Trích nội dung chương
32. DK is advising His chela and all of us on useful methods of actually resolving conflict. He also seems to suggest that disciples who are ‘younger’ than IBS may have to resort to one of the above expedients because their mind will not be equipped with sufficient skillfulness to resolve conflict on the mental level . 32. Chân sư DK đang chỉ dẫn cho đệ tử của Ngài và tất cả chúng ta những phương pháp hữu ích để thực sự giải quyết xung đột. Dường như Ngài cũng gợi ý rằng những đệ tử ‘non trẻ’ hơn IBS có thể phải dùng đến một trong các biện pháp tạm thời trên vì thể trí của họ chưa đủ thành thạo để giải quyết xung đột ở cấp độ trí tuệ.
31. Evasion leaves the conflicting forces untouched. Inhibition merely holds them down.
31. Né tránh để nguyên các mãnh lực xung đột. Ức chế chỉ đè nén chúng.
32. DK is advising His chela and all of us on useful methods of actually resolving conflict. He also seems to suggest that disciples who are ‘younger’ than IBS may have to resort to one of the above expedients because their mind will not be equipped with sufficient skillfulness to resolve conflict on the mental level .
32. Chân sư DK đang chỉ dẫn cho đệ tử của Ngài và tất cả chúng ta những phương pháp hữu ích để thực sự giải quyết xung đột. Dường như Ngài cũng gợi ý rằng những đệ tử ‘non trẻ’ hơn IBS có thể phải dùng đến một trong các biện pháp tạm thời trên vì thể trí của họ chưa đủ thành thạo để giải quyết xung đột ở cấp độ trí tuệ.
33. A big hint is given. If light can be made to shine through a problem, that problem is well on its way to resolution. Mental light brings about an alteration and rearrangement of the forces involved in conflict and moves those forces into greater harmony with each other. When conflicting forces are untouched by ‘re-patterning light’, they remain as they are, unaltered, and continually contending unless exhaustion takes over—which itself is no real resolution .
33. Một gợi ý lớn đã được đưa ra. Nếu có thể khiến ánh sáng xuyên qua một vấn đề, vấn đề ấy đã tiến xa trên con đường đi đến giải pháp. Ánh sáng trí tuệ làm biến đổi và sắp xếp lại các mãnh lực tham gia vào xung đột, đưa chúng đến sự hài hòa lớn hơn với nhau. Khi các mãnh lực xung đột không được ‘ánh sáng tái lập mô hình’ chạm đến, chúng vẫn nguyên trạng, không thay đổi và liên tục tranh đấu, trừ khi rơi vào kiệt sức—mà bản thân sự kiệt sức cũng không phải là một giải pháp thực sự.
34. The words “solution” and “resolution” are very close, and they usually relate to conditions in which forces no longer contend.
34. Hai từ “giải pháp” và “giải quyết” rất gần nghĩa nhau, và thường liên quan đến những tình trạng trong đó các mãnh lực không còn tranh đấu.
This will bring right solution and correct understanding. You do wrestle with your problem, my brother, for your sincere desire is to follow the path of spiritual development but you make the astral body your battle ground whereas the whole problem should be elevated to mental levels.
Điều này sẽ mang lại giải pháp đúng đắn và sự thấu hiểu chính xác. Huynh đệ của tôi, em quả thực đang vật lộn với vấn đề của mình, vì em chân thành mong muốn đi theo con đường phát triển tinh thần, nhưng em lại lấy thể cảm dục làm bãi chiến trường, trong khi toàn bộ vấn đề cần được nâng lên các cấp độ trí tuệ.
These thoughts all refer to the dynamics of the Mars, Mercury, Uranus quintile/bi-quintile.
Tất cả những tư tưởng này đều liên quan đến động lực của các góc ngũ phân/song ngũ phân giữa Sao Hỏa, Sao Thủy và Sao Thiên Vương.
35. It seems that at various points along the Path, disciples have no choice but to struggle, to “wrestle”—the term here used. Wrestling is an attempt to gain power over an opponent through exerting a hold, from which the opponent may not escape. The opponent is finally “pinned”, and this signals victory for the one exerting the ‘pinning hold’. The opponent is immobilized.
35. Dường như tại những điểm khác nhau trên Đường Đạo, các đệ tử không có lựa chọn nào khác ngoài tranh đấu, “vật lộn”—từ được dùng ở đây. Vật là nỗ lực giành quyền khống chế đối thủ bằng cách áp dụng một thế khóa, khiến đối thủ không thể thoát ra. Cuối cùng, đối thủ bị “ghìm chặt”, và điều này báo hiệu chiến thắng cho người đang thực hiện ‘thế ghìm’. Đối thủ bị bất động.
36. A disciple is a battleground of energies and forces contending for supremacy. If the disciple refuses to wrestle by whatever means he is no disciple.
36. Một đệ tử là chiến trường của các năng lượng và mãnh lực tranh giành ưu thế. Nếu người đệ tử từ chối vật lộn bằng bất kỳ phương tiện nào, y không phải là đệ tử.
37. The psychology becomes interesting. IBS wrestles, but does so upon the wrong battleground. She makes her astral body the battle ground instead of the mind.
37. Khía cạnh tâm lý trở nên thú vị. IBS vật lộn, nhưng trên chiến trường không thích hợp. Bà lấy thể cảm dục làm chiến trường thay vì thể trí.
38. What really is the difference? She is seeking for one line of desire/aspiration to gain supremacy over another line, but she does not sufficiently bring the mind to her aid. She is ‘wrestling in the dark’. The image suggests not really knowing what to do—not really knowing how to apply force, and the “holds” which will lead to victory. The right use of the mind is required is there is to be knowing.
38. Sự khác biệt thực sự là gì? Bà đang tìm cách khiến một hướng dục vọng/khát vọng giành ưu thế trước một hướng khác, nhưng chưa huy động đủ sự trợ giúp của thể trí. Bà đang ‘vật lộn trong bóng tối’. Hình ảnh ấy gợi ra việc không thực sự biết phải làm gì—không thực sự biết cách vận dụng mãnh lực và những “thế khóa” sẽ dẫn đến chiến thắng. Cần sử dụng thể trí đúng đắn để có được sự hiểu biết.
39. Some people wrestle predominantly in the mind, but their emotions follow the rises and falls of the contending thoughts. In such cases, the emotions are affixed to thoughts; kama-manas prevails. Probably this is true of most human beings, even if they succeed in elevating the wrestling match to the plane of mind. Thus, in such cases, when certain thoughts are in control these people feel depression; when others control, elation. And in the midst of the struggle between the contending thoughts, they feel anxiety.
39. Một số người vật lộn chủ yếu trong thể trí, nhưng cảm xúc của họ lại lên xuống theo những tư tưởng đang tranh đấu. Trong những trường hợp ấy, cảm xúc gắn chặt với tư tưởng; trí-cảm chiếm ưu thế. Có lẽ điều này đúng với đa số con người, ngay cả khi họ thành công trong việc nâng cuộc vật lộn lên cõi trí. Vì vậy, trong những trường hợp ấy, khi một số tư tưởng nắm quyền kiểm soát, những người này cảm thấy chán nản; khi những tư tưởng khác kiểm soát, họ cảm thấy phấn chấn. Và giữa cuộc tranh đấu của những tư tưởng đối nghịch, họ cảm thấy lo âu.
40. DK is calling for what we might call ‘enlightened mental wrestling’, skillful, illumined wrestling. Wrestling on the plane of emotion is crude by comparison and does not facilitate the ability to see through the negative emotional forces which contend for supremacy with positive aspirations. Enlightened wrestling from the mental level is a deglamorizing process. Emotional wrestling may lead to temporary victory, but no lasting solution.
40. Chân sư DK đang kêu gọi điều chúng ta có thể gọi là ‘sự vật lộn trí tuệ sáng suốt’, một sự vật lộn khéo léo, được soi sáng. So với điều đó, vật lộn trên cõi cảm xúc còn thô sơ và không giúp phát triển khả năng nhìn thấu các mãnh lực cảm xúc tiêu cực đang tranh giành ưu thế với những khát vọng tích cực. Sự vật lộn sáng suốt từ cấp độ trí tuệ là một tiến trình làm tiêu tan ảo cảm. Vật lộn về cảm xúc có thể dẫn đến chiến thắng tạm thời, nhưng không đem lại giải pháp lâu bền.
Think this out and then carry forward right action in two directions: on the mental plane for guidance and down to the physical plane for demonstration.
Hãy suy xét kỹ điều này rồi tiến hành hành động đúng đắn theo hai hướng: trên cõi trí để nhận sự hướng dẫn, và xuống cõi hồng trần để thể hiện.
You will know to what problem or problems I refer.
Em sẽ biết Tôi đang nói đến vấn đề hay những vấn đề nào.
The natal inconjunct of Mars to Juno in Scorpio in the 11th house, and the opposition of Saturn to the same position {plus the present exact opposition of transiting Saturn to that position} reveal a problem to be handled in the area of relationship.
Góc quincunx bản mệnh của Sao Hỏa với Juno ở Hổ Cáp trong nhà thứ 11, cùng góc đối vị của Sao Thổ với chính vị trí ấy {cộng thêm góc đối vị chính xác hiện tại của Sao Thổ quá cảnh với vị trí đó}, cho thấy một vấn đề cần xử lý trong lĩnh vực quan hệ.
41. Sacral center issues could be involved here. Also, it is possible that the ending of an important relationship probably a marriage has caused psychological problems. There is also the problem when attempting to serve of driving others away, about which the Tibetan commented in earlier letters DINA I .
41. Những vấn đề của trung tâm xương cùng có thể liên quan ở đây. Cũng có thể việc kết thúc một mối quan hệ quan trọng, có lẽ là hôn nhân, đã gây ra những vấn đề tâm lý. Còn có vấn đề đẩy người khác ra xa khi cố gắng phụng sự, điều mà Chân sư Tây Tạng đã bình luận trong những bức thư trước DINA I .
42. We note again how careful the Tibetan is in speaking obliquely about a disciple’s personal problems. He does not want the group mind dwelling on such difficulties which are really the disciple’s own affair . Group focus would exacerbate the problems.
42. Một lần nữa, chúng ta nhận thấy Chân sư Tây Tạng thận trọng thế nào khi nói gián tiếp về những vấn đề cá nhân của một đệ tử. Ngài không muốn thể trí nhóm cứ tập trung vào những khó khăn ấy, vốn thực sự là chuyện riêng của người đệ tử. Sự tập trung của nhóm sẽ làm các vấn đề trầm trọng thêm.
43. In offering instructions, the Tibetan seems to be bypassing the astral body. The alignment of soul-mind-brain is often discussed, and it is this alignment which He seems to be requesting of His chela. Soul alignment is assumed. The mental process is to be open to soul-guidance and, perhaps, intuitive revelation. A fourth ray mind rightly oriented is easily subject to such impression.
