← Bình GIảng Thư Chân sư Gửi Các Đệ tử

chapter 004 07

Trích nội dung chương

235. The energies of the first and third rays often inhibit the expression of love. One glamor of the first ray (the soul ray of the Jewish people) is the glamor of superiority. Both the first and third rays (the ray of the Jewish personality) may feed the glamor of separativeness. The Jew must overcome these ray tendencies and learn to love without falling victim to either liability. If love is expressed in a way that is tainted by an attitude of superiority or separativeness, it is not true love. 235. Năng lượng của cung một và cung ba thường kìm hãm sự biểu lộ tình thương. Một ảo cảm của cung một (cung linh hồn của dân tộc Do Thái) là ảo…


235. The energies of the first and third rays often inhibit the expression of love. One glamor of the first ray (the soul ray of the Jewish people) is the glamor of superiority. Both the first and third rays (the ray of the Jewish personality) may feed the glamor of separativeness. The Jew must overcome these ray tendencies and learn to love without falling victim to either liability. If love is expressed in a way that is tainted by an attitude of superiority or separativeness, it is not true love.

235. Năng lượng của cung một và cung ba thường kìm hãm sự biểu lộ tình thương. Một ảo cảm của cung một (cung linh hồn của dân tộc Do Thái) là ảo cảm tự tôn. Cả cung một lẫn cung ba (cung phàm ngã của dân tộc Do Thái) đều có thể nuôi dưỡng ảo cảm chia rẽ. Người Do Thái phải vượt qua những khuynh hướng cung này và học yêu thương mà không trở thành nạn nhân của một trong hai nhược điểm ấy. Nếu tình thương biểu lộ theo cách nhuốm thái độ tự tôn hay tính chia rẽ, thì đó không phải là tình thương đích thực.

236. Master DK makes an interesting retrospective assessment. Looking at the terribly unhappy plight of the Jewish people, He concludes that a more generous attitude of love down the ages (love from the Jew to others) would have done much to avoid the present horror. He seems to be saying that the Holocaust could have been avoided had the Jew expressed more love more widely—all this despite the “strange and peculiar destiny” of the Jew (related, it would seem, to the origin of that group of souls in the first solar system). What that destiny is, we are not given to know. We know something of the peculiar origin of the ‘race’, but not what they are intended to become. A hint may have been given, however, when, in various sections of the Teaching, the Jew is considered to be prototypical humanity itself. Are the Jews intended to become the “symbol of [a] spiritual race of men”?

236. Chân sư DK đưa ra một nhận định hồi cố đáng chú ý. Nhìn vào cảnh ngộ vô cùng bất hạnh của dân tộc Do Thái, Ngài kết luận rằng một thái độ yêu thương quảng đại hơn qua bao thời đại (tình thương từ người Do Thái dành cho người khác) hẳn đã góp phần lớn vào việc tránh được nỗi kinh hoàng hiện tại. Dường như Ngài đang nói rằng có thể đã tránh được cuộc diệt chủng người Do Thái nếu người Do Thái biểu lộ nhiều tình thương hơn và rộng rãi hơn—tất cả điều này bất chấp “vận mệnh kỳ lạ và đặc thù” của người Do Thái (dường như liên hệ với nguồn gốc của nhóm linh hồn ấy trong hệ mặt trời thứ nhất). Chúng ta không được cho biết vận mệnh ấy là gì. Chúng ta biết đôi điều về nguồn gốc đặc thù của “dân tộc” ấy, nhưng không biết họ được định sẽ trở thành điều gì. Tuy nhiên, có lẽ một gợi ý đã được đưa ra khi, trong nhiều phần của Giáo Huấn, người Do Thái được xem là hình mẫu của chính nhân loại. Liệu người Do Thái có được định sẽ trở thành “biểu tượng của [một] cộng đồng nhân loại tinh thần” không?

237. As well, one must think of the Jew as bringing gifts of great value from the first solar system to the second. The nature of those gifts must be pondered.

237. Đồng thời, phải nghĩ đến người Do Thái như những người mang các tặng phẩm có giá trị lớn lao từ hệ mặt trời thứ nhất sang hệ mặt trời thứ hai. Cần suy ngẫm về bản chất của những tặng phẩm ấy.

The Jewish people have been ever governed by the statements of transmitted prophecy and by an anticipated destiny. A defiance of prophecy and a planned control of destiny, plus an immovable purpose to demonstrate the expansiveness of love should be the clue to future racial development during the coming five hundred years. Each Jew who masters his individual tendencies passes out of the racial group as you did many lives ago. You position as a Jew is today one of your free choosing and a decision upon you desire to be of service in the salvaging of a race.

Dân tộc Do Thái từ trước đến nay luôn chịu sự chi phối của những lời tiên tri được lưu truyền và một vận mệnh được trông đợi. Việc thách thức lời tiên tri và chủ động điều khiển vận mệnh theo kế hoạch, cùng với một mục đích bất lay chuyển nhằm thể hiện sự rộng mở của tình thương, phải là chìa khóa cho sự phát triển tương lai của dân tộc này trong năm trăm năm sắp tới. Mỗi người Do Thái làm chủ được những khuynh hướng cá nhân của mình đều rời khỏi nhóm dân tộc ấy, như em đã làm từ nhiều kiếp trước. Ngày nay, cương vị người Do Thái của em là do em tự do lựa chọn, một quyết định dựa trên mong muốn phụng sự bằng cách cứu vớt một dân tộc.

238. A contrast between past practice and a new approach to the future is offered. What DK says here is really profound. In the past and the present the Jews have been governed, and are governed, “by statements of transmitted prophecy and by an anticipated destiny”. Their entire attitude, says DK, must be reversed and become, instead, “a defiance of prophecy and a planned control of destiny…” They are to repudiate the promises made by the “wrathful Jehovah”; neither are they to passively anticipate the arrival of a promised destiny. They are to use the love-illumined will to control their destiny. A certain strange passivity must come to an end.

238. Ở đây, một sự tương phản được đưa ra giữa cách hành xử trong quá khứ và một cách tiếp cận mới đối với tương lai. Những gì Chân sư DK nói ở đây thực sự sâu sắc. Trong quá khứ cũng như hiện tại, người Do Thái đã và đang chịu sự chi phối “của những lời tiên tri được lưu truyền và một vận mệnh được trông đợi”. Chân sư DK nói rằng toàn bộ thái độ của họ phải đảo ngược và thay vào đó trở thành “việc thách thức lời tiên tri và chủ động điều khiển vận mệnh theo kế hoạch…” Họ phải khước từ những lời hứa của “Jehovah thịnh nộ”; họ cũng không được thụ động trông đợi một vận mệnh đã được hứa hẹn sẽ đến. Họ phải dùng ý chí được tình thương soi sáng để điều khiển vận mệnh của mình. Một sự thụ động kỳ lạ nào đó phải chấm dứt.

239. The words here are so well chosen. The next five hundred years of racial development are to see, for the Jew, “an immovable purpose to demonstrate the expansiveness of love”. This is an amazing statement. We can see in it the combination of the first and second rays. With the first ray the Jews are abundantly endowed, for the first ray is the ray of the “Soul of Judea”. It is, however, the expansive, Jupiterian second ray which they need (despite the fact that there are many within the ranks of the Jews who express this ray admirably).

239. Những từ ngữ ở đây được chọn rất khéo. Đối với người Do Thái, năm trăm năm phát triển dân tộc sắp tới phải chứng kiến “một mục đích bất lay chuyển nhằm thể hiện sự rộng mở của tình thương”. Đây là một lời tuyên bố đáng kinh ngạc. Chúng ta có thể thấy trong đó sự kết hợp giữa cung một và cung hai. Người Do Thái được phú bẩm dồi dào năng lượng cung một, vì cung một là cung của “Linh Hồn Judea”. Tuy nhiên, điều họ cần là cung hai rộng mở, mang tính Sao Mộc (dù trong hàng ngũ người Do Thái có nhiều người biểu lộ cung này một cách đáng khâm phục).

240. It also becomes clear that the Jewish people are not slated to disappear any time soon, for DK speaks of the development of the race for five hundred years to come.

240. Cũng trở nên rõ ràng rằng dân tộc Do Thái sẽ không sớm biến mất, vì Chân sư DK nói đến sự phát triển của dân tộc này trong năm trăm năm sắp tới.

241. A suggestion is made that FCD has been a Jew before—long ago. At that time he mastered his individual tendencies and passed out of the racial group. This is the pattern to be followed by progressive Jews today: master individual tendencies and leave the racial group behind—in consciousness.

241. Có một gợi ý rằng FCD từng là người Do Thái từ rất lâu trước đây. Khi ấy, ông đã làm chủ những khuynh hướng cá nhân và rời khỏi nhóm dân tộc ấy. Đây là khuôn mẫu mà những người Do Thái tiến bộ ngày nay cần noi theo: làm chủ những khuynh hướng cá nhân và vượt ra khỏi nhóm dân tộc—trong tâm thức.

242. DK may also be saying that anyone who masters the individualism of the personality, thereby, passes out of any racial grouping, for those groupings have their major impact upon personalities rather than souls.

242. Chân sư DK cũng có thể đang nói rằng bất cứ ai chế ngự được chủ nghĩa cá nhân của phàm ngã thì qua đó đều vượt ra khỏi bất kỳ nhóm chủng tộc nào, vì các nhóm ấy tác động chủ yếu lên các phàm ngã hơn là các linh hồn.

243. In RSU’s instructions, DK informed her that she had little real connection with the Jewish people even though she felt herself closely identified with them. In this instruction, He is informing FCD, that his present membership in the Jewish group occurred as a result of his own free choice to be an agent of service and salvage to that race.

243. Trong các huấn thị dành cho RSU, Chân sư DK cho bà biết rằng bà thực sự có rất ít liên hệ với dân tộc Do Thái, dù bà cảm thấy mình đồng hoá mật thiết với họ. Trong huấn thị này, Ngài cho FCD biết rằng việc ông hiện thuộc về nhóm Do Thái là kết quả của sự tự do lựa chọn của chính ông để làm một tác nhân phụng sự và cứu vớt dân tộc ấy.

I stand by you, my brother, unalterably and at all times, and on this you can count. Such is also the wish of K.H., my Brother and also my Master. On that you can count. I am giving you no set form of meditation. Reflection and deep, considered concentration upon the work which I have outlined to you, and which your Master wants to see you do, is for you adequate spiritual focussing. The deep love of all your group brothers is yours, and many, many people are today sending love to you and many, many minds are thinking of you with thoughts of gratitude, of strength, of faith and hope. On this too you must count. The path of a world Saviour is, as you know, a hard one, but of compensations which far outweigh the difficulty. My blessing is yours and my hand is ever stretched out to you in helping.

Huynh đệ của Tôi, Tôi luôn sát cánh bên em, không hề thay đổi, và em có thể trông cậy vào điều này. Đó cũng là mong muốn của Chân sư KH, Huynh đệ và cũng là Chân sư của Tôi, và em cũng có thể trông cậy vào điều ấy. Tôi không trao cho em một hình thức tham thiền cố định nào. Đối với em, suy ngẫm và tập trung sâu sắc, có cân nhắc vào công việc Tôi đã phác thảo cho em, công việc mà Chân sư của em muốn thấy em thực hiện, là sự tập trung tinh thần đầy đủ. Tình thương sâu sắc của tất cả các huynh đệ trong nhóm đều dành cho em, và ngày nay rất nhiều, rất nhiều người đang gửi tình thương đến em, rất nhiều, rất nhiều thể trí đang nghĩ đến em với những tư tưởng biết ơn, sức mạnh, niềm tin và hy vọng. Em cũng phải trông cậy vào điều này. Như em biết, con đường của một Đấng Cứu Thế rất gian nan, nhưng có những đền bù vượt xa những khó khăn ấy. Phúc lành của Tôi dành cho em, và bàn tay Tôi luôn đưa ra trợ giúp em.

