Trích nội dung chương
329. We read of AAB’s love of the Jews: “she…has always loved the Jews and worked for them”. This is exactly opposite to what many people have come to believe! She can counsel FCD on the matter because she knows much about the problem. 329. Chúng ta đọc thấy tình thương của Bà AAB dành cho người Do Thái: “bà…luôn yêu thương người Do Thái, làm việc vì họ”. Điều này hoàn toàn trái ngược với những gì nhiều người đã tin! Bà có thể tư vấn cho FCD về việc này vì bà biết nhiều về vấn đề ấy.
329. We read of AAB’s love of the Jews: “she…has always loved the Jews and worked for them”. This is exactly opposite to what many people have come to believe! She can counsel FCD on the matter because she knows much about the problem.
329. Chúng ta đọc thấy tình thương của Bà AAB dành cho người Do Thái: “bà…luôn yêu thương người Do Thái, làm việc vì họ”. Điều này hoàn toàn trái ngược với những gì nhiều người đã tin! Bà có thể tư vấn cho FCD về việc này vì bà biết nhiều về vấn đề ấy.
330. Facing FCD is an “enormous task”, although it does not face him alone. He can be a significant teacher in the process of “extricating the Jews from their ancient complexes and liberating them from a carefully cultivated persecution mania…”
330. Trước FCD là một “nhiệm vụ to lớn”, mặc dù không phải chỉ mình ông đối diện với nó. Ông có thể là một huấn sư có vai trò đáng kể trong tiến trình “giải thoát người Do Thái khỏi những phức cảm lâu đời và giải phóng họ khỏi chứng ám ảnh bị bức hại đã được nuôi dưỡng kỹ lưỡng…”
331. Complexes are unconscious thought patterns which live a semi-autonomous life in the unconscious psyche. Any kind of ritual, oft repeated, is an agency of reinforcement, and Jewish rituals, says the Tibetan, reinforce the ancient complexes.
331. Phức cảm là những mô hình tư tưởng vô thức sống một đời sống bán tự trị trong phần tâm lý vô thức. Bất kỳ loại nghi lễ nào được lặp đi lặp lại thường xuyên cũng là một phương tiện củng cố, và theo Chân sư Tây Tạng, các nghi lễ Do Thái củng cố những phức cảm lâu đời ấy.
332. It is interesting that the number “3000” is given, when the usual history of the Jews dates from 4000 years ago or even earlier. Three thousand years takes us back to the time of the great Hebrew kings and to Joshua (an earlier incarnation of the Master Jesus) whose armies slaughtered thousands in aggressive wars to seize the “Promised Land”, ‘promised’ to the Jews by Jehovah (admittedly, a jealous, blood-thirsty, revengeful god). The major ‘sins’ committed by the Hebrews date from this period.
332. Điều thú vị là con số “3000” được đưa ra, trong khi lịch sử thông thường của người Do Thái bắt đầu từ 4000 năm trước hoặc thậm chí sớm hơn. Ba nghìn năm đưa chúng ta trở lại thời các vị vua Hebrew vĩ đại và Joshua (một kiếp nhập thể trước của Chân sư Jesus), người có những đạo quân đã tàn sát hàng nghìn người trong các cuộc chiến tranh xâm lược nhằm chiếm “Đất Hứa”, vùng đất mà Jehovah đã ‘hứa ban’ cho người Do Thái (phải thừa nhận rằng đó là một vị thần đố kỵ, khát máu và đầy thù hận). Những ‘tội lỗi’ chính của người Hebrew bắt nguồn từ thời kỳ này.
333. Is somehow fitting that much of this enormous task of psychological redemption falls upon one of the finest, deepest and most spiritual of the world’s psychologists.
333. Có phần thích hợp khi phần lớn nhiệm vụ cứu chuộc về mặt tâm lý to lớn này đặt lên vai một trong những nhà tâm lý học xuất sắc nhất, sâu sắc nhất và có tính tinh thần nhất thế giới.
334. Master DK has written much on the Jewish Problem, and has been much criticized for doing so. Perhaps, AAB has been even more criticized, for it is assumed by many that it is her attitudes (not those of the Tibetan) that come through the words which have been written on the subject.
334. Chân sư DK đã viết nhiều về Vấn đề Do Thái và đã bị chỉ trích nhiều vì điều đó. Có lẽ Bà AAB còn bị chỉ trích nhiều hơn, vì nhiều người cho rằng chính thái độ của bà (chứ không phải của Chân sư Tây Tạng) đã thể hiện qua những lời viết về chủ đề này.
335. We see that, in DK’s view, one of His very own and most trusted disciples (RSU) has violently repudiated His analysis of the Jewish Problem. It is obvious that He considers this repudiation a serious mistake.
335. Chúng ta thấy rằng, theo quan điểm của Chân sư DK, một trong những đệ tử thân cận và được Ngài tin cậy nhất (RSU) đã quyết liệt bác bỏ sự phân tích của Ngài về Vấn đề Do Thái. Hiển nhiên, Ngài xem sự bác bỏ này là một sai lầm nghiêm trọng.
336. DK closes with an important and, perhaps, surprising statement: in His eyes, the so-called “‘attack’ made by me upon the churchianity of Christianity is far more drastic than that made upon the Jews.” A careful reading of all that Master DK has said about the present state of the Church will confirm His assessment. The reason for the over-reaction of Jewish people and passionate sympathizers is that there are very many Christians and only relatively few Jews. The atrocities of the Second World War (also, let us remember, perpetrated against Christians of conscience) did much to feed the over-reaction. Then, there is the highly sensitive Jewish solar plexus, as the Jews are said to be, by DK, the solar plexus of humanity.
336. Chân sư DK kết thúc bằng một phát biểu quan trọng và có lẽ đáng ngạc nhiên: theo Ngài, cái gọi là “‘sự công kích’ của Tôi nhằm vào chủ nghĩa giáo hội của Cơ Đốc giáo còn gay gắt hơn nhiều so với sự công kích nhằm vào người Do Thái”. Đọc kỹ tất cả những gì Chân sư DK đã nói về tình trạng hiện nay của Giáo hội sẽ xác nhận nhận định của Ngài. Lý do khiến người Do Thái và những người nhiệt thành đồng cảm với họ phản ứng thái quá là tín đồ Cơ Đốc giáo rất đông, còn người Do Thái thì tương đối ít. Những hành động tàn bạo trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai (chúng ta cũng hãy nhớ rằng chúng còn nhằm vào những tín đồ Cơ Đốc giáo có lương tri) đã góp phần đáng kể làm gia tăng phản ứng thái quá ấy. Rồi còn có tùng thái dương hết sức nhạy cảm của người Do Thái, vì Chân sư DK nói rằng người Do Thái là tùng thái dương của nhân loại.
337. It is obvious that this over-sensitivity must be dropped if the Jews are to fulfill their planetary purpose as a symbol of planetary, spiritual man.
337. Hiển nhiên, phải từ bỏ sự nhạy cảm quá mức này nếu người Do Thái muốn hoàn thành mục đích hành tinh của họ với tư cách là biểu tượng của con người tinh thần mang tầm hành tinh.
You will have to be much thinking and studying, my brother, before you start contacting the various heads of Jewry; the Zionist movement is an impossible point at which to make a beginning, for their aim is not humanitarian but purely political in intent. So study, think, meditate, write, make contacts and lay a sound foundation for future work. Most of the work you plan to do will only begin at the close of about three years study, and will last around five years; in those years the Jews will come to recognise a new voice, a clear note and a sound policy.
Huynh đệ của tôi, em sẽ phải suy nghĩ và nghiên cứu nhiều trước khi bắt đầu tiếp xúc với những người đứng đầu các bộ phận khác nhau của cộng đồng Do Thái; phong trào phục quốc Do Thái là một nơi không thể chọn làm điểm khởi đầu, vì mục tiêu của họ không mang tính nhân đạo mà có chủ đích thuần túy chính trị. Vì vậy, hãy nghiên cứu, suy nghĩ, tham thiền, viết, tạo các mối tiếp xúc và đặt một nền tảng vững chắc cho công việc tương lai. Phần lớn công việc em dự định làm sẽ chỉ bắt đầu sau khoảng ba năm nghiên cứu và sẽ kéo dài khoảng năm năm; trong những năm ấy, người Do Thái sẽ dần nhận ra một tiếng nói mới, một âm điệu trong sáng và một chính sách vững vàng.
338. FCD cannot leap into the redemptive process immediately. Much deep study must precede his first approaches, so enormous is the task and so defensive the Jewish psyche.
338. FCD không thể lập tức lao vào tiến trình cứu chuộc. Phải có nhiều nghiên cứu sâu sắc trước những bước tiếp cận đầu tiên của ông, bởi nhiệm vụ quá to lớn và tâm lý Do Thái quá phòng thủ.
339. We can see that much contact will be required. FCD will have to contact the various “heads of Jewry”. It is hardly a task which can be handled from an ivory tower. The outer contact required identifies the task as closely related to DK’s Ashram.
339. Chúng ta có thể thấy sẽ cần rất nhiều sự tiếp xúc. FCD sẽ phải tiếp xúc với những “người đứng đầu cộng đồng Do Thái” khác nhau. Đây khó có thể là một nhiệm vụ có thể xử lý từ tháp ngà. Sự tiếp xúc bên ngoài cần thiết cho thấy nhiệm vụ này liên hệ mật thiết với ashram của Chân sư DK.
340. DK always distinguishes between the Zionists and the true Jews. From His perspectives, the Zionists are a politically motivated, reactionary group who work without humanitarian motives. It would be hopeless to begin with them. Their mind is made up. Later, He gives His assessment of who the Zionists really were—historically and reincarnationally.
340. Chân sư DK luôn phân biệt giữa những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái và những người Do Thái chân chính. Theo quan điểm của Ngài, những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái là một nhóm phản động có động cơ chính trị, hoạt động mà không có động cơ nhân đạo. Bắt đầu với họ sẽ là điều vô vọng. Họ đã quyết định sẵn rồi. Về sau, Ngài đưa ra nhận định của mình về việc những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái thực sự là ai—xét về lịch sử và các kiếp luân hồi.
341. DK seems, temporally, to circumscribe FCD’s work in this regard. It is not to begin for another three years (after much study) and will last around five years. This means that it begins in 1949 (interestingly, a year in which Uranus by transit crosses FCD’s natal Ascendant). In 1952, we do note a solar eclipse on FCD’s natal Sun and Ascendant. We do not know the exact year in which the Foundation for an Italian Union of Progressive Judaism was begun, but we do know that it was after his son’s death in 1951. Such an eclipse would have indicated important opportunities in this regard. As well, during 1950, 1951 and part of 1952, the progressing Moon was to be found in Capricorn, the sign which rules the personality of the Jews.
341. Về mặt thời gian, dường như Chân sư DK giới hạn công việc của FCD trong phương diện này. Công việc ấy chỉ bắt đầu sau ba năm nữa (sau nhiều nghiên cứu) và kéo dài khoảng năm năm. Điều này có nghĩa là công việc bắt đầu vào năm 1949 (đáng chú ý, đây là năm Sao Thiên Vương quá cảnh đi qua Điểm mọc bản mệnh của FCD). Vào năm 1952, chúng ta quả có ghi nhận một lần nhật thực tại Mặt Trời và Điểm mọc bản mệnh của FCD. Chúng ta không biết chính xác năm thành lập Quỹ Liên hiệp Do Thái giáo Tiến bộ tại Ý, nhưng chúng ta biết rằng đó là sau khi con trai ông qua đời vào năm 1951. Một lần nhật thực như thế hẳn đã báo hiệu những cơ hội quan trọng trong phương diện này. Ngoài ra, trong năm 1950, 1951 và một phần năm 1952, Mặt Trăng tiến trình nằm trong Ma Kết, dấu hiệu cai quản phàm ngã của người Do Thái.
342. We can see that Master DK was somewhat optimistic about the possibilities, for He foresaw that “in those years the Jews will come to recognize a new voice, a clear note and a sound policy”. Unfortunately, this was not to be, for the Zionists moved powerfully in 1946 and 1947, and in 1948, the State of Israel was established amidst war, political maneuverings and general turmoil.