43. Khi đưa ra huấn thị, dường như Chân sư Tây Tạng đang bỏ qua thể cảm dục. Sự chỉnh hợp linh hồn–thể trí–bộ não thường được bàn đến, và dường như chính sự chỉnh hợp này là điều Ngài yêu cầu nơi đệ tử của Ngài. Sự chỉnh hợp với linh hồn được xem là đã có. Tiến trình trí tuệ cần mở ra với sự hướng dẫn của linh hồn và có lẽ cả sự mặc khải trực giác. Một thể trí cung bốn định hướng đúng đắn dễ tiếp nhận ấn tượng như thế.
44. Whereas guidance is summoned to the mind, that which is mentally realized is to be demonstrated or manifested upon the physical plane. IBS is to think in terms of 1 guidance arising through right thought and right mental-resolution and 2 manifestation calling in the natural connection between her first ray soul and third ray physical brain .
44. Trong khi sự hướng dẫn được triệu thỉnh đến thể trí, điều được nhận biết bằng trí tuệ cần được thể hiện hay biểu lộ trên cõi hồng trần. IBS cần suy nghĩ theo hướng 1 sự hướng dẫn nảy sinh qua tư tưởng đúng đắn và sự giải quyết đúng đắn bằng trí tuệ, và 2 sự biểu lộ, huy động mối liên kết tự nhiên giữa linh hồn cung một và bộ não hồng trần cung ba của bà.
None of your group brothers will understand to what particular condition I now make allusion. It is a problem which you must handle in isolation and when handled, it will open for you a perfect floodgate of relationships and opportunities. Your aim should therefore be the intensification of the illumination of the mind so that the searchlight of the mind can be turned upon the fogs and difficulties of the astral body.
Không một huynh đệ nào trong nhóm em sẽ hiểu Tôi đang ám chỉ tình trạng cụ thể nào. Đây là vấn đề em phải tự mình xử lý, và khi đã xử lý xong, nó sẽ mở toang cho em cửa ngõ đón nhận những mối quan hệ và cơ hội. Vì vậy, mục tiêu của em nên là tăng cường sự soi sáng của thể trí để có thể hướng ngọn đèn pha của thể trí vào những màn sương mù và khó khăn của thể cảm dục.
45. Perhaps we should not even speculate as to the nature of the difficulty. We could so easily be wrong. The matter is well veiled.
45. Có lẽ chúng ta thậm chí không nên suy đoán về bản chất của khó khăn ấy. Chúng ta rất dễ sai. Vấn đề này được che kín rất kỹ.
46. The goal of the correct handling of the problem is to open IBS’ life to relationships of the right kind many of them and to unspecified opportunities presumably of a spiritual sort .
46. Mục tiêu của việc xử lý đúng đắn vấn đề là mở cuộc đời IBS ra với nhiều mối quan hệ thuộc loại đúng đắn, cùng những cơ hội chưa được xác định, có lẽ thuộc phương diện tinh thần.
47. We note with care that the progressing Moon is in the sign Libra sign of relationships and that Saturn the planet of opportunity has already returned to the vicinity of its own position, creating what is called the “Second Saturn Return”.
47. Chúng ta cẩn thận lưu ý rằng Mặt Trăng tiến trình đang ở dấu hiệu Thiên Bình, dấu hiệu của các mối quan hệ, và Sao Thổ, hành tinh của cơ hội, đã trở lại vùng lân cận vị trí của chính nó, tạo nên điều được gọi là “Lần hồi quy Sao Thổ thứ hai”.
48. We understand that IBS must learn to moderate her intensity and activity with respect to those whom she would draw to her for service.
48. Chúng ta hiểu rằng IBS phải học cách điều hòa cường độ và hoạt động của bà đối với những người bà muốn thu hút đến với mình để phụng sự.
49. The problem is to be handled in isolation; correct solution of the problem will end isolation of the wrong kind .
49. Vấn đề phải được xử lý một mình; giải pháp đúng đắn cho vấn đề sẽ chấm dứt sự cô lập không đúng đắn.
50. The TOB we are using shows IBS’ Ascendant progressing into Pisces, in which sign many long standing difficulties are resolved. This Ascendant-ingress is the harbinger of a new opportunity. Jupiter, a planet principally on the second ray, becomes still more reinforced as a ruler for its rules Pisces exoterically . It already has power because it is the exoteric ruler of her Sagittarian Ascendant.
50. Giờ sinh chúng ta đang dùng cho thấy Điểm mọc của IBS đang tiến trình vào Song Ngư, dấu hiệu trong đó nhiều khó khăn tồn tại lâu dài được giải quyết. Sự nhập cung này của Điểm mọc báo trước một cơ hội mới. Sao Mộc, một hành tinh chủ yếu thuộc cung hai, càng được củng cố trong vai trò chủ tinh vì nó cai quản Song Ngư về mặt ngoại môn. Nó vốn đã có quyền lực vì là chủ tinh ngoại môn của Điểm mọc Nhân Mã của bà.
51. Jupiter, with its implied abundance, is additionally strengthened in this period because IBS is experiencing a “Jupiter return” with transiting Jupiter returning to its natal position in Taurus.
51. Sao Mộc, với ý nghĩa hàm chứa về sự dồi dào, còn được tăng cường trong giai đoạn này vì IBS đang trải qua một kỳ “Sao Mộc hồi vị”, khi Sao Mộc quá cảnh trở về vị trí bản mệnh của nó trong Kim Ngưu.
52. We note the “water” imagery in the word “floodgate”. DK chooses His words with care and they often contain hints for the one who is sufficiently aware.
52. Chúng ta lưu ý hình ảnh “nước” trong từ “cửa xả lũ”. Chân sư DK lựa chọn từ ngữ cẩn thận, và những từ ấy thường chứa những gợi ý dành cho người có đủ khả năng nhận biết.
53. DK sums up the process succinctly: IBS is to increase the illumination of her mind, so that “the search light of the mind” can contribute to the ending of the glamorous fogs and difficulties of the astral body. For those ensnared in astral conditions, the use of the searchlight of the mind is indispensable.
53. Chân sư DK tóm lược tiến trình một cách súc tích: IBS phải gia tăng sự soi sáng của thể trí, để “đèn pha của thể trí” có thể góp phần chấm dứt những màn sương ảo cảm và những khó khăn của thể cảm dục. Đối với những người mắc kẹt trong các tình trạng cảm dục, việc sử dụng đèn pha của thể trí là điều không thể thiếu.
Of one thing we who are watching the disciples of the [546] world today are convinced, and that is that you are a sincere and intelligent devotee; intelligence and devotion go hand in hand in the accepted disciple, balancing each other and then producing a definite focus of power.
Chúng Tôi, những người đang dõi theo các đệ tử trên [546] thế giới ngày nay, tin chắc một điều: em là một người sùng tín chân thành và thông minh; trí thông minh và lòng sùng tín song hành nơi người đệ tử được chấp nhận, cân bằng lẫn nhau rồi tạo ra một điểm tập trung quyền năng rõ rệt.
The sincerity of Sagittarius and the sixth ray; the intelligence of Gemini.
Sự chân thành của Nhân Mã và cung sáu; trí thông minh của Song Tử.
54. IBS is an “accepted disciple”, as are all the others in the New Seed Group of twenty-four.
54. IBS là một “đệ tử được chấp nhận”, cũng như tất cả những người khác trong Nhóm Hạt Giống Mới gồm hai mươi bốn người.
55. Master DK suggests that more than one Master is aware of IBS, for He uses the word “we” when mentioning the watching of disciples. Initiates within the inner Ashram are also watchers as is described in the section on the stage of discipleship called “Chela in the Light” .
55. Chân sư DK gợi ý rằng có nhiều hơn một Chân sư biết đến IBS, vì Ngài dùng từ “chúng Tôi” khi nhắc đến việc dõi theo các đệ tử. Các điểm đạo đồ trong ashram bên trong cũng là những người dõi theo, như được mô tả trong phần nói về giai đoạn của địa vị đệ tử mang tên “Đệ tử trong Ánh sáng”.
56. Those upon the sixth ray will often be devotees and idealists. The important thing is that they be intelligent devotees and idealists. There is in IBS’ astrological chart, we note, a strong emphasis upon signs of intelligence—Gemini and Taurus.
56. Những người thuộc cung sáu thường là những người sùng tín và duy tâm. Điều quan trọng là họ phải là những người sùng tín và duy tâm thông minh. Chúng ta lưu ý rằng trong lá số chiêm tinh của IBS, các dấu hiệu biểu thị trí thông minh—Song Tử và Kim Ngưu—được nhấn mạnh rõ rệt.
57. Something of real importance is said about the stage of Accepted Discipleship. In the accepted disciple “intelligence and devotion go hand in hand”. A disciple must not imagine that because he is now a disciple or even an “accepted disciple”, devotion will disappear as something of less worth than mental activity. This is a mistake frequently made, and it leads to stilted and artificial behavior on the part of disciples.
57. Một điều thực sự quan trọng được nói đến về giai đoạn Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận. Nơi người đệ tử được chấp nhận, “trí thông minh và lòng sùng tín luôn song hành”. Một đệ tử không được tưởng rằng vì giờ đây mình là đệ tử, hay thậm chí là một “đệ tử được chấp nhận”, nên lòng sùng tín sẽ biến mất như một điều kém giá trị hơn hoạt động trí tuệ. Đây là một sai lầm thường gặp, dẫn đến cách hành xử gượng gạo và thiếu tự nhiên ở các đệ tử.
58. An important key to disciplic power is given: devotion and intelligence together, produce it. Needless to say, an accepted disciple is highly motivated; this motivation certainly involves the right orientation of the astral body.
58. Một chìa khóa quan trọng dẫn đến quyền năng của người đệ tử được trao ra: lòng sùng tín và trí thông minh cùng nhau tạo nên quyền năng ấy. Không cần nói cũng biết rằng một đệ tử được chấp nhận có động lực rất mạnh; động lực này chắc chắn bao hàm sự định hướng đúng đắn của thể cảm dục.
For all of you this is an incarnation wherein the life focus becomes either irrevocably oriented toward the soul, as must be the case with newly accepted disciples, or powerfully expanded and inclusive as in the case of older disciples. In your case, the achievement of a definite focus is now essential.
Đối với tất cả các bạn, đây là một kiếp lâm phàm trong đó trọng tâm đời sống hoặc hướng về linh hồn một cách không thể đảo ngược, như phải có nơi những đệ tử mới được chấp nhận, hoặc mở rộng mạnh mẽ và trở nên bao gồm, như nơi những đệ tử lâu năm. Trong trường hợp của em, việc đạt được một điểm tập trung rõ rệt hiện nay là điều thiết yếu.
