Trích nội dung chương
2. There are many important astrological factors which can account for, or correlate with, the spiritual and disciplic process through which JWK-P was passing, and for the advice and counsel offered by the Tibetan. In this commentary, however, the astrological approach will not be emphasized. Other commentaries by this and other commentators will go deeply into the matter. 2. Có nhiều yếu tố chiêm tinh quan trọng có thể lý giải hoặc có mối tương quan với tiến trình tinh thần và tiến trình trên đường đệ tử mà JWK-P đang trải qua, cũng như với những lời khuyên và chỉ dẫn của Chân sư Tây Tạng. Tuy nhiên, trong phần bình giảng này, cách tiếp…
Commentary on JWK-P – Bình giảng về JWK-P
1. This is a general commentary on the personal instructions to Disciple: JWK-P. [Foster Bailey]
1. Đây là phần bình giảng tổng quát về những huấn thị riêng dành cho đệ tử: JWK-P. [Foster Bailey]
2. There are many important astrological factors which can account for, or correlate with, the spiritual and disciplic process through which JWK-P was passing, and for the advice and counsel offered by the Tibetan. In this commentary, however, the astrological approach will not be emphasized. Other commentaries by this and other commentators will go deeply into the matter.
2. Có nhiều yếu tố chiêm tinh quan trọng có thể lý giải hoặc có mối tương quan với tiến trình tinh thần và tiến trình trên đường đệ tử mà JWK-P đang trải qua, cũng như với những lời khuyên và chỉ dẫn của Chân sư Tây Tạng. Tuy nhiên, trong phần bình giảng này, cách tiếp cận chiêm tinh sẽ không được nhấn mạnh. Những phần bình giảng khác của người viết này và các nhà bình giảng khác sẽ đi sâu vào vấn đề ấy.
3. As this commentator did not know JWK-P (FB) personally, the emphasis of this commentary cannot be on a personal analysis. Instead, there will be a focus upon those points in the instructions which have general applicability to all disciples. However the instructions may have applied with specificity to JWK-P, the attempt will, therefore, be made to understand their applicability to all of us.
3. Vì người viết phần bình giảng này không quen biết trực tiếp JWK-P (FB), nên phần bình giảng không thể tập trung vào việc phân tích cá nhân ông. Thay vào đó, trọng tâm sẽ là những điểm trong các huấn thị có khả năng áp dụng chung cho mọi đệ tử. Do đó, dù các huấn thị ấy có thể đã áp dụng riêng cho JWK-P như thế nào, chúng ta vẫn sẽ cố gắng thấu hiểu khả năng áp dụng của chúng đối với tất cả chúng ta.
To J. W. K-P. (Foster Bailey)
Gửi J. W. K-P. (Foster Bailey)
November 1931 – Tháng Mười Một năm 1931
[Beginning]
[Bắt đầu]
BROTHER OF MINE:
HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:
I would conjure you to face the future with joy and optimism. Courage you always have but joy you lack. With you, as with F.C.D., much of the physical plane activity is hampered by etheric devitalisation, though the causes producing the existing condition differ. During the past years, I have many times conveyed to you a message the summation of which lies in the emphasis I lay on steadfastness in meditation. Etheric vitalisation lies in meditation where you are concerned and the bringing in of energy to your physical body through its instrumentality. Diet, fresh air and freedom from concern all aid the process but the main cure for you and the source of success in all your work lies in your persistence in meditation and your contemplative endurance.
Tôi tha thiết khuyên em hãy đối diện tương lai với sự hoan hỉ và tinh thần lạc quan. Em luôn có lòng can đảm, nhưng lại thiếu sự hoan hỉ. Với em, cũng như với F.C.D., phần lớn hoạt động trên cõi hồng trần gặp trở ngại do sự suy giảm sinh lực dĩ thái, dù những nguyên nhân gây ra tình trạng hiện tại có khác nhau. Trong những năm qua, Tôi đã nhiều lần truyền cho em một thông điệp mà ý chính nằm ở sự nhấn mạnh của Tôi về việc kiên trì tham thiền. Đối với em, việc tiếp sinh lực dĩ thái nằm ở tham thiền và ở việc dùng tham thiền để đưa năng lượng vào thể xác. Chế độ ăn uống, không khí trong lành và sự thoát khỏi lo âu đều hỗ trợ tiến trình ấy, nhưng phương cách chữa trị chính yếu cho em và nguồn thành công trong mọi công việc của em nằm ở sự bền bỉ tham thiền và sự kiên trì chiêm ngưỡng.
1. “Joy”, says Master Morya, “is a special wisdom”. The disciple receiving these personal instructions is in the Ashram of the Master M., though temporarily, and most necessarily, “on loan” to Master DK’s Ashram.
1. Chân sư Morya nói: “Sự hoan hỉ là một minh triết đặc biệt”. Người đệ tử nhận những huấn thị riêng này thuộc ashram của Chân sư M., dù tạm thời, và hết sức cần thiết, được “cho mượn” sang ashram của Chân sư DK.
2. The Tibetan uses a strong word to request an attitude of “joy and optimism” of JWK-P. The term “conjure” means “to charge or entreat earnestly or solemnly”. The qualities of “joy and optimism” (important for all disciples) must beespecially important for this disciple.
2. Chân sư Tây Tạng dùng một từ mạnh để yêu cầu JWK-P có thái độ “hoan hỉ và lạc quan”. Từ “tha thiết khuyên” có nghĩa là “khẩn thiết hoặc trang trọng giao phó hay khẩn cầu”. Những phẩm tính “hoan hỉ và lạc quan” (quan trọng đối với mọi đệ tử) hẳn phải có tầm quan trọng đặc biệt đối với người đệ tử này.
3. DK speaks directly, as He knows He can when dealing with a proven first ray disciple. He acknowledges the presence of courage and points directly to the lack of joy. The realistic first ray was very much in evidence, but the more joyful potentials of the hopeful second ray were suppressed.
3. Chân sư DK nói thẳng, vì Ngài biết mình có thể làm như vậy khi nói với một đệ tử cung một đã được thử thách. Ngài thừa nhận lòng can đảm và chỉ thẳng vào sự thiếu hoan hỉ. Cung một thực tế biểu lộ rất rõ, nhưng những tiềm năng hoan hỉ hơn của cung hai đầy hy vọng lại bị kìm nén.
4. JWK-P (as the husband of Alice Bailey) was in a position of considerable authority with the Lucis Trust and Arcane School, and, thus, the need for these magnetic qualities. Later, after AAB had passed away, that need was even more pronounced.
4. JWK-P (với tư cách là chồng của Alice Bailey) giữ một vị trí có quyền hạn đáng kể trong Lucis Trust và Trường Arcane, vì vậy ông cần những phẩm tính từ tính này. Về sau, khi AAB qua đời, nhu cầu ấy càng rõ rệt hơn.
5. The modern disciple is not strictly a mystical/contemplative being. Practical work in the world is of the utmost importance and the sustenance of etheric vitality is a major concern. DK addresses this very concrete matter, as it adversely affected the output of this disciple.
5. Người đệ tử hiện đại không chỉ thuần là một người thần bí/chiêm ngưỡng. Công việc thực tiễn trong thế gian có tầm quan trọng tối cao, và việc duy trì sinh lực dĩ thái là một mối quan tâm lớn. Chân sư DK đề cập đến chính vấn đề rất cụ thể này, vì nó ảnh hưởng bất lợi đến hiệu quả công việc của người đệ tử này.
6. While it is clear that JWK-P was a steadfast and enduring disciple, this attitude of endurance did not, apparently apply to his work in meditation. The Tibetan wishes to see steadfastness and endurance in meditative area increased, with the anticipated effect of strengthening the physical-etheric vitality.
6. Dù rõ ràng JWK-P là một đệ tử kiên định và bền bỉ, nhưng dường như thái độ bền bỉ ấy không áp dụng vào công việc tham thiền của ông. Chân sư Tây Tạng mong thấy sự kiên định và bền bỉ trong lĩnh vực tham thiền gia tăng, với tác dụng dự kiến là tăng cường sinh lực hồng trần–dĩ thái.
7. There is a direct connection between the mental body and etheric body, especially for people in whom Gemini is a pronounced influence. DK’s solution to the vitality problem is, at least in this case, a meditative solution, calling for steadfastness, persistence and endurance in the inner approach. First ray types (inclined towards practical, effective, executive action in the world) may find concentration upon meditation less agreeable than those upon the second ray.
7. Có một mối liên hệ trực tiếp giữa thể trí và thể dĩ thái, đặc biệt ở những người chịu ảnh hưởng rõ rệt của Song Tử. Ít nhất trong trường hợp này, giải pháp của Chân sư DK cho vấn đề sinh lực là một giải pháp tham thiền, đòi hỏi sự kiên định, kiên trì và bền bỉ trong việc tiếp cận bên trong. Những người thuộc cung một (có khuynh hướng hành động thực tiễn, hiệu quả và điều hành công việc trong thế gian) có thể thấy việc tập trung vào tham thiền ít phù hợp với mình hơn so với những người thuộc cung hai.
8. Various expedients useful in increasing vitality are mentioned—diet, fresh air and freedom from concern, but the main emphasis is placed upon meditation.
8. Nhiều biện pháp hữu ích để tăng cường sinh lực được đề cập—chế độ ăn uống, không khí trong lành và việc không vướng bận lo âu, nhưng trọng tâm chính vẫn là tham thiền.
9. What is “contemplative endurance”? We can think of it as the ability (in consciousness) to ‘become the soul’ during the meditative process and to ‘hold identification as the soul’ during that process. To slip back into identification with the personality (prompted by restlessness or disquietude in the vehicles) would not be a display of “contemplative endurance”.
9. “Sức bền bỉ chiêm ngưỡng” là gì? Chúng ta có thể xem đó là khả năng (trong tâm thức) ‘trở thành linh hồn’ trong tiến trình tham thiền và ‘duy trì sự đồng hoá với linh hồn’ suốt tiến trình ấy. Việc trượt trở lại sự đồng hoá với phàm ngã (do sự bồn chồn hay bất an trong các hiện thể thúc đẩy) sẽ không phải là biểu hiện của “sức bền bỉ chiêm ngưỡng”.
10. The soul/Solar Angel is a source of tremendous potency and vitalization. It is obvious that if that great source can be persistently tapped, the vitality of the entire personality mechanism will be enhanced. This is something for all of us to remember, even if etheric devitalization is not specifically a problem.
10. Linh hồn/Thái dương Thiên Thần là một nguồn sức mạnh và tiếp sinh lực vô cùng lớn lao. Hiển nhiên, nếu có thể liên tục tiếp cận nguồn vĩ đại ấy, sinh lực của toàn bộ bộ máy phàm ngã sẽ được tăng cường. Đây là điều tất cả chúng ta cần ghi nhớ, ngay cả khi sự suy giảm sinh lực dĩ thái không phải là một vấn đề cụ thể.
11. As an astrological side note of interest, both Roberto Assagioli and Foster Bailey suffered from problems of etheric vitalization and both were born with the Sun Sign of Pisces—a sign in which physical vitality is often not sufficiently abundant.
