← Bình GIảng Thư Chân sư Gửi Các Đệ tử

chapter 006 02

Trích nội dung chương

41. DK re-emphasizes the three factors which will make a more dynamic application of the will possible: “the seizure of opportunity, the recognition of opening doors and skill in activity” 41. Chân sư DK nhấn mạnh lại ba yếu tố sẽ giúp vận dụng ý chí năng động hơn: “việc nắm bắt cơ hội, nhận biết những cánh cửa đang mở và sự khéo léo trong hoạt động”


41. DK re-emphasizes the three factors which will make a more dynamic application of the will possible: “the seizure of opportunity, the recognition of opening doors and skill in activity”

41. Chân sư DK nhấn mạnh lại ba yếu tố sẽ giúp vận dụng ý chí năng động hơn: “việc nắm bắt cơ hội, nhận biết những cánh cửa đang mở và sự khéo léo trong hoạt động”

42. DK wants this disciple to be effective in the application of will, yet lovingly so, thus preserving the balance.

42. Chân sư DK muốn người đệ tử này vận dụng ý chí một cách hiệu quả, song đầy tình thương, nhờ đó duy trì sự cân bằng.

43. JWK-P was certainly at least an initiate of the second degree; he would have to be if he were to work actively and authoritatively for the organization and promotion of the New Group of World Servers was beginning. To be a member of the NGWS indicates a relatively advanced state of development.

43. JWK-P chắc chắn ít nhất là một điểm đạo đồ bậc hai; ông phải đạt cấp độ ấy nếu muốn hoạt động tích cực và có thẩm quyền trong việc tổ chức và thúc đẩy Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đang bắt đầu. Là thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian cho thấy một trạng thái phát triển tương đối cao.

44. Master DK is encouraging JWK-P to achieve a deeper link with Him, presumably because He is a second ray Master. It is love which this disciple must cultivate, or rather, as DK points out, “the externalising of that love which you have in full measure”. DK can see into the soul. In addition, it is very likely that this disciple is a monad upon the second ray. Only those disciples are related closely to DK who have the soul or the monad (some had both) upon the same ray as His—namely the second ray. As JWK-P is a first ray soul, the monad, by inference, is upon the second ray.

44. Chân sư DK khuyến khích JWK-P đạt được mối liên kết sâu sắc hơn với Ngài, có lẽ vì Ngài là một Chân sư cung hai. Chính tình thương là điều người đệ tử này phải vun bồi, hay đúng hơn, như Chân sư DK chỉ ra, là “ngoại hiện tình thương mà em vốn có dồi dào”. Chân sư DK có thể nhìn thấu linh hồn. Ngoài ra, rất có thể người đệ tử này là một chân thần thuộc cung hai. Chỉ những đệ tử có linh hồn hoặc chân thần (một số có cả hai) thuộc cùng cung với Ngài—tức là cung hai—mới có quan hệ gần gũi với Chân sư DK. Vì JWK-P là một linh hồn cung một, nên có thể suy ra chân thần thuộc cung hai.

45. After asking JWK-P to externalize the love within him, the Tibetan adds, enigmatically, “In this will lie the recognition of those who constitute the world group”. This can mean one of two things: 1) that when such love is expressed it will lead to the recognition of those who constitute the world group, or 2) that when such love is expressed, members of the world group will recognize the disciple and wish to work under his inspiration.

45. Sau khi yêu cầu JWK-P ngoại hiện tình thương bên trong ông, Chân sư Tây Tạng thêm vào một cách bí ẩn: “Chính trong điều này sẽ có sự nhận biết những người hợp thành nhóm thế giới”. Điều này có thể mang một trong hai nghĩa: 1) khi tình thương ấy được biểu lộ, nó sẽ dẫn đến sự nhận biết những người hợp thành nhóm thế giới, hoặc 2) khi tình thương ấy được biểu lộ, các thành viên của nhóm thế giới sẽ nhận ra người đệ tử và muốn làm việc dưới cảm hứng của ông.

46. We are told that DRS would be of service in showing JWK-P how to do this. There is an interesting occult blind here, because DRS is Alice A. Bailey (Detachment, Rest, Skill-in-Action), and not a “he” at all.

46. Chúng ta được cho biết rằng DRS sẽ giúp ích trong việc chỉ cho JWK-P cách thực hiện điều này. Ở đây có một cách che giấu huyền bí thú vị, vì DRS là Alice A. Bailey (Tách rời, Nghỉ ngơi, Khéo léo trong Hành động), và hoàn toàn không phải là một “ông”.

47. Given the meaning of this last sentence, it is probable that the first of the two interpretations given above is the correct one—i.e., that externalizing the latent love will reveal the members of the world group with whom JWK-P can and should work.

47. Xét ý nghĩa của câu cuối này, có lẽ cách diễn giải thứ nhất trong hai cách nêu trên là đúng—tức là việc ngoại hiện tình thương tiềm ẩn sẽ làm hiển lộ những thành viên của nhóm thế giới mà JWK-P có thể và nên làm việc cùng.

In quietness and in confidence go forward along the Lighted Way and with expectancy as your keynote. Preserve a readiness to handle all that may eventuate. The link between you and your Master strengthens daily. [161]

Hãy tiến bước trong sự yên tĩnh và niềm tin vững chắc trên Con Đường được Soi Sáng, lấy sự mong đợi làm chủ âm. Hãy luôn sẵn sàng ứng phó với mọi điều có thể xảy đến. Mối liên kết giữa em và Chân sư của em ngày càng vững mạnh.

48. Master DK gives JWK-P a key to success—“quietness” and “confidence”. “Quietness” permits no energy-wasting disturbance. “Confidence” eliminates energy-draining doubt.

48. Chân sư DK trao cho JWK-P một chìa khóa thành công—“sự yên tĩnh” và “sự tin tưởng”. “Sự yên tĩnh” không cho phép những xáo động gây lãng phí năng lượng. “Sự tin tưởng” loại bỏ sự nghi ngờ làm hao mòn năng lượng.

49. “Expectancy” is suggested as a keynote. “Expectancy” is an invocation of that which ought to be and can be. In a way, expectancy is almost a demand that that which ought to be shall be.

49. “Niềm mong đợi” được gợi ý làm chủ âm. “Niềm mong đợi” là sự khẩn cầu điều nên hiện hữu và có thể hiện hữu. Theo một cách nào đó, niềm mong đợi gần như là một đòi hỏi rằng điều nên hiện hữu nhất định sẽ hiện hữu.

50. The Tibetan summons JWK-P to a high state of alertness and readiness. Vigilance is a quality which the Master Morya emphasizes—the Master with Whom JWK-P is closely linked. A Master can see many things. In this case, although JWK-P is temporarily under His supervision, He can, nevertheless, see the link between JWK-P and Master M strengthening.

50. Chân sư Tây Tạng kêu gọi JWK-P đạt đến trạng thái tỉnh táo và sẵn sàng cao độ. Sự cảnh giác là một phẩm tính mà Chân sư Morya nhấn mạnh—vị Chân sư mà JWK-P có mối liên kết gần gũi. Một Chân sư có thể thấy nhiều điều. Trong trường hợp này, mặc dù JWK-P tạm thời ở dưới sự giám sát của Ngài, Ngài vẫn có thể thấy mối liên kết giữa JWK-P và Chân sư M. đang vững mạnh thêm.

51. Note that this strengthening link in no way minimizes the service which JWK-P is able to provide for the Tibetan. In fact, the service is strengthened thereby.

51. Hãy lưu ý rằng mối liên kết ngày càng vững mạnh này hoàn toàn không làm giảm sự phụng sự mà JWK-P có thể dành cho Chân sư Tây Tạng. Thực tế, nhờ đó sự phụng sự ấy được củng cố.

January 1935 – Tháng Một năm 1935

BROTHER OF MINE:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

You face the three most strenuous years of your life and by the time you are forty-nine years old, your work will have fallen into such definite lines that you will see the Plan for future service with much greater clarity and will have acquired the desired momentum. Your work ahead lies now in cooperating with those who are the New Group of World Servers and in organising the financing through which much of their work may become possible. The work as it takes shape on the physical plane must be directed towards the spiritual uplift of the thinking people of the world in the first case and in the second place through them will come the uplift of the masses.

Em đang đối diện với ba năm vất vả nhất trong đời, và đến khi em bốn mươi chín tuổi, công việc của em sẽ đi vào những đường hướng rõ ràng đến mức em sẽ thấy Thiên Cơ cho việc phụng sự tương lai sáng tỏ hơn nhiều và đã có được đà tiến mong muốn. Công việc trước mắt của em giờ đây nằm ở việc hợp tác với những người thuộc Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và tổ chức nguồn tài chính để phần lớn công việc của họ có thể thực hiện được. Khi công việc thành hình trên cõi hồng trần, trước hết nó phải hướng đến việc nâng cao đời sống tinh thần của những người biết suy nghĩ trên thế giới, và thứ đến, qua họ, việc nâng cao quần chúng sẽ diễn ra.

1. Master DK turns prophetic here. Saturn is in the tenth house and will be entering the sign Pisces, thus conjuncting the natal Sun. Transiting Pluto (the esoteric ruler of the Sun-sign) is crossing the progressed Ascendant, and progressing Mars is conjuncting progressed Uranus. DK may have had various subjective reasons for predicting the three most strenuous years of JWK-P’s life, but there are also astrological reasons.

1. Ở đây, Chân sư DK chuyển sang tiên tri. Sao Thổ ở nhà 10 và sẽ đi vào dấu hiệu Song Ngư, do đó đồng vị với Mặt Trời bản mệnh. Sao Diêm Vương quá cảnh (chủ tinh nội môn của dấu hiệu Mặt Trời) đang đi qua Điểm mọc tiến trình, và Sao Hỏa tiến trình đang đồng vị với Sao Thiên Vương tiến trình. Chân sư DK có thể đã có nhiều lý do chủ quan khác nhau để tiên đoán ba năm gian lao nhất trong cuộc đời JWK-P, nhưng cũng có những lý do chiêm tinh học.

2. The importance of the number forty-nine is emphasized. The relevant quotation is given in the commentary on the preceding letter of instruction. Seven sevens bring clarity,and, indeed, the seventh ray is, of all the rays, the most powerful for bringing about clearly formulated outlines.

2. Tầm quan trọng của con số bốn mươi chín được nhấn mạnh. Đoạn trích liên quan được đưa ra trong phần bình giảng bức thư huấn thị trước đó. Bảy lần bảy mang lại sự sáng tỏ,và quả thực, trong tất cả các cung, cung bảy có quyền năng mạnh nhất trong việc tạo ra những đường nét được xác lập rõ ràng.

3. DK helps JWK-P see his work. It is practical, financial work in relation to the NGWS, whose numbers were far smaller in those days than they are presently.

3. Chân sư DK giúp JWK-P thấy công việc của mình. Đó là công việc tài chính thực tế liên quan đến Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, mà số thành viên vào thời ấy ít hơn nhiều so với hiện nay.

4. The sequence of work is clear: aid, as spiritual uplift, must first come to the thinking people of the world, who will then see to the uplift of the masses.

4. Trình tự công việc rất rõ ràng: sự trợ giúp, dưới hình thức nâng cao tinh thần, trước hết phải đến với những người biết suy nghĩ trên thế giới; sau đó họ sẽ đảm nhận việc nâng cao quần chúng.