The sign of the one-pointed disciple, Sagittarius, is rising and conditions the entire life.
Dấu hiệu của người đệ tử nhất tâm, Nhân Mã, đang mọc và tác động lên toàn bộ cuộc đời.
59. DK is telling His chela that she is a “newly accepted disciple”. This was, presumably, also the case for quite a number of those in the Group of Twenty-Four, for the majority of them, it seems, had not achieved the second initiation.
59. Chân sư DK đang nói với đệ tử của Ngài rằng bà là một “đệ tử mới được chấp nhận”. Có lẽ điều này cũng đúng với khá nhiều người trong Nhóm Hai Mươi Bốn, vì dường như đa số họ chưa đạt lần điểm đạo thứ hai.
60. Irrevocable orientation has much relation to Mars the major planet of aspiration . A “powerfully expanded and inclusive” life focus is related to Jupiter. In this case “older disciples” are presumably those who have passed the second initiation and are ‘broadening out’ towards the third. After the third initiation, the disciple is no longer technically an “accepted disciple” but an initiate.
60. Sự định hướng không thể đảo ngược có liên hệ mật thiết với Sao Hỏa, hành tinh chủ yếu của khát vọng. Một trọng tâm đời sống “mở rộng mạnh mẽ và mang tính bao gồm” có liên hệ với Sao Mộc. Trong trường hợp này, “những đệ tử lâu năm” có lẽ là những người đã vượt qua lần điểm đạo thứ hai và đang “mở rộng” hướng đến lần thứ ba. Sau lần điểm đạo thứ ba, xét theo thuật ngữ chuyên môn, người đệ tử không còn là một “đệ tử được chấp nhận” mà là một điểm đạo đồ.
61. An irrevocable orientation towards the soul is powerfully assisted by IBS’ Sagittarian Ascendant and the conjunction between militant, devotional Mars and Vesta, the asteroid of commitment—both in fiery Aries.
61. Điểm mọc Nhân Mã của IBS cùng góc đồng vị giữa Sao Hỏa hiếu chiến, sùng tín và Vesta, tiểu hành tinh của sự cam kết—cả hai đều ở Bạch Dương hành hỏa—hỗ trợ mạnh mẽ cho sự định hướng không thể đảo ngược về phía linh hồn.
In the manifestation of souls in time and space, there come lives wherein—at times—a soul problem as the personality embraces it becomes a dominant theme and the whole incarnation with definite points of intensive crisis is given to the understanding of the problem and its solution. In the orientation of your life towards the soul, the keynote of renunciation is wisely clear but you need to see to it that even renunciation is not over-emphasised
Trong sự biểu hiện của các linh hồn qua thời gian và không gian, đôi khi có những kiếp sống trong đó một vấn đề của linh hồn (theo cách phàm ngã tiếp nhận nó) trở thành chủ đề chủ đạo, và toàn bộ kiếp lâm phàm (với những thời điểm khủng hoảng mãnh liệt rõ rệt) được dành cho việc thấu hiểu và giải quyết vấn đề ấy. Trong sự định hướng đời sống em về linh hồn, chủ âm của sự từ bỏ nổi bật một cách sáng suốt, nhưng em cần bảo đảm rằng ngay cả sự từ bỏ cũng không bị nhấn mạnh quá mức,
as the sixth ray would do
như cung sáu thường làm
and that its conditioning power is not applied to that for which there is no call, because such renunciation would constitute an error.
và sức mạnh định hình của nó không được áp dụng vào những gì không cần đến nó, vì sự từ bỏ như thế sẽ là một sai lầm.
She is in a period of renunciation because of the Saturn Return. Also, the progressed Ascendant is either very close to Pisces or has entered Pisces. Renunciation is a Piscean theme.
Bà đang ở trong một giai đoạn từ bỏ do kỳ Sao Thổ hồi vị. Ngoài ra, Điểm mọc tiến trình hoặc ở rất gần Song Ngư, hoặc đã đi vào Song Ngư. Sự từ bỏ là một chủ đề của Song Ngư.
62. The Tibetan’s use of words is ‘masterful’. Souls are to manifest in time and space. They also express on their own level—the higher mental plane.
62. Cách dùng từ của Chân sư Tây Tạng thật “bậc thầy”. Các linh hồn phải biểu hiện trong thời gian và không gian. Các linh hồn cũng biểu lộ trên cấp độ riêng của mình—cõi thượng trí.
63. What is a “soul problem”? It is not a strictly personal problem at all. A soul problem deals with the necessity of bringing soul quality and capacity into manifestation in time and space and on the physical plane. The one overarching soul problem is how to express its quality and capacity through the lunar worlds.
63. “Vấn đề của linh hồn” là gì? Đó hoàn toàn không phải là một vấn đề thuần túy cá nhân. Một vấn đề của linh hồn liên quan đến sự cần thiết phải đưa phẩm tính và năng lực linh hồn vào biểu hiện trong thời gian và không gian, và trên cõi hồng trần. Vấn đề bao trùm duy nhất của linh hồn là làm thế nào để biểu lộ phẩm tính và năng lực của mình qua các cõi thái âm.
64. The personality may not be aware of such a soul problem. The personality has its own problems and is, for a great majority of its incarnational career, focussed on such problems.
64. Phàm ngã có thể không nhận biết một vấn đề như thế của linh hồn. Phàm ngã có những vấn đề riêng của nó và trong phần lớn hành trình qua các kiếp lâm phàm, nó tập trung vào những vấn đề ấy.
65. But there comes a time when the personality now rightly oriented will embrace the principal soul problems of expression as its own. This marks a definite stage of cooperation between the personality and the soul.
65. Nhưng sẽ đến lúc phàm ngã, nay đã định hướng đúng đắn, đón nhận những vấn đề chủ yếu về sự biểu lộ của linh hồn như những vấn đề của chính mình. Điều này đánh dấu một giai đoạn hợp tác rõ rệt giữa phàm ngã và linh hồn.
66. The dominant theme of the whole life then becomes the manifestation of the soul. When such a theme persists throughout the life of the personality, there will be “definite points of intensive crisis”. We can presume from what DK is saying that IBS is in just such a crisis. The recent fate of the Groups of Nine can only have intensified the crisis.
66. Khi ấy, chủ đề chi phối toàn bộ cuộc đời trở thành sự biểu hiện của linh hồn. Khi một chủ đề như vậy tồn tại suốt cuộc đời của phàm ngã, sẽ có “những thời điểm khủng hoảng mãnh liệt rõ rệt”. Từ những điều Chân sư DK đang nói, chúng ta có thể cho rằng IBS đang ở trong chính một cuộc khủng hoảng như thế. Số phận gần đây của các Nhóm Chín Người hẳn chỉ khiến cuộc khủng hoảng thêm mãnh liệt.
67. Two orders of life are therefore contending. The disciple’s problem is to see that the greater order prevails. Of course, the Solar Angel will help in its own way.
67. Vì vậy, hai trật tự đời sống đang tranh chấp nhau. Vấn đề của người đệ tử là bảo đảm cho trật tự cao hơn thắng thế. Dĩ nhiên, Thái dương Thiên Thần sẽ trợ giúp theo cách riêng của Ngài.
68. With IBS, Master DK has ever the problem of a disciple who runs to extremes. The sixth ray types are so eager to reach the goal that they overemphasize every incipient correct orientation, transforming it through overemphasis into an imbalance.
68. Với IBS, Chân sư DK luôn phải đối diện với vấn đề của một đệ tử có khuynh hướng đi đến cực đoan. Những người thuộc cung sáu quá nôn nóng đạt mục tiêu đến mức họ nhấn mạnh quá mức mọi sự định hướng đúng đắn vừa chớm nở, qua đó chuyển đổi nó thành một tình trạng mất cân bằng.
69. For instance, having caught the notion of the value of renunciation, IBS is ready to take it too far, and to apply it to areas where it is not called for. With the sixth ray there is frequently a lack of discretion. Our vices are but exaggerations of our virtues and this is particularly the case for those with a powerful sixth ray.
69. Chẳng hạn, vừa nắm bắt ý niệm về giá trị của sự từ bỏ, IBS đã sẵn sàng đẩy nó đi quá xa và áp dụng nó vào những lĩnh vực không cần đến nó. Với cung sáu, thường có sự thiếu cân nhắc sáng suốt. Những thói xấu của chúng ta chỉ là sự thái quá của các đức tính, và điều này đặc biệt đúng với những người có cung sáu mạnh mẽ.
70. It is natural at the second Saturn Return that a strong tendency towards renunciation should appear. In the case of this disciple, however, DK has constantly to advise the “Noble Middle Path”.
70. Việc xuất hiện một khuynh hướng từ bỏ mạnh mẽ vào kỳ Sao Thổ hồi vị thứ hai là điều tự nhiên. Tuy nhiên, trong trường hợp người đệ tử này, Chân sư DK phải liên tục khuyên bà đi theo “Trung Đạo Cao Quý”.
It is clear from the visualization exercise below that the time has come for an intensification of the light. There are three signs of illumination powerful in IBS’ natal chart—Taurus, Gemini and Leo, and the constellations associated with them all are found in a very lighted area of the heavens.
Bài tập hình dung dưới đây cho thấy rõ rằng đã đến lúc tăng cường ánh sáng. Có ba dấu hiệu soi sáng mạnh mẽ trong lá số bản mệnh của IBS—Kim Ngưu, Song Tử và Sư Tử—và các chòm sao gắn với cả ba dấu hiệu ấy đều nằm trong một vùng rất sáng trên bầu trời.
At this time in IBS’ life, the influence of Taurus, the “Mother of Illumination” is strongly stimulated by the triple transit of Jupiter, Saturn and Uranus. Gemini confers a dual light, of soul and form, and this dual light is emphasized by the progression of the Sun in Leo over the natal Moon in Leo. The opportunity is present for the cultivation of greater light.
Vào thời điểm này trong cuộc đời IBS, ảnh hưởng của Kim Ngưu, “Mẹ của Sự Soi Sáng”, được kích thích mạnh mẽ bởi sự quá cảnh đồng thời của Sao Mộc, Sao Thổ và Sao Thiên Vương. Song Tử ban ánh sáng kép, của linh hồn và hình tướng; ánh sáng kép này được nhấn mạnh qua việc Mặt Trời tiến trình trong Sư Tử đi qua Mặt Trăng bản mệnh trong Sư Tử. Cơ hội vun bồi ánh sáng lớn lao hơn đang hiện diện.
I am giving you, therefore, a personal meditation. I too must have this in mind, reminding you that renunciation itself can be a glamour and a sixth ray idealist is prone to over-express.
