến khi công việc do Tôi và những vị khác có liên hệ với Thánh đoàn, cùng cấp bậc hoặc cấp bậc thấp hơn, được hoàn tất hoặc ít nhất đã tiến gần đến chỗ thành tựu.

186. FCD and AAB are fellow disciples in Master KH’s Ashram, with AAB holding, perhaps, a slightly senior rank.

186. FCD và AAB là những đệ tử đồng môn trong ashram của Chân sư KH, và có lẽ AAB có thâm niên cao hơn đôi chút.

187. Although it might not be suspected, and although AAB has often been accused of anti-Semitism, DK on several occasions assures us of AAB’s love for the Jewish people and for her deep understanding of their psyche and their situation. She has, apparently, studied the matter ashramically and esoterically. She has something of value to communicate to FCD.

187. Dù người ta có thể không ngờ tới, và dù AAB thường bị cáo buộc là bài Do Thái, Chân sư DK nhiều lần khẳng định với chúng ta tình thương của AAB dành cho dân tộc Do Thái và sự thấu hiểu sâu sắc của Bà về tâm lý cũng như hoàn cảnh của họ. Dường như Bà đã nghiên cứu vấn đề này trong ashram và về mặt nội môn. Bà có điều giá trị để truyền đạt cho FCD.

188. We learn something of the manner of communication between chelas in the Ashram of the same Master. In this case, it necessarily occurs on the inner places and not geographically, for FCD and AAB are much separated in ‘space’.

188. Chúng ta biết thêm đôi điều về cách giao tiếp giữa các đệ tử trong ashram của cùng một Chân sư. Trong trường hợp này, sự giao tiếp ấy tất yếu diễn ra ở những nơi chốn bên trong chứ không theo vị trí địa lý, vì FCD và AAB cách xa nhau về ‘không gian’.

189. There is the implication, as well, that FCD is consciously familiar with the Ashram of Master KH and frequents that Ashram, presumably during the hours of sleep, or in deep meditation. Conversations between co-disciples can be held ‘there’, and DK promotes the advisability of such.

189. Điều này cũng hàm ý rằng FCD quen thuộc một cách hữu thức với ashram của Chân sư KH và thường xuyên lui tới ashram ấy, có lẽ trong những giờ ngủ hoặc trong thiền định sâu. Các cuộc trò chuyện giữa những đệ tử đồng môn có thể diễn ra ‘ở đó’, và Chân sư DK khuyến khích việc này.

190. It would seem that all four—KH, DK, AAB and FCD—see the problem from a similar perspective. FCD, it seems, has much to learn from AAB about the matter.

190. Dường như cả bốn vị—Chân sư KH, Chân sư DK, AAB và FCD—đều nhìn vấn đề từ một nhãn quan tương tự. Có vẻ FCD còn nhiều điều cần học từ AAB về vấn đề này.

191. An important difference between the work of a Master and a Chohan is brought forward. A Master is still in close touch with world affairs and with their immediate working out. A Chohan is focussed on deeper issues which will not work out until Masters and workers of lesser rank have done their task. The Chohan concerns Himself with “deeper incentives and purposes”. We can see the Chohans closer relation to the Divine Will and to the incentives which motivate desire.

191. Một khác biệt quan trọng giữa công việc của một Chân sư và một Đấng Chohan được nêu ra. Một Chân sư vẫn giữ mối liên hệ chặt chẽ với các sự vụ thế giới và diễn biến trước mắt của chúng. Một Đấng Chohan tập trung vào những vấn đề sâu xa hơn, vốn sẽ chưa thể triển khai cho đến khi các Chân sư và những người hoạt động ở cấp bậc thấp hơn hoàn thành nhiệm vụ của mình. Đấng Chohan quan tâm đến “những động lực và mục đích sâu xa hơn”. Chúng ta có thể thấy mối liên hệ mật thiết hơn của các Đấng Chohan với Ý Chí thiêng liêng và với những động lực thúc đẩy dục vọng.

192. What is important for FCD to grasp is that, though he is a trained disciple of KH, he is, nevertheless, working in the Ashram of Master DK.

192. Điều quan trọng mà FCD cần nắm bắt là, mặc dù ông là một đệ tử đã được huấn luyện của Chân sư KH, ông vẫn đang làm việc trong ashram của Chân sư DK.

193. It is also apparent that FCD is beginning a process of ashramic education which is necessary before he can carry out the task of racial salvage to which he has assented (and to which, it seems, he has been assigned by his soul/Solar Angel).

193. Cũng rõ ràng là FCD đang bắt đầu một tiến trình giáo dục trong ashram, điều cần thiết trước khi ông có thể thực hiện nhiệm vụ cứu vớt dân tộc mà ông đã đồng thuận đảm nhận (và dường như linh hồn/Thái dương Thiên Thần của ông đã giao cho ông).