11. Một ghi chú chiêm tinh thú vị bên lề: cả Roberto Assagioli lẫn Foster Bailey đều gặp vấn đề về việc tiếp sinh lực dĩ thái, và cả hai đều sinh ra với dấu hiệu Mặt Trời là Song Ngư—một dấu hiệu mà sinh lực thể chất thường không đủ dồi dào.
The conservation of energy is wise, yet you have untold reserves upon which to draw and as yet you use them not as you might. As before I have told you, you make not adequate use of the meditation period and your physical body suffers in consequence and therefore your work. There is much to be done and through meditation you can accomplish much. You might ask me, my brother, how to utilise the meditation period so as to benefit from it physically. The physical body will take care of itself when the source of supply lies open to use. A modification—to be made by yourself—of the attached meditation would be in order for you, omitting the detail of the stage of ascent but visualising the inflow of energy to the centres in the etheric body and the vitalisation, above all, of the heart and the throat centres. This should be carried forward in a rapid and definite manner and the rest of the meditation period should be given to group work, and to a consideration of the plans to be followed in the unfolding work of the larger group to which this group belongs.
Bảo toàn năng lượng là điều khôn ngoan, tuy nhiên em có những nguồn dự trữ vô kể để sử dụng, mà đến nay em vẫn chưa tận dụng được như khả năng của mình. Như Tôi đã nói với em trước đây, em chưa sử dụng thỏa đáng thời gian tham thiền, và vì thế thể xác của em chịu tổn hại, kéo theo công việc của em. Có nhiều việc cần làm, và qua tham thiền em có thể hoàn thành nhiều việc. Huynh đệ của tôi, em có thể hỏi Tôi cách sử dụng thời gian tham thiền để thể xác được hưởng lợi. Thể xác sẽ tự điều chỉnh khi nguồn cung cấp mở ra cho nó sử dụng. Em nên tự điều chỉnh bài thiền đính kèm, lược bỏ chi tiết của giai đoạn thăng lên, nhưng hình dung dòng năng lượng tuôn vào các trung tâm trong thể dĩ thái và, trên hết, hình dung sự tiếp sinh lực cho trung tâm tim và trung tâm cổ họng. Em nên thực hiện việc này nhanh chóng và dứt khoát; phần thời gian tham thiền còn lại nên dành cho công việc nhóm và việc xem xét những kế hoạch cần tuân theo trong công việc đang khai mở của nhóm lớn hơn mà nhóm này là một thành phần.
1. “Untold reserves”—a thought which should be a stimulus to all disciples. The fount of supply is accessible to us, but we fail to avail ourselves of it.
1. “Những nguồn dự trữ vô kể”—một ý tưởng nên trở thành động lực cho mọi đệ tử. Chúng ta có thể tiếp cận nguồn cung ứng ấy, nhưng lại không tận dụng nó.
2. JWK-P is not alone in his experience of insufficient energy in the midst of plenty.
2. JWK-P không phải là người duy nhất trải nghiệm sự thiếu hụt năng lượng giữa cảnh dư dật.
3. How would we open ourselves to the great source of supply? First we would have to acknowledge that it exists, rather than complain about fatigue (as I suspect we often do).
3. Chúng ta sẽ mở lòng đón nhận nguồn cung ứng vĩ đại ấy như thế nào? Trước tiên, chúng ta phải thừa nhận rằng nó hiện hữu, thay vì than phiền về sự mệt mỏi (như tôi ngờ rằng chúng ta thường làm).
4. A principle is clear: “The physical body will take care of itself when the source of supply lies open to use”.
4. Một nguyên khí đã rõ: “Thể xác sẽ tự lo liệu khi nguồn cung ứng rộng mở để sử dụng”.
5. In all matters of successful access visualization is a key factor. DK asks JWK-P to direct the visualized flow to his heart and throat. Do we have the wisdom to know to which center within our etheric body a visualized flow should be directed? Rarely would we fail if the heart center were deemed as focal.
5. Trong mọi vấn đề liên quan đến việc tiếp cận thành công, sự hình dung là một yếu tố then chốt. Chân sư DK yêu cầu JWK-P hướng dòng năng lượng được hình dung đến tim và cổ họng của ông. Chúng ta có đủ minh triết để biết nên hướng dòng năng lượng được hình dung đến trung tâm nào trong thể dĩ thái của mình không? Hiếm khi chúng ta sai lầm nếu chọn trung tâm tim làm tiêu điểm.
6. Another principle emerges: rapidity of meditation does not prevent a strong flow of energy; it may ever promote it. Much time and energy may be wasted by meditators in interminable alignments. The first ray types, in general, prefer briefer meditations. Second ray types may linger, failing to move as quickly as they could. But second ray types will more readily have “contemplative endurance”.
6. Một nguyên khí khác xuất hiện: tham thiền nhanh chóng không ngăn cản một dòng năng lượng mạnh mẽ; thậm chí còn có thể thúc đẩy dòng năng lượng ấy. Người hành thiền có thể lãng phí nhiều thời gian và năng lượng vào những lần chỉnh hợp kéo dài bất tận. Nhìn chung, những người cung một thích các bài thiền ngắn hơn. Những người cung hai có thể nấn ná, không tiến nhanh như khả năng của họ cho phép. Nhưng những người cung hai sẽ dễ có “sức bền bỉ chiêm ngưỡng” hơn.
You will comprehend what I mean, brother of mine, when I repeat to you the ancient formula:
Huynh đệ của tôi, em sẽ thấu hiểu điều Tôi muốn nói khi Tôi nhắc lại cho em công thức cổ xưa này:
"Out of the lotus in the head springs the flower of bliss. [158]
“Từ hoa sen trong đầu nảy sinh đóa hoa chí phúc.
Its earliest form is joy.
Hình tướng đầu tiên của nó là sự hoan hỉ.
Out of the lotus in the heart springs the flower of love.
Từ hoa sen trong tim nảy sinh đóa hoa bác ái.
Its earliest indication, wisdom is.
Dấu hiệu đầu tiên của nó là minh triết.
Out of the lotus in the throat emerges the flower of living forms.
Từ hoa sen trong cổ họng xuất hiện đóa hoa của những hình tướng sống động.
The earliest sign is understanding of the Plan."
Dấu hiệu đầu tiên là sự thấu hiểu Thiên Cơ.”
1. An ancient formula is given. It relates three chakras, the head, heart and throat chakras to various states of consciousness—joy/bliss, wisdom/love and understanding of the Plan/living forms.
1. Một công thức cổ xưa được đưa ra. Công thức này liên hệ ba luân xa, luân xa đầu, tim và cổ họng, với những trạng thái tâm thức khác nhau—hoan hỉ/chí phúc, minh triết/bác ái và sự thấu hiểu Thiên Cơ/những hình tướng sống động.
2. The idea of the “flower” indicates the fulfillment of a quality.
2. Ý tưởng về “đoá hoa” biểu thị sự viên mãn của một phẩm tính.
3. The joy of the soul is precursor to the bliss of the spirit. Joy is based upon “soul assurance”. The presence of the energy of the soul is joy itself. To theorize about the soul as if it were ‘something’ in the distance will not guarantee the presence of the ‘something’ and the joy which arises through that presence.
3. Sự hoan hỉ của linh hồn là tiền thân của chí phúc tinh thần. Sự hoan hỉ dựa trên “niềm xác tín của linh hồn”. Sự hiện diện của năng lượng linh hồn chính là sự hoan hỉ. Việc suy luận về linh hồn như thể đó là ‘một điều gì’ ở nơi xa xôi sẽ không bảo đảm sự hiện diện của ‘điều ấy’ cùng sự hoan hỉ nảy sinh từ sự hiện diện đó.
4. Joy is still related to the forms through which the soul expresses. Joy arises when there is a loving, lighted and powerful expression of soul through form. Bliss has no origin in time and space (even the modified time/space world of the soul) and is of the nature of pure being divorced from even the extremely subtle forms of the spiritual triad.
4. Sự hoan hỉ vẫn liên quan đến những hình tướng mà linh hồn biểu lộ qua đó. Sự hoan hỉ nảy sinh khi linh hồn biểu lộ qua hình tướng một cách đầy bác ái, sáng suốt và mạnh mẽ. Chí phúc không bắt nguồn trong thời gian và không gian (ngay cả thế giới thời gian/không gian đã biến đổi của linh hồn), mà thuộc bản chất của bản thể thuần khiết, tách khỏi ngay cả những hình tướng cực kỳ vi tế của Tam Nguyên Tinh Thần.
5. From a simplistic perspective, bliss means that ‘things are as good as they can be’; they can get no better. Bliss is an experience of the perfection of the essential nature of the One Life. Form, and the expression of the Good, the True and the Beautiful through the form, can always improve; bliss is unrelated to relativity. It is a touch of essential being.
5. Theo một cách nhìn giản lược, chí phúc có nghĩa là ‘mọi sự đều tốt đẹp đến mức tối đa’; không thể tốt đẹp hơn nữa. Chí phúc là một trải nghiệm về sự hoàn hảo trong bản chất cốt yếu của Sự Sống Duy Nhất. Hình tướng, cùng sự biểu lộ của Chân, Thiện, Mỹ qua hình tướng, luôn có thể được cải thiện; chí phúc không liên quan đến tính tương đối. Đó là sự tiếp xúc với bản thể cốt yếu.
6. Let us focus on love and wisdom. Usually they are given an equivalence. In fact, wisdom is more related to Shamballa than is love, and thus can be seen elevated on the scale of perfection over love—but only from one perspective.
6. Chúng ta hãy tập trung vào bác ái và minh triết. Thông thường, hai điều này được xem là tương đương. Thực ra, minh triết liên hệ với Shamballa nhiều hơn bác ái, và vì vậy có thể được xem là cao hơn bác ái trên thang hoàn thiện—nhưng chỉ từ một góc nhìn.
7. Thus, it is perhaps strange to ponder on the idea that wisdom is an early indication of the fulness of love. Perhaps we might understand how wisdom leads to the flowering of love if we realize that wisdom (gained from much experience) results in a profound and compassionate appreciation for the beauty of life. Wisdom reveals a light which touches the heart. When one finally (through wisdom) ‘sees what it is all about’, the will to promote fulfilment arises, and a sense of deep relationship to all participants in humanity’s (and nature’s) struggle. Wisdom (as a refined realization caused by ages of clarifying experience) reveals the Good, the True and the Beautiful, and the registered presence of these great Qualities (really, Beings) causes an upwelling in the heart which can only be called Love.
7. Vì vậy, có lẽ khá lạ khi suy ngẫm về ý tưởng rằng minh triết là dấu hiệu ban sơ của sự viên mãn bác ái. Có lẽ chúng ta có thể thấu hiểu cách minh triết dẫn đến sự nở rộ của bác ái nếu nhận ra rằng minh triết (đạt được qua nhiều trải nghiệm) đem lại sự trân trọng sâu sắc và đầy từ bi đối với vẻ đẹp của sự sống. Minh triết hé lộ một ánh sáng chạm đến trái tim. Khi cuối cùng một người (nhờ minh triết) ‘thấy được ý nghĩa của tất cả’, ý chí thúc đẩy sự viên mãn nảy sinh, cùng với cảm nhận về mối liên hệ sâu sắc với tất cả những ai tham gia cuộc đấu tranh của nhân loại (và của tự nhiên). Minh triết (như một sự chứng nghiệm tinh tế do những thời đại trải nghiệm làm sáng tỏ mang lại) mặc khải Chân, Thiện, Mỹ, và sự hiện diện được ghi nhận của những Phẩm Tính vĩ đại này (thực sự là những Sinh Mệnh) khơi dậy một dòng trào dâng trong tim mà chỉ có thể gọi là Bác Ái.