342. Chúng ta có thể thấy Chân sư DK phần nào lạc quan về những khả năng ấy, vì Ngài tiên liệu rằng “trong những năm đó, người Do Thái sẽ nhận ra một tiếng nói mới, một âm điệu trong sáng và một chính sách đúng đắn”. Đáng tiếc, điều này đã không xảy ra, vì những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái hành động mạnh mẽ vào các năm 1946 và 1947, rồi vào năm 1948, Nhà nước Israel được thành lập giữa chiến tranh, những thủ đoạn chính trị và tình trạng hỗn loạn chung.
343. The consolidation of a national homeland for the Jews probably limited the scope of FCD’s intended work. The imagination of Jewry was captured by the founding of Israel and no new voice or clear note could be heard. From the perspective of the Spiritual Hierarchy, the establishment of the land of Israel was not “sound policy”.
343. Việc củng cố một quê hương quốc gia cho người Do Thái có lẽ đã giới hạn phạm vi công việc dự định của FCD. Sự thành lập Israel đã thu hút toàn bộ sự tưởng tượng của cộng đồng Do Thái, khiến không một tiếng nói mới hay âm điệu trong sáng nào có thể vang lên. Từ quan điểm của Thánh đoàn, việc thiết lập lãnh thổ Israel không phải là một “chính sách đúng đắn”.
344. This, of course, is still a subject over which the greatest passions rise, as we can see from the terribly conflicted situation in the Middle East today. No one (not even Hierarchy) knows where the present situation, so filled with mutual hostilities, will end. What is clear is that certain superpowers, and world Jewry (in general), moved in exactly the ‘wrong’ direction from the perspective of Hierarchy. Now, there is no going back, and resolution will have to be found in another way. Fortunately, Sanat Kumara is that great Being Who has the power to promote the emergence of the “Good” from all distressed and darkened situations.
344. Dĩ nhiên, đây vẫn là một vấn đề khơi dậy những cảm xúc mãnh liệt nhất, như chúng ta có thể thấy qua tình hình xung đột khốc liệt ở Trung Đông ngày nay. Không ai (kể cả Thánh đoàn) biết tình hình hiện tại, đầy rẫy sự thù địch lẫn nhau, sẽ kết thúc ra sao. Điều rõ ràng là một số siêu cường và cộng đồng Do Thái trên thế giới (nói chung) đã đi đúng theo hướng ‘sai lầm’ xét từ quan điểm của Thánh đoàn. Giờ đây, không còn đường quay lại, và phải tìm cách giải quyết bằng một con đường khác. May thay, Sanat Kumara là Đấng vĩ đại có quyền năng thúc đẩy sự xuất hiện của “Điều Thiện” từ mọi tình cảnh khốn khó và tăm tối.
This is all that I have to indicate here. A.A.B. will send you some books and papers, for it is no longer possible for her to help in this work which is a phase of my work. It would profit you much to go through my books and papers and pamphlets and collect into one volume of script all that I have said. A.A. B. has made a beginning here, but it is very poor as she has not due time. This work is more definitely part of my work, for there will be no true world peace until the Jewish problem is solved. More Gentiles, true friends of the Jews, such as A.A.B., see this correctly; the Jews seem unable to grasp it.
Đây là tất cả những gì Tôi cần chỉ ra ở đây. A.A.B. sẽ gửi cho em một số sách và tài liệu, vì bà không còn có thể giúp đỡ trong công việc này, vốn là một phần công việc của Tôi. Sẽ rất hữu ích cho em nếu em xem lại các sách, tài liệu và tập sách nhỏ của Tôi, rồi tập hợp tất cả những gì Tôi đã nói thành một tập bản thảo. A.A. B. đã bắt đầu việc này, nhưng kết quả còn rất sơ sài vì bà không có đủ thời gian. Công việc này rõ ràng hơn là một phần công việc của Tôi, vì sẽ không có hòa bình thế giới đích thực cho đến khi vấn đề Do Thái được giải quyết. Nhiều người ngoài Do Thái hơn, những người bạn chân thành của người Do Thái như A.A.B., nhìn nhận điều này đúng đắn; người Do Thái dường như không thể nắm bắt được điều ấy.
I shall be in touch with you, my brother, and at frequent intervals. On that statement you can emphatically rely.
Huynh đệ của tôi, Tôi sẽ liên lạc với em thường xuyên. Em có thể hoàn toàn tin chắc vào lời khẳng định ấy.
345. AAB has made a beginning in the study. Her papers are to go to FCD as she can no longer be involved in the task, for reasons of health and vitality, and even more importantly, because of the work she must complete for DK before she passes over—just a few years from the writing of this communication.
345. AAB đã bắt đầu việc nghiên cứu. Các tài liệu của bà sẽ chuyển cho FCD vì bà không còn có thể tham gia nhiệm vụ này, do sức khỏe và sinh lực, và quan trọng hơn nữa, do công việc bà phải hoàn tất cho Chân sư DK trước khi qua đời—chỉ vài năm sau khi bức thư này được viết.
346. We now see that, in a way, FCD has been retained in Master DK’s Ashram. This answers somewhat the question earlier raised: “Who prevailed in the debate between Master DK and Master KH?”
346. Giờ đây, chúng ta thấy rằng, theo một cách nào đó, FCD vẫn được giữ lại trong ashram của Chân sư DK. Điều này phần nào trả lời câu hỏi đã nêu trước đó: “Ai đã thắng thế trong cuộc tranh luận giữa Chân sư DK và Chân sư KH?”
347. The work with the Jewish people, we are told, is definitely a part of Master DK’s work. Why? Because “there will be no true world peace until the Jewish problem is solved”. This means that Master DK’s work, and the work of His Ashram, are clearly involved with the attempt to create “world peace”.
347. Chúng ta được cho biết rằng công việc với người Do Thái chắc chắn là một phần công việc của Chân sư DK. Vì sao? Vì “sẽ không có hòa bình thế giới đích thực cho đến khi vấn đề Do Thái được giải quyết”. Điều này có nghĩa là công việc của Chân sư DK và công việc của ashram Ngài rõ ràng gắn liền với nỗ lực tạo dựng “hòa bình thế giới”.
348. This would make sense if, as Marion Walters (RSW) used to say, Master DK’s Ashram is ruled by Libra.
348. Điều này sẽ hợp lý nếu, như Marion Walters (RSW) từng nói, ashram của Chân sư DK chịu sự cai quản của Thiên Bình.
349. FCD’s job will be to help the Jews grasp what so many Gentiles, who are true friends of the Jew’s already grasp.
349. Công việc của FCD sẽ là giúp người Do Thái nắm bắt điều mà rất nhiều người ngoài Do Thái, vốn là những người bạn chân thành của người Do Thái, đã nắm bắt được.
350. DK promises to be in touch with FCD at frequent intervals. Obviously, this means far more frequent intervals than the rare written communications sent through AAB. As a matter of fact, in 1946 all New Seed Group members were informed that such communications would stop. But in 1948, the Tibetan again communicated through AAB with just a few of His remaining working chelas, and that final effort to communicate contained, as we shall see, a letter of real importance for FCD.
350. Chân sư DK hứa sẽ thường xuyên liên lạc với FCD. Hiển nhiên, điều này hàm ý những lần liên lạc thường xuyên hơn nhiều so với các thông điệp bằng văn bản hiếm hoi gửi qua AAB. Thực tế, vào năm 1946, tất cả thành viên của Nhóm Hạt giống Mới đều được thông báo rằng những thông điệp như thế sẽ chấm dứt. Nhưng vào năm 1948, Chân sư Tây Tạng lại liên lạc qua AAB với chỉ một vài đệ tử còn tiếp tục làm việc của Ngài, và như chúng ta sẽ thấy, nỗ lực liên lạc cuối cùng ấy có một bức thư thực sự quan trọng đối với FCD.
Your meditation work must keep pace with your vision. I suggest for you the following outline.
Công việc tham thiền của em phải theo kịp tầm nhìn của em. Tôi đề nghị cho em đề cương sau đây.
351. This is something we must always remember. Meditation feeds the vision, and without it, the vision fades and the “people perish”.
351. Đây là điều chúng ta phải luôn ghi nhớ. Tham thiền nuôi dưỡng tầm nhìn; thiếu nó, tầm nhìn phai nhạt và “dân chúng diệt vong”.
The edited, altered and rearranged text that appeared in DINA II was as follows: [Your meditation work must keep pace with your vision. I suggest that you follow the simple outline which I call “The Pinnacles,” and give much time for quiet thought and for impression. Know that guidance will be given—given step by step as needed.]
Văn bản đã được biên tập, sửa đổi và sắp xếp lại xuất hiện trong DINA II như sau: [Công việc tham thiền của em phải theo kịp tầm nhìn của em. Tôi đề nghị em theo dàn bài đơn giản mà Tôi gọi là “Những Đỉnh Cao”, và dành nhiều thời gian để suy tư tĩnh lặng và tiếp nhận ấn tượng. Hãy biết rằng em sẽ nhận được sự hướng dẫn—từng bước một khi cần thiết.]
The Pinnacles
Những Đỉnh Cao
1. Imagine yourself standing at the top of a mountain shaped like a pinnacle, facing another, seemingly miles away.
1. Hãy tưởng tượng em đang đứng trên đỉnh một ngọn núi nhọn, đối diện một đỉnh khác dường như cách xa nhiều dặm.
352. This is a very important mediation given to FCD to promote success in his important “assignment”. It was not included in the DINA books because the whole discussion of his responsibility in relation to the Jews was deleted.
352. Đây là một bài thiền rất quan trọng dành cho FCD nhằm thúc đẩy sự thành công trong “nhiệm vụ” quan trọng của ông. Bài thiền này không được đưa vào các sách DINA vì toàn bộ phần bàn về trách nhiệm của ông đối với người Do Thái đã bị lược bỏ.
353. A pinnacle is a summit. It represents a mountain peak, higher than which it is impossible to go (without descending and then re-ascending a still higher mountain).
353. Đỉnh nhọn là một đỉnh cao. Nó tượng trưng cho một đỉnh núi mà không thể lên cao hơn nữa (nếu không xuống núi rồi lại leo lên một ngọn núi còn cao hơn).
354. We can think of a pinnacle as cone-shaped. The cone suggests a vortex and a spiral action which tightens and increases in speed until the topmost point is reached.
354. Chúng ta có thể hình dung một đỉnh nhọn có dạng hình nón. Hình nón gợi lên một xoáy lực và một chuyển động xoắn ốc ngày càng thu hẹp và tăng tốc cho đến khi đạt tới điểm cao nhất.
355. FCD stands on the first pinnacle. This suggests that he has taken the third initiation and is now transfigured.
355. FCD đứng trên đỉnh nhọn thứ nhất. Điều này gợi ý rằng ông đã trải qua lần điểm đạo thứ ba và giờ đây đã được biến hình.
356. Far away, “seemingly miles away” is another pinnacle, representing, one would think, the fourth initiation. The term, “seemingly” is important, because, perhaps, the next pinnacle is not as far away as it seems. This idea relates to whether it would be possible for FCD to take the fourth initiation in the present life.
356. Ở xa, “dường như cách xa nhiều dặm”, có một đỉnh nhọn khác, mà người ta có thể nghĩ là tượng trưng cho lần điểm đạo thứ tư. Từ “dường như” rất quan trọng, vì có lẽ đỉnh nhọn kế tiếp không xa như nó có vẻ. Ý tưởng này liên quan đến việc liệu FCD có thể trải qua lần điểm đạo thứ tư trong kiếp sống hiện tại hay không.
357. From certain respects, his horoscope is more favorably configured for the fourth initiation than for the third.
357. Xét theo một số phương diện, lá số chiêm tinh của ông có cấu hình thuận lợi cho lần điểm đạo thứ tư hơn là lần thứ ba.
a. A vast struggling mass can be seen in the lowland in between the two pinnacles.
a. Có thể thấy một đám đông khổng lồ đang vật lộn ở vùng đất thấp giữa hai đỉnh nhọn.