The work assigned to you, my beloved brother, will be work of profoundest difficulty. You will meet with rebuff from those you seek to help and from your own race; you will find very little understanding; you will meet with encouragement and assistance from the enlightened among the New Group of World Servers who are non-Hebrew in origin; this will make your work possible but it will also greatly handicap you. The intense pride of the Jewish people, their fixed and ancient stubbornness (closely allied in their case to the instinct of self-preservation), their mental approach to all subjects, their inherent weakness in the face of difficult situations which leads them ever to choose the easy way out and not the strong way, and the height of their racial walls will tend at first to baffle you. Their natural separativeness, based on either sensitivity or orthodoxy, will create difficulties and make your task extremely hard. The beauty of their creative life, their ability to bring through ideas into forms of grandeur on the physical plane, their close unshatterable family relations, their dogged adherence to their divine heritage, so-called, their sympathetic handling of all life materials and their philanthropy and group enterprises for welfare and helpfulness are great spiritual assets with which you must work. Their vices must be transmuted into virtues and their virtues must be expanded into world usefulness. They must be lifted out of the past which they ever over-emphasised and the future must be held before them as one of radiance.

Huynh đệ yêu quý của Tôi, công việc giao cho em sẽ vô cùng khó khăn. Em sẽ gặp sự khước từ của những người em tìm cách giúp đỡ và từ chính dân tộc em; em sẽ tìm thấy rất ít sự thấu hiểu; em sẽ nhận được sự khích lệ và trợ giúp từ những người giác ngộ trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian không có nguồn gốc Do Thái, và điều này sẽ giúp em thực hiện được công việc nhưng cũng sẽ gây trở ngại rất lớn cho em. Lòng kiêu hãnh mãnh liệt của dân tộc Do Thái, sự cố chấp lâu đời và ăn sâu của họ (trong trường hợp của họ, gắn chặt với bản năng tự bảo tồn), cách họ tiếp cận mọi vấn đề bằng trí tuệ, sự yếu đuối cố hữu trước những hoàn cảnh khó khăn khiến họ luôn chọn lối thoát dễ dàng thay vì con đường đòi hỏi sức mạnh, cùng chiều cao của những bức tường dân tộc mà họ dựng lên, thoạt đầu sẽ có xu hướng khiến em bối rối. Tính chia rẽ tự nhiên của họ, dựa trên sự nhạy cảm hoặc tính chính thống, sẽ tạo ra những khó khăn và khiến nhiệm vụ của em vô cùng gian nan. Vẻ đẹp trong đời sống sáng tạo của họ, khả năng đưa ý tưởng thành những hình tướng tráng lệ trên cõi hồng trần, những mối quan hệ gia đình gắn bó không gì phá vỡ được, sự kiên trì bám giữ điều họ gọi là di sản thiêng liêng của mình, cách họ xử lý mọi chất liệu của đời sống với sự cảm thông, cùng tinh thần từ thiện và những hoạt động nhóm vì phúc lợi và sự trợ giúp, là những nguồn lực tinh thần lớn lao mà em phải vận dụng. Những thói xấu của họ phải được chuyển hoá thành đức hạnh, và những đức hạnh của họ phải được mở rộng để trở nên hữu ích cho thế giới. Họ phải được nâng ra khỏi quá khứ mà họ luôn quá nhấn mạnh, và phải cho họ thấy một tương lai rạng ngời.

194. DK enters realistically into the nature of the work asked of FCD; it will “be work of the profoundest difficulty”. FCD is to expect to be rebuffed and rejected. This was the fate of the Christ when He sought to help humanity: “He was despised and rejected of men”.

194. Chân sư DK xem xét một cách thực tế bản chất công việc mà FCD được yêu cầu thực hiện; đó sẽ “là công việc vô cùng khó khăn”. FCD phải sẵn sàng đón nhận sự khước từ và chối bỏ. Đây từng là số phận của Đức Christ khi Ngài tìm cách giúp đỡ nhân loại: “Ngài bị người đời khinh miệt và chối bỏ”.

195. DK is playing the role of seer; He knows, along general lines, what will eventuate as FCD begins to carry out His mission.

195. Chân sư DK đang đảm nhiệm vai trò nhà thông nhãn; Ngài biết, trên những nét khái quát, điều gì sẽ xảy ra khi FCD bắt đầu thực hiện sứ mệnh của ông.

196. The enlightened among the NGWS, especially those who are not Hebrew in origin, will encourage and assist, but this may also prove a handicap. DK does not say why, but we may presume that the Jewish group would not appreciate one who is encouraged (by well-meaning Gentiles) to help the Jews change their ancient ways.

196. Những người giác ngộ trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, nhất là những người không có nguồn gốc Do Thái, sẽ khích lệ và trợ giúp, nhưng điều này cũng có thể trở thành một trở ngại. Chân sư DK không nói vì sao, nhưng chúng ta có thể cho rằng cộng đồng Do Thái sẽ không đánh giá cao một người được những người ngoài Do Thái có thiện ý khuyến khích giúp người Do Thái thay đổi những nếp sống lâu đời của họ.

197. The Tibetan now launches into a fair-minded assessment of the weakness and virtues of the Jewish people. The first list would be exceedingly unpalatable to most Jewish readers; the second list would meet, I think, with their gratified recognition.

197. Giờ đây, Chân sư Tây Tạng bắt đầu đánh giá một cách công tâm những điểm yếu và đức hạnh của dân tộc Do Thái. Danh sách thứ nhất hẳn sẽ hết sức khó chấp nhận đối với phần lớn độc giả Do Thái; tôi nghĩ danh sách thứ hai sẽ khiến họ hài lòng thừa nhận.

