Trích nội dung chương
Main Chart Features for the Dynamic Chart: Progressing Venus in Gemini has entered within a one degree range of natal Mercury, uniting both aspects of what the Tibetan has referred to as the “Mercury-Venus mind”. Những đặc điểm chính của lá số động: Sao Kim tiến trình trong Song Tử đã tiến vào phạm vi một độ so với Sao Thủy bản mệnh, hợp nhất cả hai phương diện của điều mà Chân sư Tây Tạng đã gọi là “thể trí Sao Thủy–Sao Kim”.
Main Chart Features for the Dynamic Chart: Progressing Venus in Gemini has entered within a one degree range of natal Mercury, uniting both aspects of what the Tibetan has referred to as the “Mercury-Venus mind”.
Những đặc điểm chính của lá số động: Sao Kim tiến trình trong Song Tử đã tiến vào phạm vi một độ so với Sao Thủy bản mệnh, hợp nhất cả hai phương diện của điều mà Chân sư Tây Tạng đã gọi là “thể trí Sao Thủy–Sao Kim”.
Two times during 1944, transiting Uranus has been conjuncting the natal Sun in Gemini, offering the possibility of a transformed perspective, since natal Uranus is placed in the ninth house of abstract mind and world view. The ninth house is also correlated with the hard won silence achieved by the advanced Sagittarian disciple.
Hai lần trong năm 1944, Sao Thiên Vương quá cảnh đã đồng vị với Mặt Trời bản mệnh trong Song Tử, mang lại khả năng chuyển đổi quan điểm, vì Sao Thiên Vương bản mệnh nằm ở nhà thứ chín của trí trừu tượng và thế giới quan. Nhà thứ chín cũng tương ứng với sự im lặng mà người đệ tử Nhân Mã tiến hóa đã gian nan đạt được.
This coincides with a period in which transiting Uranus is square to natal Uranus, adding further to the transformative potential. Progressing Mars has entered the sign Gemini, potentially animating mind, speech and the etheric body.
Điều này trùng với giai đoạn Sao Thiên Vương quá cảnh tạo góc vuông với Sao Thiên Vương bản mệnh, làm tăng thêm tiềm năng chuyển đổi. Sao Hỏa tiến trình đã đi vào dấu hiệu Song Tử, có khả năng tiếp sinh lực cho thể trí, lời nói và thể dĩ thái.
The Moon by progression is about to leave Scorpio, thus leaving the field of testing and entering Sagittarius, the field of vision, and another sign in which speech is to be retained and wisely directed. Pluto continues its transit over the natal Moon and Vertex, continuing the depth of transformation now in process.
Mặt Trăng tiến trình sắp rời Hổ Cáp, qua đó rời trường thử thách và đi vào Nhân Mã, trường của tầm nhìn, cũng là một dấu hiệu khác nơi lời nói cần được kiềm giữ và định hướng một cách minh triết. Sao Diêm Vương tiếp tục quá cảnh qua Mặt Trăng bản mệnh và điểm Vertex, tiếp tục chiều sâu của sự chuyển đổi đang diễn ra.
That transit will reach the progressed Sun in Leo during 1946, the year the Tibetan terminated His work with the New Seed Group.
Quá cảnh ấy sẽ đến Mặt Trời tiến trình trong Sư Tử vào năm 1946, năm Chân sư Tây Tạng chấm dứt công việc của Ngài với Nhóm Hạt Giống Mới.
MY BROTHER:
HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:
If you will reread the instructions which I gave you last year, I think you will realise that there is little that I need add to them. I gave you an instruction which through its directive injunction covered the remainder of your life events—as I foresaw them.
Nếu em đọc lại những huấn thị Tôi đã trao cho em năm ngoái, Tôi nghĩ em sẽ nhận ra rằng Tôi chẳng cần bổ sung gì nhiều. Tôi đã trao cho em một huấn thị mà lời chỉ dẫn trong đó bao quát mọi biến cố trong phần đời còn lại của em—như Tôi đã thấy trước.
268. DK speaks of His foresight and indicates the thoroughness of His bestowal in the last instruction.
268. Chân sư DK nói về khả năng thấy trước của Ngài và cho thấy sự chu toàn trong những gì Ngài đã ban trong huấn thị trước.
269. As ever the Master insists upon application.
269. Như mọi khi, Chân sư nhấn mạnh việc áp dụng.
270. The Master can foresee the entire span of a chela’s life in principle if not in detail . Toward the middle and later 1940’s DK may have foreseen the impossibility of continuing with the New Seed Group, and began, it seems, to give His chelas all they could possibly assimilate for the remainder of their life.
270. Chân sư có thể thấy trước toàn bộ cuộc đời của một đệ tử về nguyên tắc, dù không nhất thiết đến từng chi tiết. Vào khoảng giữa và cuối những năm 1940, Chân sư DK có thể đã thấy trước rằng không thể tiếp tục công việc với Nhóm Hạt Giống Mới, và dường như bắt đầu trao cho các đệ tử của Ngài tất cả những gì họ có thể tiếp thu cho phần đời còn lại.
You have lived for years at the high point of tension.
Suốt nhiều năm, em đã sống tại điểm tập trung nhất tâm cao độ.
The result of the combined first and sixth rays.
Kết quả của sự kết hợp giữa cung một và cung sáu.
271. DK has remarked upon IBS’ state of tension or tenseness from the first . “Sit not so fiercely erect as is your usual custom” DINA I 243 .
271. Ngay từ đầu, Chân sư DK đã nhận xét về trạng thái tập trung nhất tâm hay căng thẳng của IBS. “Em đừng ngồi thẳng cứng một cách dữ dội như thói quen thường lệ của em” Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới I, 243.
272. The Master is offering a short summary of the effect of fire in the IBS’ life.
272. Chân sư đang đưa ra một bản tóm tắt ngắn về tác động của lửa trong đời sống IBS.
Fire has been the quality of your life.
Lửa là phẩm tính của đời em.
Mars in Aries has been an important and fundamental indicator—found in a first ray sign and distributing the sixth ray, and placed at that point in the chart which is ruled, generically, by the Moon and thus having to do with the condition of the lunar vehicles. Three powerful points in the chart are ruled by fire signs; there is a fire Ascendant, in Sagittarius, a fire Moon, in Leo, and the important placement of Mars.
Sao Hỏa trong Bạch Dương đã là một chỉ báo quan trọng và căn bản—nằm trong một dấu hiệu cung một và phân phối cung sáu, đồng thời nằm tại điểm trong lá số mà nhìn chung Mặt Trăng cai quản, do đó liên quan đến tình trạng của các hiện thể thái âm. Ba điểm mạnh trong lá số do các dấu hiệu hành hỏa cai quản; có Điểm mọc hành hỏa trong Nhân Mã, Mặt Trăng hành hỏa trong Sư Tử, và vị trí quan trọng của Sao Hỏa.
273. Studying IBS’ process should teach us that, though fire is vital to spiritual progress, it is not easy to handle.
273. Việc nghiên cứu tiến trình của IBS hẳn sẽ dạy chúng ta rằng, dù lửa có vai trò thiết yếu đối với sự tiến bộ tinh thần, việc xử lý nó không dễ dàng.
This fire was at first destructive, but in later years it has been warming and nurturing
Thoạt đầu, ngọn lửa này mang tính hủy diệt, nhưng trong những năm về sau, nó đã sưởi ấm và nuôi dưỡng.
as she has moved towards developing the second ray personality which is soul-intended to qualify her next life.
khi bà tiến tới việc phát triển phàm ngã cung hai mà linh hồn dự định sẽ đem lại phẩm tính cho kiếp sống kế tiếp của bà.
274. Her years of training have seen an increasing emergence of solar fire. We remember not only the intended second ray personality of her coming incarnation, but her probable second ray monad. We also remember that Gemini, her Sun-sign, and, therefore, much associated with her personality expression, transmits during this world period and in a focal manner only the second ray of Love-Wisdom.
274. Những năm huấn luyện của bà đã chứng kiến sự xuất hiện ngày càng rõ của Lửa Thái dương. Chúng ta nhớ không chỉ phàm ngã cung hai đã được dự định cho kiếp lâm phàm sắp tới của bà, mà cả chân thần có lẽ cũng thuộc cung hai của bà. Chúng ta cũng nhớ rằng Song Tử, dấu hiệu Mặt Trời của bà, và do đó gắn bó mật thiết với sự biểu lộ phàm ngã của bà, trong thời kỳ thế giới này chỉ truyền dẫn cung hai Bác Ái – Minh Triết theo một cách tập trung.
I think you know that sound and fire are closely allied.
Tôi nghĩ em biết rằng âm thanh và lửa có quan hệ mật thiết.
In one way, both sound and fire are characteristic of the first ray. Uranus, a planet on the first ray expressing “electric fire”, and a planet which rules magical sound is now conjuncting the Sun, considered as a major personality indicator.
Theo một phương diện, cả âm thanh lẫn lửa đều là đặc trưng của cung một. Sao Thiên Vương, một hành tinh thuộc cung một biểu lộ “Lửa Điện”, và là hành tinh cai quản âm thanh huyền thuật, hiện đang đồng vị với Mặt Trời, vốn được xem là một chỉ báo chính của phàm ngã.
275. That fire and sound are closely allied is an important hint. Both can be easily associated with the first ray, for “in the beginning was the Word”, and fire is the premier element, just as Agni Yoga is the premier form of yoga.
275. Việc lửa và âm thanh có liên hệ mật thiết là một gợi ý quan trọng. Cả hai đều dễ dàng liên hệ với cung một, vì “vào thuở ban đầu đã có Linh từ”, và lửa là nguyên tố hàng đầu, cũng như Agni Yoga là hình thức yoga hàng đầu.
276. One creates and destroys through sound; the same is true of fire in its various modalities.
276. Người ta sáng tạo và hủy diệt bằng âm thanh; điều này cũng đúng với lửa trong các phương thức khác nhau của nó.
277. Both fire and sound are related to essence.
277. Cả lửa lẫn âm thanh đều liên quan đến tinh chất.
278. We can see how IBS’ present incarnation expressing through a fiery horoscope much endowed with the major sign of sound, Taurus, is supportive of her impending incarnation.
278. Chúng ta có thể thấy kiếp lâm phàm hiện tại của IBS, biểu lộ qua một lá số chiêm tinh đầy tính hỏa và được phú cho ảnh hưởng dồi dào của Kim Ngưu, dấu hiệu chủ yếu của âm thanh, đang hỗ trợ kiếp lâm phàm sắp tới của bà như thế nào.
I think you know also that disciples are gathered by the Masters into Their Ashrams when their sound has gone forth and when the fire that is in them has successfully burned away the intervening barriers between the soul and the personality. Then their sound can safely be added to the sound of the Ashram, enriching its volume, adding quality to its tone, and conveying the needed creative qualities.
Tôi nghĩ em cũng biết rằng các Chân sư quy tụ các đệ tử vào ashram của Các Ngài khi âm thanh của họ đã vang lên và khi ngọn lửa trong họ đã thiêu rụi những rào cản ngăn cách linh hồn với phàm ngã. Khi ấy, âm thanh của họ có thể an toàn hòa vào âm thanh của ashram, làm phong phú âm lượng, bổ sung phẩm tính cho âm sắc, và truyền đạt những phẩm tính sáng tạo cần thiết.