5. We are reminded that we must put our hours of service in the places which will do the most good. Numbers can be misleading. Often, helping a few who are powerful and influential, is of greater eventual service than helping many who are weaker and inconsequential in their influence. For the most part, the service offered by disciples is for the thinking people of the world and the men and women of goodwill who, then, will be mobilized to help on a large scale the masses of people.

5. Chúng ta được nhắc rằng phải dành thời gian phụng sự ở những nơi sẽ mang lại nhiều điều tốt đẹp nhất. Số lượng có thể gây ngộ nhận. Thường thì giúp một số ít người có quyền lực và ảnh hưởng cuối cùng lại mang lại sự phụng sự lớn hơn là giúp nhiều người yếu thế hơn và có ảnh hưởng không đáng kể. Phần lớn sự phụng sự của các đệ tử là dành cho những người biết suy nghĩ trên thế giới và những người nam và nữ có thiện chí, những người sau đó sẽ được huy động để giúp đỡ đông đảo quần chúng trên quy mô lớn.

Your work must be largely selective and in the main educational. It will also involve the finding and the training of those who can cooperate. Workers increasingly will be drawn to Great Britain and to the continent of Europe. From the United States of America, the teaching must go out. But Europe is the field for the educating of the world in the ideas of a true world unity and for the wise presentation of the Plan. From that continent can the inspiration go forth to the East and to the West.

Công việc của em phải mang tính chọn lọc cao và chủ yếu có tính giáo dục. Công việc ấy cũng bao gồm việc tìm kiếm và huấn luyện những người có thể hợp tác. Ngày càng nhiều người hoạt động sẽ được thu hút đến Đại Anh và lục địa châu Âu. Giáo huấn phải được truyền đi từ Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Nhưng châu Âu là lĩnh vực để giáo dục thế giới về những ý tưởng thống nhất thế giới chân chính và để trình bày Thiên Cơ một cách minh triết. Từ lục địa ấy, cảm hứng có thể lan tỏa sang phương Đông và phương Tây.

6. If the work of JWK-P is to be “largely selective”, he will have to choose wisely those he is to directly serve, otherwise the Law of Economy will be violated. The Tibetan is counseling discrimination in the expenditure of energy in service. This applies to most all disciples, but since JWK-P was assigned work which was so important for the NGWS, it applies especially to him.

6. Nếu công việc của JWK-P “phần lớn phải có tính chọn lọc”, ông sẽ phải sáng suốt lựa chọn những người mình sẽ trực tiếp phụng sự; nếu không, Định luật Tiết Kiệm sẽ bị vi phạm. Chân sư Tây Tạng đang khuyên cần có sự phân biện trong việc sử dụng năng lượng để phụng sự. Điều này áp dụng cho hầu hết mọi đệ tử, nhưng vì JWK-P được giao công việc rất quan trọng đối với Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian nên nó đặc biệt áp dụng cho ông.

7. Although he is first ray soul, his personality ray is the second and, probably, his monadic ray as well. Perhaps this is the reason he is suited to do “educational” work. The proposed Ascendant of Gemini (appearing in a chart {shown above} and erected by one of his co-workers DHB) lends further emphasis to his educational potentials. The sign Gemini, we may have noted, is conspicuously present the astrological equipment of those very close to the Tibetan and His work: Alice Bailey, Foster Bailey, Mary Bailey, and the disciple RSW who was close to Him as well. As Master DK spoke of Himself as the “Messenger”, this is not surprising.

7. Mặc dù ông là một linh hồn cung một, cung phàm ngã của ông là cung hai, và có lẽ cung chân thần cũng vậy. Có lẽ đây là lý do ông phù hợp với công việc “giáo dục”. Điểm mọc Song Tử được đề xuất (xuất hiện trong một lá số {trình bày ở trên} do DHB, một trong những người cộng sự của ông, lập) càng nhấn mạnh tiềm năng giáo dục của ông. Có lẽ chúng ta đã nhận thấy dấu hiệu Song Tử hiện diện nổi bật trong cấu hình chiêm tinh của những người rất gần gũi với Chân sư Tây Tạng và công việc của Ngài: Alice Bailey, Foster Bailey, Mary Bailey, và đệ tử RSW, người cũng gần gũi với Ngài. Vì Chân sư DK tự nói về mình như “Sứ Giả”, nên điều này không có gì đáng ngạc nhiên.

8. The work of finding and training will fall to all of us one day, if it has not already. This is no simple matter, for upon the choice of one’s co-workers and close cooperators much of the success of one’s efforts depends.

8. Một ngày nào đó, công việc tìm kiếm và huấn luyện sẽ thuộc về tất cả chúng ta, nếu hiện nay chưa như vậy. Đây không phải là chuyện đơn giản, vì phần lớn thành công trong những nỗ lực của mỗi người phụ thuộc vào việc lựa chọn những người cộng sự và những người hợp tác gần gũi.

9. DK, Himself, found and trained those who worked under His guidance. His methods of finding were, of course, more advanced than ours. He found His students (for instance, the students/disciples/chelas who were to form His outer groups) by their inner light. As for training them, the two Discipleship in the New Age books are all about that training.

9. Chính Chân sư DK đã tìm kiếm và huấn luyện những người làm việc dưới sự hướng dẫn của Ngài. Dĩ nhiên, phương pháp tìm kiếm của Ngài tiến bộ hơn phương pháp của chúng ta. Ngài tìm các môn sinh của mình (chẳng hạn, những môn sinh/đệ tử sẽ hợp thành các nhóm bên ngoài của Ngài) qua ánh sáng bên trong của họ. Còn về việc huấn luyện họ, hai cuốn Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới hoàn toàn đề cập đến việc huấn luyện ấy.

10. It is interesting that “from the United States of America, the teaching must go out”. This fits with America’s motto: “I light the Way”. But Great Britain and Europe have, perhaps, greater wisdom (due, perhaps, to their greater age) in presenting the concept of world unity and the Plan.

10. Thật thú vị khi “từ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, giáo huấn phải được truyền đi”. Điều này phù hợp với phương châm của Hoa Kỳ: “Tôi soi sáng Đường Đạo”. Nhưng Vương quốc Anh và châu Âu có lẽ có nhiều minh triết hơn (có lẽ do lịch sử lâu đời hơn) trong việc trình bày khái niệm về sự hợp nhất thế giới và Thiên Cơ.

11. Thus, the Tibetan outlines significant roles within the Divine Plan for America, Great Britain and Europe.

11. Như vậy, Chân sư Tây Tạng phác thảo những vai trò quan trọng trong Thiên Cơ dành cho Hoa Kỳ, Đại Anh và châu Âu.

Go forward into this work with sure courage and with no sense of pressure. Blend the wise methods of the present organisations with the vision of the newer types of work. This is a spiritual work in which you are engaged and it has educational objectives which have for their goal the dissemination of those principles which must govern world-living and world attitudes during the coming New Age. In the presentation of the work which the New Group of World Servers can do, certain definite and immediate possible programmes can be indicated, such as the educating of public opinion in the principle of non-separativeness. But to do this, much meditation and much clear thinking will be involved.... The technique to be followed and the methods employed to arouse interest and to evoke the needed support are for Western disciples and workers to decide and not for me, your Oriental brother. I can but stimulate your soul to clarity of perception, to wise vision, to [162] true understanding and to right planning. The rest of the work and the materialising of the project lies in your hands and with those who respond to the ideas presented.

Hãy tiến vào công việc này với lòng can đảm vững chắc và không cảm thấy áp lực. Hãy kết hợp những phương pháp khôn ngoan của các tổ chức hiện tại với tầm nhìn về những loại hình công việc mới hơn. Công việc em đang tham gia là một công việc tinh thần, với những mục tiêu giáo dục nhằm truyền bá các nguyên khí phải chi phối đời sống và thái độ của thế giới trong Kỷ Nguyên Mới sắp đến. Khi trình bày công việc mà Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian có thể làm, có thể nêu ra một số chương trình cụ thể, khả thi ngay trước mắt, chẳng hạn như giáo dục công luận về nguyên khí không chia rẽ. Nhưng để làm điều này, cần tham thiền nhiều và suy nghĩ thật sáng suốt.... Các đệ tử và những người hoạt động phương Tây phải quyết định kỹ thuật cần tuân theo và những phương pháp dùng để khơi dậy sự quan tâm và gợi lên sự hỗ trợ cần thiết; điều đó không thuộc về Tôi, người huynh đệ phương Đông của em. Tôi chỉ có thể khơi động linh hồn em để em nhận thức sáng tỏ, có tầm nhìn minh triết, [162] thấu hiểu chân thực và hoạch định đúng đắn. Phần công việc còn lại và việc hiện thực hóa dự án nằm trong tay em cùng những người đáp ứng với các ý tưởng được trình bày.

12. Work with “sure courage” and “no sense of pressure”. This is reminiscent of the “quietness” and “confidence” enjoined upon JWK-P earlier. To work with calmness and courage under pressure is a gift of the first ray.

12. Hãy làm việc với “lòng can đảm vững vàng” và “không cảm thấy áp lực”. Điều này gợi nhớ đến sự “tĩnh lặng” và “tự tin” mà trước đây JWK-P đã được khuyên phải có. Làm việc bình tĩnh và can đảm dưới áp lực là một thiên tư của cung một.

13. The methods of the NGWS, ruled by the fourth ray, are enjoined upon JWK-P. He is to blend the old with the new. There is much of the fourth ray of harmony through conflict connected with this international serving group and, significantly, his mental ray is the fourth. His Moon is in Taurus, the sign closely associated with the NGWS.

13. JWK-P được khuyên áp dụng các phương pháp của NGWS, do cung bốn cai quản. Ông cần kết hợp cái cũ với cái mới. Cung bốn hòa hợp qua xung đột có liên hệ sâu sắc với nhóm phụng sự quốc tế này, và điều đáng chú ý là cung thể trí của ông là cung bốn. Mặt Trăng của ông ở Kim Ngưu, dấu hiệu gắn bó mật thiết với NGWS.

14. DK outlines the educational objectives which JWK-P should pursue. His Gemini Ascendant will be very useful in this task, as he is to educate public opinion in the “principle of non-separativeness”.

14. Chân sư DK phác thảo những mục tiêu giáo dục mà JWK-P nên theo đuổi. Điểm mọc Song Tử của ông sẽ rất hữu ích trong nhiệm vụ này, vì ông cần giáo dục công luận về “nguyên khí không chia rẽ”.

15. DK gives JWK-P and His other trusted disciples much latitude in deciding the nature of the service to be rendered. They are, after all, “Western” disciples and should know the society in which they intend to serve, perhaps somewhat better than the Master, at least in terms of current detail.

15. Chân sư DK dành cho JWK-P và những đệ tử khác mà Ngài tin cậy nhiều quyền tự quyết về bản chất của công việc phụng sự cần thực hiện. Xét cho cùng, họ là những đệ tử “phương Tây” và hẳn phải hiểu xã hội mà họ dự định phụng sự, có lẽ phần nào rõ hơn Chân sư, ít nhất về những chi tiết hiện thời.

16. The Master does not “hold the disciple’s hand”, except, perhaps, in hours of great emergency and when the disciple’s resources are entirely depleted. Instead the Master stimulates the soul of the disciple—note, not the personality.