198. Pride, stubbornness, overemphasis on mentality, expediency, walls and barriers—these liabilities result from the combination of first and third rays and a deficiently of the second ray.

198. Kiêu hãnh, cố chấp, quá nhấn mạnh trí tuệ, tính cầu tiện, những bức tường và rào cản—những nhược điểm này bắt nguồn từ sự kết hợp giữa cung một và cung ba cùng sự thiếu hụt cung hai.

199. DK does not write as a critic, but one with deep understanding. He knows that the traits of fixity and stubbornness are linked to survival issues. He knows that what He calls the “natural separativeness” of the Jews is based not only on orthodoxy but on sensitivity. There is much of the contradictory fourth ray in the Jewish people, and hence their “baffling” nature.

199. Chân sư DK không viết với tư cách một người chỉ trích, mà là một người thấu hiểu sâu sắc. Ngài biết rằng những nét kiên định và cố chấp có liên hệ với các vấn đề sinh tồn. Ngài biết rằng điều Ngài gọi là “tính chia rẽ tự nhiên” của người Do Thái không chỉ dựa trên tính chính thống mà còn trên sự nhạy cảm. Dân tộc Do Thái mang nhiều đặc tính của cung bốn đầy mâu thuẫn, vì thế mà bản chất của họ “gây bối rối”.

200. On what basis does Master DK speak? He knows the ancient history of the Jewish people, far more than they do. As a Master, He is in a position to see what even the highly intelligent human being cannot see. He bases His assessment on the “reading of the record”, and will thus be criticized and misunderstood, and, certainly, disbelieved. We can reject out of hand what He says, as it may seem so “far fetched”. Or, having learned to trust Him and His truthfulness in so many other matters, we may give Him the credit for knowing whereof He speaks. We may also observe and evaluate with fair-minded intelligence to see whether His assessment seems to us true or false.

200. Chân sư DK nói dựa trên cơ sở nào? Ngài biết lịch sử cổ xưa của dân tộc Do Thái nhiều hơn chính họ rất nhiều. Là một Chân sư, Ngài có khả năng thấy những điều mà ngay cả một người rất thông minh cũng không thể thấy. Ngài đặt sự đánh giá của mình trên cơ sở “đọc ký lục”, và vì vậy sẽ bị chỉ trích, hiểu lầm và chắc chắn là không được tin. Chúng ta có thể bác bỏ ngay những điều Ngài nói, vì chúng có vẻ quá “xa vời”. Hoặc, sau khi đã học cách tin tưởng Ngài và tính chân thật của Ngài trong rất nhiều vấn đề khác, chúng ta có thể tin rằng Ngài biết rõ điều mình đang nói. Chúng ta cũng có thể quan sát và đánh giá bằng trí tuệ công tâm để xem, theo chúng ta, sự đánh giá của Ngài là đúng hay sai.

201. Master DK is, however, definitely fair-minded, and He balances the liabilities of the Jewish people (as He seems them) with a list of great virtues which are surely spiritual in nature and which can be used on behalf of humanity, and which, in fact, are already in use.

201. Tuy nhiên, Chân sư DK rõ ràng rất công tâm, và Ngài cân bằng những nhược điểm của dân tộc Do Thái (theo cách Ngài nhìn nhận) bằng một danh sách những đức hạnh lớn lao, chắc chắn mang bản chất tinh thần, có thể được vận dụng vì nhân loại, và thực ra đã được vận dụng.

202. The Jews have a creative life of great beauty; they have a sense of grandeur in manifestation; their family relations are so close as to be unshatterable, and they adhere to their divine heritage as they conceive it; as well, they are generous, philanthropic and support group enterprises for human welfare; they also handle life materials sympathetically (a most interesting quality). We can never accuse Master DK or AAB of “hating the Jews”. They see the soul and spirit of Judea in all its beauty and they affirm that beauty.

202. Người Do Thái có một đời sống sáng tạo vô cùng đẹp đẽ; họ có cảm thức về sự tráng lệ trong biểu hiện; các mối quan hệ gia đình của họ gắn bó đến mức không gì phá vỡ được, và họ gắn bó với di sản thiêng liêng theo cách họ quan niệm; họ cũng rộng lượng, có tinh thần từ thiện và ủng hộ những hoạt động nhóm vì phúc lợi con người; họ còn xử lý các chất liệu của đời sống với sự cảm thông (một phẩm tính hết sức thú vị). Chúng ta không bao giờ có thể cáo buộc Chân sư DK hay AAB là “căm ghét người Do Thái”. Các Ngài và Bà thấy linh hồn và tinh thần của xứ Do Thái trong toàn bộ vẻ đẹp của nó và khẳng định vẻ đẹp ấy.

203. FCD is to help release the Jews from their vices, help them transmute vices into virtues, and assisted them to see how their virtues can be applied in “world usefulness”. The Jewish past is to be deemphasized and the possibility of a future “of radiance” strongly emphasized.

203. FCD phải giúp giải thoát người Do Thái khỏi những thói xấu, giúp họ chuyển hoá thói xấu thành đức hạnh, và trợ giúp họ thấy được cách vận dụng những đức hạnh của mình để “trở nên hữu ích cho thế giới”. Cần giảm bớt sự nhấn mạnh vào quá khứ Do Thái và nhấn mạnh mạnh mẽ khả năng về một tương lai “rạng ngời”.