Vì vậy, Tôi trao cho em một bài thiền riêng. Tôi cũng phải lưu tâm đến điều này, đồng thời nhắc em rằng chính sự từ bỏ cũng có thể là một ảo cảm, và một người lý tưởng chủ nghĩa cung sáu dễ biểu lộ quá mức.
Any over-expression tends to emphasize the one who expresses, thus withdrawing the consciousness from the soul and focusing it upon the little self.
Mọi sự biểu lộ quá mức đều có khuynh hướng nhấn mạnh người biểu lộ, qua đó rút tâm thức khỏi linh hồn và tập trung nó vào tiểu ngã.
I shall not give you what you would call a real meditation. That which will aid you the most at this time is a visualisation exercise on Light.
Tôi sẽ không trao cho em điều mà em gọi là một bài thiền thực sự. Điều giúp em nhiều nhất lúc này là một bài tập hình dung về Ánh sáng.
71. If the tendency to renunciation ran to extremes, the chela would again be emphasizing the personality which is hardly a renunciation . This is especially so in this case, as the sixth ray is found qualifying the personality and one of its vehicles.
71. Nếu khuynh hướng từ bỏ đi đến cực đoan, người đệ tử lại sẽ nhấn mạnh phàm ngã, điều khó có thể gọi là từ bỏ. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp này, vì cung sáu đang phú phẩm tính cho phàm ngã và một trong các hiện thể của nó.
72. When DK assigns a meditation, He must very much bear in mind His chela’s present state and orientation.
72. Khi Chân sư DK giao một bài thiền, Ngài phải hết sức lưu tâm đến trạng thái và sự định hướng hiện tại của đệ tử Ngài.
73. We note that DK seems to be calling His disciple a “sixth ray idealist”. It is, therefore, possible to identify the nature of a disciple by the quality of his or her personality ray, and not only by the soul ray. If anything, in the life of IBS, the sixth ray seems rather more prominent that the first—or at least more troublesome.
73. Chúng ta lưu ý rằng dường như Chân sư DK đang gọi đệ tử của Ngài là một “người duy tâm cung sáu”. Vì vậy, có thể xác định bản chất của một đệ tử qua phẩm tính của cung phàm ngã, chứ không chỉ qua cung linh hồn. Nếu xét mức độ nổi bật, trong cuộc đời IBS, cung sáu dường như nổi bật hơn cung một—hoặc ít nhất cũng gây nhiều phiền toái hơn.
1. Sit quietly and relax. Deal not with problems but during the period of this exercise endeavour simply to be a point of focussed vision, with the eye of the mind directed towards the soul.
1. Hãy ngồi yên và thư giãn. Đừng xử lý các vấn đề, mà trong thời gian thực hành bài tập này, chỉ cố gắng trở thành một điểm tập trung tầm nhìn, với con mắt của thể trí hướng về linh hồn.
The right use of the energy of Sagittarius makes it possible for one to become a “point of focussed vision”.
Việc sử dụng đúng đắn năng lượng Nhân Mã giúp một người có thể trở thành một “điểm linh thị tập trung”.
74. The Tibetan seeks to reduce IBS’ accustomed intensity.
74. Chân sư Tây Tạng tìm cách giảm bớt sự mãnh liệt vốn có của IBS.
75. He would have her identify as consciousness i.e., as a point of focussed vision, rather than as a personality . By emphasizing “vision” and the “eye” and the “mind” He is steering her away from any aspirational focus involving as it necessarily would, her intense astral body .
75. Ngài muốn bà đồng hoá mình với tâm thức, tức là với một điểm linh thị tập trung, thay vì với phàm ngã. Bằng cách nhấn mạnh “linh thị”, “con mắt” và “thể trí”, Ngài đang hướng bà rời khỏi mọi sự tập trung vào khát vọng, vốn tất yếu sẽ huy động thể cảm dục mãnh liệt của bà.
2. When your focus seems adequate then see by the power of the creative imagination a distant peak or pyramid and on its summit there shines a clear pure light of great intensity.
2. Khi cảm thấy mình đã tập trung đủ, hãy thấy (bằng quyền năng của sự tưởng tượng sáng tạo) một đỉnh núi hay kim tự tháp ở đằng xa, trên đỉnh ấy tỏa chiếu một ánh sáng trong trẻo, tinh khiết, có cường độ rất mạnh.
This is the light of initiation which is found upon the mountain {Capricorn} which Sagittarius envisions.
Đây là ánh sáng điểm đạo trên ngọn núi {Ma Kết} mà Nhân Mã hình dung.
76. The pyramid resonating as it does to the number five is a symbol for the mind, and in another way, for the soul. There is nothing of an emotional or aspirational nature suggested by this symbol.
76. Kim tự tháp, với sự cộng hưởng cùng con số năm, là một biểu tượng của thể trí và, theo một cách khác, của linh hồn. Biểu tượng này không gợi lên điều gì mang bản chất cảm xúc hay khát vọng.
77. The pyramid is equivalent to the “Mountain of Initiation”, and, indeed, speaks in the same breath of a “peak”.
77. Kim tự tháp tương đương với “Núi Điểm Đạo”, và quả thực, ngay trong cùng lời chỉ dẫn cũng có nhắc đến một “đỉnh núi”.
78. The pyramid is also a symbol for the ‘Temple of Initiation’. We note that the pyramid is “distant”, telling us something, perhaps, of the rather distant eventuality of initiation for IBS. The pyramid is far more readily associated with the third initiation than with the second.
78. Kim tự tháp cũng là biểu tượng của “Đền Điểm Đạo”. Chúng ta lưu ý rằng kim tự tháp ở “xa xăm”, có lẽ cho chúng ta biết đôi điều về khả năng điểm đạo còn khá xa trong tương lai đối với IBS. Kim tự tháp dễ được liên hệ với lần điểm đạo thứ ba hơn nhiều so với lần thứ hai.
79. The “clear pure light” reminds of the “clear cold light” which is encountered especially at the third initiation, when the buddhic plane begins to flood the mind—not alone the astral nature.
79. “Ánh sáng trong trẻo, tinh khiết” gợi nhớ đến “ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo” mà người ta đặc biệt gặp ở lần điểm đạo thứ ba, khi cõi Bồ đề bắt đầu tràn ngập thể trí—chứ không chỉ riêng bản chất cảm dục.
80. In relation to this vivid symbol, we think of Venus in relation to the Mountain of Initiation, realizing that Venus is the hierarchical ruler of Capricorn a sign associated with the mountain—the upper part of the Capricornian diamond.
80. Liên quan đến biểu tượng sống động này, chúng ta nghĩ đến Sao Kim trong mối liên hệ với Núi Điểm Đạo, nhận biết rằng Sao Kim là chủ tinh huyền giai của Ma Kết, một dấu hiệu gắn với ngọn núi—phần trên của viên kim cương Ma Kết.
81. We see the direction of the meditation is leading to a soul-mind focus.
81. Chúng ta thấy bài thiền đang dẫn đến một tiêu điểm linh hồn–thể trí.
3. With that light you seek to identify yourself, to merge within and thus to avail yourself of its illumination in order that in it the lesser light may shine. You say, after some minutes of careful identification:
3. Em tìm cách đồng hóa với ánh sáng ấy, hòa nhập vào trong đó, và nhờ thế tận dụng sự soi sáng của nó để ánh sáng nhỏ hơn có thể tỏa chiếu trong đó. Sau vài phút chuyên chú đồng hóa, em nói:
82. The personality considered as both a mind and an eye, is about to lose itself in the greater light.
82. Phàm ngã, được xem vừa là thể trí vừa là con mắt, sắp tan mình trong ánh sáng lớn hơn.
83. There are two lights—the greater and the lesser, reminding us of the relationships set forth in the Rules for White Magic TWM 72
83. Có hai ánh sáng—lớn hơn và nhỏ hơn—gợi nhắc chúng ta về những mối quan hệ được trình bày trong các Quy Luật về Chánh Thuật TWM 72
84. The “lesser light” is the personality. In the state of soul infusion, the lesser light shines within the greater light, or the greater light shines through the lesser light.
84. “Ánh sáng nhỏ hơn” là phàm ngã. Trong trạng thái được linh hồn thấm nhuần, ánh sáng nhỏ hơn tỏa chiếu bên trong ánh sáng lớn hơn, hoặc ánh sáng lớn hơn tỏa chiếu qua ánh sáng nhỏ hơn.
85. We note that the act of “identification” is to be pursued with care. How does one do this? Perhaps by not allowing the eye of the mind to see two, not allowing that ‘eye’ to see duality.
85. Chúng ta lưu ý rằng hành động “đồng hoá” phải được thực hiện một cách cẩn trọng. Làm điều này như thế nào? Có lẽ bằng cách không cho con mắt của thể trí nhìn thấy hai, không cho “con mắt” ấy nhìn thấy nhị nguyên.
[547]
[547]
"Dim light am I and yet the pure light shines. Not distant is that light but daily, hourly drawing nearer.
“Tôi là ánh sáng mờ nhạt, nhưng ánh sáng tinh khiết vẫn tỏa chiếu. Ánh sáng ấy không xa xôi, mà ngày ngày, giờ giờ đang đến gần hơn.
The Geminian theme of two lights, a greater and a lesser, emerges.
Chủ đề Song Tử về hai ánh sáng, một lớn hơn và một nhỏ hơn, xuất hiện.
86. The personality is “dim light”. The words of the mantric sentence suggest that the disciple is still identified with the personality.
86. Phàm ngã là “ánh sáng mờ nhạt”. Những từ ngữ trong câu mantram cho thấy người đệ tử vẫn đang đồng hoá mình với phàm ngã.
87. The personality is increasingly aware of the “pure light” atop the pyramid of initiation.
87. Phàm ngã ngày càng nhận biết rõ “ánh sáng tinh khiết” trên đỉnh kim tự tháp điểm đạo.
88. A change has occurred in the distance of the pyramid or peak from the observing disciple. It is now “not distant”, and the light atop the pyramid or peak is drawing daily ever closer. Thus is a merging process conceived; thus is the growing possibility for soul infusion pictured to the imagination.
88. Một sự thay đổi đã xảy ra về khoảng cách từ kim tự tháp hay đỉnh núi đến người đệ tử đang quan sát. Giờ đây nó “không xa xăm”, và ánh sáng trên đỉnh kim tự tháp hay đỉnh núi đang mỗi ngày một đến gần hơn. Như vậy, một tiến trình hòa nhập được hình thành trong tư tưởng; như vậy, khả năng ngày càng tăng về việc được linh hồn thấm nhuần được khắc họa trong sự tưởng tượng.
The light that is my little self must disappear within the greater Light.
Ánh sáng là tiểu ngã của tôi phải tan biến trong Ánh sáng lớn hơn.
So with that Light, that all-pervading, all-consuming Light, I blend and merge.