16. Chân sư không “cầm tay đệ tử”, có lẽ ngoại trừ những giờ phút vô cùng khẩn cấp và khi nguồn lực của đệ tử đã hoàn toàn cạn kiệt. Thay vào đó, Chân sư kích thích linh hồn của đệ tử—hãy lưu ý, không phải phàm ngã.

17. Once there is “clarity of perception,…wise vision, …true understanding, and…right planning”, right action will follow. In this policy of inner stimulation, the Masters demonstrate their tendency to work with causes rather than effects.

17. Một khi có “sự tri giác sáng rõ,…tầm nhìn minh triết, …sự thấu hiểu chân thực, và…việc hoạch định đúng đắn”, hành động đúng đắn sẽ theo sau. Qua chủ trương kích thích từ bên trong này, các Chân sư thể hiện khuynh hướng làm việc với nguyên nhân hơn là kết quả.

As regards your personal development and training, brother of old, I can but enjoin upon you a consideration of the meditation work I gave in my last instruction to you and a renewed effort to meet its demands. You have no idea how a fresh access of power will come to you could you but discipline yourself into giving a dynamic twenty minutes each morning—prior to descending to the day's routine.... This has for years been your problem. Yet this scant twenty minutes, taken each morning with regularity at the hour of 8 A.M. would give you not only the joy you need in your strenuous service, the power and insight you require to stabilise your work, but also a larger measure of physical strength. Your body nature is so constituted that it responds to spiritual healing more than do the bodies of the majority.

Về sự phát triển và huấn luyện cá nhân của em, huynh đệ từ thuở xưa, Tôi chỉ có thể khuyên em xem xét công việc tham thiền mà Tôi đã giao trong huấn thị trước và nỗ lực trở lại để đáp ứng những đòi hỏi của nó. Em không hình dung được một nguồn quyền năng mới sẽ đến với em như thế nào nếu em chịu tự rèn kỷ luật để dành hai mươi phút năng động mỗi sáng—trước khi bước vào nếp sinh hoạt thường nhật.... Đây đã là vấn đề của em suốt nhiều năm. Tuy nhiên, chỉ hai mươi phút ít ỏi ấy, nếu đều đặn thực hiện vào lúc 8 giờ mỗi sáng, sẽ không chỉ đem lại cho em sự hoan hỉ cần thiết trong công việc phụng sự vất vả, quyền năng và sự thấu suốt cần thiết để ổn định công việc, mà còn cả sức mạnh thể chất dồi dào hơn. Cấu tạo thân thể của em khiến nó đáp ứng với sự chữa lành tinh thần nhiều hơn thân thể của phần đông mọi người.

18. Often the Master has to repeat His instructions, even to well-intended and responsible disciples. There is a tendency to ‘forget’ that which is a new approach, and to fall back into old habits of non-response to the Master’s suggestions.

18. Chân sư thường phải nhắc lại các huấn thị của Ngài, ngay cả với những đệ tử có thiện chí và tinh thần trách nhiệm. Người ta có khuynh hướng ‘quên’ cách tiếp cận mới và quay lại những thói quen cũ là không đáp ứng với các đề nghị của Chân sư.

19. The idea presented is an important one—meditation as the key to a “fresh access of power”—even twenty minutes of meditation (not a long time when vitalization is at stake). Note however, that it is a “dynamic” twenty minutes, not any kind of merely passive drifting. What would make the twenty minutes dynamic? A sustained point of tension would suffice. Intensity without tenseness holds the key to the access.

19. Ý tưởng được trình bày ở đây rất quan trọng—tham thiền là chìa khóa để tiếp cận “một nguồn quyền năng mới”—dù chỉ hai mươi phút tham thiền (không phải một khoảng thời gian dài khi xét đến việc tiếp sinh lực). Tuy nhiên, hãy lưu ý rằng đó là hai mươi phút “đầy năng động”, chứ không phải bất kỳ kiểu buông trôi thụ động nào. Điều gì sẽ khiến hai mươi phút ấy trở nên năng động? Duy trì một điểm tập trung nhất tâm là đủ. Chìa khóa để tiếp cận nguồn quyền năng ấy nằm ở cường độ mạnh mẽ mà không căng thẳng.

20. Note that this disciple (and a number of the disciples, maybe all of them) has had a problem for many years, and it does not simply go away. Old habits die hard and are hard to change (especially when the Moon is in Taurus).

20. Hãy lưu ý rằng người đệ tử này (và một số đệ tử khác, có lẽ tất cả họ) đã có một vấn đề suốt nhiều năm, và vấn đề ấy không đơn giản tự biến mất. Những thói quen cũ rất dai dẳng và khó thay đổi (đặc biệt khi Mặt Trăng ở Kim Ngưu).

21. DK tried to make the prospect of a short daily meditation attractive. The necessary twenty minutes are called a “scant” twenty minutes—negligible when compared to the hundreds of minutes in each day.

21. Chân sư DK đã cố làm cho triển vọng thực hành một thời tham thiền ngắn mỗi ngày trở nên hấp dẫn. Hai mươi phút cần thiết được gọi là “vỏn vẹn” hai mươi phút—không đáng kể khi so với hàng trăm phút trong mỗi ngày.

22. The promise is considerable—joy, power and insight and a “larger measure of physical strength”. Who could resist the offer? Meditation is a subjective act, but its outer consequences are considerable.

22. Lời hứa thật lớn lao—sự hoan hỉ, quyền năng và sự thấu triệt, cùng “sức mạnh thể chất dồi dào hơn”. Ai có thể cưỡng lại lời đề nghị ấy? Tham thiền là một hành động chủ quan, nhưng những hệ quả bên ngoài của nó rất đáng kể.

23. JWK-P’s body is on the seventh ray and responsive to spiritual healing. Seventh ray bodies are more responsive to such healing than are third ray bodies, and, from DK’s description, the body of JWK-P was more responsive than most seventh ray bodies.

23. Thân thể của JWK-P thuộc cung bảy và đáp ứng với việc chữa lành bằng tinh thần. Những thân thể cung bảy đáp ứng với cách chữa lành này nhiều hơn những thân thể cung ba, và theo mô tả của Chân sư DK, thân thể của JWK-P đáp ứng nhiều hơn phần lớn những thân thể cung bảy.

July 1935 – Tháng Bảy năm 1935

I have but little to say to you, my brother, as last year I wrote to you in detail and outlined to you the work of the coming years. I change not that work or my suggestions, for if I did so there would be no true synthesis in the output of this group. I am working on a prearranged Plan of my own which was the result of several years' close observation of the members of my group. I have seen no reason to change my original ideas or plan, because you have all developed as I foresaw, though one or two of the group are learning more slowly than the rest whilst one member of my group has unexpectedly leaped ahead.

Huynh đệ của tôi, Tôi chỉ có đôi điều để nói với em, vì năm ngoái Tôi đã viết cho em rất chi tiết và phác thảo công việc của những năm sắp tới. Tôi không thay đổi công việc ấy hay những đề nghị của Tôi, vì nếu làm vậy, những thành quả của nhóm này sẽ không có sự tổng hợp thực sự. Tôi đang làm việc theo một Thiên Cơ do chính Tôi sắp đặt từ trước, kết quả của nhiều năm quan sát kỹ lưỡng các thành viên trong nhóm. Tôi chưa thấy lý do nào để thay đổi những ý tưởng hay kế hoạch ban đầu, vì tất cả các em đều đã phát triển như Tôi dự kiến, dù một hoặc hai người trong nhóm học chậm hơn những người còn lại, trong khi một thành viên của nhóm đã bất ngờ tiến vượt lên.

1. DK works under the Law of Economy. What He has written, He does not usually repeat, except under great necessity.

1. Chân sư DK làm việc theo Định luật Tiết Kiệm. Những gì Ngài đã viết, Ngài thường không nhắc lại, trừ khi thật sự cần thiết.

2. The Master knows the value of what might be called ‘occult continuity’. He knows how long it takes to establish new patterns of behavior. Matter is resistant to new patterns. Perhaps only a few new patterns can be assimilated during a life-time.

2. Chân sư biết giá trị của điều có thể gọi là ‘tính liên tục huyền bí’. Ngài biết cần bao lâu để thiết lập những mô hình hành vi mới. Vật chất chống lại những mô hình mới. Có lẽ trong một đời người chỉ có thể tiếp thu một vài mô hình mới.

3. The Master previsions the goal for the group. Then comes a patient approach to promoting its attainment.

3. Chân sư thấy trước mục tiêu dành cho nhóm. Tiếp đó là một cách tiếp cận kiên nhẫn nhằm thúc đẩy việc đạt đến mục tiêu ấy.

4. Note the care exercised by the Master as He decides upon goals for His group. His plans are “prearranged” and based upon several year’s close observation of the members of his group. A very thorough knowledge of their potentials and liabilities must have been the result.

4. Hãy lưu ý sự cẩn trọng của Chân sư khi Ngài quyết định những mục tiêu cho nhóm mình. Những kế hoạch của Ngài được “sắp đặt trước” và dựa trên nhiều năm quan sát kỹ lưỡng các thành viên trong nhóm Ngài. Hẳn kết quả là một sự hiểu biết hết sức thấu đáo về những tiềm năng và hạn chế của họ.

5. The Master comments in a matter-of-fact way about the accuracy of His own prevision. Most group members have developed as He foresaw. Still, we see that the time equation is very much in our hands. Two are learning more slowly that foreseen, and one “unexpectedly leaped ahead”. We see that the Master (though equipped with profound understanding as to nature and character) cannot foresee all. It is said that even the Christ does not know what humanity will do.

5. Chân sư bình luận một cách bình thản về tính chính xác trong sự thấy trước của chính Ngài. Phần lớn các thành viên trong nhóm đã phát triển như Ngài thấy trước. Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng yếu tố thời gian phần lớn vẫn nằm trong tay mình. Hai người đang học chậm hơn dự kiến, và một người đã “bất ngờ tiến vượt lên”. Chúng ta thấy rằng Chân sư (dù có sự thấu hiểu sâu sắc về bản chất và tính cách) không thể thấy trước tất cả. Người ta nói rằng ngay cả Đức Christ cũng không biết nhân loại sẽ làm gì.

6. Free-will is a potent factor in our development. Humanity, itself, unexpectedly leaped ahead of itself by, perhaps, two thousand years, in discovering and applying atomic energy. What we may do and most probably will do is, perhaps, rather predictable to someone who knows enough. But the exertion of our own freewill can make an unforeseen positive (or negative) difference in outcome.

6. Ý chí tự do là một yếu tố mạnh mẽ trong sự phát triển của chúng ta. Khi khám phá và ứng dụng năng lượng nguyên tử, chính nhân loại đã bất ngờ tiến vượt trước trình độ của mình có lẽ đến hai nghìn năm. Những gì chúng ta có thể làm và rất có thể sẽ làm có lẽ khá dễ dự đoán đối với một người có đủ hiểu biết. Nhưng việc vận dụng ý chí tự do của chính mình có thể tạo ra một khác biệt tích cực (hoặc tiêu cực) không lường trước trong kết quả.

7. Thus, we may ask ourselves: are we progressing pretty much as the Master might envision our progress, were we His disciple, or are we doing the unaccountable, and either stimulating or retarding our progress?