204. The plan is clear, but the obstacles are formidable to say the least.

204. Kế hoạch đã rõ, nhưng ít nhất cũng phải nói rằng những chướng ngại là rất lớn.

The Jewish dreams of an Utopia wherein they return to their ancient home must be relinquished; the goal of the orthodox Jew for centuries has been a basically material one – the repossession of territory to which they have had no rights for many many centuries. The trumpet call to them which you and those who help you must sound is that of the Kingdom of God without location but to be found everywhere as is the Jew who can, if he so choose, be the symbol of that spiritual race of men – of every nation and creed – who love and think divinely and who are to be found scattered in every nation and race and in every part of the planet. The symbol governing all Jewish thought should be that of the exodus but this time not the exodus out of Egypt, or the exile from Palestine and the great dispersal from the Mesopotamia valley, but the dispersal of the Sons of God throughout the world with the emphasis upon spiritual purpose and not upon material possessions and upon the fact of divine parentage (along with all other races) instead of the orthodox belief in the fact of the Jew being the Chosen People.

Những giấc mơ của người Do Thái về một xã hội lý tưởng, nơi họ trở về quê hương cổ xưa, phải được từ bỏ; suốt nhiều thế kỷ, mục tiêu của người Do Thái chính thống về cơ bản là một mục tiêu vật chất—giành lại lãnh thổ mà họ đã không còn quyền sở hữu trong rất nhiều thế kỷ. Tiếng kèn hiệu mà em và những người trợ giúp em phải xướng lên để kêu gọi họ là tiếng gọi của Thiên Giới, không định vị ở một nơi nào mà có thể tìm thấy khắp nơi, cũng như người Do Thái, nếu muốn, có thể là biểu tượng của lớp người tinh thần ấy—thuộc mọi quốc gia và tín ngưỡng—những người yêu thương và suy nghĩ một cách thiêng liêng, sống rải rác trong mọi quốc gia, mọi dân tộc và mọi miền trên hành tinh. Biểu tượng chi phối toàn bộ tư tưởng Do Thái nên là cuộc xuất hành, nhưng lần này không phải cuộc xuất hành ra khỏi Ai Cập, hay cuộc lưu đày khỏi Palestine và cuộc phân tán lớn từ thung lũng Lưỡng Hà, mà là sự phân tán của các Con của Thượng đế khắp thế giới, nhấn mạnh mục đích tinh thần thay vì của cải vật chất, và nhấn mạnh nguồn gốc thiêng liêng của họ (cũng như của mọi dân tộc khác), thay cho niềm tin chính thống rằng người Do Thái là Dân tộc Được Chọn.

205. We see that DK is engaged in discussing “world work” with FCD; world work is the true preoccupation of the Ashram. FCD has transcended the phase in which he needs to be reminded of his own personal liabilities. As a profound psychologist, he understands them all too well. The discussion, instead, focusses on the work to be done and how it is to be done.

205. Chúng ta thấy Chân sư DK đang bàn với FCD về “công việc thế giới”; công việc thế giới là mối quan tâm đích thực của ashram. FCD đã vượt qua giai đoạn cần được nhắc nhở về những nhược điểm cá nhân của mình. Là một nhà tâm lý học sâu sắc, ông hiểu chúng quá rõ. Thay vào đó, cuộc thảo luận tập trung vào công việc cần thực hiện và cách thức thực hiện công việc ấy.

206. The concept of Utopia exists strongly in the Jewish consciousness. Much needed, however, is a reinterpretation of the meaning of Utopia. It must not be understood in material terms. The “repossession of territory” has nothing to do with the real meaning of Utopia or of Jerusalem (for which “Shamballa” is another name).

206. Quan niệm về một xã hội lý tưởng hiện diện mạnh mẽ trong tâm thức Do Thái. Tuy nhiên, điều rất cần thiết là diễn giải lại ý nghĩa của xã hội lý tưởng ấy. Không được hiểu nó theo nghĩa vật chất. Việc “giành lại lãnh thổ” không liên quan gì đến ý nghĩa đích thực của xã hội lý tưởng hay của Jerusalem (mà “Shamballa” là một tên gọi khác).

207. What really is the Kingdom of God? To occultists it is found on triadal and monadic dimensions which are non-local. ‘Place’ has nothing to do with the Kingdom of God or with the “Promised Land” (which is to be found everywhere).

207. Thiên Giới thực sự là gì? Đối với các nhà huyền bí học, Thiên Giới hiện hữu trên những chiều kích Tam Nguyên Tinh Thần và chân thần vốn phi định xứ. “Nơi chốn” không liên quan gì đến Thiên Giới hay “Đất Hứa” (vốn có thể tìm thấy ở khắp mọi nơi).

208. DK offers great possibilities for the Jewish people if they can spiritualize the vision of their objectives. They can become “the symbol of that spiritual race of men – of every nation and creed – who love and think divinely and who are to be found scattered in every nation and race and in every part of the planet”. This is a high destiny and worthy of the aspiration of ever progressive Jewish person.

