Trích nội dung chương
3. The astrological chart of a given incarnation cannot fully indicate former conditions (although the Moon, and the Moon’s Nodes can be partial indicators). We are far more than we appear to be or than our present astrological configurations can explain. 3. Lá số chiêm tinh của một kiếp lâm phàm nhất định không thể biểu thị đầy đủ những tình trạng trước đây (mặc dù Mặt Trăng và các Nút Mặt Trăng có thể phần nào chỉ ra chúng). Chúng ta còn phong phú hơn rất nhiều so với những gì chúng ta biểu lộ ra ngoài hoặc những gì các cấu hình chiêm tinh hiện tại có thể giải thích.
3. The astrological chart of a given incarnation cannot fully indicate former conditions (although the Moon, and the Moon’s Nodes can be partial indicators). We are far more than we appear to be or than our present astrological configurations can explain.
3. Lá số chiêm tinh của một kiếp lâm phàm nhất định không thể biểu thị đầy đủ những tình trạng trước đây (mặc dù Mặt Trăng và các Nút Mặt Trăng có thể phần nào chỉ ra chúng). Chúng ta còn phong phú hơn rất nhiều so với những gì chúng ta biểu lộ ra ngoài hoặc những gì các cấu hình chiêm tinh hiện tại có thể giải thích.
4. This appears to be so in the case of BSD who developed a powerful psychic body in former incarnations. Perhaps, he did not suspect this to be true of himself, but Master DK has detected this condition and it has guided His choice in making BSD the first of his group-of-nine to be trained for psychic development.
4. Điều này dường như đúng trong trường hợp của BSD, người đã phát triển một thể thông linh đầy sức mạnh trong những kiếp lâm phàm trước. Có lẽ ông không ngờ điều này lại đúng với mình, nhưng Chân sư DK đã phát hiện tình trạng ấy, và nó đã định hướng lựa chọn của Ngài khi chọn BSD làm người đầu tiên trong nhóm chín người của ông để huấn luyện phát triển thông linh.
5. There is, then, a similarity between BWS (17-467) and BSD (36-563), for both developed the psychic approach in earlier incarnations. It appears that BSW, however, continued to use his psychic/astral tendencies during the present incarnation, and BSD has not.
5. Như vậy, có một điểm tương đồng giữa BWS (17-467) và BSD (36-563), vì cả hai đều đã phát triển cách tiếp cận thông linh trong những kiếp lâm phàm trước. Tuy nhiên, dường như BSW tiếp tục sử dụng những khuynh hướng thông linh/cảm dục của ông trong kiếp lâm phàm hiện tại, còn BSD thì không.
6. Apparently BSD’s psychic tendencies in the past were very strong. His soul, therefore, chose a mental emphasis for the present incarnation in order to balance and round out his personality. While the soul would not be changing its ray focus, it could choose a mental ray (the fifth) and a brain type (the third) which would induce towards mental polarization.
6. Rõ ràng những khuynh hướng thông linh của BSD trong quá khứ rất mạnh mẽ. Vì vậy, linh hồn ông đã chọn nhấn mạnh trí tuệ trong kiếp lâm phàm hiện tại để cân bằng và làm cho phàm ngã ông toàn diện hơn. Tuy không thay đổi trọng tâm cung của mình, linh hồn vẫn có thể chọn một cung thể trí (cung năm) và một loại bộ não (cung ba) có khả năng thúc đẩy sự phân cực trí tuệ.
7. The soul/Solar Angel can also choose an astrological chart which will incline towards mentality rather than towards psychic sensitivity. In attempting to construct an astrological chart for BSD (should we fail to locate his birth data) this would have to be borne in mind.
7. Linh hồn/Thái dương Thiên Thần cũng có thể chọn một lá số chiêm tinh thiên về trí tuệ hơn là sự nhạy cảm thông linh. Khi cố gắng lập một lá số chiêm tinh cho BSD (nếu chúng ta không tìm được dữ liệu sinh của ông), cần ghi nhớ điều này.
8. Another reference to BSD’s service work appears. Earlier we learned something of his service through the sentence, “the many whose lives you are allowed to touch and whose guide upon the probationary path you are”. BSD is connected with a certain unspecified organization in which he serves the function of guide to those upon the probationary path. In this way he touches many lives. The work of the organization is primarily carried out on psychic or astral level. Such an organization as the Theosophical Society comes to mind (for the Tibetan has commented on the great number of devotees which were associated with that organization), but there is no immediate way to conform that this is correct. It could also be an organization related to the teaching and dissemination of yoga, for breathing exercises were a very prominent part of BSD’s spiritual approach, but such exercises would also be important in the TS.
8. Lại có một chỗ đề cập đến công việc phụng sự của BSD. Trước đó, chúng ta đã biết phần nào về việc phụng sự của ông qua câu: “nhiều người mà em được phép chạm đến cuộc đời họ và làm người hướng dẫn cho họ trên Con Đường Dự Bị”. BSD có liên hệ với một tổ chức nào đó không được nêu rõ, nơi ông đảm nhiệm vai trò hướng dẫn những người trên Con Đường Dự Bị. Bằng cách này, ông chạm đến nhiều cuộc đời. Tổ chức ấy chủ yếu thực hiện công việc trên cấp độ thông linh hoặc cảm dục. Chúng ta nghĩ đến một tổ chức như Hội Thông Thiên Học (vì Chân sư Tây Tạng đã nhận xét về số lượng lớn những người sùng tín gắn bó với tổ chức ấy), nhưng chưa có cách nào xác nhận ngay rằng điều này là đúng. Đó cũng có thể là một tổ chức liên quan đến việc giảng dạy và phổ biến yoga, vì các bài tập thở là một phần rất nổi bật trong cách tiếp cận tinh thần của BSD, nhưng những bài tập như thế cũng có vai trò quan trọng trong Hội Thông Thiên Học.
9. The Master continues to speak to BSD in fifth ray terms: “proof” and “accuracy”. We remember that for someone of BSD’s ray type, mental verification is important.
9. Chân sư tiếp tục nói với BSD bằng những từ ngữ thuộc cung năm: “bằng chứng” và “sự chính xác”. Chúng ta nhớ rằng đối với một người có loại cung như BSD, sự kiểm chứng bằng trí tuệ là điều quan trọng.
10. From this paragraph we learn that we must not judge by appearances. The one who appears to exert certain qualities in a prominent, seemingly unbalanced manner, may be balancing formerly established qualities which are quite opposed to those which appear. The soul hold the key to the balance, and the ray chart and horoscope of the present incarnation may be chosen as ‘balancing patterns’
10. Qua đoạn này, chúng ta học được rằng không nên xét đoán qua vẻ ngoài. Người có vẻ biểu lộ một số phẩm tính một cách nổi trội, dường như mất cân bằng, có thể đang cân bằng những phẩm tính đã hình thành trước đây, vốn hoàn toàn đối lập với những phẩm tính đang biểu lộ. Linh hồn nắm giữ chìa khóa của sự cân bằng, và biểu đồ cung cùng lá số chiêm tinh của kiếp lâm phàm hiện tại có thể được chọn làm những ‘mô hình cân bằng’
Psychic unfoldment, when not originating in the solar plexus must be brought about by right control of the ajna, throat, heart and solar plexus centres by the spiritual man, [112] seated in the head. The ajna centre is, in your case, very little awakened. It is quiescent and revolving slowly. The pituitary body is, therefore, somewhat subnormal. The solar plexus centre is awakened but you have paid little attention to it as a means of contact and only during the past two years have you begun to bring it into submission to the head centre and this through the cultivation of compassion. The throat centre is lethargic in its movement but could be easily aroused into activity and the heart centre is rapidly awakening. Therefore, brother of old, we have the following situation to consider; this I will try to picture to you in a tabulation:
Sự khai mở thông linh, khi không bắt nguồn từ tùng thái dương phải được thực hiện thông qua việc kiểm soát đúng đắn các trung tâm ajna, cổ họng, tim và tùng thái dương do con người tinh thần đảm nhiệm, [112] an vị trong đầu. Trong trường hợp của em, trung tâm ajna mới thức tỉnh rất ít. Nó ở trạng thái tĩnh và quay chậm. Vì vậy, tuyến yên hoạt động hơi dưới mức bình thường. Trung tâm tùng thái dương đã thức tỉnh, nhưng em ít chú ý đến nó như một phương tiện tiếp xúc, và chỉ trong hai năm qua em mới bắt đầu đưa nó vào sự phục tùng trung tâm đầu, thông qua việc vun bồi lòng từ bi. Trung tâm cổ họng vận động chậm chạp, nhưng có thể dễ dàng được khơi dậy để hoạt động, còn trung tâm tim đang nhanh chóng thức tỉnh. Vì vậy, Huynh Đệ của Ngày Xưa, chúng ta có tình trạng sau đây cần xem xét; Tôi sẽ cố gắng trình bày cho em dưới dạng bảng:
1. DK suggests a higher approach to psychic unfoldment that that which originates solely in the solar plexus. The ajna, throat, heart and solar plexus centres are all involved. The spiritual man must be in control of these centers.
1. Chân sư DK đề nghị một cách tiếp cận sự khai mở thông linh cao hơn cách chỉ bắt nguồn từ tùng thái dương. Các trung tâm ajna, cổ họng, tim và tùng thái dương đều tham gia. Con người tinh thần phải kiểm soát những trung tâm này.
2. The following analysis is most interesting and reveals a balance to be achieved — especially in relation to the ajna center which is the least awakened. The ajna center, we realize, is involved in the higher psychism. It is also the center which must be brought into strong functioning at the third initiation (for which BSD, apparently, is not a candidate at this time).
2. Phần phân tích sau đây hết sức thú vị và cho thấy một sự cân bằng cần đạt được — đặc biệt liên quan đến trung tâm ajna, trung tâm ít thức tỉnh nhất. Chúng ta nhận ra rằng trung tâm ajna có liên quan đến khả năng thông linh cao cấp. Đó cũng là trung tâm phải hoạt động mạnh mẽ vào lần điểm đạo thứ ba (mà rõ ràng vào lúc này BSD không phải là một ứng viên).
3. A correspondence to the relatively unawakened ajna center is a pituitary body of subnormal development. The close correspondence between the development of a chakra and its correlated gland is called clearly to our attention.
3. Tương ứng với trung tâm ajna tương đối chưa thức tỉnh là một tuyến yên phát triển dưới mức bình thường. Chúng ta được nhắc chú ý rõ ràng đến sự tương ứng chặt chẽ giữa mức phát triển của một luân xa và tuyến liên hệ với nó.
4. The most awakened center has been the solar plexus, but it has not been used extensively in the present incarnation and only under DK’s recent guidance is coming into renewed usefulness in relation to the head center (and presumably the heart center).
4. Trung tâm thức tỉnh nhiều nhất là tùng thái dương, nhưng nó chưa được sử dụng rộng rãi trong kiếp lâm phàm hiện tại, và chỉ dưới sự hướng dẫn gần đây của Chân sư DK, nó mới trở lại hữu dụng trong mối liên hệ với trung tâm đầu (và có lẽ cả trung tâm tim).
5. DK says something interesting about compassion. BSD has brought the solar plexus into submission to the head center through the cultivation of compassion. Compassion is also related to the rapidly awakening heart center. Something of the will-to-good must be operative, preventing selfish desire (for spiritual attainment) from exerting the emphasis it did in earlier years. Through the agency of an unfolding love, will is regulating desire.
5. Chân sư DK nói một điều thú vị về lòng từ bi. BSD đã đưa tùng thái dương vào sự phục tùng trung tâm đầu bằng cách vun bồi lòng từ bi. Lòng từ bi cũng liên quan đến trung tâm tim đang nhanh chóng thức tỉnh. Hẳn phải có một phần Ý Chí-hướng Thiện đang hoạt động, ngăn dục vọng ích kỷ (muốn đạt thành tựu tinh thần) chiếm ưu thế như trong những năm trước. Thông qua tình thương đang khai mở, ý chí đang điều hòa dục vọng.
6. The heart center is 50% awakened at the time of the assessment. This probably represents an increase of the degree of its awakening when DK first contacted BSD.
6. Vào thời điểm đánh giá, trung tâm tim đã thức tỉnh 50%. Điều này có lẽ biểu thị mức thức tỉnh của nó đã gia tăng so với khi Chân sư DK lần đầu tiếp xúc với BSD.