279. The potential disciple is noticed by the Master when his light has flashed forth. There is also a kind of light demonstration which indicates a readiness to be incorporated into the Ashram.
279. Chân sư chú ý đến người đệ tử tiềm năng khi ánh sáng của y đã lóe lên. Cũng có một dạng biểu lộ ánh sáng cho thấy sự sẵn sàng để được thu nhận vào ashram.
280. The act of being gathered into an Ashram is expressed here in terms of sound and fire.
280. Ở đây, việc được thu nhận vào một ashram được diễn tả bằng âm thanh và lửa.
281. An Ashram operates to a significant extent on the principle of harmony, and the quality of the potential member’s sound must be at least somewhat harmonious with the present sound characteristic of the Ashram.
281. Một ashram hoạt động phần lớn dựa trên nguyên khí hài hòa, và phẩm tính âm thanh của thành viên tiềm năng ít nhất phải phần nào hài hòa với âm thanh hiện đang là đặc trưng của ashram.
282. The work of the fiery burning ground is another necessity before admittance into the Ashram and hence, before, true communion with the factor of soul .
282. Công việc của vùng đất cháy rực lửa là một điều cần thiết khác trước khi được thu nhận vào ashram, và do đó, trước khi thực sự hiệp thông với yếu tố linh hồn.
283. Since fire reduces to essence and archetype, its work restores the intended pattern or structure within the personality vehicles allowing transmission of soul quality via resonance. Through the agency of fire, that which is ‘below’ becomes ‘like unto’ that which is ‘above’. The relationship is one of similarity rather than of identicality, because the solar and lunar spheres represent two distinct fields of activity and qualities of energy.
283. Vì lửa đưa mọi thứ về tinh chất và nguyên mẫu, công việc của nó khôi phục mô hình hay cấu trúc đã được dự định trong các hiện thể phàm ngã, cho phép truyền dẫn phẩm tính linh hồn qua sự cộng hưởng. Nhờ tác động của lửa, điều ở “dưới” trở nên “tương tự” điều ở “trên”. Đây là mối quan hệ tương đồng hơn là đồng nhất, vì các khối cầu thái dương và thái âm đại diện cho hai lĩnh vực hoạt động và hai loại phẩm tính năng lượng khác biệt.
284. The important thing to grasp is that we all have barriers which separate ‘us’ as personalities from the higher life represented by our soul and spirit aspects. Fire burns away those barriers.
284. Điều quan trọng cần nắm bắt là tất cả chúng ta đều có những rào cản ngăn cách “chúng ta”, với tư cách phàm ngã, khỏi sự sống cao hơn mà các phương diện linh hồn và tinh thần của chúng ta đại diện. Lửa đốt sạch những rào cản ấy.
285. When we are ‘sounding’ correctly, fire will burn correctly. The right use of the OM, which is a symbol of the fire of soul, is a fiery process. Through the solar fire of the sound OM, the purification proceeds.
285. Khi chúng ta “xướng” đúng, lửa sẽ cháy đúng. Việc sử dụng đúng linh từ OM, vốn là biểu tượng của lửa linh hồn, là một tiến trình rực lửa. Nhờ Lửa Thái dương của âm thanh OM, sự thanh luyện diễn ra.
286. We note that when a disciple’s sound is to be added to the sound of the Ashram it is to have three effects”
286. Chúng ta lưu ý rằng khi âm thanh của một đệ tử hòa vào âm thanh của ashram, nó phải tạo ra ba tác động”
a. It is to enrich the volume of the ashramic sound. This signifies a strengthening of that greater sound, but not alone a strengthening, as the term “enriching” suggests an enhancement of quality as well. The ashramic sound is not simply ‘loud’ but strong and beautiful
a. Nó phải làm phong phú âm lượng của âm thanh ashram. Điều này hàm ý tăng cường âm thanh lớn lao hơn ấy, nhưng không chỉ là tăng cường, vì từ “làm phong phú” còn gợi ý sự nâng cao phẩm tính nữa. Âm thanh ashram không chỉ đơn thuần là “to”, mà còn mạnh mẽ và đẹp đẽ
b. It adds quality to the ashramic tone. Something of magnetic value is thus added to the Ashram.
b. Nó bổ sung phẩm tính cho âm sắc của ashram. Như vậy, một điều có giá trị từ tính được thêm vào ashram.
c. It conveys the needed creative qualities, for the Ashram is assembled for purposes of creative work in alignment with the Divine Plan.
c. Nó truyền tải những phẩm tính sáng tạo cần thiết, vì ashram được tập hợp nhằm thực hiện công việc sáng tạo trong sự chỉnh hợp với Thiên Cơ.
287. We remember how the Tibetan is seeking for IBS to understand something deeper about speech and silence. Right understanding and right practice along these lines will have a desirable effect on the sound which goes forth from her and which she is. As she masters speech, her sound will become ashramically fit.
287. Chúng ta nhớ rằng Chân sư Tây Tạng đang tìm cách giúp IBS thấu hiểu sâu sắc hơn về lời nói và sự im lặng. Sự thấu hiểu đúng đắn và thực hành đúng đắn theo những hướng này sẽ tạo tác động mong muốn lên âm thanh phát ra từ bà và cũng chính là điều bà hiện hữu. Khi bà làm chủ lời nói, âm thanh của bà sẽ trở nên thích hợp với ashram.
The next few years will not be easy ones for you, my brother.
Huynh đệ của tôi, vài năm tới sẽ không dễ dàng đối với em.
Pluto, Saturn and Uranus experiences will continue. The progressing Moon is soon entering Sagittarius—symbol of the burning ground—where it will be for more than two years, and transiting Pluto is beginning its long transit over the progressed Sun in Leo, at the same time gradually approaching a refining quincunx of the progressing Ascendant in Pisces—sign of relinquishment, esoterically ruled by Pluto.
Những trải nghiệm của Sao Diêm Vương, Sao Thổ và Sao Thiên Vương sẽ tiếp tục. Mặt Trăng tiến trình sắp đi vào Nhân Mã—biểu tượng của vùng đất cháy—và sẽ ở đó hơn hai năm; Sao Diêm Vương quá cảnh đang bắt đầu cuộc quá cảnh dài qua Mặt Trời tiến trình trong Sư Tử, đồng thời dần tiến đến một góc quincunx mang tính tinh luyện với Điểm mọc tiến trình trong Song Ngư—dấu hiệu của sự buông bỏ, do Sao Diêm Vương cai quản về mặt nội môn.
Be not over-anxious over anything that may eventuate. Speaking symbolically, I might express your future thus: The nature of fire will be brought more clearly and essentially to your attention; fire will be the subject of your thinking. Do not infer from this that I am indicating to you the way of fire, of pain or of sorrow. Such is not my intention. I do not mean that the future holds for you any passing through the fires of purification. You have moved across the burning-ground—as have all your group brothers. The whole of mankind is passing en masse through the fires which precede the first initiation. Every disciple creates his own burning-ground; he then takes his stand within it, and eventually [554] passes out of it to stand before the Angel of the Presence, at the very door of initiation. These are to you the platitudes of the Path and require from me no explanation.
Đừng quá lo âu về bất cứ điều gì có thể xảy đến. Nói theo nghĩa biểu tượng, Tôi có thể diễn tả tương lai của em như sau: Em sẽ chú ý rõ hơn và sâu hơn đến bản chất của lửa; lửa sẽ là đề tài suy tư của em. Đừng từ đó suy ra rằng Tôi đang chỉ cho em con đường của lửa, của đau đớn hay sầu khổ. Đó không phải ý định của Tôi. Tôi không muốn nói rằng tương lai buộc em phải trải qua những ngọn lửa thanh luyện nào. Em đã vượt qua vùng đất cháy—cũng như tất cả các huynh đệ trong nhóm em. Toàn thể nhân loại đang cùng nhau đi qua những ngọn lửa trước lần điểm đạo thứ nhất. Mỗi đệ tử tạo ra vùng đất cháy của riêng mình; rồi y đứng vững trong đó, và cuối cùng [554] bước ra để đứng trước Thiên Thần của Hiện Diện, ngay tại cửa điểm đạo. Với em, đây là những điều quá quen thuộc trên Đường Đạo, không cần Tôi giải thích.
288. Anxiety has been a characteristic of IBS’ astral condition.
288. Lo âu đã là một đặc trưng trong tình trạng cảm dục của IBS.
289. DK does not specify what kind of fiery experiences IBS will experience as the nature of fire is brought “more clearly and essentially” to her attention. He does say that it is not only the fire of the kinds of burning ground with which she, and all her group brothers, have been familiar through the process of training. The fires of which He speaks, therefore, are not specifically the fires of purification, though purification is a process that continues in the life of all disciples.
289. Chân sư DK không nêu cụ thể IBS sẽ trải qua những loại trải nghiệm lửa nào khi bản chất của lửa được đưa đến sự chú ý của bà “một cách rõ ràng hơn và sát với tinh chất hơn”. Ngài có nói rằng đó không chỉ là lửa của những loại vùng đất cháy mà bà và tất cả các huynh đệ trong nhóm đã quen thuộc qua tiến trình huấn luyện. Vì vậy, những ngọn lửa Ngài nói đến không riêng là những ngọn lửa thanh luyện, dù thanh luyện là một tiến trình tiếp diễn trong đời sống của mọi đệ tử.
290. Probably, there will be a growing effect of solar fire.
290. Có lẽ tác động của Lửa Thái dương sẽ ngày càng gia tăng.
291. DK hints that IBS is, like her group brothers, in process of creating her own burning ground and within it she will have to stand. All this is preparation for the process of initiation.
291. Chân sư DK gợi ý rằng IBS, cũng như các huynh đệ trong nhóm của bà, đang trong tiến trình tạo ra vùng đất cháy của riêng mình và bà sẽ phải đứng vững trong đó. Tất cả những điều này là sự chuẩn bị cho tiến trình điểm đạo.
292. All accepted disciples are in training for initiation—whether in the present incarnation or one immediately or shortly ahead. When fire is the focus of the disciple’s thinking, that focus is part of the preparatory process preceding initiation.
292. Mọi đệ tử được chấp nhận đều đang được huấn luyện để điểm đạo—dù trong kiếp lâm phàm hiện tại hay một kiếp ngay sau đó hoặc không lâu nữa. Khi lửa trở thành trọng tâm suy tư của người đệ tử, sự tập trung ấy là một phần của tiến trình chuẩn bị trước điểm đạo.
293. This paragraph is one of those in which DK evaluates the present very difficult state of humanity as part of a process preceding the first initiation. Through an understanding of this fact, we see the inevitability of humanity’s present liberative suffering. Humanity could, however, suffer with greater wisdom and understanding—i.e., more conscious of the process through which it is passing.