Vì vậy, tôi hòa quyện và hợp nhất với Ánh sáng ấy, Ánh sáng thấm khắp và thiêu rụi tất cả.
89. Two lights must become as one. The greater Light persists, the lesser light seems to disappear.
89. Hai ánh sáng phải trở thành một. Ánh Sáng lớn hơn tồn tại, ánh sáng nhỏ hơn dường như biến mất.
90. The “all-pervading, all-consuming Light” is clearly the “Greatest Light” towards which the second ray antahkaranic Word of Power leads: “I see the Greatest Light”.
90. “Ánh Sáng thấm khắp tất cả, thiêu rụi tất cả” rõ ràng là “Ánh Sáng Vĩ Đại Nhất” mà Quyền năng từ antahkarana của cung hai dẫn đến: “Tôi thấy Ánh Sáng Vĩ Đại Nhất”.
91. We must remember that when a disciple takes the third degree, he is coming in conscious contact with his monad for the first time. May we say that it is a visual contact relating to the second aspect of divinity which is so predominantly pronounced at the third degree?
91. Chúng ta phải nhớ rằng khi một đệ tử đạt cấp điểm đạo thứ ba, y lần đầu tiên tiếp xúc có ý thức với chân thần của mình. Liệu chúng ta có thể nói rằng đó là một sự tiếp xúc qua thị giác, liên quan đến phương diện thứ hai của thiên tính vốn biểu hiện vô cùng nổi bật ở cấp điểm đạo thứ ba?
92. It may be well to remember at this point that DK’s disciples on the first ray may be presumed to have second ray monads. The light of the second ray monad is related to the “Greatest Light”.
92. Ở đây, có lẽ nên nhớ rằng chúng ta có thể cho rằng các đệ tử cung một của Chân sư DK có chân thần cung hai. Ánh sáng của chân thần cung hai có liên hệ với “Ánh Sáng Vĩ Đại Nhất”.
93. A question of real import for all advanced disciples would be: “How will the monad be experienced at the third degree?”
93. Một câu hỏi thực sự quan trọng đối với mọi đệ tử tiến hóa cao sẽ là: “Ở cấp điểm đạo thứ ba, chân thần sẽ được trải nghiệm như thế nào?”
94. The personality acts ‘identificatorily’. It is to blend and merge by an act of will with the Greater Light.
94. Phàm ngã hành động bằng sự “đồng hoá”. Qua một hành động của ý chí, nó phải hòa quyện và hòa nhập với Ánh Sáng Lớn Hơn.
95. We must go too far however; in this case the “greater Light” must be considered the light of the soul. The “greater Light” is not the “Greatest Light”, but “in that light we shall see Light”. The light of the soul will reveal the Light of the Monad.
95. Tuy nhiên, chúng ta phải đi xa hơn nữa; trong trường hợp này, “Ánh Sáng lớn hơn” phải được xem là ánh sáng của linh hồn. “Ánh Sáng lớn hơn” không phải là “Ánh Sáng Vĩ Đại Nhất”, nhưng “trong ánh sáng ấy chúng ta sẽ thấy Ánh Sáng”. Ánh sáng của linh hồn sẽ mặc khải Ánh Sáng của Chân Thần.
I can no longer see the two—the greater Self, the little self, the pilgrim and the way, for only one is seen—the greater lighted Whole."
Tôi không còn thấy hai nữa—Chân ngã cao cả hơn và tiểu ngã, người hành hương và con đường—vì chỉ còn thấy một: Toàn Thể cao cả hơn, ngập tràn ánh sáng.”
Such a realization accords with the large, global realizations of being and synthesis which are keynotes of IBS’s life.
Một sự chứng nghiệm như vậy phù hợp với những sự chứng nghiệm rộng lớn, toàn diện về bản thể và sự tổng hợp, vốn là những chủ âm của cuộc đời IBS.
96. A synthetic vision emerges. Three factors are referenced in the line above: 1 the “greater self”, 2 “the little self” who is the pilgrim, and also the Way itself. These three ‘merge as one’.
96. Một linh thị tổng hợp xuất hiện. Ba yếu tố được nhắc đến trong câu trên: 1 “bản ngã lớn hơn”, 2 “tiểu ngã” là người hành hương, và cả chính Đường Đạo. Ba yếu tố này “hòa nhập thành một”.
97. It seems that Master DK is leading IBS through a merging with soul light towards a realization characteristic of monadic awareness on the second ray.
97. Dường như Chân sư DK đang dẫn IBS đi qua sự hòa nhập với ánh sáng linh hồn để hướng đến một sự chứng nghiệm đặc trưng của sự nhận biết chân thần trên cung hai.
4. Picture the fusion of the light of the personality and the light of the Soul and see that light focussed in the personality upon the astral plane.
4. Hãy hình dung sự dung hợp giữa ánh sáng của phàm ngã và ánh sáng của Linh hồn, rồi thấy ánh sáng ấy tập trung trong phàm ngã trên cõi cảm dục.
The energy of illumination through Taurus is useful in de-glamorizing the astral plane.
Năng lượng soi sáng qua Kim Ngưu hữu ích trong việc làm tiêu tan ảo cảm trên cõi cảm dục.
98. Now the meditation becomes practical in relation to the emotional problems, glamors and blockages which IBS experiences.
98. Giờ đây, bài thiền trở nên thiết thực đối với những vấn đề cảm xúc, ảo cảm và trở ngại mà IBS trải qua.
99. The problem is on the astral plane and the resources of soul and mind must be used to understand and clarify those problems.
99. Vấn đề nằm trên cõi cảm dục, và phải vận dụng các nguồn lực của linh hồn và thể trí để thấu hiểu và làm sáng tỏ những vấn đề ấy.
5. Then produce stabilisation of the light appropriated by the sounding of the OM.
5. Sau đó, hãy ổn định ánh sáng đã tiếp nhận bằng cách xướng linh từ OM.
100. An important hint concerning one of the practical uses of the OM is here given. It produces “stabilization”. If we seek to anchor the light in any vehicle, we can use the OM to stabilize that anchorage.
100. Ở đây có một gợi ý quan trọng về một trong những công dụng thực tiễn của linh từ OM. Linh từ này tạo ra “sự ổn định”. Nếu tìm cách neo giữ ánh sáng trong bất kỳ hiện thể nào, chúng ta có thể dùng linh từ OM để ổn định sự neo giữ ấy.
Seek not to use the light directly for the clarification of problems, teaching or ideas. That will take place automatically once the light is focussed; it must inevitably bring release and knowledge. Seek simply to visualise the process, knowing that "as a man thinketh so is he." Then forget about the acquiring of the light and endeavour to manifest that which exists as the result of your own effort. Light is within you. Seek not for immediate instantaneous solution of your problems. Look not, my brother, for results. Remember ever that as you continue faithfully with the indicated exercise, the results are sure or I would not waste your time or mine in giving you this work to do. Regularly and without anxiety do as you are told. The results will in due time manifest.
Đừng tìm cách trực tiếp dùng ánh sáng để làm sáng tỏ các vấn đề, giáo huấn hay ý tưởng. Điều đó sẽ tự động diễn ra một khi ánh sáng đã tập trung; tất yếu nó phải mang lại sự giải thoát và tri thức. Chỉ cần tìm cách hình dung tiến trình ấy, biết rằng “con người suy nghĩ thế nào thì trở thành thế ấy.” Rồi hãy quên việc thu nhận ánh sáng và cố gắng biểu lộ điều đang hiện hữu như kết quả của chính nỗ lực em. Ánh sáng ở bên trong em. Đừng tìm kiếm giải pháp tức thời cho các vấn đề của mình. Huynh đệ của tôi, đừng mong ngóng kết quả. Hãy luôn nhớ rằng khi em tiếp tục trung thành với bài tập đã chỉ dẫn, kết quả chắc chắn sẽ đến; nếu không, Tôi đã chẳng phí thời gian của em hay của Tôi để giao cho em công việc này. Hãy đều đặn làm theo lời chỉ dẫn, không lo âu. Đúng lúc, kết quả sẽ biểu lộ.
101. DK gives an important caution in order to prevent a premature descent-into0-action following the process of light appropriation. IBS is not to directly and immediately seek to manipulate the light. Once the light is rightly focussed, it will inevitably bring release and knowledge.
101. Chân sư DK đưa ra một lời cảnh báo quan trọng để ngăn việc vội vàng chuyển sang hành động sau tiến trình thu nhận ánh sáng. IBS không được tìm cách trực tiếp và tức thì điều khiển ánh sáng. Một khi ánh sáng đã tập trung đúng đắn, nó sẽ tất yếu mang lại sự giải thoát và tri thức.
102. The correct emphasis, therefore, is not to be upon the activity aspect, but upon the second aspect relating to vision and the eye .
102. Vì vậy, trọng tâm đúng đắn phải đặt vào phương diện thứ hai liên quan đến linh thị và con mắt, thay vì phương diện hoạt động.
103. IBS needs trust, and the ability to do as she is told. DK works this strong directive into the fabric of His instructions most artfully. We remember that IBS has had difficulty following instructions, or at least in not taking them farther than she should.
103. IBS cần lòng tin, và khả năng làm theo lời chỉ dẫn. Chân sư DK lồng chỉ thị mạnh mẽ này vào toàn bộ lời huấn thị của Ngài một cách vô cùng khéo léo. Chúng ta nhớ rằng IBS từng gặp khó khăn trong việc làm theo các chỉ dẫn, hoặc ít nhất là trong việc không đẩy chúng đi xa hơn mức cần thiết.
104. The Master counsels patience and trust in the process which He assures her will work if faithfully followed . IBS does not have the seventh ray in her present equipment, so DK emphasizes the need for regularity. He also seeks for her to keep the eager expectations of the sixth ray astral nature out of the process.
104. Chân sư khuyên bà kiên nhẫn và tin tưởng vào tiến trình mà Ngài bảo đảm sẽ có hiệu quả nếu trung thành tuân theo. IBS không có cung bảy trong hệ thống hiện thể hiện tại, vì vậy Chân sư DK nhấn mạnh sự cần thiết của tính đều đặn. Ngài cũng tìm cách giúp bà giữ những kỳ vọng nôn nóng của bản chất cảm dục cung sáu ở ngoài tiến trình này.