7. The throat center is quite awakened but, according to DK, “lethargic”. Certain astrological signs usually correlated with an active throat center, and perhaps such signs are not found prominently in BSD’s chart. One such sign would be Gemini.
7. Trung tâm cổ họng đã thức tỉnh khá nhiều, nhưng theo Chân sư DK thì nó “uể oải”. Một số dấu hiệu chiêm tinh thường tương ứng với trung tâm cổ họng hoạt động tích cực, và có lẽ những dấu hiệu ấy không nổi bật trong lá số của BSD. Một trong những dấu hiệu đó là Song Tử.
The Head Centre . . . . . . . . 40% awakened
Trung tâm đầu........ đã thức tỉnh 40%
The Ajna Centre . . . . . . . . 15% awakened
Trung tâm ajna........ đã thức tỉnh 15%
The Throat Centre . . . . . . . 60% awakened
Trung tâm cổ họng....... đã thức tỉnh 60%
The Heart Centre . . . . . . . . 50% awakened
Trung tâm tim........ đã thức tỉnh 50%
The Solar Plexus Centre . . . 75% awakened
Trung tâm tùng thái dương... đã thức tỉnh 75%
1. The Tibetan could make a similar analysis for each of us and it would reveal the rounding out through which we should pass. It would probably also reveal our stage of evolutionary development.
1. Chân sư Tây Tạng có thể thực hiện một phân tích tương tự cho mỗi người chúng ta, và phân tích ấy sẽ cho thấy quá trình hoàn thiện mà chúng ta cần trải qua. Có lẽ nó cũng sẽ cho thấy giai đoạn phát triển tiến hoá của chúng ta.
2. We could attempt our own assessment subjectively, but could not do so with any certainty of accuracy. Yet, some sense of the relative balance might emerge.
2. Chúng ta có thể thử tự đánh giá từ bên trong, nhưng không thể chắc chắn về độ chính xác. Tuy vậy, một cảm nhận nào đó về sự cân bằng tương đối có thể xuất hiện.
3. As well, do we think that in our life our present ray structure or astrological chart may be compensatory for earlier energy conditions which needed to be balanced?
3. Chúng ta cũng có nghĩ rằng cấu trúc cung hay lá số chiêm tinh hiện tại trong cuộc đời mình có thể nhằm bù đắp cho những tình trạng năng lượng trước đây vốn cần được cân bằng hay không?
4. If we are under supervision by members of the Master’s Ashram, such charts probably already exist for us. To the extent that we are aware of our imbalances and attempt to remedy them, we will contribute to an alteration of the chart towards numbers which reflect a more rounded out condition. We do not yet need to know the details. We have but to sense imbalances in our nature and do something about them.
4. Nếu chúng ta đang được các thành viên trong ashram của Chân sư giám sát, có lẽ những biểu đồ như vậy về chúng ta đã tồn tại. Chúng ta càng nhận biết những sự mất cân bằng của mình và cố gắng khắc phục chúng, chúng ta càng góp phần làm thay đổi biểu đồ theo hướng có những con số phản ánh một tình trạng toàn diện hơn. Chúng ta chưa cần biết các chi tiết. Chúng ta chỉ cần cảm nhận những sự mất cân bằng trong bản chất mình và làm điều gì đó để khắc phục.
You see, therefore, that for the present the ajna centre is the one which should receive immediate attention. Our problem is to awaken it and set its two major activities into motion. These are, in your case:
Vì vậy, em thấy rằng hiện nay trung tâm ajna là trung tâm cần được chú ý ngay. Vấn đề của chúng ta là đánh thức nó và đưa hai hoạt động chủ yếu của nó vào vận hành. Trong trường hợp của em, đó là:
1. Its power to project thoughtforms.
1. Quyền năng phóng chiếu các hình tư tưởng.
2. Its capacity to act as an organ of clairvoyance.
2. Khả năng hoạt động như một cơ quan thông nhãn.
I will ask you to do the following breathing exercise every day prior to doing your meditation work....
Tôi muốn em thực hiện bài tập thở sau đây mỗi ngày trước khi tham thiền....
*** Breathing exercise of BSD
*** Bài tập thở của BSD
1. Stabilize yourself as a soul as high in the head as possible.
1. Hãy an định mình như một linh hồn ở vị trí cao nhất có thể trong đầu.
2. Take six long, slow breaths, taking care always to draw in the abdomen all the time and not at any time to inflate it. Draw these breaths from the very base of the spine, and visualize the breath as rising up the spinal column.
2. Thực hiện sáu hơi thở dài, chậm, luôn chú ý hóp bụng trong suốt thời gian ấy và không lúc nào phình bụng ra. Hãy lấy những hơi thở này từ tận đáy cột sống và hình dung hơi thở đang đi lên dọc cột sống.
3. Take twelve very rapid short nasal breaths, with the abdomen drawn in using the nostrils alternately (first the right nostril and then the left) and visualize the prana as accumulating behind the ajna centre between the eyebrows.
3. Thực hiện mười hai hơi hít ngắn, thật nhanh qua mũi, giữ bụng hóp vào và luân phiên dùng hai lỗ mũi (trước tiên lỗ mũi phải, rồi đến lỗ mũi trái); hình dung sinh khí đang tích tụ phía sau trung tâm ajna giữa hai lông mày.
4. Each time (that is twelve times) expel the breath as rapidly as possible, visualizing it as passing out through the ajna centre. This must be an act of the creative imagination.
4. Mỗi lần (tức là mười hai lần), hãy thở ra nhanh nhất có thể, hình dung hơi thở đi ra qua trung tâm ajna. Đây phải là một hành động của sự tưởng tượng sáng tạo.
5. The nasal inhalation and subsequent exhalation is done very quickly and does not involve the rest of the body. It is a quick and shallow taking in and an equally quick and shallow exhalation, with the mind all the time centred upon the ajna centre. In this way there will be a clearance of all obstructions through the medium of the expelled breath, All this exercise is aided by the use of the imagination.
5. Việc hít vào qua mũi và thở ra tiếp theo được thực hiện rất nhanh và không liên quan đến phần còn lại của cơ thể. Đó là một hơi hít vào nhanh và nông, rồi một hơi thở ra cũng nhanh và nông như vậy, trong khi thể trí luôn tập trung vào trung tâm ajna. Bằng cách này, mọi chướng ngại sẽ được khai thông nhờ hơi thở tống ra. Toàn bộ bài tập này được hỗ trợ bằng việc sử dụng sự tưởng tượng.
1. Attention is to be given to the least developed center. It only makes sense.
1. Cần chú ý đến trung tâm kém phát triển nhất. Điều này hoàn toàn hợp lý.
2. DK describes two major activities of the ajna center: a) the power to project thoughtforms and b) the capacity of the ajna center to act as an organ of clairvoyance.
2. Chân sư DK mô tả hai hoạt động chính của trung tâm ajna: a) quyền năng phóng chiếu các hình tư tưởng và b) khả năng hoạt động như một cơ quan thông nhãn của trung tâm ajna.
3. The first of these activities correlates generally to the first ray and the second to the second sensitive second ray.
3. Hoạt động thứ nhất nhìn chung tương ứng với cung một, còn hoạt động thứ hai tương ứng với cung hai nhạy cảm.
You can do this exercise twice a day but no more because it is very powerful. It will soon bring into greater vibratory activity the quiescent ajna centre. Should headache or tension supervene, stop the work for a day or two and then resume. Preserve ever the attitude of the onlooker and watch not for results. They will be there but at first only I will be in a position to note them.
Em có thể thực hiện bài tập này hai lần mỗi ngày, nhưng không hơn, vì nó rất mạnh. Nó sẽ sớm đưa trung tâm ajna đang ở trạng thái tĩnh vào hoạt động rung động mạnh mẽ hơn. Nếu xuất hiện đau đầu hay căng thẳng, hãy ngừng tập một hoặc hai ngày rồi tiếp tục. Luôn giữ thái độ của người quan sát và đừng trông chờ kết quả. Kết quả sẽ xuất hiện, nhưng thoạt đầu chỉ Tôi mới có thể ghi nhận chúng.
1. This breathing exercise was wisely deleted as it is very powerful and as the ajna center and pituitary body have no corresponding organ in the body which can receive any excess of generated energy.
1. Việc lược bỏ bài tập thở này là sáng suốt, vì nó có tác dụng rất mạnh, và trung tâm ajna cùng tuyến yên không có cơ quan tương ứng nào trong cơ thể có thể tiếp nhận phần năng lượng phát sinh dư thừa.
2. The Master is cautious with His disciple. We can see why a program of psychic unfoldment should not be unguided. It must be supervised by one who knows the methods thoroughly and the dangers as well.
2. Chân sư thận trọng với đệ tử của Ngài. Chúng ta có thể thấy vì sao một chương trình khai mở thông linh cần có sự hướng dẫn. Một người thấu biết tường tận cả các phương pháp lẫn những mối nguy phải giám sát chương trình ấy.
3. Pain is a great monitor. Disciples must learn not to push any developmental process too far.
3. Đau đớn là một tín hiệu theo dõi rất hữu ích. Các đệ tử phải học cách không đẩy bất kỳ tiến trình phát triển nào đi quá xa.
4. In this case, BSD is not to look for results. Elsewhere he was told to keep a spiritual diary in which careful note was to be made of any arising phenomena.
4. Trong trường hợp này, BSD không được trông chờ kết quả. Ở một chỗ khác, ông được dặn ghi nhật ký tinh thần, trong đó phải ghi chép cẩn thận mọi hiện tượng phát sinh.
5. This ajna development, however, is a subtle matter and only the Master can assess what is really happening.
5. Tuy nhiên, sự phát triển ajna này là một vấn đề vi tế, và chỉ Chân sư mới có thể đánh giá điều gì đang thực sự diễn ra.
6. Occult obedience is needed and a simple willingness to follow instructions.
6. Cần có sự tuân phục huyền bí và một lòng sẵn sàng đơn thuần làm theo chỉ dẫn.
7. We learn that the Master knows the techniques for awakening any center to fuller activity. Such awakening is normally best left to a natural unfoldment over time. In the case of disciples in training, however, special techniques may be given to promote more rapid unfoldment. There is always some danger in this, but the danger is much reduced if a Master is supervising the process as in this case.
7. Chúng ta biết rằng Chân sư nắm rõ những kỹ thuật đánh thức bất kỳ trung tâm nào để nó hoạt động đầy đủ hơn. Thông thường, tốt nhất nên để sự thức tỉnh ấy diễn ra qua sự khai mở tự nhiên theo thời gian. Tuy nhiên, trong trường hợp các đệ tử đang được huấn luyện, những kỹ thuật đặc biệt có thể được trao để thúc đẩy sự khai mở nhanh hơn. Điều này luôn có một mối nguy nào đó, nhưng mối nguy giảm đi rất nhiều nếu có một Chân sư giám sát tiến trình như trong trường hợp này.
My brother, the next two years hold in them for you much of inner testing and the achievement of the subtle sensitivity to the voice of the Teacher which will enable you to work with greater ease on the subjective side of life. I have proved your sincerity of purpose and for many years you have diligently set your face towards the light. But, brother of old, you have walked the Path with rigidity and not with that supple ease which negates fatigue and which is the hallmark of the trained athlete—for that is what the disciple should be. You have seen the need to serve and have realised the field of service which is for you the rightful place of effort, but you have rendered that service in set and crystallised fashion and have been too often unduly objective and not sufficiently moved by opportunity. You have served from a rigid sense of duty but you must now learn to serve with the loving spontaneity which carries all before it. The fluidity of the true disciple must be your goal and that out-going spirit which produces the magnetic server. Your magnetism and your radiation need enhancing; that will take place as you transit out of the effort to unfold and to manifest divinity into that more advanced condition which is expressed by the words to “stand in spiritual Being.” There may also come into your life (as it does into the life of all true servers) an interlude or cycle of experience which may temporarily negate your present cycle of influence but this should only be preparatory to a greater power in service.