358. When FCD descends the mountain, he will encounter many who must be elevated and, eventually, ‘saved’. These are the “struggling mass”—those laboring under mass consciousness and victim of their lunar natures.
358. Khi FCD xuống núi, ông sẽ gặp nhiều người cần được nâng lên và cuối cùng được ‘cứu vớt’. Đây là “đám đông đang vật lộn”—những người chịu gánh nặng của tâm thức quần chúng và là nạn nhân của bản chất thái âm nơi họ.
b. One group of struggling people emerge more clearly in your vision than the rest; they carry the yellow flag, marked with a six-pointed star. On this phenomenon you ponder. (Let not the thoughtform of the Jewish people engulf your consciousness. Stand on your pinnacle and let not the potency of their struggle distract your attention from your mission and the goal.)
b. Một nhóm người đang vật lộn hiện ra trong tầm nhìn của em rõ hơn những người còn lại; họ mang lá cờ vàng có ngôi sao sáu cánh. Em hãy suy ngẫm về hiện tượng này. (Đừng để hình tư tưởng của người Do Thái nhấn chìm tâm thức em. Hãy đứng trên đỉnh nhọn của em và đừng để sức mạnh cuộc đấu tranh của họ khiến em xao lãng sứ mệnh và mục tiêu của mình.)
359. One who is intent on salvage cannot salvage all—unless that One is of the calibre of a Christ.
359. Người quyết tâm cứu vớt không thể cứu vớt tất cả—trừ khi Đấng ấy có tầm vóc như một Đức Christ.
360. We can see that group of struggling people who emerge with greater clarity in FCD’s vision is the Jewish people.
360. Chúng ta có thể thấy nhóm người đang vật lộn hiện ra rõ nét hơn trong tầm nhìn của FCD chính là người Do Thái.
361. They carry a yellow flag. Yellow is, from different perspectives, the color of both the third and fourth rays—two rays prominent in the previous solar system and with which the Jews are strongly identified.
361. Họ mang một lá cờ vàng. Từ những góc nhìn khác nhau, màu vàng là màu của cả cung ba lẫn cung bốn—hai cung nổi bật trong hệ mặt trời trước và người Do Thái đồng hoá mạnh mẽ với hai cung này.
362. Yellow is also connected to Gemini and to Mercury, both of which influences are important for the Jews. Mercury, a highly mental planet, is one of the rulers of Virgo, which is the soul-sign of the Jews. Mercury is also involved in a triangle connecting it to the Pleiades and Capricorn (and also to humanity, per se, of which the Jews are the eternal symbol).
362. Màu vàng cũng liên hệ với Song Tử và Sao Thủy, cả hai ảnh hưởng này đều quan trọng đối với người Do Thái. Sao Thủy, một hành tinh mang tính trí tuệ cao, là một trong những chủ tinh của Xử Nữ, dấu hiệu linh hồn của người Do Thái. Sao Thủy còn tham gia một tam giác nối hành tinh này với quần tinh Thất Nữ và Ma Kết (cũng như với chính nhân loại, mà người Do Thái là biểu tượng vĩnh cửu).
363. The six-pointed star is King Solomon’s Seal, and is always associated with the Jews, although its antiquity and its significance are far greater. It was the symbol of Akbar, who would be associated with King Solomon (if both of these kings were incarnations of the Master M.)
363. Ngôi sao sáu cánh là Ấn của Vua Solomon và luôn gắn liền với người Do Thái, mặc dù nguồn gốc cổ xưa và thâm nghĩa của nó còn sâu rộng hơn nhiều. Đó là biểu tượng của Akbar, người có thể có liên hệ với Vua Solomon (nếu cả hai vị vua này đều là những kiếp nhập thể của Chân sư M.)
364. The six-pointed star can be considered the star of form with which the Jewish group is so identified.
364. Có thể xem ngôi sao sáu cánh là ngôi sao của hình tướng mà nhóm Do Thái đồng hoá sâu sắc đến thế.
365. We are not told in what color the six-pointed appears; only that the flag is yellow.
365. Chúng ta không được cho biết ngôi sao sáu cánh có màu gì; chỉ biết lá cờ có màu vàng.
366. The personality ray of the Jews is the third ray, associated in Esoteric Psychology I, with the color yellow. The great artistic development of the Jews may indicate a fourth ray monad (since they were the “bridge” from the first solar system to the second). In most of the Tibetan’s writings, the color yellow is assigned to the fourth ray.
366. Cung phàm ngã của người Do Thái là cung ba, gắn với màu vàng trong Tâm Lý Học Nội Môn I,. Sự phát triển nghệ thuật lớn lao của người Do Thái có thể cho thấy một chân thần cung bốn (vì họ là “cây cầu” từ hệ mặt trời thứ nhất sang hệ mặt trời thứ hai). Trong phần lớn các tác phẩm của Chân sư Tây Tạng, màu vàng được quy cho cung bốn.
367. Yellow is a color of both pain and harmony, as well of brilliant mentality. Yellow is, therefore, an appropriate color for the Jewish group. For Master DK, ‘personally’, yellow is also important, as He is associated with Gemini and with Mercury because He is the “Messenger” of the Masters.
367. Màu vàng là màu của cả đau khổ lẫn hài hòa, cũng như của trí tuệ rực rỡ. Vì vậy, màu vàng là một màu thích hợp với nhóm Do Thái. Đối với riêng Chân sư DK, màu vàng cũng quan trọng, vì Ngài liên hệ với Song Tử và Sao Thủy do Ngài là “Sứ Giả” của các Chân sư.
368. DK warns that FCD is not to be engulfed by the thoughtform of the Jewish people. It is a powerful thoughtform and has already engulfed RSU, limiting her service.
368. Chân sư DK cảnh báo rằng FCD không được để hình tư tưởng của người Do Thái nhấn chìm mình. Đó là một hình tư tưởng mạnh mẽ và nó đã nhấn chìm RSU, giới hạn việc phụng sự của bà.
369. If he stands on his pinnacle (third degree consciousness), he will not be dragged down, and will be able to preserve his vision of his mission and goal. He must resist being lured from his pinnacle by sympathy for the struggle and suffering of the Jew. This type of resistance has not been easy for FCD to develop, because he identifies to readily with human suffering.
369. Nếu đứng trên đỉnh nhọn của mình (tâm thức bậc ba), ông sẽ không bị kéo xuống và có thể gìn giữ tầm nhìn về sứ mệnh và mục tiêu của mình. Ông phải chống lại sự lôi kéo rời khỏi đỉnh nhọn do lòng cảm thông với cuộc đấu tranh và nỗi đau khổ của người Do Thái. FCD không dễ phát triển khả năng kháng cự này, vì ông quá dễ đồng hoá với nỗi đau khổ của con người.
2. In your meditation you plan guidance for their guidance. Ponder long and deeply on these plans.
2. Trong khi tham thiền, em hãy hoạch định sự hướng dẫn nhằm dẫn dắt họ. Hãy suy ngẫm lâu và sâu về những kế hoạch này.
370. This is a mental and planning phase of the meditation. It is a stage of enlightened brooding on possible futures.
370. Đây là giai đoạn tư duy và hoạch định của bài thiền. Đó là giai đoạn suy tư sáng suốt về những tương lai có thể xảy ra.
3. Then see yourself returning to my Ashram for conference deep. Later imagine yourself passing along the path which leads to the Ashram of K.H., entering the door which A.A.B. is always to be found. Go then with her to K.H. Give much time here for quiet thought and for impression. This is one of the most important parts of the meditation. Glamour will disappear, light shine, plans receive acknowledgement, and strength for the next step be given.
3. Sau đó, hãy thấy mình trở về ashram của Tôi để hội ý sâu sắc. Tiếp đến, hãy tưởng tượng em đang đi theo con đường dẫn đến ashram của Chân sư KH, bước qua cánh cửa nơi luôn có thể gặp A.A.B. Rồi hãy cùng bà đến với Chân sư KH. Tại đây, hãy dành nhiều thời gian để suy ngẫm tĩnh lặng và đón nhận ấn tượng. Đây là một trong những phần quan trọng nhất của bài thiền. Ảo cảm sẽ biến mất, ánh sáng sẽ chiếu rọi, các kế hoạch sẽ nhận được sự công nhận, và em sẽ được ban sức mạnh cho bước tiếp theo.
371. FCD is to be in deep conference with Master DK. Obviously, DK’s thoughts on FCD’s plans are of real moment.
371. FCD cần hội ý sâu sắc với Chân sư DK. Hiển nhiên, những suy nghĩ của Chân sư DK về các kế hoạch của FCD có tầm quan trọng thực sự.
372. FCD’s visualizations are to take him to the Ashram of KH, where AAB will greet him and take him to KH.
372. Những hình dung của FCD cần đưa ông đến ashram của Chân sư KH, nơi AAB sẽ đón ông và đưa ông đến với Chân sư KH.
373. In KH’s presence, and accompanied by AAB, much time is to be given for “quiet thought and for impression”. It is in such times that FCD will be most illumined. As DK says, “Glamour will disappear, light shine, plans receive acknowledgement, and strength for the next step be given.”
373. Trong sự hiện diện của Chân sư KH và có AAB đi cùng, cần dành nhiều thời gian để “suy ngẫm tĩnh lặng và đón nhận ấn tượng”. Chính vào những lúc như thế, FCD sẽ được soi sáng nhiều nhất. Như Chân sư DK nói: “Ảo cảm sẽ biến mất, ánh sáng sẽ chiếu rọi, các kế hoạch sẽ nhận được sự công nhận, và em sẽ được ban sức mạnh cho bước tiếp theo.”
374. We are being shown how any serious worker with the Plan may proceed—in imaginative conference and consultation with his Master and with any ashramic co-worker who may be of assistance.
374. Chúng ta đang được chỉ cho thấy cách mà bất kỳ người hoạt động nghiêm túc nào cho Thiên Cơ cũng có thể tiến hành—thông qua sự tưởng tượng để hội ý và tham vấn với Chân sư của mình cùng bất kỳ cộng sự nào trong ashram có thể trợ giúp.
375. The way of proceeding with this “enormous task” is through meditation and visualization. Through these means, the best plans will emerge and be confirmed by those who know.
375. Cách tiến hành “nhiệm vụ khổng lồ” này là thông qua tham thiền và hình dung. Qua những phương tiện ấy, các kế hoạch tốt nhất sẽ xuất hiện và được những vị hiểu biết xác nhận.
4. Then return consciously to the place where you daily work and KNOW the guidance will be given – step by step as needed.
4. Sau đó, hãy trở về một cách có ý thức nơi em làm việc hằng ngày và BIẾT rằng em sẽ nhận được sự hướng dẫn—từng bước một khi cần.
376. The meditation ends with return to the sphere of daily labor, and with a confirmed self-assurance (a knowing) that guidance will be given—step by step as needed.
376. Bài thiền kết thúc bằng việc trở về phạm vi lao động hằng ngày, với niềm tự tin vững chắc (một sự biết rõ) rằng sự hướng dẫn sẽ đến—từng bước một khi cần.
377. We can see that FCD is supposed to stay in closest consultation with his Masters as the task is one of extreme difficulty. Hierarchical guidance is definitely needed, even in matters of detail.
377. Chúng ta có thể thấy FCD cần duy trì sự tham vấn mật thiết nhất với các Chân sư của ông, vì nhiệm vụ này vô cùng khó khăn. Sự hướng dẫn của Thánh đoàn là điều chắc chắn cần thiết, ngay cả trong những vấn đề chi tiết.
My love enfolds you, and the way into my Ashram stands open wide for you.
Tình thương của Tôi bao bọc em, và con đường vào ashram của Tôi rộng mở đón em.
Your friend and co-disciple in the Ashram of K.H.
Người bạn và đệ tử đồng môn của em trong ashram của Chân sư KH.