244. The Master closes with a paragraph intended to affirm and strengthen His disciple. He lists those who stand in support of FCD. First, He Himself, the Master DK (following the wishes of His Master and Brother, Master KH) stands by FCD, unalterably and at all times. FCD may rely upon this. FCD may also count on his own Master KH, Who ever loves and supports. And, then, there are many within the ranks of humanity, including FCD’s group brothers, who love him and stand by him, sending him thought of “gratitude, of strength, of faith and hope”. We can see that the love which FCD has poured forth on many returns to him in his hour of need. DK tells FCD that not only can he count on the love of his brothers and of the many people who are grateful to him, but that he must do so.

244. Chân sư kết thúc bằng một đoạn văn nhằm khẳng định và củng cố người đệ tử của Ngài. Ngài liệt kê những người đứng bên hỗ trợ FCD. Trước hết, chính Ngài, Chân sư DK (theo mong muốn của Chân sư và Huynh đệ của Ngài, Chân sư KH), luôn sát cánh bên FCD, không hề thay đổi và vào mọi lúc. FCD có thể tin cậy vào điều này. FCD cũng có thể tin cậy vào Chân sư KH của chính ông, Đấng luôn yêu thương và hỗ trợ. Và rồi, có nhiều người trong hàng ngũ nhân loại, kể cả các huynh đệ trong nhóm của FCD, yêu thương và sát cánh bên ông, gửi đến ông những tư tưởng “biết ơn, sức mạnh, đức tin và hy vọng”. Chúng ta có thể thấy rằng tình thương mà FCD đã tuôn đổ đến nhiều người nay trở về với ông trong giờ phút ông cần đến. Chân sư DK nói với FCD rằng ông không chỉ có thể tin cậy vào tình thương của các huynh đệ và của nhiều người biết ơn ông, mà ông còn phải làm như vậy.

245. A general vision of future compensation is offered. Though the Path of the World Saviour is hard, the compensations outweigh the difficulty. Surely, FCD has a strong intuition that this is the case.

245. Một tầm nhìn khái quát về sự bù đắp trong tương lai được đưa ra. Dù Con Đường của Đấng Cứu Thế gian khó, những bù đắp vượt xa khó khăn. Chắc hẳn FCD có trực giác mạnh mẽ rằng quả thực là như vậy.

246. Master DK closes with a vivid image of blessing offered: “My blessing is yours and my hand is ever stretched out to you in helping.” This is no idle statement. Let us ponder what it means.

246. Chân sư DK kết thúc bằng một hình ảnh sống động về phúc lành được ban: “Tôi ban phúc lành cho em và bàn tay Tôi luôn vươn ra trợ giúp em.” Đây không phải là một lời nói suông. Chúng ta hãy suy ngẫm ý nghĩa của lời ấy.

November 1944- Tháng Mười Một 1944-

It is not my intention, my beloved brother, to give you any personal instructions at this time. Those given you during the past three years still need consideration, assimilation and factual demonstration. I simply take, at this time, those needed inner steps which are permitted to the Master of any Ashram in order to draw you into a very close relation to myself and to the group. Such a definite and close relation [467] produces healing and strengthening; it also permits of such a clear vision that the picture unfolds as a unity and the past is seen freed from karma. This sentence may mean much to you, if subjected to the inner insight, or it may mean little. It is, however, of major significance to you personally, and to no one else in this group.

Huynh đệ yêu quý của Tôi, lúc này Tôi không có ý định trao cho em bất kỳ huấn thị cá nhân nào. Những huấn thị đã trao cho em trong ba năm qua vẫn cần được suy xét, thấm nhuần và thể hiện trong thực tế. Lúc này, Tôi chỉ thực hiện những bước nội tâm cần thiết mà Chân sư của bất kỳ ashram nào cũng được phép thực hiện, nhằm đưa em vào mối liên hệ rất mật thiết với Tôi và với nhóm. Một mối liên hệ xác định và mật thiết như vậy [467] mang lại sự chữa lành và củng cố sức mạnh; nó cũng cho phép có một tầm nhìn sáng rõ đến mức toàn cảnh hiển lộ như một thể thống nhất, và quá khứ được nhìn nhận trong trạng thái thoát khỏi nghiệp quả. Câu này có thể hàm chứa nhiều ý nghĩa đối với em nếu được soi xét bằng tuệ giác nội tâm, hoặc có thể chẳng mang lại bao nhiêu ý nghĩa. Tuy nhiên, nó có thâm nghĩa trọng đại đối với riêng em, và không với ai khác trong nhóm này.

247. In November of 1944, Master DK did not refrain from writing instructions to the other remaining disciples in the New Seed Group. In fact, some of those instructions were quite elaborate.

247. Vào tháng Mười Một năm 1944, Chân sư DK vẫn viết các huấn thị cho những đệ tử khác còn lại trong Nhóm Hạt Giống Mới. Thực tế, một số huấn thị ấy khá chi tiết.

248. Some four months before this instruction, Saturn has crossed the natal Ascendant, signaling the beginning of a new, laborious, cycle, and a few months before that the progressing MC entered Taurus (for a thirty year stay).

248. Khoảng bốn tháng trước huấn thị này, Sao Thổ đã đi qua Điểm mọc bản mệnh, báo hiệu sự khởi đầu của một chu kỳ mới đầy nhọc nhằn, và vài tháng trước đó, Thiên Đỉnh tiến trình đã đi vào Kim Ngưu (để lưu lại trong ba mươi năm).

249. With regard to Italy, at least, the worst danger for the Jews had ended. The Germans had been driven away and Mussolini toppled.

249. Ít nhất là tại Ý, mối nguy hiểm tồi tệ nhất đối với người Do Thái đã chấm dứt. Quân Đức đã bị đánh đuổi và Mussolini đã bị lật đổ.

250. The instruction given in September of 1943 was extremely full. Its contents (if read—for the mail may not have gone through) must have been a shock to the system; extensive assimilation was required. That process of “assimilation and factual demonstration” would still in process in November of 1944. If mail had not reached FCD, there would be no point for DK to add still more to His very lengthy instruction of the previous year.

250. Huấn thị trao vào tháng Chín năm 1943 hết sức đầy đủ. Nội dung của nó (nếu đã được đọc—vì thư có thể đã không đến nơi) hẳn đã gây một chấn động cho toàn bộ hệ thống; cần phải đồng hoá rất nhiều. Đến tháng Mười Một năm 1944, tiến trình “đồng hoá và thể hiện trong thực tế” ấy hẳn vẫn đang tiếp diễn. Nếu thư chưa đến tay FCD, thì việc Chân sư DK bổ sung thêm nữa vào huấn thị vốn đã rất dài của Ngài trong năm trước cũng chẳng có ý nghĩa gì.

251. All that Master DK sees fit to do is to draw His “beloved brother” into a very close relation to Himself and the group. This is achieved by certain “inner steps” which are permitted to Him as Master of His Ashram.

251. Tất cả những gì Chân sư DK thấy thích hợp để làm là đưa “huynh đệ yêu quý” của Ngài vào một mối liên hệ rất mật thiết với chính Ngài và với nhóm. Điều này được thực hiện qua một số “bước nội tâm” mà Ngài được phép thực hiện với tư cách Chân sư của ashram của Ngài.

252. The purpose behind this process is to produce healing and strengthening. We have seen Master DK ever engaged in sharing His strength and blessing with FCD.

252. Mục đích đằng sau tiến trình này là đem lại sự chữa lành và củng cố. Chúng ta đã thấy Chân sư DK luôn chia sẻ sức mạnh và phúc lành của Ngài với FCD.

253. Another purpose is also given and it is enigmatical (perhaps to all except FCD, for whom it was intended). The definite and close relation between the Master, the group and the chelas “also permits of such a clear vision that the picture unfolds as a unity and the past is seen freed from karma.” DK hints that it will not be easy for FCD to interpret this sentence, even though it is meant specifically for him and no one else. For correct interpretation, it has to be submitted to “inner insight”—the intuitive process.

253. Một mục đích khác cũng được nêu ra, và mục đích ấy thật bí ẩn (có lẽ đối với tất cả mọi người ngoại trừ FCD, người mà lời ấy hướng đến). Mối liên hệ xác định và mật thiết giữa Chân sư, nhóm và các đệ tử “cũng cho phép một linh thị rõ ràng đến mức toàn cảnh mở ra như một thể thống nhất và quá khứ hiện ra thoát khỏi nghiệp quả.” Chân sư DK gợi ý rằng FCD sẽ không dễ diễn giải câu này, dù câu ấy dành riêng cho ông chứ không cho ai khác. Muốn diễn giải đúng, cần đưa nó ra trước “tuệ giác nội tâm”—tiến trình trực giác.

254. A unitive vision is the gift of buddhi, which is faculty emanating from the buddhic plane—the “plane of harmony”. Harmony is achieved when all karma is expiated. There are many ways to see the past. When one, at last, understands the why and the wherefore of the karmic process, and when the karma lurking in the past has been expiated, the vision of the past is no longer ‘haunted by irresolutions’. The inharmonies which would be present if karma was unpaid have been resolved and nothing from the past cries out as demanding payment. FCD has gone though a great karmic clearing process. Transiting Pluto has been active at the natal and progressed Nodal Axis and the demands of karmic Saturn have been focussed in the karmic twelfth house. Much has been resolved.

254. Linh thị hợp nhất là tặng phẩm của Bồ đề, một năng lực phát xuất từ cõi Bồ đề—“cõi hài hoà”. Sự hài hoà đạt được khi mọi nghiệp quả đều đã được thanh toán. Có nhiều cách để nhìn quá khứ. Cuối cùng, khi người ta thấu hiểu nguyên do và căn nguyên của tiến trình nghiệp quả, và khi nghiệp quả ẩn tàng trong quá khứ đã được thanh toán, cái nhìn về quá khứ không còn “bị ám ảnh bởi những điều chưa giải quyết”. Những bất hài hoà vốn sẽ hiện diện nếu nghiệp quả chưa được trả nay đã được giải quyết, và không còn điều gì từ quá khứ lên tiếng đòi thanh toán. FCD đã trải qua một tiến trình thanh giải nghiệp quả lớn lao. Sao Diêm Vương quá cảnh đã tác động tại Trục Nút bản mệnh và tiến trình, còn những đòi hỏi của Sao Thổ nghiệp quả đã tập trung trong nhà mười hai mang tính nghiệp quả. Nhiều điều đã được giải quyết.

255. The fourth house represents the past (as we saw when Chiron transited that house and FCD was invited to participate in the salvaging of humanity’s lunar past by serving the Jewish people). Now we see unitive, synthesizing Jupiter at that same house cusp, and the Tibetan speaks of clear and unified vision and a past seen freed of karma. It may be a time for sight of an increasingly clear kind, as the MC, also, has just moved into Taurus, the sign of illumined sight.

255. Nhà thứ tư đại diện cho quá khứ (như chúng ta đã thấy khi Chiron quá cảnh nhà ấy và FCD được mời tham gia cứu vớt quá khứ thái âm của nhân loại bằng cách phụng sự dân tộc Do Thái). Giờ đây, chúng ta thấy Sao Mộc mang tính hợp nhất và tổng hợp ở chính đỉnh nhà ấy, và Chân sư Tây Tạng nói đến linh thị rõ ràng, thống nhất cùng một quá khứ hiện ra thoát khỏi nghiệp quả. Đây có thể là thời điểm để cái nhìn ngày càng sáng rõ, vì Thiên Đỉnh cũng vừa chuyển vào Kim Ngưu, dấu hiệu của cái nhìn được soi sáng.