7. Vì vậy, chúng ta có thể tự hỏi: nếu là đệ tử của Chân sư, liệu chúng ta đang tiến bộ gần như Ngài có thể hình dung, hay đang làm những điều không thể dự tính, qua đó thúc đẩy hoặc trì hoãn sự tiến bộ của mình?

Your work is being steadily consolidated and, as you lay the foundations deep and begin the superstructure, you must guard the original idea and the initial thoughtform from all possible deterioration. The difficulty of the spiritual builders and the architects of the Plan only really begins when that which they are constructing becomes public property and subject, therefore, to criticism and outer help. Then the task of preserving the original purity of idea and of purpose becomes onerous. [163]

Công việc của em đang được củng cố vững chắc, và khi đặt nền móng sâu rồi bắt đầu xây dựng phần bên trên, em phải bảo vệ ý tưởng ban đầu và hình tư tưởng khởi thủy khỏi mọi sự suy thoái có thể xảy ra. Khó khăn của những đấng kiến tạo tinh thần và những kiến trúc sư của Thiên Cơ chỉ thực sự bắt đầu khi điều họ đang xây dựng trở thành tài sản chung của công chúng, và do đó phải chịu sự phê bình cùng sự trợ giúp từ bên ngoài. Khi ấy, nhiệm vụ giữ gìn sự thuần khiết ban đầu của ý tưởng và mục đích trở nên nặng nề.

8. JWK-P receives strong advice. Foundations must be lain deep to ensure a stable superstructure. Presumably, he has done this.

8. JWK-P nhận được lời khuyên mạnh mẽ. Phải đặt nền móng sâu để bảo đảm phần kiến trúc bên trên được vững chắc. Có lẽ ông đã làm điều này.

9. It is preservation of original intent which is important. The ‘design at the beginning’ is archetypal and divinely inspired. No compromise can be allowed in its integrity. When the design “goes public”, criticism arises and sometimes unhelpful helpfulness, both of which can apply a pressure to compromise the integrity of the original design.

9. Điều quan trọng là giữ gìn ý định ban đầu. ‘Thiết kế lúc khởi đầu’ mang tính nguyên mẫu và được cảm hứng thiêng liêng khơi nguồn. Không thể cho phép bất kỳ sự thỏa hiệp nào làm tổn hại tính toàn vẹn của nó. Khi thiết kế “ra mắt công chúng”, sự phê bình xuất hiện, và đôi khi cả sự giúp đỡ không hữu ích; cả hai đều có thể tạo áp lực khiến người ta thỏa hiệp, làm tổn hại tính toàn vẹn của thiết kế ban đầu.

10. DK foresees the need of JWK-P to resist an inevitable pressure to compromise for the sake of expediency. Expediency is a gift or curse of the third ray; the first ray is commissioned to preserve principle.

10. Chân sư DK thấy trước rằng JWK-P cần chống lại áp lực tất yếu buộc ông thỏa hiệp vì sự tiện lợi trước mắt. Lối hành xử quyền biến là một thiên tư hoặc một tai họa của cung ba; cung một nhận nhiệm vụ giữ gìn nguyên khí.

11. A little thought may help one realize how much the holding to original intent falls to the lot of first ray disciples.

11. Suy nghĩ đôi chút có thể giúp chúng ta nhận ra việc kiên trì với ý định ban đầu thuộc trách nhiệm của các đệ tử cung một đến mức nào.

Be prepared for expansion of the work. But expand according to plan and not according to emergency, for you are building in collaboration with the inner Builders and the two structures must be counterparts. Ponder on this, yet be not rigid on non-essentials.

Hãy chuẩn bị cho việc mở rộng công việc. Nhưng hãy mở rộng theo kế hoạch, thay vì theo tình thế cấp bách, vì em đang xây dựng trong sự hợp tác với các Đấng Kiến Tạo bên trong, và hai cấu trúc phải là những đối phần của nhau. Hãy suy ngẫm điều này, nhưng đừng cứng nhắc về những điều không thiết yếu.

Take the tensity of your inner pressure off the work for awhile, my brother. The momentum at this time is adequate to carry the plans forward. Therefore, hold steady, brood deeply but drive not.

Huynh đệ của tôi, hãy tạm thời giảm bớt sức căng của áp lực bên trong mà em đặt lên công việc. Lúc này, đà tiến đã đủ để đưa các kế hoạch đi tới. Vì vậy, hãy giữ vững, suy ngẫm sâu xa nhưng đừng thúc ép.

12. When work expands, how shall it expand? If suddenly under the pressure of emergency, error easily appears and a cleavage between the inner builders and the outer direction unwisely taken under pressure. So DK is asking for deliberate changes as opposed to sudden and impulsive changes.

12. Khi công việc mở rộng, nó sẽ mở rộng như thế nào? Nếu đột ngột mở rộng dưới áp lực khẩn cấp, sai lầm dễ xuất hiện, cùng sự chia cắt giữa các đấng kiến tạo bên trong và hướng đi bên ngoài được lựa chọn thiếu khôn ngoan dưới áp lực. Vì vậy, Chân sư DK yêu cầu những thay đổi có cân nhắc thay vì những thay đổi đột ngột và bốc đồng.

13. We can see that Vulcan (somewhat veiled by the Taurus Moon) is at work here. Vulcan is a first ray planet connected with the soul of JWK-P.

13. Chúng ta có thể thấy Vulcan (phần nào được Mặt Trăng Kim Ngưu che giấu) đang hoạt động ở đây. Vulcan là một hành tinh cung một có liên hệ với linh hồn của JWK-P.

14. Avoiding rigidity in relation to non-essentials is part of skill-in-action.

14. Tránh cứng nhắc về những điều không thiết yếu là một phần của sự khéo léo trong hành động.

15. Such practical advice is being given to an earnest, effective disciple! Too much tensity of pressure can destroy both the disciple and the work. Again the Law of Economy is invoked; the momentum is sufficient to carry the work forward; additional tensity and drive are not needed.

15. Những lời khuyên thực tiễn như vậy đang được trao cho một đệ tử tận tâm và làm việc hiệu quả! Sức căng quá lớn của áp lực có thể hủy hoại cả đệ tử lẫn công việc. Một lần nữa, Định luật Tiết Kiệm được viện đến; đà tiến đã đủ để đưa công việc tiến lên; không cần thêm sức căng và sự thúc ép.

16. Do we, too, know when to apply force and when to “let things ride”? The Law of Economy, and respect for the condition of our personality vehicles requires that we know.

16. Liệu chúng ta cũng biết khi nào cần vận dụng mãnh lực và khi nào nên “để mọi việc tự tiến triển” chăng? Định luật Tiết Kiệm và sự tôn trọng tình trạng các hiện thể phàm ngã của mình đòi hỏi chúng ta phải biết điều đó.

17. “Driving” is an external act; brooding deeply empowers the design which must be fulfilled, and subjectively and occultly brings the forces to bear which will fulfill that design. In this case brooding deeply is occult work; driving is more exoteric. The personality drives; the soul, in meditation deep, broods deeply.

17. “Thúc ép” là một hành động bên ngoài; suy ngẫm sâu xa tiếp sức cho thiết kế cần được thực hiện, đồng thời huy động một cách chủ quan và huyền bí những mãnh lực sẽ hoàn thành thiết kế ấy. Trong trường hợp này, suy ngẫm sâu xa là công việc huyền bí; thúc ép mang tính ngoại môn hơn. Phàm ngã thúc ép; linh hồn, trong thiền định thâm sâu, suy ngẫm sâu xa.

January 1936 – Tháng Một năm 1936

BROTHER OF MINE:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

Every perfecting organism must have in it those elements of life and power which embody the energy of the three aspects of divinity. It must likewise have those force channels through which the other four types of divine energy may express themselves. This may be provided by those disciples who are on each of the seven rays indicated, or by those disciples who can, through their purity and consecration, carry any type of energy which the Hierarchy may choose to project into an organism through their agency. The New Group of World Servers is a rapidly developing organism which must be preserved from undue crystallisation and over-organisation. It must, however, express itself through all the seven ways of divine manifestation. You and your associates have—if you so choose and because we have offered you the opportunity—much to do with the right organisation of the outer expression of the New Group of World Servers. After the initial, preparatory period is over, what has been done subjectively and objectively will be so definite in its effects that the future lines of emergence and the policies and activities will be relatively stable and unalterable. This is a responsibility which must be faced.

Mỗi cơ thể sống đang tiến đến hoàn thiện đều phải chứa những yếu tố sự sống và quyền năng hiện thân cho năng lượng của ba phương diện thiên tính. Nó cũng phải có những kênh mãnh lực để bốn loại năng lượng thiêng liêng còn lại có thể biểu lộ. Những đệ tử thuộc từng cung trong bảy cung đã nêu có thể cung cấp điều này; hoặc đó có thể là những đệ tử, nhờ sự thanh khiết và thánh hiến, có khả năng chuyển tải bất cứ loại năng lượng nào mà Thánh đoàn chọn phóng chiếu vào một cơ thể sống thông qua họ. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là một cơ thể sống đang phát triển nhanh chóng, cần được bảo vệ khỏi sự kết tinh quá mức và việc tổ chức quá độ. Tuy nhiên, đoàn phải biểu lộ qua cả bảy con đường biểu hiện thiêng liêng. Em và những cộng sự của em—nếu các em lựa chọn như vậy, và vì chúng tôi đã trao cho các em cơ hội—có nhiều việc phải làm để tổ chức đúng đắn sự biểu lộ bên ngoài của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Sau khi giai đoạn chuẩn bị ban đầu kết thúc, những gì đã được thực hiện về mặt chủ quan lẫn khách quan sẽ tạo ra những hiệu quả rõ rệt đến mức các đường hướng xuất hiện trong tương lai, cùng những chính sách và hoạt động, sẽ tương đối ổn định và không thể thay đổi. Đây là một trách nhiệm cần phải đối diện.

1. The Master seems to be calling JWK-P to a realization of the value of diversity in unity (i.e., to an appreciation of the nature and methods of all the seven ray types who may be engaged in the work which JWK-P is overseeing).

1. Dường như Chân sư đang kêu gọi JWK-P nhận ra giá trị của sự đa dạng trong hợp nhất (nghĩa là trân trọng bản chất và phương pháp của cả bảy loại cung có thể tham gia công việc mà JWK-P đang giám sát).

2. Note that the first three rays are referred to as “energy”, while, in relation to the four Rays of Aspect, the term, “force channels” is used as well as “energy”.

2. Hãy lưu ý rằng ba cung đầu được gọi là “năng lượng”, trong khi đối với bốn Cung Trạng Thái, thuật ngữ “kênh mãnh lực” được dùng bên cạnh “năng lượng”.

3. Interestingly, we note that, through “purity and consecration”, a disciple may carry “any type of energy” which Hierarchy chooses to express through them. One is reminded of the Masters Themselves (extremely pure and consecrated) Who can wield any ray energy at the request of Their superiors.

3. Điều thú vị là chúng ta nhận thấy, nhờ “sự thuần khiết và thánh hiến”, một đệ tử có thể chuyển tải “bất kỳ loại năng lượng nào” mà Thánh đoàn chọn biểu lộ qua người ấy. Điều này gợi nhớ đến chính các Chân sư (vô cùng thuần khiết và thánh hiến), Các Ngài có thể vận dụng năng lượng của bất kỳ cung nào theo yêu cầu của các Đấng cao hơn Các Ngài.