208. Chân sư DK mở ra những khả năng lớn lao cho dân tộc Do Thái nếu họ có thể tinh thần hóa tầm nhìn về các mục tiêu của mình. Họ có thể trở thành “biểu tượng của cộng đồng nhân loại tinh thần ấy—thuộc mọi quốc gia và tín ngưỡng—những người yêu thương và suy nghĩ một cách thiêng liêng, hiện diện rải rác trong mọi quốc gia, mọi dân tộc và mọi nơi trên hành tinh”. Đây là một vận mệnh cao cả, xứng đáng với khát vọng của mỗi người Do Thái luôn hướng tới sự tiến bộ.

209. We see DK taking certain great themes in Jewish history, the “Exodus”, the “Diaspora”, Utopia-as-Jerusalem and the “Promised Land”, and reinterpreting them in far more spiritual and philosophical terms. The third ray (and the first solar system under the third ray) has contributed to a heavy layer of materiality in the Jewish consciousness. This layer must be lifted if the process of redemption is to succeed.

209. Chúng ta thấy Chân sư DK lấy một số chủ đề lớn trong lịch sử Do Thái—cuộc “Xuất Hành”, cuộc “Ly Tán”, xã hội lý tưởng dưới hình ảnh Jerusalem và “Đất Hứa”—rồi diễn giải lại chúng theo những ý nghĩa tinh thần và triết học sâu sắc hơn nhiều. Cung ba (và hệ mặt trời thứ nhất chịu ảnh hưởng của cung ba) đã góp phần tạo nên một lớp vật chất tính nặng nề trong tâm thức Do Thái. Phải gỡ bỏ lớp này thì tiến trình cứu chuộc mới có thể thành công.

210. A great and new thoughtform is to be substituted for the out-worn world-view uncritically accepted and constantly reemphasized by so many Jews. The spiritual Exodus is to be the Exodus into the world (and not out of the Land of Egypt) so that the Sons of God may be found everywhere and understood as One World Humanity. Spiritual purpose is to replace the ancient emphasis upon material possessions, and the divine parentage of all races is to be understood, and not alone the separative idea of one “Chosen People”.

210. Một hình tư tưởng mới mẻ và vĩ đại phải thay thế thế giới quan lỗi thời mà rất nhiều người Do Thái đã chấp nhận không suy xét và liên tục nhấn mạnh lại. Cuộc Xuất Hành tinh thần phải là cuộc Xuất Hành đi vào thế giới (chứ không phải ra khỏi Đất Ai Cập), để những Người Con của Thượng đế có thể hiện diện khắp nơi và được thấu hiểu là Một Nhân Loại Thế Giới Duy Nhất. Mục đích tinh thần phải thay thế sự chú trọng từ xa xưa vào của cải vật chất, và cần thấu hiểu nguồn gốc thiêng liêng của mọi dân tộc, thay vì chỉ có ý tưởng chia rẽ về một “Dân Tộc Được Tuyển Chọn”.

211. This is a tremendous task in the reconditioning of consciousness, but is inevitable if there is to be peace in the world.

211. Đây là một nhiệm vụ to lớn trong việc định hình lại tâm thức, nhưng là điều tất yếu nếu thế giới muốn có hòa bình.

212. We see DK offering FCD the main ideas for his approach to the Jews. AAB, who has studied the problem much, will also have ideas of value. As well, FCD must engage in much study before he can successfully carry out his first “assignment”. It must have seemed to him a daunting prospect.

212. Chúng ta thấy Chân sư DK trao cho FCD những ý tưởng chính để tiếp cận người Do Thái. Bà AAB, vốn đã nghiên cứu nhiều về vấn đề này, cũng sẽ có những ý tưởng giá trị. Đồng thời, FCD phải nghiên cứu rất nhiều trước khi có thể thực hiện thành công “nhiệm vụ” đầu tiên của mình. Hẳn ông đã thấy viễn cảnh ấy thật đáng ngại.

Are you big enough for this inadequately outlined task, my brother? Is your stamina, your inner spiritual orientation and your fixed psychic determination adequate to the undertaking? Can you do it with your present psychic equipment, or must you build new bodies for integration, use and service? The decision rests with you, for those who tread the Way of a World Saviour are left peculiarly free (owing to certain difficulties in time and space within the planetary life) and must work as they will, with what they choose to offer and with a trained understanding of their task.

Huynh đệ của Tôi, em có đủ tầm vóc để đảm đương nhiệm vụ mới chỉ được phác thảo sơ lược này không? Sức bền, định hướng tinh thần nội tâm và quyết tâm thông linh kiên định của em có đủ cho công việc ấy không? Em có thể thực hiện với bộ máy thông linh hiện có, hay phải xây dựng những thể mới để tích hợp, sử dụng và phụng sự? Quyết định thuộc về em, vì những ai bước trên Con Đường của một Đấng Cứu Thế đều được dành cho sự tự do đặc biệt (do những khó khăn nhất định về thời gian và không gian trong sự sống hành tinh), và phải làm việc theo ý chí của mình, với những gì họ chọn dâng hiến và với sự thấu hiểu đã qua rèn luyện về nhiệm vụ của họ.

213. We return to text that was included in DINA II. We can see, however, how little we would understand of the real process without the inclusion of some of the missing text.