256. Only FCD will know what karma may have been cleared and, therefore, is no longer demanding payment. In the relaxation of tension which comes when karma is paid, sight clarifies.

256. Chỉ FCD mới biết nghiệp quả nào có thể đã được thanh giải và do đó không còn đòi thanh toán nữa. Khi sự căng thẳng lắng dịu nhờ nghiệp quả đã được trả, cái nhìn trở nên sáng rõ.

[That which here continues is not part of the instruction for November 1944, but is a response by the Tibetan to a question concerning the head center posed by FCD. The Tibetan, as we may know, gave answers to some of the questions asked by His chelas and these answers, for the most part, found their way into the DINA books.]

[Phần tiếp theo đây không thuộc huấn thị tháng Mười Một năm 1944, mà là lời đáp của Chân sư Tây Tạng cho một câu hỏi của FCD về trung tâm đầu. Như chúng ta có thể biết, Chân sư Tây Tạng đã trả lời một số câu hỏi của các đệ tử của Ngài, và phần lớn những lời đáp ấy đã được đưa vào các sách DINA.]

In your question, my brother (about the nature and the function of the counterparts in the head of the various chakras, and how to bring about a better adjustment between the heart centre and its counterpart in the head), you have voiced an exceedingly esoteric inquiry, and one that will warrant the most careful consideration and phrasing on my part. The reason for this is that as yet little is known (even in the esoterically instructed East) in regard to the head centre. This profound ignorance has not been realised, even by advanced students. The thousand-petalled lotus remains a secret, or closed mystery. Though much has been given out in connection with the heart centre, little has been communicated in connection with the head centre. The reason that more is known about the heart centre is due to its being the centre awakened by the highest initiation in Atlantean times. In our Aryan race the head centre is the objective of all stimulation—even the stimulation of the other centres being noted in relation to the effect upon the head centre. The race as a whole, however, is only just beginning to be ready for this awakening. Hence the complete silence hitherto held upon this subject.

Trong câu hỏi của em, huynh đệ của Tôi (về bản chất và chức năng của các đối phần trong đầu của những luân xa khác nhau, và làm thế nào để tạo sự điều chỉnh tốt hơn giữa trung tâm tim và đối phần của nó trong đầu), em đã nêu lên một câu hỏi hết sức huyền bí, đòi hỏi Tôi phải cân nhắc và diễn đạt hết sức cẩn trọng. Lý do là cho đến nay, người ta vẫn biết rất ít về trung tâm đầu (ngay cả ở phương Đông đã được giảng dạy về huyền bí học). Ngay cả các đạo sinh tiến bộ cũng chưa nhận ra sự thiếu hiểu biết sâu sắc này. Hoa sen nghìn cánh vẫn là một bí mật, hay một bí nhiệm chưa được mở ra. Dù nhiều điều đã được truyền dạy về trung tâm tim, người ta mới chỉ truyền đạt rất ít về trung tâm đầu. Sở dĩ người ta biết nhiều hơn về trung tâm tim là vì đó là trung tâm được đánh thức trong cuộc điểm đạo cao nhất vào thời Atlantis. Trong giống dân Arya của chúng ta, trung tâm đầu là mục tiêu của mọi sự kích thích—ngay cả sự kích thích các trung tâm khác cũng được xem xét theo tác động của nó lên trung tâm đầu. Tuy nhiên, toàn thể nhân loại chỉ vừa bắt đầu sẵn sàng cho sự thức tỉnh này. Vì thế, cho đến nay người ta vẫn hoàn toàn giữ im lặng về chủ đề ấy.

257. DK’s students were given opportunity to ask Him direct questions through AAB. FCD’s question has focussed on the nature of the counterpart (within the head center) of the various other centers, with the focus being especially upon the heart center between the shoulder blades and its higher counterpart, the “heart in the head”. FCD wants to bring about a better adjustment between these two heart centers.

257. Các đạo sinh của Chân sư DK có cơ hội đặt câu hỏi trực tiếp với Ngài thông qua AAB. Câu hỏi của FCD tập trung vào bản chất của đối phần (bên trong trung tâm đầu) của những trung tâm khác nhau, đặc biệt chú trọng đến trung tâm tim giữa hai bả vai và đối phần cao hơn của nó, “tim trong đầu”. FCD muốn tạo ra sự điều chỉnh tốt hơn giữa hai trung tâm tim này.

258. DK tells us the surprising fact that, even in the esoterically instructed East, little is really known about the head center. “The thousand-petalled lotus remains a secret, or closed mystery.”

258. Chân sư DK cho chúng ta biết một sự thật đáng ngạc nhiên rằng ngay cả ở phương Đông vốn đã được truyền dạy về huyền bí học, người ta thực sự vẫn biết rất ít về trung tâm đầu. “Hoa sen nghìn cánh vẫn là một điều bí mật, hay một huyền nhiệm còn khép kín.”

259. More is known about the heart center because it was awakened by the highest initiation in Atlantean times. We may presume that that initiation was the fourth, corresponding to the Atlantean root race as the fourth.

259. Người ta biết nhiều hơn về trung tâm tim vì nó đã được đánh thức qua cuộc điểm đạo cao nhất vào thời Atlantis. Chúng ta có thể giả định rằng cuộc điểm đạo ấy là lần thứ tư, tương ứng với giống dân gốc Atlantis là giống dân gốc thứ tư.

260. Only now, in the Aryan race, can the head center be subjected to the stimulation which will awaken it, thus there has been, says the Tibetan, “complete silence” concerning its nature.

260. Chỉ đến bây giờ, trong nhân loại Arya, trung tâm đầu mới có thể nhận sự kích thích sẽ đánh thức nó; vì thế, như Chân sư Tây Tạng nói, đã có sự “hoàn toàn im lặng” về bản chất của trung tâm này.

261. It is interesting that in our times, all the other chakras are to be studied in relation to the crown center. When we note the chakras principally active in the Ten Seed Groups, we shall see that the crown center is always present and active, but that none of the other six chakras are active in relation to every seed group.

261. Điều thú vị là trong thời đại chúng ta, mọi luân xa khác đều phải được nghiên cứu trong tương quan với trung tâm đỉnh đầu. Khi xem xét những luân xa hoạt động chủ yếu trong Mười Nhóm Hạt Giống, chúng ta sẽ thấy trung tâm đỉnh đầu luôn hiện diện và hoạt động, nhưng không luân xa nào trong sáu luân xa còn lại hoạt động trong tương quan với mọi nhóm hạt giống.

262. The number five is related to the number one. The fifth ray of the Aryan race brings this race into close rapport with the first ray working through the major head center.

262. Số năm liên hệ với số một. Cung năm của nhân loại Arya đưa nhân loại này vào mối tương thông mật thiết với cung một đang hoạt động qua trung tâm đầu chính.

Adeptship was achieved in the Atlantean race when the heart centre was alive and its twelve petals unfolded. The fourth initiation, which confers the status of adeptship, produced the mystic realisation, the unfoldment of the lotus of the heart and the deep conviction of the pairs of opposites, yet at the same time the knowledge that the phenomenal reality and the spiritual reality were one and the same reality. Thus the Atlantean attainment established in the consciousness of its adepts, through initiation, the duality of all creation.

Trong giống dân Atlantis, người ta đạt địa vị chân sư khi trung tâm tim đã sống động và mười hai cánh hoa của nó đã khai mở. Lần điểm đạo thứ tư, vốn ban địa vị chân sư, mang lại sự chứng nghiệm thần bí, sự khai mở hoa sen của tim và niềm xác tín sâu sắc về các cặp đối cực, nhưng đồng thời cũng mang lại sự hiểu biết rằng thực tại hiện tượng và thực tại tinh thần là cùng một thực tại duy nhất. Như vậy, qua điểm đạo, thành tựu của thời Atlantis đã xác lập trong tâm thức các chân sư của thời ấy tính nhị nguyên của toàn bộ sự sáng tạo.

263. The term “adept” is used variously to mean one who has attained to either the fourth or the fifth initiation. In this case, “adeptship” is referred to the fourth degree, with its completed heart unfoldment.

263. Thuật ngữ “chân sư” được dùng theo nhiều cách để chỉ người đã đạt lần điểm đạo thứ tư hoặc thứ năm. Trong trường hợp này, “địa vị chân sư” chỉ cấp độ thứ tư, với sự khai mở trọn vẹn của tim.

264. The open heart produces mystic realization (the highest form of the Atlantean consciousness), a deep conviction of the pairs of opposites (so they could be seen and understood in all their interactivity), and, importantly, “the knowledge that the phenomenal reality and the spiritual reality were one and the same reality”.

264. Trái tim khai mở đem lại sự chứng nghiệm thần bí (hình thức cao nhất của tâm thức Atlantis), niềm xác tín sâu sắc về các cặp đối cực (để có thể nhìn thấy và thấu hiểu chúng trong toàn bộ sự tương tác của chúng), và điều quan trọng là “tri thức rằng thực tại hiện tượng và thực tại tinh thần là cùng một thực tại”.

265. We remember that the buddhic energy of intuition is prominent at the fourth degree, and that this energy revolves the conflict between the pairs of opposites and sees them in harmonized relation—in fact, to some degree, in unified relation. “Two Merge with One.”

265. Chúng ta nhớ rằng năng lượng Bồ đề của trực giác nổi trội ở cấp độ thứ tư, và năng lượng này giải quyết xung đột giữa các cặp đối cực, nhìn thấy chúng trong mối liên hệ hài hoà—thực ra, ở một mức độ nào đó, trong mối liên hệ hợp nhất. “Hai Hoà Nhập với Một.”

266. The adepts of Atlantean times were thus educated in relation to the great Law of Attraction and Repulsion. They saw the duality of Creation and they used the heart to reconcile that duality.

266. Như vậy, các chân sư thời Atlantis đã được giáo huấn về Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi vĩ đại. Các Ngài thấy tính nhị nguyên của Sự Sáng Tạo và dùng tim để dung hoà tính nhị nguyên ấy.

The Aryan unfoldment will produce occult identification, the development of the head centre, and the realisation of [468] unity. "I and the Father are One." This constituted the real achievement of the Christ, Who was the first of our humanity to achieve the complete realisation. This point is of vital interest. Our present Masters of the Wisdom have also entered into this same recognition. The distinction between Them and the Christ is that He added to this realisation the capacity to be a channel, pure and undefiled by any form of self-identification, for a cosmic principle—that of Love. Only those Masters, however, Who reached adeptship in Atlantean times are dowered with this occult unfoldment. Disciples are apt to forget that the Masters Themselves are at various stages upon the path of Their peculiar evolution.

Sự khai mở của giống dân Arya sẽ mang lại sự đồng hoá huyền bí, sự phát triển của trung tâm đầu và sự chứng nghiệm [468] hợp nhất. “Ta và Cha là Một.” Đây chính là thành tựu thực sự của Đức Christ, Đấng đầu tiên trong nhân loại chúng ta đạt được sự chứng nghiệm trọn vẹn ấy. Điểm này vô cùng đáng quan tâm. Các Chân sư Minh Triết hiện nay của chúng ta cũng đã đạt đến cùng sự nhận biết ấy. Sự khác biệt giữa Các Ngài và Đức Christ là Ngài đã bổ sung vào sự chứng nghiệm ấy khả năng trở thành một kênh dẫn thuần khiết, không bị bất kỳ hình thức đồng hoá nào với bản ngã làm ô nhiễm, cho một nguyên khí vũ trụ—nguyên khí Bác Ái. Tuy nhiên, chỉ những Chân sư đã đạt địa vị chân sư vào thời Atlantis mới có được sự khai mở huyền bí này. Các đệ tử thường quên rằng chính các Chân sư cũng ở những giai đoạn khác nhau trên con đường tiến hoá đặc thù của Các Ngài.