Huynh đệ của tôi, hai năm tới sẽ mang đến cho em nhiều thử thách bên trong và sự thành tựu tính nhạy cảm tinh tế đối với tiếng nói của huấn sư, giúp em làm việc dễ dàng hơn trên phương diện chủ quan của sự sống. Tôi đã kiểm chứng sự chân thành trong mục đích của em, và suốt nhiều năm, em đã chuyên cần hướng về ánh sáng. Nhưng, Huynh Đệ của Ngày Xưa, em đã bước trên Đường Đạo với sự cứng nhắc, thiếu sự mềm dẻo ung dung giúp loại trừ mệt mỏi và là dấu hiệu đặc trưng của một vận động viên được huấn luyện—vì người đệ tử phải là như vậy. Em đã thấy nhu cầu phụng sự và nhận ra lĩnh vực phụng sự là nơi thích hợp để mình nỗ lực, nhưng em đã phụng sự theo một cách cố định và kết tinh, quá thường xuyên thiên về khách quan quá mức và chưa đủ nhạy bén trước cơ hội. Em đã phụng sự từ một ý thức bổn phận cứng nhắc, nhưng giờ đây em phải học cách phụng sự với sự tự phát đầy yêu thương có thể cuốn theo tất cả. Tính linh động của người đệ tử chân chính phải là mục tiêu của em cùng với tinh thần hướng ra ngoài tạo nên người phụng sự có từ tính. Từ điện và sự toả chiếu của em cần được tăng cường; điều đó sẽ xảy ra khi em chuyển từ nỗ lực khai mở và biểu lộ thiên tính sang trạng thái tiến bộ hơn, được diễn đạt bằng những từ “an trụ trong Bản Thể tinh thần”. Trong cuộc sống của em cũng có thể xuất hiện (như trong cuộc sống của mọi người phụng sự chân chính) một khoảng nghỉ hay một chu kỳ trải nghiệm có thể tạm thời vô hiệu hoá chu kỳ ảnh hưởng hiện tại của em, nhưng điều này chỉ nên là sự chuẩn bị cho quyền năng phụng sự lớn hơn.
1. If inner testing is to be experienced, the activity of Saturn should be noted. Perhaps Neptune is also involved in the “subtle sensitivity to the voice of the Teacher”.
1. Nếu sắp trải qua thử thách nội tâm, cần lưu ý hoạt động của Sao Thổ. Có lẽ Sao Hải Vương cũng liên quan đến “sự nhạy cảm vi tế với tiếng nói của Huấn sư”.
2. BSD has “sincerity of purpose” and it has been tested by DK. This quality is strongly correlated to the sixth ray as is facing towards the light. Sagittarius, again, may be suggested in this one pointed orientation.
2. BSD có “sự chân thành trong mục đích”, và Chân sư DK đã kiểm nghiệm điều đó. Phẩm tính này tương ứng mạnh mẽ với cung sáu, cũng như việc hướng về ánh sáng. Một lần nữa, định hướng nhất tâm này có thể gợi đến Nhân Mã.
3. DK becomes direct. BSD has “walked the Path with rigidity”. The sixth ray (with its tendency towards rapid crystallization) again is implicated. Also, there is much crystallization in Capricorn (correlating also with the previously mentioned “outer reserve”).
3. Chân sư DK trở nên thẳng thắn. BSD đã “bước trên Đường Đạo một cách cứng nhắc”. Một lần nữa, cung sáu (với khuynh hướng kết tinh nhanh chóng) có liên quan. Ma Kết cũng có nhiều sự kết tinh (đồng thời tương ứng với “sự kín đáo bên ngoài” đã đề cập trước đó).
4. DK uses the analogy of the athlete: “that is what a disciple should be”. BSD’s rigid approach to the Path has resulted in fatigue. From the very first letter he received from DK, we saw that this was the case.
4. Chân sư DK dùng hình ảnh so sánh với vận động viên: “đệ tử phải là người như thế”. Cách tiếp cận Đường Đạo cứng nhắc của BSD đã dẫn đến mệt mỏi. Ngay từ bức thư đầu tiên ông nhận được từ Chân sư DK, chúng ta đã thấy tình trạng này.
5. A hint is given to all of us; in what manner are we ‘walking the Path’? In what respects, in the pursuit of our spiritual objectives, are we like a “trained athlete”?
5. Có một gợi ý dành cho tất cả chúng ta; chúng ta đang ‘bước trên Đường Đạo’ theo cách nào? Trong khi theo đuổi các mục tiêu tinh thần, chúng ta giống một “vận động viên đã qua rèn luyện” ở những phương diện nào?
6. The third ray, per se, does not contribute to rigidity, but the combination of the sixth and fifth can.
6. Chính cung ba không góp phần tạo nên sự cứng nhắc, nhưng sự kết hợp giữa cung sáu và cung năm thì có thể.
7. BSD has found his proper sphere of service, but has rendered that service “in a set and crystallised fashion”. The sixth ray must account for this. One would also expect to see some misuse of the seventh ray when crystallization occurs, but it is not in her present energy system. As stated, Saturn and Capricorn seem implicated.
7. BSD đã tìm được lĩnh vực phụng sự thích hợp, nhưng lại phụng sự “theo một cách cố định và kết tinh”. Hẳn cung sáu là nguyên nhân của điều này. Khi sự kết tinh xảy ra, người ta cũng có thể dự đoán có sự sử dụng sai cung bảy ở mức nào đó, nhưng cung này không có trong hệ thống năng lượng hiện tại của BSD. Như đã nói, Sao Thổ và Ma Kết dường như có liên quan.
8. BSD’s undue objectivity is the result of his fifth ray mind, which also contributes to his non-spontaneous approach (for he has not been able to respond readily to opportunity).
8. Sự hướng ra khách quan quá mức của BSD là kết quả của thể trí cung năm; thể trí này cũng góp phần tạo nên cách tiếp cận thiếu tự phát của ông (vì ông chưa thể đáp ứng nhanh nhạy trước cơ hội).
9. BSD’s “rigid sense of duty” is the result of his strong sixth ray. We have seen Master DK trying to move him into greater responsiveness to the second ray which would bring that “loving spontaneity which carries all before it”. The desirability of a transition from six to two is very clear.
9. “Ý thức bổn phận cứng nhắc” của BSD là kết quả của cung sáu mạnh mẽ nơi ông. Chúng ta đã thấy Chân sư DK cố gắng giúp ông đáp ứng nhiều hơn với cung hai, cung sẽ mang lại “sự tự phát đầy tình thương có thể vượt qua mọi trở ngại”. Lợi ích của việc chuyển từ cung sáu sang cung hai là rất rõ ràng.
10. Fluidity, an out-going spirit and magnetism — these are the desirable states which must develop. DK seeks to promote BSD’s magnetism and radiation. He says something very interesting in this regard, and it refers to BSD’s ‘Developmental Formula’. BSD has been preoccupied with the “effort to unfold and to manifest divinity”. DK calls him to a more “advanced” condition which is described by the words, “stand in spiritual Being”. Being we remember is the first and most important term in BSD’s Formula.
10. Tính linh động, tinh thần hướng ngoại và từ điện — đó là những trạng thái đáng mong muốn cần được phát triển. Chân sư DK tìm cách thúc đẩy từ điện và sự tỏa chiếu của BSD. Ngài nói một điều rất thú vị về vấn đề này, liên quan đến ‘Công Thức Phát Triển’ của BSD. BSD đã bận tâm với “nỗ lực khai mở và biểu hiện thiên tính”. Chân sư DK kêu gọi ông tiến đến một trạng thái “cao hơn”, được mô tả bằng những lời “an trụ trong Bản Thể tinh thần”. Bản Thể, như chúng ta nhớ, là thuật ngữ đầu tiên và quan trọng nhất trong Công Thức của BSD.
11. We can understand, can we not, how the ability to “stand in spiritual Being” would enhance radiation and magnetism. The influx of spiritual energy would be much greater and, with an emphasis on being rather than doing, set (and, perhaps, rigid) forms of activity would not capture the out-flowing radiance nor neutralize the more rapidly extending magnetism resulting from the inflow of the life aspect.
11. Chúng ta có thể thấu hiểu khả năng “an trụ trong Bản Thể tinh thần” sẽ gia tăng sự tỏa chiếu và từ điện như thế nào, phải không? Năng lượng tinh thần tuôn vào sẽ dồi dào hơn nhiều và, khi chú trọng đến hiện tồn hơn là hành động, những hình thức hoạt động cố định (và có lẽ cứng nhắc) sẽ không giam giữ ánh sáng đang tỏa ra, cũng không vô hiệu hóa từ điện đang lan rộng nhanh hơn nhờ dòng tuôn vào của phương diện sự sống.
12. Strenuous effort and much doing (for “Stillness” is also a word in the Formula) will only take BSD so far. A more “advanced” approach is needed. We remember that the term “honour” is related to assuming this more advanced stance of being.
12. Nỗ lực căng thẳng và làm nhiều việc (vì “Tĩnh Lặng” cũng là một từ trong Công Thức) chỉ có thể đưa BSD tiến đến một mức độ nhất định. Cần một cách tiếp cận “cao hơn”. Chúng ta nhớ rằng thuật ngữ “tôn kính” liên quan đến việc đảm nhận tư thế cao hơn này của hiện tồn.
13. DK seems to forewarn of an impending cycle which may temporarily negate BSD’s present mode of influence through service. DK assures him that this will be preparatory to “greater power in service”. In our life of service we have observed these cycles of ebb and flow, have we not?
13. Dường như Chân sư DK báo trước một chu kỳ sắp đến có thể tạm thời vô hiệu hóa phương thức tạo ảnh hưởng hiện nay của BSD qua phụng sự. Chân sư DK bảo đảm với ông rằng điều này sẽ chuẩn bị cho “quyền năng lớn hơn trong phụng sự”. Trong đời sống phụng sự của mình, chúng ta đã quan sát thấy những chu kỳ lên xuống này, phải không?
As to your meditation, my brother, after you have finished the breathing exercise, proceed then to meditation, beginning your work at as high a point as possible. Choose for yourself a seed thought each month, keeping a record of those chosen.... Think deeply upon the embodied idea and carry your thoughts forward and onward and upward (choose whichever word conveys to you the deepest meaning) until you reach as abstract a point as you can achieve. When you can go no further and have entered the world of abstraction, then stay poised in thought and hold the mind steady in the light for as long a period as you can. Watch your thought processes as you do this and note anything new or especially intuitive which you may register during this time of waiting. Keep a strict record of the ideas which may come into your mind and note them down each day for your spiritual diary.
Về việc tham thiền, huynh đệ của tôi, sau khi hoàn tất bài tập thở, em hãy tiến hành tham thiền, bắt đầu công việc ở điểm cao nhất có thể. Mỗi tháng, hãy tự chọn một tư tưởng hạt giống và ghi lại những tư tưởng đã chọn.... Hãy suy nghĩ sâu sắc về ý tưởng hàm chứa trong đó và đưa tư tưởng của em tiến tới, tiến xa và tiến lên cao (hãy chọn từ nào truyền đạt ý nghĩa sâu sắc nhất đối với em), cho đến khi em đạt đến điểm trừu tượng cao nhất có thể. Khi em không thể tiến xa hơn và đã đi vào thế giới trừu tượng, thì hãy giữ tư tưởng quân bình và giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng lâu nhất có thể. Trong khi làm như vậy, hãy quan sát các tiến trình tư tưởng của em và ghi nhận bất cứ điều gì mới mẻ hoặc đặc biệt mang tính trực giác mà em có thể tiếp nhận trong thời gian chờ đợi này. Hãy ghi chép chặt chẽ những ý tưởng có thể đi vào thể trí em và ghi chúng lại mỗi ngày trong nhật ký tinh thần.
1. DK continues to advise the vigilant, attentive approach.
1. Chân sư DK tiếp tục khuyên duy trì cách tiếp cận tỉnh táo và chú tâm.
2. We find the Master promoting a high and abstract focussing. We realize that the fifth ray emphasizes the concrete mind, but that the third ray (with which BSD is amply endowed) can give facility with abstraction.
2. Chúng ta thấy Chân sư thúc đẩy sự tập trung ở cấp độ cao và trừu tượng. Chúng ta nhận ra rằng cung năm nhấn mạnh trí cụ thể, nhưng cung ba (mà BSD được phú bẩm dồi dào) có thể mang lại khả năng vận dụng sự trừu tượng một cách dễ dàng.
3. The method suggested is part of intuitive training. It is assumed that BSD can carry his deepening thought into the “world of abstraction”, but this will be only preparatory to a further influx of light.