293. Đoạn này là một trong những đoạn Chân sư DK đánh giá tình trạng rất khó khăn hiện nay của nhân loại như một phần của tiến trình có trước lần điểm đạo thứ nhất. Qua sự thấu hiểu sự kiện này, chúng ta thấy tính tất yếu của nỗi đau mang lại giải thoát mà nhân loại hiện đang trải qua. Tuy nhiên, nhân loại có thể chịu đau khổ với nhiều minh triết và sự thấu hiểu hơn—nghĩa là có ý thức hơn về tiến trình mình đang trải qua.
There is one fire, however, with which you should now concern yourself. I would call it "the fire of comprehension."
Tuy nhiên, có một ngọn lửa mà giờ đây em nên quan tâm. Tôi muốn gọi đó là “lửa của sự thấu hiểu”.
This fire could be considered a second ray fire.
Có thể xem lửa này là lửa cung hai.
It is closely related to the blinding light of realisation, but ever precedes it because it destroys all the glamours which may hide or veil the immediate point of illumination for the disciple.
Ngọn lửa này có quan hệ mật thiết với ánh sáng chói lòa của sự nhận biết, nhưng luôn đi trước ánh sáng ấy vì nó hủy diệt mọi ảo cảm có thể che khuất hoặc phủ màn lên điểm soi sáng ngay trước mắt người đệ tử.
The opportunity to continue the destruction of glamor is offered in part through the closing conjunction of fifth ray/second ray Venus with natal Mercury in Gemini. This is a very light-filled conjunction.
Cơ hội tiếp tục hủy diệt ảo cảm một phần đến qua đồng vị đang khép gần giữa Sao Kim cung năm/cung hai với Sao Thủy bản mệnh trong Song Tử. Đây là một đồng vị tràn đầy ánh sáng.
294. While not specifying the nature of the impending experiences of fire, DK does call attention to a type of fire to which IBS should now attend: “the fire of comprehension”.
294. Tuy không nêu cụ thể bản chất của những trải nghiệm lửa sắp tới, Chân sư DK có hướng sự chú ý đến một loại lửa mà giờ đây IBS nên quan tâm: “lửa của sự thấu triệt”.
295. We are advised of a sequence: the fire of comprehension precedes the experience of the “blinding light of realisation”.
295. Chúng ta được cho biết một trình tự: lửa của sự thấu triệt đi trước trải nghiệm về “ánh sáng chói lòa của sự chứng nghiệm”.
296. Really, DK seems to be discussing preparation for the second and third initiations.
296. Thực ra, dường như Chân sư DK đang bàn về sự chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai và thứ ba.
297. Through the “fire of comprehension” one prepares for the second degree, before which the glamors which veil illumination must be destroyed. We realize that an “illumined mind” and “spiritual intelligence” are indications of the one who can take the second degree. DK is laying out the tasks to be accomplished by IBS as she prepares for this initiation of deglamorization.
297. Qua “lửa của sự thấu triệt”, người ta chuẩn bị cho bậc hai, trước đó những ảo cảm che phủ sự soi sáng phải bị hủy diệt. Chúng ta nhận ra rằng một “thể trí được soi sáng” và “trí thông minh tinh thần” là những dấu hiệu của người có thể tiếp nhận bậc hai. Chân sư DK đang vạch ra những nhiệm vụ IBS cần hoàn thành khi bà chuẩn bị cho cuộc điểm đạo giải trừ ảo cảm này.
“Spiritual instinct, the lowest aspect of the intuition, indicates readiness for the first initiation; an illumined mind and spiritual intelligence are the definite sign that a man can take the second initiation, whilst spiritual perception or intuitive instinct signifies preparedness for the Transfiguration, the third initiation.” DINA II 267
“Bản năng tinh thần, phương diện thấp nhất của trực giác, cho thấy sự sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ nhất; một thể trí được soi sáng và trí thông minh tinh thần là dấu hiệu rõ ràng cho thấy một người có thể tiếp nhận lần điểm đạo thứ hai, trong khi tri giác tinh thần hay bản năng trực giác biểu thị sự sẵn sàng cho cuộc Biến hình, lần điểm đạo thứ ba.” Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới II, 267
298. When we think of the dissipation of glamor, it is enlightening to think of this process occurring through the agency of the “fire of comprehension”.
298. Khi nghĩ đến việc làm tiêu tan ảo cảm, việc nghĩ rằng tiến trình này diễn ra nhờ tác động của “lửa của sự thấu triệt” giúp soi sáng thêm cho chúng ta.
299. As for the “blinding light of realization”, it clearly alludes to the drastic intensification of light characteristic of the third degree. This was the major experience through which Paul passed on the Road to Damascus.
299. Còn “ánh sáng chói lòa của sự chứng nghiệm” rõ ràng ám chỉ sự gia tăng mãnh liệt của ánh sáng, đặc trưng của bậc ba. Đây là trải nghiệm chủ yếu mà Phao-lô đã trải qua trên đường đến Damascus.
300. It becomes clear that IBS is not yet a candidate for the third degree and its blinding realizations in the light of transfiguration. First she must prepare for and pass through the second.
300. Rõ ràng IBS chưa phải là ứng viên cho bậc ba cùng những chứng nghiệm chói lòa trong ánh sáng biến hình. Trước hết, bà phải chuẩn bị cho và vượt qua bậc hai.
You have approached this fire from the standpoint of the emotional nature and it has been associated in your mind with the waters of the astral plane, thus producing the symbols of mist and fog which are ever caused by the bringing together of fire and water. This concept has conditioned your thinking. I would have you now consider glamour in the light of the fires of comprehension.
Em đã tiếp cận ngọn lửa này từ góc độ bản chất cảm xúc, và trong thể trí em, nó gắn liền với những làn nước của cõi cảm dục, từ đó tạo nên các biểu tượng sương mù vốn luôn hình thành khi lửa và nước kết hợp. Quan niệm này đã định hình tư duy của em. Giờ đây, Tôi muốn em xem xét ảo cảm dưới ánh sáng của những ngọn lửa thấu hiểu.
The transit of comprehending Jupiter in Virgo through the ninth house of higher mind, and trine its own natal and progressed positions, will help with the growth of comprehending understanding.
Sự quá cảnh của Sao Mộc mang tính thấu triệt trong Xử Nữ qua nhà thứ chín của Thượng trí, đồng thời tạo tam hợp với chính các vị trí bản mệnh và tiến trình của nó, sẽ giúp phát triển sự thấu hiểu thấu đáo.
301. In earlier letters of instruction we saw DK working to help IBS achieve a greater mental polarization and illumination of the mind so that the conflict normally focussed in the astral nature could be elevated to the mental where it could find resolution.
301. Trong những thư huấn thị trước, chúng ta đã thấy Chân sư DK nỗ lực giúp IBS đạt được sự phân cực trí tuệ mạnh hơn và sự soi sáng thể trí, để xung đột vốn thường tập trung trong bản chất cảm dục có thể được nâng lên cõi trí, nơi nó có thể tìm được giải pháp.
302. At her present stage of development she no longer needs to emphasize fiery aspiration, but the light of illumination achieved through conflict rightly handled on the mental plane.
302. Ở giai đoạn phát triển hiện tại, bà không còn cần nhấn mạnh khát vọng rực lửa, mà cần nhấn mạnh ánh sáng soi sáng đạt được qua xung đột được xử lý đúng đắn trên cõi trí.
303. Were she to continue to emphasize the fires of aspiration, fire would continue to blend with water and the glamors in which she has walked would remain undissipated.
303. Nếu bà tiếp tục nhấn mạnh những ngọn lửa khát vọng, lửa sẽ tiếp tục hòa với nước, và những ảo cảm mà bà đã bước đi trong đó sẽ vẫn chưa tiêu tan.
304. IBS has thought of glamor in terms of “mists and fog” resulting from the union of fire and water. DK seeks to reorient her thought so that the she may comprehend glamor more fully by means of the “fire of comprehension”. At this point we should remember that IBS was a member of Group IX.2, the group whose task it was to understand and dissipate glamor. We should also remember that she was one of those who succumbed noticeably to a glamor which presented itself through a misleading thoughtform of the Tibetan.
304. IBS đã nghĩ về ảo cảm như “sương mù và màn sương” phát sinh từ sự kết hợp giữa lửa và nước. Chân sư DK tìm cách định hướng lại tư tưởng của bà để bà có thể thấu hiểu ảo cảm đầy đủ hơn nhờ “lửa của sự thấu hiểu”. Đến đây, chúng ta nên nhớ rằng IBS là thành viên của Nhóm IX.2, nhóm có nhiệm vụ thấu hiểu và làm tiêu tan ảo cảm. Chúng ta cũng nên nhớ rằng bà là một trong những người đã sa vào một ảo cảm khá rõ rệt, xuất hiện qua một hình tư tưởng sai lệch về Chân sư Tây Tạng.
There comes a time in the disciple's life when he must assume that he knows; he must take the position that he comprehends, and must proceed to act upon the comprehended knowledge. That is definitely the point that you have now reached.
Sẽ đến lúc trong đời người đệ tử, y phải mặc nhiên xem rằng mình biết; y phải đứng trên lập trường rằng mình thấu hiểu, và phải tiến tới hành động dựa trên tri thức đã thấu hiểu ấy. Đó chính là điểm mà giờ đây em đã đạt tới.
There is a very strong Gemini emphasis at this time; the progressed Venus natal Mercury conjunction; transiting Uranus conjunct natal Sun; progressed Mars having entered Gemini. Gemini represents mental polarization and is associated with the Angel. The opportunity at this time for stabilized mental polarization is very strong. D.K. is asking IBS to take a stand as a knower, and in one respect, she is that, for she has taken the first initiation, the theme of which is the capacity to know.
Vào thời điểm này, ảnh hưởng của Song Tử rất mạnh; Sao Kim tiến trình đồng vị với Sao Thủy bản mệnh; Sao Thiên Vương quá cảnh đồng vị với Mặt Trời bản mệnh; Sao Hỏa tiến trình đã đi vào Song Tử. Song Tử biểu thị sự phân cực trí tuệ và có liên hệ với Thiên Thần. Vào thời điểm này, cơ hội ổn định sự phân cực trí tuệ rất lớn. Chân sư DK đang yêu cầu IBS xác lập vị thế của một thức giả, và xét trên một phương diện, bà đúng là như vậy, vì bà đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất, mà chủ đề là năng lực biết.
305. For IBS the “as if” method is of particular value at this time.
305. Đối với IBS, phương pháp “như thể” có giá trị đặc biệt vào thời điểm này.
306. The assumption of a more elevated perspective based upon the method of “as if” helps to establish that perspective as a reality. We imagine, and eventually, that which is imagined becomes reality. Our ‘dream’ comes true.
306. Việc đảm nhận một góc nhìn cao hơn dựa trên phương pháp “như thể” giúp xác lập góc nhìn ấy thành một thực tại. Chúng ta tưởng tượng, và cuối cùng, điều được tưởng tượng trở thành thực tại. “Giấc mơ” của chúng ta trở thành sự thật.
307. To use the “act as if” method, is an imitative approach to higher states of reality. It involves faculties other than aspiration; IBS needs to deemphasize fiery aspiration and achieve a greater degree of mental focus.