105. The exercise is a mixture of acquiescence to the higher Light and the efforts of the disciple, herself.
105. Bài tập là sự kết hợp giữa việc thuận theo Ánh Sáng cao hơn và nỗ lực của chính người đệ tử.
Relocated Solar Return for June 2, 1942: In the Solar Return chart for this period we note the importance of Scorpio and the eighth house, further accentuated by the elevation of Pluto {one of the ruling planets of Scorpio} conjuncting the MC. Chiron, the Master and Guide is also elevated, conjuncting the MC from the tenth house side. That which is dark is being brought to light. The emphasis on light is seen through Venus exactly conjuncting the Descendant and in the sign of illumination,
Lá số Mặt Trời hồi vị theo địa điểm mới cho ngày 2 tháng 6 năm 1942: Trong lá số Mặt Trời hồi vị của giai đoạn này, chúng ta lưu ý tầm quan trọng của Hổ Cáp và nhà tám, càng được nhấn mạnh bởi vị trí trên cao của Sao Diêm Vương {một trong những hành tinh cai quản Hổ Cáp}, đồng vị với Thiên Đỉnh. Chiron, vị Chân sư và Người Hướng Dẫn, cũng ở trên cao, đồng vị với Thiên Đỉnh từ phía nhà mười. Những gì tăm tối đang được đưa ra ánh sáng. Sự nhấn mạnh vào ánh sáng thể hiện qua Sao Kim đồng vị chính xác với Điểm lặn và nằm trong dấu hiệu soi sáng,
Taurus. The many powers of transformation evident in this Solar Return are opposed by a conservative Capricorn Moon conjuncting the fourth house cusp. This Moon position may signify that which resists transformation. The Moon is squared by Venus and opposed by Pluto and, loosely, by Chiron. The very early Scorpio Ascendant is also square to the Moon. The stellium in the eighth house is powerful for self-confrontation.
Kim Ngưu. Nhiều quyền năng chuyển đổi thể hiện rõ trong lá số Mặt Trời hồi vị này gặp sự đối kháng của Mặt Trăng Ma Kết bảo thủ, đồng vị với đỉnh nhà bốn. Vị trí Mặt Trăng này có thể biểu thị những gì chống lại sự chuyển đổi. Mặt Trăng tạo góc vuông với Sao Kim và đối vị với Sao Diêm Vương, cũng như với Chiron ở độ lệch rộng. Điểm mọc ở những độ đầu tiên của Hổ Cáp cũng tạo góc vuông với Mặt Trăng. Nhóm hành tinh tụ hội trong nhà tám tạo sức mạnh lớn cho việc đối diện với chính mình.
August 1942—Tháng 8 năm 1942 – Tháng 8 năm 1942—Tháng 8 năm 1942
Progressions, Directions and Transits for August 15, 1942
Các tiến trình, cung tiến và quá cảnh cho ngày 15 tháng 8 năm 1942
Main Chart Features for the progressed chart of this period: The Ascendant has progressed into the sign Pisces in August of 1940, given the speculative birth time 8:41:30 PM. D.K. asked IBS if she was ready to become a sannyasin, except for the company of her group brothers. Venus by progression has crossed the Descendant in June of 1942. Work upon the Geminian/Venusian antahkarana, may be undertaken with still greater success. Saturn by transit has entered the same degree as the natal Sun.
Những đặc điểm chính trong lá số tiến trình của giai đoạn này: Điểm mọc đã tiến vào dấu hiệu Song Ngư vào tháng 8 năm 1940, nếu lấy giờ sinh giả định là 8 giờ 41 phút 30 giây tối. Chân sư DK đã hỏi IBS liệu bà đã sẵn sàng trở thành một người từ bỏ đời sống thế tục, chỉ còn giữ sự đồng hành với các huynh đệ trong nhóm hay chưa. Sao Kim tiến trình đã đi qua Điểm lặn vào tháng 6 năm 1942. Công việc xây dựng antahkarana mang phẩm tính Song Tử/Sao Kim có thể được thực hiện với thành công còn lớn hơn nữa. Sao Thổ quá cảnh đã đi vào cùng độ với Mặt Trời bản mệnh.
IBS is being subjected to greater discipline of thought. The progressing Moon is in the last degree of Libra; the struggles of the Scorpio progressed Moon lie ahead. Reinforcing this is the position of transiting Pluto preparing to cross the natal Vertex and Moon, signifying an encounter with depth and ‘death’.
IBS đang chịu sự rèn luyện tư tưởng nghiêm ngặt hơn. Mặt Trăng tiến trình đang ở độ cuối cùng của Thiên Bình; những cuộc đấu tranh của Mặt Trăng tiến trình trong Hổ Cáp còn ở phía trước. Điều này được củng cố bởi vị trí của Sao Diêm Vương quá cảnh đang chuẩn bị đi qua Điểm Vertex và Mặt Trăng bản mệnh, biểu thị một cuộc chạm trán với chiều sâu và “cái chết”.
In the seed thoughts below, there is much focus upon time. Transiting Saturn, in Gemini, is conjuncting the natal Sun; Saturn is “Lord of Time”. As well, the Tibetan is attempting really to simulate the intuition of IBS. Progressing Venus in Gemini is now angular on the Descendant; these two, Venus and Gemini, when in relation, are vitally important in building the antahkarana.
Trong những tư tưởng hạt giống dưới đây, có sự tập trung mạnh vào thời gian. Sao Thổ quá cảnh trong Song Tử đang đồng vị với Mặt Trời bản mệnh; Sao Thổ là “Chúa Tể của Thời Gian”. Đồng thời, Chân sư Tây Tạng đang thực sự tìm cách mô phỏng trực giác của IBS. Sao Kim tiến trình trong Song Tử hiện nằm ở góc chính tại Điểm lặn; hai yếu tố này, Sao Kim và Song Tử, khi có liên hệ với nhau, có tầm quan trọng thiết yếu trong việc xây dựng antahkarana.
106. DK gave these seed thoughts to His disciples in the period which could be judged the darkest period of the Second World War. During this period the Hierarchy found it necessary to contemplate its withdrawal from humanity, which, so Hierarchy believed, would “go down to defeat”. EXH 493-494
106. Chân sư DK đã trao những tư tưởng hạt giống này cho các đệ tử của Ngài trong giai đoạn có thể xem là đen tối nhất của Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Trong giai đoạn này, Thánh đoàn thấy cần phải chiêm ngưỡng việc rút khỏi nhân loại; theo niềm tin của Thánh đoàn, nhân loại sẽ “đi đến thất bại”. EXH 493-494
107. For this reason, the six seed thoughts are of vital importance.
107. Vì lý do này, sáu tư tưởng hạt giống có tầm quan trọng sống còn.
1. As the hours of service pass around the clock of time look for the sounding of the hour. What hour is that?
1. Khi những giờ phụng sự trôi quanh mặt đồng hồ thời gian, hãy chờ nghe tiếng chuông báo giờ. Đó là giờ nào?
108. This is a deep question. We can think with reason that “the” hour is the hour when the soul may speak, or when the intuition may make its impact.
108. Đây là một câu hỏi sâu sắc. Chúng ta có lý do để nghĩ rằng “giờ ấy” là giờ linh hồn có thể lên tiếng, hoặc trực giác có thể tạo nên tác động của nó.
109. It is certainly not the usual hour. It is an hour of significance separated from the ordinary hours passed “around the clock of time”.
109. Đó chắc chắn không phải là giờ thông thường. Đó là một giờ mang thâm nghĩa, tách biệt với những giờ bình thường trôi “quanh mặt đồng hồ thời gian”.
110. Such a seed thought encourages one to be vigilant, and to abandon the maya with which the third ray and Gemini may so easily become preoccupied. Maya promotes inattentiveness.
110. Một tư tưởng hạt giống như vậy khuyến khích người ta tỉnh thức và từ bỏ ảo lực mà cung ba và Song Tử rất dễ bị cuốn vào. Ảo lực thúc đẩy sự thiếu chú tâm.
2. As the minutes tick away the passing hour, watch for the minute when My voice is heard. When will that be?
2. Khi từng phút tích tắc đánh dấu giờ đang trôi qua, hãy chú ý đến phút giọng nói của Tôi vang lên. Khi nào điều ấy sẽ xảy ra?
111. The Master becomes more specific. We hypothesized that “the hour” was the hour when the soul would or could speak.
111. Chân sư trở nên cụ thể hơn. Chúng ta đã giả định rằng “giờ ấy” là giờ linh hồn sẽ hoặc có thể lên tiếng.
112. Now we are to think in terms of “the minute” and not the hour. One may have an hour of deep meditation and soul communion, but the Master will not speak for an hour, but only with utmost brevity symbolized by the term “minute”.
112. Giờ đây, chúng ta phải nghĩ theo đơn vị “phút” thay vì giờ. Một người có thể có một giờ tham thiền sâu và giao cảm với linh hồn, nhưng Chân sư sẽ không nói suốt một giờ, mà chỉ hết sức ngắn gọn, như từ “phút” biểu thị.
113. The imagery of the second sentence is more precise and specific than that of the first. We get the sense that time is being increasingly subdivided.
113. Hình ảnh trong câu thứ hai chính xác và cụ thể hơn hình ảnh trong câu thứ nhất. Chúng ta có cảm giác rằng thời gian đang được chia nhỏ ngày càng nhiều.
114. We remember that an accepted disciple is directly under a Master’s supervision and that an accepted disciple is to learn to make contact with the Master.
114. Chúng ta nhớ rằng một đệ tử được chấp nhận trực tiếp ở dưới sự giám sát của một Chân sư, và người đệ tử được chấp nhận phải học cách tiếp xúc với Chân sư.
115. But when will that “minute” occur? Only in the extremity of service!, and one must be very alert to catch the “voice” and its word.
115. Nhưng “phút” ấy sẽ đến khi nào? Chỉ khi phụng sự đến mức tận cùng!, và người ta phải hết sức tỉnh thức để đón nhận “tiếng nói” cùng lời của nó.
116. The “Voice of the Soul” is general. The “Voice of the Master” is briefer and more specific.
116. “Tiếng Nói của Linh Hồn” mang tính khái quát. “Tiếng Nói của Chân Sư” ngắn gọn hơn và cụ thể hơn.
3. As the seconds note the passing of the minute hand upon the clock of time, expect the second when My face appears. Why has it not appeared?
3. Khi từng giây ghi dấu sự dịch chuyển của kim phút trên mặt đồng hồ thời gian, hãy chờ đợi giây phút gương mặt Tôi xuất hiện. Vì sao gương mặt ấy chưa xuất hiện? [548]
117. We are dealing with increasing precision and specificity.
117. Chúng ta đang bàn đến mức độ chính xác và cụ thể ngày càng cao.
118. We are moving from hours, to minutes to seconds. In this movement we are following the occult method which ever works from the general to the specific and from the greater to the lesser.
118. Chúng ta đang chuyển từ giờ sang phút rồi sang giây. Trong sự chuyển dịch này, chúng ta đang theo phương pháp huyền bí vốn luôn đi từ khái quát đến cụ thể và từ lớn đến nhỏ.
119. What is the difference between the Master’s “face” and the Master’s “Voice”? May we say that the face is still more intimate and expressive than the voice? Hearing is the first sense to develop; sight develops later. We note that the Master’s ‘touch’ is not mentioned.