3. Phương pháp được đề nghị là một phần của việc rèn luyện trực giác. Ngài xem như BSD có thể đưa tư tưởng ngày càng sâu sắc của mình vào “thế giới trừu tượng”, nhưng điều này sẽ chỉ là bước chuẩn bị cho một dòng ánh sáng tiếp tục tuôn vào.
4. Really, the Master is giving Him antahkarana work. He is to be alert to the “new” and “intuitive”.
4. Thực ra, Chân sư đang giao cho ông công việc antahkarana. Ông phải tỉnh táo đón nhận những gì “mới mẻ” và “có tính trực giác”.
5. The need for the “strict record” continues. The spiritual diary is to become a useful document to others and self-revelatory to BSD.
5. Yêu cầu “ghi chép nghiêm ngặt” vẫn tiếp tục. Nhật ký tinh thần phải trở thành một tài liệu hữu ích cho người khác và giúp BSD nhận rõ chính mình.
6. We note that BSD is to be alert to “ideas”, not just thoughts. Access to ideas is related to contact with the world of intuition on the buddhic plane.
6. Chúng ta lưu ý rằng BSD phải tỉnh táo đón nhận “các ý tưởng”, chứ không chỉ các tư tưởng. Việc tiếp cận các ý tưởng liên quan đến sự tiếp xúc với thế giới trực giác trên cõi Bồ đề.
In closing this instruction, brother of mine, will you remember that the lonely way is also the lighted way. Loneliness is an illusion which seeks to thwart the efforts of the server; it is a glamour which can seriously impair true vision. That you may walk the Way in peace and light and that power in service may be yours is the desire of my heart for you.
Để kết thúc huấn thị này, huynh đệ của tôi, em hãy nhớ rằng con đường cô độc cũng là con đường được soi sáng. Cô đơn là một ảo tưởng tìm cách cản trở nỗ lực của người phụng sự; đó là một ảo cảm có thể làm tổn hại nghiêm trọng tầm nhìn chân thực. Mong sao em bước trên Đường Đạo trong bình an và ánh sáng, và mong sao em có được quyền năng phụng sự—đó là ước nguyện từ trái tim Tôi dành cho em.
1. BSD, it seems, does not have many immediate outer plane contacts with people and, perhaps, has no partner. Though, from other references, he does seem to have material responsibilities (which he may not rightfully relinquish) toward certain people.
1. Dường như BSD không có nhiều mối tiếp xúc trực tiếp với mọi người trên cõi bên ngoài và có lẽ không có người bạn đời. Tuy nhiên, từ những chỗ đề cập khác, ông dường như có những trách nhiệm vật chất đối với một số người (mà ông không thể từ bỏ một cách chính đáng).
2. The Master is pointing out the advantages of BSD’s life conditions, for the apparent loneliness in which he lives will lead to an increase of light along the “lighted way”.
2. Chân sư đang chỉ ra những thuận lợi trong hoàn cảnh sống của BSD, vì sự cô đơn bề ngoài mà ông đang sống trong đó sẽ dẫn đến sự gia tăng ánh sáng dọc theo “con đường được soi sáng”.
3. The glamorous or illusory nature of imagined loneliness is pointed out. BSD is advised to think of his aloneness in a new way so that his vision may not be impaired.
3. Ngài chỉ ra bản chất ảo cảm hay ảo tưởng của sự cô đơn do tưởng tượng. BSD được khuyên suy nghĩ về việc sống một mình theo một cách mới để linh thị của ông không bị suy giảm.
4. Loneliness is not real; imagination and a true vision of inner relationships can see beyond it. Giving in to the sense of loneliness may cut off the sense of inner contacts and thus impair inner vision of the inner relationships, which are, really, much more important than the outer ones.
4. Cô đơn không có thực; sự tưởng tượng và linh thị chân thực về các mối quan hệ bên trong có thể nhìn vượt qua nó. Buông xuôi theo cảm giác cô đơn có thể cắt đứt cảm nhận về các mối tiếp xúc bên trong, từ đó làm suy giảm linh thị về các mối quan hệ bên trong, vốn thực sự quan trọng hơn nhiều so với các mối quan hệ bên ngoài.
5. The Master offers a heart-felt benediction in closing. The note of heart is necessary for BSD and continuously offered.
5. Khi kết thúc, Chân sư ban một lời chúc phúc chân thành từ trái tim. Âm điệu của trái tim là điều cần thiết cho BSD và liên tục được trao đến ông.
[114]
[114]
January 1936 – Tháng Một năm 1936
I do not seek to change your work for the next six months, my fellow disciple. I outlined to you in June 1935 a full quota of meditation work. Your growth in understanding has been real, though the ajna centre has yet resisted effort. The main result has been an intensification of the heart centre’s activity, but this will eventually have a reflex action upon the ajna centre. Any of the centres which have allied closely with them certain of the major ductless glands and at the same time have no large organ (such as the heart or stomach) connected with them develop more slowly and are more carefully protected in the process than are the centres with a major physiological organ closely connected with them. For instance, the thymus gland is connected with the heart centre and the pancreas with the solar plexus centre. At the same time, the energy pouring through those centres can be deflected into certain large physical organisms—such as the heart and the stomach. These centres, therefore, when being developed or stimulated, carry far less physiological danger than those which are not so related. The ajna centre is related to the pituitary body but there is no large physical organism to carry off the energy contacted; the etheric web is, therefore, in this locality specially reinforced and the activity of the centre more slowly generated. This is interesting and reassuring. It is in hints such as the above that the real teaching is given.
Tôi không muốn thay đổi công việc của em trong sáu tháng tới, đệ tử đồng môn của tôi. Vào tháng 6 năm 1935, Tôi đã phác thảo cho em một chương trình tham thiền đầy đủ. Em đã thực sự tăng trưởng về sự thấu hiểu, dù trung tâm ajna vẫn chưa đáp ứng những nỗ lực ấy. Kết quả chính là hoạt động của trung tâm tim được tăng cường, nhưng cuối cùng điều này sẽ tác động trở lại trung tâm ajna. Những trung tâm có một số tuyến nội tiết chủ yếu liên hệ mật thiết với chúng, đồng thời không có cơ quan lớn nào (như tim hay dạ dày) kết nối với chúng, phát triển chậm hơn và được bảo vệ cẩn thận hơn trong tiến trình ấy so với những trung tâm có một cơ quan sinh lý chủ yếu liên hệ mật thiết với chúng. Chẳng hạn, tuyến ức kết nối với trung tâm tim và tuyến tụy kết nối với trung tâm tùng thái dương. Đồng thời, năng lượng tuôn qua những trung tâm ấy có thể được chuyển hướng vào một số cơ quan hồng trần lớn—như tim và dạ dày. Vì vậy, khi được phát triển hay kích thích, các trung tâm này gây ít nguy hiểm về sinh lý hơn nhiều so với những trung tâm không có mối liên hệ như vậy. Trung tâm ajna liên hệ với tuyến yên, nhưng không có cơ quan hồng trần lớn nào để dẫn thoát năng lượng tiếp nhận được; vì vậy, mạng lưới dĩ thái ở khu vực này được gia cố đặc biệt và hoạt động của trung tâm được khơi dậy chậm hơn. Điều này vừa thú vị vừa đáng an tâm. Chính qua những gợi ý như trên mà giáo huấn đích thực được truyền đạt.
1. Six months have passed since the previous instruction. There has been progress but the ajna center has not unfolded as rapidly as desired.
1. Sáu tháng đã trôi qua kể từ huấn thị trước. Đã có tiến bộ, nhưng trung tâm ajna chưa khai mở nhanh như mong muốn.
2. The heart center, however, has unfolded and it is related to the ajna center in such a way that the unfoldment of the heart will, reflexively, promote the unfoldment of the ajna.
2. Tuy nhiên, trung tâm tim đã khai mở, và mối liên hệ của nó với trung tâm ajna khiến sự khai mở của trung tâm tim tác động trở lại, thúc đẩy sự khai mở của trung tâm ajna.
3. DK offers some rather specific teaching on occult physiology. He explains why centers like the ajna, or perhaps the crown center would develop more slowly. They are more protected, since they have no large organ (such as the heart or stomach) connected with them (unless we consider the brain to be the large organ related to the pineal gland).
3. Chân sư DK đưa ra một số giáo huấn khá cụ thể về sinh lý học huyền bí. Ngài giải thích vì sao những trung tâm như ajna, hoặc có lẽ trung tâm đỉnh đầu, lại phát triển chậm hơn. Chúng được bảo vệ nhiều hơn vì không có cơ quan lớn nào (như tim hoặc dạ dày) liên kết với chúng (trừ khi chúng ta xem bộ não là cơ quan lớn liên hệ với tuyến tùng).
4. The ajna and pituitary gland have for BSD been the focus of intended development. DK explains that the pituitary body has “no large physical organism to carry off the energy contacted” and thus the etheric web in this area is “specially reinforced and the activity of the centre more slowly generated”.
4. Đối với BSD, trung tâm ajna và tuyến yên là trọng tâm của sự phát triển được hướng đến. Chân sư DK giải thích rằng tuyến yên “không có cơ quan thể xác lớn nào để dẫn đi năng lượng đã tiếp xúc”, và vì thế mạng lưới dĩ thái trong khu vực này “được gia cố đặc biệt và hoạt động của trung tâm được khơi dậy chậm hơn”.
5. This is very interesting teaching and is offered not only for BSD’s instruction, but for his encouragement.
5. Đây là giáo huấn rất thú vị, được đưa ra để chỉ dạy BSD cũng như khích lệ ông.
6. Overstimulation can lead to abnormal development of the stimulated gland, and even to dire disease.
6. Sự kích thích quá mức có thể dẫn đến sự phát triển bất thường của tuyến được kích thích, thậm chí dẫn đến bệnh tật nghiêm trọng.
7. Since certain centers are closely related to other centers (such as the ajna center to the heart center), heart development will assist in carrying off some of the energy which should not remain focussed in the ajna center (when under intensified stimulation). We can see, then, one of the reasons why DK promoted BSD’s heart development along with his psychic development to be focussed in the ajna.
7. Vì một số trung tâm liên hệ chặt chẽ với các trung tâm khác (như trung tâm ajna với trung tâm tim), sự phát triển của trung tâm tim sẽ giúp dẫn đi một phần năng lượng không nên tiếp tục tập trung trong trung tâm ajna (khi trung tâm này chịu sự kích thích tăng cường). Vì vậy, chúng ta có thể thấy một trong những lý do Chân sư DK thúc đẩy sự phát triển trung tâm tim của BSD cùng với sự phát triển thông linh của ông, vốn sẽ tập trung ở ajna.
8. We can imagine that when a given center is singled out for development, collateral and related centers should be properly involved to help preserve the balance. Thus a given center, when active and when the consciousness is focussed upon it, may help protect another center to which focal simulation is being applied. The heart center, it seems, often assumes a balancing role, as it is the fourth or middle center.
8. Chúng ta có thể hình dung rằng khi một trung tâm nhất định được chọn riêng để phát triển, các trung tâm phụ trợ và có liên hệ cần được huy động thích hợp để giúp duy trì sự quân bình. Như vậy, khi một trung tâm hoạt động và tâm thức tập trung vào đó, nó có thể giúp bảo vệ một trung tâm khác đang được kích thích tập trung. Dường như trung tâm tim thường đảm nhận vai trò giữ quân bình, vì nó là trung tâm thứ tư, hay trung tâm ở giữa.
So, my brother, go forward along the same lines, earlier indicated, until I give you your next instruction; study with care the hints given to you and to your co-disciples.
Vì vậy, huynh đệ của tôi, hãy tiếp tục tiến theo những hướng đã chỉ ra trước đây cho đến khi Tôi trao cho em huấn thị kế tiếp; hãy nghiên cứu cẩn thận những gợi ý dành cho em và các đệ tử đồng môn.
1. The instruction on this hint is for all the affiliated disciples, not only for BSD.
1. Huấn thị về gợi ý này dành cho tất cả các đệ tử có liên hệ, chứ không chỉ riêng BSD.
2. To study hints in the right way evokes the intuition.
2. Nghiên cứu các gợi ý đúng cách sẽ khơi dậy trực giác.
June 1936 – Tháng Sáu năm 1936
There are two thoughts in my heart in connection with you, my brother, and two practical matters which I have in my mind to say to you. I would have you note the careful wording of the above phrase because it has teaching value in it for all of you.