4. It is the tendency of the first ray to crystallize and thus destroy. JWK-P is being warned away from rigidity, crystallization and over-organization so that the NGWS may function flexibly through all the seven ray types who comprise its membership.

4. Cung một có khuynh hướng kết tinh và do đó hủy diệt. JWK-P đang được cảnh báo tránh sự cứng nhắc, kết tinh và tổ chức hóa thái quá để NGWS có thể hoạt động linh hoạt qua cả bảy loại cung tạo thành thành viên của đoàn.

5. In those days the NGWS was relatively small. JWK-P and his associates in the Lucis Trust had been given the opportunity to organize the outer expression of the NGWS—a major responsibility.

5. Vào những ngày ấy, NGWS còn tương đối nhỏ. JWK-P và các cộng sự của ông trong Lucis Trust đã được trao cơ hội tổ chức sự biểu hiện bên ngoài của NGWS—một trách nhiệm lớn lao.

6. The work of quite a number of the disciples in DK’s outer groups was concerned very much with themselves alone—getting themselves (as personalities) into shape for usefulness. Disciples like JWK-P were already active in world work and trusted with responsible service which had global implications. Does this mean, then, that JWK-P was a “world disciple”? His wife, AAB certainly was.

6. Công việc của khá nhiều đệ tử trong các nhóm bên ngoài của Chân sư DK chủ yếu chỉ liên quan đến chính họ—rèn luyện chính mình (với tư cách những phàm ngã) để trở nên hữu ích. Những đệ tử như JWK-P đã tích cực tham gia công việc thế giới và được tin cậy giao phó công việc phụng sự đầy trách nhiệm có tầm ảnh hưởng toàn cầu. Vậy điều này có nghĩa JWK-P là một “đệ tử thế giới” chăng? Vợ ông, Bà AAB, chắc chắn là như vậy.

The task is, however, complicated because the New Group of World Servers has in it so many aspirants and some disciples of whom you can know nothing; these are also working actively and under the new impulses, frequently without being aware of their affiliation as cooperators. [164]

Tuy nhiên, nhiệm vụ này phức tạp vì trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian có rất nhiều người chí nguyện và một số đệ tử mà em có thể hoàn toàn không biết đến; họ cũng đang hoạt động tích cực và chịu tác động của những xung lực mới, thường không nhận biết mối liên hệ của mình với tư cách những người hợp tác.

7. As always, the number of cooperators and coworkers may be greater than one thinks.

7. Như mọi khi, số người cộng tác và đồng sự có thể nhiều hơn chúng ta nghĩ.

8. So often we fail to recognize those who are committed to the same task as we, but are using other methods. Our esoteric sense fails us, and the outer non-essentials incline us to perceive a difference in goal when no real difference exists. Every disciple has the task of discriminating the essential from the non-essential, and often, it is not easy.

8. Rất thường xuyên, chúng ta không nhận ra những người cùng tận tâm với một nhiệm vụ như mình nhưng sử dụng những phương pháp khác. Ý thức huyền bí không giúp được chúng ta, và những điều không thiết yếu bên ngoài khiến chúng ta có khuynh hướng nhận thấy sự khác biệt về mục tiêu trong khi thực sự không có khác biệt nào. Mỗi đệ tử đều có nhiệm vụ phân biện điều thiết yếu với điều không thiết yếu, và thường thì điều này không dễ.

9. Sometimes it seems as if the NGWS is very select ‘body’ containing only those who are nearing the second initiation or have taken it. At other times, such as this, we learn that even aspirants are included. These apparent contradictions can be solved by realizing that the NGWS can be stratified, having its nucleus/core, its main body, and its periphery.

9. Đôi khi dường như NGWS là một ‘đoàn thể’ rất chọn lọc, chỉ gồm những người đang tiến gần đến lần điểm đạo thứ hai hoặc đã trải qua lần điểm đạo ấy. Vào những lúc khác, như ở đây, chúng ta biết rằng ngay cả những người chí nguyện cũng được bao gồm. Những mâu thuẫn có vẻ như vậy có thể được giải quyết bằng cách nhận ra rằng NGWS có thể được phân tầng, với hạt nhân/cốt lõi, bộ phận chính và vùng ngoại vi của nó.

10. We see DK often enjoining greater flexibility upon JWK-P, and a greater appreciation for ray methods which are not his own. Basically, DK is telling him, in colloquial words, that “it takes all kinds, so be tolerant”.

10. Chúng ta thấy Chân sư DK thường khuyên JWK-P linh hoạt hơn và trân trọng hơn những phương pháp của các cung khác với cung của ông. Về cơ bản, bằng lời lẽ thông thường, Chân sư DK đang nói với ông rằng “cần có đủ mọi kiểu người, vì vậy hãy khoan dung”.

It is necessary, therefore, for you and other members of my group of workers to hold yourselves sensitive to the new factors and to the people whose task it is—equally with the group to which you belong and recognise—to precipitate the new group activities, the new attitudes and the new techniques. Hence, again, the necessity for a trained inner attentiveness, not only to the voice of your own soul, to my voice and to group impression but also to the voices of those who will be attracted to the group whom you recognise by similarity of purpose, of method and of attitude. This, my brother, is not easy.

Vì vậy, em và những thành viên khác trong nhóm người hoạt động của Tôi cần giữ mình nhạy cảm với các yếu tố mới và với những người có nhiệm vụ— ngang hàng với nhóm mà em thuộc về và nhận biết—làm ngưng tụ những hoạt động nhóm mới, những thái độ mới và những kỹ thuật mới. Do đó, một lần nữa, cần rèn luyện sự chú tâm bên trong, không chỉ đối với tiếng nói của linh hồn em, tiếng nói của Tôi và ấn tượng của nhóm, mà còn đối với tiếng nói của những người sẽ được thu hút đến với nhóm mà em nhận biết qua sự tương đồng về mục đích, phương pháp và thái độ. Huynh đệ của tôi, điều này không dễ.

11. The Master is asking for inclusiveness. Although the term “Inclusion” is the World of Power indicating the Integration Technique for those whose souls are upon the first ray, it is not easily achieved.

11. Chân sư đang yêu cầu tính bao gồm. Mặc dù thuật ngữ “Bao Gồm” là Quyền năng từ chỉ Kỹ Thuật Tích Hợp dành cho những người có linh hồn thuộc cung một, điều này không dễ đạt được.

12. How to recognize the new and value it as much as the familiar? The NGWS would be full of cleavages unless such a tolerant and, more, appreciative recognition could be accorded to new methods and new people.

12. Làm thế nào để nhận ra cái mới và coi trọng nó ngang với cái quen thuộc? NGWS sẽ đầy những chia cắt nếu không thể dành cho những phương pháp mới và những con người mới một sự nhìn nhận khoan dung như vậy, và hơn thế nữa, một sự nhìn nhận đầy trân trọng.

13. The Tibetan is asking for a stretch. The voice of the soul and the voice of the Master will reveal the identity of new people who are really co-workers in the enterprise of the NGWS. Attentiveness to group impression and to the voices of the approaching ones will also serve to reveal identity of purpose, method and attitude. But mistakes are easy. Habitual rejection of the unfamiliar is to be expected. Only with a keen intuition and a reservation of dismissive judgment can right inclusion be achieved.

13. Chân sư Tây Tạng đang yêu cầu một sự vươn rộng. Tiếng nói của linh hồn và tiếng nói của Chân sư sẽ cho biết những người mới nào thực sự là đồng sự trong sự nghiệp của NGWS. Sự chú tâm đến ấn tượng của nhóm và tiếng nói của những người đang đến gần cũng sẽ giúp nhận ra sự đồng nhất về mục đích, phương pháp và thái độ. Nhưng rất dễ phạm sai lầm. Có thể đoán trước thói quen bác bỏ những gì không quen thuộc. Chỉ với trực giác sắc bén và việc tạm gác những phán xét mang tính gạt bỏ, mới có thể đạt được sự bao gồm đúng đắn.

14. The task would be difficult. JWK-P is a trusted disciple. The Tibetan does not make it easy for him; nor does He overburden him, asking more than can be accomplish. Disciples like JWK-P would attempt to accomplish anything the Master requested and could damage or destroy themselves in the process unless the Master used discretion in the assignment of work.

14. Nhiệm vụ này sẽ khó khăn. JWK-P là một đệ tử được tin cậy. Chân sư Tây Tạng không làm mọi việc dễ dàng cho ông; Ngài cũng không đặt gánh nặng quá sức lên ông bằng cách đòi hỏi nhiều hơn khả năng thực hiện. Những đệ tử như JWK-P sẽ cố gắng hoàn thành bất cứ điều gì Chân sư yêu cầu và có thể làm tổn hại hoặc hủy hoại chính mình trong quá trình ấy nếu Chân sư không thận trọng khi giao việc.

This year should see you achieving a greater inner freedom and a clearer spirit of true liberation which will express itself in an attitude of real, and not assumed, joy and peace and a less weighed down spirit of responsibility. It must be remembered that this is a group responsibility. Your task is the attaining of a keener and more sensitive reaction to subtle and spiritual impression and to the group impulses of the New Group of World Servers.... As you go forward with this task, the right method of approach to those working in the New Group of World Servers will appear, the needed doors will open and the correct way of evoking interest will easily become apparent. The work upon the inner planes is already done and only the awakening of the brain and of the objective mind remains to be accomplished in connection with these individuals.

Năm nay, em nên đạt được sự tự do nội tâm lớn hơn và một tinh thần giải thoát chân chính rõ rệt hơn, biểu hiện qua thái độ hoan hỉ và bình an thực sự chứ không giả tạo, cùng tinh thần trách nhiệm ít nặng trĩu hơn. Cần nhớ rằng đây là trách nhiệm nhóm. Nhiệm vụ của em là đạt được sự đáp ứng nhạy bén và tinh tế hơn với ấn tượng vi tế và tinh thần, cũng như với những xung lực nhóm của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.... Khi em tiếp tục nhiệm vụ này, phương pháp đúng đắn để tiếp cận những người đang làm việc trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ xuất hiện, những cánh cửa cần thiết sẽ mở ra, và cách đúng đắn để khơi dậy sự quan tâm sẽ dễ dàng trở nên rõ ràng. Công việc trên các cõi bên trong đã hoàn thành; đối với những người này, chỉ còn việc đánh thức bộ não và thể trí hướng ngoại cần được thực hiện.

15. Astrology will reveal much here. We can consult the detailed analysis of JWK-P’s chart and progressions which are simultaneously provided with this commentary.

15. Chiêm tinh học sẽ tiết lộ nhiều điều ở đây. Chúng ta có thể tham khảo bản phân tích chi tiết lá số và các tiến trình của JWK-P được cung cấp cùng với bài bình giảng này.

16. When any quality is being cultivated, one must pass through the stage of assuming the quality. This is the “acting as if” stage. DK predicts for JWK-P a period of “real” and not “assumed” joy and peace.

16. Khi trau dồi bất kỳ phẩm tính nào, người ta phải trải qua giai đoạn gắng thể hiện phẩm tính ấy. Đây là giai đoạn “hành động như thể”. Chân sư DK dự báo cho JWK-P một giai đoạn hoan hỉ và bình an “thực sự”, chứ không phải “gắng tỏ ra”.