267. The Aryan unfoldment produces “occult identification”. This is different from “mystical realization”. Occult identification depends upon the occult development of the head center and brings about the realization of “unity”. The mantram representing this realization is: “I and the Father are One.”

267. Sự khai mở của nhân loại Arya đem lại “sự đồng hoá huyền bí”. Điều này khác với “sự chứng nghiệm thần bí”. Sự đồng hoá huyền bí tuỳ thuộc vào sự phát triển huyền bí của trung tâm đầu và đem lại sự chứng nghiệm “hợp nhất”. Mantram biểu đạt sự chứng nghiệm này là: “Ta và Cha là Một.”

268. We learn that the Christ was the first of our humanity to achieve this complete occult realisation, which does not mean that the Buddha had not achieved it. It must be remembered that the Buddha was not part of our humanity, but individualized on the Moon-chain.

268. Chúng ta được biết rằng Đức Christ là Đấng đầu tiên trong nhân loại chúng ta đạt sự chứng nghiệm huyền bí trọn vẹn này, điều đó không có nghĩa là Đức Phật chưa đạt được. Cần nhớ rằng Đức Phật không thuộc nhân loại chúng ta, mà đã biệt ngã hóa trên Dãy Mặt Trăng.

269. Our present Masters of the Wisdom share with this Christ this realization, but He, is a pure and undefiled channel for the cosmic principle of Love, and They cannot be.

269. Các Chân sư Minh Triết hiện nay của chúng ta cùng có sự chứng nghiệm này với Đức Christ, nhưng Ngài là một kênh dẫn thuần khiết và không hoen ố cho nguyên khí Bác ái vũ trụ, còn Các Ngài thì chưa thể như vậy.

270. Why can They not be as He? Because They did not reach adeptship in Atlantean times, and only those Masters Who became adepts in those time are, as DK says, “dowered with this occult unfoldment”.

270. Vì sao Các Ngài chưa thể như Ngài? Vì Các Ngài đã không đạt địa vị chân sư vào thời Atlantis, và chỉ những Chân sư đã trở thành chân sư vào thời ấy mới, như Chân sư DK nói, “được phú bẩm sự khai mở huyền bí này”.

271. We must pause to question. We know that the Christ (and the Buddha) achieved the third degree in Atlantean times, but what about the fourth degree (which meant adeptship in Atlantean times, but not in Aryan times). At least, in Aryan times, it is often the initiate of the fifth degree who is called the Adept.

271. Chúng ta phải dừng lại để đặt câu hỏi. Chúng ta biết rằng Đức Christ (và Đức Phật) đã đạt cấp độ thứ ba vào thời Atlantis, nhưng còn cấp độ thứ tư thì sao (vốn có nghĩa là địa vị chân sư vào thời Atlantis, nhưng không phải vào thời Arya). Ít nhất, vào thời Arya, điểm đạo đồ cấp độ thứ năm thường được gọi là Chân sư.

272. Did the Christ take the fourth degree as Krishna or was it well before that time? This question cannot easily be answered. If we look at the life of Krishna, we shall see that He had certainly attained the fourth degree. He also sacrificed His life, as fourth degree initiates will often do. But Krishna did not live in Atlantean times, but only in rather recent Aryan times! We must leave this question temporarily unanswered until more is known.

272. Đức Christ đã đạt cấp độ thứ tư khi là Krishna, hay từ rất lâu trước thời điểm ấy? Không dễ trả lời câu hỏi này. Nếu nhìn vào cuộc đời Krishna, chúng ta sẽ thấy chắc chắn Ngài đã đạt cấp độ thứ tư. Ngài cũng đã hy sinh mạng sống, như các điểm đạo đồ cấp độ thứ tư thường làm. Nhưng Krishna không sống vào thời Atlantis, mà chỉ vào thời Arya tương đối gần đây! Chúng ta phải tạm để câu hỏi này chưa có lời đáp cho đến khi biết thêm.

273. One subject of great interest is the relative development of the Masters and the times at which they became Masters. We are told, for instance, that Master DK became a Master of the Wisdom as recently as the year 1875. It seems also that Master Morya, Master R. and perhaps Master KH all became Masters at some point within the last five hundred years or so. Yet Master Jesus achieved Mastership in the first or second century of our millennium as Apollonius of Tyana. Perhaps Master Hilarion achieved Mastership during the Neo-Platonic era—perhaps the fourth or fifth century AD. Were they assisted by the presence and prominence of the sixth ray on which their soul nature was found (hypothetically, also, in the case of Hilarion)? There really seems to be no great difference in the Chohanic status of the Masters here mentioned (even though some of them took the fifth initiation more than a thousand years earlier than others).

273. Một chủ đề rất đáng quan tâm là mức phát triển tương đối của các Chân sư và thời điểm Các Ngài trở thành Chân sư. Chẳng hạn, chúng ta được cho biết rằng Chân sư DK chỉ mới trở thành một Chân sư Minh Triết vào năm 1875. Dường như Chân sư Morya, Chân sư R. và có lẽ cả Chân sư KH đều trở thành Chân sư vào một thời điểm nào đó trong khoảng năm trăm năm trở lại đây. Tuy nhiên, Chân sư Jesus đã đạt địa vị Chân sư vào thế kỷ thứ nhất hoặc thứ hai của thiên niên kỷ chúng ta trong thân phận Apollonius xứ Tyana. Có lẽ Chân sư Hilarion đã đạt địa vị Chân sư trong thời kỳ Tân Plato—có lẽ vào thế kỷ thứ tư hoặc thứ năm sau Công nguyên. Liệu sự hiện diện và nổi trội của cung sáu, cung của bản chất linh hồn Các Ngài (theo giả thuyết, cả trong trường hợp Chân sư Hilarion), đã trợ giúp Các Ngài chăng? Thực sự dường như không có khác biệt lớn về địa vị Chohan giữa các Chân sư được nhắc đến ở đây (dù một số Vị đã trải qua lần điểm đạo thứ năm sớm hơn những Vị khác trên một nghìn năm).

274. Perhaps we will have to know more about time and the development of consciousness before it will be possible to penetrate very far into these mysteries.

274. Có lẽ chúng ta sẽ phải biết thêm về thời gian và sự phát triển của tâm thức trước khi có thể thâm nhập sâu vào những huyền nhiệm này.

275. We are told that the Master Jupiter is the “oldest” of the Masters. What actually does this mean? It probably has to do with the time He became a fifth degree (and now, at least, a sixth degree) initiate.

275. Chúng ta được cho biết rằng Chân sư Jupiter là vị “lâu đời nhất” trong các Chân sư. Điều này thực sự có nghĩa là gì? Có lẽ điều đó liên quan đến thời điểm Ngài trở thành một điểm đạo đồ bậc năm (và hiện nay, ít nhất là bậc sáu).

You will see, therefore, that the establishing of the significance of the counterparts in the head to the heart centre, for instance, involves one of the great mysteries to be revealed at a certain high initiation.

Vì vậy, em sẽ thấy rằng, chẳng hạn, việc xác lập thâm nghĩa của các đối phần trong đầu đối với trung tâm tim liên quan đến một trong những bí nhiệm lớn sẽ được mặc khải trong một cuộc điểm đạo cao cấp nhất định.

276. FCD has asked a question the answer to which can only be revealed at a certain high initiation. This initiation must be beyond the third degree. Perhaps, the fourth degree will be required, because both the heart, and heart in the head, can be supposed as activated at that degree.

276. FCD đã đặt một câu hỏi mà lời đáp chỉ có thể được mặc khải ở một cuộc điểm đạo cao nào đó. Cuộc điểm đạo này hẳn phải vượt trên bậc ba. Có lẽ cần phải đạt bậc bốn, vì có thể giả định rằng cả trung tâm tim lẫn trung tâm tim trong đầu đều được kích hoạt ở bậc ấy.

277. The buddhic energy which figures so prominently at the fourth degree is stimulative of both the heart and heart in the head centers.

277. Năng lượng Bồ đề, vốn giữ vai trò hết sức nổi bật ở bậc bốn, kích thích cả trung tâm tim lẫn trung tâm tim trong đầu.

278. We note that the plural, “counterparts” is used and not “counterpart”. There is one heart center between the shoulder blades. There is, so we are told, one twelve-petalled heart in the head center. Then why the plural? Is more than one counterpart to the normal heart center to be found in the head? Are there a number of ascending twelve-petalled lotuses, arranged in the conformation of a cone—all of which are counterparts to the heart center between the shoulder blades?

278. Chúng ta lưu ý rằng nguyên tác dùng số nhiều, “các đối phần”, chứ không phải số ít, “đối phần”. Có một trung tâm tim giữa hai bả vai. Theo những gì chúng ta được cho biết, có một trung tâm tim mười hai cánh trong đầu. Vậy tại sao lại dùng số nhiều? Phải chăng có nhiều hơn một đối phần của trung tâm tim thông thường trong đầu? Phải chăng có một số hoa sen mười hai cánh xếp dần lên cao theo hình nón—tất cả đều là những đối phần của trung tâm tim giữa hai bả vai?

279. As DK has said, all this is a “secret, or closed mystery”. We can anticipate at least some elucidation over the next centuries.

279. Như Chân sư DK đã nói, tất cả điều này là một “bí mật, hay huyền nhiệm còn khép kín”. Chúng ta có thể mong đợi ít nhất một phần sáng tỏ trong những thế kỷ tới.

In the next great race, which succeeds upon this one, the goal will be—above everything else—a dual one. It will be:

Trong giống dân vĩ đại kế tiếp, nối tiếp giống dân hiện nay, mục tiêu—trên hết mọi điều khác—sẽ mang tính kép. Đó sẽ là:

1. The conscious unity of the lower centres by means of a great awakening of the solar plexus centre. This next race will be buddhic or intuitional, and therefore will embody, as a higher expression upon the turning spiral, the higher mystery of the astral unfoldment in ancient Atlantis. It will vision forth the higher correspondence of that achievement. This consummating development will mark its fourth initiation, and will demonstrate the transmutation of the astral life into the buddhic consciousness.

1. Sự hợp nhất có ý thức của các trung tâm thấp nhờ sự thức tỉnh mạnh mẽ của trung tâm tùng thái dương. Giống dân kế tiếp này sẽ mang tính Bồ đề hay trực giác, và do đó sẽ hiện thân cho bí nhiệm cao hơn của sự khai mở cảm dục ở Atlantis cổ xưa, như một biểu hiện cao hơn trên vòng xoắn ốc đang chuyển động. Giống dân ấy sẽ phóng hiện linh ảnh về sự tương ứng cao hơn của thành tựu ấy. Sự phát triển đến mức viên mãn này sẽ đánh dấu lần điểm đạo thứ tư của giống dân ấy, và sẽ biểu lộ sự chuyển hoá đời sống cảm dục thành tâm thức Bồ đề.

280. The next race is the sixth root race, and according to its number, will numerologically correlate with the sixth principle, or buddhic principle, which is active at the fourth initiation.

280. Giống dân tiếp theo là giống dân gốc thứ sáu, và theo con số của nó, sẽ có sự tương quan về số học với nguyên khí thứ sáu, hay nguyên khí Bồ đề, vốn hoạt động ở lần điểm đạo thứ tư.

281. We see that the sixth race will achieve a higher correspondence to the Atlantean achievement. In Atlantis, the heart center was completely unfolded; in the sixth root race, we can expect that the heart in the head will be unfolded. This unfoldment, though highly advanced and potent, is a lesser unfoldment to an unfoldment which comprises the entirety of the head center.