307. Sử dụng phương pháp “hành động như thể” là một cách tiếp cận các trạng thái thực tại cao hơn bằng sự mô phỏng. Phương pháp này vận dụng những năng lực khác ngoài khát vọng; IBS cần giảm sự chú trọng vào khát vọng rực lửa và đạt mức tập trung trí tuệ cao hơn.
The results of this definite assumption, and of the activities which it initiates, are oft surprising and apt to be painful; that is why the symbol of fire is again appropriate at this point.
Kết quả của việc dứt khoát thừa nhận như vậy, cùng những hoạt động mà nó khởi phát, thường gây ngạc nhiên và có thể gây đau đớn; đó là lý do biểu tượng lửa lại thích hợp ở điểm này.
308. We are in the midst of a section in which DK is prophesying that IBS will come into a greater understanding of fire, and that the experience will not be easy. Here he links the assumption of the “as if” attitude to certain painful results that are likely to eventuate. This may come as a surprising thought—that “as if” can summon fire and produce difficult situations.
308. Chúng ta đang ở giữa một phần trong đó Chân sư DK tiên báo rằng IBS sẽ đạt sự thấu hiểu sâu sắc hơn về lửa, và trải nghiệm ấy sẽ không dễ dàng. Ở đây, Ngài liên kết việc đảm nhận thái độ “như thể” với một số kết quả đau đớn có khả năng xảy ra. Ý tưởng này có thể gây bất ngờ—rằng “như thể” có thể triệu gọi lửa và tạo ra những hoàn cảnh khó khăn.
309. It may be that the “as if” method automatically calls for the fires that burn away all that prevents the higher image from becoming the reality. In this respect “as if” is an invocative act.
309. Có thể phương pháp “như thể” tự động triệu gọi những ngọn lửa thiêu rụi mọi điều ngăn cản hình ảnh cao hơn trở thành thực tại. Về phương diện này, “như thể” là một hành động khẩn cầu.
Act in the future "as if" there are for you no more glamours, and see, my brother, what will eventuate. Endeavour always to live within the Ashram, which is insulated from glamour, and act "as if" the consciousness of the Ashram was intrinsically your consciousness. Go forth to the service which you are rendering "as if" you remained immovable in the Ashram; live always "as if" the eyes of the entire Ashram were upon you. For the remainder of your life let the esoteric philosophical concept "as if" actuate all you do. It is this constant awareness which the two words "as if" embody that will produce in you a fresh use of the creative imagination.
Huynh đệ của tôi, từ nay hãy hành động “như thể” đối với em không còn ảo cảm nào nữa, và xem điều gì sẽ xảy ra. Luôn cố gắng sống trong ashram, nơi cách ly với ảo cảm, và hành động “như thể” tâm thức của ashram vốn chính là tâm thức của em. Hãy bước ra thực hiện công việc phụng sự của em “như thể” em vẫn bất lay chuyển trong ashram; luôn sống “như thể” toàn thể ashram đang dõi mắt nhìn em. Trong phần đời còn lại, hãy để quan niệm triết học nội môn “như thể” thúc đẩy mọi việc em làm. Chính sự nhận biết thường trực mà hai từ “như thể” hàm chứa sẽ khiến em vận dụng sự tưởng tượng sáng tạo theo một cách mới.
This counsel comes at a time when, through Venus and Mercury, the ajna center, associated with the power to visualize, is being greatly stimulated. Venus rules the ajna center for most people and also for the majority of disciples. For the more advanced disciple and the initiate, Mercury becomes a co-ruler.
Lời khuyên này đến vào thời điểm mà, qua Sao Kim và Sao Thủy, trung tâm ajna, vốn gắn với quyền năng hình dung, đang được kích thích mạnh mẽ. Sao Kim cai quản trung tâm ajna ở phần lớn mọi người và cả đa số đệ tử. Đối với đệ tử tiến xa hơn và điểm đạo đồ, Sao Thủy trở thành đồng chủ tinh.
310. This section holds some of the clearest teaching about the occult dynamics of the “as if” process. This process, by means of which one seeks to identify with a state higher than one has actually achieved, is sure to bring about a sense of division—initially. The Angel and the Dweller or, at least, their reflections will come more clearly revealed.
310. Phần này chứa đựng một số lời dạy rõ ràng nhất về động lực huyền bí của tiến trình “như thể”. Tiến trình này, qua đó người ta tìm cách đồng hoá với một trạng thái cao hơn trạng thái mình thực sự đạt được, chắc chắn sẽ đem lại cảm giác chia rẽ—vào lúc đầu. Thiên Thần và Kẻ Chận Ngõ, hoặc ít nhất là những phản ánh của hai bên, sẽ hiển lộ rõ ràng hơn.
311. DK is suggesting methods of identifying with the Ashram, predicting that such an attempt will have inevitable results, about which He does not say very much.
311. Chân sư DK đang gợi ý những phương pháp đồng hoá với ashram, đồng thời tiên báo rằng nỗ lực như thế sẽ có những kết quả tất yếu, nhưng Ngài không nói nhiều về chúng.
312. We note an important principle: the principle of ‘ashramic insulation’. The energy pattern of the Ashram rebuffs lower states which would compromise its integrity. The Ashram may also be insulated, in a sense, from states too high to be assimilated. This is true of any integrated living system including our solar system.
312. Chúng ta ghi nhận một nguyên khí quan trọng: nguyên khí “cách ly của ashram”. Mô hình năng lượng của ashram đẩy lùi những trạng thái thấp có thể làm tổn hại tính toàn vẹn của nó. Theo một nghĩa nào đó, ashram cũng có thể cách ly với những trạng thái quá cao để đồng hoá. Điều này đúng với mọi hệ thống sống đã tích hợp, kể cả hệ mặt trời của chúng ta.
313. Such sound advice in this paragraph! What is suggested?
313. Những lời khuyên trong đoạn này thật xác đáng! Những điều nào được gợi ý?
a. Acting “as if” living always within the Ashram
a. Hành động “như thể” luôn sống trong ashram
b. Acting “as if” the consciousness of the Ashram were intrinsically the consciousness of the disciple
b. Hành động “như thể” tâm thức của ashram vốn chính là tâm thức của người đệ tử
c. Acting “as if” immovable within the Ashram when rendering service
c. Hành động “như thể” bất lay chuyển trong ashram khi phụng sự
d. Acting “as if” “the eyes of the entire Ashram were upon you”—always!; This is an extraordinarily powerful visualization.
d. Hành động “như thể” “ánh mắt của toàn thể ashram đang dõi theo các bạn”—luôn luôn!; Đây là một sự hình dung có sức mạnh phi thường.
314. The result will be, among other things, a fresh use of the creative imagination.
314. Một trong những kết quả sẽ là một cách vận dụng mới mẻ sự tưởng tượng sáng tạo.
315. Let each of us think how we might apply the “as if method” to our present life of discipleship—without becoming inflated! Do the suggestions given to IBS apply to us given the stage of spiritual development we have reached? Are there other kinds of elevated states to which we should apply the “as if method”?
315. Mỗi người chúng ta hãy suy nghĩ xem có thể áp dụng “phương pháp như thể” vào đời sống đệ tử hiện tại của mình như thế nào—mà không trở nên tự cao! Với giai đoạn phát triển tinh thần mà chúng ta đã đạt tới, những gợi ý dành cho IBS có áp dụng được cho chúng ta không? Có những trạng thái cao hơn nào khác mà chúng ta nên áp dụng “phương pháp như thể” không?
316. “As if” summons the desired pattern which already exists deeply within our higher nature , and is, eventually, a key to archetypal living.
316. “Như thể” triệu gọi mô hình mong muốn vốn đã tồn tại sâu trong bản chất cao hơn của chúng ta, và cuối cùng là một chìa khóa để sống theo nguyên mẫu.
Some time ago I told the group that initiation was simplification. Therefore, simplify your remaining years by ever acting "as if." Through this living process you will let loose the fires of comprehension. I wonder if I am making some idea of value clear to you? Govern yourself always "as if" [555] your divine comprehension was perfected and the result in your daily life will be "as if" all concealed glamours and all hiding deceptive veils were non-existent. The disciple acts "as if" he were initiate and then discovers that "as a man thinketh in his heart so is he," because the heart is the custodian of the power of the imagination. The imagination is released into creative activity when the disciple acts "as if" he were the soul in full expression, "as if" the Master were ever aware of the doings of His disciple, "as if" he walked in full liberation consciously. For you, these two words will bring release and happiness.
Cách đây ít lâu, Tôi đã nói với nhóm rằng điểm đạo là sự đơn giản hóa. Vì vậy, hãy đơn giản hóa những năm còn lại của em bằng cách luôn hành động “như thể”. Qua tiến trình sống này, em sẽ giải phóng những ngọn lửa thấu hiểu. Tôi tự hỏi liệu Tôi có đang làm sáng tỏ cho em một ý tưởng có giá trị nào chăng? Hãy luôn tự chủ “như thể” [555] sự thấu hiểu thiêng liêng của em đã hoàn thiện, và kết quả trong đời sống hằng ngày của em sẽ là “như thể” mọi ảo cảm ẩn giấu cùng mọi bức màn che phủ đầy lừa dối đều không tồn tại. Người đệ tử hành động “như thể” y là một điểm đạo đồ, rồi khám phá rằng “con người suy nghĩ trong tâm thế nào thì con người là thế ấy”, bởi trái tim gìn giữ quyền năng của sự tưởng tượng. Sự tưởng tượng được giải phóng để hoạt động sáng tạo khi người đệ tử hành động “như thể” y là linh hồn đang biểu lộ trọn vẹn, “như thể” Chân sư luôn biết mọi việc người đệ tử của Ngài làm, “như thể” y đang bước đi trong sự giải thoát hoàn toàn với tâm thức tỉnh thức. Đối với em, hai từ này sẽ mang lại sự giải thoát và hạnh phúc.
Through the influence of Uranus, which ever brings about the improvement of conditions, D.K. is suggesting that IBS re-conceive and thus re-create her life. It is time for a new pattern to be instituted, and the “as-if” technique, here enlivened by the Uranus/Sun conjunction, is intended to be the method.
Qua ảnh hưởng của Sao Thiên Vương, vốn luôn đem lại sự cải thiện hoàn cảnh, Chân sư DK đang gợi ý IBS quan niệm lại và qua đó tái tạo cuộc đời mình. Đã đến lúc thiết lập một mô hình mới, và kỹ thuật “như thể”, ở đây được góc đồng vị Sao Thiên Vương/Mặt Trời tiếp sinh lực, là phương pháp dự kiến để thực hiện điều đó.
317. Something potent and extraordinary is being conveyed in this instruction, and yet so practical that any sincere disciple can begin its application immediately.
317. Huấn thị này truyền đạt một điều mạnh mẽ và phi thường, nhưng lại thiết thực đến mức bất kỳ đệ tử chân thành nào cũng có thể bắt đầu áp dụng ngay lập tức.
318. One very important point: the “as if method” lets loose the fires of comprehension. Through its use we see our present life and all its limitations in a new light.