8. Under the influence of wisdom we know how to think and act so as to promote the cohesion of the whole; we know how to avoid harming the whole. Wisdom gives ‘sight of God’s Intention’. That Intention is so motivated by divine love that the sight of it washes over and pervades the seer. He finds himself/herself within the “Ocean of Love” and is filled with gratitude for what wisdom has revealed. Now ‘in love with God and all beings’, he/she is resolved to ‘love the world towards its fulfillment’.
8. Dưới ảnh hưởng của minh triết, chúng ta biết cách suy nghĩ và hành động để thúc đẩy sự cố kết của toàn thể; chúng ta biết cách tránh gây tổn hại cho toàn thể. Minh triết cho ta ‘thấy được Ý Định của Thượng đế’. Ý Định ấy được thúc đẩy mạnh mẽ đến thế bởi tình thương thiêng liêng, nên khi nhìn thấy nó, nhà thông nhãn cảm thấy mình được bao phủ và thấm nhuần. Người ấy thấy mình ở trong “Đại Dương Bác Ái” và tràn đầy lòng biết ơn về điều minh triết đã mặc khải. Giờ đây, ‘yêu Thượng đế và mọi sinh linh’, người ấy quyết tâm ‘yêu thương thế gian để đưa thế gian đến sự viên mãn’.
9. I simply share my meditations on this transformation of wisdom into love. You will have your own.
9. Tôi chỉ chia sẻ những suy ngẫm trong tham thiền của mình về sự chuyển đổi minh triết thành bác ái này. Các bạn sẽ có những suy ngẫm riêng.
10. The wisdom indicated here is, perhaps, not the “Absolute Wisdom” of the Creator which is based upon the complete realization of eternal verities. Rather, it is the fruit of human experience—a realization which is resonant with Absolute Wisdom.
10. Minh triết được nói đến ở đây có lẽ không phải là “Minh Triết Tuyệt Đối” của Đấng Sáng Tạo, vốn dựa trên sự chứng nghiệm trọn vẹn những chân lý vĩnh cửu. Đúng hơn, đó là thành quả của trải nghiệm nhân loại—một sự chứng nghiệm cộng hưởng với Minh Triết Tuyệt Đối.
11. Love and wisdom create in their interplay a ‘virtuous circle’ or, more truly, a ‘virtuous ascending spiral’.
11. Qua sự tương tác, bác ái và minh triết tạo ra một ‘vòng tròn thiện lành’, hay đúng hơn, một ‘đường xoắn ốc thiện lành đi lên’.
12. Now to the throat center, from which emerges the “flower of living forms”—life-filled forms.
12. Giờ đến trung tâm cổ họng, nơi xuất hiện “đoá hoa của những hình tướng sống động”—những hình tướng tràn đầy sự sống .
13. The Plan as servant of the Purpose is meant to create a divine manifestation filled with truly living forms. The Divine Plan reveals what these forms are, how they should be related to each other and how they may come to live.
13. Thiên Cơ, với vai trò phụng sự Thiên Ý, nhằm tạo ra một sự biểu hiện thiêng liêng tràn đầy những hình tướng thực sự sống động. Thiên Cơ mặc khải những hình tướng ấy là gì, chúng nên liên hệ với nhau như thế nào và làm sao chúng có thể trở nên sống động.
14. God’s Will will not be “done” on Earth, until the living forms, representing the Archetype of God’s Thought emerge on all planes, even the lowest plane. But many mistakes can be made even among those who seek to promote that emergence.
14. Ý Chí của Thượng Đế sẽ chưa được “thực thi” trên Trái Đất cho đến khi những hình tướng sống động, đại diện cho Nguyên Mẫu của Tư Tưởng Thượng đế, xuất hiện trên mọi cõi, ngay cả cõi thấp nhất. Nhưng nhiều sai lầm vẫn có thể xảy ra ngay trong số những người tìm cách thúc đẩy sự xuất hiện ấy.
15. When, however, the Divine Plan is truly understood, the mistakes become far fewer and arise more because of circumstance than because of misunderstanding concerning what must be materialized.
15. Tuy nhiên, khi Thiên Cơ được thấu hiểu thực sự, những sai lầm trở nên ít hơn rất nhiều và phát sinh do hoàn cảnh nhiều hơn là do hiểu sai điều cần được hiện hình.
16. Consummation in terms of the third and seventh rays is the “flower of living forms”. If we wish to be wise and effective co-creators in the Divine Process, our first really useful task is an accurate understanding of the Divine Plan.
16. Sự viên mãn xét theo cung ba và cung bảy chính là “đoá hoa của những hình tướng sống động”. Nếu muốn trở thành những người đồng sáng tạo minh triết và hiệu quả trong Tiến Trình Thiêng Liêng, nhiệm vụ đầu tiên thực sự hữu ích của chúng ta là thấu hiểu chính xác Thiên Cơ.
17. It becomes clear that the Tibetan is guiding the stimulation of all of JWK-P’s major centers. The head center would have to be properly stimulated so that “joy” could arise. Joy is JWK-P’s first order of business, and so the stimulation of the head center (through occult meditation) is extremely important. By meditating on Divine Purpose this center can be stimulated.
17. Rõ ràng Chân sư Tây Tạng đang hướng dẫn việc kích thích tất cả các trung tâm chính của JWK-P. Trung tâm đầu cần được kích thích đúng cách để “sự hoan hỉ” có thể nảy sinh. Sự hoan hỉ là ưu tiên hàng đầu của JWK-P, vì vậy việc kích thích trung tâm đầu (thông qua tham thiền huyền bí) là vô cùng quan trọng. Tham thiền về Thiên Ý có thể kích thích trung tâm này.
18. DK asks JWK-P to direct a stimulating, visualized stream of energy to the heart and throat centers as well. Wisdom is another keynote of JWK-P’s life, and wisdom arises in the stimulated heart center.
18. Chân sư DK cũng yêu cầu JWK-P hướng một dòng năng lượng kích thích, được hình dung, đến trung tâm tim và trung tâm cổ họng. Minh triết là một chủ âm khác trong cuộc đời JWK-P, và minh triết nảy sinh trong trung tâm tim khi trung tâm này được kích thích.
19. Further, JWK-P is to meditate upon the Divine Plan. This will be aided by the stimulating stream of energy directed to the throat center, from which arises an understanding of the Plan (and later, when success is achieved) the “flower of living forms”.
19. Hơn nữa, JWK-P cần tham thiền về Thiên Cơ. Dòng năng lượng kích thích hướng đến trung tâm cổ họng sẽ hỗ trợ việc này; từ trung tâm ấy nảy sinh sự thấu hiểu Thiên Cơ (và về sau, khi đạt được thành công) là “đoá hoa của những hình tướng sống động”.
Joy, wisdom and the Plan! These are for you the three points which must be matured. For B.S.W. it was wisdom, strength and beauty. For you, these other three. You two are very close—closer than either of you have realised. Weakness for you both lies in the failure of one or other of the manifestations of power to flourish. When B. S. W. knows the true significance of beauty and you of joy, release and fuller service will be yours.
Sự hoan hỉ, minh triết và Thiên Cơ! Đối với em, đây là ba điểm cần được phát triển đến độ chín muồi. Với B.S.W., đó là minh triết, sức mạnh và vẻ đẹp. Với em, đó là ba điểm kia. Hai em rất gần gũi nhau—gần gũi hơn mức mỗi em đã nhận ra. Điểm yếu của cả hai em nằm ở chỗ một biểu hiện này hay biểu hiện khác của quyền năng chưa thể phát triển mạnh mẽ. Khi B. S. W. biết được thâm nghĩa chân thực của vẻ đẹp và em biết được thâm nghĩa chân thực của sự hoan hỉ, cả hai em sẽ được giải thoát và phụng sự trọn vẹn hơn.
1. The Tibetan opens the last paragraph in this first instruction with the sentence, “Joy, wisdom and the Plan!”. We realize immediately that He has just given JWK-P the three keynotes which are to guide his life.
1. Chân sư Tây Tạng mở đầu đoạn cuối trong huấn thị đầu tiên này bằng câu: “Sự hoan hỉ, minh triết và Thiên Cơ!”. Chúng ta lập tức nhận ra rằng Ngài vừa trao cho JWK-P ba chủ âm để hướng dẫn cuộc đời ông.
2. From seeing how He has done this for JWK-P, we are alerted to the idea that He may do the same for the other disciples, and, indeed, He does so in a number of cases.
2. Khi thấy Ngài đã làm điều này cho JWK-P như thế nào, chúng ta chú ý đến khả năng Ngài cũng có thể làm như vậy cho những đệ tử khác, và quả thực, Ngài làm thế trong một số trường hợp.
3. Actually, the initials in this disciple’s letter-formula (JWK-P) mean “Joy”, “Wisdom”, and “Knowledge of the Plan”. In the instruction DK calls the necessary quality “understanding” of the Plan.
3. Thực ra, những chữ viết tắt trong công thức bằng chữ cái của người đệ tử này (JWK-P) có nghĩa là “Sự hoan hỉ”, “Minh triết” và “Tri thức về Thiên Cơ”. Trong huấn thị, Chân sư DK gọi phẩm tính cần thiết ấy là sự “thấu hiểu” Thiên Cơ.
4. Note how DK refers to this formula as “the three points which must be matured”. This use of words is very important as it indicates that the keynotes given are not necessarily qualities which the disciple does not at all possess, but those which may exist in the disciple’s equipment, but not to a sufficient extent. They have to be ‘grown’ and “matured”.
4. Hãy lưu ý cách Chân sư DK gọi công thức này là “ba điểm cần được phát triển đến độ chín muồi”. Cách dùng từ này rất quan trọng, vì nó cho thấy những chủ âm được đưa ra không nhất thiết là những phẩm tính mà người đệ tử hoàn toàn không có, mà là những phẩm tính có thể đã hiện hữu trong bộ máy của người đệ tử, nhưng chưa đủ mức độ. Chúng cần được ‘vun trồng’ và “phát triển đến độ chín muồi”.
5. As we study the life-process of the various disciples, let us see if
5. Khi nghiên cứu tiến trình sống của các đệ tử khác nhau, chúng ta hãy xem liệu
a) this idea of maturation is required in relation to the qualities presented,
a) ý tưởng về sự chín muồi này có cần thiết đối với những phẩm tính được trình bày hay không,
b) or whether what is required is the expression of that which is already quite present,
b) hay điều cần thiết là sự biểu lộ của điều vốn đã hiện hữu khá đầy đủ,
c) or whether what is required is the establishing of a quality which is hardly present—i.e., deficient.
c) hay điều cần thiết là thiết lập một phẩm tính hầu như chưa hiện hữu—tức là còn thiếu hụt.