281. Chúng ta thấy rằng giống dân thứ sáu sẽ đạt được một sự tương ứng cao hơn với thành tựu Atlantis. Ở Atlantis, trung tâm tim đã khai mở hoàn toàn; trong giống dân gốc thứ sáu, chúng ta có thể mong đợi trung tâm tim trong đầu sẽ khai mở. Tuy rất tiến bộ và mạnh mẽ, sự khai mở này vẫn kém hơn sự khai mở bao trùm toàn bộ trung tâm đầu.

2. The carrying of all this mobilised energy to the heart centre at the fifth initiation for group purposes, and the achieving of this in full waking consciousness.

2. Việc đưa toàn bộ năng lượng đã được huy động này lên trung tâm tim vào lần điểm đạo thứ năm vì các mục đích của nhóm, và thực hiện điều này trong tâm thức tỉnh táo hoàn toàn.

282. We can see that the sixth root race will see great achievements in group consciousness. Although centers higher than the heart center will be stimulated, the heart center will be used in new and practical ways “in full waking consciousness”.

282. Chúng ta có thể thấy rằng giống dân gốc thứ sáu sẽ chứng kiến những thành tựu lớn trong tâm thức nhóm. Mặc dù những trung tâm cao hơn trung tâm tim sẽ được kích thích, trung tâm tim sẽ được sử dụng theo những cách mới và thiết thực “trong tâm thức tỉnh thức trọn vẹn”.

283. One would also expect the appearance of many sixth degree initiates during the sixth root race.

283. Người ta cũng có thể mong đợi sự xuất hiện của nhiều điểm đạo đồ bậc sáu trong giống dân gốc thứ sáu.

In the final race the process will be repeated on a still higher spiral, and all that concerns the higher centre will be unfolded and occultly consummated, again through the medium of two stages:

Trong giống dân cuối cùng, tiến trình sẽ lặp lại trên một vòng xoắn ốc còn cao hơn nữa, và tất cả những gì liên quan đến trung tâm cao hơn sẽ được khai mở và hoàn tất về mặt huyền bí, một lần nữa qua hai giai đoạn:

1. Wherein the massed energies of the solar plexus (the [469] great clearing house) and the heart and throat will be carried—at the third initiation—to the ajna centre, and the complete racial "transfiguration" will take place.

1. Trong đó, những năng lượng đã tập hợp của tùng thái dương (trạm [469] thanh lọc vĩ đại), tim và cổ họng sẽ được đưa lên trung tâm ajna—vào lần điểm đạo thứ ba—và sự “biến hình” trọn vẹn của giống dân sẽ diễn ra.

2. The process will then be carried forward and at the fourth initiation the energies will be centralised in the head centre.

2. Sau đó, tiến trình sẽ tiếp tục, và vào lần điểm đạo thứ tư, các năng lượng sẽ tập trung tại trung tâm đầu.

284. In the final or seventh root race, the entirety of the head center will be stimulated.

284. Trong giống dân gốc cuối cùng, tức giống dân gốc thứ bảy, toàn bộ trung tâm đầu sẽ được kích thích.

285. We are promised that the complete “racial transfiguration” will occur in this seventh root race. Solar plexus, heart and throat energies will all be lifted to the ajna center. Always DK speaks first of a lower unfoldment which will be characteristic of the many during a particular root race. For instance, in the sixth root race there will be a great solar plexus synthesis and in the seventh root race, the lower development will be racial transfiguration (a very high development from our present Aryan perspective).

285. Chúng ta được hứa rằng sự “biến hình của giống dân” trọn vẹn sẽ xảy ra trong giống dân gốc thứ bảy này. Các năng lượng tùng thái dương, tim và cổ họng đều sẽ được nâng lên trung tâm ajna. Chân sư DK luôn nói trước hết về một sự khai mở thấp hơn, vốn sẽ là đặc trưng của đông đảo con người trong một giống dân gốc cụ thể. Chẳng hạn, trong giống dân gốc thứ sáu sẽ có một sự tổng hợp lớn ở tùng thái dương, còn trong giống dân gốc thứ bảy, sự phát triển thấp hơn sẽ là sự biến hình của giống dân (một sự phát triển rất cao theo quan điểm Arya hiện nay của chúng ta).

286. Interestingly, in relation to the seventh root race, fourth initiation processes are discussed, whereas in relation to the sixth root race, fifth initiation processes were discussed. In the seventh root race fourth initiation processes will lead to a centralization of energies in the head center, whereas in the sixth root race, fifth initiation processes will lead to centralization of energies in the heart center.

286. Điều thú vị là khi nói về giống dân gốc thứ bảy, các tiến trình của lần điểm đạo thứ tư được bàn đến, trong khi với giống dân gốc thứ sáu, các tiến trình của lần điểm đạo thứ năm đã được bàn đến. Trong giống dân gốc thứ bảy, các tiến trình của lần điểm đạo thứ tư sẽ dẫn đến sự tập trung năng lượng vào trung tâm đầu, còn trong giống dân gốc thứ sáu, các tiến trình của lần điểm đạo thứ năm sẽ dẫn đến sự tập trung năng lượng vào trung tâm tim.

287. Some of the results discussed are not what might have been expected.

287. Một số kết quả được bàn đến không giống như điều người ta có thể đã mong đợi.

This will lead to a happening of such esoteric significance that I cannot express even its dimmest meaning to you because I myself do not know. It lies too far ahead, even for all Who are the Masters of the Wisdom at this time. Only the Christ and the Buddha begin dimly to sense its meaning.

Điều này sẽ dẫn đến một sự kiện có thâm nghĩa huyền bí đến mức Tôi không thể diễn đạt với em dù chỉ ý nghĩa mờ nhạt nhất của nó, bởi vì chính Tôi cũng không biết. Nó nằm quá xa phía trước, ngay cả đối với tất cả những Đấng hiện là các Chân sư Minh Triết. Chỉ Đức Christ và Đức Phật mới bắt đầu cảm nhận mơ hồ ý nghĩa của nó.

288. Master DK is prophesying a “happening” due during the seventh root race. He and the other Masters cannot foresee exactly what that happening will be; it lies too far ahead.

288. Chân sư DK đang tiên tri về một “biến cố” sẽ xảy ra trong giống dân gốc thứ bảy. Ngài và các Chân sư khác không thể thấy trước chính xác biến cố ấy sẽ là gì; nó nằm quá xa trong tương lai.

289. The Christ and the Buddha, who have advanced into their seventh initiation process, are beginning to sense the meaning of this event. Because they have achieved a relation to the number seven, They can sense this great impending event; due in the seventh cycle.

289. Đức Christ và Đức Phật, vốn đã tiến vào tiến trình điểm đạo thứ bảy của Các Ngài, đang bắt đầu cảm nhận ý nghĩa của sự kiện này. Vì Các Ngài đã đạt được một mối liên hệ với con số bảy, Các Ngài có thể cảm nhận sự kiện lớn lao sắp đến này; sự kiện sẽ diễn ra trong chu kỳ thứ bảy.

290. Could the happening have something to do with a more direct relation of Sanat Kumara or the Planetary Logos to the seventh or lowest plane? It is surely beyond our capacity to know, but something of a climactic nature, involving the “Meeting” of the “Highest and Lowest”, would be reasonable to expect.

290. Liệu biến cố ấy có liên quan gì đến một mối liên hệ trực tiếp hơn của Sanat Kumara hay Hành Tinh Thượng đế với cõi thứ bảy, tức cõi thấp nhất chăng? Chắc chắn điều này vượt ngoài khả năng hiểu biết của chúng ta, nhưng sẽ là hợp lý khi mong đợi một điều gì đó mang tính cao trào, liên quan đến “Cuộc Gặp Gỡ” giữa “Cái Cao Nhất và Cái Thấp Nhất”.

Therefore I cannot answer your question because until the head centre is somewhat more awakened my explanation would be meaningless. All I dare say is that by the use of creative imagination, by a constant application to the way of the head, and constant group activity, with an increasing capacity to be detached, and therefore not so potently identified with the individual consciousness, you yourself can perhaps get a faint glimmer of light as to that vibrant reality of which the heart is the reflection.

Vì vậy, Tôi không thể trả lời câu hỏi của em, bởi chừng nào trung tâm đầu chưa thức tỉnh thêm phần nào thì lời giải thích của Tôi vẫn sẽ không có ý nghĩa. Tất cả những gì Tôi dám nói là, bằng cách sử dụng sự tưởng tượng sáng tạo, không ngừng chuyên tâm vào con đường của trung tâm đầu và liên tục hoạt động nhóm, với khả năng tách rời ngày càng gia tăng, nhờ đó không còn đồng hoá quá mạnh mẽ với tâm thức cá nhân, có lẽ chính em sẽ nhận được một tia sáng le lói về thực tại rung động ấy mà tim là sự phản chiếu.

291. We see that Master DK has gone through an elaborate preparation to say that He cannot answer FCD’s question. A greater awakening of the head center would be necessary before any answer would make any sense.

291. Chúng ta thấy rằng Chân sư DK đã chuẩn bị rất công phu để nói rằng Ngài không thể trả lời câu hỏi của FCD. Trung tâm đầu cần thức tỉnh nhiều hơn thì bất kỳ lời đáp nào mới có ý nghĩa.

292. DK tells something of the mode of awakening that head center:

292. Chân sư DK cho biết đôi điều về phương thức đánh thức trung tâm đầu ấy:

a. use of the creative imagination

a. sử dụng sự tưởng tượng sáng tạo

b. “application to the way of the head”

b. “chuyên chú vào con đường của trung tâm đầu”

c. constant group activity

c. hoạt động nhóm liên tục

d. an increasing ability to be detached, and thus disidentified with individual consciousness

d. khả năng tách rời ngày càng tăng, nhờ đó không còn đồng hoá với tâm thức cá nhân

293. What is sought is some knowledge of “that vibrant reality of which the heart is the reflection”. It would seem, from that foregoing discussion, that we should not speak too readily of the “heart in the head” if Master DK is so reserved in speaking about its nature.

293. Điều được tìm kiếm là một sự hiểu biết nào đó về “thực tại rung động ấy, mà trung tâm tim là sự phản chiếu”. Từ phần bàn luận trước đó, dường như chúng ta không nên quá dễ dàng nói về “trung tâm tim trong đầu” nếu Chân sư DK thận trọng đến thế khi nói về bản chất của nó.

294. In the last analysis, the chela is being thrown back on himself for the answer. Greater occult development will begin to reveal it to him.

294. Xét cho cùng, người đệ tử phải trở về dựa vào chính mình để tìm lời đáp. Sự phát triển huyền bí lớn hơn sẽ bắt đầu mặc khải lời đáp ấy cho y.

295. What we have learned, however, is something about the place of the head center, and its heart, in the scheme of human development, and why Master DK cannot give anything like a full answer to the inquiry.

295. Tuy nhiên, điều chúng ta đã học được là đôi điều về vị trí của trung tâm đầu, cùng trung tâm tim của nó, trong toàn bộ tiến trình phát triển của con người, và tại sao Chân sư DK không thể đưa ra bất cứ điều gì gần với một lời đáp đầy đủ cho câu hỏi ấy.

One thing I can add. As I told you before, the activity of the heart centre never demonstrates in connection with individuals. This is a basic fact. What devastates most disciples is the solar plexus ability (when purified and consecrated) to identify itself with individuals. The heart centre cannot react, except under group impetus, group happiness or unhappiness, and other group relations. This may give you a needed hint. It is a subject which you will do well deeply to consider, and to discuss with A.A.B. who—like yourself—is also on the difficult path of teaching and of world salvage.