213. Chúng ta trở lại phần văn bản đã được đưa vào DINA II. Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy mình sẽ thấu hiểu tiến trình thực sự ít đến mức nào nếu không bổ sung một phần văn bản bị thiếu.

214. DK admits that the task He has outlined is “inadequately” outlined, but it will have to do for the moment. He asks FCD about his scope, his stamina, his “inner spiritual orientation” and his “fixed psychic determination”.

214. Chân sư DK thừa nhận rằng nhiệm vụ Ngài phác họa vẫn còn “sơ lược”, nhưng tạm thời phải chấp nhận như vậy. Ngài hỏi FCD về tầm vóc, sức bền bỉ, “định hướng tinh thần bên trong” và “quyết tâm thông linh kiên định” của ông.

215. It must be clear how fitting it is to receive such an assignment when transiting Saturn is passing through the twelfth house associated with Pisces and Saviourship, and also with “spiritual responsibility”.

215. Hẳn phải thấy rõ rằng việc nhận một nhiệm vụ như thế phù hợp đến mức nào khi Sao Thổ quá cảnh đang đi qua nhà mười hai, vốn gắn với Song Ngư và vai trò Đấng Cứu Thế, cũng như với “trách nhiệm tinh thần”.

216. Then a decisive question is asked and one that must have given FCD great pause: “Can you do it with your present psychic equipment, or must you build new bodies for integration, use and service?” There appears to be no escape from this assignment. It will be waiting for FCD in his next incarnation whether or not he accepts it in the present one. But the opportunity for present acceptance does definitely exist, and a head start on future assignments can now begin.

216. Rồi một câu hỏi mang tính quyết định được đặt ra, hẳn đã khiến FCD phải suy nghĩ rất lâu: “Em có thể làm việc đó với bộ máy thông linh hiện có của mình, hay em phải xây dựng những thể mới của phàm ngã để tích hợp, sử dụng và phụng sự?” Dường như không thể tránh khỏi nhiệm vụ này. Nó sẽ chờ FCD trong kiếp nhập thể kế tiếp, dù ông có chấp nhận nó trong kiếp hiện tại hay không. Nhưng cơ hội chấp nhận ngay trong hiện tại chắc chắn đang có, và giờ đây ông có thể bắt đầu chuẩn bị sớm cho những nhiệm vụ tương lai.

217. Many of us know what we have to do. The time equation, however, is in our hands. Shall we seize the present opportunity or shall we hesitate, perhaps until a future incarnation presents the opportunity again.

217. Nhiều người trong chúng ta biết mình phải làm gì. Tuy nhiên, yếu tố thời gian nằm trong tay chúng ta. Chúng ta sẽ nắm lấy cơ hội hiện tại hay do dự, có lẽ cho đến khi một kiếp nhập thể tương lai lại mang đến cơ hội ấy.

218. DK emphasizes the freedom surrounding the decision to be made. No one will compel FCD to choose as the Masters would obviously have him choose.

218. Chân sư DK nhấn mạnh sự tự do trong quyết định sắp được đưa ra. Không ai sẽ ép buộc FCD lựa chọn theo cách mà hiển nhiên các Chân sư mong muốn ông lựa chọn.

219. We are told why those upon this very difficult path are left “peculiarly free” as they attempt to decide whether they will accept salvaging assignments; there are “certain difficulties in time and space within the planetary life”. Perhaps, this does not tell us much, but enough to know that a World Saviour must deal with the mysteries of both heart and will. The will must be left as free as possible, so that the service rendered may be as deep and thorough as possible.

219. Chúng ta được cho biết vì sao những người trên con đường vô cùng khó khăn này được dành cho sự “tự do đặc biệt” khi cố gắng quyết định liệu họ có chấp nhận những nhiệm vụ cứu vớt hay không; có “một số khó khăn về thời gian và không gian trong sự sống hành tinh”. Có lẽ điều này không cho chúng ta biết nhiều, nhưng cũng đủ để biết rằng một Đấng Cứu Thế phải xử lý những huyền nhiệm của cả trái tim lẫn ý chí. Phải dành cho ý chí sự tự do lớn nhất có thể, để việc phụng sự có thể sâu sắc và trọn vẹn nhất có thể.

220. On this particular path, all is voluntary. World Saviourship is related to Pisces and to Shamballa. The will is a deep theme in the Piscean experience and Shamballa is the ‘Home of Will’ (“The Centre where the Will of God is Known”). Perhaps we can somewhat intuit why the will of a potential World Saviour must be left inviolate.

220. Trên con đường đặc biệt này, mọi điều đều tự nguyện. Vai trò Đấng Cứu Thế liên hệ với Song Ngư và Shamballa. Ý chí là một chủ đề sâu xa trong trải nghiệm Song Ngư, còn Shamballa là “Ngôi Nhà của Ý Chí” (“Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế”). Có lẽ chúng ta có thể phần nào trực nhận vì sao ý chí của một Đấng Cứu Thế tiềm năng phải được giữ bất khả xâm phạm.

221. In the context of considering FCD’s first “assignment”, it may be significant to realize that (probably in 1951 or just after) he established the “Foundation for an Italian Union for Progressive Judaism”. Little is reported about this foundation, and mention of its existence was found only in an obscure German summary of the highpoints of FCD’s life. It may reasonably be said, however, that the establishment of such a Foundation can be seen as directly correlated with the decision he was asked to make as a result of his interview with Master KH in 1942.