6. DK makes the link to the disciple BSW (Beauty, Strength and Wisdom). DK is talking to and about two brothers. Their ray formulas are very similar in certain respects. JWK-P has the formula 12-427, while BSW’s formula is 17-467. Thus, three rays are identical, the first, fourth and seventh. These rays are all related to some factor within the planet, Vulcan, a planet most important in the Masonic Process, for Masonry is an occult fraternity of builders, and Vulcan presents the first ray in its building aspect (though the destructive nature of Vulcan cannot be denied).
6. Chân sư DK thiết lập mối liên hệ với đệ tử BSW (Vẻ đẹp, Sức mạnh và Minh triết). Chân sư DK đang nói với và nói về hai anh em. Các công thức cung của họ rất tương đồng ở một số phương diện. JWK-P có công thức 12-427, còn công thức của BSW là 17-467. Như vậy, ba cung giống nhau là cung một, cung bốn và cung bảy. Tất cả các cung này đều liên quan đến một yếu tố nào đó trong hành tinh Vulcan, một hành tinh hết sức quan trọng trong Tiến Trình Tam Điểm, vì Hội Tam Điểm là một huynh đệ đoàn huyền bí của những đấng kiến tạo, và Vulcan thể hiện cung một trong phương diện kiến tạo của cung này (dù không thể phủ nhận bản chất huỷ diệt của Vulcan).
7. These three rays are the rays most closely relation to Masonry, and indeed, both men were Masons. The Tibetan was able to bring forth His treatise on Masonry, The Spirit of Masonry, supposedly by Foster Bailey, through the convenient fact that Foster Bailey was an well-established Mason.
7. Ba cung này là những cung liên hệ mật thiết nhất với Hội Tam Điểm, và quả thực, cả hai ông đều là hội viên Tam Điểm. Chân sư Tây Tạng đã có thể đưa ra khảo luận của Ngài về Hội Tam Điểm, Tinh Thần của Hội Tam Điểm, được cho là do Foster Bailey viết, nhờ một thuận lợi là Foster Bailey vốn là một hội viên Tam Điểm có vị thế vững chắc.
8. As for BSW’s keynotes, “Beauty, Strength and Wisdom”, are word-symbols exactly related to the Masonic Lodge, embodying the three principle keynotes of the Lodge.
8. Về các chủ âm của BSW, “Vẻ đẹp, Sức mạnh và Minh triết” là những biểu tượng bằng lời liên hệ chính xác với Hội quán Tam Điểm, thể hiện ba chủ âm chính của Hội quán.
9. Often Master DK will link one disciple with another for reasons of mutual assistance, support or instruction. This seems to have been His motive here, although we naturally cannot say for certain.
9. Chân sư DK thường liên kết đệ tử này với đệ tử khác để họ giúp đỡ, hỗ trợ hoặc chỉ dạy lẫn nhau. Dường như đó là động cơ của Ngài ở đây, mặc dù đương nhiên chúng ta không thể khẳng định chắc chắn.
10. However, whereas JWK-P survived and flourished in the intensive training process which DK presented, BSW did not, and at some point was either dismissed or resigned for reasons related to astralism and astral magic.
10. Tuy nhiên, trong khi JWK-P trụ vững và phát triển mạnh trong tiến trình huấn luyện chuyên sâu mà Chân sư DK đưa ra, BSW lại không làm được như vậy, và vào một thời điểm nào đó đã bị cho thôi hoặc tự rút lui vì những lý do liên quan đến việc thiên về cảm dục và huyền thuật cảm dục.
11. DK can see into relevant past incarnations and realizes the close relation between these two souls—something that would, perhaps, become more evident if they pursued a constructive relationship within the context of the training offered.
11. Chân sư DK có thể nhìn thấu những kiếp quá khứ có liên quan và nhận biết mối quan hệ gần gũi giữa hai linh hồn này—điều có lẽ sẽ trở nên rõ ràng hơn nếu họ vun đắp một mối quan hệ mang tính xây dựng trong khuôn khổ chương trình huấn luyện được đưa ra.
12. They are both first ray souls, and so they are both on the power ray. DK points out their weaknesses, relating it to the inability to manifest one or other of the manifestations of power—beauty in one case and joy in the other.
12. Cả hai đều là những linh hồn cung một, và vì thế cả hai đều thuộc cung quyền năng. Chân sư DK chỉ ra những điểm yếu của họ, liên hệ chúng với việc không thể biểu hiện một trong những biểu hiện của quyền năng—vẻ đẹp ở người này và sự hoan hỉ ở người kia.
13. Normally, we would not think of beauty and joy as specific manifestation of power, for they are more closely related to the soft line of energy, and specifically to the second and fourth rays.
13. Thông thường, chúng ta sẽ không xem vẻ đẹp và sự hoan hỉ là những biểu hiện cụ thể của quyền năng, vì chúng liên hệ mật thiết hơn với dòng năng lượng mềm, và cụ thể là với cung hai và cung bốn.
14. But the Master wants these disciples to think about the power aspect of these two qualities—which they would be inclined to do, as they are first ray souls.
14. Nhưng Chân sư muốn các đệ tử này suy ngẫm về phương diện quyền năng của hai phẩm tính ấy—điều họ vốn có khuynh hướng làm, vì họ là những linh hồn cung một.
15. We can see that DK’s motive is always to produce “release and fuller service” in his disciples. When thinking, in general, about how the qualities of beauty and joy could assist release and service, we can imagine these qualities producing a harmonious and uplifting flow of energy which would be of benefit to all who came under the influence of that flow.
15. Chúng ta có thể thấy động cơ của Chân sư DK luôn là tạo nên “sự giải phóng và việc phụng sự trọn vẹn hơn” nơi các đệ tử của Ngài. Khi suy nghĩ nói chung về cách các phẩm tính vẻ đẹp và sự hoan hỉ có thể hỗ trợ sự giải phóng và phụng sự, chúng ta có thể hình dung những phẩm tính này tạo nên một dòng năng lượng hài hòa và nâng cao, mang lại lợi ích cho tất cả những ai chịu ảnh hưởng của dòng năng lượng ấy.
16. The first ray disciple is naturally separative and isolated (unless these tendencies are corrected by the evolutionary process or deliberate occult training). Beauty and joy, however, are relating agencies and give the needed soft-line energy qualities which lead towards Inclusion, the Integration Formula for those upon the first ray.
16. Đệ tử cung một vốn có khuynh hướng chia rẽ và cô lập (trừ khi tiến trình tiến hoá hoặc sự huấn luyện huyền bí có chủ đích điều chỉnh những khuynh hướng này). Tuy nhiên, vẻ đẹp và sự hoan hỉ là những tác nhân kết nối và mang lại những phẩm tính cần thiết của dòng năng lượng mềm, dẫn đến Sự Bao Gồm, Công Thức Tích Hợp dành cho những người thuộc cung một.
17. We will have to observe closely the keynote qualities suggested by the Tibetan in terms of any disciple’s ray formula. Will the major quality of the three qualities (usually three) be in contrast to the major ray of the disciple, or along the same line? Or will no pattern in the naming of keynotes be discernible?
17. Chúng ta sẽ phải quan sát kỹ những phẩm tính chủ âm mà Chân sư Tây Tạng gợi ý trong mối liên hệ với công thức cung của từng đệ tử. Liệu phẩm tính chính trong ba phẩm tính (thường là ba) sẽ tương phản với cung chính của đệ tử, hay cùng dòng với cung ấy? Hay sẽ không thể nhận ra mô hình nào trong cách gọi tên các chủ âm?
18. By relating JWK-P and BSW, DK is intending to strengthen them through association in the ‘enterprise of cultivation’. Sometimes when we know that a brother or friend is engaged in an enterprise similar to our own, we rise to the occasion and do better, not just for our own sake, but for the positive effect it will have upon the co-striving brother or friend. The idea of the increased power of “comrades in arms” comes to mind.
18. Khi liên kết JWK-P và BSW, Chân sư DK có ý định củng cố họ thông qua sự gắn kết trong ‘công cuộc vun bồi’. Đôi khi, khi biết một huynh đệ hay người bạn đang tham gia một công cuộc tương tự như của mình, chúng ta nỗ lực đáp ứng và làm tốt hơn, không chỉ vì bản thân mà còn vì tác động tích cực mà điều đó sẽ mang lại cho người huynh đệ hay người bạn đang cùng phấn đấu. Điều này gợi lên ý tưởng về quyền năng gia tăng của những “chiến hữu”.
June 1933 – Tháng Sáu năm 1933
I have the same word for you again, my brother. I say to you again and yet again, "Let the joy of the Lord be your strength." There is much to be done and in many ways. Steps have been taken to fit you for what you have to do. Go forward as at present. Let the Plan absorb you but remember at the same time that it works out step by step and that the true helper of the Plan is he who visions it as it may be in the cycle of the life but who also sees the small and immediate step ahead. Therein lies the difference between the mystic and the occultist.
Huynh đệ của tôi, Tôi lại dành cho em cùng một lời ấy. Tôi nói với em hết lần này đến lần khác: “Hãy để sự hoan hỉ của Chúa là sức mạnh của em.” Có nhiều việc cần làm theo nhiều cách. Những bước chuẩn bị đã được thực hiện để giúp em thích hợp với việc em phải làm. Hãy tiến bước như hiện nay. Hãy để Thiên Cơ thu hút trọn vẹn tâm trí em, nhưng đồng thời hãy nhớ rằng Thiên Cơ được thực hiện từng bước, và người thực sự trợ giúp Thiên Cơ là người vừa hình dung được Thiên Cơ như nó có thể biểu hiện trong chu kỳ một đời sống, vừa thấy được bước nhỏ ngay trước mắt. Chính trong đó có sự khác biệt giữa nhà thần bí và nhà huyền bí học.
1. How emphatic the Tibetan becomes! How strongly He drives the main point home—“again and yet again”. There is something mantric in His words as He seeks to stimulate the cultivation of joy in the life of JWK-P.
1. Chân sư Tây Tạng nhấn mạnh biết bao! Ngài khắc sâu điểm chính mạnh mẽ biết bao—“nhắc đi nhắc lại”. Lời Ngài có tính chất của mantram khi Ngài tìm cách thúc đẩy việc vun bồi sự hoan hỉ trong cuộc sống của JWK-P.
2. It is not for nothing that the Tibetan speaks to JWK-P in terms that are reminiscent of the “Old Testament”. This disciple, himself, used to speak in such terms. It is likely that this phraseology hearkens back to his former incarnations (perhaps in Biblical times and in relation to the Master M).
2. Không phải vô cớ mà Chân sư Tây Tạng nói với JWK-P bằng những lời gợi nhớ đến “Cựu Ước”. Chính người đệ tử này từng nói theo lối ấy. Có thể cách diễn đạt này bắt nguồn từ những kiếp trước của ông (có lẽ vào thời Kinh Thánh và trong mối liên hệ với Chân sư M.).
3. DK refers to inner work, inner preparation, how the Masters help Their students in subtle ways for the work which they have to accomplish in the outer world.