Tôi có thể bổ sung một điều. Như Tôi đã nói với em trước đây, hoạt động của trung tâm tim không bao giờ biểu hiện trong mối liên hệ với từng cá nhân. Đây là một sự kiện căn bản. Điều khiến phần lớn các đệ tử suy sụp là khả năng của tùng thái dương (khi đã được thanh lọc và thánh hiến) đồng hoá với từng cá nhân. Trung tâm tim chỉ có thể phản ứng dưới xung lực của nhóm, hạnh phúc hay bất hạnh của nhóm, và những mối quan hệ nhóm khác. Điều này có thể cho em một gợi ý cần thiết. Đây là một chủ đề mà em nên suy xét sâu sắc và thảo luận với A.A.B., người—cũng như em—đang đi trên con đường khó khăn của việc giảng dạy và cứu độ thế gian.

296. In attempting to offer more light on the head center, DK discusses the heart center as a chakra which can never demonstrate in connection with individuals. This is an arresting thought, and seems to run counter to what many disciples consider to be their experience.

296. Khi cố gắng làm sáng tỏ thêm về trung tâm đầu, Chân sư DK bàn đến trung tâm tim như một luân xa không bao giờ có thể biểu lộ trong mối liên hệ với các cá nhân. Đây là một ý tưởng đáng chú ý, và dường như trái với điều mà nhiều đệ tử xem là kinh nghiệm của họ.

297. It is probable, however, that when they think they are experiencing their heart center, they are often experiencing the higher aspect of the solar plexus center.

297. Tuy nhiên, có lẽ khi họ nghĩ rằng mình đang trải nghiệm trung tâm tim, họ thường đang trải nghiệm phương diện cao hơn của trung tâm tùng thái dương.

298. We should fix in our minds that it is the solar plexus which confers the ability to identify with individuals. Such identification does not originate from the heart center which can only respond to group conditions.

298. Chúng ta nên ghi nhớ rõ trong thể trí rằng chính tùng thái dương mới ban khả năng đồng hoá với các cá nhân. Sự đồng hoá như thế không bắt nguồn từ trung tâm tim, vốn chỉ có thể đáp ứng với các trạng thái của nhóm.

299. If this is true, what, then, is being implied about the head center or the heart within the head? If the heart center, per se, will only respond to group conditions, can it be said that the head center (and heart in the head) is only responsive to the whole, consisting of the many groups.

299. Nếu điều này đúng, vậy điều gì đang được hàm ý về trung tâm đầu hay trung tâm tim trong đầu? Nếu chính trung tâm tim chỉ đáp ứng với các trạng thái của nhóm, liệu có thể nói rằng trung tâm đầu (và trung tâm tim trong đầu) chỉ đáp ứng với toàn thể, gồm nhiều nhóm hợp thành hay không.

300. We may have to wait for the sixth initiation before we know something about the full flowering of the head center, for it corresponds, in a way, to the monad (with its focus on the sixth plane, counting from below). The head center represents abstraction from the lower five planes. The ajna center may represent the peak of atma, and the fifth degree. The effulgence of the head center may have to wait for the relative liberation of the monad at the sixth degree. This would mean, however, that only a Chohan demonstrating through a mayavirupa could demonstrate the full effulgence of the head center.

300. Có lẽ chúng ta phải chờ đến lần điểm đạo thứ sáu mới biết được đôi điều về sự nở rộ trọn vẹn của trung tâm đầu, vì theo một cách nào đó, nó tương ứng với chân thần (có điểm tập trung trên cõi thứ sáu, tính từ dưới lên). Trung tâm đầu đại diện cho sự triệt thoái khỏi năm cõi thấp. Trung tâm ajna có thể đại diện cho đỉnh cao của atma và bậc năm. Có lẽ sự chói rạng của trung tâm đầu phải chờ đến khi chân thần được giải thoát tương đối ở bậc sáu. Tuy nhiên, điều này có nghĩa là chỉ một Chohan biểu lộ qua một mayavirupa mới có thể biểu thị sự chói rạng trọn vẹn của trung tâm đầu.

301. DK seems to be asking FCD to focus on the heart and its relation to the solar plexus, rather than concentrating overly much on the head center. It is clear that FCD is a victim of solar plexus identification with others, and that AAB has been no stranger to this same condition. They are both on the Path of World Saviours and therefore, both have the liability of over-sensitivity.

301. Dường như Chân sư DK đang yêu cầu FCD tập trung vào trung tâm tim và mối liên hệ của nó với tùng thái dương, thay vì tập trung quá nhiều vào trung tâm đầu. Rõ ràng FCD là nạn nhân của sự đồng hoá với người khác qua tùng thái dương, và AAB cũng không xa lạ với tình trạng này. Cả hai đều ở trên Con Đường của Những Đấng Cứu Thế và do đó, cả hai đều có nguy cơ quá nhạy cảm.

302. The Tibetan seems to be saying “first things first”. If true heart response is achieved, maybe light will dawn on its higher correspondence, the heart in the head.

302. Dường như Chân sư Tây Tạng đang nói rằng “việc gì trước thì làm trước”. Nếu đạt được sự đáp ứng chân thực của trung tâm tim, có lẽ ánh sáng sẽ soi tỏ sự tương ứng cao hơn của nó, trung tâm tim trong đầu.

August 1946- Tháng Tám 1946-

MY BELOVED BROTHER:

HUYNH ĐỆ YÊU QUÝ CỦA TÔI:

You will have, by now, read and absorbed the papers and communications which have been held for you until the close [470] of the war and the attainment of physical safety for you. There has been no great need for me to express myself on the situation which has existed, for the closeness of the link between the Master K.H., myself and you ensures understanding and precludes waste of time.

Đến nay, hẳn em đã đọc và thấm nhuần những tài liệu và thư từ đã được giữ lại cho em cho đến khi chiến tranh [470] kết thúc và em được an toàn về thể chất. Tôi không cần bày tỏ nhiều về tình hình đã diễn ra, vì mối liên kết mật thiết giữa Chân sư KH, Tôi và em bảo đảm sự thấu hiểu và tránh lãng phí thời gian.

303. We may wonder how many years of papers and communications were held for FCD due to the impossibility of reaching him by mail. Perhaps three to four years, maybe more. After all, there was a state of war existing between Italy and the United States since 1940. Even in 1940, a NSG address list, gave no address for FCD. All communications for him were to be sent to “Headquarters”. At the very least, the papers had been held since November of 1944, because an address list of New Seed Group members prepared at that time listed no known address for FCD. Thus it would appear that DK wrote a number of His letters as if FCD could read and receive them, even if he could not—at least as far as we know. Perhaps, because the Masters thoughts about him were clearly formulated in writing, FCD received impressions of the content of these letters psychically. At the end of the war the task of absorbing the Master’s precipitated thoughts for him must have been staggering—so much had been conveyed.

303. Chúng ta có thể tự hỏi các tài liệu và thông điệp đã được giữ lại cho FCD trong bao nhiêu năm vì không thể liên lạc với ông qua thư tín. Có lẽ ba đến bốn năm, cũng có thể lâu hơn. Xét cho cùng, tình trạng chiến tranh đã tồn tại giữa Ý và Hoa Kỳ từ năm 1940. Ngay trong năm 1940, một danh sách địa chỉ của NSG đã không ghi địa chỉ của FCD. Mọi thông điệp gửi cho ông đều phải chuyển đến “Trụ sở”. Ít nhất, các tài liệu đã được giữ lại từ tháng Mười Một năm 1944, vì một danh sách địa chỉ các thành viên của Nhóm Hạt Giống Mới được lập vào thời điểm đó ghi rằng không biết địa chỉ của FCD. Vì thế, dường như Chân sư DK đã viết một số bức thư của Ngài như thể FCD có thể đọc và nhận chúng, dù ông không thể—ít nhất theo những gì chúng ta biết. Có lẽ, vì những tư tưởng của Chân sư về ông đã được diễn đạt rõ ràng thành văn, FCD đã tiếp nhận những ấn tượng về nội dung các bức thư này qua khả năng thông linh. Khi chiến tranh kết thúc, việc hấp thu những tư tưởng mà Chân sư đã ngưng tụ thành văn dành cho ông hẳn là một nhiệm vụ choáng ngợp—vì quá nhiều điều đã được truyền đạt.

304. Astrologically, the progressing Moon is moving into Scorpio during the month in which this instruction is dated. Most importantly, there is an exact Saturn Return, which continues through the middle of 1947. Two Saturn cycles are now over, and FCD is in a position to evaluate all that has happened and to begin the work which Master DK has fully outlined for him, and of which he, perhaps, has just been apprised.

304. Về mặt chiêm tinh, Mặt Trăng tiến trình đang đi vào Hổ Cáp trong tháng ghi ngày của huấn thị này. Quan trọng nhất là có một lần Sao Thổ hồi vị chính xác, kéo dài đến giữa năm 1947. Giờ đây, hai chu kỳ Sao Thổ đã hoàn tất, và FCD có thể đánh giá tất cả những gì đã xảy ra rồi bắt đầu công việc mà Chân sư DK đã phác thảo đầy đủ cho ông, và có lẽ ông chỉ vừa mới được biết đến.

305. With the receipt of this communication (1946), physical plane safety has been attained.

305. Khi nhận được thông điệp này (1946), ông đã được an toàn trên cõi hồng trần.

306. It is also with this series of instructions to His chelas that Master DK ended His formal work with the New Seed Group. He does not elaborate the matter with FCD, for it seem that he knows why it has happened (due to his closeness to Masters DK and KH).

306. Cũng với loạt huấn thị này dành cho các đệ tử của Ngài, Chân sư DK đã kết thúc công việc chính thức của Ngài với Nhóm Hạt Giống Mới. Ngài không giải thích cặn kẽ vấn đề này với FCD, vì dường như ông biết tại sao điều đó đã xảy ra (do sự gần gũi của ông với các Chân sư DK và KH).

You have come through a period of great difficulty and danger with no loss of your spiritual grip upon essential reality or of your spiritual vision; your strength has been such that you have lifted your family with you and safeguarded them also all the time. Having achieved one pinnacle of spiritual success, another can be glimpsed, and between the two pinnacles lies a field of service, a sphere of danger, a land of glamour and deep morasses through which you must struggle, until the point of attainment planned by your soul for this life is yours. You can achieve, and for your aiding, I and A.A.B. stand ready.

Em đã vượt qua một thời kỳ vô cùng khó khăn và nguy hiểm mà không mất đi sự nắm vững về mặt tinh thần đối với thực tại cốt yếu, cũng không mất đi tầm nhìn tinh thần của mình; sức mạnh của em lớn đến mức em đã nâng đỡ gia đình cùng em và luôn bảo vệ họ. Khi đã đạt đến một đỉnh cao thành tựu tinh thần, em có thể thoáng thấy một đỉnh cao khác; giữa hai đỉnh cao là một lĩnh vực phụng sự, một vùng hiểm nguy, một miền ảo cảm và những đầm lầy sâu mà em phải vật lộn vượt qua, cho đến khi đạt được mức thành tựu mà linh hồn em đã hoạch định cho kiếp này. Em có thể thành tựu, và Tôi cùng A.A.B. luôn sẵn sàng trợ giúp em.

307. For FCD his passage through the war has been a triumph. He came through “with no loss of your spiritual grip upon essential reality or of your spiritual vision”. With great strength he also lifted and safeguarded his family (an indication of the power and tenacity of his Cancer Ascendant).

307. Đối với FCD, việc ông vượt qua cuộc chiến là một thắng lợi. Ông đã vượt qua “mà không đánh mất sự nắm vững về mặt tinh thần đối với thực tại cốt yếu, cũng không đánh mất tầm nhìn tinh thần của mình”. Với sức mạnh lớn lao, ông cũng đã nâng đỡ và bảo vệ gia đình mình (một dấu hiệu về quyền năng và sự kiên trì của Điểm mọc Cự Giải của ông).

308. Now an important occult hint is given. DK says that FCD has “achieved one pinnacle of spiritual success”. This may well mean, in his case, the third initiation. The other than can be glimpsed would then be the fourth degree.