119. “Gương mặt” của Chân sư khác với “Tiếng Nói” của Ngài như thế nào? Chúng ta có thể nói rằng gương mặt còn thân mật và biểu cảm hơn tiếng nói chăng? Thính giác là giác quan phát triển đầu tiên; thị giác phát triển về sau. Chúng ta lưu ý rằng ở đây không nhắc đến sự “chạm đến” của Chân sư.
120. If the Master’s “Voice” speaks during a “minute”, the Master’s “face” flashes into recognition in a second of time.
120. Nếu “Tiếng Nói” của Chân sư cất lên trong một “phút”, thì “gương mặt” của Ngài lóe hiện để người đệ tử nhận ra trong một giây.
121. The appearance of the Master’s “face” means that the distance between the disciple and the Master is shortening. The “Voice” is more remote than the “face”.
121. Sự xuất hiện “gương mặt” của Chân sư có nghĩa là khoảng cách giữa đệ tử và Chân sư đang thu hẹp. “Tiếng Nói” xa cách hơn “gương mặt”.
122. As “ashramic intimacy” increases, the Master’s “face” may e expected to appear.
122. Khi “sự thân mật trong ashram” gia tăng, có thể trông đợi “gương mặt” của Chân sư xuất hiện.
123. As the Master’s true identity is appreciated and His will more definitely understood, the “face” may appear giving confirmation or deeper understanding of ashramic intention.
123. Khi người đệ tử nhận biết chân tính của Chân sư và thấu hiểu ý chí của Ngài rõ ràng hơn, “gương mặt” có thể xuất hiện, đem lại sự xác nhận hoặc sự thấu hiểu sâu xa hơn về ý định của ashram.
124. “Why has it not appeared?” This is for every disciple to ponder along with IBS—if, in fact, the “face” has not appeared.
124. “Vì sao gương mặt ấy chưa xuất hiện?” Đây là điều mỗi đệ tử cần cùng IBS suy ngẫm—nếu quả thực “gương mặt” chưa xuất hiện.
125. It would seem to have to do with identification. The more deeply the disciple is identified with the Master’s and, therefore, the Ashram’s plan and purpose, the more the delineation of the “face” of the Master may be seen as an instantaneous confirmation of correct pattern. This is one interpretation. Let every disciple form his or her own interpretation of such inner events.
125. Điều này dường như liên quan đến sự đồng hoá. Người đệ tử càng đồng hoá sâu sắc với kế hoạch và mục đích của Chân sư, và do đó của ashram, thì sự hiển hiện đường nét “gương mặt” của Chân sư càng có thể được xem là một sự xác nhận tức thời về mô hình đúng đắn. Đây là một cách diễn giải. Mỗi đệ tử hãy tự hình thành cách diễn giải của mình về những sự kiện nội tâm như thế.
[548]
[548]
4. When you think freedom lies within your grasp and when you think that you have done the utmost that you can, Beware! Obedience lies ahead, with freedom in its hand.
4. Khi em nghĩ tự do đã nằm trong tầm tay và khi em nghĩ mình đã làm hết sức có thể, hãy Cẩn trọng! Sự tuân phục đang ở phía trước, trong tay nắm giữ tự do.
The power of Saturn demands obedience; obedience is a Saturnian discipline which releases, eventually, into freedom. Interestingly, the planet of freedom, Uranus, has entered Gemini, and will be conjuncting the Sun in 1944.
Quyền năng của Sao Thổ đòi hỏi sự tuân phục; tuân phục là một kỷ luật của Sao Thổ, cuối cùng sẽ giải phóng con người để bước vào tự do. Điều thú vị là hành tinh của tự do, Sao Thiên Vương, đã đi vào Song Tử và sẽ đồng vị với Mặt Trời vào năm 1944.
126. A warning is given to overly eager and overly confident disciples. The personality has done all it can through self-exertion, but it has not braved the disciplines of obedience. The word “Beware!” is italicized and followed by an exclamation point! It must be of special relevance to this disciple endowed with so much first and sixth ray energy.
126. Đây là lời cảnh báo dành cho những đệ tử quá nôn nóng và quá tự tin. Phàm ngã đã làm hết sức mình bằng nỗ lực bản thân, nhưng chưa dũng cảm đương đầu với những kỷ luật của sự tuân phục. Lời “Hãy thận trọng!” được in nghiêng và theo sau bằng dấu chấm than! Hẳn lời ấy đặc biệt thích hợp với người đệ tử có nhiều năng lượng cung một và cung sáu này.
127. DK is discriminating between a false and apparent freedom based upon personality effort, and a true freedom based upon personality acquiescence and obedience.
127. Chân sư DK đang phân biện giữa một sự tự do giả tạo, có vẻ là tự do, dựa trên nỗ lực của phàm ngã, với một sự tự do chân thực dựa trên sự thuận phục và tuân phục của phàm ngã.
128. Unless one passes through the self-abnegating experience of true occult obedience, the emergence of real freedom will be elusive. The idea that freedom lies within one’s grasp as a result of personality exertion is illusive.
128. Nếu chưa trải qua kinh nghiệm quên mình trong sự tuân phục huyền bí chân thực, thì tự do đích thực vẫn khó xuất hiện. Ý tưởng cho rằng nỗ lực của phàm ngã có thể đưa tự do vào tầm tay là một ảo tưởng.
129. Occult obedience brings in the overpowering presence of the higher energies, subduing the energies of bondage. Mere personality exertion leaves no room for these higher energies to manifest.
129. Sự tuân phục huyền bí đưa đến sự hiện diện đầy uy lực của các năng lượng cao hơn, chế ngự những năng lượng trói buộc. Chỉ riêng nỗ lực của phàm ngã không chừa chỗ cho những năng lượng cao hơn này biểu hiện.
5. Within the Ashram you must work. Cycles of speech transmute themselves into periods of silence. Yet both must play their part.
5. Em phải làm việc trong ashram. Những chu kỳ nói năng tự chuyển hóa thành những thời kỳ im lặng. Tuy vậy, cả hai đều phải làm tròn vai trò của mình.
Gemini suggests alternation between the poles—in this case, speech and silence. Gemini is traditionally a sign in which the floodgates of speech are opened. Sagittarius, the rising sign, although a sign which can confer great volubility, is meant to end in wise silence—the killing of the “Stymphalian Birds”, the ninth Labor of Hercules.
Song Tử gợi ý sự luân phiên giữa các cực—trong trường hợp này là nói năng và im lặng. Theo truyền thống, Song Tử là một dấu hiệu trong đó những cửa ngăn dòng lời nói mở toang. Nhân Mã, dấu hiệu mọc, tuy có thể ban khả năng nói năng hết sức lưu loát, nhưng phải kết thúc trong sự im lặng minh triết—việc giết những “Con Chim Stymphalus”, kỳ công thứ chín của Hercules.
130. DK gives important hints about work within the Ashram. We little realize how much speech and silence are related to such work.
130. Chân sư DK đưa ra những gợi ý quan trọng về công việc trong ashram. Chúng ta ít nhận ra lời nói và sự im lặng liên quan nhiều đến mức nào với công việc ấy.
131. According to the seventh ray, cycles of activity and of the refraining from activity must be observed. Speech is an activity. Silence, however, is not simply inactivity.
131. Theo cung bảy, cần tuân thủ những chu kỳ hoạt động và những chu kỳ ngừng hoạt động. Nói năng là một hoạt động. Tuy nhiên, im lặng không đơn thuần là không hoạt động.
132. Speech and silence are to come under regulation. The implication is that the expression of the Ashram is rhythmic and the participating disciple must attune with this rhythm.
132. Lời nói và sự im lặng cần được điều tiết. Hàm ý ở đây là sự biểu lộ của ashram có nhịp điệu, và người đệ tử tham gia phải hoà nhịp với nhịp điệu ấy.
133. It is interesting to consider silence as transmuted speech. Silence, we can intuit, is something higher and more synthetic than speech. Speech is conveyed through sound and yet, silence sounds.
133. Thật thú vị khi xem sự im lặng là lời nói đã chuyển hoá. Chúng ta có thể trực nhận rằng sự im lặng cao hơn và mang tính tổng hợp hơn lời nói. Lời nói được truyền qua âm thanh, thế nhưng sự im lặng vẫn xướng lên.
134. Though one is higher than the other, both are needed. It is for the disciple to determine the times and seasons.
134. Tuy một điều cao hơn điều kia, cả hai đều cần thiết. Người đệ tử phải xác định thời điểm và thời kỳ thích hợp.
135. Given that transiting Saturn is conjuncting the Sun at the time of this instruction, we can see how appropriate is a sentence directed towards the rhythmic disciplining of speech.
135. Vì Sao Thổ quá cảnh đang đồng vị với Mặt Trời vào thời điểm ban huấn thị này, chúng ta có thể thấy một câu hướng đến việc rèn luyện lời nói theo nhịp điệu thích hợp đến mức nào.
6. You are passing on the Lighted Way, my brother. You have placed your hand in mine. I hold it firm.
6. Huynh đệ của tôi, em đang tiến bước trên Con Đường được Soi Sáng. Em đã đặt tay mình vào tay Tôi. Tôi nắm chắc tay em.
136. Here is a sentence of great assurance. IBS is treading what may be called the “Lighted Way of Integration”. It leads eventually to the third initiation, for which one of the main keynotes is “Integration”.
136. Đây là một câu đem lại sự bảo đảm lớn lao. IBS đang bước trên con đường có thể gọi là “Con Đường Tích Hợp được Soi Sáng”. Cuối cùng, con đường ấy dẫn đến lần điểm đạo thứ ba, mà một trong những chủ âm chính là “Sự Tích Hợp”.
137. The Tibetan has not seized IBS’ hand. To do so would be against the law. Rather, she has placed her hand in His, voluntarily. That being done however, the Tibetan responds by holding it firm, applying His will to strengthen the aspirational will of His disciple.
137. Chân sư Tây Tạng đã không nắm lấy tay IBS. Làm như vậy sẽ trái với định luật. Chính bà đã tự nguyện đặt tay mình vào tay Ngài. Tuy nhiên, một khi điều ấy đã xảy ra, Chân sư Tây Tạng đáp ứng bằng cách nắm chặt tay bà, vận dụng ý chí của Ngài để củng cố ý chí khát vọng của người đệ tử.
138. A sentence of this nature must have inspired great confidence in the strength and benevolence of the Teacher. IBS is already strong in faith. She needs to be equally strong in the specificities of occult obedience. An increase of faith may assist her.
138. Một câu như thế hẳn đã khơi dậy niềm tin tưởng lớn lao vào sức mạnh và lòng nhân từ của Huấn sư. IBS vốn đã vững vàng trong đức tin. Bà cần vững vàng tương tự trong những yêu cầu cụ thể của sự tuân phục huyền bí. Đức tin gia tăng có thể trợ giúp bà.