3. Chân sư DK đề cập đến công việc bên trong, sự chuẩn bị bên trong, cách các Chân sư giúp các đạo sinh của Các Ngài bằng những phương cách tinh tế để thực hiện công việc mà họ phải hoàn thành trong thế giới bên ngoài.
4. For this disciple, the Divine Plan is of the greatest importance. Often the Tibetan points to the excellence of his absorption in that Plan.
4. Đối với người đệ tử này, Thiên Cơ có tầm quan trọng lớn lao nhất. Chân sư Tây Tạng thường chỉ ra điểm xuất sắc trong sự chuyên tâm của ông vào Thiên Cơ ấy.
5. Advice of tremendous importance is offered. Of course, it is, in a way, obvious advice, but probably is not heeded with sufficient frequency.
5. Một lời khuyên vô cùng quan trọng được đưa ra. Dĩ nhiên, theo một nghĩa nào đó, đây là lời khuyên hiển nhiên, nhưng có lẽ người ta chưa thường xuyên lưu tâm đến nó cho đủ.
6. DK speaks of the importance of the “small and immediate step ahead”. The greater plan may be envisioned, an understanding of the Plan in terms of larger cycles may be achieved, but unless the next immediate step forward is the disciple’s focus, the disciple will fail.
6. Chân sư DK nói về tầm quan trọng của “bước nhỏ ngay trước mắt”. Đệ tử có thể hình dung kế hoạch lớn hơn, có thể đạt được sự thấu hiểu Thiên Cơ trong những chu kỳ lớn hơn, nhưng nếu không tập trung vào bước tiến kế tiếp ngay trước mắt, đệ tử sẽ thất bại.
7. The Master’s call is for a sense of proportion, inclining as it does to sense of humility. Great plans make enjoyable and stimulating topics of conversation, but talk is not action and real achievement comes only for those who are capable of understanding the many small steps which lead to the goal, and, more importantly, for those capable of taking those steps.
7. Chân sư kêu gọi một ý thức về tỉ lệ, vốn dẫn đến ý thức khiêm nhường. Những kế hoạch lớn lao tạo nên các đề tài trò chuyện thú vị và khơi dậy hứng thú, nhưng nói không phải là hành động, và thành tựu thực sự chỉ đến với những ai có khả năng thấu hiểu nhiều bước nhỏ dẫn đến mục tiêu, và quan trọng hơn, với những ai có khả năng thực hiện những bước ấy.
8. Then a key differentiator is given. The greater number of students of esotericism is in process of transforming themselves from mystics to occultists. DK gives the way to do this: determine the next, small, necessary step and take it.
8. Sau đó, một điểm phân biệt then chốt được đưa ra. Phần lớn các đạo sinh huyền bí học đang trong tiến trình chuyển đổi từ nhà thần bí thành nhà huyền bí học. Chân sư DK chỉ ra cách thực hiện điều này: xác định bước nhỏ cần thiết kế tiếp và thực hiện bước ấy.
9. Mystics have great visions but may accomplish little for the world. Through mystics the Plan (though registered) will often fail to work out and through.
9. Các nhà thần bí có những tầm nhìn lớn lao nhưng có thể làm được rất ít cho thế giới. Thông qua các nhà thần bí, Thiên Cơ (dù đã được ghi nhận) thường không thể biểu hiện ra ngoài và thực hiện đến cùng.
10. In a seventh ray Age, this self-stimulating but ineffective approach will no longer serve. It is workers who are needed. The Christ has indicated that the New Age transformation will be achieved “by human hands and human feet”. Necessary are “the next thing to hand” and the “next step forward”.
10. Trong một Kỷ Nguyên cung bảy, cách tiếp cận tự khơi dậy hứng thú nhưng thiếu hiệu quả này sẽ không còn hữu dụng. Điều cần đến là những người hoạt động. Đức Christ đã chỉ ra rằng sự chuyển đổi của Kỷ Nguyên Mới sẽ thành tựu “bằng bàn tay và bàn chân con người”. Điều cần thiết là “việc kế tiếp trong tầm tay” và “bước tiến kế tiếp”.
11. Let us make sure that each of us knows what this task and this step are—actually, realistically, factually. Then, perhaps, we can become occultists—not impractical visionaries.
11. Chúng ta hãy bảo đảm rằng mỗi người đều biết nhiệm vụ ấy và bước đi ấy là gì—một cách thực sự, thực tế, cụ thể. Khi đó, có lẽ chúng ta có thể trở thành những nhà huyền bí học—thay vì những người có tầm nhìn thiếu thực tiễn.
You are in much better physical condition and your registration of joy must work out also in happiness and eventually in bliss. For you, too, today I have a mantram which may be of service:
Thể trạng của em đã tốt hơn nhiều, và sự hoan hỉ mà em ghi nhận cũng phải biểu hiện thành hạnh phúc, rồi cuối cùng thành chí phúc. Hôm nay, Tôi cũng có cho em một mantram có thể hữu ích:
"Joy settles as a bird within the heart but has winged its way from the secret place within the head. I am that bird of joy. Therefore, with joy I serve."
“Sự hoan hỉ đậu xuống như một cánh chim trong tim, nhưng đã tung cánh bay đến từ chốn bí mật trong đầu. Tôi là cánh chim hoan hỉ ấy. Vì vậy, tôi phụng sự với sự hoan hỉ.”
You will know whereof I speak when I say that your personality detachment must develop into a deeper attachment to the souls within the forms. Thus understanding grows. There is a vice of detachment as well as a vice of attachment and the true servant of the Plan seeks the middle way. You have a sphere of potent usefulness within my group. You give stability and [159] you carry the gift of assured belief. Each member of my group has been chosen for what he can contribute to the whole....
Em sẽ biết Tôi đang nói về điều gì khi Tôi nói rằng sự tách rời khỏi phàm ngã của em phải phát triển thành sự gắn bó sâu sắc hơn với những linh hồn bên trong các hình tướng. Nhờ đó, sự thấu hiểu tăng trưởng. Có sự tách rời sai lầm cũng như có sự gắn bó sai lầm, và người phụng sự chân chính của Thiên Cơ tìm kiếm con đường trung đạo. Trong nhóm của Tôi, em có một phạm vi hoạt động đem lại lợi ích mạnh mẽ. Em mang lại sự ổn định và [159] em mang đến món quà của niềm tin vững chắc. Mỗi thành viên trong nhóm của Tôi đều được chọn vì điều người ấy có thể đóng góp cho toàn thể....
12. The three terms which relate to the feeling of “well-being” are happiness, joy and bliss. Joy is of the soul, and leads in two directions—reinforcing the desirable happiness of the personality and ‘making application’ to the bliss of the spirit.
12. Ba thuật ngữ liên quan đến cảm giác “an lạc” là hạnh phúc, hoan hỉ và chí phúc. Sự hoan hỉ thuộc về linh hồn và dẫn theo hai hướng—củng cố hạnh phúc đáng mong muốn của phàm ngã và ‘hướng đến’ chí phúc của tinh thần.
13. It is not as if “happiness” is undesirable. Some of the greatest sages are intent upon the happiness of man. In Agni Yoga and Master tells us to say, when asked the purpose of Agni Yoga—“that you should be happy”.
13. Không phải “hạnh phúc” là điều không đáng mong muốn. Một số hiền triết vĩ đại nhất luôn hướng đến hạnh phúc của con người. Trong Agni Yoga, một Chân sư bảo chúng ta hãy trả lời, khi có người hỏi mục đích của Agni Yoga—“để các bạn được hạnh phúc”.
14. The Tibetan, however, is being most specific, and is suggesting that soul states must manifest through the personality and evolve and expand into the still more encompassing states of spirit.
14. Tuy nhiên, Chân sư Tây Tạng đang nói hết sức cụ thể, và Ngài gợi ý rằng các trạng thái linh hồn phải biểu hiện qua phàm ngã, rồi tiến hoá và mở rộng thành những trạng thái tinh thần còn bao quát hơn nữa.
15. The Tibetan shares an important section of the Old Commentary on the subject of joy. Yes, the heart is to be filled with joy, and the heart is to sing with joy, as a bird sings. But, there is a secret place “within the head” which is the fountain-spring of joy. This means that there is “soul realization” and deep, inclusive soul-based understanding which serves as the foundation of joy.
15. Chân sư Tây Tạng chia sẻ một đoạn quan trọng của Cổ Luận về chủ đề hoan hỉ. Đúng vậy, trái tim phải tràn đầy hoan hỉ, và trái tim phải hát lên trong hoan hỉ, như chim hót. Nhưng có một nơi bí mật “trong đầu” là nguồn mạch của sự hoan hỉ. Điều này có nghĩa là có “sự chứng nghiệm linh hồn” và sự thấu hiểu sâu sắc, bao gồm, dựa trên linh hồn, làm nền tảng cho sự hoan hỉ.
16. To be the “bird of joy” means to identify as a soul working through the heart center. One has an increasingly full soul-understanding, and stands in the joy of the soul even while working through the personality.
16. Là “cánh chim hoan hỉ” có nghĩa là đồng hoá với linh hồn đang hoạt động qua trung tâm tim. Người ta có sự thấu hiểu của linh hồn ngày càng trọn vẹn hơn, và an trụ trong sự hoan hỉ của linh hồn ngay cả khi đang hoạt động qua phàm ngã.
17. Can there be true service without joy? Certainly, joy is the ‘leaven of service’, elevating its quality and providing additional energy for carrying it forward. The joyful server is the energized server.
17. Có thể có sự phụng sự chân chính mà thiếu hoan hỉ không? Chắc chắn, hoan hỉ là ‘chất men của phụng sự’, nâng cao phẩm tính của nó và cung cấp thêm năng lượng để tiếp tục thực hiện. Người phụng sự hoan hỉ là người phụng sự tràn đầy năng lượng.
18. It is interesting to see DK asking JWK-P to be more attached to souls and not to carry detachment from personalities too far. JWK-P had a second ray personality, and yet, as a personality, was, it would seem, almost excessively detached. The tendency of the first ray soul was working through the personality. Also, we should not think that excessive attachment is the way of all those upon the second ray. There is a wisdom side to the second ray which can be “cold” and detached. Notice the following from Esoteric Psychology, Vol. I, 20Describing the vices of the second ray type, DK lists the following:
18. Thật thú vị khi thấy Chân sư DK yêu cầu JWK-P gắn bó hơn với các linh hồn và đừng đẩy sự tách rời các phàm ngã đi quá xa. JWK-P có phàm ngã cung hai, nhưng dường như, với tư cách phàm ngã, ông lại gần như quá tách rời. Khuynh hướng của linh hồn cung một đang hoạt động qua phàm ngã. Ngoài ra, chúng ta không nên nghĩ rằng gắn bó quá mức là đường lối của tất cả những người thuộc cung hai. Cung hai có một mặt minh triết có thể “lạnh lùng” và tách rời. Hãy lưu ý đoạn sau từ Tâm Lý Học Nội Môn, Tập I, trang 20. Khi mô tả những khuyết điểm của người cung hai, Chân sư DK liệt kê như sau:
19. “Over-absorption in study, coldness, indifference to others, contempt of mental limitations in others.”