221. Khi xem xét “nhiệm vụ” đầu tiên của FCD, có lẽ điều đáng chú ý là ông đã thành lập “Quỹ vì một Liên Hiệp Do Thái Giáo Tiến Bộ tại Ý” (có lẽ vào năm 1951 hoặc ngay sau đó). Có rất ít thông tin về quỹ này, và chỉ tìm thấy việc nhắc đến sự tồn tại của nó trong một bản tóm lược ít được biết đến bằng tiếng Đức về những điểm nổi bật trong cuộc đời FCD. Tuy nhiên, có thể nói một cách hợp lý rằng việc thành lập một quỹ như thế có thể được xem là liên hệ trực tiếp với quyết định mà ông được yêu cầu đưa ra sau cuộc hội kiến với Chân sư KH năm 1942.

Such was the gist of your interview with your Master. [466] You can now go forth from where you are with the endorsement of your Master, with the aid and backing of myself and of A.A.B. and, at all times, the protective aura of K.H.; and—with reverence I would call your attention to this—an aspect of the aura of the Christ is incorporated in that lesser aura.

Đó là nội dung chính trong cuộc diện kiến của em với Chân sư của mình. [466] Giờ đây, từ nơi em đang ở, em có thể tiến bước với sự tán thành của Chân sư, với sự trợ giúp và hậu thuẫn của Tôi cùng A.A.B., và luôn có hào quang che chở của Chân sư KH; và—với lòng tôn kính, Tôi muốn em chú ý đến điều này—một phương diện hào quang của Đức Christ được kết hợp trong hào quang nhỏ hơn ấy.

222. Master DK has completed His summary of that decisive interview between Master KH and His chela, FCD. It is clear that FCD has been reminded of a life-changing experience. Such inner experiences do not occur frequently; such an interview may be an once-in-a-lifetime event, even though the Ashram may be a place of frequent resort. One can only imagine the impact which such information would have on the consciousness of an initiate-disciple.

222. Chân sư DK đã hoàn tất phần tóm lược của Ngài về cuộc hội kiến mang tính quyết định giữa Chân sư KH và đệ tử của Ngài là FCD. Rõ ràng FCD đã được nhắc lại một trải nghiệm làm thay đổi cuộc đời. Những trải nghiệm nội tâm như thế không thường xuyên xảy ra; một cuộc hội kiến như thế có thể chỉ diễn ra một lần trong đời, dù ashram có thể là nơi thường lui tới. Chúng ta chỉ có thể hình dung tác động của những thông tin như thế lên tâm thức của một đệ tử-điểm đạo đồ.

223. DK seems to send FCD “forth” supported by the triple strengthening of Himself, KH and AAB. Support from the Great Lord, the Christ, is also inferred, as Master DK lets FCD know that Master KH’s aura (which always protectively surrounds FCD) contains “an aspect of the aura of the Christ”. We must pause to contemplate.

223. Dường như Chân sư DK đưa FCD “tiến bước” với sự nâng đỡ tam phân của chính Ngài, Chân sư KH và Bà AAB. Sự hỗ trợ từ Chúa Tể Vĩ Đại, Đức Christ, cũng được hàm ý, khi Chân sư DK cho FCD biết rằng hào quang của Chân sư KH (vốn luôn bao quanh bảo hộ FCD) chứa đựng “một phương diện hào quang của Đức Christ”. Chúng ta phải dừng lại để chiêm ngưỡng.

224. We cannot fail to note that—such are DK’s sense of the spiritual values and realities—when He speaks of the Christ, He does so “with reverence”. This also should give us pause.

224. Chúng ta không thể không lưu ý rằng—do ý thức sâu sắc của Chân sư DK về các giá trị và thực tại tinh thần—khi nói về Đức Christ, Ngài nói “với lòng tôn kính”. Điều này cũng khiến chúng ta phải dừng lại suy ngẫm.

In my last communication to you I stated that "love is thy note and wisdom is thy guide. You need naught else but fire." That fire, my brother, is the residue of the pure fire which is left when you have trodden upon and passed the burning ground, through the Portal into the PRESENCE [capitalized in the original]. That you have done. The fire is there, and on it you can count if you seek to destroy opposition, to burn down barriers (inherent in yourself or presented by others), and also to blaze a trail straight from your heart into the heart of others.

Trong lần trao đổi trước với em, Tôi đã nói rằng “tình thương là âm điệu của em và minh triết là người dẫn đường cho em. Em không cần gì khác ngoài lửa.” Huynh đệ của Tôi, ngọn lửa ấy là phần lửa tinh khiết còn lại sau khi em đã bước vào và vượt qua vùng đất cháy, qua Cổng vào Hiện Diện. Em đã làm được điều đó. Lửa hiện hữu ở đó, và em có thể trông cậy vào nó nếu em tìm cách phá tan sự chống đối, thiêu rụi những rào cản (vốn có trong em hoặc do người khác dựng lên), đồng thời mở một con đường rực lửa đi thẳng từ tim em vào tim người khác....