17. It is easy for sincere, capable disciples to become “weighed down” by the spirit of responsibility. The work will be accomplished, but the outgoing, stimulative radiation of the disciple is compromised and does not do the good it could were joy present.

17. Những đệ tử chân thành, có năng lực rất dễ cảm thấy “nặng trĩu” vì tinh thần trách nhiệm. Công việc sẽ hoàn thành, nhưng sự phát xạ hướng ngoại, có tác dụng kích thích của người đệ tử bị suy giảm và không đem lại được lợi ích như khi có sự hoan hỉ.

18. Those of us who feel weighed down by responsibility should remember the words addressed to JWK-P, and achieve a real joyfulness in our work, even if we have to pass through years of “assuming” that joy by means of what we might call the ‘will-to-joy’.

18. Những ai trong chúng ta cảm thấy nặng trĩu vì trách nhiệm nên nhớ những lời dành cho JWK-P, và đạt đến sự hoan hỉ thực sự trong công việc, ngay cả khi phải trải qua nhiều năm “khoác lấy” niềm hoan hỉ ấy bằng điều mà chúng ta có thể gọi là ‘ý chí hướng đến hoan hỉ’.

19. Greater effectiveness in the case of JWK-P means greater sensitivity.

19. Trong trường hợp của JWK-P, hiệu quả lớn hơn hàm ý sự nhạy cảm lớn hơn.

20. Again, DK assures JWK-P that the inner work has been done. He is to proceed and the process will unfold successfully. JWK-P is an eminently trustworthy disciple; DK works to generate in him a joyful attitude of trust in unfolding process.

20. Một lần nữa, Chân sư DK bảo đảm với JWK-P rằng công việc bên trong đã hoàn tất. Ông cần tiếp tục tiến bước và tiến trình sẽ khai mở thành công. JWK-P là một đệ tử hết sức đáng tin cậy; Chân sư DK nỗ lực khơi dậy nơi ông thái độ tin tưởng hoan hỉ vào tiến trình đang khai mở.

One other point remains for me to touch upon. Your orientation to the Plan is right, and you have wisdom and strength. Conserve, however, your strength and remember that right relaxation is just as much a part of the service you can render as the strenuous, unremitting work which leads to enforced and perhaps inconvenient interludes of gaining physical strength. The steady, unbroken, inner push, carried forward through right organisation of the outer factors of time and physical strength is essential. It is not possible, unless there is a balanced life of service, of recreation and again of service.

Tôi còn một điểm nữa cần đề cập. Sự định hướng của em đối với Thiên Cơ là đúng đắn, và em có minh triết cùng sức mạnh. Tuy nhiên, hãy bảo toàn sức lực và nhớ rằng thư giãn đúng cách cũng là một phần của việc phụng sự mà em có thể thực hiện, ngang với công việc vất vả, không ngừng nghỉ dẫn đến những khoảng gián đoạn bắt buộc và có lẽ bất tiện để phục hồi sức mạnh thể chất. Sự thúc đẩy bền bỉ, liên tục từ bên trong, được duy trì nhờ tổ chức đúng đắn những yếu tố bên ngoài là thời gian và sức mạnh thể chất, là điều thiết yếu. Điều này không thể thực hiện nếu không có một đời sống quân bình giữa phụng sự, giải trí rồi lại phụng sự.

21. A few years have passed since DK’s first mention of the need for relaxation, and DK is forced to repeat Himself. JWK-P has right orientation to the Plan, wisdom and strength, but again his strength needs conserving and he must learn to balance his life with recreation.

21. Vài năm đã trôi qua kể từ lần đầu Chân sư DK đề cập đến nhu cầu thư giãn, và Ngài buộc phải nhắc lại lời mình. JWK-P có sự định hướng đúng đắn đối với Thiên Cơ, có minh triết và sức mạnh, nhưng một lần nữa, ông cần gìn giữ sức mạnh và phải học cách cân bằng đời sống bằng hoạt động vui chơi giải trí.

22. DK enunciates a principle for us all: “relaxation is just a much a part of the service you can render as the strenuous, unremitting work…”.

22. Chân sư DK nêu lên một nguyên khí dành cho tất cả chúng ta: “thư giãn cũng là một phần của sự phụng sự mà các bạn có thể thực hiện, ngang với công việc căng thẳng, không ngừng nghỉ…”.

23. It is wisdom to recognize that the body will break down under an unrelieved, unremitting drive. It is the “inner push” which must be steady and unbroken, but that inner push is to be carried forward through “right organization of the outer factors of time and physical strength”. All related factors have to be taken into wise consideration. The limitations of the form, though apparently beneath the consideration of committed, hard-driving disciples, cannot be evaded if the quality of service is not to suffer.

23. Nhận ra rằng thân thể sẽ suy sụp dưới sự thúc ép liên tục, không có lúc nghỉ ngơi là minh triết. Chính “sự thúc đẩy bên trong” phải đều đặn và liên tục, nhưng sự thúc đẩy ấy cần được duy trì qua “việc tổ chức đúng đắn các yếu tố bên ngoài là thời gian và sức mạnh thể chất”. Cần cân nhắc một cách minh triết mọi yếu tố liên quan. Dù những đệ tử tận tâm, làm việc quyết liệt dường như cho rằng các giới hạn của hình tướng không đáng để lưu tâm, họ vẫn không thể bỏ qua những giới hạn ấy nếu muốn phẩm tính phụng sự không bị tổn hại.

24. The sequence is given: service, recreation and then service again. Will this approach become more common when the seventh ray is more established?

24. Trình tự đã được nêu ra: phụng sự, vui chơi giải trí, rồi lại phụng sự. Liệu cách tiếp cận này có trở nên phổ biến hơn khi cung bảy được xác lập vững chắc hơn không?

25. The premature release of Shamballic power and the will, will damage the ordinary man and destroy the disciple. JWK-P, a first ray disciple, is will-driven and DK is trying to offset the potential negative effects of this fact.

25. Việc giải phóng quá sớm quyền năng Shamballa và ý chí sẽ gây tổn hại cho người bình thường và hủy diệt người đệ tử. JWK-P, một đệ tử cung một, chịu sự thúc đẩy của ý chí và Chân sư DK đang cố gắng hóa giải những tác động tiêu cực tiềm tàng của thực tế này.

June 1936 – Tháng Sáu năm 1936

BROTHER OF OLD:

HUYNH ĐỆ CỦA NGÀY XƯA:

You are in process of gathering together your forces for another cycle of activity in connection with the New Group [165] of World Servers. Forget not, all creative processes proceed with a cyclic rhythm. The rhythm set by the New Group of World Servers is a three year cycle and to this rhythm you will find yourself conforming. The end of one such cycle came in May, 1936. Another towards which we will proceed in a mounting crescendo of work and of success will be in May, 1939. The third will come in May, 1942. Have these dates carefully in mind and thus lay your plans for the future. Thus will you be working with the law and along the lines of least resistance.

Em đang trong tiến trình tập hợp các mãnh lực của mình cho một chu kỳ hoạt động khác liên quan đến Đoàn Người Mới [165] Phụng Sự Thế Gian. Đừng quên rằng mọi tiến trình sáng tạo đều diễn ra theo một nhịp điệu tuần hoàn. Nhịp điệu do Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian thiết lập là một chu kỳ ba năm, và em sẽ thấy mình thuận theo nhịp điệu ấy. Một chu kỳ như thế đã kết thúc vào tháng Năm năm 1936. Một chu kỳ khác, mà chúng ta sẽ tiến tới với công việc và thành công ngày càng dâng cao, sẽ kết thúc vào tháng Năm năm 1939. Chu kỳ thứ ba sẽ kết thúc vào tháng Năm năm 1942. Hãy ghi nhớ kỹ những thời điểm này và theo đó lập kế hoạch cho tương lai. Như thế, em sẽ làm việc thuận theo định luật và theo con đường ít trở ngại nhất.

1. The Master calls upon the first ray disciple for a consideration of cycles and cyclic rhythm. One is reminded of the sections from the Old Commentary dealing with the “Blessed One”. For the first ray type the following rather seventh ray advice is given:

1. Chân sư kêu gọi người đệ tử cung một xem xét các chu kỳ và nhịp điệu chu kỳ. Điều này gợi chúng ta nhớ đến những đoạn trong Cổ Luận bàn về “Đấng Chân Phúc”. Đối với người cung một, lời khuyên sau đây mang khá rõ tính chất cung bảy:

“Order from chaos, O Pilgrim on the way of death, this is the way for you. Love you must learn. Dynamic will you have. The right use of destruction for the furtherance of the Plan, must be the way for you. Adherence to the rhythm of the planet will release the hidden Blessed One and order bring.” (EP II 36)

“Hỡi Người Hành Hương trên con đường của sự chết, lập lại trật tự từ hỗn mang là con đường dành cho ngươi. Ngươi phải học tình thương. Ngươi có ý chí năng động. Sử dụng đúng đắn sự hủy diệt để thúc đẩy Thiên Cơ phải là con đường dành cho ngươi. Tuân theo nhịp điệu của hành tinh sẽ giải phóng Đấng Chân Phúc ẩn tàng và mang lại trật tự.” (EP II 36)

2. A three year rhythm is discussed. Elsewhere we learn that its three phases are “Crisis-Tension-Emergence”.

2. Một nhịp điệu ba năm được bàn đến. Ở nơi khác, chúng ta được biết ba giai đoạn của nó là “Khủng hoảng–Tập trung nhất tâm–Xuất hiện”.

3. It is world-work that engages the attention of JWK-P. He cannot conform to an individual rhythm; his work is too important and too responsible. As a committed worker with the Plan, he must follow the rhythms of the Plan.

3. Chính công việc thế gian thu hút sự chú tâm của JWK-P. Ông không thể thuận theo một nhịp điệu cá nhân; công việc của ông quá quan trọng và mang quá nhiều trách nhiệm. Là một người hoạt động tận tâm với Thiên Cơ, ông phải tuân theo các nhịp điệu của Thiên Cơ.

4. According to the Law of Economy, it is important for every hierarchical worker to work with rather than against established group rhythms. Everywhere, energy must be saved and what we might call ‘cyclic cooperation’ is one of the means of saving.

4. Theo Định luật Tiết Kiệm, điều quan trọng đối với mỗi người hoạt động của Thánh đoàn là làm việc thuận theo thay vì đi ngược lại những nhịp điệu nhóm đã được thiết lập. Ở mọi nơi, cần tiết kiệm năng lượng, và điều chúng ta có thể gọi là ‘sự hợp tác theo chu kỳ’ là một trong những cách tiết kiệm ấy.

5. According to this pattern, the year 2002 saw an Emergence. The period from May 2002 to May 2003 was a year of Crisis. As this commentary is being written (August 2003) we are in a period of Crisis, lasting until May 2004.

5. Theo mô hình này, năm 2002 chứng kiến một sự Xuất hiện. Giai đoạn từ tháng Năm năm 2002 đến tháng Năm năm 2003 là một năm Khủng hoảng. Vào thời điểm viết bài bình giảng này (tháng Tám năm 2003), chúng ta đang ở trong một giai đoạn Khủng hoảng, kéo dài đến tháng Năm năm 2004.

6. Correlating the individual expenditure of energy with the larger rhythms is one way of aligning the little will with the larger will which works through the Plan.