19. “Quá mải mê nghiên cứu, lạnh lùng, thờ ơ với người khác, khinh thường những hạn chế trí tuệ của người khác.”
20. A Master, in counseling His chelas, applies what might be called ‘corrective balance’. Apparently JWK-P had much to learn about the “Law of Magnetic Impulse”, the second Law of the Soul, which deals with the close rapport of soul to soul in group formation.
20. Khi khuyên bảo các đệ tử của mình, một Chân sư áp dụng điều có thể gọi là ‘sự cân bằng nhằm điều chỉnh’. Dường như JWK-P còn nhiều điều phải học về “Định luật Xung Động Từ Tính”, Định luật thứ hai của Linh Hồn, vốn đề cập đến sự tương thông mật thiết giữa linh hồn với linh hồn trong việc hình thành nhóm.
21. What DK requests is interesting—to allow personality detachment to develop into soul attachment. While personality detachment can be carried too far, creating cleavage and rebuff, it is also an open door to deeper soul relation. Does this seem a contradiction—that detachment on one level could lead to a desirable attachment on a deeper level? Perhaps we should “ponder on this”.
21. Điều Chân sư DK yêu cầu thật thú vị—để sự tách rời phàm ngã phát triển thành sự gắn bó linh hồn. Trong khi sự tách rời phàm ngã có thể bị đẩy đi quá xa, tạo nên sự chia cách và khước từ, nó cũng là một cánh cửa mở vào mối quan hệ linh hồn sâu sắc hơn. Điều này có vẻ mâu thuẫn chăng—rằng sự tách rời ở một cấp độ có thể dẫn đến sự gắn bó đáng mong muốn ở một cấp độ sâu hơn? Có lẽ chúng ta nên “suy ngẫm về điều này”.
22. Master DK counsels JWK-P to “seek the middle way”—in this case between detachment and attachment. Balance is desirable.
22. Chân sư DK khuyên JWK-P “tìm kiếm con đường trung đạo”—trong trường hợp này là giữa tách rời và gắn bó. Sự cân bằng là điều đáng mong muốn.
23. The Master then lists some of this disciple’s valuable qualities, speaking of his “potent usefulness within [his] group”—the word “potent” indicating the first ray contribution.
23. Sau đó, Chân sư liệt kê một số phẩm tính quý giá của người đệ tử này, nói đến “khả năng đóng góp hữu ích một cách mạnh mẽ trong nhóm [của Ngài]” của ông—từ “mạnh mẽ” chỉ sự đóng góp của cung một.
24. “You give stability and carry the gift of assured belief”. First ray types can be stabilizing because they emphasize principles, fundamental rules and laws. They promote group focus on essentials.
24. “Em mang lại sự ổn định và mang món quà của niềm tin vững chắc”. Những người cung một có thể đem lại sự ổn định vì họ nhấn mạnh các nguyên lý, các quy luật và định luật nền tảng. Họ thúc đẩy nhóm tập trung vào những điều cốt yếu.
25. Why is assured belief a gift? Note that JWK-P has no sixth ray in his equipment (at least, during the incarnation referenced), yet, nonetheless, has “assured belief”, usually a gift of the sixth ray. In any case, doubt in the fundamental verities is ever a danger for even apparently convinced esotericists. To proceed with assurance is to proceed with strength. Energy is not wasted in self-division. We have all had the experience of having our faith or belief strengthened in the presence of one in whom doubt has been conquered. Self-dividing questionings are set aside, and one “gets on with the work”.
25. Vì sao niềm tin vững chắc là một món quà? Hãy lưu ý rằng JWK-P không có cung sáu trong bộ máy của ông (ít nhất là trong kiếp sống được đề cập), nhưng dù vậy ông vẫn có “niềm tin vững chắc”, thường là một món quà của cung sáu. Dù sao đi nữa, sự hoài nghi các chân lý nền tảng luôn là một mối nguy, ngay cả đối với những nhà bí truyền học có vẻ đầy xác tín. Tiến bước với sự vững tin là tiến bước với sức mạnh. Năng lượng không bị lãng phí trong sự chia rẽ nội tâm. Tất cả chúng ta đều từng trải nghiệm việc đức tin hay niềm tin của mình được củng cố khi ở bên một người đã chiến thắng sự hoài nghi. Những câu hỏi gây chia rẽ nội tâm được gác sang một bên, và người ta “tiếp tục công việc”.
28. The last sentence of the paragraph is unfinished. Perhaps DK was going to list some of the qualities of the other disciples. The original instructions do exist (somewhere), and perhaps the missing content indicated by ellipses can be found.
28. Câu cuối của đoạn chưa hoàn tất. Có lẽ Chân sư DK định liệt kê một số phẩm tính của các đệ tử khác. Các huấn thị nguyên bản quả thực vẫn còn tồn tại (ở đâu đó), và có lẽ có thể tìm thấy phần nội dung còn thiếu mà dấu chấm lửng biểu thị.
June 1934 – Tháng Sáu năm 1934
BROTHER OF MINE:
HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:
I would like at this time to make the comment—one of major importance to you—that you are now entering upon the work for which you incarnated. The members of the New Group of World Servers—e'en when they work without mental realisation (not as you do, for you know somewhat of the Plan)—are, nevertheless, working "under impression," as it is called. Their main duty, and the duty to which their souls call them, is to preserve an inner sensitivity. This they do in the majority of cases and, where there is not your background of esoteric knowledge, their intense interest in their work makes them one-pointed and dedicated to their task. Therefore, all personality reactions are subordinated to the work in hand and the lower man presents no impediments to that impression. With you, as with all the members of my group, there is a realisation of the Plan and an inner determination to cooperate and this facilitates the work. For you, therefore, in the immediate future, two things are required. Your sensitivity to inner impression must grow and increase; your will also must be more dynamically used.
Lúc này, Tôi muốn đưa ra một nhận xét có tầm quan trọng lớn đối với em: giờ đây em đang bước vào công việc mà em đã lâm phàm để thực hiện. Các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian—ngay cả khi họ làm việc mà không nhận biết bằng trí tuệ (khác với em, vì em biết phần nào về Thiên Cơ)—tuy nhiên vẫn đang làm việc “dưới ấn tượng”, như người ta thường gọi. Bổn phận chính của họ, cũng là bổn phận mà linh hồn kêu gọi họ thực hiện, là duy trì sự nhạy cảm bên trong. Phần lớn họ đều làm được điều này; và khi không có nền tảng tri thức huyền bí như em, sự quan tâm mãnh liệt đối với công việc khiến họ nhất tâm và tận tụy với nhiệm vụ. Vì vậy, mọi phản ứng của phàm ngã đều phục tùng công việc đang làm, và phàm nhân không gây trở ngại cho ấn tượng ấy. Với em, cũng như với mọi thành viên trong nhóm của Tôi, có sự nhận biết Thiên Cơ và quyết tâm hợp tác từ bên trong, điều này tạo thuận lợi cho công việc. Vì vậy, trong tương lai trước mắt, em cần có hai điều. Sự nhạy cảm của em đối với ấn tượng bên trong phải phát triển và gia tăng; ý chí của em cũng phải được sử dụng một cách năng động hơn.
1. JWK-P was forty-six at the time of this writing. By forty-nine, DK has suggested disciples should know what their service really is and, presumably, be engaged in it. “By the time a disciple reaches the age of forty-nine his pathway of life service should be clearly defined.” (DINA I 742) This is only natural as forty-nine is seven sevens, and the number seven carries the idea of definition of form.
1. JWK-P được bốn mươi sáu tuổi vào thời điểm bức thư này được viết. Chân sư DK đã gợi ý rằng đến tuổi bốn mươi chín, các đệ tử nên biết rõ công việc phụng sự thực sự của mình là gì và, có lẽ, đang thực hiện công việc ấy. “Khi một đệ tử đến tuổi bốn mươi chín, con đường phụng sự trong đời của người ấy phải được xác định rõ ràng.” (DINA I 742) Điều này hoàn toàn tự nhiên vì bốn mươi chín là bảy lần bảy, và số bảy mang ý tưởng về sự xác định hình tướng.
2. Members of the New Group of World Server are, for the most part, initiates of the first degree or more. They may be unconscious of their true hierarchical affiliations (with no diminution of their effectiveness in service). They are nevertheless, “under impression” which means under hierarchical impression, and, more immediately, under impression from their own soul.
2. Phần lớn các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là những điểm đạo đồ bậc một trở lên. Họ có thể không ý thức được những mối liên hệ thực sự của mình với Thánh đoàn (mà hiệu quả phụng sự của họ không hề suy giảm). Tuy nhiên, họ vẫn “dưới ấn tượng”, nghĩa là dưới ấn tượng của Thánh đoàn và, trực tiếp hơn, dưới ấn tượng từ chính linh hồn mình.
3. Interesting, is it not, how DK describes the main duty of members of the NGWS—“to preserve an inner sensitivity”. No word of what they must do in the world is given. It is assumed that if the “inner sensitivity” is preserved, the more external service work will follow naturally and well.
3. Thật thú vị, phải không, cách Chân sư DK mô tả bổn phận chính của các thành viên Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian—“duy trì sự nhạy cảm bên trong”. Không có lời nào nói về những gì họ phải làm trong thế giới. Điều được mặc nhiên hiểu là nếu duy trì “sự nhạy cảm bên trong”, công việc phụng sự bên ngoài sẽ tiếp nối một cách tự nhiên và tốt đẹp.
4. In the case of the disciple, esoteric knowledge helps them achieve a dedicated one-pointedness to the achievement of the task in hand. For those without esoteric knowledge, their intense interest in their field of service accomplishes much the same. We are also familiar with the idea that esoteric knowledge (unless the attitude to it is correct) can become an impediment to service.
4. Đối với đệ tử, tri thức huyền bí giúp họ đạt được sự nhất tâm tận tụy để hoàn thành nhiệm vụ trước mắt. Đối với những người không có tri thức huyền bí, sự quan tâm mãnh liệt đến lĩnh vực phụng sự của họ cũng đem lại kết quả gần như tương tự. Chúng ta cũng quen thuộc với ý tưởng rằng tri thức huyền bí (trừ khi có thái độ đúng đắn đối với nó) có thể trở thành một trở ngại cho việc phụng sự.
5. For the true server the personality presents no insuperable impediment to service. The esotericist knows the personality cannot be allowed to get in the way. The server without esoteric knowledge is so intensely absorbed in the service work that he comes to value it more highly than the demands of the personality. Again, the desirable end is accomplished—either way.
5. Đối với người phụng sự chân chính, phàm ngã không tạo ra trở ngại nào không thể vượt qua đối với việc phụng sự. Nhà bí truyền học biết rằng không thể để phàm ngã cản đường. Người phụng sự không có tri thức huyền bí lại chuyên tâm vào công việc phụng sự mãnh liệt đến mức coi trọng công việc ấy hơn những đòi hỏi của phàm ngã. Một lần nữa, mục đích đáng mong muốn đều thành tựu—bằng cả hai cách.
6. From DK’s perspective, there is no question but that some knowledge of the Divine Plan should facilitate service. Have we, who have some knowledge along this line, found this to be the case in our own lives?