308. Giờ đây, một gợi ý huyền bí quan trọng được đưa ra. Chân sư DK nói rằng FCD đã “đạt tới một đỉnh cao thành tựu tinh thần”. Trong trường hợp của ông, điều này rất có thể hàm ý lần điểm đạo thứ ba. Khi ấy, đỉnh cao còn lại có thể thoáng thấy sẽ là cấp độ thứ tư.

309. DK speaks of that which lies between the two pinnacles:

309. Chân sư DK nói về những gì nằm giữa hai đỉnh cao:

a. a field of service

a. một lĩnh vực phụng sự

b. a sphere of danger

b. một phạm vi nguy hiểm

c. a land of glamour and deep morasses

c. một miền đầy ảo cảm và những đầm lầy sâu

310. The description of the intermediate conditions sounds much more like those existing between the third and fourth initiation (at which time the new initiate must descend from the mountaintop and serve humanity in all sorts of difficult conditions) than it does the approach to the third degree during which time illusion must be conquered. FCD, it would seem, is already the rich young man, has sold all he owns and given the money to the poor, and is following the Christ.

310. Sự mô tả các điều kiện trung gian nghe giống những điều kiện tồn tại giữa lần điểm đạo thứ ba và thứ tư hơn nhiều (khi ấy, điểm đạo đồ mới phải đi xuống từ đỉnh núi và phụng sự nhân loại trong đủ mọi điều kiện khó khăn), hơn là sự tiến đến cấp độ thứ ba, trong thời gian đó phải chinh phục ảo tưởng. Dường như FCD đã là người thanh niên giàu có ấy, đã bán tất cả những gì mình sở hữu và đem tiền cho người nghèo, và đang đi theo Đức Christ.

311. In the meditation below called “The Pinnacles” the second pinnacle is seemingly miles away. If the objective were the third degree, it would not seem so far.

311. Trong bài thiền bên dưới mang tên “Các Đỉnh Cao”, đỉnh cao thứ hai dường như ở cách xa hàng dặm. Nếu mục tiêu là cấp độ thứ ba, thì có lẽ nó không có vẻ xa đến thế.

312. We do not know what the “point of attainment planned by your soul for this life” may be. Is it the fourth degree or some intermediate stage?

312. Chúng ta không biết “điểm thành tựu mà linh hồn em đã hoạch định cho kiếp sống này” có thể là gì. Đó là cấp độ thứ tư hay một giai đoạn trung gian nào đó?

A debate arose between your Master (K.H.) and myself. You had been sent (or loaned if I might call it so) to aid in my Ashram. We discussed the subject as to whether the sufferings of the past few years did not warrant your return to the Ashram of K.H.; the work there would be hard but not of the same kind, and there would not be so much need for contact work on the physical plane. I claimed that you were strong enough for the dual test; K.H. felt that you probably were, but that there was no need to ask a disciple always to drink the cup of sacrifice to its very last drop—not at least until the crucifixion initiation is your right. The task today proffered you, and its incidental strain and suffering, will be of another kind and the pain endured will be largely mental, but "you can take it," as the saying is. It was decided to let you attempt the task demanded for three years or for seven (according to your own choice) and then, if you decide to do no more along the indicated lines, you can relinquish the task [an ellipsis exists, but there is no excision] with no sense of failure.

Một cuộc tranh luận đã diễn ra giữa Chân sư của em (Chân sư KH) và Tôi. Em đã được cử đến (hay cho mượn nếu Tôi có thể gọi như vậy) để trợ giúp trong ashram của Tôi. Chúng Tôi đã bàn xem liệu những đau khổ trong vài năm qua có đủ lý do để em trở về ashram của Chân sư KH hay không; công việc ở đó sẽ khó khăn nhưng thuộc một loại khác, và nhu cầu thực hiện công việc tiếp xúc trên cõi hồng trần cũng sẽ ít hơn. Tôi khẳng định rằng em đủ mạnh mẽ để vượt qua thử thách kép này; Chân sư KH cảm thấy có lẽ em đủ sức, nhưng không cần lúc nào cũng yêu cầu một đệ tử uống chén hi sinh đến giọt cuối cùng—ít nhất là cho đến khi em có quyền bước vào cuộc điểm đạo Đóng Đinh. Nhiệm vụ được trao cho em hôm nay, cùng với những căng thẳng và đau khổ đi kèm, sẽ thuộc một loại khác, và nỗi đau em phải chịu đựng sẽ chủ yếu thuộc về trí tuệ, nhưng như người ta thường nói, “em có thể chịu đựng được”. Chúng Tôi đã quyết định để em thử đảm nhận nhiệm vụ được yêu cầu trong ba năm hoặc bảy năm (tùy theo lựa chọn của chính em), rồi sau đó, nếu em quyết định không tiếp tục theo những đường hướng đã chỉ ra, em có thể buông bỏ nhiệm vụ ấy [có dấu chấm lửng, nhưng không có phần nào bị lược bỏ] mà không cảm thấy mình thất bại.

313. We have learned that the Masters do indeed “debate”. To debate means no argument; simply a spirited exchange of points of view.

313. Chúng ta đã biết rằng các Chân sư quả thực có “trao đổi quan điểm”. Trao đổi quan điểm không hàm ý tranh cãi; đó chỉ là sự trao đổi sôi nổi giữa các quan điểm.

314. FCD has been “loaned” to DK’s Ashram. The topic was FCD’s suffering during the war and whether that suffering did not warrant a return to KH’s Ashram where there would not be so much need for contact on the physical plane. We remember that DK urged FCD to lessen his physical contacts, or at least his attachment to the many clinging hands.

314. FCD đã được “cho mượn” đến ashram của Chân sư DK. Chủ đề là những đau khổ của FCD trong chiến tranh và liệu những đau khổ ấy có đủ lý do để ông trở về ashram của Chân sư KH, nơi sẽ không cần nhiều sự tiếp xúc trên cõi hồng trần đến thế, hay không. Chúng ta nhớ rằng Chân sư DK đã thúc giục FCD giảm bớt những tiếp xúc hồng trần của ông, hoặc ít nhất là sự gắn bó của ông với nhiều bàn tay đang níu kéo.

315. DK, we see, urged the more strenuous approach, seeking for FCD to remain in both Ashrams. Master KH thought there was no need for FCD to “drink the cup of sacrifice to its very last drop” until—and this is important—the crucifixion initiation is his right. We may judge from this that although there are strong indications that FCD had taken the third initiation, and although he was being offered an assignment on the Path of the World Saviours, he had not yet approached sufficiently close to the fourth degree to necessitate complete sacrifice. But was Master DK really asking for complete sacrifice?

315. Chúng ta thấy Chân sư DK đã thúc đẩy đường hướng đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn, muốn FCD tiếp tục ở trong cả hai ashram. Chân sư KH cho rằng không cần để FCD “uống chén hi sinh đến giọt cuối cùng” cho đến khi—và điều này quan trọng—ông có quyền bước vào cuộc điểm đạo đóng đinh trên thập giá. Từ đó, chúng ta có thể nhận định rằng mặc dù có những dấu hiệu rõ rệt cho thấy FCD đã trải qua lần điểm đạo thứ ba, và mặc dù ông đang được giao một nhiệm vụ trên Con Đường của Các Đấng Cứu Thế, ông vẫn chưa tiến đủ gần cấp độ thứ tư để cần đến sự hi sinh hoàn toàn. Nhưng liệu Chân sư DK có thực sự yêu cầu sự hi sinh hoàn toàn không?

316. The outcome of the debate is a little uncertain. The assignment FCD earlier received (1942 and 1943) was related to the Path of World Saviours and, seemingly, emanate from KH’s Ashram. It would, however, require considerable contact work on the outer plane. Yet, Master DK is the “contact man” in the Hierarchy, and His disciples are more focussed upon the physical plane. So there is some ambiguity here. Later, it is shown that the work with the Jewish people is also intimately related to the Master DK’s work, so for FCD to remain with that task would be to remain for a certain duration in DK’s Ashram.

316. Kết quả của cuộc trao đổi quan điểm có phần chưa rõ. Nhiệm vụ mà FCD đã nhận trước đó (năm 1942 và 1943) liên quan đến Con Đường của Các Đấng Cứu Thế và dường như xuất phát từ ashram của Chân sư KH. Tuy nhiên, nhiệm vụ ấy sẽ đòi hỏi khá nhiều công việc tiếp xúc trên cõi bên ngoài. Thế nhưng Chân sư DK lại là “người phụ trách tiếp xúc” trong Thánh đoàn, và các đệ tử của Ngài tập trung nhiều hơn vào cõi hồng trần. Vì vậy, ở đây có phần mơ hồ. Về sau, chúng ta thấy rằng công việc với người Do Thái cũng liên hệ mật thiết với công việc của Chân sư DK, nên việc FCD tiếp tục nhiệm vụ ấy có nghĩa là tiếp tục ở trong ashram của Chân sư DK trong một thời gian nhất định.

317. It is clear, at least, that FCD will not immediately have to drain the cup to its very last drop, although the work required will be arduous, and there will be mental pain.

317. Ít nhất có một điều rõ ràng: FCD sẽ không phải lập tức uống cạn chén đến giọt cuối cùng, mặc dù công việc được yêu cầu sẽ gian nan và sẽ có đau đớn về trí tuệ.

318. The choice being discussed correlates with the return of Saturn to its natal position. The choice (regarding work to be offered to him) is, however, being made by FCD’s Superiors and not so much by him, himself. Acceptance or rejection will be his choice.

318. Sự lựa chọn đang được thảo luận tương ứng với việc Sao Thổ trở về vị trí bản mệnh. Tuy nhiên, sự lựa chọn ấy (về công việc sẽ giao cho ông) do Các Đấng Bề Trên của FCD quyết định, hơn là do chính ông. Chấp nhận hay từ chối sẽ là lựa chọn của ông.

319. In any case, the task which FCD has been offered (and is still offered as a result of Master DK’s and Master KH’s decision) involved redemptive work with the Jewish people. It was decided between DK and KH to let FCD work at this for three years or perhaps seven years, and then to decide whether he wished to continue with it. Three years would take him to 1949; seven years to 1953. In the early 1950’s, some time after the death of FCD’s son in 1951, the Foundation for an Italian Union for progressive Judaism was founded, so FCD must have persisted with this task for some time beyond the shorter of the two spans (the three year span).

319. Dù sao đi nữa, nhiệm vụ đã được giao cho FCD (và vẫn tiếp tục được giao theo quyết định của Chân sư DK và Chân sư KH) liên quan đến công việc cứu chuộc với người Do Thái. Chân sư DK và Chân sư KH đã quyết định để FCD làm công việc này trong ba năm hoặc có thể bảy năm, rồi quyết định xem ông có muốn tiếp tục hay không. Ba năm sẽ đưa ông đến năm 1949; bảy năm đến năm 1953. Vào đầu những năm 1950, một thời gian sau khi con trai FCD qua đời năm 1951, Quỹ xây dựng một Liên hiệp Ý vì Do Thái giáo tiến bộ được thành lập, nên hẳn FCD đã kiên trì thực hiện nhiệm vụ này thêm một thời gian sau khoảng thời gian ngắn hơn trong hai khoảng ấy (khoảng ba năm).

320. We may view this task as FCD’s preparation for the fourth degree. DK tells him that at the end of either three or seven years he may relinquish the task, if he so chooses—with no sense of failure. We remember the freedom given to those who are on the Path of World Saviours. We could wonder, however, that, were relinquishment to come, would it mean that the fourth degree would have to be deferred until the next incarnation?