Huynh đệ của tôi, trong lòng Tôi có hai tư tưởng liên quan đến em, và trong trí Tôi có hai vấn đề thực tiễn muốn nói với em. Tôi muốn em lưu ý cách diễn đạt cẩn trọng của câu trên, vì nó có giá trị giáo huấn đối với tất cả các em.
1. The Master is conveying a hint. He is contrasting “thoughts in my heart” with “practical matters”.
1. Chân sư đang truyền đạt một gợi ý. Ngài đặt “những tư tưởng trong trái tim Tôi” trong sự đối chiếu với “những vấn đề thực tiễn”.
2. The quality of these two types of communications will be different. The practical matters to be taken up are focused in the Master’s mind. The thoughts He holds in His heart will be of a deeper nature and will touch on the disciple’s soul unfoldment.
2. Phẩm tính của hai loại thông điệp này sẽ khác nhau. Những vấn đề thực tiễn cần bàn đến tập trung trong thể trí của Chân sư. Những tư tưởng Ngài giữ trong trái tim sẽ có bản chất sâu sắc hơn và chạm đến sự khai mở linh hồn của người đệ tử.
Before I tell you what these two thoughts are, I want to give you a word of commendation, knowing that you desire it [115] not and knowing also that you do most certainly seek always to act under the urge and the inspiration of your own soul. You work and conform to the requirements, not from any specific idea of pleasing me or even of producing further integration of yourself into the group of your co-disciples but from a sense of duty and of rightness of activity. Nevertheless, I seek to commend you for your quality of steadfastness—a steadfastness in which you persist in the face of much psychic disappointment, if I may call it so, and the fact that there appears to be little phenomenal response to your constant effort. You seek to keep your eyes off yourself and simply to do that which must be done and which you have been induced to believe is the way for you—as well as for all true disciples.
Trước khi cho em biết hai tư tưởng ấy là gì, Tôi muốn dành cho em một lời khen ngợi, dù biết rằng em không mong điều đó [115] và cũng biết rằng em quả thực luôn tìm cách hành động theo sự thôi thúc và cảm hứng của chính linh hồn mình. Em làm việc và đáp ứng các yêu cầu, không phải vì một ý định cụ thể nào nhằm làm Tôi hài lòng, hay thậm chí để bản thân tích hợp sâu hơn vào nhóm các đệ tử đồng môn, mà vì ý thức về bổn phận và về tính đúng đắn của hoạt động. Tuy nhiên, Tôi muốn khen ngợi phẩm tính kiên định của em—một sự kiên định mà em vẫn giữ vững trước nhiều nỗi thất vọng về mặt thông linh, nếu Tôi có thể gọi như vậy, và trước việc dường như nỗ lực không ngừng của em nhận được rất ít đáp ứng dưới dạng hiện tượng. Em cố gắng không chú mục vào bản thân và chỉ làm điều phải làm, điều mà em đã được dẫn dắt để tin rằng đó là con đường dành cho mình—cũng như cho mọi đệ tử chân chính.
1. Words of commendation from the Master are not so frequent, perhaps, as words of ‘correction’ and suggested adjustment. We have seen from a number of examples that commendation from the Master is often followed by unexpectedly undesirable behavior from the chela.
1. Có lẽ những lời khen ngợi từ Chân sư không thường xuyên bằng những lời ‘sửa sai’ và đề nghị điều chỉnh. Qua một số ví dụ, chúng ta đã thấy rằng sau lời khen ngợi của Chân sư, đệ tử thường có những hành vi không mong muốn một cách bất ngờ.
2. In this case, the Master assesses that the chela does not desire such commendatory words and that his major guide in action is the urge and inspiration of his own soul; the Master’s encouragement may be helpful but the implication is that BSD’s attempt to act rightly would take place in any case.
2. Trong trường hợp này, Chân sư nhận định rằng người đệ tử không mong muốn những lời khen ngợi như vậy, và điều chủ yếu hướng dẫn hành động của ông là sự thôi thúc và cảm hứng của chính linh hồn ông; sự khích lệ của Chân sư có thể hữu ích, nhưng hàm ý là trong bất kỳ trường hợp nào BSD cũng sẽ cố gắng hành động đúng đắn.
3. Some disciples might seek to “please” the Master, just as some clients in psychotherapy seek to please their psychologist. Such a motive is not found in BSD, nor is he motivated by seeking to produce further integration of himself into the group of his co-disciples (though this would be a worthy motive). Rather he is motivated by a “sense of duty and of rightness of activity”. These two motives again suggest the strength of Saturn in his chart and, again, the possibility that either Capricorn or Virgo may be active.
3. Một số đệ tử có thể tìm cách “làm hài lòng” Chân sư, cũng như một số thân chủ trong liệu pháp tâm lý tìm cách làm hài lòng nhà tâm lý học của họ. BSD không có động cơ ấy, ông cũng không được thúc đẩy bởi mong muốn tích hợp bản thân sâu hơn vào nhóm đệ tử đồng môn (dù đây là một động cơ xứng đáng). Thay vào đó, ông được thúc đẩy bởi “ý thức về bổn phận và tính đúng đắn của hoạt động”. Một lần nữa, hai động cơ này gợi ra sức mạnh của Sao Thổ trong lá số của ông, và khả năng Ma Kết hoặc Xử Nữ đang hoạt động.
4. The Master’s commendation is for the quality of “steadfastness” — a quality, we realize, which is associated with the right use of the sixth ray (not necessarily the third — though the third ray may give steadfastness in higher or philosophical studies).
4. Lời khen ngợi của Chân sư dành cho phẩm tính “kiên định” — một phẩm tính mà chúng ta nhận ra là gắn với việc sử dụng đúng cung sáu (không nhất thiết là cung ba — dù cung ba có thể đem lại sự kiên định trong những nghiên cứu cao cấp hoặc triết học).
5. In a way DK is acknowledging BSD’s inner disappointment (“psychic disappointment” He calls it). There has been little “phenomenal response” to his efforts to follow the Master’s instructions which were intended to lead to the awakening of psychic sensitivity. We remember BSD’s former tendency to focus on phenomenal results.
5. Theo một cách nào đó, Chân sư DK đang thừa nhận nỗi thất vọng bên trong của BSD (Ngài gọi đó là “thất vọng thông linh”). Có rất ít “đáp ứng về mặt hiện tượng” đối với những nỗ lực của ông nhằm tuân theo các huấn thị của Chân sư, vốn hướng đến việc đánh thức sự nhạy cảm thông linh. Chúng ta nhớ khuynh hướng trước đây của BSD là tập trung vào những kết quả hiện tượng.
Years ago, my brother, you sought more eagerly for the good results of your activity. Now you are just as active but you are willing to leave the results unconsidered. This is well and very good. However, I tell you that there are results and perhaps they can begin to be clarified in your mind. Two results I can myself indicate to you and I choose these two with deliberation because they are related to me and to your work with me, your teacher and your friend. First, I have accepted you into my own group in the technical sense and you are now an accepted disciple (chela) in my group.... Secondly, I have told you and your brothers that I am in process of preparing you for initiation.
Huynh đệ của tôi, nhiều năm trước, em tha thiết tìm kiếm những kết quả tốt đẹp từ hoạt động của mình hơn. Giờ đây, em vẫn tích cực như vậy nhưng sẵn lòng không bận tâm đến kết quả. Điều này tốt, rất tốt. Tuy nhiên, Tôi nói với em rằng quả có những kết quả và có lẽ chúng có thể bắt đầu trở nên rõ ràng trong thể trí em. Chính Tôi có thể chỉ cho em hai kết quả, và Tôi chủ ý chọn hai kết quả này vì chúng liên quan đến Tôi và đến công việc của em với Tôi, huấn sư và người bạn của em. Thứ nhất, Tôi đã chấp nhận em vào nhóm riêng của Tôi theo nghĩa chuyên môn, và giờ đây em là một đệ tử được chấp nhận trong nhóm của Tôi.... Thứ hai, Tôi đã nói với em và các huynh đệ của em rằng Tôi đang trong tiến trình chuẩn bị cho các em được điểm đạo.
1. Years ago BSD’s very strong sixth ray was perhaps more active. It induced in him an eagerness “for the good results of your activity”.
1. Nhiều năm trước, có lẽ cung sáu rất mạnh của BSD hoạt động tích cực hơn. Nó khơi dậy trong ông sự háo hức “tìm kiếm những kết quả tốt đẹp từ hoạt động của mình”.
2. He has made progress in discipleship, for right activity has remained (even improved), and motive has improved, but eagerness for results has subsided. The Master is attempting to build the inner man and the edifice He is seeking to see erected may be, at first, visible to Him alone. Much faith in the Master’s judgment is required of us and it should be a ‘reasoned-faith’.
2. Ông đã tiến bộ trong địa vị đệ tử, vì hoạt động đúng đắn vẫn được duy trì (thậm chí còn được cải thiện), và động cơ đã được cải thiện, nhưng sự háo hức mong có kết quả đã lắng xuống. Chân sư đang cố gắng xây dựng con người bên trong, và tòa kiến trúc mà Ngài muốn thấy dựng lên lúc đầu có thể chỉ mình Ngài nhìn thấy. Chúng ta cần có nhiều niềm tin vào sự phán đoán của Chân sư, và đó phải là một ‘niềm tin có lý lẽ’.
3. For purposes of clarification, encouragement and in the interests of truth, DK indicates to BSD that there are indeed “results” arising from his labors.
3. Nhằm làm sáng tỏ, khích lệ và vì sự thật, Chân sư DK chỉ cho BSD thấy rằng quả thực có những “kết quả” nảy sinh từ công sức của ông.
4. The two results discussed by the Master have little to do with increased psychic sensitivity per se, but they are of great importance.
4. Hai kết quả mà Chân sư bàn đến ít liên quan đến chính sự gia tăng nhạy cảm thông linh, nhưng chúng có tầm quan trọng lớn.
5. First, DK reminds BSD that He has accepted him into His group as an “accepted disciple”. More is said here which has been deleted.
5. Thứ nhất, Chân sư DK nhắc BSD rằng Ngài đã chấp nhận ông vào nhóm của Ngài với tư cách một “đệ tử được chấp nhận”. Ở đây còn có những lời khác đã bị lược bỏ.
6. Secondly, DK reaffirms that He is preparing BSD and his group brothers for initiation. We are reminded that one of DK’s special tasks is to work in connection to “aspirants for initiation”. (R&I 586)
6. Thứ hai, Chân sư DK tái khẳng định rằng Ngài đang chuẩn bị cho BSD và các huynh đệ trong nhóm của ông để được điểm đạo. Chúng ta được nhắc rằng một trong những nhiệm vụ đặc biệt của Chân sư DK là làm việc liên quan đến “những người chí nguyện hướng đến điểm đạo”. (R&I 586)
I am reminding you of these two facts for the following reason: You must enter upon the next cycle of activity with set purpose, clear vision and unswerving attention to facts. You have ended one cycle of effort last month at the time of the Full Moon of May. You are entering now upon another cycle. I would have you keep this steadfastly in mind and go forward to freer service, greater understanding and clearer insight. You have laid a firm foundation.
Tôi nhắc em nhớ hai sự kiện này vì lý do sau: Em phải bước vào chu kỳ hoạt động kế tiếp với mục đích kiên định, tầm nhìn rõ ràng và sự chú tâm không lay chuyển vào các sự kiện. Em đã kết thúc một chu kỳ nỗ lực vào tháng trước, lúc Trăng Tròn tháng Năm. Giờ đây, em đang bước vào một chu kỳ khác. Tôi muốn em luôn ghi nhớ điều này và tiến tới sự phụng sự tự do hơn, sự thấu hiểu lớn hơn và sự thấu suốt rõ ràng hơn. Em đã đặt được một nền tảng vững chắc.
1. DK is reaffirming these facts anent accepted discipleship and preparation for initiation for a specific purpose with regard to BSD. BSD is to enter upon a new cycle of activity and the Master seeks to see him fortified with “set purpose, clear vision and unswerving attention to facts”. The combination of BSD’s fifth and sixth rays will be of assistance.
1. Chân sư DK tái khẳng định những sự thật này về địa vị đệ tử được chấp nhận và sự chuẩn bị cho điểm đạo vì một mục đích cụ thể liên quan đến BSD. BSD sắp bước vào một chu kỳ hoạt động mới, và Chân sư muốn thấy ông được củng cố bằng “mục đích kiên định, tầm nhìn rõ ràng và sự chú tâm không lay chuyển vào các sự thật”. Sự kết hợp giữa cung năm và cung sáu của BSD sẽ trợ giúp cho điều này.