6. Theo quan điểm của Chân sư DK, không còn nghi ngờ gì nữa, một mức độ hiểu biết nào đó về Thiên Cơ ắt phải tạo thuận lợi cho việc phụng sự. Những người có chút hiểu biết theo hướng này như chúng ta đã thấy điều đó đúng trong cuộc sống của chính mình chưa?
7. DK asks of JWK-P two things: that his inner sensitivity be increased and that his will be more dynamically used. The first is the gift of the second ray. Inner sensitivity results in more ready contact, both with the Master and with the Divine Plan. The second request concerning the will relates to the first ray. It will be interesting to see how DK would like to see JWK-P’s will used. The method becomes specific.
7. Chân sư DK yêu cầu JWK-P hai điều: gia tăng sự nhạy cảm bên trong và vận dụng ý chí năng động hơn. Điều thứ nhất là món quà của cung hai. Sự nhạy cảm bên trong đem lại sự tiếp xúc dễ dàng hơn, cả với Chân sư lẫn với Thiên Cơ. Yêu cầu thứ hai liên quan đến ý chí thì thuộc cung một. Sẽ rất thú vị khi xem Chân sư DK muốn ý chí của JWK-P được vận dụng như thế nào. Phương pháp trở nên cụ thể.
These two points I have in view as I consider the nature of the meditation which I must assign to you. The condition of increased sensitivity is dependent upon a perfected alignment and the other upon the right seizure of opportunity, upon directed skill in action and upon a sustained egoic one-pointedness. Therefore, there must be a preservation of such characteristics—with persistence—throughout the day. Your morning meditation should be of a brief and yet potent character and can best be described by the following words: Alignment. Dedication. Directed thought. Recognition of the Plan. Clear-cut realisation. Steady Will. For you, meditation is an assuming of an attitude and its preservation throughout the work of the day. My brother, we can translate all the above into four stages [160] which definitely relate to your life theme, if I may so call it. Begin always with the fourth or final stage and work through to the first:
Tôi lưu tâm đến hai điểm này khi xem xét bản chất của bài thiền mà Tôi phải giao cho em. Trạng thái nhạy cảm gia tăng phụ thuộc vào sự chỉnh hợp hoàn thiện, còn điều kia phụ thuộc vào việc nắm bắt cơ hội đúng đắn, vào sự khéo léo có định hướng trong hành động và vào sự nhất tâm bền bỉ của chân ngã. Vì vậy, em phải kiên trì duy trì những đặc tính ấy suốt cả ngày. Bài thiền buổi sáng của em nên ngắn gọn nhưng mạnh mẽ, và có thể được mô tả rõ nhất bằng những từ sau: Chỉnh hợp. Tận hiến. Tư tưởng có định hướng. Nhận biết Thiên Cơ. Nhận thức rõ ràng. Ý chí vững vàng. Đối với em, tham thiền là xác lập một thái độ và duy trì thái độ ấy trong suốt công việc của ngày. Huynh đệ của tôi, chúng ta có thể chuyển tất cả những điều trên thành bốn giai đoạn [160] liên hệ rõ rệt với chủ đề cuộc đời em, nếu Tôi có thể gọi như vậy. Hãy luôn bắt đầu từ giai đoạn thứ tư, tức giai đoạn cuối cùng, rồi lần lượt tiến đến giai đoạn thứ nhất:
8. When a Master assigns a meditation it is usually with the purpose of developing quality. None of these disciples (in DK’s groups-of-nine) is an initiate of the fourth degree who has destroyed the causal body. All are still building quality into that vehicle of the soul.
8. Khi một Chân sư giao một bài thiền, mục đích thường là phát triển phẩm tính. Không ai trong số các đệ tử này (thuộc những nhóm chín người của Chân sư DK) là điểm đạo đồ bậc bốn đã hủy diệt thể nguyên nhân. Tất cả vẫn đang xây dựng phẩm tính trong hiện thể ấy của linh hồn.
9. We are given that condition upon which increasing inner sensitivity depends: perfected alignment. This is, of course, obvious. If there are obstructions in alignment, how can that which is ‘above’ get through to that which is ‘below’? DK found that, at a certain point in the training of even a more advanced group (in the 1940’s), He had to temporarily delay His intended program of meditation to focus on the question of alignment, for He found that the alignment of some of the group members, and of the group as a soul, was too weak. It is quite useless to begin meditating with hope of good result, if a minimum degree of alignment is not established.
9. Chúng ta được cho biết điều kiện mà sự gia tăng nhạy cảm bên trong tùy thuộc vào: sự chỉnh hợp hoàn thiện. Dĩ nhiên, điều này là hiển nhiên. Nếu có những trở ngại trong sự chỉnh hợp, làm sao cái ở ‘trên’ có thể truyền xuống cái ở ‘dưới’? Chân sư DK nhận thấy rằng, vào một thời điểm nhất định trong quá trình huấn luyện ngay cả một nhóm tiến bộ hơn (vào những năm 1940), Ngài phải tạm hoãn chương trình tham thiền đã dự định để tập trung vào vấn đề chỉnh hợp, vì Ngài nhận thấy sự chỉnh hợp của một số thành viên trong nhóm, và của cả nhóm với tư cách một linh hồn, còn quá yếu. Hoàn toàn vô ích khi bắt đầu tham thiền với hy vọng đạt kết quả tốt nếu chưa thiết lập được một mức độ chỉnh hợp tối thiểu.
10. The more dynamic application of the will depends upon:
10. Việc vận dụng ý chí năng động hơn tùy thuộc vào:
11. Right seizure of opportunity:
11. Nắm bắt đúng cơ hội:
12. this comes under the “Law of Economy”, and is a recognition of when circumstances are so arranged that any application of the will, will have the maximum effect. This could be called ‘enlightened opportunism’.
12. điều này thuộc phạm vi “Định luật Tiết Kiệm”, và là sự nhận biết khi nào hoàn cảnh được sắp đặt sao cho bất kỳ sự vận dụng ý chí nào cũng sẽ đạt hiệu quả tối đa. Có thể gọi đây là ‘sự tận dụng cơ hội một cách sáng suốt’.
13. If opportunity is seized, all forces have to be marshaled for instant application. This requires great alertness and readiness.
13. Nếu nắm bắt cơ hội, phải huy động mọi mãnh lực để vận dụng tức thời. Điều này đòi hỏi sự tỉnh táo và sẵn sàng cao độ.
14. Directed skill in action:
14. Sự khéo léo có định hướng trong hành động:
15. ‘In-the-moment’ intelligence which does not waver from its objective is also required.
15. Cũng cần có trí thông minh ‘ngay trong khoảnh khắc’, không dao động khỏi mục tiêu của mình.
16. This is not just responsive or adaptable skill in action; it is skillful action which continues to move toward the fulfillment of a particular objective without deflection.
16. Đây không chỉ là sự khéo léo trong hành động mang tính đáp ứng hay thích nghi; đó là hành động khéo léo liên tục tiến hướng tới việc hoàn thành một mục tiêu cụ thể mà không chệch hướng.
17. The dynamic application of the will therefore requires directed skill in action.
17. Vì vậy, sự vận dụng ý chí một cách năng động đòi hỏi sự khéo léo có định hướng trong hành động.
18. Sustained egoic one-pointedness
18. Tính nhất tâm chân ngã được duy trì bền bỉ
19. Unless the soul/ego is ‘behind’ the application of will, one can expect fluctuation and personal will.
19. Nếu linh hồn/chân ngã không ‘đứng sau’ việc vận dụng ý chí, có thể dự liệu sẽ có sự dao động và ý chí cá nhân.
20. Clearly, then, right alignment and frequent meditation are required for the right application of the dynamic will, otherwise a sustainedegoic contact will not be possible.
20. Như vậy, rõ ràng cần có sự chỉnh hợp đúng đắn và tham thiền thường xuyên để vận dụng đúng đắn ý chí năng động; nếu không, sẽ không thể duy trì sự tiếp xúc với chân ngã.
21. Further, the one-pointedness involved must relate to soul-objectives and not strictly to personal one.
21. Hơn nữa, tính nhất tâm ở đây phải liên quan đến các mục tiêu của linh hồn, chứ không chỉ thuần túy là mục tiêu cá nhân.
22. It is important to realize that realizations and contacts achieved during successful moments of meditation are often not sustained for any appreciable amount of time. DK is asking this disciple to see to the sustainment of the necessary characteristics (as detailed above). So many differing energy states compete for the disciple’s attention. Important characteristics can be swept away or overcome by a plethora of inconsequential impulses and patterns. So, that which is important must be kept in mind—constantly. Then, real achievement is possible.
22. Cần nhận ra rằng những nhận thức và sự tiếp xúc đạt được trong những khoảnh khắc tham thiền thành công thường không duy trì được trong bất kỳ khoảng thời gian đáng kể nào. Chân sư DK đang yêu cầu người đệ tử này chú trọng việc duy trì những đặc tính cần thiết (như đã trình bày chi tiết ở trên). Có biết bao trạng thái năng lượng khác nhau tranh giành sự chú ý của người đệ tử. Những đặc tính quan trọng có thể bị cuốn trôi hoặc lấn át trước vô số xung lực và mô hình không đáng kể. Vì vậy, điều quan trọng phải được ghi nhớ—một cách liên tục. Khi ấy, thành tựu thực sự mới có thể đạt được.
23. A formula for brief, potent meditation is given: “Alignment. Dedication. Directed thought. Recognition of the Plan. Clear-cut realisation. Steady Will.” This meditation is suitable for an executive—one who has much to manifest upon the physical plane.
23. Một công thức tham thiền ngắn gọn, đầy uy lực được đưa ra: “Chỉnh hợp. Hiến dâng. Tư tưởng có định hướng. Nhận biết Thiên Cơ. Nhận thức rõ ràng. Ý chí vững vàng.” Bài thiền này phù hợp với một người điều hành—người có nhiều điều cần biểu hiện trên cõi hồng trần.
24. A very interesting definition of meditation is given—one that suits occultists (i.e., those who think and act in terms of energy). “For you, meditation is an assuming of an attitude and its preservation throughout the work of the day.” For this disciple, a sustained attitude of the right kind is meditation. It is a kind of ‘meditation in action’ and is related to karma yoga.
24. Một định nghĩa rất thú vị về tham thiền được đưa ra—một định nghĩa phù hợp với các nhà huyền bí học (tức là những người suy nghĩ và hành động theo năng lượng). “Đối với em, tham thiền là xác lập một thái độ và duy trì thái độ ấy suốt công việc trong ngày.” Đối với người đệ tử này, một thái độ được duy trì đúng đắn chính là tham thiền. Đây là một dạng ‘tham thiền trong hành động’ và có liên quan đến yoga hành động.
1. You live with the idea and you constructively embody it. This is being or realisation.
1. Em sống với ý tưởng và hiện thân ý tưởng ấy một cách xây dựng. Đây là hiện tồn hay chứng nghiệm.
2. The purpose becomes your purpose and your will is, therefore, the will of the Plan. Towards this higher will, your personal will is steadily directed.
2. Mục đích ấy trở thành mục đích của em, và vì vậy ý chí của em là ý chí của Thiên Cơ. Ý chí cá nhân của em luôn hướng vững vàng đến ý chí cao hơn này.