318. Một điểm rất quan trọng: “phương pháp như thể” giải phóng những ngọn lửa của sự thấu hiểu. Nhờ sử dụng phương pháp này, chúng ta nhìn đời sống hiện tại cùng mọi giới hạn của nó dưới một ánh sáng mới.
319. To an extent we are dealing with “sympathetic magic”. Like resonates to like.
319. Ở một mức độ nào đó, chúng ta đang bàn đến “huyền thuật tương cảm”. Những gì tương đồng cộng hưởng với nhau.
320. We can hardly over-estimate the value of this paragraph as indicating a most effective tool for spiritual transformation.
320. Khó có thể đánh giá quá cao giá trị của đoạn này khi nó chỉ ra một công cụ vô cùng hữu hiệu cho sự chuyển đổi tinh thần.
321. Through the “as if”, the imaginary is rendered real. Through the “as if” one may approach and become that toward which one aspires. Through the “as if” one can being to merge with soul and approach greater intimacy with the Ashram and the Master.
321. Qua “như thể”, điều tưởng tượng trở thành hiện thực. Qua “như thể”, người ta có thể tiếp cận và trở thành điều mình khát vọng hướng tới. Qua “như thể”, người ta có thể bắt đầu hoà nhập với linh hồn và tiến đến sự thân thiết sâu sắc hơn với ashram và Chân sư.
322. What is fundamentally important is that the “as if method” is not one of striving and fiery aspiration. It originates from a different part of the astral body the part from which imagination originates and utilizes the mind far more than aspiration, per se, can.
322. Điều quan trọng căn bản là “phương pháp như thể” không phải là phương pháp gắng sức và khát vọng rực lửa. Nó bắt nguồn từ một phần khác của thể cảm dục, phần phát sinh sự tưởng tượng, và vận dụng thể trí nhiều hơn hẳn so với khả năng của chính khát vọng.
323. The “as if method” as we begin to sense its dynamics utilizes the ajna and heart centers, and not the solar plexus as does the process of aspiration. This does not mean that aspiration should be discontinued. It must be continued, but a different approach to progress is required of the more mentally polarized disciple. The mentally polarized disciple is one who can align at will with the plane of higher mind where what we usually call the soul has its habitat.
323. Khi chúng ta bắt đầu cảm nhận động lực của “phương pháp như thể”, phương pháp này vận dụng các trung tâm ajna và tim, thay vì tùng thái dương như tiến trình khát vọng. Điều này không có nghĩa là nên ngừng khát vọng. Khát vọng phải tiếp tục, nhưng người đệ tử phân cực trí tuệ hơn cần một cách tiếp cận khác để tiến bộ. Đệ tử phân cực trí tuệ là người có thể tuỳ ý chỉnh hợp với cõi thượng trí, nơi điều chúng ta thường gọi là linh hồn cư ngụ.
324. To move from aspiration to “as if” represents a major ‘shifting of spiritual gears’
324. Chuyển từ khát vọng sang “như thể” biểu thị một sự “chuyển số tinh thần” quan trọng
The trends of your life and service are established. Seek not to change them. The fund of knowledge which you have accumulated in this life is very real.
Những chiều hướng trong đời sống và công việc phụng sự của em đã được xác lập. Đừng tìm cách thay đổi chúng. Vốn tri thức em đã tích lũy trong kiếp này là rất thực.
This has been one of the purposes of being born in the sign Gemini.
Đây là một trong những mục đích của việc sinh ra trong dấu hiệu Song Tử.
325. The Tibetan honors the Law of Economy in the process of spiritual growth.
325. Chân sư Tây Tạng tôn trọng Định luật Tiết Kiệm trong tiến trình tăng trưởng tinh thần.
Draw, however, what you need for your teaching work from the ancient reservoir of wisdom, and not so much from the pool of knowledge.
Tuy nhiên, hãy rút ra những gì em cần cho công việc giảng dạy từ kho minh triết cổ xưa, thay vì quá nhiều từ kho tri thức.
The contents of the causal body are more easily accessed under the progressed Venus, natal Mercury conjunction.
Dưới góc đồng vị giữa Sao Kim tiến trình và Sao Thủy bản mệnh, nội dung của thể nguyên nhân trở nên dễ tiếp cận hơn.
326. Wisdom is of the heart and knowledge of the mind. DK seeks to induce a more intuitive heart activity.
326. Minh triết thuộc về trái tim, còn tri thức thuộc về thể trí. Chân sư DK tìm cách khơi dậy một hoạt động của trái tim mang tính trực giác hơn.
327. Really, the Gemini/Sagittarius axis which is so prominent in the astrological chart of IBS is an axis not only of knowledge but of intuition.
327. Thật ra, trục Song Tử/Nhân Mã, vốn rất nổi bật trong lá số chiêm tinh của IBS, là một trục không chỉ của tri thức mà còn của trực giác.
328. Wisdom, however, is related to deep and abiding principles, whereas knowledge is relative and more related to time and space conditions.
328. Tuy nhiên, minh triết liên quan đến những nguyên khí sâu xa và bền vững, trong khi tri thức mang tính tương đối và liên quan nhiều hơn đến các điều kiện thời gian và không gian.
Deepen your meditation and intensify the inner silence within which it is desirable that you should live. Think humbly,
Hãy đào sâu việc tham thiền và tăng cường sự im lặng nội tâm mà em nên sống trong đó. Hãy suy nghĩ khiêm nhường,
with an envisioned Sagittarian perspective
với một góc nhìn Nhân Mã được hình dung rõ ràng
speak wisely
nói năng minh triết
under the union of Gemini and Sagittarius to both of which Mercury, the planet of speech, is related
dưới sự kết hợp của Song Tử và Nhân Mã, cả hai đều có liên hệ với Sao Thủy, hành tinh của lời nói
and work ceaselessly
và làm việc không ngừng.
no problem, considering the intensity and activity of the rays with which she is provided .
điều này không khó, xét đến cường độ và tính hoạt động của các cung mà bà có.
329. The Tibetan offers His chela some of the well-known platitudes of the spiritual path, but now she has experienced sufficient simplification to value and assimilate them.
329. Chân sư Tây Tạng trao cho đệ tử Ngài một số lời khuyên quen thuộc trên con đường tinh thần, nhưng giờ đây bà đã trải nghiệm đủ sự đơn giản hoá để trân trọng và tiếp thu chúng.
330. Humility, wisdom, and ceaseless work—these are enjoined by DK upon His disciple.
330. Khiêm nhường, minh triết và làm việc không ngừng—đó là những điều Chân sư DK căn dặn đệ tử Ngài.
331. We note that the Master calls now not only for an outer silence as He did when counseling a greater control of speech , but for an intensified “inner silence”. This is an attentiveness to the Master’s voice and a readiness to see the Master’s face.
331. Chúng ta lưu ý rằng giờ đây Chân sư không chỉ yêu cầu sự im lặng bên ngoài như khi Ngài khuyên kiểm soát lời nói chặt chẽ hơn, mà còn yêu cầu tăng cường “sự im lặng bên trong”. Đây là sự chú tâm lắng nghe tiếng nói của Chân sư và sự sẵn sàng nhìn thấy dung nhan của Ngài.
332. It is interesting to see how much DK has focussed upon modes of inner contact when instructing IBS. To do this, He has had to reveal the personality habits that have militated against this contact. He is attempting to draw her more fully into the silence of the inner Ashram. This has required a major readjustment on her part.
332. Thật thú vị khi thấy Chân sư DK đã chú trọng nhiều đến các phương thức tiếp xúc bên trong khi huấn thị IBS. Để làm điều này, Ngài đã phải chỉ rõ những thói quen phàm ngã cản trở sự tiếp xúc ấy. Ngài đang cố gắng dẫn bà vào sâu hơn trong sự im lặng của ashram bên trong. Điều này đòi hỏi bà phải điều chỉnh lại rất nhiều.
The opportunity today is great for all disciples everywhere, and the potencies at their disposal are more vital than ever before. Link up with me each day and count on my sustaining love.
Ngày nay, cơ hội dành cho mọi đệ tử ở khắp nơi đều lớn lao, và những quyền năng họ có thể sử dụng tràn đầy sinh lực hơn bao giờ hết. Mỗi ngày hãy kết nối với Tôi và tin cậy vào tình thương nâng đỡ của Tôi.
333. DK ends this instruction on an affirmative note. The function of the Master and of every great teacher is, ultimately, to inspire.
333. Chân sư DK kết thúc huấn thị này bằng một lời khẳng định tích cực. Xét cho cùng, chức năng của Chân sư và mọi huấn sư vĩ đại là truyền cảm hứng.
334. It is fire which will bring liberation and the Master must tend the evocation of the fire in His chelas—both individually and in relation to the group especially so .
334. Chính lửa sẽ đem lại sự giải thoát, và Chân sư phải chăm lo việc gợi lên lửa trong các đệ tử Ngài—cả ở từng cá nhân lẫn, đặc biệt, trong mối liên hệ với nhóm.
335. A great word resounds through Master DK’s Teaching: that word is “opportunity”. A word to the wise is sufficient.
335. Một từ trọng đại vang lên xuyên suốt Giáo Huấn của Chân sư DK: đó là từ “cơ hội”. Với người minh triết, một lời là đủ.
Relocated Solar Return for June 2, 1946: This if the final Solar Return chart occurring before the last instruction given by the Tibetan to the New Seed Group members {though some received one more individual instruction in 1948}. This chart was effective during a period of deep disappointment, as the New Seed Group was discontinued in late 1946. The mark of this chastening in IBS’ Solar Return is the elevated Saturn/Moon conjunction in Cancer—conjuncting the MC. We remember that Cancer is a sign specifically related to the Ashram the fourth house , and that the Moon orthodoxly rules Cancer while Saturn is in detriment in this sign. The outer ashramic experiment was coming to an end, and there was much distress, especially for IBS. Libra, however, rises, with Jupiter on the Ascendant, and Chiron, Juno and Neptune all in Libra in the twelfth house, not only of endings of but of mercy. The Libran relationship with the Master continued, but “behind the scenes”.
Hồi quy Mặt Trời theo địa điểm chuyển đến ngày 2 tháng 6 năm 1946: Đây là lá số Hồi quy Mặt Trời cuối cùng trước huấn thị cuối mà Chân sư Tây Tạng trao cho các thành viên Nhóm Hạt Giống Mới {dù một số người còn nhận thêm một huấn thị riêng vào năm 1948}. Lá số này có hiệu lực trong một giai đoạn thất vọng sâu sắc, vì Nhóm Hạt Giống Mới ngừng hoạt động vào cuối năm 1946. Dấu hiệu của trải nghiệm đau buồn mang tính rèn luyện này trong lá số Hồi quy Mặt Trời của IBS là góc đồng vị Sao Thổ/Mặt Trăng ở vị trí cao trong Cự Giải—đồng vị với Thiên Đỉnh. Chúng ta nhớ rằng Cự Giải là một dấu hiệu có liên hệ đặc biệt với ashram, nhà thứ tư, và Mặt Trăng cai quản Cự Giải theo chiêm tinh ngoại môn, trong khi Sao Thổ ở thế bất lợi trong dấu hiệu này. Thử nghiệm ashram bên ngoài đang đi đến hồi kết, và có nhiều đau khổ, đặc biệt đối với IBS. Tuy nhiên, Thiên Bình mọc lên, với Sao Mộc trên Điểm mọc, còn Chiron, Juno và Sao Hải Vương đều ở Thiên Bình trong nhà mười hai, ngôi nhà không chỉ của những kết thúc mà còn của lòng từ bi. Mối quan hệ mang tính Thiên Bình với Chân sư vẫn tiếp tục, nhưng “ở hậu trường”.