DJWHAL KHUL
DJWHAL KHUL
378. Master DK ends with an affirmation of love. FCD has the freedom of his Ashram. It is a home and place of refuge.
378. Chân sư DK kết thúc bằng một lời khẳng định tình thương. FCD được tự do ra vào ashram của Ngài. Đó là một mái nhà và chốn nương náu.
379. DK signs Himself as FCD’s “friend” and “co-disciple” in the Ashram of K.H. This tells us something of the high regard He has for FCD and of FCD’s level of attainment. These words also orient DK and FCD to the same Master and emphasize their mutual service for Him.
379. Chân sư DK ký tên với tư cách là “người bạn” và “đệ tử đồng môn” của FCD trong ashram của Chân sư KH. Điều này cho chúng ta biết phần nào sự quý trọng lớn lao mà Ngài dành cho FCD và mức độ thành tựu của FCD. Những lời này cũng hướng Chân sư DK và FCD về cùng một Chân sư và nhấn mạnh việc cả hai cùng phụng sự Ngài.
380. The Master’s closing words speak to FCD as if he were a member of Hierarchy, which, as a third degree initiate, he actually is.
380. Những lời kết của Chân sư nói với FCD như thể ông là một thành viên của Thánh đoàn, mà trên thực tế ông đúng là như vậy với tư cách một điểm đạo đồ bậc ba.
November 1948- Tháng Mười Một 1948-
MY BROTHER AND MY FRIEND:
HUYNH ĐỆ VÀ NGƯỜI BẠN CỦA TÔI:
It is two years since I last communicated with you, via A.A.B., and they have been years of great stress and strain for you. Every disciple in these troubled times carries three kinds of stress; no, my brother, I would say the major stresses are of four kinds:
Đã hai năm kể từ lần cuối Tôi liên lạc với em qua A.A.B., và đó là những năm em chịu nhiều áp lực và căng thẳng. Trong thời buổi đầy biến động này, mỗi đệ tử đều mang ba loại áp lực; không, huynh đệ của tôi, Tôi muốn nói rằng những áp lực chính thuộc bốn loại:
381. The last communication from the Tibetan came only to certain disciples closest to Him—eight in all.
381. Thông điệp cuối cùng của Chân sư Tây Tạng chỉ đến với một số đệ tử gần gũi nhất với Ngài—tổng cộng tám người.
382. DK notes the stress and strain through which FCD has been passing. At the time of the communication, we note that transiting Saturn has reached one of the angles of the chart, the fourth house cusp. During the two year period following the 1946 communication, the progressing Moon has been passing through the sign Scorpio (though at the time of the writing it has entered Sagittarius). The period of the progressed Moon in Scorpio will present many tests. Significantly, we find transiting Pluto conjuncting the progressing Ascendant in Leo during October and November of 1948, and continuing for about four years (years in which the new task should emerge tangibly). Thus, first ray planets are prominent.
382. Chân sư DK ghi nhận những căng thẳng và áp lực mà FCD đã trải qua. Vào thời điểm của thông điệp này, chúng ta lưu ý rằng Sao Thổ quá cảnh đã đến một trong các góc của lá số, tức đỉnh nhà bốn. Trong khoảng hai năm sau thông điệp năm 1946, Mặt Trăng tiến trình đã đi qua dấu hiệu Hổ Cáp (dù vào lúc viết thư, nó đã vào Nhân Mã). Giai đoạn Mặt Trăng tiến trình ở Hổ Cáp sẽ đem lại nhiều thử thách. Đáng chú ý, chúng ta thấy Sao Diêm Vương quá cảnh đồng vị với Điểm mọc tiến trình ở Sư Tử trong tháng Mười và tháng Mười Một năm 1948, và tiếp tục trong khoảng bốn năm (những năm mà nhiệm vụ mới hẳn sẽ xuất hiện một cách cụ thể). Như vậy, các hành tinh cung một nổi bật.
383. DK elaborates on four kinds of stress which disciples carry.
383. Chân sư DK trình bày chi tiết bốn loại căng thẳng mà các đệ tử gánh chịu.
1. There are the stresses and the strains incident to the disciple's family life or his immediate daily relationships, and of these you have had your full share.
1. Có những áp lực và căng thẳng đi kèm đời sống gia đình hoặc những mối quan hệ trực tiếp hằng ngày của người đệ tử, và em đã trải qua đầy đủ những điều ấy.
384. With a Cancer Ascendant, FCD would naturally be tied to the stress and strain of personal and familial relationships. DK hints that FCD has had his “full share” of such difficulties.
384. Với Điểm mọc Cự Giải, FCD đương nhiên sẽ gắn liền với những căng thẳng và áp lực trong các mối quan hệ cá nhân và gia đình. Chân sư DK hàm ý rằng FCD đã trải qua “đủ phần” những khó khăn như thế.
385. The position of the Moon (squared by destructive Pluto and by Jupiter, and opposed by the Sun) in the fourth house of home reinforces this indication. The intimate life with “near ones” has not been peaceful.
385. Vị trí của Mặt Trăng (tạo góc vuông với Sao Diêm Vương mang tính hủy diệt và với Sao Mộc, đồng thời đối vị với Mặt Trời) trong nhà thứ tư về gia đình củng cố dấu hiệu này. Đời sống thân mật với “những người thân cận” đã không được bình yên.
2. There are stresses and strains due to the deep interior life of soul relation; these bring with them their own unique difficulties which can be shared with no one (except the Master, when the disciple has reached the point of unfoldment which you have now reached), and yet which bring about a life of inner tension which can lead inevitably to the next point of revelation.
2. Có những áp lực và căng thẳng do đời sống nội tâm sâu xa trong mối quan hệ với linh hồn; chúng mang theo những khó khăn riêng biệt mà người đệ tử không thể chia sẻ với ai (ngoại trừ Chân sư, khi y đã đạt đến mức độ khai mở mà nay em đã đạt tới), nhưng đồng thời lại tạo nên một đời sống căng thẳng nội tâm có thể tất yếu dẫn đến điểm mặc khải tiếp theo.
386. DK now speaks of very subtle stresses and strains arising out of soul process and the relation of the disciple’s consciousness to soul consciousness.
386. Giờ đây, Chân sư DK nói đến những căng thẳng và áp lực rất vi tế phát sinh từ tiến trình linh hồn và mối liên hệ giữa tâm thức của người đệ tử với tâm thức linh hồn.
387. These are not things which can be easily discussed. In fact, they should not be discussed or shared with anyone except one’s Master, at least, once a high stage of spiritual unfoldment has been reached.
387. Đây không phải là những điều có thể dễ dàng bàn luận. Thực ra, không nên bàn luận hay chia sẻ chúng với bất kỳ ai ngoài Chân sư của mình, ít nhất là khi đã đạt đến một giai đoạn khai mở tinh thần cao.
388. We have noticed that there is a close relation between FCD and AAB and, in such a relationship, many things bearing on the life of the Ashram can be shared in confidence.
388. Chúng ta đã nhận thấy có một mối quan hệ mật thiết giữa FCD và AAB, và trong một mối quan hệ như thế, nhiều điều liên quan đến đời sống của ashram có thể được chia sẻ một cách kín đáo.
389. Yet, there are some matters so interior, so fragile, delicate and obscure, that the Master’s presence is the only safe venue in which to seek understanding, assistance and resolution.
389. Tuy nhiên, có những vấn đề quá sâu kín, quá mong manh, tế nhị và khó hiểu, đến nỗi chỉ trong sự hiện diện của Chân sư mới có thể an toàn tìm kiếm sự thấu hiểu, trợ giúp và giải quyết.
390. The life of “inner tension” arising from soul culture will lead, however, to the “next point of revelation”, and this, inevitably.
390. Tuy nhiên, đời sống “căng thẳng nội tâm” phát sinh từ việc vun bồi linh hồn sẽ dẫn đến “điểm mặc khải kế tiếp”, và điều này là tất yếu.
3. There are the problems and circumstances which arise out of the period in which our modern humanity lives; these today are unique and of disturbing importance; they involve the balancing of values which is going on in every department of human living and which evokes in the disciple an almost unendurable pain and anxiety.
3. Có những vấn đề và hoàn cảnh nảy sinh từ thời đại mà nhân loại hiện đại của chúng ta đang sống; ngày nay, chúng mang tính đặc thù và có tầm quan trọng gây bất an; chúng liên quan đến việc cân bằng các giá trị đang diễn ra trong mọi lĩnh vực của đời sống con người và khơi dậy nơi người đệ tử nỗi đau cùng sự lo âu gần như không thể chịu đựng nổi.
391. Stresses and strains arise from the historical period in which the disciple’s life is lived. The twentieth century has been uniquely stressful and disturbing and the twenty-first century shows signs of increasing turbulence.
391. Những căng thẳng và áp lực phát sinh từ thời kỳ lịch sử mà người đệ tử sống. Thế kỷ hai mươi đặc biệt đầy căng thẳng và bất an, còn thế kỷ hai mươi mốt cho thấy những dấu hiệu biến động ngày càng gia tăng.
392. The disturbances, we know, arise from the interplay of many potent, subtle energies, some of which are driving the planetary process forward and, thus, inevitably, human civilization. These stresses must be endured, and over them humanity has no control.
392. Như chúng ta biết, những xáo trộn phát sinh từ sự tương tác của nhiều năng lượng vi tế mạnh mẽ, trong đó một số đang thúc đẩy tiến trình hành tinh tiến lên và do đó, tất yếu, cả nền văn minh nhân loại. Nhân loại phải chịu đựng những căng thẳng này và không có quyền kiểm soát chúng.
393. It is impossible for major evolutionary steps to be taken within accompanying strain.
393. Không thể thực hiện những bước tiến hoá lớn trong sự căng thẳng đi kèm.
4. There are also peculiar complications and tests which have their origin in ashramic relationships which the disciple realises through his contact with the Ashram. [472] These are the result of his attempt to lift the burden of humanity and the measure of his understanding of the Plan, in unison with the entire Hierarchy. This produces an inevitable crisis and constitutes a load which—when added to the other three spheres of difficulty—often make the disciple feel that his cross (his vertical and his horizontal life) is more than he can bear. The Fixed Cross becomes a reality, and he begins to learn its true meaning.
4. Cũng có những phức tạp và thử thách đặc biệt bắt nguồn từ các mối quan hệ trong ashram mà người đệ tử nhận biết qua sự tiếp xúc với ashram. [472] Chúng là kết quả của nỗ lực gánh vác gánh nặng của nhân loại và mức độ thấu hiểu Thiên Cơ của y, trong sự hợp nhất với toàn thể Thánh đoàn. Điều này tạo nên một cuộc khủng hoảng tất yếu và trở thành một gánh nặng mà—khi cộng thêm ba lĩnh vực khó khăn kia—thường khiến người đệ tử cảm thấy thập giá của mình (đời sống theo chiều dọc và chiều ngang của y) vượt quá sức chịu đựng. Thập Giá Cố Định trở thành một thực tại, và y bắt đầu học được ý nghĩa đích thực của nó.
394. Now that FCD is becoming firmly established in the Ashrams of DK and KH, this fourth kind of stress will definitely apply to him.
394. Giờ đây, khi FCD đang trở nên vững vàng trong các ashram của Chân sư DK và Chân sư KH, loại căng thẳng thứ tư này chắc chắn sẽ tác động đến ông.
395. The Ashram propels forward the evolution of its members and, thereby, places them under yet another kind of pressure. It is the pressure of the Master’s presence, as that presence reflects the will of the Master’s superiors. DK calls these stresses “complications and tests”. There are ashramic standards which must be upheld, thus the tests. There are ashramic factors which always must be considered (whereas those who are not members of Ashrams need not consider them); thus, the complications.
395. Ashram thúc đẩy sự tiến hoá của các thành viên và qua đó đặt họ dưới một loại áp lực khác nữa. Đó là áp lực từ sự hiện diện của Chân sư, vì sự hiện diện ấy phản ánh ý chí của các Đấng ở cấp trên của Chân sư. Chân sư DK gọi những căng thẳng này là “những phức tạp và thử thách”. Có những tiêu chuẩn ashram phải được duy trì, do đó có các thử thách. Có những yếu tố ashram luôn phải được cân nhắc (trong khi những người không phải là thành viên của các ashram không cần cân nhắc chúng); do đó có những phức tạp.