2. From many sources we gather the importance of the year 1936, as year of crisis and climax, of new possibilities and new beginnings. A new cycle for the NGWS was being inaugurated. Such cycles occur in periods of three years and nine years.
2. Từ nhiều nguồn, chúng ta nhận thấy tầm quan trọng của năm 1936, một năm khủng hoảng và cao trào, của những khả năng mới và những khởi đầu mới. Một chu kỳ mới dành cho Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đang được mở ra. Những chu kỳ như vậy diễn ra theo các thời kỳ ba năm và chín năm.
3. We also see how important the Full Moon of May is as a point of termination and of commencement in all the work proposed by Master DK. This should be taken to heart with respect to our own individual and group work.
3. Chúng ta cũng thấy kỳ Trăng Tròn tháng Năm quan trọng như thế nào với tư cách là điểm kết thúc và khởi đầu trong mọi công việc do Chân sư DK đề xuất. Chúng ta nên ghi lòng điều này đối với công việc cá nhân và công việc nhóm của chính mình.
4. The Master, then, is seeking to implant certain thoughts which BSD is to keep “steadfastly in mind” for purposes of guidance as the new cycle begins.
4. Vì vậy, Chân sư đang tìm cách gieo vào một số tư tưởng mà BSD phải “luôn ghi nhớ vững vàng” để được hướng dẫn khi chu kỳ mới bắt đầu.
The two thoughts which come into my heart to tell you can be summarised as follows. Note that these thoughts come from my heart and the suggestion from my mind. Herein lies a hint as to your work in the future for those who look to you for assistance in their spiritual life.
Hai tư tưởng nảy sinh trong tim Tôi để nói với em có thể được tóm tắt như sau. Hãy lưu ý rằng những tư tưởng này đến từ tim Tôi, còn lời gợi ý đến từ thể trí Tôi. Chính trong điều này có một gợi ý về công việc tương lai của em đối với những người trông cậy vào em để được trợ giúp trong đời sống tinh thần của họ.
1. DK is instructing us all in how we may work with those who look to us for assistance.
1. Chân sư DK đang chỉ dạy tất cả chúng ta cách làm việc với những người tìm đến chúng ta để được trợ giúp.
2. We are to learn to differentiate between the thoughts we hold in our heart and the suggestions we might offer from our minds.
2. Chúng ta phải học cách phân biệt giữa những tư tưởng mình giữ trong trái tim và những đề nghị mình có thể đưa ra từ thể trí.
3. We note that, for DK, the heart has received the two thoughts, for they have come into His heart to be told to BSD. A spontaneous, intuitive process is involved with thoughts that enter the heart.
3. Chúng ta lưu ý rằng, đối với Chân sư DK, trái tim đã đón nhận hai tư tưởng, vì chúng đã đến với trái tim Ngài để được nói cho BSD. Những tư tưởng đi vào trái tim gắn với một tiến trình tự phát, có tính trực giác.
4. Again we note that BSD attempts to assist others with their spiritual life. Perhaps he is also an Arcane School secretary?
4. Một lần nữa, chúng ta lưu ý rằng BSD cố gắng trợ giúp người khác trong đời sống tinh thần của họ. Có lẽ ông cũng là một thư ký của Trường Arcane?
1. You need to work now more definitely and more confidently as an accepted disciple. What do I mean by that statement? [116] I mean that you should work in the realisation that—because of this definite acceptance—you are linked with the Hierarchy of Masters and, therefore, the quality of the hierarchical service to humanity must also be expressed by and through you. What is this quality? Wisdom, expressing itself intelligently through love. Upon this statement you should ponder. Your service is ever intelligent (highly so) for you have much knowledge as the result of ancient experience and deep thought and study in this life. That knowledge must, however, be translated into wisdom through the dynamic power of a living love. I use no further terms to express this idea. That sentence should provide you with much food for thought.
1. Giờ đây, em cần làm việc một cách dứt khoát và tự tin hơn với tư cách một đệ tử được chấp nhận. Tôi muốn nói gì qua lời này? [116] Tôi muốn nói rằng em nên làm việc trong sự nhận biết rằng—nhờ sự chấp nhận rõ ràng này—em thực sự liên kết với Thánh đoàn các Chân sư và do đó, phẩm tính phụng sự nhân loại của Thánh đoàn cũng phải biểu lộ nơi em và qua em. Phẩm tính này là gì? Minh triết, biểu lộ một cách thông minh qua tình thương. Em nên suy ngẫm về lời này. Sự phụng sự của em luôn thông minh (ở mức độ cao), vì em có nhiều tri thức từ kinh nghiệm xa xưa cùng sự suy tư và học hỏi sâu sắc trong kiếp này. Tuy nhiên, tri thức ấy phải chuyển thành minh triết nhờ quyền năng năng động của một tình thương sống động. Tôi không dùng thêm thuật ngữ nào để diễn đạt ý tưởng này. Câu ấy hẳn sẽ đem lại cho em nhiều điều đáng suy ngẫm.
1. The first thought concerns the necessity for BSD to work more definitely and confidently as an accepted disciple.
1. Tư tưởng thứ nhất liên quan đến sự cần thiết để BSD làm việc dứt khoát và tự tin hơn với tư cách một đệ tử được chấp nhận.
2. Definite acceptance by a Master is an empowerment to the chela, especially when the chela utilizes the fact of acceptance rightly and deliberately.
2. Sự chấp nhận xác định của một Chân sư trao thêm quyền năng cho người đệ tử, nhất là khi người đệ tử vận dụng sự thật về việc được chấp nhận một cách đúng đắn và có chủ đích.
3. When a disciple is accepted it is his responsibility to see that the “quality of the hierarchical service to humanity” is expressed through him. This may necessitate an adjustment in his usual modes of procedure.
3. Khi một đệ tử được chấp nhận, y có trách nhiệm bảo đảm rằng “phẩm tính phụng sự nhân loại của Thánh đoàn” được biểu lộ qua y. Điều này có thể đòi hỏi sự điều chỉnh trong các phương thức tiến hành thông thường của y.
4. DK focuses on the particular quality which is to be expressed. He calls it “Wisdom, expressing itself intelligently through love”.
4. Chân sư DK tập trung vào phẩm tính cụ thể cần được biểu lộ. Ngài gọi đó là “Minh triết, biểu lộ một cách thông tuệ qua tình thương”.
5. BSD’s service is always highly intelligent, for he is on the third ray of “Active Intelligence” — the “acute energy of divine mental perception”. To this intelligence, the Master seeks to see more love and wisdom added. When one comes under the tuition of Master DK (or any second ray Master) there will be an opportunity to increase the influence of both love and wisdom in the life.
5. Sự phụng sự của BSD luôn rất thông tuệ, vì ông thuộc cung ba của “Trí Tuệ Hoạt Động” — “năng lượng sắc bén của sự tri giác trí tuệ thiêng liêng”. Chân sư muốn thấy thêm tình thương và minh triết bổ sung vào trí tuệ này. Khi một người được Chân sư DK (hoặc bất kỳ Chân sư cung hai nào) chỉ dạy, người ấy sẽ có cơ hội gia tăng ảnh hưởng của cả tình thương lẫn minh triết trong đời sống.
6. At this point in His instructions to BSD, Master DK has not yet revealed that BSD is a third ray soul, but the many statements about intelligence and mind are hints in this direction.
6. Đến thời điểm này trong các huấn thị dành cho BSD, Chân sư DK vẫn chưa tiết lộ rằng BSD là một linh hồn cung ba, nhưng nhiều lời nói về trí tuệ và thể trí là những gợi ý theo hướng ấy.
7. As earlier stated, it is possible, even probable, that BSD’s monadic ray is the second. Further it is possible that a future personality ray (perhaps the personality ray of the next incarnation) should become the second.
7. Như đã nói trước đây, có khả năng, thậm chí rất có thể, cung chân thần của BSD là cung hai. Hơn nữa, cũng có khả năng một cung phàm ngã trong tương lai (có lẽ cung phàm ngã của kiếp lâm phàm tiếp theo) sẽ trở thành cung hai.
8. In any case, BSD is given a very deep assignment: the transmutation of knowledge into wisdom through the dynamic power of living love. These last five words can be construed as hints concerning the monadic ray, for the monad is dynamic, it is the source of real power within the disciples energy system, and it lives, as the representative of the life aspect of divinity. A second ray monad would be, indeed, an example of dynamic, “living love”.
8. Dù thế nào, BSD cũng được giao một nhiệm vụ rất sâu sắc: chuyển hoá tri thức thành minh triết qua quyền năng năng động của tình thương sống động. Năm từ cuối này có thể được hiểu là những gợi ý về cung chân thần, vì chân thần có tính năng động, là nguồn quyền năng thực sự trong hệ thống năng lượng của người đệ tử, và chân thần sống với tư cách là đại diện cho phương diện sự sống của thiên tính. Quả thực, một chân thần cung hai sẽ là một ví dụ về “tình thương sống động” có tính năng động.
9. At our stage of evolution, the monad is always the unknown factor, the “x” factor. Yet if we are careful, we may find that DK is offering hints to his chelas concerning this highest aspect of their nature. When one becomes an accepted disciple, at some point mostly likely after the mid-point of progress between the first and second degrees, the monad will become more effective (though it still remains a largely unconscious factor).
9. Ở giai đoạn tiến hoá của chúng ta, chân thần luôn là nhân tố chưa biết, nhân tố “x”. Tuy nhiên, nếu cẩn trọng, chúng ta có thể nhận thấy Chân sư DK đang đưa ra cho các đệ tử của Ngài những gợi ý về phương diện cao nhất này trong bản chất của họ. Khi một người trở thành đệ tử được chấp nhận, vào một thời điểm nào đó rất có thể là sau điểm giữa của tiến trình từ cấp độ thứ nhất đến cấp độ thứ hai, chân thần sẽ trở nên hữu hiệu hơn (dù phần lớn vẫn là một nhân tố nằm ngoài sự nhận biết có ý thức).
10. The Master is actuated by monadic energy and, with “acceptance”, that kind of energy subtly reaches the disciple. As well, just before, during and immediately after the second initiation, will and desire are engaged in a contest for preeminence. Will, of course, essentially represents the monad.
10. Năng lượng chân thần thúc đẩy Chân sư, và cùng với sự “chấp nhận”, loại năng lượng ấy chạm đến người đệ tử một cách tinh tế. Đồng thời, ngay trước, trong và ngay sau lần điểm đạo thứ hai, ý chí và dục vọng tranh nhau vị trí chủ đạo. Tất nhiên, về bản chất, ý chí đại diện cho chân thần.
11. There is no question but that the Master has offered BSD a powerful hint which is to provide “much food for thought”.
11. Không còn nghi ngờ gì nữa, Chân sư đã trao cho BSD một gợi ý mạnh mẽ nhằm đem lại “nhiều điều đáng suy ngẫm”.
12. We may be impressed by how carefully one must read these letters to gather what may have been intended by Master DK. Of course, as readers who are not in those groups-of-nine, we read somewhat as ‘outsiders’ and cannot possibly apprehend all that a chela for whom the hints were intended might apprehend. Yet, we can still gather much and we have the advantage of an enlarged perspective upon the entirety of the Tibetan’s exoteric work to date (both through HPB and AAB).
12. Chúng ta có thể ấn tượng trước mức độ cẩn trọng cần có khi đọc những bức thư này để nắm bắt điều Chân sư DK có thể muốn truyền đạt. Dĩ nhiên, là những độc giả không thuộc các nhóm chín người ấy, chúng ta phần nào đọc với tư cách ‘người ngoài cuộc’ và không thể lĩnh hội tất cả những gì mà người đệ tử nhận các gợi ý ấy có thể lĩnh hội. Tuy vậy, chúng ta vẫn có thể thu nhận nhiều điều và có lợi thế là một tầm nhìn bao quát hơn về toàn bộ công trình ngoại môn của Chân sư Tây Tạng cho đến nay (qua cả HPB lẫn AAB).