Progressions, Directions and Transits for August 15, 1946:
Các tiến trình, phép chuyển hướng và quá cảnh ngày 15 tháng 8 năm 1946:
Main Chart Features for the Dynamic Chart: On December 19, 1945, there was a lunar eclipse at 26ºGem50’ on the Ascendant/Descendant axis, followed by an eclipse on June 14, 1946 with a lunar eclipse at 23ºSag05’, again, on the Ascendant/Descendant axis. Important changes of identity and relationship are signaled by both, and can be reasonable interpreted as relating to the impact upon IBS of the discontinuance of the Tibetan’s New Seed Group. The progressed Moon in Sagittarius in nearly conjunct the Ascendant. The progressed Ascendant at 9ºPisces01’ has moved into the degree opposite the natal Uranus at 9ºVirgo44’, indicating disruption and transformation of relations. Saturn by transit is moving towards the natal Moon and will arrive by conjunction by mid-October, 1946, shortly after this last instruction. The transiting South Node and the progressed MC are both in the same degree, and almost the same minute of arc, indicating an important karmic point with respect to the dharma. Certainly, the disbanding of the New Seed Group was perceived as such by IBS. And transiting Pluto is sextiling the natal Sun. Uranus, by transit, will conjunct the natal Descendant within a year’s time, indicating the change which has come about in all higher studies {the ninth house of natal Uranus} and in the significant occult relations which the New Seed Group had represented.
Những đặc điểm chính của lá số động: Ngày 19 tháng 12 năm 1945, có một nguyệt thực tại 26ºSong Tử50’ trên trục Điểm mọc/Điểm lặn, tiếp theo là một kỳ thực ngày 14 tháng 6 năm 1946 với nguyệt thực tại 23ºNhân Mã05’, một lần nữa trên trục Điểm mọc/Điểm lặn. Cả hai báo hiệu những thay đổi quan trọng về bản sắc và mối quan hệ, và có thể hợp lý diễn giải rằng chúng liên quan đến tác động đối với IBS khi Nhóm Hạt Giống Mới của Chân sư Tây Tạng ngừng hoạt động. Mặt Trăng tiến trình trong Nhân Mã gần như đồng vị với Điểm mọc. Điểm mọc tiến trình tại 9ºSong Ngư01’ đã đi vào độ đối diện với Sao Thiên Vương bản mệnh tại 9ºXử Nữ44’, cho thấy sự xáo trộn và chuyển đổi các mối quan hệ. Sao Thổ quá cảnh đang tiến về Mặt Trăng bản mệnh và sẽ đạt đồng vị vào giữa tháng 10 năm 1946, ít lâu sau huấn thị cuối này. Nút Nam quá cảnh và Thiên Đỉnh tiến trình đều ở cùng một độ, gần như cùng một phút cung, cho thấy một thời điểm nghiệp quả quan trọng đối với bổn phận tinh thần. Chắc chắn IBS đã nhìn nhận việc giải thể Nhóm Hạt Giống Mới theo cách ấy. Và Sao Diêm Vương quá cảnh đang tạo góc lục hợp với Mặt Trời bản mệnh. Trong vòng một năm, Sao Thiên Vương quá cảnh sẽ đồng vị với Điểm lặn bản mệnh, cho thấy sự thay đổi đã xảy ra trong mọi nghiên cứu cao hơn {nhà thứ chín của Sao Thiên Vương bản mệnh} và trong những mối quan hệ huyền bí quan trọng mà Nhóm Hạt Giống Mới từng đại diện.
August 1946—Tháng Tám 1946 – Tháng Tám 1946—Tháng Tám 1946
MY FRIEND OF MANY YEARS:
NGƯỜI BẠN LÂU NĂM CỦA TÔI:
I know how greatly distressed you will be at the termination of our outer not the inner fellowship; forget not that the outer fellowship was only the sign of a strong, vital and unshatterable inner fellowship. The inner relation of the group to me and to the Ashram and towards each other is as strong as it has ever been; it is in no wise altered. Because of the very real progress you have made in freeing yourself from glamour, that fellowship can now become even more intimate.
Tôi biết em sẽ đau buồn biết bao khi tình thân bên ngoài của chúng ta chấm dứt (chứ không phải tình thân bên trong); đừng quên rằng tình thân bên ngoài chỉ là dấu hiệu của một tình thân bên trong mạnh mẽ, sống động và không gì phá vỡ được. Mối quan hệ bên trong của nhóm với Tôi, với ashram và với nhau vẫn bền chặt như từ trước đến nay; nó không hề thay đổi. Nhờ những tiến bộ rất thực mà em đã đạt được trong việc giải thoát mình khỏi ảo cảm, tình thân ấy giờ đây có thể trở nên gần gũi hơn nữa.
One of the indications of this sustained inner fellowship and deepening ashramic intimacy may be the imminent movement of progressing Venus into Cancer, the sign which generically represents the Ashram as spiritual home.
Một trong những dấu hiệu của tình đồng môn bên trong được duy trì này và sự thân thiết ngày càng sâu sắc với ashram có thể là việc Sao Kim tiến trình sắp đi vào Cự Giải, dấu hiệu nói chung biểu thị ashram như mái nhà tinh thần.
336. The Master well knew the impact of the discontinuation on the psyches of the group participants. One of His tasks was to buffer that impact by reminding them of the assurance of continued ashramic affiliation. “…the outer fellowship was only the sign of a strong, vital and unshatterable inner fellowship”.
336. Chân sư biết rõ tác động của việc ngừng hoạt động lên tâm lý những người tham gia nhóm. Một trong những nhiệm vụ của Ngài là làm dịu tác động ấy bằng cách nhắc họ nhớ rằng mối liên kết với ashram chắc chắn vẫn tiếp tục. “…tình đồng môn bên ngoài chỉ là dấu hiệu của một tình đồng môn bên trong mạnh mẽ, đầy sinh lực và không thể phá vỡ”.
337. As a result of her progress in freeing herself from glamor, DK assures her of the present possibility of an even more intimate fellowship with the inner Ashram.
337. Do bà đã tiến bộ trong việc giải thoát mình khỏi ảo cảm, Chân sư DK bảo đảm với bà rằng giờ đây có thể đạt một tình đồng môn thân thiết hơn nữa với ashram bên trong.
338. Disciples passing through such a discontinuation had the opportunity to discriminate between outer appearance and inner and abiding spiritual facts.
338. Những đệ tử trải qua việc ngừng hoạt động như thế có cơ hội phân biện giữa vẻ ngoài và những thực tại tinh thần bên trong, bền vững.
339. Each of them would now be called upon to emphasize a more subjective approach. They would have to themselves of the fact that failure is to be understood as a prelude to future success.
339. Giờ đây, mỗi người trong số họ sẽ cần chú trọng một cách tiếp cận chủ quan hơn. Họ sẽ phải tự nhắc mình rằng cần thấu hiểu thất bại như bước mở đầu cho thành công trong tương lai.
I can reach you more easily than in the past. I am telling you this because I know it will reassure you and because I know you will not take advantage of it. The further a disciple penetrates into the Ashram, the less need he finds for contact with the Master; he comes to realise the extent of [556] the Master's responsibilities and arrives at a juster value of his own relative unimportance. He then submits himself to "the sustaining aura of the Ashram."
Tôi có thể đến với em dễ dàng hơn trước. Tôi nói điều này vì biết nó sẽ khiến em an lòng và vì biết em sẽ không lợi dụng điều đó. Càng thâm nhập sâu vào ashram, người đệ tử càng thấy ít cần tiếp xúc với Chân sư; y dần nhận ra mức độ rộng lớn của [556] những trách nhiệm Chân sư gánh vác và đánh giá đúng hơn tầm quan trọng tương đối nhỏ bé của mình. Khi ấy, y đặt mình dưới “hào quang nâng đỡ của ashram”.
340. Master DK has been training His disciple in the art of communicating more directly with the Ashram and with Himself as a Master. The training focussed on the three circles of ashramic life was directed to this end—producing truer communication and an increasing ashramic intimacy.
340. Chân sư DK đã huấn luyện đệ tử Ngài trong nghệ thuật giao tiếp trực tiếp hơn với ashram và với chính Ngài trong cương vị một Chân sư. Việc huấn luyện tập trung vào ba vòng của đời sống ashram nhằm mục đích này—tạo nên sự giao tiếp chân thực hơn và sự thân thiết ngày càng sâu sắc với ashram.
341. Now He assures His chela that much along that line has been achieved, and that He can reach her more easily than heretofore. It is also, thereby, suggested that she can reach Him more easily than previously, for she is in a position to “take advantage” of that contact should she so choose. Can it mean that she is approaching the stage of Chela on the Thread? She has probably not achieved that state, more closely associated with the general period of the third initiation, but her line of approach to that state seems be clearer than before and she is on her way.
341. Giờ đây, Ngài bảo đảm với đệ tử Ngài rằng bà đã đạt được nhiều điều theo hướng ấy, và rằng Ngài có thể tiếp cận bà dễ dàng hơn trước đây. Qua đó, cũng có hàm ý rằng bà có thể tiếp cận Ngài dễ dàng hơn trước, vì bà đang ở vị thế có thể “lợi dụng” sự tiếp xúc ấy nếu bà lựa chọn như vậy. Liệu điều này có nghĩa bà đang tiến gần giai đoạn Đệ tử trên đường dây không? Có lẽ bà chưa đạt trạng thái ấy, vốn liên hệ chặt chẽ hơn với thời kỳ chung quanh lần điểm đạo thứ ba, nhưng con đường tiếp cận trạng thái ấy của bà dường như đã rõ ràng hơn trước, và bà đang tiến bước.
342. DK is suggesting that she has penetrated further into the Ashram than in earlier days, and He is advising her of the correct attitude for one who penetrates in this manner.
342. Chân sư DK đang gợi ý rằng bà đã đi sâu vào ashram hơn những ngày trước, và Ngài đang chỉ cho bà thái độ đúng đắn của người tiến vào theo cách này.
343. The neophyte in the Ashram is likely to think much of the Master and to wish that He would be attentive. This ‘beginner’s attitude’ shifts as the disciple learns more about the vast responsibilities upheld by the Master.
343. Người sơ cơ trong ashram thường nghĩ nhiều về Chân sư và mong Ngài chú ý đến mình. “Thái độ của người mới bắt đầu” này thay đổi khi người đệ tử hiểu thêm về những trách nhiệm bao la mà Chân sư gánh vác.
344. There is indeed a source of sustainment coming from the Ashram. DK calls it “the sustaining aura of the Ashram”, and to its utilization the newly entered chela is entitled. When the disciple avails himself of the sustainment of this aura, it does not require the Master’s direct attention.