6. Điều phối việc sử dụng năng lượng của cá nhân theo những nhịp điệu lớn hơn là một cách chỉnh hợp ý chí nhỏ bé với ý chí lớn hơn đang hoạt động thông qua Thiên Cơ.

Make each three year cycle conform to the rhythm of creation. In the first year, lay your emphasis upon the activity of the manifesting principle, using that which appears and with which you have to work. In the second year, let the clarity and the quality of the note to be sounded by the manifesting form appear and be heard. In the third year, behind the form and expressing itself through the quality, let the livingness and the work of the indwelling life emerge for all to see. Bear this in mind as you consolidate the work. The keynote of the first year's work is consolidation, that of the second year must be expansion whilst the keynote of the third year must be the making of a definite impact upon the public consciousness, by the sounding and the emphasising of some one clear note. If this cyclic measure is kept thus in mind, no serious mistakes will be made.... The New Group of World Servers must work in these three year cycles and the foundation of cyclic attainment must be laid. This cyclic rhythm will release from strain and yet enable the workers in the Group to feel that there is no failure. It is impossible to do good work where a sense of failure or lack of attainment is found.

Hãy làm cho mỗi chu kỳ ba năm phù hợp với nhịp điệu sáng tạo. Trong năm thứ nhất, hãy nhấn mạnh hoạt động của nguyên khí đang biểu hiện, sử dụng những gì xuất hiện và những gì em phải làm việc cùng. Trong năm thứ hai, hãy để sự trong sáng và phẩm tính của âm điệu mà hình tướng đang biểu hiện phải xướng lên được hiển lộ và vang lên. Trong năm thứ ba, đằng sau hình tướng và biểu lộ qua phẩm tính, hãy để sức sống và công việc của sự sống nội tại hiện ra cho mọi người thấy. Hãy ghi nhớ điều này khi em củng cố công việc. Chủ âm của công việc trong năm thứ nhất là củng cố, của năm thứ hai phải là mở rộng, còn chủ âm của năm thứ ba phải là tạo một tác động rõ rệt lên tâm thức công chúng bằng cách xướng lên và nhấn mạnh một âm điệu rõ ràng duy nhất. Nếu luôn ghi nhớ nhịp độ tuần hoàn này như thế, sẽ không xảy ra những sai lầm nghiêm trọng.... Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian phải làm việc theo những chu kỳ ba năm này, và phải đặt nền tảng cho thành tựu theo chu kỳ. Nhịp điệu tuần hoàn này sẽ giải tỏa căng thẳng, đồng thời giúp những người hoạt động trong Đoàn cảm thấy rằng không có thất bại. Không thể làm việc tốt ở nơi có cảm giác thất bại hoặc không đạt được thành tựu.

7. To view the three years in a complete cycle in terms of Crisis, Tension and Emergence is one approach. The Tibetan offers another (though related pattern) in the paragraph above.

7. Xem ba năm trong một chu kỳ trọn vẹn theo Khủng hoảng, Tập trung nhất tâm và Xuất hiện là một cách tiếp cận. Trong đoạn trên, Chân sư Tây Tạng đưa ra một cách khác (dù là một mô hình có liên hệ).

8. The pattern given here is Consolidation, Expansion, Impact.

8. Mô hình được đưa ra ở đây là Củng cố, Mở rộng, Tác động.

9. The first year relates to the third aspect of divinity, the second year to the second aspect and the third ear to the first aspect.

9. Năm thứ nhất liên quan đến phương diện thứ ba của thiên tính, năm thứ hai đến phương diện thứ hai và năm thứ ba đến phương diện thứ nhất.

10. The first year involves the physical plane (and mental) particularly. The second year relates to the emotional plane, and the third year to the physical plane again (and the mental).

10. Năm thứ nhất đặc biệt liên quan đến cõi hồng trần (và cõi trí). Năm thứ hai liên quan đến cõi cảm xúc, và năm thứ ba lại liên quan đến cõi hồng trần (và cõi trí).

11. We could relate the three years, progressively, to personality, soul and spirit as well.

11. Chúng ta cũng có thể lần lượt liên hệ ba năm ấy với phàm ngã, linh hồn và tinh thần.

12. Materials are to be gathered and consolidated during the first year. This can cause crisis as the necessary energies are marshaled, held and compelled into form.

12. Trong năm thứ nhất, cần tập hợp và củng cố các nguồn lực. Điều này có thể gây ra khủng hoảng khi những năng lượng cần thiết được huy động, giữ lại và buộc đi vào hình tướng.

13. The second year is a year of quality. The quality of the manifesting form is to sound. Expansion proceeds as the necessary point of tension is held. The true nature and pattern of that which is in process of manifestation is reveled during this second year.

13. Năm thứ hai là năm của phẩm tính. Phẩm tính của hình tướng đang biểu hiện phải vang lên. Sự mở rộng diễn ra khi duy trì được điểm tập trung nhất tâm cần thiết. Bản chất và mô hình chân thực của điều đang trong tiến trình biểu hiện được hiển lộ trong năm thứ hai này.

14. The third year involves a “definite impact” upon the public consciousness, thus involving the mental plane. Livingness emerges through this impact of the note upon the public consciousness. The physical plane is definitely involved. Impact (it can be appreciated) is also a kind of emergence.

14. Năm thứ ba bao hàm một “tác động rõ rệt” lên tâm thức công chúng, do đó có liên quan đến cõi trí. Sức sống xuất hiện qua tác động này của âm điệu lên tâm thức công chúng. Cõi hồng trần chắc chắn có liên quan. Có thể nhận thấy rằng tác động cũng là một dạng xuất hiện.

15. By the time the third year is reached, a substantial form exists; its quality is definite and distinct (i.e., it is a qualified form), and that form lives. A will-intended note is sounding vibrantly through the form and making its will-intended impact on the consciousness of humanity.

15. Khi đến năm thứ ba, một hình tướng vững chắc đã hiện hữu; phẩm tính của nó rõ rệt và riêng biệt (nghĩa là đó là một hình tướng mang phẩm tính xác định), và hình tướng ấy sống. Một âm điệu do ý chí chủ định đang vang lên đầy sức sống qua hình tướng và tạo tác động do ý chí chủ định lên tâm thức nhân loại.

16. Consolidation-Expansion-Impact

16. Củng cố–Mở rộng–Tác động

17. Crisis-Tension-Emergence

17. Khủng hoảng–Tập trung nhất tâm–Xuất hiện

18. The cyclic measure here presented is a safeguard preventing serious mistakes.

18. Nhịp độ chu kỳ được trình bày ở đây là một biện pháp bảo đảm ngăn ngừa những sai lầm nghiêm trọng.

19. The three year cycle is the “foundation of cyclic attainment”. It releases from strain and prevents a sense of failure. Where there is no change of approach or lessening of tension, the result will be inevitable strain followed by exhaustion.

19. Chu kỳ ba năm là “nền móng cho thành tựu theo chu kỳ”. Nó giải tỏa sự căng thẳng và ngăn ngừa cảm giác thất bại. Khi không thay đổi cách tiếp cận hoặc giảm mức độ tập trung nhất tâm, kết quả tất yếu sẽ là căng thẳng rồi kiệt sức.

20. Then DK makes a most important statement which is to be absorbed and applied by every disciple: “It is impossible to do good work where a sense of failure or lack of attainment is found”. Why is this the case? Because depression will ensure and, as a result, energy will wane. An insufficiency of energy will not support attainment. A vicious circle of depression and dwindling energy will be created.

20. Sau đó, Chân sư DK đưa ra một phát biểu hết sức quan trọng mà mỗi đệ tử cần thấm nhuần và áp dụng: “Không thể làm tốt công việc ở nơi có cảm giác thất bại hoặc không đạt được thành tựu”. Vì sao lại như vậy? Vì sự chán nản sẽ nảy sinh, và kết quả là năng lượng suy giảm. Năng lượng không đủ sẽ không thể hỗ trợ việc đạt thành tựu. Một vòng luẩn quẩn của sự chán nản và năng lượng suy giảm sẽ hình thành.

21. When, however, attainment is realized, confidence builds and with it comes increasing access to energy. The increasing inflow of energy is more than sufficient to the intended attainment, which achieved, builds further confidence and a still greater access to necessary energy. A ‘virtuous circle’ is created.

21. Tuy nhiên, khi nhận ra mình đã đạt thành tựu, sự tự tin tăng lên, và cùng với nó là khả năng tiếp cận năng lượng ngày càng lớn. Dòng năng lượng tuôn vào ngày càng tăng dồi dào hơn mức cần thiết cho thành tựu dự định; khi đạt được, thành tựu ấy lại bồi đắp thêm sự tự tin và khả năng tiếp cận nguồn năng lượng cần thiết còn lớn hơn nữa. Một ‘vòng tuần hoàn tích cực’ được hình thành.

One thing I would like here to point out and that is that there are many in other countries, scattered all over the world, who have a close and intimate work to do because they are actively associated with the New Group of World Servers. They have not yet made their contact with you or with those in my particular group of disciples. You must learn, as must the other members of my group, to recognise them. Where there is a recognition of principles, of impartiality in service and pure intelligent goodwill, then give freely of your time and help. Hold out the hand of fellowship. Where there is life and the type of seed is one, [166] then the same flower will appear throughout the world in all lands. Naught can alter the expression of the type and the genus of the manifestation. Bear this in mind.

Ở đây, Tôi muốn chỉ ra một điều: tại nhiều quốc gia khác, rải rác khắp thế giới, có nhiều người phải thực hiện công việc gắn bó mật thiết với công việc này, vì họ đang tích cực cộng tác với Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Họ chưa thiết lập liên hệ với em hoặc với những người trong nhóm đệ tử riêng của Tôi. Em cũng như các thành viên khác trong nhóm của Tôi phải học cách nhận ra họ. Ở đâu có sự thừa nhận các nguyên khí, sự vô tư trong phụng sự và thiện chí thuần khiết, sáng suốt, thì hãy rộng lòng dành thời gian và sự trợ giúp. Hãy đưa tay kết tình huynh đệ. [166] Ở đâu có sự sống và cùng một loại hạt giống, thì ở đó cùng một loài hoa sẽ xuất hiện trên khắp thế giới, tại mọi xứ sở. Không gì có thể thay đổi sự biểu lộ của loại hình và chủng loại của sự biểu hiện. Hãy ghi nhớ điều này.

22. Recognition of the hitherto unknown members of the NGWS is enjoined upon JWK-P. Without this recognition, it is impossible to strengthen their hands. Further, through non-recognition, rebuff may occur and cleavages result with the effect of weakening the whole.

22. JWK-P được yêu cầu nhận ra những thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian mà cho đến nay ông chưa biết đến. Nếu không nhận ra họ, không thể tiếp sức cho họ. Hơn nữa, việc không nhận ra có thể dẫn đến sự khước từ và những chia rẽ, khiến toàn thể suy yếu.

23. The signal qualities for which to look are—

23. Những phẩm tính nổi bật cần tìm kiếm là—

24. (Correct) principles

24. Các nguyên khí (đúng đắn)

25. Impartiality in service

25. Sự vô tư trong phụng sự

26. Pure intelligent goodwill.

26. Thiện chí thuần khiết, sáng suốt.

27. The Tibetan offers an analogy: if the living seed is identical, the “same flower will appear”. The “genus of the manifestation” is the same.

