← Bình GIảng Thư Chân sư Gửi Các Đệ tử

chapter 005 13

Trích nội dung chương

373. This can only be answered specifically by each of us. Major eliminations occur along the Path of Discipleship. The elimination of thoughts disruptive of the perception of unity is a major elimination. The heads of the Hydra represent such negative thoughts. 373. Mỗi người chúng ta chỉ có thể tự đưa ra câu trả lời cụ thể cho điều này. Những sự loại bỏ lớn diễn ra trên Con Đường Đệ Tử. Loại bỏ những tư tưởng phá vỡ sự nhận thức về hợp nhất là một sự loại bỏ quan trọng. Những cái đầu của quái vật Hydra tượng trưng cho các tư tưởng tiêu cực như vậy.


373. This can only be answered specifically by each of us. Major eliminations occur along the Path of Discipleship. The elimination of thoughts disruptive of the perception of unity is a major elimination. The heads of the Hydra represent such negative thoughts.

373. Mỗi người chúng ta chỉ có thể tự đưa ra câu trả lời cụ thể cho điều này. Những sự loại bỏ lớn diễn ra trên Con Đường Đệ Tử. Loại bỏ những tư tưởng phá vỡ sự nhận thức về hợp nhất là một sự loại bỏ quan trọng. Những cái đầu của quái vật Hydra tượng trưng cho các tư tưởng tiêu cực như vậy.

c. If you are realistically living as if the soul were visible in your daily life, what will happen to the astral body?

c. Nếu em thực sự sống như thể linh hồn hiển lộ rõ ràng trong đời sống hằng ngày, điều gì sẽ xảy ra với thể cảm dục?

374. Would the astral body disappear? Or would it flooded with the energy of love? Certainly, glamor would disappear and the astral body would be tranquilized.

374. Thể cảm dục sẽ biến mất chăng? Hay nó sẽ tràn ngập năng lượng bác ái? Chắc chắn, ảo cảm sẽ biến mất và thể cảm dục sẽ trở nên tĩnh lặng.

d. Provided the as if theory were controlling your physical brain and consequently your daily activities, in what way would it alter your mode of living? This is not the same as question a.

d. Nếu lý thuyết như thể chi phối bộ não hồng trần của em và do đó chi phối những hoạt động hằng ngày, nó sẽ thay đổi lối sống của em như thế nào? (Câu này không giống câu hỏi a.)

375. Would not the patterns of the etheric body be significantly modified and, consequently, external behavior also?

375. Chẳng phải các mô hình của thể dĩ thái sẽ thay đổi đáng kể, và do đó cách hành xử bên ngoài cũng vậy sao?

e. Do you understand clearly the difference between the "as a man thinketh...," and the as if modes of procedure? How do they differ in application?

e. Em có thấu hiểu rõ sự khác biệt giữa cách thực hành theo lời dạy “con người suy nghĩ trong tâm thế nào...” và cách thực hành như thể không? Chúng khác nhau ra sao khi áp dụng?

376. This we have discussed, but the distinctions between these two processes are subtle in application. To make the distinctions meaningful, the disciple must experience the difference between the imposition of mental control and the imposition of soul control. The lower and higher minds are involved. Both methods, however, do involve the heart. The “as if” method involves the heart more intensively.

376. Chúng ta đã bàn về điều này, nhưng khi áp dụng, những khác biệt giữa hai tiến trình này rất tinh tế. Để những phân biệt ấy có ý nghĩa, đệ tử phải trải nghiệm sự khác biệt giữa việc áp đặt sự kiểm soát của trí tuệ và việc áp đặt sự kiểm soát của linh hồn. Hạ trí và thượng trí đều tham gia. Tuy nhiên, cả hai phương pháp đều có sự tham gia của trái tim. Phương pháp “như thể” có sự tham gia mạnh mẽ hơn của trái tim.

f. What qualities would your particular mechanism or personality demonstrate if you acted as if you were anchored in the Ashram and not just on the periphery? Do not be vague in this reply, but be extremely personal in your analysis of the situation.

f. Bộ máy hay phàm ngã riêng của em sẽ biểu lộ những phẩm tính nào nếu em hành động như thể em đã bám trụ vững chắc trong ashram, chứ không chỉ ở ngoài rìa? Đừng trả lời mơ hồ, mà hãy phân tích tình hình thật cụ thể đối với chính em.

377. It is interesting to see the Master calling upon His disciple to be “extremely personal” in her analysis. He asks this presumably in order to short-cut any possibility of evasion through generalization.

377. Thật thú vị khi thấy Chân sư yêu cầu đệ tử của Ngài phân tích “hết sức cụ thể về chính bản thân”. Có lẽ Ngài yêu cầu như vậy để ngăn ngay mọi khả năng né tránh bằng cách khái quát hoá.

378. DK is asking for an analysis of the quality and kind of personality expression of the individual who is really anchored in the Ashram and not just standing on its periphery.