225. DK refers to one of the six sentences for pondering given in August, 1942.

225. Chân sư DK nhắc đến một trong sáu câu để suy ngẫm đã được trao vào tháng Tám năm 1942.

226. Now we see that the fire implied is not only the vital etheric fire, but a fire remaining after the burning ground has been passed.

226. Giờ đây, chúng ta thấy lửa được hàm ý không chỉ là lửa dĩ thái đầy sinh lực, mà còn là ngọn lửa còn lại sau khi đã vượt qua vùng đất cháy.

227. It is possible to relate this remaining fire not only to the fire of soul, but to the fire of spirit—electric fire.

227. Có thể liên hệ ngọn lửa còn lại này không chỉ với lửa của linh hồn, mà còn với lửa của tinh thần—Lửa Điện.

228. DK is now speaking in the ‘Language of Initiation’. ‘Pure fire” remains when one has “trodden upon and passed the burning ground, through the Portal into the PRESENCE”. We are unmistakably dealing with the third initiation, and the “Portal” is the Portal to that first solar initiation, the first real initiation from the standpoint of the Spiritual Hierarchy.

228. Giờ đây, Chân sư DK đang nói bằng “Ngôn Ngữ Điểm Đạo”. “Lửa tinh khiết” còn lại khi một người đã “bước lên và vượt qua vùng đất cháy, đi qua Cổng vào HIỆN DIỆN”. Chắc chắn chúng ta đang bàn đến lần điểm đạo thứ ba, và “Cổng” là Cổng dẫn vào cuộc điểm đạo thái dương đầu tiên ấy, cuộc điểm đạo thực sự đầu tiên theo quan điểm của Thánh đoàn.

229. FCD is told that he has indeed passed through the Portal into the PRESENCE. “That you have done.” Only a third degree initiate can do that.

229. FCD được cho biết rằng ông quả thực đã đi qua Cổng vào HIỆN DIỆN. “Điều đó em đã làm được.” Chỉ một điểm đạo đồ bậc ba mới có thể làm điều đó.

230. There is a fire beyond that Portal which is the fire of will, and is related to the first aspect and to electric fire. The description of the potency of this fire is beautiful: FCD can count on it if “you seek to destroy opposition, to burn down barriers (inherent in yourself or presented by others), and also to blaze a trail straight from your heart into the heart of others.”

230. Có một ngọn lửa bên kia Cổng ấy, đó là lửa của ý chí, liên hệ với phương diện thứ nhất và với Lửa Điện. Lời mô tả uy lực của ngọn lửa này thật đẹp: FCD có thể trông cậy vào nó nếu “em tìm cách tiêu diệt sự chống đối, thiêu rụi những rào cản (vốn có trong chính em hoặc do người khác dựng lên), đồng thời mở một con đường thẳng từ trái tim em vào trái tim người khác.”

231. What is being described is the fire of will as it serves love.

231. Điều đang được mô tả là lửa của ý chí khi phụng sự tình thương.

232. FCD had questioned whether he was strong enough, vital enough, integrated enough, to accept the assignment given to him by Master KH (and, we may infer, by his own Solar Angel). Master DK is responding in the affirmative by emphasizing for FCD the potent fire which he possesses by right of having passed the burning ground, having passed through the Portal of Initiation to the third degree, and having entered into the PRESENCE, which is spirit itself.

232. FCD từng tự hỏi liệu ông có đủ mạnh mẽ, đủ sinh lực và đủ tích hợp để chấp nhận nhiệm vụ Chân sư KH giao cho ông hay không (và, chúng ta có thể suy ra, cũng do chính Thái dương Thiên Thần của ông giao). Chân sư DK đang trả lời khẳng định bằng cách nhấn mạnh với FCD ngọn lửa đầy uy lực mà ông có quyền sở hữu nhờ đã vượt qua vùng đất cháy, đã đi qua Cổng Điểm Đạo để đạt bậc ba, và đã bước vào HIỆN DIỆN, vốn là chính tinh thần.

233. The closing symbolization suggests the ending point of the trail to be blazed: the fourth initiation, in which the heart is touched in a new way.

233. Hình ảnh biểu tượng ở cuối gợi ra điểm kết thúc của con đường cần mở: lần điểm đạo thứ tư, trong đó trái tim được chạm đến theo một cách mới.

234. FCD will need this fire as he seeks to win the hearts of the Jewish people. Only if their heart is awakened will they accept the redemptive world view he will seek to offer.

234. FCD sẽ cần ngọn lửa này khi tìm cách chinh phục trái tim của dân tộc Do Thái. Chỉ khi trái tim họ thức tỉnh, họ mới chấp nhận thế giới quan mang tính cứu chuộc mà ông sẽ tìm cách trao cho họ.

The Jew needs to love without superiority or separativeness. Had the Jew loved more widely, generally and generously down the ages, his plight today would not be what it is and this in spite of his strange and peculiar destiny.

Người Do Thái cần yêu thương mà không có thái độ tự tôn hay tính chia rẽ. Nếu qua bao thời đại, người Do Thái đã yêu thương rộng rãi hơn, bao quát hơn và quảng đại hơn, thì cảnh ngộ của họ ngày nay đã không như hiện tại, bất chấp vận mệnh kỳ lạ và đặc thù của họ.