396. When a disciple begins earnestly to serve in cooperation with his Ashram, complications and tests arise.
396. Khi một đệ tử bắt đầu nghiêm túc phụng sự trong sự hợp tác với ashram của mình, những phức tạp và thử thách nảy sinh.
397. The result of ashramic pressure is “inevitable crisis”. Ashramic responsibility is experienced as a “load”.
397. Kết quả của áp lực ashram là “khủng hoảng tất yếu”. Trách nhiệm ashram được cảm nhận như một “gánh nặng”.
398. There are three normal spheres of difficulty and ashramic requirements constitute a fourth. The number four suggests the cross with its horizontal and vertical arms. Upon this Cross (the Fixed Cross, in this instance) the disciple feels himself crucified.
398. Có ba lĩnh vực khó khăn thông thường, và các yêu cầu của ashram tạo thành lĩnh vực thứ tư. Số bốn gợi lên thập giá với các nhánh ngang và dọc. Trên Thập Giá này (trong trường hợp này là Thập Giá Cố Định), người đệ tử cảm thấy mình bị đóng đinh.
399. The stresses of soul and Ashram configure themselves along the vertical arm of the Cross; the stresses of immediate relationship, and of the ambient energies of the times, are more circumstantial and relate to the horizontal arm.
399. Những căng thẳng của linh hồn và ashram hình thành dọc theo nhánh đứng của Thập Giá; những căng thẳng trong các mối quan hệ gần gũi và từ những năng lượng bao quanh của thời đại mang tính hoàn cảnh nhiều hơn và liên quan đến nhánh ngang.
400. The Fixed Cross is a Cross of blinding light, of fiery pain, of bitter woe, and yet the Cross of liberation.” (EA 82) The four fixed signs are thus described in order—Taurus, Leo, Scorpio and Aquarius.
400. Thập Giá Cố Định là một Thập Giá của ánh sáng chói lòa, của đau đớn như thiêu đốt, của khổ đau cay đắng, nhưng cũng là Thập Giá của giải thoát.” (EA 82) Như vậy, bốn dấu hiệu cố định được mô tả theo thứ tự—Kim Ngưu, Sư Tử, Hổ Cáp và Bảo Bình.
401. As disciples we should pause to measure the energies and forces coming to us from the four directions of the Fixed Cross and from the four areas of stress and strain which DK discusses. These constitute our “cross to bear”. One or other arms of the Cross may be, for us, in any one life, more difficult or burdensome. One or other of the four kinds of stresses may be most pressureful. Eventually a reasonable balance is required, but the pressure from the Ashram will become the most insistent.
401. Là đệ tử, chúng ta nên dừng lại để lượng định những năng lượng và mãnh lực đến với mình từ bốn hướng của Thập Giá Cố Định và từ bốn lĩnh vực căng thẳng và áp lực mà Chân sư DK bàn đến. Chúng tạo thành “thập giá phải mang” của chúng ta. Trong bất kỳ một kiếp sống nào, nhánh này hay nhánh kia của Thập Giá có thể khó khăn hoặc nặng nề hơn đối với chúng ta. Loại này hay loại kia trong bốn loại căng thẳng có thể gây áp lực lớn nhất. Cuối cùng, cần có một sự cân bằng hợp lý, nhưng áp lực từ ashram sẽ trở nên thúc bách nhất.
All these four types of difficulties are further enhanced when you consider the fact that they are felt in all three aspects of the disciple's personality simultaneously. There is a reaction in his etheric body, in his emotional vehicle and in his mind. This makes what is sometimes called the "seven divine sorrows"; these are symbolically and most inaccurately depicted in the Christian discipline as the seven stations of the Cross.
Cả bốn loại khó khăn này càng gia tăng khi em xét đến sự thật rằng người đệ tử cảm nhận chúng đồng thời trong cả ba phương diện của phàm ngã. Có một phản ứng trong thể dĩ thái, trong hiện thể cảm xúc và trong thể trí của y. Điều này tạo thành cái đôi khi được gọi là “bảy nỗi đau thiêng liêng”; pháp tu Kitô giáo mô tả chúng một cách biểu tượng và hết sức thiếu chính xác là bảy chặng Thập Giá.
402. DK enlarges upon the impact of the four difficulties; they are felt in every personality vehicle and simultaneously.
402. Chân sư DK nói rõ thêm về tác động của bốn khó khăn; chúng được cảm nhận đồng thời trong mọi hiện thể của phàm ngã.
403. We can see where the number seven enters. There are four difficulties and three personality vehicles. Really, the number twelve could be used, as well.
403. Chúng ta có thể thấy số bảy xuất hiện ở đâu. Có bốn khó khăn và ba hiện thể của phàm ngã. Thực ra, cũng có thể dùng số mười hai.
404. It is clear that Master DK is speaking to an initiate who is on the Path of the World Saviours. He has already known these “seven divine sorrows” to some extent, and will come to know them even more intimately as he approaches the fourth degree.
404. Rõ ràng Chân sư DK đang nói với một điểm đạo đồ ở trên Con Đường của các Đấng Cứu Thế. Ông đã biết những “bảy nỗi đau buồn thiêng liêng” này ở một mức độ nào đó, và sẽ biết chúng sâu sắc hơn nữa khi tiến gần đến cấp độ thứ tư.
405. We find Master DK often correcting presentations and interpretations common to Christian writers—even the early ones. He has told us that many episodes in the Gospel stories are inaccurately reported. Here He tells of a most inaccurate depiction of the “seven stations of the Cross”. We can see that the Ageless Wisdom will add much clarification to written accounts which for centuries have been “taken as Gospel”!
405. Chúng ta thấy Chân sư DK thường sửa lại những cách trình bày và diễn giải phổ biến nơi các tác giả Cơ Đốc—kể cả những tác giả thời kỳ đầu. Ngài đã cho chúng ta biết rằng nhiều tình tiết trong các câu chuyện Phúc Âm được thuật lại thiếu chính xác. Ở đây, Ngài nói đến một cách mô tả hết sức thiếu chính xác về “bảy chặng Thập Giá”. Chúng ta có thể thấy Minh Triết Ngàn Đời sẽ làm sáng tỏ thêm rất nhiều những bản tường thuật mà suốt nhiều thế kỷ đã được “coi là chân lý Phúc Âm”!
406. The “seven stations of the Cross” obviously have much to do with the chakra system of any disciple or initiate, and the “seven divine sorrows” with the pains and agonies (whether physical or in the realm of consciousness) which the advancing initiate ‘feels’ as he finds himself upon the Cross.
406. “Bảy chặng Thập Giá” hiển nhiên liên quan nhiều đến hệ thống luân xa của bất kỳ đệ tử hay điểm đạo đồ nào, còn “bảy nỗi đau buồn thiêng liêng” liên quan đến những đau đớn và thống khổ (dù về thể chất hay trong lĩnh vực tâm thức) mà điểm đạo đồ đang tiến bước ‘cảm nhận’ khi thấy mình ở trên Thập Giá.
The following sentence is not included in the original papers:
Câu sau đây không có trong các tài liệu gốc:
As I told you elsewhere* "from the standpoint of Christian symbolism (even though the interpretation is as yet inadequate) these seven crises correspond to the seven stations of the Cross which mark the way of an advancing world Saviour."
Như Tôi đã nói với em ở một nơi khác [xix]* “xét từ quan điểm biểu tượng Kitô giáo (dù cách diễn giải hiện vẫn chưa đầy đủ), bảy cuộc khủng hoảng này tương ứng với bảy chặng Thập Giá đánh dấu con đường của một Đấng Cứu Thế đang tiến bước.”
407. This sentence is a later insert, perhaps added by AAB for FCD’s greater comprehension.
407. Câu này được chèn vào sau, có lẽ do AAB thêm vào để FCD thấu hiểu hơn.
Here again you have the four and the three brought together in a synthesis of service, of discipline and of unfoldment.
Ở đây, một lần nữa, em thấy bốn và ba kết hợp với nhau trong một sự tổng hợp của phụng sự, giới luật và sự khai mở.
408. The triplicity and the quaternary are found throughout occultism.
408. Bộ ba và bộ bốn hiện diện khắp huyền bí học.
409. One of our major tasks is to discover the reality of the three, and express it within the domain of the four.
409. Một trong những nhiệm vụ lớn của chúng ta là khám phá thực tại của số ba, và biểu lộ thực tại ấy trong phạm vi của số bốn.
410. There are some contexts in which the three is superior to the four and others in which the four is superior to the three. There are, for instance, three higher subplanes of the systemic mental plane, but four higher ethers of the systemic physical plane.
410. Có những ngữ cảnh trong đó số ba cao hơn số bốn và những ngữ cảnh khác trong đó số bốn cao hơn số ba. Chẳng hạn, có ba cõi phụ cao của cõi trí thuộc hệ mặt trời, nhưng có bốn cõi dĩ thái cao của cõi hồng trần thuộc hệ mặt trời.
411. When rightly combined, they lead to “a synthesis of service, of discipline and of unfoldment”.
411. Khi kết hợp đúng đắn, chúng dẫn đến “một sự tổng hợp của phụng sự, kỷ luật và khai mở”.
412. Synthesis is a keynote of FCD’s life and we see the Tibetan seeking to present him with visions of synthesis.
412. Sự tổng hợp là một chủ âm trong đời sống của FCD, và chúng ta thấy Chân sư Tây Tạng tìm cách trình bày với ông những tầm nhìn về sự tổng hợp.
All these factors have been active in your life, my brother and co-disciple. I would like to commend you on one point. You have proceeded with your Ashram work, your thinking and your service in spite of all that has been going on. This has been noted by us and it is for this quality of spiritual stability that we watch. The field of your work remains the same; it is part of your karmic obligation which may not be avoided, but the mode of work and the nature of the work which should be done will have to be altered for reasons which I am confident you will understand…
Huynh đệ và đệ tử đồng môn của tôi, tất cả những yếu tố này đều đã tác động trong cuộc đời em. Tôi muốn khen ngợi em về một điểm. Em vẫn tiếp tục công việc ashram, sự suy tư và công việc phụng sự của mình bất chấp mọi điều đang diễn ra. Chúng Tôi đã ghi nhận điều này, và chính phẩm tính vững vàng về tinh thần ấy là điều chúng Tôi tìm kiếm. Lĩnh vực công việc của em vẫn như cũ; đó là một phần nghĩa vụ nghiệp quả mà em không thể tránh né, nhưng phương thức làm việc và bản chất của công việc cần thực hiện sẽ phải thay đổi vì những lý do mà Tôi tin chắc em sẽ thấu hiểu....
413. FCD has demonstrated great steadiness in the face of difficulty and adversity. What DK once said of him has proven to be true: “You have the persistence and the will (like tempered steel) of the second ray…” (DINA I 139-140)
413. FCD đã thể hiện sự vững vàng lớn lao trước khó khăn và nghịch cảnh. Điều Chân sư DK từng nói về ông đã chứng tỏ là đúng: “Em có sự bền bỉ và ý chí (như thép đã tôi) của cung hai…” (DINA I 139-140)
414. The true pledged disciple or initiate is responsible along several fronts; the angles of the natal horoscope describe them to some extent. He is responsible for his own inner cultivation (the Ascendant); to others (the Descendant); to manifest the Plan (the IC); to his Ashram (the MC). The IC also carries the meaning of the Ashram (as a place of refuge). As a source of regulatory pressure, the MC suitably describes the Ashram.
414. Người đệ tử chân chính đã cam kết hay điểm đạo đồ có trách nhiệm trên nhiều phương diện; các góc của lá số chiêm tinh bản mệnh mô tả những phương diện ấy ở một mức độ nào đó. Y có trách nhiệm vun bồi nội tâm của chính mình (Điểm mọc); có trách nhiệm với người khác (Điểm lặn); biểu hiện Thiên Cơ (IC); có trách nhiệm với ashram của mình (Thiên Đỉnh). IC cũng mang ý nghĩa ashram (như một nơi nương náu). Là một nguồn áp lực điều chỉnh, Thiên Đỉnh mô tả ashram một cách thích hợp.