2. The second thought which comes to you from my heart is to urge you to remember that chelaship (discipleship) involves responsibility, and that in its turn is developed through suffering. This leads inevitably to detachment. That process of detachment will go forward in connection with all in the group and must entail difficulty. This difficulty may involve a constant stream of minor problems and detachments which will colour ceaselessly your life of service, your life in the home, and your contacts in the world. This calls perhaps for a higher quality of faith and of courage than do drastic purgings. But I have no fears for you, my brother on the Path. You have a faith of tempered steel which cannot break. Remember, however, that where the tide of love is thwarted, there might happen a temporary warping of your nature. You will understand whereof I speak and this sentence conveys to you a needed hint. Let love pour through you and all is well.
2. Tư tưởng thứ hai từ tim Tôi gửi đến em là lời thúc giục em ghi nhớ rằng địa vị đệ tử bao hàm trách nhiệm, và đến lượt mình, trách nhiệm phát triển qua đau khổ. Điều này tất yếu dẫn đến sự tách rời. Tiến trình tách rời ấy sẽ diễn ra đối với tất cả mọi người trong nhóm và ắt phải kéo theo khó khăn. Khó khăn này có thể bao gồm một dòng liên tục những vấn đề nhỏ và những sự tách rời không ngừng nhuốm màu đời sống phụng sự, đời sống gia đình và những tiếp xúc của em trong thế gian.Có lẽ điều này đòi hỏi đức tin và lòng can đảm có phẩm tính cao hơn so với những cuộc thanh lọc quyết liệt. Nhưng Tôi không lo ngại cho em, huynh đệ của tôi trên Đường Đạo. Em có một đức tin như thép tôi, không thể gãy vỡ. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng nơi nào dòng triều tình thương bị ngăn trở, nơi đó bản chất em có thể tạm thời trở nên lệch lạc. Em sẽ thấu hiểu điều Tôi nói, và câu này truyền đến em một gợi ý cần thiết. Hãy để tình thương tuôn chảy qua em, rồi mọi sự sẽ tốt đẹp.
1. The second thought in the Master’s heart is deep and requires much thought.
1. Ý tưởng thứ hai trong trái tim Chân sư rất sâu sắc và đòi hỏi nhiều suy ngẫm.
2. DK equates chelaship and discipleship. The connotation of chelaship is that the supervision by the Master is, perhaps, greater than in the case of ordinary discipleship.
2. Chân sư DK đồng nhất tư cách đệ tử với địa vị đệ tử. Có lẽ hàm ý của tư cách đệ tử là sự giám sát của Chân sư lớn hơn so với trường hợp địa vị đệ tử thông thường.
3. It comes as no surprise to read that discipleship involves responsibility, but it is perhaps not so commonly thought that “responsibility is developed through suffering”. Perhaps if we think that our ability to respond increases with sensitivity and that suffering increases sensitivity (as it breaks down our defenses and cherished glamors and illusions), we can understand how responsibility is developed through suffering.
3. Không có gì đáng ngạc nhiên khi đọc rằng địa vị đệ tử bao hàm trách nhiệm, nhưng có lẽ người ta ít nghĩ rằng “trách nhiệm phát triển qua đau khổ”. Có lẽ nếu nghĩ rằng khả năng đáp ứng của chúng ta gia tăng cùng với sự nhạy cảm, và đau khổ làm gia tăng sự nhạy cảm (khi nó phá vỡ những cơ chế phòng vệ cùng những ảo cảm và ảo tưởng mà chúng ta trân quý), chúng ta có thể thấu hiểu trách nhiệm phát triển qua đau khổ như thế nào.
4. When the suffering is sufficient the dynamic of detachment will enter. One realizes that that which suffers is not the real man but rather the form, and that aspect of the consciousness which is identified with the distressed form.
4. Khi đau khổ đã đủ, động lực của sự tách rời sẽ xuất hiện. Người ta nhận ra rằng cái chịu đau khổ không phải là con người chân thực mà là hình tướng, cùng phương diện tâm thức đồng hoá với hình tướng đang khốn khổ ấy.
5. Chelaship, responsibility, suffering, detachment — these are the concepts here presented, but they do not necessarily proceed in strict sequence, but rather interact.
5. Tư cách đệ tử, trách nhiệm, đau khổ, sự tách rời — đó là những khái niệm được trình bày ở đây, nhưng chúng không nhất thiết diễn tiến theo một trình tự nghiêm ngặt, mà tương tác với nhau.
6. Detachment, we are told, entails difficulty. It is the lot of all disciples. We are to expect a “constant stream of minor problems and detachments which will colour ceaselessly your life of service, your home life and your contacts in the world”. Have we found this to be the case? Detachment does not occur suddenly and at once. There are many little ties to glamor and illusion and these have to be broken through a ceaseless detaching process with all its attendant difficulties.
6. Chúng ta được cho biết rằng sự tách rời kéo theo khó khăn. Đó là phần mà mọi đệ tử đều phải trải qua. Chúng ta cần trông đợi một “chuỗi liên tục những vấn đề nhỏ và những lần tách rời không ngừng nhuốm màu đời sống phụng sự, đời sống gia đình và những mối tiếp xúc của các bạn trên thế gian”. Chúng ta có thấy thực tế đúng như vậy không? Sự tách rời không xảy ra đột ngột và trọn vẹn trong một lần. Có nhiều mối ràng buộc nhỏ với ảo cảm và ảo tưởng, và chúng phải được phá vỡ qua một tiến trình tách rời không ngừng cùng mọi khó khăn đi kèm.
7. A most important statement is made concerning all these little problems and detachments. DK tells us that such a process calls for a “higher quality of faith and courage than do drastic purgings”. Drastic purgings are soon over and, therefore, they do not call for the quality of courageous, faithful persistence. Those upon the second ray are possessed by the ability to work relentlessly with no let up. They do not so frequently go through the sudden and drastic processes. The sixth ray has much in common with the second ray in this regard (but may admit of more drastic experiences, for it is also related to the first ray).
7. Một phát biểu hết sức quan trọng được đưa ra về tất cả những vấn đề nhỏ và những lần tách rời này. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng một tiến trình như thế đòi hỏi “một phẩm chất đức tin và lòng can đảm cao hơn những cuộc thanh lọc quyết liệt”. Những cuộc thanh lọc quyết liệt sớm kết thúc, nên chúng không đòi hỏi phẩm chất kiên trì đầy can đảm và đức tin. Những người thuộc cung hai có khả năng làm việc bền bỉ không ngơi nghỉ. Họ không thường xuyên trải qua những tiến trình đột ngột và quyết liệt như thế. Về phương diện này, cung sáu có nhiều điểm chung với cung hai (nhưng có thể bao gồm những trải nghiệm quyết liệt hơn, vì nó cũng liên hệ với cung một).
8. Master DK is not simply offering His chela advice in general. There is some specific situation which requires attention. Perhaps there are difficulties at work, at home, with certain contacts. DK speaks of His chela’s “faith of tempered steel which cannot break”. This faith will be his strength and will see him through. On two other occasions DK spoke of “tempered steel” to a chela: “You have the persistence and the will (like tempered steel) of the second ray” (to FCD) and also “You have the persistence and the will (like tempered steel) of the second ray, and you can dismiss all fear as to your capacity to transcend the difficulties or to make your grade. Nothing can stop you” (to DHB). Both of these disciples were second ray souls.
8. Chân sư DK không chỉ đưa ra lời khuyên chung cho đệ tử của Ngài. Có một tình huống cụ thể nào đó cần được chú ý. Có lẽ đang có những khó khăn trong công việc, ở nhà, hay với một số mối tiếp xúc. Chân sư DK nói đến “đức tin như thép tôi, không thể gãy” của đệ tử Ngài. Đức tin này sẽ là sức mạnh của ông và giúp ông vượt qua. Vào hai dịp khác, Chân sư DK đã nói đến “thép tôi” với một đệ tử: “Em có sự kiên trì và ý chí (như thép tôi) của cung hai” (nói với FCD), và cả “Em có sự kiên trì và ý chí (như thép tôi) của cung hai, và em có thể gạt bỏ mọi nỗi sợ về khả năng vượt qua khó khăn hoặc đạt cấp độ của mình. Không gì có thể ngăn cản em” (nói với DHB). Cả hai đệ tử này đều là những linh hồn cung hai.
9. DK is offering psychological advice to BSD. There is a tide of love in his nature which must not be thwarted or there will be a (temporary) warping in the nature. A warping is a distortion in a form. A certain part of the form is unduly enlarged or grows in an unaligned manner because of the energy to which it has been exposed and the incapacity to distribute that energy in a balanced manner.
9. Chân sư DK đang đưa ra lời khuyên tâm lý cho BSD. Trong bản chất của ông có một dòng tình thương không được phép bị ngăn trở, nếu không bản chất ấy sẽ bị méo lệch (tạm thời). Sự méo lệch là một biến dạng trong hình tướng. Một phần nào đó của hình tướng phình lớn quá mức hoặc phát triển thiếu chỉnh hợp do năng lượng mà nó đã tiếp nhận và do không có khả năng phân phối năng lượng ấy một cách quân bình.
10. We remember that there are certain rigidities in BSD’s approach to living and that he has much “outer reserve”. Also his heart center has been under-emphasized and his mental nature over-emphasized. Love and its passage through the heart is needed in the situation to which DK alludes. BSD must not inhibit the tide of love but, instead, allow it to pour through him. Then, assures the Master, all will be well.
10. Chúng ta nhớ rằng cách sống của BSD có một số nét cứng nhắc và ông có nhiều “sự dè dặt bên ngoài”. Hơn nữa, trung tâm tim của ông chưa được chú trọng đúng mức, còn bản chất trí tuệ lại được chú trọng quá mức. Tình thương và sự lưu chuyển của nó qua tim là điều cần thiết trong tình huống mà Chân sư DK ám chỉ. BSD không được kìm hãm dòng tình thương mà cần để nó tuôn chảy qua mình. Khi ấy, Chân sư bảo đảm, mọi sự sẽ tốt đẹp.
11. Imbalance is the enemy of discipleship. The disciple is to be ever alert to the possibility of mismanaged energy within his nature. The inhibition of love is, above all, psychologically unhealthy. If the tide of love is seemingly thwarted by lack of possibilities to express it in normal circumstance, nevertheless, a way for that expression must be found.
11. Sự mất quân bình là kẻ thù của địa vị đệ tử. Người đệ tử phải luôn cảnh giác trước khả năng năng lượng trong bản chất mình bị điều dụng sai. Trên hết, việc kìm hãm tình thương có hại cho sức khỏe tâm lý. Nếu dòng tình thương dường như bị ngăn trở vì thiếu cơ hội biểu lộ trong hoàn cảnh bình thường, thì dù vậy vẫn phải tìm một con đường để biểu lộ nó.
The suggestions which I seek to make are based upon past instructions. Since June, 1935, we have set ourselves one technical achievement and one that still remains unachieved for the majority of advanced humanity. This is the awakening of the ajna centre. Your major need and the thing which would arouse that centre to usefulness lies—for you—in the power to visualise.
Những gợi ý Tôi muốn đưa ra dựa trên các huấn thị trước đây. Từ tháng Sáu năm 1935, chúng ta đã đặt ra cho mình một thành tựu chuyên môn, một thành tựu mà phần lớn nhân loại tiến bộ vẫn chưa đạt được. Đó là việc đánh thức trung tâm ajna. Đối với em, nhu cầu chính yếu và điều sẽ khơi dậy trung tâm ấy để nó trở nên hữu dụng nằm ở năng lực hình dung.
1. Now DK turns for the thoughts in His heart to two suggestions from His mind.
1. Giờ đây, Chân sư DK chuyển từ những ý tưởng trong trái tim Ngài sang hai đề nghị từ thể trí Ngài.
2. We have noted that Master DK is working on arousing BSD’s ajna center into activity. We also note that the majority of advanced humanity has not achieved this.
2. Chúng ta đã ghi nhận rằng Chân sư DK đang nỗ lực khơi dậy trung tâm ajna của BSD để nó hoạt động. Chúng ta cũng ghi nhận rằng đa số nhân loại tiến bộ chưa đạt được điều này.
3. DK calls the awakening the ajna center (in BSD’s case) a “technical achievement”. This terminology in interesting given BSD’s strong fifth ray. Excessive application to strictly mental procedures may, however, set up a condition in which the psychic capacities associated with the ajna center are not easily aroused.