3. This "qualifies" your life in the three worlds and you become potently characterised by the quality of the unfolding Plan. Upon this quality you must meditate.
3. Điều này “phú phẩm tính” cho đời sống của em trong ba cõi giới, và phẩm tính của Thiên Cơ đang khai mở trở thành đặc trưng mạnh mẽ nơi em. Em phải tham thiền về phẩm tính này.
4. Realisation of the nature, the purpose and the quality of the Plan to which it is your purpose to contribute. This conditions the form which your work will take.
4. Nhận biết bản chất, mục đích và phẩm tính của Thiên Cơ mà em có ý định đóng góp vào. Điều này định hình hình thức mà công việc của em sẽ mang lấy.
25. Master DK becomes extremely practical, seeking to present to JWK-P the manner in which he can carry out all the suggestions offered above.
25. Chân sư DK trở nên hết sức thực tế, tìm cách trình bày cho JWK-P phương thức để ông có thể thực hiện mọi gợi ý đã đưa ra ở trên.
26. In this case the sequence of action is from the ‘end’ to the ‘beginning’.
26. Trong trường hợp này, trình tự hành động đi từ ‘cuối’ đến ‘đầu’.
27. The first task is to embody the idea practically—to realize it in the sense of manifesting it. One becomes or is the idea—in manifestation.
27. Nhiệm vụ đầu tiên là thể hiện ý tưởng một cách thực tế—hiện thực hóa ý tưởng ấy theo nghĩa biểu hiện nó. Người ta trở thành hoặc là ý tưởng ấy—trong biểu hiện.
28. The disciple is to identify with the purpose which is in process of manifestation. There are to be no little personal purposes, at least none that interfere with the great purpose. A greater purpose takes over. The individual will becomes the “will of the Plan” (a very interesting phrase). It is as if the Divine Plan has a “will of its own”.
28. Người đệ tử phải đồng hoá với mục đích đang trong tiến trình biểu hiện. Không được có những mục đích cá nhân nhỏ bé, ít nhất là không có mục đích nào cản trở mục đích lớn lao. Một mục đích lớn hơn nắm quyền chi phối. Ý chí cá nhân trở thành “ý chí của Thiên Cơ” (một cụm từ rất thú vị). Dường như Thiên Cơ có một “ý chí riêng”.
29. The disciple is required to blend the personal will with the higher will—the “will of the Plan”. The question, therefore, will always arise: “Is what I am about to think or do in alignment with the ‘will of the Plan’?”
29. Người đệ tử cần hòa quyện ý chí cá nhân với ý chí cao cả—“ý chí của Thiên Cơ”. Vì vậy, câu hỏi luôn nảy sinh sẽ là: “Điều tôi sắp nghĩ hoặc làm có chỉnh hợp với ‘ý chí của Thiên Cơ’ không?”
30. The higher purpose and higher will qualify the life of the disciple in the three worlds. The disciple, therefore, becomes qualified by the quality of the unfolding Plan. But what is that quality? And how does that quality specifically relate to the specific disciple?
30. Mục đích cao cả và ý chí cao cả định phẩm tính cho cuộc sống của người đệ tử trong ba cõi giới. Vì vậy, người đệ tử trở nên mang phẩm tính theo phẩm tính của Thiên Cơ đang khai mở. Nhưng phẩm tính ấy là gì? Và phẩm tính ấy liên hệ cụ thể ra sao với người đệ tử cụ thể này?
31. The Plan has three major purposes: the illumination of the mind, the revelation of love and the evocation of the will. Perhaps each disciple will have to focus on one or other of these three qualities. In the case of JWK-P, he is intended to be active in the “evocation of the will”. As an author, he engaged successfully in the “illumination of the mind”. Apparently, he had quite a bit of work to do in relation to the “revelation of love”—a task which could be facilitated by being more attached to the souls of his co-workers.
31. Thiên Cơ có ba mục đích chính: soi sáng thể trí, mặc khải bác ái và gợi lên ý chí. Có lẽ mỗi đệ tử sẽ phải tập trung vào một trong ba phẩm tính này. Trong trường hợp của JWK-P, ông được định hướng hoạt động trong việc “gợi lên ý chí”. Với tư cách một tác giả, ông đã thành công trong việc “soi sáng thể trí”. Dường như ông còn khá nhiều việc phải làm liên quan đến “sự mặc khải bác ái”—một nhiệm vụ có thể trở nên thuận lợi hơn nhờ gắn bó nhiều hơn với linh hồn của những người cộng sự.
32. The final stage is a realization of one’s specific role in the Divine Plan. Everyone has his/her niche. Without the clear realization of that niche, all subsequent action cannot be effective.
32. Giai đoạn cuối cùng là nhận biết vai trò cụ thể của mình trong Thiên Cơ. Mỗi người đều có vị trí riêng. Nếu không nhận biết rõ vị trí ấy, mọi hành động tiếp theo đều không thể có hiệu quả.
33. In relation to the Plan two types of understanding are required: 1) realization of the nature and quality of the Divine Plan, in general and 2) realization of one’s specific purpose and individual plan in relation to the Divine Plan.
33. Liên quan đến Thiên Cơ, cần có hai loại thấu hiểu: 1) nhận biết bản chất và phẩm tính của Thiên Cơ nói chung, và 2) nhận biết mục đích cụ thể cùng kế hoạch cá nhân của mình trong mối liên hệ với Thiên Cơ.
34. And, of course, all this must be kept in proportion. Both inflation and minimization are a danger to the service which could emerge. The balanced path is the path of greatest accomplishment.
34. Và dĩ nhiên, tất cả điều này phải được giữ trong sự cân đối. Cả sự thổi phồng lẫn sự xem nhẹ đều là mối nguy đối với việc phụng sự có thể hình thành. Con đường cân bằng là con đường dẫn đến thành tựu lớn nhất.
Your task is to work with the Law of Supply. The demand is already there. Your work is to contribute to the success of the New Group of World Servers and to the spreading of the truth and to do this, as ever, with joy. As the demands of the work increase, you must learn to preserve your physical poise and good health, by due attention to food and exercise. You must learn to live increasingly the dual life of the disciple—a life of outer activity and of inner sensitivity. You have but little to fear, for much is already accomplished upon the inner planes. The seizure of opportunity, the recognition of opening doors and skill in activity—to these direct your attention. Your work for the New Group of World Servers is now beginning. There will not be asked of you more than you can accomplish. Use the instructions I give you and strengthen your link with me, for that is for you also an opening door of increased usefulness. Cultivate love for your fellowmen or rather, my brother and my friend, the externalising of that love which you have in full measure. In this will lie the recognition of those who constitute the world group. Here D.R.S. is of service to you for he throws a light on people.
Nhiệm vụ của em là làm việc với Định luật Cung Ứng. Nhu cầu đã hiện hữu. Công việc của em là góp phần vào sự thành công của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và việc truyền bá chân lý, và như mọi khi, thực hiện điều này với sự hoan hỉ. Khi những đòi hỏi của công việc gia tăng, em phải học cách giữ gìn sự quân bình của thể xác và sức khỏe tốt bằng cách quan tâm đúng mức đến ăn uống và vận động. Em phải học cách ngày càng sống trọn vẹn đời sống kép của người đệ tử—một đời sống hoạt động bên ngoài và nhạy cảm bên trong. Em chẳng có mấy điều phải sợ, vì nhiều việc đã được hoàn thành trên các cõi bên trong. Hãy hướng sự chú ý vào việc nắm bắt cơ hội, nhận biết những cánh cửa đang mở và sự khéo léo trong hoạt động. Công việc của em cho Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian giờ đây đang bắt đầu. Em sẽ không được yêu cầu làm nhiều hơn những gì em có thể hoàn thành. Hãy sử dụng những huấn thị Tôi trao cho em và củng cố mối liên kết với Tôi, vì đối với em, đó cũng là một cánh cửa đang mở để em trở nên hữu ích hơn. Hãy vun bồi tình thương đối với đồng loại, hay đúng hơn, huynh đệ và bằng hữu của tôi, hãy biểu lộ ra ngoài tình thương mà em vốn có đầy đủ. Chính trong điều này sẽ có sự nhận biết những người hợp thành nhóm thế giới. Ở đây, D.R.S. có thể giúp em, vì bạn ấy soi sáng cho em về con người.
35. It is frequently the task of first ray souls to ensure that conditions are created so that good ideas can manifest—i.e., that they survive. As an astrological side note, it cannot be overlooked that JWK-P had the Moon in Taurus (the sign of resources) conjuncted to the asteroid Ceres (the nurturer and care taker).
35. Các linh hồn cung một thường có nhiệm vụ bảo đảm tạo ra những điều kiện để các ý tưởng tốt đẹp có thể biểu hiện—tức là để chúng tồn tại. Như một ghi chú thêm về chiêm tinh học, không thể bỏ qua việc JWK-P có Mặt Trăng ở Kim Ngưu (dấu hiệu của các nguồn lực) đồng vị với tiểu hành tinh Ceres (người nuôi dưỡng và chăm sóc).
36. So, JWK-P is to help financially with the NGWS—to help supply their needs
36. Vì vậy, JWK-P phải hỗ trợ tài chính cho Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian—giúp cung ứng những nhu cầu của họ
37. The word “demand” is a first ray word, and makes us think of the “three great demands” which an initiate is entitled to make.
37. Từ “đòi hỏi” là một từ thuộc cung một, và khiến chúng ta nghĩ đến “ba đòi hỏi lớn” mà một điểm đạo đồ có quyền đưa ra.
38. DK foresees much work ahead for JWK-P, and also the danger of the loss of physical poise and health. A disciple is to be practical and Master DK addresses Himself to practicalities.
38. Chân sư DK thấy trước nhiều công việc đang chờ JWK-P, cùng nguy cơ mất sự quân bình của thể xác và sức khỏe. Một đệ tử phải thực tế, và Chân sư DK chú trọng đến những vấn đề thực tế.
39. A disciple is effective to the extent he can live the “dual life of the disciple”—receptive to guidance from the soul and Master and intelligently, lovingly, powerfully active in the world.
39. Một đệ tử có hiệu quả đến mức độ y có thể sống “đời sống kép của người đệ tử”—tiếp nhận sự hướng dẫn từ linh hồn và Chân sư, đồng thời hoạt động trong thế giới một cách thông minh, đầy tình thương và mạnh mẽ.
40. DK gauges what He will ask of any disciple, and in doing so, consults the disciple’s inner state—the degree of achievement upon the inner planes. In the case of JWK-P, long experience in the Ashram of Master M has led to much inner achievement (as a firm foundation for outer initiatives to be undertaken).
40. Chân sư DK cân nhắc những gì Ngài sẽ yêu cầu ở mỗi đệ tử, và khi làm vậy, Ngài xét đến trạng thái bên trong của người đệ tử—mức độ thành tựu trên các cõi bên trong. Trong trường hợp của JWK-P, kinh nghiệm lâu dài trong ashram của Chân sư M. đã dẫn đến nhiều thành tựu bên trong (làm nền tảng vững chắc cho những sáng kiến bên ngoài sẽ được thực hiện).