344. Quả thật có một nguồn nâng đỡ đến từ ashram. Chân sư DK gọi đó là “hào quang nâng đỡ của ashram”, và người đệ tử mới gia nhập có quyền sử dụng nguồn này. Khi người đệ tử tận dụng sự nâng đỡ của hào quang ấy, điều đó không đòi hỏi sự chú ý trực tiếp của Chân sư.
345. The experienced ashramic member is governed by a wise and just sense of proportion.
345. Thành viên ashram giàu kinh nghiệm chịu sự hướng dẫn của một ý thức về tỉ lệ minh triết và đúng đắn.
346. Establishing a true sense of proportion is not easy for the sixth ray disciple whose tendency towards undue emphasis is always tending towards distortion. IBS, however, has made much progress along these lines, and of this progress DK seems to be reassuring her.
346. Việc xác lập một ý thức về tỉ lệ chân thực không dễ đối với đệ tử cung sáu, người có khuynh hướng nhấn mạnh quá mức luôn dễ dẫn đến méo lệch. Tuy nhiên, IBS đã tiến bộ nhiều về những phương diện này, và dường như Chân sư DK đang trấn an bà về sự tiến bộ ấy.
In my last two communications to you I left you with the impression that I had already given you as much teaching as would serve to carry you through this life. I urged on you a steadfast adherence to established spiritual habits. Enough emphasis is seldom put on the necessity for such a stabilisation of spiritual rhythm, and too much emphasis is frequently laid upon that which is new and on progress.
Trong hai lần trao đổi gần nhất với em, Tôi đã để lại cho em ấn tượng rằng Tôi đã trao đủ giáo huấn để dẫn dắt em suốt kiếp này. Tôi đã thúc giục em kiên trì giữ vững những thói quen tinh thần đã hình thành. Người ta hiếm khi nhấn mạnh đầy đủ sự cần thiết phải ổn định nhịp điệu tinh thần như vậy, mà thường quá chú trọng điều mới mẻ và sự tiến bộ.
Here, D.K. again speaks to the need for stability which confronts Geminian aspirants and disciples, and to the pressing desire for progress which accompanies the Sagittarius energy.
Ở đây, Chân sư DK lại nói đến nhu cầu ổn định mà những người chí nguyện và đệ tử Song Tử phải đối diện, cùng lòng khao khát tiến bộ thôi thúc đi kèm năng lượng Nhân Mã.
347. IBS has no seventh ray energy in her present ray chart, and the only astrological sign conveying the seventh ray is Aries, in which Mars not a very seventh ray planet is placed.
347. IBS không có năng lượng cung bảy trong biểu đồ cung hiện tại, và dấu hiệu chiêm tinh duy nhất truyền dẫn cung bảy là Bạch Dương, nơi có Sao Hỏa, một hành tinh không mang nhiều tính cung bảy.
348. DK is emphasizing the value of spiritual habits and their stabilization. We remember that one of the mantra for Gemini is “Let instability do its work.” Sagittarius, too, is always progressive rather than given to stabilization through repetition, yet the one-pointedness of Sagittarius can be considered a potent stabilizing factor.
348. Chân sư DK đang nhấn mạnh giá trị của những thói quen tinh thần và việc ổn định chúng. Chúng ta nhớ rằng một trong những mantram của Song Tử là “Hãy để sự bất ổn thực hiện công việc của nó.” Nhân Mã cũng luôn hướng đến tiến bộ hơn là thiên về ổn định qua sự lặp lại, nhưng tính nhất tâm của Nhân Mã có thể được xem là một yếu tố ổn định mạnh mẽ.
349. DK is advising His disciples to build firmly, stabilizing their gains, rather than to rush ahead in quest of progress and the ever new. We can see from many features in her horoscope that IBS tends to rush ahead.
349. Chân sư DK đang khuyên các đệ tử Ngài xây dựng vững chắc, ổn định những gì đã đạt được, thay vì vội vã tiến lên tìm kiếm sự tiến bộ và những điều luôn mới mẻ. Qua nhiều đặc điểm trong lá số chiêm tinh của bà, chúng ta có thể thấy IBS có khuynh hướng vội vã tiến lên.
350. Really, this last instruction from DK is one of reassurance and attempted stabilization. He acts to preserve the integrity of the Ashram by stabilizing the consciousness of some of its outer members. Can the group members remain steadfast in their spiritual practices even though the outer organization which seemed to hold them together is disbanded? They can, if the inner ashramic organism is to them a vivid reality.
350. Thật ra, huấn thị cuối này của Chân sư DK nhằm trấn an và cố gắng tạo sự ổn định. Ngài hành động để giữ gìn tính toàn vẹn của ashram bằng cách ổn định tâm thức của một số thành viên bên ngoài. Liệu các thành viên nhóm có thể giữ vững những thực hành tinh thần của mình dù tổ chức bên ngoài, vốn dường như gắn kết họ, đã giải thể không? Họ có thể, nếu đối với họ, cơ thể sống ashram bên trong là một thực tại sống động.
Yet disciples have to learn to turn their spiritual habits into instinctual spiritual responsiveness; this is the higher correspondence to the instinctual animal reactions with which we are all familiar.
Tuy nhiên, các đệ tử phải học cách biến những thói quen tinh thần của mình thành khả năng đáp ứng tinh thần theo bản năng; đây là sự tương ứng cao hơn của những phản ứng bản năng nơi động vật mà tất cả chúng ta đều quen thuộc.
The main positive features of the astrological chart thus become instinctual, and the disciple can rely upon that which previously he so assiduously cultivated.
Nhờ vậy, những đặc điểm tích cực chủ yếu của lá số chiêm tinh trở thành bản năng, và người đệ tử có thể dựa vào điều trước kia y đã chuyên cần vun bồi.
351. Our spirituality is to become automatic. We are not merely to stand upon a platform of correct spiritual habits, but we are to become constantly spiritually responsive. Spiritual responsiveness is a readiness to respond spiritually to all impacts—even those with which we have little familiarity, and in relation to which spiritual habits may have not been established. This represents a further step.
351. Đời sống tinh thần của chúng ta phải trở nên tự động. Chúng ta không chỉ đứng trên nền tảng những thói quen tinh thần đúng đắn, mà còn phải trở nên luôn sẵn sàng đáp ứng về mặt tinh thần. Khả năng đáp ứng tinh thần là sự sẵn sàng đáp ứng về mặt tinh thần trước mọi tác động—kể cả những tác động mà chúng ta ít quen thuộc, và đối với chúng, có thể chưa xác lập những thói quen tinh thần. Điều này biểu thị một bước tiến xa hơn.
352. The sooner certain spiritual preoccupations become instinctual, the sooner is consciousness released for deeper and higher forms of communication. We do not think of shifting the gears of a car every time we do so; our mind is rightfully on other things.
352. Một số mối quan tâm tinh thần càng sớm trở thành bản năng thì tâm thức càng sớm được giải phóng để hướng đến những hình thức giao tiếp sâu hơn và cao hơn. Chúng ta không nghĩ đến việc chuyển số xe mỗi lần thực hiện động tác ấy; thể trí của chúng ta dành cho những điều khác là đúng.
When this has been achieved, the disciple can then depend upon himself automatically to do or say the right thing; more important still, the Master can count upon him, knowing that he can be depended upon.
Khi đã đạt được điều này, người đệ tử có thể tin cậy rằng mình sẽ tự động làm hoặc nói điều đúng đắn; quan trọng hơn nữa, Chân sư có thể trông cậy vào y, biết rằng y là người đáng tin cậy.
A great eventual gift of the sixth ray is steadfastness; the first ray is in its purposes ever steadfast.
Một món quà lớn lao mà cuối cùng cung sáu đem lại là sự kiên định; cung một luôn kiên định trong các mục đích của nó.
353. The Master looks for reliability in the chela. Then He can fully extend His trust and the prerogatives of that trust.
353. Chân sư tìm kiếm tính đáng tin cậy nơi đệ tử. Khi ấy, Ngài có thể hoàn toàn trao sự tín nhiệm cùng những đặc quyền đi kèm sự tín nhiệm ấy.
354. Two types of dependence or trust are here discussed; 1 the disciples’ trust in himself and 2 the Master’s trust in his disciple.
354. Ở đây bàn đến hai loại nương tựa hay tin cậy; 1 sự tin cậy của người đệ tử vào chính mình và 2 sự tin cậy của Chân sư vào đệ tử Ngài.
355. Hierarchy is an affiliation based upon unshatterable trust.
355. Thánh đoàn là một sự liên kết dựa trên lòng tin không thể lay chuyển.
356. When DK undertook the training of IBS she was not yet a reliable and trustworthy disciple, but she was unwaveringly sincere, and this was the guarantee of her future accomplishments.
356. Khi Chân sư DK đảm nhận việc huấn luyện IBS, bà chưa phải là một đệ tử đáng tin và xứng đáng với sự tín nhiệm, nhưng bà chân thành một cách kiên định, và đó là sự bảo đảm cho những thành tựu tương lai của bà.
He is then "permitted to move throughout the Ashram without impediment, and all the Plan is safe with him." This is what I want you to aim at in your remaining years, so that you will in your next life from childhood, express the way of the disciple.
Khi ấy, y “được phép đi khắp ashram mà không gặp trở ngại, và toàn bộ Thiên Cơ được an toàn trong tay y”. Đây là điều Tôi muốn em hướng tới trong những năm còn lại, để trong kiếp tới, ngay từ thời thơ ấu, em sẽ biểu lộ lối sống của người đệ tử.
The word “aim” appeals to the forward-looking Sagittarian consciousness. After so great a blow as the loss of the NSG, D.K. is attempting to direct the consciousness of his disciples forward in a positive and constructive manner.
Từ “hướng tới” lôi cuốn tâm thức Nhân Mã vốn nhìn về phía trước. Sau một đòn giáng lớn lao như việc mất đi NSG, Chân sư DK đang cố gắng hướng tâm thức các đệ tử Ngài tiến về phía trước theo cách tích cực và mang tính xây dựng.
357. DK seems to be quoting either the words of another Master or Teacher or from the Old Commentary.
357. Dường như Chân sư DK đang trích lời của một Chân sư hay Huấn sư khác, hoặc trích từ Cổ Luận.
358. A great incentive is offered to IBS as a future possibility, regardless of the disbanding of the outer group.
358. Một động lực khích lệ lớn lao được trao cho IBS như một khả năng tương lai, bất kể việc nhóm bên ngoài giải thể.
359. Only he can move throughout the Ashram without impediment who automatically safeguards the Plan.
359. Chỉ người tự động bảo vệ Thiên Cơ mới có thể đi khắp ashram mà không gặp trở ngại.
360. DK is helping IBS prepare for her next incarnation. He seeks to see her oriented as a disciple from the childhood phase of her next life. What is suggested, however, is that disciples may not find themselves immediately evidencing a disciplic orientation. They may have to find it again, and this can be a relatively length process and, even, a waste of precious time.