415. We are told that the Masters watch “for this quality of spiritual stability”. This we should remember as we live our personality lives. Many things may ‘happen’—to us and around us. What is the quality of our spiritual stability in the face of these happenings?
415. Chúng ta được cho biết rằng các Chân sư theo dõi “phẩm tính ổn định tinh thần này”. Chúng ta nên ghi nhớ điều này khi sống đời phàm ngã của mình. Nhiều điều có thể ‘xảy đến’—với chúng ta và quanh chúng ta. Phẩm tính ổn định tinh thần của chúng ta ra sao trước những biến cố này?
416. DK returns to FCD’s intended work with the psyche and consciousness of the Jewish people. We learn that it is, in fact, for FCD, a “karmic obligation”. DK hinted that FCD had been a member of the Jewish group but had worked his way out of it long ago.
416. Chân sư DK trở lại với công việc dự định của FCD liên quan đến tâm lý và tâm thức của dân tộc Do Thái. Chúng ta biết rằng, thực ra, đối với FCD, đó là một “bổn phận nghiệp quả”. Chân sư DK hàm ý rằng FCD đã từng là thành viên của nhóm Do Thái, nhưng từ lâu đã nỗ lực để thoát ra khỏi nhóm ấy.
417. It is interesting that in 1942 FCD was given an “assignment”, the following of which seemed at the time optional. Now (1948) he is told that it is part of a karmic obligation which may not be avoided.
417. Điều đáng chú ý là vào năm 1942, FCD được giao một “nhiệm vụ” mà vào thời điểm đó, việc thực hiện dường như là tùy chọn. Giờ đây (1948), ông được cho biết đó là một phần bổn phận nghiệp quả không thể né tránh.
418. There have been many developments with respect to the Jews. The State of Israel has been founded on May 14th or 15th, 1948. The context in which FCD’s redemptive work could be done has changed dramatically. These are the reasons to which DK obliquely refers.
418. Đã có nhiều diễn biến liên quan đến người Do Thái. Nhà nước Israel đã được thành lập vào ngày 14 hoặc 15 tháng 5 năm 1948. Bối cảnh mà trong đó FCD có thể thực hiện công việc cứu chuộc của mình đã thay đổi mạnh mẽ. Đó là những lý do mà Chân sư DK gián tiếp đề cập đến.
Just as humanity is always left free to make its own choices and decisions, so is a branch of the human family or a group within that family left free to determine its own destiny. The Zionists have proved susceptible to that remnant of evil which is not yet “sealed” behind the door where evil dwells. They are today a point of infection and of danger to the rest of the world, and this is due to their lack of truth, their unbridled cruelty, and their biased hate. They are as much aggressors as were the Germans, and are working under the evil control of the same forces. The whole situation must be judged and gauged from the karmic angle; the Zionists are endeavoring to repeat the horror of their first invasion of Palestine, of which you may read in The Old Testament. There they behaved with unspeakable cruelty but were given the opportunity to offer the nations of the world – through the synthesis of Jewish culture – the fruitage of their third and fourth ray development: i.e., their comprehension of money and its intelligent use. This is possible to them because they are the remnant of the humanity of the first solar system which makes them (as souls) the oldest group on earth; this also gives them their essential creative and artistic value which is the result of their participation in the evolutionary processes of this planetary humanity.
Cũng như nhân loại luôn được tự do đưa ra những lựa chọn và quyết định của mình, một nhánh của gia đình nhân loại hay một nhóm trong gia đình ấy cũng được tự do định đoạt vận mệnh của mình. Những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái đã cho thấy họ dễ chịu ảnh hưởng của tàn dư cái ác chưa được “phong kín” sau cánh cửa nơi cái ác trú ngụ. Ngày nay, họ là một điểm lây nhiễm và nguy hiểm đối với phần còn lại của thế giới, và điều này là do sự thiếu trung thực, sự tàn ác không kiềm chế và lòng thù hận thiên lệch của họ. Họ là những kẻ xâm lược chẳng kém người Đức trước đây, và đang hoạt động dưới sự kiểm soát tà ác của cùng những mãnh lực ấy. Toàn bộ tình hình phải được phán xét và lượng định từ góc độ nghiệp quả; những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái đang cố lặp lại nỗi kinh hoàng của cuộc xâm lược Palestine đầu tiên của họ, mà em có thể đọc trong Kinh Cựu Ước. Ở đó, họ đã hành xử tàn ác không sao tả xiết nhưng đã được trao cơ hội mang đến cho các quốc gia trên thế giới—thông qua sự tổng hợp của văn hóa Do Thái—thành quả phát triển cung ba và cung bốn của họ: tức là sự thấu hiểu về tiền bạc và cách sử dụng tiền bạc một cách thông minh. Họ có khả năng làm điều này vì họ là tàn dư của nhân loại thuộc hệ mặt trời thứ nhất, điều khiến họ (với tư cách các linh hồn) trở thành nhóm lâu đời nhất trên Trái Đất; điều này cũng đem lại cho họ giá trị sáng tạo và nghệ thuật cốt yếu, vốn là kết quả của việc họ tham gia vào các tiến trình tiến hoá của nhân loại hành tinh này.
419. This paragraph contains Master DK’s harshest indictment of the Zionists, but, let us note, not of the Jews (especially, the “true Jews”). At various points He takes great pains to make the distinction.
419. Đoạn này chứa lời lên án gay gắt nhất của Chân sư DK đối với những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái, nhưng xin lưu ý, không phải đối với người Do Thái (đặc biệt là “những người Do Thái chân chính”). Ở nhiều chỗ, Ngài hết sức chú trọng làm rõ sự phân biệt này.
420. Humanity has come of age and must make its own decisions which will determine its destiny. The same may be said for groups of human beings within humanity. The Zionist group is one such.
420. Nhân loại đã trưởng thành và phải tự đưa ra những quyết định sẽ định đoạt vận mệnh của mình. Điều tương tự cũng đúng với những nhóm người trong nhân loại. Nhóm theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái là một nhóm như thế.
421. The attempt was made during the Second World War to “seal the door where evil dwells”. It was very nearly done, but the door was left ajar, so FCD noted elsewhere, by the Zionists.
421. Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, người ta đã nỗ lực “đóng kín cửa vào nẻo ác”. Điều này đã gần như hoàn tất, nhưng như FCD ghi nhận ở nơi khác, những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái đã để cánh cửa hé mở.
422. DK gives an occult analysis. This group “proved susceptible to that remnant of evil which is not yet ‘sealed’ behind the door where evil dwells.” This is a shocking statement and demands reflection. The nature of the Zionists is never portrayed in this manner; how could it be? Occult understanding and the ability to “read the record” is missing in all conventional assessments.
422. Chân sư DK đưa ra một phân tích huyền bí. Nhóm này “đã cho thấy họ dễ chịu ảnh hưởng của tàn dư cái ác chưa được ‘phong kín’ sau cánh cửa nơi cái ác trú ngụ.” Đây là một phát biểu gây sửng sốt và đòi hỏi suy ngẫm. Bản chất của những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái chưa bao giờ được mô tả theo cách này; làm sao có thể như thế được? Mọi đánh giá thông thường đều thiếu sự thấu hiểu huyền bí và khả năng “đọc ký lục”.
423. DK says that the Zionists represent a “point of infection” and are danger to the rest of the world.
423. Chân sư DK nói rằng những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái đại diện cho một “điểm lây nhiễm” và là mối nguy hiểm đối với phần còn lại của thế giới.
424. In the Bailey Teaching we learned that Germans and the Jews were brothers and, as it were, members of the same family. We learned that, from the reincarnational perspective, Germans had been Jews and Jews, Germans. The great contention between them during WWII was a family quarrel.
424. Trong Giáo Huấn Bailey, chúng ta đã biết rằng người Đức và người Do Thái là huynh đệ và có thể nói là những thành viên trong cùng một gia đình. Chúng ta đã biết rằng, từ quan điểm luân hồi, người Đức từng là người Do Thái và người Do Thái từng là người Đức. Cuộc xung đột lớn giữa họ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai là một cuộc tranh chấp trong gia đình.
“Like frequently repudiates and swings away from like, and the Germans and the Jews are curiously alike. Just as many British people and the preponderance of the British race are reincarnated Romans, so many Germans are reincarnated Jews. Hence the similarity of their points of view. It is a family quarrel and there is nothing more terrible than this.” (GWP 147)
“Những người giống nhau thường phủ nhận và quay lưng với nhau, và người Đức với người Do Thái giống nhau một cách kỳ lạ. Cũng như nhiều người Anh và phần lớn dân tộc Anh là người La Mã tái sinh, nhiều người Đức là người Do Thái tái sinh. Do đó có sự tương đồng trong quan điểm của họ. Đó là một cuộc tranh chấp trong gia đình, và không có gì khủng khiếp hơn điều này.” (GWP 147)
425. The mediumistic German nation (with its mediumistic Pisces personality) was obsessed by the Forces of Darkness. DK tells us (to the shock, horror and disbelief of many) that the Zionists were working under the same impression.
425. Dân tộc Đức có tính đồng tử (với phàm ngã Song Ngư có tính đồng tử) đã bị các Mãnh Lực Bóng Tối ám nhập. Chân sư DK cho chúng ta biết (khiến nhiều người sửng sốt, kinh hoàng và không tin nổi) rằng những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái cũng đang hoạt động dưới cùng một ấn tượng ấy.
426. We have no way to prove the veracity of this statement, but when one looks at the world situation today, and the great danger to humanity posed by the Middle East situation, one can see the hand of the Dark Forces at work. They have set up a new front for their attack against humanity.
426. Chúng ta không có cách nào chứng minh tính xác thực của lời khẳng định này, nhưng khi nhìn vào tình hình thế giới ngày nay và mối nguy lớn mà tình hình Trung Đông đặt ra cho nhân loại, người ta có thể thấy bàn tay của các Mãnh Lực Bóng Tối đang hoạt động. Chúng đã thiết lập một mặt trận mới để tấn công nhân loại.
427. The condemnation of the Zionists (again, not the Jews) is uncompromising: they are accused of “lack of truth”, of “unbridled cruelty”, and of “biased hate”. A thorough condemnation! We must remember that Master DK does not exaggerate. He speaks truth as He sees it. If any group inspires from Him such a condemnation, it cannot be taken lightly.
427. Lời lên án những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái (xin nhắc lại, không phải người Do Thái) không có chút khoan nhượng: họ bị cáo buộc là “thiếu chân thật”, “tàn ác không kiềm chế” và “thù hận thiên lệch”. Một lời lên án triệt để! Chúng ta phải nhớ rằng Chân sư DK không phóng đại. Ngài nói lên chân lý như Ngài thấy. Nếu một nhóm nào khiến Ngài đưa ra lời lên án như thế, chúng ta không thể xem nhẹ điều đó.
428. DK resorts to an analysis of the problem from the karmic angle. DK seems to equate the Zionists with those who invaded Palestine at least three thousand years ago in the time of Joshua (the successor to Moses). We may think of these two great figures as the later Masters, Morya and Jesus.
428. Chân sư DK chuyển sang phân tích vấn đề từ góc độ nghiệp quả. Dường như Chân sư DK đồng nhất những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái với những người đã xâm chiếm Palestine cách đây ít nhất ba nghìn năm, vào thời Joshua (người kế nhiệm Moses). Chúng ta có thể xem hai nhân vật vĩ đại này là các Chân sư Morya và Jesus về sau.
429. The invasion of Canaan is a historical-biblical fact. The Hebrews of the time took Canaan (the “Promised Land”) by the sword and neither man, woman or child was spared. This is why DK tells of the “unspeakable cruelty” of “their” invasion of Palestine. By the word “their”, He means that the Zionists are the reincarnated aspects of the early invaders. Obviously, none of this will make any sense to those who do not accept the veracity of the doctrine of reincarnation and will be rejected as the wildest, anti-Semitic fantasy.