378. Chân sư DK đang yêu cầu phân tích phẩm tính và kiểu biểu lộ phàm ngã của người thực sự neo vững trong ashram chứ không chỉ đứng ở ngoại vi.

379. I think we can see that each of these questions is of immediate value to the sincere disciple.

379. Tôi nghĩ chúng ta có thể thấy rằng mỗi câu hỏi này đều có giá trị tức thời đối với người đệ tử chân thành.

3. Then, as if you were consciously standing before your Master and definitely aware of my presence, dedicate yourself to the service of the Ashram for this life and the next.

3. Sau đó, như thể em đang đứng một cách có ý thức trước Chân sư của mình và nhận biết rõ sự hiện diện của Tôi, hãy hiến dâng bản thân cho công việc phụng sự ashram trong kiếp này và kiếp tới.

380. The accepted disciple is directly related to the Master, and this relationship is constantly to be affirmed even if not allowed to take the place of concentration upon service

380. Đệ tử được chấp nhận có mối quan hệ trực tiếp với Chân sư, và phải thường xuyên khẳng định mối quan hệ này, dù không được để nó thay thế việc tập trung vào phụng sự

4. Say the new Invocation, sounding the OM after each stanza.

4. Đọc bài Khấn Nguyện mới, xướng linh từ OM sau mỗi khổ. [558]

[558]

[558]

5. Sound the OM at as high a point in consciousness as possible.

5. Xướng linh từ OM tại điểm cao nhất có thể trong tâm thức.

Then, my brother, go your way in peace,

Rồi, huynh đệ của tôi, hãy an nhiên đi tiếp con đường của em,

a quality of the high first ray and, essentially, of Shamballa

một phẩm tính của cung một ở cấp độ cao và, về bản chất, của Shamballa

knowing the ferment of living energies within you will enable you to act as if you were the soul. This will be a growing, conscious experience. Know too that I, your Master and your friend, will also be aware of it. My love surrounds you and the link remains unbroken.

biết rằng sự sôi động của những năng lượng sống bên trong sẽ giúp em hành động như thể em là linh hồn. Đây sẽ là một trải nghiệm có ý thức ngày càng phát triển. Cũng hãy biết rằng Tôi, Chân sư và người bạn của em, cũng sẽ nhận biết trải nghiệm ấy. Tình thương của Tôi bao bọc em, và mối liên kết vẫn không đứt đoạn.

381. DK’s final words to IBS are full of promise. Her life process has been characterized by a “ferment of living energies”. From this ferment, the Master predicts a positive outcome. She will emerge from turbulence into the realized “peace” of the soul. The soul will be consciously realized.

381. Những lời cuối của Chân sư DK dành cho IBS đầy hứa hẹn. Tiến trình sống của bà có đặc trưng là “sự sôi động của các năng lượng sống”. Từ sự sôi động này, Chân sư tiên đoán một kết quả tích cực. Bà sẽ thoát khỏi sự xáo động để đi vào “bình an” của linh hồn mà bà chứng nghiệm. Bà sẽ chứng nghiệm linh hồn một cách hữu thức.

382. Master DK assures His chela of His friendship and His love—great sustainments in a period of apparent aloneness. Transiting Pluto, as planet of isolation and expulsion, is doing its purifying work.

382. Chân sư DK bảo đảm với đệ tử của Ngài về tình bằng hữu và tình thương của Ngài—những nguồn nâng đỡ lớn lao trong một thời kỳ dường như đơn độc. Sao Diêm Vương quá cảnh, với tư cách hành tinh của sự cô lập và trục xuất, đang thực hiện công việc thanh luyện của nó.

383. The Piscean Church used to foster the fear of excommunication amongst the faithful. Excommunication was equivalent to eternal damnation. Some echo of this horrible prospect resides in the subconscious of many. The part is horrified by the prospect of being severed from the Whole.

383. Giáo hội thời Song Ngư từng nuôi dưỡng nỗi sợ bị rút phép thông công trong các tín hữu. Bị rút phép thông công đồng nghĩa với bị đọa đày vĩnh viễn. Trong tiềm thức của nhiều người vẫn còn chút dư âm của viễn cảnh khủng khiếp này. Bộ phận kinh hoàng trước viễn cảnh bị cắt lìa khỏi Toàn Thể.

384. When the Master apparently ‘left’ His outer group, there was, to be sure, some dim echo of the fear of excommunication. The Master’s sustaining touch and concern would be withdrawn, and the group members would be left spiritually alone.

384. Khi Chân sư dường như ‘rời bỏ’ nhóm bên ngoài của Ngài, chắc chắn đã có chút dư âm mờ nhạt của nỗi sợ bị rút phép thông công. Sự tiếp xúc nâng đỡ và mối quan tâm của Chân sư sẽ rút đi, và các thành viên trong nhóm sẽ bị bỏ lại đơn độc về mặt tinh thần.