3. Chân sư DK gọi sự thức tỉnh trung tâm ajna (trong trường hợp BSD) là một “thành tựu kỹ thuật”. Cách dùng thuật ngữ này thật thú vị khi xét đến cung năm mạnh mẽ của BSD. Tuy nhiên, việc quá chú tâm vào những phương pháp thuần túy trí tuệ có thể tạo ra một tình trạng khiến những năng lực thông linh gắn với trung tâm ajna không dễ được khơi dậy.
4. The simple expedient of visualization is offered as the way to arouse the ajna center into usefulness.
4. Phương cách đơn giản là sự hình dung được đưa ra như con đường khơi dậy trung tâm ajna để nó trở nên hữu ích.
5. We also remember that visualization may not be the line of least resistance for those whose mind is focussed upon the fifth ray.
5. Chúng ta cũng nhớ rằng sự hình dung có thể không phải là con đường ít trở ngại nhất đối với những người có thể trí tập trung trên cung năm.
The second thing which will integrate your nature and increase your magnetic and spiritual usefulness lies in the unfoldment of the creative imagination. How shall this be done? The two are closely allied. Visualisation and the creative imagination [117] are related. A great deal of your problem in this life (where your esoteric unfoldment is concerned) will be solved when these two are better understood by you and when the play of these two forces produces in you an inner re-adjustment, a re-alignment and an externalisation of your subjective life. Will you think deeply upon this matter, my brother?
Điều thứ hai sẽ tích hợp bản chất em và gia tăng tính hữu dụng về từ tính và tinh thần của em nằm ở sự khai mở sự tưởng tượng sáng tạo. Phải làm điều này như thế nào? Hai điều ấy gắn bó mật thiết với nhau. Sự hình dung và sự tưởng tượng sáng tạo [117] có liên hệ với nhau. Phần lớn vấn đề của em trong kiếp này (liên quan đến sự khai mở huyền bí của em) sẽ được giải quyết khi em thấu hiểu hai điều ấy rõ hơn và khi sự vận hành của hai mãnh lực này tạo ra nơi em một sự tái điều chỉnh bên trong, một sự tái chỉnh hợp và một sự ngoại hiện đời sống chủ quan của em. Huynh đệ của tôi, em có suy nghĩ sâu sắc về vấn đề này chăng?
1. DK is differentiating between visualization and the creative imagination, though He states that they are related.
1. Chân sư DK đang phân biệt sự hình dung với sự tưởng tượng sáng tạo, dù Ngài nói rằng chúng có liên hệ với nhau.
2. Both of these suggestions are intended to integrate BSD’s nature and increase his magnetic and spiritual usefulness. The ajna center is not only necessary for self-direction, but is involved in the successful guidance or direction of others. Its power to foresee can wisely be employed in all matters of guidance.
2. Cả hai đề nghị này đều nhằm tích hợp bản chất của BSD và gia tăng tính hữu ích của ông về mặt từ tính và tinh thần. Trung tâm ajna không chỉ cần thiết cho việc tự định hướng, mà còn tham gia vào việc hướng dẫn hoặc chỉ đạo người khác một cách thành công. Quyền năng thấy trước của nó có thể được vận dụng một cách minh triết trong mọi vấn đề hướng dẫn.
3. Visualization seems primary and fundamental; it is, among other things, and when related to the sense of sight (for it can be related to other senses — as in the ‘visualizing’ of sound) the ability to summon images or ‘sensory reflections’ before the inner eye.
3. Sự hình dung dường như là điều trước tiên và căn bản; trong số những chức năng khác, khi liên hệ với thị giác (vì nó có thể liên hệ với các giác quan khác — như trong việc ‘hình dung’ âm thanh), đó là khả năng gọi lên những hình ảnh hay ‘phản ánh giác quan’ trước con mắt bên trong.
4. The creative imagination is then applied to those images which are arranged, shaped or manipulated according to inner purpose and pattern. Visualization is a summoning process; creative imagination is a building and designing process.
4. Sau đó, sự tưởng tượng sáng tạo được áp dụng vào những hình ảnh ấy, sắp xếp, định hình hoặc vận dụng chúng theo mục đích và mô hình bên trong. Sự hình dung là một tiến trình gọi lên; sự tưởng tượng sáng tạo là một tiến trình xây dựng và thiết kế.
5. Via visualization and the creative imagination, the inner life can be out-pictured in form. The inner energies are given another way of ‘getting through’ to the brain consciousness. Rigorous thought, per se, may block the influence of the intuition whereas one who has developed the power to visualize may spontaneously see those intuitions take shape in visual form. Also one may build through the medium of images provided by the imagination pictorial forms which are resonant to the vibration of intuition. In fact, the intuition may prompt the appearance of certain images, for visualized images (though presented in as ‘sensory reflections’) do not necessarily arise from the sphere of the senses, but often reflect the inner worlds.
5. Qua sự hình dung và sự tưởng tượng sáng tạo, đời sống bên trong có thể được biểu hiện ra bằng hình tướng. Các năng lượng bên trong có thêm một con đường để ‘đi vào’ tâm thức bộ não. Chính tư duy nghiêm ngặt có thể ngăn chặn ảnh hưởng của trực giác, trong khi người đã phát triển quyền năng hình dung có thể tự nhiên thấy những trực giác ấy thành hình dưới dạng hình ảnh thị giác. Qua trung gian những hình ảnh do sự tưởng tượng cung cấp, người ta cũng có thể xây dựng những hình tướng bằng hình ảnh cộng hưởng với rung động của trực giác. Thật vậy, trực giác có thể thúc đẩy sự xuất hiện của một số hình ảnh, vì những hình ảnh được hình dung (dù trình hiện dưới dạng ‘phản ánh giác quan’) không nhất thiết phát sinh từ lĩnh vực giác quan, mà thường phản ánh các cõi bên trong.
6. There is an element of spontaneity which is associated with visualization; that same spontaneity is a quality of the intuition. One can ask for an image which embodies an intuitive insight, and that image may spontaneously present itself to the consciousness. It may happen all at once instead of through a laborious, reasoned approach. In this way, the inner man may be evoked and recognized as ‘speaking’ through spontaneously presented images.
6. Có một yếu tố tự phát gắn liền với sự hình dung; chính tính tự phát ấy là một phẩm tính của trực giác. Người ta có thể cầu xin một hình ảnh thể hiện sự thấu triệt trực giác, và hình ảnh ấy có thể tự phát trình hiện trong tâm thức. Điều đó có thể xảy ra ngay tức khắc thay vì thông qua một cách tiếp cận nhọc nhằn bằng lý luận. Bằng cách này, con người bên trong có thể được gợi lên và được nhận biết là đang ‘nói’ qua những hình ảnh tự phát trình hiện.
7. These images can be refined through the creative imagination. Creative imagination can also be a method of invoking the intuition.
7. Những hình ảnh này có thể được tinh luyện qua sự tưởng tượng sáng tạo. Sự tưởng tượng sáng tạo cũng có thể là một phương pháp khẩn cầu trực giác.
8. Really, the process of relating visualization and creative imagination to the intuition is reciprocal. Intuition stimulates the appearance of certain visualizations, and images wrought by the creative imagination are invocations to the intuition and, thus, evoke the descent of intuitions resonant with the images held (as magnets, in the lower world, for the appearance of testimony from the higher).
8. Thật ra, tiến trình liên kết sự hình dung và sự tưởng tượng sáng tạo với trực giác mang tính tương hỗ. Trực giác kích thích sự xuất hiện của một số hình ảnh được hình dung, và những hình ảnh do sự tưởng tượng sáng tạo tạo tác là những lời khẩn cầu hướng đến trực giác, nhờ đó gợi lên sự giáng xuống của những trực giác cộng hưởng với các hình ảnh đang được duy trì (như những nam châm trong cõi thấp, thu hút sự xuất hiện của bằng chứng từ cõi cao).
9. When visualization and creative imagination are attuned to the intuition they offer faster and more certain modes of apprehending truth than laborious reasoning. The question, however, is whether the visualization processes and the use of the creative imagination are attuned, or whether they simply reflect and work with illusory forms to be found on the astral plane. Many people go astray because they cannot make this distinction, and take spurious material for the ‘real thing’.
9. Khi hòa điệu với trực giác, sự hình dung và sự tưởng tượng sáng tạo đem lại những phương thức nắm bắt chân lý nhanh chóng và chắc chắn hơn việc lý luận nhọc nhằn. Tuy nhiên, vấn đề là liệu các tiến trình hình dung và việc vận dụng sự tưởng tượng sáng tạo có thực sự hòa điệu hay không, hay chúng chỉ phản ánh và làm việc với những hình tướng ảo tưởng trên cõi cảm dục. Nhiều người lạc lối vì không thể phân biệt điều này, và nhận lầm những nội dung giả tạo là ‘điều chân thực’.
January 1937 – Tháng Một năm 1937
BROTHER OF MINE:
HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:
I am glad that you regard yourself as sensitive to my vibration, for so you are. But not as often as you think. It is so easy for aspirants to confound the second ray vibration — as it expresses itself through a second ray group such as my group of disciples — with my individual vibration.
Tôi vui vì em xem mình là người nhạy cảm với rung động của Tôi, bởi quả thực em như vậy. Nhưng không thường xuyên như em nghĩ. Người chí nguyện rất dễ nhầm lẫn rung động cung hai—khi nó biểu lộ qua một nhóm cung hai như nhóm đệ tử của Tôi—với rung động riêng của Tôi.
1. The Master is responding probably to His chela’s answers to questions He has posed: such questions as, “Are you sensitive to my vibration?”; or “How often are you sensitive to my vibration?”
1. Có lẽ Chân sư đang đáp lại những câu trả lời của đệ tử Ngài cho các câu hỏi Ngài đã đặt ra, chẳng hạn: “Em có nhạy cảm với rung động của Tôi không?”; hoặc “Em nhạy cảm với rung động của Tôi thường xuyên đến mức nào?”
2. DK is always the voice of truth and realism, for there can be no glamor where these two exist.
2. Chân sư DK luôn là tiếng nói của chân lý và tinh thần thực tế, vì nơi nào có hai điều này thì nơi đó không thể có ảo cảm.
3. An adjustment is needed in BSD’s thoughts regarding sensitivity to contact and so the DK elaborates on the other kinds of vibrations which can be confused with the individual vibration of the Master. The whole matter requires a very keen discrimination.
3. Những suy nghĩ của BSD về sự nhạy cảm với tiếp xúc cần được điều chỉnh, vì vậy Chân sư DK giải thích thêm về những loại rung động khác có thể bị nhầm với rung động riêng của Chân sư. Toàn bộ vấn đề đòi hỏi sự phân biện hết sức sắc bén.
Disciples need to train themselves to distinguish:
Các đệ tử cần rèn luyện để phân biệt:
1. The vibration of the second Ray of Love-Wisdom.
1. Rung động của cung hai Bác Ái – Minh Triết.
2. The vibration of the Master M. or the Master K.H. should They happen to use the ray vibration for purposes of stimulating a group.
2. Rung động của Chân sư M. hoặc Chân sư KH, nếu Các Ngài dùng rung động cung nhằm kích thích một nhóm.
3. My vibration, which is naturally strongly coloured by the second ray.
3. Rung động của Tôi, vốn đương nhiên mang đậm sắc thái cung hai.
1. There may be interesting hints in what is here said.
1. Có thể có những gợi ý thú vị trong những điều được nói ở đây.
2. The first type of vibration is general; it is the vibration of the second Ray of Love-Wisdom irrespective of any directing source, such as a Master.
2. Loại rung động thứ nhất mang tính tổng quát; đó là rung động của cung hai Bác Ái – Minh Triết, không xét đến bất kỳ nguồn chỉ đạo nào, chẳng hạn một Chân sư.
3. We are not surprised to see that Master KH is associated with the second ray, but we also gather than the first ray Master Morya can “use” the second ray vibration for purpose of stimulating a group. Although the vibration received would have in it much of the second ray, the vibration of M. or KH would also be present.
3. Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy Chân sư KH gắn với cung hai, nhưng cũng nhận ra rằng Chân sư Morya thuộc cung một có thể “sử dụng” rung động cung hai nhằm kích thích một nhóm. Mặc dù rung động được tiếp nhận mang nhiều đặc tính của cung hai, rung động của Chân sư M. hoặc Chân sư KH cũng sẽ hiện diện.