429. Cuộc xâm chiếm Canaan là một sự kiện lịch sử trong Kinh Thánh. Người Hebrew thời ấy đã dùng gươm chiếm lấy Canaan (“Miền Đất Hứa”), không tha một người nam, người nữ hay trẻ em nào. Đó là lý do Chân sư DK nói đến “sự tàn ác không thể diễn tả” trong cuộc xâm chiếm Palestine của “họ”. Qua từ “họ”, Ngài muốn nói rằng những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái là những phương diện tái sinh của các kẻ xâm lược thuở trước. Hiển nhiên, tất cả những điều này sẽ chẳng có ý nghĩa gì đối với những ai không chấp nhận tính xác thực của giáo lý luân hồi, và sẽ bị bác bỏ như một điều tưởng tượng bài Do Thái hoang đường nhất.
430. The guerilla wars fought before the establishment of the State of Israel, and the conventional wars fought after that establishment are, from the Tibetan’s point of view, a replay of that early invasion. These wars have been, relatively, more restrained, with far less slaughter, but the continued wars and hostilities between Israel and the surrounding Arab countries are filled with ongoing horror and deep frustration for all who work for world peace. These wars and have held the world stage for over half a century.
430. Theo quan điểm của Chân sư Tây Tạng, những cuộc chiến tranh du kích trước khi Nhà nước Israel thành lập và những cuộc chiến tranh quy ước sau đó là sự tái diễn cuộc xâm lược thuở trước ấy. Những cuộc chiến này tương đối có chừng mực hơn, với mức độ tàn sát ít hơn nhiều, nhưng những cuộc chiến tranh và hành động thù địch kéo dài giữa Israel và các nước Ả Rập xung quanh chứa đầy nỗi kinh hoàng dai dẳng và sự thất vọng sâu sắc đối với tất cả những ai hoạt động vì hòa bình thế giới. Những cuộc chiến này đã chiếm lĩnh vũ đài thế giới suốt hơn nửa thế kỷ.
431. We can only listen carefully to what the Tibetan is saying, and then see if, intuitively, it carries the ring of truth. We are not in a position to estimate whether the Zionists are the same souls who took Canaan by the sword more than three thousand years ago. If they are, however, an entirely new light on the founding of Israel is shed, and not a happy light.
431. Chúng ta chỉ có thể lắng nghe cẩn thận những gì Chân sư Tây Tạng đang nói, rồi xem liệu trực giác có cảm nhận được tính chân thật trong đó hay không. Chúng ta không đủ khả năng đánh giá liệu những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái có phải là chính những linh hồn đã dùng gươm chiếm lấy Canaan hơn ba nghìn năm trước hay không. Tuy nhiên, nếu đúng như vậy, thì một ánh sáng hoàn toàn mới soi rọi việc thành lập Israel, và đó không phải là một ánh sáng mang lại niềm vui.
432. The Hebrews of those ancient times acted, says DK, “with unspeakable cruelty”, but were given (in the hope of compensation) an opportunity to offer to humanity the fruitage of their culture based upon the third and fourth rays. We have remarked that the personality ray of Judea is the third and speculated that its monadic ray may be the fourth. This group possesses the “comprehension of money and its intelligent use”. This was, potentially, one of the gifts to be given to humanity.
432. Chân sư DK nói rằng người Hebrew thời cổ đại ấy đã hành động “với sự tàn ác không thể diễn tả”, nhưng họ đã được trao một cơ hội (với hy vọng bù đắp) để dâng tặng nhân loại thành quả của nền văn hóa dựa trên cung ba và cung bốn của họ. Chúng ta đã nhận xét rằng cung phàm ngã của Judea là cung ba và suy đoán rằng cung chân thần của dân tộc này có thể là cung bốn. Nhóm này có “sự thấu hiểu về tiền bạc và cách sử dụng tiền bạc một cách thông minh”. Về tiềm năng, đây là một trong những món quà họ có thể trao tặng nhân loại.
433. The Jews (as a group), are, we are told, part of the remnants of the first solar system—souls knows as the “ancestors”. This makes them, according to the Tibetan, “(as souls) the oldest group on earth”. This is an amazing thought and suggests that humanity does not learn its lessons rapidly—especially some sectors of humanity who are strongly conditioned by the energies of the first solar system.
433. Chúng ta được cho biết rằng người Do Thái (với tư cách một nhóm) là một phần những thành phần còn lại của hệ mặt trời thứ nhất—những linh hồn được gọi là các “tổ tiên”. Theo Chân sư Tây Tạng, điều này khiến họ trở thành “(với tư cách các linh hồn) nhóm lâu đời nhất trên Trái Đất”. Đây là một ý tưởng đáng kinh ngạc và gợi ra rằng nhân loại không học được những bài học của mình một cách nhanh chóng—đặc biệt là một số bộ phận nhân loại chịu ảnh hưởng mạnh của các năng lượng thuộc hệ mặt trời thứ nhất.
434. Their great creative and artistic value is affirmed. Interestingly, this value is said to result from their participation in the “evolutionary processes of this planetary humanity”. It is as if much along the artistic and creative paths was learned during the fourth round of the fourth chain—our Earth-chain. These “ancestors”, as they are sometimes called, are said to have entered evolution on this chain and in this round before the individualization of Earth-chain humanity—another astonishing thought.
434. Giá trị sáng tạo và nghệ thuật lớn lao của họ được khẳng định. Điều thú vị là giá trị này được cho là kết quả từ việc họ tham gia vào “các tiến trình tiến hoá của nhân loại hành tinh này”. Dường như họ đã học được nhiều điều trên các con đường nghệ thuật và sáng tạo trong cuộc tuần hoàn thứ tư của Dãy Thứ Tư—Dãy Địa Cầu của chúng ta. Những “tổ tiên” này, như đôi khi người ta gọi họ, được cho là đã bước vào tiến hoá trên Dãy này và trong cuộc tuần hoàn này trước sự biệt ngã hóa của nhân loại Dãy Địa Cầu—một ý tưởng đáng kinh ngạc khác.
They made, however, a false move in Old Testament days and since then their ways have been devious and wandering; they are unquestionably the most reactionary group on earth. Their desire for dominance in all fields can be seen founded in the Ten Commandments which are voiced in terms of an authoritative negation and in their clinging to an outworn and separative faith – all the tents of which, the rituals and prohibitions serving to build a wall around the Jewish consciousness. The Jews are not a nation; esoterically, they are the seed or originating germ of mankind and hence their scattering in every nation in the hope that they would in due course of evolution cease to be Jews – as you have ceased to be Jew. But they have held on throughout the centuries to the infantile segregation and to the protective taboos which were necessary in the early days, five thousand years ago. Hence the trouble today and even the Hierarchy knows not what end shall be.
Tuy nhiên, họ đã đi một bước sai lầm vào thời Cựu Ước và từ đó đường lối của họ trở nên quanh co và phiêu bạt; không còn nghi ngờ gì nữa, họ là nhóm phản động nhất trên Trái Đất. Có thể thấy dục vọng thống trị mọi lĩnh vực của họ đặt nền tảng trên Mười Điều Răn, vốn được diễn đạt bằng những lời phủ định đầy uy quyền, và trên việc họ bám chặt vào một tín ngưỡng lỗi thời và chia rẽ—mọi giáo điều, nghi lễ và điều cấm của tín ngưỡng ấy đều góp phần dựng nên một bức tường bao quanh tâm thức Do Thái. Người Do Thái không phải là một quốc gia; theo nghĩa huyền bí, họ là hạt giống hay mầm khởi nguyên của nhân loại, và do đó họ phân tán trong mọi quốc gia với hy vọng rằng, đến thời điểm thích hợp trong tiến hoá, họ sẽ không còn là người Do Thái nữa—như em đã không còn là người Do Thái. Nhưng qua nhiều thế kỷ, họ vẫn bám giữ sự biệt lập của tuổi ấu thơ và những điều cấm kỵ mang tính bảo vệ vốn cần thiết vào thuở ban đầu, năm nghìn năm trước. Vì thế mới có những khó khăn ngày nay, và ngay cả Thánh đoàn cũng không biết kết cục sẽ ra sao.
435. DK is still talking of those who manifest as the present Zionists (especially, the ones who paved the way for the founding of Israel through violence and machination). There are some in the Jewish group who are strongly identified with its strange history. They are the true “ancestors”, although, it must be said, that many “ancestors” have moved on, have changed their motivations and identifications entirely, and have ‘graduated’ from this planetary school. DK is speaking of the most resistant group, which He calls “the most reactionary group on earth”. For such statements, He will wrongfully be accused of anti-Semitism. In fact, He is looking at a vast panorama, unavailable to any strictly human researcher, and is evaluating in an objective manner the origin and destiny of races, peoples and nations.
435. Chân sư DK vẫn đang nói về những người hiện thân thành những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái ngày nay (đặc biệt là những người đã mở đường cho việc thành lập Israel bằng bạo lực và mưu mô). Có một số người trong nhóm Do Thái đồng hoá mạnh mẽ với lịch sử kỳ lạ của nhóm này. Họ là những “tổ tiên” thực sự, mặc dù phải nói rằng nhiều “tổ tiên” đã tiến bước, đã thay đổi hoàn toàn động cơ và những gì mình đồng hoá với, và đã “tốt nghiệp” trường học hành tinh này. Chân sư DK đang nói đến nhóm kháng cự mạnh nhất, mà Ngài gọi là “nhóm phản động nhất trên Trái Đất”. Vì những lời khẳng định như thế, Ngài sẽ bị cáo buộc một cách sai trái là bài Do Thái. Thực ra, Ngài đang nhìn vào một toàn cảnh bao la mà bất kỳ nhà nghiên cứu nào chỉ có năng lực thuần túy con người cũng không thể tiếp cận, và đang đánh giá một cách khách quan nguồn gốc cùng vận mệnh của các giống dân, dân tộc và quốc gia.
436. It must certainly be clear that not every member of the Jewish people is a reactionary “ancestor”—i.e., a soul who individualized in the first solar system and who has remained identified with that orientation throughout its development on the Earth-chain. Souls are constantly changing races and subraces and only a Master of the Wisdom can decipher the soul’s history on this planet and on an earlier chain or solar system.
436. Chắc chắn phải hiểu rõ rằng không phải mọi thành viên của dân tộc Do Thái đều là một “tổ tiên” phản động—tức là một linh hồn đã biệt ngã hóa trong hệ mặt trời thứ nhất và vẫn đồng hoá với định hướng ấy suốt quá trình phát triển trên Dãy Địa Cầu. Các linh hồn không ngừng chuyển đổi giữa các giống dân và giống dân phụ, và chỉ một Chân sư Minh Triết mới có thể giải đọc lịch sử của linh hồn trên hành tinh này cũng như trên một Dãy hay hệ mặt trời trước đó.
437. The whole problem can be solved through dis-identification from the not-Self. Consciousnesses who are identified exclusively with the form through which they manifest, and with the hereditary history of those forms, have yet very much to learn about the spiritual aspects of evolution.
437. Toàn bộ vấn đề có thể được giải quyết bằng cách không còn đồng hoá với phi ngã. Những tâm thức chỉ đồng hoá với hình tướng mà qua đó mình biểu hiện, cùng với lịch sử di truyền của những hình tướng ấy, vẫn còn rất nhiều điều phải học về các phương diện tinh thần của tiến hoá.
438. DK speaks of a “false move in Old Testament days”. Presumably, this was the invasion of Canaan, now Palestine. This led, eventually, to the karma of the Diaspora, and to the over-emphasis of the devious third ray personality. The first ray Soul of Judea had been vanquished by the Romans, and for two millennia after their conquest by the Romans and the destruction of the Temple, the majority of Jews were forced to live more according to their personality ray than by the first ray of the soul.