Relocated Solar Return for June 2, 1943. The relocated Solar Return for this period is most interesting. We have been told that the conjunction of the Sun, Moon and Saturn in a certain house is the indication of one who can take initiation.
Lá số Hồi quy Mặt Trời đã chuyển địa điểm cho ngày 2 tháng 6 năm 1943. Lá số Hồi quy Mặt Trời đã chuyển địa điểm cho thời kỳ này hết sức thú vị. Chúng ta đã được cho biết rằng sự đồng vị của Mặt Trời, Mặt Trăng và Sao Thổ trong một nhà nhất định là dấu hiệu của người có thể nhận điểm đạo.
“In connection with the horoscope of the Leo subject and the theme of initiation, I would point out that when the Sun, the Moon hiding a planet and Saturn are all combined in a certain house in the horoscope you have what is called the "sign" of the man who is to take initiation.” EA 298
“Liên quan đến lá số chiêm tinh của người thuộc Sư Tử và chủ đề điểm đạo, Tôi muốn chỉ ra rằng khi Mặt Trời, Mặt Trăng che giấu một hành tinh, và Sao Thổ cùng kết hợp trong một nhà nhất định của lá số chiêm tinh, các bạn có cái được gọi là ‘dấu hiệu’ của người sắp nhận điểm đạo.” EA 298
This statement is made in the Leo chapter of Esoteric Astrology, and in relation to the sign Leo. It is fascinating to see that in this Solar Return chart the Sun, Moon and Saturn are all gathered in Leo’s house the fifth . As well, Capricorn, the sign of initiation, rises.
Phát biểu này nằm trong chương Sư Tử của Chiêm Tinh Học Nội Môn, và liên quan đến dấu hiệu Sư Tử. Thật thú vị khi thấy rằng trong lá số Hồi quy Mặt Trời này, Mặt Trời, Mặt Trăng và Sao Thổ đều tụ họp trong nhà của Sư Tử, tức nhà năm. Ngoài ra, Ma Kết, dấu hiệu của điểm đạo, đang mọc.
Can the Solar Return chart be used in this way to indicate possibilities of initiation? Research will tell.
Liệu có thể dùng lá số Hồi quy Mặt Trời theo cách này để chỉ ra những khả năng điểm đạo không? Nghiên cứu sẽ cho biết.
This chart, however, is really powerful as Uranus by “translation of light” joins the conjunction of Sun, Moon and Saturn, and Jupiter and Venus two planets associated with the amplitude and glory of the causal body are conjuncted in the sign of the “lighted house”, Cancer. The expression of the causal body is associated with the spiritual meaning of the fifth house, already so emphasized in this chart.
Tuy nhiên, lá số này thực sự mạnh mẽ vì Sao Thiên Vương, qua sự “chuyển ánh sáng”, tham gia vào đồng vị của Mặt Trời, Mặt Trăng và Sao Thổ; còn Sao Mộc và Sao Kim, hai hành tinh gắn với sự rộng lớn và vẻ huy hoàng của thể nguyên nhân, đồng vị trong dấu hiệu của “ngôi nhà được soi sáng”, Cự Giải. Sự biểu lộ của thể nguyên nhân gắn với ý nghĩa tinh thần của nhà năm, vốn đã rất nổi bật trong lá số này.
September 1943—Tháng 9 năm 1943 – Tháng 9 năm 1943—Tháng 9 năm 1943
Progressions, Directions and Transits for September 15 1943
Các tiến trình, hướng tiến và quá cảnh cho ngày 15 tháng 9 năm 1943
Main Chart Features of the Dynamic Chart: There has been a solar eclipse at 8ºLeo03 on the natal Moon at 8ºLeo 16. Transiting Saturn is conjuncting the seventh house cusp, and conjuncting as well the progressing Venus {these being the two planets ruling Capricorn, the sign of significant spiritual achievement and initiation}.
Những đặc điểm chính của lá số động: Đã có một nhật thực tại 8º Sư Tử 03 trên Mặt Trăng bản mệnh tại 8º Sư Tử 16. Sao Thổ quá cảnh đang đồng vị với đỉnh nhà bảy, đồng thời cũng đồng vị với Sao Kim tiến trình {đây là hai hành tinh cai quản Ma Kết, dấu hiệu của thành tựu tinh thần quan trọng và điểm đạo}.
The Moon by progression has entered Scorpio and is conjuncting natal and progressed Juno {asteroid of relationship}.
Mặt Trăng tiến trình đã đi vào Hổ Cáp và đang đồng vị với Juno bản mệnh và tiến trình {tiểu hành tinh của các mối quan hệ}.
Progressed Mars has been {over the past year and presently} conjuncting natal and progressed Pluto, and transiting Pluto has come to the conjunction of the natal Moon in 8ºLeo16, and is transiting the Vertex as well, inducing experiences of termination related to the lunar vehicles. Progressing Saturn is now exactly, within one minute of arc, conjuncting natal Jupiter, which brings maturity and disciplined growth.
Sao Hỏa tiến trình đã và đang {trong năm qua và hiện tại} đồng vị với Sao Diêm Vương bản mệnh và tiến trình; Sao Diêm Vương quá cảnh đã đến vị trí đồng vị với Mặt Trăng bản mệnh tại 8º Sư Tử 16, đồng thời cũng đang quá cảnh qua Điểm Vertex, gây ra những kinh nghiệm kết thúc liên quan đến các hiện thể thái âm. Hiện nay, Sao Thổ tiến trình đang đồng vị chính xác với Sao Mộc bản mệnh, với độ lệch chỉ một phút cung, đem lại sự trưởng thành và tăng trưởng có kỷ luật.
Additionally, the relocated solar return for New York/New Jersey, shows an important conjunction between the Sun, Moon and Saturn in Gemini in the fifth house, with Saturn as the chart ruler of the ascending Capricorn. Uranus, too, is widely part of this conjunction. This configuration can be crucial for balancing the relations between the pairs of opposites, soul and personality, and for becoming aware of the “Dweller on the Threshold” which is associated with Saturn in a certain relation to Gemini.
Ngoài ra, lá số Hồi quy Mặt Trời đã chuyển địa điểm đến New York/New Jersey cho thấy một đồng vị quan trọng giữa Mặt Trời, Mặt Trăng và Sao Thổ trong Song Tử tại nhà năm, với Sao Thổ là chủ tinh lá số của Ma Kết đang mọc. Sao Thiên Vương cũng tham gia vào đồng vị này với độ lệch rộng. Cấu hình này có thể giữ vai trò then chốt trong việc cân bằng quan hệ giữa các cặp đối cực, linh hồn và phàm ngã, và trong việc nhận biết “Kẻ Chận Ngõ”, vốn gắn với Sao Thổ trong một quan hệ nhất định với Song Tử.
“From certain angles, Saturn can be regarded as the planetary Dweller on the Threshold, for humanity as a whole has to face that Dweller as well as the Angel of the Presence, and in so doing discover that both the Dweller and the Angel are that complex duality which is the human family. Saturn, in a peculiar relation to the sign Gemini, makes this possible.” EA 164
“Từ một số góc độ, có thể xem Sao Thổ là Kẻ Chận Ngõ của hành tinh, vì toàn thể nhân loại phải đối diện với Kẻ Chận Ngõ ấy cũng như Thiên Thần của Hiện Diện, và khi làm như vậy, khám phá rằng cả Kẻ Chận Ngõ lẫn Thiên Thần đều là nhị nguyên phức tạp vốn chính là gia đình nhân loại. Sao Thổ, trong một quan hệ đặc biệt với dấu hiệu Song Tử, khiến điều này trở thành khả hữu.” EA 164
MY BROTHER:
HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:
You may have noted that there is a slight difference in the type of instructions which I am now giving to this group of disciples in my Ashram, of whom you are one. It is not that each of them is not definitely personal in their application or that they do not carry a meaning of very real import to the disciple for whom they are intended; this they do and should. It is now, however, my intention to convey certain principles and certain aspects of truth which have more of a group implication than a personal one.
Có lẽ em đã nhận thấy một khác biệt nhỏ trong loại huấn thị mà hiện nay Tôi đang trao cho nhóm đệ tử này trong ashram của Tôi, trong đó em là một thành viên. Điều đó không có nghĩa là từng huấn thị không mang tính cá nhân rõ rệt khi áp dụng, hay không chứa đựng một ý nghĩa thực sự quan trọng đối với người đệ tử nhận huấn thị ấy; chúng có và cần phải có những điều này. Tuy nhiên, hiện nay Tôi muốn truyền đạt một số nguyên khí và một số phương diện của chân lý có hàm ý về nhóm nhiều hơn về cá nhân.
139. We note that the disciples in the New Seed Group are members of the Master’s group, but they are also “in my Ashram”. Unless they were technically, “accepted disciples” this could not be the case.
139. Chúng ta lưu ý rằng các đệ tử trong Nhóm Hạt Giống Mới là thành viên của nhóm Chân sư, nhưng họ cũng “ở trong ashram của Tôi”. Nếu xét theo nghĩa chuyên môn, họ chưa phải là “đệ tử được chấp nhận”, thì điều này không thể đúng.
140. DK reminds IBS of her accepted discipleship.
140. Chân sư DK nhắc IBS nhớ đến địa vị đệ tử được chấp nhận của bà.
141. DK is skillful in presenting the teaching impersonally and personally at the same time. To do so He will have to keep group considerations before the eye of every disciple and yet write in such a manner that the disciple understands “personally” how to relate to these larger group matters.
141. Chân sư DK khéo léo trình bày giáo huấn vừa một cách vô ngã vừa theo phương diện cá nhân. Để làm được điều ấy, Ngài phải luôn đặt những điều cần cân nhắc về nhóm trước mắt mỗi đệ tử, đồng thời viết sao cho người đệ tử thấu hiểu về mặt “cá nhân” cách liên hệ với những vấn đề lớn hơn này của nhóm.
142. DK emphasizes the importance of “personal” instructions, even to accepted disciples. This should help us moderate any exaggeratedly austere interpretation of the meaning of impersonality.
142. Chân sư DK nhấn mạnh tầm quan trọng của những huấn thị “cá nhân”, ngay cả đối với các đệ tử được chấp nhận. Điều này sẽ giúp chúng ta tiết chế mọi cách diễn giải khắc khổ quá mức về ý nghĩa của tính vô ngã.
143. We may say that impersonality has to do with the scope and depth of perspective within which matters personal are understood.
143. Chúng ta có thể nói rằng tính vô ngã liên quan đến phạm vi và chiều sâu của góc nhìn mà trong đó những vấn đề cá nhân được thấu hiểu.