385. All such thoughts, however, reside in the veil of illusion; Master DK assured them all of the spiritual facts of the matter which were quite other than the vision their fears may have fashioned.

385. Tuy nhiên, mọi tư tưởng như vậy đều nằm trong bức màn ảo tưởng; Chân sư DK đã bảo đảm với tất cả họ về những sự thật tinh thần của vấn đề, vốn hoàn toàn khác với viễn cảnh mà nỗi sợ của họ có thể đã tạo nên.

386. Once a Master accepts a disciple into His Ashram, the link, under almost all circumstances, remains forever unbroken. DK reassures IBS of both His link to her and His love for her. In doing this, He is simply stating an ashramic truth.

386. Một khi Chân sư chấp nhận một đệ tử vào ashram của Ngài, trong hầu hết mọi hoàn cảnh, mối liên kết ấy mãi mãi không đứt đoạn. Chân sư DK trấn an IBS về cả mối liên kết của Ngài với bà lẫn tình thương của Ngài dành cho bà. Khi làm vậy, Ngài chỉ đơn giản nêu lên một chân lý của ashram.

387. DK promises that He will be a participant in IBS’ growing soul consciousness. He could not be more assuring or sustaining.

387. Chân sư DK hứa rằng Ngài sẽ tham gia vào tâm thức linh hồn đang tăng trưởng của IBS. Không lời nào có thể trấn an hay nâng đỡ hơn thế.

Dear Fellow Students,

Các bạn đồng môn thân mến,

We have come to the end of a rather exhaustive and exhausting astrological and general disciplic analysis of IBS—Impersonality, Being, Synthesis. It is interesting that the vast proportion of attention given by the Tibetan focussed on Impersonality, rather than on either Being or Synthesis. Perhaps progress was not as rapid as expected—yet it was very real and IBS never wavered in her commitment to DK and His Ashram.

Chúng ta đã đi đến cuối một cuộc phân tích khá toàn diện và cũng khá mệt mỏi về IBS, trên phương diện chiêm tinh và địa vị đệ tử nói chung—Tính Vô Ngã, Bản Thể, Tổng Hợp. Điều thú vị là phần lớn sự chú ý của Chân sư Tây Tạng tập trung vào Tính Vô Ngã, hơn là Bản Thể hay Tổng Hợp. Có lẽ sự tiến bộ không nhanh như mong đợi—tuy vậy, sự tiến bộ ấy rất thực, và IBS chưa bao giờ dao động trong sự tận tâm của bà đối với Chân sư DK và ashram của Ngài.

With IBS we have the story of a new accepted disciple, with many problems relating to the control of the astral body and the need for moderation and balance. DK has given her a wealth of advice which is of an unusually practical nature. Further, many occult techniques can be found imbedded in the instructions, and there are hints concerning even more.

Qua IBS, chúng ta có câu chuyện về một đệ tử mới được chấp nhận, với nhiều vấn đề liên quan đến việc kiểm soát thể cảm dục và nhu cầu tiết độ, cân bằng. Chân sư DK đã dành cho bà rất nhiều lời khuyên mang tính thực tiễn khác thường. Hơn nữa, có thể tìm thấy nhiều kỹ thuật huyền bí lồng trong các huấn thị, cùng những gợi ý về nhiều kỹ thuật khác nữa.

It would seem that disciples such as ourselves could learn much from a careful pondering of the instructions to IBS. Many of her problems are our problems and DK has been very clear in suggesting methods for their resolution.

Dường như những đệ tử như chúng ta có thể học được nhiều điều khi suy ngẫm kỹ các huấn thị dành cho IBS. Nhiều vấn đề của bà cũng là vấn đề của chúng ta, và Chân sư DK đã gợi ý rất rõ những phương pháp giải quyết chúng.

When we study IBS, we seen an example of a disciple undeterred. She passed through many difficult experiences and one significant humiliation based on overly hopeful sixth ray attitudes accompanied by a lack of discrimination. Nothing, however, stopped her steady and persistent drive forwards as might be expected from her combination of first and sixth rays . For persistence alone she should be studied, and for the assurance that such persistence will definitely lead to spiritual emergence and will finally “win the day”.

Khi nghiên cứu IBS, chúng ta thấy một tấm gương đệ tử không nản chí. Bà đã trải qua nhiều kinh nghiệm khó khăn và một lần bẽ mặt đáng kể do những thái độ quá nhiều hy vọng của cung sáu đi kèm với sự thiếu phân biện. Tuy nhiên, không điều gì ngăn được nỗ lực tiến lên đều đặn và bền bỉ của bà, đúng như có thể mong đợi từ sự kết hợp cung một và cung sáu của bà. Chỉ riêng sự kiên trì ấy cũng đủ để chúng ta nghiên cứu bà, đồng thời để có được sự bảo đảm rằng sự kiên trì như vậy nhất định sẽ dẫn đến sự hiển lộ tinh thần và cuối cùng sẽ “giành thắng lợi”.