320. Chúng ta có thể xem nhiệm vụ này là sự chuẩn bị của FCD cho cấp độ thứ tư. Chân sư DK nói với ông rằng sau ba hoặc bảy năm, ông có thể từ bỏ nhiệm vụ nếu muốn—mà không cảm thấy thất bại. Chúng ta nhớ đến sự tự do dành cho những người ở trên Con Đường của Các Đấng Cứu Thế. Tuy nhiên, chúng ta có thể tự hỏi rằng nếu ông từ bỏ, liệu điều đó có nghĩa là cấp độ thứ tư sẽ phải trì hoãn đến kiếp nhập thể tiếp theo hay không?

321. What we know of FCD’s later life is that it was given to developing Psychosynthesis. It would seem that the work with the Jewish people did not continue in great force, at least not obviously so (although there may have been much work done behind the scenes of which we can know nothing). Besides, Master DK (in consultation with Master KH) foresaw, probably, a maximally seven year period of involvement with this task.

321. Điều chúng ta biết về cuộc đời về sau của FCD là ông đã dành nó cho việc phát triển Tâm lý Tổng hợp. Dường như công việc với người Do Thái đã không tiếp tục một cách mạnh mẽ, ít nhất là không rõ rệt như vậy (mặc dù có thể đã có nhiều công việc diễn ra ở hậu trường mà chúng ta hoàn toàn không biết). Ngoài ra, có lẽ Chân sư DK (sau khi tham khảo ý kiến Chân sư KH) đã dự kiến thời gian tham gia nhiệm vụ này tối đa là bảy năm.

322. It would seem that the Psychosynthesis work was more correlated with the Ashram of Master KH, and that for the remainder of his life, FCD worked increasingly “behind the scenes”, though powerfully so, inspiring many people, writing, and helping establish spiritual and psychological centers. A number of Psychosynthesis Institutes appeared and spread around the Western world. Mediation Mount in Ojai, California, also appeared. Perhaps there were others.

322. Dường như công việc Tâm lý Tổng hợp liên hệ nhiều hơn với ashram của Chân sư KH, và trong phần đời còn lại, FCD ngày càng làm việc nhiều hơn “ở hậu trường”, nhưng vẫn rất mạnh mẽ, truyền cảm hứng cho nhiều người, viết sách và giúp thành lập các trung tâm tinh thần và tâm lý học. Một số Viện Tâm lý Tổng hợp đã xuất hiện và lan rộng khắp thế giới phương Tây. Núi Tham thiền tại Ojai, California, cũng xuất hiện. Có lẽ còn có những nơi khác.

323. FCD, we know, worked behind a “wall of silence” concerning his occult activities. He scrupulously tried to keep his many and varied occult interests separated from his psychological practice and, in general, from his public image. Today, however, some thirty years after his death, that “wall” has many breaches, and Psychosynthesis advocates are divided about the importance of FCD’s occult interests and whether they should be openly related to Psychosynthesis.

323. Chúng ta biết FCD đã làm việc sau một “bức tường im lặng” về các hoạt động huyền bí của ông. Ông hết sức cẩn trọng giữ cho nhiều mối quan tâm huyền bí đa dạng của mình tách biệt với hoạt động thực hành tâm lý học và, nói chung, với hình ảnh của ông trước công chúng. Tuy nhiên, ngày nay, khoảng ba mươi năm sau khi ông qua đời, “bức tường” ấy đã có nhiều chỗ bị phá vỡ, và những người ủng hộ Tâm lý Tổng hợp có ý kiến khác nhau về tầm quan trọng của các mối quan tâm huyền bí của FCD cũng như việc có nên công khai liên hệ chúng với Tâm lý Tổng hợp hay không.

As you know, the task consists in the effort to help the Jewish people to see their plight in a different light. They must register the situation in the light of truth. This work can be undertaken only by people who, like yourself, have taken a Jewish body but have not Jewish consciousness, who repudiate without any difficulty the dreadful and revengeful Jehovah of the Jewish religion and who never act or think as does the average Jew. You, my brother, meet all these requirements, though R.K (i.e., RSU) does not. This work is most definitely part of my work ... and I shall be in touch [471] with you at frequent intervals. On that statement you can emphatically rely.

Như em biết, nhiệm vụ này nằm ở nỗ lực giúp người Do Thái nhìn hoàn cảnh khốn khó của họ dưới một ánh sáng khác. Họ phải nhận biết tình hình dưới ánh sáng của chân lý. Chỉ những người như em mới có thể đảm nhận công việc này, những người đã mang một thân thể Do Thái nhưng không có tâm thức Do Thái, những người không chút khó khăn bác bỏ Jehovah đáng sợ và đầy thù hận của Do Thái giáo và không bao giờ hành động hay suy nghĩ như người Do Thái thông thường. Huynh đệ của tôi, em đáp ứng tất cả những yêu cầu này, nhưng R.K (tức RSU) thì không. Công việc này chắc chắn là một phần công việc của Tôi ... và Tôi sẽ thường xuyên liên lạc [471] với em. Em có thể hoàn toàn tin cậy vào lời khẳng định ấy.

The edited and altered text that appeared in DINA II was as follows: [ “This work can be undertaken only by people who, like yourself, repudiate without any difficulty all separative attitudes and who ever act and think in terms of the one humanity and with inclusive love. You, my brother, meet all these requirements....”]

Văn bản đã biên tập và sửa đổi xuất hiện trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới II như sau: [ “Chỉ những người giống như em, có thể dễ dàng bác bỏ mọi thái độ chia rẽ, luôn hành động và suy nghĩ trên nền tảng một nhân loại duy nhất và với tình thương bao gồm, mới có thể đảm nhận công việc này. Huynh đệ của tôi, em đáp ứng tất cả những yêu cầu ấy....”]

324. DK comes back to the main issue which He has been discussing with FCD for the last few communications (whether or not FCD had actually read these communications shortly after they were transcribed). We can see DK’s essentially benevolent attitude to the Jewish people, even though His frankness offends some with high solar plexus sensitivity. That the Jews are deeply immersed in a “plight” is acknowledged, but the way through it, is to see the plight “in a different light”. A program of re-education must be undertaken so the Jews can understand their condition in the light of a wider truth.

324. Chân sư DK trở lại vấn đề chính mà Ngài đã thảo luận với FCD trong vài lần truyền đạt gần nhất (dù FCD có thực sự đọc những lời truyền đạt này ngay sau khi chúng được ghi lại hay không). Chúng ta có thể thấy thái độ về cơ bản là nhân từ của Chân sư DK đối với người Do Thái, mặc dù sự thẳng thắn của Ngài khiến một số người có tùng thái dương rất nhạy cảm cảm thấy bị xúc phạm. Ngài thừa nhận rằng người Do Thái đang chìm sâu trong một “hoàn cảnh khốn khó”, nhưng cách vượt qua là nhìn hoàn cảnh ấy “dưới một ánh sáng khác”. Cần thực hiện một chương trình giáo dục lại để người Do Thái có thể thấu hiểu tình trạng của họ dưới ánh sáng của một chân lý rộng lớn hơn.

325. It makes sense that no group will take initially unpalatable advice from an ‘outsider’. FCD, because his mother was Jewish, is an ‘insider’. The fact that he is Jewish by heredity makes him far more acceptable to the Jews than if he had been a Gentile.

325. Điều hợp lý là không nhóm nào chịu tiếp nhận ngay những lời khuyên khó nghe từ một ‘người ngoài’. Vì mẹ ông là người Do Thái, FCD là một ‘người trong cuộc’. Việc ông là người Do Thái theo huyết thống khiến ông dễ được người Do Thái chấp nhận hơn nhiều so với nếu ông là người ngoài Do Thái.

326. But his consciousness is not Jewish, and like so many thinking people in the modern world, he rejects “the dreadful and revengeful Jehovah of the Jewish religion”. HPB has much to say of Jehovah as a lunar deity, and not an especially high one. Those with no knowledge of occultism will not be able to see to the truth of the matter.

326. Nhưng tâm thức của ông không phải là tâm thức Do Thái, và cũng như rất nhiều người biết suy xét trong thế giới hiện đại, ông bác bỏ “Jehovah đáng sợ và đầy thù hận của Do Thái giáo”. Bà HPB nói nhiều về Jehovah như một vị thần thái âm, và không phải một vị thần đặc biệt cao cả. Những người không có kiến thức về huyền bí học sẽ không thể thấy được sự thật của vấn đề.

327. FCD meets the requirements. R.K (also known as RSU—Regina Keller), so we are told, does not meet these requirement, for although she is Jewish, she is overly identified with the limited perspective and ‘wounded’ psyche Jewish people. She identifies, as DK says, as a “persecuted Jew”. Therefore she lacks the necessary objectivity on the Jewish problem, and cannot see things as the Hierarchy sees them. Therefore, she cannot represent Them.

327. FCD đáp ứng các yêu cầu. Theo lời chúng ta được biết, R.K (còn được biết đến là RSU—Regina Keller) không đáp ứng những yêu cầu này, vì mặc dù là người Do Thái, bà đồng hoá quá mức với góc nhìn hạn hẹp và tâm lý ‘bị tổn thương’ của người Do Thái. Như Chân sư DK nói, bà đồng hoá mình với một “người Do Thái bị bức hại”. Vì vậy, bà thiếu tính khách quan cần thiết đối với vấn đề Do Thái và không thể nhìn sự việc như Thánh đoàn nhìn nhận. Do đó, bà không thể đại diện cho Các Ngài.

328. It would seem that FCD cannot easily avoid the responsibility which has come his way, even though his free choice in the matter is affirmed by the very Masters Who have presented him with this “assignment”.

328. Dường như FCD không thể dễ dàng tránh trách nhiệm đã đến với ông, mặc dù chính các Chân sư đã giao cho ông “nhiệm vụ” này khẳng định quyền tự do lựa chọn của ông trong vấn đề ấy.

I would ask you to hold conversation with A.A.B. on this matter for (as I told you in earlier papers) she knows more about the problem than most people and has always loved the Jews and worked for them. In the enormous task of extricating the Jews from their ancient complexes and liberating them from a carefully cultivated persecution mania – a cultivation and a mania which their religious rituals have perpetuated for three thousand years – strong measures are and have been needed. The article I wrote wherein I appealed to the Jew to recognise his responsibility and to realise the existence of faults in the Jewish race, which he must change and for which he has pain penalty over the ages, has been well received by the younger Jews, but violently repudiated by older Jews, such as R.K. (RSU) and some of her family. The “attack” made by me upon the churchianity of Christianity is far more drastic than that made upon the Jews.

Tôi muốn em trao đổi với A.A.B. về vấn đề này vì (như Tôi đã nói với em trong những tài liệu trước) bà biết về vấn đề này nhiều hơn phần lớn mọi người và luôn yêu thương người Do Thái, làm việc vì họ. Trong nhiệm vụ to lớn nhằm giải thoát người Do Thái khỏi những phức cảm lâu đời và giải phóng họ khỏi chứng ám ảnh bị bức hại đã được nuôi dưỡng kỹ lưỡng—sự nuôi dưỡng và chứng ám ảnh mà các nghi lễ tôn giáo của họ đã duy trì suốt ba nghìn năm—những biện pháp mạnh mẽ đã và đang là điều cần thiết. Bài viết của Tôi, trong đó Tôi kêu gọi người Do Thái nhìn nhận trách nhiệm của mình và nhận ra những khuyết điểm tồn tại trong dân tộc Do Thái, những khuyết điểm mà họ phải thay đổi và vì chúng mà họ đã phải trả giá qua bao thời đại, đã được những người Do Thái trẻ tuổi đón nhận tích cực, nhưng bị những người Do Thái lớn tuổi như R.K (RSU) và một số người trong gia đình bạn ấy quyết liệt bác bỏ. “Sự công kích” của Tôi nhằm vào chủ nghĩa giáo hội của Cơ Đốc giáo còn gay gắt hơn nhiều so với sự công kích nhằm vào người Do Thái.