360. Chân sư DK đang giúp IBS chuẩn bị cho kiếp lâm phàm kế tiếp của bà. Ngài muốn thấy bà có định hướng của một đệ tử ngay từ thời thơ ấu trong kiếp sống tới. Tuy nhiên, điều được gợi ra là các đệ tử có thể không lập tức biểu lộ định hướng của một đệ tử. Họ có thể phải tìm lại định hướng ấy, và đây có thể là một tiến trình tương đối dài, thậm chí làm lãng phí thời gian quý báu.
361. The ongoing integrity of the Ashram both inner and outer is DK’s concern. He seeks to preserve a continuity of effort on both sides the veil, and to minimize the disruption caused by what we might call ‘incarnational forgetfulness’.
361. Chân sư DK quan tâm đến việc duy trì sự toàn vẹn của ashram, cả bên trong lẫn bên ngoài. Ngài tìm cách gìn giữ tính liên tục của nỗ lực ở cả hai phía của bức màn, và giảm thiểu sự gián đoạn do điều mà chúng ta có thể gọi là ‘sự quên lãng khi lâm phàm’.
362. We see how much the Master is aiming His counsel in the direction of IBS’ future oriented, Sagittarian Ascendant—the sign which is to lead her closer to the center of soul life by the end of her present incarnation. The imagery used has a definitely Sagittarian appeal.
362. Chúng ta thấy Chân sư hướng lời khuyên của Ngài rất nhiều về Điểm mọc Nhân Mã hướng tới tương lai của IBS—dấu hiệu sẽ dẫn bà đến gần trung tâm của đời sống linh hồn hơn vào cuối kiếp lâm phàm hiện tại. Những hình ảnh được sử dụng rõ ràng có sức thu hút đối với Nhân Mã.
In my last instruction to you I gave you the injunction to act as if the ideal which you have set before yourself was an accomplished fact.
Trong huấn thị gần nhất dành cho em, Tôi đã chỉ dẫn em hành động như thể lý tưởng em đặt ra trước mình đã là một thực tại thành tựu.
Not only is this an example of the “as if” attitude, but calls upon the ability of the first ray disciples to assert the fact.
Đây không chỉ là một ví dụ về thái độ “như thể”, mà còn đòi hỏi các đệ tử cung một vận dụng khả năng khẳng định sự thật.
363. We see the Master relating the sixth ray of idealism to the factuality of the first ray.
363. Chúng ta thấy Chân sư liên hệ cung sáu của chủ nghĩa lý tưởng với tính xác thực của cung một.
364. Using the “as if” attitude is one way to transform duality into unity, and the two into the one.
364. Vận dụng thái độ “như thể” là một cách chuyển đổi nhị nguyên thành hợp nhất, và hai thành một.
This as if behaviour is one of the most occult of practices. It in reality presupposes the imposition of the highest grasped aspiration upon the normal personality in the form of changed behaviour. This injunction is not the same in meaning as the injunction "as a man thinketh in his heart, so is he." That injunction, if rightly followed, brings about the imposition of mental control upon the personality; it affects the brain, and therefore the two lower vehicles. The as if type of behaviour for the disciple brings in a still higher factor than that of thought; it involves the constant attempt to live as if the soul not the mind but through the mind is in constant control and the dominating aspect of expression.
Cách hành xử như thể này là một trong những pháp thực hành huyền bí nhất. Thực chất, nó đòi hỏi phải để khát vọng cao nhất mà mình nắm bắt được chi phối phàm ngã thông thường dưới hình thức thay đổi cách hành xử. Huấn thị này không đồng nghĩa với lời dạy “con người suy nghĩ trong tâm thế nào thì con người là thế ấy”. Lời dạy ấy, nếu được tuân theo đúng đắn, sẽ thiết lập sự kiểm soát của thể trí đối với phàm ngã; nó tác động đến bộ não, và do đó đến hai hiện thể thấp hơn. Cách hành xử như thể (đối với người đệ tử) đưa vào một yếu tố còn cao hơn tư tưởng; nó bao hàm nỗ lực không ngừng sống như thể linh hồn (chứ không phải thể trí, nhưng thông qua thể trí) luôn nắm quyền kiểm soát và là phương diện chủ đạo trong sự biểu lộ.
If this as if attitude could be Mastered by IBS, the veiled rulership of the Leo Moon would become first ray/seventh ray Uranus, the planet of occultism, and not sixth ray Neptune which governs the personality and the astral body.
Nếu IBS có thể làm chủ thái độ như thể này, thì quyền cai quản ẩn sau Mặt Trăng Sư Tử sẽ chuyển sang Sao Thiên Vương cung một/cung bảy, hành tinh của huyền bí học, thay vì Sao Hải Vương cung sáu vốn cai quản phàm ngã và thể cảm dục.
365. DK emphasizes the deep occultism of the “as if” attitude. We come to understand the relation of this technique to both the sixth and first rays, with the influence of the seventh ray of manifestation suggested as well. If the “as if” attitude “presupposes the imposition of the highest grasped aspiration upon the normal personality in the form of changed behaviour”, then the sixth ray of aspiration, the first ray of imposition and the seventh ray of behavioral change or repatterning are all suggested.
365. Chân sư DK nhấn mạnh tính huyền bí sâu xa của thái độ “như thể”. Chúng ta dần thấu hiểu mối liên hệ của kỹ thuật này với cả cung sáu lẫn cung một, đồng thời ảnh hưởng của cung bảy của sự biểu hiện cũng được gợi ra. Nếu thái độ “như thể” “giả định việc áp đặt khát vọng cao nhất mà người ta nắm bắt được lên phàm ngã thông thường, dưới hình thức thay đổi cách hành xử”, thì cung sáu của khát vọng, cung một của sự áp đặt và cung bảy của việc thay đổi cách hành xử hay tái lập mô hình hành vi tất cả đều được gợi ra.
366. DK offers important occult distinctions. The “as if” attitude is higher than the injunction “as a man thinketh in his heart, so is he”, and He gives the reason why. The latter injunction facilitates mental control over the personality; it affects the brain and the two lower vehicles. The “as if” attitude is focussed at a level higher than that of mind. The disciple is to live “as if” the soul is the constantly controlling factor. A much higher level of energy than mind, per se, is imposed upon the personality.
366. Chân sư DK đưa ra những phân biệt huyền bí quan trọng. Thái độ “như thể” cao hơn lời căn dặn “con người suy nghĩ trong lòng mình thế nào thì con người ấy là thế ấy”, và Ngài giải thích lý do. Lời căn dặn sau tạo điều kiện cho trí tuệ kiểm soát phàm ngã; nó tác động đến bộ não và hai hiện thể thấp hơn. Thái độ “như thể” tập trung ở một cấp độ cao hơn thể trí. Đệ tử phải sống “như thể” linh hồn là yếu tố thường xuyên kiểm soát. Một cấp độ năng lượng cao hơn nhiều so với chính trí tuệ được áp đặt lên phàm ngã.
367. Both methods are ‘top-down’ methods, but the “as if” technique seeks the imposition of the disciple’s highest light upon the present personality condition. Its reach is higher and greater.
367. Cả hai phương pháp đều là phương pháp ‘từ trên xuống’, nhưng kỹ thuật “như thể” tìm cách áp đặt ánh sáng cao nhất của đệ tử lên tình trạng phàm ngã hiện tại. Tầm vươn của nó cao hơn và rộng hơn.
This may involve close thinking about the soul and its relation to the personality, but it is a great deal more than [557] just that. It necessitates, when correctly applied, the growing automatic control of the entire lower threefold man by the soul. I am going to give you six themes for meditation built around the as if idea. These will cover one year's work. I would like to see you take these themes and give them full consideration for three years. At the end of that time you will probably wish to go over all the work again, on a higher level and with a deeper intent.
Điều này có thể đòi hỏi suy nghĩ thấu đáo về linh hồn và mối quan hệ của linh hồn với phàm ngã, nhưng còn vượt xa [557] điều đó. Khi được áp dụng đúng đắn, nó đòi hỏi linh hồn ngày càng tự động kiểm soát toàn bộ phàm nhân tam phân. Tôi sẽ trao cho em sáu chủ đề tham thiền xoay quanh ý tưởng như thể. Những chủ đề này sẽ bao quát công việc của một năm. Tôi mong em dành trọn sự suy xét cho những chủ đề này trong ba năm. Khi kết thúc thời gian ấy, có lẽ em sẽ muốn làm lại toàn bộ công việc ở một cấp độ cao hơn và với chủ đích sâu sắc hơn.
Interestingly, these three years would take IBS to the point in time when A.A.B. had passed over.
Điều thú vị là ba năm này sẽ đưa IBS đến thời điểm A.A.B. đã qua đời.
368. So important is the “as if” attitude to IBS that DK continues to elaborate upon it. The benefit, of course, comes to all of us.
368. Thái độ “như thể” quan trọng đối với IBS đến mức Chân sư DK tiếp tục trình bày thêm về nó. Dĩ nhiên, tất cả chúng ta đều được hưởng lợi.
369. If the “as if” is correctly used, the result will be complete soul control of the personality. From this perspective, “as if” can be seen as an initiatory technique.
369. Nếu vận dụng đúng cách thái độ “như thể”, kết quả sẽ là linh hồn hoàn toàn kiểm soát phàm ngã. Từ góc nhìn này, có thể xem “như thể” là một kỹ thuật điểm đạo.
370. DK is outlining IBS’ work for the next six years. This, too, will contribute to her sense of continuity and lessen the impact of the outer disruption of the process of occult training in which she and her co-disciples were involved.
370. Chân sư DK đang phác thảo công việc của IBS trong sáu năm tới. Điều này cũng sẽ góp phần củng cố ý thức về tính liên tục của bà và giảm bớt tác động của sự gián đoạn bên ngoài đối với tiến trình huấn luyện huyền bí mà bà cùng các đệ tử đồng môn đang tham gia.
1. Sound the OM inaudibly three times, as a physical person, as an emotional person, and as a mind.
1. Xướng linh từ OM ba lần không thành tiếng, với tư cách một con người hồng trần, một con người cảm xúc và một thể trí.
Then sound the OM as the soul.
Sau đó, xướng linh từ OM với tư cách linh hồn.
371. Three important levels of identification are established.
371. Ba cấp độ đồng hoá quan trọng được thiết lập.
2. Themes for meditative reflection:
2. Những chủ đề để suy ngẫm trong tham thiền:
a. What, in your life, would happen if you really acted as if the soul were sounding the OM?
a. Điều gì sẽ xảy ra trong đời em nếu em thực sự hành động như thể linh hồn đang xướng linh từ OM?
372. Our level of identification would be elevated; we would discover ourselves, eventually, as the soul on its own plane.
372. Cấp độ đồng hoá của chúng ta sẽ được nâng cao; cuối cùng, chúng ta sẽ khám phá chính mình là linh hồn trên cõi riêng của linh hồn.
b. If you are truly thinking as if the mind were the instrument of the soul, what lines of thought will you have to eliminate, cultivate or express?
b. Nếu em thực sự suy nghĩ như thể thể trí là công cụ của linh hồn, em sẽ phải loại bỏ, vun bồi hoặc biểu lộ những chiều hướng tư tưởng nào?