27. Chân sư Tây Tạng đưa ra một phép tương đồng: nếu hạt giống sống giống hệt nhau, “cùng một loài hoa sẽ xuất hiện”. “Giống của sự biểu hiện” là một.

28. DK is looking for a flowering of goodwill in the world. He trusts that His disciples will have enough of the esoteric sense to recognize the essential quality of potential co-workers.

28. Chân sư DK mong thấy thiện chí nở hoa trên thế giới. Ngài tin rằng các đệ tử của Ngài sẽ có đủ cảm thức huyền bí để nhận ra phẩm tính cốt yếu của những cộng sự tiềm năng.

29. DK is inspiring such disciples as JWK-P to look beyond and through the obvious and into the soul those who are subjective members of the NGWS. These disciples are being trained in occult recognition.

29. Chân sư DK đang truyền cảm hứng cho những đệ tử như JWK-P để họ nhìn vượt qua và xuyên qua những gì hiển nhiên, đi vào linh hồn của những người là thành viên trên phương diện chủ quan của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Những đệ tử này đang được huấn luyện về sự nhận biết huyền bí.

As for you, my brother, keep close to your own soul. Walk carefully and guardedly. Tread fearlessly and joyously in the light of your soul and in the blended light of your group brothers.

Còn em, huynh đệ của tôi, hãy luôn gần gũi với linh hồn mình. Hãy bước đi cẩn thận và thận trọng. Hãy tiến bước không sợ hãi và hoan hỉ trong ánh sáng của linh hồn em và trong ánh sáng hòa quyện của các huynh đệ cùng nhóm.

30. Sound advice is given” “keep close to your own soul”. How does one “keep close” to one’s own soul? Through meditation and constant invocative inquiry. The soul knows,and its counsel must be invoked and followed when received.

30. Một lời khuyên xác đáng được đưa ra: “hãy giữ sự gần gũi với chính linh hồn mình”. Làm thế nào để “giữ sự gần gũi” với chính linh hồn mình? Qua tham thiền và không ngừng khẩn cầu, tìm hỏi. Linh hồn biết, và cần khẩn cầu lời chỉ dẫn của linh hồn, rồi làm theo khi nhận được.

31. Then what could seem contradictory advice is offered. JWK-P is to walk “carefully and guardedly”, and yet, “fearlessly and joyously”. In such a responsible position as his, mistakes would have a broad impact, thus every step must be watched—guarding against useless thoughts, impulses or attacks (mostly subjective).

31. Sau đó là lời khuyên có vẻ mâu thuẫn. JWK-P phải bước đi “cẩn thận và đề phòng”, đồng thời “không sợ hãi và đầy hoan hỉ”. Ở một vị trí mang nhiều trách nhiệm như ông, những sai lầm sẽ gây tác động rộng lớn, vì vậy phải chú ý từng bước—đề phòng những tư tưởng vô ích, những xung động hoặc các cuộc tấn công (chủ yếu trên phương diện chủ quan).

32. It is the “walk” that must be careful and guarded. It is the personality that walks.

32. Chính việc “bước đi” phải cẩn thận và có sự đề phòng. Chính phàm ngã bước đi.

33. But, can we say that it is the soul that treads? And although this treading is not so obvious, perhaps, as the walk, it will be fearless and joyous because it is accomplished in the light of one’s own soul (the seat of joy) and “in the blended light of [one’s] group brothers” (giving the assurance and joy of camaraderie). Their presence is to strengthen and uplift the disciple. In such treading, one is surely not walking alone. The Rules of the Road will not allow one to travel alone. One is treading “with one’s group”, animated by the harmonious presence of fellow souls and confident in the light of that inner source of knowing, loving and willing—the soul.

33. Nhưng liệu chúng ta có thể nói rằng chính linh hồn tiến bước? Và dù sự tiến bước này có lẽ không hiển nhiên bằng việc bước đi, nó vẫn sẽ không sợ hãi và đầy hoan hỉ, vì diễn ra trong ánh sáng của chính linh hồn mình (nơi an trú của sự hoan hỉ) và “trong ánh sáng hòa quyện của các huynh đệ cùng nhóm [của mình]” (mang lại sự vững tâm và niềm hoan hỉ của tình đồng đội). Sự hiện diện của họ nhằm tiếp sức và nâng đỡ người đệ tử. Trong sự tiến bước như thế, chắc chắn người ta không bước đi một mình. Các Quy Luật của Đường Đạo không cho phép ai đi một mình. Người ta tiến bước “cùng với nhóm của mình”, được tiếp sinh lực nhờ sự hiện diện hài hòa của những linh hồn đồng hành, và vững tin trong ánh sáng của nguồn hiểu biết, yêu thương và ý chí bên trong ấy—linh hồn.

34. One can see how a disciple receiving such instructions (brief though they are) could ponder over them weeks and months, attempting to understand and apply. We can imagine that the paper on which these letters were written was worn thin with consideration as the years elapsed.

34. Chúng ta có thể thấy một đệ tử nhận được những huấn thị như vậy (dù ngắn gọn) có thể suy ngẫm về chúng hàng tuần, hàng tháng, cố gắng thấu hiểu và áp dụng. Chúng ta có thể hình dung rằng qua năm tháng, những tờ giấy ghi các bức thư này đã mòn mỏng đi vì được đọc đi đọc lại để suy ngẫm.

January 1937 – Tháng Một năm 1937

BROTHER OF OLD:

HUYNH ĐỆ CỦA NGÀY XƯA:

With true first ray brevity, you have replied to certain questions which I have put to you and yet these replies are—from my point of view—most disclosing. With you, as with F.C.D. and R.S.U., the main difficulty is lethargy, based on a genuine physical disability. It is not my intention, therefore, to urge you to a greater activity but to a greater organisation upon the inner planes and greater intuitive reflection.

Với sự ngắn gọn đích thực của cung một, em đã trả lời một số câu hỏi Tôi đặt ra cho em, nhưng theo quan điểm của Tôi, những câu trả lời ấy lại bộc lộ rất nhiều điều. Với em, cũng như với F.C.D. và R.S.U., khó khăn chính là sự uể oải, bắt nguồn từ một tình trạng suy yếu thể chất có thực. Vì vậy, Tôi không có ý thúc giục em hoạt động nhiều hơn, mà khuyến khích em tổ chức tốt hơn trên các cõi bên trong và suy ngẫm bằng trực giác nhiều hơn.

1. The first ray inclines towards brevity; the brevity of this disciple was, however, “full”.

1. Cung một thiên về sự ngắn gọn; tuy nhiên, sự ngắn gọn của người đệ tử này lại “đầy đặn”.

2. The disciples mentioned here were important to DK’s work: FCD, the psychologist Roberto Assagioli, and RSU, Alice Bailey’s close co-worker, Regina Keller. Each of them in his/her own way was an extremely responsible worker and each of them had a physical problem which was real.

2. Những đệ tử được nhắc đến ở đây có vai trò quan trọng trong công việc của Chân sư DK: FCD, nhà tâm lý học Roberto Assagioli, và RSU, cộng sự thân cận của Alice Bailey, Regina Keller. Theo cách riêng của mình, mỗi người đều là một người hoạt động hết sức có trách nhiệm, và mỗi người đều có một vấn đề thể chất có thật.

3. This “lethargy”, or the inability to get the physical body to respond to intention, is not the same as the “sloth” which plagues the “average initiate” (c.f. R&I 156).

3. Tình trạng “uể oải” này, hay việc không thể khiến thể xác đáp ứng với ý định, không giống với “sự lười nhác” vốn gây khổ sở cho “điểm đạo đồ trung bình” (xem R&I 156).

4. We can see DK as solicitous of JWK-P’s condition and, therefore, not urging towards a still greater expenditure of energy on the outer plane, but rather to inner changes which will increase the effectiveness of the outer work accomplished. These inner changes are “greater organization upon the inner planes” (leading to an efficient economy of outer action) and “greater intuitive reflection” (reveling salient, necessary actions).

4. Chúng ta có thể thấy Chân sư DK quan tâm đến tình trạng của JWK-P, do đó Ngài không thúc giục ông tiêu hao thêm năng lượng trên cõi bên ngoài, mà hướng đến những thay đổi bên trong sẽ làm tăng hiệu quả của công việc thực hiện ở bên ngoài. Những thay đổi bên trong này là “tổ chức tốt hơn trên các cõi bên trong” (dẫn đến việc tiết kiệm hiệu quả trong hành động bên ngoài) và “suy ngẫm bằng trực giác nhiều hơn” (làm sáng tỏ những hành động nổi bật, cần thiết).

This group of disciples has undertaken to do two things:

Nhóm đệ tử này đã đảm nhận hai việc:

1. To assist the work of the New Group of World Servers in linking them, widely and consciously, to the men of goodwill throughout the world. This has to be done in order to bring in right and new conditions upon the earth.

1. Trợ giúp công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian bằng cách liên kết họ một cách rộng rãi và có ý thức với những người thiện chí trên khắp thế giới. Phải thực hiện điều này để đem lại những điều kiện mới mẻ và đúng đắn trên Trái Đất.

2. To find and organise the needed funds for this task. The last is in many ways the outer expression of the first, for just as money has been in the past the instrument of men's selfishness, now it must be the instrument of their goodwill. I commend this to you as a real thought and so to continue to use it (employing an American phrase) as a talking point.

2. Tìm kiếm và tổ chức các nguồn tài chính cần thiết cho nhiệm vụ này. Theo nhiều phương diện, việc sau là biểu hiện bên ngoài của việc trước, vì cũng như trong quá khứ tiền bạc từng là công cụ cho tính ích kỷ của con người, giờ đây nó phải là công cụ cho thiện chí của họ. Tôi đề nghị em xem đây là một tư tưởng thực sự đáng suy ngẫm và tiếp tục dùng nó làm một luận điểm khi trao đổi, theo một cách nói của người Mỹ.

5. The group here discussed are the Telepathic Workers—the very first of the “groups-of-nine” organized by DK. Its outer expression appears to have been the World Goodwill work.

5. Nhóm được bàn đến ở đây là Những Người Hoạt Động Viễn Cảm—nhóm đầu tiên trong các “nhóm chín người” do Chân sư DK tổ chức. Sự biểu lộ bên ngoài của nhóm dường như là công việc Thiện Chí Thế Giới.

6. We can see that one of the immediate tasks of this specialized “seed group” was to function as a link within the NGWS, connecting them to the men and women of goodwill. Naturally this would empower, animate and illumine those of goodwill, rendering them far more effective in the world.

6. Chúng ta có thể thấy một trong những nhiệm vụ trước mắt của “nhóm hạt giống” chuyên biệt này là làm mối liên kết trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, kết nối Đoàn với những người nam và nữ có thiện chí. Đương nhiên, điều này sẽ tiếp thêm sức mạnh, sinh lực và ánh sáng cho những người thiện chí, giúp họ hoạt động hiệu quả hơn nhiều trên thế gian.

7. The first of these tasks is both an inner and outer task. The second task, finding the needed funds, is “the outer expression of the first”.

7. Nhiệm vụ thứ nhất vừa là nhiệm vụ bên trong vừa là nhiệm vụ bên ngoài. Nhiệm vụ thứ hai, tìm kiếm các nguồn tài chính cần thiết, là “sự biểu lộ bên ngoài của việc trước”.