438. Chân sư DK nói đến một “bước đi sai lầm vào thời Cựu Ước”. Có lẽ đó là cuộc xâm chiếm Canaan, nay là Palestine. Cuối cùng, điều này đã dẫn đến nghiệp quả của cuộc Đại Ly Tán và sự nhấn mạnh quá mức vào phàm ngã cung ba quanh co. Linh hồn cung một của Judea đã bị người La Mã khuất phục, và trong hai thiên niên kỷ sau cuộc chinh phục của người La Mã cùng sự phá hủy Đền Thờ, đa số người Do Thái buộc phải sống theo cung phàm ngã nhiều hơn là theo cung một của linh hồn.
439. In modern times, with the rise to power of the Zionists (a group strengthened by world reaction against the repugnant horrors of the Holocaust) the first ray Soul of Judea has again reasserted itself, in a manner very little influenced by the love aspect (which has been growing in most human groupings under the Piscean influence for the past two thousand years). These Zionists, it seems, were ancient warriors upon the first ray, and represented a certain aspect of the first ray Soul of Judea, though not its best aspect.
439. Trong thời hiện đại, cùng với sự lên nắm quyền của những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái (một nhóm được củng cố nhờ phản ứng của thế giới trước những nỗi kinh hoàng ghê tởm của cuộc diệt chủng Holocaust), linh hồn cung một của Judea lại tự khẳng định, theo một cách chịu rất ít ảnh hưởng của phương diện bác ái (vốn đã phát triển trong phần lớn các nhóm người dưới ảnh hưởng Song Ngư suốt hai nghìn năm qua). Dường như những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái này từng là các chiến binh cổ đại thuộc cung một, và đại diện cho một phương diện nào đó của linh hồn cung một của Judea, dù không phải phương diện tốt đẹp nhất.
440. The first ray, when unmoderated by the ray of love and wisdom, insists on dominance. The Ten Commandments, with its “authoritative negations”, the Tibetan tells us, demonstrate this will-to-dominate. The first ray is a ray of isolation as well. DK tells us that a wall has been built around the Jewish consciousness and held in place over centuries by means of the rituals and prohibitions of the orthodox Jewish religion, thus perpetuating an “outworn and separative faith”. Many Jews will instinctively and violently recoil from such an assessment; only once they have observed the panorama revealed by the esoterically-trained mind, will they give such views a hearing.
440. Khi không được cung bác ái và minh triết điều hòa, cung một nhất quyết đòi thống trị. Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng Mười Điều Răn, với những “lời phủ định đầy uy quyền”, thể hiện ý chí thống trị này. Cung một cũng là một cung của sự cô lập. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng một bức tường đã được dựng lên bao quanh tâm thức Do Thái và duy trì qua nhiều thế kỷ bằng các nghi lễ cùng điều cấm của Do Thái giáo chính thống, qua đó kéo dài một “tín ngưỡng lỗi thời và chia rẽ”. Nhiều người Do Thái sẽ phản ứng theo bản năng và dữ dội trước một đánh giá như thế; chỉ khi quan sát được toàn cảnh mà thể trí được huấn luyện về huyền bí học hé lộ, họ mới chịu lắng nghe những quan điểm ấy.
441. DK tells us that the Jews are not a nation, per se. Their nature is far more occultly based; “…esoterically, they are the seed or originating germ of mankind and hence their scattering in every nation…”
441. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng chính người Do Thái không phải là một quốc gia. Bản chất của họ có nền tảng huyền bí sâu xa hơn nhiều; “…theo nghĩa huyền bí, họ là hạt giống hay mầm khởi nguyên của nhân loại, và do đó họ phân tán trong mọi quốc gia…”
442. DK says that it has been hoped, apparently by the Directors of our planetary process that, eventually, the Jews would cease to be Jews. Immediately, thoughts of genocide will enter some minds, and the prospect will be seen horrifically inhumane.
442. Chân sư DK nói rằng dường như các Đấng Điều Hành tiến trình hành tinh của chúng ta đã hy vọng rằng cuối cùng người Do Thái sẽ không còn là người Do Thái nữa. Ngay lập tức, ý nghĩ về sự diệt chủng sẽ xuất hiện trong một số tâm trí, và viễn cảnh ấy sẽ bị xem là phi nhân đạo một cách kinh hoàng.
443. But the suggestion has nothing to do with any cruelty or intended annihilation (as was enforced by the barbarism of the German nation responsive to impression of the Black Forces). Rather, it is question of the gradual assimilation of the best that the Jewish people has to offer, and their harmonious blending with the newer human group—the humanity of the Earth-chain and of the second solar system.
443. Nhưng lời đề xuất ấy không liên quan gì đến bất kỳ sự tàn ác hay ý định tiêu diệt nào (như sự man rợ của dân tộc Đức đã thực thi khi đáp ứng với ấn tượng từ các Mãnh Lực Hắc Ám). Đúng hơn, đó là vấn đề từng bước tiếp thu những gì tốt đẹp nhất mà dân tộc Do Thái có thể trao tặng, và sự hòa hợp hài hòa của họ với nhóm nhân loại mới hơn—nhân loại của Dãy Địa Cầu và của hệ mặt trời thứ hai.
444. Such an assimilation or blending would be a project overseen by the Department of the Manu as He seeks to build a racial form which ensures the best possible vehicles for the incarnating human race. The Jews are carriers of a great treasures for humanity—creativity, artistry and great intelligence. DK has named many virtues of the Jewish people and said they were spiritually based. These qualities have to be preserved and eventually blended with the energies which characterize the humanity of our present chain and solar system.
444. Sự tiếp thu hay hòa hợp như thế sẽ là một công trình do Ban của Đức Manu giám sát khi Ngài tìm cách xây dựng một hình tướng giống dân bảo đảm những hiện thể tốt nhất có thể cho nhân loại đang lâm phàm. Người Do Thái mang những kho báu lớn lao cho nhân loại—khả năng sáng tạo, tài năng nghệ thuật và trí thông minh lớn lao. Chân sư DK đã nêu nhiều đức tính của dân tộc Do Thái và nói rằng chúng có nền tảng tinh thần. Những phẩm tính này phải được bảo tồn và cuối cùng hòa hợp với các năng lượng đặc trưng cho nhân loại của Dãy và hệ mặt trời hiện tại của chúng ta.
445. Humanity comprises some sixty billion souls. These souls will be taking incarnation for millions of years in all manner of races and subraces. For the psychological health of humanity, it is important that souls cease to identify with the forms through which they manifest.
445. Nhân loại gồm khoảng sáu mươi tỷ linh hồn. Những linh hồn này sẽ lâm phàm trong hàng triệu năm, trong đủ mọi giống dân và giống dân phụ. Vì sức khỏe tâm lý của nhân loại, điều quan trọng là các linh hồn phải ngừng đồng hoá với những hình tướng mà qua đó mình biểu hiện.
446. DK speaks of the “infantile segregation” and “protective taboos” of the Jewish group, necessary, perhaps, five thousand years ago, but no longer necessary. These must be released. They are a obstructive concretion in the psyche of humanity. There are far better possibilities for humanity ahead. The invocation and manifestation of such possibilities is the real project for the human race. The old and outworn can only be preserved for so long.
446. Chân sư DK nói đến “sự biệt lập của tuổi ấu thơ” và những “điều cấm kỵ mang tính bảo vệ” của nhóm Do Thái, có lẽ đã cần thiết năm nghìn năm trước, nhưng nay không còn cần thiết nữa. Cần buông bỏ những điều này. Chúng là một khối kết tụ gây cản trở trong tâm lý nhân loại. Phía trước có những khả năng tốt đẹp hơn nhiều cho nhân loại. Khẩn cầu và biểu hiện những khả năng ấy là công trình thực sự dành cho nhân loại. Những gì cũ kỹ và lỗi thời chỉ có thể được gìn giữ trong một khoảng thời gian nhất định.
447. The best that the Jewish people, or any people, have to offer the ‘new racial amalgamation’ must be offered. The great spiritual, psychological and artistic riches of the Jewish group will make their indispensable contribution to what humanity must become. There is nothing anti-Jewish in this point of view. The treasures of consciousness carried by the Jews are acknowledged and the contribution of these subtle treasures to the human race eagerly anticipated. It is just that outworn identifications with ancient forms and rituals must go (however gradually, naturally, harmoniously and lovingly)—for the welfare of humanity as a whole.
447. Những gì tốt đẹp nhất mà dân tộc Do Thái, hay bất kỳ dân tộc nào, có thể đóng góp cho “sự dung hợp giống dân mới” đều phải được trao tặng. Kho tàng phong phú về tinh thần, tâm lý và nghệ thuật của nhóm Do Thái sẽ đóng góp phần không thể thiếu vào những gì nhân loại phải trở thành. Quan điểm này không có gì chống người Do Thái. Những kho báu tâm thức mà người Do Thái mang theo được thừa nhận, và sự đóng góp của những kho báu tinh tế ấy cho nhân loại được háo hức mong đợi. Chỉ có điều, những sự đồng hoá lỗi thời với các hình tướng và nghi lễ cổ xưa phải được buông bỏ (dù từng bước, tự nhiên, hài hòa và đầy tình thương đến đâu)—vì phúc lợi của toàn thể nhân loại.
448. The problem is one of the utmost seriousness. DK does not exaggerate when He says, “even the Hierarchy knows not what end shall be”. Upon this rock, humanity could be broken and might not recover for millennia, if then. DK warns of a next war which must not be fought. In such a war, religious passions would be ascendant, and hatred of unimagined proportions released. We can see that ancient religious approaches, whether pertaining to Judaism, Christianity or Islam, must go. They have nothing to do with the elevation of human consciousness into that state of transcendent realization characteristic of the Spiritual Hierarchy.
448. Đây là một vấn đề vô cùng nghiêm trọng. Chân sư DK không phóng đại khi Ngài nói: “ngay cả Thánh đoàn cũng không biết kết cục sẽ ra sao”. Nhân loại có thể tan vỡ trên tảng đá này và có lẽ không thể hồi phục trong nhiều thiên niên kỷ, nếu còn có thể hồi phục. Chân sư DK cảnh báo về một cuộc chiến tiếp theo tuyệt đối không được xảy ra. Trong một cuộc chiến như thế, những đam mê tôn giáo sẽ chiếm ưu thế, và lòng thù hận ở mức độ không thể tưởng tượng sẽ bùng phát. Chúng ta có thể thấy rằng những cách tiếp cận tôn giáo cổ xưa, dù thuộc Do Thái giáo, Kitô giáo hay Hồi giáo, đều phải được từ bỏ. Chúng không liên quan gì đến việc nâng tâm thức con người lên trạng thái chứng nghiệm siêu việt đặc trưng của Thánh đoàn.
Their major spiritual test will come in their reaction to the Christ when again He comes and it will be a terrific test because they have never – as a race and during their long evolution –recognised a single one of the World Teachers. I am entering into these details so that you may see more clearly where the trend of your work should lie.
Thử thách tinh thần chủ yếu của họ sẽ đến qua phản ứng của họ đối với Đức Christ khi Ngài lại đến, và đó sẽ là một thử thách khủng khiếp, vì họ chưa bao giờ—với tư cách một giống dân và trong suốt quá trình tiến hoá lâu dài của mình—công nhận dù chỉ một vị trong các Đức Chưởng Giáo. Tôi đi vào những chi tiết này để em có thể thấy rõ hơn công việc của em nên hướng về đâu.
449. The major test for the Jewish people has not yet arrived. The Christ is expected to reappear in physical form some time after 2025—members of humanity do not know exactly when. Perhaps the Christ, Himself, does not know the day or the hour, but He certainly knows the prevailing conditions which will allow Him to reemerge.
449. Thử thách chủ yếu dành cho dân tộc Do Thái vẫn chưa đến. Người ta mong đợi Đức Christ sẽ tái lâm trong hình tướng hồng trần vào một thời điểm nào đó sau năm 2025—nhân loại không biết chính xác khi nào. Có lẽ chính Đức Christ cũng không biết ngày hay giờ ấy, nhưng chắc chắn Ngài biết những điều kiện hiện hành nào sẽ cho phép Ngài tái xuất hiện.